This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Suốt gần cả năm nay Donald Trump luôn luôn chiếm hàng tít đầu của báo chí trên toàn thế giới. Nhưng có lẽ nói nhiều quá cũng nhàm.
Báo chí sợ ế, bèn kiếm cái tuồng khác, vui, lạ, hay hơn để câu khách…
Lần nầy diễn viên là Ivanka Trump, ái nữ của đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump.
***
Nói nào ngay, vào ngày mùng 4, tháng Mười Một, năm 2015, khi mới đắc cử Thủ tướng thứ 23 của Canada, Justin Trudeau đã nổi tiếng toàn thế giới nhờ vẻ trẻ trung, điển trai và lịch lãm như một tài tử phim Hollywood với chiều cao lý tưởng 1mét 88.
Justin Trudeau năm nay 45 tuổi. (Ðâu có già chát, già khú đế như Donald Trump, 70 tuổi) tức còn rất trẻ, lại tài cao mới ngồi được trên đầu trên cổ hơn 35 triệu người Canada đó chớ!
Ðẹp trai, nói dai (chánh trị gia mà), con nhà giàu, học giỏi; lại vốn dòng quyền quý nên không ngạc nhiên chút nào là chàng có vợ hơi sơm sớm, năm 2005! Và có con cũng hơi nhiều nhiều tới 3 đứa. Giàu thì muốn đẻ bao nhiêu hổng được. Ðông vui đâu sợ hao?!
Chớ tiêu chuẩn Tây thường thấy là sản xuất ra hai đứa thôi… là nghỉ!
Mấy chú em Việt Nam mình cũng ‘cọp dê’ y vậy! Nên con vợ ‘sòn sòn’ mới 2 đứa là mấy chú hoảng kinh kêu tốp tốp! (Tại anh đó… chớ em nào muốn đâu!)
Ðẻ nhiều, tiền ‘child care’, tức tiền gởi nhà trẻ không cũng mạt!)
Ivanka Trump, 35 tuổi, chân dài tới nách, vì em cao tới 1 mét 80. (Tui đứng giỏi lắm chỉ đứng tới nách của em là cùng) tiểu thư nhà giàu, học giỏi!
Thủ tướng Justin Trudeau và Ivanka Trump
Báo chí Mỹ muốn em là ‘Ðệ nhứt Phu nhân’, (The First Lady), của Mỹ hơn là dì ghẻ của em là Melania Trump, cũng đẹp, vì là người mẫu, nhưng tiếng Anh lại không ‘siêu’ lắm?!
Ðẹp gái, con nhà giàu học giỏi thì dễ gì phòng không chiếc bóng! Một chàng Mỹ gốc Do Thái, ắt hẳn là giàu sụ rồi, Jared Kushner, nhanh nhẩu rước em về dinh để nâng khăn sửa túi! Ðền đáp lại, chàng cho nàng nằm ba lửa! Tám năm tình ta… chui ra ba đứa!
***
Hôm thứ Hai, ngày 13 tháng Hai, Thủ tướng Canada, Justin Trudeau, đến Bạch Cung, thủ đô Washington, D.C Hoa Kỳ để gặp Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Tại đây anh hùng hội ngộ thuyền quyên! (Vì vợ anh đang bận ở nhà trông con và chồng em bận ở nhà cũng trông con, nên không tới… Dịp may ngàn năm có một nhe!)
Nên mấy nhà báo mới có cớ đồn rùm lên chuyện tình ‘Robinet và Toilette’ (Roméo và Juliet) vui như Tết Congo tới!
Trước và trong khi họp, ái nữ nhà họ Trump tỏ vẻ mừng rỡ, dành cho nhà lãnh đạo Canada một cái nhìn đầy ngưỡng mộ.
(Cả hai nói chuyện đẩy đưa rồi đưa đẩy. Chàng đẩy qua, nàng đẩy lại như hai đứa chơi đánh đu kiểu bà Hồ Xuân Hương vậy mà!)
Ivanka Trump dường như bị sét ‘quánh’ giữa trời quang, lang thang hồn phách, đôi mắt biếc lơ mơ, chỉ sơ sơ tập trung vào cuộc thảo luận, mà mắt chỉ về… Thủ tướng Canada!
Báo chí lá cải dám nói: Ivanka’s ‘thirsty’, (nghĩa đen là khát nước nhưng trong ngữ cảnh mình dịch đại là ‘rạo rực’… Trao cho chàng cái ánh mắt bằng vàng ròng 24 cara (Tây gọi là ‘golden look’, còn nhà thơ của mình gọi là cái nhìn đắm đuối!)
Thiệt là đoán mò! Làm như đi guốc trong bụng của người ta hổng bằng!
Nhìn vậy thì bộ có tình ý với nhau sao cha nội? Bộ đàn bà cười mỉm chi ‘rồ man tít’ (romantic) như vậy hổng được hay sao?
Ðàn ông làm chánh trị, Tổng thống Mỹ Barack Obama hổng những cười ‘mỉm chi cọp’ mà còn chụp hình chung với mỹ nhân Rania, Hoàng hậu xứ Jordan… làm Ðệ nhứt Phu nhân Michelle Obama mặt quạu đeo như vừa bị ai giật bóp…
Thiệt là mấy tay nhà báo nầy cứ khư khư giữ cái đầu óc kỳ thị giới tính hoài hè!
Rồi cũng theo mấy nhà báo xạo, đưa tin vịt là: Không chỉ mình Ivanka bị Justin Trudeau ‘bỏ bùa’mà nhiều em khác cũng bị ‘thôi miên’!
Trong chuyến theo chồng công du tới Canada vào Tháng Chín, năm 2016, Công nương Kate của nước Anh có vẻ cũng e thẹn hơn, nhu mì hơn, vén tóc làm duyên khi đối diện với Thủ tướng Justin Trudeau khi ông chồng, Hoàng tử William, đầu hơi ít tóc một chút, chớ không bùm sùm, quăn tít như ảnh, đang đứng chần vần ra đó.
Công nương Kate và Thủ tướng Justin Trudeau
Dẫu em đã kết hôn với Hoàng tử nhưng khi mặt nhìn tận mặt với Thủ tướng Canada nhà ta là em cũng e lệ, ngất ngây như uống phải một chung rượu men tình!
Thấy màn một, màn hai coi bộ bà con vỗ tay quá, nhằm kiếm thêm chút cháo, nhà báo hát tiếp màn ba!
Tuồng nầy với lời giới thiệu ‘tùng tùng xèn’ là: Ðêm ăn tối lãng mạn giữa hai người!… Ðầu tiên với Ivanka Trump, ái nữ của tân Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, giờ thì tới phiên Thủ tướng Ðức, Angela Merkel, cũng bị hớp hồn?!
Angela Merkel đã gây kinh ngạc cho anh chàng trẻ tuổi, tài cao của đất nước hoa phong đỏ nầy bằng cách trao tặng một tấm hình chụp lúc Justin chỉ mới lên 10 tuổi, tháp tùng thân phụ mình là Pierre Trudeau, Thủ tướng Canada gặp Thủ tướng Ðức Helmut Kohl vào ngày 12 tháng Mười Một năm 1982.
Sau đó, Thủ tướng Ðức Angela Merkel mời Thủ tướng Canada, Justin Trudeau đi ăn tối dưới ánh nến lung linh mờ ảo tại khách sạn Regent, thủ đô Berlin vào tối 16 tháng Hai.
Mà theo lối sống của Phương Tây, ‘Date night’ chỉ dành cho hai người đang yêu nhau tha thiết hay đang có tình ý với nhau hò hẹn mời nhau đi ăn tối như vậy.
Một người hài hước, đùa cợt là: “Không ai có thể thoát khỏi sức hút nam châm của Justin Trudeau?!” Già không bỏ nhỏ không tha! (Khen nhau như thế bằng mười ‘xỏ’ nhau!).
Sự thực là ảnh chụp cho thấy tới 4 người trong ánh nến lung linh (nhưng nhà báo nói láo ăn tiền nầy cho 2 người còn lại hô biến).
Gán ghép bà Merkel, năm nay đã 62 tuổi rồi, đang đi giữa mùa mãn dục, mà cặp đôi với một chàng chỉ mới 45 cái xuân xanh, đáng tuổi con mình thì thiệt là chuyện gán ghép khiên cưỡng, ruồi bu kiến đậu!
Ngu sao mà tui lại tin nhà báo chớ? Viết lách nên giữ gìn ý tứ một chút, đừng phá gia cang người ta kẻo mang tội! Vì lỡ bà Thủ tướng Canada nổi máu Hoạn thư thì tội nghiệp cho ‘thần tượng’ của ‘em vợ’ tui.
Mấy chú em mình thì lại có mòi ganh tị với Justin Trudeau, nên thầm ước trong lòng để con vợ thằng chả cho ‘giả’ chết!
Mặt khác cầu khẩn với ông Tơ bà Nguyệt cho mình kiếm được một em yêu lúc nào cũng nhìn mình rạo rực, đắm đuối, cháy bỏng như Ivanka nhìn Justin Trudeau vậy!
Còn đứa có vợ rồi thì báo động đỏ ở mức cao nhứt là:
“Justin Trudeau tới rồi anh em ơi! Hãy lẹ lẹ giấu vợ, giấu con gái của mình, giấu con bồ nhí, giấu luôn cả thú cưng là chó lẫn mèo vì coi chừng ‘giả’ chôm mất đó nhe!”
Nghe rung cây nhát khỉ như thế, tui cũng ra kế hoạch phòng thủ từ xa:
Lúc nào Justin Trudeau đến công du nước Úc, trước sau gì cũng tới mà, tui sẽ dắt em yêu của tui đi giấu trước.
Nhưng em yêu của tui cười nắc nẻ, thề một câu nghe ăn tiền (tui) hết sức: “Chồng em áo rách em thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc người.”
Chớ không bao giờ có cái vụ: “Chồng người áo gấm em thương chồngngười” đâu mà anh lo!
Vì em thường tâm niệm rằng: “Chưa chồng dòm dọc, liếc ngang. Có chồng em chẳng liếc ngang thằng nào!”
Dẫu cho rằng: “Chồng em tuy nách hơi hôi/ Nhưng vì em ngửi mãi rồi nên quen!”
Nghe xong tui lấy làm khoái chí trước tình em, bèn “Móc thuốc ra đốt liên miên! Hút xong vài điếu (tui) cười hiền vì phê!”
Phê xong, tui thầm nghĩ: “Em yêu của tui tự tin thấy mà ớn nhe! Làm như còn trẻ, còn đẹp lắm như Ivanka, như Kate vậy!”
Mà quên rằng bà Angela Merkel, 62 tuổi, nếu có lỡ gặp em yêu của tui, còn phải kêu bằng bà… Ở đó mà mơ mộng viển vông! Ðúng là ‘đồ Yamaha’! Tức ‘già mà ham’! He he!
Hôm qua mưa gió tơi bời, giữa tháng 6 mà có khi lạnh tái tê như đầu tháng giêng. Qua một đêm sầu thảm, nói như người đọc tin tức dự báo thời tiết ở trong nước: “Ngày mai trời có khả năng ấm áp đột xuất”.
Lôi thôi nhỉ? Gì mà phải “khả năng” mí lị “đột xuất”? Đương đại ra phết! Đơn giản chẳng ưa, cứ thích làm cho sự việc rối rắm hẳn lên. Chúng nó quên lời bác dạy: Hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt! Và bản thân bác từng viết: Kách Mệnh. Hậu duệ trung thành của bác nói: Ma-dzê in Việt Nam. Cộng đồng đảng viên mặt tỉnh như ruồi, không một ai “bức xúc” cho “sự cố”, thảy dựa cột mà nghe. Nếu có nhân tai thì bàn qua chuyện mưa nắng ắt không “lạc hậu”, đã có một “bộ phận không nhỏ chủ trương ăn chơi không sợ mưa rơi”. Trong mấy món “ăn chơi” món bóng đá là chất gây nghiện gần ngang với xì-ke ma tuý. Tuyệt đại các lời bình phẩm sáng suốt đều xem nó là vua trong các bộ môn thể thao. Huống hồ là World Cup 2018 vừa khai diễn ở Nga. Mua được bản quyền để trình chiếu trực tiếp thì ắt chúng sẽ quên đi chuyện biểu tình, biển đảo hoặc đặc khu hoặc an ninh mạng xem ra chẳng gây sôi máu bằng khi trái bóng lăn trên sân cỏ có hai mươi đứa chạy theo dành giật và hai đứa đứng trong khung thành cố truy cản bóng lăn vào “đặc khu”.
Sáng nắng, chiều mưa? Suy ra ông bà Trời có hơi cực đoan, nhỉ? Tính khí anh chị ấy quả thất thường. Mới hăm bốn giờ trước sụt sùi ngấn lệ chưa khô mà bi chừ đã dàng trời màu nắng chan hoà mọi ngõ ngách. Và nóng rát. Và mùa hè “có khả năng” giải phóng sạch những lạnh lùng mưa xuyên thâu ướt dầm lá hẹ, anh sợ ông kẹ nên chẳng dám thăm dù em bảo kệ mẹ, làm thân trai mà đi thè thẹ, cái lông hồng nó vốn nhẹ, sang em cho ăn ghẹ. Đù, dụ khị bắt mỏi miệng! Trời nắng đẹp, thật quá tiện. Qua mình bàn công chiện.
Đối đáp nọ là thuở còn sung, mùi mẫn chuyện gái trai. Lịch sử sang trang và sách đời giở lật theo làm cả anh lẫn em, chúng ta đều dẫm chân vào vùng cấm địa của nhi nhĩ thuận với cổ lai hy. Dâu bể từng nếm trải nên bi chừ hạt lệ như sương, mọi con đường đều dẫn về La Mã, cái gì của César thì hãy trả lại cho César, nên thuận lòng phiên dịch chữ thành Rome ra nhà dưỡng lão. Đã bảo, ấy là đặc khu mà chúng ta sẽ thuê. Hôm qua anh ngại vì đường xa ướt mưa, hôm nay trời nắng đẹp cỏ cây hớn hở xanh um nên anh sẽ đeo răng giả, nốc hai viên Viagra, đi xe buýt miễn phí sang thăm em chốn ngoại ô đèn mờ.
Tự thuở nào giờ em vẫn mặn chuyện thơ văn. Em lên án con mẹ đã bỏ chồng vì lý do thằng chả tối ngày cứ ham làm thơ. Làm nhiều đến nỗi có nhà phê bình kêu rằng: Hén lồm thơ cứ y như đi đái! Và một vị tai to mặt lớn ngôn: Trong phây bút toàn cả thơ rác. Đó là chuyện nội địa, ở biển ngoài em có cảm tình với một ông ở bang Texas: Vì chuyện đặc khu, từ nay tôi không làm thơ kiểu tán gái nữa. Em kết luận: Em ưa đi bộ dưới hàng cây, ưa mặc bộ bà ba màu trắng và em cũng yêu anh. Dù anh có làm thơ rác nhưng thơ ấy còn bày tỏ chút chia ngọt sẻ bùi với người thấp cổ bé miệng cách một đại dương. Anh tuy già khú đế nhưng anh chưa mất đi sự vô cảm, thấy người ta khổ thì mình buồn, đó là thứ tuy nhỏ nhoi nhưng em vẫn cảm ơn anh. Mông lung siêu thực cách tân hậu hiện đại đương đại lắm khi chẳng sánh bằng thơ rác. Rác cũng tuỳ vào mỗi dạng loại. Ý tưởng ấy em vay của nhà thơ Tô Thuỳ Yên, bởi vì “lịch sử qua đường đã cải trang”:
ta về dẫu phải đi chân đất khắp thế gian này để gặp em đau khổ riêng gì nơi gió cát thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.
Em làm anh nhớ nhà thơ Trần Vấn Lệ:
em nói… bây giờ em tuổi lớn chân tê, tay mỏi, khớp xương đau em cầm cái lược, em buông xuống tóc biếc còn mô! đã bạc đầu!
Em dẫn anh đi “tham quan” đặc khu em vừa ký gửi chương cuối phận người. Ôi, sao nó “hoành tráng” quá. Cao ốc gồm 17 tầng lầu và cao chót vót là nơi dùng làm chỗ thù tiếp thức ăn ngày ba bữa, sạch như lau ly. Tôn trọng người đứng tuổi nên cửa thang máy chốn này cũng đặc biệt đóng mở thật từ tốn, chậm lụt cho khớp với cách di chuyển khoan thai dục tốc bất đạt của quý vị cao niên. Anh đưa cảm tưởng cho em nghe, rằng anh quá an tâm khi vào bấm nút, dãy con số tuyệt không có 13. Em nói anh chúa dị đoan, kiểu như ghét số 70 với số 99 mà bọn chúng áp đặt vào thời hạn vay mướn đặc khu.
Một ông già mắt hom hem lịch sự chào bằng tiếng Pháp: Buổi sáng an lành, thưa bà Chen. Em trả lễ: Chào ông Jacque. Tôi là Rose, đừng trông gà hoá cuốc, tôi nào phải bà người Tàu ở cạnh phòng ông. Jacque mang thêm chứng lãng tai thành thử nụ cười móm mém của đương sự vẫn chưa chịu tắt đi. Kệ đi mà, kính lão đắc thọ, đừng dội nước lạnh vào thành ý của người cùng ở đặc khu, cứ để ông ta ngộ nhận về một bóng hồng lân cận đầy tình hữu hảo.
Lên xuống lòng vòng cho biết sự tình, thực ra thì em ngấp nghé “định vị” sẵn cho anh một nơi an lành đặng mai này gửi thân làm chòm xóm láng giềng với em cho qua cơn hạn cuối đời. Em là thềm nhà mà anh là bụi chuối thức thâu đêm. Cả hai hổ tương vào một hình ảnh coi hợp tình hợp cảnh hơn là bụi trúc với mái đình. Còn đâu nữa “em xinh em đứng một mình cũng xinh”! Bây giờ chữ xinh nọ đã truyền ngôi cho con em. Cô gái hơn cả “ba đảm đang” đã bỏ công đứng ra lo cho mẹ hiền một nơi trú thân “trên cả tuyệt vời”. Bất hạnh cho những ai không có truyền nhân nai lưng đứng ra cán đáng mọi chuyện sinh tử hoặc có mà chúng lại đi khiếp sợ ngoại nhân, khốn nạn như phải bị đẻ ra chục hột vịt lộn.
Đặc khu là chữ anh khôi hài chứ thật ra chốn này nào khác gì một khách sạn 5 sao. Xuất, nhập khá nghiêm ngặt, phải thông qua hai bà ngồi trực ở phòng information, để nhỡ có vị nào xa quê hương nhớ mẹ hiền buồn chân đi lạc ra đứng ngõ sau thì họ còn biết đường mà lần, huy động người đi cứu hộ. Oh, mon Dieu! Cảnh quang tiêu điều là thế mà sao cụ lại vác mặt ra ngó mông. Kíp trở vào cho yên thân cụ. Giời ạ, nói mãi mà không chịu cảnh tỉnh. Bụi môn cũng không, bụi chuối cũng chẳng có, há lẽ lại ưa ngó cây xương rồng đầy gai nhọn. Cơ khổ!
Anh đã mỏi gối chồn chân chưa? Trở lên phòng em pha cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc cho mà giải lao thông cuống họng. Bột starbucks đàng hoàng chớ không phải cà phê Ban Mê pha than pin con ó đâu nghen. Uống đặc sản nọ thì không đủ sức để dọ dẫm vô nhà dưỡng lão đâu, hưởng dương là cái chắc! Ừ, mình trở về đi em, lên lại chỗ điện nước đầy đủ. Coi thử trí nhớ anh còn tốt không nè. Mở cửa thì phía tay mặt có phòng tắm cùng nhà vệ sinh, lấn sâu chút nữa thì góc bếp nhỏ sạch bong vì không ai dụng công nấu nướng. Phía tay trái là phòng ngủ coi bộ mênh mông chi xứ mà em đặt lưng ngủ ngáy, xong tới phòng khách ngó xuống dòng sông mùa này con nước chảy êm qua. Gió bờ sông rù quến thổi mơn man ngoài cửa lầu 14, những chùm lá cây bên dưới xao động từng bóng tròn diệp lục tố đan xen.
Anh quên tả những bức ảnh Phật em lộng kiếng. Rồi cái ti vi. Ờ giờ này có thể chúng nó đã mang giày ra sân. Mình có thể xem trực tiếp đội Nga chủ nhà gặp đội tuyển Saudi Arabia. Anh biết không, cả hai đội đều nằm ở mức thấp nhất trong bảng xếp hạng của FIFA. Nga đứng vị trí 70 trong khi Saudi Arabia xếp thứ 67. Vì lẽ đó một phần mà huấn luyện viên Juan Antonio Pizzi tin rằng đội banh của ông sẽ làm khó đội tuyển Nga. Phía Nga thì cựu danh thủ Andrei Kanchelskis đưa cảm nghĩ: Đây là một đội tuyển tồi tệ nhất mà tôi từng biết đến. Ngày xưa, bộ môn túc cầu của Liên Xô được tổ chức tốt hơn. Sau khi Liên Xô tan rã thì bóng đá Nga cũng theo đó mà tuột dốc thê thảm. Giờ này, cầu thủ chơi được đã già, số tuổi trung bình là 38 tuổi và toàn bộ họ đều không được tham gia thi đấu ở các câu lạc bộ nước ngoài, tầm nhìn của họ bị giới hạn, một vài người có tài năng thì không thích khoác áo đội tuyển quốc gia vì bất đồng với huấn luyện viên.
Sao em giỏi việc nắm bắt thông tin toàn cầu đến thế. Cà phê được rồi nè. Trước khi khai diễn trận mở màn, tháng trước em xem tin cảnh báo từ hai cơ quan hàng đầu về an ninh mạng của Mỹ và Anh. Họ bảo là nguy cơ smartphone bị hack tại world cup 2018 là rất lớn. Nếu bạn dự định dùng điện thoại di động, máy tính xách tay hoặc các thiết bị điện tử khác, hãy cẩn thận khi đến Nga xem world cup, bởi tất cả những dữ liệu chứa trong các thiết bị đó cũng có thể bị truy cập bởi chính phủ Nga hoặc các tội phạm mạng. Cách tốt nhất là dùng một chiếc hoàn toàn mới và tháo pin lúc không sử dụng khi đến Nga xem đá banh.
Nghe em kể làm anh nghĩ tới luật an ninh mạng của xứ Việt tiêu điều. Lạ thật, cái gì dính líu tới bọn cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa đều liên hệ tới trộm cắp hoặc dòm ngó hoặc quấy rối khủng bố tinh thần người ta. Anh cũng đồ rằng có sự “đi đêm” lương lẹo của Putin khi đội tuyển Nga được lọt vào bảng A, là bảng dễ thở nhất so với 7 bảng tranh đua gay cấn còn lại.
Đặc khu này luôn chìm trong tĩnh lặng. Một nỗi yên hàn rất già nua. Còn chút lửa lòng thì hãy cố mang ra, tìm đến nhau hàn huyên tâm sự trong quạnh quẽ. Cả anh lẫn em, chúng ta hầu như chưa có ai trở lại cố quận từ dạo dấy lên ngọn sóng đỏ tuôn tràn. Dạo đó, mình cứ tiếc nuối là chẳng được rộng cẳng đi thăm thú đó đây trên địa bàn an lành của 9 tỉnh miền Trung, 6 tỉnh miền Cao nguyên, 4 tỉnh miền Tây, 6 tỉnh miền Đông. Sông Bến Hải cầu Hiền Lương trở vào tận Cà Mau gồm 25 tỉnh mà chúng mình nào biết qua mặt dọc mặt ngang. Thật là một thiệt thòi đáng ân hận! Một lần, nó đã bị người ta giải phóng; rồi mai này biết đâu người ở đó đều nói thứ ngôn ngữ khác mình.
Anh đang ngậm đắng nuốt cay đó hở. Chiều nay con em sẽ tới thăm, biết có bác Hồ không râu lại chơi với mẹ nên nó có nhã ý xắn tay áo vào bếp chiên xào nấu nướng cho đôi bạn già thưởng thức món quốc hồn quốc tuý. Mà lỡ có quá chén, mẹ biểu bác ấy ở lại đắp chung chăn xem thử đêm về có bị rệp cắn không. Cho anh làm đội tuyển Nga đó, thử so giày một trận xem sao. 90 phút đã đủ bở hơi tai chưa, hở con bồ câu đi lạc.
Thời học trung học, tôi có người bạn thân, không những tướng tá mà cả cái tên cũng đẹp: Phan Ái Minh. Hai đứa học chung trường. Minh học Ban B còn tôi dốt toán nên học Ban C. Vì vậy mà bạn còn là “ông thầy” kèm toán cho tôi. Nhà Minh ở trên Thành (Diên Khánh), cách thành phố Nha Trang, nơi có ngôi trường Võ Tánh của bọn tôi hơn mười cây số. Minh cùng người anh (Phan Thanh Vân) và người em họ (Đỗ-Bê)[*] thuê căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở gần đình Phương Sài để trọ học. Mỗi chiều Thứ Sáu, sau khi tan trường, ba anh em đạp xe về thăm nhà đến chiều Chủ Nhật lại ca bài đường trường xa trở lại Nha Trang, mang theo thức ăn cho một tuần sau đó. Tôi cũng từ một vùng quê khác vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, một tiệm buôn giữa trung tâm thành phố. Để tránh ồn ào và khỏi bị sai vặt, tôi thường đạp xe lên nhà Minh vừa chơi vừa học. Có khi tôi ngủ lại hoặc cuối tuần theo anh em Minh về thăm quê bên kia Cổ Thành Diên Khánh.
Minh luôn hãnh diện khoe với bọn tôi về quê hương “Cổ Thành”. Anh thường gọi đó là “la Citadelle” và gần như thuộc lòng sử tích: “được Nguyễn Phúc Ánh xây từ thế kỷ 17 và lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh trấn thủ. Võ Tánh là một dũng tướng bất khuất, sau này đã tự thiêu tuẫn tiết trước khi thành Bình Định lọt vào tay tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ vì vậy mà ngôi trường trung học lớn nhất miền duyên hải của chúng ta mang tên Võ Tánh, để nêu gương sĩ khí cho đám học trò.” Minh còn đọc đi đọc lại bài thơ của công chúa Ngọc Du khóc phu quân tướng công Võ Tánh, làm bọn tôi thuộc nằm lòng cho đến mãi bây giờ:
Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè binh địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!
Có lẽ chính quê hương Cổ Thành và hình ảnh dũng tướng Võ Tánh in rất đậm trong trí óc và tâm hồn Minh từ thuở ấu thơ, đã hun đúc trong Minh một mẫu người lý tưởng sau này. Vào những mùa thi, căn nhà trọ khá oi bức và đèn điện không đủ sáng, bọn tôi thường rủ nhau đạp xe xuống bờ biển, nơi có các trụ đèn tỏa sáng, vừa học bài vừa nhìn biển trời mênh mông mà xây mộng tương lai. Có lần Minh bảo“ sau này nhất định tao sẽ chọn binh nghiệp để đọ sức cùng nắng mưa và tha hồ xông pha trận mạc”. Tôi cười đùa: “Mày nói hay như đang hát tuồng Thuyền Ra Cửa Biển!” (lúc ấy gánh hát Thanh Minh Thanh Nga đang diễn vở tuồng này tại rạp Minh Châu – Nha Trang).
Là bạn, nhưng dường như tất cả mọi thứ trên đời ông trời đã dành cho Minh nhiều hơn tôi: đẹp trai hơn, to con hơn, võ nghệ, đàn hát và nhất là học hành cũng giỏi hơn. Chơi đàn và đọc sách là hai món tiêu khiển của Minh. Anh đọc rất nhiều sách, từ truyện Tam Quốc Chí đến Đệ Nhi Thế Chiến, từ các sách nghiên cứu Khoa Học đến Thiên Văn Học. Trí nhớ của Minh rất tốt, anh nhớ từng chi tiết và làm bọn tôi mê mẩn mỗi lần ngồi nghe anh kể lại. Ngoài ra Minh rất tư cách, tính tình bộc trực, thẳng thắn. Một lần có tay “anh chị” ở đầu hẻm hiểu lầm, tưởng tôi làm ngã cái xe gắn máy của y, lớn tiêng ăn hiếp, Minh bênh vực tôi, ôn tồn nói điều phải trái, nhưng gã kia hung hăn ra tay trước, Minh không đánh lại, chỉ đỡ vài đòn mà hắn đã té nhào không đứng lên được. Minh đưa tay kéo hắn lên và phủi bụi đất bám trên mặt hắn. Thấy Minh võ nghệ cao cường, có khí phách và lòng hào hiệp, hắn ta phục, bắt tay xin làm bạn, đãi bọn tôi một chầu phở Hợp Lợi. Sau lần ấy, tôi mới biết bạn tôi “văn võ song toàn”.
Cứ đến mùa Hè, tôi đạp xe lên quê Minh ở chơi một vài tuần. Nhà Minh ở gần con sông Cái, chảy lượn lờ uốn khúc qua một vài khu xóm làng và ruộng đồng tĩnh mịch. Ban đêm, tôi theo Minh và đám bạn bè, ra cắm lều, đàn hát, câu cá và ngủ lại bên bờ sông. Khung cảnh êm đềm thơ mộng. Đêm mùa Hè, trời trong vắt, bọn tôi thường đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm trong các dải ngân hà, xem nơi nào có cái cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Minh biết tên khá nhiều các ngôi sao, và lúc ấy Minh đã dạy bọn tôi biết cách nhìn sao trời để định hướng và dự đoán cả thời tiết nữa. Minh còn giải thích về các thiên hà, tinh tú trong vũ trụ mênh mông, có những vì sao mang cái tên kèm theo một huyền thoại, rồi kể cho bọn tôi nghe truyện Les Étoiles của nhà văn Alphonse Daudet mà thầy Cung Giũ Nguyên có nói qua trong giờ Văn Học Sử Pháp. Có những vì sao sáng lấp lánh, bọn tôi đua nhau giành lấy. Ai “xí” được ngôi sao nào lóe lên trước nhất sẽ được đặt tên mình và tên một cô bạn học trò đã từng khuấy động trái tim. Trong bọn, Minh là người tìm được cho mình nhiều ngôi sao nhất. Nhưng có một điều lạ, là ngôi sao nào anh giành được và đặt tên mình, đều lóe sáng lên, nhấp nháy vài lần rồi bỗng dưng vụt tắt, biến mất trên bầu trời, giữa hằng hà tinh tú khác. Nằm chờ mãi không thấy hiện lên, Minh bèn phân thích hiện tượng này, nhưng rồi cả anh và bọn tôi đều xuýt xoa nuối tiếc.
Ngày ấy, chúng tôi đều con nhà nghèo lo đi học, chưa có người yêu và cũng không dám mơ tưởng tới chuyện yêu đương, nhưng dường như trong trái tim khờ khạo của đứa nào cũng phảng phất bóng hình một cô bạn học trò cùng lớp hoặc chung trường. Trong những lần tâm tình, hay lúc đặt tên cho những vì sao, Minh cũng thường nhắc tên một cô học trò cùng quê, học sau Minh hai lớp. Cô bé có làn da trắng, đôi môi mọng đỏ, hiền hậu dễ thương, mà bọn tôi đã gặp một đôi lần.
(SVSQ Phan Ái Minh)
Xong tú tài, đang học ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn thì Minh tình nguyện vào Khóa 20 Võ Bị. Con đường võ nghiệp mà Minh đã từng nhiều lần tâm tình với đám bạn bè là anh sẽ chọn, mặc dù với khả năng, anh còn có thể tiến xa trên đường học vấn. Bạn bè có người khuyên Minh vào Trường Hải Quân ở ngay Nha Trang để được gần nhà và sau này trong các chuyến hải hành tha hồ ngắm sao trời mà đặt tên cho người tình trong mộng. Nhưng Minh nhất quyết chọn Trường Võ Bị. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, một người có khả năng, phong độ và tư cách như Minh, lại được đào tạo bởi một quân trường danh tiếng, chắc chắn sẽ trở thành một sĩ quan, một cấp chỉ huy đảm lược và mẫu mực sau này.
Đúng vào một ngày Giáng Sinh, đám bạn bè chúng tôi tiễn Minh lên Đà Lạt. Cùng nhập học Khóa 20VB với Minh còn có một số các anh cựu học sinh xuất sắc khác của trường Võ Tánh: Phạm Cang, Hoàng Văn An, Hồ Đắc Tùng, Cao Đình Phú, Quách Giám, Võ Anh Tuấn, Nguyễn Công Lắm vv. Chia tay Minh, bọn tôi cũng mỗi thằng mỗi ngã. Sau đó hơn tám tháng, tôi và hai thằng bạn khác vào quân trường Thủ Đức.
Một ngày cuối năm, khi chúng tôi đang tham dự cuộc hành quân thực tập cuối khóa bên bờ sông Đồng Nai thì nghe các sĩ quan cán bộ và anh em SVSQ bàn tán về trận chiến Bình Giã rất khốc liệt. Tiểu Đoàn 30, 33 BĐQ và nhất là Tiểu Đoàn 4 TQLC bị tổn thất rất nặng nề. Cả tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng và gần 20 sĩ quan khác đã hy sinh. Chúng tôi bàng hoàng khi biết được trong số các sĩ quan tử trận có ba thiếu úy tân khoa vừa mới tốt nhiệp Khóa 19VB Đà Lạt, 1 BĐQ (Nguyễn Thái Quan) và 2 TQLC (Võ Thành Kháng, Nguyễn Văn Hùng). Họ đã hy sinh ngay trong trận đánh đầu đời, chỉ sau hơn hai tuần trình diện đơn vị. Đặc biệt trong số này có vị thủ khoa Võ Thành Kháng. Người sĩ quan tân khoa ưu tú đã bắn bốn mũi tên đi bốn phương trời trong ngày lễ ra trường, và mang theo rất nhiều hào quang cho con đường binh nghiệp. Bọn tôi không ai quen biết anh Võ Thành Kháng cũng như các anh cùng khóa 19 VB vừa tử trận, nhưng tất cả đều ngậm ngùi tiếc thương những sĩ quan rất trẻ, chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn, nhưng vừa được đào tạo văn võ song toàn mà đã hy sinh khi chưa kịp thi thố tài năng, chưa có cơ hội để “đem hết sở tồn làm sở dụng”, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành những cấp chỉ huy tài giỏi sau này. Khi ấy, bỗng dưng tôi nhớ tới Phan Ái Minh, người bạn thân tài hoa của tôi đang theo học Khóa 20 Đà Lạt, và tất nhiên cũng thoáng một chút âu lo cho số phận của chính mình. Cuộc chiến đang có dấu hiệu bắt đầu khốc liệt.
Một sự kiện trùng hợp đặc biệt khác làm tôi không thể nào quên. Người kể cho chúng tôi nghe chi tiết trận Bình Giã và danh tánh các sĩ quan hy sinh trong trận chiến khốc liệt này là anh Dương Văn Chánh, người bạn cùng trung đội SVSQ Thủ Đức với tôi. Nhờ có người thân quen ở TQLC nên anh biết rõ từng chi tiết một. Chánh đang học ở đại học luật khoa thì nhận lệnh động viên. Tướng tá phong trần, nước da sạm đen, giọng nói khàn khàn, đôi mắt sáng, tính tình hiền lành và trầm ngâm, ít nói. Ra trường, anh là một trong số rất ít (hình như chỉ có bốn người) được chọn về binh chủng Nhảy Dù. Sau ngày mãn khóa, khi chúng tôi đã ra đơn vị và tham dự nhiều cuộc hành quân, thì Dương Văn Chánh vẫn còn đang học nhảy dù. Vậy mà đến giữa tháng 6/65, tôi bất ngờ được tin Chánh vừa hy sinh trong trận Đồng Xoài. Có lẽ đó cũng là trận đánh đầu đời của Chánh. Và cũng khi ấy, chúng tôi mới biết Chánh được bổ sung về Tiểu Đoàn 7 thuộc Chiến Đoàn 2 ND mà vị Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Trương Quang Ân, là anh rể của Chánh. (Ba năm sau ông là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn của tôi).
Là một sĩ quan trừ bị, khi bước chân vào quân trường, Chánh không phải là người chọn binh nghiệp, nhưng với một người có nhiều khả năng và cá tính như Chánh, nhất định phải là một người lính can trường, được hầu hết bạn bè cùng khóa kỳ vọng trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi sau này, nhưng anh đã hy sinh quá sớm. Cái chết của Chánh làm tôi lại nhớ đến bầu trời tuổi thơ ngày xưa của bọn tôi ở quê Minh, bên kia Cổ Thành Diên Khánh và mơ hồ như nhìn thấy một vì sao nữa vừa mới lóe lên rồi vụt tắt!
Khi đang hành quân ở Phú Yên, tôi nhận được thư Minh báo tin anh chuẩn bị làm lễ ra trường. Minh bảo sẽ cố gắng để được đi Nhày Dù hay TQLC, còn nếu ra Bộ Binh thì sẽ chọn về Sư Đoàn 23 để được gần tôi cùng một số bạn bè khác cho vui.
Tôi vào quân trường Thủ Đức sau hơn nửa năm nhưng lại ra đơn vị trước Minh. Vì thời gian học ở Võ Bị lúc ấy gấp ba lần ở Thủ Đức. Hơn nữa, đặc biệt so với các khóa trước, Khóa 20 VB, sau khi tốt nghiệp còn phải theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy tại TTHL/ BĐQ Dục Mỹ thêm 42 ngày.
Khoảng đầu tháng 2 năm 1966, hình như ngay sau Tết nguyên đán, tôi rất vui mừng được tin Minh bổ sung về cùng Trung Đoàn với tôi. Minh về Tiểu Đoàn 4, còn tôi đang ở Tiểu Đoàn 3. Lúc ấy, đơn vị tôi đang hành quân ở Di Linh (Lâm Đồng) còn tiểu đoàn của Minh thì hành quân ở Lạc An (Khánh Hòa). Hai đứa hẹn gặp nhau sau cuộc hành quân, uống một chầu mừng cho cuộc trùng phùng. Nhưng rồi cuộc hẹn đã không thành và tôi cũng không bao giờ có cơ hội để được gặp lại Minh, người bạn đa tài mà tôi hằng mến mộ cả một thời đi học.
Cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh vừa kết thúc, tiểu đoàn tôi không trở lại Nha Trang như dự trù mà lại nhận lệnh di chuyển đến Phan Thiết, tăng phái cho TK Bình Thuận, phối họp với một đơn vị Thiết Kỵ của Hoa Kỳ, hành quân giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong. Một mât khu rộng lớn và địa thế hiểm trở bị Cộng quân chiếm cứ khá lâu. Tại tuyến xuất phát, tôi được anh sĩ quan truyền tin Tiểu Đoàn, cùng quê với Minh, cho biết Phan Ái Minh đã hy sinh tại Lạc An trước đó hai ngày, khi đang điều động trung đội tiến chiếm mục tiêu. Tôi bàng hoàng, xót xa khi vừa mất một người bạn mà mình hằng mến phục, quân đội cũng vừa mất đi một sĩ quan ưu tú, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi . Tôi mang hình ảnh của Minh theo suốt cuộc hành quân cam go hôm ấy. Cuộc hành quân kết thúc toàn thắng. Tôi nghĩ, có thể hình ảnh của Minh đã tạo thêm sức mạnh cho tôi để đơn vị tôi có được chiến thắng vẻ vang này.
Mấy đêm liền sau đó, tôi nằm trằn trọc nghĩ tới Minh, nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Nhớ những đêm cùng Minh và đám bạn bè nằm bên bờ con sông quê dưới bầu trời lung linh những vì sao, mầu nhiệm. Bỗng tôi giật mình khi nghĩ tới một điều kỳ lạ: các vì sao mà Minh đã chọn để đặt tên mình, tất cả chỉ vừa lóe sáng lên rồi vụt tắt. Và nhớ tới người con gái nào đó, được Minh trầm trồ tha thiết đặt tên, không biết nếu nghe được câu chuyện thơ mộng này lòng cô có nhiều xúc động? Tôi (và chắc có cả Minh nữa) thầm cầu mong cho cô được tròn hạnh phúc sau này.
Khóa 20VB được bổ sung về đơn vị tôi còn có các anh Vũ Phúc Sinh, Hoàng Văn An, Cao Đình Phú, Bùi Hữu Kiệt, Dương Đình Chính, Hồ Đắc Tùng, sau này đều là những cấp chỉ huy giỏi. Anh Vũ Phúc Sinh, người cùng về TĐ 4 với Minh, đã được đặc cách lên trung úy chỉ 9 tháng sau ngày ra đơn vị, Anh Hoàng Văn An là sĩ quan đẹp trai nhất Trung Đoàn, tính tình vui vẻ, cương trực, được mọi người từ quan tới lính yêu thương. Rất tiếc là các anh đã thuyên chuyển, rời khỏi đơn vị khá sớm, sau khi nắm đại đội và đánh thắng vài trận, để lại bao luyến thương và tiếc nuối cho tất cả mọi người. Dương Đình Chính đã tử trận (mất tích) tại chiến trường Kontum mùa Hè năm 1974, khi vừa lên nắm Tiểu Đoàn 1. Bùi Hữu Kiệt thuyên chuyển về TK Ninh Thuận, nắm một tiểu đoàn ĐPQ và hy sinh tại Bình Định cuối năm 1973 khi dắt tiểu đoàn tăng cường cho mặt trận này. Người cuối cùng còn ở lại đơn vị là anh Hồ Đắc Tùng, sau này là một tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều chiến công trong chiến thắng Kontum mùa Hè 1972.
Khóa 20 VB đã có rất nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc ở các quân, binh chủng, làm rạng danh quân lực. Một số đã thăng tiến rất nhanh, từng giữ các chức vụ Trung đoàn trương, Trung đoàn phó BB như các anh Trung tá Hoàng Mão, Nguyễn Thái Bửu, Trương Phúc, Huỳnh Bá An – Liên đoàn Phó BĐQ: các anh Trung tá Lại Thế Thiết, Nguyễn Văn Măng, – Quận trưởng: Trung tá Đoàn Minh Phương, các anh Thiếu tá Huỳnh Túy Viên, Thái Lê Trương, – Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc thuộc các đơn vị Tổng Trừ Bị như các Thiếu tá ND Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa, Nguyễn Văn Nghiêm, các anh Thiếu tá TQLC Phạm Cang, Phạm Văn Tiền, Nguyễn Văn Sử, các anh Thiếu tá BĐQ Vương Mộng Long, Quách Thưởng, Nguyễn Hữu Mạnh, Nguyễn Văn Nam vv…,tôi luôn nghĩ đến Phan Ái Minh, người bạn đa tài của tôi, và xót xa nhớ tới những vì sao sớm vụt tắt trên bầu trời tuổi thơ của chúng tôi thuở trước.
Phạm Tín An Ninh
(nhân ngày giỗ thứ 40 của Phan Ái Minh)
Ghi chú:
[*] Đỗ-Bê là bạn học cùng lớp (đệ Ngũ và đệ Tứ) với tôi khi chúng tôi còn học ở trường Trung học Văn Hóa (Nha Trang). Bê vào Khóa 19 Thủ Đức, được phục vụ ở TTHL Lam Sơn (Dục Mỹ), nhưng đến giữa năm 1973, theo lệnh Bộ TTM, phải hoán chuyển ra đơn vị tác chiến, Đỗ-Bê về đơn vị tôi (Trung Đoàn 44BB) giữ chức vụ Tiểu Đoàn Phó TĐ 1/44. Tháng 8/1974, Đỗ-Bê được lên giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng, thay cho Cố Th.Tá Dương Đình Chính (cùng Khóa 20 VB với Phan Ái Minh) tử trận tại Tiền Đồn 5 Kontum. Nhưng chỉ sau 3 tháng (11/1974) Đỗ Bê cũng đã hy sinh bên ngoài căn cứ 801 Pleiku (cách Hàm Rồng khoảng 15 cây số)
Tôi ở Quận Cam, California đã hơn mười năm. Ở đây ra biển không xa mà bóng núi cũng gần, nhưng sao tôi cảm thấy từ lâu nay mảnh đất này hình như thiếu một điều gì.
Có những đêm, thức giấc nghe như có tiếng mưa trên lá và trên cây cỏ, tiếng mưa rào rào như nhắc tôi nhớ lại những đêm mưa thuở nhỏ ở quê nhà, nhưng một lúc sau tỉnh táo, hụt hẫng, tôi bỗng nhớ lại đây là tiếng nước tự động tưới cây trong vườn hàng đêm. Đã lâu lắm, Cali lại có những cơn mưa. Mấy tuần này mưa lại dồn dập ngày này qua ngày nọ, mưa ngày lại mưa đêm. Trời mưa, dù đang nằm nhà hay lái xe trên xa lộ tôi vẫn thấy lòng mình như lắng lại, tiếng mưa như giội sạch, kéo đi những rác rưởi muộn phiền, sau đó, trời đất dịu mát, đường sá sạch sẽ, bầu trời quang đãng và có lẽ người ta có được cái cảm giác bước tới một ngày mới mẻ. Những đêm như đêm nay, tiếng xe cộ đã yên tĩnh, khi lòng không lo nghĩ, thức giấc nghe tiếng mưa rơi trên mái nhà, trong vườn cây,“ trở nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe” lại nhớ thời niên thiếu, yêu những câu thơ mưa của Huy Cận, yêu đến thuộc nằm lòng:
“Đêm mưa làm nhớ không gian,
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương giọt nước mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong bồn,
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi
Rơi rơi dìu dịu rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ …
Tương tư hướng lạc phương mờ
Trở nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe
Gió về, lòng rộng không che
Hơi may hiu bắt bốn bề tâm tư … “
(Buồn Đêm Mưa – Huy Cận)
hay như trong một bài mưa, thơ bảy chữ khác, ít phổ biến hơn:
“Mưa giong buồn sợi xuống lơi lơi
Lạnh của không gian thấm xuống người
Rơi rớt về đây muôn hướng gió
Lòng sầu vạn dặm gió mưa phơi”
(Mưa)
Thế mà giữa hai tuần mưa tầm tã ở quê người, lại nghe tin nhà thơ Huy Cận ra đi. Cái tên Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Tế Hanh … nói đến như soi rọi lại một quãng đời niên thiếu như vùng vẫy, lặn hụp trong giòng sông dịu mát của những vần thơ của các thi sĩ, gọi là tiền chiến, được trịnh trọng chép tay trên những trang giấy mỏng xanh, đóng thành tập hay chuyền tay nhau trong lớp học.
Nỗi buồn trong thơ Huy Cận cũng là nỗi buồn của những chàng trai mới lớn, bâng quơ, nhen nhúm chút tình yêu trai gái nhẹ nhàng, hư ảo, không để lại bằng mắt bằng môi, mà bằng một tà áo thoáng qua, chút tơ trời vương vấn hay chút mây trắng trôi qua khung cửa lớp học:
“Gió thổi sân trường chiều chủ nhật;
Ôi! Thời thơ bé tuổi mười lăm … “
Nắng hoe rải nhạt hoa trên đất
Đời dịu vừa như nguyệt trước rằm.”
(Học Sinh)
“Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng .. “
… “Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thổi lại lòng anh những núi non”
(Áo Trắng)
hay:”
Một hôm gió thổi tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ”
(Học Sinh)
Nhớ tới Huy Cận là nhớ tới “Tràng Giang” có một thời đã là một bài học thuộc lòng ở bậc trung học:
“Sóng gơn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy giòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên, sầu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu … “
(Tràng Giang)
Một bài thơ của Huy Cận được phổ nhạc, rất phổ biến tại miền Nam trước năm 1975 là bài “Ngậm Ngùi”, nhưng một đôi khi người phổ nhạc quên đề tên tác giả, mà người hát thì chẳng buồn nhớ tới người thơ. Các bạn hãy cùng tôi một chút “ngậm ngùi” nhớ lại:
“Nắng chia nửa bãi chiều rồi …
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau;
Em ơi! Hãy ngủ … anh hầu quạt đây.
Lòng anh mở với quạt này
Trăm con chim mộng về bay đầu giường
Ngủ đi em, mộng bình thường
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ …
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau.
Tay anh em hãy tựa đầu
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.”
Thế giới thơ của Huy Cận dịu dàng, mờ nhạt như những bức tranh thủy mặc:
“Đi rồi, khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc, tiếng còn tịch liêu.
Trơ vơ buồn lọt quán chiều
Mái nghiêng nghiêng gởi buồn theo hút người”.
(Đẹp Xưa)
Sau 1945, chúng ta ít được đọc thơ Huy Cận vì ranh giới chính trị và sau 1954 là ranh giới Bắc Nam. Trong thời gian này, Huy Cận lên Việt Bắc rồi theo Cộng Sản về nắm chính quyền, tham chính tới chức Thứ Trưởng Văn Hóa. Cũng như các văn thi sĩ, dưới chế độ Cộng Sản, nhất là đối với những người đã được chút ân sủng của Đảng, họ bắt đầu chối bỏ tất cả tác phẩm của mình “trước cách mạng” và bắt đầu đi theo con đường cúc cung tận tụy hết lòng với Bác và Đảng. Có lẽ những bài thơ ca tụng Bác của Huy Cận không nồng nàn, tận tụy như của Tố Hữu, nên chức vụ của Huy Cận cũng là một chức vụ không có mấy thực quyền, trong một chính phủ thường có rất nhiều loại “thứ … “. Mấy câu thơ Huy Cận làm trong thời gian ở Việt Bắc (1948) sau đây thấy không có gì là thơ, mà cũng chẳng có gì là “huy cận”:
“Về đây ở với đồng bào
Người quen ngõ thuộc vui nào vui hơn”
(Quanh Nơi Làm Việc)
hay một bài thơ khác ca tụng đất Nghệ Tĩnh:
“Đất này đất Xô Viết
Đảng mở hội cờ hồng
Tự tuổi vàng đá biết
Mặn nồng tình công nông”
(Gởi Người Bạn Nghệ Tĩnh)
hay loại thơ “chống Mỹ”:
“Giặc Mỹ! Mày hung ác quá chừng!
Bom gieo sạt phố, đổ xiêu tường
Nhưng bao người viết thư tường ấy
Sẽ tống xô mày xuống đại dương.
(Những Lá Thư Trên Tường Hải Phòng)
Nhưng có lẽ rồi trong cuối cuộc đời, Huy Cận, người thơ lãng mạn của thập niên 40 đã làm xao xuyến bao nhiêu con tim “thơ bé tuổi mười lăm”, đã tìm thấy đâu là vĩnh cửu, đâu là giai đoạn. Người ta kể rằng, món “chiến lợi phẩm” quí giá nhất mà Huy Cận đã mang về từ Saigon sau tháng 5-1975 là một cuốn băng sưu tập bài thơ “Ngậm Ngùi” phổ nhạc, một trong những bài thơ “tiểu tư sản, ủy my, thiếu chiến đấu tính” đã vứt đi, qua 8 giọng hát khác nhau của các ca sĩ miền Nam.
Huy Cận đã ra đi, thân xác ông, một người đã từng tham chính trong chế độ, sẽ về nằm vĩnh viễn ở nghĩa trang Mai Dịch chẳng hạn, nhưng có lẽ những giòng thơ “tiền chiến” của ông, những vần thơ của một người làm thơ còn trung thực, chưa biết căm thù hay dối trá, sẽ còn nằm lại trong trí nhớ của chúng tôi, một chút “bâng khuâng trờirộng nhớ sông dài … “
Tôi rời khỏi bệnh viện hải quân Sasebo vào hạ tuần tháng Giêng 1943. Những tháng dài điều trị đã chấm dứt. Tôi trình diện đơn vị gốc, Không đoàn Ðài Nam thuộc Không Hạm đội 11, hiện trú đóng ở Toyohashi, miền Trung nước Nhựt.
Tôi từng gia nhập không đoàn này vào tháng 9 năm 1941 ở Ðài Nam, trên đảo Ðài Loan. Trong số 150 phi công rời khỏi Ðài Loan tham gia cuộc tấn công vĩ đại của Nhựt xuyên qua Thái Bình Dương, vỏn vẹn 20 người sống sót. Những kẻ chưa chết làm nòng cốt giúp thành lập một không đoàn mới, quân số phần nhiều là phi công mới tốt nghiệp Tsuchiura và một số trường phi hành khác. Khi tôi đến Toyohashi, Trung tá Tadashi Nakajima đích thân tiếp đón tôi. Cả hai chúng tôi đều không ai nghĩ sẽ gặp lại nhau ở đây, thay vì Rabaul. Nhờ trời, Nakajima vẫn là thượng cấp của tôi. Ông không tỏ vẻ nghi ngờ việc tôi có thể bay lại được hay không.
Ngay ngày hôm sau tôi quay về với tình yêu đầu của mình, chiếc Zéro. Tôi không thể nào diễn tả hết cảm xúc thích thú khi tôi trở lên không trung với chiếc chiến đấu cơ ngoan ngoãn và ngoạn mục này. Nó giống như một giấc mơ. Tôi đã bay thử mọi cách, nhào lộn, lướt thẳng đứng, chúi xuống, rơi như chiếc lá. Không gian khiến tôi ngây ngất.
Trong tư cách một sĩ quan, tôi bắt buộc phải biết qua viễn cảnh mới của toàn thể cuộc chiến. Lính trơn hay hạ sĩ quan không được phép xem các báo cáo mật về chiến trận, hải quân chỉ dành đặc ân cho sĩ quan mà thôi.
Tôi đến Toyohashi nhiều ngày, nhưng Nakajima không nói một lời nào liên quan đến cuộc rút lui khỏi Guadalcanal của chúng tôi vào ngày 7 tháng Giêng năm 1943, đúng sáu tháng sau ngày Hoa Kỳ đổ bộ. Ðài phát thanh đã công bố đây là cuộc rút lui chiến lược, hoặc, phải thâu hẹp các tuyến phòng thủ của chúng tôi, nhưng các phúc trình mật cho thấy đó là một chiến bại choáng váng với những mất mát khủng khiếp.
Cả hai sư đoàn bộ binh trên đảo đã bị địch quân đánh tan tành. Hải quân hầu như mất trọn một hạm đội thời bình. Nằm phơi thân rỉ sét trong bùn ở Guadalcanal ít ra là hai thiết giáp hạm, một hàng không mẫu hạm, năm tuần dương hạm nặng, mười hai khu trục hạm, tám tiềm thủy đĩnh, hàng mấy trăm chiến đấu cơ và oanh tạc cơ, đó là không kể con số phi công khu trục và phi hành đoàn oanh tạc cơ bị chôn vùi theo.
Chúng tôi đã làm gì? Chúng tôi đã tung ra những cú đấm trừng phạt xuyên qua Thái Bình Dương. Chúng tôi đã quét sạch chiến đấu cơ địch hết lượt này sang lượt khác. Các cơ quan tuyên truyền Nhựt đã cho biết như vậy. Nhưng các phúc trình mật từ mặt trận cho biết đối phương có nhiều loại phi cơ mới, còn tối tân hơn loại P-39 Airacobra và P-40 Warhawk.
Lần đầu tiên tôi biết sự thật xảy ra ở Midway vào cuối tháng 6-1942. Bốn hàng không mẫu hạm, và gần trọn 300 phi cơ với hầu hết phi công đã biến mất. Những con số không thể tin được.
Tim tôi như chìm xuống khi tôi nhìn thấy những tân phi công vừa mới được bổ nhiệm. Họ nhiệt thành, thừa can đảm! Nhưng sự nhiệt thành và lòng can đảm không dính dáng gì đến tài ba của một phi công. Những người này thiếu hẳn sự tinh nhạy để đương đầu với phi công Hoa Kỳ càng lúc càng gia tăng số lượng đông đảo chưa từng thấy ở Thái Bình Dương.
Những người có khuôn mặt rạng ngời ấy có thể lấp đầy khoảng trống bỏ lại bởi những phi công lão luyện như Sasai, Honda và Ota không? Công cuộc huấn luyện mà họ phải trải qua ở Toyohashi rất đứng đắn. Từ bình minh cho đến hoàng hôn, các huấn luyện viên chạy theo họ không rời một bước. Những bài học trong lớp cũng như các chuyến bay thực tập liên tục và tất cả những trận đánh trong quá khứ được làm sống lại, nhét vô đầu óc những người mới này. Làm sao giữ đội hình không chiến. Làm sao giữ cần lái cho thật chính xác. Thân thể trở nên gắn liền một khối với phi cơ, biết rung động, biết cảm và biết lắng nghe mọi tiếng động thoát ra từ thân máy bay. Không xem khối sắt như phương tiện nhấc mình lên mà bay bổng như chính thân thể được chấp cánh. Biết cách tiết kiệm xăng trên cao độ nào với vận tốc nào, và phải biết cách nhả từng loạt đạn ngắn bằng cách nhấc ngón tay ra khỏi cơ bẩm đúng lúc để không tiêu hết hộp đạn ngay loạt đầu. Nhưng chúng tôi lại không có đủ thời giờ. Chúng tôi không thể xem xét những lỗi lầm của từng cá nhân một để sửa chữa. Không ngày nào trôi qua mà không có xe cứu thương rú còi inh ỏi chạy xuống phi đạo: một người chúi đầu xuống đất hoặc nhiều người văng ra khỏi những chiếc phi cơ vỡ tan khi cất cánh hoặc đáp xuống.
Không phải tất cả những phi công mới đều yếu kém. Nhiều người đã tỏ ra có triển vọng nối bước những phi công đại tài thế hệ 1939-1940. Nhưng đáng buồn là họ không có dịp bay nhiều, không thâu thập kinh nghiệm chiến đấu nào, trước khi được tung ra đối đầu với phi công Hoa Kỳ.
Khoảng một tháng sau khi Guadalcanal thất thủ, chúng tôi được triệu tập tham dự một phiên họp gồm toàn sĩ quan để nghe tin tức liên quan đến một thảm họa khác. Tin tức này được duy trì độ mật trong suốt thời gian còn lại của cuộc chiến, và không bao giờ được tiết lộ ra ngoài công chúng. Phía sau các cánh cửa đóng kín, tôi đã đọc và biết rằng một đoàn công-voa của Nhựt bao gồm 12 quân vận hạm, 8 khu trục hạm và nhiền tàu hộ tống nhỏ hơn, mưu toan đổ quân lên Lae, căn cứ không quân cũ của tôi. Có ít nhứt 100 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ địch đã tấn công đoàn công-voa đang lướt trên mặt biển bao la, đánh chìm tất cả quân vận hạm và khoảng 5 khu trục hạm. Thảm họa này lớn hơn thảm họa Guadalcanal, vì nó nêu bật rằng chúng tôi đã bất lực không thể nào chận đứng nổi các cuộc tấn công hiệu quả không thể tưởng của đối phương nhắm vào các hải lực trên mặt biển của chúng tôi.
Vài ngày sau đó, Không đoàn Ðài Nam được lịnh di chuyển cấp tốc đến Rabaul. Trung tá Nakajima hỏi tôi có thể theo ông trở lại Tây Nam Thái Bình Dương được không? Tại sao ông có thể nghĩ là tôi muốn làm khác hơn? Nakajima nói với tôi rằng mặc dù tôi đui mắt bên mặt, ông vẫn xem tôi tài ba hơn bọn phi công tập tễnh. Ðêm đó, Bộ Chỉ Huy đưa ra một danh sách các phi công được thuyên chuyển đến Rabaul, bao gồm tên tôi.
Nhưng chúng tôi đã thất bại trong việc đối đầu với y sĩ trưởng của bịnh viện Toyohashi. Ông ta nổi nóng khi thấy tên tôi trong bảng danh sách. Ông ta bước ào vô văn phòng của Trung tá Nakajima và để cơn giận bốc lên trước mặt vị chỉ huy trưởng đang đầy khó chịu. “Tư lệnh mất trí rồi!”. Ông ta rống lên. “Có phải Trung tá muốn giết người này không? Sao lại cho phép một tên phi công chột mắt ra trận? Tôi không cho phép Sakai thuyên chuyển đến Rabaul!”. Chúng tôi có thể nghe cuộc cãi vã của họ lồng lộng từ phía bên này sân bay.
Nakajima cãi lại rằng tôi còn tốt hơn bọn phi công mới, rằng hai mắt hoặc một mắt cũng vậy thôi, đâu có ảnh hưởng gì đến sự khéo léo phía sau những dụng cụ trong phòng lái của một chiếc Zéro, mà cũng không thành vấn đề đối với kinh nghiệm chiến đấu lâu dài của tôi. Vị y sĩ trưởng không nhượng bộ. Bấy giờ Nakajima nổi nóng. Họ cãi qua cãi lại mấy tiếng đồng hồ, nhưng cuối cùng vị y sĩ trưởng bước ra khỏi phòng trong vẻ đắc thắng. Ông ta đã thuyết phục được Nakajima thay đổi ý kiến.
Tôi chạy ùa vô phòng của chỉ huy trưởng, van nài ông duy trì ý định. Lần đầu tiên ông nhìn tôi với vẻ nghi ngờ, ông cố nói, nhưng mặt ông càng lúc càng đỏ bừng. Cuối cùng, ông hét lớn, “Im đi!” và bước ra ngoài, miệng làu nhàu rằng tất cả bọn phi công đều điên hết.
Do đó, tôi được chỉ định làm huấn luyện viên phi hành ở căn cứ không quân Omura, gần Sasebo.
Không đoàn Ðài Nam đến Rabaul ngày 3 tháng 4-1943, khoảng một tuần sau, tôi đọc báo cáo tiền tuyến, biết được không đoàn đã thực hiện nhiều phi vụ tấn công quan trọng ở Guadalcanal, vịnh Milne, hải cảng Darwin và nhiều mục tiêu khác. Trong bốn phi vụ, chiến đấu cơ và súng phòng không địch đã hạ 49 chiếc trong tổng số phi cơ của không đoàn.
Hết thảm hoạ này đến thảm hoạ khác. Vào ngày 19 tháng 4, một tin đồn khủng khiếp, được xác nhận không lâu sau đó, lan rộng giữa các sĩ quan. Vào ngày trước đó, Ðô đốc Isoroku Yamamoto, Tổng tư lịnh Hải quân Hoàng gia Nhựt đáng kính phục của chúng tôi đã thiệt mạng. Tôi đọc đi đọc lại phúc trình của vụ này. Theo đó, Ðô đốc Yamamoto đáp một trong hai chiếc oanh tạc cơ Mitsubishi G4M, với 6 chiến đấu cơ Zéro hộ tống, trên đường đi thanh sát mặt trận đã bị 18 chiến đấu cơ Lockheed P38 Lightning hai máy của Hoa Kỳ lướt xuyên qua vòng đai hộ tống, bắn rơi cả hai oanh tạc cơ này.
Và tôi vẫn ngồi ở Omura, với nhiệm vụ huấn luyện bọn phi công mới. Tôi nhận thấy khó thể giữ sự tin tưởng khi nhìn đám tân khoá sinh chạy chập choạng trên phi đạo và lướt vụng về lên không. Hải quân thiếu hụt phi công trầm trọng, các khoá học mở ra hầu như hàng tháng nhưng vẫn không đáp ứng nhu cầu đòi hỏi. Trước khi bị quăng ra mặt trận, có nhiều người chưa rờ đến một cần lái khu trục cơ.
Mọi thứ đều cấp bách! Chúng tôi được chỉ thị dạy vội vàng, bỏ qua những điểm chi tiết. Ðúng hơn là chỉ dạy họ bay và bắn. Nhiều tháng dằng dặc và buồn chán, tôi cố đào tạo những người được quăng đến tay chúng tôi ở Omura thành những phi công chiến đấu. Phương tiện của chúng tôi quá kém cỏi, đòi hỏi quá lớn, thiếu thốn mọi bề và khóa sinh quá nhiều .
Tôi cảm thấy đang chết lần mòn. Xứ sở của tôi lâm vào tình cảnh bối rối, không còn nghi ngờ gì nữa. Công chúng không biết sự thật này, cả sinh viên sĩ quan lẫn tân binh cũng không biết. Nhưng các sĩ quan đã nhìn tận mắt các báo cáo, ý thức tầm mức nghiêm trọng của tình thế.
Vào tháng 9 năm 1943, tôi đã xúc động khi hay tin một người bạn thiết của tôi, một trong những phi công vĩ đại nhứt của Nhật Bản, Trung sĩ Kenji Okabe, đã bị bắn rơi và thiệt mạng ở Bougainville. Hắn là bạn đồng khoá với tôi ở Tsuchiura, một “Sát tinh” đã lập được thành tích vô song: bắn hạ bảy phi cơ địch trong một ngày chiến đấu trên không phận Rabaul. Sau thành tích phi thường này, Ðô đốc Ninichi Kusaka, Tư lịnh Không hạm đội 11, có yêu cầu Bộ Tư Lịnh Hải Quân ở Ðông Kinh ân thưởng một huy chương cho Okabe. Không có gì thay đổi. Ðông Kinh đã từ chối dựa trên căn bản “chưa có tiền lệ” giống như lời từ chối được đưa ra cho Ðại tá Saito một năm trước đây. Tuy nhiên, Ðô đốc Kusaka không chịu gạt vấn đề một cách dễ dàng như vậy. Bất cần quyết định của từ Bộ Tư Lịnh ở Ðông Kinh, đô đốc đã ban tặng thanh kiếm chỉ huy của ông cho Okabe, trong một buổi lễ danh dự đặc biệt. Ba ngày sau, Okabe đã bị chết cháy trong chiếc Zéro rơi xuống như cây đuốc của hắn.
Vào tháng 4 năm 1944, sau rất nhiều tháng huấn luyện dài dằng dặc đầy mệt mỏi ở Omura, tôi được thuyên chuyển đến Không đoàn Yokusuka. Trước chiến tranh, việc được bổ nhiệm về Không đoàn Yokosuka là một mơ ước, vì đây là đơn vị không quân phòng vệ cho hoàng gia, có nhiệm vụ bảo vệ không phận Ðông Kinh. Hiện thời, không đoàn này đã đổi khác. Thời gian của những sự bổ nhiệm gọi là “mơ ước thủ đô” đã trôi qua hẳn rồi.
Qua những phúc trình mật, tôi đã lượng định cuộc chiến đúng sự thực của nó. Các phúc trình mật là một tiếng thét lớn hơn tiếng thét của đài phát thanh hướng đến đám quần chúng cả tin. Khắp nơi ở Thái Bình Dương, các lực lượng của chúng tôi thối lui liên hồi. Những lực lượng đặc nhiệm cực mạnh mẽ, những hạm đội đồ sộ không thể tưởng của Hoa Kỳ mặc tình ngao du trên Thái Bình Dương.
Tôi đọc hết phúc trình này đến phúc trình khác, và tất cả đều nói đến sự hủy diệt khủng khiếp do các hạm đội đánh mạnh đánh mau Task Forces này gây ra. Không lực của địch quân càng ngày càng nắm quyền bá chủ trên không. Cả mấy trăm chiếc P38 Lightning xuất hiện cùng lúc, tràn ngập chiến đấu cơ của chúng tôi. Chiến đấu cơ Grumman F6F Hellcat và pháo đài bay tầm xa B29 loại mới của đối phương hầu như ra mặt hàng ngày, và những câu chuyện hài hước liên quan đến khả năng của phi công địch báo hiệu đen tối cho tương lai. Không Hải đoàn Nhựt không có vũ khí nào khác ngoài những câu chuyện hài.
Chúng tôi vẫn còn giữ vững Rabaul, nhưng pháo đài có lần được coi là kiên cố này, không còn mảy may đe doạ nào đối với Moresby và các căn cứ khác của đối phương. Người Mỹ đang sử dụng pháo đài này để thực tập dội bom.
Nguyễn Thanh Thu và bức tượng Thương Tiếc tại Ngĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
Từ trước Tết Đinh Hợi (2007), tôi đã có dịp gặp anh Nguyễn Thanh Thu, tác giả của tác phẩm điêu khắc nổi danh “Tiếc Thương”, chắc bạn đọc ở Việt Nam chưa ai quên.
Anh đã đi định cư tại Hoa Kỳ, nhưng gần đây có nhiều bạn bè và “tin đồn” anh đã trở về Việt Nam. Và cũng không ít dư luận cho rằng nhân dịp Nghĩa Trang Quân Đội được trả lại cho tỉnh Bình Dương, có thể tác giả sẽ có cơ hội dựng lại tác phẩm ở một… nơi nào đó.
Tôi nhận được e mail và điện thoại của anh Huy Phương từ Mỹ, nhờ đi tìm anh Nguyễn Thanh Thu.
Nhưng oái oăm thay cái địa chỉ anh cho lại rất mơ hồ: Phường 5, đường Lê Quang Định, và anh còn “vẽ đường cho hươu chạy… lạc” rằng “ở phía cổng sau Bộ Tổng Tham Mưu cũ, cứ hỏi, ai cũng biết”. Tôi đem cái địa chỉ đó đi hỏi lung tung, chẳng ai biết và chẳng ai có thể “đoán” ra nó nằm ở cái chỗ nào trên con đường đã có quá nhiều thay đổi này. Tôi thuê xe ôm đi tìm một lần, nhưng cái Phường 5 đường Lê Quang Định rối rít tít mù với hàng dãy phố xá, đường hẻm, đường cụt. Anh xe ôm chuyên nghiệp ở vùng này cũng không thể mò ra. Nhưng thì giờ của tôi còn lại ở Sài Gòn rất ít, và bạn bè đã nhờ thì không thể bỏ cuộc. Tôi điện thoại cho Thái Phương rủ thầy giáo này cùng đi kiếm, hay nói cho đúng hơn là đi “mò kim đáy biển”, may ra thì gặp.
Đi Tìm “Ông Nặn Tượng”
Đi suốt một buổi sáng, hai anh em chúng tôi muốn “cãi lộn” vì hẻm này hẻm kia, đường này đường khác. Nhưng cuối cùng tôi “vớ” được một bà già trong con hẻm đường Lê Quang Định, bà đang ngồi vo gạo ở phía cổng sau căn nhà mặt tiền. Tôi hỏi bà cụ ở đây lâu chưa?
Bà vui tính nói: “Mới gần 60 năm cuộc đời thôi”.
– “Thế thì chắc cụ biết, hồi xưa có ông chuyên nặn tượng ở gần đây?”
Bà cụ suy nghĩ một chút rồi nhớ ra: “Ở vùng này, chỉ có ông nặn tượng ở đường bên cạnh đây chứ không phải đường này”.
Đúng rồi, “nghề nặn tượng” là một nghề hiếm nên có hy vọng đúng là địa chỉ cần tìm. Bà cụ chỉ “vòng vo Tam quốc” nhưng cũng không khó tìm lắm. Đi loanh quanh qua con ngõ hẹp, chỉ đủ cho 2 chiếc xe gắn máy tránh nhau, chúng tôi lại ngớ ngẩn trước một ngã ba. Vừa cất tiếng hỏi thăm đường thì một thiếu phụ khá trẻ và… khá đẹp, lên tiếng:
– “Các ông cần tìm nhà ông nặn tượng, cứ đi theo tôi.
Nhân thể tôi cũng đi qua đường đó”.
Được lời như cởi tấm lòng, thày giáo Thái Phương hộc tốc phóng xe theo thiếu phụ không quên ca một câu hơi lớn đủ để người đàn bà nghe được: “Người Sài Gòn bây giờ hiếu khách thật anh nhỉ”. Tôi không quên “bốc” thêm: “Cũng tùy người thôi ông ạ, gặp người tử tế thì may. Có những người “gắt như mắm tôm”, đã không chỉ đường còn bị mắng, bị nguýt nữa mới buồn”. Nhưng có một điều anh Huy Phương chỉ đúng, hầu như tên những người nghệ sĩ dù là từ thời xưa, những người dân ở đây, nếu là người ở Sài Gòn lâu năm, nhiều người còn nhớ.
Đi loanh quanh vài con hẻm, chúng tôi dừng lại trước cửa một tiệm cà phê rất “hoành tráng” có cái tên cũng khá “ấn tượng” là “TƯỢNG ĐÁ”. Quán cà phê rộng, trong một khu cứ như công viên, có những cây cổ thụ gốc rễ xù xì, cao ngất ngưởng. Bên cổng là một nhà nhỏ cho mấy anh “bảo vệ”. Thấy cái cảnh có vẻ “bề thế”, tôi ngập ngừng hỏi thăm bác Nguyễn Thanh Thu.
Anh bảo vệ chỉ ngay một anh thanh niên: “Con ông Thu đó”. Chúng tôi thở phào, tay bắt mặt mừng với người con trai của anh Thu, như đã… quen nhau từ khuya. Anh thanh niên đưa chúng tôi vào theo con đường nhỏ bên phải quán cà phê. Lúc đó điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đang đổi nghề điêu khắc sang “thợ làm vườn”. Anh đang tưới cho mấy chậu cảnh quý ngoài hiên nhà. Xung quanh anh là một số những tác phẩm lẫn lộn cả cũ và mới nằm rải rác trong khu vườn hoa tĩnh lặng. Phía bên kia mới là những dãy bàn ghế cho quán cà phê đang đông khách, được ngăn chia bằng mấy thân cây si, cây đề cổ thụ xòe những tàn lá che kín nửa vùng sân. Nhận ra người quen, anh Thu rời cây kéo tỉa hoa, vui mừng ôm vai bạn. Kiểu “ăn diện” của
Nguyễn Thanh Thu bao giờ cũng giản dị đến… quá bình dân. Cái “mũ nồi” từ đời tám kiếp nào vẫn chùm hụp trên đầu, có vẻ cố giấu cái đầu hơi lớn. Nhưng đó là “dấu ấn đặc biệt made in Nguyễn Thanh Thu”, không lẫn đi đâu được. Cứ như, nếu không có cái “mũ nồi đen” và không có vẻ lam lũ thì không phải là Nguyễn Thanh Thu.
Nhà Điêu Khắc Dang Làm Gì?
Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn nhỏ được tạo hình bằng một gốc cây. Anh Thu bắt đầu tâm sự: “Tôi về Việt Nam hai năm rồi đấy, chứ không như dư luận cho rằng tôi mới về để… làm một cái gì đó”.
Nguyễn Thanh Thu và nhà văn Văn Quang ngày 5-2-2007.
Thái Phương hỏi thẳng thừng:
– Không phải là để dựng lại tượng Tiếc Thương sao?
Nguyễn Thanh Thu cười hà hà, có vẻ khoái chí vì câu hỏi thẳng thắn này. Anh bật người ra phía sau, hất hàm hỏi lại:
– Ai cho làm mà làm? Thái Phương gặng tiếp:
– Nhưng anh có ý định đó không?
– Tôi về đây hai năm rồi với một hoài bão khác chứ không phải là dựng lại tượng Tiếc Thương. Người nghệ sĩ chỉ sáng tạo một lần. Lần thứ hai không thể làm như lần thứ nhất. Nhưng nó sống được trong lòng mọi người thì tự nó còn mãi. Tôi tự hào về tác phẩm này. Dựng lại là một điều chẳng hay ho gì. “Nó” sống trong lòng mọi người là đủ.
Chúng tôi hiểu ý anh, nhưng thật tình sống ở đây lâu, chúng tôi biết, có những điều mà những người như anh Thu hơi ngại, cần phải “giữ mình”. Chúng tôi cũng chẳng khác gì anh. Tôi thông cảm dễ dàng, tuy nhiên cũng cố moi xem anh Thu có gặp trở ngại gì trước những dư luận đó không. Anh lắc đầu:
– Chẳng có gì đáng nói cả. Thật sự là tôi có một hoài bão đã ấp ủ từ lâu chứ chẳng phải là bây giờ mới có. Một bức tượng nói về cuộc sống tươi đẹp của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Thái Phương vốn “nhậy cảm” nên mỉm cười hỏi lại:
– Anh không cho làm như thế là… hơi kỳ cục trong lúc này sao? Người khác có thể hiểu lầm anh về đấy…
Nguyễn Thanh Thu xua tay, trả lời đầy tự tin:
– Dự định sáng tác một tác phẩm lớn có từ vài chục năm nay. Ngay khi ở Mỹ, tôi từng nói chuyện với anh Huy Phương và một số anh em thân gần về dự định này. Nhưng ở Mỹ tôi không có phương tiện làm việc này. Về đây có không gian rộng, cuộc sống gần gia đình, ổn định hơn, tôi hy vọng nối tiếp được những cảm hứng từ xa xưa, tiếp được cái mạch sống của những người dân Việt trên những mảnh ruộng vườn cây… Như thế có cơ hội khơi lại cảm hứng hơn, tác phẩm sẽ “sống” hơn.
Anh chỉ tay về phía bức tượng một thôn nữ, ôm bó lúa, đứng trên khoảng không gian bao la:
– Đó là tác phẩm mới nhất của tôi đấy. Về đây tôi mớ làm. Tôi đã làm chừng hơn mười bức tượng như thế rồi. Kể cả khi còn ở bên Mỹ và thời gian đầu, khi trở về đây. Nhưng làm rồi phá, phá rồi làm. Cái gì không có hồn, tôi dẹp liền.
– Có phải là tác phẩm anh ưng ý nhất không?
– Đúng thế, bức tượng này là hình mẫu, trong toàn cảnh bức tượng lớn mà tôi đang ấp ủ. Còn chín cái đầu rồng đang phun nước nữa, tôi sẽ chỉ cho các anh xem sau. Đây là bức tượng nhỏ, cũng như hồi tôi làm tượng Tiếc Thương thì trước hết phải có một bức tượng nhỏ trong cái mô hình của nó. Đến khi có điều kiện thực hiện, nói cho rõ là khi có “ngân quỹ”, cứ theo đó mà dựng tượng lớn. Lúc dựng tượng lớn, khó mà thay đổi được hoặc không thể thay đổi được. Các anh vào đây, tôi chỉ cho xem cái này sẽ rõ hơn.
Anh đứng lên, đưa chúng tôi vào căn nhà nhỏ phía sau. Treo trên bức tường khoảng 4 thước vuông là một mô hình vẽ bằng tranh màu. Trên đó có thể hình dung ra toàn cảnh bức tượng. Anh dừng lại, say sưa giới thiệu:
– Đây là tất cả ước vọng và tâm tư của tôi. Cảnh chín cái đầu rồng từ mặt biển phun lên vựa lúa dưới chân cô thôn nữ. Đó là hình tượng rất Việt Nam, nó là tượng trưng cho người dân Việt của tất cả mọi thời đại, chứ chẳng riêng thời nào. Đó cũng là ước mơ của tất cả người Việt chúng ta.
Và anh nhắc lại:
– Xin nói rõ, là chín cái đầu rồng chứ không phải chín con rồng. Cũng là đặc trưng của nền văn hóa Á Châu chúng ta nữa.
Tôi nghĩ, mỗi người nghệ sĩ đều có những “giấc mơ” của riêng mình. Người nghệ sĩ thật sự, thường âm thầm nuôi những hoài bão lớn lao. Còn có thực hiện được hay không lại là chuyện khác. Không phải là những kẻ chỉ hành động nhất thời, mưu cầu một chút danh lợi hoặc tiếng tăm, “ăn bám” trên những tên tuổi của người khác. Cũng không phải là người chỉ đắc chí với một tác phẩm nổi danh rồi ngồi đó… làm “thượng đế”, vuốt râu hoài cho đến bạc phếch. Nguyễn Thanh Thu còn hăng lắm, còn say sưa với những cái mới hơn, lạ hơn. Có thể cái sau không bằng cái trước, đã có không biết bao nhiêu nghệ sĩ danh tiếng, sáng tác những tác phẩm cuối đời dở hơn tác phẩm đầu đời. Nhưng tâm hồn nghệ sĩ luôn tràn đầy ước vọng mới là điều cần thiết. Nguyễn Thanh Thu đang có được sức sống mãnh liệt đó. Rất có thể nó là sự “hoang tưởng” như Huy Phương đã nhận định. Và ngay chính chúng tôi, cũng thấy được điều này khi anh nói đến số tiền phải bỏ ra thực hiện tác phẩm của anh.
Tiền Đâu Và Ai Sẽ Tài Trợ Để Thực Hiện?
Anh Thanh Thu tính toán: Bức tượng sẽ mang tên Cửu Long Được Mùa, chiều cao 30 mét, chiều ngang tương ứng cân bằng với chiều cao. Tuy nhiên, xung quanh còn tô điểm thêm những cảnh trí khác như hồ nước hoặc khung cảnh đồng quê, thì chiều ngang chưa thể tính hết được lúc này. Thực tế hơn, tôi hỏi:
– Có nghĩa là những “đồ trang trí” cho thêm phần “hoành tráng” còn tùy ngân khoản sẽ có là bao nhiêu?
– Đúng thế. Có nhiều, làm nhiều. Cứ nói thẳng ra là “tiền nào của nấy”.
– Vậy khu đất anh cần cho bức tượng khổng lồ đó là bao nhiêu mét vuông?
Bài toán đã có sẵn trong đầu nên anh nói ngay:
– Phải có một mẫu.
– Còn số tiền dự trù sẽ là bao nhiêu?
– Ít nhất là hai triệu rưỡi đô-la trở lên.
Đây là ngân khoản để dùng vào việc này mà anh nói với tôi và Thái Phương lần gặp nhau trước Tết, còn khi nói qua điện thoại với Huy Phương từ Cali gọi về thì số tiền lại lớn hơn nhiều — 5 triệu USD. Khi tôi điện thoại lại cho anh ngày 1-3 vừa qua để xác nhận lại các điều cần nói thì anh “hạ xuống” một triệu rưỡi. Có lẽ đầu óc anh còn đang luẩn quẩn với sự tính toán này, chưa dứt khoát chăng? Hay là anh muốn nói “có nhiều làm nhiều, có ít làm ít” thì ngân khoản từ 1 triệu 500 ngàn đến 5 triệu đô-la?
Con số nghe qua hơi “khủng”, nói theo kiểu bây giờ của các cô cậu tuổi “tin” ở Sài Gòn, xin tạm “dịch” là kinh khủng, ghê gớm, vĩ đại… So với tầm vóc một tác phẩm điêu khắc để làm biểu tượng hoặc làm đẹp cho một vùng, một tỉnh, một lãnh thổ thì không có gì là nhiều. Người ta còn có thể làm những công trình vĩ đại hơn mà… chẳng để làm gì cả, đôi khi chỉ là có cái làm để “ăn có”, xong rồi mặc cho thời gian tàn phá. Như làm một cái chợ, một cái trường, một khu dân cư, một lâu đài kỷ niệm vớ vẩn nhưng chẳng ai buồn đến. Chuyện đó xảy ra không ít. Vậy số tiền bỏ ra làm bức tượng như Nguyễn Thanh Thu đang mơ ước cũng không phải là nhiều.
Nhưng như Huy Phương đã phân tích, giấc mộng của nhà điêu khắc nổi danh này khó thực hiện được. Có thể gọi là “hoang tưởng”. Tôi đồng tình với nhận định này. Nhưng cứ để cho nghệ sĩ được quyền mơ giấc mơ của mình. Vì vậy nên theo ý muốn của anh, tôi thông báo đến độc giả ý định này. Có thể liên lạc với anh qua địa chỉ:
Chúng tôi đến bên bức tượng nhỏ Tiếc Thương, anh còn để bên các bức khác trên kệ. Đây là hình tượng lúc ban đầu khi anh bắt tay vào sáng tác Tiếc Thương và được dựng tại Nghĩa Trang Quân Đội ngày 1-11-1966. Hình dung lại khung cảnh đó, tôi không khỏi bùi ngùi.
Trở ra sân, chúng tôi đã đứng trước bức tượng người thiếu nữ khỏe mạnh còn đang đứng đợi… những cái đầu rồng phun nước, mà chẳng biết đến bao giờ con rồng mới thức dậy để được hưởng các vòi nước trong lành từ dòng Cửu Long Giang.
Hỏi đến chuyện gia đình, anh Thu cho biết: hiện nay anh đang sống cùng với vợ và 7 người con. Đã có 6 người lập gia đình, có công ăn việc làm. Chỉ duy còn cô con gái út gần 30 tuổi chưa lập gia đình là cháu Nguyễn Minh Kỳ Nữ. Theo anh thì cháu rất giỏi sinh ngữ và ước mong có thể kiếm được việc làm hợp với khả năng mình. Quán cà phê Tượng Đá cũng đủ sống. Anh nói gia đình anh thừa hưởng lại của ông bà cha mẹ khu đất này rộng 3.000m2.
Trước đây anh là sĩ quan Quân Đội VNCH, cấp bậc sau cùng là thiếu tá thuộc ngành Quân Nhu, phụ trách tổng quát về các công trình ở Sài Gòn và đặc trách về Nghĩa Trang Quân Đội. Tôi hỏi anh có ý định ở hẳn lại Việt Nam với gia đình anh không? Anh cười:
– Nếu có một người nào đó yểm trợ cho công trình dựng tượng của tôi thì tôi sẽ ở lại thực hiện nó cho đến cuối đời, không đi đâu nữa cả. Nhưng nếu không có người tài trợ, có lẽ tôi sẽ trở lại nơi định cư như những người khác thôi. Tôi viết bài này chỉ có mục đích thông tin về người nghệ sĩ tài hoa đã làm nên bức tượng Tiếc Thương sống mãi trong lòng mọi người và để anh có dịp tâm sự với bạn đọc.
Năm 75, đang là sinh viên ban SPCN (Science, Physic, Chimie, Naturel) Lý Hóa Vạn Vật. Đại học Khoa học Sài Gòn em tính thi vô trường Đại học Y Khoa để làm Bác sĩ. Thì miền Nam mến yêu của tụi mình sập tiệm. VC vô bắt em phải đi đào kinh, vét mương để trở thành giai cấp lao động. Học làm Bác sĩ, chuyên chích đít mấy anh mình mà bắt ‘bà’ phải học đào kinh để làm cái giống gì? Bị mấy đứa quần nilon dầu ‘quần’ tối tăm mặt mũi như vậy phần nếu cứ cà nhỏng chống xâm lăng; sợ VC bắt lấy thương binh cùi đui sứt mẻ của nó là bỏ bu nên Tía em nói ưng nó phứt cho rồi. Dẫu sao nó cũng là thằng có học tới Tú tài hai! Vậy là em nhắm mắt đưa chân ra lấy thằng chả. Mặn nồng hương lửa, diễn Nôm là ‘tù ti tú tí’, chưa được đầy năm thì Má ảnh, tức bà già chồng của em, gom đâu được mấy cây vàng tiệm Thế Tài đưa cho em, nói thôi hai đứa bây dông đi mới có tương lai. Tía Má già rồi đành ở lại mà chịu trận. Phước đức ông bà để lại sau một tuần lênh đênh trên biển thì tới được Pulau Bidong, Mã Lai. ‘Giả’ xưa đâu có lính tráng gì nên lọt sổ; vì phái đoàn Mỹ ưu tiên lãnh mấy anh bạn lính đồng minh của nó. Đành phải đi nước Úc của Kangaroo. Dù nghe nói bên Úc mùa Đông lạnh quéo, râu xụi lơ, nhưng đi cho rồi để đảo trống chỗ cho bà con mình mới tới nữa chớ!
***
Những năm đầu tiên ở Melbourne cũng vất vả, bận rộn thiệt nhưng hạnh phúc; vì hổng có thời giờ mà cãi lộn. Nói hổng cãi nhau là không có chính xác. Cũng có một vài lần. Và lần nào cũng vậy, thằng cha cà chớn lửa nầy, ỷ mình độc quyền ‘cầm’, làm nư, mang cái mền dầy cui ra salon ngủ mình ên, bỏ em ở lại một mình trong phòng hoa chúc với cái chăn đơn! Mà bà con biết mà mùa đông Úc Châu nó lạnh trong xương lạnh ra; mà ‘giả’ chơi cha mang cái lò sưởi 37 độ rưỡi đi, bỏ em cô quạnh, để buồn nào hơn đêm nay khi ngoài kia bão tuyết đầy Trời?! Lửa hờn căm của em đã nhen lên từ độ ấy! Em hy sinh làm ‘cleaner’, tức công nhân vệ sinh cho ảnh đi làm ‘cụ’ sinh viên! Sau đó, em thu xếp để vừa học vừa làm, chớ đường đường là một nữ sinh viên đài các SPCN mà lau bàn, quét rác hoài coi sao được nè?! Trời thương cho hai kẻ nghèo nhưng bền chí phấn đấu! ‘Giả’ ra trường, làm chuyên viên điện toán chuyên thảo phần mềm chống bọn’ hacker’, tức tin tặc! Em học xong làm việc cho ngân hàng, chuyên dụ người ta mượn tiền mua nhà để em ăn hoa hồng…
Cuộc sống ổn định, em sinh con. Đứa con trai đầu lòng ra đời chưa bao lâu thì gia đình lủng củng, bắt đầu cãi nhau, trước ít sau nhiều… Và những khác biệt về ý thích, cá tính bắt đầu lộ ra, tình ta rã bèn như đồ vàng mã gặp mưa rào. ‘Giả’ hiện nguyên hình bản tính phát xít như ‘Mussolini’, độc tài như ‘Stalin’, điên loạn như ‘Hitler’ và bốc phét như ‘Mao Trạch Đông’! Thằng chả còn tuyên bố láo lếu như vầy: “Chân lý chính là ta!” (Cứ tưởng mình là Hoàng đế Caesar thời cổ đại La Mã không bằng!) Lấn tới hổng được thì em đành phải thụt lui. Việc tranh cãi giữa hai vợ chồng như chạy chiếc xe trên con đường rất hẹp. ‘Giả’ chắn đường, nếu mình sấn tới tất đụng, hư móp cả hai. Thôi đành gài số ‘R’ mà de lại. Thấy em nhịn thằng chả cứ lấn tới, lấn sát mé giường luôn! Hổng lẽ chịu rớt xuống sàn, đành để cho ‘giả’ chấm tọa độ! Không đi lính mà ‘giả’ có khiếu như đề lô pháo binh vậy. “Em ơi đừng lấy Pháo Binh. Đêm đêm nó pháo rung rinh cả giường!” Kết quả là em tọt thêm một đứa nữa! Thêm con, thêm đầu bù tóc rối rồi cũng thêm xung đột vợ chồng! Giờ như cơm bữa. Ngày nào không có gây là coi như bữa cơm đó mất ngon! Chỉ an ủi là ‘giả’ không có máu bạo động! Hay có lẽ quánh vợ ở Úc nầy, bạo hành gia đình, là bị lính bắt nên ‘giả’ sợ chăng?! Không dám xuống tay động thủ nhưng hay động mỏ, ác khẩu thôi hết biết! Thằng chả không biết rằng chửi vợ cũng là bạo hành đó! (Mấy bà nhân viên xã hội dạy em như thế!) Thằng chả rất tự hào vì có lối nói làm ai nghe phải tức đến hộc máu mồm…
***
Nói tới CS là thằng chả ghét cay ghét đắng nhưng ‘giả’ lại có đủ tính xấu của Cộng sản: tàn nhẫn, độc tài và chuyên chính! Tự coi mình là người duy nhất đúng: “Duy ngã độc tôn!” Mỗi lần thuyết trình đề tài gì cho em nghe, thay vì kính thưa kính gửi má bầy trẻ thì thằng chả lại chửi và có lúc chửi thề; thiệt làm ê chề cho cái tiếng Việt của quê mình ghê! Cãi nhau với em, ‘giả’ gầm thét như hổ nhớ rừng của Thế Lữ vậy! (Là bài thơ tủ của thằng chả!) Một lần có bạn ‘ní’ đến nhậu tại nhà, em nói để em xào cho vài món đưa cay thì ‘giả’ gạt phăng đi… “Em chỉ biết nấu ăn chớ không biết làm đồ nhậu?! Để đó cho ta!” Làm 5, 10 chai beer, là phởn lên: “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt. Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua. Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ. Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm …Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm. Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi. Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi. Với cặp báo chuồng bên vô tư lự”
***
Chính vì nghĩ mình là Cọp, nên ‘giả’ luôn kiêu căng, tự phụ, mở miệng chê bai người này ngu, kẻ kia dốt, óc đặc, óc tàu hủ… Bản tính ‘giả’ vốn không chấp nhận phê bình, chỉ trích hoặc khuyên răn gì ráo, nhiều lúc em chỉ nhận xét nhẹ nhàng (như búa bổ) nhưng ‘giả’ cảm thấy thương tổn và chỉ chờ dịp để sỉ vả em rất nặng lời. Khi thằng nhỏ con em được 3 tuổi, trong một lần cãi vã, ‘giả’ nói: ‘Mother in law’ (má đơ in lo) lúc nào cũng phải lo! (Chẳng qua em có lén gởi về má em chỉ có hai ngàn đô để ăn trầu. Thằng chả xót của quá, nên phát biểu linh tinh!) Đấy là giọt nước làm tràn cái ly đã đầy. Chút tình cảm vợ chồng còn sót lại trong em hoàn toàn nguội tắt. Người ta nói dâu hiền rể thảo. Nhưng rể nầy là rễ đu đủ! Em bèn ra luật sư để làm thủ tục ly dị. Luật sư khoái quá, hối em ký lẹ lẹ lên đi! Nhưng em nhìn hai đứa con thơ, chúng có tội tình gì mà phải chịu mồ côi khi cha chúng còn sờ sờ ra đó. (Còn ăn, còn nhậu, còn nói dóc tưng bừng!) Ly dị rồi lỡ có con ‘ngựa bà’ khác nhào vô ‘giả’ thì sao? Đâu có được nè! Vậy là em ngoe ngoảy ra về, tiếp tục ở nữa, dù ông Luật sư mất mối, mặt buồn xo như cái bánh bao chiều! Vậy là tiếp tục chịu đựng, vì tình yêu đã đội nón lá ra đi, cuộc sống bên lề đời nhau thật là nhạt hơn nước ốc. Hu hu! (Trích nhựt ký cùa em yêu! He he)
Chuyện tôi sắp kể có thể có bạn không tin. Viết truyện, tôi luôn hư cấu thêm mắm nêm muối nhưng lần này thì không, nói theo kiểu người còn ở trong nước rằng thì là “hơi bị vô tư”. Chuyện gì thế? Ô, chuyện về một con mèo. Động vật bốn chân hẳn hoi chớ không phải mèo hai chân có bí danh “bồ nhí”. Vì sao đàn ông ngoài chuyện thích ăn phở họ còn chùng vụng dại khờ việc mèo mả gà đồng? Lãnh vực này hôm khác sẽ viết riêng một bài dài sau khi đã tra cứu tài liệu do các nhà phân-tâm-lý-học bỏ công thăm dò soạn thảo (cũng nên hội ý với mấy ông bác sĩ thú y chuyên trị về mèo?). Bỏ qua đi nghen, bị đang nói tới mèo bốn chân, về con vật có lắm người chẳng thích nuôi, nghe meo meo tưởng nó trù yểm cho mình nghèo suốt kiếp. Tôi nhớ lại thời tiểu học, giờ tập làm văn từng cắn bút trước cái đầu đề cô ra: “Em hãy tả về một con thú cưng đang nuôi và trình bày những cảm nhận về nó”. Nhà tôi dạo đó nuôi tới hai con, một chó một mèo. Tôi thấy con nào cũng đáng nói cả, về tính tốt cũng như thói hư tật xấu và vì vậy bài luận văn của tôi bị cô phê mực đỏ: “Luộm thuộm, dài dòng, lạc đề. Chọn một trong hai con thôi chớ!”. Tuy không ăn hột vịt nhưng điểm thấp, gần đội sổ. Tấm bé đã học được kinh nghiệm là chớ nên thương yêu bao đồng, mai sau có vợ bên lưng thì đừng mơ mòng tới bồ nhí nghe cưng! Thuở nhỏ tôi học rất dở, không cứ là luận văn, môn toán đố cũng chẳng mấy khi được chia tay giã từ zéro, thầy quen tên và quen tay cứ cho “hắn” số không miết. Một lần thầy dạy toán chỉ mặt tôi: Bây giờ tôi cho em hai con mèo, thêm hai con rồi cho tiếp hai con. Như vậy tổng cọng em có được mấy con mèo? Tôi đáp: Bảy. Thầy lắc đầu: Này, hãy nghe lại cho rõ nhé, lần đầu cho hai con lần sau thêm hai lần cuối cho tiếp hai, cả thảy được mấy con? Tôi nói: Bảy. Lại lắc đầu, mặt nhăn nhó. Thôi thì thế này, bây giờ tôi cho em hai viên bi cho thêm hai viên rồi thêm hai viên nữa. Em có mấy viên bi? Sáu. Giỏi. Vì sao bi lại đáp đúng mà mèo thì tính sai. Răng trò cứ đòi nhét thêm một con vô rứa ? Thưa thầy, tại em có sẵn một con ở nhà…
Con mèo, nhân vật chính trong chuyện kể sau đây mang tên Katy. Không phải là con mèo tam thể thời xa xưa đã chết mất đất. Bất đắc dĩ tôi nuôi nó, chẳng đặng đừng do bởi bạn dọn nhà đi xa, vợ chồng hắn có tới ba con mèo nheo nhóc bèn vất bớt cho tôi một con kèm mấy chữ “giữ làm kỷ niệm”. Ở đời bộ hết cái giữ làm kỷ niệm rồi sao tía má? Vợ chồng nhà ngươi thật là không biết chơi chữ! Thấy tôi chẳng phản ứng gì, bạn bồi tiếp: Vì mỗi lần mày ghé tao, trong ba con thì Katy luôn tìm cách lân la cọ quẹt vào người mày. Katy cũng từng dạn dĩ nhảy vào lòng mày, mắt lim dim, nhớ không? May mà chữ duyên số hắn không dùng tới trong trường hợp này. Hắn vốn rất đào hoa, có nhiều người tình, hắn kể với bộ mặt tự cao tự đại rồi kết luận: Cuối cùng lấy bà này làm vợ thì rõ là do duyên số sắp đặt.
Bạn có tin tôi nhận nuôi con Katy là do duyên số xúi không? Đi làm cả ngày, đóng cửa cài then nhốt giữ con vật nội bất xuất ngoại bất nhập nằm im re trong nhà, nghĩ cũng áy náy. Nhưng tình ngay mèo là con thú lười biếng không có tính năng động như chó nên lương tâm “ông chủ” tạm nguôi ngoai, thôi bị gặm nhắm vào hai chữ ác ôn. Có mặt hay vắng bóng mình thì nó đâu quan hoài tới. Ngoài chuyện “như mèo dấu cứt” giống nòi nó cũng thuộc hạng kín tiếng rất mực, chỉ kiệm lời meo meo chừng như muốn diễn đạt: Đói bụng rồi đây này, kíp bày thức ăn ra ngay.
Thiết nghĩ bài luận văn hôm nay đã khá dài phần nhập đề, sợ luộm thuộm lạc đề tôi xin được vào phần thân bài (kẻo bị cô la ngựa quen đường cũ). Hôm đó, chẳng phải một sớm sương thu đầy gió lạnh. Bữa nọ, trời chiều nhá nhem tôi vác xác nhừ tử từ hãng xưởng về nhà thấy có đôi ba ánh đèn chớp đỏ bắt trên trần xe đậu ngay trước chung cư nơi tôi thuê ngụ. Bà Yarek người Ba Lan mướn căn sát nách đang đứng ngoài sân hóng tin, thấy tôi liền thông báo cớ sự bằng thứ tiếng ấp úng khó hiểu thường lệ của bà, chưa vô thân bài thì một ông cảnh sát bất thần đứng chen vai: Phải ông Trần không? Ở căn số 12? Ông nói thêm một câu, có thể suy đoán diễn dịch: Còn ai trồng khoai đất này! Tôi hơi tái mặt, cố giữ bình thản: Chuyện gì đã xẩy ra? Vị cảnh sát sửa lại thắt lưng quần mang lắm “đồ nghề” bằng sắt thép dễ làm giảm thọ chúng sinh: Tôi có dọ hỏi những người sống quanh nhưng tôi muốn chính ông trả lời, bởi vì những kẻ độc thân không hẳn kẻ đó chỉ côi cút mình ên. Hiện tại ông đang sống với ai? Tôi thưa: Thông tin mà ông thâu nhặt quả chính xác. Bộ đồng phục khó ưa của ông ta làm tôi mất hứng, nếu không chắc tôi đã hát thể điệu boléro: Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không xong… Lạ nhỉ? Thế thì ông vắng nhà lúc mấy giờ? Dạ thưa tôi làm công nhân bảy giờ ra khỏi nhà năm giờ trở lại chốn phát xuất, bốn mươi hai tiếng một tuần từ thứ hai đến thứ sáu, mười năm nay chưa một ngày cáo ốm, quay như vụ. Người bạn dân cười toe. Hẳn là được trao bằng cấp Công Nhân Gương Mẫu có lộng kiếng? Lạ thật. Chắc tớ phải theo ông vào nhà thử xem sao? Tôi moi trong túi quần ra xâu chìa khoá: Nãy giờ quý vị vẫn chưa cho tôi hay chuyện gì đã xảy ra. Ồ, là thế này, khoảng tiếng trước có người gọi số 911 mà chẳng thông báo việc khẩn cấp, hỏi gì cũng mần thinh. Theo đường truyền chúng tôi dò ra địa chỉ ông là nơi phát xuất cuộc gọi. Sống đây mười năm ông từng gặp ma chưa, ông Trần?
Tôi mở hai ổ khoá gắn ở cửa phòng, bấy giờ có thêm ba người cảnh sát vũ khí tận răng e dè bước theo tôi. Điện thoại tôi đặt trên bàn viết nằm ngoài phòng khách nên mở cửa, đi dăm bước là tới nơi. Điện thoại tôi thuê ở công ty Bell, lựa thứ rẻ tiền nên kiểu dáng không mới chẳng cũ và hiện tại ống liên hợp đã rời ra khỏi vị trí ngơi nghỉ, nằm ngửa thân trên bàn, rõ là có kẻ đã mó tay, đã “nai oan oan” oan ôi ông địa. Theo phản ứng, có hai vị cảnh sát đã rút súng ra khỏi bao. Tôi nhìn quanh, đồ vật y nguyên không có dấu tích của đạo chích vào lục soạn. Mà giả như có trộm cướp vào, chúng đời nào buồn tay nghịch tới cái điện thoại rồi vất lăn vất lóc ra đó. Có là điên mới lạy ông tui ở bụi này!
Một vị cảnh sát đã lẻn lui sau bếp, nói vọng ra: Ủa, một con mèo! Nó vào từ lối nào nhỉ? Ồ, mèo tôi nuôi mà, nó tên Katy. Ố là la, sao hồi nãy lại bảo là sống côi cút mình ên. Ủa, tôi tưởng là chim cá mèo mình nuôi làm cảnh thì không cần phải khai báo. Theo đúng với nghiệp vụ, họ đi dòm ngó loanh quanh kiểu vạch lá tìm sâu. Ngoài con mèo này ra, ông còn nuôi con gì khác? Nuôi chỉ mình nó thôi ạ. Katy khoan thai đi tới cạ mặt vào ống quần, nó nhìn lên tôi bằng đôi mắt xanh vô cảm như thông lệ. Đuôi vất qua vất lại như phủi bụi từ vết giày mấy ngài bạn dân mang từ cõi bất an vào tới chốn yên hàn cô quạnh. Mất khoảng hai chục phút hội ý với nhau, ba ông cảnh sát đi tới kết luận: Katy là thủ phạm. Còn chuyện do đâu nó chọn ba số “chết người” kia để nghịch chân thì tạm bỏ qua, hạ hồi phân giải. Vị cảnh sát từng hỏi “mười năm đã gặp ma chưa?” nhìn tôi lần chót, nói thế lời chia tay: Vợ tôi có nuôi con két biết giả giọng tôi, ngày nào cũng anh yêu em, mình vui vẻ chút xíu… Toàn một lũ yêu tinh… Vặn cổ thì sợ xúc phạm tới hội bảo vệ thú vật. Đề nghị ông máng cái điện thoại vào vách tường, cẩn tắc vô lôi thôi.
Tối đó, người cũng như thú ăn uống xong, tôi làm màn phỏng vấn bỏ túi với Katy: Mày có bất mãn điều chi trong cuộc sống? Mày dùng tới điện thoại để trình bày nỗi oan ức? Chủ cũ của mày điện thoại dài tới mười số nên mày nhác bấm? Katy nằm trên sofa nghe tôi độc thoại. Ừ, tao hiểu niềm cô đơn mày đang gánh chịu, giá mà trong chung cư này có chuột nhỉ. Chẳng biết khi ấy mày có vui không? Tha hồ canh me rượt đuổi, vận động cho khỏi bị cholesterol. Người ta biểu tao bắt điện thoại chỗ cao để mày thôi nghịch phá nhưng tao cho đó là hạ sách. Tao cứ giữ nguyên trạng, như vậy nhỡ bất tử tao có bị nhồi máu cơ tim thì mày nhớ bấm số 911 giúp tao nha.
Đang tính bồng Katy tới bàn đặt nó xuống sát bên điện thoại thử xem nó biểu diễn trò thủ thuật thì có tiếng gõ cửa. Bà Yarek ở bên căn số 11 hiện ra, vẫn trang phục y như hồi chiều và hình như bà thích mặc bộ đồ ấy. Cái váy rộng chẳng lấy gì làm mới, có thể kỷ niệm đáng nhớ bà mang từ Ba Lan sang, trên là chiếc áo khoác bằng vải thô in nhiều bông hoa đã bạc màu. Ông Trần, đã dùng bữa tối chưa? Sẵn nấu nhiều nên mang cho ông món đậu hầm sườn heo đây, chứa rất lắm chất đạm bổ khoẻ. Tôi mời bà vào, đón nhận cái bát còn ấm trên tay bà, mang thẳng ra sau bếp. Bà uống trà nhé? Khỏi, tao sang để hỏi cho biết chuyện gì đã xảy tới. Bà Yarek, gần năm chục tuổi, ở với đứa con gái chưa chồng mặc dù cô ta đã ngoài ba mươi. Hình như người Ba Lan chẳng biết câu “tam thập nhi lập” và họ cũng bỏ ngoài tai thành ngữ “đợi nước đến chân mới nhảy”. Chẳng nghe họ than thở nói bóng nói gió về cuộc sống thiếu mặt mũi đàn ông con trai của họ. Hai mẹ con rất ham chuộng món chả giò cuốn nhân thịt bằm với cua tôm tôi tự làm lấy. Họ nhắc cho tôi hay là trước đây nước họ và Việt Nam sau 75 cùng nằm trong khối anh em vô sản với nhau, rất mực gắn bó. Tôi ngó người con của bà Yarek, bây giờ tất cả đều bỏ của chạy lấy người, lưu lạc chốn lạ khi không mà ở sát vách nhau, hoàn cảnh xem ra vẫn còn gắn bó nhỉ? Họ cười tít mắt rồi xơi thêm cuốn chả giò khác sau khi dùng xà-lách bọc quanh bên ngoài cho đỡ phỏng tay. Ngấu nghiến, tợp bia, đưa cay rồi như chạnh lòng hỏi tới gia cảnh tôi, bạn muốn thử thách điều gì mà cứ mãi lui cui ngoài hãng xưởng rồi loay hoay trong xó bếp. Hai mẹ con như này còn buồn chết đi được, chúa ngó xuống ông cũng mủi lòng chẳng biết nói năng, gạt lệ thua buồn. Tôi đùa với hai mẹ con: Hỡi những kẻ bị cô đơn áp bức hãy đoàn kết lại!
Ba Lan gắn bó với Việt Nam ra sao tôi chẳng màng quan tâm, toàn một lũ đói kém chật vật cả, nhưng tình ngay dạo xấc bấc xang bang xưa cũ đó phim ảnh của Ba Lan cũng như Tiệp Khắc là vượt trội hơn hẳn mấy chú bác cô dì trong họ hàng cộng sản nghèo khổ. Cũng tình yêu gái trai da diết chứ không gân cổ nguyện chết cho chế độ. Hy sinh kiểu lãng mạn tiểu tư sản còn biết cởi áo này quần nọ, có đâu đồng phục tinh tươm đậy đệm chỉnh chu ôm chân lãnh tụ mà đang sống chuyển qua từ trần, trăng treo trên đầu súng AK 47.
Bát súp bổ khoẻ mà bà Yarek biếu tôi đặt trên bàn ăn, chưa kịp thưởng thức mặn ngọt thì Katy đã tiên hạ thủ vi cường, thọc chân vào bới móc nhắm sườn non mà rỉa thịt. Ngày mai mang bát đi trả phải sáng tác ra bài luận văn phát biểu cảm tưởng: Ngon cách chi, ăn vào không mập bề dài cũng nở bề ngang. Cảm ơn Yarek, mong tình hữu nghị song phương đời đời bền vững, bà đừng hở môi để khiến cho răng tôi lạnh nhé. Tôi có thuật chuyện nàng mèo Katy biết nhấn số điện thoại mà mặn duy ba số 911 ác ôn. Mặt bà Yarek tỉnh khô, không thèm bảo rằng ở cuộc đời này điều gì cũng có thể xẩy ra sá gì chuyện mèo vờn điện thoại. Có gợn lòng chăng là sợ nó buồn tình lại tái diễn trò cũ thôi. Sẵn ngồi không, bà kể truyện ngày xửa ngày xưa: Vợ một tay bạo chúa nọ muốn tìm trò tiêu khiển, biểu người chồng hôn quân chất củi nổi lửa rậm rật đốt chơi. Mấy nước nhỏ lân cận thấy sáng một góc trời tưởng hoàng thành nguy biến liền mang quân đến cứu. Bé cái lầm, người ta đang bày trò giải trí mà mấy chú, thật là mất hứng. Tháng sau thì một nhóm quan võ khởi nghĩa vào thành đốt trụi kho lương thực, lửa hừng hực sáng tỏ suốt năm canh. Chòm xóm láng giềng ngó thấy, nhớ lại trò đùa cũ nên mặc tình án binh bất động, bình thân như vại. Lần trước đã quê một cục rồi, ai hơi đâu mắc cỡ tới hai cục… Yarek kết luận, ví dụ mà mèo gọi 911 lần nữa thì cảnh sát cứu thương cứu hoả chẳng chộn rộn hú còi chạy quàng xiên tới đây đâu. Đó là luận việc theo kiểu tình hình bên quê tao, xuất quân không chính đáng kiểu đó thậm tốn kém công sức tiền bạc.
Một buổi tối, tôi vừa tắm rửa tẩy trần xong, đợi tóc khô sẽ đi ngơi thì nghe tiếng gõ cửa. Phải thính tai mới đón nhận vì thật sự tiếng động ấy tựa như mèo cào. Nếu người đứng ngoài là bà Yarek thì âm thanh phát ra phải thô bạo hơn bởi bà quen ăn to nói lớn. Tôi nhìn đồng hồ rồi đảo mắt tới cái futon, Katy vừa ngóc đầu lên, dóng đôi tai và đuôi ve vẩy. Tôi mở cửa, cô Katherine, con gái bà Yarek lách thân vào còn nhanh hơn loài mèo. Ngoài mùi nước hoa vướng đâu đó trên thân, Katherine còn mang vào phòng chút nồng độ cồn thường hừng hực nằm trong trong dung dịch rượu bia. Cô làm ca đêm trong một xí nghiệp sản xuất đồ lót phụ nữ cao cấp không thua công ty Victoria Secret, phải 12 giờ nửa khuya về sáng mới tan ca. Katherine nói vừa đủ nghe: Tôi vừa bị chúng nó sa thải, tôi chẳng muốn làm mẹ tôi lo âu. Tôi ngồi đây tới 1 AM có được không? Như kiểu vừa xong công việc đồng thời để bay bớt mùi rượu. Đâu có phiền hà nhỉ? Làm ơn khuấy cho tôi ly nước chanh. Mắc đái quá. Cô cởi áo khoác, ném cùng lần với cái túi xách lên futon khiến Katy đang nằm phải giật thót người phản ứng: Meo… eo…eo.
Hình như tôi đã say rượu. Cô ta nói khi đón lấy ly nước chanh đường. Ôi, trên cả tuyệt vời, hình như ngoài món chả giò ra thứ gì anh làm cũng ngon lành cả. Say rượu? Tôi không có kinh nghiệm về nó vì tôi rất ghét những đứa ôm cột điện mà gục đầu nôn mửa, miệng luôn lải nhải, áo quần xộc xệch. Katherine không nôn mửa vì Vodka nhưng cô đang lải nhải, đang xiêm y chễnh mảng và đang ôm cứng người tôi. Cô điều khiển tôi như đôi tình nhân đang dìu nhau trong điệu khiêu vũ bấn loạn rồi bất thần ngã người xuống futon. Katy chắc bất mãn vì đột ngột bị lấn đất dành dân, nó gào lên thứ tiếng sắc lạnh chưa từng có. Hãy gắn bó, hãy vỗ về tôi hỡi đồng chí mến yêu. Katherine nói như trong cơn mê sảng, đầu tóc màu hung đỏ đặc thù của cô rối bung khiến tôi ngạt thở. Tôi nhớ lời ông bà mình thường nói: Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Đồng thời cũng nhớ về tác phẩm nổi tiếng ở một đất nước xa xôi: Ba Lan mùa tuyết tan.
Nếu tôi kết thúc bài luận văn ngang đây chắc rằng thầy cô sẽ cho tôi ăn hột vịt? Vậy thì xin dọn lòng thòng thêm cái đoạn cuối cho ra đầu Ngô mình Sở: Hai hôm sau tôi điện thoại vô chỗ làm xin nghỉ, thành khẩn báo cáo: Nóng sốt phải đi gặp bác sĩ. Ông ấy người đồng hương, luôn mở đầu bằng lời cảnh báo là hạn chế việc ăn phở, có lắm chất béo, phải tìm cách vận động cơ thể, biết chơi quần vợt bóng bàn gì không? Cởi áo ra để nghe nhịp tim đập và đo huyết áp… Ố là la, sao cái lưng của cậu… Tôi cúi đầu lặng câm, có cho tiền tôi cũng không kể chuyện làm tình gay cấn với cô bạn láng giềng ngàn năm một thuở… Lạ thật! Này, cậu có ngủ với mèo à?
Như đa số các cô gái khác, bàn tay Katherine cũng có để móng dài và tô sơn hồng. Cô ôm tôi, để biểu cảm niềm hạnh phúc cô cũng bấu víu cào cấu các thứ nhưng… Tôi nói thật đấy, nhà cậu nuôi bao nhiêu con mèo cả thảy? 2+2+2=7 là bài toán vỡ lòng… Dấu vết để lại trên lưng là do mèo cào, tấy sưng và đang nhiễm trùng. Tôi ghi cho cậu đơn thuốc trụ sinh đi kèm với loại kem thoa ngoài da. Cậu làm gì để khiến mèo nó ghét đến nhường ấy? Mèo cái phải không? Nát nhừ cả lưng. Cơ khổ!
… những chuyến đò năm ấy đã sang sông và khách bộ hành đã đi về những vùng đất khác nhưng suốt đời con sẽ không làm sao quên được có một thời Cô-Thầy đã nuôi lớn ước mơ con… (ntb)
Đời một con người đã có biết bao lần cặp bến từ những con đò. Không phải những con đò đưa ta qua những dòng sông mà qua những dòng đời. Mà dòng đời thì thường chia trăm vạn nẻo và lại nghiệt ngã, không êm ả như những dòng sông, nên khi vừa mới xuống bến này ta lại vội vàng đi tìm bến khác, để rồi chẳng có mấy ai còn nghĩ tới con đò, người lái. Đến lúc tuổi xế chiều, khi cuộc đời chỉ còn đợi chờ một lần sang bến cuối, thì ta mới ân hận, tiếc nuối bao nhiêu điều, và nhận ra chính mình cũng từng là một kẻ vong ơn.
Và buồn thay, trong số những kẻ vong ơn đó lại có tôi, người vừa mới ngộ ra được cái điều đáng ân hận ấy.
Gia đình tôi định cư ở Bắc Âu, nhưng có ba cô con gái sang học bên Mỹ, rồi có việc làm nên ở lại Mỹ từ hơn mười lăm năm nay. Vợ chồng tôi cũng đã sang Mỹ nhiều lần thăm bạn, thăm con. Các cháu đều sống ở Cali. Vậy mà mãi đến mùa hè năm rồi tôi mới tìm đến thăm vợ chồng một vị Thầy cũ. Cả hai ông bà đều đã dạy tôi những năm đầu trung học và cũng là những ân nhân đã từng giúp đỡ, cưu mang tôi qua một đoạn đời khốn khó. Gia đình Thầy Cô ở thành phố Covina, gần nơi các con tôi đang ở.
Hôm đến thăm, tôi có hẹn với vợ chồng cô bạn trẻ Cao Liên Hương, đến từ thành phố nhỏ Calgary, tận bên Canada. Cô bạn này cũng là học trò cưng của Thầy Cô lúc trước, học sau tôi vài ba lớp, nhưng sống phải đạo hơn tôi nhiều, vì cô đã đến thăm Thầy Cô một vài lần trước đó. Còn riêng tôi thì đã đến quá muộn màng. Cô giáo nhân từ của chúng tôi không còn nữa. Cô đã qua đời từ hơn năm năm trước. Bây giờ chỉ còn lại mỗi một mình Thầy, tóc trắng phơ, hai bàn tay run rẩy, ngồi trên chiếc xe lăn, nhờ vợ chồng cô con gái đẩy ra phòng khách đón hai đứa học trò xưa, mà chắc chắn Thầy không còn nhớ là ai. Nhưng nghe nói có học trò đến thăm, Thầy vui mừng lắm, luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt yêu thương trìu mến và nụ cười đôn hậu, ngồi nghe chúng tôi kể lại những kỷ niệm dưới mái trường xưa, và ca ngợi dáng dấp “tài tử Gary Cooper” của Thầy thời còn trai trẻ. Thầy còn ký tặng chúng tôi cuốn sách của Thầy “Pour écrire correctement Le Francais”. Cuốn sách gối đầu giường của đám học trò chúng tôi thời ấy. Nét bút có yếu đi, run run một chút, nhưng vẫn phảng phất cái dáng vừa nghiêm nghị vừa quý phái của Thầy ngày trước. Đưa tay cầm cuốn sách Thầy cho, tôi thấy lòng lâng lâng, xúc động, vui buồn lẫn lộn, nên nụ cười chưa kịp nở trọn thì nước mắt đã ràn rụa tự lúc nào. Vơ chồng cô con gái hiếu thảo của Thầy sợ Thầy mệt, nên xin phép chúng tôi đưa Thầy vào phòng để Thầy nằm nghỉ. Chúng tôi cùng ra thăm mộ Cô. Cô nằm cô đơn lặng lẽ trong một nghĩa trang rộng lớn yên tĩnh trên ngọn đồi Covina Hills, nhìn xa xa xuống ngôi nhà cũ. Tôi quỳ trước mộ Cô, nước mắt đầm đìa, khi thấy trên thảm cỏ xanh bằng phẳng chỉ có tấm mộ bia lạnh lùng khắc sâu tên Tung LinhTran Nguyen.
Dù đã hơn 50 năm, qua bao nhiêu thăng trầm, biến đổi, tôi không bao giờ quên cái tên thật đẹp của Cô: Trần Thị Tùng Linh. Có lẽ sau khi sang Mỹ, cô lấy họ của Thầy, “Nhập gia tùy tục” mà cũng cho trọn vẹn thủy chung với một cuộc tình tuyệt đẹp mà Cô Thầy đã mang theo từ lúc mới quen nhau ở tận Hà Thành. Khi Thầy từ Huế còn Cô từ Vinh ra học.
Đúng như lời một anh chị nào đó đã kể cho tôi nghe: Chính tại Hà nội, một thành phố nổi tiếng thanh lịch, và trong lứa tuổi hoa niên tươi đẹp đó, chàng thanh niên xứ Huế, có dáng người dong dỏng cao, nét mặt cương nghị, thông minh, trí thức đã gặp một thiếu nữ cũng thật thanh tú, dịu dàng, nết na, thùy mị, cũng từ thành phố Vinh ra Hà Nội học. Chuyện “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” đã tạo nên một mối tình tuyệt vời trong sáng giữa hai tâm hồn đồng điệu. Rồi sau khi học xong, Cô Tùng Linh đã trở về lại Vinh để mở một trường Tiểu học. Còn chàng trai Nguyễn Bá Mậu thì trở về Huế để trở thành một Giáo sư dạy Pháp Văn tại các trường Trung học Khải Định và Nguyễn Du. Khi hai người được song thân cho phép thành hôn, một đám cưới thật linh đình đã diễn ra taị Huế vào năm 1941.
Năm 1953 Thầy Cô dời vào Nha Trang tiếp tục nghề dạy học. Thầy dạy trường Trung Học công lập Võ Tánh, và một vài trường tư thục. Còn cô, chỉ dạy ở trường trung học Tương Lai.
Đến năm 1958 Thầy Cô thành lập Trung học Tư thục Văn Hóa. Thầy vừa dạy vừa đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng, còn cô thì dạy môn Pháp Văn và Công Dân Giáo Dục.
Năm ấy tôi là một thằng bé nhà quê vừa lên tỉnh học. Thi vào đệ thất trường công lập Võ Tánh bị rớt, với cái tính bốc đồng của một thằng con nít, tôi bèn ghi danh vào học lớp đệ lục trường tư thục Văn Hóa. Trường vừa mới mở ở gần nhà ông chú mà tôi đang trọ học, trên đường Quốc Lộ 1, cách Ty Thông Tin vài trăm mét. Cô giáo Trần Thị Tùng Linh, dạy môn Pháp văn, cũng là giáo sư hướng dẫn lớp tôi. Lúc ấy Cô còn trẻ, vẫn bới tóc, vẫn áo dài tơ lụa màu hoàng yến, vẫn nét đài các của cô con gái quí tộc vùng Vinh ra học ở Hà thành dạo trước.
Ngày xưa ba tôi là thầy giáo dạy trường Pháp Việt. Tôi mồ côi mẹ từ lúc mới lên ba, cho nên ngày nào đi dạy học ba tôi cũng dắt tôi đến lớp giao cho vài anh chị học trò lớn tuổi trông coi và chỉ cho tôi học vài ba chữ tiếng Tây để cho tôi khỏi chạy phá phách lung tung. Những lúc ở nhà, chỉ có hai cha con, Ba tôi cũng thường dạy cho tôi vài câu nói, vài câu hát tiếng Tây. Nhiều lúc ông đùa giỡn với tôi bằng những tràng tiếng Tây mà tôi chẳng hiểu mô tê gi cả. Nhờ vậy mà khi lớn lên, đi học, tôi đã có một mớ vốn liếng tiếng Pháp, dù lộn xộn không trúng trật vào đâu.
Khi mới vào lớp đệ lục, nhờ cái vốn liếng bì bõm ấy mà cuộc đời tôi như diều gặp gió. Và ngọn gió thần diệu đã đưa thằng bé nhà quê bước qua những tự ti, sợ hãi, chính là cô giáo Tùng Linh. Biết tôi mồ côi mẹ, và ba tôi cũng từng là một đồng nghiệp nhưng không may, lỡ vận, Cô đã hết lòng thương mến, nâng đỡ tôi, giới thiệu với phu quân, thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Bá Mậu. Nhờ tình thương của Cô mà tôi càng chăm chỉ học hành để mỗi cuối tháng hân hoan nhận từ tay Cô những Bảng Danh Dự màu đỏ màu xanh, và sung sướng để được nhìn thấy Cô cười. Tôi được hưởng học bổng trong suốt ba năm học. Đến khi thi đậu trung học đệ nhất cấp, tôi mới chuyển vào trường công lập Võ Tánh, Chính điều này tôi cũng đã phụ lòng Thầy Cô. Khi biết tôi đậu trung học với thứ hạng khá, Thầy Cô tìm thăm, khen ngợi và khuyên tôi nên tiếp tục học ở trường Văn Hóa. Tôi ái ngại, không muốn mang nặng thêm món nợ ơn nghĩa của Cô Thầy.
Từ giã trường Văn Hóa, tôi đã mang theo bao nhiêu ân tình, kỷ niệm với Cô Thầy, bè bạn. Sau này, khi hồi tưởng quãng đời cắp sách đến trường, thời gian tôi ghi nhớ nhất vẫn là ba năm dưới mái trường Văn Hóa. Có lẽ, cái thời còn thơ dại ấy mới đúng nghĩa học trò. Khi vào lớp tam C Võ Tánh, có lẽ học chung với bao nhiêu người đẹp, nên dường như tôi thấy ai cũng bắt đầu muốn làm người lớn, trầm ngâm, ít nói, không còn nghịch ngợm đùa giỡn nữa.
Mấy năm còn học ở Võ Tánh, vài lần tôi có ghé lại trường Văn Hóa và đến tư gia để thăm viếng Cô Thầy. Nhưng sau khi rời Võ Tánh, rồi vào lính, theo đơn vị rày đây mai đó, tôi không còn có dịp gặp lại Cô Thầy nữa.
Những lúc đóng quân ở những tiền đồn heo hút, hay dừng quân trước các ngôi trường vùng giao chiến, tôi da diết nhớ thời còn đi học, và nhớ đến Thầy Cô, đến từng khuôn mặt bạn bè. Nhất là khi có một vài thằng bạn học cũ vào lính, bất chợt ra trình diện đơn vị tôi, chúng tôi tha hồ ôn lại chuyện xưa, kể lại từng kỷ niệm vui buồn để thấy mình được hồn nhiên trở lại với bao nhiêu bâng khuâng tiếc nhớ trong lòng.
Hồi ấy trong lớp tôi, hầu hết nữ sinh đều thuộc hàng chị. Mà bà chị nào cũng xinh đẹp, nên chỉ mới sau năm đệ tứ là một số đã bước lên xe hoa. Có cả vài cặp vợ chồng học chung trong lớp. Bọn con trai thì tản mác bốn phương trời. Sau này có hai người về đơn vị tôi. Cả hai đều lớn tuổi hơn tôi. Một anh ngày xưa là trưởng lớp, đạo mạo tư cách và học rất giỏi, nhưng không hiểu vỉ sao khi ra đơn vị tôi, anh chỉ là trung sĩ. Hôm ấy, tôi hết sức ngỡ ngàng, khi vị sĩ quan quân số đưa anh đến trình diện. Tôi nhận ra anh ngay, chạy đến ôm lấy anh, trong lúc anh vẫn đứng nghiêm đưa tay chào. Tôi gọi anh bằng anh và xưng em như những ngày còn trong lớp. Dù anh không hề yêu cầu điều gì, tôi xếp cho anh trong ban quân số, làm việc ở hậu cứ. Sau những lần hành quân trở về, chúng tôi lại gặp nhau, bù khú , kể chuyện thầy bạn ngày xưa. Sau này nghe anh tâm tình, tôi mới biết là ngay sau năm đệ tứ anh lấy vợ, có con, nên phải đi làm, không còn tiếp tục học. Hai năm sau, tôi đề nghị và khuyến khích anh theo học khóa sĩ quan đặc biệt. Anh từ chối, nhưng sau đó nể tình tôi, anh nộp đơn, lên đường. Không ngờ chính tôi đã hại anh. Sau khi mãn khóa không được trở về đơn vị cũ, anh được bổ sung cho một đơn vị khác và tử trận chỉ vài tháng sau đó.
Một anh bạn cùng lớp nữa, tính tình rất vui vẻ dễ thương, mà lúc đi học bọn tôi thường chơi chung. Nhà anh ở trên Thành, nên nhiều dịp cuối tuần, tôi đạp xe theo anh về nhà anh chơi. Nhà có nhiều cây ăn trái và nuôi nhiều loại chim mà tôi rất thích. Anh có ba anh em trai kế nhau, và cũng rất thân nhau. Một điều đặc biệt làm tôi nhớ mãi tên của ba người, bởi chính là ba mẫu tự A, B, C đơn giản. Đang làm Chi khu phó một huyện yên bình của quê nhà Khánh Hòa, nhưng đến năm 1973 chiến trường cao nguyên ác liệt, anh bị đôn quân về đơn vị tôi. Gặp nhau tại thành phố Kontum hoang tàn đổ nát, chỉ uống cà phê một lần ở cái quán nhỏ bên dòng sông Dakbla, rồi chia tay. Sau hơn một tháng làm tiểu đoàn phó, anh lên tạm thay anh tiểu đoàn trưởng bị tử trận. Nhưng chỉ một tuần sau đó anh cũng đã hy sinh. Tôi không được nhìn mặt anh lần cuối, mặc dù tôi đã đến kịp trước khi chiếc trực thăng mang anh về quân y viện Pleiku. Lúc ấy anh đã nằm trong chiếc poncho gói kín. Tôi chỉ còn biết đứng nghiêm, đưa tay lên chào tiễn biệt.
Và hai người bạn ấy cũng là hai người học trò nghèo, học giỏi, được Cô Tùng Linh yêu thương giúp đỡ. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi vẫn thường nhắc đến Cô với tất cả lòng cảm kích, biết ơn.
Hôm ngồi trước mộ Cô, tôi hình dung đến khuôn mặt hiền từ và nụ cười độ lượng của Cô. Tôi nhớ có lần tôi thấy Cô giận lắm, khi một vài đứa học trò nghịch ngợm, ngồi phía sau bắn cao su vào đám nữ sinh phía trước, trong lúc Cô đang viết bài trên bảng đen. Không ngờ “lạc đạn”, trúng vào phía sau lưng Cô. Cô quay lại, cả lớp im thin thít, bất ngờ Trần Bá Hòa, anh chàng vui tính và nghịch nhất lớp đứng lên gãi đầu: Lần này không phải con đâu Cô. Cô đừng la con tôi nghiệp nghe Cô. Cô mỉm miệng cười, rồi hạ giọng bảo: các em đừng nghịch như vậy nữa, đau lắm nghe. Sau này Trần Bá Hòa vào lính sớm và cũng là người đầu tiên trong lớp bỏ lại bạn bè, vĩnh viễn ra đi. Năm đang học lớp đệ nhị ở Võ Tánh, nghe tin Hòa mất, tôi ghé lại trường Văn Hóa thăm Cô và báo tin buồn này. Cô bàng hoàng xúc động rơm rớm nước mắt. Lòng Cô thật nhận hậu bao la.
Cô Tùng Linh là bóng mát thiên đường cho tuổi thơ của bao đứa học trò chúng tôi ngày ấy. Cô là người lái đò vĩ đại đã đưa chúng tôi qua bao nhiêu bờ bến khi chúng tôi mò mẫm bước lên cuộc đời đầy những bất trắc đợi chờ. Vậy mà bao nhiêu năm, những đứa học trò như tôi không tìm đến thăm Cô, không có mặt bên Cô và tiễn đưa Cô đến nới an nghĩ cuối cùng. Há chẳng phải là một sự vong ơn ?
Nhiều lần tôi tự bào chữa cho mình. Thực ra tôi đã luôn nhớ tới Thầy Cô, nhất là thời gian sau này, khi tha phương nơi đất khách quê người. Nhưng tôi cứ đinh ninh là gia đình Thầy Cô sống ở Nhật Bản, vì tôi nhớ là người con trai lớn của Thầy Cô, anh Nguyễn Bá Vinh đã sang du học bên Nhật từ giữa thập niên 60. Chắc thế nào anh ấy cũng đã bảo lãnh gia đình Thầy Cô sang ấy. Hơn nữa tôi lại định cư ở một nước Bắc Âu xa tít mịt mùng, không tiếp xúc được nhiều bè bạn cũ.
Vì vậy mà tôi không hỏi thăm tin tức Thầy Cô. Cho đến một hôm, cuối năm 2007, tôi bất ngờ nhận được e-mail của một người có tên Nguyễn Bá Tùng Diệp. Chỉ thấy hai chữ Nguyễn Bá thôi là tôi mừng khôn xiết. Tùng Diệp cho biết là đã đọc được một số bài viết của tôi ở đâu đó. Trong đó tôi có nhắc tới Thầy Cô, và biết tôi là em họ của anh Nguyễn Ngọc Du, cũng là một học trò cũ của Thầy và rất thân quen với gia đình Thầy, nên Diệp hỏi anh Du xin địa chỉ. Nhờ đó mà tôi mới biết được tin tức của Thầy Cô. Và cũng từ đó tôi cảm thấy rất gần gũi thân quen và quí mến Tùng Diệp& Bảo An. Vợ chồng cô con gái hết mực hiếu thảo của Thầy Cô.
Tôi dặn lòng từ nay mỗi lần sang Mỹ, việc trước tiên là đến thăm Thầy và vợ chồng Tùng Diệp.
Nhưng rồi thêm một lần nữa tôi đành thất lễ. Và cũng không còn có cơ hội khác. Tôi mang tội vong ơn khi không những đã không viếng thăm Thầy trong những ngày cuối đời mà cũng không có mặt để tiễn đưa Thầy về miền miên viễn.
Sau một tháng ở Úc Châu cùng với anh em cựu học sinh Võ Tánh, những đồng môn vẫn còn giữ trọn tấm lòng, tổ chức Ra mắt Tập Truyện Ở Cuối Hai Con Đường, gây quỹ giúp Thương Phế Binh trong nước, trở lại Nauy, tôi bị cúm. Có lẽ do thời tiết thay đổi bất ngờ, khi ớ Úc đang mùa hè, còn Nauy thì đang mùa đông băng giá.
Buổi sáng vừa thức dậy, như có điều gì thôi thúc, tôi vội mở máy đọc e-mail. Tôi sững sờ khi đọc vài dòng rất ngắn của vợ chồng Tùng Diệp, báo tin Thầy vừa mới ra đi. Thầy ra đi nhẹ nhàng như sau một giấc ngủ rồi không bao giờ thức dậy. Tôi thẫn thờ, nhìn ra ngoài trời mịt mờ tuyết trắng, mà có cảm giác như trong lòng mình cũng chỉ còn có tuyết trắng mênh mông. Tôi vội vàng thông báo tin buồn trên Diễn Đàn Võ Tánh&Nữ Trung Học và cho nhiều bạn bè, anh chị em ở Mỹ, ở Úc, ở Âu Châu và cả ở Việt Nam, cũng như nhờ đăng lời chia buồn trên một số báo chí mà tôi quen biết. Tôi làm như để được bù đắp một điều gì .
Từ London, anh Trần Đăng Hồng, cựu giáo sư một đại học ở Anh quốc từ trước 75, cũng là môt học sinh kỳ cựu của Thầy ở trường Võ Tánh, lập ngay một trang Tưởng Nhớ Thầy Nguyễn Bá Mậu trên trang web của Quỹ Hoc Bổng Khánh Hòa, với sự đóng góp rất nhanh chóng những bài thơ, bài viết Khóc Thầy của những người học trò, tuổi đã trên sáu, bảy mươi: anh Nguyễn Thanh Ty, Nguyễn Văn Sanh, chị Võ Thị Hoa.. Từ Cali, anh Văn Hùng Đốc báo cho biết, sẽ cùng với những học sinh cũ của Thầy đến viếng Thầy và chia buồn cùng tang quyến, anh Nguyễn Đình Cường điện thoại cho biết anh sẽ đại diện cho những cựu học sinh Võ Tánh đọc bài điếu văn tiễn biệt Thầy.
Tôi thấy lòng dạ xôn xao, nhưng chỉ biết nhờ vợ chồng cô con gái út ở Alhambra, gần thành phố Covina của Thầy, thay mặt tôi, mang vòng hoa đến viếng và thắp hương xin lạy trước linh cửu của Thầy.
Cô con gái gởi cho tôi mấy tấm ảnh qua e-mail. Tôi nhận ra một số người quen trong đám học trò đến viếng. Tôi xúc động nghẹn ngào khi nhìn thấy mấy tấm ảnh của Thày Cô chụp chung lúc còn rất trẻ. Khi ấy Thầy Cô đang là những người lái con đò đưa tôi và đám bạn bè bé nhỏ sang những bờ bến đầu đời. Chính những bến bờ ấy đã mở ra một chân trời và quyết định cả cuộc đời của những đứa học trò, trải qua bao thăng trầm, giờ tóc đã điểm sương, bạc trắng, và tản mát khắp bốn phương trời.
Nhưng cuối cùng, dù có làm gì đi nữa, thì tôi cũng đã không có mặt cùng đám học trò trong Lễ Viếng và An Táng của Thầy. Tôi thấy áy náy và xấu hổ khi nghĩ mình vẫn mãi là kẻ vong ơn. Dẫu biết là Thầy đã sống thọ trên tuổi bách niên và ra đi thanh thản, nhưng tôi vẫn thấy có một khoảng trống bao la cùng nỗi ân hận trong lòng:Tôi đã từng được đưa đến bến bờ để kịp chạy theo những dòng đời với biết bao phong ba trước mặt, nhưng tôi không còn cơ hội nào để nói lời cám ơn với những người lái đò vĩ đại, cho dù chỉ để xin được nói một lời tạ lỗi rất muộn màng.
Bạn nghĩ sao khi thấy người Việt Nam bây giờ nhất là giới trẻ ở trong nước chạy theo những mốt thời trang của Nam Hàn, Nhật Bản hoặc Đài Loan, thuộc làu những tên nam nữ tài tử trẻ đẹp của Nam Hàn, Trung Cộng, biết tặng quà Valentine, biết chơi trò ma quỷ Halloween … và để mất sự hồn nhiên trong sáng của con người Việt Nam. Trong quá trình hình thành một quốc gia, dân tộc nào cũng có những tập tục, những lễ hội tạo nên bản sắc của dân tộc mình. Qua thời gian, những tập tục nào lỗi thời, mê tín sẽ bị đào thải và những tập tục, lễ nghi tốt phải được bảo tồn. Và nói đến tập tục, lễ hội của một quốc gia là người ta phải nghĩ đến bản sắc của dân tộc ấy, nhất là tập tục đã ăn sâu vào đời sống của con người. Văn hóa phải được bảo tồn và tránh bị đồng hóa, biến đổi bằng một thứ văn hóa vay mượn khác. Cộng Sản Việt Nam luôn luôn hô hào chuyện bảo tồn văn hóa, nhất là sau khi thôn tính được miền Nam về một mối, nhưng thực chất của chế độ này, trước kia trong thời gian có chiến tranh, đến bây giờ chịu ảnh hưởng của Tây Phương, Việt Nam có một nền văn hóa rất là lai căng, đầy vay mượn. Trong thời gian phải mượn súng Tàu để gây chiến tranh, chúng ta thấy từ cách ăn mặc của các lãnh tụ, đến tiết tấu trong âm nhạc Việt Nam, trên sân khấu kịch nghệ đều rặt một màu sắc tàu phù. Màn ảnh nghèo nàn của miền Bắc lạm phát bởi các bộ phim Liên Xô, Ru-ma-ni, Ba Lan, Tiệp khắc và Tàu Cộng đến nỗi những tên chuyện, những nhân vật trong phim đều được dân chúng thuộc lòng. Cũng như ngày nay, khi khối CS Đông Âu và Liên Xô tan rã, hốt hoảng bởi sự lạc hậu trước các trào lưu của thế giới, văn hóa Việt Nam lại xoay chiều 180 độ, tìm về với tây phương, du nhập các thứ văn hóa thời thượng của Nam Hàn, Đài Loan, Hoa Kỳ một cách ồ ạt, vô tội vạ, không có ý thức …
Dân chúng nhất là lớp trẻ mới lớn lên sau chiến tranh đã chấp nhận thứ văn hóa này một cách dễ dàng với thời trang, cách đi đứng theo các tài tử đương thời của Nam Hàn, âm nhạc và các phong trào lễ hội du nhập từ Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ. Chúng ta thử tưởng tượng, tất cả các báo chí đang được ăn khách tại Việt Nam, ấn loát đầy màu sắc, đã đố vui, tặng ảnh của các minh tinh Nam Hàn như Cha Tae Hyun, Lee Young Ae, Kim Hee Sun, Jang Dong Gun …hoặc Đài Loan như Mông Gia Tuệ, Lâm Phong, Hoa Kỳ như Brittny Spears, Vanessa Carlton …Đành rằng báo chí cần đăng các thông tin về điện ảnh, kịch nghệ … trong một thế giới mà ngày nay trở thành quen thuộc như hàng xóm láng giềng, nhưng các cơ quan truyền thông ngày nay ở Việt Nam đã gây nên tình trạng mất gốc, rõ ràng đã để tình trạng văn hóa nước ngoài du nhập một cách vô ý thức vào đất nước. Các đài truyền hình mọc lên như nấm, ngoài các đài trung ương như VTV1, VTV2, đài truyền hình Hà Nội, đài truyền hình TP Saigon, mỗi tỉnh đều có một đài truyền hình riêng biệt và vì không đủ khả năng làm chương trình, biên tập hay sưu tầm tài liệu nên chỉ có cách làm đầy thời gian phát hình nhất là thuê phim ngoại quốc về chiếu. Việc trăm hoa đua nở này không phải là do XHCN bắt đầu có tự do, mà chính là nạn sứ quân của các tỉnh ủy, tỉnh nào cũng có nhà máy thuốc lá, nhà máy bia, có xuất nhập cảng trực tiếp với ngoại quốc để tự làm kinh tài. Cách đây vài năm báo chí còn than phiền mở đài truyền hình ra là thấy phim Nhật, phim Đại Hàn còn bây giờ thì phim Trung Quốc áp đảo và đầy ứ các chương trình suốt từ Nam ra Bắc, từ các đài trung ương tới địa phương, bật băng tần nào cũng thấy phim Tàu.
Chính những nhan đề phim Tàu kiểu Hán Vũ Đế, Võ Tắc thiên, Thương Ưởng, Tam quốc Chí, Thủy Hử, Anh Hùng Xạ Điêu, Tiếu Ngạo Giang Hồ … đã đi vào đời sống của dân chúng Việt Nam hơn cả đời sống của người Tàu ở một tỉnh nào đó bên Tàu Cộng hay bên Đài Loan. Người ta đã khôi hài nhận xét ngày nay có lẽ dân Việt Nam thuộc sử Tàu còn hơn sử Việt nữa. Ngoài xã hội, thanh niên nam nữ thời đại, không giống Mỹ, không giống Nam Hàn là không phải dân thời thượng, dân quí phái, cho nên từ cách ăn mặc, đến dáng điệu cùng với những lễ hội nước ngoài mới du nhập vào Việt Nam đã phát triển tới mức kỳ quái. Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh chống miền Bắc xâm lược, có sự hiện diện của hàng trăm nghìn lính Mỹ, chịu tiếng là tha hóa suy đồi, lai căng mất gốc, nhưng dân miền Nam, kể cả thanh niên thành phố cũng không biết Valentine, Halloween chính gốc của Mỹ là gì, và vào thời buổi ấy, hôn hít nhau ở ngoài đường vẫn còn là điều quái dị. Đành rằng thị trường tiêu thụ cần đẻ ra lễ hội, ngày kỷ niệm để bán hàng, nhưng mỗi nước đều có văn hóa và phong tục riêng biệt, không ai giống ai. Giống người là tự mình đánh mất đi bản sắc của dân tộc mình.
Liên Xô trong thời gian kình địch với Mỹ, văn hóa Liên Xô chẳng ăn nhằm gì tới thanh niên Mỹ, nhưng thanh niên Nga lại thích nhạc rock điên cuồng và thèm khát có được một cái quần … jeans! CSVN thắng nhiều đế quốc, nhưng hiện nay lệ thuộc văn hóa với tất cả các nước Tàu, Mỹ, Nam Hàn … Cứ nhìn vào nhịp sống hằng ngày của thanh niên ở các thành phố lớn và các kiểu ăn chơi tại Việt Nam mới thấy thời chống Mỹ đã qua, và bây giờ cái gì của Mỹ cũng phảng phất một mùi thơm tho, từ giáo dục, thời trang cho đến văn hóa (âm nhạc, lễ hội … ), tất cả quan lớn quan bé, thanh niên, nam nữ đều mơ ước đặt chân tới Mỹ.
Phong tục Việt Nam khi trong gia đình có người chết sau một ngày là phải tẩm liệm và đậy quan tài kín nắp, vì sao Việt Nam ngày nay lại phải bắt chước Liên Xô làm nắp quan tài bằng kiếng để cho thân nhân, họ hàng chiêm ngưỡng dung nhan cũng như bác Hồ để mặt trần trong lăng cho bàn dân thiên hạ tới ngó. Và cái lối thân nhân diễn hành qua quan tài người chết trước khi di quan đó, chúng ta bắt chước tập tục của ai?
Phong tục Việt Nam đối với ma quỷ là kính trọng nhưng không thân thiết, “kính nhi viễn chỉ”, những thứ như hình ma bóng quế, đầu lâu, xương người, máu me, bầy dơi, lũ quạ … là những hình ảnh chết chóc, ghê sợ, đem đến cho con người những điều xui rủi, cần phải tránh xa. Việt Nam dưới chế độ XHCN, ở xa nước Mỹ gần nửa vòng trái đất mà cũng còn bị văn hóa Mỹ “đầu độc” bằng đầu lâu, ma quỷ hiện hình khắp phố phường nhân ngày 31 tháng 10 mỗi năm, nghĩa là nước Việt ngày nay cũng có ngày Halloween, văn minh không thua gì nước Mỹ. Nhưng là người Việt ở đất Việt, chúng ta có lý do gì để bắt chước Mỹ hay Nam Hàn, Đài Loan … Đó là thứ văn hóa … thị trường hay văn hóa theo đuôi một cách vô ý thức, không hề có sự chọn lựa. CSVN hằng năm vẫn tổ chức các lễ hội để lôi cuốn du khách và một mặt cho rằng chính sách của nhà nước luôn luôn bảo tồn văn hóa, tuy vậy những dịp như Huế Festival hay Hội Chùa Hương hình như chỉ thoáng qua như ngày mưa trong cơn nắng hạn, rồi đâu cũng vào đấy, vì trong đời sống hằng ngày, phim ảnh, sách báo, truyền hình, phát thanh vẫn du nhập vào đời sống dân chúng những hình ảnh âm thanh của những đợt sống mới, gọi là văn minh, nhưng chính đó là phần xấu nhất của xã hội tư bản.
Ngày trước, sau năm 1975, khi hỏi những thanh niên Hà Nội về những tên Nguyễn Du hay Hồ Xuân Hương, họ hoàn toàn không biết, điều này có thể ngụy biện bằng hoàn cảnh chiến tranh, bây giờ thanh niên lại biết quá nhiều về phim ảnh tài tử và những mối tình điện ảnh của Nam Hàn, Đài Loan hơn là những vấn đề văn học Việt Nam. Chính phủ CSVN bây giờ không thể nào đổ lỗi cho tàn dư Mỹ Ngụy hay là do đế quốc có dự mưu đem nọc độc ở ngoài vào đất nước. Tình trạng thi hoa hậu lan tràn từ cấp quốc gia cho tới địa phương được tổ chức liên tục không phải là điều may mắn gì cho phụ nữ Việt Nam. Đó là thị trường dành cho thời trang, vải vóc, phấn son do nhu cầu làm ăn của các công ty ngoại quốc và sự đua đòi bên ngoài, khiến người con gái Việt Nam lớn lên không mộng làm hoa hậu thì cũng mơ ước lấy chồng ngoại quốc, miễn là có tiền để xóa đi mặc cảm quê mùa, nghèo nàn, đói khổ. Do vậy, ngày xưa xã hội Việt Nam chỉ có những cô gái bần hàn, thất học mới sa chân vào con đường buôn hương bán phấn, nhưng ngày nay ở quê hương chúng ta, người ta đã công nhận và tìm thấy trong những đường dây bán dâm có các thành phần sinh viên, ca sĩ, người mẫu …
Thủ phạm phá nát đạo lý dân Việt ngày nay chính là những nhà làm văn hóa CS, tầng lớp cán bộ lãnh đạo từ trung ương đến địa phương. Đạo lý tất cả vì lợi nhuận và chạy theo đồng tiền là thứ đạo lý được tôn thờ hình như không phải riêng ở Việt Nam mà còn ở cả các nước hậu CS. Các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà Nước CS hiện nay là thủ phạm đã phá nát cương thường đạo lý của con người VN, thay vì như nhiều người lầm tưởng khi nhìn cái vỏ bọc hào nhoáng bên ngoài khi chúng ta và những người ngoại quốc về thăm đất nước nhìn qua ánh sáng của vũ trường, khách sạn, phòng trà và qua nhan sắc của người con gái Việt Nam. Ở đây, chúng tôi cũng xin mở một dấu ngoặc để nói về người Việt trên đất Mỹ. Đành rằng “nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc”, chúng ta phải sống sao cho hòa hợp với văn hóa, phong tục và đừng để cho ai coi là một khối người lập dị, sống xa lánh, cách biệt với người bản xứ. Văn hóa Mỹ là văn hóa pha trộn (melting culture), tuy nhiên mỗi sắc dân có những sắc thái và phong tục riêng, vì vậy chúng ta cũng không bắt buộc khi chết nằm trong quan tài phải để mặt, tháng 10 chơi trò ma quỉ đi từng nhà gõ cửa xin kẹo, hay đám cưới cô dâu chú rể phải ngồi bàn chủ tọa, nhìn xuống cha mẹ hai bên, thân quyến và bạn bè. Chúng ta khác, mà không khác gì dân Mỹ.
***
Người Âu Mỹ cử hành lễ Giáng Sinh tưng bừng, nhưng bước sang năm mới, những dàn đèn rực rỡ, hoa trang hoàng đều được gỡ xuống, mọi sinh hoạt đều trở lại bình thường. Đối với người Việt chúng ta thì Giáng Sinh chỉ mới bắt đầu những ngày lễ hội, mua sắm tiêu pha tốn kém. Người Việt mừng Giáng Sinh không thua kém bất cứ một người bản xứ nào, rồi sau đó lại tưng bừng đón Tết Nguyên Đán, không những chỉ có quà cáp biếu xén, mà còn mua sắm đủ thức hoa trái, bánh chưng, bánh tét, kẹo bánh mang về nhà không thiếu thức nào. “Khó giỗ cha, nghèo ba ngày Tết”. Sức tiêu thụ của người Việt phải nói là vô tận. Nhiều nhà làm bánh chưng, gói giò nổi tiếng, chỉ chịu khó ba ngày Tết mà đủ tiêu pha suốt cả năm. Nhưng chưa hết, không biết ngày xưa bên Tàu, ông vua Đường Minh Hoàng nằm mơ du nguyệt điện ra sao mà bây giờ chúng ta lại thêm cái tục lệ mua và ăn bánh Trung Thu trong muôn vàn cái tập tục mà chúng ta đã vay mượn của người Tàu. Chúng ta vẫn thường hãnh diện nghìn năm bị Tàu đô hộ mà còn giữ được bản sắc văn hóa, y phục, ngôn ngữ không bị đồng hóa, nhưng quên điều Tết tới thì có lì xì, múa lân, mồng năm tháng năm thì có bánh tro, hái lá, trung thu thì ăn bánh rước đèn. Và tệ hại nhất là cứ đám cưới thì phải vào nhà hàng Tàu để cho chủ nhân và các chú đầu bếp “chính gốc Hồng Kông” đập đổ, có lẽ nghìn năm sau cũng không làm khác hơn đi được, mà cũng chưa thấy ai dám làm một cuộc “cách mạng văn hóa”, để khỏi ăn món Tàu trong những tiệc cưới.
Ngày Tết Trung Thu đã qua được một tuần lễ, nhưng trong nhà chúng ta bánh Trung Thu hãy còn. Chúng ta mua bánh trung thu để biếu xén, người mang ơn, bằng hữu và các bậc cha mẹ, ông bà và chính chúng ta lại nhận lãnh của người khác mang biếu. Những hộp bánh Trung Thu này có khi lại đi loanh quanh. Nhiều khi nghĩ thật tội nghiệp cho lòng biết ơn và giữ lễ của người Việt Nam khi phải mang trong người nhiều tập tục của cả Đông lẫn Tây. Giáng Sinh phải có quà, Tết Nguyên Đán phải có biếu xén, Trung Thu tặng bánh để uống trà. Rồi “Ngày Mẹ, “Ngày Cha”, “Ngày Tình Yêu”, Sinh Nhật Nàng, Sinh Nhật Chàng. Nếu chúng ta nghĩ rằng lễ này lễ nọ ở Hoa Kỳ được bày ra chỉ vì mục đích thương mãi, thì Tết Trung Thu được tổ chức và duy trì chính là do động cơ thương mãi lớn nhất mà giới doanh thương Trung Hoa không muốn bỏ. Ở Việt Nam ngày trước, cứ sắp đến ngày rằm tháng tám là đường trở nên khan hiếm vì Chợ Lớn đầu cơ tích trữ đường để làm bánh Trung Thu. Rồi bao nhiêu hãng bánh Trung Thu ra đời: Đồng Khánh, Đông Hưng Viên, Kinh Đô … mỗi năm các chủ nhân này kiếm vào bạc triệu vì khách xếp hàng nối đuôi nhau mua bánh không tiếc tiền. Ít ai mua bánh để ăn, thường mua bánh để đi biếu. Các chức sắc từ hành chánh đến quân sự cao cấp, mỗi năm có chừng năm bảy chục cân bánh Trung Thu, ăn không hết phải phân phối bớt cho bà con thuộc hạ. Ngày xưa, việc hối lộ còn thô sơ đơn giản, có các loại bánh Trung Thu nhân vàng lá. Thuộc hạ nhận bánh trung thu từ ông bà chủ thường được dặn nửa đùa nửa thực rằng: “Tôi biếu ông bánh, nếu có nhân vàng thì trả lại tôi nhé!”
Mỗi khi Trung Thu qua được một vài tuần, các tiệm vẫn còn bánh, miền Nam Việt Nam ở ngoài đường sau những năm 80 lại có bày bán bánh trung thu rẻ tiền, phơi mưa nắng từ ngày này sang ngày khác. Một vốn bốn lời, có khi còn hơn thế nữa. Các bạn làm một cái tính nhẩm, với nguyên vật liệu làm nên một cái bánh Trung Thu có là bao, nhưng giá bán trở thành một món ăn đắt tiền. Ở hải ngoại, “chúng ta đi mang theo quê hương”, mang theo cả những hàng quán cùng với những cái tên cũ, với tấm lòng nhớ cố hương mà không cần phải là con cháu hay có bản quyền sang nhượng bảng hiệu. Rằm tháng tám, mặc dầu ở Mỹ không ai có cơ hội để thưởng trăng vì thời giờ và vì hoàn cảnh, nhất là đối với những người ở đô thị khi mà phố xá và những cao ốc đã che mất tầm nhìn, bánh Trung Thu vẫn còn làm cho người ta nghĩ rằng trong đó có hương vị của quê hương ngày cũ. Rồi cũng Đồng Khánh, Đông Hưng Viên và hàng chục nhãn hiệu khác ra đời, ngon có dở có, và Trung Thu hằng năm đã đem đến mối lợi không nhỏ cho những người làm bánh. Những tuần trước, người ta phải xếp hàng nhau để đợi đến lượt mình bỏ ra một trăm đồng để mang về trung bình chừng bốn hộp bánh. Ở Mỹ, ban đêm, dù là đêm có trăng, đường phố không đem lại sự an toàn cho trẻ em khi chúng ra đường. Ở Mỹ, những chiếc lồng đèn bị mờ nhạt đi trước ánh sáng của điện khí. Bánh Trung Thu thì nhất định là không hợp với khẩu vị trẻ em tại Mỹ, với các loại thập cẩm, ngũ vị, hạt dưa lổn nhổn với lạp xưởng, bí đao, vi cá, vị ngọt, mặn, béo, bùi. Trẻ em Việt Nam tại hải ngoại thấy rõ là không hợp với loại bánh trái này.
Theo sử sách, Tết Trung Thu khởi đi từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh ở bên Tàu. Người Tàu gọi bánh Trung Thu là “Bánh Trăng” (Trung Thu Nguyệt Bỉnh). Rồi lồng đèn mặt trăng, cá chép, múa lân, múa rồng, múa sư tử hoàn toàn mang dáng dấp và mùi vị của người bạn phương Bắc đô hộ từ những nghìn năm trước. Những vùng nông thôn nghèo khó xa ánh sáng đô thị, chắc hẳn không bao giờ có lễ Trung Thu, có bánh trái hay lồng đèn hay múa rồng, múa lân. Sự biếu xén mang ý nghĩa chịu ơn, nhớ ơn là tốt đẹp với truyền thống Đông Phương, nhưng thực là quá sức chịu đựng của một người thanh bạch, nghèo khó, từ Giáng Sinh, Tết Nguyên Đán, Trung Thu, Lễ Mẹ, Sinh Nhật …
Ai cũng công nhận văn hóa Hoa Kỳ là “đa văn hóa”, nó tập hợp từ nhiều sắc dân sống trên đất Mỹ, nhưng người Mỹ không có Trung Thu, người Hồi không đón Giáng Sinh, người da đen không có tết Âm Lịch. Chúng ta như cái nhân bánh Trung Thu “thập cẩm”, mùa nào thức nấy, theo phong tục, lễ Tết muốn mệt đứt hơi, hết Tàu, Tây rồi tới Mỹ, thứ nào cũng tối đa. Cứ nhìn vào gia đình của mỗi chúng ta. Tháng 10 sắp đến nơi rồi, chuẩn bị cho bầy nhỏ chơi Halloween, tháng 11 thế nào cũng có gà Tây, lật bật rồi tới việc phải lên danh sách mua quà Giáng Sinh cho “xếp”, vợ hoặc chồng, bố mẹ, rồi cả bầy con cháu nội ngoại. Đèn Giáng Sinh chưa gỡ kịp cất vào kho thì Tết đã tới ngoài ngõ, phải sắm sửa, biếu xén cặp bánh chưng, hộp mứt, cân giò hay chậu hoa cho phải lễ. Không có bốn mùa và lễ lượt thì tháng ngày phẳng lặng buồn tênh. Nhìn lại thời gian, mới Trung Thu đó, nay lại Halloween tới rồi, nếu không thì tóc mình đã không bạc, con cháu đã không thấy khôn lớn nhanh như thổi, nhưng trong các lễ Tết của người Việt, chúng ta tìm thấy mình ở đâu?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.