Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Bài 33

Trở lại đảo Royale

Như vậy quả thật là nhờ một phép màu mà tôi được trở lại đảo Royale với chế độ phạm nhân chịu án bình thường. Tôi rời Royale ra với một án tám năm tù cấm cồ và nhờ liều thân cố che một người bị nạn, mười chín tháng sau, tôi lại được trở về.
Tôi đã gặp lại các bạn cũ: Dega, vẫn làm kế toán, Galgani đi phát thư, Garbonieri, đã được trắng án sau vụ tôi vượt ngục, Graldet, Bourset thợ mộc, cùng hai anh em Đẩy Xe: Naric và Quenier, Chatal ở bệnh xá, người đã đồng lõa với tôi trong chuyến vượt ngục đầu tiên, và Maturette vẫn ở đảo Royale làm phụ y tá.
Tất cả bọn lục lâm vùng rừng núi đảo Corse cũng còn cả đây: Essari, Vicioli, Cesari, Razori, Fosco, Maucuer và Chapa đã từng làm cho La Griffe bị chết chém vì câu chuyện chứng khoán ở Marseille. Tất cả các minh tinh của những vụ tội phạm từ năm 27 đến năm 35 đều còn tại đây.
Marino, người đã giết Dufréne, vừa chết bệnh cách đây một tuần. Ngày ấy, lũ cá mập đã được một bửa thịnh soạn. Một chuyên viên bậc nhất về đá quý của thủ đô Paris đã được dọn cho chúng chén. 
Barrat, biệt danh là “Nữ diễn viên”, còn là nhà triệu phú kiêm vô địch quần vợt ở Limoges, kẻ đã giết một người tài xế cùng cậu bạn thân, quá thân là khác, của y. Barrat là trưởng phòng thí nghiệm và là dược sĩ của bệnh viện đảo Roycale. Một bác sĩ có tính hay bông lơn nói rằng, ở đảo, người ta bị bệnh lao theo quyền cọ vế.
Tóm lại, việc tôi trở về đảo Royale chẳng khác nào một phát đại bác. Tôi trở lại nhà giam những kẻ cứng đầu, vào một buổi sáng thứ bảy. Gần như ai nấy đều có mặt đông đủ, và mọi người không từ ai, đều đến chào tôi, hết sức niềm nở. Cả cái anh thợ sửa đồng hồ, vốn câm nín không nói bao giờ từ cái buổi sớm trứ danh mà anh ta suýt bị chết chém vì nhầm lẫn, cũng đến chào tôi.
– Thế nào, các bạn, khỏe cả chứ! 
– Khỏe cả, Papi ạ, hoan nghênh cậu đã trở về.
– Chỗ của cậu vẫn còn đấy, Grandet nói. Từ khi cậu đi vẫn để trống.
– Cảm ơn tất cả. Có gì mới không?
– Có một tin vui.
– Gì vậy?
– Đêm qua, trong nhà xí, trước mấy cái ống thoát nước, người ta đã tìm thằng cha dạo nọ treo lên ngọn dừa để rình và tố giác cậu, bị giết chết. Chắc một người bạn thân của cậu vì không muốn để cậu gặp mặt thằng cha ấy đã tiết kiệm hộ cậu cái việc ấy.
– Tớ rất muốn biết cậu đó là ai để cảm ơn.
– Chắc sẽ có ngày cậu ấy sẽ nói ra với cậu thôi. Vào giờ điểm danh sáng nay, người ta thấy thằng cha ấy bị một nhát dao vào tim. Chẳng ai trông thấy hay nghe thấy gì cả.
– Thế là hơn. Còn bài bạc ra sao?
– Vẫn vậy. Chỗ của cậu vẫn còn đấy.
– Hay lắm. Thế thì có thể bắt đầu sống trở lại cái cảnh khổ sai chung thân rồi. Chả biết chuyện này sẽ chấm dứt ra sao và vào lúc nào.

– Papi này, thật tình bọn tớ choáng người đi khi biết là cậu phải lãnh tám tấm lịch. Bây giờ cậu đã trở về đây, tớ nghĩ rằng trên đảo này, không ai lại có thể từ chối, không chịu giúp đỡ cậu về bất cứ việc gì, dù mạo hiểm đến mấy.
– Ông chỉ huy gọi anh đấy, – một tên lính da đen nói.
Tôi theo hắn ra ở vọng gác, có vài tên cảnh sát nói vui vài câu với tôi. Tôi theo tên đến gọi tôi và gặp thiếu tá Prouillet.
– Khỏe chứ, Papillon?
– Thưa chỉ huy, khỏe.
– Tôi mừng thấy anh được đặc xá, và tôi cũng khen anh về hành động can đảm của anh đối với đứa con gái nhỏ của người bạn đồng sự của tôi.
– Xin cảm ơn ông.
Tôi giao cho anh việc chăn trâu cho đến lúc anh được trả về với việc đổ thùng và được quyền đi câu.
– Nếu điều này không có gì phiền đến ông nhiều quá tôi xin tuân lệnh.
– Đấy là việc của tôi. Giám thị của xưởng không còn ở đây, còn tôi trong ba tuần nữa, tôi cũng về Pháp. Thế là mai, anh đến nhận việc nhé.
– Thưa chỉ huy, tôi không biết cảm ơn ông bằng cách nào.
– Bằng cách chờ một tháng nữa rồi hãy tìm cách vượt ngục, được không? – Prouillet vừa cười vừa nói.
Trong phòng giam, tôi thấy vẫn những người ấy, với cách sinh hoạt hàng ngày vẫn như trước khi tôi đi. Những dân mê cờ bạc thuộc một loại người riêng biệt, chỉ suy nghĩ và sống vì bài bạc. Những ai có một thằng “bạn trẻ” thì cùng ở, cùng ăn, cùng ngủ với nó. Đấy là những cặp vợ chồng thật sự, và sự đam mê cùng tình yêu giữa đàn ông với nhau chiếm hết tâm tư của họ, cả ngày lẫn đêm. Cũng có những cảnh ghen tuông, những dục vọng không kiềm chế nổi, làm cho “chồng” và “vợ”, cứ rình mò lẫn nhau và gây ra những vụ giết người không sao tránh khỏi nếu một trong hai “vợ chồng” chán người kia và bay đi tìm những mối tình mới.
Tuần qua, vì người đẹp Charlie (tức Barrat), một tù nhân da đen tên là Simplon đã đâm chết một người tên là Sidero. Đây là người thứ ba bị Simplon đâm chết do yêu Charlie.
Tôi về trại mới được vài giờ đã có hai thằng cha đến tìm tôi.
– Này, Papillon, tôi muốn biết Maturetté có phải là của anh không?
– Hỏi để làm gì?
– Tôi có lý do riêng của tôi.
– Anh hãy nghe tôi nói. Maturette đã vượt ngục đi với tôi một chuyến dài 2500 kilômét, và cậu ấy đã xử sự như một người đàn ông chân chính. Tôi chỉ nói với anh có vậy thôi.
– Tôi muốn biết cậu ấy có thuộc về anh không?
Không, tôi không hề biết Maturette trong vấn đề tình dục. Tôi quý trọng cậu ấy như một người bạn thân, ngoài ra, tôi không quan tâm đến cái gì hết trừ phi có ai muốn hãm hại cậu ấy.
– Nếu có ngày cậu ấy là vợ tôi thì sao?
– Lúc đó nếu cậu ấy bằng lòng, thì tôi không xen vào làm gì. Nhưng nếu anh hăm dọa cậu ấy để buộc cậu ấy theo anh, thì anh sẽ có chuyện với tôi đấy.
Những kẻ đồng tình luyến ái thì dù bị động hay chủ động, đều như nhau, vì cả hai loại người đó khi đã đam mê rồi thì chẳng còn nghĩ đến cái gì khác. Tôi đã gặp cậu người Ý có cái plan bằng vàng cùng đi một chuyến tàu với tôi. Cậu ta đến chào tôi. Tôi hỏi:
– Cậu vẫn ở đây à?
– Tôi đã xoay đủ cách. Mẹ tôi gửi cho tôi 12000 francs, thằng lính lấy công sáu ngàn, tôi chi mất bốn ngàn để khỏi bị nhốt, tôi lại được đưa đi chiếu X quang ở Cayenne rồi cũng chẳng được việc gì. Sau đấy tôi lại bị buộc tội là đã làm một người bạn bị thương. Anh biết nó đấy, nó là Razori, dân kẻ cướp đảo Corse đấy.
– Ừ! rồi sao nữa?
– Nó thỏa thuận với tôi, nó tự gây ra một vết thương ở bụng, và tôi sẽ ra tòa án binh với nó, nó thì là người buộc tội, còn tôi là người có tội. Bọn tôi còn không được lên đảo nữa. Chỉ có 15 ngày là xong hết. Tôi lãnh án sáu tháng cấm cố. ấy là chuyện ở năm ngoái. Anh còn không biết tôi ở đấy nữa cơ. Papi ơi, tôi chịu hết nổi rồi. Tôi muốn tự vẫn đi cho xong.
– Thà chết trong một chuyến vượt ngục còn hơn, ít ra cậu được chết tự do.
– Anh nói đúng, tôi đã sẵn sàng để làm đủ mọi việc Anh có tính chuyện gì, cho tôi biết với nhé.
– Đồng ý.
Cuộc sống ở đảo Royale cứ tiếp tục. Và tôi đã đi chăn trâu. Tôi phải trông một con trâu đực tên là Brutus. Nó nặng hai tấn, khét tiếng là dữ: nó đã giết hai con trâu đực. Viên giám thị Angosti, chuyên trách phần công việc này, nói với tôi: “Đây là lần cuối cùng. Nó còn giết một con nữa là phải thịt nó thôi”. Sáng nay, tôi làm quen với Brutus. Anh chàng da đen người Martnique vẫn chăn dắt nó, phải ở lại một tuần để chỉ dẫn cho tôi. Tôi đã kết thân được với Brutus ngay từ đầu bằng cách đái vào mũi nó: cái mũi to và dài của nó ưa liếm chất mặn. Rồi tôi cho nó vài trái xoài ương mà tôi hái được ở vườn bệnh viện. Tôi thắng nó vào một chiếc xe bò thô sơ, xứng với cái xe bò cổ lỗ của các đời Vua Lười Biếng xa xưa, và dắt nó đi.
Trên xe, có một thùng ton-nô chứa ba ngàn lít nước. Công việc của tôi cùng anh bạn Brutus là xuống bờ biển, đổ nước vào thùng rồi chở lên cái dốc khủng khiếp này đến tận bãi bằng. Tối đó, tôi mở nắp cho nước chảy vào các cống rãnh cuốn cho hết chất bẩn còn lại từ buổi sớm. Tôi bắt đầu làm từ sáu giờ, khoảng chín giờ thì xong việc.
Sau bốn ngày, anh chàng người Martinique tuyên bố là tôi đã có thể xoay xở một mình được. Chỉ có một chuyện phiền: năm giờ sáng, tôi đã phải bơi đi tìm Brutus trốn trong ao, vì nó không muốn làm việc. Điểm yếu của nó là ở lỗ mũi cho nên tôi đặt một cái vòng xuyên qua mũi nó, và thường xuyên buộc với một đoạn dây dài 50 phân. Khi tôi tìm được nó, nó lủi đi, lặn xuống nước rồi nhô lên ở một chỗ xa hơn. Đôi khi tôi mất cả tiếng đồng hồ mới tóm được nó trong cái ao nước tù hãm hôi tanh, đầy những sâu bọ và hoa súng. Tôi cáu kỉnh rủa một mình: “Đồ khốn nạn. Đồ mặt dày? Cứng đầu cứng cổ đến thế nữa! Mày có chịu ra không thì bảo!” Nó chỉ chịu nghe khi tôi đã nắm được sợi xích của nó. Còn chửi rủa, nó cóc cần. Nhưng cuối cùng, khi nó ra khỏi ao thì nó lại trở thành bạn của tôi.
Tôi có hai cái can trước kia đựng mỡ, nay dùng để chứa nước ngọt. Tôi bắt đầu tắm cho hết nước nước nhớp nhúa ở ao. Khi tôi sát xà-phòng và kỳ cọ cấn thận cho mình rồi, còn lại đến hơn nửa thùng nước ngọt, tôi lấy nắm xơ dừa để cọ rửa cho Brutus. Tôi kỳ cọ thật kỹ những chỗ kín của nó, vừa cọ vừa dội nước. Thế là Brutus cọ đầu vào tay tôi rồi tự nó đến đứng trước càng xe. Không bao giờ tôi dùng gậy nhọn thúc nó đi như anh chàng người Martinique vẫn làm. Chắc nó cũng biết ơn tôi, vì với tôi, nó rảo bước nhanh hơn. Có một con trâu cái nhỏ rất đẹp mê Brutus. Nó luôn đi bên cạnh chúng tôi. Khác với anh chàng kia, tôi không xua đuổi nó~tôi để cho nó hôn Brutus và theo chúng tôi đi bất cứ đâu. Ví dụ, khi chúng hôn nhau, tôi không phá bao giờ, và Brutus đã chịu ơn tôi, vì nó đã kéo ba ngàn lít nước với một tốc độ nhanh không ngờ. Hình như nó muốn dành lại khoảng thời gian nó đã làm mất đi những khi dừng lại liếm láp Marguerite (đó là tên con trâu cái).
Hôm qua, trong buổi điểm danh sáu giờ, có một câu chuyện bê bối nho nhỏ do Marguerite gây ra. Hình như anh chàng da đen người Martinique đã leo lên một bức tường thấp và ở đó ngày nào chàng ta cũng hôn hít Marguerite. Bị lính gác bất ngờ tóm được, cậu ta lĩnh mười ngày xà-lim. Về tội “giao cấu với súc vật”. Theo đúng quy chế chính thức. Thế mà hôm qua, khi điểm danh, Marguerite lại dẫn xác vào trại, cô nàng đi ngang qua hơn sáu chục người và đến trước anh chàng da đen, cô nàng chổng mông lại, giơ đít ra cho chàng kia. Ai nấy đều cười phá lên và chàng da đen xấu hổ đến xám mặt.

Google photo

Mỗi ngày tôi phải ba lần di chuyển nước. Lâu nhất là việc chờ hai người phụ tôi đổ nước vào đầy thùng chứa, nhưng công việc cũng khá nhanh. Đến chín giờ, tôi đã xong việc, được quyền đi câu.
Tôi đã liên minh với Marguerite để kéo Bratus ra khỏi ao. Cứ gãi vào tai là cô ta nghé ọ, nghe giống như thằng ngựa cái động đực. Và Brutus tự động lên khỏi ao. Tuy tôi không phải tắm rửa cho mình nữa, tôi vẫn cọ rửa cho nó, còn cẩn thận hơn trước. Sạch sẽ, không còn bị mùi hôi hám của nước ao tù bám suốt đêm trong lúc nó ngủ ở ao, nó càng được Marguerite ưa thích hơn và điều đó làm cho nó linh hoạt hẳn lên.
Từ bờ biển đi lên, lưng chừng dốc, có một khoảng bằng; ở đấy có một hòn đá to. Brutus quen nghỉ xả hơi năm phút ở chỗ đó, tôi lấy đá chèn bánh xe lại: làm như vậy, nó yên tâm nghỉ ngơi hơn. Nhưng buổi sáng hôm đó, một con trâu khác, tên là Danton, cũng to như Brutus, nấp sau những cây dừa nhỏ chỉ có lá không, bởi vì đây là một vườn ươm cây. Chờ sẵn chúng tôi tại đấy Danton xồ ra tấn công Brutus. Con này nhảy sang bên, tránh được cú đánh, con kia đụng phải cái xe. Một bên sừng của nó cắm vào thùng ton-nô. Danton cố hết sức để gỡ sừng ra, tôi tháo dây thắng cho Brutus ra khỏi càng xe. Thế là Brutus chạy lấy đà lên phía trên cao, ít ra cũng chừng 30 mét rồi phi nước đại lao vào Danton. Không biết vì sợ hay do tuyệt vọng, trước khi con trâu của tôi tới được chỗ nó, con Danton đã giật được sừng ra khỏi thùng tuy một mẩu sừng bị gãy còn mắc tại đấy, nhưng Brutus không hãm lại kịp thời nên xô vào và lật đổ cái xe.
Đến đây tôi được chứng kiến một chuyện kỳ quái nhất. Brutus và Danton đã chạm sừng vào nhau mà không xô đẩy nhau, chúng chỉ cọ cặp sừng kếch xù của chúng vào nhau thôi. Dường như chúng nói với nhau, nhưng chúng lại không kêu rống lên mà chỉ thở phì phò. Con trâu cái từ từ leo lên dốc, theo sau là hai con đực Thỉnh thoảng hai con này dừng lại, cọ đầu và đan sừng vào nhau. Thấy lâu lắc quá, Marguerite rên rỉ một cách uể oải rồi lại đi về phía bãi bằng ở trên đảo. Hai con vật khổng lồ kia vẫn đi song hàng, theo sau.
Sau ba lần dừng lại với những nghi thức như vậy, chúng tôi đã lên tới bãi bằng. Chỗ chúng tôi đứng lại ở trước cây đèn pha là một khoảng trống dài chừng ba trăm mét. Một phía là trại tù, bên trái và bên phải là hai tòa nhà của bệnh viện: một cho tù nhân, một cho cảnh binh. Danton và Brutus vẫn đi phía sau cách hai mươi bước. Còn Marguerite, nó bình thản đến giữa khoảng đất và dừng lại. Hai con trâu thù địch tiến lên ngang nó. Thỉnh thoảng nó lại rống lên một tiếng dài nghe ai oán và rõ ràng là khêu gợi. Hai con kia lại chạm sừng vào nhau một lần nữa nhưng lần này tôi có cảm giác là chúng thật sự nói chuyện với nhau vì lẫn với hơi thở của chúng, có cả những âm thanh chắc chắn là có một ý nghĩa nào đó.

Google photo

Sau cuộc nói chuyện này, một con trâu chậm chạp đi về phía bên phải, còn con kia về phía trái. Chúng đến đứng tận hai đầu khoảng trống. Marguerite vẫn đợi ở chính giữa. Tôi hiểu ngay: đây là một cuộc quyết đấu tay đôi theo đúng thể thức, được cả hai phía chấp nhận, trong đó con trâu cái sẽ là chiến lợi phẩm. Con trâu cái non tơ cũng có vẻ đồng ý, nó còn tỏ ra hãnh diện chẳng kém hai chàng mê gái sắp đánh nhau vì cô nàng.
Marguerite cất tiếng rống lên hai con trâu đực mới lao vào nhau. Trong đoạn đường mà mỗi con vượt qua, mỗi phía dài độ một trăm năm mươi mét, không cần phải kể rằng cái khối nặng hai ngàn ki-lô của chúng được nhân lên gấp bội với tốc độ chạy của chúng. Hai cái đầu va phải nhau, mạnh đến nỗi cả hai chết lặng đi đến năm phút. Con nào cũng khuỵu xuống.

Google photo

Brutus đã hồi sức lại trước và dậy được, nó phi về chỗ cũ. Cuộc chiến đấu kéo dài hai giờ. Lính gác muốn giết chết Brutus, nhưng tôi không chịu, và đến lúc chạm sừng. Danton bị gẫy rời hẳn đoạn sừng bị hỏng khi mắc vào chúng ton-nô. Nó bỏ chạy, Brutus đuổi theo. Cuộc chiến đấu còn kéo dài sang ngày hôm sau. Chúng chạy qua chỗ nào: vườn tược, nghĩa địa, xưởng giặt, thì chỗ đó bị tàn phá tan tành. Chỉ sau khi đã quần nhau suốt đêm, mãi tận sớm hôm sau, lúc bảy giờ sáng, Brutus mới dồn được Danton vào chân tường lò sát sinh ở gần bờ bể và tại đấy, nó đã dùng sừng đâm thủng bụng con Danton. Để kết thúc hẳn địch thủ, Brutus lăn đi lăn lại hai lần để cho sừng xoáy sâu vào bụng con Danton và con này đã ngã gục xuống chết, trong một suối máu lẫn với lòng ruột. Cuộc chiến đấu giữa hai con vật khổng lồ làm Brutus kiệt sức đến nỗi tôi phải đỡ sừng cho nó, nó mới đứng lên được. Nó loạng choạng rời khỏi nơi ấy theo con đường ven bờ biển và con Marguerite đã tới đi bên nó, dùng cái đầu không có sừng của mình để đỡ cái cổ đồ sộ của anh bạn thắng cuộc.
Tôi không được chứng kiến đêm tân hôn của chúng, vì tên lính gác coi đàn trâu đổ tội cho tôi là đã cởi dây thắng cho Brutus nên tôi bị mất việc chăn trâu: Tôi xin được gặp chỉ huy để nói chuyện về Brutus. – Chuyện xảy ra thế nào vậy, Papillon? Phải giết Brutus thôi, nó nguy hiểm quá. Nó đã giết mất ba con trâu tốt rồi.
– Thưa, tôi đến để xin ông hãy cứu lấy Brutus. Người gác trông coi việc trồng trọt, chuyên lo lũ trâu không hiểu gì hết. Xin ông cho phép tôi được kể lại là Brutus đã tự vệ chính đáng ra sao
Viên trại trưởng mỉm cười:
– Tôi nghe đây.
– Như vậy, như ông chỉ huy đã thấy, con trâu của tôi bị tấn công trước. – Sau khi kể các chi tiết, tôi kết luận như vậy. – Hơn thế nữa, nếu tôi không cởi dây cho Brutus thì con Danton đã đâm chết nó mà nó không thể chống đỡ được vì nó còn bị buộc vào càng xe.
– Đúng vậy- trại trưởng nói.
Vừa lúc đó người gác kia tới.
– Xin chào thiếu tá. Còn Papillon, tôi đang tìm anh, vì sáng nay anh đi trên đảo như đi làm vậy, mà anh lại không có việc làm.
– Thưa ông Angosti, tôi đi ra để xem có thể ngăn không cho hai con trâu đánh nhau được không, nhưng chẳng may, cả hai con đã điên tiết lên cả rồi.
– Có thể là như thế, nhưng bây giờ anh không chăn trâu nữa, tôi đã nói với anh rồi. Vả lại, sớm chủ nhật này, cũng phải mổ nó để lấy thịt cho trại giam.
– Ông không làm thế được.
– Anh không thể ngăn tôi đâu.
– Tôi không thể ngăn ông nhưng thiếu tá ngăn được Nếu thế cũng chưa đủ tôi sẽ nhờ bác sĩ Germain Guibert can thiệp để cứu Brutus.
– Anh xen vào chuyện này để làm gì?
Vì chuyện này có dính dáng đến tôi. Chính tôi chăn dắt con trâu, và nó là bạn của tôi.
Trâu mà là bạn của anh à? Anh giỡn với tôi đấy hả?
– Ông Angosti, xin phép ông, ông cho tôi nói một chút chứ? 
– Thì cứ để cho anh ta bênh vực con trâu của anh ta xem, – ông thiếu tá nói.
– Được anh nói đi.
– Ông có tin là súc vật cũng nói với nhau được không, ông Angosti?
– Sao lại không, nếu chúng muốn giao thiệp với nhau?
– Nếu vậy thì Brutus và Danton đã cùng thỏa thuận là sẽ đấu với nhau.
Rồi tôi kể lại sự việc một lần nữa, từ đầu đến cuối.
– Trời đất quỷ thần – viên gác người Corse nói.
– Anh thật đến là kỳ cục, Papillon ạ. Anh thu xếp làm sao với Brutus thì làm, nhưng lần sau nó còn giết một con nào nữa, thì không ai, kể cả thiếu tá, có thể cứu được mạng nó. Tôi lại để anh đi coi trâu vậy. Nhưng phải bắt Brutus làm việc đi.
Hai ngày sau, chiếc xe đã được thợ ở công xưởng sửa lại, và Brutus, với cô vợ chính thất là Marguerite kèm bên, lại tiếp tục công việc chuyên chở nước hàng ngày. Còn tôi, mỗi lần đến nơi nghỉ, khi chiếc xe đã được chèn đá cẩn thận, tôi lại hỏi, “Danton đâu rồi, Brutus?” Và con vật khổng lồ kia, kéo mạnh chiếc xe, chân bước lâng lâng, với tư thế của kẻ chiến thắng, đi một mạch về tới nơi.




Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Chương 10

Tôi đã thắng định mệnh hai keo và lại được tin cậy, nhưng Albert vẫn còn đó, và đấy chính là người phải canh chừng gắt gao. Chúng tôi là hai thái cực của khối và mọi người đều ghi chép và kết toán các cơ may riêng của mỗi đứa.

Những lá thư đầu tiên kèm theo bưu kiện quà cáp đã đến, đem theo một ít không khí quê hương. Jacob, người mà ngoài một điếu thuốc, từ chối lất cả mọi thứ mà người ta biếu, cũng cấm tôi không được nhận bất cứ món gì dù là một chiếc bánh nhỏ, ngược lại, khi ông nhận được quà của vợ gửi cho, ông vội vàng chia xẻ, nhưng gói quà chẳng chứa đựng gì nhiều.

Những bọn bè quen từ đầu, nay đã đi hết, người nầy đến người kia, chắc chắn là đến Dora. Chỉ còn lại Michael, Mas và Ramelin, cả ba, địa vị vững chắc. Đại tá Ganneval cũng được rời khỏi công việc tạp dịch, ngoài trời để vào công xưởng nhờ các sĩ quan Tiệp Khắc quen ông nhân một xứ mạng ở Prague thuở trước, và họ đã nhận ra ông mặc dù dưới bộ “đồng phục” mới. Người Tiệp Khắc, sau người Đức, là những người nhận được chỗ tốt, trước tiên nhờ vào tư cách là thuộc “nước bảo hộ” của Đại Đức Quốc.

Vì lẽ tôi chẳng nhận được thư từ bưu phẩm gì, thiện cảm của các bạn tù Nga lại càng tăng lên và vì tôi có vẻ còn vững trong địa vị, lòng tin của những người đã bỏ rơi tôi trong khi tôi lâm vào tình trạng tuyệt vọng, cũng đã trở lại. Vì thế mà nhiều người kể lại với tôi rằng Albert đã lấy của họ nhiều gói quà, để giúp họ, anh ta bảo vậy, tránh khỏi bị tống đi đến những chỗ tệ hại. Vả chăng, trong khối ai cũng biết cả, nhưng không có ai dám khiếu nại. Albert được bên trên nâng đỡ mạnh. Một liếp xúc-cù-là, hay một gói thuốc Gaulois có hiệu quả cũng bằng nếu không muốn nói là tốt hơn cả một bao thơ đầy ắp giấy bạc mà người ta dúi vào tay một vị đại biểu lem nhem. Tên quỷ quyệt của chúng tôi áp dụng đường lối này. Một du kích quân gốc người Bretagne đề nghị với tôi để anh thanh toán hắn, nhưng Jacob không chấp thuận, Đáng tiếc, bởi vì khi đêm đến, việc đó rất dễ thực hiện. Phải tìm cách khác. Chính Boucher đã đem lại giải pháp cho chúng tôi. Từ lâu anh ta có vũ khí bí mật nhưng vẫn chờ cơ hội để tung ra. Khí giới bí mật đó chỉ là một chiếc đồng hồ đeo tay bằng vàng mà tên khốn kiếp đã cưỡng đoạt lúc anh mới đến, với lời hứa là sẽ đưa anh vào làm việc ở nhà máy, xử dụng quyền của một thông dịch viên, anh ta len lỏi trong số người mới đến trong khi họ được sát trùng, để tìm cách kiếm chát.

– Hắn bóc lột tất cả, mọi người chung quanh nói; vậy tốt hơn nên dàn xếp giữa người Pháp với nhau.

Có ai muốn giữ chiếc đồng hồ khi thấy mình trần như nhộng sẵn sàng để cho bị hớt và cạo như trong lò sát sinh không? Boucher, người đầu tiên, để cho anh ta làm, tưởng rằng đây là chuyện bình thường, có hai chứng cứ không chối cãi được đối với tội trạng nầy. Một mảnh giấy mà Albert viết nguệch ngoạc và đưa cho anh trong lúc tiếp chuyện đó, chứng cớ thứ hai là bên trong nắp hộp đồng hồ có khắc tên của sở hữu chủ và ngày tháng. Một hội thẩm đoàn danh dự gồm có người Đức, Nga, Pháp được thành lập. Boucher vốn là một luật sư, anh trình bày tất cả với giọng sâu cay và sự rõ ràng khúc chiết làm cho các thông dịch viên gặp nhiều khó khăn, nhưng anh ta chẳng cần phải dùng đến tất cả tài năng mình, chứng cớ cũng đã quá đủ. Albert, luôn luôn đeo chiếc đồng hồ nầy vẫn hãnh diện nói rằng mình đã thành công trong việc dấu nó qua tất cả các cuộc lục soát từ khi bị giam cầm tại Pháp, đã không ngờ có cuộc tấn công được sửa soạn trước như thế nầy. Một trong các hội thẩm đề nghị án tử hình, nhưng sau cùng hình phạt được ấn định là anh ta phải bị tống đến một mỏ muối. Bốn hôm sau, Albert lên đường và ngay cả tôi tớ thân cận nhất của anh ta cũng không dám bắt tay từ biệt.

“Tên khủng bố” đã đi khỏi, mọi người đã thở phào nhẹ nhõm. Những chuyện đó đã dây dưa đến cuối tháng ba. Ngoài một vài tin vịt, vẫn không có gì mới lạ. Ngay cả cuộc tiến quân ở phía Đông cũng dừng lại. Sự yên tĩnh trên tất cả các mặt trận có thể cho phép dự đoán đang có âm mưu gì đó, nhưng trong khi chờ đợi, phải sống đã. Những ai thỉnh thoảng có nhận được một gói quà thì bảo toàn mạng sống là chuyện dễ. Ngay cả những người kém may mắn nhất, những người làm việc ngoài trời cũng bớt than vãn vì thời tiết lạnh lẽo đã chấm dứt. Ai cũng biết được ở lại Buchenwald tức là còn có cơ may sống sót. Trong tất cả các chuyến di chuyển trước đây mấy tuần, đã có sự thiệt hại lớn lao. Chúng tôi biết được điều đó qua văn phòng nhân số, và tôi buồn rầu tự hỏi Huhert và các bạn khác trong cơn thử thách mới hay đã ra sao.

Trong khối nầy lại có thêm tù mới đến. Trước hết khối dành cho tất cả những người tàn tật trong trại tập trung. Với các người cư trú mới: cụt chân, cụt tay, đau yếu và cả kẻ đui mù nữa, khối mau lẹ trở thành một “sân phép lạ” và lò thiêu xác nhận từ khối cửa tôi nhiều khách hàng nhất. Sự chết chóc bắt đầu đến với những người quá bốn mươi tuổi và đã bị thời tiết của mùa đông vừa rồi làm kiệt sức. Một đêm, tháng ba, một cơn gió lạnh buốt thổi qua các khe ván hở của căn phòng nhỏ của chúng tôi, ông Nghị sĩ người Bỉ Francois hấp tấp đi vào văn phòng khối và la lên bằng tiếng Đức: “Ngài chủ tịch mất rồi”. Đó là ông cựu thủ tướng Janson, lãnh tụ đảng tự do Bỉ vừa chết ở tuổi bẩy mươi hai.

– Thế thì đưa ông ta vào ngăn dành cho người chết, – Jacob trả lời khi đang rửa chân, không thèm cả quay đầu lại. Rồi quay nhìn tôi, trong khi ông kia tủi giận, bỏ đi ra:

– Bộ ông ta tượng trưng cho cái gì sao? Người ta làm quốc tang cho ông ta vì ông ta đã từng làm Bộ trưởng chắc? Nếu ông ta biết tôi đã từng thấy không biết bao nhiêu người đã chết.

Đó là người chết đầu tiên trong khối…

Nhà vật lý học danh tiếng Helbronner ra đi vĩnh viễn sau đó; một cơn cảm lạnh trong ba ngày liền đã quật ngã ông mặc dù với tuổi 65, ông ta có một sức mạnh làm kinh ngạc. Rồi đến giáo sư Roby một nhà toán học. Bệnh kiết lỵ đã làm người ông khô đét. Ngay hôm ông mất, người ta báo là ông có một bức thư, nhưng ông không còn gì thì giờ để đọc nữa.

Đối với những người chết đầu tiên, các y tá còn bỏ công lo lắng và Boucher, được chỉ định phụ trách việc nầy, đã đọc một điếu văn ngắn ngủi. Vì lẽ số người chết ngày càng gia tăng, bốn người tình nguyện họp thành một Tod Komando(Biệt đội chung sự) có nhiệm vụ khiêng xác chết. Bù lại với nỗi mệt nhọc, họ được nhận gấp đôi phần ăn và không còn điếu văn nữa.

Mối ưu tư số một của chúng tôi là ăn, và người già nhất cũng trở thành hổ đói. Trông họ nhai, người ta có thể nói là họ đang dự một cuộc tranh đấu vô hình chống lại “Người Đồng chí” đang lảng vảng trên không.

Đối với người không làm việc gì cả, phần ăn của trại tạm coi là mức sống tối thiểu, và còn có bưu kiện thêm vào. Bưu kiện nhiều đến nỗi Zacob thiết lập một quỹ tương trợ. Mỗi người bỏ vào đó những gì mà lòng thương yêu thúc đẩy, tất cả tặng phẩm sẽ mang chia cho nhiều người bất hạnh không thân quyến, không nhận được gì hết. Hai lò sưởi của khối không bao giờ bị tắt, vì luôn luôn có người hâm nóng đồ hộp, hay nấu lại rau trái được phơi khô. Có hai người ranh ma đã chiếm lấy hai mỏ vàng nầy, công việc là châm củi vào lò, thiết lập một vòng di chuyển thứ tự và canh chừng việc nấu nướng các món khác nhau. Họ mập ra trông thấy và từ lâu đã mất tất cả những quan niệm riêng về thời cuộc. Một lần tôi bắt gặp một anh đang nếm một cách quá đáng một món thịt hầm đậu. Với vẻ tỉnh bơ, anh ta cố gắng thuyết phục tôi về tánh ngay thẳng của anh:

– Tôi đang giúp ông y sĩ già quê ở Calvados, ông ta chỉ có thể ăn được nước sốt thôi, vả lại ông ta mới ngồi dậy được và tôi nghĩ là không còn lâu nữa đâu.

Tiếng tăm của khối chúng tôi lan tràn mau chóng trong trại tập trung. Người ta chỉ nói đến khối của tù nhân tàn phế. Hãy nghĩ xem, ở đây không ai làm việc cả và chắc chắn là vì các tù nhân bị tàn tật ở đây cho nên số bưu kiện gởi đến cũng nhiều hơn nơi khác.

Ngay cả nhóm người Nga già nua cũng phải làm tạp dịch, nhưng để bù lại, họ được lãnh tất cả phần súp dư thừa. Duy chỉ có điều kiện thiếu vệ sinh là làm cho người ta ở đây dễ bị chết mà thôi. Trong dãy nhà nầy, bình thường có chỗ cho từ 50 đến 100 tù nhân, nhưng vào tháng 4 năm 1944 nầy, chúng tôi có những 600 người. Thời tiết tốt đã trở lại, và mỗi tuần một lần vào thứ bảy chúng tôi quyết định mọi thứ phải được đưa ra ngoài để làm tổng vệ sinh. Họ đưa ra vô số vật dụng, đủ thứ dị dạng, khiến cho chung quanh khối trông giống như một khu chợ chồm hổm. Buổi tối khi sắp đặt tại đâu vào đó, là có cuộc thanh tra sạch sẽ. Đứng nối đuôi nhau mỗi người phải trình diện thân thể mình cho một kiểm soát viên chuyên về chấy rận, từ bệnh xá gởi đến, ông nầy nhờ một đèn rọi xách tay kiểm soát tất cả phần thân thể có tóc lông. Bịnh đậu lào! (một bệnh địch do chấy rận gây ra). Người Đức sợ bệnh nầy cũng như sợ bị oanh tạc, vào thời kỳ đó, họ đề phòng ngay cả trong các trại giam.

Không làm gì cả trong ngày, và không bị khổ sở vì đói, người ta để cho tâm trí rẽ qua các câu chuyện không bao giờ dứt, trong đó chuyện trà nước lẫn lộn với chuyện nhậu nhẹt. Mọi khu vực trong xã hội đều có người đại diện và có một vài nhân vật danh tiếng.

Michelin, vua cao su, như người Đức vẫn gọi, thường thường rất sang trọng bỏ rơi phần ăn vì ông ta nhận vô số là bưu kiện. Tù nhân Nga từ khắp nơi bu đến để có thể chiêm ngưỡng dung nhan một nhà đại tư bản thực sự bằng xương bằng thịt.

– Đúng là một tên keo kiệt, – một hôm Boncher nói với tôi, – hắn ta muốn bán cho tôi một gói thuốc với giá mười Đức kim, trong khi hắn ta có cả kho.

Mặc dầu có một địa vị tốt đẹp trong đời sống dân sự (ông ta có một trong những văn phòng lớn nhất ở Ba-lê), ông luật sư của chúng tôi không hề nhận được đồ ăn lẫn tiền bạc, chúng tôi có quyền nhận ba mươi Đức kim mỗi tháng, và ông ta khổ sở nhất là do thiếu thuốc hút. Nhờ sự táo bạo, ông ta len lỏi để được liệt vào loại bất lực nhờ vào một bịnh đau tim không kiểm xét được. Khi cao hứng ông ta kể lại các vụ án danh tiếng: vụ Violette Norzière, vụ hỏa hoạn trên chiếc “Georges- Philipar” tuy nhiên nhược điểm của ông ta, đó là sự hợp pháp của chánh quyền Pétain. Chắc chắn ông luật sư chống lại hành động của Pétain nhưng riêng đối với sự phê chuẩn của quốc hội Vichy, nó trở thành hợp pháp và để bênh vực, ông ta không bao giờ đi ra ngoài các công thức pháp lý! Những người nói chuyện với ông, thường bị ngụp lặn trong mớ danh từ chuyên môn khó tiêu, không bao giờ nhận bị ông đánh bại. “Luật lệ của anh là một con điếm, và ai cũng có thể hôn nó tùy ý!” một lần, một tù nhân gốc Bordeaux nổi khùng kết luận như vậy.

Cũng có cả các dân biểu nghị sĩ ở đây nữa. Đôi khi họ rốt lúng túng vì phải cung cấp các lời giải thích về đường lối chính trị trong quá khứ của họ. Lẽ tất nhiên là mọi người đều tiên liệu mối hiểm họa Hitler và kiêu hãnh cho rằng đã làm mọi chuyện để tránh tình trạng thảm hại. De Tessan, cựu Tổng thư ký phong trào Bình dân bị chết lãng nhách vì một mụn nhọt nơi cánh tay.

Nhiều cựu sĩ quan, đủ để trám đầy nhiều phòng khách, và họ không bao giờ biết một khi cật vấn cấp bậc của nhau, không phải lúc nào họ cũng luôn đồng ý với nhau. Vốn không phải chỉ trao đổi với nhau những những lời lẽ lịch sự. May thay vì danh dự quân đội, một vài người đã giữ vững được uy tín. Tướng Challe là một trong số đó. Với số tuổi 75, ông có một sức khỏe vật thể và tinh thần mà nhiều thanh niên phải thèm muốn. Đối với tất cả mọi người ông không hề ngần ngại thú nhận mình có tư tưởng cơ đốc và bảo thủ, và ít ra người ta cũng biết rằng khi nói chuyện với ông, mình đang nói chuyện với ai. Biết bao nhiêu người không được một lập trường vững chắc bao chung quanh ông! Một hôm, một viên Đại tá xúc phạm đến ông bằng một lời lưu ý hỗn xược, ông tướng mắng thẳng vào mặt ông tá nầy một cách uy nghiêm:

– Khi trở về đến Pháp, tôi bắt anh đứng nghiêm lại.

Trong khung cảnh không gian và thời gian nơi câu chuyện xảy ra, màn kịch nầy thật đáng buồn cười, tuy nhiên vẻ tự tin khi ông nói mấy lời “khi về đến Pháp”, đã giúp ông chiếm được sự ngưỡng vọng của những người – và số nầy rất đông – đã thất vọng cho rằng mình sẽ không bao giờ còn được thấy những ngày nghi lễ lạ lùng nầy chấm dứt.

Cùng với các bưu kiện, những giai cấp xuất hiện trở lại, vì có những người giàu, kẻ nghèo biến thành người đi thương lượng, thủ lợi và trộm cắp. Ngoài đời sống dân sự, những kẻ có thế lực trên trái đất sống trong một khu vực riêng biệt, nhưng ở đây, người nầy chồng lên người kia, kẻ bày thịt heo hay hộp mứt cạnh người quên mất mùi vị các thứ đó từ lâu đã tạo ra cùng hậu quả giống như một ông lớn đang sống trong một khách sạn đặc biệt lại vừa mang đồ đạc sang trọng đến sống trong một khu vực ngoại ở tăm tối bẩn thỉu.

Có một vài kẻ như là điên khùng với quà nhận được. Họ không dám ăn hết bất cứ món gì. Một người miền Vendée, nhận quà hàng tháng tượng trưng cho cả một gia tài ở Ba-lê vào thời đó; nhưng khi phải cho ai vài cục đường hoặc ba chiếc bánh, mặt mày ông ta trở nên tái xanh, đến nỗi những kẻ ích kỷ nhất cũng thấy thẹn. Jacob, nản lòng vì trông thấy cảnh đó, muốn bỏ rơi tất cả những gì ông đã muốn tổ chức, nhưng vì tò mò, ông thực hiện một cuộc kiểm soát, đúng hơn là một cuộc lục soát, vì đã có nhiều người khiếu nại với ông là có mùi hôi thối. Ngạc nhiên quá đỗi, ông khám phá thấy nào là bơ đã bị ôi, nào là bánh bị mốc, đồ hộp bị hư hỏng và cho đến cả thuốc lá bị thối hoàn toàn mà chủ nhân không hút và thích giữ lại hơn là đem bán hạ giá. Đem cho ư, chuyện ấy không bao giờ có.

Đây không phải là một hiện tượng chung, nhưng mấy hôm trước đây một gã ngốc nghếch đã bị phạt suốt cả buổi chiều phải đi quanh dãy trại với một hòn đá nặng trên lưng. Anh ta đã ăn cắp một hộp cá của người bạn tù nằm gần bên, không phải để ăn – dù anh ta rất cần – nhưng để đổi lấy thuốc lá tại một khối khác. Ngày có cuộc lục soát anh ta mừng quýnh. “Chính họ mới đáng bị phạt”, anh ta ta lớn, vừa chỉ vào những tù nhân giữ cả kho thực phẩm đã hư hỏng. Tôi biết được anh ta là một nha sĩ tại Ba-lê. Không có thuốc lá, anh ta lâm vào tình trạng suy nhược đến tối. Thuốc lá đối với anh ta còn quí hơn cả đồ ăn. Trước các sự khám phá nhân cuộc lục soát đó, tình hình có vẻ khá hơn. Trên cấp bậc toàn trại tập trung, sự lạc quyên quà tặng cũng được tổ chức để giúp đỡ các tù nhân đau ốm và nghèo, ở bệnh xá. Trong bệnh xá thường hay có người chết nằm cạnh nhau, người nầy vì kiệt sức trong khi lao tác và bị thiếu ăn, và người kia vì kiết lỵ gây ra bởi việc ăn ngốn ngấu quá độ thực phẩm nhận được trong một bưu kiện.

Boucher, như là một anh chàng thổ công, luôn luôn khám phá thấy trong ngôi bảo tàng viện về con người, và nhứt là khối 56, một vài đồ thì mà tôi là người được anh cho biết trước. Một đêm, anh ta ra dấu bảo tôi đi theo, và đưa tôi đến một góc giữa hai “ngăn”, tôi thấy một ông già bị bao bọc chung quanh bởi các thanh niên thường đến thăm ông.

– Có gì lạ ở đó vậy? – Tôi quan sát và hỏi Boucher.

– Bộ anh không thấy những cặp mắt xanh biếc của họ, và, và… tôi phải nói làm sao nhỉ, và vẻ dịu dàng của cây thục quì trong mắt họ sao? Anh hay thử đến gần gũi với một thanh niên rồi anh sẽ thấy ông già muốn ăn tươi nuốt sống anh vì ghen ra sao! ồ! ông ta không làm gì hại đến họ cả, ông chỉ rờ rẫm sơ sơ thôi, vả chăng, ông ta cũng không còn sức lực nữa.

Tôi lắng tai và nghe một câu chuyện lạt lẽo vô vị về thơ văn.

– Sao, – ông giáo sư Boncher thình lình xen vào, – học trò vẫn đến thăm ông chứ?

Ông già giật mình, và trên vẻ mặt nhăn nheo thoảng một màu đỏ vì mắc cỡ:

– Không nên bỏ rơi họ, đó là tương lai của Âu châu, những thanh niên nầy, – ông trả lời với giọng gần như lạc đi vì cảm động.

Tôi lưu ý ông luật sư lắm lời của tôi rằng ông ta chỉ nhìn thấy có khía cạnh xấu,

– Nhưng tôi cũng có con chim lạ, – anh ta phản đối, – tôi không chỉ cho anh bởi vì không có gì hay ho lắm đó mà thôi.

Trong số một nhóm người yếu đuối bất lực mới đến ở trong khối từ một tuần nầy, có một thanh niên mới 25 tuổi, anh nầy đã nhờ một sự tình cờ và có lẽ cũng là nhờ thân thể được cấu tạo rắn chắc, mà thoát được một cơn sưng phổi nguy hiểm. Cha mẹ anh gởi cho anh nhiều kiện hàng vĩ đại, nhưng ngay trong đêm đó, tất cả quà nhận được đều biến mất không còn vết tích nào cả. Anh ta đã giúp đỡ không biết bao nhiêu cái dạ dày luôn luôn đi kiếm thức ăn, và không bao giờ anh giữ cho mình phần lớn nhất. Anh cho đó là chuyện rất tự nhiên, và những người lần lượt được anh mời, cũng cảm thấy bối rối vì anh làm việc đó với sự giản dị quá. Vả lại, mọi chuyện đối với anh đều đơn giản; nguồn gốc gia đình, nghề nghiệp, kiến thức và tên tuổi của anh tôi còn nhớ, Roger Dufour, bồi tiệm ăn, con nhà nông. Tuồng như một thiên thần đã xuất hiện ở đây qua thân xác anh có lẽ để chứng tỏ cho chúng tôi thấy rằng không nên thất vọng quá về con người.

– Anh thấy không, – Boucher ghẹo tôi, – tôi đã khám phá ra một người, nhưng anh lại tìm thấy một người anh em!

Buổi chiều, khi Julien Cain, quản thủ thư viện Quốc Gia Pháp không bị bận rộn quá với bạn bè, tôi đã trải qua cùng với ông những giây phút thích thú nhất ở những nơi ưu sầu ấy. Tôi nghe nhiều hơn là nói, và từ bộ óc uyên thâm đó, tôi được học nhiều bài học đang giá. Để được yên tĩnh hơn khi thời gian cho phép, chúng tôi đi ra sau trại, ngồi ngay trên vệ đường, ông ta kể cho tôi nghe những giai thoại chưa hề được biết ai trong làng văn ở Ba-lê. Tôi cũng đã từng trò chuyện với một trong những chủ nhân của Galeries Lafayette và tiếp xúc với một ông xanh xao vẻ buồn rầu, nhưng rất đáng kính trọng trong bộ áo tù nhân, nhà kiến tạo máy bay Marcel Dassault.

Trong các trại giam ở Đức, tôi gặp tất cả các dân tộc của Âu châu. Trong số các người Đức ở chung với chúng tôi, những người bệnh tật, có vài trường hợp kỳ lạ. Một người vào khoảng 70 tuổi đã vi phạm một tội hình do tình ái vào lúc 21 tuổi. Bị kêu án án chung thân, ông ta trải qua vô số nhà tù, từ năm bốn mươi tuổi, sau cùng đến “nằm ấp” ở trại nầy tiếp theo tình trạng vô số nhà giam trung ương bị phá hủy vì phi cơ oanh lạc. Ông ta không nhớ kỹ các chi tiết của tấn thảm kịch và từ lâu đã mất hẳn liên lạc với gia đình, trước đó khá lâu gia đình ông vẫn viết thư cho ông. Một người khác, hiệu trưởng một trường hỗn hợp tại một thành phố nhỏ vùng Rhénanie, đã phạm tội hiếp một cô học trò mười hai tuổi. Nay ông đã quá 50 tuổi và không còn hy vọng đi được ra khỏi trại tập trung vì ông đang bị tê bại vì bệnh sưng khớp xương ở thời kỳ quá trầm trọng. Bị phạt mười lăm năm tù, ông còn bốn năm nữa, có gia đình và con cái, ông không làm sao giải thích được nguyên nhân của trọng tội mà ông đã phạm. Một cựu chủ gánh xiếc cũng có mặt ở đây vì đã mua hai miếng dăm-bông chợ đen. Đó là một người dễ thương, đã từng du hành quá toàn cõi Âu châu, đặc biệt là biết rành về nước Pháp. Ông cũng nói được tiếng Pháp và luôn luôn quả quyết với tôi rằng đó là “một xứ bất hủ để nghỉ hè”. Một người Ý biết rất rõ về các nhà tù tại đảo Lipari và nhiều ngục thất khác của chế độ Mussolini, anh nầy luôn luôn tự hỏi tại sao, sau mười sáu năm bị giam cầm trong xứ, người ta lại đẩy anh đến Buchenwald để hành nghề đóng giày. Nhiều khi do tình cờ, trong các đám người lúc nhúc trong một mớ lộn xộn luôn luôn đổi mới, ta có thể gặp một người Hy Lạp, một người dân đảo Malte, một người Ethiopie, và nhiều giống người đặc biệt khác bị bắt trong một cuộc bố ráp hoặc là luôn luôn chờ đợi được thẩm vấn.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Google photo

Phần 15 – Phần số của anh tôi

Nhiều năm sau khi anh tôi mất, mẹ tôi vẫn thường kể về chuyện ấy, bà kể rằng:

Năm ấy là năm Nhâm Ngọ, mẹ tôi cùng một người trong làng có việc phải ra Đông Hà, chiều lại, khi đi bộ về ngang chùa Sắc Tứ, một ngôi chùa nằm phía bắc tỉnh Quảng trị, tọa lạc trên một vùng cát trắng mà sau này khi chiến tranh tràn lan, vùng này mọc lên một căn cứ quân sự của Mỹ bao quanh ngôi chùa chỉ trừ một lối vào vừa đủ cho Phật tử trong vùng vãn chùa, đảnh lễ. Khi bà cùng người làng ghé chùa, sư trụ trì cùng các sãi đang đạp lúa trước sân, mẹ tôi vái thầy rồi tỏ ý muốn xin xăm. Một chú tiểu tóc để chỏm nhanh nhạy theo lời sai của thầy, dẩn mẹ tôi vào chính điện, qua bên một chiếc bàn khấn lại, rút một thẻ tre gọi là xăm, đem ra cho sư trụ trì xem, Sư ngừng đạp lúa, nhìn vào xăm rất lâu rồi nói chậm rãi:

-Mợ đang mang thai, một nam nhưng mạng này lại vắn số! Mẹ tôi sững sờ đáp lại:

-Thưa thày, tôi vừa bỏ một đứa con chưa bao lâu, sao lại như vậy được?

-Xăm nói sao tôi nói vậy, mợ về xem lại.

Là người Quảng Trị, nhưng trong nhà tôi gọi cậu mợ, có lẽ cách gọi này là “mốt” thời thượng của những gia đình từng đi làm cho Tây thời đó, tôi gọi cậu mợ cho tới khi gia đình tôi rời quê lên tỉnh vì chiến tranh.

Bố mẹ tôi mong mỏi một đứa con trai, nhưng hai lần sinh đều là gái, cái thai thứ ba mẹ tôi vừa bị hư cũng là gái, trong khi đó tuổi của bố tôi đã bốn mươi tám và mẹ tôi hai mươi tám.

Chuyện của bố mẹ tôi gặp nhau là một chuyên hiếm hoi, nguyên bố tôi đã có một đời vợ, bốn đứa con. Thời gian này người được bỗ ra làm việc ở Quảng Bình, năm sau, một trận dịch hạch xảy ra, cả vùng Quảng Bình, Quảng Trị chết rất đông, có nhà mất cả gia đình, đi đâu cũng nghe tiếng khóc than! Mẹ đích tôi cùng các anh chị nằm trong số đó!( trong nhà tôi gọi vợ trước của ba tôi là mẹ đích).

Sau khi an táng vợ và các con, người buồn rầu trở lại Quảng Bình làm việc. Trước là một người hoạt bát năng nổ, nhưng nay u uất buồn rầu.

Ông ngoại tôi là bạn đồng liêu thân thiết với bố tôi.

Sau hôm giỗ mãn tang mẹ đích tôi không lâu, ông ngoại tôi trong một bữa rượu, đã gợi ý gả con gái cho bố tôi, dù con mình còn quá trẻ, mới mười bảy tuổi!

Mẹ tôi kể lại khi ông ngoại gọi, mẹ tôi đang bẻ bắp sau nhà, nghe ông ngoại nói ra ý mình, mẹ tôi cúi mặt nói lí nhí:

-Thầy muốn vậy cũng được ạ!

Bởi bố tôi là bạn thân thiết với ông ngoại tôi, mẹ tôi không lạ gì người đàn ông hiền lành, thích thơ phú và vui tính này!

Trở về nhà, mẹ tôi kể chuyện lá xăm với bố tôi, ông liền đưa mẹ tôi lên tỉnh, nhờ một người bạn là bác sĩ, trong tỉnh ai cũng gọi ông là “Đốc tờ Hy”.

Sau khi thăm thai, Đốc tờ Hy trở ra nơi bố tôi ngồi, vui vẻ bắt tay bố tôi, nói:

-Thai bốn tháng rồì, mong là trời cho “xừ” một quý tử.

Bố tôi theo Tây học, ít khi tin vào tử vi bói toán, nhưng rôi cũng hoang mang với lá xăm!

Gần cuối năm thì anh tôi chào đời, cả nhà tôi, hai chị còn nhỏ, bố mẹ tôi và hai bên nội ngoại…hoan hỷ vui mừng. Nhưng mẹ tôi thì lo âu tùng ngày vì tin vào số mệnh, vị sư nói “vắn số” nhưng khống biết “vắn” là tại thế được bao lâu!!!

Nỗi lo âu thường trực trong lòng bà cho tới khi anh tôi qua đời!

Bấy giờ chúng tôi đã lớn, nhưng vì thương mẹ nên cũng ngồi nghe kể dù đã thuộc nằm lòng, thỉnh thoảng chen vào, hỏi mẹ một vài chuyện về anh, cũng đã nằm lòng, nhưng dù đã nằm lòng vẫn không khỏi khóc. Chẳng hạn như sau khi anh tôi được ba tuổi, mẹ tôi sinh thêm chị gái tôi, năm sau, giặc Tây càn, những trận càn liên miên thời đó. Mẹ bồng chị tôi, anh tôi chạy cùng hai chị, không may đạp nhằm cái gai tre xuyên qua bàn chân, đau lắm! Thấy anh tôi không chạy được, các chị cũng còn nhỏ không cõng nổi, mẹ tôi  muốn bỏ lại chị tôi bên đường để cõng anh tôi. Nhưng anh tôi không chịu, khóc lóc, nhất định là: “Con đi được, mợ đứng bỏ em!” Rôi anh tôi tấp tễnh đi bằng gót chân non nớt! Chúng tôi luôn khóc về chuyện này, khi chị tôi đã lớn khôn, chị vừa khóc vừa gọi “Anh ơi !!!” làm chúng tôi sụt sùi!

Thời gian này bố tôi đã bỏ việc ở Quảng Bình, thoát ly lên chiến khu Ba Lòng, được một vài năm, ông bị Tây bắt phải nằm nhà lao mấy năm. Trở về, bố tôi nhớ lại lời của lá xăm, người nguyên xin ơn trên cho thêm đứa con  trai nữa, trời cho thật, anh kế tôi ra đời vào năm Nhâm Thìn, bố tôi đặt tên là Trần Như Nguyện, nhưng vài năm sau, sinh thêm tôi khi mẹ tôi đã bốn mốt tuổi, bố tôi sáu mốt! Tôi thường bị trêu là con ông già. Vậy là gia đình tôi có sáu người con, ba trai ba gái.

Tản cư lên tỉnh, gia đình tôi nhờ ông Tỉnh trưởng giúp cho một chỗ ở, công việc sinh nhai là nấu cơm cho thợ hồ, thợ mộc xa nhà. Ăn ngày, ăn tuần, ăn tháng tùy…

Ông Tỉnh trưởng thường đến nhà tôi chuyện trò cùng bố tôi, từng là một thầy giáo dạy văn. Ông là tỉnh trưởng dân sự cuối cùng vì sau đó những tỉnh trưởng đều là Quân đội.

Có một lần, bố tôi đọc cho ông nghe câu đối mà bố tôi mới làm xong:

“Bán cháo, bán cơm, không bán nước, “Mua đồng, mua trự. chẳng mua quan.

Ông Tỉnh trưởng khen rồi xin cắt nghĩa, bố tôi nói:

-Tôi tản cư lên tỉnh, nhờ ông Tỉnh trưởng giúp cho chỗ ở, nấu cơm bữa cơm tháng sinh nhai, nên chỉ bán cháo bán cơm, còn nước thì lấy từ sông Thạch Hản lên, ai khát thì cho người ta uống chứ không bán. Nhà tôi nghèo, chỉ có tiền đồng tiền trự, chứ làm gì có tiền quan mà mua. (Lúc này tiền tệ không còn “trự” “quan”, Nhưng ông mượn đơn vị tiền tệ cũ để nói lên ý mình trong câu đối.)

Tâm đắc với câu đối, ông Tỉnh trưởng về, hôm sau cho chở tới 10 bao gạo rồi giới thiệu các công chức xa nhà đến ăn cơm, nhà tôi đông như quán cơm xã hội. Mẹ tôi đã vất vả càng vất vả hơn!

Vất vả bận rộn, nỗi lo về anh tôi cũng vơi đi phần nào. Cho đến một hôm, có một thầy chấm số Tử vi từ Huế ra, chuyên chấm tử vi cho những nhà giàu, quan chức trong tỉnh…đến ăn cơm. Ông thầy đau bao tử nên hơi tái xanh, gầy. Mẹ tôi chừa phần cơm thường bỏ thêm cho ông một miếng cháy bởi ông rất thích cơm cháy.

Năm trước, anh tôi thi rớt tú tài phần nhất. gặp lúc tòa hành chánh tính có tổ chức “Đoàn cán bộ hành chánh lưu động”. Anh tôi được tuyển dụng.

Tôi còn bé nhưng cũng nhớ là đêm ấy là đêm mưa rét, bố tôi ngồi chuyện trò cùng thấy tử vi, ông ấy gọi anh tôi, bảo vào trong phòng xem dưới hạ bộ có nốt ruồi đen hay không, anh tôi theo lời rồi ra xác nhận là có. Ông cười bảo với anh không có gì, ông ngồi cùng bố tôi một lát rồi về nhà trọ.

Hôm sau ông lại đến ăn cơm, ông nói nhỏ với bố tôi:

-Ba mươi mốt tuổi nó hết số anh à!

Bố mẹ tôi buồn lắm, nửa tin nửa không muốn tin!

Ba mẹ tôi giấu không cho chúng tôi biết, nhưng cũng chẳng giấu được bao lâu, anh tôi và cả nhà đều biết, ai cũng cố không tin ông Thầy tử vi!

Lá xăm và lời thầy tử vi cũng chỉ là hé lộ mơ hồ về số phần của anh tôi, có vẻ như đã được định mệnh sắp đặt. Tin hay không tin cũng chỉ biết đợi chờ!

Những lắng lo xoay trở tạo cho mình có được một “cái gì đó” trước khi tuổi ba mươi mốt đến là ý nghĩ luôn hiện hữu và chi phối những chọn lựa của anh tôi!

Anh tôi thích thơ-văn, anh cùng hai người bạn ra một tập thơ mỏng chép tay, in roneo, lấy tựa là “Thi phẩm: Buồn hôm nay”, anh cũng gởi thơ cho các báo, một vài bài thơ của anh được đăng trên bào “Phổ Thông” và “Bách khoa”.

Anh vào lính, thi lại tú tài rồi xin vào làm ở Đài Phát Thanh Quân đôi, ở Huế.

Năm sau anh cưới vợ, ở tuổi hai mươi mốt, mặc cho gia đình phản đối!

Làm ở đài phát thanh không bao lâu thì cuộc chỉnh biến 1963 xảy ra cùng với chiến sự lan tràn, anh về làm lính tiểu khu Quảng Trị, ở đó cho đến biến cố tết Mậu Thân.

Những đứa con ra đời, anh tôi lại có thêm nỗi lo kinh tế! Là lính tiểu khu, ngoài những giờ gác đêm, anh tôi được tự do, anh làm thông dịch cho những nhà thầu nơi các căn cứ Mỹ để kiếm thêm thu nhập, phụ vào đồng lương ít ỏi của anh binh nhì.

Ông Tỉnh trưởng dân sự ngày nào, sau khi thôi làm tỉnh trưởng, ông ứng cử Hạ nghị viện và lúc này đang là Bí thư Hạ viện tại Sài gòn. Khi ứng cử nhiệm kỳ đầu, anh tôi đến các quận trong tỉnh để vận động cho liên danh của ông. Trong lần về lại, gặp anh tôi, ông khuyên anh tôi vào trường Bộ binh Thủ Đức, sau khi ra trường sẽ ứng cử Hạ viện như ông trước đây. Trong thời chiến, ứng cử viên là sĩ quan quân đội sẽ được cử tri quân nhân ủng hộ.

Năm 1970 bố tôi mất vì bệnh phế quản, có lẽ là di chứng của những năm nằm nhà lao.

Theo lời khuyên của ông Tỉnh trưởng, anh tôi vào Trường Sĩ quan Thủ Đức, khóa 3/70.

Mãn khóa, anh nằm trong số được chọn đơn vị. Chiến sự căng thẳng khắp nơi, bốn đứa con là động lưc cho anh tôi chọn tiểu khu Phong Dinh vì nghĩ rằng miền Tây gạo và thức ăn rẻ! Chuyện ứng cử Hạ viện không còn trong tầm tay.

Anh vẫn viết, cộng tác với các nhật báo. Anh viết những bản tin, phóng sự, thỉnh thoảng đăng một vài truyện ngắn và thơ… đem lại một khoản tiền nhuận bút cho kinh tế của anh.

Văn thơ anh lúc này bi quan với những: “mộ phần, nghĩa trang, cái chết”, những gian truân đời lính, bên cạnh những bài thơ mang ước vọng hòa bình…

(Tôi còn nhờ vài câu:

Đường đi vào nghĩa trang,

Buổi chiều nghiêng nắng đổ

Em cúi mình hỏi mộ

Mộ anh ở nơi nào?!

…………………… Hay như:

Nếu một mai Quê hương tàn tiếng súng,

Anh giã từ vủ khí trở về em

Anh quên hết những oán hờn xưa cũ,

Gối đau thương trong giấc ngủ say mềm…

………………………………………….)

Gia đình tôi vẫn ở Quảng Trị cho đến tháng 4 năm 1972. Quê tôi rực lên bởi đạn pháo. Chết chóc, ly tán…Gia đình tôi nhờ chạy trước nên không qua đoạn Quốc lộ 1, nơi được gọi là “Đại lô kinh hoàng”.

Anh tôi từ Cần Thơ đăng báo tìm “mẹ và em”, anh cho tôi địa chỉ một người bạn gái ở đường Võ Tánh Sài Gòn. Đến đó, anh sẽ đón mẹ và tôi đưa về Cần Thơ.

Anh kế tôi lúc này cũng đã vào trường Thủ Đức, khóa 4/71. Các chị tôi ở lại Đà Nẵng trong các trại tạm cư, chờ khi tái chiếm được Quảng Trị sẽ hồi cư.

Gặp lại anh ở Sài Gòn, mẹ tôi rơi nước mắt vì mừng mà cũng vì anh gầy và tái xanh, anh cười bảo là muỗi nhiều nên sốt rét. Anh muốn mẹ và tôi ở lại vài ngày ở Sài gòn để anh đưa đi thăm bà con nhưng mẹ tôi không muốn, bà nôn nóng về với các cháu, chị dâu tôi đang mang thai đứa thứ năm!

Ngồi trên chiếc xe về miền Tây ở bến xe Chợ Lớn, anh nói nhiều cho tôi biết về Cần Thơ, những bến Ninh Kiều, phi trường Bình Thủy, phà Cần Thơ rộng qua sông Cửu Long, Rạch Chanh nơi đơn vị anh đóng quân…Anh cũng nói đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, anh muốn nếu chết thì chôn anh ở đó! Câu nói như bất chợt ấy làm tôi nặng lòng!

Một cô gái mang một chồng sách lên xe bán dạo, tôi vui trở lại. Anh chọn bốn cuốn: “ Chiến trường tồi tệ “ của Ngô Đình Vận, “Một chút mặt trời trong nước lạnh” của F. Sagan, bản dịch của Kiều Diễm Hồng. Anh nói về nhà văn nữ người Pháp cho tôi biết, nói qua về trào lưu “Hiện sinh”… , mua thêm cho tôi hai số nguyệt san “Văn Học”: Một số viết về nhà thơ Quang Dũng và một số về Hoảng Cầm. Hình bìa số về Quang Dũng có in hình nhà thơ, anh tôi nói đó là áo của sĩ quan Hoàng Phố, nói cho tôi nghe về trường quân sự này, cũng nói thêm về Vũ Bằng và mấy cây bút trong những số này làm tôi háo hức đến Cần Thơ, nơi căn nhà mướn của anh để xem…

Căn nhà mướn chật chội làm tôi thương anh hơn. Những ngày phép còn lại thật quý, anh em tôi ngồi chuyện trò về thơ, văn, nhạc…Tuy tuổi chênh nhau nhiều nhưng anh em tôi gần gũi nhau hơn các anh chị khác. Lúc này tôi mới mười sáu còn anh ba mươi mốt ! Vốn thơ tôi không quá cuốn “Việt Nam Thi Nhân” của Hoài Thanh. Nhạc thì tôi kha khá nhờ nghe nhiều, chúng tôi cùng sở thích. Nhạc Tiền chiến và Trịnh Công Sơn. Thời gian này băng nhạc “Như cánh vạc bay” và “Cỏ xót xa đưa” của Trịnh Công Sơn đang thịnh hành, trong những cuốn băng Cassette tôi mang theo về Cần Thơ được nghe liên tục. Tôi cũng mang theo được cuốn        “ Yêu nhau khi còn thơ” và “Khi loài thú xa nhau” của Lê Uyên và Phương, còn có một cuốn nhạc chọn lọc tôi rất quý vì đã cất công vào nhà thu băng Hoa Đàm ở cửa Thượng Tứ,  Huế. thu chọn những bài mà tôi thích “Trăng mờ bên suối”, “Suối mơ”,

” Chiếc lá cuối cùng”, “Đêm đông”… Tôi chọn cho được giọng ca Thái Thanh và Sỹ Phú. Thu chọn bài đắt gấp ba lần thu nguyên băng, nhưng tôi vẫn kiếm tiền thu cho được.

Thế mà vài ngày sau tôi phải bán cái máy Cassette ấy! cái máy này tôi mang theo từ Quảng Trị. Khi hết phép, anh tôi về đơn vị nhưng không có tiền, tôi đề nghị bán chiếc máy, anh không cho, nhưng rồi cuối cùng cũng phải chấp nhân vì ngoài tiền mang theo về đơn vị, còn tiền ăn cho cả nhà! Tội nghiệp anh, tự an ủi là lãnh lương sẽ mua lại cho tôi cái máy tốt hơn!

Hai anh em, tôi xách cái máy, anh tôi vác cài thùng loa Sharp, qua các phố Cần Thơ tìm chỗ bán. Mồ hôi đẫm chiếc áo lính của anh tôi, khi tới một tiệm sửa máy, đồng ý mua lại, anh tôi rút khăn lau mặt, không biết anh lau mồ hôi hay những giọt nước mắt, có lẽ cả hai!

Trước khi trở lại đơn vị, anh tôi xin cho tôi đi học. Tôi vừa xong lớp chín, muốn bỏ lớp mười để vào lớp mười một. Anh tôi ngại tôi không theo kịp, nhưng tôi hứa là sẽ cố gắng. Tôi vào lớp mười một trường Nông Lâm Súc Cần Thơ nhờ thầy Giám học cảm thông cho hoàn cảnh chiến tranh của Quảng Trị, không đòi hỏi hồ sơ lớp mười.

Sáng ngày anh về đơn vị, mẹ tôi đưa cho anh ba ngàn, trong số tiền bán cái máy, nhưng anh chỉ lấy một ngàn, nói là “con chỉ đi ba ngày rồi về”.

Những ngày ở nhà, anh thường hỏi tôi mấy giờ rồi, tôi sợ anh về đơn vị không biết giờ nên cởi cái đồng hồ hiệu Bulova bào anh mang theo, tôi ở nhà không cần, bởi anh nghĩ chỉ ba ngày rồi xin phép về nên cũng mang vào tay.

Có lẽ mẹ tôi đã đếm tùng ngày của năm Nhâm Tý, 1972 và mừng thầm vì đã đến tháng bảy!

Anh tôi trở lại đơn vị hôm mồng một, mẹ tôi phấp phỏng âu lo, có những lúc tôi thấy bà ngồi lầm rầm khấn ông bà. Những lúc như thế, tôi thường nói rằng mẹ đừng lo lắng, anh đang bệnh, là Đại đội phó thì anh ấy cũng chỉ ở hậu cứ chứ chết chóc gì!

Tôi cũng không buồn đi chơi đâu, dù rằng Cần Thơ là nơi tôi thường nghe tiếng là Tây Đô với nhiều cái đẹp, tôi nằm ngấu nghiến mấy cuốn sách vừa mua.

Đúng ba ngày từ hôm anh tôi đi, sáng sớm có một bà ở cuối lộ 19 bị trúng gió độc chết, bà cũng ba mươi mốt tuổi! Mẹ tôi bần thần như người mất hồn, đứng lên ngồi xuống, đi ra đi vào!

Chừng mười giờ sáng, có một anh lính đi ngang nhà, mẹ tôi bảo tôi chạy ra hỏi, tôi đi ra:

-Anh tìm nhà ai?

-Nhà Thiếu úy Dụng ở đâu ạ?

-Tôi là em anh Dụng!

Anh lính đứng im không nói thêm gì, mẹ tôi lao ra hỏi dồn dập:

-Thằng Dụng sao rồi, sao rồi?!

-Thiếu úy chết rồi ạ!

Mẹ tôi và chị dâu thét lên rồi lăn ra giữa đường, tôi cố trấn tỉnh hỏi anh lính là anh chết lúc nào, hiện ở đâu?

-Ông chết năm giờ sáng, xe của đơn vị đang ở đầu lộ chờ đưa thân nhân xuống nhà xác quân khu…

Mẹ, chị dâu và tôi đến nhà xác, xe vẫn chưa đưa xác anh về. Hôm ấy mất điện, nhà xác ngập ngụa máu từ các ngăn lạnh chứa xác chảy ra! Chừng hai mươi phút sau, anh tôi về trên chiếc xe cứu thương, với một mảng mặt vỡ nát và ba vết đạn trên ngực và bụng!

Anh tôi bảo chỉ đi ba ngày rồi xin phép về, đúng ba ngày, anh tôi trở về như thế! Hôm ấy là ngày 03 tháng 7 năm 1972, anh tôi đúng ba mươi mốt tuổi như trong là số tử ví mà ông thầy chấm ngày nào!

Thẻ xăm và lá số tử vi khiến anh tôi lo lắng rồi có những chọn lựa sai lầm, đưa đến cái chết đúng như lá số tử vi, hay dù có làm gì chăng nữa, cũng không qua được số phần mà định mệnh đã định dặt cho cuộc đời ngắn ngủi của anh tôi?

Đó là câu hỏi luôn dằn vặt tôi cho đến bây giờ, không chỉ riêng định mệnh của anh tôi, mà tất cả những con người tồn tại trong cõi hiện sinh mong manh này.

Tháng III, 2015.

Trạch An Trần Hữu Hội

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Phần 15

Tám Tàng giác ngộ cách mạng đen

Minh Khịt mặt mày lem luốc, mũi giải lòng thòng. Lớn đầu tới 15, 16 tuổi mà lúc nào người ta cũng thấy hắn dùng hai tay áo thay khăn để quẹt mũi. Hắn thường bỏ trâu ngoài đồng để mò vào các nhà quan xóm có lễ lộc cúng kiếng để kiếm ăn. Hễ thấy cái bản mặt lúc nào cũng khìn khịt mũi, gia chủ thường chụp vài cái bánh, chạy nhanh ra cửa:

– Này! Cho mày bánh và đồ ăn. Mày ra ngoài đồng ngồi ăn! Đi nhanh giùm tao!

Chả có gia chủ nào muốn bà con, thực khách của mình lợm giọng vì cái dơ dáy bày hày của Minh Khịt. Sự xuất hiện của hắn làm mất vẻ trang nghiêm của không khí giỗ chạp, làm con chó giữ nhà sủa la inh ỏi. Đến cả khi hắn chặt chặt lưỡi làm quen, mấy con chó cũng có vẻ không hài lòng. Dường như con chó cũng biết kỳ thị. Hắn cũng biết tính nết hắn, thân phận hắn. Thường thì hắn nhanh nhẩy nhận thức ăn và trở lại với mấy con trâu của mình. Gia chủ đôi lúc cũng nói vói theo:

– Minh Khịt, lần sau vô nhà ai kiếm ăn, mày chịu khó ra suối vục nước rửa cái bản mặt mày một chút có được không? Đồi quỷ! Bộ chăn trâu rồi cũng dơ như trâu sao!

Dường như hắn hài lòng với định mệnh, với cuộc đời, không buồn phiền những lời chê bai, trách nhiếc, và người ta những tưởng Minh Khịt sẽ sống bằng nghề chăn trâu suốt đời. Nhưng nào ai biết số hắn sinh vào giờ nào, tử vi của hắn ra sao, đời hắn sẽ về đâu, lên hay xuống, chỉ có trời biết. Một hôm hắn biến mất. Hắn đi làm “cách mạng cứu nước” vào một ngày phải gió trở trời nào đó, và người ta chỉ biết ra khi mấy con trâu hắn chăn ăn cả nửa đám mạ ông hàng xóm.

– Trời đất ơi! Bớ Minh Khịt! Mày đi đâu mà bỏ trâu ăn cả vạt mạ của tao! Trời ơi! Làm sao gieo mạ lại cho kịp vụ mùa hè trời! Chỉ còn một tháng nữa làm sao chạy kịp! Thằng ôn hoàng dịch lệ!

Mấy con trâu bị lùa ra đồng trống trở lại. Người ta chạy đi mắng vốn chủ trâu. Ông Ba Bé hầm hầm cầm theo cây roi tìm Minh Khịt. Người ta nghĩ hắn ngủ bờ ngủ bụi ở một xó xỉnh nào đó, nhưng ông Ba Bé tìm hắn cả ngày không gặp. Ông dắt trâu về cột trong chuồng và nghĩ hoài không ra.

– Cái thằng mắc dịch này lạ thật!

Ông nghĩ hôm sau thế nào Minh Khịt cũng về nhà . Ông la nó một hồi rồi cho nó ăn cơm, rồi nó lại dắt mấy con trâu ra đồng. Nó làm công cho ông cả bốn năm nay, lâu lâu nó giở chứng như vậy. Hai ba ngày sau đó, Minh Khịt vẫn biến mất như con ma. Ông cho người đến nhà mẹ nó, bà cũng không biết gì hơn. Minh Khịt vắng bóng trong xã từ đó. Và sau mấy tuần, chẳng ai còn nhớ Minh Khịt.

Minh Khịt vô bưng sau khi tiếp xúc với một người bạn cùng xóm bỏ nhà ra đi mà hắn không biết đi đâu. Hắn nào biết cách mạng là gì, du kích là gì, súng ống là gì, hắn chỉ nghe lời thằng Tám Tàng, bạn hắn tả con đường cách mạng thênh thang, có quần áo đen để mặc, có cái khăn rằn lau mồ hôi, có cơm cá ăn no bụng, không bị chủ la rầy, không phải chạy theo mấy con trâu, không phải len lén ăn chực ở mấy cái đám giỗ quanh xóm, và sau cùng là không bị mấy con chó rượt chạy vắt giò lên cần cổ. Nhìn lại thân thế mình, hắn thấy con đường Tám Tàng vẽ ra trước mặt có sức hấp dẫn lạ thường.

– Ừa, tao đi! Tao đi theo mà y cũng vui!

Thế là Minh Khịt đi làm cách mạng.

Mấy tháng sau, Minh Khịt trở thành một tên du kích hoạt động trong rừng mật khu Lê Hồng Phong. Mặt mũi phong sương, trưởng thành hơn. Ban ngày người ta dạy hắn về con đường cách mạng của “Bác” đi, và Minh Khịt là kẻ đang đi tiếp theo con đường của “Bác”, dù không biết ngày mai con đường “Bác” đi có bi đát hay vinh quang.

Cái đầu Minh Khịt đen kịt, không có chỗ nào trống để nhét mấy cái ý niệm giải phóng, đế quốc, áp bức, cách mạng, Mác Lê-nin, kể cả “Bác Hồ vĩ đại”. Những chuyện tầm thường bằng ngón tay út mà nhét vô đầu hắn cả tháng cũng không vô thì “Bác Hồ vĩ đại” chui vô sao được. Tỷ như chuyện tháo ráp cây AK mà hắn học cả ba tháng trời, tháo ra thì hắn tháo được, nhưng bảo ráp vào thì hắn lộn tùng xèo với một đống sắt.

Cách mạng như những thùng nước, mà cái đầu Minh Khịt là lá môn. Nói chuyện cách mạng với Minh Khịt như nước đổ lá môn… Đảng và “Bác Hồ” là chuyện nghe qua rồi bỏ, vô tai này nó chạy tuột qua tai khác.

Có những buổi trưa, hắn được phân công mò ra bìa rừng, nơi có thể nhìn ra quốc lộ 1, để quan sát, canh chừng hoạt động địch. Hắn chưa được phát súng, chỉ được chỉ thị giả dạng như người chăn trâu, làm rẫy…

Hắn lựa một bụi rậm mát, từ trên động cát, người dân gọi là động Thái An, nhìn xuống đồng bằng. Màu vàng của lúa làm hắn nhớ mấy con trâu, xe cộ dọc ngang trên quốc lộ 1 làm hắn nhớ nhà. Đó là những cảm giác đầu tiên gây nên cơn giông bão trong đầu hắn. Hắn bỗng nuối tiếc cái thời thơ ấu chăn trâu lem luốc. Hắn muốn bỏ rừng về nhà. Hắn nhớ bà già. Chưa bao giờ hắn nhớ nhà như lúc này. Đôi lúc hắn muốn chạy một mạch xuống đồng ruộng, nhưng hắn bỗng rợn người khi nhớ lại lời thằng Tám Tàng có lần nói với hắn sau khi đã ở trong bưng mấy tháng:

– Theo cách mạng mà bỏ về nhà là bị xử tử đó mày! Tao nói thiệt chứ không giỡn đâu!

– Xử tử là cái gì?

– ĐM sao mày ngu dữ dậy! Xử tử là mấy ổng bắn bể sọ mày, chặt cổ mày!

– Gì mà ghê dậy mày? Sao hồi đó gặp tao mày không nói trước?

– Nói trước thì làm sao mày dám đi! Con khỉ!

Lần đầu tiên hắn biết sợ. Biết sợ là một trong những thành quả mà hắn được Tám Tàng thay cách mạng đào luyện cho hắn. Dường như chỉ có điều này là còn dính chút xíu trong cái đầu đen kịt của hắn. Hắn nằm trên cát. Cơn nắng trải đều không gian, hừng hực đổ lửa trên những triền động. Hắn nhìn mấy con dông thềm chạy ngang dọc kiếm ăn. Hắn trở mình. Nghe tiếng động, mấy con dông ngẩng đầu lên dòm ngó, rồi chợt phóng nhanh như cắt xuống mấy cái hang. Dông là thức ăn thường ngày của hắn, Tám Tàng và những đơn vị du kích sống trong rừng mật khu Lê Hồng Phong.

Cơn gió mát hiu hiu đưa hắn vào giấc ngủ lúc nào hắn không hay. Chiều tối, có chiếc trực thăng đâu đó bay ngang, trên bầu trời lấp lánh sao, hắn giật mình thức dậy, lần lũi theo bóng đêm đang mờ dần. Phút chốc, bóng Minh Khịt biến mất trong rừng sâu.

Vào năm 1972, cường độ chiến tranh gia tăng, thỉnh thoảng Minh Khịt thấy một số bộ đội nói tiếng Bắc xuất hiện trong vùng du kích của hắn. Đa số bọn họ đều mang AK, và một hôm hắn được người ta dạy về cách tháo ráp, bắn súng, không phải loại AK mà là một cây súng bá đỏ, sau này hắn nghe gọi cây súng đó là cây CKC. Hắn được báo cho biết là hắn được cách mạng giao thêm trách nhiệm tác chiến. Hắn được giao cho cây CKC.

Xưa nay, những lý thuyết, những đêm học tập người ta nhồi nhét vào đầu hắn, nói chui từ lỗ tai này ra hết lỗ tai kia. Nó không có ký lô nào trong đầu hắn. Nay thì khác, cuộc đời hắn bắt đầu trĩu nặng, đầu tiên là sức nặng của cây súng. Nhiệm vụ tiên khởi của hắn, cũng như mấy lần trước, là ra bìa rừng quan sát và canh gác an toàn cho các đơn vị trong bưng, nhưng lần này lại có cây CKC kèm theo vai, lần này lại có cả Tám Tàng mang AK đi theo. Hai đứa ẩn mình trong bụi rậm kín đáo, tầm mắt hướng về quốc lộ 1.

Hai thằng giở cơm vắt ra ăn với cá khô. ăn xong, cả hai lại không hẹn, cùng nhau thiu thiu ngủ. Tám Tàng ôm cây AK dựa lưng vào gốc cây thả hồn theo cơn gió mát. Minh Khịt ngồi bên, mở mắt không lên, cũng ôm CKC ngủ tiếp. Chẳng biết hai đứa ngủ được bao lâu. Trên bầu trời xanh lộng gió bỗng vọng lại tiếng trực thăng, Minh Khịt nhướng mắt nhìn về hướng Sông Mao, hắn thấy đến hai chiếc, một chiếc lớn đang bay, câu theo một chiếc nhỏ tòn ten bên dưới.

Tiếng trực thăng càng lúc càng gần, hắn thấy cả hai chiếc càng ngày càng rõ trên vòm trời. Bỗng Minh Khịt nghe mát rượi khi một cơn gió mạnh thổi qua rừng. Trên trời, chiếc trực thăng nhỏ đeo bên dưới chiếc lớn chao xoay một vòng, chợt đứt giây rơi ào xuống đầu hắn. Minh Khịt hoảng hốt, chẳng biết làm sao mà hai viên CKC thay nhau ra khỏi nòng, hai tiếng nổ chát chúa, xẹt qua mang tai Tám Tàng cùng với tiếng rầm, ào ào cây đổ khi chiếc trực thăng hư bị đứt dây chạm đất.

– ĐM mày Minh Khịt! Trời ơi ! Sao mày bắn xẹt qua mang tai tao! Chút nữa tao bỏ mạng rồi! Kỳ dậy!

– Thấy nó thinh không xuống lẹ quá, tao giật mình chụp súng chớ có bắn hồi nào! Chẳng biết tại sao nó lại nổ hai phát! Súng gì kỳ vậy?!

Khi chiếc Chinook biến mất ở cuối chân trời thì Minh Khịt và Tám Tàng cũng rời vị trí để đến xem chiếc trực thăng. Nó trở thành một đống sắt vụn giữa rừng, không thấy một tên “giặc lái Mỹ xâm lược” nào chết.

Tháng 9 năm 1976, cả nước lọt vào vòng tay cộng sản hơn một năm. Người ta nghĩ sau khi cộng sản thắng ở miền Nam, từ Nam tới Bắc sẽ sống trong không khí hòa bình, tiếng sáo chiều, tiếng mục đồng êm ả… “đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây, ruộng ta, ta cứ cày…” như trong một bài hát thời kháng chiến chống Pháp. Nhiều người bất mãn quốc gia, hay mê VC cũng vào bưng vì những ý nghĩ và giấc mơ đó. Nhưng tất cả đã lầm.

Năm 1976 là năm bắt đầu cao điểm của sắt máu, của trả thù, của trấn bức, của tịch thu tài sản. Cả miền Nam căng cứng những lo âu, sợ sệt, hận thù. Cả miền Nam, gần như gia đình nào cũng có thân nhân vào tù hay bị nhốt trong các trại cải tạo, ra đường cúm rúm, co ro. Đường ta đó, nhưng không có chuyện ta cứ đi. Đi một tấc đường là phải xin một giấy phép; nhà ta đó, nhưng cả nước đột nhiên nghèo thê thảm thì lấy gì xây; ruộng ta đó, nhưng làm sao cày khi nhà nước mới sung công đất ruộng, trâu bò vô hợp tác xã… rồi cả đám cùng làm mà chẳng có ăn!

Tất cả những cuộc đổi đời xuống dốc đó không ảnh hưởng chút gì vào cái đầu của Minh Khịt. Chiều nay, hắn và tên du kích xã, người chỉ huy hắn, được nêu tên tuyên dương “anh hùng diệt máy bay Mỹ” gì đó trong buổi lễ mừng ngày quốc khánh 2/9. Hắn bây giờ bệ vệ trong bộ áo mới, mặt vênh váo, hãnh diện.

Người ta khó mà nhận ra Minh Khịt khi chăn trâu bị chó rượt năm xưa với đồng chí Minh Khịt xã đội phó du kích bây giờ. Tiếng loa mời gọi mọi người tập trung tại sân lúa hợp tác xã để dự lễ mừng quốc khánh 2/9, đồng thời tuyên dương các đồng chí miền Nam chống Mỹ cứu nước. Buổi lễ có cả màn ca hát để dễ bề thu hút bà con.

Mặt trời lặn dần, những ánh nắng chiều vàng vọt vắt trên ngọn cây nhạt mờ dần. Sân đội tập trung khá đông người, cờ xí giăng đỏ dọc theo bờ ruộng từ quốc lộ 1 vô tới sân khấu. Buổi lễ được “đồng chí” huyện ủy chủ tọa đặc biệt. Lý do sự có mặt đặc biệt đó là lễ gắn huy chương anh hùng diệt Mỹ.

Mọi người im phắc khi tiến hô nghiêm vang lên. Một toán hát “quốc ca”, cờ đỏ kéo lên. Nghi thức chào cờ chấm dứt, xướng ngôn viên mời các “đồng chí” lớn và đồng bào an tọa. Để bắt đầu lễ gắn huy chương, người ta xướng danh một lô du kích tên tuổi lạ hoắc, song khi nghe đến tên đồng chí Minh Khịt, mọi người bỗng rồ lên nhốn nháo, xì xào:

– ĐM, thằng Minh Khịt chăn trâu mậy!

– Nó đi du kích hồi nào?

– Ai biết ! Nghe nói hồi trước “giải phóng”, nó đang chăn trâu rồi bỏ bọn chăn trâu, chăn bò vô rừng, sao bắn rớt máy bay cho được!

– Tí nữa nó lãnh huy chương xong mày hỏi nó!

– “Cách mạng” cho nó cái gì dậy?

– Ai biết! Tao nghe nói nó có thành tích bắn rơi chiếc trực thăng của Mỹ bằng cây súng bá đỏ gì đó. Tưởng như chuyện phong thần!

– Ngon vậy! Hồi trước, nó là thằng bèm nhèm, dơ dáy, gà mờ nhất, ai ngờ nó vô bưng!

Tiếng bọn trẻ xì xào bàn tán về thành tích Minh Khịt ngưng lại khi chúng nó nghe tới phần đọc bản tuyên dương công trạng. Minh Khịt được mời đứng dậy. Hắn cũng biết đứng nghiêm chỉnh trong cái giây phút nghiêm trọng mà hắn hãnh diện lần đầu tiên trong đời.

– Nay tuyên đọc công trạng! Đồng chí Minh Khịt đã giác ngộ theo con đường cách mạng vào năm 1972. Sau thời gian huấn luyện và học tập năng nổ, đồng chí Minh Khịt được đảng và nhà nước trang bị vũ khí chiến đấu. Trong một cuộc chạm súng với quân Mỹ Nguỵ trong mật khu Lê Hồng Phong, đồng chí Minh Khịt đã anh dũng dùng CKC bắn tan xác một máy bay lên thẳng của đế quốc Mỹ và giết chết một tên giặc lái. Thành quả của đồng chí Minh Khịt đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng miền Nam của nhân dân ta. Nay nhân danh đảng và nhà nước, tuyên dương và cấp huy chương diệt Mỹ và bằng ban khen “chiến sĩ anh hùng” cho đồng chí Minh Khịt!

Trước khi người ta đưa hai cái tay ra vỗ một cách phản xạ một giọng nói đâu đó bỗng xé màn đêm sang sảng làm các tiếng vỗ tay lẹt đẹt trước đó ngưng bặt:

– Anh dũng cái con mẹ gì! Thành quả cái khỉ khô gì! Mẹ nó, nó đang ngủ mê man trong bụi với tui, máy bay Mỹ câu trực thăng bị gió xoáy đứt dây rớt xuống rừng, nó giật mình bóp cò sảng, đạn bay xẹt mang tai tui suýt chết, chứ có chạm súng cái con mẹ gì ! Mấy đồng chí vẽ bùa mà không tìm hỏi nhân chứng sống! Cách mạng gì kỳ dậy!

– Ai nói đó! Thằng nào vừa phát biểu phản động linh tinh đó? Các đồng chí an ninh bắt lấy nó! Bắt lấy nó! Tay sai điệp báo Mỹ Ngụy! Bắt lấy nó!

Đám đông bỗng như ông vỡ tổ, hỗn loạn, xì sầm. Bỗng có tiếng AK bắn chỉ thiên. Có tiếng chân du kích rượt theo một bóng đen đang chạy băng qua bờ ruộng. Một lúc sau, người ta áp tải một thanh niên mặt mày sưng vù vào sân hành lễ. Mọi người trong xã ồ lên:

– Tám Tàng!

Chỉ một giây phút bực tức nói lên sự thật, Tám Tàng sau đó bị kết tội là phản động, là CIA nằm vùng, và Tám Tàng bị đưa đi Sông Cái để tiếp tục điều tra và nằm tù cải tạo.

Cái tội của Tám Tàng vĩ đại đến độ hắn ra đi không có ngày về. Hắn bị “cách mạng”, các đồng chí cũ của hắn đập thê thảm. Trong lần khai thác cuối cùng, người ta hành hạ hắn tối đa để may ra tìm được trong lời khai của hắn một tin tức gì của Mỹ Nguỵ, của CIA để lại. Cơ thể hắn nhừ bân,sưng vù và hết cảm giác, như trong một sát na linh thiêng mầu nhiệm, thần trí hắn bừng sáng, hắn chợt hiểu ra sự thật, hắn chợt “giác ngộ một thứ cách mạng đen” mà hắn đã dại dột chui đầu vào.

Những giây phút cuối, hắn như một thiền sư đốn ngộ hốt nhiên tìm ra chân lý trong đáy cùng khốn nhục, đau đớn; một trạng thái tâm thần nửa tiên, nửa tục pha lẫn những uất ức dồn nén trong buồng tim còn đập những nhịp yếu dần, mắt hắn lờ đờ, môi hắn mấp máy. Người ta ngưng tay chờ hắn nói một lời thú tội quan trọng. Hắn thều thào nói lớn lời uất hận:

– ĐM! Cách mạng, bác Hồ như con C… tao!

Và hắn lăn ra chết. Đám công an đứng sững người trước lời nói sau cùng của người chết. Nếu quả trước khi chết người ta thường nói thật, thì lời sau cùng của Tám Tàng cũng có thể là chân lý . Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng dường chân lý này mới là thứ chân lý không bao giờ thay đổi.

Chẳng bao lâu sau, mộ hoang chôn xác Tám Tàng chưa xanh màu cỏ dại thì người ta “hồ hỡi” thống nhất hai miền Nam Bắc, giấc mơ một thiên đường xã hội chủ nghĩa, xe hơi, nhà lầu, công bằng tiến bộ mà một thời hắn được người ta nhồi sọ, một thời hắn cuồng nhiệt say sưa thổi vào lỗ tai Minh Khịt … cũng theo hắn chìm sâu trong lòng đất lạnh..

Em về, đất ngậm cơn đau

Hoa Xuân trổ những cánh sầu không tên

Em về, hoang lạnh miếu đền

Thấy cành Xuân đã mọc lên nhánh buồn.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 13 Nov 2025

7. Chương 7

Cái chết của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, nguyên Thủ Hiến Nam Kỳ buổi Tây trở lại.

Buổi Tây trở lại đây, là tôi nhớ những năm sau khi binh Nhựt đầu hàng năm 1945, đạo binh Tây, tiếc của, kéo trở lại toan đoạt quyền trong tay binh Nhựt, và toan đè đầu chúng ta một thời gian nữa, lúc ấy tôi đã lui từ 1943-1944 về làm việc và xin về hưu trí non ở tỉnh nhau rún Sốc Trăng, và chuyện tôi thuật lại đây là do nhớ thuộc lòng và tưởng niệm một người tôi từng mang ơn, đó là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh mà ngày nay tên tuổi đã lu mờ, nhắc đến thường với danh xấu hổ là “Việt gian”, là “theo Tây” v.v.., nhưng đối với tôi, tôi cho ông là một hiển nhơn quân tử, mà đã bị hiểu lầm.

Vong hồn ông có linh, xin biết cho. Trước đây, trước 1975, tôi từng được có người cho xem ba bài luận án để thi làm bác sĩ y khoa thời Diệm, một bài về cái chết của thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, một bài về cái chết của cố thi sĩ Đông Hồ, và bài kía nói về cái chết của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.

Ba ông làm ba luận án, có lẽ nay đã hành nghề, duy tôi chưa biết mặt, nếu có đọc bài nầy, xin miễn trách tôi còn nhắc việc cũ lại làm chi, nhưng tôi phải nhắc, để dựng chứng viết bài nầy. Lúc đó sau khi đọc xong, tôi trả về chủ cũ, duy tôi có nói sơ rằng:

– Về ông Tản Đà, ông chết về rượu, nhưng xin chớ quên nếu không có ông Diệp Văn Kỳ, hào phóng, xuất tiền ngàn rước ông vô đây, thì ắt không bao giờ ông Hiếu biết cảnh Sài Gòn, ông dọn nhà ở Gò Vấp, lấy rượu thịt làm vui, mỗi tuần báo “Đông Pháp thời báo” của Diệp quân sai lon ton đạp xe vô Gò Vấp xin tám câu để kịp lên khuôn ra báo, một hôm, túng bài, ông chửi đổng: “Làm thơ chớ phải bửa củi hay sao mà đòi đủ thước khối và cho kịp thì giờ!”.

– Về ông Nhất Linh, tôi nói ông Tường Tam là cử nhơn khoa học Tây, ông lựa cái chết để khỏi ra tòa phanh phui liên lụy đến anh em, ông Diệm chơi độc là bắt Bộ Y tế gởi ruột già ruột non của ông cho viện Pasteur tìm căn do cái chết, báo hại nhiều bác sĩ đã ký tên trên vi bằng giảo nghiệm, vô tình mang chút không thơm do một tổng thống, theo tôi cũng chưa đáng chết dữ, vì thiếu chi người đáng tội hơn mà vẫn sống phè phè vui vợ vui con.

– Riêng về cố hữu Đông Hồ, đã thế tôi làm giảng viên nơi Đại học Văn khoa, tôi vừa cười vừa trả bổn luận án mà rằng: “Tôi từng bị gái cho kỷ niệm đau nhức, mà tôi bao giờ dám thú thật với Năm Sa Đéc? Và lấy chuyện mình mà hiểu rộng qua chuyện bạn, ông Đ.H nghiêm mười lần hơn tôi, tôi định ông không khi nào thố lộ tâm sự phòng the, và hỏi bà M.T. để viết về Đ.H., tôi cho và ví tục, có ai hỏi cột đình cột chợ con xi đã làm dấu chỗ nào?

Và tôi kết luận tại sao không một sinh viên y khoa nào viết giùm luận án về cái chết của một đàn anh, theo tôi là đáng kính, là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, nhưng hỏi rồi, tôi tự trả lời, viết làm chi và bao giờ được chấm đậu, chính tôi nếu bắt tôi thi, tôi rớt ngay buổi đầu, ăn zéro hột vịt bắc thảo lẹ lẹ, và văn của tôi có mùi nước chấm Mũi Né, nhiều người chấm mà ít ai chịu ngửi, mấy ông học trò trường thuốc vẫn khôn hơn tôi nhiều! Nay bắc cầu, viết: “Tôi biết gì về ông Dr. Thinh?” Chuyện này tôi đã có viết rồi, hình như trong “Hơn nửa đời hư” hoặc là nơi một tập khác, tôi cũng không hơi đâu mà dò lại và nay tái viết, có lẽ khó tránh sai siến không giống bản cũ, vậy xin độc giả lượng thứ, tôi viết đây là viết để trong nhà đọc mà thôi. Năm 1923 tôi thi đậu ra trường, vào làm thơ ký nơi trường máy đường Đồ Hữu Vị tôi lêu lổng chơi bời, tập hút thuốc điếu, tập uống la ve, tôi cảm và ho, uống nhiều thuốc Tây không hết, ngậm kẹo thuốc “pastilles Valda” cũng như không, thét rồi, tôi nghe lời bạn khuyên, tôi tìm bác sĩ Thinh, phòng mạch của ông lúc đó ở nơi góc đường Trương Định và Nguyễn Du ngày nay, nhà lầu day mặt qua hoa viên Tao Đàn, ông chẩn mạch, ra toa viết tay cho tôi bổ thuốc nơi nhà thuốc Tây Solirène (nay là nhà hàng Givral), tôi tốn 5 đồng bạc tiền coi mạch, ba món thuốc do ông viết tay, giá chừng 3 đồng nữa, vị chi là 8 đồng bạc con đằm xỏc, mà bịnh ho cảm dứt ngay, hay quá, tôi phục ông từ đó, cái toa thuốc ấy nay tôi còn giữ đây, nhưng chữ đã lu mờ đề ngày 17 sept. 1924, ký tên Thinh, không tiện in bản rặp (polycopie) vì không đọc được mà tôi cũng không dám chép tay sao lại cho độc giả xem chơi, vì ông viết tắt như sirop, ông viết sp, và chữ của thầy thuốc, ai ai cũng biết, khó đọc, còn tôi thì học chưa tới đâu, nên xin mời bạn nào muốn xem thì lại nhà tôi xem và xin cho tôi miễn sao chép lại đây.

Phục ông là phục vậy nhưng chưa phục mấy. Cái nầy mới làm cho tôi phục sát đất, và ngày nay ai dầu chê ông cách nào, tôi vẫn kính ông đúng là một chơn chánh lương y, một hiền nhơn đạo đức, vì cách đó một ít lâu, tôi cưới vợ, vợ tôi đau, nằm tại nhà, tôi rước ông đến điều trị, bịnh lành mạnh, ông gởi giấy sai người trao cho tôi tiền mạch là 50 đồng bạc, tôi lật đật đầu tháng, đem tiền và ghim toa thuốc ho cũ, vào phòng trình cho ông, ông cầm hồ sơ, liếc nhìn tôi rồi hỏi:

– Thầy lương bao nhiêu và trước học ở đâu?

– Dạ, tôi học ở Chasseloup và ăn lương 54$50 mỗi tháng.

– Thầy học trường đó mà tôi cũng xuất thân trường đó.

Tôi có lời nguyện nhớ ơn trường cũ, ai học ở đó lại tôi điều trị, tôi bớt cho nửa phần tiền. Thầy ăn lương 54 đồng, trả tôi 50 đồng, thì còn chi mà xài, vậy thầy trả tôi 25 đồng là được rồi. Mà khoan, tôi nhiều việc lắm, thầy đừng trả ngay cho tôi, thầy bước ra cô y tá coi việc bút toán, thầy trình bày và cắt nghĩa cô ghi sổ, mỗi tháng thầy đem lại 5 đồng và hết năm tháng là đủ, thầy không thiếu chi nữa cả. Chào thầy, để tôi trị cho người khác.

Tôi ra về, chơn bước nhẹ như lên mây, có ông bác sĩ hay ông thầy thuốc nào ngày nay, tốt bụng được như vậy, và phải nói 25 đồng cỡ năm 1924, cầm bằng không biết bao nhiêu đồng giấy ngày nay, nhưng tiền trong tay tôi như chuối đút miệng voi, nào sách, nào đồ xưa, nào xem hát, nào ăn cơm với vợ nơi nhà hàng Tây, bao nhiêu cho đủ.

Mà cũng chưa mấy: ông rầy tôi sao có mượn cô y tá làm thuốc cho vợ tôi, ông cắt nghĩa và dạy tôi tự làm thuốc, tự bơm rửa cho vợ, đã đỡ tốn thêm nặng tình âu yếm, và một lần nào đó, ông gặp tôi và nhớ lại việc cũ, ông nói bịnh huyết trắng của gái tơ, đừng nghi lầm, phải hỏi lại có mặc chung quần áo của người lớn tuổi nào không, và quả thật, về hỏi lại vợ tôi và bà nhạc tôi, mẹ con vẫn mặc chung và thay đổi chung áo quần của nhau, để được nhiều màu nhiều kiểu và “lây” nhau là vì vậy. Không phục ông sao đặng?

Nhưng kể từ đó, phục thì vẫn phục, nhưng đường ai nấy đi. Tôi đeo theo cái chức “cò mi nửa miếng”, “chức Huyện nửa chừng” tôi đổi về làm ở Sa Đéc, rồi về Sốc Trăng, qua Cần Thơ, khi tôi trở lên đất Sài Gòn thì ông đã không còn, và cuộc đời của ông làm sao viết ra đây cho đủ, bác sĩ Thinh danh tiếng lãy lừng, xuất thân là một y sĩ từng học nội trú chung với Tây tại các dưỡng đường ở Paris, có lẽ ông là một đốc tờ ngang với bằng cấp Tây xưa và cũ trong nầy, các ông đi học trường thuốc ở Hà Nội, thuở ấy, Tây không cho gọi là “bác sĩ docteur” và ban cho danh từ vừa kém vừa hạ bệ “médecin auxiliaire – lương y phụ tá” được làm chung với thầy thuốc Tây, nhưng thủ vai phụ lực, khi coi mạch riêng, tiền coi mạch mấy ông Hà Nội về là lưỡng ngân (hai đồng) duy dr Thinh, như các bác sĩ Tây thời đó, Dr Roton, Dr Vielle, tiền mạch 5 đồng, rước ban đêm là 10 đồng bạc con Đầm Xòe rắc rắc.

Bác sĩ Thinh, tôi nhớ lại, người nhỏ thó, mặt trắng mặt xương, không bô trai, ông bình thường thích mặc y phục Pháp vải shang tung canh tơ chỉ vải, vừa đẹp, khiêm tốn, vừa bền bỉ, ông nói nhỏ nhẹ như con gái, và ông nói tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Việt, ngày thường ông ít làm quen với ai, ông chỉ vui với nghề cứu nhơn độ thể, ông làm ra tiền quá dễ quá nhiều, về sau ông bị ép ra tranh cử và làm hội đồng quản hạt, đứng chung nhóm với nhóm lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Lưu Văn Lang, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền v.v. ông mua đất cất nhà lầu dọn về ở góc đường Lê Văn Duyệt và Bùi Thị Xuân (tôi gọi theo tên cũ), ngang vườn Tao Đàn, ông có quốc tịch Pháp, ông có vợ đầm, hình như sanh một hay hai gái, rồi nói tắt cho gọn, dùng một cái, Nhựt chiếm, Tây chạy rồi Tây trở về, Tây ép ông ra làm thay thống đốc Nam kỳ mà chức không ra chức, dinh không ra dinh, làm thủ hiến Nam kỳ mà Tây khẩn ông ở nhà của ông và lấy nhà ấy luôn làm văn phòng, còn dinh Thống đốc, Tây vẫn ở và nay là viện bảo tăng đường Lý Tự Trọng. Vợ con ông, lui về Pháp, ông ở trên lầu và chọn ông đốc phủ Hồ Văn Trung (nhà văn Hồ Biểu Chánh) làm chánh văn phòng, và để ông Trung ở từng lầu dưới cho tiện gần gũi, và một sáng nọ, ông Trung lên lầu mới hay chủ của mình, bác sĩ Thinh, thây tòn ten nơi chốt vặn cửa sổ, ai treo ông đây hay là ông tự treo, treo bằng sợi dây đèn, dây điện khí mới ác, bác sĩ bực thông thái như ông, muốn hủy mình thiếu gì cách: chích thuốc độc, uống liều độc dược, chớ có đâu, tôi nghe như trên bàn viết có lật tự điển Pháp y khoa nơi trang “suicide” (tự sát, tự tử) và thầy thuốc học Tây gì treo cổ bằng dây đàn điện khí. Chết oan hay ưng, dư luận có thì thầm có người ngủ chung một nhà, ám sát, bóp cổ rồi treo cổ ông, hay ông tự thắt cổ. Khi tôi từ Sốc Trăng chạy lên đây, làm việc nơi viện bảo tàng trong vườn thảo cầm, tôi có mấy lần lại nơi nhà cũ lấy làm dinh thủ hiến của bác sĩ Thinh, lúc đó Nhà nước lấy dọn tạm làm nha học chánh mà tôi phải tùng quyền, mỗi lần lại đây, tôi thường thừa dịp dò la thăm hỏi, và tự nhìn tận mắt chỗ ông chết, thì thấy, trên đầu cửa sổ có một trang thờ đìu hiu lẻ loi một lư hương lèo hèo, nhện giăng không ai quét, lạnh lùng cho một thủ hiến đứng đầu các quan chức Nam buổi nào, đưới trang ấy, khi hai cánh cửa sổ khép lại, tôi thấy một tay vặn ổ khóa còn sờ sờ đó, vẫn không cao hơn một thước tám hay hai thước Tây, và dầu cho vóc giạc ông Thinh nhỏ thó chưa tới một thước sáu, nhưng nghe đâu khi tháo mở thây, thì hai bàn chơn người chết là đà gần sát mặt nền gạch bông ván rầm, và trong quần ngủ pijama có vết xuất tinh, kẻ nói nằy nói nọ, kẻ làm tàng cho rằng tự tử nên tinh xuất trong quần, và tôi xin hỏi, nếu có ai bóp cổ rồi mới diễn trò giả dối, treo cổ trong gấp rút bằng dây đèn, tôi xin hỏi người chết bất đắc kỳ tử, tinh vẫn xuất rồi mới treo thây cho thấy quần ướt, theo tôi nghi án nẩy nan giải.

Ông Thinh chết rồi, Tây mới hoảng hốt, viên đặc sứ toàn quyền d’Argenlieu đến hôn lên trán phân ưu, ôi cái hôn giả dối của một tên quắng áo nhà tu (un moine défroqué), làm sao gột sạch? Và tội nghiệp thay cho ông Thinh, vì lầm tay hiểm độc của đám cá sà cá mập thuộc địa, ông tin lời, tưởng rằng làm thủ hiến, ra giúp nước nhà cũng là nên làm, ngờ đâu khi bắt tay vào việc, chưa lĩnh lương đồng nào, ông mặc áo vá chằm khíu và sau khi chết trong tủ sắt không còn một xu, khi hành sự, ông muốn giúp một bạn đồng nghiệp có một cây súng lục để phòng hộ thân mà ông xin không được, bóng đổ thầy, thầy đổ bóng, Tây quây ông mòng mòng như con vụ, ra quốc hội thì ông bị lão tổ Béziat nạt nộ hăm he, ông day qua đặc sứ d’Argenlieu thì ông nẩy đi vắng, ông quơ qua chánh văn phòng Tây thì bị đóng cửa mắc bận nhóm cơ mật, chính tên quèn Beauvais, Tây đặt gần ông để dòm hành, nó cũng lên mặt khinh thường, trở qua trở lại, không chỗ tiếp xúc, ngoài ra dư luận báo chí não nề chê dè, – tôi tức tối cho ông tại sao lúc như vậy ông không quăng áo thủ hiến và thôi phắt không thèm đồng vai trò hề bị bêu riếu ấy, quăng tất cả vào mặt từ lão nhà tu bỏ áo đạo khoác áo nhà banh là lão đặc sứ d’Argenlieu, đã ban cho ông chức thủ hiến hư vị, lương bổng chưa thấy đồng nào mà quyền hành vẫn là bánh vế, và cũng thừa dịp quẳng phắt vào mặt tên tay tổ Béziat, nó dụ ông lọt vào vòng rồi nó nhai ông như mèo nhai chuột, ông bỏ phắt hết coi chúng làm gì được ông, và ông lựa hay bị chi cái chết oan khúc, tôi dám trách ông vì thiếu bạn tâm giao khuyến nhủ lời hay, hoặc vị bực trí không suy nghĩ cho thấu đáo, ông quá thực thà và hành động như trẻ con, cái chết lẩy ấy chết chi uổng thân và sao bằng cái trí bỏ quan lui về với thú tế nhơn độ thế của ông, ông là một tay thầy thuốc lành tài, mà ông cũng là một hiền nhơn quân tử, bởi quá chơn chất nên bị nhóm Tây thực dân nó gạt, ngày nay ai muốn nói gì thì nói và ai muốn hiểu cách nào về ông, cũng mặc, tôi luôn luôn vẫn nhớ ông cư xử rất tốt đối với tôi buổi tôi mới bước chưn vào đời, và luôn luôn tôi vẫn kính trọng ông, ai có nói ông là Việt gian, chớ tôi vẫn không cho ông là như vậy.

Có hai người rất lão luyện và biết rất rành về cái chết của ông là ông Nam Đình, chủ báo Thần Chung, đã viết quyển Hồi ký chuyện 1945 – 1946, và ông Trần Tấn Quốc, đã để lại tập nhỏ mà phong phú “Sài Gòn Septembre 45”, hai tập nầy có lê Thư viện công cộng tại đây còn giữ; ngoài ra mấy trang của tôi viết đây là loại mạn đàm để giúp vui buổi trà dư, tôi tưởng nhớ bác sĩ Thinh nên viết để chơi và không có tánh cách nghiên cứu.

(viết ngày 29-11-1990)

Một người biết nhiều về ông Thinh là ông Hồ Biểu Chánh thì cũng không còn để hỏi về cái chết đáng nghi này.

  1. Rồi có câu này của đốc phủ Trần Văn Tấn cười tụi tôi chưa đậu khóa 2 huyện: “Lầu cao leo mới một từng, ông huyện nừa chừng, ăn nói dễ thương! *

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973
Post by Sơn râu 13 Nov 2025

Bài 32

Cấm cố lần thứ hai

Tôi cùng trở về Quần đảo với anh chàng Ba Lan, tay tôi và tay anh ta cùng khóa cung một cái khoá. Chúng tôi đã không phải nằm lì trong các xà-lim ở Saint-Laurent! Đến đấy vào thứ hai, ra tòa hôm thứ năm, thì thứ sáu đã lên tàu trở về Quần đảo.

Chúng tôi có cả thảy mười sáu người được đưa ra Quần đảo, trong đó có mười hai người bị cấm cố. Biển động mạnh, chốc chốc lại có một đợt sóng lớn tràn qua boong tàu. Trong cơn tuyệt vọng, tôi đi đến nước mong sao cho chiếc tàu cà khổ này đắm quách. Tôi không nói chuyện với ai. Ngọn gió ẩm ướt quất vào mặt tôi làm cho tôi hướng vào nội tâm. Tôi không tìm cách che gió, ngược lại, tôi còn cố ý để cho mũ bay mất: trong suốt tám năm ròng cấm cố, tôi còn cần gì đến mũ? Mặt quay thẳng ra phía gió, tôi hít làn không khí ướt át đang quất vào tôi cho đến ngạt thở thì thôi. Sau khi mong tàu đắm, tôi cố định thần lại: “Bébert Celier đã làm mồi cho cá mập; còn mày, mày mới ba mươi tuổi, và phải ngồi tù cấm cố tám năm”. Nhưng liệu có qua nổi tám năm trong những bức tường của cái chuồng giam ăn người ấy không?

Cứ theo kinh nghiệm của tôi đã qua, tôi nghĩ rằng không thể nào qua nổi. Bốn hay năm năm hẳn là cái giới hạn tột cùng của sức để kháng tối đa có thể có được Giá tội không giết Celier, tôi chỉ ngồi có ba năm, thậm chí chỉ hai năm thôi, vì vụ giết người đã làm cho các khoản kia nặng thêm, kể cả khoản vượt ngục. Lẽ ra tôi đừng giết cái thằng khốn nạn ấy mới đúng. Bổn phận làm người của tôi đối với bản thân tôi không phải là xét xử kẻ khác để lập lại công bằng cho tôi, mà trước hết và trên hết là phải sống, sống mà để vượt ngục. Làm sao tôi lại có thể phạm một sai lầm như vậy? Đó là chưa kể chỉ có một chút xíu nữa là hắn giết tôi, cái đồ rác rưởi ấy. Sống, sống cho bằng được, lẽ ra đó phải là tôn giáo duy nhất của tôi. Trong số những viên giám thị đi áp giải đoàn tù có một người tôi đã từng gặp ở nhà lao cấm cố. Tôi không biết hắn tên là gì, nhưng tôi không sao cưỡng lại được ý muốn hỏi hắn một câu.

– Thưa sếp, tôi muốn hỏi sếp một điều này.

Viên giám thị ngạc nhiên, lại gần tôi nói:

– Điều gì?

– Sếp đã từng biết có ai qua được tám năm cấm cố chưa?

Hắn nghĩ một lát rồi nói:

– Chưa, nhưng tôi biết có mấy người đã qua được năm năm, và còn có một người, tôi còn nhớ rất rõ, đã ra khỏi nhà lao khỏe mạnh và cân bằng sau sáu năm cấm cố. Tôi có mặt ở nhà lao khi người này được thả.

– Cảm ơn sếp.

– Không có gì – viên cảnh sát nói. – Anh bị tám năm phải không?

– Thưa sếp vâng.

– Anh chỉ có thể qua được nếu anh không bị phạt lần nào. – Nói đoạn hắn bỏ đi.

Câu này rất quan trọng. Đúng, tôi chỉ có thể sống sót mà ra khỏi nhà lao nếu tôi không bị phạt một lần nào. Thật thế, nếu bị phạt, anh sẽ bị giảm một phần hay toàn bộ suất ăn trong một thời gian nào đấy, và về sau, ngay đến khi đã được trở lại chế độ ăn bình thường, anh vẫn không tài nào lấy lại sức được nữa. Chỉ cần vài lần bị phạt hơi nặng một chút là anh không thể chịu đựng đến cùng được nữa, anh sẽ chết trước khi mãn hạn. Kết luận: tôi không được nhận dừa, hay thuốc lá, thậm chí cũng không được viết và nhận thư nữa. Trong phần còn lại của chuyến đi, tôi không ngừng nhai đi nhai lại cái quyết định này. Không nhận gì hết, tuyệt đối không, dù từ bên ngoài hay từ bên trong. Tôi nảy ra một ý: cách duy nhất để được ăn khá hơn một chút là làm sao từ bên ngoài có ai đút tiền cho mấy tên phát xúp để họ chọn cho tôi miếng thịt to nhất và ngon nhất trong bừa xúp buổi trưa. Việc này dễ, vì một người múc xúp vào cà-mèn tù nhân, rồi một người bưng khay đi theo sau bỏ một miếng thịt vào phần xúp đã múc. Người múc xúp phải vét xuống đáy thùng để vớt thật nhiều rau vào muối.. Nghĩ ra được cách này, tôi thấy vững tâm, Quả thật, tôi rất có thể không bị đói, và ăn gần đủ chất nếu phương cách kia được thu xếp chu đáo. Tôi chỉ còn mỗi việc mơ mộng, thá hồn bay đi thật nhiều, cố chọn những đề tài tươi vui để tưởng tượng, cho khỏi phát điên.

Chúng tôi đã về đến quần đảo. Lúc bấy giờ là ba giờ chiều. Vừa lên bờ, tôi đã nhìn thấy tà áo màu vàng nhạt của Juliette đang đứng cạnh chồng, ông chỉ huy trại bước nhanh đến cạnh tôi, trước khi đoàn tù có đủ thì giờ xếp hàng, và nói:

– Bao nhiêu?

– Tám năm.

Ông ta trở lại cạnh vợ và nói cho bà biết. Xúc động mạnh, bà ngồi xuống một tảng đá. Có thể thấy rõ bà thất vọng ê chề. Chồng bà nắm lấy cánh tay bà, bà đứng dậy, và sau khi đưa về phía tôi một cái nhìn nặng tình thương xót của đôi mắt mênh mông, bà đi theo chồng, không ngoái lại.

– Papillon, bao nhiêu? – Dega hỏi tôi.

– Tám năm cấm cố.

Dega lặng thinh, không dám nhìn tôi. Galgani lại gần. Trước khi anh ta kịp nói, tôi dặn:

– Đừng gởi gì cho tôi, cũng đừng viết gì. Thời hạn lâu như vậy, tôi không thể để cho bọn họ có cớ phạt tôi.

– Tôi hiểu.

Tôi nói thầm rất nhanh: cậu tìm cách làm sao cho họ dành phần khá trong suất ăn tù cho tôi, vào buổi trưa và buổi tối. Nếu cậu làm được, có lẽ một ngày kia chúng mình sẽ còn gặp lại nhau. Gửi Chúa”.

Tôi tự động đi về phía chiếc xuồng đầu tiên sẽ đưa tù cấm cố đến Saint-Joseph. Mọi người đều nhìn theo tôi như nhìn một cỗ quan tài đang hạ huyệt. Không ai nói một lời. Trên đoạn đường ngắn ngủi này, tôi nhắc lại với Charpar những điều tôi đã nói với Galgani. Anh ta đáp:

– Chắc làm được thôi. Can đảm lên Papi – Rồi anh nói thêm – Thế còn Matthieu Carbonieri thì sao?

– Tôi quên mất cậu ấy, cậu tha thứ cho tôi. Chủ tọa Tòa án binh đã yêu cầu bổ sung tài liệu về trường hợp cậu ấy trước khi ra quyết định, như thế là đáng mừng hay đáng lo?

– Chắc là đáng mừng.

Tôi đi ở hàng đầu một toán gồm mười hai người đang leo lên đốc để đến nhà lao Cấm cố. Tôi đi rất nhanh, kể cũng lạ: tôi nóng lòng muốn ngồi lại một mình trong buồng giam. Tôi rảo bước đến nỗi tên lính gác nói:

– Từ từ chứ Papillon. Có vẻ như anh đang vội quay về ngôi nhà mà anh mới từ giữ cách đây chẳng bao lâu.

– Đến nơi rồi.

– Cởi hết ra! Đây là vị chỉ huy nhà lao Cấm cố.

– Tôi lấy làm tiếc là anh lại trở lại, Papillon ạ, – ông nói. Đoạn lại chuyển sang bài diễn văn quen thuộc: “Các phạm nhân cấm cố! ở đây v.v…” Sau đó ông lại nói với tôi: “Nhà A, buồng 127. Buồng giam khá nhất đấy Papillon ạ, vì anh được ở trước mặt cửa hành lang, do đó anh có nhiều ánh sáng hơn, và không bao giờ bị thiếu không khí. Tôi hy vọng anh sẽ có hạnh kiểm tốt. Tám năm là một thời hạn rất dài. Nhưng có lẽ với một hạnh kiểm thật tốt, anh có hy vọng được án giảm một hai hay năm. Tôi cầu mong anh được như thế, vì anh là một người can đảm”.

Thế là tôi về buồng giam 127. Quả nhiên nó ở ngay trước mặt một khung cửa lớn có chấn song đưa vào hành lang. Tuy đã sáu giờ mà trông còn khá rõ. Căn buồng cũng không có cái mùi và cái vị của một nơi đựng đồ mục ruỗng như căn buồng của tôi lần trước.

Điều đó làm cho tôi vừng lòng đôi chút: “Anh bạn Papillon thân mến, đây là bốn bức tường sẽ nhìn anh sống trong tám năm. Chớ làm cái việc đếm tháng đếm giờ, việc đó hoàn toàn vô ích. Nếu anh muốn có một đơn vị khả thủ để đo thời gian, anh phải tính từng lục cá nguyệt. Mười sáu lần sáu tháng là anh mãn hạn. Dù sao thì anh cũng được một ưu thế. Anh có chết ở đây thì ít nhất cũng được chết trong ánh sáng, nếu anh chết vào ban ngày. Điều này rất quan trọng. Chết trong bóng tối chắc chẳng vui chút nào. Nếu anh ốm, ít ra bác sĩ cũng nhìn thấy được mặt anh. Anh không việc gì phải tự trách móc vì đã muốn sống lại bằng cách vượt ngục, và quả tình cũng không nên tự trách mình đã giết chết thằng Celier. Anh thử tưởng tượng xem anh sẽ đau đớn nhường nào khi nghĩ rằng trong lúc anh đang ngồi đây thì hắn đã lên đường vượt ngục. Thời gian sẽ trả lời. Biết đâu rồi đây chẳng có một cuộc đại ân xá, một cuộc chiến tranh, một trận động đất, một trận bão lốc, làm cho cái pháo đài này sụp đổ tan tành? Sao lại không? Biết đâu rồi đây chẳng có một con người trung trực từ đây trở về Pháp khuấy động được niềm công phẫn trong lòng dân Pháp, và dân Pháp sẽ buộc ban Quản trị trại trừng giới bãi bỏ cái lối giết người không cần đến máy chém này? Hoặc giả một ông bác sĩ, buồn nôn trước cái cảnh này, kể lại cho một nhà báo, một ông linh mục gì đấy, tôi làm sao biết được? Dù sao thì thằng Celier đã được lũ cá mập tiêu hóa từ lâu. Còn tôi, tôi vẫn còn đây, và nếu tôi xứng đáng với bản thân, tôi sẽ sống cho đến cùng để ra khỏi nấm mồ này.

Một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay; một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay; tôi bắt đầu đi đi lại lại, ngay lập tức tìm lại được cái tư thế tối ưu của đầu, của tay, và chiều dài chính xác của mỗi bước đi để cho quả lắc hoạt động hoàn hảo. Tôi quyết định chỉ đi đi lại lại hai giờ vào buổi sáng và hai giờ vào buổi chiều, cho đến khi nào biết chắc là sẽ có được một chế độ ăn ưu tiên về lượng. Trong tình trạng tinh thần kích động của những ngày đầu, không nên lãng phí năng lượng một cách vô ích.

Phải, đến phút cuối mà thất bại cũng thật thê thảm. Tuy đây mới chỉ là phần đầu của cuộc vượt ngục: còn phải gặp may trong một chuyến vượt biển dài hơn một trăm năm mươi cây số trên chiếc bè mỏng manh này. Và tùy nơi đổ bộ lên Đất liền, lại phải bắt đầu một hành trình đào tẩu khác. Nếu hạ thủy bình yên, cánh buồm làm bằng ba cái bao bột sẽ đưa chiếc bè đi với tốc độ hơn mười cây một giờ. Không đầy mười lăm tiếng, có lẽ mười hai cũng nên, sẽ đến đất liền. Dĩ nhiên là nếu ngày hôm ấy trời mưa, vì chỉ có trời mưa mới dám căng buồm. Tôi nhớ mường tượng hình như hôm tôi bị giam vào xà-lim, trời mưa thì phải. Tôi không chắc lắm. Tôi tìm thử xem tôi đã phạm, những lỗi lầm gì. Tôi chỉ thấy có hai. Anh thợ mộc đã muốn làm một cái bè quá tốt, quá chắc chắn, cho nên để ghép dừa vào, đã phải bỏ công ra làm một cái khung phức tạp gần như thành hai chiếc bè ghép vào nhau. Thành thử phải làm quá nhiều bộ phận và mất quá nhiều thì giờ vào đấy để làm cho thật cẩn thận và kín đáo.

Thứ hai, là sai lầm nghiêm trọng nhất: khi đã có nghi vấn nghiêm trọng về Celier, lẽ ra tôi phải giết hắn ngay đêm hôm ấy. Giá tôi làm như vậy, không biết bây giờ tôi đã ở tận đâu đâu rồi? Dù có bị bại lộ khi đến Đất liền hay bị bắt ngay khi hạ thủy, thì tôi cũng chỉ ăn ba năm chứ không phải là tám, mà lại có được sự thỏa mãn của hành động. Giả sử mọi việc đều xuôi lọt bây giờ tôi đang ở đâu? Có thánh mà biết được Có lẽ đang nói chuyện với ông Bewen ở Trinidad, hay đang ở Curacao dưới sự bảo trợ của Giám mục Irénée de Bruyne. Và từ đó, chúng tôi sẽ chỉ lên đường khi nào đã biết chắc có một nước nào chịu nhận chúng tôi. Nếu không, tôi sẽ dễ dàng đi một mình, trên một con thuyền nhỏ, hướng thẳng về Guajira, lãnh thổ của bộ lạc đã dung nạp tôi làm một thành viên. Rất khuya tôi mới ngủ được, nhưng giấc ngủ của tôi đêm ấy cũng bình thường. Cái đêm đầu ấy đã không đến nỗi quá khổ sở. Sống, sống cho bằng được. Tôi sẽ phải tự nhắc đi nhắc lại, mỗi khi thấy mình sắp buông xuôi vào tuyệt vọng, câu châm ngôn sau đây của niềm tin ở tương lai: “Chừng nào hãy còn sống là hãy còn hy vọng”.

Một tuần lễ đã trôi qua. Kể từ hôm qua tôi đã nhận thấy có sự thay đổi trong suất ăn hàng ngày. Bữa ăn trưa tôi được một miếng thịt hầm rất to, rồi bữa tối là cả một cà mèn rau muống, rất ít nước. Như một đứa trẻ, tôi tự nhủ: “Rau muống có chất sắt, bổ lắm”.

Nếu tình hình này kéo dài, tôi sẽ có thể đi đi lại lại mấy ngày từ mười đến mười hai tiếng đồng hồ, và đến tối, thân thể mỏi mệt, tôi có thể tha hồ du hành giữa các vì sao. Không, tôi không đi lan man đâu, tôi đang ở trên trần thế, thực sự đang sống trên trần thế, tôi nghĩ đến tất cả những trường hợp các phạm nhân đã gặp phải mà tôi được nghe kể trong thời gian sống trên Quần đảo. Mỗi người đều có thiên lịch sử của mình, đều có một quá khứ và một hiện tại. Tôi cũng nghĩ đến những truyền thuyết mà người ta thường kẻ cho nhau nghe trên quần đảo. Trong đó có một chuyện mà tôi tự hứa là sẽ kiểm tra lại xem thực hư ra sao: đó là chuyện cái chuông.

Như tôi đã có dịp nói, phạm nhân chết không được chôn cất, mà bị đem ném xuống biển ở khoảng giữa đảo Saint-Joseph và đảo Royale, một nơi nhung nhúc những cá mập. Người chết được bọc trong mấy cái bao bột, chân buộc vào một cục đá lớn. Một cái thùng hình chữ nhật dài, được dùng thường xuyên cho mọi người, đặt nằm dọc ở phía trước mũi thuyền. Đến nơi đã ấn định, sáu phạm nhân chèo thuyền nâng mái chèo lên khỏi mặt nước, ngang tầm mạn thuyền. Một người dốc cái thùng, một người khác mở cái nắp ở bản lề ở đầu thùng ra. Bấy giờ cái xác chết tụt xuống biển. Có một điều chắc chắn, không thể hồ nghi gì được, là ngay tức khắc lũ cá mập cắn đứt sợi thừng buộc đá vào chân tử thi. Không bao giờ tử thi có đủ thì giờ chìm xuống sâu lắm. Nó lại trồi lên mặt nước, và lũ cá mập bắt đầu tranh nhau miếng mồi ngon ấy. Theo những người đã chứng kiến cảnh này, nhìn lũ cá mập ăn thịt người tù đã chết là một cảnh tượng gây cảm giác rất mạnh, vì khi cá mập đến đông, chúng nâng cả cái bọc vải liệm lên khỏi mặt nước, xé tung nó ra và đớp từng miếng thịt người to tướng.

Cái thủ tục mai táng ấy diễn ra đúng như tôi đã tả nhưng có một điều tôi chưa xác minh được. Các phạm nhân, không trừ một ai, đều nói rằng cái làm cho cá mập tụ tập đến chỗ ấy chính là tiếng chuông của nhà thờ trại giam đánh lên mỗi khi có người chết. Họ nói là nếu anh đứng ở đầu con kè dài từ đảo Royale đâm ra biển vào lúc sáu giờ chiều, có những ngày không thấy có lấy một con cá mập nào. Nhưng khi ngôi nhà thờ nhỏ của trại giam gióng chuông lên, chỉ một nhoáng ở đấy đã nhung nhúc một đàn cá mập đến chờ người chết, vì không còn lý do nào khác khiến cho chúng nó tập trung về đấy đúng vào giờ ấy. Mong sao tôi sẽ không phải làm món ăn cho lũ cá mập của đảo Royale trong một hoàn cảnh tương tự. Chúng nó có nhai tươi nuốt sống tôi trong một chuyến vượt ngục thì cũng đành, ít nhất thì đó cũng là một biến cố xảy ra trên đường đi tìm tự do. Nhưng nếu là sau khi tôi chết bệnh trong một căn buồng giam thì xin đừng! Một việc như thế không thể để xảy ra được.

Được ăn đủ chất nhờ cách dàn xếp của các bạn tôi, sức khỏe tôi vẫn hoàn hảo. Tôi đi đi lại lại trong phòng giam từ bảy giờ sáng đến sáu giờ chiều, không lúc nào ngưng. Thành thử cái cà-mèn đầy rau quả khô, rau muống, đậu đũa hay cơm rang của bữa ăn tôi bao giờ cũng được vét sạch. Bao giờ tôi cũng ăn hết mà không phải cố gắng gì. Cái môn đi đi lại lại rất có lợi cho cơ thể của tôi, sự mệt mỏi mà nó đem lại cho tôi là một sự mệt mỏi lành mạnh, và trong khi đi như vậy, tôi lại còn tìm được cách tự phân thân ra thành hai. Như hôm qua chẳng hạn, tôi đã suốt ngày rong chơi trên những cánh đồng cỏ của một thôn nhỏ ở Ardèche gọi là thôn Favras. Hồi mẹ tôi mất rồi, tôi hay đến đấy ở chơi vài tuần với bà dì em ruột mẹ tôi làm giáo viên trong trường làng. Thế thì hôm qua tôi đã thực sự dạo chơi trong khóm rừng phong, thấy đâu có nấm lại cúi xuống nhặt, rồi tôi lại nghe bạn tôi, cậu bé chăn cừu hô lớn những mệnh lệnh sai bảo con chó berger, và con vật khôn ngoan răm rắp thi hành những mệnh lệnh của cậu chủ, khi thì đi kiếm một con cừu lạc lôi về, khi thì trừng phạt một con dê quá nghịch ngợm. Hơn nữa, miệng tôi còn thấm thía cái vị nồng nồng của ly nước mát rượi, khoái trá thưởng thức cái cảm giác nhột nhột của những đám bọt nhỏ li ti trong nước suối xông lên tận mũi. Những cảm giác rõ như thật này về những giờ phút đã qua hơn mười lăm năm về trước, cái khả năng sống lại thực sự những cảm giác ấy một cách mãnh liệt như vậy chỉ có thể thực hiện được trong nhà giam, xa cách mọi tiếng ồn ào, trong cõi im lặng tuyệt đối.

Thậm chí tôi còn trông thấy cả cái màu vàng của tà áo dài của dì Outine. Tôi nghe thấy tiếng gió vi vu trong rặng phong dương, tiếng động khô gọn của một quá phong khi rơi xuống chỗ đất khô, và tiếng động mềm khi rơi xuống lớp lá vàng. Một con lợn lòi to tướng tử trong đám bụi rậm và cao lao ra đã làm cho tôi sợ hãi đến nỗi tôi bỏ chạy thục mạng, trong cơn hốt hoảng đánh rơi mất một phần lớn những cây nấm đã nhặt được. Vâng, tôi đã suốt ngày dong chơi (trong khi đi đi lại lại trong buồng giam) ở Favras với dì tôi và với bạn tôi cậu bé Julion chăn cừu cho Hội Từ Thiện. Những kỷ niệm êm đềm, trong sáng, rõ nét ấy, không ai có thể cấm tôi sống lại một lần nữa, không ai có thể ngăn tôi lăn xả vào đấy để tìm thấy sự thanh thản rất cần cho mảnh hồn dập nát của tôi.

Xã hội cứ tưởng đâu tôi đang nằm ở một trong những căn xà lim của cái nhà giam ăn thịt người này. Nó có biết đâu tôi đã ăn gian được của nó cả một ngày trời, tôi đã sống cái ngày ấy ở trên những bãi cỏ, trong những rặng phong ở Favras, lại còn uống cả nước khoáng ở con suối được gọi là Suối cây Đào. Thế rồi sáu tháng đã trôi qua. Tôi đã tự hứa là sẽ tính từng sáu tháng một: tôi đã giữ đúng lời hứa ấy.

Chỉ đến sáng hôm nay, tôi mới hạ con số mười sáu xuống thành con số mười lăm… Chỉ còn mười lăm lần sáu tháng nữa.

Ta thử sơ kết lại xem: Trong sáu tháng vừa qua cá nhân tôi không có trục trặc gì. Thức ăn hàng ngày trước sau vẫn thế, nhưng với một khẩu phần khá đủ để duy trì sức khỏe của tôi ở một trạng thái khả quan. Xung quanh tôi đã xảy ra nhiều vụ tự tử và nhiều trường hợp phát điên dữ dội, may mà họ đưa người điên đi ngay.

Thật nản vô cùng khi phải nghe họ la hét, rên rỉ hay kêu than hàng giờ liền hay suốt ngày suốt buổi. Tôi đã tìm được một cái mẹo khá tốt cho thần kinh, nhưng lại có hại cho lỗ tai. Tôi cắt một mảnh xà-bông nhét vào hai tai để khỏi nghe những tiếng kêu gào rùng rợn ấy.

Đáng tiếc là xà-bông làm cho ống tai bị đau, chỉ hai ba ngày là trong tai có nước rỉ ra: Lần đầu tiên kẻ từ khi tôi đến trại khổ sai, tôi đã hạ mình xuống xin xỏ một tên cảnh sát. Số là một tên cảnh sát trông coi việc phát xúp là người Montelimar, gần quê tôi. Tôi có quen hắn ở Royale, nên đã xin hắn đem vào cho tôi một cục sáp để tôi nhét vào tai cho đỡ nghe những tiếng la hét của những tù nhân phát điên khi họ chưa được đưa đi. Hôm sau hắn đã đem vào cho tôi một cục sáp to bằng hạt dẻ. Cái cảm giác nhẹ nhõm khi không còn nghe những tiếng gào của những người khốn khổ ấy nữa thật dễ chịu không thể tưởng tượng được.

Tôi đã thành thạo về cái khoản trị rết. Trong vòng sáu tháng tôi chỉ bị cắn có một lần, tôi đã tự chủ được hoàn toàn những khi thức giấc mà cảm thấy có một con rết đang bò trên thân thể trần truồng của tôi. Cái gì rồi người ta cũng quen đi, chẳng qua đấy là vấn đề tự điều khiển, vì cái cảm giác nhột nhột do chân và râu gây ra hết sức khó chịu. Nhưng nếu không khéo bắt nó thì bị cắn ngay. Tốt hơn là nên đợi cho nó tự bò xuống, rồi sau đó mới tìm nó mà xéo cho chết đi. Trên cái ghế xi măng của tôi lúc nào cũng để sẵn hai ba mẩu bánh mì nho nhỏ. Thế nào mùi bánh mì cũng hấp dẫn rết đến. Lúc bấy giờ tôi cứ việc giết.

Tôi luôn luôn phải xua đuổi một ý nghĩ cứ ám ảnh tôi hoài. Tại sao tôi không giết thằng Bébert Celier ngay cái hôm anh em bắt đầu nghi ngờ hắn có những ý định khốn nạn ấy? Mỗi lần câu hỏi ấy hiện ra tôi lại phải tranh luận với bản thân: trong trường hợp nào ta có quyền giết. Rồi kết luận: mục đích biện hộ cho phương tiện. Mục đích của tôi là vượt ngục cho bằng được; tôi đã có cái may mắn là đóng xong được một chiếc bè tốt và giấu được bè vào một nơi an toàn. Việc ra đi chỉ còn tính từng ngày. Một khi tôi đã biết rằng Celier là một mối nguy cơ cho cái bộ phận cuối cùng của chiếc bè, mà do một sự may mắn lạ lùng đã đem cất giấu được, thì lẽ ra tôi phải hành quyết nó ngay, không chút do dự.

Thế nếu tôi nhầm, nếu cái mối nguy cơ ấy chỉ là một ảo giác do những hiện tượng bề ngoài sinh ra thì sao? Thì tôi đã giết một người vô tội. Như thế khủng khiếp quá! Nhưng mày đặt vấn đề như thế thật là phi lô-gích, vì mày là một tên tù khổ sai kia mà! Hơn thế nữa, mày là tù chung thân đã bị xử tám năm cấm cố kia mà!

Mày nghĩ vớ vẩn gì thế, hở cái đồ cặn bã bị coi như rác rưởi hôi tanh của xã hội? Mày thử tự hỏi xem mười hai miếng pho-mát kia – mười hai tên bồi thẩm đã xử mày, – có bao giờ tự vấn lương tâm, dù chỉ một lần thôi, xem thử chúng nó xử mày nặng như vậy có công bằng hay không? Xem viên biện lý – mà tôi chưa quyết định được là sẽ dùng cái gì để rút lưỡi hắn ra – cũng có tự hỏi xem bản cáo trạng của hắn có gì quá đáng hay không? Ngay các trạng sư đã bênh vực tôi chắc chắn là cũng không còn nhớ đến tôi nữa. Có chăng, chắc họ chỉ nhớ chung chung đến “Cái vụ án đáng buồn xử thằng Papillon” ở Tòa Đại hình 1932: các bạn đồng nghiệp ạ, hôm ấy tôi không được sung sức cho lắm, trong khi luật sư Pradel thì lại đang lúc phong độ lên đến tột đỉnh. Ông ta đã làm cho bên nguyên thắng cuộc một cách oanh liệt. Đó quả là một đối thủ hạng cừ khôi”.

Tôi nghe thấy những điều đó như thể tôi đang đứng cạnh trạng sư Raymond Hubert trong một cuộc chuyện trò giữa mấy ông luật sư, hay trong một buổi dạ hội của giới thượng lưu, hay có lẽ đúng hơn là trong một dãy hành lang của Tòa án.

Chắc chắn là chỉ có một người có thể có được lập trường của một vị quan tòa trung thực và lương thiện, đó là ông chánh án Bé vin. Con người trung chính vô tư ấy rất có thể, nhân một buổi bàn luận giữa những người đồng nghiệp hay một cuộc hội họp của giới thượng lưu bàn cãi về cái nguy cơ xử oan một con người khi dựa vào ý kiến của bọn bồi thẩm. Chắc chắn ông ta phải nói, dĩ nhiên là với những từ ngữ tế nhị, rằng mười hai miếng pho-mát của hội đồng bồi thẩm không hề được đào tạo hay trang bị gì để đảm đương một trách nhiệm lớn như vậy, rằng họ quá dễ bị nghệ thuật ngôn từ của bên nguyên hay bên bị mê hoặc, tùy theo tương quan lực lượng giữa hai bên trong cuộc đấu khẩu; rằng họ có thể tha bổng quá nhanh, hoặc ngược lại lên án quá dễ dàng mà chẳng biết rõ cho lắm là mình căn cứ vào cái gì, tùy theo cái không khi tích cực hay tiêu cực mà phía có tài hùng biện hơn đã gây nên được.

Ông chánh án và cả gia đình tôi nữa cũng thế, đúng; nhưng có lẽ gia đình tôi cũng oán hận tôi chút ít vì chắc chắn là tôi đã gây cho gia đình những chuyện phiền hà. Chỉ có một người duy nhất, cha tôi, vâng, người cha tội nghiệp của tôi, là không than phiền về cây thập tự mà đứa con trai đã đặt lên vai người, tôi tin chắc như vậy. Cây thập tự nặng nề ấy người vẫn cố kéo lê đi mà không lên án thằng con trai, không hề trách móc, mặc dầu, vốn là một người thầy giáo, người phải kính trọng pháp luật và, hơn nữa phải dạy cho học trò hiểu và chấp nhận pháp luật. Tôi tin chắc rằng trong đấy lồng ngực cha tôi, trái tim hiền hậu của người phải quát lên: “Quân khốn nạn, chúng bay đã giết con ta, tệ hơn nữa, chúng bay đã đày đọa cho nó chết dần chết mòn, trong khi nó mới hai mươi lăm tuổi! Giá người biết thằng con trai của người đang ở đâu, người ta đang hành hạ nó như thế nào, rất có thể người đã trở thành một kẻ vô chính phủ.

Đêm hôm nay, cái nhà pha ăn thịt người đã xứng đáng với danh hiệu của nó hơn bao giờ hết. Tôi được biết là có hai người tù đã treo cổ chết và một người đã tự làm mình chết ngạt bằng cách nhét giẻ vào mồm và vào hai lỗ mũi. Buồng giam 127 ở gần chỗ bọn cảnh sát đổi gác, cho nên thỉnh thoảng tôi nghe được từng mẩu những câu chuyện họ trao đổi với nhau. Sáng nay chẳng hạn, họ nói khẽ, nhưng chưa đủ khẽ để cho tôi đừng nghe những điều họ kể cho nhau nghe về những sự cố đã diễn ra trong đêm vừa qua.

Lại thêm sáu tháng nữa trôi qua. Tôi đã tính sổ, và tôi vừa khắc lên gỗ một con số “14” rất đẹp. Tôi có một cái đinh, cứ sáu tháng mới dùng đến một lần. Vâng, tôi đã tính sổ và nhận định tình hình: sức khỏe tôi vẫn tốt và tinh thần tôi rất vững.

Nhờ những chuyến du hành những các vì sao, rất ít khi tôi bị những cơn tuyệt vọng kéo dài. Những lần lâm vào tình trạng ấy, tôi khắc phục nỗi tuyệt vọng khá nhanh và tổ chức thật chu đáo một chuyến du hành thực sự hay tưởng tượng nó xua tan hết những ý nghĩ bi quan. Cái chết của Celier đã giúp cho tôi nhiều trong việc chiến thắng những cơn khủng hoảng tinh thần ác liệt ấy Tôi tự nhủ: còn ta, ta vẫn sống, ta đang sống nhăn răng ra đây này, và ta phải sống, sống nữa, sống nhiều nữa để một ngày kia sẽ sống lại thành một người tự do. Hắn đã phá hỏng cuộc vượt ngục của ta, nhưng hắn đã chết và sẽ không bao giờ được tự do như ta sẽ được tự do sau này: một ngày kia ta sẽ tự do, đó là điều chắc chắn. là điều tất nhiên. Dù có sao chăng nữa, nếu ta ra khỏi nhà lao cấm cố vào tuổi ba mươi tám, ta cũng chưa già, và cuộc vượt ngục tiếp theo sẽ nhất định thành công, chắc chắn là như vậy.

Một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay: một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay. Từ mấy hôm nay hai chân tôi đen lại, chân răng tôi là máu..Khai ốm chăng? Tôi lầy ngón tay cái bấm vào cổ chân: khi buông ra, vết bấm vẫn lõm sâu vào. Có thể tưởng chừng như trong người tôi toàn nước. Từ một tuần nay tôi chỉ còn đi được mười cho đến mười hai tiếng một ngày, chỉ đi hai lần sáu tiếng mà tôi đã mệt lả ra rồi. Mỗi lần chùi răng bằng khăn mặt rám tẩm xà-bông, tôi thấy đau lắm, và ra máu nhiều. Thậm chí hôm qua có một cái răng tự nhiên rụng ra – một cái răng cửa hàm trên.

Đợt sáu tháng tiếp theo kết thúc bằng một cuộc cách mạng thực sự. Thật vậy, hôm qua họ bắt tù nhân thò đầu cả ra người ghi-sê, một bác sĩ đi rảo qua, banh môi từng người lên. Và sáng nay, đúng mười tám tháng sau khi tôi vào nhà tù cấm cố này, buồng giam của tôi được mở ra, và họ nói với tôi:

– Ra đi, đứng quay mặt vào tường và đợi đấy.

Tôi là người đầu tiên kể từ cửa lớn. Cả thảy gần bảy mươi người đã ra. “Quay trái, quay?” Tôi là người đi sau cùng trong một dãy dài được dẫn ra đầu phía kia của nhà giam và được đưa ra sân.

Lúc bấy giờ là chín giờ. Một bác sĩ trẻ tuổi mặc áo sơ mi kaki cộc tay đang ngồi giữa sân, sau một cái bàn nhỏ bằng gỗ. Bên cạnh ông ta là hai anh y tá phạm nhân và một viên giám thị y tá. Trong cả bốn người nay tôi không biết mặt một người nào, kể cả ông bác sĩ. Mười viên cảnh sát cầm súng trường đứng gác xung quanh. Viên chỉ huy nhà tù cấm cố và tốp giám thị trưởng đứng nhìn, không nói một câu.

– Tất cả, cởi hết ra, – viên giám thị trưởng hô – Quần áo cặp nách. Người thứ nhất. Tên là gì?

– Mỗ…

– Há miệng ra, giang chân ra. Nhổ ngay ra 3 cái răng này. Tra cồn pha i-ốt trước, sau đó là xanh méthylène. Xi-rô Cochleria mỗi ngày hai lần trước bừa ăn.

Tôi là người cuối cùng.

– Tên gì?

– Charrière.

– Chà! Anh là người duy nhất có một thân thể còn coi được. Mới đến à?

– Không.

– Giam ở đây bao lâu rồi?

– Mười tám tháng.

– Tại sao anh không gầy như mọi người khác.

– Tôi không biết.

– Được, tôi sẽ nói cho anh biết. Tại vì anh ăn khá hơn, nếu không phải là vì anh thủ dâm ít hơn. Há miệng xem. Chân. Mỗi ngày hai quả chanh: một sáng một chiều. Mút nước chanh, xong xát bã vào lợi, anh bị bệnh scorbut.

Họ dùng cồn pha i-ốt lau lợi cho tôi, rồi bôi thuốc xanh méthylène, đoạn phát cho tôi một quả chanh. Đằng sau quay. Tôi là người sau cùng trở về buồng giam.

Việc vừa xảy ra quả là một cuộc cách mạng: cho phạm nhân bị ốm ra tận ngoài sân, cho họ nhìn thấy mặt trời, cho bác sĩ khám từng người một. ở trại giam cấm cố chưa bao giờ có như vậy. Có chuyện gì xáy ra thế nhỉ? Phải chăng, do một sự tình cờ nào đấy, rốt cục đã có một ông bác sĩ không chịu làm kẻ tòng phạm câm lặng cửa cái quy chế trứ danh này? Cái ông bác sĩ này, về sau sẽ trở thành bạn tôi, tên là Germain Guibert. Bây giờ thì ông chết rồi, chết ở Đông Dương, vợ ông ta có gửi thư đến Macaraibo, ở Venezuela, báo cho tôi biết, khá nhiều năm sau cái ngày ấy.

Cứ mười ngày lại có một buổi được ra nắng. Thuốc men vẫn chỉ có thế: cồn pha i-ốt, xanh méthylène, hai quả chanh. Tình trạng của tôi không trầm trọng thêm nhưng cũng không thuyên giảm. Đã hai lần tôi xin xi- rô Cocheléria và đã hai lần bác sĩ không chịu cho, điều đó bắt đầu làm cho tôi xì-nẹc, vì tôi vẫn không đi được sáu tiếng mỗi ngày, và hai cổ chân tôi vẫn còn sưng phù và bầm đen lại.

Một hôm, trong khi chờ đến lượt khám, tôi chợt nhận ra rằng cái cây còm cõi mà tôi đang dùng để nấp chút đỉnh cho đỡ nắng là một cây chanh không ra quả. Tôi bứt một cái lá chanh bỏ vào miệng nhai, rồi một cách lơ đễnh, không hề có chủ đích, tôi bẻ một nhánh cây có dăm chiếc lá cầm chơi. Đến khi ông bác sĩ gọi đến tên tôi, tôi cắp cái nhánh cây sau đít, nói:

– Thưa bác sĩ, tôi không biết có phải tại mấy quả chanh của bác sĩ không, nhưng xin bác sĩ xem giùm thứ cái gì mọc sau đít tôi đây này.

Nói đoạn tôi quay người lại cho bác sĩ xem cái nhánh cây cắm sau đít.

Thoạt tiên bọn cảnh sát cười phá lên, nhưng rồi viên giám thị trưởng nói:

– Papillon anh sẽ bị phạt vì đã có thái độ bất kính đối với bác sĩ.

– Không hề có như thế, – bác sĩ nói. – ông không được phạt người này, vì tôi có phàn nàn gì đâu. Anh không muốn dùng chanh nữa à? ý anh muốn nói như vậy phải không?

– Vâng, thưa bác sĩ, tôi chán chanh lắm rồi: mãi có khỏi đâu. Tôi muốn xin xi-rô Cochléria uống thử xem.

– Trước đây tôi không cho anh vì tôi chỉ có được rất ít, phải dành cho những người bệnh nặng. Tuy vậy tôi sẽ cho anh mỗi ngày một thìa, nhưng vẫn phải tiếp tục dùng chanh.

– Thưa bác sĩ, tôi đã có dịp trông thấy người Anh-điêng họ ăn rong biển, thứ rong này ở Royale tôi cũng thấy có. Chắc ở Saint-Joseph cũng phải có thứ rong này.

Anh đã gợi cho tôi một ý tuyệt hay. Chính tôi cũng đã thấy có một thứ rong gì đấy ở bờ biển. Tôi sẽ cho vớt và phát cho các anh mỗi ngày một ít. Người Anh-điêng họ ăn sống hay đem nấu lên?

– Họ ăn sống.

– Được Cám ơn. Và nhất là, thưa ông chỉ huy, tôi yêu cầu đừng phạt người này, xin ông cam kết với tôi như vậy.

– Tôi đồng ý, bác sĩ ạ.

Quả là một phép lạ. Cứ tám ngày lại được ra nắng hai tiếng đồng hồ, đợi đến lượt mình khám bệnh hoặc chờ cho những người khác được đưa ra, được trông thấy những gương mặt, được thì thầm với nhau vài câu: trước kia ai mà dám mơ ước những điều kỳ diệu như vậy?

Đây là một sự thay đổi huyễn hoặc đối với mọi người, những xác chết đã đứng dậy và bước đi dưới ánh nắng; những con người bị chôn sống ấy nay đã nói lên được đôi lời. Đó là một bình dưỡng khí thổi sự sống vào cơ thể và tâm hồn của mỗi chúng tôi.

Clac, clac, hằng hà sa số những tiếng clac mở tất cả các cửa ngục vào một buổi sáng thứ năm lúc chín giờ. Mỗi người đều phải ra đứng ở ngang ngưỡng cửa phòng giam. Một tiếng gọi: “Các phạm nhân cầm cố! Quan thống đốc đi thanh tra”.

Cùng đi với năm viên sĩ quan của quân đội thuộc địa, chắc hẳn đều những sĩ quan quân y, một người cao lớn, trang nhã, tóc màu hoa râm có ánh bạc, bước chậm rãi đọc hành lang đi qua trước từng khung cửa phòng giam. Tôi nghe tiếng một viên cảnh binh báo cáo cho ông ta biết những hình án nặng và những nguyên do đã dẫn đến nó. Trước khi đi ngang chỗ tôi, họ phải ra lệnh cho một người đứng dậy, vì người này đứng đợi lâu quá đã ngồi thụp xuống. Đó là một trong toán tù vượt ngục ăn thịt người: Graville. Một viên sĩ quan nói:

– Ồ, tên này chỉ còn là cái xác biết đi!

Quan thống đốc đáp:

– Tình trạng tất cả các tù nhân đều thảm hại.

Đoàn thanh tra đến chỗ tôi. Viên chỉ huy nhà lao nói:

– Người này là tù nhân bị án hình nặng nhất trong nhà lao.

Anh tên gì? – Quan thống đốc nói.

– Charrière.

– Hình án?

– Tám năm vì tội lấy trộm vật tư của nhà nước và giết người, ba cộng năm năm cấm cố, không có phối án.

– Đã ngồi được bao lâu?

– Mười tám tháng.

– Hạnh kiểm ra sao?

– Tốt. – Viên chỉ huy nhà lao nói.

– Sức khoẻ ra sao?

– Tạm được, – ông bác sĩ nói.

– Anh có muốn nói gì không?

– Có: cái chế độ cấm cố này là vô nhân đạo và không xứng đáng với một dân tộc như nước Pháp.

– Tại sao?

– Im lặng tuyệt đối, không được đi dạo, và trước đây ít hôm không hề có lệ khám sức khỏe.

– Anh hãy cố gắng có hạnh kiểm tốt, có lẽ anh sẽ được ân giảm nếu tôi còn làm thống đốc.

– Cám ơn ông.

Kể từ ngày ấy, theo lệnh quan thống đốc và bác sĩ trưởng từ Martinique và từ Cayenne tới, hôm nào chúng tôi cũng được một buổi đi dạo và tắm biển trong một thứ bể bơi giả, có những tảng đá lớn ngăn với biển cho cá mập khỏi vào.

Mỗi buổi sáng cứ đến chín giờ, từng toán tù nhân một trăm người một từ nhà lao cấm cố kéo xuống tắm, mình trần như nhộng. Vợ con của bọn giám thị phải ở nhà, để khỏi thấy cái cảnh lõa lồ đó.

Chế độ này kéo dài đã được một tháng. Sắc diện của lũ tù đã khác hẳn. Buổi đi dạo giữa nắng, buổi tắm nước mặn, cái quyền được nói mỗi ngày một giờ, đã làm cho bầy tù cấm cố, cái bầy người đau ốm về tinh thần và thể chất ấy, thay đổi tận gốc.

Một hôm tôi đang đi ở các hàng sau trên đường từ chỗ tắm về nhà lao cấm cố, bỗng nghe có tiếng một người đàn bà hét lên thất thanh và hai phát súng lục.

– Cứu với! Cứu với! Con tôi chết đuối mất?

Những tiếng kêu la ấy từ phía bến đưa lại. Bến đây chỉ là một đường dốc xây xi-măng để cho thuyền đậu. Lại nghe tiếng xôn xao:

– Cá mập! Cá mập!

Rồi lại hai tiếng súng lục nữa. Trong khi ai nấy đều quay đầu về phía có tiếng kêu cứu và tiếng súng lục, tôi xô một tên lính gác ra, không hề suy tính, và người vẫn trần truồng như thế, tôi chạy thẳng ra bến. Đến nơi, tôi trông thấy hai người đàn bà đang la hét như điên, cạnh đấy có hai tên lính gác và hai thằng A-rập.

– Nhảy xuống đi? – người đàn bà hét. – Nó chưa trôi xa đâu! Tôi không biết bơi, chứ biết thì tôi đã xuống rồi. Hèn nhát cả một lũ!

– Cá mập! Một tên lính gác nói, đoạn lại chĩa súng bắn xuống biển.

Một đứa bé gái mặc chiếc áo dài màu xanh nối trắng đang trôi lềnh bềnh trên mặt biển, bị một dòng hải lưu yếu đưa từ từ ra xa. Nó trôi thẳng về phía các hải lưu quy tụ lại, vốn là chỗ dùng làm nơi mai táng các phạm nhân, nhưng hãy còn xa mới đến chỗ ấy. Bọn lính gác nổ súng liên tục, và chắc hẳn họ đã bắn trúng nhiều con, vì quanh con bé có những chỗ nước cuộn lên sùng sục.

– Đừng bắn nữa! – tôi quát.

Rồi không suy nghĩ đắn đo, tôi nhảy xuống biển.

Được dòng hải lưu đẩy đi, tôi bơi rất nhanh về phía con bé bấy giờ vẫn nổi lềnh bềnh nhờ cái áo dài căng phồng lên. Tôi vừa bơi vừa đạp chân thật mạnh đế cho cá mập khỏi đớp trúng.

Tôi chỉ còn cách con bé có ba bốn chục mét thì một chiếc xuồng từ đảo Royale vừa chèo ra đến nơi: bên ấy đã nhìn thấy cái cảnh này từ xa. Người trên thuyền vớt đứa bé lên. Tôi ức phát khóc lên được khi đến lượt tôi được kéo lên thuyền, ức đến nỗi quên khuấy cả lũ cá mập: tôi đã liều thân một cách hoàn toàn vô ích.

Nói cho đúng hơn, lúc bấy giờ tôi tưởng là hoàn toàn vô ích, vì một tháng sau, bác sĩ Germain Guibert đã vận động cho tôi được miễn cấm cố vì lý do sức khỏe, và chỉ huy trại đã chuẩn y, coi như đây là một cách thưởng công cho tôi đã liều mình lao xuống biển để cứu đứa bé.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 13 Nov 2025

Chương 9

Cuộc tiếp đón tôi bởi ông trưởng khối 56 được thực hiện với sự có mặt của ông niên trưởng. Tại Buchenwald có ba ông, nhưng ông nầy, mang băng tay số ba lại là người quan trọng nhất; ông ta mới thực là người cai quản trại tập trung. Nhân vật nầy có nhiều quyền hành đối với chúng tôi hơn bất cứ vị quốc trưởng nào đối với dân chúng của ông ta. May thay ông chỉ xử dụng quyền hành ấy để bảo bọc chúng tôi, bắt thuộc viên tuân hành một thứ kỷ luật nghiêm ngặt, và có một tinh thần sạch sẽ, bởi vì trong cái thành phố quỷ quái nầy vô số bất công, nếu không nói là đầy tội ác, vẫn được thể hiện hàng ngày; nếu một khiếu nại có đầy đủ chứng cớ, ông ta cho kẻ phạm tội đi nơi khác ngay, và đã có hơn một Stubendienst bị mất chỗ; nhưng đối với bọn SS dĩ nhiên là ông không thể làm gì cả. Khốn thay, không phải là sự ta thán nào cũng đều đến được tai ông ta cả. Cả hai người hỏi về hoạt động trong quá khứ, cùng lúc trắc nghiệm lại khả năng Đức ngữ của tôi. Ông niên trưởng siết tay tôi sau khi cho vài lời khuyên và gởi gắm cho tôi một người chỉ huy nghiệp đoàn ở Lyon mà ông ta đã quen biết trong một hội nghị quốc tế khoảng 15 năm về trước.

Jacob, chỉ huy mới của tôi, nói với tôi rất lâu về nhiệm vụ của ông và nhiệm vụ thuộc về phần tôi.

– Với anh, mọi chuyện sẽ trôi chẩy. Ở đây cũng có một thông ngôn, Albert, nhưng anh ta nói tiếng Đức cũng chỉ ngang cỡ tôi nói tiếng Pháp. Thế mà ở đây lại gồm toàn người đồng hương của anh, và mỗi lúc, tôi đều cần một người thông dịch. Tôi hy vọng hai người sẽ ăn ý với nhau!

Giọng nói mà ông dùng để giải thích với tôi mọi chuyện, cho tôi thấy ông ta đã bị đồng nghiệp của tôi chi phối. Và khi tôi gặp viên thông ngôn thứ hai nầy, y lập tức coi tôi như đối thủ. Những nhân viên khác trong khối gồm toàn là dân Nga trẻ tuổi, hay đúng hơn là người Ukraine, rõ rệt là họ coi khinh dân Pháp. Tôi đã có dịp quan sát thái độ đó đối với chúng tôi khi tôi là tù binh chiến tranh. Lúc đó, trong khi ngườiAnh, Ba-Lan, Nga, người Nam Tư và Bỉ đều hãnh diện về sự đoàn kết, chúng tôi lại hư hỏng, và nhiều người lại sẵn sàng chấp nhận những nguy cơ tệ hại nhất. Chính các sĩ quan Ba-Lan lại khóc cho sự thất trận của chúng tôi, và chính người Nam Tư lại nhắc cho chúng tôi nhớ là chúng tôi có bản quốc ca và phải hát quốc ca ngày 14 tháng 7, mặc dù cho có bị nhốt sau hàng rào kẽm gai đi nữa. Vào thời đó không mấy ai trong chúng tôi tin ở chiến thắng sau cùng của Đồng Minh. Về sau các nhóm thân Pétain được tổ chức tại khắp các trại giam Đức và đã phát triển đến độ quân Đức đâu đâu cũng hết sức hài lòng. Và những ai chuẩn bị vượt ngục cũng phải đề phòng người bạn tù của mình. Ngay cả khi bị tù đầy, chúng tôi cũng vẫn chia rẽ và không có gì ngạc nhiên khi thấy một huyền thoại về sự xuống dốc của Pháp đã thành hình trong đầu óc của rất đông bạn tù ngoại quốc của chúng tôi.

Và bây giờ đến lượt những thanh niên nông dân Nga không ngừng hỏi tôi về nguyên nhân của tình trạng thê thảm đó. Làm sao mà một nước như nước Pháp, với cả một phòng tuyến Maginot và quân lực, lại có thể bị đánh bại trong ba tuần lễ? Họ không hiểu và tôi cố gắng giải thích rằng sự phản bội có thể hạ gục những người khỏe mạnh nhất.

– Chính những nhà điếm đã làm xứ anh sụp đổ, – Léonide nói với tôi, anh ta là người lãnh đạo đám thanh niên Nga. – Hình như Ba-lê là nơi có nhiều ổ điếm nhất.

Và khi tôi nói với anh ta về phong trào kháng chiến chống xâm lăng của chúng tôi, anh ta vẫn không tha:

– Nói cho tôi nghe có nước nào mà một bộ phận lớn như vậy lại hợp tác với địch như thế không: Các anh có một ông tướng ở Luân-đôn, nhưng chính một ông Thống chế lại đi với Hitler, và cùng với ông ta là cả một chính phủ, và không phải gồm toàn vô danh tiểu tốt đâu nhé! Các anh đã là một dân tộc lớn, nhưng nay chỉ còn là một Quốc gia nhỏ bé.

Người ta dù tôn trọng kẻ mạnh ngoài ra đều không đáng kể, và ngay trong cùng thẳm của một trại tập trung, chúng tôi phải trả giá cho nỗi ô nhục của năm 1940. Là con dân của một xử đang trên đường đi đến một tương lai vĩ đại, anh ta đã quên mất một vài chi tiết lịch sử, tuy nhiên tôi có nhiệm vụ nhắc lại cho anh ta nhớ.

Nếu người Nga vốn nhiều tình cảm, họ cũng hiểu thấu được sự chân thành. Nghĩ rằng tôi thông biết tất cả về tổ quốc họ, về lịch sử của họ, thái độ của họ đối với tôi thay đổi mau chóng, sau cùng họ thỏa mãn về sự bổ nhiệm tôi. Tôi hiểu ngay rằng họ ghét Albert: người thông ngôn thứ hai, và họ giới thiệu anh ta với tôi dưới màu sắc đen tối. Buổi chiều, khi mọi người đi làm việc trở về, tôi được nghe các lời ta thán của những người vừa trải qua một ngày lao tác ngoài trời để xúc đất, cuốc đất mà bụng trống rỗng. Tôi nói với họ vài câu hứa sẽ làm tất cả mọi chuyện có thể được để giúp họ. Ngay sau khi vừa dứt lời, cả một đám mây than vãn vang lên bên tai tôi. Tôi trấn an họ và yêu cầu một người đứng lên trình bầy thay cho cả tập thể. Người được chỉ định có giọng nói miền Bourgogne tên là Boucher. Tôi được biết ngày trước ông ta làm luật sư ở Ba-lê.

– Thật là ô nhục, – ông ta hét lớn, – chúng tôi không được đụng đến ngay cả lít súp mà chúng tôi có quyền hưởng. Đây là cả một cuộc màn kịch xấu xa.

Đêm đầu tiên, chính tay tôi phân phối súp. Mỗi người nhận đủ phần của mình nghĩa là một ca đầy, và tôi sung sướng nhìn thấy niềm vui tràn đầy phát hiện lần đầu tiên. Mọi người đều hài lòng ngoại trừ Léonide. Là lãnh tụ đồng bào của mình, anh ta lại là thư ký của khối, và với chức vụ đó, tôi là cấp dưới của anh ta. Khi tôi chấm dứt công việc, anh ta gọi tôi:

-Họ phàn nàn vì súp, có thể được, nhưng họ không nên khóc lóc quá như vậy vì vài muỗng. Họ có nhận được bưu kiện tặng phẩm, còn chúng tôi ở đây hai ba năm rồi mà chẳng nhận được gì từ bên ngoài. Tối nào tôi cũng phải tiếp tế thêm cho những đồng bạn kém may mắn hơn. Mỗi khối, nơi nào có nhân viên người Nga, họ cũng đều làm như vậy.

Tôi cho anh ta biết chuyện đó là rất tử tế, nhưng nói phân minh thì không thể lấy của người nầy để cho người khác. Tôi cũng lưu ý anh ta rằng phần đông là đồng hương của tôi lúc nầy cũng chịu khổ đau ít ra là cũng bằng tù nhân Nga vậy.

Vì Jacob không ưa các vấn đề lặt vặt như vậy. Léonide, với 22 tuổi, có thể lên giọng chủ nhân ông. Tuy nhiên anh ta không làm vậy, thái độ cương quyết của tôi làm anh ta thích và anh ta làm hòa ngay. Anh ta chấp nhận ai có phần nấy, đối với đồ ăn dư, sẽ chia hai. Tôi hoàn toàn thỏa mãn. Với hệ thống mới, mỗi tù nhân sẽ nhận được trọn một lít súp, và số còn lại thường là từ mười đến mười lăm lít. Léonide lấy một nửa để giúp đỡ bạn bè của anh, và tôi một nửa cho bạn bè của tôi. Đêm hôm sau, tôi đi kiếm Hubert và vài người bạn khác để cho họ ăn thêm một lít thứ hai; họ đã không cần để được mời đến lần thứ hai.

Hubert kể cho tôi nghe những ngày lao tác nhọc nhằn mà tôi đã được biết qua các tù nhân nơi khối tôi làm việc.

– Đó không hẳn là công việc, mà là đứng suốt ngày và luôn luôn canh chừng bọn SS đi phất phơ không có vẻ gì cả, nhưng thình lình nhảy chộp lấy mình như chó sói vồ cừu non. Anh đã thấy cơn bão tuyết chiều hôm qua rồi, thế mà phải tiếp tục làm việc. Đến 6 giờ mới xong, và lúc đó là giờ tập họp và lúc trở về thì lại điểm danh. Khi mọi chuyện êm xuôi, điểm danh nửa giờ. Như vậy bảy giờ mới về đến khối. Phân phối súp, hỏi thăm tin tức, bàn luận đã gần 10 giờ và phải dậy từ 4 giờ sáng hôm sau.

– Nhưng có tin gì không?

– Hình như Phần Lan đã đầu hàng.

Thì đó, thỉnh thoảng lại có vụ đầu hàng ở một nơi nào đó.

Cũng như các nơi khác, trong phòng Jacob cũng có máy phóng thanh, buổi tối, sau bữa súp, tôi thông dịch bản thông cáo trong ngày. Cứ như bản thông cáo nầy thì nó đã phản lại những âu lo của Bộ Tổng tham mưu đã vì tình hình mặt trận Miền Đôngv, nơi mà chậm chạp nhưng chắc chắn Hồng quân gặm mòn dần lãnh thổ. Nhờ tôi thêm mắm thêm muối vào trong khi dịch, tinh thần của mọi người được cải thiện đôi chút sau mấy ngày nhọc nhằn. Mặt khác các tù nhân Đức có quyền mua dài hạn một tờ báo. Hàng ngày Jacob đều nhận được tờ “Thuringsche Zeitung”. Tôi luôn luôn tìm thấy trong đó vài hàng cho biết cơn cuồng nộ của Bá-linh trước tin tức về kho vũ khí ngày càng vĩ đại của Đồng Minh được tích trữ tại Anh Quốc. Và các tin tức đó là một món tráng miệng tuyệt vời của mọi người. Với những ưu quyền mà tôi được ban cấp cho, tôi tổ chức các công việc kiểm soát tạp dịch đều đặn, và nghiêm chỉnh, thay thế một vài trưởng khối quá tư lợi trong khi phân phát phó mát trắng, và tôi có thể hãnh diện là đã được thiện cảm của dại đa số tù nhân.

Nhưng cũng chính vì điều đó mà Albert dệt một màn lưới nhện xung quanh tôi. Không ai biết gì về anh ta cả ngoài việc, anh ta là một trong các người Pháp đầu tiên đến trại này. Nói bập bẹ vài tiếng Đức, anh ta đã khéo vận động để len được vào chức vụ hiện tại. Trong trại, không có một sự kiểm soát nào về quá khứ của một tù nhân được thực hiện, kẻ đi trước bao giờ cũng có lý. Ai cũng sợ anh ta, bởi vì anh ta có gốc lớn ở Arbcitstalislik (văn phòng lao tác) nơi vẫn thiết lập danh sách những người phải di chuyển đi nơi khác, Botucher, tù nhân mà tôi quen nhiều nhất, đã cung cấp cho tôi vài tin tức:

– Hắn ta thực hiện ở đây một sự khủng bố thật sự, không ai muốn đi Dora hay một nơi nào khác, ít ra ở đây người ta biết mình có được cái gì. Chẳng bao lâu nữa bưu kiện sẽ đến. Một vài người đã nhận được rồi, và như anh nghĩ họ vội vàng đem biếu hắn ta.. Ngay cả Michelin (anh đã biết ông ta hiện có mặt ở đây) cũng đã hứa với hắn ta những số tiền khủng khiếp để tránh cho con ông, trong chuyến công-voa sắp đến khỏi bị đi Mauthausen. Hắn ta không dám nhận, hắn ta rất mạnh thế, đó là một lên gian hùng, một tên dâm đãng và với lời lẽ bợ đỡ không ngượng miệng hắn ta mê hoặc người Đức. Chỉ cần bắt gặp quả tang hắn ta phạm tội, chẳng hạn như lúc hắn ta vòi vĩnh tù nhân tặng lại các bưu kiện mà họ nhận được. Duy có điều là anh phải đề phòng, kẻ đã bị phỉnh gạt có thể sẽ bị nói rằng y đã làm một hành động tương trợ tự nhiên, và vũ khí mà anh xử dụng có thể sẽ là con dao hai lưỡi quay về phía anh. Khất là Jacob thì lại không bao giờ ưa chuyện yêu sách các bưu kiện, ông ấy không bao giờ nhận được gì cả và có thể nói từ mười năm qua ông ấy chỉ ăn súp và phần bánh mì của mình. Chỉ có nhóm người Nga ở đây là có thế lực, hãy làm thân với họ.

Tuy nhiên, trước mặt tôi, Albert chỉ cười.

Và từ khi tôi đến đây, hắn ta chẳng làm gì ráo dường như muốn để cho tôi toàn quyền. Nhưng tôi lo lắng và nói cho Mas, Michael và những bạn bè khác biết. Ai cũng cười vào mũi tôi: “Anh muốn hắn làm gì chớ, khi mà người ta bằng lòng với công việc của anh, hắn sẽ hoàn toàn bất lực đối với anh”. Một đêm Léonide nói rõ với tôi: “Mỗi lần hắn ta ở một mình với Jacob, hắn ta nhỏ một giọt dấm; không nhiều lắm, nhưng vì ông kia lại rất dễ bị ảnh hưởng, cho nên anh phải coi chừng”. Làm sao đây? Tôi là người mới đến, và tôi không làm gì để cho hắn ta sợ tôi thù ghét, tâm hồn tôi thanh thản. Trong rừng già, nhiều nạn nhân chắc hẳn có trạng thái tinh thần như vậy trước khi bị dã thú phanh thây..

Những lời nói của Boucher vẫn văng vẳng bên tai, và tôi cố rút chặt giây thân hữu với Léonide và nhóm của anh ta. Nhưng trong thực tế họ có giá trị như thế nào? Trong số mười nhân viên trong khối, ba người nổi bật rõ rét: Léonide thuộc về giai cấp lãnh đạo, Victor, thợ hớt tóc và Vassil, chịu trách nhiệm về bánh mì.

Mỗi ngày tiếng Nga của tôi khá hơn; và khi biết tiếng Nga, người ta tiến tới chỗ hiểu được các thổ ngữ Slaves. Ở đây, điều nầy có tầm quan trọng then chốt.

Hubert và các bạn đến gặp tôi luôn và không hiểu các mối âu lo của tôi. Họ cũng có niềm lo âu riêng. Bị đầy đọa suốt ngày ngoài trời, ý tưởng duy nhất là thời gian trôi mau đến tối, và ăn một ít xúp thừa. Họ hài lòng, tuy nhiên có lẽ tôi hài lòng hơn khi thấy bạn vui vẻ. Boucher, Ganneval cũng nhập nhóm và trong tình bạn, tôi quên đi nhiều điều ti tiện, tuy nhiên đã có người không quên: buổi sáng ngày 10 tháng 3, Léonide, trong tư cách thư ký của khối đi lấy các chỉ thị của văn phòng trung ương mỗi sáng, hấp tấp kiếm tôi:

– Coi đây, tôi nghi chính hắn làm chuyện nầy!

Trong một danh sách có các số thứ tự, tôi đọc thấy con số của tôi, những người có tên trong danh sách phải di chuyển đi nơi khác trong ba hôm nữa. Đi Dora, anh ta nói thêm, tất cả những người mới đều đi đến đó.

Thật là cả một sự sụp đổ, và tôi cảm thấy có cảm giác y như khi tôi bị bắt.

Tôi mới ở được tại chức vụ có độ mươi hôm. Tôi đã có thêm được nhiều bạn tốt và trong khi giúp đỡ họ, tôi có cảm tưởng là còn tiếp tục được công cuộc chiến đấu. Thế mà, bỗng nhiên lại phải vứt bỏ tất cả một cách tàn bạo. Kẻ âm mưu quá mạnh thế và nếu tôi có ý định phản công, phải mau lẹ, không thể để mất thì giờ.

Tất cả những người bị di chuyển phải có mặt ở quảng trường ngay sáng hôm đó. Từ đấy họ sẽ được đưa đi khám bệnh, tiếp theo là khoác áo tù, để hạ nhục họ thêm một chút, và nhất là để ngăn chặn mọi âm mưu vượt ngục trong khi di chuyển hay lại địa điểm làm việc tương lai vẫn thường được canh giữ sơ sài hơn tại trại tập trung Buchenwald.

Quá khổ sở về điều tôi vừa biết được, tôi chạy đi kiếm Jacob, để hỏi thăm và yêu cầu giải thích, ông ta có vẻ dửng dưng:

– Đi mặc áo đã, anh còn đến ba ngày nữa, người ta sẽ có thì giờ xem lại.

Câu trả lời nầy cho biết sự vu khống đã thắng. Những gì đối với tôi là một thảm kịch, hình như đối với Jacob chỉ là một biến cố rất bé nhỏ: trong mười năm ở trại, ông ta đã từng chứng kiến nhiều biến cố quan trọng hơn.

Léonide mang chỉ thị về lúc 5 giờ, nửa giờ sau, tôi có mặt ở quảng trường được nhiều đèn pha chiếu sáng. Hàng ngàn người sẵn sàng đi đến nơi làm việc mới, trong nhà máy hoặc ngoài trời. Ban nhạc tấu một bài hành khúc nặng nề để bắt đám tù nhân đi đều bước. Thật là hài hước, nhưng vì trời lạnh quá không ai nghĩ đến chuyện cười. Khi họ biến mất sau cánh cửa chánh của trại, tôi thấy chỉ còn lại vài trăm người và chúng tôi được đưa về phía trại bệnh xá. 2500 người nữa phải sẵn sàng để đi và phần đông đã sẵn sàng y phục.

Tại cửa bệnh xá, chúng tôi phải chờ ba tiếng đồng hồ để trải qua một cuộc khám bệnh lâu ba giây. Gian phòng để quần áo khổng lồ mà chúng tôi đã đi qua hồi mới đến, nay chúng tôi cũng đợi ở đó nhưng với một y phục khác: Áo vét, quần, nón chào mào đều có sọc.

Đêm trước tôi còn mặc đồ dân sự, đúng hơn là đồ rách rưới của bọn vô gia cư, vô nghề nghiệp, nhưng tôi được kính nể, gần như được sợ hãi vì tôi thuộc giai cấp “quí phái” ở đây. Từ nay tôi chỉ là một tù nhân chìm ngập trong số đông. Chắc chắn số phận nầy dành cho phần đông chúng tôi, nhưng đối với một người đã lãnh được chức vụ thông ngôn, ra đi có nghĩa là đã phạm tội trong khi thừa hành phận sự và trong tâm trí những người không hiểu chuyện điều đó đã gây ra biết bao giả thuyết nghi ngờ. Khi tôi trở lại khối, tôi chú ý thấy mình là đầu đề của mọi câu chuyện nhưng tôi không có thì giờ đã nghe họ nói gì, vì tôi cần phải đi báo động cầu cứu các bạn hữu nhất là những người có địa vị. Câu chuyện của tôi làm họ kinh hãi và tự hỏi người xếp tên tôi vào danh sách mạnh đến mức nào. Chỉ có Ludwig là trầm tĩnh:

– Chuyện đó đã xẩy ra rồi, chuyện gì cũng có thể xẩy ra cả, điều khó chịu ở đây là chuyện đã xảy ra giữa người Pháp với nhau, và tôi biết Albert được văn phòng trung ương coi như một đại diện có tư cách của người Pháp, tôi cố xem xét vụ nầy xem.

Một ngày trôi qua, và trong khi tất cả những người sắp đi ra nằm nghỉ mệt, tôi chạy Đông chạy Tây thử làm việc không thể làm được. Thật vậy, cho đến ngày lên đường, chúng tôi có được một khoảng thời gian rảnh, nhờ đó tôi có thể đi vận động.

Qua trung gian của Ludwig trong nhóm người Đức, và Léonide, người Nga, lẽ phải của tôi dần dần thắng thế. Một phái đoàn Pháp-Nga đến gặp Jacob để bày tỏ sự ngạc nhiên vì tôi bị đầy ải. Trước các đòi hỏi giải thích, ông ta phải bước ra khởi sự lãnh đạm, và ông ta, cho đến nay chỉ nói với tôi những chỉ thị công tác, vui lòng tiếp tôi đặc biệt để thảo luận trường hợp của tôi. Cuộc nói chuyện lái sang lịch sử của phong trào công nhân Đức mà may thay tôi cũng được biết khái quát, và ông ta chấm đứt bằng cách công nhận rằng, như tôi nghĩ, có thể tôi là nạn nhân của sự vu khống hèn hạ.

Trong lúc đó Albert dọ thám hoạt động của tôi, với sự trầm tĩnh của những đại lãnh Chúa, có vẻ tự tin vô cùng. Anh ta có lý để vững tin, bởi vì mọi sự can thiệp có vẻ vô hiệu quả, và người tống khứ tôi lại không phải là một tên SS, cũng không phải là một tù nhân ngoại quốc, mà là một người Pháp và tên súc sinh nầy hành xử sự độc tài lên đầu tôi, Napoléon rất có lý, trước hết chỉ có giống người, sau đó mới đến sắc tộc, rồi biên giới và tôn giáo.

Tôi đã chuẩn bị tư tưởng để lên đường, nhưng tôi đau thắt ruột mỗi khi nghĩ đến Albert vẫn tiếp tục ngự trị như kẻ cướp. Chắc chắn anh ta cũng có nhược điểm, và tôi chỉ muốn ở lại để vén bộ mặt anh ta lên; thế mà khi tôi đi rồi, địa vị của anh ta càng thêm củng cố, và tôi chỉ còn có một buổi chiều và một đêm. Đêm 12 rạng 13 đó, đúng lúc nửa đêm, mọi người phải có mặt trong phòng trình diễn văn nghệ, vì có một phòng độc nhứt cho toàn trại để tập họp và được kiểm soát lần chót trước khi lên đường vào sáng sớm hôm sau. Tôi tuyệt vọng. Là người mới, người ta không biết rõ tôi mấy và lời nói của người cũ mới đáng kể. Anh ta đã nói gì? Không thể biết được, người ta không giải thích.

Trong số những người khác Hubert, Pierre, Tu viện trưởng Bourgeois cũng bị đi, đó là niềm an ủi duy nhất của tôi. Tuy nhiên tôi vẫn chưa chịu chấp nhận; linh tính báo cho biết là nhà máy dưới lòng đất ấy sẽ là tai họa đối với tôi, tôi phải ở lại, nhưng làm cách nào đây?

Hồi tối, tôi đã từ biệt bạn bè và khi tôi đến Jacob, tôi ngạc nhiên nghe ông nói, vẻ tươi cười,

– Không bao giờ nên tuyệt vọng!

Chính Léonide đưa chúng tôi đi, vào giờ đã định, đến chỗ tập họp. Khối chúng tôi có mười lăm mạng. Vào phút chót, cả nhóm tù nhân Nga bạn của viên thư ký đến bắt tay tôi, không phải để từ biệt mà để tỏ tình liên đới. Họ cũng tươi cười. Tôi cảm thấy có một cái gì đó, nhưng tôi không hiểu.

Khi tôi bước vào gian phòng mênh mông, tù nhân đã chật cứng, họ ngồi bệt xuống đất. Một chiếc bàn đặt ngay lối ra vào đầy giấy tờ và nhiều người Đức thực hiện một sự kiểm soát người mới đến. Léonide làm dấu cho một người trong bọn trong khi bí mật chỉ tôi. Người kia tiến về phía tôi, bắt mạch và dường như để cho các đồng nghiệp nghe thấy, anh ta nói với tôi:

– Trở về khối của anh đi, anh bị sốt,

Khi trời lạnh giá bên ngoài đã làm tôi nhớ lại thực tại. Tôi không có chuyện với bọn Gestapo, hay với một sở cảnh sát nào. Chỉ là một chấp tranh nội bộ giữa tù nhân bị giam cầm trong trại giam bí mật nhứt.

Léonide đến với tôi, và trước vẻ bối rối của tôi, anh ta phá lên cười:

– Chính tôi và cả băng anh em, đã yêu cầu Jacob giữ anh lại. Mỗi trưởng khối có quyền làm thủ đoạn đó… tất nhiên là không một kẻ thứ ba nào được biết chuyện, và từ ngày mai, đối với tất cả một người anh là người bị đau yếu.

Và anh ta giải thích rằng Ludwig và viên thư ký khối 62, tựu trung trong số những người được tôi báo động đã đến nói chuyện với Jacob để thúc đẩy ông ta quyết định can thiệp cho tôi. Hôm sau, khi trông thấy tôi, mọi người kể cả Albert, biết rằng tôi vừa thắng keo đầu ở giây phút chót.

Tôi vừa mới có thì giờ để kiềm chế cơn xúc động lại thì ngay tuần lễ kế đó, tôi lại bị ghi tên vào chuyến di chuyển chỉ gồm toàn tù nhân Đức gốc vùng Bohéme 2. Tôi lại qua cuộc khám bệnh ở bệnh xá, nhưng Michael được báo kịp thời, đã ghi tên tôi vào loại bất lực và lần thứ hai, tôi thoát khỏi bị tống đi. Trước một vố trùng điệp như vậy, Jacob rõ rệt đứng về phía tôi và một đêm khi chỉ có chúng tôi với nhau, ông ta thú nhận:

– Ngay hôm anh mới đến, Albert bắt đầu đâm thọc anh rồi, và thành thật mà nói, tôi đã tin hắn… tôi luôn luôn tin hắn, nhưng từ lúc nói chuyện với anh, tôi thấy trong thực tế, chính sự ganh tị đã thúc đẩy hắn, và anh biết tại sao không? Chỉ vì tôi chọn anh làm thông ngôn chính. Anh nghĩ khi những người Pháp đầu tiên mới bị đưa đến đây, hắn ta là một trong số rất hiếm hoi người nói được một ít tiếng của chúng tôi và với một ít ấy hắn ta đã lừa hết tất cả chúng tôi. Bạn hắn, lại có chỗ tốt tại văn phòng kiểm soát danh sách di chuyển và hắn ta đâu có ngần ngại gì trong việc ghi tên anh vào đó.

“Cần nhất là nên tránh dừng nói đi nói lại về chuyện nầy, những chuyện y như vậy cũng đã xẩy ra khi chúng tôi chỉ có người Đức với nhau. Và đã có những cuộc đấu tranh cốt nhục tương tàn rồi mới đến được tình trạng ổn cố ngày nay. Người Ba Lan, người Nga, cũng có cặn bã trong bọn họ, và đáng buồn thay, không phải lúc nào người tốt cũng thắng…

Ông ta đi kiếm thuốc lá để trong một lon đồ hộp cũ và đến ngồi trước mặt tôi. Mọi người đã ngủ từ lâu và trong căn phòng nhỏ chỉ có Victor và Léonide ngồi đánh cờ. Người ta có thể nghe cả tiếng thở của họ như là họ muốn tôn trọng sự im lặng thiêng liêng nầy.

– Anh thấy không, – Jacob nói tiếp, – đây là thời khắc tốt nhất đối với chúng tôi, những người có mặt lâu đời trong trại, khi tất cả đều yên tĩnh. Chúng tôi không thể tham dự vào các cuộc chấp tranh nữa và kho tàng quí báu của chúng tôi là nói chuyện quá khứ…

Bị bắt từ năm 1933, từ khi chế độ Quốc Xã bắt đầu, được thả với điều kiện hứa không làm chính trị nữa, ông ta lại bị bắt, không đầy một tháng sau, với nhiều ấn bản bí mật của tờ “Rotê Fahne” (cờ đỏ) và lần nầy không còn chuyện tha thứ nữa.

– Trước hết là sáu tháng trong trại đặc biệt trong đó sự im lặng bị bắt buộc luôn luôn. Chúng tôi trở thành người máy thật sự. Sau đó là đi đắp các vùng đầm lầy ở biên giới Hòa Lan. Mình trần trong mọi thời tiết, đào nhiều con kinh sâu hai thước. Bọn SS đi thơ thẩn đọc theo con kinh, và kẻ nào vô phước ngước đầu lên, là lập tức nhận những ngọn roi trừng phạt. Không cần phải nói với anh là phần đông đã chết trong những năm đầu tiên ấy, chính chúng tôi dựng lên trại Buchenwald, Dachau và Công ty với mồ hôi và máu. Đó là vào các năm 1934, 35, 36, trong lúc toàn cả thế giới vô tư lự, sống hạnh phúc. Chúng tôi chỉ là người Đức với nhau, nhưng chúng đối xử với chúng tôi tàn bạo hơn bây giờ nhiều. Chúng tôi đều chịu đựng toàn thể bọn SS trên lưng. Chiến tranh đã chiếm mất một số lớn và bắt đầu từ trận Stalingrad, Hitler không còn tiết kiệm chúng nữa. Nơi nào có biến, ông ta liền gửi chúng đến, và cuối cùng chắc chắn là chúng sẽ bỏ xác ở đấy hết cả”.

Thấy mắt tôi đã sụp xuống, ông ta đứng dậy đi một vòng trong khối để kiểm soát. Léonide, nằm dài trên đệm rơm, sau khi học được một bài học mới của Victor, người không bao giờ thua cờ, nói với tôi:

– Đó là một gã tốt bụng, nhưng ông ta và bạn bè cũng đã hơi lẩm cẩm rồi… Từ khi tôi biết ông ta, ông ta đã kể cuộc đời mình ít ra là hơn chục lần rồi. Nay đến lượt anh, và đó chỉ mới là bắt đầu.

——————————–

1Đọc “Những Trận Đánh Lịch sử của Hitler, Sông-Kiên xb – Sách đã phát hành.
2Bohéme: Vùng đất phía Tây nước Tiệp Khắc, đó là phần đất được mở mang nhiều nhứt.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 13 Nov 2025

Phần 14 – Mẹ và những cuốn sách

Cuối năm, cả nhà bận rộn quét, lau mọi ngõ ngách trong nhà ra tận cửa, nước lênh láng từ tầng trên xuống tầng dưới…Ông Cần vì cái chân cụt, không làm được việc gì nên ngồi trên giường sắp xếp lại cái tủ sách, làm cho có việc.

Từ ngày vào Sài gòn, không biết đã là định cư chưa, bởi có nơi ông đã ở tới 40 năm, tưởng sẽ là vĩnh viển, thế mà rồi phải bán tất cả để vào ở cùng các con. Vào đây, ông mua lại căn nhà, bé hơn nhà ông ở quê, bé hơn nhiều lắm, nên ông cho cái tủ sách nằm ngay trong phòng ngủ, ở cuối giường. Cũng hay, xưa nay ông thích nằm đọc sách hơn là ngồi.

Hôm chuẩn bị chuyển nhà, ông quyết định đồ đạc tủ bàn bỏ lại hết, vào trong này mua lại. Chỉ có sách là ông tiếc, không bỏ hết được, lọc lựa thế nào cũng còn mấy thùng giấy cứng. Vào đây hai năm, mua thêm một ít, bạn bè tặng một ít thành nhiều…

Miên man với những cuốn sách, rối nhớ tới những ngày mẹ còn sống, những năm tháng khốn khó gần 40 năm trước, những cuốn sách của ông đã làm mẹ khốn khổ hơn, ông ứa nước mắt vì thương mẹ…

Ngày ấy, ông chỉ mới hai mươi, mẹ đã còng lưng theo năm tháng cực nhọc từ hồi nào rồi, thủa chưa rời quê vì bom đạn. Theo đoàn di dân vào lập nghiệp nơi núi rừng Ninh Thuận này, những luống khoai, đám mì càng làm lưng mẹ còng hơn.

Chính thể đổi thay, kéo theo mọi sự thay đổi. Gia đình ông bấy lâu nhờ vào đồng lương của người chị, anh rể là lính, đang đi cải tạo. Nay không còn lương tháng nên vất vả hơn.

Mấy tháng sau khi tạm ổn định việc đưa đi học tập cải tao các đối tượng thuộc chế độ trước. Ủy ban Quân quản có lệnh thu giữ và tiêu hủy văn hóa cũ, không phân ra loại sách nào là đồi trụy hay phản động…mà là tất cả!

Hồi còn đi học, lâu lâu chị cho tiền mua sách, ngoài sách học, thừa tiền ông mua thêm các cuốn sách mà ông thích, lần hồi cũng được chừng mấy chục cuốn.

Nhìn cái kệ sách, vuốt ve, lật xem từng cuốn…ông quyết định không đem nộp, biết rằng những cái tên tác giả nước ngoài trên bìa sách có thể lả tai họa! Ông lấy một cái bao gạo, loại bao 50 kg, sắp gọn tất cả vào, rồi cho

xuống gầm giường, đẩy sâu vào góc tường, dự tính nếu nghe có đi kiểm tra thì mang vào rẫy dấu đâu đó.

Cả thôn rầm rộ đem nộp sách, truyện…Có người một hai cuồn, có người mang cả chồng báo Playboy, có người là thầy giáo dạy học bao năm, cho xe kéo đến mấy thùng, toàn Tự điển, sách nghiên cứu giảng dạy, văn học, lịch sử thế giới…Tất cả được cho vào kho trụ sở. Bạn thân ông làm Tuyên Văn Giáo thôn, từng học Đại học Văn, khoa Việt-Hán tại Đại học Đà lạt, cả hai đứng nhìn mà lòng tiếc xót!

Chừng hai tháng sau ngày 30/4/1975. Ông cùng bạn được gọi lên trụ sở thôn. Cán bộ trên xã về lảm việc, bạn ông được giao cho làm Tuyên-Văn- Giáo, còn ông, cho đi học hai tuần về làm Kinh tài thôn.

Bạn ông cũng như ông, thương mấy cuốn sách lắm, nhưng cha của bạn ấy là Công chức chế độ cũ, không cho ông giữ lại, buộc phải đem nộp hết! Hai đứa phụ bưng các thùng sách vào kho mà tâm trí cứ băn khoăn không biết người ta có duyệt, chọn lọc loại nào cần tiêu hủy, loại nào cần trả lại hay không. Chẳng lẽ tất cả đều là đồi trụy và phản động hết sao!?

Lâu lắm rồi, kể từ ngày đem sách đến nộp, không thấy ai nhắc nhở gì đến chuyện tiêu hủy hay giải quyết thế nào về số phận của những cuốn sách, những chỗ dột làm ướt một số, một số bị các ủy viên lén lấy về làm giấy đi vệ sinh. Căn phòng được trưng dụng làm kho cũng là phòng đặt máy phóng thanh, trong các ban ngành, Kinh Tài là ban thông báo nhiều hơn hết, từ gạo, mắm, dầu lửa đến vải, nilon…Hằng ngày ông vào thông báo trên loa phóng thanh cho bà con trong thôn, cứ thấy đống sách là ông xót ruột mặc dù chẳng phải của mình.

Một hôm, trong trụ sở thôn không có ai, ông nấn ná ngồi lại sau khi thông báo xong. Lật xem mấy cuốn, toàn sách của những tác giả ông thích:

F. Dostoievsky, E. M. Remaque, A. Camus, J. P. Sartre, V. Gheorghiu…nhiều tác giả, tác phẩm mà Cha Mai Nghị, dạy môn Triết ông hồi còn đi học hay nhắc đến nhưng ông chưa được đọc. Số sách này phần nhiều ký tên Lê Thanh Dân, một thầy giáo dạy Văn ở Quy Nhơn đem nộp. Ngày thầy đem sách đến, ông đứng bên thầy, nhìn thầy húng hắng ho. nhìn nước da tái xanh và đôi mắt đỏ như muốn khóc mà thương…

Biết chắc là không có ai, ông lấy cuốn “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, cho vào chiếc túi mang về. Cuốn này, bao nhiêu lần ông đứng ngắm nó trong hiệu sách, nhưng không dám hỏi mua vì biết chắc rất đắt, nhìn độ dày của nó cũng đủ biết! Ông khóa cửa phòng lại, đi ra mà lòng lo sợ đủ thứ chuyện, lỡ có ai đi vào, dọc đường gặp ai đó tò mò hay một cán bộ xã…Ông đi như chạy, vào trong nhà, ngồi trên giường mà tim ông đập như vừa chạy bộ mấy cây số, vội vàng cho xuống gầm giường, dự tính vài ngày sau mới lôi ra đọc.

Được một lần, đọc xong, rồi những lần sau ông lấy hai cuốn, ba cuốn tùy độ dày mỏng của những cuốn sách. Tò mò về Chủ nghĩa Cộng Sản, ông lấy những cuốn liên quan về Chủ nghĩa này, đọc ngấu nghiến hằng đêm.  Đọc xong, ông cho thêm vào bao gạo, chẳng bao lâu, phải kiếm một cái bao khác…Cứ thế, lấy về, đọc xong cho vào bao, đã bốn cái bao đầy mà không ai phát giác hay nói chuyện mất sách trong kho, chừng như ai cũng có lấy về đi vệ sinh, nên chẳng ai thèm thắc mắc gì!

Có một hôm, cán bộ phụ trách an ninh, họp toàn dân phổ biến lệnh kêu gọi những ai còn tàng trữ sách báo chưa nộp thì đem nộp tiếp, phát giác ai còn cất giấu thì tố cáo với chính quyền để thu hồi…Ông ngồi nghe mà lo sợ cho những cuốn sách, lo sợ cho bản thân sẽ bị quy là ngoan cố hay phản động! Ông muốn đem đi nộp nhưng lại ngại là sẽ bị hỏi sao lâu nay không nộp!

Mấy ngày sống trong âu lo, cuối cùng, ông quyết định sẽ dần dần mang vào đám rẫy gần nhà. Khi đã chuyển vào hết, mẹ cùng ông đào một cái hồ, lót một lớp nilon ở dưới, phủ một lớp bên trên rồi lấp đất lại. Cả hai mẹ con vừa đào vừa hồi hộp, thỉnh thoảng ông chạy ra đường đi nhìn trước nhìn sau…Kể từ hôm đó, ông không đọc mà cũng không lấy thêm cuốn sách nào!

Chừng hai tháng sau, cả ông và bạn đều bị cho nghỉ việc thôn. Một ông lớn tuổi, từ Quảng Ngãi vào được thay ông làm Kinh tài, một anh bên chi đoàn Thanh Niên thay bạn ông làm Tuyên Văn Giáo.

Nghỉ việc thôn, bạn ông bị gọi đi Nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong, còn ông, có mẹ già nên được miễn.

Ở cuối đám rẫy cùa mẹ, có một bộng mối rất lớn, một hôm trời trở mưa, mối bay đầy, bay cả vào mặt ông. Lo cho mấy bao sách, ông bàn với mẹ đem về lại nhà, thời gian này thấy cũng êm êm, không còn nhắc chuyện nộp sách nữa. Hai mẹ con lại đào lên rồi lần hồi chuyển về, dấu sau đám mì của lô gia cư. Ông lại đọc những cuốn chưa kịp đọc, chuyền cho những bạn thân của ông cùng đọc.

Anh rể đi cải tạo về, làm rẫy chỉ khoai lang và mì không đủ qua ngày bèn đưa chị và đứa con vào Long Khánh làm ăn. Cũng không khấm khá hơn là bao. Nhà chỉ còn ông và mẹ.

Kinh tế càng lúc càng khó, ông đi buôn tàu lửa cùng những người dân trong vùng. Dân buôn xứ ông đầy sân ga…Đi buôn cũng không đủ gạo cơm mắm muối, phải ăn độn mì, khoai. Một hôm, mẹ ngại ngần nói:

-Con lựa cho mẹ mấy cuốn sách đã đọc rồi.

-Làm gì vậy mẹ?

-Mẹ bán cho mấy người bán hàng, họ gói hàng.

-Sách khổ nhỏ họ có mua không mẹ?

-Họ cắt nhỏ gói bột ngọt, ớt bột, tiêu…

Ông ra sau nhà, giữa mấy luống mì ngồi lựa, cuốn nào cầm lên cũng tiếc! Ông đem cho mẹ năm cuốn. Mẹ cho vào bao rồi mang ra chợ!

Vốn không có, đi buôn càng khó, chái bếp nhà ông đã dỡ hết tôn đem bán lần hồi, tội nghiệp mẹ phải ngồi nấu nướng giữa nắng, những lúc mưa phải dời bếp vào trong nhà! Vốn cứ cụt dần vì vừa ăn, vừa bị bắt mất hàng.

Chị cả ông ở Quảng Trị vào thăm, mẹ và chị ôm nhau khóc suốt mấy ngày. Hôm về, chị bảo ông cùng ra quê. Mấy ngày về quê không vui, anh chỉ gặp được các cháu nhưng chúng còn nhỏ, ông dành một ngày đi thăm mộ cha và bà con, hôm sau ông vào lại. Đứng trước sân nhà, chị sụt sùi:

-Chị muốn đưa mẹ và em về làng, nhưng em không làm ruộng Hợp tác xã nổi đâu. Chị còn mấy chỉ vàng, em cầm hai chỉ làm vốn mà buôn bán.

Ông òa khóc, còn khóc to hơn chị! Nhìn túm gạo chị ông cột sẵn cho ông mang vào, chỉ chừng 10 kg, nhưng ông lo không biết có mang vào được không!

-Em sợ không mang gạo vào được, hay chị để lại, có vốn rồi, em vào đi buôn mua gạo trong đó cũng được, mất uổng lắm!

-Mất thì thôi em ạ.

Chị đưa anh ra cổng làng, ngay trạm kiểm soát này đã không qua được. Chị năn nỉ mãi nhưng cũng đành mang về, may mà gặp thằng cháu trong họ gác trạm, nếu không thì đã bị tịch thu.

Có hai chỉ vàng, ông bán đi làm vốn, theo một người bạn đi buôn xe đạp từ Sài gòn về bán trong địa phương. Một lần đi, ông mua hai chiếc, thỉnh thoảng có người đặt mua xe cũ, ông mua thêm một chiếc theo ý người đặt. Đi buôn xe đạp thì đi bằng xe đò, ít vất vả nhưng hồi hộp hơn là đi xe lửa, bởi phải qua nhiều trạm kiểm soát, nhờ tài xế và lơ xe năn nỉ cũng qua lọt. Không chi cho trạm thì chi cho tài và lơ. trạm tốn nhiều, tài xế ít hơn!

Ông đi được chừng sáu chuyến, mẹ mừng vì bớt nổi lo gạo mắm.

Chuyến cuối, ông từ Sài gòn về vừa vào nhà, mẹ ghé tai ông thì thào:

-Họ đến tìm con!

-Ai vậy mẹ?

-Du kích và công an! Ông nhìn mẹ lo lắng, nói:

-Mình có làm gì đâu mà sợ mẹ, chắc chuyện đi buôn thôi!

Mẹ không bớt lo âu nhưng cũng xuống dọn cơm, hai mẹ con vừa ngồi vào bàn thì ba du kích cùng công an xã đi vào:

Với lý do không xin phép đi lại, anh bị bắt. Ở trại tạm giam huyện, anh được biết thầy dạy Lý- Hóa của anh và ba người bạn học khác, bị bắt trước anh nhưng cũng cùng ngày!

Hơn hai năm bốn tháng, ông trở về cùng mẹ, lệnh tha ghi tội danh là: “Nhen nhóm âm mưu lật đổ chính quyền”. Thầy ông phải ở thêm ba năm nữa mới được tha.

Chiều hôm trở về, mẹ mừng quá, hét lên khi ông vào nhà. Đôi tay gầy guộc ôm lây ông khóc mếu máo!

Sáng hôm sau, ông hỏi mẹ về mấy cuốn sách. Mẹ buồn rầu:

-Mẹ bán dần dần đi thăm nuôi, còn mấy cuốn thôi con ạ!

Anh cười lớn, nói cho mẹ yên lòng, mặc dù còn nhiều cuốn ông chưa kịp đọc:

-Hết thì thôi, con đọc hết rồi mẹ ạ.

Những ngày trong tù, hàng tháng mẹ đi thăm đều đặn. Mẹ kể chuyện làng xóm, người xắt cho ký thuốc rê, người cho đường tán, bánh tráng…Mẹ không tốn gì, chỉ bán vài cuốn sách mua cho anh ít đồ ăn ngay như bánh mì, xôi, gói chè, nải chuối…

Mẹ lôi cái bao gạo dưới gầm giường, anh sắp mấy cuốn sách ra xem: “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, “Exodus” của Leon Uris, “Hố thẳm thư tưởng” của Phạm Công Thiện, “Giọt lê và nụ cười” của Kahlil Gibran và “Sử thi Mahabhahta” của Ấn độ.

Những cuốn sách này dày hoặc do bìa mới, mẹ cho là hay, có lẽ ông quý hơn cả nên chừa lại!

-Mẹ bán luôn đi, con cũng đã đọc những cuốn này rồi.

Bữa cơm trưa có thịt bò nhờ mấy cuốn sách nặng ký, ông thầm nghĩ: bữa ăn gồm: Văn học Nga, Ấn độ, Ả rập, Việt nam và Mỹ(*) mà không thịnh soạn sao được! Ông cười, gắp miếng thịt bò bỏ vào chén mẹ:

-Thịt bò ngon quá mẹ ạ, mẹ cùng ăn chứ sao con ăn hết được!

-Lâu lâu mới có người ở Động Mé lên bán xương bò của HTX, mẹ mua được cái xương, lóc thịt ra đó.

Năm cuốn sách dày và hay, mua được cái xương bò. Ông muốn cúi đầu tạ lỗi, tạ lỗi với những ai đã viết, đã dịch, đã bỏ công sức làm nên những cuốn sách!

Sài Gòn, Tháng I, năm 2016.

(*) – “Anh em nhà Karamasov” của Dostoievsky: Nga.

– “Exodus- Về miền đất hứa.” Leon Uris: Mỹ.

– “Hố thẳm tư tưởng” của Phạm Công Thiện: Việt Nam.

– “Sử thi Mahabhata”: Ấn Độ.

– “Giọt lệ và nụ cười” của Kahlil Gibran: Ả Rập.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 13 Nov 2025

Phần 14

Quê nội, quê ngoại

Tuổi tôi đến nay đã già quá 6 bó, chưa lú lẫn, song dường như trí nhớ của tôi không được khá, có lẽ tâm trí tôi đã vật lộn với quá nhiều đau khổ trong dĩ vãng và với quá nhiều “bill bộng” trong hiện tại. Ở cái xứTây phương này, ra đường nhiều khi không có một xu dính túi, song thẻ nhựa thì một đống, cà cái này bị xù thì cà cái khác, cái nào cũng bị xù có nghĩa là mình trở thành vô sản! Chỉ vài cái bị xù là nạn nhân biết là mình phải phờ người trả nợ. Nợ nước thì khất lần mãi từ năm này sang năm khác không thấy ai phone hay gởi giấy đòi, nhưng nợ visa thì nó nắm đầu không thoát được. Đố có một ai ở xứ này thoát được nợ visa.

Đương đầu với mấy cái thẻ nhựa này nhiều khi muốn khùng, lãng trí chút chút là may lắm rồi. Dù vậy, trí nhớ của tôi lùi về 6 thập niên trước lại vẫn còn nguyên như in. Lúc tôi ra đời không phải là thời đại xài thẻ nhựa visa, đồng hồ!

Mẹ tôi sinh tôi tại một nơi mà người ta gọi là Cây Trôm. Làng Cây Trôm là quê ngoại của tôi, nơi Mẹ tôi tá túc khi sinh đứa con đầu lòng, và về ở với Mẹ để nhờ chăm sóc.

Cây trôm làng Ngoại tôi là một cây đại thụ to lớn, gốc cả chục người ôm, nằm ngay bên đường liên tỉnh lộ 8 từ Phan Thiết lên Ma Lâm, Thiện Giáo, cách Hầm Đá chừng hai cây số, và cách Phan Thiết chừng 5 cây số về phía Bắc

Từ Phan Thiết lên, nó nằm bên tay phải. Nhà Ngoại tôi bên kia đường, đốì điện cây trôm, trước nhà là một ao rau muống khá lớn. Cách nhà Ngoại tôi về hướng Tây Bắc là một cái bàu lớn, nước quanh năm. Tôi đã từng tắm và vọc nước ở cái bàu này mỗi khi theo mấy ông cậu đem trâu đi uống nước…

Khi sinh tôi ra, con so, Mẹ tôi đau bụng từ đầu hôm, đau mãi mà không sinh được, tôi ngoan cố nằm lì trong bụng Mẹ, đến gần sáng hôm sau tôi mới chui ra. Thuở ấy Mẹ đâu có đồng hồ, và cũng chẳng biết trên đời này có cái chạy tích tắc kỳ cục đó, nên bà không biết giờ giấc chính xác lúc sinh ra tôi, bà cứ nói đại cái ngày bà đau bụng là ngày sinh, mà tôi đâu chịu ra đời lúc bà đau bụng. Giờ sinh, ngày sinh của tôi không chính xác, nên mấy ông thầy chấm và luận tử vi của tôi, ông thì giải Nam Tào, ông thì luận Bắc Đẩu. Về sau này đảng đì đi tù cải tạo khổ quá nên ai hỏi tôi tuổi giáp con gì, tôi bảo tuổi con dế cho tiện!

Mẹ tôi bám trụ theo Ngoại tới khi tôi lên 6 tuổi bà cho ra riêng. Cái nhà tranh đầu tiên của Mẹ tôi lại ở ngay dưới gốc cây trôm, cách nhà Ngoại tôi chỉ một con đường lộ nhỏ. Mẹ tôi vẫn không muốn xa Ngoại, tôi cũng vậy. Mỗi lần lục nồi cơm nhà không có, tôi chạy sang Ngoại là có ngay thức ăn. Ở với Mẹ mà hầu như tôi ăn cơm bà ngoại hàng ngày. Bà thương tôi, vắng tôi bà nhớ, bà kiếm. Hồi nhỏ, dường như tôi hơi cứng đầu. Mỗi khi Mẹ tôi rút roi là tôi phóng như bay qua Ngoại. Ngoại tôi thương cháu, có lần bảo Mẹ tôi:

– Có gì tao chịu. Tao không muốn ai đánh đòn cháu tao!

Tôi rút gọn vào lòng ngoại tôi, cảm thấy ấm áp, an toàn. Một hôm tôi chơi hoang, mình mẫy dính đầy nhựa trôm, thứ nhựa người ta bảo có thể ăn với đường cát, song tôi dùng nó ném nhau với đám trẻ, mặt mày lem luốc, quần áo nhầy nhụa, Mẹ tôi giận phết cho mấy roi. Tôi tức mình. Trong lúc bà ra chợ làng mua cá, tôi lủi thủi bỏ nhà đi hoang.

Không hiểu tại sao lần này tôi không qua Ngoại mà lại trở chứng đi về hướng Phan Thiết, đi cho đả nư. Nhưng đến đường công hương về hướng Xuân Phong, tôi chợt nhớ Nội tôi. Xuân Phong là quê bà Nội tôi. Tôi lẹt đẹt theo mấy bà bán cá về nhà Nội, nơi Ba tôi thường dắt về quê Nội trong những ngày cúng giỗ…

Chiều và đêm hôm đó, cả làng Cây Trôm đổ ra đi tìm thằng nhóc mất tích. Mẹ tôi, Ngoại tôi điên loạn như người mất hồn. Ngoại tôi hụp lặn bàu Cây Trôm suốt đêm để tìm xác cháu vì nghĩ rằng tôi tắm bàu và chết chìm. Mỗi lần tôi bị đòn là tôi chạy sang ngoại ngủ. Chưa bao giờ tôi đi hoang. Ngoại tôi khóc hết nước mắt, sai ba tôi qua Xuân Phong cho Nội tôi hay. Nửa đêm, tôi nghe tiếng Ba tôi gõ cửa. Ông mếu máo nói cho Nội tôi nghe chuyện tôi mất tích. Trong mùng, tôi nghe Nội tôi cười và bảo:

– Vào trong mùng xem phải thằng con mày nằm đó không?

Tôi lớn lên trong giặc giả, chiến tranh. Mỗi khi chạy giăc, Mẹ tôi bỏ tôi vào một đầu gánh, đầu bên kia Mẹ bỏ gạo cá, nồi niêu… Chạy giặc, Mẹ chạy băng đồng theo những người hàng xóm. Mỗi lần đầu thúng tôi ngồi chạm bờ ruộng là mỗi lần tôi bị xoay tròn. Tôi không nhớ tôi đã bị xoay bao nhiêu vòng trong đời chạy giặc, trong vòng đời cơ cực của Mẹ tôi. Bà lúc đó chỉ khoảng trên 20 gì đó. về sau, Mẹ tôi sinh thêm vài đứa em và Nội tôi đem tôi về nuôi. Tôi xa cha mẹ để về quê Nội.

Tôi về ở với Nội trong một căn nhà tranh nhỏ gần đường xe lửa, và trường tiểu học Trinh Tường, Phan Thiết là trường đầu tiên tôi gom nhặt mớ chữ nghĩa cho cuộc đời thơ ấu. Tôi lớn lên với những trận đá banh trầy da tróc vẩy với lũ nhóc trên ruộng rạ mùa khô, với những chiều coi xe lửa về từ Mương Mán chở đầy hành khách, và lớn lên từ mái trường tiểu học cho đến khi lên trung học bằng cơm gạo Nội tôi. Ngày tôi thi đậu đệ thất vào trường Phan Bội Châu, Nội tôi mừng rỡ cúng một con gà trống thiến tổ chảng. Bà hãnh diện về đứa cháu của bà.

Đến trường Phan Bội Châu, mỗi buổi sáng, tôi đi dọc đường xe lửa, qua khỏi ga Phan Thiết, theo đường Nguyễn Hoàng, qua khỏi chợ Phường là đến trường. Hai cực nối thời thơ ấu của tôi là mái nhà tranh Nội tôi và trường Phan Bội Châu. Con đường xưa tôi đi là đoạn đường xe lửa từ nhà đến ga Phan Thiết.

Khi tôi trưởng thành, tôi rời ngôi trường trung học để vào học tiếp ở Sài Gòn, và đó cũng là lúc tôi xa Nội tôi. Hơn 10 năm trời ở với Nội, tôi ra đi, để lại khoảng trống hắt hiu trong đời bà. Nội tôi đoạn ruột khi tôi rời ngôi trường Phan Bội Châu và mái nhà tranh mà cháu bà hủ hỉ có nhau.

Thuở ấy, tôi đi về Sài Gòn – Phan Thiết bằng xe lửa. Mỗi lần nghe tiếng còi tàu và tiếng toa xe sầm sập trên đường sắt, bà lại nhớ đến tôi. Những năm về sau, chiến tranh bắt đầu trở lại. Nội tôi chỉ biết khi nghe súng nổ, bà chui xuống hầm, hết tiếng súng, bà ra khỏi hầm, ngoáy trầu, tặc lưỡi. Bà cũng không hề biết chiến tranh đã cuốn hút thế hệ tôi vào lửa đạn.

Sau khi tôi vào Thủ Đức và lưu lạc đó đây, Nội tôi chuyển nhà về Xuân Phong. Cứ mỗi lần có dịp công tác về Phan Thiết, tôi đều ghé thăm Nội. Nội chỉ biết tôi đi lính, Nội không có ý niệm gì về cấp bậc. Tôi có cảm tưởng Nội vẫn nghĩ tôi là thằng nhóc của hàng chục năm trước. Nội coi đám lính theo tôi như mấy đứa bạn đá banh với tôi tự thuở năm nào. Có lần tôi về thăm bà, theo tôi là mấy người lính dưới quyền, bà kêu nguyên một gánh đậu hủ:

– Này, cháu múc cho mấy đứa cháu tôi mỗi đứa một tô! Tụi nó ăn bao nhiêu, tính tôi trả tiền! Tội nghiệp, cả năm nó mới về một lần!

Ngày tôi đi tù cải tạo, bà cứ thắc mắc tại sao quá lâu không thấy tôi về thăm bà. Mỗi lần giỗ chạp, mọi người về đông đủ, chỉ thiếu tôi, bà chống gậy hết ra cửa trước đến xuống cửa sau:

– Không biết sao thằng cháu nội của tao không thấy dìa, nó đi đâu mà biền biệt!

Trong lần lễ giỗ ông Nội tôi, bà vào ngồi buồn trên bộ ván nhà sau, rồi lại cũng nhắc đến tên tôi. Dường như không có tôi, bà thấy đám giỗ thiếu vắng một cái gì. Nhà trước đầy người, kể cả những nón cối, giép râu con cháu xa gần thời “cách mạng”. Bỗng không biết đứa nào đến gần bà, thì thầm vào tai bà:

– Nội đừng chờ anh Hai nữa! Ảnh bị Việt cộng bắt đi cải tạo 2 năm rồi, bộ Nội không biết sao?

Nội tôi lãng tai, nói lớn:

– Diệt cộng là bọn nào dậy? cải tạo là cái gì dậy bây? Mà tại sao lại bắt nó?!

– Nội nói nho nhỏ dậy! Việt cộng là mấy ông “cách mạng”, còn cải tạo là ở tù đó Nội!

Nội tôi thảng thốt, như nhận biết một cái gì không lành, bà bỗng tuột xuống khỏi bộ ván ngựa, bỏ ống trầu vào giỏ và chống gậy ra nhà trước. Mọi người đang ăn uống ồn ào, vui vẻ. Nội tôi thắp một cây nhang, tay run run cắm lên bàn thờ ông Nội, lâm râm khấn vái điều gì không rõ. Bỗng bà quay ra hỏi mọi người đang ngồi ăn:

– Thằng Hai cháu của tao nó hiền khô như cục đât, nó tội tình gì mà bắt nó ở tù hai ba năm không thấy dìa? Tụi bay biết nó ra sao nói cho tao nghe coi!

Bỗng có tiếng trả lời Nội, một người cháu nón cối, giép râu của bà:

– Ngoại đừng lo, cậu ấy là sĩ quan ngụy, cậu ấy có tội với nhân dân nên đảng gởi đi cải tạo, chắc không lâu đâu ngoại!

– Sĩ quan ngụy là cái gì? Nó làm gì mà có tội với nhân dân, nhân dân là cái gì hả? Đảng là thằng nào mà nhốt tù cháu tao cả mấy năm không thả? Thiệt là cái quân bất nhơn ác đức.

Nói xong, bà chống gậy ra nhà sau. Cả một bàn ăn trơ mắt nhìn ba. Bầy con cháu bà sau năm 75 là một tập hợp quốc-cộng. Giới nón cối giép râu chắc ăn không ngon vì những lời nguyền rủa của Nội tôi. Mấy ông anh bà con gốc lính “ngụy” của tôi nheo mắt nhìn nhau và bỗng cùng nhau đưa mấy ly xá-xị lên:

– Bà Nội vạn tuế! Bà Nội muôn năm! Dô! Dô! Dô!

Những năm sau đó, bà yếu và lẫn dần, song hầu như điều bà còn nhớ duy nhất là nhắc tên thằng cháu nội. Trong đầu bà là hình ảnh đứa cháu bà chắt chịu nuôi nấng, và cái quân thất nhơn ác đức nào đó là ai bà không có ý niệm rõ ràng. Thỉnh thoảng con chaú nghe bà chắt lưỡi:

– Thiệt là cái quân thất nhơn ác đức! Đảng là bọn nào dậy bây?

Khi tôi thoát củi sổ lồng, xa cách Nội tôi nửa vòng trái đất, mỗi lần nghĩ về quê hương là mỗi lần hình bóng Nội tôi ẩn hiện đâu đó trong ký ức. Trong những ngày cuối đời, Nội chỉ nhắc có tên tôi, buồn bã, đoạn ruột.

Nghe tin Nội tôi mất, tôi bồi hồi nhớ lại những ngày ấu thơ. Tôi bỗng muốn đi lại con đường quê cũ, con đường có bóng cây râm của những ngày trốn nắng buổi trưa, con đường của những ngày thơ ấu cắp sách đến trường, con đường của thơ và mộng, và hôm nay, dĩ vãng như chợt đùn đọng từ cơn mơ bất chợt hiện hình, tôi bỗng thấy vô cùng đớn đau, cay đắng khi biết mình không thể về lại cái nơi mà hơn 60 năm trước tôi gởi một nhúm nhao và một phần đời yêu dấu…

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

6. Chương 6

Trở lại, thử tìm hiểu cảnh ngộ quan Phan khi đi sứ sang Pháp xin chuộc đất và thử so sánh hai vua:

Vua Pháp Napoléon III và Vua Tự Đức

Dẫn

Nơi bữa tiệc Chủ Nhựt 2 Novembre, anh em còn sót của nhóm Bách Khoa Thời đại, không kể tôi, có năm bạn là chủ gia (anh Lê Ngộ Châu), anh chủ nhà sách Khai Trí (Nguyễn Hùng Trương), chú nhỏ Nguyễn Q. Thắng, xưng là môn đệ, anh Lê Thanh Thái và Nguyễn Minh Hoàng, năm lương hữu đãi một tiệc thịnh soạn, và khi đèo xe ôm Q. Thắng đưa về, mấy câu Hoàng tặng làm cho tôi bùi ngùi, nào là: “Người ta chín chục thì già, riêng ông chín chục, vẫn là đương xuân”, và nào là: “Trời còn dành sắn mười năm, Để cho nợ bút duyên văn còn dài”…

Tôi xin thanh minh: ai ai lại khỏi già, và hề già, tức sức lực suy, tôi cũng không qua khỏi thông lệ ấy, duy tật ham nói khó chừa, nay xin bộc bạch. Bấy lâu, tôi thường nghe đầy tai lời trách quan Phan “làm cho mất nước” và vua Tự Đức là đứng đầu về tội ấy. Thấp cổ bé miệng, tôi có dại gì cãi họ, duy trong thâm tâm riêng tưởng họ chưa tới mắt cá quan Phan, và tội nói oan ai lỡ lời nấy chịu trách nhiệm. Từ ngày Giải phóng vô đây, thay vì ăn phở sáng, tôi nhịn tiền lục mua sách nơi chợ trời, vì vậy quen với Hoàng, và duyên may, tôi gặp nhiều sách Pháp và Việt, mà tôi cho là quí, tỷ như những cuốn hay bộ:

– Les premières années de la Cochichine của Paulin Vial (Challamel, Paris, 1874) tôi mua của Tuấn, giá 20 đồng, ngày 2-10-1978, mà thử nay có ai nài 200 ngàn, thà đối chớ tôi không bán; (mục lục vô sổ nhà tôi là 581B/IB;)

– L’Empire d’annam của Capitaine Ch. Gosselin (Perrin et Cie, 1904) mục lục số 437 B, cuốn nầy tôi có từ lâu, không phải mua tại Chợ Trời;

– Les grands procès de l’Histoire của Henri Robert (Payot, Paris, 1934) mục lục số 550m mua ngày 2-03-1978, ở Chợ Trời giá 3 đồng, nói nhiều về Napoléon III; – Histoires d’Amour de l’Histoire de France (Editions Noir et Blanc, 1965) của Guy Breton, một bộ 10 cuốn dày cỡ 300 trang, kể đủ chuyện tồi bại, đau bịnh kín, loạn luân của các vua chúa nước Pháp từ xưa đến nay, (không số mục quên già và khen Pháp đã cho xuất bản).

– Histoire de la Concession Française de Changhai của Ch.B. Maybon et Jean Fredet (Flon, Paris, 1929) (mục lục số 581-B/ter mua tháng mars 1977ở Chợ Trời, giá 15 đồng, sách này bị mối gặm nhưng hay kịp ngày 10-12-1978…)

Xin hỏi sách nói về tô giới của Pháp chiếm đất Tàu, nhưng đã bị Tàu lấy lại rồi, sách ấy có ăn thua gì đất mình mà hòng nói ra đây, nhưng sự thật, sách ấy quí và hay vô cùng, vì chính sau khi đọc, tôi mới hiểu đầu dây mối nhợ của sự Pháp qua chiếm đoạt đất mình, chưa ắt do quyết tâm và quả do một sự bất ngờ, cho hay theo tôi đã hiểu theo lối xưa và thơ vận mạng tỷ như nước ta không phải do người định đoạt mà một phần nào do sự định đoạt và sắp sẵn ở trên cao, theo dân ngu thường hiểu là do ông trời làm ra, và xin để cho tôi lần lượt trình bày ra đây, vả lại việc tôi viết đây, tôi không có ý chút gì gọi là khảo cứu và chẳng qua là viết để giải khuây để cho cháu con trong nhà thông hiểu chút ít những gì tôi thâu thập được, qua sách Hán đã có người hay giỏi như ông Trần Trọng Kim dịch sẵn (Việt Nam sử lược) và qua vài sách Pháp do tôi mua sắm, và tôi xin giải bày như sau:

Vào giữa thể kỷ thứ XIX, nước Tàu dưới triều nhà Thanh, bắt đầu suy yếu, không khác một ông khổng lồ to lớn mà có hai chưn bằng đất sết bệu xệ không chở nổi thân, và bắt đầu các nước Tây phương trở nên cường mạnh đông dân, nhờ có súng bắn xa và tướng binh hay giỏi, nên định địa, khai thác thu hoa lợi đem về nước mình, tỷ như:

– Nước Bồ Đào Nha, nhỏ bé mà sớm thấy xa, đã chiếm đất Ma Cao của Trung Quốc,

– Nước Đức thì chiếm miền Bắc nước Tàu làm hải cảng lớn thuộc tỉnh Sơn Đông và Uy Hải Vệ (Weihaiwei);

– Nước Anh thì chiếm Hương Cảng (Hongkong), v.v..

Từ bắt đầu năm 1840, có trận giặc nha phiến, binh Ăng lê đánh chiếm đất Tàu, vua Minh Mạng giựt mình, dặn dò cháu con không nên chơi với người mũi lõ da trắng, ông xa người Pháp và nều ông thắng tay bắt đạo, không dung dưỡng người Tây phương gieo rắc đạo mới, khiến cho dân bỏ tục thờ cúng ông bà tổ tiên, theo tôi, đó là quyền của ông, nước Pháp, dưới triểu Napoléon III, sắn người hay giỏi phò trợ, nên kéo binh đi “chia thịt” của nước Tàu, Pháp xua binh toan đánh chiếm quần đảo Formose (Đài Loan), nhưng tướng Rigaut de Genouilly đánh Tàu không thấy thắng, đang khi bối rối ngã lòng, lại được có người chỉ chọc, nên kéo binh qua kiểm chuyện là binh vực đạo mới, đánh thắng binh ta và thấy thế ta yếu, ăn quen làm già, tế ra cái rủi là Tây thua bên Tàu qua đây gỡ thẹn rồi xâm chiếm, và vua Tự Đức, bình sanh chỉ hay giỏi về chữ nghĩa thi thơ, trong nước lại không người giỏi về binh bị, cái trung cang nghĩa khí có thừa, mà lấy tầm vong vạt nhọn và súng hỏa mai khọt khẹt bắn không được xa, lấy những binh khí yếu hèn ấy mà chống với súng mousqueton từ xa bắn tỉa đến và lấy dao cùn mác lụt mà đâm tàu sắt tàu đồng, thì xin hỏi có ông nào tướng nào đủ thay vua Tự Đức, thay ông Nguyễn Tri Phương? Và có ông nào thay ông Phan Thanh Giản mà làm hơn ông bao giờ?

Tôi xin lẩy những gì tôi đã đọc và thấy, trình bày ra đây để chư độc giả lấy bình tâm và công tâm dạy cho hoặc xét lại theo sự hiểu biết và thông cảm của người đời nay đổi với việc xưa triều vua Tự Đức:

Tôi nay đã quá già, nên không còn hơi sức đâu mà nhắc lại những chi tiết vặt cạnh của cuốn Histoire du Consulat de Changhai, dày đến 458 trang, giấy khổ 31×25, tôi chỉ nhớ sơ lược chính người Pháp giữa thế kỷ XIX, ý có binh ròng tướng mạnh, quyết tâm chia xẻ nước Tàu với những cường quốc khác, rồi khi gặm nhắm Trung Quốc không xuể, Pháp bèn day qua làm thịt nước Nam của chúng ta, và rốt lại, vì đánh không thắng nổi Tàu, mà ta bị mất nước, và lời nói ngạo mạn của Pháp “Người lang sa là những kẻ rất dốt về môn sử địa”‘ lời nói giả ngộ mà có thật:

– Một lần muốn nuốt Tàu, nuốt không vô, day qua xơi ngon đất Nam kỳ lục tỉnh!

– Một lần đầu, lối 186… tưởng sông Cửu Long thông được tới Vần Nam, Tây đánh đoạt Nam kỳ, làm cho chết một Doudard de Lagrée và một Francis Garnier;

– Một lần nữa, lối 1884, tưởng Nhĩ Hà sẽ đưa lên đất Tàu, khiến chết một đại tá Henri Rivière, và lần chót, trận Điện Biên Phủ, ta đã được phục thù và không quên ơn lớn của binh đội Cộng sản V.N. mà Tây cũng vì khinh người nên như vậy.

Tôi nhớ đại lược và viết sơ lược lại đây nghe chơi, tỷ như Henri Rivière, mình ngồi trên ngựa cao lớn, tưởng là vững chắc, nào ngờ đã bị một dõng sĩ của phe Cờ Đen, (Lưu Vĩnh Phúc cầm đầu), dõng sĩ ấy tay cầm dây đại kỳ có kết móc sắt bén nơi bìa, thình lình phất mạnh cây cờ vào mình H.Rivière và kéo xển y ta xuống đất, binh Tây cứu không kịp, binh Cờ Đen chạy ra chặt đầu Rivière, bêu lên cao, tin nầy khi qua tới triều đình Pháp, thì Nội các đổ, Nội các khác lên cẩm quyền và bày cuộc bắt thăm hỏi ý kiến nên chống giữ đất Bắc kỳ, hay nên trả lại cho nước ta, thì chi có 274 thăm quyết giữ, và 270 thăm nghị trả đất, té ra cuộc bắt thăm ấy chứng tỏ triều đình Pháp lúc ấy cúng phân vân lưỡng ước, và than ôi, nước Nam ta bị lây đô hộ tám chục năm là chỉ tùy có BỒN LÁ THĂM, nhưng nói cùng mà nghe, tính qua lợi hại, theo ý ngu tối của tôi, từng bị đè đầu mới sáng mắt ra và dưới đây, tôi xin so sánh và luận qua giữa hai vua Nam và Tây, xem ai đạo đức và ai là gian xảo:

Trước luận sơ về vua Tự Đức và tình hình triều Nam thời ấy.

Tôi đọc quyển l’Empire d’Annam của Ch.Gosselin, tôi thầm phục ông Tây nầy, qua đây không bao lâu mà thông hiểu chuyện nước ta hơn chúng ta rất nhiều, tôi xin tóm tắt đại lược, theo những trang tôi đã đọc:

– Vua Gia Long băng năm 1820, thọ vừa lối năm mươi, để lại 9 trai và 8 công chúa;

– Vua Minh Mạng, té ngựa đau và mất năm 1841, thọ vừa bốn mươi, có rất nhiều vợ và để lại đến 71 con, trong số có 49 ông hoàng tử. Trong những ông hoàng nầy, thử kể lại tỷ như ông Thọ Xuân Vương, có đến một trăm người con.

Ta hãy xét thử ông giàu bao nhiêu, của để lại theo tôi hiểu, làm sao chia ra nuôi sống đầy đủ cho khắp các ông hoàng và các bà chúa kia, cái tệ hại giỏi nhảy cái mà quên lo hậu vận cho các con sau nẩy, và người Tây, khi vua Hàm Nghi bỏ ngôi, lại cử ông Thọ Xuân Vương nầy làm nhiếp chánh coi việc nước, thì kết quả ra sao, tưởng không cần nói cũng thấy vận mạng nước đến thế ấy là cùng;

– Vua Thiệu Trị, không được thọ, băng năm 1847, ở ngôi chỉ bảy năm, tuổi ngoài ba mươi, yểu quá, nhưng vẫn có đến 26 người con, trong số có 14 ông hoàng tử;

– Vua Tự Đức lên nối ngôi, thọ trên năm mươi, anh của ông là ông hoàng Bảo, bị mất lên ngôi vì không phải con dòng đích, hoàng Bảo thêm bị hại là làm chết luôn cả dòng, rồi vua Tự Đức, khi băng hà, vợ có hai bà hậu và kể 103 người vợ, mà không sanh được một mụn mọn nào, – lời dân truyền lén “tuyệt tự vì tội sát huynh, cốt nhục tương tàn” – đầu dây rắc rối, tranh giành, chiếm quyền và dòng Nguyễn Phúc đến vua Tự Đức là không còn độc lập, các ông kế vị, đều là vua ăn lương của Tây, bất xứng, trò hề. Nên ghi lại đây gương bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, thọ đến 94 tuổi, mất năm 1901, đã mù và điếc, nhưng chứng kiến xiết bao nỗi khổ tâm, trải qua ba vua nhỏ Dục Đức (bị bỏ chết đói trong khám tối, làm vua chỉ mấy ngày), vua Hiệp Hòa rồi vua Kiến Phước nối tiếp, kẻ bị siết họng và vùi thây, người bị đầu độc chết trên giường bịnh và bà Học Phi (vợ vua Tự Đức lại ngậm điếu thuốc đã có Nguyễn Văn Tường hút trước tiên, nhưng án tư thông được ém đi vì Học Phi là mẹ nuôi vua Đồng Khánh), Gosselin lại kể chi tiết rành rọt các hoàng tử con vua Thiệu Trị, nhưng tên không chấm dấu, tôi xin chép lại đây làm tài liệu cho người viết sau sẽ bổ túc.

Ngoài Hường Bảo và Hường Nhậm (Tự Đức) là hoàng tử thứ 3 con vua Thiệu Trị là Hường Phu, vào năm 1885 đã 53 tuổi, vua Tự Đức rất yêu, vì bề ngoài ông hoàng nầy thùy mị mà bề trong rất là xấu tệ, ông dung dưỡng để con hư và chỉ thích nhắc lại những trắc nết của các bà tôn nữ;

– Ông thứ 4 là Hường Y, sanh năm 1832, mất năm 1885, chính là cha của ông Ung Cai (Ung Dien) được vua Tự Đức nhận làm con, tức vua Dục Đức, cha vua Thành Thái;

– Ông thứ 5 là Hường Tho, đúng là một hiền giả, chỉ thủ gia, cặm cụi ham văn thi;

– Ông thứ 6 là Hường Hun (sic), (có lẽ là Hựu, sách in lầm là Hun?). Vua Tự Đức rất yêu và ông hoàng nầy chỉ thích hát bội và có sắm gánh hát tại gia, ít xa xí;

– Ông thứ 7 là Hường Kien, nhờ bán nha phiến lậu mà có dư tiền, ông vượt lễ độ, sống chung với một bà công chúa đã có chồng, ông bắt sống về chung chạ, rất trái với phong tục cổ lệ trong nước;

– Ông thứ 8 là Hường Pho, thông minh, cao thượng, rất xứng được lên nối ngôi báu;

– Ông thứ 9 là Hường Dinh, nợ như chúa chồm, đủ tật xầu, duy là một ông hoàng dám đối đầu chống không nể uy ông Nguyễn Văn Tường;

– Ông thứ 10 là chính ông vua sau nầy xưng là Hiệp Hòa, nối ngôi tiếp Dục Đức;

– Ông thứ 11 là Hường Cai sanh 4 hoàng tử, đã có câu truyền tục trong dân gian: “một nhà sanh đặng ba vua: một còn, một mất, một thua chạy dài”, là ông nầy.

Các hoàng tử khác, ông Gosselin không kể lại, vì thảy đều mất sớm và Gosselin kể vì vua Tự Đức không con, nhận cháu làm con, sanh ra sự hiềm tỵ ganh ghét giữa anh em có con được vua nhận làm con ấy và một buổi sáng sớm năm 1875, có tin đồn ông hoàng Hường Cai, đã chết trên giường ngủ cổ họng đứt… có một cây dao cạo đặt trên tay, nhưng cái chết nầy là một nghi vấn, tuy vẫn cũng có tin đồn ông hoàng nẩy tâm tánh bất định, gần như loạn trí…

Làm sao truy tố ông hoàng nầy chết oan bị giết, hay chết ưng, chính ông tự cắt họng… trong nước Nam nầy, nào là đầu độc, ám sát, là cũng vì tranh giành cái ngôi vua kia và chính vua Đồng Khánh sau nầy, đã từng thố lộ: “ngôi cửu ngũ xiết bao nguy hiểm, một khi rơi xuống, có xứng đáng gì mà phải lượm lên”.

*****

Couronne royale, suprême bandeau, – disait Dong Khanh à un ami, un jour d’abandon, – emblème du pouvori et symbole du Malheur, qui saurait bience

Ấy, việc trong nước, làm sao tôi hiểu cho bằng người tại đất Thần kinh Huế đô, tôi chỉ là con két thuật nhón lại những gì đã nghe ngoài ấy và đã đọc trong sách Tây mua được, và thuật lại nghe chơi, chính Gosselin viết (trang 32) khi băng hà, vua Tự Đức để lại vừa vợ, vừa cô hầu, vừa cung nữ từng được vua để mắt, kể cho là 103 bà, thì năm 1901, còn sốt lại nơi Khiêm lăng là 47 bà coi việc nhang đèn thờ vua, và khi tại vị, vua mỗi nhựt, có 47 bà hầu hạ: 30 coi về canh trực, 13 bà lo về bếp núc, lo việc y phục, phòng the, chải tóc cho vua, săn sóc móng tay, lo việc châm thuốc hút và mài mực, dâng bút, dâng giấy cho vua phê viết, v.v.

ngoài ra kể về đức tánh. V.N.S.L. Trần Trọng Kim ghi lại lời ông Thân Trọng Hue, tánh vua Tự Đức vốn hiền, nội thị châm thuốc, lỡ làm phóng tay, vua tha thứ, vua thích đi săn là luyện tập võ nghệ theo ý vua không nói ra, vua chơi đầu hồ tài hay giỏi, không ai qua, đó là tập tánh nhẫn nhịn, nhưng đánh đầu hổ, ngày nay nào ai chơi nữa, và nay chỉ thích thể thao đánh vợt chơi túc cầu, vua rất thiện nghệ về lục bát tám câu, vua thông chữ Hán hơn các quan khoa bảng trong triều, nhưng vua chỉ ở trong cung hú hý cùng phi tần, việc triều đình, Nội các thì không đủ tài, ngày nay sao cứ trách vua? Quan văn, quan võ đều trung thật nhưng phong trào đã biến đổi, tàu đồng sắt từ phương nào tới đây, người dị quốc đem đạo mới đến khuyến dụ truyền bá, ăn cơm ở đây mà lòng mong chiếm đất đã làm ra cơm, quan văn như Phan Thanh Giản, thì một chén á phiện đền nợ.

Thử xét về vua Napoléon III của đế quốc Pháp

Luận theo bây giờ, chớ chi đời Tống, không bị nịnh thần Thái Kinh lộng quyền, ở trong nước và không bị ngoài nước, binh Phiên xâm lăng, thì vua Huy Tông sẽ là một trứ danh đại họa sĩ ngự trị làm một vị hoàng để thuở thái bình, và chớ chi ở xứ ta, không có binh Pháp qua xâm lắn và không có Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, thì nước ta đâu có điêu linh và trước đó vài năm, vua Tự Đức sẽ giữ yên xã tắc làm một hoàng dế kiêm thi sĩ tài hoa cái thể, nhưng sự đời đâu có suôn lành như lý tưởng được, và sanh chi ở nước Pháp có một vị hoàng đế hư hỏng không chỗ nói là ông Napoléon III, nhưng vì có binh túc, thêm có tướng cao tài, lại có tay trong, người đi giảng đạo không lo việc kinh kệ, lại xen làm chính trị, làm tay sai quyết giựt nước ta làm ra thuộc địa, Napoléon III nầy vì binh lực mà nên mà cũng vì binh uy lạm dụng và hư việc đến hư nước, hại thân, và liên lụy khiên vua Tự Đức không làm được một thái bình thiên tử và phải chịu mang tiếng kém tài, làm mất đất và hư việc nước, ông nào đáng thương, ông nào đáng trách, xin kể những gì tôi hiểu về vua Pháp nầy và xin chừa cho chư quí độc giả, lấy bình tâm và công tâm so sánh và xét lại; các việc như kể dưới đây, dường như “chuyện không mà nói có”, nhưng tôi xin thưa đó toàn là chuyện có thật, từ các tác giả Pháp đã ghi trong các sách đã kể từ trước, và tôi cứ dịch thuật lại như sau.

Trong tự điển Petit Larousse ghi rõ, thì bà Hortense vẫn là con đẻ của hầu tước de Beauharnais. Vợ ông nẩy, sau khi chồng mất, đã gặp và trải qua nhiều tay tướng làm cách mạng năm 1789, rồi mới cặp với đế lẫy lừng Napoléon ler.

Như vậy bà Hortense là con ghé, gọi Nã Phá Luân là dưỡng hoàng. Nhưng bà lại kết duyên với bào đệ là Louis Bonaparte, cho hay bên nước Pháp, việc kết hôn tắng tịu làm vậy, âu cũng là một thế biến của một thế hệ loạn li bên ấy. Khi bà sanh một trai sách sử vẫn ghi “con không cha” (né de père inconnu), nhưng lấy sang làm họ, cứ nhìn là con của Louis-Bonaparte, được gọi để Napoléon ler là bác, và vì con trai của để, rủi mất sớm vì đầu quân, qua châu Phi, bị giặc mọi hạ sát, cho nên con của Hortense, nối nghiệp của người bác, tiếp ngôi Napoléon II, nên tự xưng là Napoléon III, chớ sự thật là nạ dòng.

Vả chăng sách sử của Pháp, rất là tự do ngôn luận, tự do xuất bản, không giấu giếm, không che chuyện xấu, dầu cho của vua chúa cũng vậy, cho nên ngày nay còn đọc được những chuyện nhơ nhớp của ông vua bác và của ông vua cháu nẩy, thật là nay chép lại còn ngại ngùng, tôi xin cứ y chép lại làm tài liệu và tóm tắt.

Đế Napoléon ler, rất thích được gần đàn bà. Đế rất có tài về chiến thuật, nhưng khi cao hứng muốn gần phụ

nữ, thì bất kể hồ sơ khẩn cấp, bất chấp tướng to tướng bé, thống chế đến cũng hẹn và đẹp qua một bên, để tung phí vãi tiền cho phái đẹp, ông thích nghe chuyện lí lắc trêu cợt, chuyện ti tiểu nói về chiếc nệm lót giường, đế không nệ đùa giỡn với các cô trẻ nơi sân Malmaison, và để có nhiều ái cơ vụng trộm, nhiều hơn cả Louis XV, Francois 1 và luôn cả Henri IV. Các việc ấy, đọc sử chơn chánh, làm sao biết được.

Qua đến đời ông vua cháu thì mới thật là loạn, loạn xà ngầu, thử hỏi: “vua Tự Đức chịu mang tiếng của đời sau là làm cho mất nước, vua có đến 103 người hầu hạ gối chăn, nhưng dầu sao, vua là thừa mạng trời “thể thiên hành đạo” có vợ nhiều (đa thê) nên không nghe có chuyện loạn luân, còn đế của Pháp, giữ tục “độc thê”, thế mà “vì do dân chúng bầu lên, gọi là “thọ mạng ư dân cầu” luật dạy một vợ một chồng, thế mà ông này bất chấp vợ của ai, và vẫn “quân loạn thần thê”, ông có hơn hai trăm nhơn tình bất chánh, xin hỏi

vua nào đúng đắn, vua nào bê bối, đã bê bối thế mà cho binh qua đây gọi là giáo hóa dân ngu, xin chép:

Một câu Pháp văn chép nơi chú thích dưới đây, tôi ráng dịch để làm bằng chứng:

“Dưới triều vua Napoléon III, thời Đệ Nhị đế chính, các mạng phụ phu nhơn nào vào chầu vua, đều không phải là thiết thạch sắt đá. Dưới lớp váy mỏng vải thô, họ vẫn bào hao hậm hực muốn chầu vua cho thật xứng đáng với tấm lòng háo hức hiếu dâm của vị để của nước Pháp, tức hoàng đế Napoléon III nầy. Đế mang nặng chứng luyến ái cuồng cao đến cực độ: mỗi khi để thấy một chiếc váy là để lên cơn nồng nhiệt khó dằn, khiến nên từ năm 1852 chí đến năm 1870, các mạng phụ, một số lớn, đều ưng làm mồi cho sự dâm loạn của đế và các cuộc “rồng giỡn sóng nầy”, thật là khó tả: trên rương hòm, lấy mặt rương làm chiếu, khi chen giữa hai cánh gà kẹt cửa, khi đề cạnh bàn cũng xong, khi thì sau bức màn the cũng gọn, hoặc trong chiếc ghế bành, hoặc kê vào vách đứng, hoặc núp cạnh lò sưởi lò hơ, chéo giường nằm, đáy tủ áo, mặc cho cuộc mưa Sở mây Tần, sống nhồi mặc sóng, rồng đoanh mặc rồng, cho hay cái yếm che yếu sịu và bạc nhược của nữ nhi lại hóa ra có một cường lực vô biên, mà vẫn mang tiếng yếm mang quần vận. Có thể nói không lầm và có ngờ đâu các vế non đùi nhớt của đám phụ nữ thời ấy, và trong suốt thập bát niên nghiêng ngửa, vẫn là năng lực phi thường của nước Pháp hùng cường dũng mãnh. (dịch ngay trên máy ngày 26-11-1990).

Và chỉ có một bà cao tay ấn, trị được ông vua số đú nầy.

Bà kiên quyết không để cho đế xúc phạm trinh tiết, bà mạnh dạn khước từ và trả lời cho đế, rằng “muốn việc ấy phải đứng trước bàn thờ chúa trước đã!” và đế thét… phải chịu phục thiện và làm lễ cưới bà, tôn làm chánh thất hoàng hậu, và đó là bà Eujénie de Montijo, tôi sẽ nói nhiều nơi đoạn sau.

Cho hay, đời xưa như đời nay, gẫm lại vẫn còn trong vòng “thiên địa tuần hoàn” cũ rích! Mặt sắt như Từ vương mà cũng chết ngây, chết đứng với một nàng Kiều: Kiểu than một tiếng mà tự nhiên thây kia ngã xuống!

Bên Pháp, cũng vậy, tôi xin dài dòng nhắc lại nghe chơi.

Trước tiên, nên kể gương Napoléon ler, tôi gọi là ông vua bác. Thời Cách mạng năm 1789 để lại cảnh suy đồi, dân chém vua và chặt đầu vợ vua bằng gươm máy. Một viên quan hai vô danh, từ mặt trận, may thời gặp và kết đôi với bà Joséphine mà lên lần đến ngôi sang hoàng để. Lên ngôi rồi, ông toan phải có con để nối nghiệp đế, ông chê bà Joséphine là chai lơ, nên phế đi và chọn bà Marie Louise trinh trắng, tôn làm hậu, sanh được một hoàng tử, rủi không được thọ, và hoàng tử nẩy, khi mất, sử tặng hiệu là Napoléon II (1811 – 1832).

Đến lượt xuất hiện ông kế nghiệp, sử tôn hiệu là Napoléon III (1808 – 1873). Ông nầy, tôi gọi “vua cháu”, vĩnh viễn, ngờ đâu, sáu năm sau (1846), ông giả làm thợ nề, ông vượt ngục thất là thành lũy kiên cố Nam, (trong những năm trong tù, ông dan díu với một con đòi đem cơm, sanh được mấy con, không nhìn nhận, sau ông tặng tiền, và cho lấy tên theo họ mẹ), ông qua Anh quốc, ông làm tình với một danh kỹ nhan sắc tên Noward, cô này rất giàu, và không tiếc của, mấy lần bán lâu đài, biệt thự, bán nữ trang quí giá, giúp ông tận lực tận tình, ông dùng các số tiền lớn nầy, ông trở về Pháp năm 1848, được cho ra tranh cử, ông được đắc cử làm đại biểu cho nhiều quận, nhiều trấn, rồi lần hồi, nhờ khéo vận động, nhờ uy tín dòng họ, nên ngày 10-12-1848, dân Pháp cử ông giữ chức “giám quốc”. Cách ba năm sau, ông đẹp xong nhóm dân chủ (républicains) và sạch nhóm vương quyền (royalistes), ông lật đồ đại hội của chánh phú (assemblée générale), ông đảo chánh, bày cuộc trưng cầu dân ý và ông được dắc cử, qua năm kế đó, ông xưng hoàng để, đồ là “đệ nhị để chính” (Second Empire) của Pháp quốc.

Phải nhìn nhận ông có công thâu về cho Pháp hai quận Savoie và Nice (1860), đời cai trị của ông có thể chia làm ba đoạn, từ 1852 đến 1858 là độc quyền làm vua, từ 1858 đến 1867 ông nới quyền cho dân chúng lo việc nước, và từ 1867 đến 1870, là thời đế quốc khoan đại (Empire libéral).

Ông cho làm nhiều công tác hữu ích, khuyến khích nông trang việc canh nông, mở mang kinh tế và thương mãi, sáng lập ngân hàng, xây dựng cơ sở học hiệu, dưỡng đường, v.v.., các việc ấy ông có công với nước của ông, còn đối về ngoại giao và riêng nước chúng tôi, quả ông hám tiền, quyết biến nước tôi làm thuộc địa, lấy tiền phạt vạ chiến tranh để ông bồi đắp những thâm thủng quốc khố của ông, ông gieo rắc những gì văn minh mới, phá mất văn minh đạo đức cũ, tội của ông đối với nước tôi, ông mất ngôi, vì quá ham chiến tranh và vì quá ham gần đàn bà, cả ông và cháu, hai vua vì sắc, vì háo chiến mà hư nhà, hại nước, sau đây tôi xin lược kể về bà hậu Eugénie de Montijo do ông chọn làm hoàng hậu nước Pháp, và chính bà từng dự kiến cuộc sứ bộ quan Phan vào yết kiến vua Napoléon 111 để xin chuộc đất.

Nhắc lại vua Pháp, lên ngôi vua rồi, vội quên mối tinh cũ là bà Noward, ông vẫn đi lại nhưng không phong làm vợ chánh thức, ông buông lung từ khi lập hậu, ông giữ được đoan chính vài tháng, rồi ngựa quen đường cũ, bà Eugénie cũng không kềm chế ông được, ban đầu bà ghen, cấm không cho ông gần gũi, ông lại được cớ sai lập riêng cơ ngơi ở đường rue du Bac để tiếp xúc với cái lạ, và lạ thay bọn đắt mối lại lén lấy xâu trước, thành thử tuy làm hoàng để mà nào được thưởng thức nước tiên. Bà Eugénie thét cũng ngà lòng, lại day qua giành tham gia việc chánh trị, một lần bà đốc phách vua nâng đỡ và đưa hoàng thân nước Áo là Maximilien, cùng vợ, qua làm vua xứ Mễ Tây Cơ, nhưng việc ấy thất bại, hại cho Maximilien bị dân bản xứ xử bắn (năm 1867), vợ vua Maximilien, khi hay tin chồng bị xử tử, bà bị bịnh loạn trí, nhưng sống đến năm 87 tuổi mới lìa đời, chết đau thương uất hận chồng bị bắn vì trót nghe lời Napoléon III nửa chừng bỏ cuộc. Trong trận gây chiến với nước Nga, gọi trận giặc Crimée, nghe lời theo Anh quốc và Hồi quốc, để bị thua (1854-1856), đã mất uy tín nước, thêm tổn hại công quý, cũng vì vậy nên để gỡ gạc lại xua binh qua dánh chiếm nước tôi (trận chiến ở Nam kỳ 1859 – 1862, chiếm ba tỉnh Miền Đông) và năm 1857 – 1860) binh Pháp theo với binh Anh sang đánh nước Tàu, các trận chiến ấy đều có tay bà hoàng hậu Eugénie vụ tất việc chánh trị và đốc xúi, và lòng hiếu chiến không nguôi, Napoléon III tự cầm binh đánh trận ở Sedan, binh đại bại, ông phải đầu hàng (1-9-1870), ông bị truất phế nhưng khỏi chết, cùng vợ và hoàng tử mang tế nhuyển, lui về ẩn nơi Chishurst (Anh quốc) kéo dài cuộc sống tủi nhục đến năm 1873, ông mới chịu lìa trần… Tội nghiệp cho con ông, vừa tuổi hai mươi, đầu quân làm thiếu úy, dẫn binh qua châu Phi, bị binh mọi đen phục kích giết chết, tóm lại ông vua bác bỏ bà Joséphine cưới bà Marie-Louise, và ông vua cháu, quên tình tấm mẳn của bà Noward để cưới bà Eugénie, cả hai đều lụy vì sắc, mà sử không nói và tôi thày lay đã trễ!

Viết đến đây tôi tạm ngưng đánh máy, để nhìn nhận: đọc sách ngoại sử cũ của Pháp, thấy tình hình bên triều đình Pháp, một ông vua không xứng đáng, lại tự tung tự tác, bê tha loạn luân là làm chánh trị theo ý riêng của mình, tung hoành dâm đật, và nhơn đọc bài của thủ lãnh tài ba của luật sư đoàn Henri Robert’ tôi lại rõ chánh phủ Pháp thời ấy vẫn trong tay một đàn bà không trị được một ông chồng quá ư ham trăng gió đã để cho việc nước lọt vào tay khăn yếm, và ông Henri Robert đã kết tội bà Eugénie, nhưng tôi tưởng lại bà nầy đã đền tội, vì sau khi chồng từ trần và con bị mọi giết, bà bơ vơ kéo dài cuộc sống bi thảm ấy mãi cho đến ngày 2 juillet 1920, bà mới chịu lìa cuộc đời trần ai nầy, và tác giả thủ lãnh luật sư đoàn, tức nhiên là một cây bút nghiêm trang đứng đắn, ông đã hạ bút viết: “Bà Eugénie, vẫn có xây ghế, tin tưởng như lời ma mị và khi thác, đúng như lời tiên tri của một bà thầy coi tay bohémienne năm xưa, bà có số đỏ, lên cao như diều giấy, chết già gần gần được trăm tuổi, nhưng chết sầu bi tăm tối như đi đêm.

Cộng sơ và so sánh lại:

– Một hoàng hậu của vua Napoléon III (Eugénie de

Montijo) sống 94 tuổi,

– Một hoàng hậu vua Maximilien, vợ chồng đang sống như cặp uyên ương hạnh phúc, lại nghe lời xúi giục của cặp vợ chồng vua Pháp, ông Napoléon III nẩy, rồi qua Nam Mỹ làm hoàng đế xứ lạ để rốt lại, bị vua Pháp bỏ rơi không gới binh tướng cứu trợ, Maximilien đền tội tham ngôi cao để bị dân Nam Mỹ xử bắn, bà vợ khi hay tin dữ nầy thì loạn óc và sống đến 87 tuổi mới từ trần, gẫm thọ dai làm chi, chỉ đầy nhục, ưu, và nghiệp dĩ, rồi nhớ lại việc nước Nam mình, bà Từ Dũ, hoàng thái hậu, sanh đồng thời cũng thọ 93, 94 tuổi, từ trần năm 1912, hai bà kia vẫn yên mồ yên mả, bà bên ni, vừa rồi lăng mộ bị quân mất dạy lén đào không được yên mồ yên xác, như vậy sống lâu cũng không nên ham, và thà mồ đất lâu ngày thành bình địa mà vẫn hơn mộ đá, mộ ô dước bị cuốc bị đào (28-11-1990).

Trong quyển l’Empire d’Annam của Ch. Gosselin, ông là đại úy đã từng cầm binh qua đây ruồng kiếm ông tẩu quốc Hàm Nghi, khi hay tin sứ đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp chuộc đất, Gosselin chơn thật đã từng hạ câu:

“Vua Tự Đức, vì hiếu đạo, sai qua xin chuộc đất có mồ mả tổ tiên, nhưng chuộc đất sao được, vì chúng tôi là kẻ đi chinh chiến, cướp đất để làm thuộc địa, ai văn minh, ai là lạc hậu, đã rõ rồi” v.v..

Trong quyền “les Premières de la Cochinchine” của Paulin Vial (Challame, Paris, 1874), tôi nhớ có đọc, ông E. Vial độc nhãn vì bị binh ta bắn trận Kỳ Hòa, ông “Dách cô ngạn” nầy, sau giải bình, ra làm đầu văn phòng của Phó Soái Nam kỳ, cũng có nói và khai thật: “Vua Tự Đức sai Phan Thanh Giản đi sứ và căn dặn phải nài hạ bớt tiền phạt vạ chiến tranh, một một hai hai phải than nghèo, phải than nước không đủ tiền… và phải nói làm sao cho Pháp ưng nghe mà bớt tiền phạt vạ…”, lời chỉ thị của trên ban như vậy, một ông già đã trên bảy mươi tuổi đầu, gới ông đi sứ qua Pháp, giữa đám hạm sói thèm máu hám tiền, lấy đạo nhơn đạo ái của Khổng học đã dạy, ông già nầy can đảm lãnh mạng vì tin nơi lời hứa xin xỏ của đề đốc Bonard, nhưng khi qua tới bên đó, Bonard đã không còn, còn lại một ông vua mắc bận nghi hè, phải đợi hơn tháng vua mới về và cho yết kiến, vua hẹn cầm chừng, “đẩy cây”, “Hãy về đi, hãy để cho nội các, triều đình nghị lại”, ông già mục kiến Pháp phô trương lực lượng và tiền hóa, theo tôi nghĩ bụng, mười ông già có miệng lưỡi khác cũng vậy, và mấy ông ngày nay, ngồi trong nhà, bàn việc xưa nay, xin hãy vào thử thay ông Phan Thanh Giản, trước khi phê bình và chê trách.

Tôi đã viết nhiều và viết từ trước, chuyện của quan Phan và chuyện của Tôn Thọ Tường, nay tôi không trở lại. Tôi viết bài nầy được 14 trang, viết ngày 24 đến nay 28, ngoài cửa cổng nhà, hàng rào tre bị đập phá và che bít cửa ra vô, sáng nẩy 28, mở cửa ra, thấy hàng rào, đã thừa đêm tối có ai kéo qua chỗ cũ mà chưa ai dựng lại, tế ra người lối xóm, muốn làm gì thì làm, tôi vẫn đánh máy đủ vui và đủ quên mọi việc.

(viết ngày 28-11-1990)

Xem tạp chí Nistoria số 250 tháng 9 năm 1972, bài của André Castelot viết *La fin tragique de Maximilien, empereur du Mexique, từ trang 147… (Chớ chi gương nấy đủ làm cho Napoléon III bớt hiếu chiến và chớ chi việc xảy ra trước khi có cuộc binh đao giữa Pháp và nước chúng tôi).

tempéraments qui correspondaient d’silleura parfaitement aux exigences démesurées de Napoléon III.

L’Empereur était en effet un érotomane qui entrait en transes à la vue du moindre jupon. Aussi, de 1852 à 1870, les femmes de la Cour furent-elles les maitresses du pouvoir. Prises svec ivresse – sur des coffres, entre deux portes, sur un coin de table, derrière un ridesu, dans un fauteuil, contre un mur, sous le manteau d’une cheminéc, au travers d’un lit ou su fond d’un placart, elles tiraient de leur apparente faiblesse une authentique puissance. Et l’on peut dire, aussi étrange que cela pyisse paraitre, que ce sont toutes ces cuisses légères qui constituèrent pondant dix-huit ans le bras séculier de la France.

(Histoires d’amour de l’Histoire di France par Guy Breton, volume X, page 10).

… les femmes qui fréquentaient les Tuileries sous le Second Empire, n’étaient pas de pierre. Elles cachaient sous leurs vastes crinolines de redoutables

que tu caches de soucis, de dangers, de misères, ne voudrait pas seulement si tu tombais, te ramasser (trang 234 sách Gosselin dẫn thượng).