Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

Bài 31

Quần đảo Salut – Chiếc bè trong ngôi mộ (tt)

Chỉ còn thiếu có thế nữa thôi để làm cho tôi bình tâm lại sao? Giấc chiêm bao của Juliette! Làm như thể tôi chưa đủ rối trí với những vấn đề gay cấn trong cõi thực, còn phải thêm những vấn đề trong cõi mộng nữa? Bourset nói là anh ta có cảm giác bị theo dõi thực sự. Chúng tôi đợi cái bộ phận cuối cùng của bè – cái mảng dài một mét rưỡi – đã mươi lăm hôm nay. Naric và Quenier nói không thấy có gì bất thường, nhưng Bourset vẫn không chịu làm cái bộ phận kia. Giả sử nó không có năm cái khớp phải đục chính xác từng ly, Matthieu có thể đem ra vườn làm. Đằng này những cái khớp ấy phải lắp cho sít năm đường nẹp của chiếc bè. 
Vì Naric và Quenier đang phải sửa chữa ngôi nhà nguyện của trại cho nên có thể dễ dàng đưa ra đưa vào rất nhiều vật liệu trong xưởng. Hơn thế nữa, thỉnh thoảng họ lại được dùng một chiếc xe trâu nhỏ. Phải lợi dụng cho được dịp may này. Bourset bị chúng tôi thúc giục quá đành phải làm một cách miễn cưỡng. Một hôm anh ta nói là biết chắc có người đã lấy cái mảng bè ra xem rồi để lại chỗ cũ. Chỉ còn một cái khớp phải đục ở đầu mút. Mọi người quyết định là anh ta phải đục cho xong, rồi giấu cái màng dưới tấm ván ở bàn mộc, ở trên để một sợi tóc để xem thứ có ai động đến không. 
Bourset đục cái khớp, rồi đến sáu giờ anh ta ra khỏi xưởng sau cùng, sau khi đã biết chắc là trong xưởng chỉ còn tên gác. Cái mảng bè đã để ở chỗ quy định với sợi tóc đánh dấu. Đến mười hai giờ trưa tôi có mặt ở trại, chờ những người làm ở xưởng tới, cả thảy tám mươi người. Naric và Quenier đều có mặt, nhưng Bourset thì không thấy đâu. Một phạm nhân người Đức đến trao cho tôi một mảnh giấy dán kỹ. Có thể thấy rõ là chưa có ai bóc ra. 
Tôi đọc: “Sợi tóc không còn ở đấy nữa: đã có kẻ sờ đến cái mảng. Tôi đã xin tên gác cho tôi ở lại làm việc trong giờ nghỉ trưa để làm cho xong cái tráp bằng gỗ hồng tâm tôi đang làm dở. Hắn đã cho phép. Tôi sẽ lấy cái mảng để vào chỗ để dụng cụ của Naric. Anh nói cho họ biết đi. Đến ba giờ họ phải đưa ngay súc gỗ đi. May ra thằng cha đang theo dõi cái mảng bè chưa kịp trở tay”. 
Naric và Quenier đồng ý. Họ sẽ ra đứng ở hàng đầu đám thợ làm ở xưởng. Trước khi mọi người, vào hết, hai người sẽ bày chuyện đánh nhau ở gần trước cửa. Chúng tôi đã nhờ hai người đồng hương với Carbonieri làm giúp việc này. Đó là hai người Corse ở Montmartre: Massani và Santini. Họ không hề hỏi tại sao phải thế: miễn chúng tôi cần là được rồi, sẵn sàng ngay. Naric và Quenier sẽ lợi dụng thời cơ ấy để trở ra nhanh, mang theo một vật liệu gì đấy, làm như thể họ đang vội đi làm và không quan tâm đến vụ đánh nhau. Chúng tôi đều nhất trí rằng hãy còn một khả năng cứu vãn. Nếu chuyến này thành công, tôi phải án binh bất động một hai tháng, vì chắc chắn là đã có một hay nhiều người biết là có ai đang chuẩn bị một chiếc bè. Cứ để cho họ tìm xem ai chuẩn bị, và bè giấu ở đâu. 
Đã đến hai giờ rưỡi, các bạn tôi chuẩn bị hành động. Từ lúc điểm danh đến lúc xuất phát đi công trường phải mất ba mươi phút. Họ bắt đầu đi. Bébert Celier đứng ở khoảng giữa đoàn người xếp thành hai mươi hàng tư. 
Naric và Quenier đi đầu, Massani và Santini ở hàng thứ mười hai, Bébert Celier ở hàng thứ mười. Tôi nghĩ như thế rất tiện, vì khi Naric lấy các thứ gỗ này nọ trong đó có cả cái mảng bè, những người kia chưa vào hết trong xưởng. Bébert sẽ gần vào đến cửa xưởng. Khi cuộc ẩu đả nổ ra, vì mọi người sẽ la ó om xòm lên, lẽ tự nhiên là mọi người, trong đó có Bébert, sẽ quay lại nhìn. Đến bốn giờ, mọi việc đã diễn ra êm xuôi, cái mảng bè đã được giấu dưới một đống vật liệu để trong nhà thờ. Họ chưa đưa ra khỏi nhà thờ được, nhưng để tạm ở đấy cũng rất ổn. 
Tôi ghé chỗ Juliette, nhưng bà ta không có ở nhà. Khi quay về, tôi đi ngang sân trước nhà ban Quản trị. Tôi trông thấy Massani và Santini đang đứng trong bóng râm đợi vào xà lim. Cái này chúng tôi đều biết trước.

Tôi đi qua chỗ họ, hỏi: 
– Bao nhiêu? 
– Tám ngày – Santini đáp. 
Một tên cảnh binh người Corse nói: 
– Đồng hương mà lại đi đánh nhau, khỉ thật! 
Tôi về trại. Sáu giờ, Bourset rạng rỡ lên, nói với tôi: 
– Cứ như thể mình đang bị ung thư mà bỗng dưng bác sĩ cho biết là đã chẩn bệnh nhầm, chứ mình chẳng có bệnh gì cả.. 
Carbonieri và các bạn tôi đều đắc thắng. Họ khen ngợi tôi về cách tổ chức công chuyện. Naric và Quenier cũng đều thỏa thuê. Mọi sự đều ổn cả. Tôi ngủ thẳng giấc cho đến sáng. Tuy hồi tối mấy tay cờ bạc đã đến mời tôi đánh. Tôi nói dối là nhức đầu. Thật ra tôi buồn ngủ đến chết đi được, nhưng tôi hài lòng và mừng rỡ vì sắp thành công đến nơi rồi. Cái khó khăn nhất thế là đã vượt qua được. 
Sáng nay Matthieu đã giấu tạm cái bộ phận cuối cùng trong hốc tường. Lúc bấy giờ ông già gác nghĩa địa đang quét những lối đi phía ngôi mộ giấu bè. Lúc này mà mon men đến đó thì dễ lộ lắm. Sáng sớm nào cũng vậy, từ lúc tờ mờ tôi đã đến nghĩa địa dùng xẻng gỗ đắp lại đất trên ngôi mộ, cố làm thật nhanh. Tôi dùng chổi quét sạch lối đi, rồi nhanh chóng quay về đổ thùng, giấu chổi và xẻng trong góc nhà xí. 
Kể từ lúc bắt đầu chuẩn bị cho đến nay đã đúng bốn tháng, và chúng tôi nhận được bộ phận cuối cùng của chiếc bè đã được chín hôm. Trời không còn mưa hàng ngày nữa, và nhiều hôm trời lạnh suốt cả đêm. Tất cả các giác quan của tôi đều luôn luôn trong tình trạng báo động, để chuẩn bị cho hai cái giờ G sắp tới: trước tiên là lấy cái bộ phận trứ danh kia trong vườn Matthieu rồi lắp chiếc bè cho thật khớp. Việc này chỉ có thể làm ban ngày. Sau đó là lên đường. Việc này không thể tiếp luôn sau việc kia, vì khi lấy bè ra rồi còn phải nhét dừa và lương thực vào. 
Hôm qua tôi đã kể hết cho Castelli nghe và cho bác ta biết tình hình hiện tại. Bác ta mừng cho tôi là đã gần đạt đến đích. Bác nói: 
– Bây giờ là tiết trăng non. 
– Tôi biết. Vậy thì lúc nửa đêm không sợ có trăng nước ròng là vào mười giờ, vậy giờ tốt nhất để hạ thủy vào hai giờ sáng. 
Carbonieri và tôi đã quyết định làm gấp. Sáng mai chín giờ, lắp xong bộ phận cuối cùng của bè. Đến đêm là vượt ngục. 
Sáng hôm sau, chúng tôi hành động rất ăn ý với nhau. Tôi đi qua khu vườn, đến nghĩa địa, chống xẻng nhảy ra tường. Trong khi tôi dùng xẻng gạt đất trên mộ địa, Matthieu lấy phiến đá ra và đem cái bộ phận bè mới giấu vào đấy sang cho tôi. Chúng tôi cùng giở lớp lá dừa đan để sang một bên. Chiếc bè hiện ra, dính đất nham nhở, nhưng tình trạng hoàn hảo. Chúng tôi đưa bè ra khỏi mộ, vì để lắp thêm bộ phận cuối cùng, bên cạnh phải có chỗ rộng. Chúng tôi lắp năm đường nẹp vào thanh gỗ có năm khớp. Muốn chặt chúng tôi phải lấy đá gõ. Chúng tôi đã lắp xong đâu vào đấy, đăng đặt bè vào chỗ cũ, thì một tên cảnh sát hiện ra, tay lăm lăm khẩu súng trường. 
– Đứng im, không chết ngay! 

Chúng tôi buông cái bè xuống, giơ hai tay lên trời. Tôi nhận ra mặt tên cảnh sát. Đó là viên giám thị trưởng của xưởng thợ. 
– Các anh đừng kháng cự mà dại. Các anh bị bắt quả tang. Các anh hãy chấp nhận như thế và ít ra cũng phải lo cứu lấy tính mạng: mạng các anh bây giờ treo trên sợi tóc, vì tôi chỉ muốn cho các anh một băng. Thôi, đi tay vẫn để nguyên thế! Đi ra nhà ban chỉ huy. 
Khi đi qua cổng nghĩa địa, chúng tôi gặp một thằng A-rập giữ chìa khóa. Tên cảnh sát nói với hắn: 
– Mohamed, cám ơn cậu đã giúp tôi. Sáng mai ghé tôi tôi sẽ đưa cái ấy cho… món quà tôi đã hứa thưởng cậu ấy mà. 
Cám ơn sếp, – thằng A-rập nói. – Tôi sẽ đến, nhưng sếp ạ. Bébert Celier cũng phải trả công cho tôi chứ, phải không ạ? 
– Chuyện này hai cậu dàn xếp với nhau, – tên cảnh sát nói. 
Tôi hỏi hắn: 
– Chính Bébert Celier đã chơi chúng tôi, phải không sếp? 
– Không phải tôi nói chuyện này với các anh đâu đấy nhé. 
– Cũng thế thôi, chuyện này biết được cũng hay. 
Vẫn chĩa súng vào chúng tôi, tên cảnh sát nói: 
– Mohamed, lục soát chúng tôi. 
Thằng A-rập rút con dao tôi giắt ở thắt lưng, cả con dao của Matthieu nữa. Tôi nói với hắn: 
– Mohamed này, anh tài thật đấy. Anh làm thế nào mà biết được thế? 
– Ngày nào tôi cũng leo lên ngọn cây dừa đằng kia để xem các anh giấu chiếc bè ở đâu. 
– Ai bày cho anh làm như thế? 
– Đầu tiên là Bébert Celier, sau là ông giám thị Bruet. 
– Đi thôi, nói nhiều quá rồi đấy, – tên cảnh sát nói. Bây giờ các anh có thể bỏ tay xuống, và đi nhanh lên. 
Đoạn đường bốn trăm mét mà chúng tôi để đến trụ sở ban chỉ huy tôi có cảm giác là đoạn đường dài nhất trong đời tôi. Tôi đã sụm hẳn. Bấy nhiêu hơi sức dốc ra rồi cuối cùng chuốc lấy một thất bại thảm hại như thế Trời ơi, sao Người nỡ tàn nhẫn đối với tôi như vậy? 
Thật là một cảnh điếm nhục khi chúng tôi đến Ban chỉ huy Trại. Vì trên đường đi chúng tôi lần lượt gặp những tên cảnh binh: họ liền nối gót theo tên đang chĩa súng vào chúng tôi, thành thử khi đến nơi đã thành một tốp bảy tám tên đi sau lưng chúng tôi. 
Viên chỉ huy, được tên giữ khóa người A-rập chạy về báo trước, đang đứng trước cửa ban chỉ huy cùng với Dega và năm viên giám thị trưởng. 
– Có chuyện gì thế, ông Bruet? – viên chỉ huy hỏi. 
– Có chuyện là tôi đã bắt quả tang hai người này đang cất giấu một chiếc bè hình như đã đóng xong. 
– Papillon, anh có cần nói gì không? 
– Không. Tôi sẽ khai trước hội đồng thẩm vấn. 
Đưa hai người vào xà-lim. 
Tôi bị nhốt vào một căn xà-lim có một khung cửa sổ bịt kín đối diện với cửa ra vào Ban chỉ huy. Căn xà-lim tối om, nhưng tôi nghe được tiếng nói của những người qua lại trước trụ sở Ban chỉ huy. 
Các sự việc diễn ra rất nhanh. Đến ba giờ họ cho chúng tôi ra và khóa tay chúng tôi lại. 
Trong phòng có lập một thứ tòa án: chỉ huy trại, phó chỉ huy, giám thị trưởng. Một viên cảnh binh làm chân lục sự. Ngồi riêng sau một cái bàn đặt cách xa nhóm kia, Dega cầm cây bút chì, chắc hẳn là để ghi lại những lời vấn đáp sắp tới. 

– Charrière và Carbonieri, các người hãy lắng nghe bản báo cáo của ông Bruet về các người: “Tôi, Bruet Auguste, giám thị trưởng, quản đốc công xưởng Quần đảo Salut, xin khởi tố hai phạm nhân khổ sai là Charrière và Carbonieri về tội lấy trộm, lạm dụng vật liệu thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Tôi tố cáo phạm nhân thợ mộc Bourset về tội đồng lõa. Tôi thấy có cơ sở để khẳng định rằng hai phạm nhân Naric và Quenier cũng phạm tội đồng lõa. Tôi xin nói thêm rằng tôi đã bắt được quả tang Charnère và Carbonicri đang xâm phạm ngôi mộ của bà Privat mà họ dùng làm nơi cất giấu chiếc bè của họ”. 
– Các anh nói sao đây? – Viên chỉ huy trại hỏi. 
– Trước hết, Carbonieri chẳng có dính dáng gì vào đây cả. Chiếc bè được thiết kế để chở có một người, tức là tôi. Chẳng qua tôi đã bắt Carbonieri phải giúp tôi giở lớp lá dừa đan trên mộ, vì việc này tôi không thể làm lấy một mình. Vậy thì Carbonieri không hề phạm tội lạm dụng và lấy cắp vật liệu của Nhà nước, mà cũng không hề phạm tội đồng lõa vượt ngục, vì cuộc vượt ngục chưa hề được thực hiện. Bourset là một nạn nhân bị buộc phải hành động vì bị dọa giết. Còn Naric và Quenier thì tôi hầu như không hề quen. Tôi xin quả quyết là họ không hề dính líu đến việc này. 
– Người chỉ điểm của tôi nói khác kia, – viêm giám thị nói. 
– Tên Bébert Celier, người đã chỉ điểm cho ông, rất có thể lợi dụng việc này để trả thù một vài người nào đấy bằng cách nói điêu cho họ. Làm sao có thể tin lời một tên chỉ điểm? 
Viên chỉ huy nói: 
– Tóm lại, anh bị tố cáo chính thức là đã lấy trộm và lạm dụng vật liệu của Nhà nước, xâm phạm mộ phần và mưu toan vượt ngục. Anh ký vào văn bản đi. 
– Tôi chỉ ký khi nào trong văn bản đã thêm lời tôi khai về Carbonieri, Bourset và hai anh em rể Naric và Quenier. 
– Đồng ý. Các ông viết thêm vào đi. 
Tôi ký. Tôi không thể diễn đạt rõ ràng tất cả những gì đã diễn ra trong tâm trí tôi kể từ khi công việc bị bại lộ vào phút cuối ấy. Tôi như đã phát điên trong xà lim này, tôi ăn chẳng được, tôi không đi lại, nhưng tôi hút thuốc liên hồi, hết điếu này sang điếu khác. 
Cũng may là Dega tiếp tế thuốc lá cho tôi đầy đủ. Hôm nào chúng tôi cũng được một giờ đi dạo vào buổi sáng, trong khoảng sân của các xà lim trừng giới, dưới ánh năng. 
Sáng nay ông chỉ huy trại có đến nói chuyện vôi tôi. Kể cũng lạ: nếu cuộc vượt ngục thành công, ông chính là người bị thiệt hại nặng nề nhất, thế mà chính ông lại là người tức giận tôi ít nhất. Ông ta mỉm cười kể cho tôi nghe rằng vợ ông có nói là một người bị giam mà còn giữ được tư cách dĩ nhiên là phải tìm cách vượt ngục. Rất khéo léo, ông ta lái câu chuyện như thế nào để tôi xác nhận phần đóng góp của Carbonieri. Tôi có cảm giác là tôi đã thuyết phục được ông, cho ông thấy rõ rằng Carbonieri ở vài cái thế không thể nào từ chối khi tôi nhờ giúp tôi một tay trong việc tháo giở lớp lá dừa bên trên ngôi mộ. 
Bourset đã xuất trình bức thư đe dọa và tấm đồ án do tôi làm. Về phần tôi thì ông chỉ huy hoàn toàn tin là mọi việc diễn ra đúng như tôi đã khai. Tôi hỏi ông ta xem theo ý ông thì cái tội lấy trộm vật tư kia liệu có thể xử đến mấy năm. Ông nói: “Mười tám tháng là cùng”. 
Nói tóm lại, tôi dần dần leo trở lên cái dốc bờ vực mà tôi đã lăn xuống. Tôi có nhận được mấy chữ của Chatal, người y tá. Anh ta cho tôi biết rằng Bébert Celier hiện nay nằm một phòng cách biệt ở bệnh viện, đang được cứu xét miễn giam vì một kết quả chẩn bệnh ít có: áp xe gan. Chắc đây là một cách dàn xếp giữa ban Quản trị và ông bác sĩ để che chở cho hắn tránh khỏi những hành động trả thù. 
Căn xà-lim của tôi không bao giờ bị khám, họ cũng không lần nào khám người tôi. Tôi lợi dụng tình hình đó để nhờ các bạn tuồn vào cho tôi một con dao. Tôi nói với Naric và Quenier là họ phải yêu cầu một cuộc đối chất giữa viên giám thị công xưởng, Bébert Celier, anh thợ mộc và tôi, đệ lên viên chỉ huy trại một lời thỉnh cầu là sau cuộc đối chất này ông sẽ quyết định cách xử lý mà ông thấy là thích đáng đối với họ: hoặc giam cầm, hoặc trừng giới, hoặc cho đi lại tự do trong trại. 
Trong buổi đi dạo hôm nay, Naric nói với tôi rằng chỉ huy trại đã đồng ý. Cuộc đối chất sẽ diễn ra lúc mười giờ sáng mai. Dự buổi này sẽ có một giám thị trưởng làm chức năng dự thẩm. suốt đêm hôm ấy tôi tìm cách tự can gián, vì tôi có ý định giết Bébert Celier. Nhưng tôi không sao tự can ngăn được. Không, con người ấy mà được miễn giam vì đã có công phát hiện vụ vượt ngục, rồi sau đó, xuất phát từ Đất Liền, hắn lại có thể lên đường vượt ngục nữa, như thể để thưởng công vì đã ngăn chặn tôi vượt ngục, thì thật quá ư bất công. Phải, nhưng mày có thể bị xử tử, vì người ta có thể coi là mày có chủ định từ trước. Tôi đếch cần. Đó là kết luận của tôi, vì tôi quá tuyệt vọng. Bốn tháng trời hy vọng, vui mừng, lo sợ, suy nghĩ, phát minh, để rồi đến khi đã sắp thành đạt thì bỗng dưng thất bại thảm hại như vậy chỉ vì miệng lưỡi một thằng chỉ điểm. Ra sao thì ra, mai tôi sẽ tìm cách giết Celier cho bằng được. 
Cách duy nhất để khỏi bị xử tử là làm thế nào để hắn rút dao ra trước. Muốn thế, tôi phải làm thế nào cho hắn thấy rõ là con dao của tôi cũng đã mở. Chắc chắn là thấy thế hắn phải rút dao ra ngay. Việc này phải làm trước cuộc đối chất một chút, hay ngay sau đó. Tôi không thể giết hắn trong khi đang đối chất, vì như thế có nguy cơ là một tên cảnh sát có thể rút súng bắn tôi ngay. Tôi trông mong vào cái thói cẩu thả kinh niên của bọn cảnh sát. 
Suốt đêm tôi vật lộn với ý nghĩ trên đây. Tôi không sao trấn áp được nó. Quả thật, trong đời có những điều không thể nào tha thứ được. Tôi biết rằng con người ta không có quyền tự mình đứng ra xét xử người đời, nhưng đó là nói về những người thuộc một đẳng cấp xã hội khác kia. Làm sao có thể chấp nhận rằng có thể không nghĩ đến việc trừng phạt thật đích đáng một con người đáng ghê tởm như thế. Tôi không hề làm điều gì có hại cho tên tù trại lính ấy, thậm chí hắn cũng không hề quen biết gì tôi. Như vậy là hắn đã tự dưng xử phạt tôi  năm cấm cố một cách hoàn toàn vô cớ. Hắn đã tìm cách chôn sống tôi để mưu cầu được miễn giam. Không, nhất định không? Tôi không thể nào lại để cho hắn được hưởng thành quả của cái hành động đáng buồn nôn của hắn. Không thể được! Tôi cảm thấy mình chỉ có chết. Thôi, chết thì chết, nhưng hắn cũng phải chết, mà phải chết khổ chết sở hơn cả tôi nữa. Nhưng nếu mày bị xử tử, thì thử hỏi chết vì một con người đê tiện như thế có phải là ngu dại không? Cuối cùng tôi chỉ hứa được với bản thân có một điều: nếu hắn không rút dao ra, tôi sẽ không giết hắn. 
Suốt đêm ấy tôi không ngủ. Tôi hút hết cả một bao thuốc lá sợi xám. Đến sáu giờ sáng, lúc họ đưa cà phê vào tôi chỉ còn hai điếu. Thần kinh tôi căng thắng đến nỗi ngay trước mặt tên gác, tôi nói với người đưa cà- phê (điều này xưa nay cấm): 
– Cậu có thể cho tôi mấy điếu thuốc hay một ít thuốc lá sợi không… nếu sếp đây cho phép? Thưa sếp, tôi kiệt quệ lắm rồi. 
– Ừ!, anh cứ cho Papillon đi, nếu anh có sẵn. Tôi thì không hút thuốc. Tôi thành thực phiền lòng cho anh, Papillon ạ. Là người Corse, tôi thương con người và ghét những việc làm khốn nạn.  Mười giờ kém mười lăm, tôi đang đứng ngoài sân đợi lúc vào phòng. Naric, Quenier, Bourset, Carbonieri đều có mặt ở đây. Viên cảnh sát gác chúng tôi là Antartaglia, người vừa gặp tôi khi đưa cà phê vào. Hắn nói chuyện với Carbonieri bằng tiếng Corse. Tôi nghe cũng hiểu được ý hắn nói là việc vừa rồi thật đáng tiếc, và Carbonieri có thể bị ba năm cấm cố. Lúc ấy cánh cửa mở ra và tên A-rập leo dừa, tên A-rập gác cửa xưởng và Bébert Celier bước vào sân. Nhìn thấy tôi, hắn hơi chùn bước lại, nhưng tên gác đi kèm hắn nói: 
– Đi tới, đứng sang một bên kia, bên phải ấy. 
– Antartaglia, đừng để cho chúng nó trao đổi gì với nhau. 
Thế là hắn và tôi đứng cách nhau không đầy hai mét. Antartaglia nói: 
– Giữa hai nhóm cấm nói với nhau. 
Carbonieri lúc bấy giờ vẫn nói chuyện bằng tiếng Corse với viên cảnh sát đồng hương đang giám thị cả hai nhóm. Viên cảnh sát cúi xuống buộc lại dây giày, tôi ra hiệu cho Matthieu đứng nhích ra phía trước một chút. Cậu ta hiểu ngay. Cậu đưa mắt nhìn Bébert Celier và nhổ bọt về phía hắn. Khi viên cảnh sát đứng thẳng lên, Carborneri cứ nói chuyện với hắn không ngớt miệng, thu hút được sự chú ý của hắn đến mức tôi bước lên một bước mà hắn không hề nhận thấy. Tôi buông cho con dao từ ống áo tụt xuống và cầm vào tay. Chỉ có Celier có thể trông thấy. Nhanh như cắt, hắn rút con dao đã mở sẵn trong túi quần đâm một nhát trúng vào bắp tay phải của tôi. Tôi thì lại thuận tay trái. Tôi đâm thẳng vào ngực hắn một nhát ngập đến tận chuôi. Một tiếng “A-a~ch!” nghe như tiếng đã thú, rồi hắn rơi phịch xuống đất. Antartaglia rút súng lục cầm tay nói với tôi: 
– Cậu lùi ra, lùi ra ngay. Chớ đâm thêm, không tôi buộc lòng phải bắn. 
Carbonieri lại gần Celier, lấy chân chạm thử vào đầu hắn, rồi nói hai tiếng Corse. Tôi nghe cũng hiểu: hắn chết rồi. Viên cảnh sát nói: 
– Cậu đưa đao đây.. 
Tôi đưa con dao, hắn đút súng vào bao, đi ra cánh cửa sắt gõ mấy tiếng. Một tên gác mở cửa ra. Viên cảnh sát nói: 
– Cho cáng vào khiêng một xác chết. 

– Ai vừa chết thế? – tên gác hỏi. 
– Bébert Celier. 
– Thế à? Thế mà tôi cứ tưởng là Papillon. 
Họ lại nhốt chúng tôi vào xà-lim. Cuộc đối chất thế là phải bãi. Trước khi vào hành lang Carbonieri nói với tôi: 
– Papi, tội nghiệp cậu quá, lần này thì cậu lãnh đủ. 
– Ừ, nhưng tớ vẫn còn sống, còn nó thì ngoẻo rồi. Viên cảnh sát trở lại một mình, mở cửa rất khẽ khàng rồi nói với tôi, giọng vẫn còn xúc động: 
– Đấm vào cửa mấy cái đi, kêu là bị thương. Chính hắn đã tấn công trước, tôi trông thấy rõ ràng. – Đoạn hắn khép cửa lại. 
Mấy cái gã cảnh sát Corse ấy ghê thật: hoặc xấu tất, hoặc tốt cả. Tôi đập cửa, kêu: “Tôi bị thương rồi, phải đưa tôi vào bệnh viện băng bó chứ” 
Viên cảnh sát trở lại với viên giám thị trưởng của khu trừng giới. 
– Anh làm sao? Có việc gì mà làm ồn lên thế? 
– Thưa sếp, tôi bị thương mà. 
– À! Anh bị thương phỏng? Tôi tưởng hắn đâm có trúng đâu? 
– Bắp thịt tay phải của tôi bị đứt rồi. 
– Mở ra, viên cảnh sát kia nói. 
Cửa mở, tôi bước ra. Quả bắp thịt bị cắt đứt, hở hoác ra. 
– Khóa tay hắn lại, đưa sang bệnh viện. Không được để hắn nằm lại bệnh viện, bất cứ với lý do gì. 
Băng bó xong, phải đưa về đây ngay. 
Khi chúng tôi ra ngoài, có đến mười tên cảnh sát với cả ông chỉ huy trại nữa. Viên giám thị công xưởng nói với tôi: 
– Quân giết người! 
Tôi chưa kịp đáp thì ông chỉ huy đã nói với hắn: 
– Giám thị Bruet, ông im đi, Papillon đã bị hắn tấn công trước. 
– Khó tin lắm, – Bruet nói. 
– Tôi có trông thấy, và tôi sẽ làm chứng, – Antartaglia nói. Và thưa ông Bruet, xin ông biết cho rằng một người Corse không nói dối bao giờ. 
Ở bệnh viện, Chatal gọi bác sĩ đến. Ông ta khâu vết thương cho tôi mà không cho thuốc mê hay gây tê gì cả, rồi đính cho tôi tám cái kẹp, không nói với tôi một lời. Tôi thì cắn răng chịu đau, không một tiếng kêu than. Cuối cùng, bác sĩ nói: 
– Hết thuốc tê rồi, cho nên tôi không thể tiêm cho anh đỡ đau được. – Đoạn ông ta nói thêm – Việc anh vừa làm chẳng tốt chút nào. 
– Ồ, bác sĩ cũng biết đấy: đàng nào thì với cái áp- xe gan ấy hắn cũng chẳng sống được bao lăm nữa. 
Câu trả lời bất ngờ của tôi làm cho ông bác sĩ đớ người ra. 

Cuộc thẩm vấn vẫn tiếp tục. Phần trách nhiệm của Bourset bị gạt ra hoàn toàn. Mọi người đều thừa nhận cậu ấy bị đe dọa đến tính mạng, sợ quá phải làm theo. Tôi cũng góp phần làm cho họ tin như vậy. Đối với Naric và Quenier cũng không có bằng chứng gì là họ can phạm hay đồng lõa. Chỉ còn lại tôi và Carbonieri. Đối với Carbonieri, họ gạt bỏ lời buộc tội lấy trộm và lạm dụng vật tư của Nhà nước. Chỉ còn tội đồng lõa trong việc mưu toan vượt ngục. Quá lắm cũng chỉ sáu tháng là cùng. Đối vôi tôi thì tình thế đâm ra phức tạp Thật vậy, bất chấp những nhân chứng bênh vực tôi, viên giám thị lãnh nhiệm vụ thẩm vấn vẫn không chịu thừa nhận đây là trường hợp tự vệ chính đáng. Dega đã được xem cả tập hồ sơ, bác ta quyết định rằng mặc dầu viên dự thẩm rất quyết tâm trị tội, họ cũng không thể nào xử tử tôi được, vì tôi đã bị thương trước khi hành động. Bên buộc tội có một căn cứ để vin vào mà đòi xử tôi thật nặng: hai tên A-rập giữ chìa khóa đều khai rằng tôi đã rút dao ra trước. 
Cuộc thẩm vấn đã xong. Tôi đợi ngày đi Saint-Laurent dự phiên xử của tòa án binh. Suốt ngày tôi chỉ hút thuốc, hầu như không đi lại trong xà-lim. Người ta cho tôi một giờ đi dạo vào buổi chiều. Không một lần nào viên chỉ huy trại hay bọn giám thị, trừ viên giám thị công xưởng đã là dự thẩm trong cuộc thẩm vấn vừa qua, có thái độ thù địch đối với tôi. 
Đến thứ sáu là tôi phải giải đi Saint-Laurent. Sáng thứ tư, lúc mười giờ, tôi đi dạo trong sân đã gần hai tiếng đồng hồ thì viên chỉ huy trại. gọi tôi lại, nói: “Anh đi theo tôi”. Tôi theo ông ta ra khỏi sân trại, không có ai đi kèm theo. Tôi hỏi ông chỉ huy xem ông đưa tôi đi đâu nhưng ông chi lẳng lặng bước tiếp trên con đường xuống dốc dẫn về nhà ông. Dọc đường ông ta nói: 
– Nhà tôi muốn gặp anh một lát trước khi anh đi. 
Tôi không cho ai áp giải anh, vì nhà tôi sẽ bị một ấn tượng không hay nếu trông thấy anh bị một viên cảnh sát có súng đi kèm theo. Tôi hy vọng anh sẽ có thái độ đúng mực. 
– Thưa thiếu tá vâng. 
Chúng tôi đã đến nhà ông chỉ huy. Ông nói với Juliette: “Anh đưa người được em che chở về cho em đây như anh đã hứa. Em cũng biết là anh phải đưa anh ta về trại trước mười hai giờ trưa. Em có được gần một tiếng đồng hồ để nói chuyện anh ta”. Đoạn ông ta lui vào nhà trong một cách tế nhị. 
Juliette đến gần tôi và đặt bàn tay lên vai tôi, mắt nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt đen láy của bà càng sáng hơn mọi khi, vì giờ đây nước mắt bà là ra long lanh sau đôi hàng mi đen và dài. Cũng may là bà đủ tự chủ để cầm nước mắt lại.
– Anh thật là điên rồ, anh bạn của tôi ạ. Giá anh nói cho tôi biết là anh muốn ra đi, tôi tin là tôi sẽ có cách làm cho mọi việc được dễ dàng hơn. Tôi đã xin nhà tôi cố cứu giúp anh hết lòng, nhưng nhà tôi nói là tiếc thay ông ấy không có đủ quyền. Tôi gọi anh đến trước hết là thấy rõ tình trạng anh ra sao. Tôi khâm phục lòng can đảm của anh, tôi thấy anh còn đáng trọng hơn là trước đây tôi vẫn nghĩ. Với lại trước đây tôi cũng muốn được đền bù lại những gì anh đã cho tôi một cách hào phóng trong bấy nhiêu tháng trời. Đây, anh cầm lấy một ngàn francs, tôi chỉ cho anh được có thế. Tôi lấy làm tiếc là không thể làm gì hơn. 
– Bà ơi, xin bà nghe tôi, tôi không cần tiền đâu. Tôi van bà, bà nên hiểu là tôi không thể nhận được, vì theo tôi, làm như thế và làm vẩn đục tình bạn của chúng ta 
Đoạn tôi đẩy hai tờ giấy năm trăm mà bà chỉ huy đã rộng lòng biếu tôi. 
– Tôi van bà đừng nài tôi. 
– Thôi, tùy anh vậy, – Juliette nói. – Uống một chút rượu hồi nhẹ nhé? 
Và trong hơn một tiếng đồng hồ, người đàn bà đáng ngưỡng mộ ấy không ngớt nói với tôi những lời lẽ dịu dàng, nhân ái. Bà ta tin rằng tôi sẽ được trắng án về cái tội đã giết tên Bébert đểu cáng ấy và chỉ phải ngồi tù cấm cố mười tám tháng cho đến hai năm vì mấy tội kia. 
Khi từ giã, Juliette xiết chặt tay tôi hồi lâu trong đôi tay bà, và nói: “Tạm biệt anh, chúc anh may mắn nhiều” đoạn khóc òa lên. 
Ông chỉ huy đưa tôi về khu trừng giới. Dọc đường tôi nói:
– Thưa thiếu tá, thiếu tá có được người vợ cao quý nhất trên đời này. 
– Tôi biết, Papillon ạ, cô ấy sinh ra không phải để sống ở đây, những gì diễn ra ở đây quá tàn nhẫn đối với cô ấy. Nhưng biết làm thế nào được? Thôi, cũng chỉ bốn năm nữa tôi đã về hưu rồi. 
– Nhân lúc này chỉ có ông và tôi, tôi cũng xin cảm ơn ông đã cố làm sao cho người ta đối xử với tôi tử tế, mặc dầu nếu tôi thành công, việc ấy sẽ gây cho ông những chuyện hết sức phiền hà. 
– Phải, anh có thể làm cho tôi đau đầu hết sức. Tuy vậy, anh có muốn tôi nói với anh điều này không? Anh xứng đáng được hưởng thành công trong chuyến vượt ngục. 
Đến cổng khu trừng giới, ông nói thêm: 
– Từ biệt anh, Papillon. Cầu Chúa phù hộ anh, anh sẽ cần đấy. 
– Từ biệt thiếu tá. 
Đúng, tôi sẽ cầu Chúa phù hộ vì tòa án binh do một thiếu tá hiến binh bốn lon chủ tọa đã tỏ ra cực kỳ khắc nghiệt. Ba năm về tội lấy trộm và lạm dụng vật tư của Nhà nước, xâm phạm mộ phần và mưu toan vượt ngục, năm năm về tội giết tên Celier. Tổng cộng là tám năm cấm cố. Giả sử tôi không bị thương, chắc chắn là cái tòa án ấy đã xử tử tôi rồi. 
Cái tòa án đã xử tôi nghiệt ngã như vậy lại tỏ ra khoan dung đối với một phạm nhân Ba Lan tên là Dandowsky vừa phạm tội giết hai người. Hắn chỉ bị năm năm, tuy vụ án mạng hiển nhiên là đã được tính toán từ trước. 
Dandowsky là một người thợ bánh mì, chỉ chuyên làm men bột nở. Hắn chỉ làm việc từ ba đến bốn giờ sáng. Vì lò bánh mì ở ngay bến, đối diện với biển, cho nên bao nhiêu thì giờ rỗi hắn đều dành cho việc đi câu. Tính tình điềm đạm, nói tiếng Pháp không được sõi, hắn chẳng giao du với ai. Người tù khổ sai chung thân này dồn hết tình thương yêu trìu mến cho một con mèo đen có đôi mắt xanh biết như màu ngọc bích. Con mèo đối với hắn như một người ruột rà thân thiết, cùng ăn cùng ngủ với nhau, mỗi khi hắn đi làm con mèo đi theo hắn như một con chó, để cho hắn có bạn. Nói tóm lại, giữa người và vật có cả một mối tình đằm thắm. 
Còn như nếu trời nắng quá mà không có nơi nào có bóng râm gần chỗ câu cá, nó trở về lò bánh mì một mình leo lên võng của bạn nằm chờ. Đến mười hai giờ trưa, khi nghe chuông điểm, nó liền ra đón anh bạn Ba Lan và nhảy nhót bên con cá con mà anh ta treo ở đầu sợi chỉ, dứ dứ cho con mèo vờn cho đến khi nó chụp được.
Tốp thợ bánh mì ở chung một giàn phòng lớn kế bên lò bánh mì. Một hôm, hai người tù khổ sai tên là Corrazi và Angelo mời Dandowsky ăn món xi-vê thỏ do Corrazi nấu: mỗi tuần anh này đều nấu xi-vê thỏ chén một lần. Dandowsky ngồi xuống ăn với họ, nhân thể góp một chai rượu vang để nhắm với thịt thỏ. Tối hôm ấy con mèo không về. Anh Ba Lan tìm khắp nơi mà chẳng thấy. Một tuần đã trôi qua, mà con mèo vẫn chẳng thấy đâu. Dandowsky buồn lắm: sinh vật duy nhất mà anh yêu thương và cũng yêu thương anh một cách đằm thắm như vậy bỗng dưng đã biến đi một cách thật khó hiểu. Được biết nỗi đau buồn vô hạn của Dandowsky, vợ một viên giám thị đem biếu anh ta một con mèo con. Dandowsky liền đuổi nó đi, và phẫn uất hỏi bà ta: làm sao bà ta lại đang tâm nghĩ rằng anh có thể yêu thương một con mèo khác được. Anh ta nói rằng đó là một sự xúc phạm nặng nề đối với hương hồn của người bạn đã khuất của anh. 
Một hôm tên Corrazi đánh một cậu bé học nghề làm bánh mì, đồng thời chuyên đưa bánh mì vào trại. Cậu ta không ở chung với tốp thợ bánh mì, mà thuộc phiên chế của trại. Vốn tính thù dai, cậu bé tìm gặp Dandowsky nói: 
– Anh ạ, cái con thỏ mà Corrazi và Angelo mời anh ăn ấy, chính là con mèo của anh đấy. 
– Chứng cớ đâu? – anh Ba Lan túm cổ cậu bé quát. 
– Dưới gốc cây xoài ở chênh chếch phía sau cái lán để xuồng, tôi đã nhìn thấy Corrazi chôn da con mèo của anh đấy. 
Như một người điên, anh Ba Lan ra đấy xem, và quả nhiên tìm thấy bộ da. Anh ta nhặt bộ da và cái đầu đã bắt đầu thối rữa, đem ra biển rửa sạch, phơi ra nắng cho khô rồi lấy vải sạch bọc lại và đem chôn ở một nơi khô ráo, chôn rõ sâu để cho kiến khỏi ăn. 
Chính anh ta kể lại với tôi như vậy. 
Đêm hôm ấy, dưới ánh đèn dầu hỏa, trên một cái ghế dài rất nặng ở phòng ăn của thợ bánh mì, Corrazi và Engelo ngồi cạnh nhau đánh một ván belote tay bốn. Dandowsky là một người đàn ông trạc bốn mươi, vóc người tầm thước, vạm vỡ, rộng vai, rất khỏe. Anh ta đã chuẩn bị một cái gây lớn bằng gỗ lim nặng như sắt. Từ phía sau bước vào, anh ta chẳng nói chẳng rằng giáng lên đầu mỗi đứa một đòn khủng khiếp. Hai cái sọ vỡ tung ra như hai quả lựu, óc chảy cả xuống đất. 
Như điên như dại, Dandowsky chưa hả, còn hốt óc hai kẻ thù phết lên tường nữa. Cả căn phòng nhầy nhụa những máu và óc người. 
Trong khi tôi không được ngài thiếu tá hiến binh, chánh án tòa án binh, thông cảm, thì Dandowsky tuy đã giết hai mạng một lúc có chủ định hắn hoi, lại may mắn được ngài thông cảm, đến mức chỉ bị xử có năm năm cấm cố.







Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

Chương 8

Chúng tôi đã đến Buchenwald được 15 ngày, đời sống ở đây được tổ chức và hình như mọi người đã thích nghi với đời sống đó.

Nhưng buổi chích ngừa tiếp tục theo lịch trình đã định và thời gian trong ngày được lấp đầy bởi vài vòng đi hầm đá, và các cuộc điểm danh trôi qua mà không có một biến cố nào xảy ra.

Ngày chúa nhật, tất cả mới được phép tổ chức văn nghệ trong mỗi khối. Ông tu viện trưởng Bourgeois, luôn luôn tìm kiếm học trò, đã tập họp được một nhóm trẻ và dựng nên các màn liên quan đến đời sống hàng ngày tại Pháp.

Một cuộc thẩm vấn toàn diện thứ nhì lại được thực hiện, và một buổi sáng, chúng tôi được dẫn đến bệnh xá trước một bác sĩ SS. Y ngồi chễm chệ như ngự trong một chiếc ghế bành. Chung quanh y, các bác sĩ tù nhân chạy lăng xăng, trình cho y xem các phiếu cá nhân chúng tôi, trong khi y liếc mắt nhìn hai lượt, một trên tờ giấy và một trên thân mình chúng tôi, lúc đó chúng tôi để mình trần và quần được trụt xuống thấp để y có thể kiểm soát bệnh sa ruột. Đa số tù nhân sẽ được gởi đi, trong ngày một ngày hai, trong các chuyến di chuyển, và cuộc khám bệnh nầy có mục đích phân loại xem ai sẽ được giữ lại ở trại nầy vì lý do tàn tật hay bị bịnh kinh niên. Rất nhiều biệt đội lao tác thích ứng với khả năng của họ đã dành sẵn chỗ. Tất cả những người khác, ngoại trừ các công nhân chuyên nghiệp, lập tức được liệt vào hạng “di chuyển”. Trong thực tế, tất cả mọi chuyện đó chỉ là một hài kịch bởi vì viên bác sĩ SS, nhân một chuyến chở tù nhân đi nơi khác, chẳng bao giờ kiểm soát các danh sách được thiết lập.

Sau khi khám sức khỏe về, tất cả các thợ chuyên nghiệp có dính dáng đến ngành luyện kim được yêu cầu trình diện. Vào khoảng 50 người đi ra theo lệnh; một vài người đã rờ được cái giũa nhờ sự tình cờ, một số khác là dân cày chính cống. Tuy nhiên tất cả đều tự cho rằng đã biết rõ bí mật của nghề luyện kim và họ có lý vô cùng. Không mất gì cả, cứu mình trước đã.

Thời gian kiểm dịch thu ngắn dần, mọi chuyện chạy đều trong khối. Hubert với tờ giấy 1000 quan, có thể mua 20 lít một loại súp do nhà bếp bán, lẽ ra phải có tiền Đức kim mới mua được, tuy nhiên một trong các nhân viên chịu nhận tiền Pháp với điều kiện trừ bớt 25% trị giá coi như tiền huê hồng. Đó là cả một dịp lễ nhỏ, và tối hôm đó, Hubert có rất nhiều bạn.

Một buổi sáng, tất cả mọi người trong khối phải ra ngoài để lau chùi gì đó tôi không rõ, tôi khám phá thấy trong tận cùng của ngăn, phần dưới thấp nghĩa là gần như ngang mặt đất, một tù nhân lớn tuổi, ông ta lồm cồm ngồi dậy khi bị tôi trông thấy, và bằng một giọng dịu dàng ông xin tôi cho phép nằm lại, ông cảm thấy mệt nhọc quá. Với cặp mắt kiếng viền vàng ông ta có bộ mặt của một chưởng khế tỉnh nhỏ.

– Tôi là M.Saudan, Bộ trưởng Tư pháp Bỉ, ông ta tiết lộ với tôi.

Không ai chú ý đến ông cả.

Trong trại chúng tôi có nhiều người Bỉ và Slave. Người Nga, phần đông là trẻ vị thành niên, đã là đối tượng của sự tò mò toàn diện. Phần đông bị xúc trong các nông trường tập thể ở Ukraine, chúng chỉ có một câu trả lời cho mọi câu hỏi: “Ở xứ tôi người ta ăn, ở xứ phát xit, người ta đói”. Lanh lẹ như chồn, khỏe mạnh lướt qua mọi thử thách, bọn trẻ thâm nhập trong tất cả các khối để mua bán trao đổi, và sản phẩm được đòi hỏi nhiều nhất là thuốc lá.

Thỉnh thoảng một vài đồ vật bị đánh cắp và đã có một lần có kẻ đánh cắp bánh mì.

Một cách tự động, người ta lên án các vụ đánh cắp đó. Nhưng một cuộc điều tra đã tìm ra thủ phạm, đó là một thợ phụ người miền Lille. Nếu ăn trộm mọi thứ khác được xem là chuyện vặt, thì bánh mì là một vật thiêng liêng và nhân dịp nầy chúng tôi được biết hình phạt tử hình có thể được áp đụng cho trường hợp phạm tội ăn trộm bánh mì, điều nầy hoàn toàn tùy thuộc người trưởng khối và các phụ tá của ông nầy.

Gần chúng tôi, trong khối 59, một tù nhân Hòa Lan đã bị tử hình vì 250 gam chất bột đen gọi là bánh mì đó. Anh ta bị cột trần truồng vào cánh cửa suốt một đêm. Sáng hôm sau người ta tìm thấy một xác chết cóng vì lạnh. Trong khối chúng tôi, Léo, hôm đó nổi cơn, nói rằng cũng sẽ làm như vậy đối với kẻ phạm tội. May thay, Kurt, thoát khỏi vẻ lạnh lùng cố hữu, đã xen vào kịp thời. Kẻ phạm tội chỉ bị phạt đứng trên một ghế đẩu trong 3 giờ với một tấm bảng mang trước ngực ghi lại những gì mà anh ta đã làm.

Một đêm, viên thư ký bảo chúng tôi đứng nguyên tại hàng sau cuộc điểm danh, và khi điểm danh xong, ông ta bước lên một chiếc ghế đẩu với một danh sách trong tay. Được một thông ngôn giúp đỡ, ông ta tuyên đọc sự chỉ định mỗi người vào công việc sẽ được bắt đầu vào ngày mai. Những người ra trình diện như là chuyên viên sẽ đi nhà máy, tất cả số còn lại là việc ngoài trời: làm đường bộ, đường sắt, đào mương, tất cả đều ở chung quanh trại: 12 giờ đứng làm việc trong bất cứ thời tiết nào với một thời gian ngăn ngừng nghỉ vào buổi trưa. “Tuy nhiên, ông ta kết thúc, các anh chỉ làm các công việc đó ở đây trong một thời gian ngắn nữa thôi, trong chuyến di chuyển sắp đến, 8 hay 15 ngày nữa, tất cả các anh lại phải lên đường”.

Hubert, Pierre, tu viện trưởng Bourgeois, Đại tá Ganneral đều phải ra làm việc ngoài trời, thật thảm hại. Ramelin đi nhà máy, khá hơn, Michael được làm y tá, Max qua làm thông ngôn cho khối 58 và tôi nhận nhiệm vụ tương tự ở khối 56. Chúng tôi nằm trong số được ưu đãi.

Những người may mắn nhất hứa với bạn bè gặp vận xui, tất cả tình liên đới, bởi vì cuộc chiến đấu để sống còn chỉ mới thật sự bắt đầu.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

Phần 13 – Lời nguyện đêm Giáng Sinh

Trung tỏ vẻ quen thuộc bệnh viện, hắn đưa tay chặn cả đám dừng lại nơi ngã rẽ vào phòng hồi sức, chìa tay nói với ba thằng bạn:

– Có bao nhiêu gom lại đây, tiền xe về có tao lo.

Đứa nào cũng móc sạch túi, thằng Trung đếm cẩn thận mớ tiền chẳn có lẽ có:

– Bảy trăm tư, mẹ kiếp toàn con nhà nghèo, tao thêm hai trăm sáu cho đủ triệu!

– Mai đi rừng vơ tao phải chạy lại tiền mua đồ bới, mua cỏ đem theo cho bò ăn đó mày, lẹ lẹ vào tao nhìn mặt nó chút!

Cả bốn đứa rón rén vào phòng hồi sức. Khanh ngước mắt nhìn đám bạn vào phòng, nước mắt hắn rươm rướm:

-Tụi mày xuống thăm cháu đó à, tưởng đi rừng hết rồi chơ?

Nhìn thằng con trai tàm tuổi của Khanh nằm thiêm thiếp, chiếc sơ mi đứt mấy hột nút phô ra lồng ngực thoi thóp làm cả bọn thở dài, bốn thằng ghé ngồi lên chiếc giường hai bên, Trung vuốt tóc thằng nhỏ hỏi Khanh:

-Hôm qua đến giờ có uống được chút sửa nào không, Bác sĩ nòi sao?

-Chuyền hai chai nước, có uống mấy muổng sửa rối rát quá nó không uống nửa! Cả đám cùng thở dài, Tiên nói làm cả bọn thêm ray rứt hối hận:

-Giá tao đừng xướng làm con chó thì đâu có chuyện này!

-Lỗi gì mình mày, đừng ăn món tiết canh thì đâu đến nổi!

-Nói lui vậy thì thà nói chờ lễ về rồi nhậu thì đâu vào đó! Tụi mình thằng nào cũng khổ cũng thèm, đi rừng cả tuần có chút gì bổ béo trong người đâu, toàn cá khô vói nước mắm, thấy mâm tiết thằng nào cũng muốn ăn, xui là cháu nó dại!

-Có nghe Bác sĩ nói chuyển vô Sài gòn không?

-Hôm qua súc ruột xong bác sĩ nói đợi hai ngày kiểm tra lại vòm họng, nếu không loét lắm thì chữa ở đây cũng được.

-Vợ mày đâu?

-Nó đi giặt cái mùng và mấy cái áo quần rồi, cúp nước nên nó đợi hai giờ rồi đó!

Hai chiếc cộ bò vào nhà thắng Trung lúc ba giờ sáng ngày hai bốn tháng mười hai, cả bốn thằng mừng rỡ nhảy xuống xe ngắm lại sáu bi gỗ căm xe, đường kính sáu mươi phân nằm gọn gàng trên hai thùng xe mà khoái chí. Quên hết bao nhọc nhắn từ trong núi giáp ranh với rừng Lâm Đồng. quên bảy con khe mùa khô không nước, tháng mười một đổ mưa làm cho chúng trở thành bảy con thác hung tợn, chưa kể đến cái gian nan “lĩa” (*) sáu lóng gỗ từ trên cao xuống, nó muốn kéo tuột con bò xuống vực!

-Trung, mày chạy qua nhà cha Thắng ngay đi, lão ngủ thỉ kéo dây nói là căm xe bi sáu tấc, dài ba mét rưỡi, nghe vậy là lão tỉnh ngay. Hôm nay hăm bốn rồi, có tiền sắm sửa chút Giáng Sinh chớ!

Lão Thắng qua thiệt, trời vừa sáng, nhìn sáu lóng gỗ đỏ rực lão nói:

-Tụi bây không sợ kiểm lâm Lâm Đồng à, tụi nó tuyên bố gặp lâm tặc Ninh Sơn là bắn không cần hỏi đó tụi mày!

-Tụi nó bắn thì chết đạn, không phá rừng thì chết đói, hên xui! Thằng Trung nóng nãy:

-Ông trả bao nhiêu cho sáu lóng này?

-Thì giá căm xe tụi mày rành rồi hỏi chi nữa, chỉ trừ hao cho tao chút chút thôi, đợi sáng mai tính tấc tình khối tao trả tiền, cái nòi căm xe mặt lớn dễ thua lắm, nứt ruột!

Mừng xía vô:

-Tươi rói cha à, nguyên cây đó!

-Ừ, cho xe qua nhà rồi ứng trước ba triệu, qua lễ tính sau, đồng ý không?

-Trả hết đi cha, lễ xong là tụi này đi lại liền!

-Tao mới xuất một mớ đi Đồng Nai dang kẹt, mà thôi cũng được!

Chiều lại, cả bốn “lâm tặc” xúm nhau ở nhà thằng Tiên, con chó của nó hay cắn trẻ con hàng xóm, cũng tại tụi nhỏ có cái tật cứ đi lễ tối về ngang nhà là dậm chân rồi chạy, con chó chạy ra sủa, đứa nào chạy chậm là nó cắn, mấy tháng nay Tiên bị hàng xóm đem con tới ăn vạ đền mấy lần!

Làm xong con chó, treo mớ dồi lên chiếc sào, bốn cái chân đem cho bốn bà vợ hoong cho con, lọc ít thịt, chừa làm món luộc, sau lễ sẻ rũ mấy thằng bạn đi rừng trong thôn cùng về nhâu, nhưng tắm táp xong mới sáu giờ chiều mà mười giờ đêm mới lễ!

Mâm tiết canh đông cứng nhìn thích mắt, thằng Khanh đề nghị:

-Làm vài xi với cái tiết rồi về đi lễ với vợ con cũng lịp chán, mới sáu giờ!

Không biết rượu nặng hay cả bọn quá mệt, bốn đửa đều say, nhưng Trung và Tiên thì gắng dậy được để đi lể. Vợ Khanh chạy qua lay hoài mà hắn không dậy nỗi. Thôi thì không đi lể đêm thì sáng mai đi cũng được, nhưng chị một tay ẳm con bé sáu tháng tuổi, không có Khanh không ai giữ thằng con tám tuổi, sợ nó nghịch chạy lung tung làm bà con lo ra không dâng lễ được.

Thằng con Khanh hiếu động nhưng ngoan, mỗi lần bạn bè Khanh đến nhà nó rất lễ phép, chơi ngoài sân nhưng nghe gọi là chạy vào ngay, học cũng khá dù không có ai bày vẽ gì, không có tiền học thêm nên nó chăm lắm, chưa bao giờ nhà trường hay cô giáo la rầy gì, vợ chồng Khanh thương con lắm.

Sợ thế mà thật!

Sân nhà thờ đông nghẹt người, đang chú tâm xem hoạt cảnh “hang Bê Lem” bỗng nghe tiến xầm xì từ ngoài cổng rồi lan vào trong, lát sau có tiếng ai đó:

-Con anh Khanh, nó uống nhầm a xít!

-A xít đâu mà uống?

-Của ông bán bong bong bay,

Một số người ùa ra cổng nhà thờ. Trung ngồi nơi đám cỏ gần cổng, nhào ra khi nghe loáng thoáng tên Khanh. Thằng bé quằn quại giữa đất, lũ trẻ và đám người bu quanh, có tiếng hỏi:

-A xít để đâu mà nó uống vậy?

-Nó ở đâu tự nhiên chạy lại chụp cái chai a xít dùng đổ vô đá “các buya” bơm bóng bay, tôi cũng đang quay lưng lại nên không cản kịp!

-Nó uồng nhiều không?

-Khoảng nữa chai!

Trung chạy vào bải giữ xe, lấy được chiếc xe cũng không dễ, nhưng may là xe anh nằm ngoài, len lỏi tới nơi anh nói to:

-Có ai bồng giùm cháu lên bệnh viên với!

Một anh thanh niên nhanh nhẩu ẵm ngang cháu leo lên xe.

Khi Khanh lên bệnh viên thì thằng nhỏ còn trong phóng cấp cứu, mặt hắn phờ phạc còn vợ Khanh thì ngất lên xỉu xuống, luôn miệng con ơi!

Trung nói nhỏ vào tai Khanh:

-Nó chơi đuổi bắt, khát quá nên chạy đến chổ bán bong bong, tưởng chai axit là chai nước nên xin, ông ta chưa kip quay lại nò đã tu mấy ngụm liền!

Khanh ngồi úp mặt vào hai bàn tay, lát sau có tiếng y tá gọi:

-Thân nhân chuẩn bị chuyển xuống bệnh viện tỉnh! Khanh nói với Trung:

-Mày chở vợ tao về với con bé rồi ra chợ chờ xe xuống, chay nhanh nghe mày!

-Không, tao ra xem cậu thanh niên còn không, nhờ cậu ấy… Lát sau Trung quay lại:

-May quá, cậu ta vẫn còn!

Tài xế xe cấp cứu đóng cửa, chị y tá xem lại dây chuyền nước và bình o xy. Khanh và Trung ngồi hai bên chiếc băng ca. Xe chạy ra cổng, hai gả “lâm tặc”làm dấu thánh giá, nhìn lên trần xe cấp cứu, thành khẩn, lâm râm cầu chúa hài đồng: xin cho thằng bé bằng an!

Sài gòn 02 tháng 12 năm 2014.

(*) Lỉa: Cột lóng gỗ vào con bò, rồi bẩy lóng gỗ xuống dốc, trong khi con bò rị lai, xuống từ từ. rất nguy hiểm.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

Phần 13

Thưở vô trường học, thưở ra trường tù

Thuở còn ở nhà trường trung học, tôi có vẻ khá Việt văn nhưng lại đi ban B môn Toán, chả biết tại sao. Đời tôi có nhiều chuyện trật đường rầy ngay từ buổi thiếu thời. Có lần làm một bài bình giảng trong truyện Kiều, tôi bài bác ông tướng giặc Từ Hải hết chỗ chê. Tôi chê có lý, có văn, có sách đàng hoàng, đến ông thầy Thế Viên phải cho điểm cao nhất lớp.

Thuở xưa, hễ ai hùng cứ được một phương là tự nhiên được làm tướng, không cần cái sao nào trên áo trận. Không có ngôi sao nên không thể so sánh được với mấy ông tướng của mình về cấp bực. Cấp bực không so sánh được, nhưng cách hành sử của một ông tướng Từ Hải thì tôi không chịu… Tướng Từ Hải khi chưa gặp Kiều thì:

Đường đường một đấng anh hào

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

Cái này tôi chịu. Đến khi mang được Kiều về khu chiến thì ông tướng xìu thấy rõ. Người đẹp nhớ kinh thành, đô hội, bèn bèn làm một màn dụ ông tướng về hàng triều đình để làm quan võ, cho nàng được hưởng chút phú quý, vinh hoa. Tướng Từ Hải không còn “ải ải như ta đây”, hay dọc ngang nào biết trên đầu có ai, mà chỉ than:

Bó thân về với triều đình

Hàng thần lơ láo, phận mình ra sao…

Kiều thấy ông tướng có vẻ xuống tông, bèn rề vô ôm eo ếch năn nỉ, không biết nàng thủ thỉ cái kiểu chi mà ông tướng xụi lơ, nhận lời đề nghị qui hàng:

Nghe lời Kiều nói mặn mà

Thế công Từ mới đổi qua thế hàng!

Trời ơi, làm tướng kiểu gì mà vì đàn bà nói ngọt, đang giáp trận đùng đùng lại xếp gươm giáo qui hàng?! Cái máu con trai của tôi thây chuyện này không ổn tí nào. Nhưng sách viết như vậy biết làm sao bây giờ. Ông Trần Hưng Đạo, ông Lý Thường Kiệt, ông Quang Trung mà như vậy thì chết cha nước ta. Khi Kiều thành thực tin ở triều đình, tin ở Từ Hải, tin mọi chuyện sẽ an bài; và vì tin nàng, Từ Hải tàn tàn kéo quân về trình diện triều đình. Không ngờ gặp phải thứ triều đình cà chớn, cho Hồ Tôn Hiến ra phục kích.

Từ Hải bị vây, tấn công bất ngờ, chết đứng giữa trận. Có thể lúc đó ông tướng bị áp huyết cao, cholesterol cao, nhận ra sự lọc lừa phản bội của triều đình, hoặc giả Từ Hải nghĩ Kiều là gián điệp nội phản… Thế là ông tướng uất lên mà chết thẳng lưng trên lưng ngựa, báu kiếm còn nguyên trong vỏ. Tên Hồ Tôn Hiến này cho ngồi chỗ tướng VC Nguyễn Chí Thanh, triều đình tráo trở này cho thế vào chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh thì có lẽ hợp. Cứ coi cái trận Mậu Thân 1968 thì thấy hai cái triều đình này hành sử gian trá, lọc lừa y chang nhau.

Trong bài bình giảng thuở xưa, dĩ nhiên lúc tôi chưa biết lính tráng là gì, song là con trai có chút máu lý sự, tôi oánh ông tướng Từ Hải thê thảm. Ông thầy hỏi:

– Tại sao còn nhỏ mà em viết nặng tay như vậy?

– Thầy coi, đường đường là một ông tướng “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” mà chỉ vì “nghe lời Kiều nói mặn mà. Thế công Từ mới đổi ra thế hàng”. Làm tướng gì mà hèn yếu, kỳ cục vậy? “Nhất tướng công thành vạn côt khô”, ổng làm tướng như vậy là chết cha ba quân. Bài bình giảng em viết hơi bạt mạng mà thầy lại cho em điểm cao là sao?

– Vì cách diễn giảng và phê bình của em có những lý lẽ vững vàng. Trời cho sau này mà em làm tướng, chắc em gắt gao và nguyên tắc?

– Em làm tướng sao nổi thầy. Cha mẹ em là nông dân mà, sau có đi lính bò lên tới quan là phúc đức ông bà!

– Tướng mạo em hiền, thẳng tính, nhưng biết đâu!

Trong suốt quãng đời thơ ấu bậc trung học, về môn văn, khi đụng tới truyện Kiều là tôi đâm bực cái câu:

Nghe lời Kiều nói mặn mà

Thế công Từ mới đổi ra thế hàng!

Từ Hải đã chết vì hai cái câu này. Nhiều lần tôi nghĩ bụng, tôi mà làm tướng thì muôn lần không, vạn lần không, sẽ không có chuyện mấy bà rớ vô chuyện nhà binh, chuyện đại sự. Thành ra, sau này, khi tôi vào lính, tôi ghét cay ghét đắng chuyện mấy bà lớn chỉ huy ông lớn, nhúng tay vào chuyện thuyên chuyển, bổ nhiệm, chuyện chạy cửa hậu. Tổng tư lệnh mấy cái cửa hậu đều do mấy bà nắm. Mà bình tâm xét lại, Kiều là nạn nhân tin người, Kiều không gian ác, tàn hại ai. Không thấy sách nói Kiều nhúng tay đày ải bất cứ người lính nào của Từ Hải…

Tuy nhiên, sau nầy tôi đã trải qua cái chết đứng cứng người như Từ Hải thuở xưa giữa tiếng hò reo của quân Hồ Tôn Hiến: Trên con đường trăng giữa mật khu Lê Hồng Phong dẫn ra biển, mấy chục cây AK của bộ đội và công an Việt cộng bất chợt ùa ra từ bụi rậm, chĩa thẳng lưỡi lê lạnh ngắt vào người tôi:”Đứng lại! Đưa tay lên” Tôi thành Từ Hải giữa mật khu Lê Hồng Phong, chân trụ trên đất, hai tay không một tấc sắt, đưa ngược lên trời, toàn thân lạnh người chết cứng. Có thể Từ Hải thuở xưa đã chết đứng như vậy!

Từ Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao, tôi được tạm tha để về nơi cư trú trình diện và làm lại cuộc đời. Cuộc đời thực ra đã tả tơi, tan nát từ cái ngày miền Nam sụp đổ, nên sau những tháng năm tù, tôi không biết phải làm lại từ đâu, ngoài cái nghề đốn củi, làm tiều phu. Tiều phu trong sách vở là hình ảnh mấy ông già sống cái nghề lao động vô cùng tội nghiệp, còn tôi, bao nhiêu tuổi đầu còn lại chỉ thấy một mầu tang dưới khung trời xã hội chủ nghĩa.

Sầu đời, tôi chỉ biết chẻ nửa câu thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác mà than “Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc. Trăm năm thân thế bóng tà dương!” Còn cái chuyện “vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất man man, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường…” thì khỏi. Ngông nghênh, thất chí kiểu này thì công an tóm cổ tống lên trại trở lại là cái chắc. Sự kiểm soát, cai trị của cộng sản khắc khe và tàn độc hơn thời Pháp thuộc hàng ngàn lần. Không thể “nghiêng bầu mà hỏi để cạn hồ trường” như người xưa được!

Ngày tôi về, gia tài duy nhất tôi mang theo từ trại, đúng ra phải nói là từ những khu rừng âm u của trại tù tàn binh Kà Tót, là hàng hàng lớp lớp những trùng sốt rét nằm vùng trong máu, cứ lâu lâu “nghe lời Bác dạy”, hành tôi lên cơn một phát. Thế là hồng cầu nhen nhúm được nhờ những bữa cơm nhà tiêu đi mất trong một buổi chiều nóng lạnh. Sau cơn sốt, cơ thể tôi như cọng bún, chân bước không qua nổi một cục gạch bông. Cũng may, bà xã tôi vẫn còn được cho dạy học ở trường Phan Bội Châu Phan Thiết nên còn chút ít phương tiện sinh sống cầm hơi.

Khi tôi còn trong trại, phiên họp nào ở trường cô cũng có mặt. Cái gì cũng phải tốt để khỏi bị ảnh hưởng xấu đến ngày về của chồng. Khi tôi về và bị sốt rét nặng, cô lơi đi việc họp hành, chia bớt thời giờ để lo thuốc men cho chồng. Thế là đảng đoàn ở trường kết tội cô bị chồng ảnh hưởng tư tưởng tiêu cực nên không còn “năng nổ” như xưa.

Vậy là mấy năm “học tập cải tạo”, dù cho về, đảng vẫn coi tôi là thành phần ngụy ngập, không tin được. Nghe tin bí thư đảng đoàn gì đó của trường phán như thế, dù chưa đến kỳ lên cơn, tôi cũng thấy lạnh người như vừa bắt đầu lên cơn sốt rét.

Nhà tôi ở trên đường Trần Quí Cáp, Phan Thiết; mỗi khi có lễ lộc gì của nhà nước cộng sản, thiên hạ đều phải treo trước cửa một cây cờ đỏ sao vàng. Đường phố rực một màu đỏ rợn người. Trong những dãy cờ treo dọc phố, cây cờ của nhà tôi là bạc màu nhất, chẳng biết ông già vợ tôi kiếm ở đâu đem về. Ý ông là treo cho có lệ, người ta treo thì mình treo, không treo thì công an hỏi thăm sức khỏe.

Bên góc phải cửa trước nhà tôi có một hộp thư. Thỉnh thoảng nhà vẫn nhận thư bưu điện gởi đến, thỉnh thoảng lại có mấy cái thư đán tem gởi về Hà Nội. Thì ra các đồng chí nhà ta tưởng đây là “hòm thư bưu điện”. Những cái thư đồng chí gởi đồng chí kiểu này, tôi xé ra coi và cho vào bếp lửa. Đúng sai gì tôi không cần biết, chỉ biết đó là hành động tôi “trả thù” đảng kể từ ngày ra khỏi tù.

Đến một hôm, tôi bóc một bao thư đề gởi cho Ban Quân Quản Phan Thiết, người gởi là một bà cán bộ từ miền Bắc vào, ở sát hẻm nhà tôi. Nội dung thư tố cáo căn hộ của tôi ở là căn hộ của một tên sĩ quan ngụy mới về từ trại, coi thường lá cờ tổ quốc, để lá cờ bạc màu và tua rách, và yêu cầu trên lưu ý, xử lý thích đáng.

Đọc thư, tôi hoảng hồn, phóng xe đạp tìm ông cụ và nhà tôi lại phải ra phố mua cây cờ mới. Dĩ nhiên lá thư tố cáo tôi cũng chui vào bếp lửa để phi tang. Tôi nghĩ bụng sống như thế này sẽ có ngày chết, không chết vì sốt rét thì chết vì đứng tim, không chết vì đứng tim thì chết vì cộng sản hốt vô lại trại tù đày ải, bệnh hoạn mà chết. Hàng trăm lý do để bị chết oan nghiệt.

Mỗi khi tôi lên cơn sốt rét, tôi đều dặn gia đình là kêu y tá dạo tiêm thuốc, tuyệt đối không chở đi nhà thương, tôi sợ mấy cô y sĩ cách mạng nhớ thù xưa cho một phát thuốc bậy bạ là tên sĩ quan ngụy này chết không nhắm mắt! Căn nhà tôi trọ là của ông già vợ, gia tài của tôi còn lại duy nhất là chiếc solex. Cái gia tài này cũng làm tôi khốn đốn không ít. Cứ mỗi lần tôi kiếm được một xị xăng chạy ra phố là y như rằng có sự dòm ngó của công an, bộ đội:

– “Địt mẹ, thằng đó nó đi chiếc xe gì mà tớ không thấy nó đạp, không thấy máy cơ hành giây xên mà xe lại chạy phom phom! Quái nhỉ!”

Và dường như cái phong thái ngồi trên chiếc solex của tôi nó cũng có vẻ tiểu tư sản, phản động giữa cái thời mà cả nước xuống cấp, nón cối, dép râu, lao động phờ người. Một hôm, hai tên công an biên phòng đến nhà. Hắn hỏi xã giao trên trời, dưới đất và hắn tò mò hỏi cơ hành chiếc solex tôi dựng trong phòng khách. Tôi phải giải thích làm sao mà xe chạy được, chỉ cho hắn cái trục lăn cạ bánh trước khi nó lăn thì bánh xe quay, và xe chạy. Hắn lấy làm thích thú, song sau đó, hắn làm tôi lạnh người, hắn yêu cầu tôi cho hắn xem lại giấy ra trại. Hắn tịch thu, mang đi và tôi không có một mảnh giấy lộn trong người suốt một tuần lễ.

Tôi nằm nhà, mỗi đêm vài cơn ác mộng. Cứ mỗi sáng ra, tôi nhận diện cuộc đời, và chưa bao giờ trong đầu tôi chờn vờn nhiều ghe thuyền bằng lúc này, chiếc nào cũng có mũi nhắm hướng Mã Lai.

Không thể kéo dài cuộc sống đau tim này được. Biển cả và tự do thôi thúc, như một sức hút vô hình, tôi chợt nghĩ, rồi ra, đời mình chỉ còn có hai hướng đi mà định mệnh chọn sẵn, một là lên núi, hai là ra biển. Thử con đường Sơn Tinh mấy lần, thấy khó ăn, thế là tôi theo Thủy Tinh ra biển. Chết sống có số, chết bỏ! Ra đi may mà có đường sống.

Chuyến đi được chuẩn bị hàng mấy tháng trước. Bãi bốc là một địa điểm hẹn trên bờ biển phía Nam Phan Rí chừng 10 cây số, gần bìa rừng dựa lưng mật khu Lê Hồng Phong. Gia đình tôi gồm đứa con 3 tháng, đám em và một nhóm bạn bè từ Sài Gòn ra, được đổ ban đêm trên quốc lộ 1 phía Bắc Chợ Lầu vài cây số, từ đó băng ruộng, vượt sông qua một động cát ở hướng đông, nơi tôi sẽ gặp mọi người bằng một con đường đi riêng chỉ có tôi và người bạn đồng hành biết.

Là một sĩ quan tù cải tạo ra trại không bao lâu, cơn ác mộng của tôi là bị bắt trở lại. Do đó, tôi và người bạn đồng hành đã dùng địa bàn bộ binh lội nát lộ trình tôi định đi, để nếu lỡ chuyến đi bị phát giác, tôi có cơ hội thoát một mình Nhưng lưới đảng lồng lộng, tôi đã bị tóm.

Mẹ tôi đã khóc hết nước mắt khi em tôi kể lại chuyện tôi bị phục kích và suýt bị bắn trong mật khu Lê Hồng Phong Riêng tôi, tôi không hở một lời. Kể từ ngày bỏ nước ra đi năm 80, tôi chưa một lần về lại Việt Nam.

Tôi vẫn biết, mỗi lần Tết đến, bà cụ vừa rang nổ làm cốm Tết, vừa khóc. Bà biết chút ít câu Kiều, nhưng chắc bà không biết Từ Hải trong truyện Kiều chết đứng ra sao, bà cũng không làm sao biết được cái oan nghiệt lạnh người của tôi khi bất ngờ bị phục kích giữa rừng, bà chỉ biết tôi suýt chết, nhờ ông bà phù hộ mà còn sông và nay thì biền biệt cuối chân trời.

Sài Gòn nắng hạ mưa tuôn

Cũng không rửa sạch mối hờn trăm năm

Hỡi ơi, tóc loạn không cầm

Mà tim còn hực lửa hồng sục sôi.

Nửa đời còn lại

vietmessenger

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 11 Nov 2025

5. Chương 5

Văn minh mua quá mắc

1. Văn minh qua đây, chẳng những lấy của chúng ta từ giọt mỗ hôi, từ chút hơi thở, từ nước miềng nước bọt, chỉ đến lao lực nông, công, bao nhiêu ấy chưa vừa lòng, thêm chiếm đoạt vợ con của mình, luôn cả cứt đái, mà ta bất ngờ không để ý đến. Tôi không nói ngoa, trước đây vài chục năm thời Pháp còn ngồi làm chủ, thâu thuế, thuế muối, thuế rượu nhà máy thay cho rượu nếp, ai nấu lỡ rượu để bắt được, Tây đoan bỏ tù, dở nhà, tan hoang sự nghiệp.

Phân người, nghe nối bên Tàu, lấy làm quí, vì rau cải hoa quả vô phân người là xinh tốt ngon lành.

Người mình dùng nhiều thành ngữ để gọi: đi cầu là mới đây, khi có cầu tiêu, trước kia, ở mé sông thì gọi đi sông, ở đồng thì đi đồng, tiếng rộng là đi ngoài, ở Huế, khi tôi ra đó làm giảng viên đại học, tôi đến ngủ đêm nhà một bạn vong niên lớn hơn tôi trên mười niên, sáng ngày, tôi ngỏ ý, ông chủ nhà trao cho tôi một cây cuốc rồi dạy “đi vườn”, v.v..

Tây mấy năm sau, trước khi rút lui có trật tự, dạy thành phố phải biết giữ vệ sinh và phát mỗi căn phố một thùng lớn, dạy phóng trong đó và ban đêm có người cỡi xe có hai bò kéo, đến thay thùng khác, gọi “đồ thùng” và mớ hốt được, ban đầu đưa qua Láng Thọ (tiếng gọi giọng Pháp là “lang tô” cách xa bến tàu đi Tây Nhà Rồng một đỗi xa, như là gọi trổng là Nhà Bè, cũng được. Chót hết, trước khi nghĩ ra làm, cầu tiêu có hầm chứa, thì cứt đổ thùng góp về, bên nghĩ ra phơi khô (rả cứt giất đầu nằm), Tây không có vách lá làm đầu nằm, nên phơi cứt cho khô, xếp lại nói tội, như chiếc đệm, cân kí lô và bán ra nước ngoài làm phân bón, vừa thâu tiền vào túi, thâu thuế vào kho, vừa gọn vừa có ích.

Thậm chí lang sa tranh chức nghị sĩ ngồi bàn cãi nơi quốc hội cũng cần thế lực lá thăm, và có ai mạnh sức cho bằng tên chà nhớ như tên là Moutou, lãnh chức thầu khoán sở đổ thùng, dưới tay có đến mấy ngàn ít nữa là mấy trăm của người làm việc làm cọp rằn sở đổ thùng Sài Gòn luôn lục tỉnh, một ngày trước ngày đầu phiếu, bầu nghị sĩ quốc hội Pháp, hoặc cử hội đồng quản hạt ở Nam kỳ, Moutou mời tất cả người làm công có thẻ cử tri, đãi một bữa nhậu lớn, thâu hết các thẻ cứ tri, nhốt một đêm các chủ thẻ, rạng ngày cho xe ca Moutou vẫn viết tay và có làm dấu sẵn, rắt rắt lọt vào thùng phiếu không sai chạy một thẻ nào, khi kiểm phiếu, rất dễ tra, đứa nào ngoan cố bỏ thăm cho người khác, sẽ mất sở làm, ông nghị Outrey, ông nghị ra tranh de Beaumont, tôi không dám chắc có dùng phép tà thuật nầy hay là không, nhưng ở tỉnh, người có quốc tịch lang sa vẫn số ít, tham biện chủ tỉnh như Moutou, cũng dùng phép ấy để lấy thăm cho căn đi đa của Nhà Nước chọn, và khi đắc cử, ông nghị như vậy, tiếng Tây gọi là gì, chớ trong miệng người dân quen ăn mắm ăn muối, cũng không biết chữ Hán và vẫn gọi lén là “nghị cứt”.

2. Đã dùng chứ “lén” luôn dịp xin nói qua cây “chó lén”. Danh từ nấy, ngày nay, người ngoài kia vô đây và trẻ em sanh sau, chả hiểu chó lén là gì. Tôi bỏ công gần suốt một đời người, nay mới rõ quọt quẹt, chó lén, Pháp gọi “allume Feu” (allumer là đốt, feu là lửa), hỏi qua tiếng Tàu, gần xuống lỗ, mới biết “chó lén” là tiếng Tiều hay Quảng, viết ra Hán tự là “Tố lượng”, (tố là làm, như chữ vi; và lượng, hoặc là ánh sáng, hoặc là phơi ngoài trời cho khô), và nói “tố lượng” như nói tự động xa, mẹ ai mà hiểu, và nối

“xe hơi, ô tô” và nói chó lén thì mấy mười năm về trước hiểu là một vật làm ra lửa để đốt thuốc hút, nguyên xưa Tàu hút điếu bình, vo thuốc nhỏ sợi, nhét vào nồi điếu, tay cầm chó lén, vo vo đầu cọng dây cho lửa mau bắt, và lẹ miệng thổi phụt một cái, tức nhiên lửa bén có ngọn, châm vào thuốc, hít một hơi, điếu trong có chứa nước, tiếng nghe dòn dã, hút xong phải biết cách thổi nhẹ cho thuốc hút rồi văng rớt ra khỏi miệng điếu và làm qua mỗi khác, nếu cục mịt nhà quê, không phải bực phong lưu, khi thổi, thổi quá mạnh, hơi thối làm văng nước tứ tung, cô ả làng chơi sẽ cười cho. Chó lén làm bằng giấy súc, giấy thật xốp thì mau bắt lửa… Trước khi có giấy súc, chó lén, gọn hơn hết là cục đá lửa, dùng một miếng sắt thật sắc, cọ mạnh vào cục đá lửa, lửa xẹt ra, lấy một chút bùi nhùi cầm nơi tay nọ hứng cục lửa xẹt, tức khắc bùi nhùi bắt cháy và ta sẽ có lửa đủ dùng, hút thuốc, chăm đèn, nhúm lửa nấu cơm hay đốt nhà cũng được.

Hết chó lén, hết bùi nhùi đá lửa, Tây lấy nước Nam, bày ra làm hộp quẹt, sản xuất ở Bến Thủy ngoài Bắc, thâu tiền dân ta cho đã, rồi văn minh lền lền, chế ra quẹt máy, rồi nay quẹt ga (gaz), cạo đầu khô dân ta, xin lỗi, khí tục, không còn miếng da mẹ đẻ.

3. Day qua dầu đốt. Xưa ông bà ta đốt cho sáng ban đêm dùng dầu mù u, dầu dừa, đã là sang, dùng sáp nơi cung nơi điện, đèn dội nhều nhão dơ dáy, dùng đuốc, chữ gọi là chúc, đèn đám cưới còn sót lại danh từ “hoa chúc”, Tây và Mỹ bày ra ban đầu bán dầu lửa, rất nhẹ giá, sáng và sạch hơn dầu mỡ cá, mỡ chuột, ban sơ dụ khị, cây đèn tặng không không tính tiền, khi dân ta bắt đầu ăn quen mua dầu lửa, sẽ tăng giá lần lần, dầu nẩy, trong Nam gọi nôm na là “dầu lửa”, ngoài Bắc văn vật gọi dầu hóa, và tiếng gọi chung thống nhất là dầu hôi, vì sáp mới thơm tho, dầu phộng đèn đốt thuốc phiện vẫn thơm và lửa dịu mát, dầu dừa cũng tốt nhưng giá cao, chừng tấn bộ thêm bày ra đèn ét xăng có măng sông, rồi đèn khí đá cạt bia, qua đèn điện, đèn nê ông, ngày xưa đẹp nhứt là bóng trăng, nay trăng mờ vì đèn chớp bóng, đèn tân thời đủ thứ, từ rọi sáng đêm trường, ánh sáng đèn bọc ở ác, dùng làm khí cụ tra khảo hành tội người lạc hậu yêu nước.

4. Thuốc hút. Ban đầu thuốc nội hóa, thuốc rê vấn bằng lá non, túng thiếu vấn thuốc bằng giẻ rách cũng xong, điếu thuốc dán cột nhà, mót lại, càng ngon, (nhứt gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu), tội nghiệp cho người ghiền thuốc, lúc bị giam cầm, khi ra ngoài khám khuẩn bách lượm một tàn, kéo một hơi, ngon thấu mây xanh. Văn minh lần lần hút thuốc lào, điếu cầy điếu tre, thuốc Gò (Gò Vấp), thuốc rê (thuốc rê là thuốc xắt kéo ra từ thẻ dài, bánh thuốc, Huình Tịnh Của), thuốc vấn hiệu Bastos, hiệu Mélia, trong gói có kèm một hình gái đẹp, hiệu Corona có kèm một đót tre, giá hai cắc (0$20), hiệu Cotab, từ sáu xu một gói (0$06), tăng một cắc hai xu (0$12), rồi leo thang lên một cắc tám (O$18), đến giá hai cắc tư (0$24), tôi ở Sốc Trăng chạy lên đây, lòng buồn hút mỗi ngày hai gói Cotab, sau vì giá leo thang tôi bớt lại hút một ngày một gói, rồi hai ngày một gói, khi lên tới giá 0524, tôi bò không hút nữa, và nay, thính thoảng:

“Thuốc cho thì hút, thuốc mua thì đừng”, và bụng vẫn nhớ Phù Dung nhưng sợ lính bắt. Bây giờ tiến bộ nhiều, thuốc ba con số 5, thuốc 79 của Mỹ để nhồi điếu cối, thuốc vấn lo le, trách ai ăn giấy bỏ bìa, bạn Sơn Nam nay hút thuốc có đầu lọc và ngoài Huế, một lần nọ tôi thấy nơi nhà khoa trưởng một điếu cầy, bạn đáng thương Doãn quốc Sĩ xin cho kéo thử, khoa trưởng cười cười nhậm lời, anh Sĩ kéo và ho sặc sụa, có chêm phiện mà không nói!

5. Và v.v.. Máy hát, hiệu Pathé, của Thầy Năm Tú, hát cho hãng Pathé Pho no… ban đầu máy có ống loa, tiếng nói từ ống tròn như ống chỉ phát ra, sau thay ống bằng dĩa, hiệu

Asia, v.v.., rồi hát bóng từ câm qua có tiếng nói, Má Bảy bát bài “Dè đờ già múa” J’ai deux amours, mon pays et Paris…) rồi nay có Bạch Tuyết xây nhà dịch thể cung điện, bạn Sơn Nam được mời đến viếng mà tôi đây có nào mời. Cục xà bông hiệu Marseille bị hãng Trương Văn Bền cướp nghề, nhà giàu ngày xưa thuở đàng cựu đời ông Tự Đức, sắm rương xe giường hòm, nằm trên nắp giường tưởng đâu là chắc, bọn gian hai đứa khiêng nhẹ nắp giường đặt qua chỗ khác, vết hết vàng bạc đến sáng mới hay, Tây bày tủ sắt hiệu Bauche, hiệu Fichet ăn cướp đến nhà đưa một cây đinh dài hai tấc, biểu chủ nhà tự mở tủ, nếu không bằng lòng, cướp sẽ đóng cây đinh vào lỗ tai, sau tủ sắt không đủ đảm bảo gới tiền gới kim cương hột xoàn, vào ngân hàng, chờ cuối tháng đến lãnh tiền lãi, nay có nạn tín dụng thằng trời đánh họ Phạm đã dong qua Xiêm hú chuột, thẳng Mười Hai gì đó, chờ ngày ra tòa, vuột như vuốt lươn, trời ơi là trời, khổ ơi là khổ.

Tôi giỏi nói mà cũng bị, nào dám thở than, nhớ mấy chục năm trước bị kẹt trong khám ở tính quê, gặp một chị quen, cùng bị nhốt, chị than với tôi đã bị thằng chủ bót mật thám, Tây cà lăm Philippino làm nhục, chị hứa khi nào ra khỏi vòng Đủ lý, thì tự vận chớ không bao giờ chịu mang tiêng nhơ, vừa rồi gặp lại, còn sống nhăn, hỏi, chị liếc cho một liếc dài thậm thượt, vừa háy, vừa rủa:

– Ứ cái anh nầy! Khéo nhắc chuyện cũ!

Bao nhiêu nạn nhơn bị mất tiền, đều nếm văn minh mà không tiện cắt nghĩa, trong số có người chơn thật vớt vất an ủi, thiểu chi người bỏ luôn cho xong, của hoạnh tài, bắt phú.

Không ghi số. Một dấu hiệu văn minh là chụp hình, nhiếp ảnh, ban đầu sợ máy ảnh hớp hồn, khi chụp xỏe bàn tay đủ năm ngồn, nay tân tiến chụp hình nổi, vá víu, khéo vô song, đi nhà số, đi cưới lựa vợ, xin đừng tin tấm ảnh. Nói nữa làm chi?

(viết ngày 11-8-1990)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Poist by Sơn râu 11 Nov 2025

Bài 30

Quần đảo Salut – Chiếc bè trong ngôi mộ

Trong vòng năm tháng, tôi đã dần dần am hiểu tường tận từng góc ngách của Quần đảo. Kết luận hiện giờ của tôi là khu vườn ở cạnh nghĩa địa mà Carbonieri bạn tôi làm việc trước đây – bây giờ anh không ở đó nữa – là nơi chắc chắn nhất để đóng bè. Cho nên tôi yêu cầu Carbonieri trở lại khu vườn ấy, không xin thêm người phụ việc. Anh ta bằng lòng. Nhờ có Dega xin cho, Carbonieri được trở về khu vườn cũ. 
Sáng hôm nay, khi đi qua nhà viên chỉ huy trại mới đổi đến, tay cầm một xâu lớn cá hồng, tôi nghe thấy anh tù trẻ làm gia đinh cho nhà này nói với một thiếu phụ: 
– Thưa bà chỉ huy, anh này chính là người trước đây vẫn hàng ngày đem cá về cho bà Barrot đấy ạ. 
Rồi tôi nghe người kia, một thiếu phụ tóc đen xinh đẹp, kiểu đàn bà Algérie, nước da màu đồng đỏ, nói với anh ta: “Thế ra anh là Papillon à”. Đoạn quay ra phía tôi, người thiếu phụ nói: 
– Tôi đã được ăn mấy con tôm he rất ngon của anh câu do bà Barrot biếu tôi. Anh vào nhà đi. Anh phải uống ly rượu vang nhắm với ít pho-mát sữa dê tôi vừa nhận được từ bên Pháp gửi sang. 
– Cám ơn bà, thôi ạ, tôi không vào đâu. 
– Sao thế? Anh vẫn vào với bà Barrot đấy thôi, sao anh lại không vào với tôi? 
– Vì chính ông Barrot cho phép tôi vào nhà ông ấy. 
– Papillon ạ, chồng tôi chỉ huy trại, còn tôi, tôi chỉ huy ở nhà… Anh cứ vào đi, đừng sợ. 
Tôi cảm thấy cô thiếu phụ xinh đẹp này đã muốn gì là làm cho bằng được: một người như thế có thể rất hữu ích hoặc rất nguy hiểm. 
Trong phòng ăn, bà chỉ huy mới dọn ra bàn cho tôi một đĩa giăm-bông hun khói và một lát pho-mát. Không chút kiểu cách, bà ta xuề xòa ngồi xuống trước mặt tôi, rót rượu vang cho tôi, rồi sau đó lại rót cà- phê, và cuối cùng là một ly rượu rhum Jamaique rất ngon. Bà nói: 
– Papillon ạ, mặc dầu lúi búi vì phải sửa soạn ra đi và phải đón tiếp chúng tôi khi mới về, bà Barrot đã có đủ thì giờ để cho tôi biết được ít nhiều về anh. Tôi biết rằng bà ấy là người phụ nữ duy nhất trên Quần đảo được anh đem cá về cho. Tôi hy vọng rằng tôi sẽ được kế chân bà ấy hưởng cái ân huệ này của anh. 
– Vì là bà ấy ốm, còn bà thì tôi thấy hình như rất khỏe mạnh. 
– Tôi không biết nói dối, Papillon ạ. Đúng, tôi khỏe mạnh, nhưng tôi vốn sinh trưởng ở hải cảng cho nên chỉ thích ăn cá thôi. Tôi là người Oran. Chỉ một điều làm cho tôi thấy khó xử: tôi cũng được biết là anh không bao giờ bán cá lấy tiền. Cái này thì phiền quá. 
Nói qua nói lại một lúc, cuối cùng rồi cũng đi đến chỗ thỏa thuận là tôi sẽ đem cá đến cho bà. 
Một hôm tôi đem đến ba ki-lô cá hồng và sáu con tôm he, đang ngồi hút thuốc thì ông chỉ huy về. Trông thấy tôi, ông nói: 
– Juliette à, anh đã bảo với em là ngoài chú gia đinh ra không được cho một phạm nhân nào vào nhà kia mà. 

Tôi vội đứng dậy, nhưng bà Juliette nói: 
– Anh cứ ngồi yên. Phạm nhân này là người mà bà Barrot đã gửi gắm cho em trước khi ra đi. Vậy thì anh đừng có ý kiến gì cả. Ngoài anh này ra sẽ không có phạm nhân nào vào đây hết. Mặt khác, anh ta sẽ đưa cá cho em khi nào em cần. 
– Thế thì được, – ông chỉ huy nói. – Anh tên gì? Tôi toan đứng dậy trả lời thì Juliette đặt bàn tay lên vai tôi bắt tôi ngồi xuống, nói: 
– Đây là nhà của tôi, ở đây ông chỉ huy không còn là ông chỉ huy nữa, mà là chồng tôi, ông Prouillet. 
– Cám ơn bà. Tên tôi là Papillon. 
À! Tôi có nghe nói về anh và về cuộc vượt ngục của anh cách đây hơn ba năm từ bệnh viện Saint- Laurent-du-Maroni. Vả lại một trong hai viên giám thị bị anh đánh ngất trong khi vượt ngục lại chính là cháu tôi và là cháu nhà tôi – người đang bảo hộ cho anh. 
Đến đây, Juliette cười phá lên, tiếng cười trẻ trung và tươi mát. 
– Thế ra anh là kẻ đã phang vào đầu Gaston à? Không sao, việc này sẽ không làm thay đổi tình hình đâu 
Ông chỉ huy vẫn chưa ngồi xuống, nói: 
– Cái số án mạng xảy ra hàng năm trên Quần đảo thật khó tin nổi: nhiều hơn ở Đất liền nhiều. Anh có hiểu tại sao không Papillon? 
– Thưa ông, vì ở đây anh em không vượt ngục được thành ra bẳn tính. Họ sống mãi với nhau hết năm này sang năm khác, cho nên lẽ tự nhiên là phải hình thành những tình bạn và những mối thù không có gì tiêu hủy được. Mặt khác, chỉ có không đầy năm phần trăm số thủ phạm bị phát hiện, cho nên kẻ giết người có thể tin gần chắc là mình sẽ không bị trừng phạt. 
– Cách giải thích của anh rất lô-gích. Anh câu cá từ bao lâu rồi, và anh nhận loại lao công gì để có quyền đi câu như vậy? 
– Tôi đổ thùng. Đến sáu giờ sáng tôi đã xong việc, sau đó tôi được đi câu. 
– Suốt thời gian còn lại trong ngày à? – Juliette hỏi. 
– Không, đến mười hai giờ trưa tôi phải về trại, ba giờ mới được ra cho đến sáu giờ chiều. Như thế rất phiền, vì tùy theo giờ thuỷ triều lên xuống, tôi có thể mất buổi câu. 
– Anh cho Papillon một tờ giấy phép riêng, nghe anh? – Juliette quay về phía chồng nói. – Từ sáu giờ sáng đến sáu giờ chiều, như thế anh ta sẽ tha hồ câu cá. 
– Xong ngay, – ông chỉ huy nói. 
Tôi ra về, trong bụng mừng thầm, vì ba cái tiếng đồng hồ từ mười hai đến ba giờ chiều rất quý giá. Đó là giờ ngủ trưa, bọn giám thị đều ngủ, cho nên việc canh phòng có chiều lỏng lẻo. 
Juliette đã chiếm lĩnh hoàn toàn cả việc đi câu của tôi lẫn bản thân tôi. Đến mức bà ta còn sai anh gia đinh đi xem thử tôi đang câu ở đâu để lấy cá về. Có những hôm anh ta đến, nói: “Bà chỉ huy bảo anh câu được gì đem hết về cho bà, vì hôm nay bà có khách, muốn làm món xúp tôm cá”, hoặc đại loại như vậy. Nói tóm lại, bà ta quản lý hết thu hoạch của tôi, thậm chí còn dặn tôi câu cá này, cá nọ, hay phải lặn xuống biển bắt tôm càng. Điều đó có phương hại khá nhiều đối với thực đơn của tổ tôi, nhưng mặt khác, tôi được che chở hơn hết thảy mọi người. Bà ta còn có những kiểu quan tâm đặc biệt. 
– Papillon, thủy triều lên lúc một giờ phải không? 
– Thưa bà vâng. 
– Thế thì trưa anh về đây ăn cơm nhé, khỏi về trại. 
Thế là tôi ăn trưa ở nhà bà, hôm nào cũng ăn ở phòng ăn chứ không bao giờ ăn dưới bếp. Bà ngồi đối diện với tôi, lấy thức ăn bỏ vào đĩa cho tôi và rót rượu cho tôi. Bà không được kín đáo tế nhị như bà Barrot. Nhiều lần bà hỏi dò tôi về dĩ vãng. Tôi luôn luôn phải tránh cái đề tài mà bà quan tâm hơn cả – cuộc sống của tôi ở Montmartre, chỉ kể thời thiếu niên và thơ ấu của mình. Trong khi đó ông chỉ huy nghỉ trưa trong phòng ngủ. 
Một buổi sáng câu được nhiều tôm, tôi về sớm, cầm hơn sáu chục con tôm càng ghé nhà bà. Bà mặc áo choàng tắm màu trắng, sau lưng có một cô đang cuốn tóc cho bà. Tôi chào, rồi biếu bà một tá tôm. Bà nói ngay: 
– Không, anh cho tôi tất cơ. Có mấy con? 
– Sáu chục ạ. 
– Hay quá, anh để cả đấy cho tôi. Anh và các bạn anh cần bao nhiêu cá? 
– Tám con ạ. 
– Thế thì anh giữ lấy tám con, còn bao nhiêu đưa cho cậu bé đem thả vào nước mát đi. 
Tôi chẳng còn biết nói sao. Xưa nay chưa bao giờ bà dùng đại từ “tu” nói với tôi, nhất là trước mặt một người đàn bà khác, vì người này thế nào cũng đi nói lại. Tôi ngượng quá, toan ra về, thì bà lại nói: 
Ngồi yên đấy, uống tí rượu hồi đã. Chắc anh nóng lắm nhỉ? 
Người đàn bà quyền uy này làm cho tôi bàng hoàng đến nỗi tôi ngồi đực ra. Tôi vừa chậm rãi nhắp rượu hồi vừa hút thuốc lá, chốc chốc lại liếc mắt về phía tôi. Bà chỉ huy nhìn vào cái gương đang cầm ở tay, biết ngay cô kia nhìn trộm tôi, liền nói “Bồ tôi đẹp trai đây chứ, Simone nhỉ? Các cô cô nào cũng ghen với tôi, đúng không nào?” Thế là cả hai cười khúc khích. Tôi không còn biết độn thổ đi đường nào. Thế rồi tôi nói một cách ngu xuẩn: “Cũng may là thằng bồ của bà, như bà nói, không nguy hiểm lắm, vì trong tình cảnh của hắn, hắn không thể phải lòng ai để mà có bồ được”. 
– Thôi đi, chẳng lẽ anh dám nói anh không phải lòng tôi? – cô nàng Algérie nói – Chưa có ai thuần phục được con sư tử như anh, thế mà tôi muốn gì anh làm tất. Phải có lý do chứ Simone nhỉ? 
Tôi không biết là lý do gì, – Simone nói, – nhưng có một điều chắc chắn là đối với mọi người anh là một người hoang dã, chỉ riêng đối với bà chỉ huy là không thôi, Papillon ạ. Đến nỗi, có hôm anh vác dễ đến hơn mười lăm ki-lô cá, thế mà bà vợ ông giám thị trưởng van nài anh bán cho hai con thôi anh cũng không chịu, bà ấy nói thế, hôm ấy bà ấy thèm đến chết được, vì lò không có thịt. 
– Chà Simone? Thế mà đến bây giờ cô mới kể cho tôi nghe. 
– Thế chị có biết hôm nọ anh ta nói cái gì với bà Kargueret không? Bà ta trông thấy anh cầm một mớ tôm và một con cá ngừ lớn: “Anh bán tôi con cá đi Papillon, hay nửa con cũng được. Anh cũng biết là dân Bretagne chúng tôi làm cá ngừ rất ngon mà?”. 
Papillon nói: “Đâu phải chỉ có người Bretagne mới biết giá trị của nó? Rất nhiều người, kể cả dân Ardèche chúng tôi, mãi từ thời quân La-Mã sang đã biết đây là món thượng đẳng”. Thế là anh ta đi thẳng chẳng bán gì cho bà ta cả. 
Hai người đàn bà cười ngặt nghẽo. 
Tôi ra về, trong lòng rất cáu, và đến tối tôi kể cho tổ nghe hết câu chuyện. 
– Việc này rất nghiêm trọng, – Carbonieri nói. – Mụ ấy đưa cậu vào một tình thế rất nguy. Cậu nên đến đấy càng ít càng tốt, và chỉ khi nào cậu biết là có ông chỉ huy ở nhà. 
Cả tổ đều tán thành ý ấy. Tôi nhất định phải làm theo ý Carbonieri. 
Tôi vừa phát hiện ra được một anh thợ mộc người Valence. Nơi đó gần như là một quê hương của tôi, anh này đã giết một người kiểm lâm. Đó là một tay rất máu mê cờ bạc, lúc nào cũng nợ đìa ra: ban ngày hì hục làm đồ thủ công kiếm được bao nhiêu thì đến đêm nướng vào sòng bạc hết. Đã nhiều lần anh ta phải lấy đồ thủ công gán nợ. Thế là bị người ta bắt bí, một cái hộp gỗ quý trị giá ba trăm francs mà người ta chỉ trừ cho có trăm rưởi hay hai trăm bạc nợ. Tôi đã quyết định tấn công anh này. 
Một hôm gặp ở chỗ giặt áo quần, tôi nói với anh ta: 
– Đêm nay tôi có chuyện muốn nói với anh. Tôi đợi anh ở nhà xí. Tôi sẽ ra hiệu. 
Đêm ấy chúng tôi gặp riêng nhau, có thể nói chuyện không sợ ai quấy rầy. Tôi nói: 
– Bourset này, chúng mình là đồng hương đấy cậu ạ. 
– Đâu có! Đồng hương thế nào? – Cậu không phải quê ở Valence sao? 
– Đúng thế chứ. 
– Tôi thì quê ở Ardèche, như vậy chúng mình là đồng hương. 
– Thế rồi sao nữa? Có gì quan trọng đâu? 
– Có cái quan trọng là tôi không muốn cậu bị người ta bóc lột khi cậu mắc nợ, tôi không chịu được khi thấy họ tính giá những đồ của cậu làm không được một nửa giá trị thật. Lần sau cậu đưa cho tôi, tôi sẽ trả cậu đúng giá. Có thế thôi. 
– Cám ơn cậu, – Bourset nói. 
Tôi luôn luôn can thiệp để giúp đỡ Bourset. Cậu ta thì luôn luôn cãi cọ với những tay cậu mắc nợ. Mọi sự đều yên ổn cho đến hôm cậu ta có chuyện nợ nần với Vicioli một tay kẻ cướp rừng ở đảo Corse, một trong những bạn tốt của tôi. Tôi biết chuyện là do Bourset đến mách với tôi rằng Vicioli đang dọa nạt cậu ta nếu cậu ta không trả số tiền bảy trăm francs đang mắc nợ. Bourset lại cho tôi biết là đang sắp sửa làm xong một cái bàn giấy nhỏ có ngăn bí mật, nhưng không dám chắc bao giờ xong hẳn, vì phải làm lén. Số là phạm nhân không được phép làm những thứ đồ quá lớn vì như vậy tốn nhiều gỗ. Tôi trả lời là để tôi xem có cách nào giúp cậu ta được không. Rồi với sự thỏa thuận của Vicioli tôi dựng lên một màn kịch nhỏ: Vicioli phải thúc giục Bourset gắt vào, thậm chí dọa dẫm thật dữ. Tôi sẽ xông vào can thiệp như một vị cứu tinh. 
Mọi việc đều diễn ra đúng như đã dàn dựng. Từ ngày ấy, cậu Bourset nhất nhất đều nghe tôi và tin tôi một cách tuyệt đối. Lần đầu tiên trong cuộc đời phạm nhân, cậu ta mới được yên thân. Bây giờ tôi mới quyết định thử thách số phận. Một hôm tôi nói với Bourset: 
– Tôi có hai ngàn francs biếu cậu nếu cậu làm cho tôi một cái bè chở được hai người, gồm từng mảng rời có thể lắp nhanh được. 
– Papillon ạ, tôi không đời nào chịu nhận làm một việc như thế cho bất kỳ ai, nhưng riêng với cậu, tôi sẵn sàng liều chịu hai năm cấm cố nếu bị lộ. Chỉ có điều là tôi không thể đưa những súc gỗ hơi lớn ra khỏi công xưởng được. 
– Tôi đã có người. 
– Ai? 
– Hai anh em Đẩy xe, Naric và Quenier. Cậu định sao? 
– Trước hết phải vẽ một đồ án đúng tỷ lệ, rồi làm từng bộ phận một, có khớp để lắp vào nhau thật chắc. Cái khó là tìm cho ra thứ gổ nổi thật nhẹ, vì gỗ ở đảo đều là loại gỗ cứng thả xuống nước không nổi được. 
– Bao giờ cậu sẽ trả lời cho tôi biết? 
– Ba hôm nữa. 
– Cậu có muốn đi với tôi không? 
– Không. 
– Tại sao? 
– Tại tôi sợ cá mập và sợ chết đuối. 
– Cậu hứa là sẽ giúp tôi hết mình chứ? 
– Tôi lấy mấy đứa con tôi ra mà thề với anh như vậy. Chỉ có điều là phải làm lâu đấy. 
– Cậu nghe kỹ đây: ngay từ bây giờ tôi sẽ chuẩn bị bằng chứng bênh vực cho cậu phòng khi bị lộ. Tôi sẽ tự tay chép lại đồ án đóng bè trên giấy học sinh. Phía dưới tôi sẽ viết: “Bourset, nếu mày không muốn bị ám sát, mày phải đóng chiếc bè vẽ trên đây” sau đó tôi sẽ viết cho cậu những mảnh giấy dặn dò cách đóng từng bộ phận. Cứ xong được bộ phận nào, cậu sẽ đem để ở nơi tôi sẽ dặn. Nó sẽ được đưa đi giấu ngay. Cậu đừng tìm cách biết ai đến lấy và lấy vào lúc nào (ý này làm cho cậu ta thấy nhẹ bớt) như vậy tránh cho cậu khỏi bị tra tấn nếu bị bắt và dù có sao cậu cũng chỉ phải chịu hình phạt nhẹ nhất: chừng sáu tháng cấm cố thôi. 
– Thế nếu chính cậu bị bắt thì sao? 
– Nếu thế thì sẽ ngược lại. Tôi sẽ nhận tôi đã viết mấy mảnh giấy. Dĩ nhiên cậu phải giữ những mảnh giấy ấy. Nhất trí chưa? 
– Tôi hứa như vậy. 
Cậu không sợ chứ? 
– Không, bây giờ tôi không sợ nữa. Tôi thấy vui được giúp cậu.. 
Tôi chưa nói gì với ai hết. Tôi còn phải chờ Bourset trả lời về chuyện gỗ. Mãi đến một tuần sau, một tuần dài dằng dặc tưởng không bao giờ hết, tôi mới có dịp nói chuyện riêng với Bourset ở thư viện. Ngoài hai chúng tôi ra không có ai ở đấy. Đó là vào buổi sáng chủ nhật, ở ngoài sân đang có đám bạc lớn, gần tám mươi người đánh và ngần ấy người đứng xem. 
Lập tức Bourset làm cho tôi thấy ấm lòng: 
– Cái khó nhất là làm sao chắc có được đủ gỗ nhẹ và khô. Tôi đã nghĩ được cách làm một cái khung bằng gỗ nẹp chặt dừa khô, còn nguyên cả thớ vỏ, cố nhiên. Không có gì nhẹ bằng thớ vỏ dừa, mà nước lại không thấm vào được. Khi bè đóng xong, chính anh phải lo kiếm cho đủ dừa để nhét vào khung. Vậy thì mai tôi làm mảng đầu tiên. Mất độ ba ngày. Từ thứ năm có cho một trong hai anh em Đẩy xe đến lấy. Tôi sẽ không bao giờ bắt đầu làm thêm một mảng trước ra khỏi xưởng. Tôi đã vẽ đồ án rồi đây, cậu chép lại đi rồi viết thêm mảnh giấy như cậu đã hẹn. Cậu đã nói chuyện với anh em nhà ấy chưa? 
– Chưa, tôi còn chờ cậu trả lời đã chứ. 
– Thế thì tôi trả lời rồi đấy: được. 
– Cám ơn Bourset, tôi không biết lấy gì cảm ơn cậu Thôi, năm trăm francs đây, cậu cầm lấy. 
Bourset nhìn thẳng vào mắt tôi nói: 
– Không, cậu giữ lấy tiền. Đến đất liền cậu sẽ cần đến để vượt tiếp. Từ hôm nay tôi sẽ không đánh bạc cho đến khi nào cậu ra đi. Làm một ít đồ thủ công, tôi sẽ có đủ tiền mua thuốc lá và bít-tết. 
– Tại sao cậu không chịu cầm? 
– Vì việc này dù có trả một vạn francs tôi cũng không làm đâu. Việc quá nguy hiểm cho tôi, dù đã có đề phòng bất trắc. Chỉ có làm không công mới làm được. Cậu đã cứu tôi, cậu là người duy nhất đã dang tay ra giúp đỡ tôi. Tôi có sợ thật, nhưng tôi rất sung sướng được giúp cậu trở lại cuộc sống tự do. 
Trong khi ngồi chép lại đồ án, tôi thấy hổ thẹn trước sự cao thượng lớn lao mà ngây thơ của Bourset. Cậu ta không chút hồ nghi rằng những cử chỉ tốt đẹp của tôi đối với cậu là có tính toán vụ lợi. Để khỏi khinh rẻ bản thân, tôi buộc lòng phải tự nhủ rằng tôi phải vượt ngục bằng bất cứ giá nào, dù cái giá đó là tình thế éo le và không phải bao giờ cũng tốt đẹp. Đêm hôm ấy tôi nói chuyện với Naric, biệt hiệu Xúp Nhừ, để sau đó cậu ta nói lại với ông em rể. Naric nói, không chút phân vân: 
– Cậu cứ để tôi lo việc đưa các mảng bè ra khỏi công xưởng. Chỉ có điều là cậu đừng sốt ruột, vì chỉ khi nào có dịp đưa vật liệu cồng kềnh ra khỏi xưởng để làm công trình xây cất trên đảo mới nhân thể đưa luôn đồ của cậu ra. Dù sao tôi cũng hứa với cậu là sẽ không bao giờ để lỡ một dịp nào. Thế là ổn rồi. Chỉ còn phải nói chuyện với Matthieu Carbonieri, vì tôi muốn cùng vượt ngục với chính anh ta. Anh ta đồng ý trăm phần trăm. 
– Matthieu à, tôi đã tìm được người làm bè, đã tìm được người đưa từng mảng bè ra khỏi công xưởng. Phần cậu là tìm xem trong khu vườn có chỗ nào giấu được bè không. 
– Không được đâu. Đây là vườn rau, nguy hiểm lắm, vì ban đêm có những thằng gác mò vào ăn trộm rau quả. Nếu chúng nó đi đúng vào chỗ giấu, cảm thấy dưới đất rỗng thì hỏng hết. Tôi sẽ làm một cái hốc trong bức tường bằng cách lấy ra một phiến đá lớn rồi khoét sâu vào trong. Mỗi khi nhận một mảng bè, tôi sẽ giở hòn đá ra, giấu vào hốc rồi đặt lại hòn đá như cũ 
– Đưa thẳng các mảng đến vườn cậu được không? 
– Không được. Làm như vậy quá nguy hiểm. Hai anh em Đẩy Xe không có lý do gì vào vườn của tôi. Tốt hơn cả là thu xếp cho họ mỗi lần đem đến một nơi khác không quá xa vườn của tôi. 
– Nhất trí. 
Mọi việc đều có vẻ ổn. Còn mấy quả dừa khô. Tôi nghĩ xem có cách nào chuẩn bị một số dừa đủ dùng mà không lộ liễu quá. 
Tôi cảm thấy mình đang sống lại. Chỉ còn một việc là nói chuyện với Galgani và Grandet. Tôi không có quyền giấu họ, vì họ có thể bị buộc tội là đồng lõa với tôi. Bình thường ra, tôi phải chính thức ra khỏi tổ của họ để sống một mình. Khi tôi nói cho họ biết là tôi đang chuẩn bị một cuộc vượt ngục cho nên phải tách ra khỏi tổ, họ mắng cho tôi một trận và dứt khoát không chịu. “Cậu hãy lên đường càng sớm càng tốt. Còn chúng tớ thì khỏi lo, sẽ có cách. Trong khi chờ đợi cậu cứ ở với chúng tớ, chúng tớ có còn non dại gì đâu”. 
Cuộc chuẩn bị đã tiến hành được hơn một tháng. Tôi đã nhận được bảy mảng bè, trong đó có hai mảng lớn. Tôi đã đến xem bức tường của Matthieu có khoét hốc để giấu bè. Không thể nhận thấy phiến đá đã bị tháo ra, vì cậu ta đã cẩn thận lấy rêu trát vào các khe hở. Chỗ giấu thật hoàn hảo, nhưng tôi thấy cái hốc hơi chật chưa chắc chứa hết được tất cả. Tuy vậy, cứ như hiện nay thì vẫn còn đủ chỗ. 
Cái ý thức là mình đang chuẩn bị vượt ngục khích lệ tinh thần tôi dữ dội. Tôi chưa bao giờ ăn nhiều và ngon miệng như thế, và chế độ ăn cá giữ cho cơ thể tôi hoàn hảo. Thêm vào đấy, mỗi buổi sáng tôi tập thể dục hai tiếng đồng hồ trên các mỏm đá. Tôi tập chân nhiều hơn, và khi câu cá tay đã hoạt động nhiều. Tôi nghĩ ra cách tập chân như sau: Tôi đi ra biển xa hơn khi tôi đứng câu, để cho sóng xô vào đùi. Để đón sóng và giữ thăng bằng, tôi gồng các cơ bắp chân và đùi. Kết quả rất tốt. 
Juliette, tức bà chỉ huy, vẫn rất niềm nở đối với tôi. Nhưng bà đã để ý thấy rằng chỉ khi nào có chồng bà ở nhà tôi mới vào. Bà đã nói thẳng với tôi là bà nhận thấy thế và để cho tôi khỏi ngượng ngập, bà phân trần với tôi rằng cái hôm có cô Simone đến quấn tóc cho bà là bà nói đùa cho vui thôi. Tuy vậy, cô Simone vẫn hay ra đứng trên con đường tôi đi câu về, và mỗi lần gặp tôi cô đều có đôi lời thăm hỏi thân ái về sức khỏe và tinh thần của tôi. Vậy là mọi sự đều tốt lành. Bourset tận dụng mọi cơ hội để làm bè cho tôi. Công việc bắt đầu thế là đã được hai tháng rưỡi. 
Chỗ giữ bè đã chật ních, như tôi đã dự kiến trước đây. Chỉ còn thiếu hai mảng dài nhất, một mảng dài hai mét, mảng kia dài mét rưỡi. Hai mảng này không lọt được vào hốc. 
Nhìn về phía nghĩa trang, tôi trông thấy một ngôi mộ mới. Đó là mộ của vợ một cảnh binh, mới chết tuần trước. Trên mộ có đặt một bó hoa héo tồi tàn. Người giữ nghĩa trang là một phạm nhân già mù lòa có biệt hiệu là Bố già. Suốt ngày ông già ngồi dưới bóng một cây dừa mọc ở góc đối diện của nghĩa trang; ngồi đấy ông ta không thể nhìn thấy ngôi mộ ấy, mà nếu có ai đến gần ngôi mộ ông ta cũng không nhìn thấy được. 
Tôi nảy ra cái ý dùng ngôi mộ này để lắp bè và nhét thật nhiều dừa vào cái thứ khung gỗ mà anh thợ mộc đã đóng. Hết khoảng ba mươi đến ba mươi bốn quả: so với số dừa đã dự kiến thì ít hơn nhiều. Tôi đã kiếm được hơn năm mươi quả, đặt rải rác ở nhiều nơi, mỗi nơi một ít. Chỉ riêng trong sân nhà Juliette đã được một tá rồi. Anh tù gia đình tưởng tôi gửi tạm đấy để sau này ép dầu. 
Được tin viên cảnh binh chồng người đàn bà mới chết có việc phải đi lên đất liền, tôi quyết định bới lên một phần đất bỏ ra khỏi huyệt, đến chỗ đặt quan tài mới thôi. 
Matthieu Carhonieri ngồi trên bức tường của anh ta, gác cho tôi đào. Dầu anh ta đội một chiếc khăn mùi soa trắng bốn góc thắt nút lại. Bên cạnh có một chiếc khăn đỏ, cũng thắt nút ở bốn góc. Không có gì thì cứ đội khăn trắng. Thấy ai đến thì đội khăn đỏ lên, dù là ai cũng thế. 
Công việc này cực kỳ nguy hiểm. Cũng may là chi mất một buổi chiều và một đêm. Tôi không phải đào đến tận quan tài, vì tôi phải khoét rộng cái huyệt ra cho vừa chiều rộng của chiếc bè: một mét hai có dôi ra một ít. Tôi có cảm giác thời gian trôi qua chậm quá, và cái khăn đỏ đã mấy lần hiện ra. Cuối cùng, sáng hôm nay tôi đã làm xong. Cái huyệt được phủ bằng lá dừa chặt lại, làm thành một thứ sàn khá chắc. Bên trên phủ đất, đắp xung quanh lại thành một cái rìa nhỏ. Trông hầu như không có gì khả nghi. Thần kinh tôi căng thẳng đến tột độ rồi. 
Cuộc chuẩn bị vượt ngục này đã kéo dài ba tháng. Được buộc kỹ và có đánh số đâu vào đấy, tất cả các bộ phận bằng gỗ của chiếc bè đã được đưa ra khỏi chỗ giấu. Bây giờ nó nằm phía trên quan tài của người đàn bà đã khuất, được lớp đất phủ trên sàn lá dừa che kỹ. Trong cái hốc ở trên tường, chúng tôi đã để ba cái bao bột và một sợi dây dài ba mét để làm buồm, một cái chai đựng diêm và vỏ quẹt, một tá hộp sữa, chỉ có thế thôi. – 
Bourset càng ngày càng nôn nao, bứt rứt. Cứ như thể chính anh ta sẽ ra đi chứ không phải tôi. Naric lấy làm tiếc là hồi tôi hỏi anh ta đã từ chối. Nếu hồi ấy anh đồng ý thì chúng tôi đã tính chuyện đóng một chiếc bè cho ba người đi chứ không phải hai. 
Bấy giờ là mùa mưa, ngày nào cũng mưa cả, điều đó tiện lợi cho tôi những khi tôi đi “thăm mộ”; lúc ấy tôi đã lắp gần xong cái bè. Còn thiếu hai thanh gờ của khung gỗ. Tôi đã chuyển dần mấy chục quả dừa về gần khu vườn của bạn tôi. Có thể đến lấy dừa một cách dễ dàng và không có gì nguy hiểm trong trại trâu. Không bao giờ các bạn tôi hỏi tôi đã chuẩn bị đến đâu rồi. Chỉ thỉnh thoáng họ mới nói: “ổn chứ?” – “ổn”. – “Hơi lâu, cậu nhỉ? – “Làm nhanh hơn thì có cơ hỏng hết”. Chỉ thế thôi. Khi tôi đến lấy mấy quả dừa để tạm ở sân nhà Juliette, bà ta trông thấy và đã cho tôi một mẻ hết hồn. 
– Này anh Papillon, anh bắt đầu làm dầu dừa đấy à? Sao không làm ngay trong sân này? ở đây có cái chày vồ để đập dừa ra, tôi sẽ cho anh mượn cái nồi lớn trong nhà để đựng cùi dừa. 
Tôi thấy làm ở trại tiện hơn. 
– Lạ thật, ở trại bất tiện thì có. 
Nhưng nghĩ một lát, bà ta lại nói: 
Anh có muốn tôi nói thật không? Tôi không tin là anh lại đi làm dầu dừa đâu. 
Tôi lạnh toát cả người, Juliette lại nói: 
– Trước hết anh việc gì phải làm dầu dừa, trong khi anh có thể lấy bao nhiêu dầu ô-liu của tôi cũng được? Mấy quả dừa kia để làm một cái gì khác kia, đúng không? 
Tôi toát mồ hôi hột. Ngay từ đầu tôi đã chờ bà ta ném ra hai tiếng “vượt ngục”. Tôi nghẹn cả thở. Tôi nói với Juliette: 
– Thưa bà, chuyện này lẽ ra tôi phải giữ bí mật đến cùng, nhưng tôi thấy bà tò mò sốt ruột muốn biết quá, cho nên tôi đành phải làm một món quà bất ngờ mà tôi đã định dành cho bà. Nhưng đã thế này thì tôi chỉ có thể hở cho bà biết rằng mấy quả dừa lớn này đã được chọn để làm một thứ đồ chơi rất xinh mà bà sẽ rất thích. Hiện nay tôi chỉ có thể nói đến đấy thôi. 
Tôi đã thắng, vì thấy Juliette trả lời: 
– Papillon ạ, anh đừng vì tôi mà bày vẽ những việc làm anh mất thì giờ, và nhất là tôi cấm anh không được phí tiền để làm cho tôi một thứ quà cáp gì đặc biệt. Tôi thành thật cám ơn anh đã nghĩ đến việc đó, nhưng anh chớ có làm như vậy, tôi thiết tha yêu cầu anh đấy. 
– Thôi được, để tôi xem đã. 
Thật hú vía! Tôi lập tức xin Juliette một ly rượu hồi, điều mà tôi chưa bao giờ làm. Bà không nhận thấy vẽ thảng thốt của tôi, thật may. Thượng đế nhân từ đang đứng về phía tôi. 
Hôm nào trời cũng mưa, nhất là về chiều và đêm. Tôi lo nước ngấm qua lớp đất mỏng làm lộ lớp lá dừa đan. Matthieu phải trông chừng thường xuyên, hễ thấy đất trôi đi là đắp lại ngay. Chắc ở phía dưới ngập nước hết rồi. Tôi và Matthieu lôi lớp lá dừa lên: nước chảy xuống đã gần đến nắp quan tài. Tình thế thật nguy kịch. Gần đấy có một ngôi mộ chôn hai đứa trẻ đã chết từ lâu lắm. Một hôm chúng tôi cạy phiến đá trên mộ, tôi chui xuống dùng một thanh sắt ngắn đục lớp xi măng ở chỗ thấp nhất về phía ngôi mộ giấu bè. Lớp xi măng vỡ rồi, tôi vừa cầm thanh sắt cắm xuống đất thì một tia nước phọt lên. Nước từ ngôi mộ bên kia chảy sang cái huyệt này. Khi nước đã lên đến đầu gối tôi bước ra ngoài. Chúng tôi đặt phiến đá trở lại chỗ cũ và gắn xung quanh bằng mát-tit trắng (do Narie kiếm giùm). Biện pháp này đã làm cho lượng nước bên ngôi mộ giấu bè của chúng tôi bớt được một nửa. Tối hôm ấy Carbonien nói với tôi: 
– Không biết đến bao giờ mới hết những chuyện phiền toái vì chuyến vượt ngục này. 
-Gần xong rồi mà, Matthieu! 
– “Gần” rồi hả? Cũng mong như thế. 
Thật chúng tôi như đang ngồi trên đống than hồng. 
Sáng hôm sau, tôi ra bến. Tôi đã yêu cầu Charpar mua cho tôi hai ki-lô cá để đến trưa tôi sẽ ra lấy. Tôi trở lên vườn Carbomeri. Gần đến, tôi trông thấy ba cái mũ cối trắng. Tại sao lại có ba tên cảnh sát trong vườn? Chúng nó lục soát gì chăng? Thật là việc không bình thường. Tôi chưa bao giờ thấy có ba tên cảnh sát đến vườn Carbomeri. Tôi đợi một giờ đồng hồ, rồi sốt ruột quá không chịu được nữa, tôi quyết định đi tới tận nơi xem thử có việc gì xảy ra. Tôi cứ ngang nhiên đi trên con đường dẫn đến khu vườn. Mấy tên cảnh sát đứng nhìn tôi đi tới. Tôi đã đến cách họ khoảng hai mươi mét, lòng bồn chồn hồi hộp, thì thấy Matthieu đội chiếc khăn trắng lên đầu. Tôi thở hắt ra, và có đủ thì giờ trấn tỉnh lại trước khi đến tận chỗ mấy người kia đứng. 
– Chào các ông giám thị. Chào Matthieu. Tôi đến lấy quả đu đủ cậu hứa cho tôi. 
– Tiếc quá Papillon ạ, sáng nay tớ đi lấy sào để cắm cho cây đỗ leo, khi về mới thấy mất quả đu đủ. Nhưng chỉ bốn năm hôm nữa lại có quả chín, bây giờ cũng đã có mấy quả vàng vàng rồi. Thưa các ông giám thị, sao ạ, các ông có lấy một ít rau xà lách, mấy quả cà chua mí lại mấy củ cải cho các bà ở nhà không ạ? 
– Khu vườn của anh trông nom khá lắm Carbonieri ạ tôi có lời khen anh đấy, – một viên cảnh sát nói. 
Họ nhận mấy mớ xà lách, cà chua và củ cải rồi ra về. Tôi ra về trước họ một chút cho họ thấy tôi không có chuyện riêng gì phải bàn với Carbonieri, không quên mang theo hai cây xà lách. 
Tôi đi ngang qua nghĩa địa. Ngôi mộ bị mưa xói lở cả lớp đất phủ bên trên. Đứng cách mười bước, tôi trông thấy rõ lớp lá dừa trồi lên. Đến thế này mà chúng tôi chưa bị lộ thì quả là Chúa phù hộ cho. Đêm đêm gió thổi ào ào như quỷ dữ, tràn qua ngọn đồi trên đảo với những tiếng gầm thét điên dại, chốc chốc lại đổ cả mưa rào. Mong sao cứ thế này mãi: đây là một thời tiết lý tưởng để vượt ngục, nhưng đối với ngôi mộ thì lại khác. Súc gỗ lớn nhất của chiếc bè, cái súc dài hai mét ấy đã được đưa đến hầm mộ một cách xuôi lọt, để nhập bọn với các bộ phận khác của bè. Tôi lại còn lắp thử nó vào nữa là khác, nó ăn khớp vào một cách sít sao mà dễ dàng, không phải tốn sức gì cả. Bourset chạy lên tận trên trại để hỏi xem tôi đã nhận được cái bộ phận quan trọng hàng đầu ấy chưa: nó quan trọng thật, nhưng lại cồng kềnh quá xá. Nghe nói đâu đấy đều ổn cả, anh ta mừng quýnh. Anh ta có vẻ như không tin là nó lại có thể đến tay tôi được. Tôi hỏi: 
– Cậu có ngờ vực gì không? Cậu nghĩ là có ai biết được à? Cậu có hở ra với ai không? Trả lời đi! 
– Không, tuyệt nhiên không? 
-Thế nhưng cậu vẫn có vẻ lo âu vì một điều gì đó. Cậu nói đi! 
– Tôi chỉ có một cảm giác khó chịu vì cái nhìn quá tò mò như có ý soi mói của một gã tên là Bébert Celier. Tôi thấy hình như hắn đã nhìn thấy Naric lấy súc gỗ dưới cái bàn thợ mộc bỏ vào cái thùng ton-nô đựng vôi rồi mang đi. Mắt hắn dõi theo Naric ra đến tận cửa xưởng. Hai anh em Đẩy Xe sắp phải quét vôi một dãy nhà trong trại. Tôi lo là vì thế đấy. 
Tôi hỏi Grandet: 
– Cái anh Bébert Celier ấy ở khối ta đấy, vậy ắt không phải là một thằng phản trắc. 
Grandet nói: 
– Tay này vốn là tù được giao cho sở Công chánh. Cậu thử hình dung mà xem: hắn đã từng đánh nhau trong một tiểu đoàn trừng giới ở châu Phi, một tay cứng đầu đã nếm mùi đủ các thứ nhà pha của quân đội ở Maroc và ở Algérie, chuyên gây sự đánh nhau, đấu dao loại sừng sỏ, một tay pê-đê cuồng nhiệt, lại máu mê cờ bạc nữa. Hắn chưa bao giờ sống ngoài xã hội như một thường dân. Kết luận: đó là một thằng vô lại, cực kỳ nguy hiểm. Trại khổ sai chính là cả cuộc đời của hắn. Nếu cậu nghi hắn thực sự, thì hãy đi bước trước đi: hãy ám sát hắn ngay đêm nay, để hắn không có thì giờ tố giác cậu nếu hắn có ý định ấy. 
– Không có gì chứng minh rằng hắn là một thằng chỉ điểm. 
Đúng thế, – Galgani nói, – nhưng cũng không có gì chứng minh hắn là một thằng khá. Cậu thừa biết loại phạm nhân như hắn chúa ghét những cuộc vượt ngục. Nó làm đảo lộn quá nhiều cái nếp sinh hoạt yên ổn và có nền nếp của bọn chúng. Về bất cứ việc gì khác thì chúng không bao giờ tố giác, nhưng chuyện vượt ngục thì khác, biết đâu đấy? 
Tôi hỏi ý kiến Matthieu Carbonieri. Anh ta tán thành cái ý kiến là phải giết hắn ngay đêm nay. Anh ta định đích thân làm việc đó. Tôi có một hành động sai lầm là đã ngăn cản anh ta. Tôi không thể chấp nhận việc giết một con người mà chỉ căn cứ vào những hiện tượng bề ngoài. Dù là tự mình giết hay để cho người khác giết, tôi cũng thấy ghê tay quá. Nếu nhỡ Bourset tưởng tượng ra những chuyện anh ta vừa kể thì sao? Vì quá lo sợ, anh ta có thể thần hồn nát thần tính mà thành ra hoang tưởng cũng nên. Tôi hỏi Naric: 
– Xúp nhừ này, cậu có thấy Bébert Celier có cái gì khác thường không? 
– Tôi thì không. Khi đi ra, tôi vác cái thùng trên vai để thằng giữ chìa khóa đừng trông thấy trong thùng có gì. Theo chiến thuật đã quy ước, tôi phải đứng ngay trước mặt thằng giữ chìa khóa, không đặt cái thùng ton-nô xuống, cho đến khi anh rể tôi ra đến cửa. Như thế là để thằng A-rập thấy rõ tôi không vội vã muốn ra ngay: hắn sẽ không sinh nghi mà đòi khám cái thùng. Nhưng sau đó anh rể tôi nói là thấy thằng Bébert Celier quan sát chúng tôi một cách chăm chú. 
– Ý kiến của anh ra sao? 
– Vì bộ phận này rất quan trọng, và chỉ nhìn qua cũng biết đó là một bộ phận của một chiếc bè, cho nên anh rể tôi lo sợ quá mà trông gà hóa cuốc. 
Tôi cũng nghĩ như vậy. Thôi chuyện này không nói nữa. Còn lại bộ phận cuối cùng, trước khi đưa ra phải chú ý xem Bébert Celier ở đâu. Cứ đề phòng hắn ta như đối với một tên ác. 
Suốt đêm ấy tôi mê mải đánh bài Marseillaise. Tôi được bảy ngàn francs. Tôi càng đánh bừa lại càng được. Đến bốn giờ rưỡi sáng, tôi thôi đánh bài, nói là phải đi làm cỏ-vê đổ thùng. Tôi để cho cậu da đen Matinique làm một mình. Mưa đã tạnh. Trong bóng đêm hãy còn tối mịt, tôi đi ra nghĩa trang. Tôi lấy chân san lại đất trên ngôi mộ, vì tôi tìm không ra cái xẻng, nhưng với đôi giày của tôi, công việc cũng tạm ổn. Đến bây giờ, khi tôi xuống biển câu cá, trời đã nắng ráo, rất đẹp. Tôi đi về phía mũi đá phía nam đảo Royale, nơi tôi đã định cho bè xuống nước. Nước biển dâng cao, động mạnh. 
Tôi cũng không biết nữa, nhưng tôi có cảm giác là sẽ rất khó làm cho bè tách ra khỏi bờ mà bờ mà không bị sóng hắt trở lại, xô mạnh, vào đá. Tôi câu một mớ cá hồng đá dễ đến hơi năm ki-lô. Rửa sạch mớ cá xong, tôi không câu nữa. Tôi rất lo, nhất là lại đang mệt vì canh bạc trắng đêm. Ngồi trong bóng rợp, tôi ôn lại cái thời gian hơn ba tháng chuẩn bị vừa qua, tự nhủ rằng sự căng thẳng kéo dài đã sắp kết thúc, rồi nghĩ đến trường hợp Celier, tôi kết luận lại một lần nữa là mình không có quyền ám sát hắn. 
– Tôi đến gặp Matthieu. Đằng bên bức tường của khu vườn, có thể trông rõ ngôi mộ. Trên lối đi vào mộ có đất rải rác. Đến trưa Carbonieri sẽ sang quét sạch nó đi. Tôi đi qua nhà Juliette, cho bà một nửa số cá vừa câu được Bà ta nói: 
– Papillon ơi, đêm qua tôi chiêm bao chuyện dữ quá: tôi mơ thấy anh máu me đầm đìa, rồi lại thấy anh bị xiềng xích. Anh đừng làm gì dại dột nhé. Nhỡ anh có làm sao thì tôi sẽ đau khổ quá sức. Giấc chiêm bao làm cho tôi xúc động đến nỗi đến bây giờ tôi cũng chưa buồn rửa mặt chải đầu gì cả. Tôi lấy ống nhòm tìm xem anh đang câu cá ở đâu, mà chẳng thấy. Chỗ cá này anh câu ở đâu thế? 
– Ở bên kia đảo. Cho nên bà không nhìn thấy được 
– Tại sao anh lại phải câu xa thế, ở một nơi mà tôi không thể dùng ống nhòm nhìn tới được? Nhỡ bị sóng cuốn đi thì sao? Sẽ không có ai trông thấy để mà vớt anh lên trước khi cá mập đớp mất. 
– Ồ, xin bà đừng quan trọng hóa đi qua như thế. 
– Anh cho tôi là tôi quan trọng hóa! Bây giờ tôi cấm anh câu ở phía bên kia đảo đấy. Nếu anh không nghe, tôi sẽ bảo người ta rút giấy phép đi câu của anh. 
– Kìa, bà phải biết điều một chút chứ. Để bà vui lòng, từ nay tôi sẽ nói cho anh tù làm ở nhà bà biết tôi câu ở chỗ nào. 
– Thôi được. Nhưng sao trông anh mệt mỏi thế? 
– Vâng, tôi hơi mệt thật. Tôi sẽ về trại nằm một lát 
– Được. Nhưng đến bốn giờ tôi đợi anh đến uống cà phê đấy nhé. Anh đến chứ? 
– Vâng xin hẹn đến chiều, chào bà tôi về.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 11 Nov 2025

Chương 7

Sáng hôm sau, lệnh thức dậy được hét bằng đủ loại ngôn ngữ trừ tiếng Pháp, đã dựng chúng tôi dậy để chạy về phía các bồn rửa mặt. Trời vẫn còn tối và một lớp tuyết cứng phủ đầy mặt đất. Trong thời gian đầu chưa ai quen với hệ thống D, mọi người để mình trần đều phải trải qua hệ thống nầy. Dầu đến thế nào sự lo lắng muốn cho chúng tôi đầy phong độ, rất đáng buồn cười. Chắc chắn điều nầy không có gì kinh khủng cả, hệ thống sinh hoạt đó được áp dụng trong tất cả các cộng đồng ở Đức, tuy nhiên đối với những người lớn tuổi và bệnh nhân thì đây là một chuyện khó nhọc. Thật sự là đời sống trong các trại tập trung nầy có mục đích thanh toán họ càng mau càng tốt.

Từ phòng rửa mặt về, sự phân phát phần bánh mì cho suốt ngày bắt đầu. Không có ai có can đảm giữ lại một mẩu cho suốt ngày. Ngay vừa lúc chúng tôi ăn hết bánh mì, cả mười nhân viên phụ trách thét lớn cùng một lúc ra hiệu cho chúng tôi ra ngoài tập họp.

Ánh sáng ban mai bắt đầu ló dạng, trong khi mười nhân viên ăn mặc ấm áp đếm đi đếm lại, thì chúng tôi, áo vét chật bỏ sát, một nửa bàn chân ngập trong tuyết, run lập cập. Qua trung gian một thông ngôn được chỉ định đầu hôm, người ta báo hôm nay chúng tôi đến hầm đá, mang đá về lót đường trong trại, công việc lót đường do các toán đặc biệt thực hiện. Công tác tạp dịch nầy được định trước cho những người mới đến cứ hai ngày một lần, và như vậy chúng tôi có cơ hội làm quen với địa điểm sinh sống.

Đoàn người dài chuyển động theo sự hướng dẫn của một “Kapo” (trưởng toán) vừa đến tìm chúng tôi. Tôi đã lướt lên đầu để tìm cách nói chuyện với người nầy. Anh ta giải thích cứ mỗi biệt đội lao tác được chỉ huy bởi một tù nhân cũ, và tùy theo số tù nhân y được sự phụ tá của nhiều Vorarbeiters (cai), cũng là tù nhân nữa. Điều nầy giúp tiết kiệm nhân viên SS, bọn nầy thỉnh thoảng đến kiểm soát mà thôi.

– Ở đây, anh ta nói tới tôi, công việc của chúng ta là canh chừng không để cho bọn SS bắt gặp chúng ta thình lình. Cố nhiên là phải làm việc tối thiểu và cặp mắt cũng làm việc y như tay chân.

Người Kapo nầy thật đặc biệt, bởi vì các đồng nghiệp của anh ta không đáng giá bao nhiêu.

Chúng tôi chầm chậm đi lên dốc, trên đó các tòa nhà và dãy trại được xây dựng thật ngay hàng. Những con đường ít bị đông giá trở thành các con sông toàn bùn, đưa đến các dãy trại đó.

Càng đi tới, đoàn người càng dãn ra bởi vì chúng tôi không theo kịp nhịp bước của những người đi đầu, và họ đã đến quảng trường của trại tập trung, nơi đây, mỗi sáng các biệt đội tập họp lại và buổi tối, điểm danh tổng quát.

Được xây dựng trên một triền nghiêng của một cao nguyên mang tên Buchenwald (rừng cây dẻ gai), khu vực dành cho tù nhân gồm có 60 “khối”, cộng thêm với các cơ sở khác như nhà bếp, nhà tắm đã được kể ở đoạn trước. Từ nơi điểm danh nầy, người ta có thể nhìn bao quát tất cả các khối. Trong thời tiết lục địa khắc nghiệt nầy, bị gió lộng tứ phương, bốn phía rừng cây bao bọc, toàn thể khu vực trông thấy được, đã gợi trong trí hình ảnh một thành phố tại Alaskav, tuy nhiên các hàng rào kẽm gai cùng với các chòi canh vĩ đại lại nhắc nhở thật mau đến hình ảnh một nhà tù lại Sibérie thời Nga hoàng được canh tân hóa. Một loại kiến trúc có vẻ dân sự chạy viền theo phân đất trên cao và nằm hai bên cổng chính mà chúng tôi đã được đưa vào tối hôm trước. Viên chỉ huy trại cũng như lực lượng canh phòng trú ngụ tại các ngôi nhà đó. Trên tầng thứ nhất, tại một bao lơn chính giữa được xây cất đặc biệt, có nhiều quân canh với đèn pha và đại liên, canh phòng thường trực. Người Kapo đến trình diện toán gát và một lính canh ngồi sau một ghi sê, anh ta nói sao khi dở nón ca lô: “Bao nhiều người đây cho công tác tạp dịch đó”. Sau khi đếm chúng tôi, một tên SS mở cửa, Chúng tôi thấy trại của chúng tôi chỉ là 1/4 hay 1/3 toàn diện khu vực bên ngoài. Ở đấy có các nhà máy, nhà kho và tù nhân làm việc, ngoài ra là các trại lính dành cho các tân binh SS và lớn đến nỗi có thể nhận nhiều sư đoàn cùng một lúc. Các bãi tập, các săn bắn cũng được thiết lập trên khu cao nguyên. Phải đi qua đấy mới đến triền dốc bên kia, nơi đó chúng tôi thấy một hầm đã lộ thiên vĩ đại. Thường thường bầu trời có màu xám xịt và thấp, lại thêm địa điểm buồn tẻ, che khuất chân trời. Nhưng khi ánh sáng lợt lạt mùa đông ló dạng, người ta có thể thấy xa tít mù một thung lũng gồm nhiều làng mạc dân chúng. Trong tầm mắt có thể nhìn thấy được, không có một dấu hiện nào chứng tỏ có hoạt động của con người, tất cả như đều bị đông cứng lại. Một con đường chỉ đo bàn chân của tù nhân vạch nên, đưa đến hầm đá, nơi đó đã có các toán lấy đá. Công việc của chúng tôi rất đơn giản, mỗi người nhặt một viên đá. Những người đi đầu ngồi chờ cả toán đến đủ. Những người già cả chịu đựng hàng ngàn khổ đau; nếu mặt đất không quá trơn trợt thì một lớp bùn dầy dính chặt đế giày bằng gỗ của chúng tôi và đã có nhiều người đi về chân không. Sau cùng, những người đi chậm bắt kịp đám đông. Sau khi bị đếm đi đếm lại, chúng tôi trở về trại với một hòn đá trong tay.

Địa điểm duy nhất của trại tập trung Buchenwald có thể thử tìm cách vượt ngục là hầm đá. Tuy nhiên ngoài những người cai luôn luôn canh giữ toán của mình, ở đó còn có quân SS. Chung quanh công trường đầy lính gác và chó đứng cách nhau năm mươi thước canh chừng ngày đêm. Trên các con đường đi qua khu vực ngoại vì đều có các toán tuần tiễu chặn đường và kiểm soát mọi sự lưu thông. Quả thật trại tập trung đã bị cắt đứt với thế giới bên ngoài, và mặc dù đã có các dự tính tuyệt vọng, không một ai thành công trong nỗ lực vượt ngục.

Trước khi trở về “khối” của chúng tôi, mọi người phải đi qua một con đường dài, dọc theo đó, chúng tôi bỏ đá lại cho những người đập đá làm việc tại đó bất kể trong thời tiết nào. Chúng tôi ngạc nhiên thấy họ là người Đức và lúc đó, họ có vẻ khốn khổ hơn chúng tôi nhiều.

Trong buổi sáng đầu tiên nầy, chúng tôi làm hai vòng tạp dịch và nếu không có sự giá lạnh và gió lồng lộng rét buốt làm cồn cào ruột gan, thì đây chỉ là các cuộc đi dạo mà những người trẻ tuổi chịu đựng một cách thích thú, Tuy nhiên đây mới chỉ là bắt đầu…

Khi về đến khối, chúng tôi phải chùi thiết hài như sắp sửa bước vào một nơi tôn nghiêm. Bởi những người được chỉ định làm công tác phân phối súp, đi về phía nhà bếp. Mỗi người phải trở lại chỗ nằm để đợi được phân phối súp. Lúc đó, cấm di chuyển; chỉ có người chịu trách nhiệm đứng trước ngăn như một người dạy mãnh thú đứng trước chuồng với một bầy 48 con thú bên trong.

Đoàn người bưng các thùng súp đi qua được chào đón bằng những tiếng kêu vui vẻ. Người có trách nhiệm, với nhiều người khác đi theo, mang hàng chồng gào mên, múc cho mỗi người một ca gần một lít. Súp thật nóng và chỉ vì lý do đó mà chúng tôi thấy nó ngon. Trong thoáng chốc mỗi người ăn hết phần của mình, và hàng trăm cặp mắt nhìn chăm chú vào các thùng để tính xem có may mắn còn phần súp dư đầy tính cách ảo tưởng nào không. Tôi chú ý rằng ngay từ bữa ăn đầu tiên, các người chỉ huy ngăn đã múc cho mình gấp đôi, cả người thông ngôn, người bưng gào mên, và một vài người được, ưu đãi khác cũng vậy. Một giai cấp trung lưu vừa thành hình. Ông tu viện trưởng Bourgeois, tên của người chỉ huy ngăn chúng tôi, thật là một trường hợp gương mẫu. Không bao giờ ông ăn lít súp thứ hai mà không chia xẻ với một người trong chúng tôi. Giáo sư tại một trường trung học tự do ở Besancon, ông ta chịu khổ đau đặc biệt trong suốt thời gian bị giam cầm. Trên sân ga, lúc bị đưa lên tàu đến Compiègne, chân thì bị xiềng, tay bị còng, mặc dù bị viên sĩ quan có trách nhiệm cấm, ông đã hát vang bài Marseillaise 2. Bắt chước ông, cả đoàn người hát theo. Bọn lính gát và viên chỉ huy, tức cành hông, đành phải chịu thua sự thách thức trước đám đông du khách có mặt tại đó. Không phải chính ông ta kể lại cho tôi nghe chuyện nầy, ông không bao giờ làm như vậy.

Buổi chiều, hầm đá lại chờ chúng tôi. Sau vài chuyến là phải chuẩn bị cho cuộc điểm danh. Lúc đó là 7 giờ. Tôi được biết là các khối đang trong thời kỳ kiểm dịch phải tập họp trước các toán khác hai tiếng đồng hồ, điều nầy là để luyện tập,chúng tôi. Và còn phải đứng trong ba giờ nữa với một chất nước như thuốc sắc trong bụng coi như bữa ăn tối.

Sáng hôm sau, một ngày không đi hầm đá, người ta tống chúng tôi ra khỏi khối ngay sau khi phát bánh mì lấy lý do là sàn nhà cần được chùi rửa và đó cũng là qui tắc. Tuy nhiên, không có gì ngăn chúng tôi nằm nán trong ngăn vì lẽ bị thiếu ăn vì một chế độ thực phẩm tội thiểu, bị mệt mỏi bởi cuộc điểm danh hồi hôm, một vài giờ nằm trên đệm đã thật sự cho chúng tôi được dịp nghỉ ngơi. Thay vì là như thế, lại phải đựng chờ bên ngoài, run rẩy vì lạnh, và bắt buộc phải nhảy tại chỗ để làm chân tay đỡ tê cóng. Một hàng người đói rách đứng trước một quán súp bình dân còn có vẻ khá hơn là chúng tôi, một bầy run lập cập trong quang cảnh phi nhân nầy. Và chính điều đó đã làm cho chúng tôi thấy tính cách hài hước của thời gian bốn mươi ngày để kiểm dịch. Nến về phương diện chính thức và theo những điều Léo giới thiệu, chương trình có vẻ bình thường lắm, trong thực tế, đây là cả một công cuộc dạy cầm thú thật sự. Mục đích: tuyệt trừ nơi mỗi cá nhân, những gì tượng trưng cho nhân cách để biến thành một con thú phục dịch. Về phương diện vật thể, điều nầy đã được làm rồi bởi vì bị hớt tóc cạo lông, bị đánh số, bị ăn mặc đồng loạt giống như những kẻ thất nghiệp lang bang, chúng tôi trông giống như một bầy xứng đáng với trò “nhạc kịch ba xu”. Hơn nữa, thức ăn được tính toán một cách khoa học đã làm mỗi ngày chúng tôi một yếu dần. Tuy nhiên chính trí não chúng tôi mới là đối tượng chính cần tiêu diệt, chúng tôi bắt đầu hiểu các phương pháp đạt đến mục tiêu đó. Một sự hạ thấp tàn bạo xuống bậc thang tận cùng, những chuyện mích lòng, những sự khích động vì quốc tịch, sự “săng ta” thường trực, và một tâm lý sợ hãi kết tạo bởi mối đe dọa thường xuyên. Chúng tôi không có một giờ phút nào riêng cho mỗi người và chúng tôi bị dẫn dắt tàn bạo bởi chính các tù nhân như chúng tôi. Phải thử làm một cái gì, nhưng không có ai đến gần được họ, và người thông ngôn, một sinh viên trẻ tuổi rụt rè, không dám can thiệp. Vậy phải chờ một cơ hội thuận lợi nhân một sự kiện nào đó xẩy ra, cơ hội đã bắt Michael trả giá đắt. Vì từ chối làm một công việc tạp dịch với một tên Stubendienst người Ba Lan đặc biệt xấu tánh, tên nầy đã đánh anh gần ngất và bạn tôi đã chịu đau đớn nhẫn nhịn, vì hiện tại tên Ba Lan được coi là đại diện cho quyền lực SS, và chống lại y dù là để tự vệ có nghĩa là nổi loạn. May thay vụ gây gổ đã lôi kéo sự chú ý của viên thư ký khối, cũng người Serbie. Là cánh tay mặt của người chỉ huy khối, anh ta có quyền uy đối với tất cả mọi người.

Vụ rắc rối đã được giải quyết, danh dự của Micheal được bảo tồn, anh đã tìm thấy nơi người đồng hương một tình bạn và nhân đó, anh giợi thiệu tôi với người bạn mới. Người thư ký đưa chúng tôi vào căn phòng nhỏ của vị chỉ huy khối, nơi có một chiếc bàn nhỏ dùng làm bàn giấy, ông ta mời chúng tôi một điếu thuốc Machorka 3 có mùi vị không khác gì mùi cỏ cháy, nhưng ở đây, tượng trưng cho sự sang trọng. Đây đúng là lúc sau giờ điểm danh. “Chúng ta có thể nói chuyện suốt đêm, ông ta nói; Kurt – người chỉ huy khối – đã đi thăm vài người bạn”. Hai bên giới thiệu nhau, chúng tôi phải đảm bảo kín miệng vì những lời ông ta nói có vẻ bí mật thật sự.

Là quản lý một hí viện ở Zagreb, ông ta đã gia nhập vào một nhóm trí thức thân Tito. Bị quân Đức bắt khi chiếm đóng, kết cuộc ông ta bị đưa đến Buchenwald sau khi nểm đủ mùi tại các nhà ngục của bọn Ousiachis. Nhỏ con nhưng mạnh bạo, ông ta đã trải qua thời gian kiểm dịch, mang nhiều sẹo, kết quả của các cuộc tra tấn trong khi bị thẩm vấn bởi cảnh sát của Pavelitch (lãnh đạo chính quyền Nam Tư dưới thời bị Đức chiếm đóng):

– Sau nầy các anh sẽ có cơ hội biết nhiều hơn bên trong cuộc sống ở đây, – ông ta bắt đầu nói. – Tôi chỉ nói hạn chế bằng cách giải thích phương thức cai quản trại tập trung thôi; Quân SS khởi đi từ một nguyên tắc; chúng dồn đống vào trại hàng chục ngàn người góp nhặt từ các xứ bị Đức chiếm đóng, số người đó trở thành lực lượng nhân công ngoan ngoãn và khỏi phải trả lương. Để giúp chúng trong nhiệm vụ đó, nhiệm vụ phức tạp khó khăn vô cùng, chúng đã dùng các tù nhân Đức. Như vậy, có loại tù nhân chính trị với dấu tam giác đó, tù nhân thường tội, tam giác màu lục, loại tù nhân chống lại xã hội, loại phá hoại công việc mang tam giác đen, những thành phần của các hiệp hội công giáo chống chủ thuyết Quốc Xã được phân biệt bằng một tam giác tím, sau cùng có những tù nhân bị chứng đồng tình luyến ái mang dấu hiệu tam giác hồng. Tuy nhiên trong nội bộ tù nhân với nhau, chúng tôi đủ phân biệt một cách tàn bạo chỉ có hai loại, một bên là tù chính trị, phần còn lại thuộc phe thứ hái. Cuộc xung đột hiện hữu trong tất cả các trại, xung đột một mất một còn, để chiếm quyền lãnh đạo, bởi vì các anh sẽ có dịp tự mình phán xét, đó là một quyền lực thật sự mà những người nắm giữ nó, hành xử trên đám tù nhân còn lại.

“Từ nhiều năm qua, những tù nhân chính trị Đức nắm quyền nầy ở dây và điều đó không phải là đơn giản đâu. Các anh nghĩ xem, hiện tại có vào khoảng 25 ngàn tù nhân, và bọn chỉ huy SS luôn luôn đặt sự kiểm soát thường trực, muốn rằng tập thể đó được cai quản tốt. Chúng tuyệt đối không làm gì cả ngoại trừ kiểm soát số lượng tù nhân và công tác. Vậy thì phải có một tổ chức nào đó để cai quản tập thể; một mặt, phải làm cho bọn SS hài long về phương diện biểu kiến, mặt khác, bằng mọi giá phải duy trì một hình thức văn minh nào đó cho sự giam cầm. Bọn SS là bọn người ác quỷ trong tâm bởi vì chính chúng đặt ra chương trình và chúng tôi phải hành hạ trí não để tìm cách qua mắt chúng một phần nào.

“Các anh sẽ nói: nhưng mà nếu thế là các tù nhân chính trị tỏ ra bất xứng khi nhận lời giúp quân SS”.

“Câu trả lời thật dễ dàng: Đó là một vụ tự sát. Hãy suy nghĩ xem: Nếu tù nhân chính trị từ chức, tù thường tội chỉ chờ có thế, họ lập tức xin được phục vụ ngay và lúc đó tất cả chúng ta đều chết trong các điều kiện tồi tệ nhất. Chúng tôi đã ở trong trại nhiều năm rồi và cuộc chiến tranh vẫn chưa chấm dứt. Không những chúng tôi chỉ tự cứu lấy mình, nhưng lại còn có thể giúp đỡ, dù ít đến đâu đi nữa, những người kháng chiến ở khắp các Quốc Gia bị đưa đến đây. Đối với tập thể, chúng tôi tượng trưng cho sự không hay ít hơn, vì nếu bọn SS buộc cung cấp hai ngàn người để làm một công việc chuyển dịch nào đó, thì phải cung cấp họ cho chúng, dù cho chúng tôi biết rằng họ chắc chắn sẽ đi đến chỗ chết, trong một hầm mỏ nào đó, đi nữa.. Nhưng, ít ra là lúc họ còn ở trong trại Buchenwald, một kỷ luật tối thiểu có lợi cho tất cả mọi người đã được tôn trọng. Mỗi tù nhân nhận được phần ăn mà họ có quyền hưởng… và khi có bưu kiện đến, người có tên trên gói quà chắc chắn nhận được gói của mình, và nguyên vẹn, không sứt mẻ; một người đau ốm được công nhận là đau ốm: các vụ đánh đập đều bị cấm chỉ.

Anh cười! Tôi hiểu, con người vẫn là con người, Và tại sao các anh muốn họ trở nên tốt hơn trong một trại tập trung? Các tù nhân Đức ở đây hầu hết là những phần tử đối lập với chế độ Quốc Xã đã từng có những trách nhiệm lớn chẳng hạn như viên trưởng trại và một vài người khác là các cựu dân biểu. Họ bị bọn Quốc Xã bắt giam từ mười năm nay và nếu có người nào đủ khó chơi, không ai phủ nhận rằng thời gian bị giam cầm quá lâu, và khá kinh khủng trong những năm đầu đã làm cho; một số người bị ảnh hưởng sâu đậm. Tuy nhiên phải thẳng thắn nhìn nhận rằng một chút tình nhân loại còn sót lại nơi đây là nhờ họ, chúng ta, tất cả chúng ta, phải mang ơn họ. Qua mặt bọn SS họ đã cứu và sẽ còn cứu nhiều nhân vật, nhiều chiến sĩ tiêu biểu thực sự cho phần tử tinh hoa của đất nước họ. Họ đã cứu hàng ngàn thiếu niên Nga, trong đó có nguyên một khối gồm toàn trẻ con từ 8 đến 14 tuổi và đạt được kết quả là miễn cho các em đó khỏi lao tác. Chắc chắn là tinh thần họ bị mệt mỏi ghê gớm và họ, những người đã chịu khổ nhọc mười lần hơn chúng ta, họ phải trút lên đầu các người dưới quyền do chính họ chọn lựa trong số tù nhân thuộc các quốc tịch khác. Tuy nhiên, những tình cảm đẹp đẽ hướng dẫn con người trong đời sống dân sự vẫn còn tiếp tục được thể hiện ở đây. Vì không đông lắm nên họ phải tuyển mộ các viên phụ tá trong số tù nhân từ các quốc gia miền Đông bị đưa đến. Đã có người Tiệp Khắc, Ba Lan, vài người Serbie, và rất đông người Nga trong số nầy. Mà, những viên phụ tá nầy, phần đông rất trẻ, chưa thi hành quân dịch hoặc không tham dự vào một tổ chức chống bọn Quốc Xã, xuất thân từ hàng triệu công nhân bị biến cải nô lệ và được chở từ Đông Âu đến để thay thế, trong các nhà máy của chế độ Quốc Xã, số nhân công Đức phải ra chiến đấu ngoài tiền tuyến. Những điều kiện sống trong các thành phố kỹ nghệ lớn, nơi mà sự đói khổ, hậu quả của nhiều sự hạn chế, và sự chết chóc vì bị oanh tạc, luôn luôn rình rập họ, và bắt buộc, thúc đẩy họ vào các hành động: vượt ngục, ăn cắp thực phẩm, phá hoại nhà rnáy, và các hành động đó, họ bị đưa đến đây. Ốm yếu chỉ còn da bọc xương, họ tin rằng sẽ bị tận diệt một cách chắc chắn, nhưng trái lại, họ nhận được sự giúp đỡ cấp thời và hữu hiệu do tù nhân Đức ban cấp cho. Họ là những người thiếu kinh nghiệm và tin tưởng rằng, do sự sốt sắng quá lố, họ sẽ tỏ bày được lòng biết ơn đối với các vị cứu tinh, do đó họ đối đãi thô bạo một tí đối với những người mới đến, nhất là tại đây, các anh lại toàn là người Pháp. Sự khác biệt tâm lý quả thật quá lớn lao đến nỗi chỉ còn lại cừu hận, và khốn thay, do sự thiếu thông cảm giữa người nầy và người kia, chính bọn cai ngục SS là thủ lợi”.

Tôi chộp ngay lời thú nhận nầy và đề nghị thành lập một thứ ủy ban trái độn do tù nhân chỉ định để giúp cho cả khối chạy đều, đồng thời tránh luôn những chuyện đáng tiếc, ông ta hứa sẽ đề cập đến vấn đề nầy với Kurt ngay đêm nay, và chúng tôi xin rút lui sau khi nghe mấy lời kết thúc của ông ta:

– Chỉ có một thiểu số còn sống khi rời các trại tập trung, với điều kiện là chúng không có tàn sát tất cả chúng ta trong cơn hấp hối của chúng.

Vừa ra khỏi phòng, chúng tôi phải cởi giày bởi vì mọi người đã ngủ yên. Michael xiết tay tôi với sự nồng nhiệt đặc biệt. Chúng tôi vừa được biết nhiều chuyện và chúng tôi tự cảm thấy mình là hai con người khác hẳn.

Thời gian tốt nhất đối với chúng tôi vẫn là buổi tối khi máy phóng thanh loan báo “Abtreten” (điểm danh chấm dứt), vẫn còn được 1 giờ trước giờ ngủ bắt buộc, như vậy chúng tôi được tự do nói chuyện gẫu.

Một điều vẫn được mọi người lập đi lập lại là “chỉ trong 3 tháng” ngày tháng trôi qua nhưng lúc nào cũng là ba tháng. Và trong thời gian khởi đầu tháng hai năm 1944, những người thực tế nhất cũng tự hỏi một cách lo âu rằng không biết mình có chịu đựng nó đến cuối năm không, đó là thời hạn chấm dứt chiến tranh mà mọi người tin tưởng; đối với đa số, mọi chuyện đã được sắp đặt: Đổ bộ vào tháng ba, thời gian thuận tiện nhất cho các hoạt động trên biển, và một Trung tá hải quân có mặt ở đây có thể chứng minh được điều đó; một khi cuộc đổ bộ thành công, thật là lố bịch nếu còn nghi ngờ rằng chiến tranh không chấm dứt một tháng sau đó. Trong số năm trăm người chúng tôi, chỉ có một người thấy đúng: Đại Tá Ganneval (sẽ là quân trấn trưởng thành phố Bá-linh sau chiến tranh) nhiều lần tuyên bố về “chiến tranh chỉ chấm dứt vào năm 1945”. Ông ta là người bi quan nhất trong khối, nhưng đôi khi như muốn bù trừ lại, ông ta nói với chúng tôi giọng thân mật, bề trên: “Thật là một hạnh phúc lớn lao nếu chuyện đó sẽ xảy ra vào cuối năm 1944”. Chúng tôi vào khoảng hai mươi người ngồi nghe ông như học trò nghe giảng bài; một giáo sư thật thọ, một Đức ông. Ngay từ khi làm quen với ông, tôi đã cho ông biết đại cương cuộc tiếp xúc với viên thư ký và lập tức mời ông gia nhập nhóm. Vì đã là trưởng ngăn, ông từ chối nhận thêm việc mới, nhưng hứa sẽ hậu thuẫn chúng tôi; điều nầy rất may vì thời gian quá cấp bách. Đến lượt Léo đánh ngất một thanh niên tên Barbier vì một lỗi nhỏ. Anh nầy đã hiểu nhầm một mệnh lệnh của Léo về việc chùi rửa một góc khối dùng làm một nhà vệ sinh nhỏ, cùng chỗ rửa chén bát Để trừng phạt, sau khi đánh nạn nhân gần ngất xỉu, Léo bắt anh ta trần truồng nằm xuống sàn xi măng ẩm ướt, thoạt tiên là nằm sấp, sau đó là nằm ngửa, mỗi lần, anh ta nhận ba sô nước giá lạnh. Như nhờ phép lạ, ngoài các vết bầm tím đo các cú đấm, không có gì trầm trọng xẩy ra sau một phen trừng phạt đặc biệt khó nhọc trong thời tiết mùa đông giá lạnh nầy. Sự trừng phạt đó, mà không một tên SS bài bác đã làm chúng tôi vô cùng công phẫn, Michael chạy đi kiếm viên thư ký đồng hương, ông nầy bình tĩnh như thường lệ trả lời:

– Điều đó không làm tôi ngạc nhiên về Léo, bạn bè hắn gọi hắn là tên sát nhân. Hắn không phải là người xấu, nhưng định kỳ, lại nổi cơn điên. Hắn ta đã tham gia chiến đấu trong suốt cuộc chiến tranh Tây Ban Nha, và chắc chắn đã có gì đó làm hắn loạn trí. Nhân tiện, Kurt chấp thuận đề nghị của các anh, ngay khi nào các anh sẵn sàng, ta sẽ tổ chức cuộc hội để xúc tiến việc đó.

Căn bản sáu người được chấp thuận, tôi được chỉ định cùng với viên thông ngôn của khối Michael, một người chỉ huy du kích quân tại Saône-et-Loire tên Marcel, một Trung tá Hải quân, và Max. Tôi đã chú ý đến người sau cùng từ hôm mới đến. Cùng nằm chung ngăn với chúng tôi, anh ta không bao giờ nói một lời, và tìm cách tự làm lu mờ trong đám đông. Thái độ lặng im đó đã làm mọi người bị khởi động lòng hiếu kỳ và dành cho anh ta nhiều cảm tình. Anh ta nói được tiếng Đức và tiếng Nga, điều nầy lại càng làm cho con người ông ta mang thêm một màn bí ẩn. có lẽ vì lý do đó mà tôi vận động mọi người nhận anh ta vào một cơ cấu mới được tổ chức. Tôi nói rằng rất ngạc nhiên vì kiến thức ngoại ngữ của anh ta, kiến thức hiếm có nơi người Pháp, anh ta kéo riêng tôi ra, lợi dụng một thời gian ngắn có thể nói chuyện riêng với nhau. Sau nhiều lần do dự trước khi bắt đầu như là cố tìm những danh từ thích hợp nhứt diễn tả tư tưởng, anh ta tiết lộ với tôi:

– Anh vừa giúp tôi một việc vô giá, do đó tôi cảm thấy có bổn phận phải đền đáp anh bằng sự thật. Tên tuổi của tôi hiện nay vốn là của một trong những bạn kháng chiến, bọn Gestapo không thể khám phá được gì cả. Trong thực tế, tôi là người Đức, khoan, để tôi nói cho chính xác, là ngước Đức gốc Do Thái, tỵ nạn tại Pháp từ năm 1933. Lúc đó tôi mới có 15 tuổi như anh thấy, tôi nói tiếng Pháp rất lưu loát và đúng giọng như người Pháp. Khi thú nhận như thế, tôi đã đặt phần nào số phận trong tay anh, vì nếu điểm nầy bị tiết lộ, mạng tôi sẽ không còn đáng giá bao nhiêu. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ nói để chứng tỏ lòng tin cậy của tôi vào anh.

Tình bạn là một cái gì hiếm có trong trại tập trung, tôi chấp nhận tình bạn mới với sự vui vẻ, trong khi đó tôi cũng hứa hết sức kín miệng đối với những điều mà anh ta vừa tiết lộ cho tôi biết.

Buổi họp được tổ chức trong phòng viên trưởng khối, và một thỏa hiệp thành hình. Đại Tá Ganneval, được coi như là niên trưởng, kêu gọi mỗi người, tuân hành kỷ luật, để giúp cho hệ thống quản trị mới thành công.

Đã có sự chỉ trích lẫn bênh vực, thật dễ; đến lượt chúng tôi gia nhập vào giai cấp trung lưu và nếu có một vài sự lạm quyền phát xuất từ tinh thần ưa bài xích, đặc tính của chúng tôi, thì ít ra các vụ đánh đập cũng đã chấm dứt, những mệnh lệnh bằng tiếng Slave rất chói tai đối với tù nhân Pháp trở thành hiếm hơn, và ý thức tránh tình trạng tệ hại tột cùng đã làm tăng gia hơn hết mọi việc sự hòa thuận toàn thể.

Trong khi chúng tôi tưởng là chương trình thường lệ được thiết lập sẵn sẽ được áp dụng một cách vĩnh viễn, thì một buổi sáng một công việc phụ khó chịu đã đến với một trăm người trong chúng tôi. Mỗi khối còn trong tình trạng kiểm dịch phải cung cấp một trăm người trong bốn ngày liên tiếp để làm một công việc gọi là “tạp dịch trong vườn”, ở đây là khu vườn mênh mông của trại tập trung mà sự chăm sóc là do trách nhiệm của các tù nhân chuyên môn, tuy nhiên trong trường hợp nói ở đây, công tác là chuyển phân lấy từ các W. C. và được đựng trong các thùng thiếc. Có những tình cảnh khó nhọc, và những sự hy sinh vượt lên trên giới hạn chịu đựng của con người. Và cả một cảnh huyên náo xảy ra khi thiết lập danh sách một trăm người đầu tiên phải sẵn sàng cho công tác sáng mai. Khi họ trở về vào buổi chiều tối, họ cho chúng tôi biết địa ngục mà họ đã trải qua. Trong suốt 12 giờ, chỉ có một khoảng nghỉ ngơi nửa giờ vào buổi trưa, họ phải chuyển dịch các thùng đầy phân trên một khoảng cách bốn trăm thước với lính SS và chó giữ hộ tống. Ai mà mệt mỏi quá té xuống thì sẽ bị chó chồm lên cắn ngay, không kể các đòn gậy bắt đứng lên lại. Vì có một vài người tự cho phép thọc tay vào túi để sưởi ấm một chút trong chuyển mang thùng không trở lại, viên chỉ huy đã ra lệnh cho mọi người nhúng tay vào thùng phân đầy, sâu vào đến cùi chỏ, để ngăn họ tái phạm. Hôm đó thời tiết lại lạnh hai mươi độ dưới không độ. Nhiều người bị chó cắn và được đồng bạn dìu về. Mọi người đều mệt lả và không còn hơi sức nào để lê mình đến phòng rửa mặt. Cơn mệt nhoài đã làm họ quên mất mùi hôi thối. Từ sáng, họ không có gì vào bụng và phần súp của họ vẫn được giữ lại từ buổi trưa, đã lạnh tanh. Vẫn biết là có hai lò sưởi trong khối, nhưng để hâm nóng một trăm gào mên thì phải mất rất nhiều thì giờ và cơn đói không cho phép chờ đợi được. Công việc đó tiếp diễn bốn ngày, trong thời gian nầy nhiều sự thay thế được thực hiện để duy trì công bình tối thiểu. Đó cũng là một, mánh khóe của bọn SS khi chỉ lấy mỗi khối một số người thôi, mục đích là để gây chia rẽ, và trong số 250 người thật sự còn lành mạnh, không thể nào có được sự đồng ý với nhau hoàn toàn. Khi công tác chấm dứt các tù nhân cũ thú thật với chúng tôi rằng đó là công việc tạp dịch để chuẩn bị tiếp đón đón một số tù nhân mới.

Mũi thuốc đầu tiên được chích sau cơn thử thách đó, và ngay sáng hôm sau, sau buổi cà-phê, người ta bắt chúng tôi xếp hàng bên trong. Khoảng mười y tá với chai lọ, ống chích và tất cả các vật dụng cần thiết, đi vào. Một chiếc bàn được đặt mau lẹ và dưới sự chỉ huy của một người, họ bắt đầu chích, người ta có thể nói hơn bao giờ hết, họ chích hàng loạt. Họ chỉ có một chục để chích cho 500 người, và tất cả công tác phải hoàn tất trong không đầy một giờ. Đó là một loại thuốc nước của quân đội nhưng một tờ giấy dán ngoài thùng đựng chai lọ cho biết thuốc đã hết hiệu lực từ một năm nay. Tôi bày tỏ nỗi ngạc nhiên với người có vẻ là vị chỉ huy, ông ta bình tĩnh trả lời rằng trong trại tập trung chuyện nầy là thường, và cũng giống như ở trong quân ngũ, tốt hơn hết là đừng nên tìm hiểu làm gì.

Ngạc nhiên vì thấy tôi nói tiếng mẹ đẻ của ông ta, và rất thích thú vì cuộc nói chuyện, ông ta mời tôi đến bệnh xá chơi một đêm nào đó. Nơi đây, ông nói, sẽ có thì giờ rảnh để nói chuyện. Max và Michael cũng được mời vì lúc ấy họ đứng gần tôi. Không nên để mất một cơ hội tốt đẹp như vậy và ngay đêm đó, sau cuộc điểm danh, do lời yêu cầu của chúng tôi, viên thư ký khối đưa chúng tôi đến thăm người mới quen biết. Viên thư ký nói với chúng tôi ông nầy là một nhân vật có thế lực và có nhiều trách nhiệm.

Chúng tôi đi vào một căn phòng được sắp xếp theo cách cho người ta cảm tưởng đang ở trong một gian phòng khách sạn hạng nhì.

Trên bàn, có báo chí, thuốc lá và nhiều chai bia. Chúng tôi tự hỏi phải chăng đây là cơn mơ. Sát bên canh hàng trăm bệnh nhân đủ mọi loại đang rên xiết, chờ đợi một sự chữa trị không bao giờ có, và đây, một góc của thiên, đường. Ông ta có vẻ hài lòng vì vẻ ngạc nhiên dễ chịu của chúng tôi, và sau khi cho chúng tôi hút, uống, ông ta mời ngồi và bắt đầu nói với giọng ung dung:

– Các anh đừng ngạc nhiên gì cả về chuyện đêm nay. Cứ mọi lần có chuyến công voa mới, tôi cố gắng kết giao với những người ngoại quốc đáng chú ý đối với tôi. Tôi chắc chắn là mình không lầm lẫn. Tôi là Giáo sư triết học ở Heidelberg và các anh phải hiểu lý do tại sao tôi lại ở đây. Vì tôi biết một vài ý niệm về y học, ban quản đốc đặt tôi vào chỗ bệnh xá, nơi đây tôi chỉ huy tất cả nhân viên cấp dưới. Viên thư ký của khối các anh có thể soi sáng cho các anh đôi chút về cách tổ chức trại tập trung, và nếu tôi mời các anh, ấy là tại vì anh ta có nói với tôi về các anh, Nên biết rằng ngay từ đầu cuộc chiến, những tù nhân thường tội làm chủ ở đây, nhưng vì họ quá ba gai đến nỗi một hôm viên chỉ huy SS cho triệu tập tất cả tù chính trị và nói với họ như sau: “Tôi biết các anh chống lại chế độ nhưng đừng quên rằng đối với tôi, trước hết các anh là người Đức. Tôi cho các anh cơ hội từ nay nắm quyền quản trị trại tập trung. Tôi để các anh tự do nhưng công chuyện phải chạy đều. Đừng có tìm cách phá hoại, bởi vì tôi là kẻ mạnh nhất”. Chúng tôi chờ đợi giây phút nầy từ lâu. Hàng ngàn bạn bè chúng tôi đã chết tiếp theo cách đối xử của bọn ăn cướp đó, nhưng giờ phục hận đã điểm. Không cần nói với các anh rằng chúng tôi không ngần ngại chi cả. Cuộc chiến đâu đó đã chấm dứt lâu rồi. Nhiều tên trong bọn đã bị đưa đi chỗ xấu và những tên mà các anh thấy đang đập đá là những kẻ còn sống sót trong đám thường tội đã từng sống và tác oai tác quái ở trại tập trung nầy.

Ổng ta ngừng một chốc, để đốt một điếu thuốc, quan sát chúng tôi, rồi nói tiếp:

– Không có ai trên trái đất có thể ngờ rằng, vào tháng hai năm 1944 nầy, trong trại tập trung Buchenwald, chính những người đối lập với bọn Quốc Xã nắm giữ quyền chỉ huy. Trước khi vào đây các anh là ông nầy ông nọ, ngay cả lúc bị bắt, bị đánh, bị tra tấn, bọn Gestapo vẫn gọi các anh bằng tên mỗi người, các anh là một cá nhân. Tại đây, các anh không còn là gì cả, không được gọi là gì cả. Các anh có thể chết đêm nay hay ngày mai, không ai hỏi lý do cả. Chỉ có trên bản báo cáo hàng ngày trình cho bọn SS con số người chết lại tăng thêm một đơn vị.

“Bất kể các anh là ai: một ông tướng, một nhà đại tư tưởng, hay chỉ là một tên đại bợm, tôi phải nói rằng, chúng ta đều là những kẻ hoàn toàn không còn dính líu gì với thế giới bên ngoài. Ồ! lẽ tất nhiên là các mà có thể viết thư và nhận bao nhiêu bưu kiện, tặng phẩm cũng được, nhưng bọn SS sẽ cười: “Đớp đi, lợi dụng đi, bọn bây sẽ chẳng bao giờ ra khỏi đây cả”. Đó là tư tưởng của chúng. Và chính vì chống với ý tưởng đó, mà chúng tôi, tù chính trị Đức, chúng tôi tranh đấu không ngừng. Và tôi xin giải thích:

“Hitler đã thua trận, đối với chúng tôi, không còn gì nghi ngờ nữa từ ngày y dám tấn công Đồng Minh chống phát xít”. Vấn đề là phải tồn tại bằng mọi giá cho đến phút chót, có thể là còn lâu, vì tôi có thể đảm bảo với các anh rằng chẳng bap giờ bọn Quốc Xã đầu hàng. Nhưng các anh cũng đã biết quá rõ là không làm sao cứu tất cả mọi người được Cả một kế hoạch xây dựng dưới lòng đất đã được mang ra áp dụng và kỹ nghệ thu hút nhân lực từ các trại tập trung. Những người ra đi, phần đông không còn thấy lại tự do nữa. Ví dụ đoàn công-voa của các anh có 2500 tù nhân, khi thời gian kiểm dịch chấm dứt, bọn SS đòi hỏi chúng tôi phải chuẩn bị sữn sàng cho chính 2500 người đó để được đưa đến một nơi nào khác. Tuy nhiên vì không có một sự kiểm soát theo tên tuổi nào được thực hiện, điều nầy chúng tôi giữ lại đây một chiến sĩ, một nhà bác học hay bất cứ một nhân vật nào xứng đáng được cứu thoát và chúng tôi thay thế họ bằng những tù nhân trích trong các biệt đội lao tác được giữ thường trực tại đây. Tất nhiên, kẻ vô danh nầy có thể là một người can đảm hay chỉ là một người vô tội. Nhưng biết làm sao được? chiếc máy lượng giá trị con người chưa được sáng chế và ở đây, thể lưỡng nan là “Hiện hữu hay là biến đi!”. Tương tự như vậy, những kẻ ra đi không sống sót trở lại, sẽ được thêm vào danh sách hàng triệu người vô tội trong số có tất cả các binh nhì trên trái đất. Tôi không rõ bọn SS có biết rõ mưu toan của chúng tôi không, nhưng tôi nghĩ là chúng cũng chẳng cần chú ý đến; chúng không quan tâm đến cá nhân tính. Điều nầy giúp chúng tôi tìm ra tung tích bọn gian hiểm mà trong mỗi chuyến công-voa đều có: điểm chỉ viên, mật báo viên; như thế trong khi một người khác, người mà bọn Gestapo gởi đến đây, tin rằng sẽ bị đầy ải đến chết đi, trái lại nhận được một việc làm cho phép chịu đựng lâu dài cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Phải nhận rằng để bắt liên lạc với người ngoại quốc, chúng tôi thường nhắm vào các phần tử chống đối chế độ Quốc Xã. Tính liên đới không phải là một tiếng vô nghĩa đối với chúng tôi, và bây giờ đến lượt người Pháp đến, chúng tôi hy vọng sẽ cứu được những người dũng cảm nhứt. Khốn thay, vì nhiều người quá, chúng tôi khó cứu thoát được tất cả ứng viên. Đối với các công nhân, vấn đề rất đơn giản, chúng tôi đưa họ đến các nhà máy trực thuộc trại nầy. Nhưng còn tất cả những người trí thức ấy! và chỗ thì rất hiếm. Như vậy, sự chọn lựa ngày càng thắt chặt.

Ông ta lại rót mời chúng tôi uống, và cho đến lúc đó, ông ta nói không ngần ngại, đột nhiên lộ vẻ khó khăn, có điều gì ám ảnh ông ta. Rồi ông ta nói:

– Bây giờ là lúc nói chuyện mật. Có lẽ tôi hơi quá đáng từ đầu, khi nói với các anh là chúng tôi nắm trọn quyền chỉ huy, thật ra không hẳn đúng như thế, có những trường hợp đặc biệt, xẩy ra trong trại, một vài chuyện mà đến nay chưa ai được biết, và dẫu sao chăng nữa, chúng tôi cũng là đồng lõa.

“Khối số 4G đối với tù nhân là cả một bí mật, thật ra trong đó là một phòng thí nghiệm bệnh thương hàn do các bác sĩ SS điều khiển. Họ có thú vật bình thường để thí nghiệm như thỏ, chuột, nhưng thỉnh thoảng phải cung cấp một người để họ chích thí nghiệm một thứ sê-rum mới. Cho đến nay không thấy ai trở lại. Đừng sợ, chúng tôi luôn luôn đưa đến đó bọn tù phạm tội sát nhân, bọn điểm chỉ xứng đáng với biện pháp nầy hay biện pháp khác để đừng trở lại với xã hội nữa. Nhưng chuyện nầy chưa nghĩa lý gì, còn nữa:

“Bà vợ tên Trưởng trại ưa thích hình xâm trên người. Bà ta yêu cầu viên y sĩ trưởng cung cấp da người có xâm hình theo kiểu đẹp nhất. Bà ta cho thuộc da đó để chế tạo những vật dụng trang hoàng nhà cửa, đặt biệt là các chụp đèn…

Ludwig, đó là tên ông ta, luôn luôn quan sát chúng tôi. Hay khoa trương như hầu hết các người Đức, vẻ ngạo nghễ ban đầu đã biến mất, như là bị hành hạ bởi chính lời nói của mình.

– Phải, tất cả chúng ta đều ở trong một trú khu kỳ dị. Các anh nghĩ xem, ngoài tất cả các chuyện đó, còn có những mưu mô thủ lợi riêng. Khi người ta được một chỗ, phải đấu tranh để giữ nó. Mỗi người thấy mình như đứng bên bờ một vực thẳm khổng lồ. Bản năng sinh tồn ngự trị trên tất cả, chẳng ít thì nhiều, chúng ta trở thành thú vật…

Ông ta có vẻ mệt mỏi và nói đứt đoạn:

– Tôi nghĩ rằng các anh cũng đã biết nhiều rồi, hãy giữ kín, từ nay chúng ta liên hệ với nhau bằng một bí mật. Tôi sẽ nói với ông trưởng trại về các anh và sau thời gian kiểm dịch các anh sẽ nhận được chỗ ưa thích, nhất là vì các anh nói được tiếng Đức. Và bây giờ để tôi đưa các anh về.

Chỉ có nhân viên trong trại mới có thể di chuyển ban đêm giữa các dãy trại. Ông ta đứng dậy và trước khi đi ra, còn nói thêm: “đừng có ngạc nhiên là tại sao tôi không đòi hỏi các anh cái gì cả. Tôi biết gần hết những gì cần biết về những người mà chúng tôi muốn giữ lại bên cạnh chúng tôi”.

Khi đã trở về lại khối, nơi đây chỉ còn một ngọn đèn đêm được thắp sáng, khoảng thời gian mà chúng tôi vừa. trải qua với Ludwig, đối với chúng tôi dường như vừa tuyệt diệu vừa đáng sợ. Chúng tôi vừa đặt chân vào giai cấp thống trị trại tập trung.

——————————–

1Cực Bắc Mỹ châu.
2Quốc ca pháp.
3Thuốc lá của vùng Ukraine.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 11 Nov 2025

Phần 12 – Làm anh

Mặt trời như muốn đốt chảy mặt con đường nhựa, Hải hoa mắt vì nắng và mồ hôi, hai bánh của chiếc xe gắn máy dù vẫn căng cũng như rị lại, nặng thêm vì ma sát trên lớp nhựa đường ươn ướt.

Hải tự trách mình nóng vội, lẽ ra anh nên nghỉ trưa một lát sau khi đạp hộc hơi mà xe không nổ máy, anh lại dắt đi sửa vào giữa trưa, nhưng anh lại nghĩ, nếu không đi ngay, chưa chắc đã ngồi yên chứ chưa nói đến chuyện nằm với cái giọng khó nghe cố hữu của chị Thứ vợ anh, đại loại như : “Anh làm sao thì làm, tối nay con Khánh dắt tụi nhỏ về mà không có xe đón thì tôi đi bộ ra cõng mẹ con nó…”

Khánh là con riêng của Thứ, khi lấy anh Khánh đã ba tuổi. Hậu quả cuộc tình giữa chị và một anh Địa chất từ ngoải Bắc vào công tác trong vùng, khảo sát xong, đoàn về Bắc, để lại đứa con trong bụng chị Thứ, anh ta hứa là sẽ quay vào đón Thứ ra Bắc nhưng rồi biền biệt, thư chị gởi đi hai lần quay trở lại vì địa chỉ không có người nhận! Nay thì Khánh đã hai đứa con, chồng làm công nhân cho một Công ty may mặc ở Sài gòn, không khấm khá gì vì vẫn đang ở nhà thuê, thi thoảng về thăm ngoại, khi đi, xin ít tiền chi tiêu cho cuốc sống thiếu thốn trên thành phố!

Khánh tính tình giống mẹ, ích kỷ và khó tính. Anh cố gắng không coi Khánh là con riêng của Thứ bởi anh đã sống với nó từ ba tuổi, nhưng càng lớn, những gì anh ghét nơi con người Thứ thì nơi Khánh càng lộ rõ như bản sao. Hai đứa con của Khánh thì ngược lại, dễ thương từ khuôn mặt đến tính tình, chúng rất tình cảm, anh thương chúng.

Tiệm sửa xe khép cửa nghỉ trưa, anh phải gọi, chị vợ ra xem ai rồi mới vào đánh thức chồng:

-Anh Tùng, dây sửa xe cho thầy Hải, nắng chang chang thấy thầy mà tội!

Nếu ai đó thì chắc Tùng biểu chờ, nhưng Hải thì Tùng dậy ngay bởi họ có quen nhau. Con trai Tùng đang học cấp hai, hồi còn đứng lớp, Hải dạy nó môn Tiếng Việt, họ cũng đã đôi lần lai rai cùng nhau:

-Xe sao vậy thầy?

-Đề không nổ, đạp mãi chẳng thấy nhúc nhích!

-Thầy cho xe vô đây chờ em chút.  

Tùng vào nhà mồi diếu thuốc rồi cầm cả thuốc và hộp quẹt ra mời nhưng Hải đã móc túi lấy thuốc, anh ghiền thuốc nặng nên đi đâu cũng không quên bọc theo. Tùng bảo vợ pha trà mời Hải vào nhà, anh khát thật sự nên không ngần ngại xin vợ Tùng một cốc nước đá tủ lạnh. Tùng vừa đề vừa đạp, lâu lâu lốp bốp rồi tắt…

-Thầy ơi, thầy có gấp đi đâu thì lấy xe em mà đi, cái điệu này lâu đó!

Hải không gấp đi đâu, nhưng cần phải ghé Thưởng mượn it tiền chứ khi dắt xe đi, anh quên mất chuyện tiền.

-Ừ, vậy thì cho chú mượn xe, chạy qua chú Thưởng nó chút.

Ngoài học trò và lứa tuổi còn đi học, Hải ít khi xưng thầy với phụ huynh, chỉ áng chừng tuổi tác mà xưng chú hoặc anh. Tùng mau mắn dắt chiếc xe của mình ra cho Hải, nó cũng cùng loại xe số “Yamaha Taurus” như của Hải, trông cũ nhưng máy móc trơn tru hơn nhiều. Hải lâu rồi không ghé thăm chú em, đứa em duy nhất của anh.

Anh nhớ lại hồi 1972 kinh hoàng ấy, bốn mẹ con chạy qua đoạn cầu Dài, chiếc cầu không dài như tên gọi mà ngược lại rất ngắn, nằm trên Quốc lộ 1 đoạn từ Quảng Trị vào Huế. Sau này, ai đó đã đặt cho nó một cái tên rất đúng với những gì đã xảy ra nơi đây, còn hằn sâu trong ký ức của những ai đã trải qua: “ Đại lộ kinh hoảng”.

Hải nắm tay Thưởng chạy trước, mẹ cõng Liên chạy sau, cách chỉ một đoạn ngắn bởi Hải luôn nhìn lại mẹ, sợ bị lạc trong dòng người hốt hoảng, em Liên nằm trên lưng mẹ, cứ mỗi lần Hải quay lại nhìn, em vẫy tay… đạn pháo nổ quanh làm Hải và Thưởng quỵ té nhiều lần, Hải muốn cõng em giúp mẹ nhưng mẹ không chịu.

Trên quốc lộ, các loại xe quân đội và xe đò chết máy chật cứng con đường, lính và dân thường chạy hai bên bãi cát lúp xúp cỏ. Người chết, bị thương nằm la liệt rên la…Tất cả đều chạy, hướng vào Huế tìm cái sống!

Một trái đạn pháo nổ từ phía sau, xô Hải và Thưởng lật sấp xuống cát, vội vàng đứng dây định chạy tiếp nhưng anh nhìn lại, không thấy mẹ và em Liên, người ta xúm nhau kêu la khóc lóc chỗ trái pháo vừa nổ, Hải kéo em quay lại, mẹ và em Liên nằm hai nơi, cách nhau chừng ba mét, quanh xác mẹ và em, những cái xác khác la liệt bao quanh…Hải nhận ra em nhờ cái áo chấm hoa màu tím, cố chen vào đám đông ẵm em Liên bị mất một chân, đến đặt nằm bên mẹ. Thưởng khản giọng gào lên, chìm trong tiếng ồn ào thảm thiết của bao nhiêu người. Hải úp ngang người trên mẹ và em, tay vẫn nắm áo Thưởng, anh nhớ là mình đã không khóc, không la, anh nhắm mắt nghĩ đến cha giờ đang ở đâu đó, có biết vợ và con gái mình đã chết, hai đứa con trai đang bất lực trong hiểm nguy…Chuyến về phép ngắn ngủi vừa rồi, cha đã nhiều lần ôm ghì Liên, hôn lên đôi má bầu bĩnh của đứa con gái bé bỏng mà ông mong chờ năm năm mới có được!

Cha anh kể lại sau này, ông đang ngồi bóp bao gạo sấy bên chiếc hầm, trong làng Thi Ông, cách chỗ ấy không xa, bỗng như có một tia điện xẹt vào đầu ông, buông bao gạo đã nhuyển, ông chụp cây súng, nhưng rồi ngồi thừ người chẵng biết vì sao…Đến tối, Chuẩn úy Phú báo tin dữ, cho phép ông  đi tìm gia đình!

Mùa hè đó. Anh 13 tuổi, Thưởng 10 tuổi và em Liên 5 tuổi!

-Chú ấy vậy mà cũng 52 tuổi rồi nhỉ!

Bất giác, Hải nói thành lời khi rẽ vào con đường trong lô cao su dẫn vào khu nhà ở của công nhân nông trường…

Vào nhà, vợ chồng Thưởng vừa ăn cơm xong, Lệ vợ Thưởng chào anh rồi hỏi:

-Anh ăn cơm chưa, đi đâu mà nắng thế?

-Anh ăn rồi, cái xe hư phải đi sửa để chiều ra đón mấy đứa nhỏ. Tụi nó vẫn học tốt chứ?

-Dạ.

-Chú mới đi cạo về?

-Hôm nay công ty giao hàng mủ, xúm nhau bốc vác nên về trể. Xe sao vậy?

-Chả biết, lâu lâu trở chúng một lần…

-Anh bảo nó làm máy, thay cái đề, bính xăng con…cho ngon lành chứ cứ vậy mệt lắm!

-Ừ, rảnh anh cho nó làm như chú nói. Giờ có sẵn tiền không anh mượn mấy trăm? Vội đi không kịp lấy tiền.

Lệ mau miệng hỏi:

-Bao nhiêu anh?

-Anh mượn ba trăm.

Lệ đứng dậy định vào trong lấy tiền nhưng Thưởng móc túi ra mấy tờ năm trăm.

-Bốc xong thủ quỹ phát ngay, cả tổ được hai triệu ba, mấy cái khoản khoán này được cái khá là có tiền liền.

-Anh cầm năm trăm, lỡ thiếu…

Hải nhìn quanh rồi ngước lên trần nhà chậm rải hỏi:

-Chú thím định khi nào làm nhà?

-Hơi lâu anh ạ, sang năm thằng Thắng ra trường, con Thủy mới năm đầu, không ở chung anh em với nhau được mà phải ở cùng bạn gái nó, tốn lắm!

Vợ chồng Thưởng cùng cạo mủ cao su, nay người ta khoán lô nên ai siêng năng thì cũng có, thêm nữa là vợ chồng có thể làm thay nhau nên dạo này công nhân khá hẳn lên. Khá là nói thế chứ nuôi hai đứa con vào đại học như Thưởng thì cũng chật vật.

Hải thương em lắm, gia cảnh anh khá hơn nhiều nhờ hai vợ chồng đều ăn lương, anh đi dạy chị làm Bưu điện. bao năm nay…

Hải đứng dậy đưa tay nhìn đồng hồ:

-Uống ly cà phê rồi đi cạo kịp không?

-Kịp chán, còn sớm với lại làm khoán thì làm lúc nào chả được!

Thưởng lên xe ngồi sau lưng Hải. Quán trưa vắng khách, Thưởng chợt nhớ là lâu lắm rồi, anh em chưa uống với nhau ly cà phê hay có dịp ngồi chuyện trò như hồi cha còn sống.

Sau trận cầu Dài năm ấy, tìm được hai đứa con, ông Mừng đem chúng vào Đà Nẵng, sống trong trại tạm cư, quyết định đào ngũ.

Ông không hồi cư, Quảng Trị vẫn đang đánh nhau, dằng co qua lại trong Thành Cỗ. Có chương trình vào Long Khánh khai hoang, ông làm đơn đi theo. Sống trong rẫy nên chuyện đào ngũ của ông không ai biết.

Năm 1975, ông không còn lo chuyện đào ngũ nhưng cả nước đều cực, ông vất vả nuôi con…Hải vào được cao đẳng sư phạm Biên Hòa, Thưởng phải bỏ học phụ cha rẫy nương. Thưởng lập gia đình năm hai mươi bảy tuổi. Năm sau thì cha mất, Hải muộn màng hơn, sau Thưởng bốn năm…

Một người mù vào quán với xấp vé số, đứa con gái hững hờ ngáp trong lúc người mù cất giọng yếu ớt mời, Hải móc túi còn đúng ba chục tiền lẻ, anh mua ba tấm, đưa cho Thưởng một tấm.

Hải ngồi cúi đầu, ghét mình vì cái tội mau mồm, mau miệng!

Hôm đi sửa xe về, anh cởi áo vắt lên thành salon rồi nằm dài ra định chợp mắt một lát. Chị Thứ thấy trong túi có tiền hỏi:

-Anh quên lấy tiền sửa xe, mượn ai à?

-Phải chạy qua chú Thưởng mượn mấy trăm. À, có mua ba tấm vé số, cho chú nó một tấm rồi.

Rồi anh quên đi mấy tấm vé, sáng nay đi dạy, nghe giáo viên kháo nhau ầm lên là trong vùng có mấy người trúng độc đắc. Ai cũng chép miệng…

Dạy xong, anh phóng xe đến đại lý trên thị trấn, nhìn lên bảng dò của ngày hôm trước, lô trúng đặc biệt được khoanh lại bằng phấn đỏ, nhẩm thuộc hàng số rồi mua hai tấm, chạy vội về, bảo chị Thứ lấy hai tấm vé.

Hàng số sáu con y như trong đầu anh, anh hét lên: Trúng!!!

Chị Thứ trợn mắt, thừ người nhìn anh, một lát sau chị lăn ra giữa nhà, nghỉ ngay dến tấm vé anh cho Thưởng, làm mình làm mẩy…

-Anh không lấy lại tấm vé, tui thắt cổ chết cho anh coi!

-Cho nó rồi giờ lấy lại sao được!

-Anh để đó cho tui.

Chị chụp hai tấm vé đi nhanh vào phòng ngủ, lát sau đi ra.

-Bà làm gì? Nó đang khổ, cài nhà không ra nhà, cạo mủ được bao nhiêu thì lo cho mấy đứa con! Minh có hai tấm ba tỷ, nhà cửa đã ổn, lương lá thu nhập mình cũng khá hơn…

Thứ không nói gì thêm, dắt xe ra ngõ. chị chạy đến nhà Thưởng, vào nhà thấy hai cha con Thưởng và Thủy đang ngồi. Chị Thứ đon đả:

-Thủy về hồi nào sao không qua bác chơi. hôm nay chú không đi cạo à? Ghé trả chú năm trăm hôm anh Hải mượn.

Thưởng đứng dậy kéo ghế mời chị dâu:

-Gấp gang chi vậy chị?!

Thứ móc túi bỏ lên bàn tờ năm trăm đồng, làm bộ như chợt nhớ:

-À, cái vé hôm anh Hải mua trúng một triệu, chú bỏ đâu rồi, đưa tôi đi lãnh luôn cho. Đi thị trấn mua cho ông ấy hộp yến bồi dưỡng chứ dạo này cứ than ăn không ngon miệng!

Thưởng vổ túi quần, cái quần mặc hôm Hải đến nhà tới nay vẫn chưa thay, móc túi lôi ra tấm vé nhàu nhàu lẫn trong mớ tiền lẻ:

-Hên vậy à, có tiền cho Thủy lên lại Thành Phố rồi!

Lấy được tấm vé chị Thứ chạy ngay về nhà, vào phòng đóng cửa, gọi điên cho Khánh bảo hai vợ chồng về gấp.

Hải vẫn còn đang bần thần chao đảo…Anh ngước mắt nhìn chị Thứ bằng đôi mắt vô hồn rồi chợt nhớ ra, anh lấy máy gọi cho Thưởng…

-Tấm vé mua hôm uống cà phê đâu rồi?

-Em vừa đưa cho chị…

-Trời ơi, sao chú lại đưa! Anh bật người ra ghế thở dài:

-Khốn nạn!

Chị Thứ về hưu năm ngoái, luôn than thở chuyện lương bổng không đủ sống bởi không còn những khoản tiền vô thưởng vô phạt như trước!

Từ khi lấy nhau, không biết bao nhiêu lần vợ chồng anh lục đục, có lần suýt chia tay bởi nhiều cái khác nhau trong tính cách. Chị Thứ lắm khi hổn xược, hàm hồ xúc phạm anh, nhưng cuồi cùng, bao giờ anh cũng cố dằn lòng cho qua, tránh cãi vả to tiếng bởi mình là giáo viên, sợ người ta to nhỏ, xầm xì. Anh thường tự an ủi là chị lúc nào cũng tươm tất nhà cửa, lo cho con cái, thằng con trai của anh đang học đại học Y trên thánh phố, hời hợt chuyện tiền nong giống như anh nhưng rất thương mẹ.

Gần dây, xem những bạn đồng nghiệp, những đôi vợ chồng ly hôn, phần nhiều chẳng hạnh phúc hơn là bao mà ngược lại, có lắm đôi rơi vào bất hạnh…Anh lôi ra cái câu duyên số vợ chồng là do trời định để tự thuyết phục, an ủi mình…

Chiếc taxi chở vợ chồng và hai đứa con Khánh từ sài gòn về, vào hẳn trong sân, đậu sát cửa nhà. Chị Thứ từ trong phòng vội vàng chạy ra. Hải đứng dậy nhưng rồi anh ngồi xuống, chán nản…

Chưa bao giờ anh trúng số, dù chỉ vài triệu, cũng chưa bao giờ anh có một số tiền lớn đến một lần. Những gì anh có được hôm nay đều do tích góp mà có. Trúng độc đắc bạc tỷ là chuyện trên trời rơi xuống, anh thậm chí không hình dung được là bao nhiêu, chỉ mơ hồ là nhiều lắm, làm được nhiều việc lắm…Nhưng với lòng tham và việc lấy lại tấm vé mà anh cho Thưởng, chị Thứ đã làm mất hết mọi hứng thú, thay vào đó là một mặc cảm tội lỗi lớn dần lên trong anh.

Việc gọi vợ chồng Khánh về, bao hẳn một chiếc taxi, như cố tình loại anh ra ngoài toan tính của chị càng làm anh tức giận, chán chường…

Đứa con rễ cúi chào rồi khéo léo đẫy hai đứa nhóc vào lòng anh, con bé lớn có vẻ như biết anh đang giận, bà cổ dụi đầu vào ngực nói:

-Ngoại lên Sài gòn ở với con nghe!

Chị Thứ và Khánh vào phòng mang ra mấy cái túi xách, anh tài xế mở cửa cho vào sau xe…

Chờ cho tất cả lên xe rồi chị mới bỏ cái bì thư lên bàn:

-Tiền trong đây, tôi lên với tụi nó vài hôm.

Anh muốn to tiếng nhưng sợ tài xế nghe thấy, nhìn chị gằn giọng:

-Làm gì thì làm, nhưng phải chuyển vào tài khoản lương cho tôi năm trăm năm chục triệu.

Vẫn chưa ai biết Hải trúng số đặc biệt, anh cũng chưa gọi lại cho Thưởng nên không biết chú ấy có biết không. Chiều nay, họp chuyên môn xong thì có tin nhắn từ máy của Khánh: “Mẹ đã chuyển tiền cho ba, ba cho mẹ xin lỗi.”

Hải gọi ngay cho Thưởng:

-Chú có nhà không?

-Em đang cạo, có gì không anh?

-Về nhà đợi anh, anh tới bây giờ.

Hải vẫn chưa biết phải nói sao với vợ chồng đứa em, nó vốn hiền và chịu khó giống cha anh. Những ngày khổ cực phải bỏ học làm lụng cùng cha cho anh học cao dẳng…Những năm chưa lập gia đình, thỉnh thoảng anh cũng có cho em vài trăm may cho cháu bộ đồ tết và cũng chỉ có thế bởi lương ngày ấy còn quá thấp. Từ ngày lấy chị Thứ, anh không giúp gì được cho em bởi chưa dư dật gì…

Vào đến nhà Thưởng, thấy hai vợ chồng ngồi nhìn ra mặt lo âu:

-Có chuyện gì vậy anh?

Đã dự tính sẽ nói thật mọi việc cho em nên Hải ngồi xuống, vợ Thưởng đứng dậy định đi pha trà nhưng anh kéo tay:

-Thím ngồi xuống đây anh nói cái này. Chú thím biết là chị tính nết thế nào rồi, anh cố gắng gỡ cái lỗi…Tấm vé hôm uống cà phê anh đưa cho chú trúng đặc biệt, một tỷ rưởi!

-Sao chị nói trúng một triệu!

Hải hiểu ra cách Thứ lấy lại tấm vé.

-Một tỷ rưởi! Biết anh cho chú một tấm, chị ấy làm mình làm mẩy đòi qua lấy lại, anh không chịu, đang cải nhau rất căng rồi tự nhiên bỏ đi, anh đang giận nên đâu ngờ…Bây giờ anh vẫn chưa hết giận. Ngày qua cả nhà lên Sài gòn rồi. Anh buộc mấy mẹ con phải chuyển cho anh năm trăm năm chục triệu. Anh tính năm chục xây mộ cho ba mẹ và em, năm trăm cho chú thím làm cái nhà, còn bao nhiêu mấy mẹ con tự tính với nhau, anh không cần!

Hai vợ chồng Thưởng bất ngờ đến tròn mắt không nói gì, lát sau Thưởng mới cười nhìn anh:

-Hôm đó anh không mua, không cho thì sao. Giờ có năm trăm triệu làm cái nhà là coi như vợ chồng em trúng đặc biệt rồi!

Hải nhìn hai vợ chồng em:

-Chú thím không buồn? Thưởng cười ha hả nói to:

-Thì ban đầu ông trời định cho một tỷ rưởi, nhưng sau đổi ý cho năm trăm kẻo sợ có tiền sinh hư hỏng bê tha, bỏ bê vợ con. Tiền trên trời rơi xuống thế này rất nguy hiểm, phải không em?!

Vợ Thưởng cũng cười, chị chưa hề mơ ước đến một số tiền lớn như vậy.

Năm trăm triệu, vợ chồng chị dành dụm biết bao giờ mới có?!

-Làm nhà chi to dữ vây anh. Anh hai em vừa làm cái nhà hết ba trăm, thấy to và đẹp quá đi rồi!

Hải như vừa thoát bỏ một gánh nặng, anh vổ vài Thưởng:

-Còn sớm, chở anh ra nghĩa trang chút. Thưởng đứng lên theo anh ra cửa, nói:

-Phụ nữ họ lo lắng nhiều nên vậy, chị chấp nhận cho em năm trăm là tốt lắm rồi, anh đừng giận hờn nghĩ ngợi nữa. Coi sắp xếp má lên cùng chị ấy, thời buổi này lường gạt đủ trò, không khéo là mất đó!

Hải đứng sựng lại nhìn em, đứa em ít ỏi, lam lũ quanh năm, anh không ngờ lại có được những suy nghĩ như thế:

-Chú ít học mà chín chắn và rộng lượng hơn anh, anh cảm ơn chú!

Hải leo lên ngồi sau em, anh ngước mắt nhìn lên hàng cao su, nhớ lại  con lộ kinh hoàng năm ấy, tay anh ôm choàng qua bụng Thưởng, như ngày nào anh vẫn nắm tay áo em khi anh khom người qua xác mẹ và em Liên trên bãi cát!

Sài gòn, tháng VI. 2016. Trạch An-Trần Hữu Hội

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 11 Nov 2025

Phần 12 – Chiến công mùa Xuân

(Viết lại từ một chuyện thương tâm có thật tại Mường Mán, Bình Thuận vào mùa xuân 1973. Một số tên của nạn nhân, người trong cuộc là tình tiết phụ được hư cấu dưới dạng truyện ngắn. Câu chuyện dù đã hơn 35 năm qua, nhưng người viết vẫn không kềm được xúc động khi viết, là hình ảnh bé Thảo là trái mìn oan nghiệt cứ lờn vờn mãi trong đầu đến mấy hôm sau. Viết cũng đế tặng và nhớ bạn hiền, anh DĐV, SQAN Tiểu Đoàn 5ANTL, đơn vị đầu đời của tác giả sau khi ra trường, anh V. sau là ĐĐT/ TĐ 3ANTL đóng ở ga Mường Mán, và hiện nay định cư tại Houston, Texas, Hoa Kỳ.)

Tờ mờ sáng, Bảy Đảm dậy sớm như mọi lần. Hắn bảo vợ hắn là hắn đi làm củi và có thể về trễ vì phải ghé thăm một vài người bạn trong rẩy. Hắn rời nhà với cây rựa và cây đòn gánh như mọi hôm. Vợ hắn và bé Thảo còn ngủ nán thêm một giấc sáng trước khi gánh rau ra chợ lộ thiên Mường Mán để bán Tết.

Ga Mường Mán còn ngủ trong màn sương chưa thấy ánh mặt trời. Bảy Đảm đi trong sương mờ, cỏ còn đọng những giọt sương mai và hai ống quần hắn sũng ướt lành lạnh. Con đường mòn này hắn đã quen thuộc và đi mòn gót chân như mọi ngày, nhưng sao hôm nay hắn thấy lạ, cái cảm giác chưa hề có kể từ ngày hắn được móc nối để lấy tin tức chuyến lên rừng.

Thoạt đầu, nhiệm vụ của hắn chả có gì nguy hiểm, nhẹ nhàng là đàng khác. Hắn có một thằng em lính quân cụ ở tiểu khu Bình Thuận, hắn thường rủ em đi nhậu để moi tin tức ở dưới Tiểu Khu. Đứa em, dẫu có vô tình không biết anh mình làm việc cho Việt cộng, cũng chả cho hắn tin gì quan trọng. Những tin tức tương đối có giá trị đối với hắn và cán bộ Việt cộng trong rừng là những báo cáo của hắn về các hoạt động của các đại đội địa phương quân, và nhất là đại đội An Ninh Thiết Lộ đóng ở ga Mường Mán.

Đây là một đại đội tác chiến có hỏa lực mạnh hành quân dọc theo những đoạn thiết lộ trách nhiệm. Cũng như mọi lần, hắn mang tin cập nhật lên rừng, song lần này, hắn được lệnh phải gặp một “đồng chí” cấp cao. Hắn hồi hộp, suy nghĩ mông lung.

Mặt trời đã lên. Con đường mòn dẫn tới lùm bụi rậm có dấu sẵn hai bó củi mà hắn chặt thừa ra hôm trước, để hôm nay hắn có thời giờ gặp đồng chí lãnh đạo, và chiều về như mọi hôm, hắn có trên vai hai bó củi để không ai thấy bất cứ cái gì khác thường nơi hắn. Chiều nay hắn gánh củi về thì Bảy Đảm ngày hôm nay cũng như Bảy Đảm ngày hôm qua, hay như mọi ngày, cần cù lao động nuôi vợ con, xuề xòa với mọi người.

Công việc đầu tiên là hắn cột hai bó củi sẵn sàng, gác ngang cây đòn gánh lên hai bó củi và lấy thức ăn ra ăn trưa. Thức ăn của hắn là hai củ khoai lang luộc và mấy con cá khô. Hắn nghĩ đến công tác “cách mạng” mà hắn được giao, hắn nghĩ đến ngày chiến thắng “Mỹ cút Ngụy nhào” và lãnh đạo của hắn cho hắn một căn phố, một địa vị nào đó mà khi ra đường, hắn chễm chệ trên một chiếc Honda…

Hắn nhìn xuống hai chân và hai bàn tay lam lũ. Cuộc đời nghèo cực của hắn là do trời hay do Mỹ Ngụy tạo ra? Hắn không tìm được câu trả lời trong cái đầu quê mùa của hắn. Và đảng đã có câu trả lời cho hắn: Chính Mỹ Ngụy phải chịu trách nhiệm về cuộc đời cực khổ của hắn, và cũng vì thế mà các đồng chí Giải Phóng Miền Nam mới đứng lên, các đồng chí bộ đội miền Bắc mới hy sinh vào Nam giúp anh em theo lệnh bác Hồ . . .

Trời đã gần đứng bóng, con đường đất đã khô và những chùm hoa xuân nở đầy trong nắng. Bảy Đảm đứng lên nhét cây đòn gánh và hai bó củi vào bụi, sau đó đi về hướng mật khu Ba Bào, điểm hẹn mà hắn nhận lệnh để đến gặp lãnh đạo vào xế 29 Tết. Lòng hắn mang mang những âu lo, buồn vui lẫn lộn.

Trước mặt hắn là một cái chòi ngụy trang dưới một lùm cây rậm. Một tên giao liên ra đón hắn từ đàng xa. Tự nhiên hắn cảm thấy mình quan trọng và hơi mất bình tĩnh trước một buổi gặp mặt lãnh đạo mà hắn chưa biết mặt, cũng không biết lý do cụ thể của buổi họp trong rừng. Thường thì hắn trao tin và tài liệu cho tên giao liên địa phương rồi trở lại Mường Mán với hai bó củi gánh trên vai.

Hôm nay, ngoài hai bó củi, có thể là hắn sẽ mang thêm một cái gì đó, quan trọng hơn, nặng nề hơn và nguy hiểm hơn. Bước qua khỏi tàng cây rậm, vào chòi, trước mặt hắn là ba người mặc áo đen mà hắn chưa một lần gặp mặt. Mấy cây AK đựng vào vách lá. Người giao liên lên tiếng.

– Thưa quý đồng chí, đây là đồng chí Bảy Đảm.

Hướng vào người đàn ông ngồi giữa, hắn giới thiệu tiếp:

– Đây là đồng chí lãnh đạo Năm Căn!

Bảy Đảm cúi đầu chào Năm Căn và hai người bên cạnh. Trong đời hắn, có lẽ đây là lần đầu tiên hắn cảm thấy có những giây phút nghiêm trọng làm hắn phải lúng túng. À thì ra làm cách mạng thì phải qua những giây phút như thế này. Hắn nghĩ như thế. Năm Căn mời mọi người ngồi và bắt đầu ngay vào đề:

– Đảng, cách mạng và nhân dân đánh giá cao những thành quả và đóng góp của đồng chí Bảy Đảm trong gần hai năm qua, qua đó, chúng ta nắm vững được tình hình địch hoạt động tại Ga Mường Mán. Các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và nhất là đại đội chủ lực An Ninh Thiết Lộ của địch tại Mường Mán đã là chướng ngại làm cho chúng ta không mở được một cuộc tấn kích nào vào vùng này. Muốn đánh Mường Mán, chúng ta phải huy động tối thiểu là bốn tiểu đoàn, điều mà chúng ta không có khả năng tập trung quân trong lúc này. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bó tay! Cách mạng là sáng tạo! Và đây là lúc đảng và nhân dân cần đến vai trò can đảm và sáng tạo của đồng chí!

Bảy Đảm không hiểu hết những điều mới lạ qua lời phát biểu của Năm Căn, cái đầu mộc mạc của hắn chỉ bắt loáng thoáng những ý niệm mơ hồ về việc bộ đội đánh Mường Mán chưa được, và Tết nay, Bảy Đảm được cần đến. Can đảm thì không biết hắn có hay không, nhưng cái gì gọi là sáng tạo thì hắn mù tịt.

Là một dân quê được cộng sản tuyên truyền và móc nối toàn bằng những hào quang trơn tru, ngọt dịu như đường phèn, hắn chưa một lần làm công chuyện gai góc như ném lựu đạn, bắn AK…, ngay cả cái chuyện xưng hô đồng chí với nhau, hắn cũng thấy khó nói. Hắn chỉ được móc nối chứ có vô đảng và sinh hoạt đảng bao giờ đâu! Bảy Đảm ngần ngừ và cất tiếng:

– Thưa anh Năm, lính Ngụy đóng ở Mường Mán toàn là lính tác chiến thứ dữ, em chưa cầm súng bao giờ, anh Năm nói cách mạng sáng tạo và em cần can đảm sáng tạo là cái gì? Anh Năm nói rõ để xem em có làm được hay không? Nếu em không làm được thì anh Năm giao cho người khác!

Năm Căn rót một ly nước, đẩy về phía Bảy Đảm, xong cúi xuống ống thuốc lào rít một hơi dài và nói, vừa trấn an vừa ra lệnh:

– Đồng chí uống một ngụm trà cho ấm! Đảng và nhân dân đã điều nghiên tình hình, theo dõi các công tác đồng chí làm từ lâu. Tại Mường Mán, có người của chúng ta hoạt động bên cạnh đồng chí, đồng chí không cô đơn, đừng ngại! Công tác đồng chí sắp thi hành rất là kín đáo, nhẹ nhàng và đơn giản.

Năm Căn cúi xuống bàn lấy một gói tròn gói lá chuối như một đòn bánh tét nhỏ, để lên bàn và giải thích và như vừa ra lệnh:

– Đồng chí đừng thắc mắc gì về cái đòn bánh tét này, công việc của đồng chí là mang nó về Mường Mán, sáng mai 30 Tết, bỏ vào trong cái lon “Gui Gô”, mang đến Quán Bi Da Mường Màn của em đồng chí, cứ giả vờ chơi bi da, uống cà phê. Đợi khi quán tập trung đông đảo lính Ngụy, đồng chí để cái lon “Gui Gô” trong một hốc quán không ai để ý, và điều quan trọng: trước khi rời quán, phải bấm cái nút này!

Bảy Đảm bắt đầu lo. Hắn đủ thông minh để biết đó là một quả mìn mà mình phải nhận đem về, nhưng thắc mắc là bấm cái nút để làm cái gì. Hắn cẩn thận hỏi lại Năm Căn:

– Bấm cái nút đó lỡ nó nổ thì sao?

– Nổ sao được! Giữa cái “đòn bánh tét” này là một bộ phận tự động do Trung Quốc chế tạo, vô cùng chính xác, vô cùng hiện đại. Các đồng chí đặc trách về kỹ thuật bom mìn của ta đã lắp sẵn cái đồng hồ đặc biệt. Khi đồng chí bấm cái nút này thì phải đúng nửa giờ sau nó mới nổ, dư thời gian cho đồng chí rời khỏi quán bi – da? Sau khi gây thiệt hại cho địch, đồng chí theo như lộ trình cũ về gặp tôi ở đây Đây là công đầu của đồng chí mừng xuân cho cách mạng và đảng ta. Chúng tôi và các đồng chí lãnh đạo khác chờ đồng chí trở lại trong một buổi lễ trao tặng “huân chương kháng chiến” cao quý cho đồng chí.

Bảy Đảm cảm thấy là mình đã vướng sâu vào một guồng máy mà cỗ máy cứ đẩy hắn đi tới, không có con đường lùi. Hắn nhìn mấy gương mặt có vẻ nghiêm trọng của những người xa lạ mà nay lại gắn dính sinh mệnh hắn với cái lệnh mà hắn không dám thoái thác, hắn nhìn mấy khẩu AK sau vách, tiếng những con chim gọi nhau trên cành, tiếng vượn hú xa xa, và tàng cây đã ngả bóng nắng dài trên lối mòn, con đường dẫn hắn đến một buổi gặp mặt định mệnh giữa rừng sâu. Trời đã xế chiều..

Bảy Đảm về lại Mường Mán với hai bó củi như mọi ngày. Trước nhất là hắn đi thẳng ra sau vườn chuối, ngó quanh quất không có ai, hắn dấu “đòn bánh tét” dưới gốc chuối và phủ kín lá. Đêm 29 Tết, hắn ăn uống ít hơn, miếng cơm tẻ nhạt giữa hai hàm răng, đầu hắn căng thẳng. Hắn vô bàn thờ ngụm nửa ly rượu đế và lăn lên giường ôm đầu ngủ. Hắn nghĩ hắn phải ngủ để sáng mai tỉnh táo hành động.

Sáng hôm sau, việc đầu tiên là hắn ra vườn chuối để đi tiểu, kỳ thực là coi xem “đòn bánh tét” có còn đó hay không. Hắn hoang mang, nghĩ trưa nay đem mìn ra quán lỡ bị lộ thì sao; lỡ nổ, lính chết và người ta truy ra hắn khi hắn không thoát kịp thì sao. Trong cái đầu u ám đặc sệt của hắn, hắn bị chỉ huy và thu hút bởi một áp lực vô hình của buổi gặp mặt với lãnh đạo Năm Căn hôm qua. Hắn quên luôn là lỡ mìn nổ mà người chết có cả đứa em của hắn từ Phan Thiết về thì sao. Đầu hắn không còn chỗ để một chút lý, một chút tình cục cựa, xê dịch. Cuối cùng, hắn bỗng nẩy ra một ý hay: sai bé Thảo đem mìn đến quán, và coi đó là một ý sáng tạo độc đáo. Hôm qua lãnh đạo Năm Căn đã không nói đến hai chữ sáng tạo là gì!

Bảy Đảm tính chi li trong đầu kế hoạch mà hắn cho là có tính sáng tạo thần sầu. Trước hết là chờ khi quán bi – da đông lính, hắn cho bé Thảo mấy cục kẹo, bảo cô bé 8 tuổi con hắn mang lon “Gui Gô” ra quán chú Tám để trong góc quán và về ngay để còn nhận tiền lì-xì và kẹo thêm. Bé Thảo mê kẹo ắt phải nghe những gì hắn bảo. Hắn tính nhà hắn đến quán chừng 5 phút, sau khi để lại lon “Gui Gô” trong quán, bé Thảo về lại nhà 5 phút, như thế là an toàn. Hai mươi phút sau, mìn nổ, hắn lén coi tình hình và lén vô rừng… Làm sao ai biết được! Trời mà biết? Hắn nghĩ đến cái “huân chương kháng chiến”, hắn nghĩ đến công trạng và những lời khen tặng, hắn nghĩ đến lãnh đạo Năm Căn, “cách mạng thành công”. Hắn lên tinh thần…

Trời gần trưa, không khí Tết trong những ngày cuối năm đã rộn ràng. Bảy Đảm đi một vòng chợ, ngang qua quán bi-da. Quán đã bắt đầu đông khách, đa phần là lính tráng. Hắn về lại nhà gọi con. Vợ hắn lui cui làm mấy món đạm bạc cúng chiều 30. Nghe hắn gọi con, chị bảo hắn bắt gà làm giùm để chiều cúng. Bảy Đảm ậm ừ cho qua chuyện và dắt bé Thảo ra trước nhà dặn:

– Ba cho con mấy cây kẹo, con đem cái lon này ra quán chú Tám bỏ trong hốc chỗ mấy ông lính thụt bi da rồi con về ngay nghe? Về ngay để Ba cho con tiền lì xì, còn bịch kẹo trên bàn thờ ba cho con luôn! Nhớ về liền nghe!

– Dạ!

Trao cái lon cho con, Bảy Đảm cẩn thận bấm cái nút dưới đòn bánh tét y như lời dặn của Năm Căn và giục con đi nhanh. Hắn nhìn con bé đi về hướng quán, khuất mất khi qua một ngã quẹo và hắn hồi hộp chờ con về. Vợ hắn hỏi:

– Anh sai con Thảo đi đâu vậy?

– Sai nó ra quán mua xị rượu chiều cúng!

Bảy Đảm ra góc nhà nhìn về hướng quán bi – da và sốt ruột chờ con. Hắn cảm thấy thời gian lết như rùa bò, và cơ thể hắn bắt đầu lạnh run theo cây kim đồng hồ cũ rục rịch dưới mặt kính trên cổ tay nhám nhăn của hắn. Hai đầu gối hắn bắt đầu đứng không còn vững, hơi thở hắn tăng nhịp. Hắn nhìn về hướng quán chờ đợi con, chờ đợi một tiếng nổ long trời sau khi Thảo về lại nhà.

Qua khỏi khúc quẹo cuối dãy nhà gần chợ, bé Thảo gặp hai đứa bạn đang thổi bong bóng màu, thế là nó xà vào, quên mất lời dặn của Bảy Đảm, đến gần hai mươi phút sau nó mới nhớ sực là mình phải đem cái lon đến quán chú Tám để trong hốc quán và về ngay, nó vội vàng chạy về hướng quán cà phê bi – da cách còn chừng 50 thước. Một tiếng nổ long trời giữa trưa 30 Tết làm kinh hoàng cả ga Mường Mán, và thân xác bé Thảo mới đó, phút chốc đã biến mất trên cõi đời sau tiếng nổ định mệnh oan ác của quả mìn. Cùng lúc với tiếng nổ, cột khói bốc cao không phải đúng ở vị trí quán bi-da, Bảy Đảm không thấy con về, hắn bỗng kinh hoàng la lớn:

– Trời ơi? Con tôi!

Vợ hắn nghe tiếng nổ, chạy ra vừa nghe hắn la “Trời ơi? Con tôi!”, chị như đã đoán ra một điều gì vô cùng thê thảm xẩy đến cho bé Thảo. Trong lúc chị dợm người chạy về phía có tiếng nổ thì cũng cùng lúc đó, Bảy Đảm tung người bỏ chạy như điên cuồng xuống sông Mường Mán, vượt dòng sông cạn và biến mất trong rừng.

Khi mẹ Thảo chạy đến nơi thì người ta đã bu đông nghẹt chỗ xẩy ra vụ nổ. Người ta gom lại được mấy miếng áo rách bê bết máu thịt của bé Thảo, mẹ Thảo nhào xuống ôm những mảnh áo rách còn dính máu thịt con khóc thảm thiết. Chị lăn ra, đập tay xuống đất, gào thét:

– Bảy Đảm ơi, ông theo Việt cộng làm gì mà sai con làm cái việc ác đức tày trời như thế này để giết con? Trời ơi! Con ơi! Thảo ơi!

Mùng một Tết 1973, cái chết đau thương của Bé Thảo như phủ một màu tang lên ga Mường Mán. Các cơ quan an ninh mở cuộc điều tra và truy lùng Bảy Đảm. Chị Bảy cúng tang cho con và về ngay Phan Thiết. Chị không còn can đảm ở tại nơi đây. Chị đã nghi ngờ Bảy Đảm có một cái gì đó mờ ám liên hệ với Việt cộng. Chị trách mình là quá thờ ơ hèn yếu; phải chi chị báo cho cơ quan an ninh những điều chị nghi ngờ về chồng thì bé Thảo đâu có chết bi thảm trong ngày 30 Tết. Song báo để chồng phải bị ngồi tù thì chị lại không nỡ….

Khi chị Bảy rời Mường Mán về Phan Thiết với cha mẹ thì Bảy Đảm đã vô rừng sau khi quả mìn kết liễu đời cô bé vô tội. Quán cà- phê bi-da sau đó cũng vắng teo trong ba ngày Tết. Tất cả mọi người đều biết mục tiêu của quả mìn là quán bi-da hàng ngày đầy nghẹt lính uống cà phê, thọt bi da giải trí, và lệnh của Năm Căn là tàn sát “quân Ngụy” ở đó.

Ngày đầu năm, DĐV, Đại Đội Trường An Ninh Thiết Lộ, tập họp đại đội và ra lệnh cấm trại:

– Cái chết của bé Thảo là một tai nạn thương tâm. Việt cộng đã giết bé Thảo. Thế nhưng, nếu bé Thảo không bị chết, có thể nhiều người trong đại đội và các đơn vị bạn sẽ mất mạng. Làm sao biết được là tại Mường Mán này không còn những tên Bảy Đảm khác? Kế hoạch đặt mìn không thành, song điều đó cho thấy Việt cộng đã chuẩn bị tàn sát chúng ta và tấn công Mường Mán. Tôi ra lệnh cấm trại cho đến khi có lệnh mới? Các Trung Đội Trưởng gặp tôi sau khi anh em tan hàng. Các anh nghe rõ không?

– Rõ!

Ngày nay, không biết Bảy Đảm còn sống hay đã chết. Nếu hắn chết trong cuộc chiến thì ít ra hắn cũng đền được phần nào cái tội vì “cách mạng” mà giết con. Nếu hắn còn sống, không biết Năm Căn trao cho hắn cái miếng “huân chương kháng chiến” loại nào, hay là hắn bị cộng sản thanh trừng, khiển phạt về cái tội chấp hành lệnh một cách linh tinh thiếu sáng tạo . . .

Thôi thì cái chết của bé Thảo cứ coi là chiến công mùa xuân mà Bảy Đảm dâng lên đảng cộng sản và bác Hồ đã chết tận ngoài Bắc! Một đứa con nít chết có là bao so với sự nghiệp đầy máu và nước mắt muôn dân của đảng ta…

Cảm nghĩ về bài thơ ca tụng Phạm Nhật Vượng của Thái Bá Tân

hung-viet.org

Thạch Đạt Lang

10 Tháng Mười 2017

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Thi sĩ là người có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động với những biến chuyển của thế giới chung quanh trong đời sống. Những thay đổi dù nhỏ nhặt nhất, từ cảnh vật thiên nhiên đến đời sống xã hội, con người, thi sĩ cảm nhận được trước mọi người và sáng tác thành những bài thơ.

Tuy nhiên, một bài thơ hay phải được trước tác bằng sự rung cảm, xúc động chân thật. Rung cảm đó phải xuất phát tự nhiên từ sự quan sát, cũng như trong nhận thức sâu xa của tâm hồn.

Tôi không quen biết ông Thái Bá Tân, nhà thơ ngũ ngôn nổi tiếng trong nước với nhiều bài thơ được đánh giá cao về phản biện xã hội, phản kháng chế độ. Tuy nhiên, sau khi hai bài thơ Đôi Lời và Ghi Nhận với nội dung ca tụng đảng CSVN đã đem lại hạnh phúc cho đất nước, dân tộc được phổ biến rộng rãi trên các trang mạng khiến nhiều người sững sờ, ngơ ngác không tin đó là thơ Thái Bá Tân thì nhận định về ông, ngay cả với những người từng là học trò của ông đã có nhiều thay đổi.

Sau hai bài Đôi Lời và Ghi Nhận, Thái Bá Tân im lặng một thời gian, sau đó thỉnh thoảng có thêm một vài bài khác nhưng không có bài nào gây được ấn tượng như các bài thơ phản biện trước đó. Bất ngờ ngày hôm qua 08.10.217, trên mạng xã hội loan truyền môt bài thơ chỉ trích thái độ sống của dân nghèo, đồng thời ca tụng Phạm Nhật Vượng – một tài phiệt từ Nga trở về – một cách lố bịch khiến cộng đồng mạng xôn xao.

Bài thơ ca ngợi công đức của Phạm Nhật Vượng nhận được nhiều bình phẩm, phản hồi với những nhận định tiêu cực, đồng thời có vài bài thơ đáp trả, chỉ trích Thái Bá Tân dùng thể ngũ ngôn.

Xin dẫn chứng lại nhận định thù ghét, khinh bỉ người nghèo Việt Nam trong bài thơ ca ngợi Phạm Nhật Vượng, một trong các bài Thơ ngũ ngôn mới của Thái Bá Tân:

“PHẠM NHẬT VƯỢNG

Người nghèo luôn soi mói

Túi tiền của người giàu –

Chắc là tiền ăn cắp.

Của ai và từ đâu?

Người giàu đi vay mượn

Xây nhà và xây trường

Cho người nghèo sử dụng.

Cả bệnh viện và đường.

Người nghèo có chỗ ở,

Có trường xịn cho con.

Có nơi để chữa bệnh,

Vẫn hậm hực, vô ơn.

Người giàu, lại vay mượn,

Chấp nhận mọi rủi ro,

Vì tự hào dân tộc,

Quyết làm chiếc ô tô.

Tưởng người nghèo vui lắm.

Tưởng ủng hộ, nhưng không.

Người nghèo, theo thói cũ,

Chỉ tìm vết bới lông.

Người nghèo luôn chờ đợi

Cái sai của người giàu

Để lu loa, chửi bới,

Mà chửi bới rất đau.

Mà quên họ đang sống

Trong nhà người giàu xây.

Con cái họ đang học

Trường người giàu hàng ngày.

Thói vô ơn, đố kỵ

Của phần lớn người nghèo

Đang làm chính họ khổ

Và suốt đời vẫn nghèo.

Thưa ông Phạm Nhật Vượng,

Xin được gửi tới ông

Lòng kính trọng, ngưỡng mộ

Và lời chúc thành công.”

Tất nhiên, chuyện Thái Bá Tân ca tụng, nâng bi, nịnh hót hoặc dèm xiểm, phê bình, chỉ trích ai tôi không nói đến, bởi đó là quyền tự do của mỗi người, nhưng dùng thơ phú để sỉ nhục, phê phán dân nghèo là thành phần chiếm đến 80% dân số là một việc làm khó chấp nhận với một trí thức như ông Thái Bá Tân.

Ông Phạm Nhật Vượng

Qua bài thơ này, Thái Bá Tân cho rằng người dân nghèo VN chuyên xăm soi, dòm ngó đến của cải, tài sản của những người giàu có ở Việt Nam nhu Phạm Nhật Vượng, đồng thời phê phán thái độ vô ơn của họ với những công việc kinh doanh mang lại những lợi ích thiết thực cho xã hội, cho đất nước, dân tộc của Vượng như xây nhà xịn, trường học cao cấp, dự án chế tạo ô tô…

Không biết Phạm Nhật Vượng có trả tiền cho Thái Bá Tân để “sáng tác” bài thơ ngũ ngôn chuột gặm này không, nhưng rõ ràng bài thơ được sáng tác sau khi Vinschool – Vin Group, của Phạm Nhât Vượng bị chỉ trích trên facebook vì tăng học phí 50%, đồng thời những người phản đối chuyện tăng học phí bị công an mời làm việc khiến thiên hạ đặt dấu hỏi về tư cách Thái Bá Tân.

Khi sáng tác bài thơ thượng dẫn, chẳng biết ông Thái Bá Tân căn cứ vào dữ kiện, thông tin, báo chí hay TV, truyền thanh, loa đài… nào để có thể có những suy nghĩ, nhận định đầy hận thù, khinh ghét người nghèo như vậy?

Người nghèo VN, nếu tính bình quân đầu người, mỗi tháng kiếm chỉ được khoảng 200 USD (GDP Vietnam 2016), ăn, mặc còn chưa đủ thì tiền đâu để cho họ có thể vào trú ngụ những căn hộ cao cấp loại Ciputra hoặc khu chung cư Phú Mỹ Hưng ở Sài Gòn giá tối thiểu cả trăm ngàn đô la/căn, cho con cái học trường xịn Vinschool, vào bệnh viện sang, đầy đủ tiện nghị như Hạnh Phúc, Vinmec ở Hà Nội hay FV ở Sài Gòn…và nay mai sẽ có những chiếc ô tô hiệu Vinfast mà Phạm Nhật Vượng hứa hẹn sản xuất tại VN?

Người dân nghèo ở VN thường chỉ cam tâm chịu đựng, hoặc than thân, trách phận, trách trời, oán đất… chứ chẳng mấy ai có thì giờ rảnh rỗi để lu loa chửi bới hay dòm ngó, đố kỵ tài sản của Phạm Nhật Vượng. Đề nghị ông Thái Bá Tân làm một chuyến du hành đến các khu ổ chuột, nghèo khổ ở Sài Gòn hay Hà Nội hoặc về vùng thôn quê hỏi thăm người dân, xem bao nhiêu phần trăm dân nghèo biết đến Phạm Nhật Vượng là ai?

Tuy nhiên, bài thơ thượng dẫn của Thái Bá Tân có thể đúng với một số “người nghèo”, những người đủ tiền mua căn hộ cao cấp để ở, hay cho con cái vào học trường xịn, nằm bệnh viện sang khi phải “ nhập viện”…Nếu vậy thì những “người nghèo” có gốc gác này có dòm ngó tài sản, xăm soi của cải của Vượng thì cũng chẳng có chi là lạ, chỉ là trâu cột ghét trâu ăn. Họ đúng là những kẻ vô ơn đố kỵ rất đáng làm thơ phê phán, nguyền rủa…

Hoan hô Thái Bá Tân

Những vần thơ năm chữ

Chửi người nghèo thậm tệ

Vào ở căn hộ sang

Con cái học trường xịn

Sao không hỏi nhờ ai

Ta có cuộc sống này

Lại lu loa chửi bới

Vừa thâm độc vừa cay

Rồi số phận chúng mày

Sẽ chẳng gì thay đổi

Kiếp sau lẫn kiếp này

Xin gửi Thái Bá Tân

Cùng bố già Nhật Vượng

Lòng kính phục, ngưỡng mộ

Chúc hai người thành công

Thạch Đạt Lang

Nguồn Đàn Chim Việt