Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

6. Chương 6

Trở lại, thử tìm hiểu cảnh ngộ quan Phan khi đi sứ sang Pháp xin chuộc đất và thử so sánh hai vua:

Vua Pháp Napoléon III và Vua Tự Đức

Dẫn

Nơi bữa tiệc Chủ Nhựt 2 Novembre, anh em còn sót của nhóm Bách Khoa Thời đại, không kể tôi, có năm bạn là chủ gia (anh Lê Ngộ Châu), anh chủ nhà sách Khai Trí (Nguyễn Hùng Trương), chú nhỏ Nguyễn Q. Thắng, xưng là môn đệ, anh Lê Thanh Thái và Nguyễn Minh Hoàng, năm lương hữu đãi một tiệc thịnh soạn, và khi đèo xe ôm Q. Thắng đưa về, mấy câu Hoàng tặng làm cho tôi bùi ngùi, nào là: “Người ta chín chục thì già, riêng ông chín chục, vẫn là đương xuân”, và nào là: “Trời còn dành sắn mười năm, Để cho nợ bút duyên văn còn dài”…

Tôi xin thanh minh: ai ai lại khỏi già, và hề già, tức sức lực suy, tôi cũng không qua khỏi thông lệ ấy, duy tật ham nói khó chừa, nay xin bộc bạch. Bấy lâu, tôi thường nghe đầy tai lời trách quan Phan “làm cho mất nước” và vua Tự Đức là đứng đầu về tội ấy. Thấp cổ bé miệng, tôi có dại gì cãi họ, duy trong thâm tâm riêng tưởng họ chưa tới mắt cá quan Phan, và tội nói oan ai lỡ lời nấy chịu trách nhiệm. Từ ngày Giải phóng vô đây, thay vì ăn phở sáng, tôi nhịn tiền lục mua sách nơi chợ trời, vì vậy quen với Hoàng, và duyên may, tôi gặp nhiều sách Pháp và Việt, mà tôi cho là quí, tỷ như những cuốn hay bộ:

– Les premières années de la Cochichine của Paulin Vial (Challamel, Paris, 1874) tôi mua của Tuấn, giá 20 đồng, ngày 2-10-1978, mà thử nay có ai nài 200 ngàn, thà đối chớ tôi không bán; (mục lục vô sổ nhà tôi là 581B/IB;)

– L’Empire d’annam của Capitaine Ch. Gosselin (Perrin et Cie, 1904) mục lục số 437 B, cuốn nầy tôi có từ lâu, không phải mua tại Chợ Trời;

– Les grands procès de l’Histoire của Henri Robert (Payot, Paris, 1934) mục lục số 550m mua ngày 2-03-1978, ở Chợ Trời giá 3 đồng, nói nhiều về Napoléon III; – Histoires d’Amour de l’Histoire de France (Editions Noir et Blanc, 1965) của Guy Breton, một bộ 10 cuốn dày cỡ 300 trang, kể đủ chuyện tồi bại, đau bịnh kín, loạn luân của các vua chúa nước Pháp từ xưa đến nay, (không số mục quên già và khen Pháp đã cho xuất bản).

– Histoire de la Concession Française de Changhai của Ch.B. Maybon et Jean Fredet (Flon, Paris, 1929) (mục lục số 581-B/ter mua tháng mars 1977ở Chợ Trời, giá 15 đồng, sách này bị mối gặm nhưng hay kịp ngày 10-12-1978…)

Xin hỏi sách nói về tô giới của Pháp chiếm đất Tàu, nhưng đã bị Tàu lấy lại rồi, sách ấy có ăn thua gì đất mình mà hòng nói ra đây, nhưng sự thật, sách ấy quí và hay vô cùng, vì chính sau khi đọc, tôi mới hiểu đầu dây mối nhợ của sự Pháp qua chiếm đoạt đất mình, chưa ắt do quyết tâm và quả do một sự bất ngờ, cho hay theo tôi đã hiểu theo lối xưa và thơ vận mạng tỷ như nước ta không phải do người định đoạt mà một phần nào do sự định đoạt và sắp sẵn ở trên cao, theo dân ngu thường hiểu là do ông trời làm ra, và xin để cho tôi lần lượt trình bày ra đây, vả lại việc tôi viết đây, tôi không có ý chút gì gọi là khảo cứu và chẳng qua là viết để giải khuây để cho cháu con trong nhà thông hiểu chút ít những gì tôi thâu thập được, qua sách Hán đã có người hay giỏi như ông Trần Trọng Kim dịch sẵn (Việt Nam sử lược) và qua vài sách Pháp do tôi mua sắm, và tôi xin giải bày như sau:

Vào giữa thể kỷ thứ XIX, nước Tàu dưới triều nhà Thanh, bắt đầu suy yếu, không khác một ông khổng lồ to lớn mà có hai chưn bằng đất sết bệu xệ không chở nổi thân, và bắt đầu các nước Tây phương trở nên cường mạnh đông dân, nhờ có súng bắn xa và tướng binh hay giỏi, nên định địa, khai thác thu hoa lợi đem về nước mình, tỷ như:

– Nước Bồ Đào Nha, nhỏ bé mà sớm thấy xa, đã chiếm đất Ma Cao của Trung Quốc,

– Nước Đức thì chiếm miền Bắc nước Tàu làm hải cảng lớn thuộc tỉnh Sơn Đông và Uy Hải Vệ (Weihaiwei);

– Nước Anh thì chiếm Hương Cảng (Hongkong), v.v..

Từ bắt đầu năm 1840, có trận giặc nha phiến, binh Ăng lê đánh chiếm đất Tàu, vua Minh Mạng giựt mình, dặn dò cháu con không nên chơi với người mũi lõ da trắng, ông xa người Pháp và nều ông thắng tay bắt đạo, không dung dưỡng người Tây phương gieo rắc đạo mới, khiến cho dân bỏ tục thờ cúng ông bà tổ tiên, theo tôi, đó là quyền của ông, nước Pháp, dưới triểu Napoléon III, sắn người hay giỏi phò trợ, nên kéo binh đi “chia thịt” của nước Tàu, Pháp xua binh toan đánh chiếm quần đảo Formose (Đài Loan), nhưng tướng Rigaut de Genouilly đánh Tàu không thấy thắng, đang khi bối rối ngã lòng, lại được có người chỉ chọc, nên kéo binh qua kiểm chuyện là binh vực đạo mới, đánh thắng binh ta và thấy thế ta yếu, ăn quen làm già, tế ra cái rủi là Tây thua bên Tàu qua đây gỡ thẹn rồi xâm chiếm, và vua Tự Đức, bình sanh chỉ hay giỏi về chữ nghĩa thi thơ, trong nước lại không người giỏi về binh bị, cái trung cang nghĩa khí có thừa, mà lấy tầm vong vạt nhọn và súng hỏa mai khọt khẹt bắn không được xa, lấy những binh khí yếu hèn ấy mà chống với súng mousqueton từ xa bắn tỉa đến và lấy dao cùn mác lụt mà đâm tàu sắt tàu đồng, thì xin hỏi có ông nào tướng nào đủ thay vua Tự Đức, thay ông Nguyễn Tri Phương? Và có ông nào thay ông Phan Thanh Giản mà làm hơn ông bao giờ?

Tôi xin lẩy những gì tôi đã đọc và thấy, trình bày ra đây để chư độc giả lấy bình tâm và công tâm dạy cho hoặc xét lại theo sự hiểu biết và thông cảm của người đời nay đổi với việc xưa triều vua Tự Đức:

Tôi nay đã quá già, nên không còn hơi sức đâu mà nhắc lại những chi tiết vặt cạnh của cuốn Histoire du Consulat de Changhai, dày đến 458 trang, giấy khổ 31×25, tôi chỉ nhớ sơ lược chính người Pháp giữa thế kỷ XIX, ý có binh ròng tướng mạnh, quyết tâm chia xẻ nước Tàu với những cường quốc khác, rồi khi gặm nhắm Trung Quốc không xuể, Pháp bèn day qua làm thịt nước Nam của chúng ta, và rốt lại, vì đánh không thắng nổi Tàu, mà ta bị mất nước, và lời nói ngạo mạn của Pháp “Người lang sa là những kẻ rất dốt về môn sử địa”‘ lời nói giả ngộ mà có thật:

– Một lần muốn nuốt Tàu, nuốt không vô, day qua xơi ngon đất Nam kỳ lục tỉnh!

– Một lần đầu, lối 186… tưởng sông Cửu Long thông được tới Vần Nam, Tây đánh đoạt Nam kỳ, làm cho chết một Doudard de Lagrée và một Francis Garnier;

– Một lần nữa, lối 1884, tưởng Nhĩ Hà sẽ đưa lên đất Tàu, khiến chết một đại tá Henri Rivière, và lần chót, trận Điện Biên Phủ, ta đã được phục thù và không quên ơn lớn của binh đội Cộng sản V.N. mà Tây cũng vì khinh người nên như vậy.

Tôi nhớ đại lược và viết sơ lược lại đây nghe chơi, tỷ như Henri Rivière, mình ngồi trên ngựa cao lớn, tưởng là vững chắc, nào ngờ đã bị một dõng sĩ của phe Cờ Đen, (Lưu Vĩnh Phúc cầm đầu), dõng sĩ ấy tay cầm dây đại kỳ có kết móc sắt bén nơi bìa, thình lình phất mạnh cây cờ vào mình H.Rivière và kéo xển y ta xuống đất, binh Tây cứu không kịp, binh Cờ Đen chạy ra chặt đầu Rivière, bêu lên cao, tin nầy khi qua tới triều đình Pháp, thì Nội các đổ, Nội các khác lên cẩm quyền và bày cuộc bắt thăm hỏi ý kiến nên chống giữ đất Bắc kỳ, hay nên trả lại cho nước ta, thì chi có 274 thăm quyết giữ, và 270 thăm nghị trả đất, té ra cuộc bắt thăm ấy chứng tỏ triều đình Pháp lúc ấy cúng phân vân lưỡng ước, và than ôi, nước Nam ta bị lây đô hộ tám chục năm là chỉ tùy có BỒN LÁ THĂM, nhưng nói cùng mà nghe, tính qua lợi hại, theo ý ngu tối của tôi, từng bị đè đầu mới sáng mắt ra và dưới đây, tôi xin so sánh và luận qua giữa hai vua Nam và Tây, xem ai đạo đức và ai là gian xảo:

Trước luận sơ về vua Tự Đức và tình hình triều Nam thời ấy.

Tôi đọc quyển l’Empire d’Annam của Ch.Gosselin, tôi thầm phục ông Tây nầy, qua đây không bao lâu mà thông hiểu chuyện nước ta hơn chúng ta rất nhiều, tôi xin tóm tắt đại lược, theo những trang tôi đã đọc:

– Vua Gia Long băng năm 1820, thọ vừa lối năm mươi, để lại 9 trai và 8 công chúa;

– Vua Minh Mạng, té ngựa đau và mất năm 1841, thọ vừa bốn mươi, có rất nhiều vợ và để lại đến 71 con, trong số có 49 ông hoàng tử. Trong những ông hoàng nầy, thử kể lại tỷ như ông Thọ Xuân Vương, có đến một trăm người con.

Ta hãy xét thử ông giàu bao nhiêu, của để lại theo tôi hiểu, làm sao chia ra nuôi sống đầy đủ cho khắp các ông hoàng và các bà chúa kia, cái tệ hại giỏi nhảy cái mà quên lo hậu vận cho các con sau nẩy, và người Tây, khi vua Hàm Nghi bỏ ngôi, lại cử ông Thọ Xuân Vương nầy làm nhiếp chánh coi việc nước, thì kết quả ra sao, tưởng không cần nói cũng thấy vận mạng nước đến thế ấy là cùng;

– Vua Thiệu Trị, không được thọ, băng năm 1847, ở ngôi chỉ bảy năm, tuổi ngoài ba mươi, yểu quá, nhưng vẫn có đến 26 người con, trong số có 14 ông hoàng tử;

– Vua Tự Đức lên nối ngôi, thọ trên năm mươi, anh của ông là ông hoàng Bảo, bị mất lên ngôi vì không phải con dòng đích, hoàng Bảo thêm bị hại là làm chết luôn cả dòng, rồi vua Tự Đức, khi băng hà, vợ có hai bà hậu và kể 103 người vợ, mà không sanh được một mụn mọn nào, – lời dân truyền lén “tuyệt tự vì tội sát huynh, cốt nhục tương tàn” – đầu dây rắc rối, tranh giành, chiếm quyền và dòng Nguyễn Phúc đến vua Tự Đức là không còn độc lập, các ông kế vị, đều là vua ăn lương của Tây, bất xứng, trò hề. Nên ghi lại đây gương bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, thọ đến 94 tuổi, mất năm 1901, đã mù và điếc, nhưng chứng kiến xiết bao nỗi khổ tâm, trải qua ba vua nhỏ Dục Đức (bị bỏ chết đói trong khám tối, làm vua chỉ mấy ngày), vua Hiệp Hòa rồi vua Kiến Phước nối tiếp, kẻ bị siết họng và vùi thây, người bị đầu độc chết trên giường bịnh và bà Học Phi (vợ vua Tự Đức lại ngậm điếu thuốc đã có Nguyễn Văn Tường hút trước tiên, nhưng án tư thông được ém đi vì Học Phi là mẹ nuôi vua Đồng Khánh), Gosselin lại kể chi tiết rành rọt các hoàng tử con vua Thiệu Trị, nhưng tên không chấm dấu, tôi xin chép lại đây làm tài liệu cho người viết sau sẽ bổ túc.

Ngoài Hường Bảo và Hường Nhậm (Tự Đức) là hoàng tử thứ 3 con vua Thiệu Trị là Hường Phu, vào năm 1885 đã 53 tuổi, vua Tự Đức rất yêu, vì bề ngoài ông hoàng nầy thùy mị mà bề trong rất là xấu tệ, ông dung dưỡng để con hư và chỉ thích nhắc lại những trắc nết của các bà tôn nữ;

– Ông thứ 4 là Hường Y, sanh năm 1832, mất năm 1885, chính là cha của ông Ung Cai (Ung Dien) được vua Tự Đức nhận làm con, tức vua Dục Đức, cha vua Thành Thái;

– Ông thứ 5 là Hường Tho, đúng là một hiền giả, chỉ thủ gia, cặm cụi ham văn thi;

– Ông thứ 6 là Hường Hun (sic), (có lẽ là Hựu, sách in lầm là Hun?). Vua Tự Đức rất yêu và ông hoàng nầy chỉ thích hát bội và có sắm gánh hát tại gia, ít xa xí;

– Ông thứ 7 là Hường Kien, nhờ bán nha phiến lậu mà có dư tiền, ông vượt lễ độ, sống chung với một bà công chúa đã có chồng, ông bắt sống về chung chạ, rất trái với phong tục cổ lệ trong nước;

– Ông thứ 8 là Hường Pho, thông minh, cao thượng, rất xứng được lên nối ngôi báu;

– Ông thứ 9 là Hường Dinh, nợ như chúa chồm, đủ tật xầu, duy là một ông hoàng dám đối đầu chống không nể uy ông Nguyễn Văn Tường;

– Ông thứ 10 là chính ông vua sau nầy xưng là Hiệp Hòa, nối ngôi tiếp Dục Đức;

– Ông thứ 11 là Hường Cai sanh 4 hoàng tử, đã có câu truyền tục trong dân gian: “một nhà sanh đặng ba vua: một còn, một mất, một thua chạy dài”, là ông nầy.

Các hoàng tử khác, ông Gosselin không kể lại, vì thảy đều mất sớm và Gosselin kể vì vua Tự Đức không con, nhận cháu làm con, sanh ra sự hiềm tỵ ganh ghét giữa anh em có con được vua nhận làm con ấy và một buổi sáng sớm năm 1875, có tin đồn ông hoàng Hường Cai, đã chết trên giường ngủ cổ họng đứt… có một cây dao cạo đặt trên tay, nhưng cái chết nầy là một nghi vấn, tuy vẫn cũng có tin đồn ông hoàng nẩy tâm tánh bất định, gần như loạn trí…

Làm sao truy tố ông hoàng nầy chết oan bị giết, hay chết ưng, chính ông tự cắt họng… trong nước Nam nầy, nào là đầu độc, ám sát, là cũng vì tranh giành cái ngôi vua kia và chính vua Đồng Khánh sau nầy, đã từng thố lộ: “ngôi cửu ngũ xiết bao nguy hiểm, một khi rơi xuống, có xứng đáng gì mà phải lượm lên”.

*****

Couronne royale, suprême bandeau, – disait Dong Khanh à un ami, un jour d’abandon, – emblème du pouvori et symbole du Malheur, qui saurait bience

Ấy, việc trong nước, làm sao tôi hiểu cho bằng người tại đất Thần kinh Huế đô, tôi chỉ là con két thuật nhón lại những gì đã nghe ngoài ấy và đã đọc trong sách Tây mua được, và thuật lại nghe chơi, chính Gosselin viết (trang 32) khi băng hà, vua Tự Đức để lại vừa vợ, vừa cô hầu, vừa cung nữ từng được vua để mắt, kể cho là 103 bà, thì năm 1901, còn sốt lại nơi Khiêm lăng là 47 bà coi việc nhang đèn thờ vua, và khi tại vị, vua mỗi nhựt, có 47 bà hầu hạ: 30 coi về canh trực, 13 bà lo về bếp núc, lo việc y phục, phòng the, chải tóc cho vua, săn sóc móng tay, lo việc châm thuốc hút và mài mực, dâng bút, dâng giấy cho vua phê viết, v.v.

ngoài ra kể về đức tánh. V.N.S.L. Trần Trọng Kim ghi lại lời ông Thân Trọng Hue, tánh vua Tự Đức vốn hiền, nội thị châm thuốc, lỡ làm phóng tay, vua tha thứ, vua thích đi săn là luyện tập võ nghệ theo ý vua không nói ra, vua chơi đầu hồ tài hay giỏi, không ai qua, đó là tập tánh nhẫn nhịn, nhưng đánh đầu hổ, ngày nay nào ai chơi nữa, và nay chỉ thích thể thao đánh vợt chơi túc cầu, vua rất thiện nghệ về lục bát tám câu, vua thông chữ Hán hơn các quan khoa bảng trong triều, nhưng vua chỉ ở trong cung hú hý cùng phi tần, việc triều đình, Nội các thì không đủ tài, ngày nay sao cứ trách vua? Quan văn, quan võ đều trung thật nhưng phong trào đã biến đổi, tàu đồng sắt từ phương nào tới đây, người dị quốc đem đạo mới đến khuyến dụ truyền bá, ăn cơm ở đây mà lòng mong chiếm đất đã làm ra cơm, quan văn như Phan Thanh Giản, thì một chén á phiện đền nợ.

Thử xét về vua Napoléon III của đế quốc Pháp

Luận theo bây giờ, chớ chi đời Tống, không bị nịnh thần Thái Kinh lộng quyền, ở trong nước và không bị ngoài nước, binh Phiên xâm lăng, thì vua Huy Tông sẽ là một trứ danh đại họa sĩ ngự trị làm một vị hoàng để thuở thái bình, và chớ chi ở xứ ta, không có binh Pháp qua xâm lắn và không có Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, thì nước ta đâu có điêu linh và trước đó vài năm, vua Tự Đức sẽ giữ yên xã tắc làm một hoàng dế kiêm thi sĩ tài hoa cái thể, nhưng sự đời đâu có suôn lành như lý tưởng được, và sanh chi ở nước Pháp có một vị hoàng đế hư hỏng không chỗ nói là ông Napoléon III, nhưng vì có binh túc, thêm có tướng cao tài, lại có tay trong, người đi giảng đạo không lo việc kinh kệ, lại xen làm chính trị, làm tay sai quyết giựt nước ta làm ra thuộc địa, Napoléon III nầy vì binh lực mà nên mà cũng vì binh uy lạm dụng và hư việc đến hư nước, hại thân, và liên lụy khiên vua Tự Đức không làm được một thái bình thiên tử và phải chịu mang tiếng kém tài, làm mất đất và hư việc nước, ông nào đáng thương, ông nào đáng trách, xin kể những gì tôi hiểu về vua Pháp nầy và xin chừa cho chư quí độc giả, lấy bình tâm và công tâm so sánh và xét lại; các việc như kể dưới đây, dường như “chuyện không mà nói có”, nhưng tôi xin thưa đó toàn là chuyện có thật, từ các tác giả Pháp đã ghi trong các sách đã kể từ trước, và tôi cứ dịch thuật lại như sau.

Trong tự điển Petit Larousse ghi rõ, thì bà Hortense vẫn là con đẻ của hầu tước de Beauharnais. Vợ ông nẩy, sau khi chồng mất, đã gặp và trải qua nhiều tay tướng làm cách mạng năm 1789, rồi mới cặp với đế lẫy lừng Napoléon ler.

Như vậy bà Hortense là con ghé, gọi Nã Phá Luân là dưỡng hoàng. Nhưng bà lại kết duyên với bào đệ là Louis Bonaparte, cho hay bên nước Pháp, việc kết hôn tắng tịu làm vậy, âu cũng là một thế biến của một thế hệ loạn li bên ấy. Khi bà sanh một trai sách sử vẫn ghi “con không cha” (né de père inconnu), nhưng lấy sang làm họ, cứ nhìn là con của Louis-Bonaparte, được gọi để Napoléon ler là bác, và vì con trai của để, rủi mất sớm vì đầu quân, qua châu Phi, bị giặc mọi hạ sát, cho nên con của Hortense, nối nghiệp của người bác, tiếp ngôi Napoléon II, nên tự xưng là Napoléon III, chớ sự thật là nạ dòng.

Vả chăng sách sử của Pháp, rất là tự do ngôn luận, tự do xuất bản, không giấu giếm, không che chuyện xấu, dầu cho của vua chúa cũng vậy, cho nên ngày nay còn đọc được những chuyện nhơ nhớp của ông vua bác và của ông vua cháu nẩy, thật là nay chép lại còn ngại ngùng, tôi xin cứ y chép lại làm tài liệu và tóm tắt.

Đế Napoléon ler, rất thích được gần đàn bà. Đế rất có tài về chiến thuật, nhưng khi cao hứng muốn gần phụ

nữ, thì bất kể hồ sơ khẩn cấp, bất chấp tướng to tướng bé, thống chế đến cũng hẹn và đẹp qua một bên, để tung phí vãi tiền cho phái đẹp, ông thích nghe chuyện lí lắc trêu cợt, chuyện ti tiểu nói về chiếc nệm lót giường, đế không nệ đùa giỡn với các cô trẻ nơi sân Malmaison, và để có nhiều ái cơ vụng trộm, nhiều hơn cả Louis XV, Francois 1 và luôn cả Henri IV. Các việc ấy, đọc sử chơn chánh, làm sao biết được.

Qua đến đời ông vua cháu thì mới thật là loạn, loạn xà ngầu, thử hỏi: “vua Tự Đức chịu mang tiếng của đời sau là làm cho mất nước, vua có đến 103 người hầu hạ gối chăn, nhưng dầu sao, vua là thừa mạng trời “thể thiên hành đạo” có vợ nhiều (đa thê) nên không nghe có chuyện loạn luân, còn đế của Pháp, giữ tục “độc thê”, thế mà “vì do dân chúng bầu lên, gọi là “thọ mạng ư dân cầu” luật dạy một vợ một chồng, thế mà ông này bất chấp vợ của ai, và vẫn “quân loạn thần thê”, ông có hơn hai trăm nhơn tình bất chánh, xin hỏi

vua nào đúng đắn, vua nào bê bối, đã bê bối thế mà cho binh qua đây gọi là giáo hóa dân ngu, xin chép:

Một câu Pháp văn chép nơi chú thích dưới đây, tôi ráng dịch để làm bằng chứng:

“Dưới triều vua Napoléon III, thời Đệ Nhị đế chính, các mạng phụ phu nhơn nào vào chầu vua, đều không phải là thiết thạch sắt đá. Dưới lớp váy mỏng vải thô, họ vẫn bào hao hậm hực muốn chầu vua cho thật xứng đáng với tấm lòng háo hức hiếu dâm của vị để của nước Pháp, tức hoàng đế Napoléon III nầy. Đế mang nặng chứng luyến ái cuồng cao đến cực độ: mỗi khi để thấy một chiếc váy là để lên cơn nồng nhiệt khó dằn, khiến nên từ năm 1852 chí đến năm 1870, các mạng phụ, một số lớn, đều ưng làm mồi cho sự dâm loạn của đế và các cuộc “rồng giỡn sóng nầy”, thật là khó tả: trên rương hòm, lấy mặt rương làm chiếu, khi chen giữa hai cánh gà kẹt cửa, khi đề cạnh bàn cũng xong, khi thì sau bức màn the cũng gọn, hoặc trong chiếc ghế bành, hoặc kê vào vách đứng, hoặc núp cạnh lò sưởi lò hơ, chéo giường nằm, đáy tủ áo, mặc cho cuộc mưa Sở mây Tần, sống nhồi mặc sóng, rồng đoanh mặc rồng, cho hay cái yếm che yếu sịu và bạc nhược của nữ nhi lại hóa ra có một cường lực vô biên, mà vẫn mang tiếng yếm mang quần vận. Có thể nói không lầm và có ngờ đâu các vế non đùi nhớt của đám phụ nữ thời ấy, và trong suốt thập bát niên nghiêng ngửa, vẫn là năng lực phi thường của nước Pháp hùng cường dũng mãnh. (dịch ngay trên máy ngày 26-11-1990).

Và chỉ có một bà cao tay ấn, trị được ông vua số đú nầy.

Bà kiên quyết không để cho đế xúc phạm trinh tiết, bà mạnh dạn khước từ và trả lời cho đế, rằng “muốn việc ấy phải đứng trước bàn thờ chúa trước đã!” và đế thét… phải chịu phục thiện và làm lễ cưới bà, tôn làm chánh thất hoàng hậu, và đó là bà Eujénie de Montijo, tôi sẽ nói nhiều nơi đoạn sau.

Cho hay, đời xưa như đời nay, gẫm lại vẫn còn trong vòng “thiên địa tuần hoàn” cũ rích! Mặt sắt như Từ vương mà cũng chết ngây, chết đứng với một nàng Kiều: Kiểu than một tiếng mà tự nhiên thây kia ngã xuống!

Bên Pháp, cũng vậy, tôi xin dài dòng nhắc lại nghe chơi.

Trước tiên, nên kể gương Napoléon ler, tôi gọi là ông vua bác. Thời Cách mạng năm 1789 để lại cảnh suy đồi, dân chém vua và chặt đầu vợ vua bằng gươm máy. Một viên quan hai vô danh, từ mặt trận, may thời gặp và kết đôi với bà Joséphine mà lên lần đến ngôi sang hoàng để. Lên ngôi rồi, ông toan phải có con để nối nghiệp đế, ông chê bà Joséphine là chai lơ, nên phế đi và chọn bà Marie Louise trinh trắng, tôn làm hậu, sanh được một hoàng tử, rủi không được thọ, và hoàng tử nẩy, khi mất, sử tặng hiệu là Napoléon II (1811 – 1832).

Đến lượt xuất hiện ông kế nghiệp, sử tôn hiệu là Napoléon III (1808 – 1873). Ông nầy, tôi gọi “vua cháu”, vĩnh viễn, ngờ đâu, sáu năm sau (1846), ông giả làm thợ nề, ông vượt ngục thất là thành lũy kiên cố Nam, (trong những năm trong tù, ông dan díu với một con đòi đem cơm, sanh được mấy con, không nhìn nhận, sau ông tặng tiền, và cho lấy tên theo họ mẹ), ông qua Anh quốc, ông làm tình với một danh kỹ nhan sắc tên Noward, cô này rất giàu, và không tiếc của, mấy lần bán lâu đài, biệt thự, bán nữ trang quí giá, giúp ông tận lực tận tình, ông dùng các số tiền lớn nầy, ông trở về Pháp năm 1848, được cho ra tranh cử, ông được đắc cử làm đại biểu cho nhiều quận, nhiều trấn, rồi lần hồi, nhờ khéo vận động, nhờ uy tín dòng họ, nên ngày 10-12-1848, dân Pháp cử ông giữ chức “giám quốc”. Cách ba năm sau, ông đẹp xong nhóm dân chủ (républicains) và sạch nhóm vương quyền (royalistes), ông lật đồ đại hội của chánh phú (assemblée générale), ông đảo chánh, bày cuộc trưng cầu dân ý và ông được dắc cử, qua năm kế đó, ông xưng hoàng để, đồ là “đệ nhị để chính” (Second Empire) của Pháp quốc.

Phải nhìn nhận ông có công thâu về cho Pháp hai quận Savoie và Nice (1860), đời cai trị của ông có thể chia làm ba đoạn, từ 1852 đến 1858 là độc quyền làm vua, từ 1858 đến 1867 ông nới quyền cho dân chúng lo việc nước, và từ 1867 đến 1870, là thời đế quốc khoan đại (Empire libéral).

Ông cho làm nhiều công tác hữu ích, khuyến khích nông trang việc canh nông, mở mang kinh tế và thương mãi, sáng lập ngân hàng, xây dựng cơ sở học hiệu, dưỡng đường, v.v.., các việc ấy ông có công với nước của ông, còn đối về ngoại giao và riêng nước chúng tôi, quả ông hám tiền, quyết biến nước tôi làm thuộc địa, lấy tiền phạt vạ chiến tranh để ông bồi đắp những thâm thủng quốc khố của ông, ông gieo rắc những gì văn minh mới, phá mất văn minh đạo đức cũ, tội của ông đối với nước tôi, ông mất ngôi, vì quá ham chiến tranh và vì quá ham gần đàn bà, cả ông và cháu, hai vua vì sắc, vì háo chiến mà hư nhà, hại nước, sau đây tôi xin lược kể về bà hậu Eugénie de Montijo do ông chọn làm hoàng hậu nước Pháp, và chính bà từng dự kiến cuộc sứ bộ quan Phan vào yết kiến vua Napoléon 111 để xin chuộc đất.

Nhắc lại vua Pháp, lên ngôi vua rồi, vội quên mối tinh cũ là bà Noward, ông vẫn đi lại nhưng không phong làm vợ chánh thức, ông buông lung từ khi lập hậu, ông giữ được đoan chính vài tháng, rồi ngựa quen đường cũ, bà Eugénie cũng không kềm chế ông được, ban đầu bà ghen, cấm không cho ông gần gũi, ông lại được cớ sai lập riêng cơ ngơi ở đường rue du Bac để tiếp xúc với cái lạ, và lạ thay bọn đắt mối lại lén lấy xâu trước, thành thử tuy làm hoàng để mà nào được thưởng thức nước tiên. Bà Eugénie thét cũng ngà lòng, lại day qua giành tham gia việc chánh trị, một lần bà đốc phách vua nâng đỡ và đưa hoàng thân nước Áo là Maximilien, cùng vợ, qua làm vua xứ Mễ Tây Cơ, nhưng việc ấy thất bại, hại cho Maximilien bị dân bản xứ xử bắn (năm 1867), vợ vua Maximilien, khi hay tin chồng bị xử tử, bà bị bịnh loạn trí, nhưng sống đến năm 87 tuổi mới lìa đời, chết đau thương uất hận chồng bị bắn vì trót nghe lời Napoléon III nửa chừng bỏ cuộc. Trong trận gây chiến với nước Nga, gọi trận giặc Crimée, nghe lời theo Anh quốc và Hồi quốc, để bị thua (1854-1856), đã mất uy tín nước, thêm tổn hại công quý, cũng vì vậy nên để gỡ gạc lại xua binh qua dánh chiếm nước tôi (trận chiến ở Nam kỳ 1859 – 1862, chiếm ba tỉnh Miền Đông) và năm 1857 – 1860) binh Pháp theo với binh Anh sang đánh nước Tàu, các trận chiến ấy đều có tay bà hoàng hậu Eugénie vụ tất việc chánh trị và đốc xúi, và lòng hiếu chiến không nguôi, Napoléon III tự cầm binh đánh trận ở Sedan, binh đại bại, ông phải đầu hàng (1-9-1870), ông bị truất phế nhưng khỏi chết, cùng vợ và hoàng tử mang tế nhuyển, lui về ẩn nơi Chishurst (Anh quốc) kéo dài cuộc sống tủi nhục đến năm 1873, ông mới chịu lìa trần… Tội nghiệp cho con ông, vừa tuổi hai mươi, đầu quân làm thiếu úy, dẫn binh qua châu Phi, bị binh mọi đen phục kích giết chết, tóm lại ông vua bác bỏ bà Joséphine cưới bà Marie-Louise, và ông vua cháu, quên tình tấm mẳn của bà Noward để cưới bà Eugénie, cả hai đều lụy vì sắc, mà sử không nói và tôi thày lay đã trễ!

Viết đến đây tôi tạm ngưng đánh máy, để nhìn nhận: đọc sách ngoại sử cũ của Pháp, thấy tình hình bên triều đình Pháp, một ông vua không xứng đáng, lại tự tung tự tác, bê tha loạn luân là làm chánh trị theo ý riêng của mình, tung hoành dâm đật, và nhơn đọc bài của thủ lãnh tài ba của luật sư đoàn Henri Robert’ tôi lại rõ chánh phủ Pháp thời ấy vẫn trong tay một đàn bà không trị được một ông chồng quá ư ham trăng gió đã để cho việc nước lọt vào tay khăn yếm, và ông Henri Robert đã kết tội bà Eugénie, nhưng tôi tưởng lại bà nầy đã đền tội, vì sau khi chồng từ trần và con bị mọi giết, bà bơ vơ kéo dài cuộc sống bi thảm ấy mãi cho đến ngày 2 juillet 1920, bà mới chịu lìa cuộc đời trần ai nầy, và tác giả thủ lãnh luật sư đoàn, tức nhiên là một cây bút nghiêm trang đứng đắn, ông đã hạ bút viết: “Bà Eugénie, vẫn có xây ghế, tin tưởng như lời ma mị và khi thác, đúng như lời tiên tri của một bà thầy coi tay bohémienne năm xưa, bà có số đỏ, lên cao như diều giấy, chết già gần gần được trăm tuổi, nhưng chết sầu bi tăm tối như đi đêm.

Cộng sơ và so sánh lại:

– Một hoàng hậu của vua Napoléon III (Eugénie de

Montijo) sống 94 tuổi,

– Một hoàng hậu vua Maximilien, vợ chồng đang sống như cặp uyên ương hạnh phúc, lại nghe lời xúi giục của cặp vợ chồng vua Pháp, ông Napoléon III nẩy, rồi qua Nam Mỹ làm hoàng đế xứ lạ để rốt lại, bị vua Pháp bỏ rơi không gới binh tướng cứu trợ, Maximilien đền tội tham ngôi cao để bị dân Nam Mỹ xử bắn, bà vợ khi hay tin dữ nầy thì loạn óc và sống đến 87 tuổi mới từ trần, gẫm thọ dai làm chi, chỉ đầy nhục, ưu, và nghiệp dĩ, rồi nhớ lại việc nước Nam mình, bà Từ Dũ, hoàng thái hậu, sanh đồng thời cũng thọ 93, 94 tuổi, từ trần năm 1912, hai bà kia vẫn yên mồ yên mả, bà bên ni, vừa rồi lăng mộ bị quân mất dạy lén đào không được yên mồ yên xác, như vậy sống lâu cũng không nên ham, và thà mồ đất lâu ngày thành bình địa mà vẫn hơn mộ đá, mộ ô dước bị cuốc bị đào (28-11-1990).

Trong quyển l’Empire d’Annam của Ch. Gosselin, ông là đại úy đã từng cầm binh qua đây ruồng kiếm ông tẩu quốc Hàm Nghi, khi hay tin sứ đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp chuộc đất, Gosselin chơn thật đã từng hạ câu:

“Vua Tự Đức, vì hiếu đạo, sai qua xin chuộc đất có mồ mả tổ tiên, nhưng chuộc đất sao được, vì chúng tôi là kẻ đi chinh chiến, cướp đất để làm thuộc địa, ai văn minh, ai là lạc hậu, đã rõ rồi” v.v..

Trong quyền “les Premières de la Cochinchine” của Paulin Vial (Challame, Paris, 1874), tôi nhớ có đọc, ông E. Vial độc nhãn vì bị binh ta bắn trận Kỳ Hòa, ông “Dách cô ngạn” nầy, sau giải bình, ra làm đầu văn phòng của Phó Soái Nam kỳ, cũng có nói và khai thật: “Vua Tự Đức sai Phan Thanh Giản đi sứ và căn dặn phải nài hạ bớt tiền phạt vạ chiến tranh, một một hai hai phải than nghèo, phải than nước không đủ tiền… và phải nói làm sao cho Pháp ưng nghe mà bớt tiền phạt vạ…”, lời chỉ thị của trên ban như vậy, một ông già đã trên bảy mươi tuổi đầu, gới ông đi sứ qua Pháp, giữa đám hạm sói thèm máu hám tiền, lấy đạo nhơn đạo ái của Khổng học đã dạy, ông già nầy can đảm lãnh mạng vì tin nơi lời hứa xin xỏ của đề đốc Bonard, nhưng khi qua tới bên đó, Bonard đã không còn, còn lại một ông vua mắc bận nghi hè, phải đợi hơn tháng vua mới về và cho yết kiến, vua hẹn cầm chừng, “đẩy cây”, “Hãy về đi, hãy để cho nội các, triều đình nghị lại”, ông già mục kiến Pháp phô trương lực lượng và tiền hóa, theo tôi nghĩ bụng, mười ông già có miệng lưỡi khác cũng vậy, và mấy ông ngày nay, ngồi trong nhà, bàn việc xưa nay, xin hãy vào thử thay ông Phan Thanh Giản, trước khi phê bình và chê trách.

Tôi đã viết nhiều và viết từ trước, chuyện của quan Phan và chuyện của Tôn Thọ Tường, nay tôi không trở lại. Tôi viết bài nầy được 14 trang, viết ngày 24 đến nay 28, ngoài cửa cổng nhà, hàng rào tre bị đập phá và che bít cửa ra vô, sáng nẩy 28, mở cửa ra, thấy hàng rào, đã thừa đêm tối có ai kéo qua chỗ cũ mà chưa ai dựng lại, tế ra người lối xóm, muốn làm gì thì làm, tôi vẫn đánh máy đủ vui và đủ quên mọi việc.

(viết ngày 28-11-1990)

Xem tạp chí Nistoria số 250 tháng 9 năm 1972, bài của André Castelot viết *La fin tragique de Maximilien, empereur du Mexique, từ trang 147… (Chớ chi gương nấy đủ làm cho Napoléon III bớt hiếu chiến và chớ chi việc xảy ra trước khi có cuộc binh đao giữa Pháp và nước chúng tôi).

tempéraments qui correspondaient d’silleura parfaitement aux exigences démesurées de Napoléon III.

L’Empereur était en effet un érotomane qui entrait en transes à la vue du moindre jupon. Aussi, de 1852 à 1870, les femmes de la Cour furent-elles les maitresses du pouvoir. Prises svec ivresse – sur des coffres, entre deux portes, sur un coin de table, derrière un ridesu, dans un fauteuil, contre un mur, sous le manteau d’une cheminéc, au travers d’un lit ou su fond d’un placart, elles tiraient de leur apparente faiblesse une authentique puissance. Et l’on peut dire, aussi étrange que cela pyisse paraitre, que ce sont toutes ces cuisses légères qui constituèrent pondant dix-huit ans le bras séculier de la France.

(Histoires d’amour de l’Histoire di France par Guy Breton, volume X, page 10).

… les femmes qui fréquentaient les Tuileries sous le Second Empire, n’étaient pas de pierre. Elles cachaient sous leurs vastes crinolines de redoutables

que tu caches de soucis, de dangers, de misères, ne voudrait pas seulement si tu tombais, te ramasser (trang 234 sách Gosselin dẫn thượng).


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply