vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 13 Nov 2025

7. Chương 7
Cái chết của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, nguyên Thủ Hiến Nam Kỳ buổi Tây trở lại.
Buổi Tây trở lại đây, là tôi nhớ những năm sau khi binh Nhựt đầu hàng năm 1945, đạo binh Tây, tiếc của, kéo trở lại toan đoạt quyền trong tay binh Nhựt, và toan đè đầu chúng ta một thời gian nữa, lúc ấy tôi đã lui từ 1943-1944 về làm việc và xin về hưu trí non ở tỉnh nhau rún Sốc Trăng, và chuyện tôi thuật lại đây là do nhớ thuộc lòng và tưởng niệm một người tôi từng mang ơn, đó là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh mà ngày nay tên tuổi đã lu mờ, nhắc đến thường với danh xấu hổ là “Việt gian”, là “theo Tây” v.v.., nhưng đối với tôi, tôi cho ông là một hiển nhơn quân tử, mà đã bị hiểu lầm.
Vong hồn ông có linh, xin biết cho. Trước đây, trước 1975, tôi từng được có người cho xem ba bài luận án để thi làm bác sĩ y khoa thời Diệm, một bài về cái chết của thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, một bài về cái chết của cố thi sĩ Đông Hồ, và bài kía nói về cái chết của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
Ba ông làm ba luận án, có lẽ nay đã hành nghề, duy tôi chưa biết mặt, nếu có đọc bài nầy, xin miễn trách tôi còn nhắc việc cũ lại làm chi, nhưng tôi phải nhắc, để dựng chứng viết bài nầy. Lúc đó sau khi đọc xong, tôi trả về chủ cũ, duy tôi có nói sơ rằng:
– Về ông Tản Đà, ông chết về rượu, nhưng xin chớ quên nếu không có ông Diệp Văn Kỳ, hào phóng, xuất tiền ngàn rước ông vô đây, thì ắt không bao giờ ông Hiếu biết cảnh Sài Gòn, ông dọn nhà ở Gò Vấp, lấy rượu thịt làm vui, mỗi tuần báo “Đông Pháp thời báo” của Diệp quân sai lon ton đạp xe vô Gò Vấp xin tám câu để kịp lên khuôn ra báo, một hôm, túng bài, ông chửi đổng: “Làm thơ chớ phải bửa củi hay sao mà đòi đủ thước khối và cho kịp thì giờ!”.
– Về ông Nhất Linh, tôi nói ông Tường Tam là cử nhơn khoa học Tây, ông lựa cái chết để khỏi ra tòa phanh phui liên lụy đến anh em, ông Diệm chơi độc là bắt Bộ Y tế gởi ruột già ruột non của ông cho viện Pasteur tìm căn do cái chết, báo hại nhiều bác sĩ đã ký tên trên vi bằng giảo nghiệm, vô tình mang chút không thơm do một tổng thống, theo tôi cũng chưa đáng chết dữ, vì thiếu chi người đáng tội hơn mà vẫn sống phè phè vui vợ vui con.
– Riêng về cố hữu Đông Hồ, đã thế tôi làm giảng viên nơi Đại học Văn khoa, tôi vừa cười vừa trả bổn luận án mà rằng: “Tôi từng bị gái cho kỷ niệm đau nhức, mà tôi bao giờ dám thú thật với Năm Sa Đéc? Và lấy chuyện mình mà hiểu rộng qua chuyện bạn, ông Đ.H nghiêm mười lần hơn tôi, tôi định ông không khi nào thố lộ tâm sự phòng the, và hỏi bà M.T. để viết về Đ.H., tôi cho và ví tục, có ai hỏi cột đình cột chợ con xi đã làm dấu chỗ nào?
Và tôi kết luận tại sao không một sinh viên y khoa nào viết giùm luận án về cái chết của một đàn anh, theo tôi là đáng kính, là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, nhưng hỏi rồi, tôi tự trả lời, viết làm chi và bao giờ được chấm đậu, chính tôi nếu bắt tôi thi, tôi rớt ngay buổi đầu, ăn zéro hột vịt bắc thảo lẹ lẹ, và văn của tôi có mùi nước chấm Mũi Né, nhiều người chấm mà ít ai chịu ngửi, mấy ông học trò trường thuốc vẫn khôn hơn tôi nhiều! Nay bắc cầu, viết: “Tôi biết gì về ông Dr. Thinh?” Chuyện này tôi đã có viết rồi, hình như trong “Hơn nửa đời hư” hoặc là nơi một tập khác, tôi cũng không hơi đâu mà dò lại và nay tái viết, có lẽ khó tránh sai siến không giống bản cũ, vậy xin độc giả lượng thứ, tôi viết đây là viết để trong nhà đọc mà thôi. Năm 1923 tôi thi đậu ra trường, vào làm thơ ký nơi trường máy đường Đồ Hữu Vị tôi lêu lổng chơi bời, tập hút thuốc điếu, tập uống la ve, tôi cảm và ho, uống nhiều thuốc Tây không hết, ngậm kẹo thuốc “pastilles Valda” cũng như không, thét rồi, tôi nghe lời bạn khuyên, tôi tìm bác sĩ Thinh, phòng mạch của ông lúc đó ở nơi góc đường Trương Định và Nguyễn Du ngày nay, nhà lầu day mặt qua hoa viên Tao Đàn, ông chẩn mạch, ra toa viết tay cho tôi bổ thuốc nơi nhà thuốc Tây Solirène (nay là nhà hàng Givral), tôi tốn 5 đồng bạc tiền coi mạch, ba món thuốc do ông viết tay, giá chừng 3 đồng nữa, vị chi là 8 đồng bạc con đằm xỏc, mà bịnh ho cảm dứt ngay, hay quá, tôi phục ông từ đó, cái toa thuốc ấy nay tôi còn giữ đây, nhưng chữ đã lu mờ đề ngày 17 sept. 1924, ký tên Thinh, không tiện in bản rặp (polycopie) vì không đọc được mà tôi cũng không dám chép tay sao lại cho độc giả xem chơi, vì ông viết tắt như sirop, ông viết sp, và chữ của thầy thuốc, ai ai cũng biết, khó đọc, còn tôi thì học chưa tới đâu, nên xin mời bạn nào muốn xem thì lại nhà tôi xem và xin cho tôi miễn sao chép lại đây.
Phục ông là phục vậy nhưng chưa phục mấy. Cái nầy mới làm cho tôi phục sát đất, và ngày nay ai dầu chê ông cách nào, tôi vẫn kính ông đúng là một chơn chánh lương y, một hiền nhơn đạo đức, vì cách đó một ít lâu, tôi cưới vợ, vợ tôi đau, nằm tại nhà, tôi rước ông đến điều trị, bịnh lành mạnh, ông gởi giấy sai người trao cho tôi tiền mạch là 50 đồng bạc, tôi lật đật đầu tháng, đem tiền và ghim toa thuốc ho cũ, vào phòng trình cho ông, ông cầm hồ sơ, liếc nhìn tôi rồi hỏi:
– Thầy lương bao nhiêu và trước học ở đâu?
– Dạ, tôi học ở Chasseloup và ăn lương 54$50 mỗi tháng.
– Thầy học trường đó mà tôi cũng xuất thân trường đó.
Tôi có lời nguyện nhớ ơn trường cũ, ai học ở đó lại tôi điều trị, tôi bớt cho nửa phần tiền. Thầy ăn lương 54 đồng, trả tôi 50 đồng, thì còn chi mà xài, vậy thầy trả tôi 25 đồng là được rồi. Mà khoan, tôi nhiều việc lắm, thầy đừng trả ngay cho tôi, thầy bước ra cô y tá coi việc bút toán, thầy trình bày và cắt nghĩa cô ghi sổ, mỗi tháng thầy đem lại 5 đồng và hết năm tháng là đủ, thầy không thiếu chi nữa cả. Chào thầy, để tôi trị cho người khác.
Tôi ra về, chơn bước nhẹ như lên mây, có ông bác sĩ hay ông thầy thuốc nào ngày nay, tốt bụng được như vậy, và phải nói 25 đồng cỡ năm 1924, cầm bằng không biết bao nhiêu đồng giấy ngày nay, nhưng tiền trong tay tôi như chuối đút miệng voi, nào sách, nào đồ xưa, nào xem hát, nào ăn cơm với vợ nơi nhà hàng Tây, bao nhiêu cho đủ.
Mà cũng chưa mấy: ông rầy tôi sao có mượn cô y tá làm thuốc cho vợ tôi, ông cắt nghĩa và dạy tôi tự làm thuốc, tự bơm rửa cho vợ, đã đỡ tốn thêm nặng tình âu yếm, và một lần nào đó, ông gặp tôi và nhớ lại việc cũ, ông nói bịnh huyết trắng của gái tơ, đừng nghi lầm, phải hỏi lại có mặc chung quần áo của người lớn tuổi nào không, và quả thật, về hỏi lại vợ tôi và bà nhạc tôi, mẹ con vẫn mặc chung và thay đổi chung áo quần của nhau, để được nhiều màu nhiều kiểu và “lây” nhau là vì vậy. Không phục ông sao đặng?
Nhưng kể từ đó, phục thì vẫn phục, nhưng đường ai nấy đi. Tôi đeo theo cái chức “cò mi nửa miếng”, “chức Huyện nửa chừng” tôi đổi về làm ở Sa Đéc, rồi về Sốc Trăng, qua Cần Thơ, khi tôi trở lên đất Sài Gòn thì ông đã không còn, và cuộc đời của ông làm sao viết ra đây cho đủ, bác sĩ Thinh danh tiếng lãy lừng, xuất thân là một y sĩ từng học nội trú chung với Tây tại các dưỡng đường ở Paris, có lẽ ông là một đốc tờ ngang với bằng cấp Tây xưa và cũ trong nầy, các ông đi học trường thuốc ở Hà Nội, thuở ấy, Tây không cho gọi là “bác sĩ docteur” và ban cho danh từ vừa kém vừa hạ bệ “médecin auxiliaire – lương y phụ tá” được làm chung với thầy thuốc Tây, nhưng thủ vai phụ lực, khi coi mạch riêng, tiền coi mạch mấy ông Hà Nội về là lưỡng ngân (hai đồng) duy dr Thinh, như các bác sĩ Tây thời đó, Dr Roton, Dr Vielle, tiền mạch 5 đồng, rước ban đêm là 10 đồng bạc con Đầm Xòe rắc rắc.
Bác sĩ Thinh, tôi nhớ lại, người nhỏ thó, mặt trắng mặt xương, không bô trai, ông bình thường thích mặc y phục Pháp vải shang tung canh tơ chỉ vải, vừa đẹp, khiêm tốn, vừa bền bỉ, ông nói nhỏ nhẹ như con gái, và ông nói tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Việt, ngày thường ông ít làm quen với ai, ông chỉ vui với nghề cứu nhơn độ thể, ông làm ra tiền quá dễ quá nhiều, về sau ông bị ép ra tranh cử và làm hội đồng quản hạt, đứng chung nhóm với nhóm lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Lưu Văn Lang, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền v.v. ông mua đất cất nhà lầu dọn về ở góc đường Lê Văn Duyệt và Bùi Thị Xuân (tôi gọi theo tên cũ), ngang vườn Tao Đàn, ông có quốc tịch Pháp, ông có vợ đầm, hình như sanh một hay hai gái, rồi nói tắt cho gọn, dùng một cái, Nhựt chiếm, Tây chạy rồi Tây trở về, Tây ép ông ra làm thay thống đốc Nam kỳ mà chức không ra chức, dinh không ra dinh, làm thủ hiến Nam kỳ mà Tây khẩn ông ở nhà của ông và lấy nhà ấy luôn làm văn phòng, còn dinh Thống đốc, Tây vẫn ở và nay là viện bảo tăng đường Lý Tự Trọng. Vợ con ông, lui về Pháp, ông ở trên lầu và chọn ông đốc phủ Hồ Văn Trung (nhà văn Hồ Biểu Chánh) làm chánh văn phòng, và để ông Trung ở từng lầu dưới cho tiện gần gũi, và một sáng nọ, ông Trung lên lầu mới hay chủ của mình, bác sĩ Thinh, thây tòn ten nơi chốt vặn cửa sổ, ai treo ông đây hay là ông tự treo, treo bằng sợi dây đèn, dây điện khí mới ác, bác sĩ bực thông thái như ông, muốn hủy mình thiếu gì cách: chích thuốc độc, uống liều độc dược, chớ có đâu, tôi nghe như trên bàn viết có lật tự điển Pháp y khoa nơi trang “suicide” (tự sát, tự tử) và thầy thuốc học Tây gì treo cổ bằng dây đàn điện khí. Chết oan hay ưng, dư luận có thì thầm có người ngủ chung một nhà, ám sát, bóp cổ rồi treo cổ ông, hay ông tự thắt cổ. Khi tôi từ Sốc Trăng chạy lên đây, làm việc nơi viện bảo tàng trong vườn thảo cầm, tôi có mấy lần lại nơi nhà cũ lấy làm dinh thủ hiến của bác sĩ Thinh, lúc đó Nhà nước lấy dọn tạm làm nha học chánh mà tôi phải tùng quyền, mỗi lần lại đây, tôi thường thừa dịp dò la thăm hỏi, và tự nhìn tận mắt chỗ ông chết, thì thấy, trên đầu cửa sổ có một trang thờ đìu hiu lẻ loi một lư hương lèo hèo, nhện giăng không ai quét, lạnh lùng cho một thủ hiến đứng đầu các quan chức Nam buổi nào, đưới trang ấy, khi hai cánh cửa sổ khép lại, tôi thấy một tay vặn ổ khóa còn sờ sờ đó, vẫn không cao hơn một thước tám hay hai thước Tây, và dầu cho vóc giạc ông Thinh nhỏ thó chưa tới một thước sáu, nhưng nghe đâu khi tháo mở thây, thì hai bàn chơn người chết là đà gần sát mặt nền gạch bông ván rầm, và trong quần ngủ pijama có vết xuất tinh, kẻ nói nằy nói nọ, kẻ làm tàng cho rằng tự tử nên tinh xuất trong quần, và tôi xin hỏi, nếu có ai bóp cổ rồi mới diễn trò giả dối, treo cổ trong gấp rút bằng dây đèn, tôi xin hỏi người chết bất đắc kỳ tử, tinh vẫn xuất rồi mới treo thây cho thấy quần ướt, theo tôi nghi án nẩy nan giải.
Ông Thinh chết rồi, Tây mới hoảng hốt, viên đặc sứ toàn quyền d’Argenlieu đến hôn lên trán phân ưu, ôi cái hôn giả dối của một tên quắng áo nhà tu (un moine défroqué), làm sao gột sạch? Và tội nghiệp thay cho ông Thinh, vì lầm tay hiểm độc của đám cá sà cá mập thuộc địa, ông tin lời, tưởng rằng làm thủ hiến, ra giúp nước nhà cũng là nên làm, ngờ đâu khi bắt tay vào việc, chưa lĩnh lương đồng nào, ông mặc áo vá chằm khíu và sau khi chết trong tủ sắt không còn một xu, khi hành sự, ông muốn giúp một bạn đồng nghiệp có một cây súng lục để phòng hộ thân mà ông xin không được, bóng đổ thầy, thầy đổ bóng, Tây quây ông mòng mòng như con vụ, ra quốc hội thì ông bị lão tổ Béziat nạt nộ hăm he, ông day qua đặc sứ d’Argenlieu thì ông nẩy đi vắng, ông quơ qua chánh văn phòng Tây thì bị đóng cửa mắc bận nhóm cơ mật, chính tên quèn Beauvais, Tây đặt gần ông để dòm hành, nó cũng lên mặt khinh thường, trở qua trở lại, không chỗ tiếp xúc, ngoài ra dư luận báo chí não nề chê dè, – tôi tức tối cho ông tại sao lúc như vậy ông không quăng áo thủ hiến và thôi phắt không thèm đồng vai trò hề bị bêu riếu ấy, quăng tất cả vào mặt từ lão nhà tu bỏ áo đạo khoác áo nhà banh là lão đặc sứ d’Argenlieu, đã ban cho ông chức thủ hiến hư vị, lương bổng chưa thấy đồng nào mà quyền hành vẫn là bánh vế, và cũng thừa dịp quẳng phắt vào mặt tên tay tổ Béziat, nó dụ ông lọt vào vòng rồi nó nhai ông như mèo nhai chuột, ông bỏ phắt hết coi chúng làm gì được ông, và ông lựa hay bị chi cái chết oan khúc, tôi dám trách ông vì thiếu bạn tâm giao khuyến nhủ lời hay, hoặc vị bực trí không suy nghĩ cho thấu đáo, ông quá thực thà và hành động như trẻ con, cái chết lẩy ấy chết chi uổng thân và sao bằng cái trí bỏ quan lui về với thú tế nhơn độ thế của ông, ông là một tay thầy thuốc lành tài, mà ông cũng là một hiền nhơn quân tử, bởi quá chơn chất nên bị nhóm Tây thực dân nó gạt, ngày nay ai muốn nói gì thì nói và ai muốn hiểu cách nào về ông, cũng mặc, tôi luôn luôn vẫn nhớ ông cư xử rất tốt đối với tôi buổi tôi mới bước chưn vào đời, và luôn luôn tôi vẫn kính trọng ông, ai có nói ông là Việt gian, chớ tôi vẫn không cho ông là như vậy.
Có hai người rất lão luyện và biết rất rành về cái chết của ông là ông Nam Đình, chủ báo Thần Chung, đã viết quyển Hồi ký chuyện 1945 – 1946, và ông Trần Tấn Quốc, đã để lại tập nhỏ mà phong phú “Sài Gòn Septembre 45”, hai tập nầy có lê Thư viện công cộng tại đây còn giữ; ngoài ra mấy trang của tôi viết đây là loại mạn đàm để giúp vui buổi trà dư, tôi tưởng nhớ bác sĩ Thinh nên viết để chơi và không có tánh cách nghiên cứu.
(viết ngày 29-11-1990)
Một người biết nhiều về ông Thinh là ông Hồ Biểu Chánh thì cũng không còn để hỏi về cái chết đáng nghi này.
- Rồi có câu này của đốc phủ Trần Văn Tấn cười tụi tôi chưa đậu khóa 2 huyện: “Lầu cao leo mới một từng, ông huyện nừa chừng, ăn nói dễ thương! *
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.