Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

Chương 18

1 tháng giêng 1945. Năm mới! Năm của chiến thắng! Xướng ngôn viên của đài B.B.C đã kêu lên như thế, và chúng tôi sung sướng được thấy nó. Ngày đầu tháng giêng nào cùng nói mãi điều đó, đến lúc phải chấm dứt để khỏi mang tiếng lừa phỉnh. Trong khi chờ đợi, định mệnh đã lựa chọn ngay hôm ấy để phân phát cho hơn 30 tù nhân những đòn đánh đập bằng gậy gộc. Lý do: một sai lầm trong danh sách làm cho tên Trung úy SS trong văn nhòng nhân sự nổi sùng. Lại một biến cố rất tầm thường, nếu André và tôi không ở trong số nạn nhân. May thay, trong cơn xui, chúng tôi chỉ bị có 10 gậy, tuy nhiên. Trời đất, đau không chịu nổi! Và tên đê tiện đánh chúng tôi, một tên Kapo Đức thay Paul bị bịnh, không quên nhắm thật kỹ. Chính tên Trung úy đứng nhìn, và một chút tận tụy quá đáng là đủ tạo thành một sự tạ ơn tối thiểu để đòn trừng phạt được xá miễn. Và vì tình cờ, tin rằng sau 20 hay 30 nạn nhân, tên Trung úy sẽ mệt quang cảnh đánh đập đều đều đáng chán, André và tôi được sắp đứng cuối hàng.

A! Chúng tôi đã hối tiếc vì chuyện ấy! Khi người thứ 40 bị đòn xong, y đứng trước bọn chúng tôi và nói với một vẻ chế nhạo:

– Ấy! Các anh chắc bị nhiễm lạnh mất rồi, – nói xong y quay sang một tên bộ hạ: – Feldwebel, bắt chúng làm một vài động tác thể thao.

Đúng là trời lạnh quá, tuy nhiên thà đứng trong không khí giá lạnh 15 phút còn hơn là phải chạy kiểu vịt, trong một khắc đồng hồ. Một giây đồng hồ dừng lại để thở là một cây gậy giáng trên đầu yếu đuối như chúng tôi, trò thể thao ấy quá kinh hồn, và gần như là với tâm trạng thư thái chúng tôi chạy vế phía gia hình, khi đến lượt chúng tôi lãnh đòn. Nhưng chúng tôi đã chạy đến để la hoặc rú lên tùy theo cách của mỗi người. Trong khi tên thô bạo đánh đập, một tên khác giữ không cho chúng tôi cục cựa. Tất cả những ai đã trải qua loại thể thao nầy đều nhớ đời đời. Rudolph cũng bị lôi vào cuộc. Mặc dù đau đớn, chúng tôi không ngăn khỏi tức cười khi thấy ông ta đi kiểu vịt, xiêu bên nọ vẹo bên kia. Ở tuổi 55, người ta chịu dựng một cách khó khăn hơn, các thử thách tương tự, và đối với một cựu sĩ quan hình phạt đó làm đau đớn gấp đôi.

Khi trở về khối sau buổi lễ kỳ lạ đó, đột ngột André hỏi tôi:

– Ngày 1 tháng giêng 1944 anh ở đâu?

– Tại Montluc, bị giam trong phòng tối.

– Tôi cũng vậy, ở Nancy, nhưng chắc chắn anh không giả định rằng phải ở đó đến năm sau chở?

– Không, tôi giả định đủ thứ, nhưng không phải điều đó.

Và chúng tôi buồn rầu làm bằng kết toán các chuyện thăng trầm trong năm qua, thời gian kiểm dịch bốn mươi ngày của anh cũng trải qua trong cùng một thời kỳ, tại một khối khác, những cùng chung các lo âu, cùng hy vọng, cùng tất cả ảo vọng, và tất cả những cái chết. Những cuộc điểm danh dưới trời mưa, bị đánh thức vào lúc ba giờ mỗi sáng, bùn lầy, ẩm thấp, những ngày lao tác dài dằng dặc, những lúc chờ đợi trên sân ga, nhưng làm sao chúng tôi đã có thể chịu đựng nổi tất cả những thứ đó? Quả thật chúng tôi là những kẻ còn sống sót. Trong các khối, chúng tôi tự kiếm nhau, giữa người Pháp. Chỉ có những người có việc làm tốt mới còn lại, và không phải là tất cả đâu, vì người ta tiếp tục chết. Ngay khi tân niên vừa đến, Barot phải đi bệnh xá. Một chứng bịnh mới lại xuất hiện làm như là thần chết chưa được đại diện đủ: bịnh phù thủng. Thay vì trở thành một bộ xương trong vài ngày, bệnh nhân lại sưng phù lên một cách đáng kể cũng trong thời gian ấy. Thường thường bệnh bắt đầu từ chân, nhưng bao giờ cũng lan lên mặt làm thay hình đổi dạng hoàn toàn đến nỗi không còn nhận ra bạn bè nữa. Như vậy, cơ thể thoát khỏi biến chứng của bệnh phổi hay bịnh kiết lỵ, phải nhường bước thê thảm trước tình trạng thiếu ăn bằng cách nầy hay cách khác. Người bạn làm ở văn phòng để đương của chúng tôi chống cự được một tuần. Thật kỳ lạ, tất cả những ai quen biết anh ta đều thương tiếc anh một cách đặc biệt. Tuy nhiên, chính anh đã nói, anh chẳng tham gia kháng chiến, cũng không buôn bán chợ đen, các lãnh vực đó hoàn toàn xa lạ đối với anh. Nhưng anh tỏ ra rất tận tụy với tất cả mọi ngụrời, một cách tự nhiên, không làm dáng làm vẻ gì cả, và thật hiếm có những người thuần lương như vậy.

Trong khối chúng tôi có khá đông người Bỉ phần lớn là người gốc vùng Flandre, họ sống thành nhóm cách biệt không phải vì căm hờn gì ai mà vì thổ ngữ của họ và các tập quán của họ khá khác biệt với chúng tôi. Những mất mát của họ không làm chúng tôi xúc động hơn các bạn bè trong cùng biệt đội, nhưng khi Roger, người nghệ sĩ điêu khắc gia ngã bịnh, chúng tôi kinh hoàng thật sự. Ngã bịnh vào thời đó có nghĩa là chỉ có một phần trăm may mắn trở lại gặp bạn bè, và Roger là bạn của tất cả mọi người. Ngay đêm đầu nhuốm bộnh, anh sốt đến 40 độ. Việc chẩn bệnh không khó, anh tự làm lấy; sưng phổi cấp tính. Chính Rudolph đưa anh đi bệnh xá để xin săn sóc anh với phương tiện tối đa. Tuy nhiên trước khi rời chúng tôi, anh đã nói gở và làm cho chúng tôi vô cùng lo ngai cho số phận của mình.

– Tôi không còn nghi ngờ gì nữa, – anh nói với tôi, – ông tôi và cha tôi đều chết vì bị sưng phổi, và không phải tại đây tôi thoát khỏi được số phận đó.

Trong ba ngày liền, chúng tôi sống trong âu lo, chỉ nghĩ và nói đến Roger. Rudolph, đêm nào cũng đến thăm anh, trở về và đổ sụp người xuống vào đêm thứ tư: Chết! Roger chết rồi! Con “Người” duy nhất của toàn trại, cùng với khoảng mười người khác, anh là người còn xứng đáng được gọi bằng danh nghĩa ấy. Anh đã vượt xa tất cả chúng tôi với đức tính của một “gentleman” thật sự và, đêm 11 tháng giêng, đêm đầu tiên sau cái chết của anh, chúng tôi mới thật sự cảm thấy sự trống vắng vì thiếu anh, trong nhóm, không ai thốt một lời suốt hai giờ chờ đợi trên sân ga. Im lặng là lối tán dương chân thành nhất đối với con người cao cả và thành thật đó.

Ngày 13 tháng giêng, như một cơn gió Đông Nam từ Địa Trung Hải thổi đến các ốc đảo trên sa mạc, tin về cuộc tấn công mới của quân Nga lan tràn giữa các biệt đội lao tác đây đó. Đã đến lúc rồi!

Chính tờ báo cũng loan tin quân Nga đã tiến hơn một trăm năm mươi cây số trong năm ngày: không thể có sự sai lầm nữa và không khí trở nên giống với mùa hè năm 1944 lúc có cuộc tiến quân trên đất Pháp.. Mỗi buổi sáng lúc tập họp, chúng tôi tiên đoán những tin tức trong ngày và chúng tôi hấp tấp đến công trường để trông vẻ mặt của các nhân viên dân sự. Khi Breslau bị bao vây, tôi có dịp gặp Gustave mới trở lại sau mười lăm ngày vắng mặt. Anh ta nói với tôi đủ chuyện ngoại trừ tình hình mặt trận, tôi cũng giữ ý với anh ta, không đụng đến một chữ nào liên quan đến các vấn đề ấy. Sự thành thật không cho phép đến sát sự chế nhạo, và tôi không thể làm cho sự phẫn nộ nổ bùng. Tất cả bọn nhân viên dân sự đều có vẻ ngu muội. Sau khi bị nhồi nhét vào óc những luận điệu tuyên truyền, liệu có thể nào tin được là quân Nga – mà Goebbels đã nhiều lần tuyên bố sẽ bị tiêu diệt và thất bại – lại có mặt tại sông Oder, trước Stetlin, trong khi chỉ mới ba tuần trước đây họ còn ở Ba Lan đằng sau sông Vistule! Chúng tôi thì không thể trông thấy hai mươi ngày đầu của cuộc tấn công diễn ra như thế nào. Mặc dù bị lạnh và đói, cứ mỗi thành phố được chiếm, và có nhiều thành phố như thế trong mỗi ngày, là một mũi thuốc “moọc phin” giúp chúng tôi chịu đựng. Pavel đã trốn thoát ngay từ đầu cuộc tấn công, “khi quân đội tôi tấn công, tôi sẽ đi gặp họ”, anh ta đã nói với tôi. Trong nhiều ngày liền, tôi rình nghe tin về số phận của anh, nhưng anh đã không bị bắt lại. Alex đã cho tôi biết là công cuộc tìm kiếm đã bị hủy bỏ. Chắc chắn là anh ta đã thành công vì bọn SS luôn luôn sung sướng khi được cơ hội trưng bày với chúng tôi một người bạn bất hạnh.

Vụ trốn thoát của Pavel đối với chúng là một dấu hiệu của thời gian thuận lợi. Mùa thu và ngày đầu năm đã nghiền nát tất cả sức mạnh tinh thần của chúng tôi và trước bao nhiêu cái chết, chúng tôi tin rằng số phận đã được an bài, tuy nhiên, như một bình minh chói lọi sau một đêm dài, cuộc tấn công chung cuộc của quân Nga lại cho chúng tôi niềm phấn khởi và một tinh thần ham sống giúp chịu đựng cho đến khi chỉ còn thoi thóp mới thôi.

Thần chết lại tiếp tục hoành hành. Cái chết chỉ lùi một chút để tăng gia nhảy vọt, và một lợi khí mới lại đến tiếp tay đưa đi những nạn nhân đã chống cự được mọi thử thách: Lò bánh mì cung cấp cho chúng tôi bị phá hủy vào giữa tháng hai, và như vậy là thức ăn duy nhất giúp chúng tôi khỏi gục ngã đã bị hủy bỏ. Từ nhiều tháng qua súp ăn chỉ còn là nước củ cải, và nay nó là thức ăn duy nhất của chúng tôi. Một lít lúc bốn giờ sáng để thay cho bánh mì, và một lít thường lệ vào buổi tối. Một thời gian trung bình mười bảy giờ đồng hồ, không ăn giữa hai lần lãnh súp. Thật thê thảm vì đây là nạn đói theo đúng nghĩa của danh từ. Nửa giờ sau khi ăn, không ai cảm thấy còn chút súp nào trong người nữa. Đó chẵng qua là một cuộc rửa ruột làm cho chúng tôi bị bắt buộc phải đi tiểu nhiều hơn thường lệ. Tại công trường, trong giờ nghỉ buổi trưa, từng nhóm người như những đàn chó đói chung quanh làng, mò mẫm tới gần nhà ăn của nhân viên dân sự, bị lôi cuốn bởi mùi thơm của đồ ăn nấu trong bếp. Rau vụn trong thùng rác, lõi bắp cải, vỏ khoai tây là đối tượng của các cuộc đối chiến. Những người lượm được sau khi rửa, bỏ tất cả vào một cái lon và nấu thành súp trên đống lửa đốt bằng củi, chỉ có nước và vỏ rau trái, không muối, không chất béo, nhưng khi họ ăn, người ta có cảm tưởng họ đang ăn ngỗng quay. Nhân số của công trường từ một ngàn năm trăm xuống còn sáu trăm và mỗi tối đoàn người đi về giống như một đoàn đám ma. Chúng tôi có chừng hai mươi người bạn phải mang về, họ ngã gục trong ngày và thật khó phân biệt một vài người với xác chết. Quả thật chẳng mấy chốc họ chết thật và thường thường những người khiêng họ về khiêng luôn một xác xuống bệnh xá, trong lòng tự hỏi là không biết chính mình còn sống được bao ngày nữa. Đến lượt Barberon, người bạn mà không bao giờ chúng tôi đưa được vào cùng một biệt đội nữa, ngã bệnh. Cùng với anh, Marcel, và André. Chúng tôi thuộc vào một lứa tuổi ngang nhau và thường kiếm nhau mỗi tối để cùng nhau chuyện trò. Tất cả chúng tôi đều vượt qua các cơn bệnh kiết lỵ hoặc cúm và Marcel một lần mắc cả bịnh sưng mũi và suýt chết, và mỗi lần thoát khỏi bịnh hoạn một cách vẻ vang, chúng tôi lại được một đảm bảo chắc chắn để vượt qua cơn thử thách. Tuy nhiên biết bao nhiêu thanh niên và bao nhiêu người khỏe mạnh hơn chúng tôi đã bị mang đi như các cọng rơm. Nhưng chúng tôi vẫn còn giữ được vị trí thuận lợi chờ công việc của biệt đội, và ảnh hưởng của chúng tôi trên bạn bè, chúng tôi được xem như một thứ lãnh đạo ý thức, đã tạo ra một thứ không khí tinh thần làm cho chúng tôi trở thành một thứ “bất khuất” Và chính chúng tôi cũng thường tự nhủ “nếu mọi người đều phải đi qua lò thiêu xác cả, ít ra chúng tôi cũng là những người sau cùng. Barberon ngã bệnh trong những ngày đầu tiên không có bánh mì đã làm chúng tôi mất tất cả ảo vọng mà chúng tôi hãy còn có thể có. Với sự phụ lực của André và Marcel, tôi đưa anh đến bệnh xá, nơi đây chúng tôi dự khán một quang cảnh còn khổ nhọc hơn là chúng tôi đã tưởng tượng. May thay cho người có tính trắc ẩn – nhưng hãy còn có loại người đó không? Ánh sáng yếu ớt của những ngọn đèn bão không cho phép chúng tôi thấy tất cả. Ngay khi các đoàn người từ khắp các công trường đi hàng dọc vào cổng trại, các người ngã bịnh và đã chết cũng được đưa về. Những người chết được chất đống ngay bên ngoài, trán được vẽ số, trước hai người chứng để tránh lầm lẫn. Đó là nghi lễ vĩnh biệt duy nhất đối với những kẻ quen biết người quá cố.

Những người đi khám bịnh có thể có cả ngàn cơ hội chết trước khi đến trước bác sĩ. Dãy người chờ đợi nối dài đến hơn 50 thước, các bệnh nhân còn đứng được hay ngã xuống đất đã ôm lấy nhau để bớt lạnh và nhất là để giảm bớt sức mạnh của các luồng gió mang theo tuyết quét đến. Tất cả bệnh nhân đều sốt trên 39 độ nếu không đến mức đó họ không cần phải đi bệnh xá. Chúng tôi đợi suốt hai giờ, hết sức che cho Barberon và đỡ anh hai bên sườn. Trong phòng khám bệnh những người được nhận cho ở lại bệnh xá, nằm la liệt lộn xộn, vì họ phải chờ sáng mai trước khi có thể chiếm các giường trống trong trại dưỡng bệnh. Một y tá đi len lách qua các hàng bệnh nhân, dùng một miếng giẻ ẩm chùi trán họ và viết lên đấy danh số của mỗi người. Năm mươi phần trăm con bệnh tắt hơi ở đấy trong đêm đầu tiên. Ngay từ sáng sớm toán thay thế khiêng xác chết lại bệnh xá, sẽ đến lượm xác tại phòng khám bệnh và họ phải vất vả lắm mới phân biệt được kẻ sống người chết, vì kẻ sống không còn có thể nói được tiếng nào trong cổ họng. May thay, mắt họ còn sáng, nhưng tôi vẫn rùng mình trước ý tưởng rằng có thể có lầm lẫn: một người hấp hối có thể dễ dàng bị mang đến lò thiêu như người đã chết. Một y tá khi nghe tôi phát biểu ý tưởng đó đã trả lời tôi:

– Đã xẩy ra rồi! Ở vào tình trạng của họ chẳng có gì quan trọng.

Barberon là người trầm lắng nhất trong ba chúng tôi, anh ngước đầu lên nhè nhẹ và nói:

– Như vậy ít ra người ta cũng được sưởi ấm một lần chót.

Và khi được người ta viết danh số vào trán, anh nói thêm:

– Các anh thấy chưa! Không bao giờ nên làm chương trình dự án gì cả.

Với anh, không cần không phải biểu lộ tình cảm. Chúng tôi phải khó nhọc lắm mới rời được anh để đi về, bài vì tên y tá phụ trách đánh danh số vào trán bệnh nhân có dáng điệu của một tên đồ tể đóng dấu kiểm nhận cho súc vật trước khi hạ thịt chúng. Tuy nhiên khi ra ngoài chúng tôi được thoải mái làm sao, và có thể hít một hơi không khí trong lành. Quả là chúng tôi vừa rời khỏi địa ngục và chúng tôi nghĩ rằng Dante là một người kể chuyện còn ngây thơ quá.

André trở về khối số ba, Marcel và tôi, số bẩy. Quang cảnh ở khối dù sao cũng ít dễ sợ hơn tại bệnh xá. Nơi đây những kẻ còn sống chiến đấu bằng số năng lực sau cùng, vì giá súp thừa đã tăng gấp đôi kể từ khi không có bánh mì nữa. Những con quỷ bạo dâm đã lợi dụng thời kỳ yếu đuối sau cùng của con người để làm cho thỏa thích thú tánh mà chúng đã không thể thỏa mãn được cho đến bấy giờ.

Và nếu có nhiều người đứng trước một dĩa súp thì các sự đề kháng cuối cùng của một lương tâm mà lúc trước rất trong sáng, hoàn toàn tan biến, thì cũng có nhiều trường hợp, có thể gọi là anh hùng, giúp xóa nhòa bớt các điều nhờm tỡm, Toso, diàng thanh niên ở Grenoble, vẫn bị một tên Kapo kiên nhẫn theo đuổi, đã trả lời khi y đề nghị đánh đổi thức ăn:

– Tôi thích chết đói hơn là nhượng bộ.

Vào đêm thứ tư kể từ hôm không phát bánh mì, nhà bếp bị tấn công về phía kho chứa củ cải. Một cửa sổ đưa vào kho. Khoảng 50 tù nhân lợi dụng đêm tối, và bất cần lệnh cấm di chuyển, đập vỡ cửa sổ và bắt đầu một cuộc cướp phá đúng nguyên tắc. Một cơn gió dữ dội che lấp các tiếng động nhưng tiếng cãi cọ, tiếng la hét đã làm một lính canh trong vọng gác gần đó chú ý. Tên lính bắn về phía phát ra tiếng động và đến hừng đông, những tù nhân đi làm tạp dịch vệ sinh, tìm thấy hai xác chết cứng ngắt và nhiều người bị thương gần như bị đông thành đá. Đêm thứ sáu, bọn phu đám ma đang lột áo quần các xác chết trước bệnh xá chợt bắt gặp một tên Tzigane đang xẻo một miếng “bit tết” nơi bàn tọa xác chết. Tên SS chỉ huy trại được tên Kapo ở bệnh xá báo cáo trường hợp ăn thịt người đầu tiên, liền dắt theo vợ và cả bộ tham mưu dự khán quang cảnh đó. Tôi cũng được báo cho biết để đến xem, và tên Tzigane không tỏ vẻ ngần ngại gì cả trước mệnh lệnh của viên chỉ huy bắt y làm lại một cách công khai những gì y đã làm lén lút, sau khi đua cho y một miếng bánh mì và một chút muối mang theo. Trông thấy miếng bánh mì, dường như khẩu vị của y lại được kích thích, và sau khi xén thêm một miếng nữa nơi đùi xác chết, rắc muối lên trên, y lạo thành một miếng sandwich và ăn ngấu nghiến trong vài phút, Tôi được đứng gần nến trông rõ miếng thịt người có màu đỏ thẫm, và tên chỉ huy trại cười với vợ như có ý nói với bà ta: “Em yêu, anh đã cho em chứng kiến một cảnh hiếm có”. Khuya đêm ấy, tên Tzigan bị hành quyết bởi tù nhân đủ mọi loại quốc tịch.

Tất cả những gì mà Marcel phát họa với bạn bè đã bị sụp đổ đúng vào thời kỳ anh cần đến họ nhiều nhất. Tất cả những người sống sót của chuyến công-voa sau cùng phải ra đi, tren một chuyến tàu gọi là để chở bệnh nhân để đến một trại dưỡng bệnh. Bọn bác sĩ Đức biết những gì mà danh xưng ấy muốn che đậy. Và chúng tôi cũng rất nghi ngờ chuyến đi dưỡng bệnh đó. Tuy nhiên định mạng đã phá hủy dứt khoát cả một âm mưu kim tiền, và bọn ăn cướp còn giữ một biên nhận tiền của họ, nay đã có thể dùng nó làm giấy đi cầu. Tiếc thay, Đại úy Adam, Bureau, ông thầu khoán nhỏ ở Lyon và nhiều người khác cũng phải đi theo chuyến công-voa đến một nơi mà họ sẽ không bao giờ trở về được nữa.

Một đêm, người ta loan báo nhà bếp bán xà lách và củ cải, vẫn không có bánh mì cấp phát cho nên tin nầy lạo ra cả một con đường đổ xô tìm vàng mới. Mỗi nhà buôn thiết lập trong vùng có cho bầy nô lệ chúng tôi mỗi tháng từ một đến bốn Đức kim dưới hình thức một phiếu mua hàng, tuy nhiên nếu tình cờ mà nhà bếp có gì để bán thì chỉ có tối đa 100 khách hàng có thể được thỏa mãn. Nói như vậy để biết hôm đó trận chiến xẩy ra như thế nào.

Đúng lúc vì quá thất vọng tôi sắp trở về khối với tay không, tôi nghe có người gọi tên tôi bằng tiếng Nga. Thật là một phép lạ nếu được người nào nhận ra trong đám đông hỗn loạn và nhất là trong bóng tối, vì chỉ có ánh sáng trong nhà bếp chiếu qua cánh cửa mở hé là soi sáng bên ngoài một chút. Nhưng may mắn đã đến với tôi và một chàng với Vladimir một gào mên hai lít, chứa đầy xà lách, đã nhảy đến choàng cổ tôi. Đã từ bốn tháng nay tôi không được gặp lại người bạn cùng ở khối số 3. Mặc đầu đã có nhiều biến chuyển anh nhưng vẫn khỏe mạnh, ốm hơn, lẽ tất nhiên! Nhưng luôn luôn rắn chắc. Vừa trách tôi không tìm đến chơi thường hơn, anh vừa đưa cho tôi gào-mên rau. Cùng với Marcel đi theo, chúng tôi xấu hổ vì đã ăn ngốn ngấu bằng tay, nhưng ngon làm sao! Mặc dầu đó chỉ là cú cải sống được xắc thành lát và nhúng trong dầu dấm. “Vật chất sáng tạo tinh thần”, lý thuyết nầy không được tất cả mọi người chấp nhận, nhưng với chúng tôi, nó rất đúng, bởi vì sau bữa ăn đạm bạc ấy chúng tôi cảm thấy một tinh thần có thể chịu đựng được nhiều tháng nữa và chúng tôi được ngủ một đêm mà không bị cái đói hành hạ.

André, nhờ các cây đèn mà anh có thể mang về cho tên trưởng khối, đã nhận được gấp đôi phần ăn, Marcel với giấy và viết chì lấy từ văn phòng ở công trường về đã làm một cuộc trao đổi khá tốt đẹp với Frantz, y đang cần các thứ đó. Bébert và Bicot tiếp tay với bọn tù Nga để tấn công các toán khiêng súp. Vì súp được phân phát buổi tối, hành động khá dễ dàng và xứng công. Họ có 20 mạng và mỗi chai súp chứa 50 lít. Họ thành công hai lần trong hai đêm liên tiếp, rồi các nhóm khác bắt chước theo, các chuyến mang súp liền được hộ vệ bởi các nhân viên võ trang bằng gậy. Cứ như vậy, mỗi người tùy theo cơ hội và khả năng, cố gắng tự kiếm ăn.

Các bưu kiện nay chỉ còn là mật kỷ niệm xa xưa và trong các câu chuyện, người ta chỉ còn nói đến ăn uống. Đó là cả một ám ảnh và đã có hơn một người thú nhận rằng mỗi khi nói đến một lát thịt bò đút lò hay một dĩa khoai chiên, khẩu vị lại dâng lên miệng và hình như bao tử được nhét đầy. Tuy nhiên để rồi bị ngất đi sau vài giây. Dầu sao mọi người cũng rung động với ý nghĩ quân Nga chỉ còn cách Bá-linh có 100 cây số và về phía Tây bằng các cuộc oanh tạc gia tang, Đồng Minh đang sửa soạn cho hiệp cuối cùng. Nhưng chúng tôi, một nỗi sợ hãi bao trùm, nỗi sợ hãi thấy lời tiên tri của tên quản trại trở thành sự thật: “các anh rồi sẽ qua đó hết”. Các trại tập trung lớn được nhiều người biết đến, nhưng liệu có mấy ai biết đến vài ngàn người lần khuất trong thị trấn Ellrich nhỏ bé nầy. Cuộn khói từ lò thiêu xác, sẽ không để lại dấu tích nào và chỉ cần một ngày thôi là một đại đội binh sĩ có thể dẹp bỏ trại tập trung này vốn không giống như trại nào khác. Sự yếu đuối cực độ đã làm cho thần kinh chúng tôi căng thẳng, và ngay cả trong biệt đội và trong toán mà chúng tôi kết hợp mỗi chiều trên sân ga, các cuộc gây gổ diễn ra luôn, nhiều khi vì các lý do thật ngu xuẩn. Đã 21 giờ rồi mà tàu hỏa vẫn chưa đến. Một cơn lạnh khô khan – hai mươi độ dưới không độ – bắt buộc chúng tôi từng tiểu đội ôm lấy nhau. Chúng tôi nhét đầy giấy trước ngực và sau lưng, nhưng chúng tôi cảm thấy bị ướp lạnh và mỗi hơi thở cho cảm giác là cơ thể bị khô đi một chút. Nước mũi chảy nhỏ giọt khiến chúng tôi nghĩ rằng từng tế bào óc chảy ra dần dần.

Đến 23 giờ, tàu vẫn chưa đến, may thay trời không mưa. Chúng tôi bị tê cóng toàn diện và không ai còn dẫm chân được nữa. Tôi đói và lạnh, trong khi đó trên trái đất người ta có thể đang ăn và sưởi ấm, thì tại sao tôi lại ở đây? Sợi dây vô hình nào đã lôi kéo tôi đến sân ga này, tôi, một con vi trùng trong háng triệu vi trùng khác. Tôi bắt đầu nói lảm nhảm vì đột nhiên tôi trông thấy một căn phòng sang trọng với một lò sưởi to tướng trong đó một ngọn lửa hồng đang cháy, tôi đang ngồi trong một chiếc ghế bành êm ái trong khi một chị hầu xinh đẹp đang dọn trên bàn một bữa tối thịnh soạn. Và rồi tôi không còn cảm giác gì về chân tay nữa, tôi không còn đói, lạnh, dường như tôi không còn hiện hữu nữa, tôi cảm thấy thư thái và tôi để mặc cho thân xác trôi đi. Mười hai giờ rưỡi khuya, tàu mới đến. Chính bạn bè đã làm tôi tỉnh dậy trên tàu, đã nói với tôi như thế. Thật khổ tâm khi trở lại với thực tế, tuy nhiên dãy trại đối với tôi như cả một lâu đài và dĩa súp nguội như là một chất kem ngon tuyệt. Nhưng khi đồ ăn phân phát xong thì đã gần ba giờ sáng và nửa giờ nữa lại phải thức dậy. Quân Nga còn cách Bá-linh 80 cây số. “tuy nhiên các đường hầm sẽ trở thành các cơ xưởng sản xuất bộ phận rời để đưa đến các xưởng ráp máy bay dùng để oanh tạc chính số quân Nga đó, vẫn được đào tiếp tục”. Và đến bốn giờ, chúng tôi lại ở ngoài sân đứng thành nhóm 100 người. Vì có báo động, đèn pha tắt hết nhưng trời cũng đủ sáng để đếm chúng tôi. Vẫn luôn luôn là đêm tối phân minh, đẹp đẽ ấy chứng kiến sự di chuyển của những bóng người mộng du thường lệ. Rất nhiều người vắng mặt trong buổi điểm danh. Trong vài giờ nữa lại có các ứng viên mới được ghi tên tại văn phòng khai tử. Tôi cũng có thể ở lại trại vì tôi không còn dáng gì sau khi bị ngất hồi đêm qua. Tuy nhiên chỉ cần nghĩ đến con số được ghi trên trán là thần kinh ở chân tôi hoạt động ngay. Để làm cho nỗi bất hạnh của chúng tôi thêm đậm đà”, con tàu sáng ấy lại không đến. Sau khi chờ đợi bốn giờ dài bất tận trong sân, tên chỉ huy trại quyết định chúng tôi phải đi hộ. Đó là cả một biến cố bởi vì chưa bao giờ chuyện ấy lại xảy ra vào buổi sớm mai. Chúng tôi đã mất ba giờ để đi 6 cây số. Lúc khởi hành có vẻ bình thường nhưng sau cây, số đầu tiên, những người yếu đuối nhất rơi rụng phải đỡ hoặc khiêng họ. Ngừng lại là điều bị cấm và chờ đợi lòng thương hại là chuyện vô ích; báng súng được xử dụng để duy trì trật tự. Không biết lúc đó chúng tôi giống cái gì? Các xác chết được khai quật lên, không hơn không kém. Marcel và André phải dìu tôi từ cây số thứ ba và tôi sống trong một nỗi thống khổ vô biên, họ cũng không hơn gì. Chúng tôi đi ở khoảng giữa đoàn người xếp thành hàng năm, và sự kiện có người đi sau mình đã lôi kéo thúc đẩy mình đôi chút. Nhưng kẻ đi sau cùng luôn luôn bị chó cắn chân và bọn lính canh dắt chó kích thích chúng lấy làm trò vui. Con đường đi bộ đã đưa chúng tôi qua một ngôi làng khá lớn hình như bị bỏ trống. Tuy nhiên có lé nay không phải là mùa gặt hái hoặc là dân cư trong làng đã nhận được lệnh không được ra khỏi nhà. Vì quan sát các cửa sổ, người ta có thể trông thấy những cái đầu nhìn lén lút bằng cách kéo bức màn cửa sang một bên. Có lẽ chưa bao giờ tôi nghĩ nhiều đến một không khí trong nhà êm dịu và một bữa ăn sáng thịnh soạn như thế. Và những người kia, chỉ cách chúng tôi vài thước đã có được tất cả những cái đó. Khi đến công trường, chừng 30 người không thể nào đến được chỗ làm việc. Họ nằm dài trên mặt đất thành một nhóm chờ đợi cho đến lúc tập họp vào xế chiều. Những người khác làm việc như thế nào? Xẻng và cuốc như thường lệ, có lẽ với một nhịp chậm hơn, tuy nhiên nếu hôm đó tôi cũng bị bắt buộc phải làm việc, nay tôi đã không có thể viết những dòng nầy và tôi sẽ đến cùng với hàng đống người hấp hối bắt đầu thêm đông ngay từ lúc sáng sớm. May mắn hơn nữa, André mang đến mấy củ khoai, nhờ gặp hên, anh đã thấy chúng trong một gian phòng mà anh phải thực hiện một vụ sửa chữa, có lẽ chính nhờ ba củ khoai ấy mà tôi được cứu sống và cả André nữa. Chiều hôm đó, chỉ riêng người bệnh và người chết cũng chiếm hết một toa tàu và chỉ còn lại năm toa dành cho chúng tôi. Lúc về đến trại, chúng tôi trông giống như một liêu đoàn tiểu đoàn thảm bại từ tiền tuyến trở về với tổn thất lớn lao.

Chúng tôi không được phân phát bánh mì trong vòng mười ngày, con số người chết trung bình đạt tới 125 mỗi ngày và mẩu bánh mì 150 gam mà chúng tôi nhận được sau thời gian nhịn đói dài dằng dặc đó có thể nói ngon hơn bất cứ loại bánh ngọt nào. Nhưng đã trễ quá rồi. Không phải chỉ một mẩu bánh mì là có thể cứu sống tất cả chúng tôi. Sáng hôm sau, trong khoảng thời gian giữa cuộc tập họp và, lúc khởi hành trong mỗi nhóm 100 người có hàng chục người ngã gục vì đói lả. Họ phải chờ cho đến khi chúng tôi đi khỏi mới được đưa xuống bệnh xá. Tất cả những gì chúng tôi làm được là kéo họ ra khỏi đám bùn lầy phủ khắp sân để đặt họ nằm dài trên các khoảng có lót đá và ít ẩm ướt hơn. Riêng đối với những người ngã gục khi đi và trước khi ra khỏi cổng chính, bạn bè đành phải bước ngang qua người hơn là tỏ thái độ muốn giúp đỡ vì cả hàng người đang đi không thể dừng lại được. Với nhịp độ nầy, các công trường sẽ phải đóng cửa vì thiếu nhân công. Tuy nhiên đã có thêm lực lượng tăng cường được đưa đến. Đó là những tù nhân được đưa từ một trại tập trung gần Stettin đến, họ gồm 5000 người đến vào giữa tháng 3. Họ có vẻ mập hơn chúng tôi, nhưng đã được nghe tiếng đại bác của Nga sô và điều nầy đã mang lại cho họ chút can đảm, bù đắp phần nào cho sự thiếu thốn thực phẩm mà họ là nạn nhân, trong suốt bốn ngày bốn đêm của cuộc hành trình. Họ gồm tất cả mọi loại quốc tịch, và vì lẽ họ được phân phối cho tất cả các biệt đội lao tác, nhiều người Pháp đã đến ở với chúng tôi.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment