This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Câu chuyện của Nissim Aloni, Gilberte Sollacaro do Nghiêm Sỹ Tuấn phỏng dịch mà ông gọi là kể lại. Thật ra ông cũng gới gắm không ít tâm tư vào câu chuyện trên để tặng lại các em ruột ông. Trong truyện gồm có:
Một thi sĩ, tượng trưng cho một chính trị gia hoặc một sử gia hay một lãnh tụ.
Một người lính tượng trưng cho vị đại tướng.
Một bác nông phu.
Thi sĩ và người lính dùng lý luận và áp lực bất bác nông phu cùng họ đi tìm vùng đất mới.
Trong khi bác không muốn vậy, chỉ thích quanh quần ở nhà với vợ con vườn tược. Nhưng cuối cùng bác phải lên đường, biết bao là lời nói ngon ngọt được nói ra để khích động bác. Nhưng con bò sữa, trứng gà vịt ở nhà hấp dẫn bác hơn. Khi qua một con sông, có quái vật trấn áp. Nó yêu sách chỉ cho 2 người qua còn một người để nó ăn thịt. Thi sĩ, người lính lại dùng lời lẽ biện minh cho sự cần thiết về sinh mạng của mình. Bác nông phu bị hy sinh. Qua sông, quái vật báo cho biết là họ sẽ bị ăn thịt cả hai nếu họ quay lại. Thế là thi sĩ và người lính vì sinh mạng của riêng mình mà đã phiêu lưu vô định với sự ích ký và hèn hạ của họ. Phải chăng vì không muốn đóng vai một thi sĩ hoặc một người lính mà ông đã tử nạn ở Khe Sanh?
Thi sĩ và người lính đến gặp bác nông phu nói:
Chúng ta thiếu đất. Bác nông phu nhìn hai người, trong mắt họ đầy những tham vọng bác chưa từng cảm thấy bao giờ. Họ đến đây chắc sẽ kéo theo viễn cảnh của rất nhiều thứ hỗn loạn, ưu sầu và khổ cực. Tim bác se lại, trán bác nặng buồn. Hiện giờ bác có đủ công ăn việc làm hằng ngày, không còn thì giờ mơ tưởng đến những ước muốn cao xa của hai người mới đến. Dù hoàn cảnh không mấy dễ chịu, bác cũng chẳng tha thiết gì những thứ ấy bằng ruộng đất, nhà cửa, vợ con. Thế đủ cho bác lắm rồi.
Bác nói:
Xin các ông để yên cho tôi cày ruộng; tôi còn nhiều việc phải
làm. Mỗi khi nhìn chân trời, từ lúc rạng đông đến buổi hoàng hôn, tôi đều thấy đất nhiều bao la rộng rãi. Ổ đây không ai than phiền thiếu đất cả.
Thi sĩ nói:
Tâm hồn ông bạn thật là một tâm hồn nô lệ. Ông bạn không thấy núi non vây quanh cản bước chúng ta và làm ta khó thở đó sao? Lòng ông bạn chưa từng muốn biết còn có những gì khuất sau rặng núi, bên kia biên giới, sát với chân trời xa xôi ư?
Bác nông phu trả lời:
Không, ở dây tôi dễ thở lắm.
Người lính nói:
Ông bạn thật thiển cận, đáng buồn thay. Nay nhờ trời chúng tôi đã bỏ ngày giờ suy nghĩ, nghiên cứu và tìm hiểu về các đường lối trên mặt đất, tất nhiên chúng tôi phải nhìn xa thấy rộng hơn ông bạn nhiều. Nếu không thì chính ông bạn, vợ con ông bạn, súc vật ruộng nương của cải ông bạn sẽ ra sao? Tôi chỉ còn biết nói cho ông bạn hay rằng, nếu chúng ta không đi tới vùng đất bên kia sông, đời chúng ta thật không chỗ sống. Bởi kẻ thù chúng ta luôn rình rập ta, luôn luôn sẵn sàng mưu sâu kế độc chực hại ta. Ai cũng bo bo như ông bạn cả thì chúng nó mừng lắm đấy. Bây giờ không phải lúc đứng trong xó ruộng để cày cuốc đâu. Ông bạn nên theo chúng tôi đi, bằng không chúng tôi phải ép ông bạn vậy.
Bác nông phu gục đầu trước ngực, buông rơi cày cuốc, rồi mệt mỏi và buồn rầu vô hạn, bác trở về nhà. Qua song cửa sổ, hai mắt đẫm lệ, bác lặng lẽ ngắm ruộng nương bỏ dở cày bừa, mùa màng hoa quả gặt hái chưa xong. Bác lại tự sự cho vợ hay, dịu dàng vỗ về an ủi, hứa sẽ trở về ngay khi thi sĩ và người lính đã toại nguyện. Thiếu phụ thấy chồng ra đi, thấy mình cô đơn trong những đêm trường lạnh lẽo, mà lệ trên má rơi dài. Từ nay, ngoài việc trong nhà, còn thêm bao nhiêu cực nhọc đồng áng. Bác nông phu tìm gọi bầy con nhỏ, ôm chặt chúng vào lòng, hôn chúng thật sâu và cũng hứa với chúng là sẽ trở về.
Ba người đi thẳng nhắm hướng con sông. Họ gặp một lũ trẻ, vừa tan lớp học, đang chạy nhảy nô đùa. Đứa nào cũng xinh xắn khỏc mạnh, tóc tơ, mắt ngời. Ba người dừng lại nhìn ngắm hồi lâu. Thi sĩ mắt tỏa cảm hứng nhiệt nồng, vung tay nhảy múa như đang đứng trên vừng than đỏ.
Chàng hát: Đây, mầm non của chúng ta. Tóc mướt làm sao! Má hồng biết mấy! Thân thể thật hùng mạnh như rừng núi hoang sơ. Kỳ diệu thay, vừa như sư tử lại vừa giống chiên non. Lúc này là bổ câu khả ái dịu dàng, phút sau đã thành beo tơ déo dai, hung dữ đáng gồm. Mắt ngây thơ non dại mà kiêu hãnh cao kỳ. Ôi vẽ đẹp các em, tràn đầy sức mạnh, sắt son ý chí! Các em đi trong ánh bình minh, lớn lên thành những hiệp sĩ kiêu hùng cương trực. Các em là nguồn vui sống đời ta.
Người lính cũng nói: Các em sẽ thành những quân nhân dũng mãnh cho quê hương. Chàng thầm đếm số lũ trẻ nhẩm tính xem được bao nhiêu đơn vị, giao cho chúng bao nhiêu vũ khí, sức di chuyển bao nhiêu quãng đường khi chúng trang bị hoàn toàn. Và xem đứa nào sẽ nên sĩ quan ưu tú, nên chiến sĩ can trường.
Bác nông phu một mình im lặng. Nhìn bọn trẻ nô đùa, lòng bác rầu rĩ. Chúng gợi hình ảnh mấy đứa con bác ở nhà, một ngày kia sẽ khôn lớn và cũng sẽ ra đi như bác. Bởi bác dự đoán rằng đất này rồi chẳng bao giờ đủ cho thi sĩ và người lính, không ngưng đòi hỏi những khoảng rộng lớn hơn với những chân trời mới mẻ. Trong khoảnh khắc, bác có ý muốn khuyên lũ trẻ vô tư nhiều sung sướng và sức sống này, đi tới nơi nào không ai biết mà tìm đến bắt qua phía kia sông. Song bác vẫn chẳng nói nửa lời. Ba người tiếp tục đi. Con sông hãy còn xa lắc. Trước mặt họ sừng sững một hàng cổ thụ.
Thi sĩ: Các bạn nhìn xem cây cao hùng vĩ, cành lá lòa xòa vươn tận mây. Thật là đẹp và duyên dáng không gì sánh nồi. Đứng cùng cây cỏ, lòng tôi thanh thản và cả trăm ngàn lần, mỗi khi thông cảm mối hòa hợp hoàn toàn giữa thảo mộc và đất mầu, một cảm giác thánh thần trn ngập hồn tôi, các bạn nhìn xem, chim chóc tin cẩn làm tổ trên cành, vững vàng chắc chắn. Ước gì tôi hóa thành cây thẳng, vút chọc trời xanh, để gió dịu vuốt ve, sưởi ấm rễ trong lòng đất, quấn quít lá hoa với chim ríu rít bốn phương.
Đến lượt người lính nói: Đúng, quả một cây đẹp khác thường, Và nghĩ thầm: ta sẽ ghi vị trí nó vào bản đồ. Một mai qua đây hành quân, cây này chắc cả trăm phần hữu dụng. Ta có thể nhờ bóng nghỉ quân, nhờ lá xanh che giấu quan sát của địch. Thân cây là chỗ để vũ khí, cành cây làm cọc lều. Giả sử quân dịch kéo tới, cây này có thể chặt ra xây đồn dựng lũy.
Bác nông phu không nói lời nào, an phận tưởng nhớ cây cối của mình, cản gió mạnh trước nhà và đem tươi mát lại trong giờ nghỉ mệt. Bỗng bác tự hỏi không biết vợ con bác công việc nhà đất xoay sở ra sao, trước mùa mưa biết có gieo xong mạ?
Cứ thế ba người tiếp tục đi, dọc theo hết đường lớn lại đến đường mòn, trèo non vượt lũng, mãi chẳng thấy bóng dòng sông. Bàn chân phồng nước, túi lương cạn dần, mà vẫn không sờn gì đến hăng hái của thi sĩ và người lính. Chỉ bác nông phu không thôi hy vọng họ thay ý kiến, quay trở về nhà.
Bữa nọ, ba người dừng bước trước một quả đồi trọc, đá cát gồ ghể và lớm chởm góc khô. Người lính chợt bắt cơn xúc cảm, nắm tay thi sĩ kêu lên: Mở mất nhìn kìa bạn thơ, nhìn cho kỹ. Tôi e lời tôi nói đối với lời thơ của bạn sẽ là những câu lộn xộn mơ hồ, vì lòng tôi lúc này xiết bao rung động. Bạn thử tưởng tượng nơi đây một bãi chiến trường. Tôi thấy hàng hàng lớp lớp chiến sĩ xung phong, tôi nghe trăm ngàn đại bác gầm réo, với từng đoàn chim sắt vấy vùng trong không, oanh tạc kẻ thù. Nếu tôi chi huy trận này, tôi sẽ gửi một cánh cảm từ đến chân đồi. Kinh nghiệm chiến trường cho biết phân nửa sẽ gục ngã dưới đạn thù, tôi phải giữ một cánh quân trừ bị, tiếp theo ngay làm đợt xung kích thứ nhì. Mặt khác một cánh quân thứ ba sẽ rót hỏa lực thật hùng hậu liên mien vào hông địch, cho chúng biết mùi lửa địa ngục trần gian. Tôi chắc chắn chẳng cần đến đợt xung kích thứ ba, song tôi cũng để một cánh quân thứ tư cách đấy không xa để phòng yểm trợ. Chiến thắng như thế phải về ta.
Và thi sĩ tưởng tượng bừng bừng, mắt tỉa như điện, má đỏ rực, giọng say mê: chiến hữu ơi bạn sẽ ngạc nhiên thấy tôi dự tài vẽ trước biến chuyển tương lai bằng những thi ảnh hùng tráng. Kìa những chiến sĩ của ta khinh thường nguy hiểm, liều thân cho chính nghĩa, lăn mình như gió lốc trong khói lửa chiến trường, mang theo trong tâm can tình yêu tổ quốc với lòng chấp nhận hy sinh. Tôi sẽ viết một thiên hùng ca vĩ đại. Ngoài tôi ra, ai đáng được chỉ định cầm bút hát lời ngợi ca can đảm hào hùng của những trai trẻ anh-dũng, một khi chiến tranh kết liễu, chiến thắng nở hoa? Dù có lục tìm trong khắp thi ca thế giới, hậu thế sẽ thất vọng khi thấy không thơ nào sánh nổi toàn bộ thi phẩm của tôi, dẫu phần trong muôn một.
Bác nông phu nghe cả hai người nói, không lộ vẻ mảy may hăng hái hoặc vui mừng. Trong thâm tâm, bác chỉ băn khoăn về nỗi vợ bác yếu ớt như sên làm sao vắt sữa bò, làm sao lượm trứng gà vịt đẻ rơi. Và bác mường tượng khi trở về, nếu bác về được, người bạn đời yêu dấu đã già nua, mệt mỏi, mất hết nhiệt tình.
Ba người cứ đi như thế cho đến dòng sông. Trên bở sông nằm chắn ngang một con quái vật khổng lồ, cực kỳ xấu xí. Màu tím đọng từng vệt dài trên da vẩy sần sùi, khô đen thành lớp cứng hai bên môi mép. Hằng ngàn đầu quái dị quay cuồng uốn éo trên mình, mỗi đầu một giống khác nhau. Thoạt trông chúng thấy có về xinh xéo ưa nhìn, ngắm kỹ mới hay chúng đều tàn tạ cả. Bởi mắt chúng chói sáng toàn oán ghét, hận thù, ngu đần, phù phiếm; chữ tình yêu, tận tụy, khiết tinh, chỉ là những tia thoáng phút giây. Hàng chục ngàn tay thép bủa ra bốn phía, nhằm bắt và xiên nướng những người dám đến gần, dữ dội còn hơn mặt trời lừa mùa hạ. Và những tay ham hố ấy chẳng khi nào thỏa mãn hài lòng.
Ba người dừng lại, hết lối bước thêm.
Thi sĩ nói: Quái vật ơi, mi cho chúng ta qua sông nhé!
Nó trả lời: Ta cho phép các người qua sông, với điều kiện các người phải tuân theo đời hỏi của ta.
Người lính nói: Mi đòi hỏi gì chứ?
Chỉ bác nông phu là không bàn cãi gì. Sợ hãi thất thần, bác muốn khuyên thi sĩ và người lính quay về: quái vật kia vốn chuyên lẻo mép và lòng nham hiểm khôn lường. Nhưng nhiệt thành của hai người không suy giảm, và bác biết họ sẵn sàng hứng chịu điều kiện của con quái vật dữ dằn. Rồi sau cùng sợ hãi lướt thắng ngại ngùng,
Bác la lên: Trở về đi! Trở về đi! Nó dối gạt chúng ta đấy. Đừng để bị những lời đường mật phỉnh phờ. Trở về đi!
Thi sĩ và người lính không thèm để ý đến những kêu gào ấy.
Họ lại gần bảo con quái: Mi muốn gì, chúng ta sẽ cho.
Nó trả lời: Đã lâu lắm, không một ai dám đi qua đường ta. Những đứa may mắn thoát khỏi tay ta toàn thị phường nói xấu và gico nhục nhã cho ta, khiến ai nấy đều sợ hãi. Nay ta nhận cho các người đi qua, các ngươi sẽ quên mau chóng. Còn ta, ta đói, đói lắm. Từ bao năm tháng nay, ta chưa được nhai một thằng người nào ra hồn. Vậy ta chỉ cho hai trong cac người qua sông thôi, còn một phải ở lại làm đồ nhắm cho ta.
Ba người khiếp đảm, van xin nó tha cho cái thuế quá nặng nề và bất công ấy. Bác nông phu hãi hùng hơn hết, nên van xin càng thê thiết não nùng. Thế là cả ba đứng bên trên bở sông, cùng khóc lóc khẩn cầu. Con quái làm thinh. Cả ba bèn quỳ xuống, thể hứa đủ điều, giải thích lý do rời gia đình ra đi. Rồi lại giảng luân lý cho nó nữa chứ. Bảo rằng làm như vậy đâu phải là điều thiện. Con quái hả ngàn cái miệng ra cười.
Nó bảo: Thôi đừng lắm lời vô ích. Bấy nay ta nghe đã chán ngấy. Và lại, những đứa đi trước cũng hùng hồn tràng giang đại hải với những chương trình to lớn xa vời. Các ngươi nói đúng cả đấy. Ta có phản đối hay chế nhạo gì đâu. Duy phần ăn của ta phải có. Ta đói lắm rồi.
Ba người vô phương lay chuyển con quái ngàn đầu; bao nhiêu can đảm mất hết, nhưng chỉ trong giây lát thôi, thi sĩ và người lính không thể bỏ tham vọng, để dự định tan ra mây khói. Họ héo hon mong ước vượt sông đã lâu rồi, một hy sinh có nghĩa gì. Ba người quay lại nhìn nhau và bác nông phu nhận ra rằng hai người kia chỉ nhìn mình bác. Họ nhìn chăm chú, rất chăm chú, bác vẫn chẳng hé môi, lặng lẽ cúi đầu, tim nặng nề trong lồng ngực.
Thi sĩ nói: Này anh em, tôi là thi sĩ đại tài. Một thi sĩ như tôi không phải thời nào cũng có. Tôi tin chắc anh em không thể chấp nhận được là tôi sinh ra để làm mỗi cho con quái tanh hôi này, trời đất sẽ bùng cháy tiêu diệt anh em, nếu anh em bắt tôi phải chết. Lịch sử vang mỗi tên tôi, toàn dân coi tôi như trân bảo. Người ta gặp tôi trong những khu đẹp nhất thành đô, thấy tôi trong đám vương hầu khanh tướng. Tôi phải đàm đạo hàng ngày với thần linh trên trời, với kỳ quan đưới đất, trong không gian của triết nhân và hiểu biết vô
biên của khoa học, Không, tôi chưa thể hy sinh lúc này.
Người lính nói: Các bạn, tôi cũng thế, các bạn không thể đem tôi làm tiệc cho con quái này được. Nghĩ kỹ mà coi, tôi chết ai bảo vệ các bạn? Ai đầy lui quân thù? Ai làm tổ quốc hùng cường, nhân dân an lạc? Ai canh gác biên thùy? Ai chiếm cứ lãnh địa? Không, tôi cũng chưa thể hy sinh lúc này.
Riêng bác nông phu vẫn câm nín hoàn toàn; bác vốn vụng ăn nói. Bác buồn rầu cay đắng nhìn thi sĩ và người lính đọc rõ trong mắt điều họ muốn nói. Bác nhớ những thửa ruộng rộng rinh đang cần đôi tay vun xới, nhớ vợ con, nhớ cửa nhà. Bác sống từ đầu, mê man như vừa hồi sinh trong thân thể. Bây giờ bác biết rằng bác sẽ không bao giờ được trở về, xem lại quá khứ và chờ đón tương lai.
Bác nói với thi sĩ và người lính: Làm ơn nói với gia đình tôi, là không giây phút nào tôi quên những người toi yêu dấu.
Thi sĩ nhanh nhẹn rút bút, nghẹn ngào ghi lại những lời đơn sơ ấy. Chàng long trọng hứa sẽ thi hành thỉnh cầu và phác tả cho bác nông phu biết cách sẽ vinh danh và đưa tên bác vào lịch sử. Tượng đài kỷ niệm rồi đây dựng khắp nơi trong nước, ghi đậm hình ảnh bác trong lòng mọi công dân. Đặt tay nơi trái tim, thi sĩ hứa viết một cuốn sách kể lại những giây phút bi tráng này, để các em bé trong nôi học ngay trong khi vừa bập bẹ tiếng nói đầu tiên. Người lính đứng nghiêm, hai gót chân thật sát, đăm đăm nhìn dãy núi xa. Mắt chàng một thoáng ướt mờ, chàng phải tự kểm chế, đè nén cảm xúc, đứng phất như một tượng đồng trong nắng.
Chàng nói: Nhân danh tổ quốc, tôi cám ơn bạn.
Bác nông phu nói: Tôi xin các ông đừng in thơ, dựng tượng, cũng đừng bắt tội con trẻ học biết tên tôi làm gì. Tên tôi, tôi thích được quên đi. Điều tôi cầu xin các ông giúp đỡ vợ con tôi yếu đuối dại khờ, không kham nổi công việc nặng nhọc, và xin nói với các con tôi rằng phải cần thận đừng có …
Nhưng điều này cả thi sĩ lẫn người lính chẳng ai muốn nghe. Những kể lể lôi thôi của bác nông phu làm họ thêm chán ngán, thêm nóng nảy, muốn qua sông cho lẹ. Họ túm lấy bác, quăng vèo cho quái vật. Nó nhai ngấu nghiến một cách ngon lành. Hai người qua bờ bên kia, tràn ngập hân hoan, vừa đi vừa hát. Chưa được bao xa, bỗng nghe sấm sét vang rền, tưởng đâu núi sập trên đầu, đất nứt toang dưới gót và địa cầu giẫy giụa đau đớn trong cơn sáng tạo. Họ run rấy, quay nhìn con quái, thấy nó ngàn miệng đang cười, làm rung chuyển vũ trụ. Trăm triệu con mắt lóng lánh mỉa mai khinh bỉ, chứa chất từ bao thời đại xa vời. Những cánh tay thép xoăn lại múa may trong gió, như say máu. Không khí cũng đảo lộn quay cuồng, quật hai người ngã xoài trên đất. Quái vật vẫn cười vang dội đồ vỡ, như muôn đá lớn tung từ máy bắn, dập nát thành lũy. Người lính rất đổi kinh ngạc, muốn biết nguyên do, bèn rang đứng dậy, giơ tay hét lớn: Quái vật, sao mi cười?
Nó không đáp, nhe cả ngàn vạn nanh dài lòa chói như gươm, khua động đất trời, tợ hồ muốn xáo trộn, đem vạn vật về thuở hồ mang. Bấy giờ thi sĩ kêu lên: Quái vật kia, trên trời, dưới đất, nhân danh danh dự và vinh quang của nhân loại, ta xin hỏi mi, tại sao mi cười? Nhưng con quái vẫn cười không đáp. Thế là cả hai quỳ xuống, cao giọng gào lên: Quái vật! Quái vật! Tại sao mi cười? Tại sao mi cười?
Bỗng chốc tiếng cười ngưng bặt. Những cánh tay thếp thôi múa may, chói lòa nanh dài tắt ngấm. Còn lại trăm triệu con mắt đượm ánh khinh khi. lóng lánh mỉa mai, soi mói thi sĩ và người lính, tia nhìn thương hại
Quái vật mim cười: Này những đồ ngu ngốc mạt kiếp kia, các người có ý định bao giờ qua sông trở về không?
Thi sĩ hỏi: Về thì sao?
Người lính gật đầu: Có chứ, chúng ta sẽ trở về.
Quái vật lại mim cười: Không đâu, đồ ngốc. Dù muốn về cách mấy, các người cũng chẳng bao giờ thực hiện ý định được đâu.
Người lính hét lên: Sao không?
Quái vật trả lời chậm rãi: Bởi vì lúc ấy ta đói hơn bây giờ chứ sao. Ta sẽ nuốt hết cả hai đứa bay, hà hà. Nó lại cười, những bàn tay thép xoa vào nhau ra chiều đắc ý, ngàn miệng nhớt nhãi chảy đầy. Và bây giờ thi sĩ và người lính cảm thấy thật sự trong lòng một nỗi lo âu mênh mông. Họ bắt buộc phải đi mãi, đi mãi, không bao giờ được trở về dòng sông này nữa. Họ đành quên bác nông phu, đành quên gia đình bác, đành quên tất cả. Vì sợ, không dám trở về bờ sông cũ, nơi con quái đói bụng vẫn nằm cho họ trở về.
Một buổi chiều Chủ Nhật trung tuần tháng 11 năm 1975, sau hai tuần được bảo trợ về Newburry Park, Mom Valerie đưa tôi và Điện đến dự lễ tại một thánh đường Tin Lành ở thành phố Thousand Oaks. Xe đổ xuống con đường South Longford trong lá mùa Thu rơi tơi tả, Mom chạy song song khu đất trống rồi bắt vào freeway 101 chạy về hướng Nam để đến thành phố Thousand Oaks. Trời tháng 11, gió lạnh và những sân cỏ trên đồi Newburry Park bắt đầu khoác một lớp áo len màu vàng, tôi kéo cửa xe lên để chận những luồng gió làm tê buốt da mặt. Và chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ xe đã đến thánh đường Tin Lành. Thánh đường khang trang lịch sự, phòng thánh lễ được lắp đặt với những tấm kiến đủ màu sắc, có chạm hình Chúa, những con cá, chim, và hình ảnh những gia đình, cộng đồng sum họp trong giờ ăn với đầy những bánh mì và trái cây trên mặt bàn. Giờ thánh lễ rất trang nghiêm, đầy đủ những lễ nghi từ lời giảng của Mục Sư, bài đọc của con chiên, lời thánh ca, những chiếc rỗ đan bằng nan cây được đưa trước mặt tín đồ để quyên góp cho quỹ nhà thờ; Và cuối cùng là những gương mặt và ánh mắt vui tươi; dường như họ quên đi tất cả những nhọc nhằn va chạm trong tuần, quay mặt lại ôm nhau chúc lời bình an. Tôi quay qua người bên cạnh bắt tay chúc mừng “Chúa ở cùng bạn – God be with you”. Rồi quay mặt ra phía sau. Tôi bắt gặp những ánh mắt và khuông mặt quen thuộc của nhiều người Việt khác! Vì hôm nay là buổi lễ đặc biệt hội ngộ của những gia đình người Việt tị nạn Cọng Sản được “bông- so” tại thành phố Thousand Oaks. (Từ “bông- so” do chữ sponsor là người bảo trợ, mà ngày ấy người Việt tị nạn thường dùng với tính cách trào phúng.) Một thiếu nữ cở tuổi đôi chín trong gia đình người tị nạn đứng sau lưng tôi, với nụ cười xả giao tôi đưa tay ra nắm lấy tay nàng và nói: “God be with you.” Nàng e thẹn rút tay lại và khẻ nói: “With you too.” Sau lễ chúng tôi được hội nhà thờ chào đón niềm nỡ, giới thiệu cho nhau để làm quen. Có lẽ hội bảo trợ nhà thờ đã nhìn thấy nỗi buồn cô đơn của dân tị nạn trên xứ người nên đã tạo điều kiện cho họ gặp nhau. Nhưng cũng lạ, chỉ trong vòng một thời gian ngắn rời xa trại tị nạn, xa người dân Việt và xa những sinh hoạt quen thuộc hằng ngày giữa những người cùng màu da, tiếng nói, đã làm nhiều người thấy nhớ! Hôm đó tôi được làm quen với “đoàn người cũ”. Tự nhiên tôi lại thấy quý mến với một thứ tình cảm là lùng, một thứ tình cảm chưa bao giờ hiện hữu trong tôi, một thứ tình cảm dành cho những người chưa bao giờ gặp mặt, chưa bao giờ biết tên, vậy mà thấy trân trọng. Có lẽ vì những tiếng chào đón, thăm hỏi bằng tiếng Việt thân yêu, và một cái gì đó rất gần, rất quen thuộc đã thiếu vắng. Hay có lẽ bên cạnh những con người kia tôi có thể tìm được một sự đồng cảm và niềm vui! “Anh ở đâu? Chị ở đâu?” Câu hỏi đầu môi của những người Việt tị nạn líu lo khi gặp một người tị nạn khác! Và “Ồ, chị cũng ở quận XYZ à! Ngày xưa tôi cũng ở nơi đó.” Những lời chân thành mộc mạc vui tươi lại xuất hiện trên gương mặt những người “tha hương ngộ cố tri”. Hình như người Việt trong những lúc lưu lạc cô đơn lại đoàn kết và quý mến nhau hơn! Tan lễ, chúng tôi tề tựu trên sân giáo đường vui mừng rộn rã ghi tên, địa chỉ và xin số điện thoại của từng người, không khác gì nỗi bâng khuâng của người học trò trong buổi tan trường cuối cùng, trước khi chia tay cho ba tháng Hè. Cũng trong buổi lễ này tôi gặp Dr. Moore và Dr. Swan, hai người giáo sư của trường Pepperdine University đã có công vận động xin học bổng cho tôi, Điện và George. George (cùng lứa với tôi và Điện) nhận làm con nuôi của một thiếu phụ người Mỹ mà bây giờ lâu quá tôi cũng quên tên Việt của George. Anh bạn này chỉ thích người ta gọi tên mình là George, và hình như cái tên cúng cơm bằng tiếng Việt của George cũng đã bị quên hẳn từ ngày theo học ngành Kế Toán tại đại học Pepperdine University! Tại buổi lễ, ngoài George, tôi và Điện ra còn có ba gia đình khác. Gia đình thứ nhất gồm cả ông, bà, cha, mẹ, anh em và con cháu, đếm trên ba chục người. Nhìn gia đình này những người bạn Mỹ phải biết nể dân Việt! Họ là những người ở tuổi mới chào đời đến tuổi già nua và đã một lần rời bỏ quê cha miền Bắc di tản vào Nam, và nay, trong những ngày cuối cuộc đời lại phải rời xa quê cha một lần nữa! Gia đình thứ nhì có hai vợ chồng và bảy người con, mà xem đi xem lại cũng chỉ toàn là “dim díp” không thôi. Trong hai gia đình này có những cô xinh đẹp đến “nghiêng thùng đổ nước.” Và gia đình thứ ba chỉ có hai người bạn thanh niên “mồ côi” đi chung với nhau, giống như tôi và Điện. Hai anh này, một người thì bặm trợn một người thì hiền lành, và cả hai được hội nhà thờ bảo trợ, đang cư ngụ trong nhà vợ chồng Dr. Swan. Đó là buổi hội ngộ đầu tiên giữa tôi và những người tị nạn Viêt Nam khác tại thánh đường hội Tin Lành ở thành phố Thousand Oaks. Có điều chắc trong chúng tôi không mấy người hiểu rõ những lời rao giảng của vị Mục Sư, nhưng dưới bóng giáo đường chúng tôi tìm lại sự bình an và tình đồng hương. Những giây phút mừng vui gặp lại người cùng quê hương vẫn còn đọng trên bờ môi ánh mắt thì chúng tôi phải chia tay. Tôi và Điện lên xe theo Mom Valerie đến một nhà hàng Mễ Tây Cơ nằm trên đại lộ Thousand Oaks. Nhà hàng nằm bên góc đường yên tĩnh, tường được tô một lớp xi- măng trắng ngà ngà và mái ngói đỏ chót, sân lót gạch bằng phẳng và rợp bóng mát từ năm ba cây sồi trắng (white oaks). Dọc theo bờ hè là những chậu hoa kiển trông rất đẹp mắt. Chỉ nhìn vào bề ngoài người ta cũng có thể đoán đây la một nhà hàng “hạng sang.” Mấy tuần nay ở nhà bảo trợ ngày nào cũng bánh mì, bơ sửa, mì ống, ketchup, friend fries trông thì đở hơn “chop sui” trong trại tị nạn, nhưng tôi ngán và ngán đến cổ họng. Lâu rồi tôi thèm và nhớ đến mấy hột cơm, mấy hột cơm trắng. Nhưng hôm nay đứng trước nhà hàng sang trọng này thì mấy hột cơm trắng nhằm nhòi gì! Chúng tôi xuống xe tiến vào nhà hàng. Tôi nghĩ hôm nay chắc sẽ được dịp “trả thù” cho cái bao tử mấy tháng nay. Ông chủ nhà hàng trông bệ vệ, tuổi trên 40, người hòa nhả, đạo mạo, ra bắt tay và hun cái chụt lên gò má của Mom Valerie. Tôi chưng hửng và nói thầm trọng bụng “Ông này táo bạo quá, papa Smith còn đó mà không ngán chút nào ta!” Nhưng thấy Mom rất vui vẽ và còn chìa mặt ra cho ông chủ nhà hàng hun, tôi cụt hứng lẽo đẽo theo sau bước vào nội sảnh. Sau này tôi mới biết đó là một truyền thống bình thường ở xã hội Tây phương. Sau một hồi nói chuyện, ông chủ nhà hàng hỏi tên chúng tôi, tôi đọc tên thật chậm và rõ ràng cho ổng nghe: “Sir, my – name – is – Vân – Nguyễn.” Ổng trợn tròn đôi mắt nhìn Mom và nói: “What, what is his name?” “Ah ha, just call him Van Nu Gent.” Mom nói trong tiếng cười xong đưa tay chỉ người đi cùng tôi và bảo ông ta gọi là Dien Nu Gent. Vậy là xong! Kể từ lúc đó Mom đổi tên gọi của tôi và gặp người bạn nào Mom cũng giới thiệu tên mới của tôi. Cái tên nghe lạ hoắt. Nhưng cũng không đến nỗi tệ bằng người đi chung với tôi, từ đây tên anh ta trở thành Điên thay vì Điện! Nhưng nói đến tên người Việt khi đến Mỹ này thì than ôi, nhiều tên khi đọc lên còn nghe thảm thiết lắm, có những tên họ đọc lên nghe còn đỏ mặt nữa là khác, như Dũng nè, Loan nè, Cừ nè, Cún nè, Du Mậu Nguyễn nè, v.v… Cuộc trò chuyện đến hồI kết thúc thì Mom bắt tay người chủ nhà hàng chào ra về. Tôi lại chưng hửng nữa! Sao kỳ vậy, đến nhà hàng mà sao không được ăn! Đó, phải chi hồi nãy tôi đừng mơ và đặt niềm tin lớn vào những món ăn ngon ở nhà hàng này thì bây giờ đâu có thất vọng! Tôi đành xoa bụng bước ra xe! Nhưng tôi biết là ngày mai tôi và Điện sẽ trở lại đây, trở lại để nhận công việc, một công việc mới, một việc làm đầu tiên trong chiến dịch đời sống mới, một người bus boy. Trước khi về nhà Mom không quên ghé cây xăng mua cho tôi và Điên (không có dấu nặng à nhe, không phải tôi quên đâu he he!) tấm bản đồ thành phố Thousand Oaks. Rồi sau đó Mom đưa chúng tôi đến một trung tâm thương mại (shopping mall) sắm cho tôi cặp kiếng cận mới, thay cho cặp kiếng cũ kỹ mờ như câm và nặng như cái cùm tôi mang từ Việt Nam qua. Xong Mom đưa hai chúng tôi ghé tiệm cắt tóc. Tại đây Mom yêu cầu người thợ xuống hai “mái tóc thề” của tôi và Điên. Người thợ cắt tóc đã vô ý chạm kéo vào cổ làm đứt da tôi, máu chảy đỏ lòm, ông ta hoảng sợ tái mặt. Mom nhìn trấn an tôi, nhưng tôi nói không sao, chỉ vài giọt máu rồi da sẽ liền lại, tôi đến từ Việt Nam mà, những thứ lẻ tẻ này ăn nhằm gì! Tôi nhớ ông thợ cắt tóc lo lắm, cắt xong ông nhìn tôi và nói tôi khỏi trả tiền công cho ông ta. Tôi cám ơn ông ta và ra về. Ngày hôm sau, trên tay cầm tấm bản đồ địa phương, tôi và Điện nghiên cứu rõ những con đường nào có thể đi đến nhà hàng Mễ Tây Cơ kia bằng xe đạp. Chúng tôi nói với Mom và Papa Smith rằng chúng tôi có thể đến nhà hàng một mình. Rồi chúng tôi lên đường bằng hai chiếc xe đạp cũ, loại xe đạp xưa dùng cho người lớn tuổi chạy tập thể dục được hội bảo trợ nhà thờ vừa tặng cho tôi và Điên. Lăn lộn qua những con đường lớn, nhỏ, chúng tôi đạp từ Newburry Park đến Thousand Oaks. Khi đến Freeway 101 xe đạp không thể băng qua xa lộ nên chúng tôi chạy trên con đường mòn song song với Freeway 101. Con đường mòn được thành hình do những người trẻ dùng xe gắn máy, loại xe chạy trên đồi núi, tập dợt lâu ngày trở thành nhẳn bóng. Ngoài những chiếc xe gắn máy chạy núi và những chàng thanh niên trẻ tuổi suốt ngày rồ máy cày nát lối đi đất sét này người ta không còn bắt gặp ai nữa! Nhưng từ hôm nay lại có thêm hai bóng người gò lưng đạp xe lên đồi xuống dốc, băng qua từng con suối khô cằn trên con đường mòn không tên để đến chỗ làm. Tôi nhớ con đường từ nhà Mom Valerie đến nhà hàng Mễ Tây Cơ dài 19 dặm (mile), tức khoảng 28 Km. 28 Km tôi và Điện phải mất 2 tiếng đồng hồ để đi một chiều. Ngày đầu tiên chúng tôi được ông chủ cho làm bus boy kiêm waiter (chạy bàn), ông trả cho chúng tôi $2.10 mỗi giờ và cho ăn buổi trưa. Chúng tôi chỉ làm 2 tiếng mỗi ngày, từ 10 đến 12 giờ trưa. Tức là mỗi ngày tôi đạp xe đạp đi và về 4 tiếng đồng hồ, để làm 2 tiếng với số lương tối thiếu của thời 1975 ở Cali. Vị chi tôi kiếm được $4.20 cho mỗi ngày. Chúng tôi rất vui mừng và ngày nào cũng đến nhà hàng rất đúng giờ. Nhưng câu chuyện vui cũng bắt đầu từ đây. Tôi nghĩ mình đi làm nhà hàng thì ăn cơm ở nhà hàng là chuyện bình thường, nên đến trưa ông đầu bếp bảo hai đứa tôi muốn ăn gì nói ổng làm cho. Chúng tôi nhìn thực đơn bằng tiếng Mễ Tây Cơ cũng giống như nhìn tiếng Phạn vậy, nghĩa là không biết món nào là món nào cả. Tôi bèn đưa ngón tay chạy một dọc trên tờ thực đơn và ngừng ngay tại món ăn mắt tiền nhất, cở $6.00. Tôi bảo ông đầu bếp cho tôi món đó. Hai đứa chúng tôi mang ra bàn ngồi ăn uống thoải mái, đồ ăn Mễ tuy có nhiều chất pho- mat (cheese), nhưng ngon. Đến ngày hôm sau chúng tôi yêu cầu đầu bếp cho món khác nhưng cũng là một trong những món mắt tiền nhất, nghĩa là cũng từ $6.00 trở lên. Tình cờ ông chủ nhà hàng đi ngang qua, ông liếc mắt nhìn chúng tôi ăn. Ông ta khựng lại và có vẽ không vui. Và ngày thứ hai, trước khi ra về ông chủ gọi hai đứa tôi lại và nói bắt đầu từ đây chúng tôi phải mang đồ ăn nhà theo để ăn, nghĩa là ông không cho chúng tôi ăn cơm nhà hàng nữa! Ổng làm thương mại mà, ổng trả tiền công cho mỗi đứa chúng tôi $4.20 mỗi ngày, mà mỗi bửa ăn chúng tôi xực món ăn trên $6.00, thì hỏi thử ổng phải làm sao đây? Vậy là từ đó Mom làm cho mỗi đứa chúng tôi một cái sandwhich mang theo mỗi ngày! Một tuần sau, ra khỏi nhà hàng còn sớm quá, về nhà thì buồn nên hai đứa chúng tôi lục điện thoại gọi thăm những người Việt gặp hôm đi nhà thờ. Chúng tôi liên lạc được người thanh niên đang ở nhà Dr. Swan. Tôi hỏi đường đi đến nhà họ (cũng ở Thousand Oaks này), và sau khi đạp ngoằn ngoèo theo hướng dẫn của anh bạn mới, chúng tôi lại đứng trước một chung cư nhỏ. Tôi ngần ngại gõ cửa: “Vô đi, cửa mở đó.” Giọng Huế của một người thanh niên. Đẩy cửa bước vào, tôi hỏi. “Ủa! Sao như nhà mướn vậy! Ông bà “bông xo” đâu?” “Như gì, nhà mướn chứ như cái gì. Hai bồ ngồi chơi đi. Uống nước gì hông?” Giọng Huế ồ ồ của Tẩu, một trong hai người thanh niên ở nhà Dr. Swan, mà tôi quen hôm ở nhà thờ Tin Lành. “Thôi, mới uống. Ủa! Sao vắng tanh vậy. Ở một mình à?” “Đâu có, đông lắm nhưng họ đi làm hết rồi, chiều tối mới về. Bây giờ hai bồ làm gì?” Tẩu hỏi. “Nhà hàng.” “Vậy à, ngon hỉ, nhà hàng nào vậy?” “Enrique’s Mexican restaurant.” “Hay vậy, làm sao xin vô đó?” “Tụi này nhờ bông xo giới thiệu. Ông làm gì ở đâu?” “Làm cho hảng dầu hỏa. Gặp cây xăng đầu ngõ hông, đó đó, hà hà …” “Làm nghề bơm xăng thì nói bơm xăng mẹ nó đi, bày đặt hãng dầu hỏa.” Tôi nói. Một hồi trò chuyên tôi mới biết Tẩu đi chung với một người bạn quen nhau trong trại. Sau ngày đến ở nhà ông bà Dr. Swan, người kia vì không rành tiếng Anh và cảm thấy cuộc sống gò bó không thích hợp nên xin ra và mướn chung căn phòng này với những người lính độc thân khác. Tẩu hằng ngày vẫn đi làm cho cây xăng và ở nhà Dr. Swan, nhưng thường đến đây chơi với đám độc thân. Hôm đó tôi và Điện ở lại chơi, chiều tối những người trong nhà đi làm về đông đủ. Chúng tôi gặp, làm quen và trong nhóm bạn này gòm có: Lang (người đi cùng với Tẩu), Tư, Lợi, Thuận, Dương, Quang, Điện và tôi. Lang, Tư, Lợi và Thuận là những người lính của quân lực VNCH. Tư trong binh chủng Lôi Hổ và lúc nào mặt cũng lạnh như tiền, ít nói. Thuận, người lính trẻ nhất trong bọn, lúc nào mái tóc cũng láng mượt, ruồi đậu còn trợt chưn! Chúng tôi đều ra đi một mình chỉ trừ Dương đi cùng bố và người chị gái. Quang là người trong gia đình trên 30 người tôi gặp ở nhà thờ hôm nọ. Dương, Quang cũng như Điện và tôi đều là sinh viên năm thứ nhất ở Sài Gòn trước ngày ra đi. Sau vài ba lần gặp mặt và quen nhau qua những buổi nhậu chết người, chúng tôi trở thành những người bạn thân. Những người bạn chiến binh VNCH nay buông súng xuống họ trở thành những người công nhân trong mọi công sở, ngày ngày đi đi về về nơi xứ người, mà gia đình và người thân là cả một nỗi niềm suy tư trong những đêm về tối khi ly ruợu đã khô cạn và bạn bè đã ra về. Những người bạn này ai cũng có người bảo trợ, nhưng rồi trong một thời gian ngắn sau khi khi xuất trại họ lại chọn cho mình một lối đi, một con đường tự lập. Người bảo trợ chỉ là điểm tựa khi cần đến, và họ cũng thường viếng thăm người bảo trợ để tỏ lòng cám ơn công cưu mang buổi ban đầu. Thousand Oaks có khoảng trên dưới 100 người tị nạn, vài ba gia đình đông con được hội nhà thờ giúp đở mướn nhà, mua xe cũ, hướng dẫn tìm việc làm và cho con em đến trường học. Còn lại là những người độc thân, hầu hết lao vào công việc lao động và đi học bán thời gian để gầy dựng tương lai. Tôi đến Thousand Oaks được hai tuần, hằng ngày sống trong gia đình Mom Valerie và Papa Smith. Sáng chiều đạp xe đạp đi làm, lương hướng thật ra không là bao nhiêu, nhưng ít ra cũng có một chỗ đi cho đở buồn. Tôi và Điện được gia đình Mom lo cho chỗ ở, còn tiền ăn thì người bạn Bác Sĩ tôi quen biết ở Sài Gòn (Dr. Crawford) giúp hai tháng trong thời gian chúng tôi chờ ngày đi học. Đến tuần thứ ba BS Crawford từ Santa Ana lên thăm tôi, Điện, gia đình Mom và Papa Smith. Chiều lại người bạn BS đưa tôi và Điện xuống phố đi ăn. Trước khi đi ông bảo tôi có bạn bè nào không, rủ đi chung cho vui. Vậy là như cờ gặp gió, tôi gọi điện thoại nhóm bạn mới quen và hẹn nhau đi ăn nhà hàng. Tôi đưa bản đồ và chỉ đường cho BS Crawford đến rước họ tại chung cư trên Thousand Oaks. Chiếc xe station wagon của ông BS chở 7 mạng chúng tôi đến một nhà hàng nọ, không phải nhà hàng tôi làm đâu! Người bạn BS nói chúng tôi muốn ăn gì tự do gọi, vậy là một lát sau 7 dĩa New York steak được mang ra, và rượu, beer đầy bàn. Chúng tôi được ăn ngon một bửa, rồi chia tay BS Crawford, ông trở về Santa Ana. Sau đó thỉnh thoảng ông trở lại thăm tôi. Trở về việc làm thì tôi và Điện vẫn đạp hai chiếc xe đạp cộc cạch hàng ngày trên con đường mòn dài 28 Km đến nhà hàng. Việc của chúng tôi là bồi bàn. Trước khi mở cửa, chúng tôi đến sớm hơn một chút lo quét dọn lau chùi bàn ghế, sắp xếp khăn muỗng nĩa trên bàn. Khi khách đến mang thực đơn ra cho khách, khách gọi gì thì ghi vào hóa đơn và vào nhà bếp bảo đầu bếp làm món đó, xong mang ra cho khách. Chỉ đơn giản vậy thôi! Nhưng. Éo le là cái chỗ nhưng này, chúng tôi đâu có biết tiếng Mễ, món ăn tiếng Mỹ mà tôi còn không rành nữa là. Mỗi lần đi nhà hàng muốn ăn món nào là tôi nói bằng tay nhiều hơn miệng, cứ chỉ vào hình trên thực đơn món nào muốn ăn và nói “this one, that one” là được thôi! Bây giờ khách xem thực đơn xong nói một tràng món ăn bằng tiếng Mễ Tây Cơ, tôi nghe như nghe sấm, vậy mà cứ Yes, yes, Okay Sir. Xong rồi chạy xuống nhà bếp kêu lộn bà chè món này qua món kia. Kết quả là sau một tuần làm bus boy cả hai chúng tôi đều bị “cách chức” xuống phụ bếp … rửa chén! Mà chén bát thì nhiều vô số kể. Tôi rửa chưa xong cái này thì một đống từ phòng ăn đưa xuống, tôi và Điện rửa bằng tay không xuể nên đầu bếp bảo chúng tôi vừa rửa bằng tay vừa đưa vào máy rửa chén cho lẹ. Sướng! Có máy rửa chén rồi tôi cứ đưa hết vào đó, ai ngờ chạy máy chưa quen làm nguyên một chồng chén bay vèo xuống đất, vỡ thành mãnh vụn! Kết quả, chúng tôi lại bị “thuyên chuyển nhiệm sở” lần nữa. Trong nhà hàng mà không làm bồi bàn, không rửa chén thì còn làm gì nữa bây giờ? Ông chủ cũng vì nễ chỗ quen biết với Mom nên đưa hai đứa chúng tôi ra làm ngoài sân, quét lá, tưới cây! Và hai đứa chúng tôi đã làm ở đây được một tháng trời. Thời gian làm ngoài vườn, cơ duyên ở đâu đưa đến, là, có chị kia làm waitress (chạy bàn) trong nhà hàng và đổi ca trùng giờ chúng tôi. Chị tên Joann, lớn hơn chúng tôi cở 4, 5 tuổi. Chị người nhỏ con, mảnh mai, cao ráo và có khuông mặt thật đẹp. Chị đã có chồng. Hằng ngày thấy hai đứa tôi đạp xe đạp đến đây làm, nhìn hai chiếc xe đạp cũ kỹ, nặng nề, chị hỏi: “Đạp xe từ đâu?” Tôi nói: “Newbury Park.” Chị hỏi tiếp: “Đường nào ở Newburry Park?” Tôi nói: “South Longford Ave.” “Vậy à! Mà xa lộ chập chùng làm sao đạp đến đây được?” Tôi nghe hai chữ “vậy à” của chị có vẽ ngạc nghiên. Tôi nói: “Bằng con đường mòn dọc theo xa lộ.” “Con đường mòn nào?” Chị lại hỏi. Hình như ngươi dân nơi đây ít ai biết đến con đường nầy. Tôi nói: “Con đường mòn không tên.” Chị mĩm cười, lập lại câu “Con đường mòn không tên” rồi bước vô nhà hàng. Một hồi sau chị trở ra sân gặp chúng tôi, chị nói: “Bắt đầu ngày mai hai em đến nhà chị chị chở đi làm.” Chị đưa bản đồ, chỉ căn nhà chị ở cách nhà Mom ba đoạn (blocks) đường. Và từ đó mỗi buổi sáng chúng tôi chạy đến nhà chị, bỏ xe đạp lên station wagon và ngồi trên xe chị đi làm. Nhưng chiều về chúng tôi phải đạp xe về vì chị không ra cùng lúc với chúng tôi. Một tháng sau, tháng 1 năm 1976, ngày khai giảng khóa học mùa Đông bắt đầu. Mom sửa soạn cho tôi và Điện một ít quần áo, đem bỏ vào bốn cái vali đời xưa, màu vàng rắn chắc. Tôi nhét vào cuốn tự điển Việt – Anh, Anh – Việt của Lê Bá Kông, bộ sách Toán – Lý – Hóa và cuốn Giải Tích Học tôi mang theo từ Việt Nam. Ngày Chủ Nhật hôm đó tôi đi làm bửa cuối. Từ tuần trước tôi đã báo ông chủ rằng tôi sẽ thôi làm cuối tuần này. Tôi biết tôi không làm vừa lòng ông mấy, nhưng buổi ban đầu mà, có lẽ ngày đầu của ông trên xứ lạ này cũng vậy thôi. Tôi nói lời cảm ơn ông đã giúp tôi trong giai đoạn chập chửng, ông cũng vui vẽ nắm lấy tay tôi và chúc lời may mắn. Đến gặp chị Joann, chị tươi cười ôm choàng lấy tôi, give a big hug và chúc thành công trên con đường học vấn. Trong cái hug tôi thấy có một chút gì lưu luyến. Nghĩ đến ngày mai, tâm trạng tôi hoang mang và nhớ mang máng bài tập đọc đầu tiên của cậu học trò bé nhỏ Thanh Tịnh ngày xưa. Mùa Đông, tuy “ngoài đường lá không còn rụng nhiều và trên không không có những đám mây bàng bạc, nhưng lòng tôi vẫn nao nức với những kỷ niệm của ngày tựu trường”. Vì ngày mai “Tôi đi học.”
Phần 9 – Xã hội miền Bắc qua cái nhìn hạn chế của một người tù
Không ai ở Miền Nam muốn ra sống tại Miền Bắc. Nhưng khi đặt chân lên bến Sáu Kho, Hải Phòng năm 1976, chúng tôi nói với nhau là dù sao thì cũng đã bị bắt buộc phải ở Miền Bắc rồi, thử cố nhìn xem đời sống và con người thực chất như thế nào tại phần đất Việt Nam mà Cộng sản nói rằng ”về cơ bản, đã hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Ngày từ bến Sáu Kho về trại Quảng Ninh, chúng đã dùng vải che cửa xe ô-tô để chúng tôi không nhìn được ra ngoài. Rồi chúng tôi chỉ ở trong trại giam, tiếp xúc với cán bộ trại giam, một ít tù hình sự, và nhìn thấy cách làm việc của một vài hợp tác xã gần đấy. Rồi một chuyến đi từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá. Lần nầy thì xe không bị che vải, có thể nhìn ra ngoài rõ ràng hơn. Và ở trại số 5, gốc là trại Lý Bá Sơ, tôi ở cả ba phân trại: phân trại B, phân trại A, rồi phân trại C. Thế thôi, cái nhìn thật là hạn chế. Tôi rất tiếc là không được xem tường tận một nhà máy, một nông trường nào ở Miền Bắc để có thể có những nhận xét thật rõ ràng, cụ thể, chi tiết.
Nhưng sau hơn ba năm ở Miền Bắc, qua cái nhìn hạn chế của một người tù, cũng có thể thấy được bản chất, trình độ của xã hội Miền Bắc, từ đó có thể đối chiếu thực tế với những gì Cộng sản tuyên truyền.
Từ Quảng Ninh vào Thanh Hóa
Tháng 8 năm 1978, chúng tôi được chuyển trại từ Quảng Ninh về Thanh Hoá. Trại không hề cho biết trước ngày nào, đến lúc ngồi trên xe, xe chạy rồi cũng chưa biết là đi đến đâu. Tất nhiên trại cũng không nói lý do chuyển trại, tuy nhiên chúng tôi đều biết là vì sự căng thẳng với Trung quốc, mà tỉnh Quảng Ninh là tỉnh biên giới.
Tuy trại giữ kín nhung chúng tôi cũng được biết trước khoảng một tuần. Phối kiểm các tin tức, các sự kiện thu thập được, chúng tôi biết là thế nào cũng có di chuyển. Anh em hình sự cho biết sắp di chuyển, việc chuẩn bị thay đổi toán nhà bếp, đội làm mộc đóng thùng gỗ để đi tiểu tiện dọc đường v.v…, các yếu tố đó kết hợp lại cùng với tình hình biên giới căng thẳng, làm chúng tôi tính trước được. Nhưng đi về đâu thì đoán không ra. Thấy đóng thùng gỗ đi tiểu, chúng tôi tưởng là đi tàu thủy, và như thế, có thể là trở về Nam. Nhưng khi lên xe, thấy mỗi xe để một thùng gỗ mới biết là chỉ đi xe hơi thôi. Thế thì chỉ quanh quẩn ở Miền Bắc.
Sáng ngày 3-8, trại bất thần khám xét đồ đạc. Tất cả phải bày ra, rồi cán bộ kiếm chuyện tịch thu. Chúng tôi biết là đã đến lúc sắp đi. Chiều hôm ấy, trại cho nghỉ lao động.
Đến tối trại mới phổ biến lệnh dọn dẹp đồ đạc, ở trong tư thế sẵn sàng để di chuyển. 11 giờ đêm bắt đầu lên xe. Khoảng 1 giờ đêm ngày 4-8, xe bắt đầu di chuyển. Xe sang sông Bạch Đằng trời hãy còn tối. Đến Hải Phòng thì trời sáng. Những đoàn xe không vào Hải Phòng chỉ chạy phía ngoài thành phố, để sang Kiên An. Xe đi ngã Thái Bình, đến Nam Định mới ra quốc lộ số 1 để vào Ninh Bình rồi Thanh Hoá. Đến trại số 5 lúc 9 giờ đêm.
Chúng tôi được suốt ngày 4-8-78 quan sát quang cảnh Miền Bắc.
Ấn tượng rõ ràng nhất của chúng tôi là vẻ nghèo nàn tiều tụy của thành phố cũng như nông thôn. Anh Nguyễn Toại, thẩm phán, nghị sị Thượng viện, người Miền Bắc, đã từng đi lại vùng Thái Bình, Nam Định, có nhận xét rằng nhà cửa ở thôn quê xem ra lại tệ hơn là hồi năm 1945. Hồi Pháp thuộc, 1945 trở về trước, hai bên đường còn có những căn nhà lớn của các địa chủ khá giả, nay thì những căn nhà lớn đó không còn, mà nhà cửa của lớp nghèo thì vẫn tiều tụy như xưa hoặc bệ rạc hơn xưa.
Có điểm mâu thuẩn là dọc đường đi chỗ nào cũng thấy có trụ điện giăng đường dây cao thế, nhưng nhìn vào nhà của mọi người thì không có dấu hiệu gì chứng tỏ có dùng điện. Đây cũng là một điểm chứng tỏ tính cách nô lệ của giới lãnh đạo Miền Bắc. Lénine có nói “xã hội chủ nghĩa là chính quyền Xô Viết + điện khí hoá toàn quốc”. Giới lãnh đạo Cộng sản miền Bắc rập theo công thức đó nên giăng đường dây điện tứ tung. Nhưng trình độ kinh tế hãy còn quá lạc hậu, các tiện nghi của đời sống không có gì, bóng đèn còn sản xuất không ra thì lấy đâu cho dân chúng xài điện. Và các nhà máy điện cũng khi chạy khi hư cho nên đường dây cao thế đưa về nông thôn có lẽ chỉ để chụp ảnh quay phim mà thôi.
Dọc đường thỉnh thoảng mới có một chiếc xe hơi, còn thì toàn là đi bộ, gánh gồng, đi xe thồ, và xe đạp. Ở Thái Bình,chúng tôi thấy những chiếc xe xích lô, có lẽ là từ năm 1956 còn lại, không có nệm xe, không sơn phết, vá víu bẩn thỉu trông như chiếc giẻ rách, hay như hàm răng sắp rụng, thế mà vẫn còn xử dụng. Không thấy một ai đi giày, chỉ toàn đi dép cao su hoặc đi chân đất.
Đường quốc lộ chật hẹp và đầy những ổ gà. Đường sá năm 1956 Pháp để lại thế nào thì nay cũng thế ấy và thiếu bảo trì nên hư hỏng nhiều.
Chúng tôi qua sông Hoàng Hà ở bến phà Tân Đệ.
Bến đò Tân Đệ mà các tác phẩm văn chương trước kia hay nhắc đến, nay là một bến phà tồi tàn, không có trái nổi (ponton), chỉ có con đường dốc xây xi-măng thẳng xuống nước, xe lên xuống phà thật là nguy hiểm, và xe rất dễ hư hỏng.
Thành phố Nam Định thì ngay dãy phố chính, nhà cửa cũ vẫn còn nhưng không được quét vôi đã nhiều năm và có nhiều nhà gạch mà mái nhà lại lợp tranh, chắc là vì chủ nhà nghèo quá, khi mái ngói hư không đủ sức lợp ngói trở lại. Tại Nam Định, tôi không thấy dấu tích các vụ ném bom của Mỹ (trong khi ở Hải Phòng vẫn còn thấy) vì các dãy phố toàn là những nhà đã quá cũ, những nhà xây từ thời Pháp thuộc không bị đổ nát, chỉ có tồi tàn đi mà thôi. Dọc theo đường phố, không thấy có tiệm ăn nào ra hồn, chỉ có các hàng quán bán nước chè, thuốc lá, thuốc lào, vài nải chuối, mấy gói bánh. Có một vài nhà mới xây cất thì hoặc là công sở, hoặc là cơ quan quốc doanh. Thành phố Nam Định chỉ gồm những gì từ đời Pháp để lại mà cũ kỹ, tiều tụy đi rất nhiều.
Khi đến Ninh Bình, nhìn dãy núi Đá Vôi, và nhất là khi qua đèo Tam Điệp để vào Thanh Hóa, tôi bồi hồi nhớ những bài học Sử Địa hồi con nhỏ. Đèo Tam Điệp thật là hiểm trở, núi cao chót vót, hùng vĩ, đường đèo quanh co, phong cảnh thật đep. Địa thế như vậy cho nên ngày xưa chỉ một cánh quân trấn giữ là đại quân của kẻ thù không sao vượt qua được. Quân Mông Cổ muốn vào đánh Nghệ An, phải tính đường thủy. Quân nhà Thanh bị tướng Ngô văn Sở trấn đóng ở đèo Tam Điệp cũng không tiến thêm được về phía nam.
Qua khỏi đèo Tam Điệp là vào địa phận tỉnh Thanh Hóa. Cầu Hàm Rồng bắc ngang sông Mã Đà được xây cất lại. Đến tỉnh lỵ Thanh Hóa thì trời đã chiều. Xe lại rời khỏi quốc lộ số 1, rẽ tay phải, qua phà sông Chu để lên miền núi.
Trong đoàn xe, có nhiều xe chạy lạc, nhưng là chạy lạc cố ý, chạy lạc để bán xăng. Xe là đoàn xe quốc doanh tỉnh Quảng Ninh, mỗi xe chỉ có một tài xế, lái một mạch từ 1 giờ sáng đến 9 giờ tối không nghỉ. Họ cũng đói khát như chúng tôi (chỉ ăn một chút bữa trưa). Họ chẳng thiết tha giữ gìn chiếc xe và khi nào có cơ hội thì bán bớt ít xăng để sống. Xe nào cũng có công an và cảnh vệ ngồi cạnh nên họ chẳng dám nói gì với chúng tôi. Nhưng tia nhìn của họ đối với chúng tôi có vẻ có cảm tình, và có anh đưa thuốc lá mời chúng tôi hút.
Đến phân trại B trại số 5 lúc 9 giờ đêm, làm thủ tục nhập trại mất hai tiếng đồng hồ. Vào đến trại là mệt nhừ, đói khát. Nghe cán bộ nói rằng trại đã chuẩn bị cơm tối cho chúng tôi rồi, nhưng chờ mãi không thấy. Mệt quá chúng tôi ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau, toán hình sự làm bếp đem cơm lên, cho biết đáng lẽ cho ăn đêm qua nhưng rồi ban Giám Thị lại đổi ý, đổi lại thành bữa ăn sáng. Nghe vậy chúng tôi tưởng là bữa trưa sẽ có ăn, nhưng không, ngày hôm ấy, (5-8) cũng chỉ ăn bữa sáng và bữa tối thôi. Thế là thiệt mất một bữa cơm. Miền Bắc Cộng sản vẫn luôn tìm cơ hội để bớt cơm gạo của mọi người .
B. Con người miền Bắc Cộng Sản
1. Điểm mà tôi cho là đáng để ý nhất ở con người Miền Bắc Cộng sản, là họ chẳng biết tự do là gì.
Hồi ở trại Quảng Ninh, có một cán bộ khoảng ngoài hai mươi tuổi hỏi tôi về đời sống trong Nam trước kia về thủ tục đăng ký để có hộ khẩu. Tôi nói không có vấn đề đăng ký để có hộ khẩu, ai muốn ở đâu thì ở. Tên cán bộ nầy hỏi ngay rằng thế thì gạo đâu mà ăn. Tôi cho biết rằng gạo trong Nam thì mua rất dễ, ra tiệm tạp hóa ơi một tiếng là người ta cho xe ba gác chở cả bao gạo lại tận nhà cho mình. Tên nầy nhất định không tin, cho là tôi nói láo. Không thể có chế độ nào lại như thế được. Nhất định là phải có hộ khẩu mới có gạo, và làm sao Miền Nam mà dân muốn ở đâu thì ở. Tôi nói thêm là dù trong chiến tranh, dân Miền Nam đi lại từ tỉnh nầy qua tỉnh khác chỉ bằng giấy căn cước có sẵn mà thôi, không phải xin phép gì cả. Thì tên cán bộ nổi nóng, xẵng giọng nói với tôi rằng “‘anh đừng có tuyên truyền tôi về chế độ Miền Nam”.
Chao ơi, một sự thật rõ ràng như thế mà tên cán bộ Cộng sản Miền Bắc không hiểu được . Sự tự do cư trú, tự do đi lại, đối với chúng ta chỉ là những cái gì rất bình thường, nhưng tên cán bộ trẻ tuổi mà đời sống từ nhỏ đến lớn ở trong chế độ Cộng sản Bắc Việt thì không thể nào quan niệm nổi có một xã hội như thế.
2. Tinh thần đã vậy, đời sống vật chất lại thật tội nghiệp. Khi kiểm soát quà của chúng tôi từ Miền Nam gửi ra, các cán bộ đều tỏ ra ngớ ngẩn quê mùa chẳng biết gì về các thức ăn. Lần nhận quà đầu tiên, khi kiểm soát, cầm gói lạp xưởng, họ không biết là thứ gì, vì từ khi lớn lên họ có nhìn thấy bao giờ đâu. Cầm cuộn giấy vệ sinh, họ nắn bóp, đưa lên mũi ngửi rồi hỏi chúng tôi thứ ấy để làm gì. Khi nghe trả lời rằng đó là giấy vệ sinh, xử dụng khi đi tiêu, họ trợn mắt nhìn chúng tôi, kêu lên: Họ không thể quan niệm được rằng có nhu cầu về giấy vệ sinh, xử dụng lúc đi tiêu. Đối với họ, dùng lá chuối, dùng nước, hay giấy cũ, gặp gì dùng đó, chứ sao lại có thể làm một cuộn giấy đẹp đẽ như thế, gửi từ trong Nam ra, chỉ để dùng vào việc…. chùi đít! Có một anh bạn trong đám chúng tôi có cái túi xách Air Việt Nam, mấy tên cán bộ nhìn thấy cho là đẹp quá, hỏi mượn khi đi phép. Anh bạn chúng tôi, trước làm đại diện Air Việt Nam tại Pleiku, biếu luôn cái túi xách và nói rằng thứ nầy là của hãng Hàng Không Việt Nam trước kia thỉnh thoảng tặng hành khách để quảng cáo. Nghe thế, họ cũng nghi ngờ vì nghĩ rằng cái thứ túi xách trông đẹp và sang thế kia, sao lại có thể đem biếu không. Phải, trong một xã hội mà cái lon guigoz cũ bán rất được tiền, thì việc biếu không chiếc túi xách như thế quả là khó hiểu.
3. Tinh thần, vật chất như vậy nhưng lại hay nói, hay khoe. Cái gì cũng muốn tỏ ra mình biết, hơn nữa, mình là nhất. Rất tự cao tự đại, nhung cũng đầy tự ti mặc cảm.
Phần lớn các tên cán bộ lúc nào cũng nghênh ngang, tự cho mình là thầy, nhân danh “Cách mạng” giáo dục mọi người. Vấn đề đáng nói trong vài phút thì nói thành hàng giờ. Quanh đi quẩn lại, lúc nào cũng ”ba dòng thác Cách Mạng”, “ba cuộc Cách Mạng”, “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”‘…
Đối với chúng ta, nếu chúng ta kể một câu chuyện gì, trình bày một vấn đề gì, mà biết rằng trong số người ngồi nghe có một người biết vấn đề ấy rồi, ta đã thấy ngượng nói, hoặc mất hứng thú. Nhưng cán bộ Cộng sản có cái đặc biệt là nói dài dòng, nói hăng hái về một vấn đề mà chúng đã nói quá nhiều lần, chắc chắn là cử tọa ai cũng biết rồi, mà vẫn không ngượng miệng chút nào.
Luôn miệng khoe khoang “xã hội chủ nghĩa bách chiến bách thắng”, nhưng đầy tự ti mặc cảm về tình trạng nghèo đói, lạc hậu của Miền Bắc. Một hôm tại trại Quảng Ninh, đến bữa ăn, Hoàng Xuân Hoa bưng chén canh rau muống nói rằng “báo Nhân Dân có nói rau muống bổ lắm đấy’”, thì một tên cán bộ đứng gần đấy giật mình, nhìn trừng vào anh Hoa nói giọng gay gắt: “Các anh đừng có nói xỏ nói xiên.. Miền Bắc cái gì cũng có, cái gì cũng tốt.”
Trong đợt viết khai báo năm 1978 ở Quảng Ninh, chúng tôi được phổ biến là không được dùng ngoại ngữ, nếu bắt buộc phải dùng thì phải phiên âm ra tiếng Việt và giải nghĩa cho rõ ràng. Sau đó, giữa một cuộc tập họp ngoài sân, một cán bộ gọi một anh trong chúng tôi đứng lên và xỉ vả nặng lời vì viết ngoại ngữ mà không giải nghĩa. Anh nầy trả lời rằng chữ ngoại ngữ đó là tiếng Pháp, chữ Toulouse, anh đã phiên âm thành Tu-lu rồi, và đó chỉ là chỗ cư trú của vợ anh nên anh nghĩ là không cần giải nghĩa. Chúng tôi nhìn nhau phì cười. Quả thật thân phận thằng tù, thân phận kẻ thua trận, ai muốn xỉ vả mắng chửi thế nào cũng được .
Tại phân trại A trại số 5 Thanh Hoá thì có câu chuyện “Hé ne ne”. Một cán bộ gốc người Thái Bình, thường đọc chữ l ra n, một hôm vào phát thư, hỏi anh nào có vợ tên là “Hé ne ne”. Cả phòng giam ngơ ngẩn không biết. Sau anh ta đưa lá thư cho một người xem. Thì ra đó là thư của Hélene.
Nhưng cán bộ Miền Bắc vẫn muốn tỏ ra ta đây hiểu nhiều biết rộng. Cho nên có tên bảo đội văn nghệ khi hát phải có người “bát pơ luya” (battre mesures nhưng nói thành pelure). Và giảng về lịch sử nước Pháp rằng Napoleon đánh đâu thắng đó nhưng qua đến Việt Nam thì thua, chết trận trên dãy Trường Sơn của ta.
Tất nhiên không phải tất cả những người Miền Bắc đều có trình độ như vậy. Điều tôi muốn nói là những cán bộ có trình độ như thế, nói năng như thế đã được Đảng giao phó nhiệm vụ gọi là giáo dục cải tạo đám trí thức chúng tôi, theo như tuyên truyền của Cộng sản nói rằng chúng tôi không phải là đi ở tù mà đi học tập. Và trong khi những cán bộ nói năng như thế, họ vẫn tưởng là họ đang dạy chúng tôi. Quả là sự bạo dạn lạ lùng của kẻ ngu dốt ở trong một chế độ áp dụng chính sách ngu dân.
Cả chế độ nói láo trong mấy mươi năm cho nên cán bộ Công sản nói láo rất quen, không hề ngượng miệng. Hồi chúng tôi mới ra Bắc, sau thời gian 3 tháng, có cán bộ Bộ Nội Vụ về phổ biến việc viết thư. Họ cấm chúng tôi viết bất cứ câu gì để lộ ra rằng đang ở ngoài Bắc. Họ giải thích lý do như sau:
– Chúng tôi không bắt các anh phải dấu diếm gì. Chúng tôi không cho các anh báo cho gia đình biết mình đang ngoài Bắc chỉ vì ngại rằng vợ con các anh sẽ kéo nhau ra đây thăm mà chúng tôi chưa tổ chức kịp phòng tiếp khách ở trại nầy cho chu đáo.
Tôi không hiểu tại sao họ lại nói láo một cách ấu trĩ như thế. Mà nói rất tự nhiên, không ngượng. Ai cũng biết rằng vợ con chúng tôi còn khuya mới có thể xin được giấy phép ra Bắc trong khi nhà nước chưa có chủ trương cho đi thăm.
Tôi đã nhiều lần chứng kiến cảnh cán bộ trại giam, hoặc cảnh vệ đánh đập tàn nhẫn những người tù hình sự trong khi những tên cán bộ khác ngồi chung quanh coi đó là vịệc bình thường, tiếp tục, những câu chuyện vớ vẩn hay là cười đùa như thể trước mắt đang có chuyện vui.
Tại phân trại C trại số 5 Thanh Hoá, hồi năm 1979, tôi thấy một người tù hình sự bị đánh đập tàn nhẫn vì tội ăn cắp sắn trong khi đi làm lao động, sau đó bị buộc phải ăn cho hết chỗ sắn đã nhổ lên, ăn sống và ăn cả vỏ. Người tù hình sự (thường họ nhổ trộm sắn ăn vì quá đói) vừa khóc vừa ăn vừa bị đánh đập rồi bị ngộ độc vì vỏ sắn. Ba tên cảnh vệ ngồi nói chuyện tự nhiên như thường trước cảnh tượng ấy. Ngày hôm sau, chúng tôi chứng kiến mấy tên cảnh vệ, trong số có tên vừa đánh đập người tù hình sự hôm qua, đi nhổ trộm sắn (là “tài sản xã hội chủ nghĩa” mà chúng “có bổn phận bảo vệ”) nấu ăn riêng, gặp lúc tên thủ trưởng đi ngang ngoài đường, vội vàng vụt dấu chỗ sắn ăn cắp. .
Bên các đội tù hình sự có một anh mắc chứng kinh phong, thỉnh thoảng lên cơn ngã vật ra trên đường, giật tay chân, trợn trừng mắt, sùi bọt mép. Thế mà mấy tên cảnh vệ coi việc ấy như không, cứ để anh ta nằm giữa đường, không nghĩ gì đến việc săn sóc và cũng không cho ai săn sóc. Đành rằng việc động kinh của anh nầy đã xẩy ra nhiều lần, nhưng với những con người bình thường trong chúng ta, ít nhất theo phản ứng tự nhiên, chúng ta cũng khiêng anh đi kiếm chỗ nằm, bôi tí dầu chứ chẳng thể đứng tự nhiên mà nhìn được.
Trại giam nào cũng có đàn trâu bò để kéo cày và khi phế canh thì đem làm thịt. Chúng tôi để ý thấy hầu hết trâu bò đều bị đứt mũi. Đối với nông dân Việt Nam, con trâu là con vật được cưng nhất, nó là chỗ sống của cả gia đình. Thế mà trâu trong trại giam Miền Bắc, vì là thú của chung không ai lo, thường bị bỏ đói mà cứ bắt đi cày, kéo cày chậm, thì bị đánh đập và giật dây mũi cho đến đứt mũi. Ở Quảng Ninh, chúng tôi đã thấy trường hợp một con trâu cái bụng chửa gần đẻ mà phải đi kéo cày, đang kéo cày bị đánh đập thì sổ ra con trâu nghé. Con trâu nghé mới sinh bị lọt xuống một vũng lầy. Đội chúng tôi đi ngang trông thấy vội vàng chạy đến bế nó lên và trách các anh tù hình sự sao lại để nó đẻ như thế. Các anh tù hình sự cười và bảo chúng tôi rằng “‘các chú chỉ vớ vẩn, chúng cháu còn mong cho nó chết đi để ăn thịt”.
Thành thực mà nói, có lúc trời rét và trong cơn đói, chúng tôi cũng có lần thầm mong có con trâu chết rét (chuồng trâu rất trống trải và đầy phân và nước tiểu; có chỗ không có mái che) để được ăn miêng thịt trâu chết. Nhưng chúng tôi không sao đành tâm thấy con người hành hạ súc vật như thế. Thà rằng giết thịt thì giết ngay cho nó chết nhanh chóng. Kiếp sống trâu cày vốn đã khổ, trâu cày Miền Bắc lại càng khổ, con trâu cày ở trại cải tạo Miền Bắc thì luôn luôn bị hành hạ tàn nhẫn. Mà những người tù hình sự và những cán bộ trại giam dường như không hề ý thức rằng họ đang hành hạ súc vật. Bầy trâu sứt mũi đối với họ là một cái gì không đáng để ý. Tính tàn nhẫn đối với họ, đã trở thành một cái gì bình thường, tự nhiên.
Lúc nào cán bộ Cộng sản cũng có vẻ rất bén nhạy khi ai nói xa nói gần động đến “Bác” và “Đảng” của chúng.Nhưng chúng lại có vẻ rất coi thường khi có những việc tàn nhẫn xảy ra trước mắt.
5. Trước đây tôi vẫn nghĩ rằng tập thể Cộng sản là một tập thể rất kỷ luật, nhờ thế mà họ chịu đựng được chiến tranh trong mấy mươi năm. Sau mấy năm ở Miền Bắc, tôi nhận thấy rằng, họ chỉ có kỷ luật về chính trị thôi, còn các phương diện khác, họ rất vô kỷ luật.
– Về chính trị, chắc chắn là không ai dám nói động đến “Bác” và “Đảng”, hoặc động đến “Bác” và “Đảng” là phải “hoan hô”, “muốn năm”‘ không thế là đi cải tạo ngay lập tức. Nhưng trong sự phối hợp làm việc thì rất vô kỷ luật. Nghe trên báo chí tuyên truyền việc trong rừng ầm ỹ như thế, nhưng hồi ở Quảng Ninh, trại có một xưởng mộc. Anh em làm mộc được nghe nói về tình hình lâm sản Miền Bắc mới biết là nạn dân chúng phá rừng bừa bải đã khiến cho Miền Bắc nay không còn gỗ tốt nữa.
– Trong chuyến đi từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá, chúng tôi thấy các tài xế chạy xe rất vô kỷ luật. Cùng một đoàn xe với nhau mà không chịu nhường nhau, chạy song song trên những đoạn đường vừa hẹp vừa xấu. Mạnh ai nấy kiếm cớ chạy riêng để rút xăng trong xe ra bán xài riêng.
– Trại số 5 Thanh Hóa có cái đập nước để phân phối nước tưới ruộng và các vườn rau của trại, thì cán bộ của các đội cứ phá nhau, ai cũng chỉ biết lấy nước về thuận tiện cho đám đất của đội mình, tranh giành dòng nước và tháo nước, phá đập, phá cống, phá mương của nhau mà chẳng ai nghĩ đến việc điều hòa dòng nước.
Đó không phải là hiện tưọng riêng lẻ ở một vài nơi. Chúng tôi đọc thấy ngay trên báo Nhân Dân, và khi về Sàigòn, nghe mọi người nói đến lề lối làm việc của các cơ quan nhà nước Cộng sản , thì thấy ở đâu cũng thế cả. Họ cứ làm việc kém cõi , vô kỷ luật như thế, mà chế độ xã hội chủ nghĩa lại ôm hết công việc xã hội vào tay nhà nước, cho nên kinh tế lụn bại là phải. Nhưng chính quyền vẫn cứ thế mà cai trị, vì đó là thứ chính quyền xô-viết, rất có kinh nghiệm trong việc cướp và nắm chính quyền.
Tên Thiếu tá Thủ trưởng trại Quảng Ninh lần nào đến nói chuyện với chúng tôi trong các khoa khai báo năm 1978 cũng nhắc đến lời Hồ Chí Minh trong thời chiến: “Nay Johnson, quân đội Mỹ hãy rút về đi thì có hòa bình ngay lập tức”. Tên nầy nhắc mãi câu ấy, mà không để ý rằng câu ấy đến năm ’78 đã sai bét rồi vì sau khi Mỹ rút đi thì Cộng sản chiếm Miền Nam rồi chiến tranh với Campuchia chứ đâu có hòa bình. Nhưng hễ là lời của Hồ Chí Minh thì cứ nhắc, vì nhất định đó là “chân lý sáng ngời” rồi.
Có người vào đến Miền Nam, khi trở về Miền Bắc lại nói láo về Miền Nam
Gặp tên cán bộ muốn chứng tỏ Miền Bắc hơn Miền Nam thì tìm cách chê bai Miền Nam đồi trụy, gái Miền Nam toàn là đĩ điếm. Có tên nói với chúng tôi rằng “có chức tước như các anh thì vợ các anh toàn phải ngủ với cố vấn Mỹ cả rồi mới được lên chức như vậy, nay vợ các anh đều bỏ các anh cả rồi”.
Nhưng cũng có tên vào Miền Nam, thấy khóai quá, trở ra Bắc thổi phồng tình trạng trong Nam lên. Một anh trong chúng tôi vì đau mắt – mắt sắp mù-, chúng cho ra nằm bệnh viện Quảng Ninh. Khi về, anh thuật chuyện một tên bộ đội Cộng sản phục viên (giải ngũ) vì bị thương trong chiến tranh biên giới với Campuchia, đã từng nằm bệnh viện Chợ Rẩy Sàigòn, rồi về nằm bệnh viện Hòn Gay, kể chuyện Miền Nam. Tên nầy, sau khi hết lời ca tụng bệnh viện Chợ Rẩy và mạt sát các bệnh viện Miền Bắc, đã nói rằng, xa lộ từ Quảng Trị vào đến Saigon có bề rộng lề 60m, nhân dân Miền Nam nhà nghèo cũng có vài chục lượng vàng, còn nhà giàu thì có cả tấn vàng. Khắp nông thôn đâu cũng có điện, nhà máy điện Uông Bí ngoài Bắc nếu đem vào Nam chỉ đáng cho vào sọt rác… Chúng ta biết đời sống Miền Nam hơn Miền Bắc rất nhiều nhưng không phải ai cũng có vàng, và quốc lộ số 1 làm gì có rộng đến 60m…
Khi nghe những lời khen chê về Miền Nam, Miền Bắc, tôi thấy thật đau xót cho dân tộc Việt Nam. Mấy chục năm qua Cộng sản không để cho ai kiến thiết xây dựng, mải mê theo đuổi đường lối chiến tranh, tạo ra cả lớp người chỉ biết nói lếu láo bậy bạ, làm sai lạc cả mọi việc, chỉ sở trường về phá hoại, xuyên tạc. Và tôi nghĩ vấn đề truyền thông quả là quan trọng.
6. Tôi nghĩ là người Miền Bắc thật sự đã chán chế độ lắm rồi. Không thể có một cuộc điều tra kiểu Gallup ở Miền Bắc nên chẳng ai có thể đưa ra được những con số bao nhiêu phần trăm nghĩ gì về chế độ hiện tại. Nhưng những người tù hình sự Miền Bắc mà chúng tôi được gặp, những người bà con của anh em chúng tôi sống ở Miền Bắc, và ngay cả những cán bộ Cộng sản khi có dịp nói chuyện riêng tư, cũng thường để lộ ra sự chán nản.
Hồi ở trại Quảng Ninh, có một cán bộ trẻ tâm sự với chúng tôi:
– Các anh dù sao cũng còn có thời hạn ở trong trại nầy, chứ tôi thì ở đây chẳng biết đến bao giờ.
Hồi Trung quốc đánh Bắc Việt, các cán bộ mất tinh thần rõ rệt. Mãi mươi năm chiến tranh, họ đã được nghe tuyên truyền nhiều về “Trung quốc vĩ đại” và thực tế là trong chiến tranh, họ đã ăn gạo Trung quốc, xe cộ di chuyển toàn là của Trung quốc, súng ống đạn dược, máy truyền tin, chiến thuật du kích… toàn là của Trung quốc. Nay bỗng chốc nghe Trung quốc đánh sang, họ lo sợ cũng là chuyện thường tình. Trong giai đoạn cuối năm ’78, cán bộ trại giam phải bớt người để đưa đi phục vụ ở các tỉnh biên giới, tên nào bị đổi đi trong đợt ấy cũng mặt mày xanh xám.
Vì chán ngấy những thứ văn nghệ tuyên truyền mà giọng điệu chẳng có gì thay đổi, người Miền Bắc rất thích nhạc Miền Nam và cải lương Miền Nam. Hồi ở Quảng Ninh, có lần chúng tôi bắt gặp một nhóm cán bộ kiếm đâu được cái cassette, mở nghe nhạc Phạm Duy, nhưng thấy chúng tôi đến, thì họ vội vàng tắt máy. Các cô tù hình sự mỗi khi đi ngang chỗ chúng tôi, cứ cao giọng hát bản Chiều Mưa Biên Giới. Và họ rất chịu khó tập hát sáu câu vọng cổ.
Tại trại Quảng Ninh cũng như trại số 5 Thanh Hoá nhiều lần chúng tôi nghe những người tù Miền Bắc trách móc chúng tôi:
– Các chú trong Nam cái gì cũng giỏi, nhạc thật hay, đời sống sung sướng, mà các chú chỉ lo ăn chơi làm Miền Nam sụp đổ; nay các chú thì ở tù mà chúng cháu chẳng còn hi vọng Miền Nam giải phóng Miền Bắc được nữa.
Tôi không nghĩ những người nói như vậy thuộc về thiểu số. Đã có nhiều người ở Miền Bắc vào Nam gặp bà con tâm sự về nỗi thất vọng của họ khi Mỹ ngưng ném bom Miền Bắc. Trước đó, họ đã nghĩ rằng Miền Nam thế nào cũng đánh ra Bắc, màn ném bom chỉ là màn đầu. Nhưng tấn tuồng đã kết thúc bằng việc những người Miền Bắc vào Miền Nam trong tư thế kẻ chiến thắng mang tâm tư buồn bã vì thấy chế độ Cộng sản vẫn còn tiếp tục.
Chế độ đã làm cho người ta quá chán, chán đến nổi chấp nhận cả việc Mỹ ném bom trên đầu mình để mong có sự thay đổi. Nhưng mọi người đã thất vọng, và đã chán ngấy, vẫn phải hoan hô Bác và Đảng nếu không muốn bị đi cải tạo muốn năm.
C. Xã Hội Miền Bắc Cộng Sản.
Trong mục nầy, tôi không có ý phê bình tổng quát về xã hội Miền Bắc. Tôi chỉ muốn nêu lên vài điểm mà tôi nhận thấy được trong mấy năm ở tù. Muốn phê bình chung về xã hội Miền Bắc, cần phải thu thập nhiều dữ kiện mà hiện tôi không có.
1. Điểm nhìn thấy ngay trước mắt, thật rõ ràng cụ thể là nhà tù quá nhiều.
Tại Thanh Hóa, các cán bộ trại giam nói chuyện với chúng tôi có cho biết là trong tỉnh có bốn trại cải tạo. Trại chúng tôi ở có tên là trại số 5. Tôi không biết là cán bộ trại giam có rút bớt đi một trại hay không, nhưng ta cứ tạm chấp nhận là có bốn trại cải tạo trong tỉnh Thanh Hóa. Riêng một trại số 5 đã có ba phân trại, mỗi phân trại cách nhau chừng năm cây số. Vùng đất dành cho mỗi phân trại canh tác rất rộng. Hình ảnh, vị trí các trại giam đúng như kiểu “quần đảo Goulag”. Buổi sáng ra đi làm lao động thấy nhan nhản những tù là tù. Đội này đội kia, mặc toàn quần áo xanh có đóng dấu, thân thể gầy gò, vác cuốc gánh phân dưới sự kìm kẹp của những tên cán bộ đội nón cối, mặc áo vàng đeo súng. Phân trại B và phân trại C, mỗi phân trại chứa lối 1,000 tù nhân. Trong số 2,000 tù nhân ở hai phân trại B và C, có lối 500 người chính trị phạm tức là nhóm chúng tôi, còn lại 1,500 người là tù hình sự. Phân trại A là nơi có Bộ Chỉ huy trại đóng tại đó, được coi là trại chính, chứa lối 3,000 tù nhân cả nam lẫn nữ. Trong số 3,000 nầy, có khoảng 1,500 là cựu sĩ quan Quân Lực VNCH, anh em Biệt Kích và một ít chính trị phạm Miền Bắc, còn lại 1,500 là tù hình sự, đã số là nữ. Mỗi phân trại đều chia thành hai khu: khu A và khu B. Khu A dành cho chính trị phạm, khu B dành cho hình sự. Cả hai khu đều sống như nhau, dưới một ban Giám Thị chung.
Như vậy riêng một trại số 5 đã có 5,000 tù (2,000 chính trị phạm + 3,000 hình sự). Nếu tính các trại kia cũng cỡ như vậy (tôi nghe nói trại Cẩm Thủy còn lớn hơn nhiều) thì bốn trại ở Thanh Hóa chứa lối 20,000 tù nhân. Một tỉnh thôi, đã có 20,000 tù nhân.
Ta có thể so sánh với chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước kia, các Trung Tâm Cải Huấn tính ra chỉ chứa được từ 500 đến 1,000 người. Tỉnh Kiến Hòa chẳng hạn, thuộc loại tỉnh lớn ở Miền Tây, mà Trung Tâm Cải Huấn chỉ có nhân số lý thuyết là 500, khi nào số tù trong Trung Tâm lên đến 700 là Hội đồng Tỉnh đặt vấn đề giải tỏa rồi. Vậy mà một tỉnh Thanh Hóa dưới chế độ Cộng sản đã có lối 20,000 tù
Tôi nghĩ rằng số tù nhân cả Bắc lẫn Nam Việt Nam bấy giờ chắc không thể nào dưới 1 triệu, trong số đó ít ra phải có trên nửa triệu là tù chính trị (tại Miền Nam thì chịnh trị phạm nhiều hơn tù hình sự rất nhiều).
Cộng sản chiếm Miền Nam không thấy xây dựng thêm cái gì ích lợi, nhưng nhà tù thì được xây dựng thêm rất nhiều. Tỉnh nào cũng phải có ba, bốn nhà tù trở lên, mà mỗi nhà tù có sức chứa ba, bốn ngàn tù nhân là thường.
Nhà nước chẳng phải bận tâm vấn đề ngân sách vì tất cả tù nhân đều phải làm lao động sản xuất và thường xuyên ăn đói. Tôi nghĩ rằng các trại cải tạo có thể là những khoản thu của ngân sách chứ không phải là khoản chi. Năng suất của tù thì chắc chắn là thấp, vì chẳng mấy ai hăng hái làm khổ sai dưới mũi súng của những tên nón cối. Ngoài ra trại phải nuôi một số cán bộ và cảnh vệ, số nầy không lao động sản xuất. Tuy nhiên, tôi nghĩ cả trại cải tạo vẫn có thể nộp vào cho ngân sách vì sự chi tiêu cho tù nhân lại quá ít, tù nhân luôn luôn bị bỏ đói và rách rưới. Người tù nào cũng phải làm quần quật sáu ngày một tuần lễ dù năng suất có thấp đến đâu cũng phải đủ ăn mặc cho một thân mình. Đàng nầy lao động như thế, mà không phải nuôi gia đình ngược lại gia đình còn phải gửi thêm thức ăn, mà vẫn đói rách, thì tất Đảng và nhà nước đã có thủ lợi, đã có bóc lột sức lao động của tù nhân rồi. Còn nếu nhà nước Cộng sản không có thủ lợi trên các trại cải tạo thì điều đó chứng tỏ rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa là quá tồi tệ vì đã bắt mọi người làm việc cực nhọc như thế mà không đem lại kết quả gì về kinh tế tài chánh cả.
Số phụ nữ ở tù cũng là điều đáng chú ý. Trước kia trong Nam, chỉ có trại Nữ Tù Nhân ở Thủ Đức, còn các trại Cải Huấn tỉnh thì số nữ tù rất ít . Ra đến Miền Bắc, thấy trại Quảng Ninh và trại số 5 Thanh Hoá đều có số nữ tù rất đông. Họ cũng phải đi lao động, làm việc nặng y như tù nhân đàn ông. Đa số nữ tù nhân phạm tội buôn bán chui, trộm cắp, đĩ điếm.
Trái với những lối tuyên truyền của Cộng Sản, trái với lý thuyết Marx cho rằng trộm cắp đĩ điếm là sản phẩm của chế độ tư bản, một khi xã hội đã bước sang chế độ xã hội chủ nghĩa thì các tệ nạn xã hội sẽ được xóa bỏ vì tính cách ưu việt của chế độ mới. Thực tế Miền Bắc cho thấy rằng, sau mấy mươi năm thực hiện xã hội chủ nghĩa và đã “hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về cơ bản”, các tệ trạng xã hội lại càng trầm trọng hơn. Cho nên số tù nhân hình sự cả nam lẫn nữ đã gia tăng quá nhiều so với trước kia, và chẳng có dấu hiệu gì chứng tỏ có thể giảm bớt.
Trong số nam tù nhân, có một số phạm tội đào ngũ. Nạn đào ngũ hiện đã lan tràn trong bộ đội Cộng sản Việt Nam. Chúng tôi đã gặp những người tù hình sự cho biết họ đã đào ngũ trong Nam, hồi chiến tranh biên giới với Campuchia trong năm 77, 78 và bị bắt giải về Miền Bắc. Họ nói trước kia tưởng năm 1975 thế là xong, không ngờ nay lại tiếp tục chiến tranh không biết đến bao giờ. Họ nói thà đào ngũ để ở tù mà còn mạng sống, còn hơn là phải chết trong chiến tranh liên miên như thế.
Mỗi năm, nhân dịp, lễ 2-9, chúng cho “ân xá” một số tù hình sự. Cuối năm 1979, tại phân trại C trại số 5 Thanh Hóa, chúng tổ chức lễ ân xá cho khu hình sự có vẻ “đình đám”, để thả chừng trên 10 người. Hỏi kỹ lại thì thấy những người được thả, toàn là đã quá hạn tù cả rồi. Danh từ ngoài Bắc dùng lạ lùng thế đấy. Án tù 5 năm, người ta đã ở tù 6 năm mới được thả mà gọi là ân xá.
2. Lối làm việc tập thể ở Miền Bắc là lối làm việc thật là cẩu thả, thật là phí phạm.
Gần phân trại C, trại số 5 Thanh Hoá, có một khu đất rất rộng, có lẽ đến hàng chục mẫu của một Hợp tác xã ở gần đấy. Khu đất được dùng để trồng mè, nhưng không ai săn sóc nên cỏ và các cây dại khác chiếm đến 2/3, còn các cây mè bị lu lấp không lớn nổi, trái rất ít mà hột mè thì lép cả. Đứng nhìn khu đất rộng mênh mông đầy những cây hoang, tôi không thể tưởng tượng được người ta có thể phí phạm đến thế trong khi còn quá thiếu thốn. Hỏi thăm thì được biết rằng đã số xã viên Hợp Tác xã thấy làm cho Hợp Tác xã để lãnh tiền theo công điểm thì chẳng được bao nhiêu, mà đi buôn chui thì lời hơn nhiều, nên họ chỉ làm cho Hợp Tác xã một tháng mấy ngày công gọi là để giữ chân xã viên cho hợp lệ về hộ khẩu thôi, còn phần lớn thời giờ được dùng đi buôn bán riêng kiếm ăn. Cho nên Hợp Tác xã không đủ nhân công khai thác đất đai đã được phân phối. Thế mà đọc báo Nhân Dân thì thấy nói tỉnh Thanh Hóa là nơi tình trạng các Hợp Tác xã Nông Nghiệp rất là tốt đẹp.
Hồi ở Quảng Ninh, có lần chúng tôi chứng kiến cảnh một Hợp Tác xã ra đồng gặt luá. Đa số thợ gặt là đàn bà, có người phải đeo con dại trên lưng. Có một thanh niên thôi, thì người nầy có lẽ là người duy nhất, có học trong đám, nên được đứng trên bờ cầm sổ sách ghi công điểm, không phải lội xuống ruộng. Một lũ trẻ con khoảng từ 10 đến 13 tuổi đứng đầy bờ ruộng, chuẩn bị đi mót lúa sau khi gặt. Toán thợ gặt được dàn hàng ngang, có cầm cờ, có giăng biểu ngữ, sau khi nghe chàng thanh niên nói một hơi rồi cho lệnh xuống ruộng, thì tất cả bước xuống ruộng, theo hàng ngang vừa gặt vừa tiến lên. Họ gặt rất nhanh. Toán gặt vừa đi đến nửa đám ruộng thì đám trẻ con đã bắt đầu ào xuống mót lúa phía sau. Khi đem lúa lên thì thấy số lúa gặt đem về cho Hợp Tác xã lại ít hơn số lúa mà đám trẻ con đã mót được. Theo nội quy trại giam thì chúng tôi không được tiếp xúc với dân chúng bên ngoài, nhưng có vài anh bạo dạn tìm cách giả vờ đến xin nước uống để lân la hỏi vài câu. Nhờ đó chúng tôi được biết rằng đám trẻ con kia toàn là con cháu những người thợ gặt, nên họ đã cố ý chừa lại cho đám trẻ con mót được nhiều luá. Họ nói rằng gặt đem về Hợp Tác xã cho nhiều, thì nhà nước bắt nộp nghĩa vụ nhiều, đóng thuế cao chứ mình có được hưởng đâu. Để cho con cháu mót lúa đem về thì được hưởng ngay toàn vẹn số lúa mót được, mà Hợp Tác xã lại đỡ phải nộp nghĩa vụ. Họ nói rằng phần lớn các Hợp Tác xã đều làm ăn kiểu đó chứ nếu cứ thật thà thì chết với nhà nước .
Đi ra lao động tập thể, lúc nào cũng cờ quạt, biểu ngữ, đánh trống, hô khẩu hiệu, làm như ra quân đánh trận ghê gớm lắm, nhưng thực chất là làm việc như thế đó.
Cộng sản rất thích dùng chữ “chống”. Quanh năm lúc nào cũng hô hào “chống”. Khẩu hiệu chính trị, thì chống Pháp, chống Mỹ, chống Trung Hoa, chống phản động. Khẩu hiệu hành chánh thì chống tham ô lãng phí, chống cựa quyền, chống chây lười… Đến trời đất, thiên nhiên họ cũng chống. Mùa hè hô hào chống hạn hán; mùa thu họ chống lụt, chống ung, chống bão; mùa đông họ chống rét. Lúc nào họ cũng nói, giọng gây sự. Trước kia ta chỉ nói phòng bão lụt, đề phòng hạn hán. Nếu đã xảy ra bão lụt rồi thì ta nói cứu trợ nạn nhân bão lụt; nếu đang hạn hán, thì ta dùng máy bơm nước hoặc khai kinh đưa nước vào. Thế thôi. Với Cộng sản thì cái gì cũng chống.
Tuy vậy, trong lãnh vực kinh tế, miệng họ chống dữ dội như thế, nhưng làm thì chẳng ra gì đâu. Nói chống hạn hán nghĩa là dân chúng vẫn gầu sòng gầu giai mà tát nước đầy thôi, các trạm bơm nay hư mai hỏng chẳng mấy khi dân chúng được nhờ, và thực ra cũng chẳng có được mấy trạm bơm. Chống bão có nghĩa là lấy tre nẹp chặt các mái nhà lại, thế thôi. Chống rét thì dường như chẳng có công tác gì thực tế, chỉ là bắt dân chúng dù thiếu áo ấm cũng cứ phải đi làm trong trời rét. Còn lũ lụt thì có lẽ có vấn đề hộ đê sông Hồng Hà mà ông bà ta đã làm cả ngàn năm về trước chứ chẳng có gì mới lạ. Nói chống bão lụt, những năm 1978 vẫn phải kêu cứu xin quốc tế viện trợ, và lại có cơ đổ thừa tại bão lụt nên không thực hiện được kế hoạch ngũ niên.
3. Đời sống tinh thần rất là buồn tẻ. Chính sách ngu dân, bưng bít đã làm cho mọi người tự cao tự đại, tưởng mình là trung tâm thế giới trong khi khả năng thực sự chẳng có gì. Báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, nếu đem phát hành trong một xã hội tự do thì chắc chắn chẳng ai mua vì quá khô khan và chỉ ca tụng chính quyền.
Có lần tôi đọc trên báo một bài thơ của Xuân Diệu ca tụng khoai lang Ban Mê Thuột và một bài tùy bút cũng của Xuân Diệu. Bài thơ viết thật ngộ nghe rõ ràng là không có chút rung cảm nào. Còn bài tùy bút thì toàn là những câu khẩu hiệu và những câu trong các tài liệu học tập chắp lại, đọc lên nghe như bài văn của một kẻ mất trí viết lung tung không đầu không đuôi.
Miền Bắc chống nhạc Miền Nam, chống nhạc jazz, nhưng bây giờ các loại nhạc nầy được phổ biến khắp nơi và được thanh niên rất ưa chuộng. Trong lý luận vẫn nghe Miền Bắc cho rằng phẩm chất, nội dung văn nghệ là do xã hội mà ra. Nhưng trong khi chủ trương văn nghệ phải phục vụ cách mạng, phục vụ giai cấp, thì đối với nhạc Tây phương, họ lại chỉ chơi nhạc cổ điển là loại nhạc của giới qúy tộc Âu-châu trong các thế kỷ trước, và chối bỏ nhạc jazz là thể nhạc rất phóng túng của những người da đen. Thành thử miệng nói cấp tiến mà thật ra là rất bảo thủ. Và họ chơi nhạc cổ điển Tây phương có lẽ chỉ vì Lénine rất thích nhạc của Tchaikovsky.
Tôi không có ý chê nhạc cổ điển và khen nhạc jazz, ngược lại, tôi thích nhạc cổ điển hơn nhạc jazz. Điều tôi muồn nói là Cộng sản không chịu cho tự do vặn nghệ mà luôn luôn chỉ huy văn nghệ, và đưa ra lý luận văn nghệ để chỉ huy nhưng họ lại tự mâu thuẫn với chính họ trong lý luận văn nghệ khi chối bỏ nhạc jazz và đề cao nhạc cổ điển.
Nhưng quần chúng Miền Bắc hiện nay cũng không để cho Cộng sản hoàn toàn nắm được. Cho nên nhạc jazz và nhạc Miền Nam được phổ biến trái với ý muốn của chính quyền Cộng sản mà chúng vẫn không ngăn cản nổi.
Phản ứng của dân Miền Nam khi đọc các tác phẩm văn nghệ Cộng sản thường không đúng như ý mong muốn của Cộng sản.
Khi đọc quyển “Tháp Đã Tôi Thế Đấy”, quyển sách kể chuyện một thanh niên Nga vào thời kỳ 1917 hăng hái hoat động cho đảng Cộng sản Nga đến nổi sau bị bệnh nặng liệt cả người, chúng tôi đã phê bình rằng người nào theo Cộng Sản thì rốt cuộc rồi cũng thế: khi còn sức lực thì phục vụ cho Đảng, khi ngã bệnh thì làm khổ gia đình, hậu vận thật xấu.
Hồi mới ra Quảng Ninh, chúng tôi có xem một vở kịch do Ban Văn nghệ của trại trình diễn. Đề tài của vở kịch là chống gian thương. Trong vở kịch, nhân vật chính là một người đàn bà đem một con gà ra chợ bán, bị rượt bắt đem về cơ quan rồi bị phê bình kịch liệt. Cuối cùng người đàn bà nhận tội và ăn năn hối lỗi. Anh em chúng tôi xem, người nào cũng để ý đến việc xã hội Miền Bắc không có quyền đem con gà ra chợ bán.
Cộng sản chiếm được Miền Nam, đem chiến lợi phẩm về Miền Bắc rất nhiều, trong đó có cả những sách kiếm hiệp của Kim Dung, những tác phẩm văn nghệ Miền Nam, những băng cassette nhạc Miền Nam, mà chính quyền Cộng sản ra lệnh đốt bỏ nhưng vẫn được lén lút đem về Miền Bắc. Và rất nhiều máy thu thanh, mà Cộng sản gọi là “cái nghe đài”. Các chiến lợi phẩm nay dần dần trở thành con ngựa thành Troie, nhờ đó tinh thần quần chúng Miền Bắc, và cả tinh thần cán bộ nữa, đã chuyển biến khác xưa, và tiếng nói của những đài BBC, VOA… đã đến được tai những người Miền Bắc mà chính quyền Cộng sản nầy dù muốn cấm đoán cũng không cấm nổi.
4. Nạn cướp giật, trộm cắp, tham nhũng ở Miền Bắc trầm trọng hơn Miền Nam trước kia.
Gia đình chúng tôi từ Miền Nam ra thăm, chuyến nào cũng có người bị cướp giật hoặc nhìn thấy các vụ cướp giật. Trên các chuyến xe lửa và tại các ga xe lửa, các vụ cướp giật xảy ra thường xuyên. Các bà trong Nam ra thường phải rủ nhau ba, bốn bà đi chung để cùng nhau giữ đồ đạc chống bọn cướp giật. Tại tỉnh lỵ Thanh Hóa không có khách sạn, phòng ngủ tư nhân, mà chỉ có một nhà trọ do nhà nước tổ chức, tất nhiên là có Công an theo dõi những người đến trọ. Thế mà ngủ tại nhà trọ nầy vẫn bị trộm, bị mất đồ đạc.
Hồi ở trại Quảng Ninh, sắn chúng tôi trồng đến khi thu hoạch, mất khoảng 50%. Cán bộ thường nói là tù hình sự đã trộm, mà tù hình sự ban đêm ở trong phòng giam, nhưng thường sáng sớm đi ra lao động, chúng tôi thấy dấu tích các vụ đào bới trong ban đêm. Ở Thanh Hoá, đội chúng tôi phụ trách trồng rau, có được đám cải bắp trồng được thì sáng nào ra cũng thấy mất hàng chục bắp cải.
Trông số các bà đi thăm nuôi, có bà cho biết đã bắt được đường dây tham nhũng trong hệ thống cứu xét hồ sơ để thả những người đang bị giam giữ. Có bà cho biết rõ là đã gặp đến một ông cấp Thủ trưởng tại Hà-nội, ông nầy đòi 12 lượng vàng để lo vụ thả chồng bà.
Chúng tôi đọc những vụ báo Nhân Dân đăng lên cũng đủ rõ là nạn tham nhũng đi đến mức độ có hệ thống từ trên xuống duới, vì thấy có những vụ làm ăn rất lớn, trong thời gian hàng năm mới phát giác, chứng tỏ là có nhiều người nhiều cấp phối hợp tham nhũng mới có thể thực hiện được như vậy.
5. Đời sống kinh tế Miền Bắc hiện nay là một bằng chứng rõ ràng về sự sai lầm của đuờng lối kinh tế Mác-xít. Miền Bắc tự cho là đã xây dựng xong về cơ bản nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhưng thực tế cho thấy rằng những gì nhà nước cung ứng theo giá chính thức (một thứ giá cả hoàn toàn giả rạo) bằng hệ thống quốc doanh hay hợp tác xã, vẫn chỉ chiếm một tỉ lệ quá nhỏ trong đời sống dân chúng, mặc dầu nhà nước đã nắm hầu hết các tài nguyên sản xuất. Trong khi dó, khu vực kinh tế bất hợp pháp vẫn hoạt động một cách thật hỗn độn, thật tệ hại, mà chính quyền Cộng sản dù chuyên chính cũng không cấm đoán được vì nếu diệt khu vực kinh tế nầy thì xã hội lại không sống nổi.
Sự sai biệt giữa giá chính thức với giá chợ đen thường là 1-10, 1-20 hoặc có khi 1-30. Giá chính thúc một ký thịt lợn hơi (tức là giá heo đứng) chỉ có mấy hào trong khi giá chợ đen (mà họ gọi là giá tự do) ở Quảng Ninh là 6$, rồi 7$ năm 1977, lên đến 10$ năm 1978 rồi khi vào Thanh Hóa thì trên 10$ cũng không mua được nữa. Gia đình chúng tôi từ Miền Nam ra thăm nuôi mua vé xe toàn phải mua giá chợ đen. Giá vé xe lửa Sàigòn-Thanh Hoá chính thức là 45$ (chỉ có ghế ngồi, không có giường nằm) nhưng có bà cho biết đã phải mua với giá 300$ (tương đương với 120,000$ tiền cũ). Đối với xe đò, sự sai biệt giữa giá chợ đen và giá chính thức còn cao hơn nữa.
Trên những đoạn đưòng đặc biệt không có xe đò, có thể bắt chẹt được, thì các bà đi thăm nuôi chịu giá đặc biệt. Một chuyến xe trâu từ đường cái vào đến phân trại C chúng tôi chỉ độ hai cây số phải trả 200$ (tương đương 80,000$ tiền cũ), trong khi lương một bác sĩ mỗi tháng chỉ độ 60$/ tháng.
Tính cách phi lý của giá cả làm người ta thấy rõ hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa hoàn toàn trái với tự nhiên. Nó chỉ là sự gò ép bó buộc của một chính quyền độc tài bắt người ta phải làm theo ý mình trong khi mọi người đều tìm cách phản ứng lại. Và chính quyền càng siết chặt thì mức sản xuất càng thấp, đời sống kinh tế càng bi thảm. Nếu chính quyền hơi nới lỏng (vì phải đối phó với các vấn đề chính trị, quân sự) thì hệ thống chợ đen lập tức phát triển hỗn loạn ngay.
Trong lãnh vực sản xuất, mỗi khi thấy mức sản xuất quá sút kém mà những khẩu hiệu thi đua, những lẵng hoa của Tôn Đức Thắng hay danh hiệu anh hùng lao động không đủ hấp dẫn để thúc đẩy sản xuất, họ cũng có nới lỏng đôi chút, cho một chuc tư lợi, tư hữu để khuyến khích sản xuất. Nhưng hơi nới lỏng thì họ lại vội vàng tìm cách ngăn chận “khuynh hướng tư bản tái phát”. Nghĩa là chận không cho mọi người làm giầu, sợ như vậy lại trở thành tư bản chủ nghĩa. Và trong trình độ kinh tế của Miền Bắc hiện nay, khi chận mọi người làm giàu, chính quyền Cộng sản đã bần cùng hóa nhân dân, thực tế đã phơi bày rõ ràng như vậy. Đó là kết quả của chủ trương của Hồ Chí Minh “từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa không kinh qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”.
Đường lối kinh tế Mác-xít tự nó vốn đã sai lầm (điều nầy các sách vở đã nói qua nhiều và thực tế cũng đã chứng minh rồi, thiết tưởng không cần phải dài dòng ở đây) dù cho có kinh qua giai đọan tư bản chủ nghĩa. Nhưng trường hợp Bắc Việt chủ trương bước nhảy vọt từ kinh tế lạc hậu sang thẳng xã hội chủ nghĩa thì sự sai lầm lại càng tệ hại hơn.
Tại Thanh Hoá, khi đi làm lao động khổ sai, tôi đã gặp những bà già gầy còm mặt mũi hốc hác trông không còn ra người mà phải đi mót sắn để kiếm ăn. Đám sắn của lũ tù đội chúng tôi, sau khi thu hoạch, chúng tôi đã mót đi mót lại năm lần bảy lượt, có còn gì đâu trong miếng đất. Tôi nghĩ có lẽ các bà già ấy đã đói quá nên mới phải đi làm một công việc mà kết quả ít như vậy. Cả ngày đào xới mới kiếm được vài củ sắn. Với tuổi già sức yếu như thế đáng lẽ các bà phải được nghỉ ngơi. Tôi nhìn kỹ những bà già ấy, thầm nghĩ những con người nầy suốt đời biết gì là sung sướng. Sinh ra đói khổ, lớn lên đói khổ, về già đói khổ. Thế mà suốt mấy mươi năm cứ phải luôn miệng “ơn Bác ơn Đảng”. Ai phải chịu trách nhiệm về những cuộc đời cơ cực như vậy?
Tôi đã thấy những em bé mới trông tưởng 8-9 tuổi hỏi ra thì đã 13-14 tuổi, lớn không nổi vì thiếu ăn, cả ngày dầm mình dưói nước bùn lầy để bắt cá trong mùa đông rét buốt. Hỏi các em sao không đi học, các em trả lời là “học trường vừa học vừa làm”. Nhưng chúng tôi thấy đa số các ngày trong tuần, các em phải đi bắt cá, mò cua, mót sắn, mót khoai, không biết trường hoc của các em ở đâu và học trong những ngày nào?.
Từ khu đất lao động, nhìn xa xa, chúng tôi thấy các khu nhà Hợp Tác xã, Nông Trường. Trong các khu nhà, thấy chẳng hơn gì các nhà tù mà chúng tôi đang sống. Đời sống ở nông trường cũng sống theo tiếng kẻng. Kẻng báo thức, kẻng đi làm, kẻng ăn cơm, kẻng ngủ. Hợp Tác xã, Nông Trường cũng chỉ là những trại tập trung, rộng rãi hơn trại giam một chút mà thôi.
Tôi đã thấy những ống kem đánh răng mà kem khô đặc bóp mãi không ra, còn nhôm làm ống kem thì quá dòn và cứng, bóp mạnh thì vỡ. Tôi đã thấy những gói kẹo có ghi rõ nhà máy quốc doanh sản xuất kẹo mà kẹo thì chảy nước, còn bao nylon thì rách và xấu xí không thể tả. Những sản phẩm tồi tệ như vậy, nếu là trong một xã hội tự do thì chắc chắn ai cũng chê, nhưng trong xã hội Miền Bắc thì người ta tìm mua không có.
Tiêu chuẩn phân phối rất là phân biệt. Trong chế đô phong kiến trước kia, tuy vua quan có được nhiêu ưu quyền nhưng đâu có đến nổi sâm nhung phải dành riêng cho vua quan. Thế mà trong chế độ tự xưng là cách mạng, cao hổ cốt chỉ được dành cho cấp tỉnh ủy trở lên, thuốc lá thì phân biệt thứ dành cho ủy viên Trung Ương , thứ dành cho tỉnh ủy, thứ dành cho huyện ủy, thứ dành cho quần chúng, không có lẫn lộn. Rượu cũng thế. Loai rượu mật ong chúa chẳng hạn, chỉ nhân viên cao cấp mới được phân phối. Cho nên Hà-nội có bài vè dài mà tôi không nhớ hết, bắt đầu bằng câu: “Tôn Đản là chợ vua quan…” (Tại đường Tôn Đản Hà-nội, có cửa hàng phân phối các thứ dành cho cấp ủy viên Trung Ương Đảng).
Lúc chúng tôi ở Quảng Ninh, có anh bạn ra bệnh viện Hòn Gay mổ mắt, về kể lại rằng, khi đang mổ thì nghe bên ngoài có tiếng gọi phân phối cá. Thế là cả bác sĩ lẫn y tá đều bỏ chạy ra ngoài để lo việc mua cá. Ông bác sĩ, sau khi nhờ người đứng chờ lãnh giùm phần mua của ông, trở vào tiếp tục ca mổ, chắc lấy làm ngượng, cho nên giải thích rằng ở bệnh viện Hòn Gay, mấy tháng rồi mới được phân phối cá. Cá phân phối đến nơi thường là ươn hoặc gần ươn cả, nhưng dù sao giá cũng rẻ hơn mua ngoài. Lối phân phối như thế mà tự xưng là tiến bộ đấy.
Tôi đã nghe những anh bộ đội đào ngũ bị bắt giam bên khu hình sự kể lại đơn vị của anh ban đầu được chỉ định làm kinh tế, phụ trách một nông trường trong Nam. Làm được mấy tháng thì được điều động ra chiến trường Campuchia, bỏ phí tất cả nông cụ tiền bạc đã chi tiêu xử dụng. Chủ trương đưa quân đội làm kinh tế đã hoàn toàn thất bại.
Kế hoạch ngũ niên 1976 – 1980 chỉ là một sự khôi hài. Kế hoạch dự trù đến năm 1980 mức sản xuất lương thực phải lên đến 21 triệu tấn, nhưng đến cuối năm 1979, các chuyên viên trong Ủy ban Kế hoạch nhà nước chỉ dám mong ước số lượng 15 triệu tấn cho năm 1980, nghĩa là còn dưới số sản xuất của năm ’76.
Hiện tại đã đói mà theo những con số do chính báo Nhân Dân nêu lên thì mức gia tăng sản xuất không theo kip đà gia tăng dân số. Đó là thực chất của lộ trình “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”. Kết quả chắc chắn là càng ngày càng đói rách hơn.
6. Về phương diện hành chánh, chính quyền Hà-nội chủ trương Huyện là đơn vị kinh tế. Huyện phải là đơn vị mạnh nhất trong việc phát triển kinh tế đia phương. Toàn quốc hiện nay có khoảng 500 huyện (với dân sô khoảng 50 triệu). Trong khi cấp tỉnh được ghép lại để cơ sở tỉnh ít hơn, thì cấp huyện vẫn giữ ghép lại, vẫn giữ khuôn khổ cũ. Tôi không biết với vai trò tích cực như thế, huyện có ngân sách riêng hay không. Nếu có ngân sách thì có lẽ nền hành chánh trở nên quá nặng nề; còn nếu không có ngân sách thì huyện lại không thể thi hành vai trò của mình được.
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, khi đưa ra quốc sách Ấp Chiến Lược, ông Ngô Đình Nhu cũng giao cho cấp Quận giữ vai trò chủ yếu trong việc lập ấp chiến lược. Nhưng đơn vị thật ra là đơn vị Ấp, mà cấp Quận chỉ giữ vai trò đơn độc tích cực.
Còn bây giờ, ở Việt Nam, Huyện được quan niệm là đơn vị kinh tế, với vai trò tương đối tự trị.
Tôi không có đủ dữ kiện để phê bình chủ trương nầy, nhưng về phương diện hành chánh và kinh tế, tôi nghĩ chọn cấp Huyện làm đơn vị là không thích hợp.
7. Phụ nữ Miền Bắc bị bóc lột tàn nhẫn
Chính Tố Hữu đã nói “chúng ta sống trên lưng những phụ nữ trung niên“. Đàn ông và thanh nữ bị huy động phục vụ chiến tranh và phục vụ trong guồng máy nhà nước cồng kềnh, trở thành những kẻ ăn bám, để gánh nặng sản xuất đè lên vai giới phụ nữ trung niên.
Tôi đã nhìn thấy cảnh những Hợp Tác xã ra đồng làm việc, đại đa số là phụ nữ trung niên. Khẩu hiệu dành cho phụ nữ là “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Với câu khẩu hiệu mỹ miều ấy, họ đã bắt phụ nữ Miền Bắc, vừa phải lo việc sản xuất, vừa phải lo việc gia đình. Ông chồng thì Đảng và Nhà Nước thường bắt đi công tác xa, thỉnh thoảng mới về vài ngày tặng cho vợ cái bầu để cho vợ mang nặng đẻ đau nuôi con khôn lớn cho Đảng và Nhà Nước bắt đi lính phục vụ cho mưu đồ bành trướng của Nga Sô.
Hồi ở trại Quảng Ninh, tôi đã gặp một phụ nữ trung niên bị ở tù vì đã từ chối không chịu ký giấy thuận cho con trai mình ở tuổi vị thành niên đi bộ đội. Bà uất ức nói với chúng tôi:
– Con mình đứt ruột đẻ ra, vất vả trăm chiều nuôi nấng nó; thế mà chưa kịp lớn thì Đảng đã bắt nó đi lính. Tôi không chịu ký giấy, kết quả là con tôi vẫn phải đi lính, thêm vào đó, tôi phải đi ở tù.
Cung cách đối xử lịch sự dành ưu tiên cho phụ nữ bị coi là lề thói tư bản chủ nghĩa, là tác phong tiểu tư sản. Nam nữ bình quyền, đối với Miền Bắc, có nghĩa là phụ nữ phải làm việc nhiều hơn xưa, nặng nhọc hơn xưa, mà không được qúy trọng bằng ngày xưa, mặc dầu vẫn phải mang nặng đẻ đau, vẫn phải gánh chịu công việc sinh con để bảo tồn nòi giống, công việc mà Tạo Hóa đã giao riêng cho người phụ nữ.
Sáng hôm sau có một vụ mưu sát cá nhân tôi. Cuộc mưu sát đã được sắp đặt sơ sài và thi hành một cách vụng về – nhưng cũng rất gần thành công. Lúc ấy là chín giờ hơn và Bill Slavich đang lái xe đưa tòi từ nhà đến Sứ-quán. Khi chúng tôi quẹo quanh góc phố cuối cùng rẽ vào đường Hàm-Nghi thì có kẻ ném ra đường trước mặt xe một gói bọc giấy báo. Slavich quẹo gắt xe để tránh và một lát sau nó nổ tung. Tiếng nổ ngang sườn xe chúng tôi làm vỡ tan các cửa kính bên xe và đầy xe chúng tôi văng ngang qua đường. Do đó xe chúng tôi làm gẫy một trụ đèn và đụng mạnh vào một chiếc xe vận tải đậu ở đó. Bill Slavich bị rách mặt. Tôi bị xây sát xoàng ở tay, cổ tay và thái dương sưng u như trái ổi.
Đám đông bu đến như thường lệ, một toán cảnh sát lanh lẹ đưa tôi vào Sứ-quán và câu chuyện chấm dứt như một cảnh phim giật gân trên vô-tuyến truyền-hình. Bill Slavich hội họp với cảnh sát và Harry Yaffa, trong khi Anne Beldon cuống quít lau sạch vết thương cho tôi để tôi đến viếng thăm ông Bộ-trưởng Ngoại-giao. Tôi không dấu diếm chi hết. Tôi bị xúc đông.
và run sợ. Một câu kinh đọc từ thuở nhỏ chợt đến trong trí óc tôi: «Xin Chúa cứu rỗi chúng con khỏi một cái chết bất thình lình và thiếu chuẩn bị. » Cái chết đã đến rất gần và thật ra tôi đã thiếu chuẩn bị để chết. Tôi uống luôn một hơi thật lẹ hai ly whisky và tôi kinh ngạc thấy mình cầm ly không vững. Mặt tôi soi trong kính buồng tắm trông xám ngắt như bột bánh. Rồi cái hóa học mau lẹ của phản ứng bắt đầu và tôi vừa tức giận vừa khoái trí-tức giận với những kẻ bắt chúng tôi liều mạng sống của chúng tôi và tuy vậy vẫn không biết ơn việc ấy; khoái trí là vì tôi có thể đến trình diện tại Bộ Ngoại-giao mang theo những vết thẹo của một vụ ám sát. Đến lúc tôi sẵn sàng ra đi thì phòng khách của Sứ-quán đầy nhóc những phóng viên và nhiếp ảnh viên. Đối với họ thì đây là thảm kịch trang đầu và tôi rất muốn họ hưởng thụ chuyện đó và đồng thời tạo nên cho tôi một mối lợi. Harry Yaffa lại đưa ra thêm ngón kịch trường riêng của hắn bằng cách yêu cầu phải có cảnh sát hộ tống tôi đi đến Bộ và về cùng thêm cảnh sát bảo vệ nhà tôi và những đường ngõ đi đến Sứ-quán. Thế là với trái bom nổ chậm của riêng tôi trong túi áo trên ngực, tôi được đưa tới Bộ Ngoại-giao với người bao xung quanh và lính võ trang!
Cuộc hội kiến giữa tôi và ông Bộ-trưởng ngắn ngủi và đầy sóng gió. Tôi trao cho ông bức văn thư và chờ đợi trong lúc ông đọc. Với sự giận dữ lạnh lùng, ông bảo tôi là sự áp dụng những trừng phạt là một sự can thiệp vô căn cứ vào công việc nội bộ của một nước có chủ quyền. Điều đó dĩ nhiên là đúng mặc dầu tôi không thể công nhận. Tôi nhắc nhở ông một cách vắn vẻ là đừng có trông mong chúng tôi tài trợ cho những chính sách khống chế làm cho chúng ta mâu thuẫn với toàn thể thế-giới Phật-giáo. Điều đó lại càng làm ông tức giận thêm và ông cho rằng nếu chúng tôi trả tiền viện trợ thẳng cho bọn Việt-cộng thì cũng không thể làm được điều gì tồi tệ hơn thế. Đó là sự khai mào mà tôi đã mong đợi và tôi bèn lợi dụng nó một cách khiếm nhã.
« Thưa ông Bộ-trưởng, nếu đúng như vậy thì chẳng có lẽ lại là bọn Việt-cộng đã định giết hại tôi sáng nay? »
Sự gợi ý ấy làm ông bị xúc động và liền lao mình vào một sự cải chính hăng say. « Thưa ông Đại-sứ, đó là một ý tưởng kinh tởm. Một lời chửi vào mặt cá nhân tôi và Tổng-thống tôi. Vâng, chúng ta có những mâu thuẫn và khó khăn, Nhưng nghĩ cho cùng chúng ta vẫn là bạn đồng minh chiến đấu một kẻ thù chung. Tôi xin ông gạt bỏ những ý tưởng ghê tởm đó di. Tôi xin cam đoan riêng với ông rằng những ban an-ninh của chúng tôi sẽ mở một cuộc điều tra đầy đủ và chúng tôi sẽ không yên nghỉ cho đến khi nào những tên thủ phạm bị đưa ra trước công lý ».
«Thưa ông Bộ-trưởng, tôi vui sướng nhận sự cam kết đó. Nhưng tôi xin nhắc ông rằng chính Chính phủ ông đã tô mầu những sự ngờ vực xấu xa đó. Những lời buộc tội tại Quốc-hội chẳng hạn, sự vắng mặt của ông tại đám tang binh sĩ Thủy-quân Lục-chiến của chúng tôi mà ai cũng biết, sự gợi ý riêng của ông rằng chính sách của chúng tôi làm lợi cho Việt-cộng-làm sao mà tôi có thể hiểu những sự việc đó một cách khác được nếu không phải là những lời tuyên bố công khai sự thù nghịch đõi với tôi và nước tôi? »
Đó là cuộc đối thoại gai góc thông thường của những nhà ngoại giao bực tức và lẽ dĩ nhiên nó chẳng giúp ích gì để thay đổi được sự thật của vấn đề. Chúng tôi nắm giữ cây gậy lớn và chúng tôi đang cầm gậy đó đập lên đầu Chính phủ. Do đó, mặc dầu tôi thắng cuộc với lời lẽ, tôi cảm thấy không hãnh diện với chính mình trong khi xe đưa tôi trở về trong buổi sáng rực rỡ.
Phố phường đông đúc những người. Nắng chiếu dữ dội sau một đêm mưa và trông dân chúng đi lại có một vẻ náo nhiệt xoa dịu như thể mặc tất cả những sự khó nhọc của họ, mặc tất cả sự mua bán buồn thảm về âm mưu và khuynh đảo, họ vẫn nhất quyết ăn, uống và vui vẻ như họ vẫn có thể làm như vậy dưởi nền cai trị thanh khiết của Phùng văn Cung. Nếu tôi chết đi sáng nay thì họ cũng vẫn đi lại làm ăn, không mảy may xúc động hay bận tâm. Chỉ có những người Thiên chúa giáo là có lẽ đã cầu nguyện cho tôi bởi vì họ đã bị ràng buộc vào một sự tin tưởng nơi tình huynh đệ của tôi với họ trong niềm cảm thông của Thần thánh. Đối với những kẻ khác, thì sự nhớ đến tôi sẽ được chôn chặt trong vòng một tiếng đồng hồ dười sự lãnh đạm rộng lớn của Á-châu. Đó là một ý tưởng đen tối và nó vụt đem tôi về điều suy nghĩ mà George Groton đã gợi ra đêm hôm trước: Để đạt cứu cánh nào mà chúng ta lại đi tổn phí tất cả những tiền bạc, ngoại giao, công việc và máu người như vậy? Lại một lần nữa tôi nhớ đến lời răn dạy của Muso Soseki:
«Người ta nhờ đến ông khuyến cáo và cố vấn và do đó, thật ra ông có thể giúp vào việc đề ra những mục đích sau này sẽ được đưa ra cho ông … » Tôi đã thấy điều này xảy ra. Nhưng trong mọi điều tôi đã đề nghị làm, tôi đã giới hạn tôi vào cái ngắn hạn và cải tạm bợ. Tôi vẫn chưa sẵn sàng để cứu xét cho riêng tôi những quan điểm trái nghịch với chính sách đương thời của Hoa-kỳ. Tuy vậy, điều đó mặc nhiên nằm trong trách vụ tôi đã được giao phó và nếu tôi không kêu gọi đến nó thì những sự dồn dập mau lẹ và bạo động của những biến cố sắp đến sẽ khiến tôi thiếu chuẩn bị.
Khi tôi về đến Sứ quán, tôi thấy nơi đó như đang dậy men. Tổng-đài bị ứ nghẹn những cú điện thoại từ các Sứ quán khác gọi đến để xin chi tiết về cuộc mưu sát. Báo chí hãy còn đòi mầu sắc và bình luận để thêm thắt vào các bản tin tức họ gửi đi. Sự đi lại nườn nượp, toàn những nhân vật kỳ cục đến hội kiến với Harry Yaffa và những đồ đệ của hắn. Tấn thảm kịch đã diễn ra quá lố nên tôi ra chỉ thị cho mọi người rời khỏi Sứ quán càng nhanh càng hay và trở về với công việc như thường lệ. Tôi triệu tập một buổi họp các phụ tá thâm niên của tôi vào lúc hai giờ và sau đó ngồi lặng yên xem các bản tin tức hàng ngày. Tin tức từ Liên-hiệp-quốc rất là hữu ích. Một kiến nghị của Nga-sô đòi gửi Ủy-hội Kiểm-soát Đình-chiến cũ của Đông-dương đến miền Nam Việt-nam bị bác bỏ. Thay vào đó, Chủ tịch Hội-đồng Liên-hiệp-quốc đã chỉ định Afghanistan, Ba-tây, Tích-lan, Costa Rica, Dahomey, Ma-rốc, và Népal Iàm những nước hướng dẫn vụ điều tra về Phật-giáo. Các Ủy-viên đó sẽ đến đây trong khoảng một tuần. Tôi thấy một sự khôi hài ghê sợ trong ý nghĩ một vị thượng khách ở Dahomey đến mà cố gắng tìm hiểu những sự tế nhị của Á-châu và con người từ Tích-lan lại có thể vô tư đối với những sai lầm của những kẻ đồng đạo. Tuy nhiên Ủy-hội đó là vấn đề của Cung, không phải của tôi và tôi vui sướng để mặc ông đối phó.
Bức điện văn của Festhammer ngắn ngủi nhưng ở phần đuôi có một cái nọc:
CHẤP THUẬN HÀNH ĐỘNG CỦA ANH VỀ TRỪNG PHẠT. CHẤP THUẬN TIẾP XÚC NGOÀI HỆ THỐNG NGOẠI GIAO VỚI DƯ LUẬN CHỐNG ĐỐI. TUY NHIÊN VÌ TRỪNG PHẠT TÀI CHÍNH SẼ TỐI HẬU LÀM SUY YẾU NỔ LỰC, CHIẾN TRANH NÊN CHÚNG TA PHẢI CỨU XÉT MỘT GIỚI HẠN THỜI GIAN TRONG ĐÓ HOẶC HOÀN TẤT ĐƯỢC SỰ HÒA GIẢI VỀ MỤC ĐÍCH VỚI CUNG HOẶC HÀNH ĐỘNG THAY THẾ ĐƯỢC ĐỀ NGHỊ THI HÀNH. DƯ LUẬN THƯỢNG VIỆN VÀ QUỐC HỘI NÓI CHUNG TÁN THÀNH TRỪNG PHẠT, NHƯNG THƯỢNG NGHỊ SĨ GOLDING ĐÃ LỚN TIẾNG KÊU GỌI TRUNG LẬP. ÔNG CÓ THỂ LÀ ĐIỂM TẬP KẾT NHỮNG SỰ CẮT XEN NGÂN KHOẢN VIỆN TRỢ VA DƯ LUẬN CHỦ TRƯƠNG BẤT CAN THIỆP NÓI CHUNG. CHÍNH PHỦ SẼ HOAN NGHÊNH BẤT CỨ LUẬN ĐIỆU TỰ TIN NÀO ANH CÓ THÊ ĐEM VÀO CÁC LỜI TUYỀN BỐ CÔNG KHAI VÀ BẢN TIN TỨC CỦA SỨ QUÁN.
Đó dích thực là Festhammer thuần túy, con người lúc nào cũng muốn được ăn, được nói, được gói đem về và sau đó lại được một viên thuốc để chữa bệnh ăn không tiêu nữa. Tôi đã có quá nhiều rắc rối của chính tôi mà chưa cần phải lo lắng đến những cơn đau bụng của một ông Thượng-nghị-sĩ béo tốt ở Hoa-thịnh-đốn. Tuy vậy nếu có nhiều Thượng-nghị-sĩ cùng la hét quá to thì họ có thể gây nên một trận gió lớn, đủ mạnh để làm bay phấp phới những lá cọ và làm gợn sóng dòng nước xám của sông Cửu-long được.
Rồi xen ở giữa một bản tóm lược tình hình và một lời yêu cầu cho biết tin về tình trạng tài chính của Phái-bộ Viện-trợ Kinh-tế Hoa-kỳ, tôi thấy một cải gai khác. Đó là một văn thư ngắn từ văn phòng ông Bộ-trưởng Ngoại-giao.
«Mẫu báo cắt gửi kèm theo đây là do Sứ quán của chúng ta ở Ba-lê gửi đến. Báo cáo đó có thể là chuyện dựng đứng hoàn toàn vì không được nguồn tin nào của chúng ta ở miền Nam Việt-nam xác nhận. Xin anh làm ơn điều tra và khẩn cho chúng biết ý kiến. »
Mẫu báo cắt đó là của một bài đăng trong một nhật báo của phe xã hội đã gần hai tuần nay. Bài bảo ký tên Claude Gemelle và tự cho rằng đó
là lời ghi chép cuộc phỏng vấn riêng và độc quyền với Tổng-thống Cung. Các dòng kết luận của bản văn được khoanh tròn bằng mực đỏ. Sau hết Tổng-thống với sự cay đắng hiển nhiên nói với tôi, «Người Mỹ cho rằng tôi đang theo đuổi một chính sách mà tối hậu sẽ làm lợi cho Việt-cộng và đảng Cộng-sản ở Bắc-việt. Trái lại, tôi nói với họ rằng chính họ đầy tôi vào vòng tay của Hồ-chí-Minh và ép buộc tôi cứu xét những biện pháp tuyệt vọng đề chấm dứt sự khổ cực của đất nước tôi. » … Khi tôi cố ép ông giải thích thêm thì ông từ chối, nói rằng ý nghĩa của ông muốn nói rất là rõ rệt đối với bất cứ ai đã nghiên cứu tình hình ở miền Nam Việt-nam. Và đến đó là chấm dứt cuộc phỏng vấn của tôi.
Đó là một trong những đoạn văn bí hiểm mà một loại bài báo nào đó thường dùng để xây dựng sự nổi danh của mình về khôn ngoan và sâu sắc. Hiển nhiên là nó đã được soạn thảo lại để mang một ý nghĩa kép. Mặt khác, nó cũng giống một cách kỳ lạ với bản báo cáo về một cuộc nói chuyện với Armand Leroux
ở trong chùa mà Groton đã đưa cho tôi. Bởi vậy nó chỉ có thể là một cái bẫy – thành phần của một kế hoạch nhồi sọ tỉ mỉ đề chuẩn bị đầu óc công chúng cho một nước cờ chính trị. Chỉ vì lý do ấy không thôi, nó cũng đáng được kiểm chứng lại. Tôi để mẫu bài báo sang một bên và biên vài lời ghi chú để thảo luận về việc này với Yaffa và Mel Adams. Tôi nhờ Anne Beldon điện thoại về nhà để bảo George Groton cùng đến dự buổi họp và mang theo những ghi chú căn bản về các cuộc nói chuyện của hắn trong các chùa.
Khi tôi làm việc xong với những giấy tờ khẩn cấp nhất và thảo xong các điện văn trong ngày thì đã hai giờ kém mười lăm, chỉ còn đủ thì giờ ăn một chiếc săng-uých, uống một tách cà-phê và hấp tấp duyệt trước chương trình nghị sự của buổi họp. Tôi đã biết chắc điều tôi cần trong lúc này, một cuộc phối hợp thăm dò tất cả những đường lối đã mở ra cho chúng ta và thẳng thắn thảo luận về những chính sách – dù rằng những chính sách thoạt trông có vẻ thù nghịch với những quyền lợi của chúng ta.
Nhưng liệu tôi có làm được không lại là một vấn đề khác. Ngành ngoại giao nổi tiếng là bạc bẽo đối với những người có dầu óc khác thường, có tin tưởng mãnh liệt và thật là khó mà yêu cầu được một người đem cả sự nghiệp của mình ra đánh cá trên một lý tưởng bị chê bai.
Tôi cũng không chắc gì có người nào trong số nhân viên của tôi – ngoại trừ Groton – lại có đủ tin cậy nơi tòi để tự giao phó mình cho tôi. Bởi vậy nước cờ thí nhập cuộc thật là khỏ khăn và tôi đã chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng.
« … Thưa quý ông, chiều nay tôi muốn tất cả quý ông tham dự một bài thực tập lý thuyết. Tôi muốn đặt ra với quý ông một số tiền đề và yêu cầu quý ông thảo luận cởi mở để thăm dò những hậu quả của chúng. Cuộc hội thảo sẽ không được ghi biên bản và không một ai sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân về quan điểm mà mình phát biểu – mặc dù có cực đoan đến đâu. Nếu có ai muốn công khai bênh vực Hồ-chí-Minh hay Chu-ân-Lai, xin cứ việc tự do. Mục đích của buổi hội thảo này là để giúp tâm trí tôi được minh bạch và cho tôi cơ hội có được một quan điểm thật rộng rãi về hoàn cảnh của chúng ta hiện nay. Một điểm chót là sẽ không có thứ tự phát biểu và nếu quí vị muốn tranh luận tay đôi, tôi rất sẽ vui mừng để quý vị tự tiện … Đây là tiền đề thứ nhất. Người Pháp đề nghị miền nam Việt-Nam tự tuyên bố là một nước trung-lập. Giả dụ là chúng ta đồng ý với đề nghị của họ, thì liệu có thực hiện được không, mà thực hiện như thế nào, có những hậu quả gì? »
Có một sự im lặng bối rối ngắn ngủi trong lúc họ đưa mắt nhin nhau và cho đợi một người nào đó khơi mào sự bàn cãi. Sau cùng George Groton ngỏ lời:
« Tôi là người thâm niên nhất. Vậy tôi xin phép quý vị mở màn. Miền nam Việt-Nam có thể tự trung lập hóa ngay ngày mai bằng cách chỉ việc đưa ra một tuyên ngôn và yêu cầu Liên-hiệp-quốc bảo đảm sự trung lập của mình. Khi ấy họ sẽ yêu cầu chúng ta rút lui. Một cuộc thương lượng sẽ được xúc tiến với Hồ-chí-Minh để ngưng chiến và chấm dứt sự xâm nhập quân lính và chiến cụ. Chính phủ miền Nam Việt-nam khi ấy tự do liên lạc về ngoại giao và kinh tế với cả hai-khối Đông và Tây … »
«Khi ấy thì, » vị tùy viên quân lực nói, «Hồ-chí-Minh phủ nhận hết trách nhiệm về những gì xảy ra ở miền Nam Việt-nam trong khi vẫn bí mật tổ chức nổi loạn. Bọn Việt-cộng sẽ nằm vùng một thời gian rồi lại chỗi dậy với hình thức một cuộc đối kháng địa phương chống cường hào ác bá địa-phương. Kết quả, một cuộc nội chiến như đã xây ra bên Lào. »
« Chúng ta hãy theo lập luận này » Mel Adams lặng lẽ nói. « Có cuộc nổi loạn. Cung bị lật đổ – mà trước sau gì cũng bị lật đổ. Điều không rõ rệt hẳn là chính phủ sau có phải là Mác-xít hay không, nhưng chắc chắn là nó sẽ không ngả theo Trung cộng bởi vì Việt-nam không muốn làm bù nhìn của Trung-hoa. Cả hai miền Nam Bắc, sẽ có quân đội được huấn luyện mà chắc chắn sẽ thống nhất lại chống sự xâm lược quân sự của Trung-
cộng. Dù rằng có chính quyền Mác-xít hay gần như Mác-xít ở Cam-bốt, Lào và Việt-nam cũng không có gì chắc chắn là có chính sách bành trướng, như chống Thái-lan chẳng hạn. Tôi đoán rằng ngược lại thì có lẽ đúng. Dân chúng đã chán ghét chiến tranh. Tôi nghĩ rằng họ sẽ để tâm vào việc chấn hưng kinh-tế dù rằng ở dưới một chế-độ Mác-xít.»
«Vậy là anh bán đứng ba triệu giáo dân Ki-tô giáo! » Đó là lời nỏi của vị đệ nhị tham vụ, một gã bướng bỉnh, lỗ mãng, đầu húi cua và đeo kính cận nặng. «Anh bán đứng một triệu dân tị nạn đã vào Nam để định cư sau khi đất nước chia đôi? Anh bỏ rơi các chương trình tự cải tiến và giáo dục trong các xã, ấp và để cho rối loạn trở lại? »
«Tôi không cho rằng đó là vấn đề bán đứng, »
Mel Adams giữ nguyên lập trường một cách bướng bỉnh. «Vâng, sẽ có rối loạn nhưng ít nhất đó cũng là điều mà chúng ta chủ trương — hay nói là chủ trương – nghĩa là một cơ hội để tự quyết. Theo ý tôi thì những lực lượng quân sự của đôi bên cũng ngang nhau và có một căn bản vững chãi cho sự hợp tác kinh-tế giữa miền Nam và miền Bắc. »
«Tôi nghĩ rằng đó là một lý thuyết quá đẹp. » Harry Yaffa nói một cách cộc cằn.
«Anh có hai yếu tố – một phong trào cách mạng địa phương và áp lực lớn lao của Trung-hoa từ bên ngoài. Hãy nhìn thử sự rộng lớn và sức mạnh của áp lực đó – từ biển Nhật-bản cho đến vịnh Bắc – việt, tới Ngoại Mông, tới Hy-mã-lạp-sơn và sa mạc Takla Makan … Anh có nghĩ rằng mình có thể ngăn chặn được nó với một tuyên ngôn trung lập và một lũ binh lính hỗn hợp của Liên – hiệp – quốc ở vĩ tuyến thứ mười bảykhông? »
«Anh có nghĩ rằng mình có thể ngăn chặn được nó với hơn hai mươi ngàn cố vấn quân sự ở miền Nam Việt-nam không? »
«Dĩ nhiên là không. Nhưng nó đang bị ngăn chặn bởi Nga-sô ở phía Bắc, bởi Đệ-thất Hạm-đội và bởi sự đe dọa của bom nguyên tử. »
«Mọi thứ ấy sẽ đâu vẫn nguyên đó. »
«Nhưng thiếu cái chỗ đứng của chúng ta hiện tại trên lục địa Á-châu. »
Sự đối nghịch giữa hai người một lần nữa lại bùng ra và đe dọa làm hư buổi họp mặt. Tôi xen vào một câu hỏi của tôi:
«Liệu chính chúng ta có thể triệt tiêu được áp lực của Trung-cộng bẳng sự thừa nhận ngoại-giao, bãi bỏ phong tỏa thương mại và bỏ phiếu cho Trung-cộng gia nhập Liên-hiệp-quốc được không? Liệu khi ấy chúng ta có thể coi bất cứ cuộc cách mạng địa phương nào đều là một vấn đề nội bộ và chấpnhận nó đúng lúc tùy theo công quả của nó? »
«Không được! » Yaffa nói huỵch toẹt. « Chủ nghĩa Mác-xít là một chủ thuyết bành trướng. »
«Anh đâu có giết được một chủ thuyết. »
«Nếu vậy thì sao, thưa ông? Ông chấp nhận nó! »
«Anh có thể sẽ phải sống với nó. »
«Sống chung hòa bình? Đó là nước cờ thí của Khruschev. Nhưng Trung-cộng đâu có chấp nhận nó. Trung-cộng công bố theo đường loi Stalin – chiến tranh không thể tránh được. »
«Stalin đã chết. Mao-trạch-Đông và Chu-Ân-Lai là những người đã già rồi.»
«Nhưng Trung-cộng vẫn còn cần đến các vùng lúa gạo và một đường biển đi Phi-châu. »
«Trung-cộng không thể buôn bán tự do được với các nước Á-châu trung lập sao?
«Ông có bảo đảm được rằng Trung-cộng sẽ hài lòng như vậy không? »
«Thì ít nhất Hương-cảng cũng tiêu biểu được cho một sự dàn xếp thuận tiện. »
Sự bàn cãi cứ quanh co như vậy thêm hai mươi phút nữa. Rõ rệt là chúng tòi sẽ chẳng bao giờ đạt được sự kết cục cả. Thế nên tôi hỏi một câu có tính cách địa phương hơn:
«Cho rằng chúng ta ở lại miền Nam Viet-nam và dẫu sao đó cũng là việc phải quyết định của Hoa-thịnh-đốn! – cho rằng các khó khăn của chúng ta đối với Cung và Phật-giáo vẫn y nguyên, thì đến khi nào chúng ta ủng hộ một sự thay đổi chính phủ? »
«Càng sớm càng hay, » Yaffa nói một cách không kiêng nể. «Trừ phi ông muốn Phật-giáo làm một cuộc cách mạng riêng của họ. Đã có tin đồn rằng rất có thể Quân-đội sẽ ly tán và có sự thành lập một lực lượng thứ ba chống lại cả Việt-cộng lẫn Tổng-thống. Dĩ nhiên đó chỉ là một chuyện viễn vông bởi vì nếu cứ thử làm thì lực lượng thứ ba chỉ trong một tháng là cạn tiền bạc và đạn dược. Lúc đó tránh không khỏi họ sẽ theo Việt-cộng. »
«Tôi nói là chúng ta không ủng hộ ai cả. »
Mel Adams nói. «Chúng ta buộc phe chống đối phải chứng tỏ sự nhất trí của họ. Và chúng ta tự dành quyền công nhận hay không công nhận một chính phủ mới trên phương diện thực tế. »
Điều này lại gây ra một cuộc cãi lý qua lại mới và một lần nữa tôi thấy rõ là bộ tham mưu của tối chia khá đều làm hai phe theo Adams và Yaffa. Nhưng họ ngả về Yaffa hơn vì hắn là người có nhiều tin tức trong tay hơn và do đó thực tế hơn. Nói cho cùng thì ý tưởng đó cũng đáng nghi ngờ và điều làm tôi khó chịu là đã có khá nhiều nhân viên của tôi đã sẵn sàng chấp nhận nó một cách nguyên văn. Sau đó George Groton lại nhẩy vào vòng bàn cãi với một vấn đề nan giải thực sự cho Harry Yaffa:
« Có một điều tòi muốn minh xác. Chúng ta đồng ý rằng bất cứ chính phủ mới nào cũng dựa vào sự ủng hộ của Phật-giáo rất nhiều và có lẽ thành phần đa số sẽ là các tưởng lãnh Phật – tử. Đúng không, anh Yaffa? »
« Cũng đại khái như vậy. Đúng. »
« Nhưng tôi thấy rằng dường dư luận Phật- giáo trong các chùa rất tàn thành trung lập. Như vậy đậu phải anh ủng hộ cái mà anh đã lên án trước kia: một chế độ trung lập hay có thể sẽ trung lập? »
Yaffa tức giận đỏ mặt và trả lời: «Một chế độ Quân đội trung lập sẽ là một sự mâu thuẫn ngay trong danhtừ. »
« Nhưng Phật-giao tự nhiên có khuynh hướng hòa giải mâu thuẫn. »
« Đó là lý thụyết. Trên thực tế khác hẳn ».
« Khác thế nào? Nếu chế độ Cung không đứng vững đó là vì Phật-giáo phá. Vậy họ không thể tựphá chính họ như vày được sao – tướng lãnh hay không tướng lãnh? »
Đó là một quan điểm khá vững vàng và tôi xấu bụng muốn cho hắn hưởng thụ cái thắng lợi đó. Bởi vậy nên tôi lại chen vô và đưa cho mọi người ngồi quanh bàn xem mẫu báo cắt của báo hí Pháp. Tôi không bình luận chi hết mà chỉ mời họ phát biểu ý kiến. Phần lớn đều có khuynh hướng gạt bỏ nó đi như một ý kiến đại cương khiêu khích, nhưng Harry Yaffa nhiu lông mày đọc một hơi lâu, rồi nói:
« Thưa ông, tôi muốn suy nghĩ lại về việc này và kiểm chứng lại trong hồ sơ của tôi. Theo thủ tục, chúng tôi thường kiểm soát các nhà báo đến thăm viếng và có thể tôi biết ít nhiều về tên Claude Gemelle này … Gần đây tôi có nhận thấy một điều kỳ lạ kể từ khi bắt đầu có rối loạn Phật-giáo, là các nhà báo tại Saigon đã thù nghịch đối với Cung. Do đó ông ta đã khởi sự đưa ra những lời bình luận qua các tên lính cứu hỏa đến viếng thăm: đại diện của báo chí Ki-tô-giáo ngoại quốc, ký giả tuần báo và trợ bút cho những tờ báo kỳ cục thường trôi dạt đến Saigon rồi lại đi, để tìm chất liệu viết bài. Cung là một người ăn nói tự do nhưng lúc nào cũng đắn đo trong lời nói. Bởi vậy nếu quả ông nói vậy hay điều chi tương tự, tôi muốn được biết bản văn đích thực ra sao. »
«Tôi nghĩ chúng ta cũng có một ít tin tức liên quan đến việc đó. »
Tôi bèn yêu cầu George Groton báo cáo về những cuộc viếng thăm chùa của hắn và đặc biệt cuộc nói chuyện với tên người Pháp, Armand Leroux. Điều này làm cho Yaffa nhíu đôi lông mày một lần nữa và Mel Adams thì đưa ngược đôi long mày lên nhưng cả hai đều lặng thinh nghe cho đến khi Groton dứt câu chuyện. Đoạn Mel Adams lắc đầu:
« Thưa ông, đáng lưu ý lắm nhưng không được đầy đủ. Tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể căn cứ vào đó mà đưa ra chiến lược được. »
«Tôi biết rằng tin tức không đầy đủ. » Groton nói một cách hăng hái. « Nhưng dường như chúng ta đều cần phải biết về Phật-giáo nhiều hơn là bây giờ. Nhất là khi chúng ta đang được yêu cầu thay đổi chính phủ để làm lợi thế cho Phật-giáo. Tôi đã đọc tất cả những báo cáo sẵn có. Còn có quá nhiều khe hở và một vài sai lầm rành rành. »
« Tôi nghĩ rằng mới nhập nghề mà làm được như ông Groton là khá lắm ». Giọng nói của Yaffa đều đều một cách có chủ ý. « Tôi nghĩ rằng ông có thể tiếp tục lấy được những tin tức có ích nhờ có sẵn vốn liếng chuyên môn. Tuy nhiên, thưa ông Đại-sứ, nếu ông đề Groton tiếp tục, ông ta phải được thông báo về những sự nguy hiểm. »
«Đặc biệt là những nguy hiểm nào, anh Yaffa? »
«Armand Leroux là một. Hắn ăn nói như một người Pháp nhưng thật ra thì hắn là một người xứ Georgia-một gián điệp đã lâu đời trong vùng này. »
«Thế tại sao Chính phủ lại để hắn hoạt động mà không kiểm soát? »
«Bởi vì hắn làm việc cho tôi, thưa ông Đại sứ – nhưng hắn cũng lãnh tiền của tụi Pháp và tụi Nga nữa. Có tin tức, hắn chia xẻ đồng đều và nhận tiền thù lao của tất cả bọn tôi. Nh ng khi một người không phải trong nghề như ông Groton mà bắt đầu loạng quạng vào nghề thì Armand Leroux rất có thể muốn lãnh tiền thù lao trên đầu ông ta nữa. »
«Nghĩa là thế nào? »
«Bắt cóc ông Groton. Đó là môn thể thao thiên hạ ưa thích ở đây. Thắng lợi lớn lao về tinh thần cho bọn Việt-cộng. Bọn chúng bắt nạn nhân bỏ cũi mang đi, hay trói chặt người vào cột như con heo để ra oai với dân quê … Tôi không bịa lớn câu chuyện đâu mà tôi cũng không khuyên ông bỏ dự án đó. Nhưng thưa ông Đại-sứ, tôi xin đề nghị là nếu ông Groton tiếp tục, chúng ta nên huấn luyện cho ông – và bảo vệ cho ông nữa. Sau vụ sáng nay, chúng ta cũng không thể gạt bỏ nguy cơ bị ám sát đi được. »
Hắn nói nghe cũng có lý và tòi cũng không muốn cãi cọ về việc đó. Tòi ưng thuận – sau khi đã nghĩ lại rằng sự dàn xếp ấy sẽ cho tôi được biết về hoạt động của Harry Yaffa. Nhưng vẫn còn một câu hỏi nữa chưa được giải đáp:
« Anh Yaffa, liệu có sự liên hệ nào giữa lời tường thuật trong báo chí Pháp và quan điểm do Armand Leroux phát biểu không? »
«Tôi không biết». Yaffa nói một cách thiếu tin tưởng. «Nhưng tôi rất muốn tìm hiểu. Ông để vấn đề đó cho tôi vài ngày. Chừng nào có điều gì rõ rệt, tôi sẽ xin báo cáo ».
Đến đó thì tôi nói vài lời cám ơn để kết thúc buổi họp. Tôi chỉ được biết thêm là Yaffa và Mel Adams là hai tạy chuyên nghiệp giỏi nhất và George Groton cũng sẽ chẳng kém gì họ – và chính thân tôi, tôi không bao giờ có thể chối bỏ được sự đơn độc khổ cực trong việc quyết định của cấp chỉ huy.
Những tiệc rượu ở các Sứ-quán là một tệ đoan cần thiết của nghề nghiệp. Tiệc rượu làm mỏi mệt trí nhớ, sự lịch thiệp và sự tiêu hóa. Tiệc rượu dẫn tới những tai tiếng, những cổng chào sụp đổ và những sự ghen tuông trong đám các bà các cô. Tôi chưa thấy một nhà ngoại giao nào lại thành thật thích tiệc rượu cả – vậy mà vẫn chưa có ai phát sinh ra được một phương tiện nào khá hơn cho các cuộc bán buôn đầu mối tin tức kỳ lạ ấy, cho những lời ngụ ý bùi tai, những lời cảnh cáo bất thành văn và những cuộc thương lượng ngoài phiên tòa là cái thổ ngữ làm ăn của ngoại giao. Bởi vì ai cũng biết rằng mình sẽ chán ngấy nên ai cũng có thể để ngoài tai những gì mà mình không muốn nghe. Ai cũng bắt buộc phải đi đi, lại lại cho nên lúc nào cũng có thể rút êm khỏi một nghiệp vụ hay một cuộc bàn cãi. Bởi vì tiệc rượu bao giờ cũng được tổ chức sau một ngày làm việc nên ai cũng có quyền mệt mỏi và rút lui vào một góc riêng biệt để kết thúc một vụ mặc cả hay giải quyết một vụ tranh chấp.
Nhưng ngay cả trong cái khuôn khổ tập quán và qui ước đó, cũng có một vài sự khác biệt đáng chú ý. Chẳng hạn người Pháp thì ưa chuộng trí thức và quần áo đúng mốt, nhưng bánh mặn và đồ uống của họ lại nặng nề và nhạt nhẽo. Người Ấn-độ mời khách những món không ăn được và tiếp chuyện thì dễ cáu kỉnh đáng ghét hoặc vồ vập một cách làm cho mình ngượng lên. Người Thụy-điển khi không say rượu thì trịnh trọng một cách có chủ ý và người Nhật uống rượu một cách quý phái trong một bữa tiệc có geisha lại chỉ cần phất quạt là có thể biến một bữa tiệc rượu thành một vở tuồng Kabuki. Người Thái thì chiều khách, tính tình vui vẻ nhưng muốn kéo riêng ra một chỗ để nói chuyện thì thật vô cùng khó, trong khi người Mỹ thì nói chuyện trôi chảy, lắm lời và thỉnh thoảng hơi tai trâu. Người Nam Mỹ thì trưng diện một cách khó tin đến độ ta phải tự hỏi không biết có phải tất cả những ngân khoản viện trợ đều được chi tiêu để may mặc cho các bà vợ hay tình nhân của họ, không. Nhựng chỉ có người Anh là biết làm cho sự tẻ nhạt biến thành một nghệ thuật đẹp và biến những câu nói nửa chừng và những lời tuyên bố khiêm nhượng thành cả một nền văn chương. Món ăn của họ thường thường do, rượu thì lạt và sự đón tiếp không nồng hậu lắm. Người ta không đến dự; người ta len lén vào buổi tiệc. Người ta không trò chuyện: người ta chỉ đấu láo thôi. Người ta không bao giờ được cưng quá nhưng cũng không bao giờ thấy khó chiu. Thế nên khi mãn tiệc, người ta đầu hàng cái ảo giác thân mật một cách quá dễ dãi và nói ra những bí mật quốc gia với một nàng duyên dáng ngon ngọt có bộ ngực cạo quý và nụ cười Mona Lisa.
Người Anh ở miền nhiệt đới có một vẻ khả ái đặc biệt và hấp dẫn. Không hiểu do một sự phản ứng sinh lý kỳ lạ nào với khí hậu lạnh lẽo của họ, mà họ tươi tốt lên trong khi những kẻ khác khổ héo đi. Sự lịch thiệp của họ có thể sánh với sự tế nhị của Á-châu và cái tính cách Hồng – mao không chối cãi được của những gì chung quanh họ có một vẻ đặc biệt riêng của nó – như những Ngự. lâm-quân trong buổi lễ đồi phiên gác. Bởi vậy, nên sau một ngày khá bi thảm, tôi lấy làm thích thú nạp mình cho sự hiếu khách của ông bạn đồng nghiệp người Anh của tôi. Hiển nhiên ông không phải là cỡ bự bởi vì nếu phải, òng đã chẳng bao giờ bị đẩy tới một nhiệm sở mà ảnh hưởng của Anh rất là ít ỏi, nhưng ông có kinh nghiệm và rất khôn ngoan. Ông dẫn tôi đi giới thiệu quan khách một cách mau lẹ, đặt một ly rượu vào tay tôi rồi thầm thì với tôi để xin nói chuyện riêng về sau và mặc tôi tự lo liệu lấy với một người Trung-hoa Đài-loan có bộ mặt thản nhiên và một người Ý trông giống như Dante Alighieri. Tôi thấy mình té ra là một nhân vật nổi danh. Về trách vụ ngoại giao của tôi thì có thể có mà hiện cũng có nhiều sự dè dặt, nhưng còn chuyện ném bom ở ngay một đại lộ thì – số dách! Điều đó đã là một sự nỗi tiếng rồi! Nó cũng là một giấy thông hành để được sự ái mộ của các bà các cô, trong số có vài người đẹp nhưng dường như không có ai ở không cả. Rồi lớp vàng mạ ngoài bỗng mòn đi hết để trơ ra mặt gỗ tạp cho đàn chuột bắt đầu gặm nhấm, tất cả xảy ra quá mau lẹ. Ông Đại-sứ Mã-lai hỏi một cách nhấn mạnh về thải độ của Hoa-kỳ đối với Nam-dương và chính sách đương đầu của nước này. Ông người Thái bình luận dè dặt về tình hình Phật-giáo và bầy tỏ mối lo sợ thật tình về các khuynh hướng Trung-lập ở miền Nam Việt-nam. Ông người Đức muốn biết phải giải đoán sự rút lui nhân viên quân sự như thế nào và có nên khuyến cáo các nhà đầu tư người Đức tránh xa Saigon không. Ông người Nhật thì lo ngại về tiền bạc vì dân tộc ông đang đóng vỏ tầu cho Hải-quân của Tổng-thống Cung. Ông người Lào có vài điều nặng lời về Harry Yaffa và C.I.A. trong khi ông người Đan-mạch vỏn vẹn chỉ có một tòa lãnh sự thì nói về lông vịt (để làm gối cho Âu-châu) và mìn ở sông Saigon (có thể ngăn cản việc ông chuyên chở lông vịt đi!)
Ông người Pháp thì hiển nhiên có điệu bộ bắt chước y hệt Charles Đại-nhân. Ông đứng riêng, xa cách và châm biếm trong khi các giống kém cỏi hơn nói hụt hơi; đoạn ông đưa tôi vào một góc và đọc cho tôi nghe một bài thuyết trình đã chuẩn bị kỹ lưỡng về những lỗi lầm ở Điện-biên-phủ và ảo tưởng về một giải pháp quân sự cho miền Nam Việt-nam. Nếu hắn đã tỏ ra tế nhị hơn và ít kiêu kỳ ra mặt hơn thì có lẽ tôi cũng chịu khó nghe. Cho nên tôi lại diễn giải một hồi cho hắn nghe về các phương pháp thương nghiệp của Pháp, các
hoạt động của gián điệp Pháp và các hiểm họa tài trợ cho một cuộc cách mạng mới sau sự bê bối mà bọn họ đã gây ra cho cuộc cách mạng trước. Nhưng tôi ngạc nhiên thấy hắn bình tĩnh nghe rồi quyết đoán một cách vắn tắt và thẳng thừng về số tử vi của tôi:
« … Ông bạn đồng nghiệp thân mến, tôi xin nói cho ông bạn hay điều gì sẽ xẩy ra. Tôi sẽ đi xa hơn thế, tôi sẽ đánh cá với ông – một trăm đô-la! Ông tưởng rằng Tổng-thống Cung sẽ chịu thua áp lực của ông sao? Không đâu! Ông ta không thể thua được! Ông là một vị thánh đạo Jansen, quyết tâm bảo vệ chỗ đứng cuối cùng của Ki-tô giáo ở Á-châu. Ông ngờ vực bọn Phật-giáo-không phải là không có lý do. Do đó không bao giờ ông có thể hòa thuận với họ được – bởi vì bọn họ sẽ không để ông làm vậy – Vậy thì sao? Bắt buộc ông bạn sẽ phải đi theo những kẻ muốn trừ khử ông ta đi. Họ sẽ hứa với ông bạn những điều to tát – nào là đoàn kết, nào là kỷ luật vân vân. Nhưng họ sẽ không thể giữ lời hứa được. Tại sao? Bởi vì họ còn quá bận rộn cắt phần bánh chia nhau. Chiến tranh sẽ kéo dài, sáu tháng, một năm và chính Quốc hội của ông bạn sẽ buộc ông bạn phải chấm dứt chiến tranh. Như vậy ông bạn sẽ vẫn bị bó buộc phải trung lập hóa, nhưng ông bạn sẽ phải thua thiệt trong sự mặc cả hơn là bây giờ – cuộc mặc cả mà Cung đã đang nghiền ngẫm rồi, tin tôi đi! »
«Thật là kỳ lạ. Tôi đã nghe câu chuyện ấy ba lần rồi, trong có vài ngày – nhưng lần nào cũng do nguồn tin của Pháp. »
«Vậy là nguồn đó bị vẫn đục rồi chứ gì?
Không sao! Cuộc đánh cá vẫn còn hiệu lực nếu òng muốn. »
«Tôi cá chứ … Và tôi cũng kiểm lại báo cáo nữa. »
« Ông sẽ thua, ông bạn ơi. Bởi vì ông phải thua. Ô, tôi biết là chúng tôi đã phạm phải những lỗi lầm ở đây! Chúng tôi đã phải trả giá rất đắt vì những lỗi lầm đó. Nhưng mà các ông còn chậm hiểu hơn là chúng tôi. Không ai có thể chận đứng được cách mạng ở Á-châu. Nó từ đất mọc lên như cây cối ở đền Angkor Wat- những cây ăn thịt thành thị và mọc đầy lên thành thị đổ nát. Các ông có thể làm trì hoãn nó được nhưng rốt cuộc ông sẽ phải giảng hòa với nó … Hãy nhớ như vậy! Các quân đội đều chết, voi chết, áo giáp gì cũng rỉ và
sau rốt, cây cối ăn thịt thành thị! »
Nói xong hắn quay đi và để mình tôi nhìn ra khu vườn và bong dáng thù nghịch của những cây soài. Rồi giọng nói thản nhiên của chủ nhân chen vào sự mơ màng của tôi.
« Một gã thông minh đấy chứ? Khá dễ chịu khi hắn muốn như vày. Nhưng có lẽ hơi gay gắt, ông đồng ý không? »
Suốt năm ngày sau đó tôi sống trong một thế giới khác, thế giới của người cầm súng chiến đấu, của người lính bộ binh, của người phi công phóng pháo cơ, của nhân viên phi hành trực thăng và của những chiến sĩ dầy dạn đơn độc, gầy như rừng già của Lực lượng Đặc biệt. Tôi di chuyển bằng phi cơ vận tải, trực thăng võ trang và xe jeep. Tôi đã lội qua bùn đỏ, rác rưởi nông trại và các suối. Tôi đã bay với chiến đấu cơ hộ tống ngay dưới phía Nam vĩ tuyến mười bẩy và tôi đã nhìn qua các đỉnh núi xuống cứ địa của Hồ-chí-Minh. Tôi bay sát biên giới Lào và Cam-bốt, nơi mà các sông ngòi đều cháy về phía Tây cho đến khi con sông Cửu-long mãnh liệt đổ ra phía Đông vào biển Nam-hải. Các địa danh nghe như một điệu nhạc Đông-phương quái gở, át tiếng động cơ ầm ầm – Hương-hóa, Bầu-đôn, Bù-đốp, Quản-lợi, Tân-châu, Châu-đốc và mũi Cà-mâu.
Tôi đi đâu cũng có thiết giáp che chở – trên không thì có chiến đấu cơ, dưới đất thì có bộ binh, thiết vận xa võ trang và trực thăng bay trên. Đại-tướng Tolliver muốn ăn chắc mà. Tôi là đại diện của Hoa-kỳ, người do Tổng-thống chỉ đích danh – một giải thưởng quý báu cho bất cứ tên chỉ huy du kích nào dám cả gan bắt. Ngồi trong trực thăng họ mặc cho tôi một áo giáp chắn đạn và đặt một tấm thép dưới phía lưng tôi để che chở xương. sống và hạ bộ tôi khỏi bị đạn dưới đất bắn lên qua vỏ kim khí mỏng của trực thăng. Tôi đã đứng trong một đồn quân đã chiếm được và thị sát vũ khí của Trung-cộng, Tiệp-khắc và Nga-sô, và thê thảm hơn, là của chính các cơ xưởng quân cụ của chúng ta .. Tôi đã thấy những xác Việt-cộng nắm phơi nắng, ruồi bu đen trên các vết thương. Trông họ nhỏ nhắn nước da nâu và quần áo tả tơi nhưng lực lưỡng và được nuôi dưỡng khá. Các báo cáo hành quân tịch thu ở người họ đều chính xác và chuyên nghiệp. Họ đều là những người lính hăng say, giỏi về chiến thuật của cuộc chiến tranh bất chính này.
Trong một buôn trên núi, giữa đám người Thượng sơ khai và bọn đàn bà cơn gái ngực trần của họ, tôi nói chuyện với một Thiếu-úy đang huấn luyện cho họ về hành quân tảo thanh chống quân giặc ở phía Bắc. Với Tolliver luôn luôn ở bên cạnh, tôi rảo bước qua nhữug ấp chiến lược với chiến lũy đắp bẳng bùn và những hàng rào tre vót nhọn. Trong những trạm y-tế thô sơ ở đó, trẻ con đang được tiêm trừ đậu mùa và dịch tả trong khi những người Mỹ trẻ vừa chân ướt chân ráo ở trường Đại-học ra dậy họ cách chôn rác rưởi, tháo nước cho đồng khô, trồng khoai lang và cấy hải-song đỏ để giết chuột làm hại mùa màng của họ.
Tôi đã thân hiểu biết được những vấn đề của một bộ Tư-lệnh quân sự bị chia rẽ, những sự ghen tị của các cấp chỉ huy hành chánh địa phương, các tỉnh trưởng và sự bất mãn của các sĩ quan hành quân mà trận tnyến của họ là ruộng lúa cạnh bèn và họ có thể phải chờ đợi quân tiếp vận cả mười tiếng đồng hồ bởi vì các hệ thống vô tuyến làng xã bị hư hỏng hay bởi vì nghĩa quân tại địa phương không dám di chuyển ban đêm vì sợ ma!
Tại Cái Nước, tôi đầ thấy cảnh hoang tàn khủng khiếp sau một trận tấn công của Việt-cộng, một đống xác người bị đốt cháy xém – đàn ông, đàn bà và trẻ con – và hai mươi lăm người xác sơ còn sống sót lại của một Đại đội đồn trú. Đó là một bài học tàn nhẫn về tính chất của cuộc chiến tranh này, một bản cáo trạng kết án sự âm mưu và bất lực chính trị. Hèn chi mà người dân trong xã ấp và người dân quê đã sần sảng để tự thích ứng với hoàn cảnh – và kệ thây những tướng lãnh và những ông quan!
Tuy vậy đó mới chỉ là một phần câu chuyện. Mặc dầu tất cả những khuyết điểm cá nhân của ông, Phùng văn Cung trong vòng chưa đầy mười năm đã đặt được một khuôn khổ lớn lao cho sự tái thiết đất nước. Dù rằng dưới áp lực chiến tranh hiện nay, khuòn khổ đó vẫn còn vững chắc. Nông nghiệp đang được chấn hưng, thương mại và kỹ nghệ đang bành trướng. Y tế xã hội đang được giảng dậy trong mỗi ấp và sự thông tin cho quần chúng bằng vô tuyến truyền thanh, báo chí và các máy ronéo trong mỗi xã hiện đang đưa đám dân
quê gần gũi hơn với thế kỷ hai mươi. Cho rằng những phương pháp ông xử dụng đều cứng rắn đi, nhưng cứng rắn đâu bằng những phương pháp của Bác Hồ đã có lần cộng tác với ông. Cho rằng đã có thối nát và tham những ở những địa vị cao đi, nhưng nền hành chánh công tại cấp dưới đã được xây dựng vững chắc trên nền tảng gia đình và đối với Á-châu, thế là hữu hiệu lắm. Người Việt là một chiến sĩ giỏi nếu được huấn luyện, trang bị đúng mức và do sĩ quan có kỷ luật lãnh đạo. Người chiến sĩ Việt không thiếu can đảm mà chỉ thiếu tin tưởng ở các cấp chỉ huy và thiện chí của Bộ Tổng Tham-mưu. Người chiến sĩ Việt cũng khéo biến chế nữa. Tòi đã thấy những khẩu các-bin và súng lục, ngay cả đến một khẩu Lee-Enfield nữa, được chế tạo trong những lò rèn ở thôn xã. Tôi cũng thấy hãnh diện vì phẩm chất của chính những chiến binh của chúng ta và sự tận tâm của nhân viên các đoàn Dân sự vụ và các đơn vị của phái bộ viện trợ rải rác khắp đó đây đã cùng chia xẻ sự sinh hoạt với dân chúng và không quản nguy hiểm, gian khổ đã mang lại cho họ kiến thức về một nền kỹ thuật tân tiến hơn.
Mỗi buổi tối sau khi cơm xong, tòi cùng ngồi với Đại-tướng Tolliver và các vị chỉ huy địa phương của òng để cùng họ duyệt lại những biến cố và nhận định về ngày hôm đó. Thật là một kinh nghiệm cải huấn ngồi nghe những người quân nhân già đời đó nói chuyện và cảm thấy mối thiện cảm và sự hiểu biết của họ đối với đám dân chúng mà họ đã đến để phục vụ. Họ không phải là những người chua chát – mặc dầu chỉ Thượng đế biết rằng họ có lý do để chua chát! Họ phàn nàn rằng các cuộc hành quân đã bị áp lực chính trị làm cản trở; rằng Tổng-thống Cung không ưa thích những bảng liệt kê tổn thất và không muốn tung ra những cuộc hành quân tấn công mãnh liệt và liên tục; rằng không ai muốn hành quân ban đêm cả và Tỉnh-trưởng thì hợp tác với các vị chỉ huy quân sự một cách miễn cưỡng. Nhưng đối với đám thường dân thì họ có nhiệt tình và được hoan nghênh và họ để hết mình vào những nỗ lực vượt khỏi phạm vi quân sự. Mới đầu thì chính Đại tướng Tolliver cũng dè dặt vì điều dễ hiểu là ông ngờ vực mọi chuyện chính trị. Nhưng sự tiếp tục cuộc viếng thăm đã khiến chúng tôi trở nên thân mật với nhau. Ông cũng có nỗi bực dọc riêng của ông vì đã quá nhiều lần ông bị bó buộc phải đưa ra những lời tiên tri về quân sự để làm thỏa mãn Ngũ-giác-đài và các ông Thượng-nghị-sĩ sang viếng thăm. Theo ý ông thì tất cả những lời tiên tri đó đều vô nghĩa. Bao lâu chúng ta còn sẵn sàng để đưa thêm người và vật liệu vào, bao lâu chúng ta còn sức mạnh không quân và Đệ thất Hạm đội thì chúng ta
vẫn có thể duy trì được một cuộc hành quân ở miền Nam Việt-nam trong một thời gian lâu dài. Nhưng ta không thể thấy được sự kết cuộc hay đưa ra được một hành động qui mô nào có tính cách quyết định cả; và chắc chắn không có hy vọng chiến thắng. Đại-tướng Tolliver có nêu lên một điểm đáng lưu ý mà tôi đã ghi lại chi tiết.
« … Có điều mà thiên hạ thường quên là chúng ta đang đương đầu với một trong những chiến lược gia quân sự lớn nhất hiện đại, Đại-tướng Võ nguyên Giáp. Giáp là người đặt kế hoạch và thực hiện – vâng, phải như vậy-sự sụp đổ của Điện-biên-phủ. Hắn đã biết là Pháp theo truyền thống vẫn ưa thích trận địa chiến cố định. Do đó hắn đã để cho De Castries tập trung mười hai ngàn quân dọc theo thung lũng một con sông với hai đường bay ở chính giữa. Họ có đủ phương tiện cần thiết-liên lạc hàng không, pháo binh nặng, chiến xa … đủ thứ! Họ cũng biết rằng Giáp không có pháo binh và thiếu đồ tiếp tế. Bởi vậy trông như chuyện quá dễ ăn. Một hành động duy nhất, cồ điển, có tính cách quyết định – và bùm một cái, thế là xong! Nhưng người Pháp không có tính đến Trung-cộng. Bọn chúng cho Đại tướng Giáp hai trăm khẩu sơn pháo. Giáp chỉ thị cho tháo rời những khẩu pháo ấy ra và chuyên chở từng bộ phận một trên lưng những người phải khai thông lối đi trong rừng rậm và có khi một ngày đi tới tám mươi cây số! Để tiếp tế lương thực cho bộ đội của mình, Giáp tổ chức một đoàn tiếp vận từng trạm gồm các lao công người Trung-hoa, mỗi người với một chiếc xe đạp chở nặng những bao gạo … Bọn họ đặt các khẩu pháo trên những đỉnh núi bao quanh Điện-biên-phủ, bọn họ đào những đường hầm bên dưới các cứ điểm của Pháp và trải một vòng đai sáu mươi ngàn quân bao vây thung lũng. Rồi các trận mưa kéo tới và quân Pháp không nhúc nhích đi đâu được! Trong vòng năm mươi sáu ngày, trận chiến đã kết thúc hoàn toàn … Giờ đây cũng tên Giáp đó đang điều khiển cuộc chiến tranh chống miền Nam Việt-nam. Đối với Giáp thì cuộc chiến tranh này vẫn là một bởi vì Phùng-văn-Cung chỉ là một con chó săn của đế quốc Mỹ! Nhưng Giáp quá khôn ngoan nên không còn dựa vào chiến lược cũ nữa. Hắn biết là chúng ta cũng sẽ không mắc mưu chiến lược ấy đâu. Hắn còn liều lĩnh dám tuyên bố chiến lược của hắn nữa. Ông đã nghe thấy đài Hà-nội nói đêm qua … «Kẻ thù sẽ từ từ bước từ thế công sang thế thủ và sẽ bị kẹt ở thế lưỡng nan: nó phải kéo dài chiến tranh để thắng nhưng nó lại không có những tài nguyên tâm lý và chính trị để chiến đấu lâu dài! » … Chắc ông đã để ý lối hắn nói. Hắn biết là các tài nguyên vật chất của chúng ta hầu như vô tận. Nhưng về phương diện chính trị thì đất nước này đã kiệt quệ lắm rồi … »
«Và đó là lý do khiến Cung luôn luôn nói về tâm lý nhân dân.»
« Đúng vậy … và nỗi bi thảm thực sự là chúng ta không thể làm được gì nhiều cho tâm lý hay cho chính trị. Bởi vì chúng ta vẫn chưa hiểu tâm lý và chính trị một cách hoàn toàn. »
« Nhưng mà Cung hiểu chứ? »
« Tâm lý thì, vâng. Nhưng chính trị sẽ đánh bại òng. »
« Vậy thì ai giải quyết được vấn đề chính trị cho đúng lúc? »
« Chắc không phải là những chính trị gia. »
Tolliver mỉm cười nói. «Hãy nhìn ngay chúng ta mà xem! Trận đánh cuỡi cùng của cuộc Nội chiến riêng của chúng ta đang diễn tiến vì vấn đề kỳ thị! Và thử xem ai vẫn tiếp tục trận đánh? Cũng một loại người như ông đã gặp ở đây, bọn chính trị gia, bọn tham nhũng và bọn đục nước béo cò …
Thôi ông Đại-sứ, xin ông đi nghỉ. Sáng mai chúng ta quay về Saigon. »
Đêm hôm đó, tôi thức nằm nghe tiếng ếch kêu trong các ruộng lúa kế bèn và tiếng chân bước nhịp đều và trấn an của lính canh. Trước đây tôi đã hy vọng là cuộc viếng thăm các vùng chiến trận sẽ cho tôi được một đườug lối tư tưởng mới về cuộc khủng hoảng. Nhưng không, tôi thấy tất cả các đường lối đều quy tụ vào một người, Phùng văn Cung và một vấn đề, liệu ông có nắm giữ được quyền hành đủ lâu để hoàn tất cái công trình mà ông đã khởi sự một cách tốt đẹp như thế không. Giờ đây tòi đã đích thân nhìn thấy những vấn đề của ông. Tôi cũng đã nhìn thấy cái hình dạng vĩ đại của kế hoạch ông vạch ra cho xứ sở. Ông là một người xây dựng và ở nơi thôn dã, người ta dễ cảm phục công trình của ông nhiều hơn là ở trong phạm vi một đô thị giả tạo và chán chường. Cũng ở nơi thôn dã, sự tranh chấp giữa người Phật-giáo và người Ki-tô giáo ít lộ liễu hơn.
Ở một vài nơi không có cả sự tranh chấp nữa bởi vì con người giản dị, ngu dốt và thỉnh thoảng lòng bác ái của nhà sư cũng giống như của nhà truyền giáo. Tuy nhiên có một điều đã trở nên rất rõ rệt đối với tôi nếu là ông Cung không chịu tự mình đi gặp nhân dân để qui tụ sự trung thành của họ vào chính cá nhân mình thì tất cả bộ máy kiểm soát và phát triển của ông sẽ không có ích gì cho ông cả. Ông rất có thể bất động hóa được những người hùng chống đối ông trong một thời gian nhưng ông không thể xây dựng được cái gì với những
viên chức hạng tồi không có một chút tâm trí nào để vào những cộng đồng của đất nước hay những sắc dân dị biệt họp thành số dân cư.
Vậy làm sao đây? Tôi là người giữ cho cán cân thăng bằng. Tôi sẵn sàng ném cả sức nặng của tôi về phía Cung Nhưng ông đã ngờ vực tôi và bác bỏ lời khuyến cáo của tôi. Và treo trên đầu tất cả chúng ta là hình bóng của Đại tướng Giáp, tay kỳ thủ bậc thầy từ phía Bắc nhìn xuống và thấy trọn được cả bàn cờ, biết những con cờ là ai, ai là những con xe thí mạng và khi nào thì những sĩ, tượng tan rã vì chiến lược kiên nhẫn của mình. Về mặt pháp lý thì lập trường của tôi thật là minh bạch. Tôi không có quyền gì phê phán Phùng-văn-Cung hay qui định điều gì cho tương lai chính trị của ông. Thật ra thì áp lực của những biến cố và hoàn cảnh đang cưỡng bách tôi vào vị trí một nhà trọng tài cho định mệnh của ông. Cùng một lúc, tôi vừa là quan tòa, vừa là bồi thẩm, vừa là biện lý và luật sư bào chữa. Vâng, tôi là chủ ngân hàng của ông. Nhưng một ông chủ ngân hàng có thể đòi hỏi được gì hơn ngoài một sự bảo chứng xứng hợp với số tiền mình cho vay?
Tôi là cố vấn của ông, nhưng nếu ông không được tự do bác bỏ lời khuyến cáo của tôi thì tôi lại hỏa ra kẻ tiếm quyền … Và tuy vậy, và tuy vậy … Tôi chẳng là cái gì cả. Tôi là một công bộc ăn lương của đất nước tôi, một đại lý cho những chính sách của nước tôi, hay hoặc dở. Nhưng Tổng-thống tôi đã bảo tôi, «Anh còn hơn là một công bộc và hơn là một nhà đại diện. Anh là mắt của tôi, tai của tôi và lưỡi của tôi. Tôi tin cậy nơi anh hành động thay thế tôi và chấp nhận hoặc là những vinh dự của thành công hoặc là những sự thua thiệt của thất bại.» Vậy là tôi lại trở về hầu tòa, với số phận của một người và một nước treo trên sự tuyên án của tôi.
Qua những cánh đồng lầy ở phía đẳng xa, tôi nghe thấy tiếng súng nổ lẹt đẹt. Rồi im lặng trở lại, chỉ khuấy động bởi tiếng ềnh-ương kêu ồm ộp và tiếng chân bước làm yên dạ của những người lính canh trong vòng rào kẽm gai.
Đoạn kết của bài Zone trong tập thơ Alcools của Apollinaire có câu:
Et tu bois cet alcool brûlant comme ta vie
Ta vie que tu bois comme une eau de vie
(Và anh uống ly rượu bỏng cháy này như đời anh.
Cuộc đời anh mà anh uống như một thứ rượu mạnh).
Ly rượu và cuộc đời đều nồng cháy say sưa. Hãy nghe Nghiêm Sỹ Tuấn đối thoại với mọi người về Para Bellum nghĩa là Sửa Soạn Cho Chiến Tranh. Lời nói của ông đầy đủ vẻ phóng khoáng và hào hùng của một người ra đi, nhập cuộc, nhưng cũng phảng phất như một lời di chúc.
Người thứ nhất: Ông tức Nghiêm Sỹ Tuấn.
Người thứ hai: Người yêu của ông.
Bởi anh còn gì nữa đâu ngoài thân thể này, với đầu óc mơ màng với trái tim hay đập mạnh; với bàn tay vụng về chỉ thích viết vẽ bâng quơ, xây lầu trên cát. Đắm say sẵn có, lại thêm chữ nghĩa điểm tô, khiến anh chỉ biết cảm thấy thơ thới hòa vui khi nhìn em nét cười tươi sáng, áo trắng đơn sơ. Còn khi xe ngựa lặng thinh,
sừng sững chập chờn tuổi đứng, một mình sao anh nghe buồn nẵn len lỏi từ đâu. Ô! Anh lại muốn làm thơ rồi phải không em? Mà thơ chắc là em không thích.
Người thứ ba: Bạn của Nghiêm Sỹ Tuấn.
Bàn về hành động, người bạn này có nhiều khuyên nhủ ông cho qua lý tưởng mà lại tiếc hận thở than.
Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu
Ông trả lời:
càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được.
Người thứ tư: Ông bác của Tuấn.
Vậy ư! Cháu đã đến thời nhi lập rồi đấy. Ôi lo lắng và mong mỏi bao nhiêu. Thế hệ bác và cha cháu qua đi không hương vị sắc màu. Không có gì để lại cho cháu đã đành, mà khi chúng nó lớn khôn cũng không có gì nói với. Nối tiếp chỉ có trên hình hài, còn tâm tư mỗi người một nẻo. Râu tóc bạc trắng kinh kỳ, tiếng quyết tâm nhất loạt ngót 700 năm trước còn nghe rung chuyển (Hội nghị Diên Hồng) mà lòng luống ngậm ngùi. Lịch sử bay giờ đã thành một đồ trang sức. Anh hùng hào kiệt được dành chung số phận và vinh quang với đào kép sân tuồng …
Người thứ năm: Trẻ thơ, cháu của Tuấn.
Người thứ sáu: Một người lính qua đường.
Người thứ bảy: Bà hàng chè.
Mỗi câu, mang một ý nghĩa Nghiêm Sỹ Tuấn đã mạch lạc đối thoại với mọi người trước khi ông yên nghỉ. Chúng tôi không dẫn trích thêm. Cất xén nhặt nhạnh đều làm giảm giá trị văn tài của ông.
Người thứ nhất: Chào em, có gì bỏ việc lại thăm anh lúc này?
Người thứ hai: Em vừa nghe đọc tên anh. Bao giờ anh đi?
Người thứ nhất: Ngày mai, ngày kia, một tuần, một tháng, không chừng.
Người thứ hai: Anh có vẽ nhàn nhã thế. Không lo chi cả sao?
Người thứ nhất: Có gì phải lo đâu em. Anh sẵn sàng đã lâu rồi. Em muốn nói với anh, sao ngập ngừng?
Người thứ hai: Hơi khó nói một chút. Anh thật đã sẵn sàng, không còn gì bận tâm?
Người thứ nhất: Anh hiểu. Em vừa hỏi anh câu ấy. Thực ra, khi vừa rời sách vỡ, lúc ấy người ta mới rất nhiều bận tâm. Thân mình, ruột thịt, bạn bè, tình yêu. Với mặt trời, hoa cỏ và chim kêu. Tìm giữ tất cả ngần ấy thứ bên mình và trong đầu óc một hình ảnh, một mục đích, một điều ước mơ gì đó. Khó mà tìm ra đường lối giữ và khổ nhất là theo đúng đường lối tìm ra. Sao cho luôn luôn có thể nhìn ngay được những bận tâm ấy mà lòng vẫn nhẹ nhàng. Nhưng hôm nay em lại hỏi anh thế: Từ cả năm nay có khi nào đâu? Anh cũng vậy, chưa khi nào.
Người thứ hai: Tại anh không hỏi đấy chứ.
Người thứ nhất: Em hay đổ lỗi lắm. Bây giờ nghe anh hỏi đây. Này em, ví thử có người nói chuyện thương yêu, mà không hề phát một hành vi chứng tỏ, thì chỉ nhìn mắt nhìn, nghe miệng nói, em có tin được không?
Người thứ hai: Em tin.
Người thứ nhất: Vậy hãy nhìn anh. Em đã nghe anh nói nhiều từ lúc nãy. Như thế đó. Giờ em tin anh không?
Người thứ hai: Em tin.
Người thứ nhất: Cám ơn em.
Người thứ hai: Vậy thôi ư anh?
Người thứ nhất: Bởi anh còn gì nữa đâu ngoài thân thể này. với đầu óc mơ màng với trái tim hay đập mạnh; với bàn tay vụng về chỉ thích viết vẽ bâng quơ, xây lầu trên cát. Đắm say sẵn có, lại thêm chữ nghĩa điểm tô, khiến anh chỉ biết cảm thấy thơ thới hòa vui khi nhìn em nét cười tươi sáng, áo trắng đơn sơ. Còn khi xe ngựa lặng thinh, sừng sững chập chờn tuổi đứng, một mình sao anh nghe buồn nản len lỏi từ đâu. Ô! Anh lại muốn làm thơ rồi phải không em? Mà thơ chắc là em không thích.
Người thứ hai: Nhưng anh nói đã sẵn sàng phải còn gì hơn nữa.
Người thứ nhất: Phải, anh còn nhiều nữa, rất nhiều. Anh còn lòng tin ở em, ở mọi người.
Người thứ hai: Nói nữa đi anh.
Người thứ nhất: Em thích nghe? Trước kia không nói, vì em thường bảo không hiểu; vả anh cũng rất sợ phiền. Giờ chắc êm đềm hay ngắn, sao đem nhiều lời khuấy động? Anh cứ để qua đi mà không hay. Đến lúc oanh vàng quen thuộc rộn ràng hót mấy thanhtừ giã, mới vội vàng tìm miệng trao lời. Thường tình vẫn thế, chỉ khi chieu muộn đường xa mới thấy bếp lửa dịu dàng. Anh đã cố gắng thoát khỏi thân riêng, tìm kiếm và tạo dựng cộng hưởng nơi người. Hiển hiện đâu đây, nét dẫn khởi đang muốn trở thành dẫn lực. Liệu anh có lầm chăng?
Người thứ hai: Anh nhiều tin tưởng thế kia mà. Hãy để thời gian trả lời chứ.
Người thứ nhất: Em lại cười anh rồi. Nhưng sống là mỗi phút mỗi giây cứ hay quên đi điều mình vừa tự hứa. Anh rất giầu tin nên phải tin điều đó. Thành ra trong khi sắm nắm để được thời gian trả lời, biết bao thấp thoáng bơ vơ, biết bao khép nép đợi chờ. Em thấy lời tâm ca nọ buồn chăng?
Người thứ hai:Mưa ngàn tuôn lụy nhớ, mây núi bạc tóc thề. Người đi không về mà tình còn đẹp thế, sao anh không bận tâm một cách nhẹ nhàng?
Người thứ nhất: Em lượm hai câu ấy ở đâu hay vậy? Làm anh tưởng đến những đau khổ buồn sầu khi đi tìm lại nhau của hai nữa mảnh người đôi bị chúa tể càn khôn đem bàn tay ghét ghen chia xẻ. Phải rồi, khi hai còn là một, vóc dáng tròn trịa, hai mặt đối nhau, với tám chân tay mạnh mẽ, loài người dám ngạo mạn cả thánh thần, dựa vào sức lực vô biên của tình yêu, thể hiện trong một thân mà đựng chữa hai hồn. Bậc thánh mới quên, kẻ ngu không hiểu, những người đứng giữa phải lặn lội núi cao biển rộng, để gặp lại nhau.
Người thứ hai: Để tan hòa vào nhau, hầu tìm lại sức mạnh khi xưa?
Người thứ nhất: Đấy là giá của thương yêu. Chỉ lúc ấy mối bận tâm mới thành nhẹ nhàng vì nó đã chuyển thành hoan lạc. Em nghe chăng trong dịu dàng có màu đắng cay? Rồi đây, chim them mãi bay cao, khi nào mới gặp mây êm cản cánh. Nghĩa gì đâu một buổi sớm hay một buổi chiều, cần thiết cho chúng ta là giữ hoài
trong lòng cái huy hoàng của bình minh khởi sắc hay niềm an lành của chiều êm dịu hoàng hôn. Thôi chúc em ở lại muôn vàn tươi đẹp, muôn vàn hạnh phúc, muôn vàn dấu yêu. Và hãy giữ luôn luôn miệng cười tươi sáng.
Người thứ hai: Cám ơn anh. Đi xa rồi, nhớ kể chuyện thời gian về em nghe. Đừng quên, đừng quên là em tin anh. Em tin anh.
Người thứ ba: Đã nghe thấy tên chưa mà còn ngồi đây an nhàn hút thuốc?
Người thứ nhất: Rồi.
Người thứ ba: Sao trông mày mơ mộng quá. Buồn vì xa ai chăng?
Người thứ nhất: Có lẽ.
Người thứ ba: Thì cứ thủ nhận cho rồi. Ai bắt mất ly nào đâu. Dấu tích còn rõ rành-rành, “Chí kim, tam tải văn dư hương” (2). Hà tất phải chối bỏ quanh co.
Người thứ nhất: Tôi chối bỏ điều gì đâu?
Người thứ ba: Mày bao giờ cũng thế. Chịu đựng hết, không chối bỏ gì cả. Cứ làm như chó sói đến bước đường cùng. Tao hỏi rồi mày chịu đựng được bao lâu. Tao thì phải chối bỏ, phá phách, san bằng. Để làm lại tất cả, từ đầu. Mày đi?
Người thứ nhất: Thế mày muốn tao ở lại chối bỏ, phá phách, san bằng?
Người thứ ba: Phải làm gì chứ, dù là phá phách, hủy diệt. Đây cũng như kia z z z z z gì để giữ z z z z z.(3) Đâu có gót ngọc dồn hương, nở bừng ánh sáng, như với mày ở đây.
Người thứ nhất: Mày tường tao không thấy gì hết? z z z z z z(3) mà mặt nào cũng ra vẻ vui cười, mời đón. Người ta thế đấy. Và bọn mình thì hàng ngũ mấp mó, ồn ào như hàng rau chợ cá, lại cứ tưởng đang mài gươm dưới nguyệt, lẩm bẩm chê bai phường z z z z z (3) phách lối gặp thời.
Người thứ ba: Mày ngồi yên quan sát nào hơn được ai. Để trở về quay ngược mũi dao trong vết thương đã sâu rộng sẵn. Xắn tay áo lên, làm mắt kia khiếp phục, bóng nọ hết cười trơ. Và mọi mấp mô ồn ào thành một sức mạnh nhịp nhàng. Biết đi tới nơi mình muốn.
Người thứ nhất: Được thế còn gì đáng nói. Nhưng lửa cháy qua rồi, vụn tan ngọc đá, còn đống tro vô dụng, bắt đầu tự chổ nào? Chúng mình đang ở trong một tình trạng hỗn tạp, chẳng ai hơn ai, như mày vừa nói. Đấy mới là cái khó, cái khổ của những ngày mới qua đi đã cho thấy rõ. Hăm hở mà không nhịp nhàng, sẵn sàng lại không sửa soạn.
Người thứ ba: Sửa soạn với sẵn sàng. Cứ như mày mấy chốc mà đống tro vô dụng đã cao bằng núi. Lúc ấy chính mày mới không biết bắt đầu tự chỗ nào. Mày sợ?
Người thứ nhất: Đúng thế, tao sợ chính mình không muốn và không dám vượt nổi hơn ai, vượt nổi hơn mình. Vì thế mà nhiều người sợ hơn nữa, sợ ngay cả sự an lạc. Không dám ước mơ, không dám muốn có.
Người thứ ba: Sao lại thế được? Hai mươi năm chưa đủ, mày còn muốn bao nhiêu?
Người thứ nhất: Tao đâu có ý nói thế. Chiến tranh chỉ xấu và tàn bạo trong mắt những người đứng xa chỉ trỏ. Nên người phải ngừng hay tiếp tục nó với những lý do đẹp đẻ. Cha ông chúng ta xưa kia đã nhất định tiếp tục nó, và đã chiến thắng, chắc vì hiểu rằng trật tự và kỷ luật trong sức mạnh con người là một cảnh tự nó đẹp, dễ làm cảm động, dễ làm thán phục. Nhất là khi có những sức mạnh bên ngoài để gây xáo trộn trật tự và kỷ luật ấy.
Người thứ ba: Còn chúng ta bây giờ?
Người thứ nhất: Bây giờ à? Có lẽ chúng ta không hiểu hay ít ra không nhớ điều đó. Tiếng nói tổ tiên vẫn còn, những biến chuyển đồn dập cuốn lôi đã át đi mất cả. Làm thế nào vang dội lại tiếng ấy trong tim?
Người thứ ba: Hành động đi.
Người thứ nhất: Hò hét, đã phá, mày muốn nói thế? Để làm lại từ đầu, mày chưa đổi ý? Được lắm, miễn trăm miệng cùng hò, trăm tay cùng phá. Và quan hệ nhất là trăm tay ấy còn cùng phải cất xây. Nhưng ngàn năm và trăm năm tranh đấu có lẽ hơn nhiều, chúng ta thừa hưởng dể dàng quá, nên chóng mệt mỏi. Đến độ không dám kiến tạo, sợ lại kéo dài thêm ngàn năm và trăm năm. Thiếu ồn ào hằn sẽ kém vui, kém sôi nổi. Bởi có ai mất thời giờ ngồi trong bóng tối ngắm cử chỉ tầm thường mà trang nghiêm của người nông phu gieo mạ, bóng tay vươn đến tận sao trời?
Người thứ ba: Có mày ngồi ngắm đó thôi. Kẻo sợ một ngày phơi xương vô nghĩa, lại tiếc hận thở than.
Người thứ nhất: Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Và chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được.
Người thứ ba: Rút lại, để cho thời thế an bài, để người ngoài đứng xa chỉ trỏ. Còn mày ở lại trong vòng, trông đợi vẻ tự đẹp của một sức mạnh kỷ luật và trật tự chỉ có trong tưởng tượng. Không biết sao cho sức mạnh thành cụ thể, há chẳng thấy nhỏ yếu là buồn?
Người thứ nhất: Buồn đó cố nhiên. Làm hiện rõ và dùng được năng lực tiềm tàng của mình, ai không mong muốn. Mục đích có đấy chi thiếu cách làm. Đối với mình, nếu làm kiểu “Bất khả sử tri” hẳn bây giờ chúng ta đả có thêm hai kẻ địch lợi hại là họ Chu, họ Khổng. Ép buộc cần thiết nhiều khi, tự ngộ luôn luôn phải có.
Chúng mình thiếu cả hai thứ ấy, hay là mỗi thứ chỉ lướt mắt nhìn qua mà chưa từng nếm thử. Còn đối với người, nhiều lúc tao nghĩ giá có quyền phép gì bế quan tỏa cảng như xưa, biết đâu lại không êm đẹp.
Người thứ ba: Mày thật đến lúc điên rổ, mơ toàn không tưởng. Rõ ràng đen trắng, phải lựa một đường. Làm gì có thứ nhờ nhờ nữa đen nửa trắng.
Người thứ nhất: Chính chúng ta là cái thứ nhờ nhờ đen trắng ấy. Nhìn kỹ con người mày xem. Có gì đúng là của mày không? Họa chăng một đống thịt xương cha sinh mẹ đẻ. Bao nhiêu thứ ngoại thân và nội tâm mày đều hằn in dấu vết của người. Nay mày lại muốn rõ ràng đen trắng, tao biết gọi mày bằng tên gì bây giờ? Mày cũng không biết nữa? Nếu chưa tìm được tên nào thích đáng, mày nên về nhà, đóng cửa, cởi áo mà suy nghĩ, đừng ồn ào. Tay áo cũng hãy để yên, nhà mình ọp ẹp, nhưng chớ vội tưởng đã đáng đem làm nhà táng. Ở lại nữa, nếu cần, Núi sông không phải hòn non bộ, mỗi chốc có thể khuân đi. Tao cũng thế. Nếu tao im lặng. Cho dể chú ý vào mình, vào người, mong kiếm ra một tên gọi xứng đáng hơn.
Người thứ nhất: Thưa bác, tay bác hôm nay bớt chưa ạ?
Người thứ tư: Cháu đấy à? Cũng khá hơn chút đỉnh, gượng nhẹ cầm đũa được rồi, mắt nhìn không có, giờ lại bại liệt chân tay. Tuổi chưa mấy cao mà thân đủ chứng. Cháu vẫn đi học đấy chứ?
Cha mẹ cháu độ rày khỏe không, sao lâu không thấy lại chơi?
Người thứ nhất: Cám ơn bác, cha mẹ cháu vẫn như thường, còn cháu vừa xong học.
Người thứ tư: Vậy ư! Cháu đã đến thời nhi lập rồi đấy. Ôi lo lắng và mong mỏi bao nhiêu. Thế hệ bác và cha cháu qua đi không hương vị sắc màu. Không có gì để lại cho cháu đã đành, mà khi chúng nó lớn khôn cũng không có gì nói với. Nối tiếp chỉ có trên hình hài, còn tâm tư mỗi người một nẻo. Râu tóc bạc trắng kinh kỳ, tiếng quyết tâm nhất loạt ngót 700 năm trước còn nghe rung chuyển (Hội nghị Diên Hồng) mà lòng luống ngậm ngùi. Lịch sử bây giờ đã thành một đồ trang sức. Anh hùng hào kiệt được dành chung số phận và vinh quang với đào kép sân tuổng. Này cháu, người xưa tiễn nhau bằng lời nói. Bác chẳng dám sánh với cổ nhân, nhưng lúc này cháu sắp vào một đoạn đường mới, bác cũng cố nói mấy lời, chẳng lẽ ngồi im nhìn nhau ngượng nghịu. Sinh sống trong một thời đại – thôi cũng đành đổ lỗi cho thời đại chứ biết sao – một thời đại tuy kém hương vị sắc màu, bác đã quyết giữ không để mình mê trong những rừng hương ngột ngạt, hoa lá loẹt lòe. Màu xám đất mầu, đục lờ nước ruộng, áo tơi nón lá cày cuốc dưới mưa phùn mù mịt giá căm, đò đồng xộc xệch tròng trành trên mông mênh ruộng ngập, vốn là những phong cảnh lạt lẽo của quê hương. Bởi vì chúng ta đã sinh ra và sống ở đó.
Người thứ nhất: Cháu sẽ không bao giờ quên.
Người thứ tư: Hãy cẩn thận cháu ạ. Những bước tới khổng lồ cho con người nhiều cảm giác to lớn, nhưng vội vàng làm chi khi biết mình đang đi đến đoạn đầu đài. Ào ạt, sôi nổi, tranh đuổi thời gian, tìm bắt không gian, biết đâu rằng mình đang tự trốn chạy, lao đầu vào những khoảng trống rộng lớn hơn nhiều. Phải biết thất
vọng trong ảo tưởng để còn hy vọng. Đừng đem kiêu hãnh đặt lầm chỗ cao vời, dù hồng nhạn bay về từ biển có bao giờ them nhìn ao nhỏ, vũng lầy. Cũng đừng buồn thấy lan nhược nở đỏ rồi rơi êm giữa rừng gai cần cối. Một khoảnh khắc bừng sáng, dẫu khỉ vượn không hay, bác cho thế là đủ lắm rồi, sá gì những tiếng đục trong hỗn độn.
Người thứ nhất: Điều ấy cháu xin ghi nhớ.
Người thứ tư: Giếng trong trăng sáng, nhưng ếch nhái ẩn núp dưới đáy, đá rêu nhỏ giọt trên bờ. Huống hồ đời người, ba đào là chuyện tất nhiên. Cô đơn, đau khổ, gắng chịu một mình. Có thế mới thấy hết vẻ đẹp thanh tao của giếng êm, trăng rạng.
Người thứ nhất: Cháu cũng đang tập như thế.
Người thứ tư: Giờ bác chỉ còn một mộng ước đem truyền cho cháu mà thôi. Giản dị nhưng biết bao thương mến. Là làm sao yên nghỉ giữa làng xóm cũ. Lũng đầu hương xứ vọng, chỉ kiến bạch vân phù, các cháu phải sống thế nào để bác còn trông đợi.
Người thứ nhất: Cháu hứa xin hết sức nối tiếp mộng ước ấy, đan tâm thiên vạn lý, quy lai thể tư thu.
Người thứ tư: Được lắm. Quy lai thể tư thu. Móm cao nhìn quê cũ, chỉ thấy trắng ngàn mây. Lòng son ngoài vạn dặm, thề sẽ về thu này. Thề sẽ về thu này.
Người thứ nhất: Sao đấy, cháu bé? Mắt mũi đỏ hoe, con gái gì mà xấu thế?
Người thứ tư: Ấy, mả nó vừa cho nó trận đòn. Cứ cái tội nô nghịch hò hét ngoài đường, lại hay gây gồ. Nó chưa có em, chẳng biết chơi với ai, thành thử không sao cấm được. Bác vẫn bảo trẻ con phải để nó chơi chạy nhởn nhơ. Khổ nỗi nhà chẳng có ai, bác lại ngồi một chỗ, nên cứ roi cùng vọt suốt ngày.
Người thứ nhất: Thôi nín đi cháu. Chú cháu mình ra vườn đuổi bướm chơi. Rồi chú kể chuyện cổ tích cho nghe.
Người thứ nhất: Này cháu có thấy con chim con kia không?
Nó đang làm nung mẹ no đấy. Nhưng nó không khóc nhè như cháu đâu nhá.
Người thứ năm: Nó đòi đi chơi phải không chú?
Người thứ nhất: Ừ, mà nó chơi vui lắm, ngoan lắm. Mẹ nó thưởng nó một con sâu béo ngậy kia kìa. Chúng mình cũng chơi chứ.
Người thứ năm: Chơi đi trốn đi tìm nhề, chú. Chú bịt mắt đi, cấm ti hí đấy.
Người thứ nhất: Năm, mười, mười lăm, hai mươi, hăm lăm, – một trăm. Rồi chưa?
Người thứ năm: Rồi đố chú tìm thấy. Chủ đếm ăn gian quả hà!
Người thứ nhất: Đi trốn mà lại cười khích khích như thế. Cây gì đây? À, quỳnh. Ý thơm nở đêm thanh, cánh trắng bạn cô lữ. Ngoại mình ngày xưa trồng nhiều lắm. Chẳng biết cụ có được ngắm quỳnh nở nửa đêm lần nào không. Mình thì chỉ biết ngắt lá làm đạn bắn súng lông ngỗng thôi. Nổ lép bép mà rát phỏng cả da.
Hụt rồi. Cô bé nhanh quá. Mình chắc suốt đời chỉ thế thôi. Cybèle. Si Belle. Nụ cười thật đẹp. Trong sáng quá. Mà sao mình lại im. Không ném thăm viên sỏi nhỏ cho lung linh mặt nước. Sợ mất hình ảnh. Thì bây giờ mất rồi còn gì. Cô bé đâu rồi? Im lặng. Chắc muốn hú òa mình đây. Này, ta thấy rõ tinh nghịch trong mắt cô rồi. Lại còn chớp mi nữa chữ. Nhưng sao em nhìn ta thế? Một thoáng rồi cúi xuống, c dè. Có phải là thơ, là nhạc đó không, Hay chỉ là những rên rỉ dịu êm vấn vào hồn buồn de đẩm say, làm lạnh thêm ngoài sương vùng cúc động.
Người thứ năm: Òa! Chú giật mình rồi nhá. Người ta trốn ngay bên cạnh mà không biết.
Người thứ nhất: Chú biết sao được. Chủ đang tìm bà tiên đây.
Người thứ năm: Thế hả chú? Bà ấy có nhiều đồ chơi không chú? Bà ấy có đẹp bằng con búp bê biết nhắm mắt mở mắt của cháu không hả chú?
Người thứ nhất: Nhiều đồ chơi đẹp lắm. Ngồi xuống đây chú kể cho nghe. Chạy mãi mệt rồi.
Người thứ năm: Chú đừng kể chuyện yêu tinh ăn thịt trẻ con nữa nhá. Cháu ghét mấy con yêu tinh ghê đi.
Người thứ nhất: Ừ, chú kể chuyện Tết với chuyện bà tiên, không thèm kể chuyện yêu tinh nữa. Này nhá, ngày xưa có một đứa bé, bé bằng cháu thôi, ở với mẹ trong một căn nhà tối tăm ẩm thấp. Trời lúc ấy mùa đông. Gió rét ghê lắm. Tay chân để hở ra ngoài là sưng giá hết. Chú bé suốt ngày đi đất, nên các ngón tay ngón chân phồng lên, đau cứng tê dại. Bụng lại đói nữa chứ. Thế mà đợi mãi chẳng thấy mẹ thức dậy mua bánh cho ăn, để chú ngồi hoài, hà hơi vào tay cho đỡ buồn và quên đói. Rồi mon men lại giường mẹ, gọi:
Má! Má! Nhưng mẹ chủ không trả lời. Đưa tay lay, chú lấy làm lạ rằng sao mặt mẹ lạnh như tường đất. Chú bé suy nghĩ một tí, à phải rồi, tại rét quá. Đang loay hoay gọi mẹ thì một tiếng nổ làm chú giật bắn mình, quay ngoắt lại. Tết mà. Người ta đốt pháo đấy. Chú bé nghĩ đến bánh mứt, nao nức muốn ra đường xem. Nhưng còn con chó to tướng ở đầu ngõ. Nghe nó sủa cũng đủ sợ. Nó táp một miếng thì còn gì thịt da. Nhưng bánh mứt và pháo nổ hấp dẫn quá. Chú bé rón rén lần ra cửa sợ mẹ biết mẹ rầy thì sao. May quá, con chó bị xích lại rồi, chỉ nhe răng gầm gừ dọa hão. Chà, sao mà đông người thế! Áo len, áo dạ nức mùi băng phiến làm chú ấm lây. Nhà nào cũng đóng cửa im lìm.
Người thứ năm: Người ta đi làm gì nhiều thế hả chú?
Người thứ nhất: Người ta đi hái lộc. Để cả năm được sung sướng?
Người thứ năm: Chú ơi, sao thằng bé nó không đi hải lộc mà lấy sung sướng?
Người thứ nhất: Nó cũng như cháu, nó đâu có biết. Có ai bảo nó đâu.
Người thứ năm: Ở há. Mẹ nó bị rét quá đi gì nổi, hả chú? Sau này, cháu phải nhớ đi hái lộc thật nhiều mới được.
Người thứ nhất: Chú bé mon men lại gần một cánh cứa hé, bên trong có tiếng ca hát cười đùa. Bốn năm đứa trẻ, bảy tám người lớn. Ai cũng hồng hào, lạnh quá làm máu chạy đỏ da. Một cành đào sù sì chật hẳn góc nhà, điểm hoa chúm chím. Ô, sao mà đẹp thế! Mắt chủ sáng lên, dán vào những hộp kẹo mứt đủ sắc. Bánh chưng xanh rỡn, buộc lạt nhuộm đó. Hạt dưa đỏ, câu đối đỏ. Chóa cả mắt. Nhưng đẹp nhất là ba ông đứng trong tủ kính với một chú bé trái đào, Người gì mà râu dài thế, trắng thế. Ông kia râu lại ba chòm đen nhánh như nhung. Quần áo vải vóc cứ y hệt thật. Ba ông đang nói chuyện với nhau, chú bé chỉ thấy ba cái miệng mấp máy. Tại kính ngăn lại đấy, nếu không chắc chuyện phải hay lắm. Chả thế mà chú bé trái đào cứ ngước nhìn hoài. Chú bé thèm nghe lắm, cứ lách lại gần cho thấy rõ hơn. Bỗng một bàn tay mềm mại ấm áp giúi vào tay chú một đồng bạc cắc mới tinh. Rồi bàn tay ấy đưa chú ra ngoài, đóng cửa lại.
Người thứ năm: Ai thế hả chú, có phải bà tiên không?
Người thứ nhất: Không phải, người ta đấy. Người ta mừng tuổi mà. Đồng bạc còn ấm hơi người. Nhưng tay chú bé lạnh quá, phồng cứng, nắm lại không được. Đồng bạc rơi xuống hè, kêu leng keng, rổi lăn tuột xuống cống. Đang lúc ngẩn ngơ thì một đứa lớn đi qua, đánh chú một cái trên đầu, lại thêm cái đá móc ngay khoeo chân. Chú bé ngã sõng soài, cả thân mình cứng tê. Chú sợ quá. Liếc mắt không thấy ai, chú mới đứng dậy, rồi chạy thục mạng vào ngõ hẻm. Ở đây tối khuất chẳng ai biết mà bắt nạt. Chú thấy yên ổn, ngồi bệt xuống, tựa lưng vao đống củi, thở phì phò. Chú nghe có tiếng nói êm dịu bên tai, gọi chú. Chú kêu: Má! Má!
Nhưng không phải. Chú đứng dậy đi theo. Chao ôi, sao mà đẹp thế, sáng thế! Cũng cành đào to, điểm nụ chúm chím. Cũng bánh mứt, hạt dưa. Đồ chơi nữa chữ. Còn toàn thì trẻ con rách rưới như chú cả, nhưng
hồng hào, chạy nhảy như chim bay lướt như thiên thần. Chú thì thầm: Chúng mày chơi gì đấy? Đây là nhà ai thế? Tao có bị đuổi ra không? Đây là nhà bà tiê n. Vào chơi với chúng tao đi. Thế là chú bé thấy tay chân nhẹ nhàng, hết đau nhức, và chạy nhảy như chim, bay lướt như thiên thần. Má mày ngồi kia kia. Chú quay lại, mẹ chú đang mỉm cười nhìn chú. Chú bay đến bên, hai mẹ con ôm nhau, Các bà mẹ khác cũng thế. Ôm con hôn và khóc lặng lẽ. Sáng hôm sau … Ổ, cháu ngủ rồi. Không đợi bà tiên sao? Tựa đầu vào lòng chú đây này. Giấc ngủ con trẻ cũng hết phẳng phiu. Mơ khóc, mơ nức nở. Trẻ con khóc làm chỉ nhỉ? Những nuc nở ngây thơ này, giải nghĩa sao đây?
Người thứ sáu: Mây này không biết còn mưa đến bao giờ. Lại trể xe mất thôi.
Người thứ bảy: Dễ đến sáu rưỡi rồi đấy, ông nhi?
Người thứ sáu: Bảy giờ hơn rồi, bà ơi!
Người thứ bảy: Cơ khổ. Giờ mà chưa về được, không biết mấy đứa trẻ ở nhà xoay xở ra sao.
Người thứ sáu: Bà được mấy cháu cả thầy?
Người thứ bảy: Cám ơn ông, Nhờ trời sáu đứa tất cả kia đấy. Bây giờ còn bốn. Thằng cháu lớn dẫn trâu đi giẫm phải mìn. Nó còn thì đỡ đần tôi được khối việc. Con bé thứ ba bị yết hầu, nóng sốt mấy ngày, cổ sưng đẫn như cái cột. Đem vào nhà thương, mấy ông bác sĩ bảo phải mồ mới sống được. Thế mà nó vẫn cứ chết. Bố cháu thì năm kia đi củi rừng, rồi biệt tăm luôn, chẳng biết ma quỷ nào bắt mất.
Người thứ sáu: Thế rồi bà bỏ lên đây luôn à?
Người thứ bảy: Đâu có. Ở nhà cây rau cái cỏ đi kiếm còn dễ. Nhưng sợ quá ông ơi, không mấy ngày là không phải chui xuống hố. Cực chẳng đã, mẹ con mới bồng bế nhau đi đấy chứ.
Người thứ sáu: Tôi thì cũng hầm hố với sình lầy cả tháng nay. Chờ mãi được chuyến bay về, lại gặp trời mưa tầm mưa tã thế này. Có mấy con mực khô mốc hết mất thôi.
Người thứ bảy: Gia đình ông còn có ông chống đỡ, chứ tôi thì mẹ một con đông, bố cháu chẳng biết sống chết thế nào.
Người thứ sáu: Phúc phận nhờ trời, bà ạ. Tôi đây chết hụt mấy lần, còn nhịn đổi nhịn khát thì thôi khỏi nói. Hôm nay được ngồi chờ xe ở đây là phúc đức tổ tiên đã cao dầy lắm. Chứ nghĩ đến ruộng đất chờ mình, tôi lại héo cả ruột gan. Bà tính, đi nào đem được gì đâu, với lại mình có của cải nào khác ngoài mấy sào ruộng.
Người thứ bảy: Ông nói phải đấy. Chán vạn người khốn khổ, chứ riêng gì mình. Tôi phải thức khuya dậy sớm thật, nhưng sớm tối mẹ con hủ hi có nhau, chỉ mong chóng yên hàn làm ăn là vui thích nhất. Chứ như mấy cô này thì … Thưa cô, chè đậu đen. Hết đá rồi cô ạ, trời mưa lạnh mà. Cháu nấu đường trắng cần thận, không phải đường hóa học đâu. Cám ơn các cô. Năm chén cả thảy.
Người thứ sáu: Bà cho tôi một chén.
Người thứ bảy: Ờ, tôi quên khuấy đi mất, không mời ông một chén. Ăn cái này mát lắm. Thôi, chả đáng bao nhiêu. Tôi bán cũng cạn nồi rồi.
Người thứ sáu: Không được. Thế này vậy. Bà cầm mấy con mực khô về nướng cho cháu nó nhai. Vừa khỏe răng lại vừa bùi miệng. Bà con nghèo cả với nhau.
Người thứ nhất: Bây giờ bách bộ về ngủ cho ngon. Còn mươi ngày rãnh rỗi sẽ đi thăm nốt mấy ông bạn gàn. Mà chúng nó cũng đi hết ráo cả rồi, chả còn đứa nào. Đi xa nhất là vào nghĩa địa. Gần hơn tí nữa cũng cách mình cả ngày xe đò. Gần nhất thì vợ con đứng cửa, kèm chó dữ bên ngoài. Than ôi, mình vẫn là mình, vẫn than sét rỉ nằm vênh một chiều. Này thi sĩ, sét ri mà lại nằm vênh thì đúng là ngu đần thật. Sắt kêu đâu phải không duyên cớ. Chính để đỡ đi những nản buồn không tên, không nguyên nhân, không xuất xứ của tuổi trẻ bây giờ. Cớ gì kêu la bai bải cho thêm ồn. Chén chè đậu mát, con mực nướng thơm, đơn giản thế mà cứ thắc mắc hoài, làm sao đến Hội Mùa Xuân có được vuông khăn điều phất phơ quàng cổ? Để lòng chua chát mãi, mật ngọt trên đời đã hóa độc dược đắng cay cả rồi sao? Thực mình thế hay không phải thế? Sức mạnh của ta hay ấy chính yếu đuối của người? Tơ đàn tạo vật chưa ngân tiếng reo vui, chắc vì mưa vừa tạnh, trăng hãy còn xa, về đi cho sáng trần gian, ẩn mãi sau mây đen dầy, hé nửa mặt mày cao ngạo nhìn đời chi thế? Ra đi, cho những kẻ yêu nhau có nơi thể chỉ, cho lòng trẻ vằng vặc để một mai về già không còn bôn ba, cho nhà nông xem thời tiết trồng cấy, cho con trẻ giong tóc hát chơi và thân này mãi mãi mơ màng bay bổng trên trời trong, nhẹ và cao.
NGHIÊM SỸ TUẤN
[Trích Thung Lũng Hoàng Hồn, Nxb Y Tế 2002]
(1) Si vis pacem, para bellum: Nếu muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh.
(2) Chí kim, tam tải văn dư hương: Tới nay ba năm, còn nghe hương thừa (Ký
Viễn – Thơ Lý Bạch)
(3) zzz … là những chữ bị Bộ Thông Tin kiểm duyệt năm 1967.
Khi vòng tay vắt sợi giây xích khép hờ chiếc cổng gỗ của khu đất, trên đó dựng “tài sản” đầu tiên và cũng là cuối cùng của anh sau năm mươi năm cố sống. Căn nhà tranh, đúng hơn chiếc lều do chính tay anh cùng Phg lợp lên từng liếp lá dừa, lót dần mỗi tấm gạch nền. Căn nhà, hiện thực cảnh sống của anh với từng người bạn …
Nằm trên võng anh hay cười và nói thành lời một mình … Chỗ nầy là của ông Mê Linh nhảy dù cho. Cái cửa là do ông Yến làm báo ở Mỹ. Chỗ góc là của hai vợ chồng bác sĩ không rõ tên bên Canada. Cô Nga em ông Giang trước ở Đà Nẵng cho một trăm. Mình mua cái gì nhỉ?! Anh mong có ngày anh đón BẠN VỀ … Anh không hề có cảm giác nhà, đất của riêng mình. Anh chỉ làm nhiệm vụ coi giữ. Bởi chúng có được từ những người ở xa. Nhưng sáng nay, bình yên kia không còn. Anh phải đi … Anh có cảm giác rã rời của người phải tiếp tục lần đi sau chặng đường quá dài, trước mắt lại mở ra thăm thẳm nẻo xa. Anh đã vào tuổi già. Quá già cho lần bắt đầu muộn. Anh thật muốn trở vào, vất bỏ cái túi xách đựng những vật dụng hằng ngày, thêm khối giấy tờ xuất cảnh, khoảng năm ba chục trang hồ sơ, gồm nhiều tập, mà mỗi kẻ đi tù về luôn mang giữ; chen giữa những tập giấy kia là đồ dùng vệ sinh; hai gói mì ăn liền, thức ăn khô đề phòng lần (nếu) bị bắt giữ bất ngờ. Cũng do hai hai chữ “công an”, cảm giác mỏi mệt kia tăng thêm độ sắc. Nhìn những màn cửa sổ mầu xanh dọi nắng sáng bay đong đưa, lộ lệch phần bên trong căn nhà, anh tưởng ra độ mát của nền gạch tàu mà dẫu ngày hè nóng bức vẫn cho cảm giác gây gây lạnh. Chiếc võng sợi dừa treo ở hàng hiên đã được móc lên cao, bàn gỗ nhỏ uống trà … Sáng nay nếu không phải đi, đây là lúc ngồi chơi, chờ cho Ti ăn sáng … Giữa chừng ý nghĩ, anh liếc về phía đầu khu đất, nơi tiếp giáp căn vườn ông ngoại đứa bé, chỗ nhỏ Ti thường đợi anh đi qua. Con bé không có mặt, trời còn sớm quá … Anh lẫm bẩm những tiếng vô nghĩa, lên xe, đạp nổ máy. Chỉ một điều cho anh thoáng mối vui, chút bằng lòng … Đã thắp hương lên bàn thờ mẹ, nếu được sống bình yên trong cảnh nầy, chắc mẹ vui lắm. Con bé Ti cũng tuổi Mùi như mình, mẹ tuổi Tuất, cách nhau hằng năm mươi, sáu mươi năm hơn – Với anh – Tất cả là một. Anh ra khỏi hẻm cát, lên lộ đất, hướng Sàigòn. Lòng buồn hiu.
Người sĩ quan công an của PA15, Phòng an ninh phản gián Ban bảo vệ chính trị Thành uỷ Sàigòn, đặc trách văn nghệ sĩ, thuộc lớp tuổi ngoài ba mươi, loại người sắc bén, khôn ngoan, giỏi nghiệp vụ. Nghiệp vụ tìm thấy những sự việc chỉ có thể xẩy ra ở tương lai với tỷ lệ xác xuất nhỏ nhất. Hoặc, không hề xẩy ra. Lịch sự, đĩnh đạc, tự tin, người nầy mở lời …
– Anh có gặp Dương Phục?
– Vâng. Anh thở hơi bình thường sau cơn căng thẳng từ sáng sớm; thật ra từ những ngày qua, sau khi nhận tờ giấy gọi trình diện cơ quan đặc vụ nầy. Như vậy thì không đáng sợ. Anh lấy lại đôi phần cảm giác yên ổn.
Phản ứng của kẻ lương thiện và tin nơi lòng tốt của người. Dẫu cho người phía đối nghịch. Anh thành thật trình bày tiếp: Tôi đến để thăm anh Dương Cự, anh của Phục, chứ không biết Phục ở Mỹ về, từ bao lâu nay tôi với anh ấy không hề liên lạc, cũng không là bạn thân, trước kia chỉ chung sở làm …
– Anh và Dương Phục đã tới những đâu? Câu hỏi có ý tìm hiểu những nơi chốn đã đi. đến, không để xác định một hành vi, làm sáng tỏ về yếu tố đang đề cập. Người nầy lộ vẻ không chú ý câu trả lời của anh. Coi như việc đã nắm rõ.
– Chúng tôi đến chỗ hoạ sĩ Phạm Cung, chẳng là Dương Phục muốn biết về sinh hoạt của giới văn hoá, văn nghệ Sàigòn ngày trước, hai nhà cùng khu Phú Nhuận, chỉ cần qua lối tắt, đi bộ, không phải dùng Honda. Không cần đợi người kia hỏi thêm, anh “thành thật khai báo”. Sống lâu cùng người cộng sản, rõ ràng mọi người đều nhiễm phải phương pháp luận lý, xử dụng từ ngữ của họ. Cũng như anh vừa nghĩ ra cụm từ kia, đồng thời có ngay so sánh, đánh giá :” … Không thể nào “ngắn, gọn, giản đơn hơn được … ”. Lại một số từ ngữ nghe quen khác xuất hiện tiếp trong đầu. Nhưng nói cho cùng, sở dĩ anh có cách thức ứng xử phản xạ với những ngữ từ nhập tâm nầy, bởi vì anh đã hiểu rõ: Khi công an hỏi đến, tức chuyện hẳn có – Thời gian trước, sau khi xẩy ra chỉ là phần kỹ thuật – Kỹ thuật thẩm vấn, tra cung. Sống cùng người cộng sản gần hai mươi năm, quả thật anh đã “bước đầu có tiến bộ nhất định”.Thế nào là “tiến bộ nhất định”? Trước kia anh hay buồn cười về những từ ngữ chung chung nầy. Nhưng nay, qua kinh nghiệm bản thân, anh hiểu ra nghĩa thật … Không “tiến bộ nhất định” thì gọi như thế nào để xác đáng với tình thế của hiện tại đang đương cự Nhưng nỗi hân hoan, tự tin về cách cư xử khôn ngoan, thành thật của anh đã hoá nên vô dụng, bởi viên cán bộ hình như đã quá tường tận tình thế, anh ta ngắt ngang:
– Chúng tôi biết. Chỉ muốn anh tự nói ra để xem mức độ giác ngộ của cá nhân anh trước khi có “biện pháp cụthể”.
Cụm từ cuối cùng của người công an có ngay hiệu lực. Anh im bặt, chưng hững, ngây ngô nhìn người đối diện … Mình phải bắt đầu từ đâu? Suýt nữa anh buột miệng (như nhiều lần nơi trại tù khi phải làm kiểm điểm) … Cán bộ muốn tôi khai báo những gì?! Anh mắt viên công an long lanh cười cợt sau lớp kính trắng. Anh ta đổi giọng thân mật:
-Anh vẫn ở Lái Thiêu nhỉ? Giọng trống không.
– Vâng. Anh im lặng. Không hiểu y ta muốn gì? Anh tỏ vẻ nôn nóng, bực dọc cốt để người kia nhận thấy, anh ta sẽ lộ ra phản ứng, dễ đối đáp hơn. Gã cán bộ tiếp cơn đùa, chủ động tình thế: Chỗ anh ở đẹp lắm.
– Vâng. Anh đáp sẳng, bất mãn: Vùng ấy toàn nhà giàu, trước kia hay bây giờ cũng thế. Nhưng xóm tôi chỉ có người nghèo,
– Anh không thích ở đấy à … Đến lượt người nầy không nắm vững diễn tiến từ chính mình vừa tạo nên. Do anh ta không thể nghĩ anh đã phản ứng đến mức ngây ngô như thế kia. Người công an tiếp tục, bày ra ẩn ý, ám chỉ: Anh thì quen sống nơi vui, đông. Anh khối bạn, đâu cũng có,
– Vâng. Tôi quen nhiều người, nhiều giới, nhiều lớp tuổi. Ngay cả ngoài Bắc, phía tù hình sự gọi tôi là “Nam kiên giam” theo cách đặt biệt danh của họ. Cán bộ đã ở ngoài ấy hẳn rõ. Anh mở rộng ra con đường mà người kia cố tình làm rối rắm.
– Không tôi muốn nói phía người Việt ở Mỹ kia chứ.
Người nầy lại buộc vào.
– Ở Mỹ, Pháp, Úc … Đâu tôi cũng quen suốt. Anh chuyển qua cách tự tin, hãnh diện trong âm, chữ diễn đạt.
– Anh và Dương Phục chắc có nhiều điều để nói nhỉ. Bao lâu mới gặp nhau lại. Người cán bộ trở lại, sau chặng đi lòng vòng xa. Anh trả lời ngay bằng xác định, không quanh co, ẩn dấu: Tuy cùng Ban Liên Hợp, chung toà báo Sóng Thần, nhưng Dương Phục với tôi không là bạn thân. Thân, phải kể như Đằng Giao mới đúng nghĩa. Nhưng, tôi quý tất cả, đối với Phục hay bất kỳ ai. Và tôi đã nói với cán bộ ngay từ đầu, tôi đến chỗ đấy chỉ cốt thăm anh Cự, việc đưa Phục đi gặp những người kia là do yêu cầu của anh ấy đối với họ.
– Những người kia là ai? Viên cán bộ làm ra vẻ hình như nhớ lại công việc đang cần phải hoàn tất chứ không do ý muốn cá nhân,
– Thì sau đó đến nhà Trần Mạnh Hảo,
– Rồi đi đâu nữa?
– Chẳng đi đâu hết. Tôi về Lái Thiêu.
– Các anh định đi ăn cơ mà …
– Định thôi … Nhưng đâu có đi!! Anh kêu lên … Từ nhà Trần Mạnh Hảo, tôi về Lái Thiêu. Chúng tôi không đi
đâu hết. Đây, có sẵn cái hộ chiếu, nếu cán bộ nhận, tôi xin trả. Bù lại, cấp cho tôi tờ hộ khẩu về ở chính
thức nơi Ấp Bình Đức, xã Bình Nhâm … Anh nói lớn. Vùng vẫy pha lẫn phẫn nộ. Phản ứng của kẻ cùng
đường, oan ức. Buổi chiều. Anh ra khỏi PA15 với quyết định dứt khoát … Phải đi Mỹ. Đi … Đi Mỹ.
Hai
2 tháng 11, 1993 … Đất trời chính xác đến thế nầy thì thôi, cũng một ngày tháng nầy ba mươi năm trước!!
Anh ngẫn lên cao, trời xanh, nắng sáng, chung quanh cảnh sắc lặng lẽ, khu nghĩa trang nằm giữa hai tỉnh Bình Dương, Biên Hoà, trên đường liên tỉnh Lái Thiêu qua Dĩ An. Rừng lá bạch đàn vi vu gió xôn xao gây gây mát lạnh. Thời tiết hiền hoà cảm xúc của riêng miền Nam, buổi cuối năm. Nhưng lòng anh thấm đẫm mối thê thiết giăng giăng” … Ngày nầy … Ngày nầy đây, ba mươi năm vút, len lỏi giữa đám đông để bắt kịp đoàn tuỳ tùng của trước … Và xa hơn, ba mươi sáu năm … Đứa bé chạy vun tổng thống. TỔNG THỐNG- Người mặc bộ đồ trắng, dáng thấp, đi nhanh, mặt rực sáng, hiền hoà trung hậu …. Tổng Thống!! Tổng Thống!! Đứa bé bật kêu do cảm khích cao độ bất chợt. Tổng thống!! Tổng thống!! Anh kêu thất thanh từ giấc mơ sâu, bởi chân đang kẹt trong vũng DẦU … Tay cầm lá CỎ, anh cố chạy lên mặt NƯỚC …. Bãi Dầu giữ bước chân, nhưng anh vùng vẫy, kháng cự, vượt cơn khẩn cấp, băng Sông Mã, leo lên núi … Từ đỉnh cao, bạn NGÔ Vương Toại đưa tay vẫy; người vợ (qua vóc dáng của MẸ) đang nằm trên sườn đồi với vẻ mệt mỏi, chờ đợi; vị thế nằm như người đàn bà trong tranh của Rousseau. Tranh mầu LỤC. Ao màu LỤC có ô sọc VÀNG của NHƯ HẢO, buổi khai trường 1955. Đường Nguyễn Hoàng đầy bướm chết thảm thương trên mặt đường. Cổng xe lửa nhìn chéo tới LẦU ĐEN CỦA THU.
Anh và các bạn đứng lố nhố vui thích, chờ đầu máy tiến tới. Anh liếc qua cô gái nhỏ – Chiếc áo màu LỤC. Xe lửa tiến tới …. Ô kìa, xe chạy trên mặt nhựa đường, (đường rầy đã bị AI bóc dỡ), in hình hai vệt bánh sắt nên thành con số II, chữ số nằm xiên … Tương tự dáng mẹ nằm trên núi ĐẦU SÔNG MÃ. Mẹ họ NGÔ. Đứa bé chạy thoăn thoắt giữa đám ĐÔNG đứng lèn chặt, cố bắt kịp NGÔ TỔNG THỐNG … Nó vụt kêu …. Tổng Thống!! Tổng Thống!! Đám đông nhìn nó như khen ngợi. Có người đưa máy hình lên chụp ẢNH. “Nó+Anh” nghĩ: Mình đã làm việc cực tốt. .Mình là người ĐẸP trai. Mùa ĐÔNG năm 1957, Năm CON GÀ, Hôm nay, tiết QUÝ ĐÔNG năm QUÝ DẬU. Buổi sáng Mồng 2 Tết 1948 qua 1949, CON GÀ đá vào bụng em ANH. Em tên “KH-ANH”. Ông Võ gật gù giải thích chữ Hán-Việt … “Ngô hay Ngã cũng chung cách viết
– Chỉ CHÍNH MÌNH. CHÍNH ANH”.
SÁNG NAY, 2(II) THÁNG II, NĂM QUÝ DẬU,
1993, anh rời chỗ dung thân cuối cùng, Lái THIÊU để ra khỏi NƯỚC. Giấc mơ đứa bé lên BA, ” … Chiếc cầu gãy bên căn nhà tranh bốc CHÁY. Cầu trơ lại HAI chân cắm XIÊN nhô CAO khỏi mặt NƯỚC”. Căn nhà tranh bốc cháy của giấc mơ “bốn-bẩy” (47) năm trước với căn nhà anh vừa rời bỏ là MỘT. Số tù anh nhận ở Hoàng Liên Sơn, 7747. Em Khanh sinh 1947. Đại đội 74, Tiểu đoàn 7 Dù- Đơn vị ĐẦU TIÊN. Tất cả sách anh VIẾT có bìa ĐỎ-LỬA.
Anh đến trước ngôi mộ,” … Chúng tôi là kẻ có tội và cầu cho kẻ xúc phạm mình. Chúa Jesus chuộc tội cứu thếCầu cho Anh Linh GIOAN BAOTIXTA”.
Anh Tin: “Đất-Trời-Người” hằng lắng nghe.
Ba ngày sau …
Phải. Đây là đất Mỹ. Đất Mỹ của một tiểu bang đông người nhất với những thành phố không chỉ cỡ quốc gia, nhưng là tầm quốc tế. Những phi cảng đứng hàng thứ hai, thứ ba thế giới; lẽ tất nhiên, cái hàng đầu ở đâu đó, xa hơn một chút, cũng thuộc tiểu bang nầy. Đã thật ở đất Mỹ để thấy ra nghịch lý- Những điều hoang tưởng nhất thoắt trở thành hiện thực. Và những thực tại trong chớp mắt đà nên xong vất bỏ. Vất ngay không nương tay. Tất cả tổng hợp nên một TÍNH TRẠNG KHÔNG THẬT CỦA CÁI THẬT.
– Ông nặng bao nhiêu pound?
– Ở Việt Nam tôi cân được năm mươi lăm ky-lô-gram, nay tại Mỹ chắc nặng hơn một chút …
– Ông tính ra bao nhiêu pound hộ, tôi không biết về cái mà ông vừa nói. Người đàn ông nói chậm rãi, chêm những tiếng “you know” giữa câu để anh có thể theo dõi kịp. Ông ta thật tinh tế, biết anh vừa đến Mỹ.
Trong khi nhẫm tính ra số pound sức nặng của thân thể mình; anh nhìn người chủ căn chung cư nơi bạn anh thuê, căn phòng hiện tại anh đang tạm trú từ ngày bước xuống đất Mỹ … Người Mỹ tử tế thật, mình chỉ là bạn ông Trạc chứ quen biết gì, thế mà cũng hỏi thăm sức khoẻ, chiều cao, sức nặng. Ai bảo người Mỹ vô tình, lạnh nhạt,
Có sống mới biết lòng người. Anh thở phào, hớn hở:
Như thế, tôi có từ 120 đến 130 pounds. Hôm khám sức khoẻ nhập cư, tôi nhớ, cũng khoảng chừng ấy số cân,
– Như thế, ông có tối thiểu 120 pounds? Người đàn ông kết luận. Ông ta có vẻ thoải mái như đã tìm ra đáp số cho một vấn đề nào đó.
– Đúng thế. Anh nói lớn, đồng ý về bản thân để khỏi gây thắc mắc, phiền lòng người. Lại là người tốt bụng.
– Nầy, ông xem … Người đàn ông lật lật những trang giấy tập hồ sơ đóng bìa trắng … Đây, nó đây … Ông đọc chỗ nầy, hàng nầy … Ông ta di di cây bút trên những hàng chữ đánh dấu màu xanh, nét mực tươi rói, dễ nhận.
Đợi anh đọc xong, trả lại tập giấy. Người đàn ông hỏi … Ông biết? Ông hiểu? Âm tiếng khoan hoà lịch sự,
– Tôi biết. Anh đáp, thật sự chưa hiểu hết câu chuyện.
Tại sao ông ta đưa xem cái giấy ấy, mình có nuôi gì đâu?
Anh đang tìm lời giải thích.
– Thế nầy … Người chủ nhà thân mật … Đây, đấy là hợp đồng thuê nhà, người thuê, nghĩa là bạn anh chỉ được nuôi “pet”, (Anh hiểu pet là cái gì nho nhỏ, dễ thương như đồ chơi … ), cái pet ấy không quá ba pounds … No excess of three pounds, you know! Đằng nầy anh nặng 120 pounds, ít nhất cũng 120 pounds, anh đồng ý với tôi. Anh nói Mr Ngyen đến gặp tôi … OK?
Khi anh đứng ở lề đường với những bao gói ngỗn ngang đợi Nguyễn Thức tới đưa đi, ông già ăn xin thường trực trước quán ĐL có lời khuyến dục: “Ông làm cái bảng “Homeless” đeo trước ngực, người Á châu sẽ cho ông dollar bill, chứ không phải chỉ quarter như cho tôi … OK?
Lần đầu tiên trong đời anh SỢ- Thật Sợ- Sợ từ một tình thế vượt khỏi mọi dự liệu. Cho dù, anh đã hằng hằng nguy biến của hơn ba mươi năm khắc nghiệt. Dẫu, anh đã cuối vũng lửa, cái chết. Bởi, bây giờ, hoàn cảnh khác hẳn mọi kinh nghiệm. Trước mắt anh giãi ra một biển lửa mở rộng với vạn ngọn đèn màu đỏ … Khu giao lộ phía đông thành phố Los từ đường 15 đổ xuống. Buổi sáng, ở Utah, khi bạn anh đưa chìa khoá xe, chiếc Chevrolet hai chỗ ngồi, lời âu lo: “..Ông mới qua Mỹ, đường sá không thuộc, lái từ đây về Orange County có được không? Anh tự tin trả lời: “Một tuần sau khi đến Mỹ, tôi đã cầm tay lái đi từ Bắc xuống Nam Cali. Ba mươi năm lái xe, chưa hề gây tai nạn, cũng chưa hề để thằng khác đụng phải. Ông yên chí, bản đồ tỷ lệ 1/100.000 tôi gọi pháo binh bắn như đặt bi vào lổ, bản đồ đường sá Mỹ thiết lập cho người có trí thông minh dưới trung bình …”. Anh nói chắc. Bạn nghe hợp lý, hơn nữa anh vốn được tiếng khôn, nhanh, xốc vác, chịu đựng. Nhưng tất cả “kinh nghiệm” của tháng qua, của ba mươi ba năm lửa đạn chiến tranh, của năm mươi năm khốn cùng Việt Nam đến đây đã hoàn toàn trở nên vô dụng. Bởi, bây giờ là Đêm- Đêm nước Mỹ ở khoảng đường đông xe nhất thế giới. Sau nầy, anh hiểu ra, người sinh trưởng ở bản địa cũng ngại lái xe vào khúc đường nầy, khoảng từ sáu giờ chiều đến tám giờ tối. Dân New York, vùng phía Bắc lại càng luống cuống, chịu thua. Xe mới, đường lạ, các bảng chỉ dẫn cấp kỳ xuất hiện, những lối Exit liên tục khẩn cấp và vận tốc trên 60 Miles một giờ … Anh mê đi trong vũng lửa di động, để tới nửa đêm, thay vì về đến Orange County như dự liệu, anh nghe tiếng sóng của một bãi biển giữa đường đi San Diego. Chuyện lạc đường ở Mỹ không là điều đáng nói. Nhưng, đây là lần đầu trong đời ANH KHÔNG TIN ĐƯỢC NƠI MÌNH- ANH THẤY SỢ. Nước Mỹ, nơi dạy anh biết sợ hãi. Và sau nầy, ở những tình huống lặng lẽ bình thường hơn, phản ứng kia luôn xẩy ra, cảm giác lo lắng về một tai nạn đang sẵn chờ- Tai nạn không do anh gây ra, nhưng từ đâu sau lưng, bên cạnh, chung quanh. Rất nhiều lần, quá nửa đêm, ở khoảng đường vắng của một city hẻo lánh nào đó nằm cạnh xa lộ liên bang vạn dặm anh đi qua … Khi ngừng xe tại những bảng STOP, nếu nhỡ đầu xe hơi nhích lên quá vạch vàng, anh vẫn tự động lùi về phía sau … Sorry .. sorry … Anh vội vã, cuống
quýt, mau mắn … Anh sợ phạm lỗi. Anh sợ tai nạn. Tâm thức nầy không chỉ riêng anh, nhưng là của chung. Của tất cả. Của những người sống thường trực bất an. Cho dẫu, cũng ở đây, hệ thống bảo vệ an ninh, an sinh xã hội coi như toàn hảo. Có những bảo hiểm trọn đời. Sau khi chết.
Nhưng, sau ba năm ở Mỹ, từ trạng thái “luôn chờ đợi một tai nạn, điều bất hạnh, nguy biến”, anh dần phục
hồi với sức lực đơn giản – Nguồn Vô Uý từ khám phá ra điều THẬT- ĐỜI SỐNG LÀ GIẢ HÌNH- TÍNH GIẢ Ở MỸ ĐẠT ĐẾN MỨC TUYỆT ĐỐI VÀ CỤ THỂ CAO ĐỘ. Chủ đề quen thuộc của anh từ bao lâu, lúc bắt đầu cầm bút. Buổi thanh xuân còn háo hức, nông cạn.
Sự Thật lớn nhất,
Là cái CHẾT
Đã giáp mặt rồi,
Không sợ gì hết.
Những lời nầy không là ngoa ngôn. Anh đã xác chứng bằng chính bản thân với mười mấy năm nơi tù ngục.
Đất Mỹ không thể đốn gã anh được dù đây là nơi kỹ thuật trấn áp lên tất cả mọi lãnh vực. Cuộc cách mạng kỹ thật mà Alvin Toffler mô tả đang lên đến cao điểm của nó. Nhưng dù sao cũng vẫn là kỹ thuật. Không phải ĐẠO. Đạo đến từ Phương Đông cùng hướng mặt trời mọc. Phương quê nhà. Chốn anh phải trở về. Cũng do ..
Bởi vì đã Đi nên sẽ Đến
Người và Bóng Tối phải chia tay …
Tô Thuỳ Yên.
Người Bạn-Thi Sĩ tôn vinh Lý Tất Thắng
Thi Sĩ đích thực là Tiên Tri.
Ba
Từ lầu ba khu thương xá Galeria anh nhìn xuống …Một vùng hoa đỏ chói được xếp khéo, tinh xảo chen lẫn
giữa đám lá màu lục. Hoa, lá, giòng suối, vòi nước,vườn đá tảng … Thật, giả chen lẫn nhau, khó phân biệt được. Khu thương xá lớn như một thành phố thu nhỏ. Loại quần thể với cấu trúc khép kín bày đủ tất cả các mặt hàng có khả năng thoả mãn cho người toàn bộ nhu cầu về đời sống vật chất, các phương tiện, dịch vụ giải trí, sinh hoạt gia đình, xã hội. Anh đang đứng giữa một vùng mênh mông màu sắc, đồ vật, hoạt động chuyển dịch bất tận, liên tục cuả một hệ thống tổ chức hiện đại văn minh nhất của xã hội tiêu thụ Mỹ … Áo quần, son phấn, đồ nữ trang, máy móc điện tử, vật dụng cơ khí, sản phẩm kỹ thuật cao … Tất cả mang nhãn hiệu “New Brand; Last Model; Top Fashion … “, vừa mới xuất hiện trên tờ báo sáng hôm nay, chương trình ti-vi tối hôm trước ở mục Tin Cuối Cùng. Tất cả đồng được bày ra, khiêu gợi, mời chào xử dụng. Nhưng đối với anh, tất cả khối vật thể đồ sộ nầy hoàn toàn bất tác động. Giả sử có một kẻ đầy đủ quyền hành như bà tiên trong chuyện thần thoại, cho phép anh được lấy bất cứ món đồ gì ở khu quần thể vĩ đại nầy, cho dù đắt giá đến bao nhiêu, với mỗi điều kiện, chính anh phải xử dụng nó, không được bán hay cho đi … Thì chắc anh sẽ từ chối, để không ngần ngại chọn chai nước ngọt – Vật độc nhất anh thực sự cần thiết trong lúc nầy, ở đây. Bởi, qủa thật anh không chút nhỏ liên hệ, nhu cầu gì đối với bất cứ món đồ nào trong khối vật chất tràn ứ đang vây bọc.
Nó không phải của anh. Cho anh. Bộ đồ anh mặc, đôi giày đi hoàn toàn không có xuất xứ, chung đụng với những đồ dùng đồng dạng, loại đang được trưng bày. Chúng cũ kỹ, quá hạn, thuộc về một thế giới, đời sống khác – Cảnh sống thực của khổ nạn miên viễn, với nỗi đau chồng chất, hiện mới từng ngày. Nụ cười rạng rỡ trên bích chương quảng cáo in hình đôi thanh niên thiếu nữ do được xử dụng một hợp chất hoá học tối ưu trong việc gội đầu, nhuộm tóc gây nơi anh cảm ứng về một điều giả tạo. Cách cười ấy, không mang niềm sống
động của tuổi thanh xuân, nhưng bày ra phần kiệt quệ, nhợt nhạt của những cái gọi là “nguồn vui, hạnh phúc tiền chế “- Những phản ứng tâm lý, tình cảm đáng lẽ nẩy sinh do, từ hân hoan, xúc cảm nơi trái tim, ở trí tuệ, nhưng nay bởi vì lớp da được thoa xức, mái tóc được chải gở, đánh rối, thổi bùng. Và nói cho cùng, những áo quần, kiểu tóc, làn môi, ánh mắt kia thực sự lại là những biểu tượng tổng hợp của một thứ, loại văn minh làm hư xấu, khinh miệt con người của một thời đại phi nhân tính, vô nhân cách. Anh không hề nói quá, hãy nhìn những “thời trang” quái đản, rách ngướu, những màu sắc, đường nét “fauve, timeless, ageless. “do những những nhà tạo kiểu đã trở nên”huyền thoại”, dọc danh hiệu .. Christian D’or, Giorgio Armani, nơi tập trung toàn bộ sức lực, trí lực, phương tiện khoa học, kỹ thuật, mỹ thuật (chữ dùng thật mang nghĩa mĩa mai, khinh thị) để bày ra một chút mông đàn bà cho thời trang mùa thu, che bớt phần ngực ở thời trang mùa đông, phô trương trân tráo vô vị khoảng da bụng của mùa hè … Tất cả những đường nét, hình khối, sắc màu nầy do một đám nam nữ “model” thể hiện bằng một phong cách chung chung với cánh môi chẫu ra tục tĩu, ánh mắt đăm đăm mê mê đần độn. Đàn ông xỏ lổ tai, đàn bà cạo trắng phần gáy, tóc uốn chổng ngược hình tháp nhọn. Những hiện tượng ăn mặc, áo quần nầy không thuộc một phạm trù riêng biệt, nó nằm chung trong một cơn lốc. Cơn Lốc của Sự Ác- Tính Bất Thiện đang đầm đìa tràn lan khắp hành tinh thế giới cuối thế kỷ, mà Nước Mỹ là đỉnh cao, chỗ hội tụ của đợt sóng tàn hại kinh hoàng đáng sợ nầy. Nước Mỹ là đỉnh cao nhất, cũng là nơi còn lại cuối cùng của nổ lực muốn tồn tại lẫn mối sa đoạ hủy diệt.
Chúng ta nói rõ vấn nạn nầy một lần tường tận. KHÔNG AI CÓ QUYỀN GIẾT NGƯỜI. Đây là nguyên lý tối thượng. Đạo của Trời. Lý cho Người. Luật Đời Sống trên Đất. Nhưng rõ ràng, con người của thế kỷ hung hản nầy đã vi phạm đến mức độ đáng sợ điều linh thiêng tối thượng kia. Người không thực hiện tội ác đơn lẽ, lén lút trong cơn say máu ngắn ngủi, nhưng hoàn tất với tất cả nồng nhiệt của tiến bộ lý trí, kích thích tâm lý, mãnh liệt tình cảm. Và đáng sợ hơn hết, tiến trình tệ hại nầy được đồng lòng, thúc dục của đám đông. Đám quần chúng luôn được kích động, cổ võ bởi những từ ngữ cũ kỷ nhưng vô cùng hiệu lực, gây tác động … Những “độc lập, tự do, dân chủ, dân tộc .. “, kể cả cách nhân danh “thượng đế, đức tin” của rất nhiều lần, ở nhiều nơi.
Tạm gác lại câu chuyện về những người lính – Đối tượng thụ nạn đầu tiên của trò chơi độc hại gọi là chiến tranh mà con người hằng thực hiện từ khi được tổ chức thành đoàn thể xã hội với những tập hợp gọi là quân đội. Những quân đội ấy khi có thêm tiếp tay đắc lực từ kỹ nghệ cơ khí, đã chịu đựng số lượng thương vong tăng vọt với nấc cao chóng mặt. Trận Waterloo đầu thế kỷ 19 với Napoléon, con người làm thay đổi cục diện Châu Âu (mà cũng là trung tâm thế giới vào thời đại ấy), đã gây nên số quân nhân tử thương được đánh giá là
“khủng khiếp” với 48.000 mạng người đối với phía liên quân Tây-Au. Con số nầy trở nên “buồn cười” so với năm triệu người chết của Thế Chiến Thứ Nhất, lại càng nhỏ nhoi, vô nghĩa khi kể ra mươi năm sau, vì chỉ mỗi Liên bang Sô-viết cũng đã có 7 triệu người chết; chưa kể 7 triệu khác, không chỉ 7 triệu thôi mà thật số 7 triệu
7. Số lượng của những người chết không hề cầm vũ khí. Những người dân. Dân thường. Nghĩa là bao gồm đàn bà, người già, trẻ con. “Thành tích Chết” như vừa tóm lượt trên buộc con người có chút lương tri phải xét lại vấn đề của bạo lực. Để đến cuối cùng, một người cứng cỏi, cương nghị của nước Anh, Winston Churchill phải lên tiếng thống thiết “Chiến tranh vốn tàn bạo và vinh quang nhưng nay đã trở nên tàn bạo lẫn tồi tệ .. ”. Nói thế cũng đã đúng nhưng chưa đủ, chúng ta cần những đánh giá nghiêm khắc và kết án mạnh mẽ hiệu quả hơn. Nhưng buồn thay, hình như Sự luôn thắng thế, lấn bước trước Tính Thiện. Cuối thế kỷ, ở đây, đất Mỹ bày ra bao điều đau thương. Những tội ác phạm phải không do một nguyên cớ nào khác ngoài sự kiện: Người thiếu tính nhân với đồng loại và lòng giả tin nơi Thượng Đế. Thật sự cũng chỉ là vóc dạng, định mệnh con người được hình tượng hoá. Bởi kể đến hôm nay:”Chưa một ai đã từng thấy Chúa (Jn 1:18)”. Vấn đề còn lại chỉ giữa người với người.
Năm 1942, Đoàn nghệ sĩ (?) trung ương Berlin có nhiệm vụ giúp vui cho những tiểu đoàn SS Đức, thời kỳ chiến dịch tàn sát Người Do Thái lên đến đỉnh cao nhất. Khi trình diễn ở Lukow, viên trưởng đoàn thỉnh cầu ban chỉ huy SS cho phép dự phần “vinh quang” vào buổi xử bắn đám người Do Thái, dự trù tiến hành sau khi đơn vị SS đã được những giờ phút giải trí tuyệt vời do những nghệ sĩ tài ba mang lại. Tháng 12, 1942, nhân vật lãnh đạo bảy vùng Tin Lành ở Đức ra thông cáo: “Người Do Thái do từ nguồn gốc hiến định là kẻ thù của thế giới(?) và nước Đức, không thể được rửa tội, cần phải bị trừng phạt nghiêm khắc”. Cũng tương tự như thế, thực dân Pháp chặt đầu những người lãnh đạo Quốc Dân Đảng Việt Nam với nhân danh bảo vệ chính nghĩa khai sáng các dân tộc thuộc địa chậm tiến. Người cộng sản Nga giết sạch gia đình Sa Hoàng Nicolas III tháng 11, 1917 để bảo vệ thành quả cách mạng vô sản. Mao Trạch Đông dùng xe ủi đất hốt xác người tại thành phố Nam Kinh hiện thực bước quyết định của cách mạng văn hoá. Cộng sản Việt Nam chôn sống người ở Huế, mùa Xuân 1968 do yêu cầu” trừng phạt những kẻ có nợ máu với nhân dân”. Liệt kê còn rất dài, kéo mãi tận hôm nay, thập kỷ cuối cùng của Thế kỷ Hai mươi, với hiện tượng người Serb tàn sát người Hồi giáo ở Bosnia; dân thuộc tộc Hutus giết tộc Tutsis ở Rwanda sau khi noi gương sáng của Khmer Đỏ giết đồng bào mình lẫn người Việt sau năm 1975. Chuỗi chém giết vấy máu nầy không hề có dấu hiệu giảm sút, chỉ được biến dạng dưới những hình thức khác nhau, do những nguyên cớ khác nhau. Hoặc không bởi một lý do nào khác ngoài nỗi hung bạo căn cơ từ hơi thở, nơi tiếng nói, ở trí não, luồn sâu, hư thối trái tim. Bọn “đầu trọc” trẻ tuổi tấn công, đốt cháy trại tỵ nạn người Lỗ ở Rostock, Đông Đức năm 1992; với tên McVeigh, nổ bom toà nhà Liên Bang ở Oklahoma hôm 19 tháng 4, 1995 … Tất cả những “sự nghiệp đẫm máu” vừa kể qua ở trên, đồng có chung một nguồn mối – Chúng là sản phẩm được hoàn tất bởi những kẻ hít thở đủ không khí nhiễm độc của thời đại nầy. Suốt thời đại bắt đầu từ khi “Văn minh kỹ trị” được xây dựng và củng cố. TưBản-VôSản; QuốcGia-QuốcTế; CộngSản-DânTộc … Tất cả chỉ là mặt biểu hiện biển lận của hai đầu mối ác độc, phát xuất từ một chỗ hiểm nguy: VănMinh-VănHoa-Tây Phương. Nước Mỹ – Trung tâm cơn bão tàn khốc nầy.
Không phải vô cớ, do may mắn,
Bill Clinton đắc cử hai lần tổng thống.
Chẳng phải đắc cử một lần, nhưng đến hai lần với tỷ số áp đảo; đánh bại một đương kim tổng thống lừng lẫy, tài giỏi, bản lãnh. Bill Clinton không đắc cử một mình với trường hợp biệt lệ, bất ngờ do sự hên may, nhưng anh ta đã đoạt thắng cùng lần với những người thuộc cùng hệ phái, chung phẩm cách, cùng xuất xứ. Những sản phẩm thuần thành của thời đại, như cựu phó tổng thống Dan Quayle (thời Tổng Thống Bush), những người chọn chỗ trú ẩn trong hàng ngũ Vệ Binh Quốc Gia, mà vào thời điểm 1970 không phải là nơi dễ dàng thâu dụng. Bởi ở đấy chỉ có thể nhận vào một nhân viên khi đã sa thải một người khác. Ở thời điểm Johnson đôn quân, lúc mà cơ quan trưng binh gọi trình diện đến 120.000 người trong năm 1965; 320.000 cho năm 1966 thì chỗ “những chỗ trú ẩn an toàn” kia đã là nơi tranh đua của những “cậu ấm” con nhà thần thế, cự phú. Không ai xa lạ, bây giờ là ứng cử viên tổng thống Steven Forbes của Đảng Cộng Hoà, con tỷ phú báo Forbes, mà lúc ấy, niên khoá 1970 đã bảo vệ sự nghiệp chính trị hiện tại với chân rửa chén mang danh số 94B20 của đoàn Vệ Binh New Jersey. Danh sách sẽ rất dài với Phil Gramn, bây giờ là Thượng nghị sĩ tiểu bang Texas, đã một lần dùng mánh “lưu dụng” để được giữ lại dạy họcTexas A & M University, 1967. Lamar Alexander trốn súng đạn Việt Nam với chức vụ tối cần thiết, “tống thư văn” cho quan toà Wisdom ở New Orléan, 1966. Có thể kể thêm chủ tịch hạ viện Newt Gingrich, tay “hữu khuynh chống cộng” trên cột giấy báo, Pat Buchanan.
Tất cả cũng chẳng hay hớm, oai phong gì. Rặc một đám trốn lính. Nhưng những con người ngày nay đang giữ những chức chưởng trong Quốc Hội Mỹ, đang nắm vận mệnh nước Mỹ, (cũng là vận mệnh thế giới, nếu không muốn nói quá), đã được chọn cùng lần với Bill, bởi người dân thấy không thích ứng nữa đối với những vinh quang từ quá khứ. Người dân Mỹ hiện tại không cần thiết có một tổng thống từng đánh trận Bastogne ở Đức, 1945; đã sống trong lửa ngày Trân Châu Cảng bị bom, 1941; bò, trườn xao xác dưới đạn ở bãi cát Iwo Jima, dựng cờ lóng lánh sao trên đảo Suribachi. Người dân Mỹ cũng chẳng cần biết. Càng không muốn nhớ (như số đông Người Việt ở Mỹ hôm nay) một chốn gọi là Việt Nam, với những hốc hẻm khó đọc lên tên như Khe Sanh, Cồn Tiên, Cửa Việt … Một nơi chốn đã từng làm thiệt mạng 58.000 lính Mỹ mà nay qua hơn một phần tư thế kỷ, hội chứng vẫn còn âm ỉ. Tuy nhiên, khi hỏi 100 sinh viên thuộc đại học Texas Tech về Việt Nam, giáo sư sử học James Rechner, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam ở Lubbock, ghi nhận chỉ có một sinh viên (tất nhiên thuộc khoa sử) biết được nước nầy là gì, ở đâu?!
Thể nên, kẻ trốn tránh chiến tranh kia được xem như đã lập một “thành tích” khôn ngoan, thức thời, để hôm nay hiện thực khả năng lãnh đạo nước Mỹ trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, mà các xung đột chỉ xẩy ra ở các khu vực; thẳng lợi không vình quang, nhỡ thua thì mất vài anh lính. Người ta chỉ cần một anh tổng thống loại tầm tầm, “công khai hoá” hộ những lỡ lầm, hư đốn như trốn thuế, đồng tính luyến ái, mau nước mắt và biết trốn thoát khỏi gian nguy chết người để vẫn ngày ngày bình yên đợi chủ nhật đi lễ. Hãy tưởng tượng hai anh lính Mỹ, tuổi trên dưới hai mươi, tóc dài, cột theo lối đuôi ngựa, hoặc cạo trọc (cũng may nhờ ảnh hưởng của mấy cậu đánh bóng rổ thường phần đông cạo trọc đầu) nên lính Mỹ hôm nay cũng không phải cần tranh đấu để được cạo đầu như đã một lần kiện đến quốc hội để được quyền có tóc, râu dài rậm. Hai anh chàng tuổi trẻ có những cái vòng ở tai ấy, với vũ khí tận răng, máy móc tân kỳ đầy ắp trên người, chỉ đợi đêm xuống (đêm của giờ địch quân hoạt động) … Đến đêm, họ sẽ chui vào chung một túi ngủ để “make night fun“, thực hiện cái trò tục tĩu mà một đứa trẻ vị thành niên bình thường ở những thế hệ trước đây đỏ mặt vì xấu hổ nếu mắc phải. Nhưng “cái trò nham nhở mất dạy” kia nay đã là một “mục tiêu tranh đấu” của ứng viên Tổng Thống Liên Bang Bắc Mỹ trong chiến dịch tranh cử và cũng là hãnh diện của mẹ cha viết lên biểu ngữ trong buổi mít-ting ở New Orléan:“Đứa con GAY chúng tôi là một tuyệt vời”.
Vâng, khi những chuyện của sau cánh cửa, giữa bóng tối, về những bộ phận sinh dục nay đã biến thành một mục tiêu chính trị, quyền tự do hiến định và là một tiêu chuẩn của văn minh, sinh hoạt tiến bộ của xã hội tổ chức cao. Thì quả thật, những mẫu mực về Thiện, Mỹ của xã hội kia cần phải xét lại. Một xã hội gồm những trí thức khoa bảng, chuyên viên kỹ thuật cao cấp, dụng hết tất cả sở học, phương tiện báo chí, truyền hình để tìm cho ra một yếu tố về tính bất khả thể (của phép tính xác xuất) hòng chạy tội cho một tên giết người trân tráo; và đã thành công trong một phiên toà kéo dài hơn một năm, tạo nên cơn động não không tiền khoáng hậu trong lịch sử tư pháp, vào tận phòng ngủ của những cặp vợ chồng, nơi nấu ăn của bà nội trợ. Lời tên giết người được viết thành sách, in khẩn cấp, bọc bìa cứng tràn lên tay của đám đông đang di chuyển khắp các xa lộ, trong giờ ăn trưa, nơi phòng hút thuốc. Hình ảnh, diễn tiến sự kiện giết người phơi bày ba lần một ngày trên toàn bộ hệ thống truyền hình quốc gia, chuyển lên mạng lưới toàn cầu; hình dạng đứa sát nhân được thu nhỏ thành búp bê đặt vào tay trẻ nhỏ đang thiêm thiếp nơi ghế ngủ. Đại học Luật khoa Rice, Houston, Texas nổi tiếng về học phí cao, giáo sư giảng dạy toàn những nhân vật tiếng tăm như cựu bộ trưởng ngoại giao James Baker, đã tranh đua cùng một trường khác, đại học Oxford nơi đào tạo lớp lãnh đạo quý tộc cho đế quốc Anh, cố đón bằng được luật sư J. Cochran, kẻ cầm đầu biện hộ vụ án, để cổ võ “sự chiến thắng của trí tuệ, của luận lý” qua xác chứng: Tên giết người kia không phải là kẻ xử dụng đôi găng tay trưng ra tại phiên toà. Tóm lại, hai thây người bị đâm nát, chết do một kẻ thứ ba nào đấy, hoàn toàn không hiện hữu nơi đời sống nầy. Cùng lúc, đại học Oxford trao tặng tước hiệu danh dự và toàn thể ban giảng huấn đến cúi mình trước tên giết người vừa được chạy tội. Xã hội kia còn đạt đến mức độ sa đoạ đáng kinh sợ khi nại đến tâm lý học, xã hội học, tác động nhu cầu, ẩn ức tình dục lên tâm lý của kẻ giết con Suzan Smith, để đi đến kết luận:
“Người đàn bà khi bình thản nhốt con trong xe, xong xô xuống vực là do thúc đẩy “muốn duy trì tình yêu”, từ, của một gã đàn ông vô lại nào đó, bởi gã ta đã cho ả sự thoả mãn hứng tình trọn vẹn!!.
Hãy xem gà mẹ che con trước diều hâu; hãy xem bồ nông cào cổ nuôi con; bò mẹ liếm bê con sau khi sinh. Những “con người”, người của xã hội văn minh nhất hành tinh hãy hổ thẹn cho lần biện hộ đối với những … Suzan Smith, Darlie Routier – Loại đàn bà nhẫn tâm giết con thai sinh từ máu thịt mình. Nhưng đám đông cấu tạo nên xã hội nầy, đám đông đồng thuận gọi tên giết vợ là “anh hùng thời đại; một mẫu mực đàn ông mới; Othello của thế kỷ hai mươi” … không phải vài thành phần điên dại khật khùng nào đó. Nhưng là đa số quyết định tối hậu về sinh mạng nước Mỹ- Nhân tố hai lần chọn Bill Clinton nên thành tổng thống. Họ đã chọn loại hình lãnh đạo mới có cơ mưu của một kẻ chuyên nghiệp môi giới lu loa, khí phách của tay chơi lì lợm, cách khôn ngoan của gã quảng cáo hàng rẻ tiền. Đám đông kia không cần những xác tín về lòng ái quốc như câu nói hàm xúc cao cả của Kennedy “Đừng đòi hỏi Tổ Quốc làm gì cho anh. Hãy tự hỏi anh đã làm gì cho Tổ Quốc”. Đám đông đa số của nước Mỹ hiện tại đồng thuận để viên tổng thống do họ chọn lựa cho thuê phòng ngủ Tổng Thống Abraham Lincoln để lấy dăm ba ngàn đô-la gây quỹ. Viên tổng thống nầy chỉ có một điều chưa thực hiện, mặc dù có thể anh ta đã nghĩ tới – Mời O.J Simpson vào Toà Bạch Ốc ăn điểm tâm xong cả hai vào chung phòng bù khú, hiện thực mẫu mực “cách mạng tình dục, giải phóng phái đồng tính luyến ái”. Xong cả hai dẫn nhau qua Hà Nội thăm lăng Bác- Một kẻ thuận lòng để kẻ khác hiếp, giết vợ con mình vừa bị phanh phui. Nhắc thêm một điều, Bill nhớ xỏ lỗ tai trước chuyến đi.
Chiếc xe thùng (station wagon) trên con đường duy nhất đưa ra trại tị nạn Pendleton trưa ngày 16- 10- 1975. Hai bên đường là những ngọn đồi lòi còi, cây cối lưa thưa, và trùng trùng điệp điệp một màu vàng nhạt trải dài trên khắp cánh đồi. Trong chốc lát người tín đồ đã ra khỏi khu thung lũng, bắt vào Freeway 101 chạy về thành phố Thousand Oaks, California. Xe chạy qua những nông trại rau quả ở miền Nam California. Trên những cánh đồng rau quả là hệ thống tưới nước được kéo (hay đẩy) bởi những chiếc xe nông cơ. Nhìn cánh đồng rộng bao la đang được tưới tự động, tôi lại nhớ đến những cánh đồng ở miền Trung Việt Nam. Nơi đó, hằng ngày những người nông dân lam lũ thui thủi dưới chiếc nón lá, lưng khòm kéo từng giọt nước dưới mương đổ lên ruộng bằng những cánh tay gầy, khô. Tiết trời mùa Thu, gió lạnh. Hai bên đường những bông hoa đỏ hồng như hoa giấy chạy dài theo hai bên mặt lộ. Nhà và phố sá nối dài trên những con đường ngăn chia khu phố thành những ô vuông nho nhỏ. Những căn nhà đâu đít lại nhau, xây mặt ra mặt lộ và chạy tít lên tận chân đồi. Tôi ngồi trong xe dõi mắt nhìn theo những khu phố đang đua nhau lùi về phía sau; nhưng không thấy bóng dáng một con hẻm nào như những con hẻm ngoằn ngoèo, len lỏi giữa những khu lao động đông dân ở thành phố Sài Gòn! Xe chạy xuyên qua thành phố Los Angeles. Có những khu nhà làm trên sườn đồi. Nhìn những căn nhà nằm cheo leo trên sườn núi, tôi lại nhớ về ngày xưa. Quê tôi cũng nằm bên cạnh chân đồi. Từ ngôi làng nhìn ra trước mặt là một cánh đồng lúa, và tận cùng cánh đồng lúa là một ngọn đồi. Những buổi hoàng hôn đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống làng mạc, khói bay ra từ nóc nhà như một bức tranh sơn thủy, đã làm mềm lòng Cha tôi. Ngày đó Cha tôi ước mơ được xây căn nhà trên sườn đồi Gò Đồn để hóng mát. Nhưng không được, không phải vì nguy hiểm do thú dữ cọp beo nơi rừng xanh, mà vì quê hương đang trong thời “nửa sáng nửa tối”, và hằng đêm những người bên kia kiểm soát khu rừng này. Sự hiện diện của những người bên kia đã mang lại sự bất an, và không bảo đảm tính mạng cho người dân sống trên những triền đồi ở miền quê. Nên ước mơ xây căn nhà trên sườn đồi của Cha tôi ngày ấy chỉ là một giấc mơ! Mà có mấy giấc mơ được thành sự thật! Đang mơ màng về một vùng quê xa xăm thì người tín đồ chỉ tay về phía triền núi và nói: “Nhìn kia, đó là bản hiệu của thành phố Hollywood.” Tôi nhìn qua cửa xe, hàng chữ Hollywood rất to, màu trắng, được gắn lưng chừng trên triền núi. Xe đang chạy qua trung tâm điện ảnh thế giới Hollywood. Từ xa lộ nhìn vào thành phố Hollywood là những khu nhà khang trang, đẹp mắt. Ngày xưa tôi mường tượng trung tâm điện ảnh thế giới văn minh và hùng vĩ lắm. Nhưng hôm đó chạy qua thành phố Hollywood tôi cũng dững dưng, và trong tôi không còn cái ngạc nhiên của một người đến từ một thành phố đơn sơ. Có lẽ những tháng ngày buồn bả nổi trôi trên con đường tị nạn đã làm mờ những háo hức, nên những kiến trúc vĩ đại cũng không làm tôi nôn nao. Hay có lẽ người xưa đã chí lí khi nói: “Không có gì lạ dưới ánh mặt trời.” Chiếc xe rời khỏi thành phố Los Angeles, chạy về miền Bắc. Từ đây Freeway 101 rộng thênh thang (hệ thống xa lộ ở California gọi là Freeway vì trên những xa lộ này xe chạy không bị đóng tiền lộ phí). Và chiều cùng ngày 16- 10- 1975, chiếc station wagon đã đến thành phố Thousand Oaks. (Sau này, trong một buổi tiệc giữa những người di dân và người bản xứ, tôi được nghe người ta kể rằng thành phố này có hàng ngàn cây Oaks (cây sồi) nên đã được gọi là thành phố Thousand Oaks. Thì ra cách đặt tên ở Tây cũng như Đông, nhưng chắc ở đây không có bà già trầu nhai trầu bỏm bẻm.) Thousand Oaks là một thành phố nhỏ, thưa dân. (Thời điểm 1975 dân số chừng 53,800 người. Năm nay, 2010, dân số Thousand Oaks phỏng chừng 129,000 người.) Nằm bên lề Freeway 101 của quận Ventura. Khi đến cực Bắc thành phố Thousand Oaks chiếc xe rẽ Freeway 101 bắt vào Lynn Road để đưa vào khu cộng đồng Newbury Park. Trong giây lát vị tín đồ Tin Lành đã đưa chúng tôi đến một căn nhà trên đường South Longford Avenue, căn nhà nhỏ nằm trong một xóm yên tịnh của Newbury Park. Xe vừa đổ tôi bồi hồi bước xuống. Một người thiếu phụ đứng tuổi, vui tươi vồn vã, đến tận cửa xe chào đón chúng tôi. Bà vui mừng bắt tay và tự giới thiệu. Với cử chỉ ân cần, niềm nở của bà đã xóa bớt đi những nỗi băng khoăn của tôi trên đường rời trại tị nạn sáng nay. Chúng tôi áy náy bắt tay bà nói lời cám ơn. Bà nở nụ cười tươi, ôm chòang lấy tôi và Điện và bảo rằng từ đây hảy gọi bà là Valerie, Mrs. Valerie Smith. Trong vòng tay của bà tôi thấy ấm cúng, giống như một thứ tình cảm ấm áp của người mẹ, của người chị, và của gia đình dành cho người con, mà gần nửa năm nay tôi đã đánh mất. Nhìn sự bàng hoàng hiện rõ trên tôi và Điện, bà quay qua người tín đồ nói cười vui tươi những gì tôi không thể hiểu hết; người tín đồ đến nắm tay hai đứa chúng tôi, nói lời giả biệt rồi ra xe chạy đi. Căn nhà ấm cúng có ba tần (three levels split) với bốn phòng ngủ, và đầy đủ những phòng căn bản. Một hồ bơi nhỏ nằm sau vườn, năm ba bụi cam trái sum sê và vài bụi chanh quanh vườn. Qua mỗi căn phòng, bà giới thiệu tên đứa con nào ở trong đó. Cuối cùng bà đưa tôi và Điện đến căn phòng nhỏ nằm ở tần dưới cùng, phòng của hai đứa chúng tôi. Căn phòng có hai giường ngủ nhỏ, xếp thành hình L. Bà đã lo đầy đủ mền, ra, nệm tươm tất và nhẳn bóng như giường ngủ nơi khách sạn. Và đặc biệt, bà đã mang từ đâu bốn cái va- ly đời xưa, rắn chắc, màu vàng, để sẳn trong phòng cho hai đứa chúng tôi. Nhìn những chiếc va- ly tôi thắc mắc, một suy nghĩ thóang qua trong đầu: không lẽ mình sẽ đi chỗ nào khác nay mai sao? Nhưng rồi tôi xua đuổi những ý nghĩ mông lung đó đi. Chỉ chỗ ở cho chúng tôi xong, bà xuống bếp lo bửa ăn. Và trời đã xế chiều. Khoảng ba giờ, những chiếc xe buýt màu vàng, giống như những chiếc xe buýt chở người tị nạn từ sân bay về trại những tháng trước, ngừng lại trước nhà và thả học trò xuống. (Sau này tôi biết đó là những chiếc xe chở học trò đi và về miễn phí, một điều mà ngày xưa ở Việt Nam tôi chưa hề biết, vì chưa hề có!) Tôi ngồi trên sân cỏ trước nhà, nhìn những đứa học trò nhỏ rời xe buýt chạy tung tăng trên đường. Trong đám trẻ con có hai đứa chạy thẳng vào nhà tôi mới đến. Thấy tôi, chúng khựng lại và nói: “Hi” rồi nhăn răng bỏ chạy vào nhà. Một giờ sau lại một chiếc xe buýt màu vàng dừng lại trước nhà. Những học sinh đệ nhị cấp, ăn mặc quần áo đủ màu sắc, không đồng phục, vai đeo túi sách lần lượt xuống xe. Một vài nữ sinh trò chuyện bên nhau và trong giây lát con đường South Longford im lìm, còn lại những chiếc lá rơi lả chả trên mặt đường, và một người học trò cao ráo lại bước vào nhà. Trong khuôn viên nhà bếp, bà Valerie lần lượt giới thiệu ba người con của bà cho tôi và Điện. Bà Valerie chỉ có ba đứa con trai. Don là đứa bé nhỏ nhất, đang học lớp 7. Kế đến là Jack lớp 8 và Jim Jr. lớp 9. Bà bày những dĩa đồ ăn cho chúng tôi và ba đứa con mới từ trường về. Bà nhìn tôi và Điện, nói: “Nay các con đều là con của Má, từ đây các con gọi Má là Mom như các em con cho thân thiện.” Xong bà chỉ vào chúng tôi và nói với các con bà: “Đây là Van Nú- dình và Zim Nú- dình, hai người anh mới của các con.” Tôi hơi ngượng vì bà bảo tôi phải gọi bà bằng Mom (trong đầu tôi nghĩ bà còn trẻ hơn người anh cả của tôi nhiều), nhưng vừa nghe “Mom” đọc tên tôi, tôi nhịn không nổi và quên luôn sự ngượng ngùng, cười sặc sụa và nói: “Mom, tên con không phải là Nú- dình và tên anh ấy không phải là Zim”. Bà đặt ly nước cam trước mặt tôi, cười và nói: “Ừ, Mom biết, nhưng Mom không thể nói như con được. mỗi lần Mom nói thử thì lưỡi của Mom nó trẹo lại.” Tôi nhìn bà, uống ly nước cam rồi cũng cười trừ. Don lấy làm khoái chí và nói: “Tên của các anh ngộ quá.” Từ đó Mom đã ngang nhiên biến tên tôi thành Nú- dình mà không cần một sự hợp thức hóa nào của tôi và chính quyền. Và cũng từ hôm đó Don với mái tóc dài màu hung như màu cỏ cháy, và khuôn mặt bầu bĩnh thường quấn quít bên tôi, như một đứa em dễ thương. Chiều tối, khi đèn đường bừng sáng thì trong căn nhà chúng tôi mới đến lại xuất hiện người đàn ông. Khi cánh cửa mở ra, một người đàn ông với bộ y phục màu đen, trên cầu vai có ba gạch ngang màu vàng, bước vào nhà. Ông James Sr. Smith chồng bà. Chúng tôi chào và cung kính gọi ông là Mr. Smith. Nhưng ông mĩm cười chào lại, và bảo chúng tôi gọi ông là Jim. Sau bửa cơm tối, ông Smith nói rằng ông từng là một phi công bay trực thăng chiến đấu, đóng ở căn cứ Chu Lai, Đà Nẵng trong những năm 1969 – 1971. Ông đã giải ngũ khỏi Không Quân Hoa Kỳ và hiện là phi công dân sự cho hãng hàng không America Airline, lái Boeing 727 bay khắp nơi trên đất Mỹ. Những ngày kế đó Mom thường đưa chúng tôi đi nhà thờ cùng gia đình. Và dường như mỗi buổi chiều, trong suốt thời gian hai tháng tôi và Điện ở đây, người mục sư mang tên Roland đều đến nhà để truyền đạo cho tôi và Điện. Tôi biết gia đình Điện ngày còn ở quê có liên hệ với hội nhà thờ Tin Lành, nhất là sau ngày tản cư ra tỉnh. Nhưng tôi là người ngoại đạo… Từ nhà bà Valerie đến nhà thờ đi bộ chưa được 10 phút nhưng cả nhà bà vẫn ngồi xe hơi mỗi lần đi. Con đường đến nhà thờ một bên là khu đất lớn trống rỗng, không ai canh tác gì trên đó ngoài việc để cho cỏ mọc. Nhưng ngay cả những ngọn cỏ hoang cũng được cắt ngắn sát mặt đất như tóc nhà binh. Thoạt đầu tôi nghĩ chắc nơi đây có nông trại nuôi bò nhiều lắm, nhưng nhìn mãi vẫn không thấy con bò nào trên cánh đồng.
Hôm đi nhà thờ đầu tiên, tôi không nhớ rõ ngày nào chỉ nhớ là một ngày cuối tuần, tôi và Điện được vị mục sư giới thiệu rất ân cần trong buổi lễ. Tan lễ, chúng tôi lưu lại trong sân để được bắt tay chào đón, một cử chỉ ấm cúng và đầy tình người, mặc dù với họ chúng tôi là những người xa lạ, xa lạ ngay cả đến cái tên gọi! Trên sân giáo đường không có tà áo dài bay phất phới trong gió với hình ảnh những người thiếu nữ nắm tay nhau rời giáo đường như những lần tôi thấy trên quê hương Việt Nam. Nhưng lòng tôi vẫn thấy xao xuyến. Một tuần lễ sau, mỗi lần đi nhà thờ tôi nói với Mom là tôi muốn dẫn Don đi bộ đến nhà thờ và khi tan lễ tôi muốn bách bộ về nhà hơn là ngồi trên xe. Có những hôm tôi lang thang trên cánh đồng cỏ hằng giờ nô đùa với Don. Thời gian trôi qua tôi thấy buồn, nhớ. Tôi rời nhà, dạo chơi trong xóm nhưng một điều làm tôi luôn thắc mắc là, sao không thấy ai đi bộ và dạo chơi ngoài đường! Nơi đây nhà cửa và dân cư còn đông hơn nơi tôi ở ngày xưa, nhưng sao không thấy người đi bộ? Sự vắng lặng làm tôi nhớ Sài Gòn đến điên dại. Nhớ bóng người đi, nhớ tiếng nói, nhớ sự ồn ào, nhớ gia đình. Đêm về, với chiếc máy cassette cũ rích và băng nhạc duy nhất tôi nghe đi nghe lại nhão như cháo, tiếng hát Thanh Thúy cứ văng vẳng: “Tôi vượt đường xa xôi tìm em đã khắp nơi….” mà “Đường phố muôn màu sao thiếu em, về đâu làn tóc xõa bên rèm, lầu vắng không người song khép kín, nhớ em tôi gọi tên, chỉ nghe tiếng lá rơi thềm.” Hay là em đã “Mong đợi từ bao lâu giờ anh chết nơi đâu…” Chỉ được thêm cái buồn. Mỗi buổi sáng nhìn xe học trò đến đón những đứa em đi học, tôi thấy lòng rạo rực. Trước khi rời trại tị nạn Pendleton, tôi và Điện đã được Pepperdine University chấp nhận. Nhưng vì xuất trại sau ngày trường nhập học khóa mới một tháng, nên, chúng tôi phải ngồi chờ khóa kế, nghĩa là phải đợi đến hai tháng nữa. Tôi, cũng như bao nhiêu người tị nạn khác, đến đây với bàn tay trắng. Không tiền không bạc không thân tích, tứ cố vô phương. Chúng tôi tuy khác hoàng cảnh gia đình nhưng lại có nhiều mẫu số chung trên miền đất hứa này. Cơm – áo – gạo – tiền và tương lai trước mặt là một thử thách lớn cho mỗi cá nhân. Bao nhiêu nỗi băng khoăng của người chịu sự giúp đở từ kẻ khác, nhiều đêm tôi cũng thao thức. Có lẽ nhìn được sự lo lắng cho một tương lai và nỗi buồn xa xứ qua những buổi chiều ngồi trầm ngâm trước sân cỏ, một tuần sau Mom đã nói với tôi và Điện: “Ngày mai Mom sẽ đưa hai đứa đến một nhà thờ kia để gặp nhiều người mà Mom biết chắc hai đứa sẽ vui lắm. Và sau đó chúng ta sẽ đến gặp ông chủ nhà hàng Mễ Tây Cơ ở Thousand Oaks.” Ngày tàn cuộc chiến tôi rời xa quê hương nửa vòng trái đất. Cuối cùng tôi tị nạn trong một gia đình, mà chủ nhà đã từng sống bên cạnh đồng đội ở Việt Nam, lăn lộn và chiến đấu chống Cọng trên quê hương tôi! Có những lúc chúng tôi chia sẻ những nỗi buồn chiến tranh. Và hằng tuần tôi đến giáo đường. Giáo hội này có hằng trăm giáo dân, nhưng họ quyết định để papa Smith cưu mang tôi, chắc không phải chỉ là một điều ngẫu nhiên. Có đêm cụm từ chiến tranh và hòa bình cứ lảng vảng trong tôi, và có đêm tôi nằm mơ đang nô đùa chạy chụp banh cà- na với hai em Jim Jr. và Jack trong một trận banh mà trọng tài là papa Smith. Ngày mai, ngày bắt đầu Chiến Dịch Đời Sống Mới! ______________________
Theo nội quy của các trại cải tạo thì chúng tôi được phép viết thư về nhà mỗi tháng một lần, được nhận quà gia đình gởi đến theo đường bưu điện ba tháng một lần (gởi quà tối đa 5 kg), và được thăm nuôi ba tháng một lần.
Nhưng đó chỉ là nguyên tắc. Thực tế là trong thời gian ở tù 4 năm, 7 tháng (kể cả thời gian ở trại Long Thành) tôi chỉ được thăm nuôi tổng cộng bốn lần, tức là nếu tính đều ra thì hơn một năm mới được một lần thăm nuôi (so với chế độ Cải Huấn của ta trước kia, một tuần lễ được thăm nuôi hai lần). Ở Long Thành một năm trời, được thăm nuôi một lần trước khi ra Bắc. Ra Bắc từ cuối năm ’76, mải đến giữa năm ’79 (hai năm rưởi) chúng tôi mới bắt đầu được thăm nuôi.
Khi mới ra Bắc, ba tháng đầu chúng không cho chúng tôi viết thư. Trường hợp chúng tôi thế là còn khá. Có nhiều trại đến sau, bảy tháng chúng mới cho viết thư. Trong suốt năm 1977, dù vài tháng có cho viết thư một lần, chúng cấm chúng tôi không được viết câu gì tỏ ra mình đang ở miền Bắc. Nếu có câu gì tỏ ra có ý nghĩa như thế, thư sẽ bị vứt bỏ.
Rất nhiều thư chúng không gởi đi. Ở nhà, vợ tôi tháng nào cũng có gửi thư cho tôi, nhưng có khi cả năm tôi không nhận được cái nào. Trung bình thì mỗi năm nhận được chừng ba, bốn lần. Thư nhà đến tay mình nhanh nhất là một tháng. Trung bình thì ba, bốn tháng mới nhận được. Có lúc nhận được nhưng là thư viết từ bảy, tám tháng trước.
Nội dung thư bao giờ cũng được hướng dẫn trước: phải nói là khỏe mạnh, vui vẻ, học tập lao động tốt. Nhưng phần lớn chúng tôi, những năm về sau, chẳng chú ý gì đến những lời hướng dẫn nầy, chúng tôi chỉ viết toàn chuyện gia đình.
Từ đầu năm 1978, chúng cho chúng tôi tiết lộ địa chỉ trại Cải Tạo Quảng Ninh. Kể từ năm ’79, chúng mới thi hành đúng nội quy là mỗi tháng được viết thư một lần, giới hạn hai trang giấy.
Về tiếp tế, việc thực hiện cũng tùy giai đọan.
Năm 1977, chúng cho chúng tôi nhận quà tiếp tế hai lần: một lần vào dịp Tết, một lần vào dịp 2-9 (ngày Quốc Khánh của chúng). Hai lần ấy chúng vào tận Sàigon nhận quà chở ra. Tuy có phổ biến là mỗi người chỉ được nhận 10 ký quà, nhưng chúng tôi nhận được trung bình 30, 40 ký; có vài người nhận được đến 60, 70 ký.
Sang năm 1978, không giữ bí mật địa chỉ trại nữa, chúng cho chúng tôi nhận bưu phẩm tối đa 5 ký ba tháng một lần. Nhưng suốt năm ’78, chúng tôi chỉ nhận được ba lần quà, thay vì bốn lần, tức là tổng cộng năm đó chúng tôi mỗi người chỉ có 15 ký quà.
Về thăm nuôi, kể từ năm ’78, chúng tuyên bố là cho phép được thăm nuôi. Tuy nhiên chẳng mấy ai trong số chúng tôi đượcc thăm. Chỉ có vài người có bà con ruột thịt ngoài Bắc, vài người có bà con ở ngoại quốc về (thuộc thành phần ”Việt kiều yêu nước” của chúng) đến thăm cho vài ký quà. Mải đến giữa năm ’79, các cấp chính quyền địa phương trong Nam mới được lệnh cấp giấy phép cho gia đình chúng tôi ra Bắc thăm nuôi…….
Lần đầu tiên bà con Miền Nam ra thăm, ai cũng kinh hoàng khi nhìn thấy chúng tôi gầy gò ốm yếu, người nào cũng da bọc xương. Năm 1975, khăn gói ra đi “học tập”, ai cũng hồng hào mập mạp, đến giữa năm ’79, vợ gặp chồng có khi chẳng nhận ra được chồng mình.
Các bà về Sàigòn phổ biến cho nhau tình trạng nầy, cho nên sau đó, bà nào cũng cố bán đồ đạc nhà cửa kiếm ít tiền đi thăm nuôi.
Ba tháng sau, các bà ra thăm lần thứ hai, ai cũng thấy rõ hiệu quả của các món quà là người nào cũng lên khoảng chục ký. Thực ra thì hãy còn kém lúc ra đi năm ’75 xa lắm, nhưng so với lần thăm nuôi đầu, được thế là quý lắm rồi. Thì ra cũng chỉ có miếng cơm miếng thịt của vợ con ở Miền Nam đem ra mới giúp chúng tôi gượng lại được, nếu chỉ ăn toàn thức ăn của “Bác” và “Đảng” cho thì chắc gục ngã cả rồi.
Thời gian gặp gỡ thân nhân dài ngắn tùy trường hợp. Thường thì khoảng từ nửa giờ đến hai giờ đồng hồ. May gặp tên cán bộ dễ chịu thì được thăm lâu một chút. Gặp bữa tên cán bộ khó chịu hoặc đang cáu việc gì thì mới nói được vài câu đã bị cúp. Nói chuyện phải nói lớn tiếng, không được dùng tiếng lóng. Lúc nào cũng có cán bộ ngồi nghe kiểm soát.
Đối với các Tự Quản đội (đội trưởng, đội phó, thư ký đội), ban Thi Đua, và những người lập công báo cáo anh em (mà chúng tôi gọi là làm antenne), thời gian thăm nuôi được ưu đãi hơn; ít nhất là một buổi, có thể được ngồi ăn cơm với nhau, và trong vài trường hợp đặc biệt, có thể được ngủ lại với nhau một đêm nếu là vợ thăm chồng.
Tôi không dám nói tất cả những người được thăm nuôi suốt đêm với nhau đều là những kẻ làm antenne, vì có thể ở những trại khác việc quy định thời gian thăm nuôi có khác. Nhưng riêng ở phân trại C, trại số 5 Thanh Hóa, tôi đã thấy có một truờng hợp được thăm nuôi đêm, đó là trường hợp một đội trưởng kìm kẹp anh em và báo cáo dữ dội.
Chế độ Miền Bắc tuyên truyền rằng các trại cải tạo là cốt để cải tạo cho con người trở thành con người tốt để sống trong xã hội chủ nghĩa. Vậy mà trong trại cải tạo, chúng dùng cả nhu cầu sinh lý của con người, dùng cả sự ái ân của vợ chồng người ta để làm mồi bắt người ta báo cáo cho chúng, phục vụ cho chúng. Khi anh em chúng tôi nghe kể lại tên đội trưởng đó đã ngủ với vợ mấy lần trong đêm, chúng tôi thấy thật là kinh tởm . Những tên cán bộ quản giáo đi phổ biến khắp các đội khuyến khích mọi người hãy ”lao động thật tốt, đấu tranh tố giác tích cực” để được hưởng ân huệ của Đảng và Nhà nước cho phép được ngủ với vợ một đêm. Vậy mà cũng có những tên tồi bại trong đám tù đó háo hức lắm khi nghe như thế. Tôi không có ý chê bai, gạt bỏ vấn đề sinh lý. Tôi cũng cho rằng, thực tế là nếu vợ chồng lâu năm mới gặp nhau được như vậy thì cũng chẳng giữ gìn được và cũng chẳng việc gì phải giữ gìn, trừ phi sợ mang bầu. Nhưng vấn đề là chế độ trại giam đã đem việc đó làm một mồi nhử để sai khiến con người.
Tôi cho rằng cần phải giữ tính cách cao quý đẹp đẽ của sự ân ái vợ chồng, hành động mang lại hạnh phúc tuyệt diệu về vật chất và tinh thần trong tình yêu và đạo đức. Nó không thể bị hạ thấp để trở thành giống sự giao cấu của hai con vật. Trong cái gọi là cải tạo, Cộng sản đã dùng đến những phương pháp đê tiện chỉ có thể hướng con người đến chỗ thấp hèn, đến chỗ phục vụ cho Đảng một cách tồi bại không còn chút tư cách, phải chăng con người mới xã hội chủ nghĩa mà Cộng sản muốn đào tạo chính là con người tồi bại như thế (và như thế, Đảng lại càng tồi bại hơn). Việc ân ái với vợ như vậy đã bị hạ thấp xuống thành việc giải quyết sinh lý trong hoàn cảnh nhục nhã, và chúng tôi thấy thật tội nghiệp cho những bà vợ đi thăm nuôi chồng tự nhiên bị hạ thấp giá trị của mình xuống thành miếng mồi vật chất để cho Đảng sai khiến chồng mình. Đó là thực chất của cái gọi là đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa. Và con người mới xã hội chủ nghĩa mà miền Bắc cố gắng cải tạo để đạt tới, chỉ là thứ con ngưòi thấp hèn chịu bỏ mất tư cách của mình để làm tên nô lệ vô liêm sỉ cho Đảng.
Từ tháng 10-1979, chúng lại giới hạn mỗi lần thăm nuôi chỉ được cho tối đa 30 ký quà. Mà Cộng sản chẳng bao giờ thèm phổ biến trước. Đùng một cái, ra quy đinh rồi áp dụng luôn. Nhiều bà lo mang quà ra nhiều lại phải mang trở về. Mà đường đi ngoài Bắc đâu có phải dễ dàng như trong Nam. Trại giam nào cũng ở gần núi, cách xa quốc lộ số 1 từ 40, 50 cây số trở lên cả. Có đoạn phải đi đò, có đoạn đi xe bò, xe trâu, có đoạn đi bộ, gánh không nổi quà thì phải thuê người ta gánh. Xã hội Miền Bắc cướp giật tùm lum, nhiều bà đi bị mất tiền bạc, mất quà, mất giấy tờ.
Anh em chúng tôi sống được là nhờ có gia đình. Mỗi khi được quà thăm nuôi, người nhận quà có thông lệ mời anh em quen biết ăn mừng ngày thăm nuôi. Trong bữa ăn, chúng tôi thường nói với nhau, câu nói tuy là đùa nhưng tâm ý là thật: “Vợ ta sinh ra con ta, nuôi nấng con ta, day dỗ con ta, nuôi luôn cả ta nữa. Vậy ta phải biết ơn người.”
Tất nhiên, cũng có một số trường hợp vợ bỏ chồng lấy người khác. Cũng có một số anh chồng trước kia vợ lớn vợ bé, bây giờ ở tù, bà nầy né cho bà kia thăm nuôi. Nhưng cũng có anh được 3 bà vợ luân phiên ra thăm nuôi.
Và cũng có những mối tình rất đẹp. Anh Phan văn Nho sinh viên Cao Học Hành Chánh, vì tham gia Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến nên bị ở tù, gần 5 năm rồi mà người yêu chưa hỏi chưa cưới vẫn một lòng chung thủy. Cuối năm ’79, anh Nho được người yêu đi với mẹ anh ra thăm nuôi. Hôm ấy Nho mặt mày rạng rỡ, tràn ngập hạnh phúc, quên hẳn là mình đang ở tù.
Ông Phạm Trọng Nhân, tóc đã bạc, còn được bà mẹ già gần 80 tuổi đến thăm (bà cụ ở ngoài Bắc). Sau buổi thăm nuôi, ông Nhân mang gói quà về trại mà không sao cầm được nước mắt. Không có gì cảm động cho bằng lúc nhìn thấy ông Nhân tuổi đã 60, tóc đã bạc mà còn khóc như trẻ thơ khi cầm gói quà của bà cụ già.
Tháng 7-79 tôi được vợ thăm nuôi. Ra gặp vợ theo phản ứng tự nhiên, tôi ôm hôn vợ. Tên cán bộ đi theo canh chừng mắng tôi ngay là “không văn hóa “. Vợ tôi cự lại: “Thế các ông lãnh tụ Đảng khi gặp nhau cũng ôm hôn thắm thiết thì sao?” Sau buổi thăm nuôi ngắn ngủi, tên cán bộ nầy chửi mắng tôi suốt đoạn đường gần hai cây số từ phòng thăm nuôi về trại.
Quà thăm nuôi tiếp tế không phải là thứ gì cũng nhận được. Phải theo sự quy định của trại. Mà sự quy định thì mỗi lúc một khác và chẳng cần thông báo trước . Cứ mỗi kỳ soát xét quà lại thấy một quy định mới. Sự cấm đoán chỉ có tăng lên chứ không giảm..
Hồi mới đầu, ở Quảng Ninh, không thấy phổ biến cấm đoán thứ gì khó khăn. Cấm chất nổ, cấm vật bén nhọn, cấm rượu, cấm đồ quốc cấm. Những thứ nầy cấm là dĩ nhiên rồi, chúng tôi không có gì thắc mắc. Nhờ vậy mà năm 1977, chúng tôi nhận được một số sách học sinh ngữ, sách châm cứu. Phải nói rằng món quà tinh thần cũng cần thiết không kém gì món quà vật chất. Kỳ nhận quà 2-9- 77, tôi nhận được hai cuốn sách học Anh văn; một cuốn tự điển Ladder và một cuốn Văn phạm. Gia đình không dám gửi sách có những bài học văn chương, vì sợ chúng đọc không hiểu cứ nghi ngờ là có nội dung ca tụng đế quốc. Chỉ có sách tự điển thì có dốt trông vào cũng phải biết đó là cuốn tự điển.
Năm 1977, chúng tôi nhận quà kỳ Tết Nguyên Đán, cứ tuởng đến 1-5 lễ Lao Động thế nào cũng có một kỳ quà. Nhưng trước ngày 1-5-77, chúng bảo chúng tôi gửi thư xin quà, rồi lờ luôn. Vì thế từ tháng 5 đến tháng 9 chúng tôi chỉ ăn toàn khẩu phần của trại. Đến khi nhận quà, người chúng tôi đã gầy gò, đói khổ lắm rồi. Thế mà trong số quà, tôi mừng nhất và quý nhất là hai cuốn sách Anh văn. Nhu cầu tinh thần vẫn cao dù khi vật chất đang quá thiếu.
Cuốn tự điển Anh văn là Tự điển Ladder 5.000 chữ. Vốn Anh văn có sẵn của tôi được già nửa số chữ trong tự điển rồi. Tôi định bụng, trong vài năm, cố nhớ cho hết 5,000 chữ nầy.
Hồi nhỏ tôi nghe nói cụ Huỳnh Thúc Kháng bị Pháp bắt ở tù chỉ đem theo được cuốn tự điển Larousse, và sau thời gian ở tù, cụ đã thuôc hết tự điển đó. Tôi định noi gương cụ Huỳnh, nhưng quả thật, lối học Anh văn bằng tự điển không phải là phương pháp hay, dầu rằng cuốn Ladder đã soạn trong tinh thần giản dị, mỗi chữ đều có câu ví dụ chỉ dẫn cách dùng. Tôi đã cố gắng đọc hết cuốn tự điển nhiều lần nhưng không sao thuộc nổi. Tuy nhiên nó đã giúp ích tôi rất nhiều. Nhờ nó, tôi hiểu chính xác những chữ mà trước kia tôi đã hiểu sai, dùng sai. Và tất nhiên, tôi cũng có nhớ được một số chữ mới.
Học sinh ngữ trong trại giam của Cộng sản không được thoải mái như Cụ Huỳnh hoc tự điển Larousse trong trại giam của thực dân. Lúc nào chúng tôi cũng hồi hộp sợ bị tịch thu sách. Nhiều người đã bị tịch thu. Ai cũng biết rằng trại không muốn cho chúng tôi học như vậy. Chúng chỉ muốn chúng tôi làm lao động khổ sai thật nhiều, và ca tụng Karl-Marx, Lenine mà thôi. Sách vở của chúng tôi về nền văn hóa chung, không phải Mác xít là chúng ghét lắm.
Anh Phạm văn Nho rất mê sách Anh văn. Hồi ở phân trại B, trại số 5 Thanh Hoá, anh nhịn ba bữa ăn để đổi lấy cuốn British Civilization, sách học Anh văn do nhóm Réunion de Professeurs bên Pháp soạn. Anh nâng niu nó như vàng. Khi sang phân trại A, anh đang học cuốn đó, bất ngờ bị tên cán bộ bắt gặp, tên nầy lấy xem thấy sách ngoại ngữ thì đòi tịch thu. Anh Nho vốn bị bệnh thần kinh, nổi cơn cầm lấy cục đá đập vào đầu mình, mấy anh em ngăn lại kịp. Cũng may nhờ thế mà tên cán bộ trả cuốn sách lại.
Tai trại số 5 Thanh Hoá, chúng không cho chúng tôi sách học nữa. Anh Nguyễn Đức Dũng, trước là Đại tá Tham Mưu trưởng Thiết Giáp, có lúc làm Tỉnh trưởng Pleiku, bị tịch thu cuốn tự điển gửi theo quà thăm nuôi, tiếc ngẩn ngơ, làm đơn xin không được.
Rồi trại liên tiếp quy định, cấm nhận muối, cấm ớt, cấm tỏi, cấm bột ngọt, cấm đường hóa học (Saccharine). Những thứ nầy, thực ra chỉ là cán bộ kiếm cớ tịch thu để chúng dùng mà thôi. Chúng đang cần bột ngọt thì tịch thu bột ngọt. Thấy đường Saccharine chỉ bỏ vài viên nhỏ mà ngọt cả ly nước trà, chúng khoái quá và lấy làm lạ lắm. Thế thì kiếm cớ tịch thu, bảo là “các anh dùng thứ nầy hại sức khỏe”.
Thỉnh thoảng có vài người nhận được quà và thư từ ngoại quốc gởi thẳng về. Quà ngoại quốc gửi về thì thường chỉ vài ký nhưng phẩm chất cao, anh em rất quý. Một lon beurre Bretel, một hộp fromage, một hộp buoillon…quả là những thứ tuyệt hảo trong tại tù Cộng sản, những thứ rất hạn hữu. Nhưng hồi cuối năm ’79, tại phân trại C, chúng tôi có thì thầm với nhau về một lá thư từ Mỹ gửi về. Đó là thư của vợ anh Minh, sĩ quan phi công, mà chúng tôi goi đùa là “Minh giặc lái”. Theo anh em nói thì lá thư nầy bị Ban Giám Thị phân trại C kiểm duyêt, toan giữ lại không phát, nhưng sau được lệnh của Bộ Chỉ huy Trại là phải phát thư ấy, vì Bộ Nội Vu đã kiểm duyệt rồi. Trong thư, vợ anh Minh viết rằng “dù có phải trả cho chúng 5.000 dollars hay nhiều hơn để chuộc anh ra, em cũng trả.”
Tôi không quen anh Minh vì ở khác đội, không thể phối kiểm được chuyện nầyy có đúng hay không. Và tất nhiên chuyện nầy chỉ đưọc loan truyền trong số những anh em tin cậy nhau mà thôi. Chỉ một câu ngắn ngủi như thế, trong một lá thư, và không biết có đúng sự thực không, nhưng đó vẫn là tia hi vọng cho chúng tôi, những kẻ bị tù đày, bưng bít, cố tìm lấy một tia sáng đâu đó về một ngày mai thoát khỏi ngục tù. Không phải là chúng tôi muốn được chuộc như thế. Chúng tôi chẳng muốn Cộng sản được nhận tiền. Nhưng trong hoàn cảnh tù đày mù mịt, một tin tức như thế chứng tỏ rằng bên ngoài vẫn chưa quên chúng tôi, vẫn còn sắp xếp một giải pháp gì đó cho chúng tôi, hay hơn nữa, cho tình hình Đông Dương. Có lẽ chúng tôi đã tưởng tượng quá nhiều. Nhưng ở trong tù, nếu không thờ ơ, không chán đời, cũng không xum xoe nịnh bợ cán bộ Cộng sản với cái ảo tuởng là nhờ thế chúng cứu xét cho về, thì chỉ có cách trông chờ cho tình hình biến chuyển, và với cách nầy, chúng tôi cũng thường sống trong tưởng tượng rất nhiều.
Điểm quan trọng mấu chốt trong sự tưởng tượng nầy là nghĩ rằng mọi người bên ngoài chưa quên chúng tôi. Cho nên những người đang sống tự do xin đừng quên những người bà con, đồng chí, hay bạn bè mình đang sống tù đày. Xin đừng quên những người đang sống trong địa ngục. Xin hãy tìm cách tỏ cho họ biết là chúng ta không quên.
Ông ơi, con rất cô đơn, tối ngày lủi thủi mình ên. Vậy thì con muốn quà gì, nói ta nghe. Một món quà đặc biệt. Con muốn có một đứa em, điều ấy mang tới sự khó khăn cho ông không? Dễ thôi con ạ, hãy chóng gửi má con lên đây.Ông già Nô-en ở tận Bắc cực, chuyện tếu. Hoang đường, nhưng tới 85 phần trăm trẻ em trên thế giới hằng tin, giữa cuộc đời lắm tai ương này vẫn thực sự hiện hữu một ông già hiền từ sẵn lòng vượt ngàn dặm đường trong đêm lạnh để mang quà đến cho chúng, đúng hạn kỳ. Và lòng thơ ngây như trang vở trắng của chúng chẳng hề dợn lên một hoài nghi: Tại sao là ông mà không là bà? Một cô gái, một thiếu phụ, một madame, một lão bà. Coi bộ đàn ông lao động năng nổ hơn đàn bà, coi bộ đàn ông xem trọng chữ tín hơn, coi bộ đàn ông dễ cậy nhờ hơn, coi bộ đàn ông rộng lượng hơn… Tôi từng nhập vai một “ông già Nô-en” bất hạnh, ở Huế. Sau khi chở H ra về từ nhà thờ Phú Cam, chúng tôi chui vào “một hang đá”. Nói hang đá vì thực chất nó có đủ những thứ trở ngại đầy thiếu thốn tiện nghi. Tôi đã tường đường đi lối về và tôi biết cách mở được cánh cửa mong manh ấy. Ban ngày, đó là một lớp học với sĩ số là 48 “em” học sinh, nằm xa nhà ông cai và gần kề nhà vệ sinh. Đêm xuống, nhất là đêm Chúa sinh ra đời, cái phòng ốc ngập ngụa bóng tối này dâng đầy hàn khí, ràn rụa lập cập run. Run vì lạnh, chuyện lẽ thường, nhất là áo xống ngự hàn tử tế ngần ấy lại hối hả cởi bỏ khỏi thân. Thân anh lạnh cho tình mình ấm. Ai đó đã ngôn thế. Lạnh vì thiếu ăn thiếu mặc thì nên ca cẩm chứ lạnh cho một thăng hoa tình yêu dâng hiến thì anh nên tuyên dương, vấn đề là đừng dại miệng bảo “lạnh đến teo bu-gi”. Bảng đen, bàn ghế vô tri làm nhân chứng cho đôi trẻ không tài nào đánh thắng được sự cám dỗ. Chúng yêu hối hả và cái bàn giáo sư hằng ngày đường bệ oai nghiêm là thế bỗng phải lên tiếng kêu ca vì bị xê dịch cót két. Trò mà làm gãy một chân thì tui sẽ đi mét thầy cho coi. Trò cả gan làm mưa làm gió trên cái mặt phẳng sạch như lau như ly thầy cô dùng để mở rộng cuốn sổ điểm với lại đạo đức kinh, công dân giáo dục, vạn vật, lý hoá, hình học đại số, Pháp văn Rơ tem Anh văn Ai lâu du.
Thân thể H là một cuốn tự điển nhốt đủ mọi thứ, kể cả địa lý. Núi non khe rạch sông ngòi cao nguyên đất bằng trung du mà tôi đang “dã ngoại” mí lị “tham quan” đi “thực tế”. Trong căn phòng cửa khoá, trên chăn ấm nệm êm nó mang cho bạn thứ cảm giác khác. Trong lớp học lạnh tanh rất dễ gặp ma và bàn ghế cứng cáp bị hứng chịu sự đổi dời một cách vô tội vạ lại gây cho bạn thứ cảm giác khác. Nhưng tựu trung cách đi vào người nhau chỉ có duy một lối, anh hùng hổ ra trận tiền tả xung hữu đột như vào chốn không người, loáng một cái anh buông đao cởi giáp xin quy hàng, đổ thân trên lưng ngựa quay đầu về doanh trại mà chẳng nghe chiên trống rậm rật vang rân. Tiếc nuối với thuật ngữ sức người có hạn, năm bảy phút phù du trên sân cỏ người ta có thể ghi được bàn thắng, còn anh?
H hẹn tôi ở quán cà phê nằm sâu trong nội thành. Trời mưa, mọi vật ướt át. Ướt ngọn lá chuối sau vườn, ướt cụm tường vi trước cổng, ướt lọn tóc bện bên tai H, và lân la suýt xâm thực vào bao thuốc lá tôi thu giữ trước ngực mình. Ngoại trừ bao Bastos xanh nặng như thuốc Gaulois của Pháp, mọi thứ đều bị úng thuỷ. H cho biết cô bị trễ, đã qua tuần thứ hai, may mà… Tôi nuốt ngụm khói đắng, tôi thêm muỗng đường vào tách cà phê đen chờ đợi cái may mà ngần ngại chưa đi hết đường. H có người bà con làm y tá bên bệnh viện trung ương. Đó là niềm may mắn. Bà ấy sẽ đưa cho H một vĩ thuốc uống, nếu không “lay chuyển” thì buộc lòng phải trục nó ra, càng sớm càng tốt. Kết thúc buổi hẹn hò cà phê cà pháo, H cho biết cô cần khoảng mười ngàn để dẹp yên mọi bề, không bị bêu rếu xì xầm bình loạn. Mọi thứ vận hành như cũ, con gái nhà lành thì trước sau nó vẫn vậy, im re, kín cổng cao tường đẹp người đẹp nết công dung ngôn hạnh.
Tôi nói tôi từng làm ông già Nô-en bất hạnh là vì vậy. Gửi má con lên đây, ông đã trao quà mà má con chẳng chịu mang về. Nào phải lỗi tại ông, hử?
Bất hạnh ở chỗ là tôi đã bán đi chiếc xe Honda 49 phân khối, về nhà dối mẹ qua cầu gió bay? Tôi trao tiền cho H không nghi ngại, không đắn đo, không dấy đục ý tưởng mình có bị đối tượng lừa? Phải tới khi bị “phỏng dái” giải phóng năm 75 tôi mới biết được sự thật là H lỡ mang thai với một thằng đàn ông khác và cô không ngại đẩy tôi sang sông, xem phận tôi chỉ là con chốt thí. Cô hạ thủ bất hoàn và trong cái rủi còn có cái may. Tôi bị mất mã, nhưng tướng sĩ tượng chưa hề hấn, chỉ lao đao cho cuộc chơi dại khờ sớm tàn cuộc. Dây dưa với đối thủ cỡ H thì nên xoá ván cờ, phủi tay đứng lên quay mặt.
Tuy quay mặt, tai tôi vẫn đón nghe tin, cô lấy một tay cán bộ lớn tuổi, có hai đứa con theo quy định nếp sống văn minh của người Xã hội chủ nghĩa và hiện tại cô làm chủ một quán chuyên hát Karaoke về đêm. Tôi cố xoá vết thương thuở đầu đời, nhưng hằng năm, khi nghe chuông giáo đường đổ vào đêm “an lành” lòng tôi vẫn ngó lui vết rạn cũ năm nào cùng H ở nhà thờ Dòng Chúa cứu thế.
Giờ này nếu được hoá trang làm một ông già Nô-en bụng mỡ đẫy đà với tiếng cười làm rung rinh nhân dạng. Nếu nhận phải lời cầu xin thành khẩn của một đứa bé mong có được đứa em, ông già bất tài vô tướng là tôi sẽ ngồi bó tay chẳng cục cựa. Rứa chơ ba mi đi mô rồi? Răng mạ mi không quở mắng cái thằng chồng chây lười lao động kia? Người chi mà nhác có troi. Cơm dâng tận miệng mà bày đặc ỏng ẹo đòi ăn phở cơ. Đồ mẹ rượt! Uổng công bà trang điểm nâng cấp tự sướng!
Không đủ tư cách cải trang thành ông già mặc tuyền sắc đỏ mà bọn trẻ con rất yêu quý, đã đành. Tôi chỉ đủ sức để nhập vai một đứa vô gia cư đi vào giáo đường nghe cha rao giảng kinh sách: Của cải, tiền bạc, ngọc ngà châu báu, những thứ ấy chính là kẻ thù của chúng ta. Đứa vô gia cư khố rách áo ôm sẽ chép miệng: Sao suốt cả cuộc đời mình chưa bao giờ được đối mặt với kẻ thù vậy cà!
Lạy Chúa, có khi con người rất ưa lu bu với kẻ thù. Con sẽ đi mua vé số 6/49, nếu trúng số con sẽ gửi về cho H một vài kẻ thù để cô cải thiện cuộc sống. H đã từng xin xỏ, đêm nào trong lớp học: Hãy yêu H đi, hãy cho H một giọt máu, hãy gieo hạt vào cánh đồng này một hình nhân.
Phá bỏ, huỷ diệt một hình nhân. Liệu Chúa có thứ tha không? Nghe nói Huế mùa này trở rét đột ngột, ở xa tôi không biết giúp H ấm thân. Xin tha lỗi. Xin phép lành đến cho một người đã từng lầm lạc, đã vừa biết ăn năn.
Kiên Giang – tỉnh cực Tây Nam của Việt Nam Cộng Hoà, nổi tiếng với biển trời mênh mông, rừng tràm ngập mặn, đồng ruộng bát ngát kéo dài tới tận chân trời. Nhưng chính tại vùng đất ấy, giữa khung cảnh nên thơ, lại từng là một trong những chiến trường khốc liệt bậc nhất trong cuộc chiến tranh ý thức hệ. Nơi đây, những mật khu cộng sản như Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Sóc, Moso, và rừng U Minh Thượng từng là sào huyệt của Việt Cộng suốt một thời gian dài.
Trong đó, Hòn Đất– một vùng rừng núi nằm giữa đồng bằng – là nơi được Hà Nội tô vẽ thành huyền thoại, không chỉ qua chiến tranh mà còn qua văn chương tuyên truyền. Tiểu thuyết “Hòn Đất” của nhà văn cộng sản Anh Đức ra đời từ 1964, đã dựng nên hình ảnh một nữ du kích tên chị Sứ, được xây dựng như biểu tượng anh hùng cách mạng. Tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa miền Bắc, được dựng thành phim, và được phổ biến như một thứ kinh thánh của chủ nghĩa tuyên truyền xã hội chủ nghĩa.
Nhưng dưới mắt người lính VNCH từng chinh chiến tại đây, Hòn Đất không phải là huyền thoại, mà là một ổ kháng cự ngoan cố, nằm sâu trong rừng, được bảo vệ bởi địa đạo kiên cố và địa thế hiểm trở – nơi súng nổ, máu đổ, và người lính Quốc Gia đã ngã xuống để giữ đất quê hương.
Trận Hòn Đất 1969 – Máu của người lính Quốc Gia
Năm 1969, trong chiến dịch bình định toàn khu vực Rạch Giá – Hà Tiên, lực lượng VNCH mở cuộc hành quân đánh vào khu căn cứ Hòn Đất. Đây là trận đánh nổi bật vì tính chất khốc liệt và kéo dài suốt nhiều ngày, với hàng trăm lính VNCH đổ bộ, truy quét địch trong rừng rậm và hệ thống địa đạo phức tạp.
Một trong những người lính đã ngã xuống trong trận đánh ấy chính là chồng của nhà thơ Trần Mộng Tú, người sau này sống lưu vong tại Mỹ và ghi lại ký ức đau thương đó trong bút ký “Bình Thuỷ 69”. Trong trang viết đẫm nước mắt, bà không chỉ kể lại sự hy sinh của người chồng thân yêu mà còn tái hiện không khí chết chóc, khói lửa của chiến trường miền Tây thời ấy. “Anh nằm xuống khi chưa tròn ba mươi tuổi” bà viết. Câu chữ nhẹ nhàng mà rớm máu, như lời vĩnh biệt gửi về Hòn Đất – nơi người chồng vĩnh viễn nằm lại.
Hòn Đất
Mật khu Hòn Đất – Từ tuyên truyền đến hiện thực
Nếu “chị Sứ” là sản phẩm của trí tưởng tượng tuyên truyền, thì những người lính VNCH phải đối mặt với thực tại: địa đạo ăn sâu vào núi đá, bẫy mìn giăng khắp nơi, và du kích nắm rõ địa hình hơn cả bàn tay chúng. Hòn Đất trở thành biểu tượng không phải vì chiến công, mà vì sự dai dẳng ngoan cố của một sào huyệt cộng sản được hậu thuẫn từ ngoài Bắc và tiếp tế qua đường biển.
Cộng sản Bắc Việt đã khôn ngoan khi dựng nên những hình tượng như “chị Sứ”, như một cách đắp mộ bằng lời nói cho hàng loạt chỉ huy du kích đã bị tiêu diệt trong các trận đánh thật. Nhưng những người lính VNCH – không có tiểu thuyết tô son, không có tượng đài dựng lên sau ngày mất nước – vẫn chiến đấu và hy sinh âm thầm, như chồng nhà thơ Trần Mộng Tú.
Vai trò của Đại tá Huỳnh Văn Chính và những nỗ lực tái lập an ninh.
Để dập tắt sào huyệt cộng sản tại Kiên Giang, từ năm 1971, các đơn vị chủ lực của Quân lực VNCH đã được điều động với mật độ cao. Đại tá Huỳnh Văn Chính, lúc bấy giờ là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 16 Sư đoàn 9 Bộ binh, là một trong những chỉ huy then chốt trong nỗ lực tái lập an ninh miền Tây.
Dưới sự lãnh đạo của ông, Trung đoàn 16 đã bình định vùng Cô Tô và Thất Sơn – nơi từ lâu đã là rừng thiêng nước độc, đậm màu huyền bí của biên giới Việt – Miên. Cùng năm đó, Trung đoàn 15 của Đại tá Bùi Xuân Lãng mở cuộc tảo thanh toàn bộ khu vực Ba Hòn – gồm Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Sóc, đẩy lui toàn bộ lực lượng địch ra khỏi khu vực hang động Mo So– một địa điểm hiểm yếu thuộc Kiên Lương, nơi cộng quân dùng làm kho lương và trạm tiếp vận.
Từ năm 1971 đến 1974, Đại tá Huỳnh Văn Chính giữ chức Tỉnh trưởng Kiên Giang, kiêm chỉ huy các chiến dịch bình định dân sự. Nhờ vào chiến lược phối hợp giữa quân sự và dân vận, ông đã góp phần làm tan rã mạng lưới du kích tại vùng này, phục hồi an ninh và đưa người dân về làng cũ canh tác.
Hòn Đất ngày nay – di tích hay vết sẹo?
Sau 1975, Hòn Đất được nhà nước cộng sản giữ lại như di tích cách mạng, ca tụng “chị Sứ”, dựng tượng đài, mở tour du lịch “tham quan địa đạo và di tích kháng chiến”. Nhưng những vết máu, những phần mộ không tên của người lính VNCH nằm lại nơi rừng núi, thì bị xoá trắng khỏi ký ức lịch sử chính thống. Không một dòng nào nhắc đến những người lính đã hy sinh trong chiến dịch 1969, những sĩ quan bị chôn vùi trong lòng đất ấy, hay những người vợ, người con mãi mãi sống trong đau buồn ly tán.
Người viết bài này, khi đọc lại “Hòn Đất” của Anh Đức và đối chiếu với tài liệu chiến trường cũ, không khỏi ngậm ngùi: **tiểu thuyết cách mạng không phải là sự thật, nó là công cụ. Nhưng máu người thì là sự thật, và nó đã thấm đỏ đất Hòn Đất. **
Kết luận
Hòn Đất – trong con mắt người Cộng sản, là biểu tượng anh hùng; nhưng với người lính Việt Nam Cộng Hoà, đó là chiến trường khốc liệt, nơi máu đồng đội đã đổ để giữ từng tấc đất. Và với một người vợ lính, như Trần Mộng Tú, đó là nơi đã cướp đi người thân yêu nhất của bà – không vì lý tưởng, mà vì bổn phận làm trai thời loạn.
Viết lại lịch sử không phải để khơi gợi hận thù, mà để **trả lại danh dự cho những người đã ngã xuống mà không có tượng đài, không có tiểu thuyết**. Hòn Đất, hơn cả một di tích, là một vết sẹo chưa lành trong tâm khảm của nhiều người Việt Nam. Và cũng là lời nhắc nhở rằng, không có mảnh đất nào “thiêng” chỉ vì văn chương tô vẽ – mà vì máu ai đã đổ xuống đó.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.