Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 20 Dec 2025

3. Đất Chẳng Trở Về
NISSIM ALONI
GILBERTE SOLLACARO

Kể cho các em tôi
Câu chuyện của Nissim Aloni, Gilberte Sollacaro do Nghiêm Sỹ Tuấn phỏng dịch mà ông gọi là kể lại. Thật ra ông cũng gới gắm không ít tâm tư vào câu chuyện trên để tặng lại các em ruột ông. Trong truyện gồm có:
Một thi sĩ, tượng trưng cho một chính trị gia hoặc một sử gia hay một lãnh tụ.
Một người lính tượng trưng cho vị đại tướng.
Một bác nông phu.
Thi sĩ và người lính dùng lý luận và áp lực bất bác nông phu cùng họ đi tìm vùng đất mới.
Trong khi bác không muốn vậy, chỉ thích quanh quần ở nhà với vợ con vườn tược. Nhưng cuối cùng bác phải lên đường, biết bao là lời nói ngon ngọt được nói ra để khích động bác. Nhưng con bò sữa, trứng gà vịt ở nhà hấp dẫn bác hơn. Khi qua một con sông, có quái vật trấn áp. Nó yêu sách chỉ cho 2 người qua còn một người để nó ăn thịt. Thi sĩ, người lính lại dùng lời lẽ biện minh cho sự cần thiết về sinh mạng của mình. Bác nông phu bị hy sinh. Qua sông, quái vật báo cho biết là họ sẽ bị ăn thịt cả hai nếu họ quay lại. Thế là thi sĩ và người lính vì sinh mạng của riêng mình mà đã phiêu lưu vô định với sự ích ký và hèn hạ của họ. Phải chăng vì không muốn đóng vai một thi sĩ hoặc một người lính mà ông đã tử nạn ở Khe Sanh?

Thi sĩ và người lính đến gặp bác nông phu nói:
Chúng ta thiếu đất. Bác nông phu nhìn hai người, trong mắt họ đầy những tham vọng bác chưa từng cảm thấy bao giờ. Họ đến đây chắc sẽ kéo theo viễn cảnh của rất nhiều thứ hỗn loạn, ưu sầu và khổ cực. Tim bác se lại, trán bác nặng buồn. Hiện giờ bác có đủ công ăn việc làm hằng ngày, không còn thì giờ mơ tưởng đến những ước muốn cao xa của hai người mới đến. Dù hoàn cảnh không mấy dễ chịu, bác cũng chẳng tha thiết gì những thứ ấy bằng ruộng đất, nhà cửa, vợ con. Thế đủ cho bác lắm rồi.
Bác nói:
Xin các ông để yên cho tôi cày ruộng; tôi còn nhiều việc phải
làm. Mỗi khi nhìn chân trời, từ lúc rạng đông đến buổi hoàng hôn, tôi đều thấy đất nhiều bao la rộng rãi. Ổ đây không ai than phiền thiếu đất cả.
Thi sĩ nói:
Tâm hồn ông bạn thật là một tâm hồn nô lệ. Ông bạn không thấy núi non vây quanh cản bước chúng ta và làm ta khó thở đó sao? Lòng ông bạn chưa từng muốn biết còn có những gì khuất sau rặng núi, bên kia biên giới, sát với chân trời xa xôi ư?
Bác nông phu trả lời:
Không, ở dây tôi dễ thở lắm.
Người lính nói:
Ông bạn thật thiển cận, đáng buồn thay. Nay nhờ trời chúng tôi đã bỏ ngày giờ suy nghĩ, nghiên cứu và tìm hiểu về các đường lối trên mặt đất, tất nhiên chúng tôi phải nhìn xa thấy rộng hơn ông bạn nhiều. Nếu không thì chính ông bạn, vợ con ông bạn, súc vật ruộng nương của cải ông bạn sẽ ra sao? Tôi chỉ còn biết nói cho ông bạn hay rằng, nếu chúng ta không đi tới vùng đất bên kia sông, đời chúng ta thật không chỗ sống. Bởi kẻ thù chúng ta luôn rình rập ta, luôn luôn sẵn sàng mưu sâu kế độc chực hại ta. Ai cũng bo bo như ông bạn cả thì chúng nó mừng lắm đấy. Bây giờ không phải lúc đứng trong xó ruộng để cày cuốc đâu. Ông bạn nên theo chúng tôi đi, bằng không chúng tôi phải ép ông bạn vậy.
Bác nông phu gục đầu trước ngực, buông rơi cày cuốc, rồi mệt mỏi và buồn rầu vô hạn, bác trở về nhà. Qua song cửa sổ, hai mắt đẫm lệ, bác lặng lẽ ngắm ruộng nương bỏ dở cày bừa, mùa màng hoa quả gặt hái chưa xong. Bác lại tự sự cho vợ hay, dịu dàng vỗ về an ủi, hứa sẽ trở về ngay khi thi sĩ và người lính đã toại nguyện. Thiếu phụ thấy chồng ra đi, thấy mình cô đơn trong những đêm trường lạnh lẽo, mà lệ trên má rơi dài. Từ nay, ngoài việc trong nhà, còn thêm bao nhiêu cực nhọc đồng áng. Bác nông phu tìm gọi bầy con nhỏ, ôm chặt chúng vào lòng, hôn chúng thật sâu và cũng hứa với chúng là sẽ trở về.
Ba người đi thẳng nhắm hướng con sông. Họ gặp một lũ trẻ, vừa tan lớp học, đang chạy nhảy nô đùa. Đứa nào cũng xinh xắn khỏc mạnh, tóc tơ, mắt ngời. Ba người dừng lại nhìn ngắm hồi lâu. Thi sĩ mắt tỏa cảm hứng nhiệt nồng, vung tay nhảy múa như đang đứng trên vừng than đỏ.
Chàng hát: Đây, mầm non của chúng ta. Tóc mướt làm sao! Má hồng biết mấy! Thân thể thật hùng mạnh như rừng núi hoang sơ. Kỳ diệu thay, vừa như sư tử lại vừa giống chiên non. Lúc này là bổ câu khả ái dịu dàng, phút sau đã thành beo tơ déo dai, hung dữ đáng gồm. Mắt ngây thơ non dại mà kiêu hãnh cao kỳ. Ôi vẽ đẹp các em, tràn đầy sức mạnh, sắt son ý chí! Các em đi trong ánh bình minh, lớn lên thành những hiệp sĩ kiêu hùng cương trực. Các em là nguồn vui sống đời ta.
Người lính cũng nói: Các em sẽ thành những quân nhân dũng mãnh cho quê hương. Chàng thầm đếm số lũ trẻ nhẩm tính xem được bao nhiêu đơn vị, giao cho chúng bao nhiêu vũ khí, sức di chuyển bao nhiêu quãng đường khi chúng trang bị hoàn toàn. Và xem đứa nào sẽ nên sĩ quan ưu tú, nên chiến sĩ can trường.
Bác nông phu một mình im lặng. Nhìn bọn trẻ nô đùa, lòng bác rầu rĩ. Chúng gợi hình ảnh mấy đứa con bác ở nhà, một ngày kia sẽ khôn lớn và cũng sẽ ra đi như bác. Bởi bác dự đoán rằng đất này rồi chẳng bao giờ đủ cho thi sĩ và người lính, không ngưng đòi hỏi những khoảng rộng lớn hơn với những chân trời mới mẻ. Trong khoảnh khắc, bác có ý muốn khuyên lũ trẻ vô tư nhiều sung sướng và sức sống này, đi tới nơi nào không ai biết mà tìm đến bắt qua phía kia sông. Song bác vẫn chẳng nói nửa lời. Ba người tiếp tục đi. Con sông hãy còn xa lắc. Trước mặt họ sừng sững một hàng cổ thụ.
Thi sĩ: Các bạn nhìn xem cây cao hùng vĩ, cành lá lòa xòa vươn tận mây. Thật là đẹp và duyên dáng không gì sánh nồi. Đứng cùng cây cỏ, lòng tôi thanh thản và cả trăm ngàn lần, mỗi khi thông cảm mối hòa hợp hoàn toàn giữa thảo mộc và đất mầu, một cảm giác thánh thần trn ngập hồn tôi, các bạn nhìn xem, chim chóc tin cẩn làm tổ trên cành, vững vàng chắc chắn. Ước gì tôi hóa thành cây thẳng, vút chọc trời xanh, để gió dịu vuốt ve, sưởi ấm rễ trong lòng đất, quấn quít lá hoa với chim ríu rít bốn phương.
Đến lượt người lính nói: Đúng, quả một cây đẹp khác thường, Và nghĩ thầm: ta sẽ ghi vị trí nó vào bản đồ. Một mai qua đây hành quân, cây này chắc cả trăm phần hữu dụng. Ta có thể nhờ bóng nghỉ quân, nhờ lá xanh che giấu quan sát của địch. Thân cây là chỗ để vũ khí, cành cây làm cọc lều. Giả sử quân dịch kéo tới, cây này có thể chặt ra xây đồn dựng lũy.
Bác nông phu không nói lời nào, an phận tưởng nhớ cây cối của mình, cản gió mạnh trước nhà và đem tươi mát lại trong giờ nghỉ mệt. Bỗng bác tự hỏi không biết vợ con bác công việc nhà đất xoay sở ra sao, trước mùa mưa biết có gieo xong mạ?
Cứ thế ba người tiếp tục đi, dọc theo hết đường lớn lại đến đường mòn, trèo non vượt lũng, mãi chẳng thấy bóng dòng sông. Bàn chân phồng nước, túi lương cạn dần, mà vẫn không sờn gì đến hăng hái của thi sĩ và người lính. Chỉ bác nông phu không thôi hy vọng họ thay ý kiến, quay trở về nhà.
Bữa nọ, ba người dừng bước trước một quả đồi trọc, đá cát gồ ghể và lớm chởm góc khô. Người lính chợt bắt cơn xúc cảm, nắm tay thi sĩ kêu lên: Mở mất nhìn kìa bạn thơ, nhìn cho kỹ. Tôi e lời tôi nói đối với lời thơ của bạn sẽ là những câu lộn xộn mơ hồ, vì lòng tôi lúc này xiết bao rung động. Bạn thử tưởng tượng nơi đây một bãi chiến trường. Tôi thấy hàng hàng lớp lớp chiến sĩ xung phong, tôi nghe trăm ngàn đại bác gầm réo, với từng đoàn chim sắt vấy vùng trong không, oanh tạc kẻ thù. Nếu tôi chi huy trận này, tôi sẽ gửi một cánh cảm từ đến chân đồi. Kinh nghiệm chiến trường cho biết phân nửa sẽ gục ngã dưới đạn thù, tôi phải giữ một cánh quân trừ bị, tiếp theo ngay làm đợt xung kích thứ nhì. Mặt khác một cánh quân thứ ba sẽ rót hỏa lực thật hùng hậu liên mien vào hông địch, cho chúng biết mùi lửa địa ngục trần gian. Tôi chắc chắn chẳng cần đến đợt xung kích thứ ba, song tôi cũng để một cánh quân thứ tư cách đấy không xa để phòng yểm trợ. Chiến thắng như thế phải về ta.

Và thi sĩ tưởng tượng bừng bừng, mắt tỉa như điện, má đỏ rực, giọng say mê: chiến hữu ơi bạn sẽ ngạc nhiên thấy tôi dự tài vẽ trước biến chuyển tương lai bằng những thi ảnh hùng tráng. Kìa những chiến sĩ của ta khinh thường nguy hiểm, liều thân cho chính nghĩa, lăn mình như gió lốc trong khói lửa chiến trường, mang theo trong tâm can tình yêu tổ quốc với lòng chấp nhận hy sinh. Tôi sẽ viết một thiên hùng ca vĩ đại. Ngoài tôi ra, ai đáng được chỉ định cầm bút hát lời ngợi ca can đảm hào hùng của những trai trẻ anh-dũng, một khi chiến tranh kết liễu, chiến thắng nở hoa? Dù có lục tìm trong khắp thi ca thế giới, hậu thế sẽ thất vọng khi thấy không thơ nào sánh nổi toàn bộ thi phẩm của tôi, dẫu phần trong muôn một.
Bác nông phu nghe cả hai người nói, không lộ vẻ mảy may hăng hái hoặc vui mừng. Trong thâm tâm, bác chỉ băn khoăn về nỗi vợ bác yếu ớt như sên làm sao vắt sữa bò, làm sao lượm trứng gà vịt đẻ rơi. Và bác mường tượng khi trở về, nếu bác về được, người bạn đời yêu dấu đã già nua, mệt mỏi, mất hết nhiệt tình.
Ba người cứ đi như thế cho đến dòng sông. Trên bở sông nằm chắn ngang một con quái vật khổng lồ, cực kỳ xấu xí. Màu tím đọng từng vệt dài trên da vẩy sần sùi, khô đen thành lớp cứng hai bên môi mép. Hằng ngàn đầu quái dị quay cuồng uốn éo trên mình, mỗi đầu một giống khác nhau. Thoạt trông chúng thấy có về xinh xéo ưa nhìn, ngắm kỹ mới hay chúng đều tàn tạ cả. Bởi mắt chúng chói sáng toàn oán ghét, hận thù, ngu đần, phù phiếm; chữ tình yêu, tận tụy, khiết tinh, chỉ là những tia thoáng phút giây. Hàng chục ngàn tay thép bủa ra bốn phía, nhằm bắt và xiên nướng những người dám đến gần, dữ dội còn hơn mặt trời lừa mùa hạ. Và những tay ham hố ấy chẳng khi nào thỏa mãn hài lòng.
Ba người dừng lại, hết lối bước thêm.
Thi sĩ nói: Quái vật ơi, mi cho chúng ta qua sông nhé!
Nó trả lời: Ta cho phép các người qua sông, với điều kiện các người phải tuân theo đời hỏi của ta.
Người lính nói: Mi đòi hỏi gì chứ?
Chỉ bác nông phu là không bàn cãi gì. Sợ hãi thất thần, bác muốn khuyên thi sĩ và người lính quay về: quái vật kia vốn chuyên lẻo mép và lòng nham hiểm khôn lường. Nhưng nhiệt thành của hai người không suy giảm, và bác biết họ sẵn sàng hứng chịu điều kiện của con quái vật dữ dằn. Rồi sau cùng sợ hãi lướt thắng ngại ngùng,
Bác la lên: Trở về đi! Trở về đi! Nó dối gạt chúng ta đấy. Đừng để bị những lời đường mật phỉnh phờ. Trở về đi!
Thi sĩ và người lính không thèm để ý đến những kêu gào ấy.
Họ lại gần bảo con quái: Mi muốn gì, chúng ta sẽ cho.
Nó trả lời: Đã lâu lắm, không một ai dám đi qua đường ta. Những đứa may mắn thoát khỏi tay ta toàn thị phường nói xấu và gico nhục nhã cho ta, khiến ai nấy đều sợ hãi. Nay ta nhận cho các người đi qua, các ngươi sẽ quên mau chóng. Còn ta, ta đói, đói lắm. Từ bao năm tháng nay, ta chưa được nhai một thằng người nào ra hồn. Vậy ta chỉ cho hai trong cac người qua sông thôi, còn một phải ở lại làm đồ nhắm cho ta.
Ba người khiếp đảm, van xin nó tha cho cái thuế quá nặng nề và bất công ấy. Bác nông phu hãi hùng hơn hết, nên van xin càng thê thiết não nùng. Thế là cả ba đứng bên trên bở sông, cùng khóc lóc khẩn cầu. Con quái làm thinh. Cả ba bèn quỳ xuống, thể hứa đủ điều, giải thích lý do rời gia đình ra đi. Rồi lại giảng luân lý cho nó nữa chứ. Bảo rằng làm như vậy đâu phải là điều thiện. Con quái hả ngàn cái miệng ra cười.
Nó bảo: Thôi đừng lắm lời vô ích. Bấy nay ta nghe đã chán ngấy. Và lại, những đứa đi trước cũng hùng hồn tràng giang đại hải với những chương trình to lớn xa vời. Các ngươi nói đúng cả đấy. Ta có phản đối hay chế nhạo gì đâu. Duy phần ăn của ta phải có. Ta đói lắm rồi.
Ba người vô phương lay chuyển con quái ngàn đầu; bao nhiêu can đảm mất hết, nhưng chỉ trong giây lát thôi, thi sĩ và người lính không thể bỏ tham vọng, để dự định tan ra mây khói. Họ héo hon mong ước vượt sông đã lâu rồi, một hy sinh có nghĩa gì. Ba người quay lại nhìn nhau và bác nông phu nhận ra rằng hai người kia chỉ nhìn mình bác. Họ nhìn chăm chú, rất chăm chú, bác vẫn chẳng hé môi, lặng lẽ cúi đầu, tim nặng nề trong lồng ngực.
Thi sĩ nói: Này anh em, tôi là thi sĩ đại tài. Một thi sĩ như tôi không phải thời nào cũng có. Tôi tin chắc anh em không thể chấp nhận được là tôi sinh ra để làm mỗi cho con quái tanh hôi này, trời đất sẽ bùng cháy tiêu diệt anh em, nếu anh em bắt tôi phải chết. Lịch sử vang mỗi tên tôi, toàn dân coi tôi như trân bảo. Người ta gặp tôi trong những khu đẹp nhất thành đô, thấy tôi trong đám vương hầu khanh tướng. Tôi phải đàm đạo hàng ngày với thần linh trên trời, với kỳ quan đưới đất, trong không gian của triết nhân và hiểu biết vô
biên của khoa học, Không, tôi chưa thể hy sinh lúc này.
Người lính nói: Các bạn, tôi cũng thế, các bạn không thể đem tôi làm tiệc cho con quái này được. Nghĩ kỹ mà coi, tôi chết ai bảo vệ các bạn? Ai đầy lui quân thù? Ai làm tổ quốc hùng cường, nhân dân an lạc? Ai canh gác biên thùy? Ai chiếm cứ lãnh địa? Không, tôi cũng chưa thể hy sinh lúc này.

Riêng bác nông phu vẫn câm nín hoàn toàn; bác vốn vụng ăn nói. Bác buồn rầu cay đắng nhìn thi sĩ và người lính đọc rõ trong mắt điều họ muốn nói. Bác nhớ những thửa ruộng rộng rinh đang cần đôi tay vun xới, nhớ vợ con, nhớ cửa nhà. Bác sống từ đầu, mê man như vừa hồi sinh trong thân thể. Bây giờ bác biết rằng bác sẽ không bao giờ được trở về, xem lại quá khứ và chờ đón tương lai.
Bác nói với thi sĩ và người lính: Làm ơn nói với gia đình tôi, là không giây phút nào tôi quên những người toi yêu dấu.
Thi sĩ nhanh nhẹn rút bút, nghẹn ngào ghi lại những lời đơn sơ ấy. Chàng long trọng hứa sẽ thi hành thỉnh cầu và phác tả cho bác nông phu biết cách sẽ vinh danh và đưa tên bác vào lịch sử. Tượng đài kỷ niệm rồi đây dựng khắp nơi trong nước, ghi đậm hình ảnh bác trong lòng mọi công dân. Đặt tay nơi trái tim, thi sĩ hứa viết một cuốn sách kể lại những giây phút bi tráng này, để các em bé trong nôi học ngay trong khi vừa bập bẹ tiếng nói đầu tiên. Người lính đứng nghiêm, hai gót chân thật sát, đăm đăm nhìn dãy núi xa. Mắt chàng một thoáng ướt mờ, chàng phải tự kểm chế, đè nén cảm xúc, đứng phất như một tượng đồng trong nắng.
Chàng nói: Nhân danh tổ quốc, tôi cám ơn bạn.
Bác nông phu nói: Tôi xin các ông đừng in thơ, dựng tượng, cũng đừng bắt tội con trẻ học biết tên tôi làm gì. Tên tôi, tôi thích được quên đi. Điều tôi cầu xin các ông giúp đỡ vợ con tôi yếu đuối dại khờ, không kham nổi công việc nặng nhọc, và xin nói với các con tôi rằng phải cần thận đừng có …
Nhưng điều này cả thi sĩ lẫn người lính chẳng ai muốn nghe. Những kể lể lôi thôi của bác nông phu làm họ thêm chán ngán, thêm nóng nảy, muốn qua sông cho lẹ. Họ túm lấy bác, quăng vèo cho quái vật. Nó nhai ngấu nghiến một cách ngon lành. Hai người qua bờ bên kia, tràn ngập hân hoan, vừa đi vừa hát. Chưa được bao xa, bỗng nghe sấm sét vang rền, tưởng đâu núi sập trên đầu, đất nứt toang dưới gót và địa cầu giẫy giụa đau đớn trong cơn sáng tạo. Họ run rấy, quay nhìn con quái, thấy nó ngàn miệng đang cười, làm rung chuyển vũ trụ. Trăm triệu con mắt lóng lánh mỉa mai khinh bỉ, chứa chất từ bao thời đại xa vời. Những cánh tay thép xoăn lại múa may trong gió, như say máu. Không khí cũng đảo lộn quay cuồng, quật hai người ngã xoài trên đất. Quái vật vẫn cười vang dội đồ vỡ, như muôn đá lớn tung từ máy bắn, dập nát thành lũy. Người lính rất đổi kinh ngạc, muốn biết nguyên do, bèn rang đứng dậy, giơ tay hét lớn: Quái vật, sao mi cười?
Nó không đáp, nhe cả ngàn vạn nanh dài lòa chói như gươm, khua động đất trời, tợ hồ muốn xáo trộn, đem vạn vật về thuở hồ mang. Bấy giờ thi sĩ kêu lên: Quái vật kia, trên trời, dưới đất, nhân danh danh dự và vinh quang của nhân loại, ta xin hỏi mi, tại sao mi cười? Nhưng con quái vẫn cười không đáp. Thế là cả hai quỳ xuống, cao giọng gào lên: Quái vật! Quái vật! Tại sao mi cười? Tại sao mi cười?
Bỗng chốc tiếng cười ngưng bặt. Những cánh tay thếp thôi múa may, chói lòa nanh dài tắt ngấm. Còn lại trăm triệu con mắt đượm ánh khinh khi. lóng lánh mỉa mai, soi mói thi sĩ và người lính, tia nhìn thương hại
Quái vật mim cười: Này những đồ ngu ngốc mạt kiếp kia, các người có ý định bao giờ qua sông trở về không?
Thi sĩ hỏi: Về thì sao?
Người lính gật đầu: Có chứ, chúng ta sẽ trở về.
Quái vật lại mim cười: Không đâu, đồ ngốc. Dù muốn về cách mấy, các người cũng chẳng bao giờ thực hiện ý định được đâu.
Người lính hét lên: Sao không?
Quái vật trả lời chậm rãi: Bởi vì lúc ấy ta đói hơn bây giờ chứ sao. Ta sẽ nuốt hết cả hai đứa bay, hà hà. Nó lại cười, những bàn tay thép xoa vào nhau ra chiều đắc ý, ngàn miệng nhớt nhãi chảy đầy. Và bây giờ thi sĩ và người lính cảm thấy thật sự trong lòng một nỗi lo âu mênh mông. Họ bắt buộc phải đi mãi, đi mãi, không bao giờ được trở về dòng sông này nữa. Họ đành quên bác nông phu, đành quên gia đình bác, đành quên tất cả. Vì sợ, không dám trở về bờ sông cũ, nơi con quái đói bụng vẫn nằm cho họ trở về.
NGHIÊM SỸ TUẤN kể
(Trích Thung Lũng Hoàng Hôn, Nxb Y Tế 2002]

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.