vietmessenger.com
Morris L. West
Bản dịch của Chu Việt
Post by Sơn râu 19 Dec 2025

Chương 7
Sáng hôm sau có một vụ mưu sát cá nhân tôi. Cuộc mưu sát đã được sắp đặt sơ sài và thi hành một cách vụng về – nhưng cũng rất gần thành công. Lúc ấy là chín giờ hơn và Bill Slavich đang lái xe đưa tòi từ nhà đến Sứ-quán. Khi chúng tôi quẹo quanh góc phố cuối cùng rẽ vào đường Hàm-Nghi thì có kẻ ném ra đường trước mặt xe một gói bọc giấy báo. Slavich quẹo gắt xe để tránh và một lát sau nó nổ tung. Tiếng nổ ngang sườn xe chúng tôi làm vỡ tan các cửa kính bên xe và đầy xe chúng tôi văng ngang qua đường. Do đó xe chúng tôi làm gẫy một trụ đèn và đụng mạnh vào một chiếc xe vận tải đậu ở đó. Bill Slavich bị rách mặt. Tôi bị xây sát xoàng ở tay, cổ tay và thái dương sưng u như trái ổi.
Đám đông bu đến như thường lệ, một toán cảnh sát lanh lẹ đưa tôi vào Sứ-quán và câu chuyện chấm dứt như một cảnh phim giật gân trên vô-tuyến truyền-hình. Bill Slavich hội họp với cảnh sát và Harry Yaffa, trong khi Anne Beldon cuống quít lau sạch vết thương cho tôi để tôi đến viếng thăm ông Bộ-trưởng Ngoại-giao. Tôi không dấu diếm chi hết. Tôi bị xúc đông.
và run sợ. Một câu kinh đọc từ thuở nhỏ chợt đến trong trí óc tôi: «Xin Chúa cứu rỗi chúng con khỏi một cái chết bất thình lình và thiếu chuẩn bị. » Cái chết đã đến rất gần và thật ra tôi đã thiếu chuẩn bị để chết. Tôi uống luôn một hơi thật lẹ hai ly whisky và tôi kinh ngạc thấy mình cầm ly không vững. Mặt tôi soi trong kính buồng tắm trông xám ngắt như bột bánh. Rồi cái hóa học mau lẹ của phản ứng bắt đầu và tôi vừa tức giận vừa khoái trí-tức giận với những kẻ bắt chúng tôi liều mạng sống của chúng tôi và tuy vậy vẫn không biết ơn việc ấy; khoái trí là vì tôi có thể đến trình diện tại Bộ Ngoại-giao mang theo những vết thẹo của một vụ ám sát. Đến lúc tôi sẵn sàng ra đi thì phòng khách của Sứ-quán đầy nhóc những phóng viên và nhiếp ảnh viên. Đối với họ thì đây là thảm kịch trang đầu và tôi rất muốn họ hưởng thụ chuyện đó và đồng thời tạo nên cho tôi một mối lợi. Harry Yaffa lại đưa ra thêm ngón kịch trường riêng của hắn bằng cách yêu cầu phải có cảnh sát hộ tống tôi đi đến Bộ và về cùng thêm cảnh sát bảo vệ nhà tôi và những đường ngõ đi đến Sứ-quán. Thế là với trái bom nổ chậm của riêng tôi trong túi áo trên ngực, tôi được đưa tới Bộ Ngoại-giao với người bao xung quanh và lính võ trang!
Cuộc hội kiến giữa tôi và ông Bộ-trưởng ngắn ngủi và đầy sóng gió. Tôi trao cho ông bức văn thư và chờ đợi trong lúc ông đọc. Với sự giận dữ lạnh lùng, ông bảo tôi là sự áp dụng những trừng phạt là một sự can thiệp vô căn cứ vào công việc nội bộ của một nước có chủ quyền. Điều đó dĩ nhiên là đúng mặc dầu tôi không thể công nhận. Tôi nhắc nhở ông một cách vắn vẻ là đừng có trông mong chúng tôi tài trợ cho những chính sách khống chế làm cho chúng ta mâu thuẫn với toàn thể thế-giới Phật-giáo. Điều đó lại càng làm ông tức giận thêm và ông cho rằng nếu chúng tôi trả tiền viện trợ thẳng cho bọn Việt-cộng thì cũng không thể làm được điều gì tồi tệ hơn thế. Đó là sự khai mào mà tôi đã mong đợi và tôi bèn lợi dụng nó một cách khiếm nhã.
« Thưa ông Bộ-trưởng, nếu đúng như vậy thì chẳng có lẽ lại là bọn Việt-cộng đã định giết hại tôi sáng nay? »
Sự gợi ý ấy làm ông bị xúc động và liền lao mình vào một sự cải chính hăng say. « Thưa ông Đại-sứ, đó là một ý tưởng kinh tởm. Một lời chửi vào mặt cá nhân tôi và Tổng-thống tôi. Vâng, chúng ta có những mâu thuẫn và khó khăn, Nhưng nghĩ cho cùng chúng ta vẫn là bạn đồng minh chiến đấu một kẻ thù chung. Tôi xin ông gạt bỏ những ý tưởng ghê tởm đó di. Tôi xin cam đoan riêng với ông rằng những ban an-ninh của chúng tôi sẽ mở một cuộc điều tra đầy đủ và chúng tôi sẽ không yên nghỉ cho đến khi nào những tên thủ phạm bị đưa ra trước công lý ».
«Thưa ông Bộ-trưởng, tôi vui sướng nhận sự cam kết đó. Nhưng tôi xin nhắc ông rằng chính Chính phủ ông đã tô mầu những sự ngờ vực xấu xa đó. Những lời buộc tội tại Quốc-hội chẳng hạn, sự vắng mặt của ông tại đám tang binh sĩ Thủy-quân Lục-chiến của chúng tôi mà ai cũng biết, sự gợi ý riêng của ông rằng chính sách của chúng tôi làm lợi cho Việt-cộng-làm sao mà tôi có thể hiểu những sự việc đó một cách khác được nếu không phải là những lời tuyên bố công khai sự thù nghịch đõi với tôi và nước tôi? »
Đó là cuộc đối thoại gai góc thông thường của những nhà ngoại giao bực tức và lẽ dĩ nhiên nó chẳng giúp ích gì để thay đổi được sự thật của vấn đề. Chúng tôi nắm giữ cây gậy lớn và chúng tôi đang cầm gậy đó đập lên đầu Chính phủ. Do đó, mặc dầu tôi thắng cuộc với lời lẽ, tôi cảm thấy không hãnh diện với chính mình trong khi xe đưa tôi trở về trong buổi sáng rực rỡ.
Phố phường đông đúc những người. Nắng chiếu dữ dội sau một đêm mưa và trông dân chúng đi lại có một vẻ náo nhiệt xoa dịu như thể mặc tất cả những sự khó nhọc của họ, mặc tất cả sự mua bán buồn thảm về âm mưu và khuynh đảo, họ vẫn nhất quyết ăn, uống và vui vẻ như họ vẫn có thể làm như vậy dưởi nền cai trị thanh khiết của Phùng văn Cung. Nếu tôi chết đi sáng nay thì họ cũng vẫn đi lại làm ăn, không mảy may xúc động hay bận tâm. Chỉ có những người Thiên chúa giáo là có lẽ đã cầu nguyện cho tôi bởi vì họ đã bị ràng buộc vào một sự tin tưởng nơi tình huynh đệ của tôi với họ trong niềm cảm thông của Thần thánh. Đối với những kẻ khác, thì sự nhớ đến tôi sẽ được chôn chặt trong vòng một tiếng đồng hồ dười sự lãnh đạm rộng lớn của Á-châu. Đó là một ý tưởng đen tối và nó vụt đem tôi về điều suy nghĩ mà George Groton đã gợi ra đêm hôm trước: Để đạt cứu cánh nào mà chúng ta lại đi tổn phí tất cả những tiền bạc, ngoại giao, công việc và máu người như vậy? Lại một lần nữa tôi nhớ đến lời răn dạy của Muso Soseki:
«Người ta nhờ đến ông khuyến cáo và cố vấn và do đó, thật ra ông có thể giúp vào việc đề ra những mục đích sau này sẽ được đưa ra cho ông … » Tôi đã thấy điều này xảy ra. Nhưng trong mọi điều tôi đã đề nghị làm, tôi đã giới hạn tôi vào cái ngắn hạn và cải tạm bợ. Tôi vẫn chưa sẵn sàng để cứu xét cho riêng tôi những quan điểm trái nghịch với chính sách đương thời của Hoa-kỳ. Tuy vậy, điều đó mặc nhiên nằm trong trách vụ tôi đã được giao phó và nếu tôi không kêu gọi đến nó thì những sự dồn dập mau lẹ và bạo động của những biến cố sắp đến sẽ khiến tôi thiếu chuẩn bị.
Khi tôi về đến Sứ quán, tôi thấy nơi đó như đang dậy men. Tổng-đài bị ứ nghẹn những cú điện thoại từ các Sứ quán khác gọi đến để xin chi tiết về cuộc mưu sát. Báo chí hãy còn đòi mầu sắc và bình luận để thêm thắt vào các bản tin tức họ gửi đi. Sự đi lại nườn nượp, toàn những nhân vật kỳ cục đến hội kiến với Harry Yaffa và những đồ đệ của hắn. Tấn thảm kịch đã diễn ra quá lố nên tôi ra chỉ thị cho mọi người rời khỏi Sứ quán càng nhanh càng hay và trở về với công việc như thường lệ. Tôi triệu tập một buổi họp các phụ tá thâm niên của tôi vào lúc hai giờ và sau đó ngồi lặng yên xem các bản tin tức hàng ngày. Tin tức từ Liên-hiệp-quốc rất là hữu ích. Một kiến nghị của Nga-sô đòi gửi Ủy-hội Kiểm-soát Đình-chiến cũ của Đông-dương đến miền Nam Việt-nam bị bác bỏ. Thay vào đó, Chủ tịch Hội-đồng Liên-hiệp-quốc đã chỉ định Afghanistan, Ba-tây, Tích-lan, Costa Rica, Dahomey, Ma-rốc, và Népal Iàm những nước hướng dẫn vụ điều tra về Phật-giáo. Các Ủy-viên đó sẽ đến đây trong khoảng một tuần. Tôi thấy một sự khôi hài ghê sợ trong ý nghĩ một vị thượng khách ở Dahomey đến mà cố gắng tìm hiểu những sự tế nhị của Á-châu và con người từ Tích-lan lại có thể vô tư đối với những sai lầm của những kẻ đồng đạo. Tuy nhiên Ủy-hội đó là vấn đề của Cung, không phải của tôi và tôi vui sướng để mặc ông đối phó.
Bức điện văn của Festhammer ngắn ngủi nhưng ở phần đuôi có một cái nọc:
CHẤP THUẬN HÀNH ĐỘNG CỦA ANH VỀ TRỪNG PHẠT. CHẤP THUẬN TIẾP XÚC NGOÀI HỆ THỐNG NGOẠI GIAO VỚI DƯ LUẬN CHỐNG ĐỐI. TUY NHIÊN VÌ TRỪNG PHẠT TÀI CHÍNH SẼ TỐI HẬU LÀM SUY YẾU NỔ LỰC, CHIẾN TRANH NÊN CHÚNG TA PHẢI CỨU XÉT MỘT GIỚI HẠN THỜI GIAN TRONG ĐÓ HOẶC HOÀN TẤT ĐƯỢC SỰ HÒA GIẢI VỀ MỤC ĐÍCH VỚI CUNG HOẶC HÀNH ĐỘNG THAY THẾ ĐƯỢC ĐỀ NGHỊ THI HÀNH. DƯ LUẬN THƯỢNG VIỆN VÀ QUỐC HỘI NÓI CHUNG TÁN THÀNH TRỪNG PHẠT, NHƯNG THƯỢNG NGHỊ SĨ GOLDING ĐÃ LỚN TIẾNG KÊU GỌI TRUNG LẬP. ÔNG CÓ THỂ LÀ ĐIỂM TẬP KẾT NHỮNG SỰ CẮT XEN NGÂN KHOẢN VIỆN TRỢ VA DƯ LUẬN CHỦ TRƯƠNG BẤT CAN THIỆP NÓI CHUNG. CHÍNH PHỦ SẼ HOAN NGHÊNH BẤT CỨ LUẬN ĐIỆU TỰ TIN NÀO ANH CÓ THÊ ĐEM VÀO CÁC LỜI TUYỀN BỐ CÔNG KHAI VÀ BẢN TIN TỨC CỦA SỨ QUÁN.
Đó dích thực là Festhammer thuần túy, con người lúc nào cũng muốn được ăn, được nói, được gói đem về và sau đó lại được một viên thuốc để chữa bệnh ăn không tiêu nữa. Tôi đã có quá nhiều rắc rối của chính tôi mà chưa cần phải lo lắng đến những cơn đau bụng của một ông Thượng-nghị-sĩ béo tốt ở Hoa-thịnh-đốn. Tuy vậy nếu có nhiều Thượng-nghị-sĩ cùng la hét quá to thì họ có thể gây nên một trận gió lớn, đủ mạnh để làm bay phấp phới những lá cọ và làm gợn sóng dòng nước xám của sông Cửu-long được.
Rồi xen ở giữa một bản tóm lược tình hình và một lời yêu cầu cho biết tin về tình trạng tài chính của Phái-bộ Viện-trợ Kinh-tế Hoa-kỳ, tôi thấy một cải gai khác. Đó là một văn thư ngắn từ văn phòng ông Bộ-trưởng Ngoại-giao.
«Mẫu báo cắt gửi kèm theo đây là do Sứ quán của chúng ta ở Ba-lê gửi đến. Báo cáo đó có thể là chuyện dựng đứng hoàn toàn vì không được nguồn tin nào của chúng ta ở miền Nam Việt-nam xác nhận. Xin anh làm ơn điều tra và khẩn cho chúng biết ý kiến. »
Mẫu báo cắt đó là của một bài đăng trong một nhật báo của phe xã hội đã gần hai tuần nay. Bài bảo ký tên Claude Gemelle và tự cho rằng đó
là lời ghi chép cuộc phỏng vấn riêng và độc quyền với Tổng-thống Cung. Các dòng kết luận của bản văn được khoanh tròn bằng mực đỏ. Sau hết Tổng-thống với sự cay đắng hiển nhiên nói với tôi, «Người Mỹ cho rằng tôi đang theo đuổi một chính sách mà tối hậu sẽ làm lợi cho Việt-cộng và đảng Cộng-sản ở Bắc-việt. Trái lại, tôi nói với họ rằng chính họ đầy tôi vào vòng tay của Hồ-chí-Minh và ép buộc tôi cứu xét những biện pháp tuyệt vọng đề chấm dứt sự khổ cực của đất nước tôi. » … Khi tôi cố ép ông giải thích thêm thì ông từ chối, nói rằng ý nghĩa của ông muốn nói rất là rõ rệt đối với bất cứ ai đã nghiên cứu tình hình ở miền Nam Việt-nam. Và đến đó là chấm dứt cuộc phỏng vấn của tôi.
Đó là một trong những đoạn văn bí hiểm mà một loại bài báo nào đó thường dùng để xây dựng sự nổi danh của mình về khôn ngoan và sâu sắc. Hiển nhiên là nó đã được soạn thảo lại để mang một ý nghĩa kép. Mặt khác, nó cũng giống một cách kỳ lạ với bản báo cáo về một cuộc nói chuyện với Armand Leroux
ở trong chùa mà Groton đã đưa cho tôi. Bởi vậy nó chỉ có thể là một cái bẫy – thành phần của một kế hoạch nhồi sọ tỉ mỉ đề chuẩn bị đầu óc công chúng cho một nước cờ chính trị. Chỉ vì lý do ấy không thôi, nó cũng đáng được kiểm chứng lại. Tôi để mẫu bài báo sang một bên và biên vài lời ghi chú để thảo luận về việc này với Yaffa và Mel Adams. Tôi nhờ Anne Beldon điện thoại về nhà để bảo George Groton cùng đến dự buổi họp và mang theo những ghi chú căn bản về các cuộc nói chuyện của hắn trong các chùa.
Khi tôi làm việc xong với những giấy tờ khẩn cấp nhất và thảo xong các điện văn trong ngày thì đã hai giờ kém mười lăm, chỉ còn đủ thì giờ ăn một chiếc săng-uých, uống một tách cà-phê và hấp tấp duyệt trước chương trình nghị sự của buổi họp. Tôi đã biết chắc điều tôi cần trong lúc này, một cuộc phối hợp thăm dò tất cả những đường lối đã mở ra cho chúng ta và thẳng thắn thảo luận về những chính sách – dù rằng những chính sách thoạt trông có vẻ thù nghịch với những quyền lợi của chúng ta.
Nhưng liệu tôi có làm được không lại là một vấn đề khác. Ngành ngoại giao nổi tiếng là bạc bẽo đối với những người có dầu óc khác thường, có tin tưởng mãnh liệt và thật là khó mà yêu cầu được một người đem cả sự nghiệp của mình ra đánh cá trên một lý tưởng bị chê bai.
Tôi cũng không chắc gì có người nào trong số nhân viên của tôi – ngoại trừ Groton – lại có đủ tin cậy nơi tòi để tự giao phó mình cho tôi. Bởi vậy nước cờ thí nhập cuộc thật là khỏ khăn và tôi đã chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng.
« … Thưa quý ông, chiều nay tôi muốn tất cả quý ông tham dự một bài thực tập lý thuyết. Tôi muốn đặt ra với quý ông một số tiền đề và yêu cầu quý ông thảo luận cởi mở để thăm dò những hậu quả của chúng. Cuộc hội thảo sẽ không được ghi biên bản và không một ai sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân về quan điểm mà mình phát biểu – mặc dù có cực đoan đến đâu. Nếu có ai muốn công khai bênh vực Hồ-chí-Minh hay Chu-ân-Lai, xin cứ việc tự do. Mục đích của buổi hội thảo này là để giúp tâm trí tôi được minh bạch và cho tôi cơ hội có được một quan điểm thật rộng rãi về hoàn cảnh của chúng ta hiện nay. Một điểm chót là sẽ không có thứ tự phát biểu và nếu quí vị muốn tranh luận tay đôi, tôi rất sẽ vui mừng để quý vị tự tiện … Đây là tiền đề thứ nhất. Người Pháp đề nghị miền nam Việt-Nam tự tuyên bố là một nước trung-lập. Giả dụ là chúng ta đồng ý với đề nghị của họ, thì liệu có thực hiện được không, mà thực hiện như thế nào, có những hậu quả gì? »
Có một sự im lặng bối rối ngắn ngủi trong lúc họ đưa mắt nhin nhau và cho đợi một người nào đó khơi mào sự bàn cãi. Sau cùng George Groton ngỏ lời:
« Tôi là người thâm niên nhất. Vậy tôi xin phép quý vị mở màn. Miền nam Việt-Nam có thể tự trung lập hóa ngay ngày mai bằng cách chỉ việc đưa ra một tuyên ngôn và yêu cầu Liên-hiệp-quốc bảo đảm sự trung lập của mình. Khi ấy họ sẽ yêu cầu chúng ta rút lui. Một cuộc thương lượng sẽ được xúc tiến với Hồ-chí-Minh để ngưng chiến và chấm dứt sự xâm nhập quân lính và chiến cụ. Chính phủ miền Nam Việt-nam khi ấy tự do liên lạc về ngoại giao và kinh tế với cả hai-khối Đông và Tây … »
«Khi ấy thì, » vị tùy viên quân lực nói, «Hồ-chí-Minh phủ nhận hết trách nhiệm về những gì xảy ra ở miền Nam Việt-nam trong khi vẫn bí mật tổ chức nổi loạn. Bọn Việt-cộng sẽ nằm vùng một thời gian rồi lại chỗi dậy với hình thức một cuộc đối kháng địa phương chống cường hào ác bá địa-phương. Kết quả, một cuộc nội chiến như đã xây ra bên Lào. »
« Chúng ta hãy theo lập luận này » Mel Adams lặng lẽ nói. « Có cuộc nổi loạn. Cung bị lật đổ – mà trước sau gì cũng bị lật đổ. Điều không rõ rệt hẳn là chính phủ sau có phải là Mác-xít hay không, nhưng chắc chắn là nó sẽ không ngả theo Trung cộng bởi vì Việt-nam không muốn làm bù nhìn của Trung-hoa. Cả hai miền Nam Bắc, sẽ có quân đội được huấn luyện mà chắc chắn sẽ thống nhất lại chống sự xâm lược quân sự của Trung-
cộng. Dù rằng có chính quyền Mác-xít hay gần như Mác-xít ở Cam-bốt, Lào và Việt-nam cũng không có gì chắc chắn là có chính sách bành trướng, như chống Thái-lan chẳng hạn. Tôi đoán rằng ngược lại thì có lẽ đúng. Dân chúng đã chán ghét chiến tranh. Tôi nghĩ rằng họ sẽ để tâm vào việc chấn hưng kinh-tế dù rằng ở dưới một chế-độ Mác-xít.»
«Vậy là anh bán đứng ba triệu giáo dân Ki-tô giáo! » Đó là lời nỏi của vị đệ nhị tham vụ, một gã bướng bỉnh, lỗ mãng, đầu húi cua và đeo kính cận nặng. «Anh bán đứng một triệu dân tị nạn đã vào Nam để định cư sau khi đất nước chia đôi? Anh bỏ rơi các chương trình tự cải tiến và giáo dục trong các xã, ấp và để cho rối loạn trở lại? »
«Tôi không cho rằng đó là vấn đề bán đứng, »
Mel Adams giữ nguyên lập trường một cách bướng bỉnh. «Vâng, sẽ có rối loạn nhưng ít nhất đó cũng là điều mà chúng ta chủ trương — hay nói là chủ trương – nghĩa là một cơ hội để tự quyết. Theo ý tôi thì những lực lượng quân sự của đôi bên cũng ngang nhau và có một căn bản vững chãi cho sự hợp tác kinh-tế giữa miền Nam và miền Bắc. »
«Tôi nghĩ rằng đó là một lý thuyết quá đẹp. » Harry Yaffa nói một cách cộc cằn.
«Anh có hai yếu tố – một phong trào cách mạng địa phương và áp lực lớn lao của Trung-hoa từ bên ngoài. Hãy nhìn thử sự rộng lớn và sức mạnh của áp lực đó – từ biển Nhật-bản cho đến vịnh Bắc – việt, tới Ngoại Mông, tới Hy-mã-lạp-sơn và sa mạc Takla Makan … Anh có nghĩ rằng mình có thể ngăn chặn được nó với một tuyên ngôn trung lập và một lũ binh lính hỗn hợp của Liên – hiệp – quốc ở vĩ tuyến thứ mười bảy không? »
«Anh có nghĩ rằng mình có thể ngăn chặn được nó với hơn hai mươi ngàn cố vấn quân sự ở miền Nam Việt-nam không? »
«Dĩ nhiên là không. Nhưng nó đang bị ngăn chặn bởi Nga-sô ở phía Bắc, bởi Đệ-thất Hạm-đội và bởi sự đe dọa của bom nguyên tử. »
«Mọi thứ ấy sẽ đâu vẫn nguyên đó. »
«Nhưng thiếu cái chỗ đứng của chúng ta hiện tại trên lục địa Á-châu. »
Sự đối nghịch giữa hai người một lần nữa lại bùng ra và đe dọa làm hư buổi họp mặt. Tôi xen vào một câu hỏi của tôi:
«Liệu chính chúng ta có thể triệt tiêu được áp lực của Trung-cộng bẳng sự thừa nhận ngoại-giao, bãi bỏ phong tỏa thương mại và bỏ phiếu cho Trung-cộng gia nhập Liên-hiệp-quốc được không? Liệu khi ấy chúng ta có thể coi bất cứ cuộc cách mạng địa phương nào đều là một vấn đề nội bộ và chấp nhận nó đúng lúc tùy theo công quả của nó? »
«Không được! » Yaffa nói huỵch toẹt. « Chủ nghĩa Mác-xít là một chủ thuyết bành trướng. »
«Anh đâu có giết được một chủ thuyết. »
«Nếu vậy thì sao, thưa ông? Ông chấp nhận nó! »
«Anh có thể sẽ phải sống với nó. »
«Sống chung hòa bình? Đó là nước cờ thí của Khruschev. Nhưng Trung-cộng đâu có chấp nhận nó. Trung-cộng công bố theo đường loi Stalin – chiến tranh không thể tránh được. »
«Stalin đã chết. Mao-trạch-Đông và Chu-Ân-Lai là những người đã già rồi.»
«Nhưng Trung-cộng vẫn còn cần đến các vùng lúa gạo và một đường biển đi Phi-châu. »
«Trung-cộng không thể buôn bán tự do được với các nước Á-châu trung lập sao?
«Ông có bảo đảm được rằng Trung-cộng sẽ hài lòng như vậy không? »
«Thì ít nhất Hương-cảng cũng tiêu biểu được cho một sự dàn xếp thuận tiện. »
Sự bàn cãi cứ quanh co như vậy thêm hai mươi phút nữa. Rõ rệt là chúng tòi sẽ chẳng bao giờ đạt được sự kết cục cả. Thế nên tôi hỏi một câu có tính cách địa phương hơn:
«Cho rằng chúng ta ở lại miền Nam Viet-nam và dẫu sao đó cũng là việc phải quyết định của Hoa-thịnh-đốn! – cho rằng các khó khăn của chúng ta đối với Cung và Phật-giáo vẫn y nguyên, thì đến khi nào chúng ta ủng hộ một sự thay đổi chính phủ? »
«Càng sớm càng hay, » Yaffa nói một cách không kiêng nể. «Trừ phi ông muốn Phật-giáo làm một cuộc cách mạng riêng của họ. Đã có tin đồn rằng rất có thể Quân-đội sẽ ly tán và có sự thành lập một lực lượng thứ ba chống lại cả Việt-cộng lẫn Tổng-thống. Dĩ nhiên đó chỉ là một chuyện viễn vông bởi vì nếu cứ thử làm thì lực lượng thứ ba chỉ trong một tháng là cạn tiền bạc và đạn dược. Lúc đó tránh không khỏi họ sẽ theo Việt- cộng. »
«Tôi nói là chúng ta không ủng hộ ai cả. »
Mel Adams nói. «Chúng ta buộc phe chống đối phải chứng tỏ sự nhất trí của họ. Và chúng ta tự dành quyền công nhận hay không công nhận một chính phủ mới trên phương diện thực tế. »
Điều này lại gây ra một cuộc cãi lý qua lại mới và một lần nữa tôi thấy rõ là bộ tham mưu của tối chia khá đều làm hai phe theo Adams và Yaffa. Nhưng họ ngả về Yaffa hơn vì hắn là người có nhiều tin tức trong tay hơn và do đó thực tế hơn. Nói cho cùng thì ý tưởng đó cũng đáng nghi ngờ và điều làm tôi khó chịu là đã có khá nhiều nhân viên của tôi đã sẵn sàng chấp nhận nó một cách nguyên văn. Sau đó George Groton lại nhẩy vào vòng bàn cãi với một vấn đề nan giải thực sự cho Harry Yaffa:
« Có một điều tòi muốn minh xác. Chúng ta đồng ý rằng bất cứ chính phủ mới nào cũng dựa vào sự ủng hộ của Phật-giáo rất nhiều và có lẽ thành phần đa số sẽ là các tưởng lãnh Phật – tử. Đúng không, anh Yaffa? »
« Cũng đại khái như vậy. Đúng. »
« Nhưng tôi thấy rằng dường dư luận Phật- giáo trong các chùa rất tàn thành trung lập. Như vậy đậu phải anh ủng hộ cái mà anh đã lên án trước kia: một chế độ trung lập hay có thể sẽ trung lập? »
Yaffa tức giận đỏ mặt và trả lời: «Một chế độ Quân đội trung lập sẽ là một sự mâu thuẫn ngay trong danh từ. »
« Nhưng Phật-giao tự nhiên có khuynh hướng hòa giải mâu thuẫn. »
« Đó là lý thụyết. Trên thực tế khác hẳn ».
« Khác thế nào? Nếu chế độ Cung không đứng vững đó là vì Phật-giáo phá. Vậy họ không thể tự phá chính họ như vày được sao – tướng lãnh hay không tướng lãnh? »
Đó là một quan điểm khá vững vàng và tôi xấu bụng muốn cho hắn hưởng thụ cái thắng lợi đó. Bởi vậy nên tôi lại chen vô và đưa cho mọi người ngồi quanh bàn xem mẫu báo cắt của báo hí Pháp. Tôi không bình luận chi hết mà chỉ mời họ phát biểu ý kiến. Phần lớn đều có khuynh hướng gạt bỏ nó đi như một ý kiến đại cương khiêu khích, nhưng Harry Yaffa nhiu lông mày đọc một hơi lâu, rồi nói:
« Thưa ông, tôi muốn suy nghĩ lại về việc này và kiểm chứng lại trong hồ sơ của tôi. Theo thủ tục, chúng tôi thường kiểm soát các nhà báo đến thăm viếng và có thể tôi biết ít nhiều về tên Claude Gemelle này … Gần đây tôi có nhận thấy một điều kỳ lạ kể từ khi bắt đầu có rối loạn Phật-giáo, là các nhà báo tại Saigon đã thù nghịch đối với Cung. Do đó ông ta đã khởi sự đưa ra những lời bình luận qua các tên lính cứu hỏa đến viếng thăm: đại diện của báo chí Ki-tô-giáo ngoại quốc, ký giả tuần báo và trợ bút cho những tờ báo kỳ cục thường trôi dạt đến Saigon rồi lại đi, để tìm chất liệu viết bài. Cung là một người ăn nói tự do nhưng lúc nào cũng đắn đo trong lời nói. Bởi vậy nếu quả ông nói vậy hay điều chi tương tự, tôi muốn được biết bản văn đích thực ra sao. »
«Tôi nghĩ chúng ta cũng có một ít tin tức liên quan đến việc đó. »
Tôi bèn yêu cầu George Groton báo cáo về những cuộc viếng thăm chùa của hắn và đặc biệt cuộc nói chuyện với tên người Pháp, Armand Leroux. Điều này làm cho Yaffa nhíu đôi lông mày một lần nữa và Mel Adams thì đưa ngược đôi long mày lên nhưng cả hai đều lặng thinh nghe cho đến khi Groton dứt câu chuyện. Đoạn Mel Adams lắc đầu:
« Thưa ông, đáng lưu ý lắm nhưng không được đầy đủ. Tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể căn cứ vào đó mà đưa ra chiến lược được. »
«Tôi biết rằng tin tức không đầy đủ. » Groton nói một cách hăng hái. « Nhưng dường như chúng ta đều cần phải biết về Phật-giáo nhiều hơn là bây giờ. Nhất là khi chúng ta đang được yêu cầu thay đổi chính phủ để làm lợi thế cho Phật-giáo. Tôi đã đọc tất cả những báo cáo sẵn có. Còn có quá nhiều khe hở và một vài sai lầm rành rành. »
« Tôi nghĩ rằng mới nhập nghề mà làm được như ông Groton là khá lắm ». Giọng nói của Yaffa đều đều một cách có chủ ý. « Tôi nghĩ rằng ông có thể tiếp tục lấy được những tin tức có ích nhờ có sẵn vốn liếng chuyên môn. Tuy nhiên, thưa ông Đại-sứ, nếu ông đề Groton tiếp tục, ông ta phải được thông báo về những sự nguy hiểm. »
«Đặc biệt là những nguy hiểm nào, anh Yaffa? »
«Armand Leroux là một. Hắn ăn nói như một người Pháp nhưng thật ra thì hắn là một người xứ Georgia-một gián điệp đã lâu đời trong vùng này. »
«Thế tại sao Chính phủ lại để hắn hoạt động mà không kiểm soát? »
«Bởi vì hắn làm việc cho tôi, thưa ông Đại sứ – nhưng hắn cũng lãnh tiền của tụi Pháp và tụi Nga nữa. Có tin tức, hắn chia xẻ đồng đều và nhận tiền thù lao của tất cả bọn tôi. Nh ng khi một người không phải trong nghề như ông Groton mà bắt đầu loạng quạng vào nghề thì Armand Leroux rất có thể muốn lãnh tiền thù lao trên đầu ông ta nữa. »
«Nghĩa là thế nào? »
«Bắt cóc ông Groton. Đó là môn thể thao thiên hạ ưa thích ở đây. Thắng lợi lớn lao về tinh thần cho bọn Việt-cộng. Bọn chúng bắt nạn nhân bỏ cũi mang đi, hay trói chặt người vào cột như con heo để ra oai với dân quê … Tôi không bịa lớn câu chuyện đâu mà tôi cũng không khuyên ông bỏ dự án đó. Nhưng thưa ông Đại-sứ, tôi xin đề nghị là nếu ông Groton tiếp tục, chúng ta nên huấn luyện cho ông – và bảo vệ cho ông nữa. Sau vụ sáng nay, chúng ta cũng không thể gạt bỏ nguy cơ bị ám sát đi được. »
Hắn nói nghe cũng có lý và tòi cũng không muốn cãi cọ về việc đó. Tòi ưng thuận – sau khi đã nghĩ lại rằng sự dàn xếp ấy sẽ cho tôi được biết về hoạt động của Harry Yaffa. Nhưng vẫn còn một câu hỏi nữa chưa được giải đáp:
« Anh Yaffa, liệu có sự liên hệ nào giữa lời tường thuật trong báo chí Pháp và quan điểm do Armand Leroux phát biểu không? »
«Tôi không biết». Yaffa nói một cách thiếu tin tưởng. «Nhưng tôi rất muốn tìm hiểu. Ông để vấn đề đó cho tôi vài ngày. Chừng nào có điều gì rõ rệt, tôi sẽ xin báo cáo ».
Đến đó thì tôi nói vài lời cám ơn để kết thúc buổi họp. Tôi chỉ được biết thêm là Yaffa và Mel Adams là hai tạy chuyên nghiệp giỏi nhất và George Groton cũng sẽ chẳng kém gì họ – và chính thân tôi, tôi không bao giờ có thể chối bỏ được sự đơn độc khổ cực trong việc quyết định của cấp chỉ huy.
Những tiệc rượu ở các Sứ-quán là một tệ đoan cần thiết của nghề nghiệp. Tiệc rượu làm mỏi mệt trí nhớ, sự lịch thiệp và sự tiêu hóa. Tiệc rượu dẫn tới những tai tiếng, những cổng chào sụp đổ và những sự ghen tuông trong đám các bà các cô. Tôi chưa thấy một nhà ngoại giao nào lại thành thật thích tiệc rượu cả – vậy mà vẫn chưa có ai phát sinh ra được một phương tiện nào khá hơn cho các cuộc bán buôn đầu mối tin tức kỳ lạ ấy, cho những lời ngụ ý bùi tai, những lời cảnh cáo bất thành văn và những cuộc thương lượng ngoài phiên tòa là cái thổ ngữ làm ăn của ngoại giao. Bởi vì ai cũng biết rằng mình sẽ chán ngấy nên ai cũng có thể để ngoài tai những gì mà mình không muốn nghe. Ai cũng bắt buộc phải đi đi, lại lại cho nên lúc nào cũng có thể rút êm khỏi một nghiệp vụ hay một cuộc bàn cãi. Bởi vì tiệc rượu bao giờ cũng được tổ chức sau một ngày làm việc nên ai cũng có quyền mệt mỏi và rút lui vào một góc riêng biệt để kết thúc một vụ mặc cả hay giải quyết một vụ tranh chấp.
Nhưng ngay cả trong cái khuôn khổ tập quán và qui ước đó, cũng có một vài sự khác biệt đáng chú ý. Chẳng hạn người Pháp thì ưa chuộng trí thức và quần áo đúng mốt, nhưng bánh mặn và đồ uống của họ lại nặng nề và nhạt nhẽo. Người Ấn-độ mời khách những món không ăn được và tiếp chuyện thì dễ cáu kỉnh đáng ghét hoặc vồ vập một cách làm cho mình ngượng lên. Người Thụy-điển khi không say rượu thì trịnh trọng một cách có chủ ý và người Nhật uống rượu một cách quý phái trong một bữa tiệc có geisha lại chỉ cần phất quạt là có thể biến một bữa tiệc rượu thành một vở tuồng Kabuki. Người Thái thì chiều khách, tính tình vui vẻ nhưng muốn kéo riêng ra một chỗ để nói chuyện thì thật vô cùng khó, trong khi người Mỹ thì nói chuyện trôi chảy, lắm lời và thỉnh thoảng hơi tai trâu. Người Nam Mỹ thì trưng diện một cách khó tin đến độ ta phải tự hỏi không biết có phải tất cả những ngân khoản viện trợ đều được chi tiêu để may mặc cho các bà vợ hay tình nhân của họ, không. Nhựng chỉ có người Anh là biết làm cho sự tẻ nhạt biến thành một nghệ thuật đẹp và biến những câu nói nửa chừng và những lời tuyên bố khiêm nhượng thành cả một nền văn chương. Món ăn của họ thường thường do, rượu thì lạt và sự đón tiếp không nồng hậu lắm. Người ta không đến dự; người ta len lén vào buổi tiệc. Người ta không trò chuyện: người ta chỉ đấu láo thôi. Người ta không bao giờ được cưng quá nhưng cũng không bao giờ thấy khó chiu. Thế nên khi mãn tiệc, người ta đầu hàng cái ảo giác thân mật một cách quá dễ dãi và nói ra những bí mật quốc gia với một nàng duyên dáng ngon ngọt có bộ ngực cạo quý và nụ cười Mona Lisa.
Người Anh ở miền nhiệt đới có một vẻ khả ái đặc biệt và hấp dẫn. Không hiểu do một sự phản ứng sinh lý kỳ lạ nào với khí hậu lạnh lẽo của họ, mà họ tươi tốt lên trong khi những kẻ khác khổ héo đi. Sự lịch thiệp của họ có thể sánh với sự tế nhị của Á-châu và cái tính cách Hồng – mao không chối cãi được của những gì chung quanh họ có một vẻ đặc biệt riêng của nó – như những Ngự. lâm-quân trong buổi lễ đồi phiên gác. Bởi vậy, nên sau một ngày khá bi thảm, tôi lấy làm thích thú nạp mình cho sự hiếu khách của ông bạn đồng nghiệp người Anh của tôi. Hiển nhiên ông không phải là cỡ bự bởi vì nếu phải, òng đã chẳng bao giờ bị đẩy tới một nhiệm sở mà ảnh hưởng của Anh rất là ít ỏi, nhưng ông có kinh nghiệm và rất khôn ngoan. Ông dẫn tôi đi giới thiệu quan khách một cách mau lẹ, đặt một ly rượu vào tay tôi rồi thầm thì với tôi để xin nói chuyện riêng về sau và mặc tôi tự lo liệu lấy với một người Trung-hoa Đài-loan có bộ mặt thản nhiên và một người Ý trông giống như Dante Alighieri. Tôi thấy mình té ra là một nhân vật nổi danh. Về trách vụ ngoại giao của tôi thì có thể có mà hiện cũng có nhiều sự dè dặt, nhưng còn chuyện ném bom ở ngay một đại lộ thì – số dách! Điều đó đã là một sự nỗi tiếng rồi! Nó cũng là một giấy thông hành để được sự ái mộ của các bà các cô, trong số có vài người đẹp nhưng dường như không có ai ở không cả. Rồi lớp vàng mạ ngoài bỗng mòn đi hết để trơ ra mặt gỗ tạp cho đàn chuột bắt đầu gặm nhấm, tất cả xảy ra quá mau lẹ. Ông Đại-sứ Mã-lai hỏi một cách nhấn mạnh về thải độ của Hoa-kỳ đối với Nam-dương và chính sách đương đầu của nước này. Ông người Thái bình luận dè dặt về tình hình Phật-giáo và bầy tỏ mối lo sợ thật tình về các khuynh hướng Trung-lập ở miền Nam Việt-nam. Ông người Đức muốn biết phải giải đoán sự rút lui nhân viên quân sự như thế nào và có nên khuyến cáo các nhà đầu tư người Đức tránh xa Saigon không. Ông người Nhật thì lo ngại về tiền bạc vì dân tộc ông đang đóng vỏ tầu cho Hải-quân của Tổng-thống Cung. Ông người Lào có vài điều nặng lời về Harry Yaffa và C.I.A. trong khi ông người Đan-mạch vỏn vẹn chỉ có một tòa lãnh sự thì nói về lông vịt (để làm gối cho Âu-châu) và mìn ở sông Saigon (có thể ngăn cản việc ông chuyên chở lông vịt đi!)
Ông người Pháp thì hiển nhiên có điệu bộ bắt chước y hệt Charles Đại-nhân. Ông đứng riêng, xa cách và châm biếm trong khi các giống kém cỏi hơn nói hụt hơi; đoạn ông đưa tôi vào một góc và đọc cho tôi nghe một bài thuyết trình đã chuẩn bị kỹ lưỡng về những lỗi lầm ở Điện-biên-phủ và ảo tưởng về một giải pháp quân sự cho miền Nam Việt-nam. Nếu hắn đã tỏ ra tế nhị hơn và ít kiêu kỳ ra mặt hơn thì có lẽ tôi cũng chịu khó nghe. Cho nên tôi lại diễn giải một hồi cho hắn nghe về các phương pháp thương nghiệp của Pháp, các
hoạt động của gián điệp Pháp và các hiểm họa tài trợ cho một cuộc cách mạng mới sau sự bê bối mà bọn họ đã gây ra cho cuộc cách mạng trước. Nhưng tôi ngạc nhiên thấy hắn bình tĩnh nghe rồi quyết đoán một cách vắn tắt và thẳng thừng về số tử vi của tôi:
« … Ông bạn đồng nghiệp thân mến, tôi xin nói cho ông bạn hay điều gì sẽ xẩy ra. Tôi sẽ đi xa hơn thế, tôi sẽ đánh cá với ông – một trăm đô-la! Ông tưởng rằng Tổng-thống Cung sẽ chịu thua áp lực của ông sao? Không đâu! Ông ta không thể thua được! Ông là một vị thánh đạo Jansen, quyết tâm bảo vệ chỗ đứng cuối cùng của Ki-tô giáo ở Á-châu. Ông ngờ vực bọn Phật-giáo-không phải là không có lý do. Do đó không bao giờ ông có thể hòa thuận với họ được – bởi vì bọn họ sẽ không để ông làm vậy – Vậy thì sao? Bắt buộc ông bạn sẽ phải đi theo những kẻ muốn trừ khử ông ta đi. Họ sẽ hứa với ông bạn những điều to tát – nào là đoàn kết, nào là kỷ luật vân vân. Nhưng họ sẽ không thể giữ lời hứa được. Tại sao? Bởi vì họ còn quá bận rộn cắt phần bánh chia nhau. Chiến tranh sẽ kéo dài, sáu tháng, một năm và chính Quốc hội của ông bạn sẽ buộc ông bạn phải chấm dứt chiến tranh. Như vậy ông bạn sẽ vẫn bị bó buộc phải trung lập hóa, nhưng ông bạn sẽ phải thua thiệt trong sự mặc cả hơn là bây giờ – cuộc mặc cả mà Cung đã đang nghiền ngẫm rồi, tin tôi đi! »
«Thật là kỳ lạ. Tôi đã nghe câu chuyện ấy ba lần rồi, trong có vài ngày – nhưng lần nào cũng do nguồn tin của Pháp. »
«Vậy là nguồn đó bị vẫn đục rồi chứ gì?
Không sao! Cuộc đánh cá vẫn còn hiệu lực nếu òng muốn. »
«Tôi cá chứ … Và tôi cũng kiểm lại báo cáo nữa. »
« Ông sẽ thua, ông bạn ơi. Bởi vì ông phải thua. Ô, tôi biết là chúng tôi đã phạm phải những lỗi lầm ở đây! Chúng tôi đã phải trả giá rất đắt vì những lỗi lầm đó. Nhưng mà các ông còn chậm hiểu hơn là chúng tôi. Không ai có thể chận đứng được cách mạng ở Á-châu. Nó từ đất mọc lên như cây cối ở đền Angkor Wat- những cây ăn thịt thành thị và mọc đầy lên thành thị đổ nát. Các ông có thể làm trì hoãn nó được nhưng rốt cuộc ông sẽ phải giảng hòa với nó … Hãy nhớ như vậy! Các quân đội đều chết, voi chết, áo giáp gì cũng rỉ và
sau rốt, cây cối ăn thịt thành thị! »
Nói xong hắn quay đi và để mình tôi nhìn ra khu vườn và bong dáng thù nghịch của những cây soài. Rồi giọng nói thản nhiên của chủ nhân chen vào sự mơ màng của tôi.
« Một gã thông minh đấy chứ? Khá dễ chịu khi hắn muốn như vày. Nhưng có lẽ hơi gay gắt, ông đồng ý không? »
Suốt năm ngày sau đó tôi sống trong một thế giới khác, thế giới của người cầm súng chiến đấu, của người lính bộ binh, của người phi công phóng pháo cơ, của nhân viên phi hành trực thăng và của những chiến sĩ dầy dạn đơn độc, gầy như rừng già của Lực lượng Đặc biệt. Tôi di chuyển bằng phi cơ vận tải, trực thăng võ trang và xe jeep. Tôi đã lội qua bùn đỏ, rác rưởi nông trại và các suối. Tôi đã bay với chiến đấu cơ hộ tống ngay dưới phía Nam vĩ tuyến mười bẩy và tôi đã nhìn qua các đỉnh núi xuống cứ địa của Hồ-chí-Minh. Tôi bay sát biên giới Lào và Cam-bốt, nơi mà các sông ngòi đều cháy về phía Tây cho đến khi con sông Cửu-long mãnh liệt đổ ra phía Đông vào biển Nam-hải. Các địa danh nghe như một điệu nhạc Đông-phương quái gở, át tiếng động cơ ầm ầm – Hương-hóa, Bầu-đôn, Bù-đốp, Quản-lợi, Tân-châu, Châu-đốc và mũi Cà-mâu.
Tôi đi đâu cũng có thiết giáp che chở – trên không thì có chiến đấu cơ, dưới đất thì có bộ binh, thiết vận xa võ trang và trực thăng bay trên. Đại-tướng Tolliver muốn ăn chắc mà. Tôi là đại diện của Hoa-kỳ, người do Tổng-thống chỉ đích danh – một giải thưởng quý báu cho bất cứ tên chỉ huy du kích nào dám cả gan bắt. Ngồi trong trực thăng họ mặc cho tôi một áo giáp chắn đạn và đặt một tấm thép dưới phía lưng tôi để che chở xương. sống và hạ bộ tôi khỏi bị đạn dưới đất bắn lên qua vỏ kim khí mỏng của trực thăng. Tôi đã đứng trong một đồn quân đã chiếm được và thị sát vũ khí của Trung-cộng, Tiệp-khắc và Nga-sô, và thê thảm hơn, là của chính các cơ xưởng quân cụ của chúng ta .. Tôi đã thấy những xác Việt-cộng nắm phơi nắng, ruồi bu đen trên các vết thương. Trông họ nhỏ nhắn nước da nâu và quần áo tả tơi nhưng lực lưỡng và được nuôi dưỡng khá. Các báo cáo hành quân tịch thu ở người họ đều chính xác và chuyên nghiệp. Họ đều là những người lính hăng say, giỏi về chiến thuật của cuộc chiến tranh bất chính này.
Trong một buôn trên núi, giữa đám người Thượng sơ khai và bọn đàn bà cơn gái ngực trần của họ, tôi nói chuyện với một Thiếu-úy đang huấn luyện cho họ về hành quân tảo thanh chống quân giặc ở phía Bắc. Với Tolliver luôn luôn ở bên cạnh, tôi rảo bước qua nhữug ấp chiến lược với chiến lũy đắp bẳng bùn và những hàng rào tre vót nhọn. Trong những trạm y-tế thô sơ ở đó, trẻ con đang được tiêm trừ đậu mùa và dịch tả trong khi những người Mỹ trẻ vừa chân ướt chân ráo ở trường Đại-học ra dậy họ cách chôn rác rưởi, tháo nước cho đồng khô, trồng khoai lang và cấy hải-song đỏ để giết chuột làm hại mùa màng của họ.
Tôi đã thân hiểu biết được những vấn đề của một bộ Tư-lệnh quân sự bị chia rẽ, những sự ghen tị của các cấp chỉ huy hành chánh địa phương, các tỉnh trưởng và sự bất mãn của các sĩ quan hành quân mà trận tnyến của họ là ruộng lúa cạnh bèn và họ có thể phải chờ đợi quân tiếp vận cả mười tiếng đồng hồ bởi vì các hệ thống vô tuyến làng xã bị hư hỏng hay bởi vì nghĩa quân tại địa phương không dám di chuyển ban đêm vì sợ ma!
Tại Cái Nước, tôi đầ thấy cảnh hoang tàn khủng khiếp sau một trận tấn công của Việt-cộng, một đống xác người bị đốt cháy xém – đàn ông, đàn bà và trẻ con – và hai mươi lăm người xác sơ còn sống sót lại của một Đại đội đồn trú. Đó là một bài học tàn nhẫn về tính chất của cuộc chiến tranh này, một bản cáo trạng kết án sự âm mưu và bất lực chính trị. Hèn chi mà người dân trong xã ấp và người dân quê đã sần sảng để tự thích ứng với hoàn cảnh – và kệ thây những tướng lãnh và những ông quan!
Tuy vậy đó mới chỉ là một phần câu chuyện. Mặc dầu tất cả những khuyết điểm cá nhân của ông, Phùng văn Cung trong vòng chưa đầy mười năm đã đặt được một khuôn khổ lớn lao cho sự tái thiết đất nước. Dù rằng dưới áp lực chiến tranh hiện nay, khuòn khổ đó vẫn còn vững chắc. Nông nghiệp đang được chấn hưng, thương mại và kỹ nghệ đang bành trướng. Y tế xã hội đang được giảng dậy trong mỗi ấp và sự thông tin cho quần chúng bằng vô tuyến truyền thanh, báo chí và các máy ronéo trong mỗi xã hiện đang đưa đám dân
quê gần gũi hơn với thế kỷ hai mươi. Cho rằng những phương pháp ông xử dụng đều cứng rắn đi, nhưng cứng rắn đâu bằng những phương pháp của Bác Hồ đã có lần cộng tác với ông. Cho rằng đã có thối nát và tham những ở những địa vị cao đi, nhưng nền hành chánh công tại cấp dưới đã được xây dựng vững chắc trên nền tảng gia đình và đối với Á-châu, thế là hữu hiệu lắm. Người Việt là một chiến sĩ giỏi nếu được huấn luyện, trang bị đúng mức và do sĩ quan có kỷ luật lãnh đạo. Người chiến sĩ Việt không thiếu can đảm mà chỉ thiếu tin tưởng ở các cấp chỉ huy và thiện chí của Bộ Tổng Tham-mưu. Người chiến sĩ Việt cũng khéo biến chế nữa. Tòi đã thấy những khẩu các-bin và súng lục, ngay cả đến một khẩu Lee-Enfield nữa, được chế tạo trong những lò rèn ở thôn xã. Tôi cũng thấy hãnh diện vì phẩm chất của chính những chiến binh của chúng ta và sự tận tâm của nhân viên các đoàn Dân sự vụ và các đơn vị của phái bộ viện trợ rải rác khắp đó đây đã cùng chia xẻ sự sinh hoạt với dân chúng và không quản nguy hiểm, gian khổ đã mang lại cho họ kiến thức về một nền kỹ thuật tân tiến hơn.
Mỗi buổi tối sau khi cơm xong, tòi cùng ngồi với Đại-tướng Tolliver và các vị chỉ huy địa phương của òng để cùng họ duyệt lại những biến cố và nhận định về ngày hôm đó. Thật là một kinh nghiệm cải huấn ngồi nghe những người quân nhân già đời đó nói chuyện và cảm thấy mối thiện cảm và sự hiểu biết của họ đối với đám dân chúng mà họ đã đến để phục vụ. Họ không phải là những người chua chát – mặc dầu chỉ Thượng đế biết rằng họ có lý do để chua chát! Họ phàn nàn rằng các cuộc hành quân đã bị áp lực chính trị làm cản trở; rằng Tổng-thống Cung không ưa thích những bảng liệt kê tổn thất và không muốn tung ra những cuộc hành quân tấn công mãnh liệt và liên tục; rằng không ai muốn hành quân ban đêm cả và Tỉnh-trưởng thì hợp tác với các vị chỉ huy quân sự một cách miễn cưỡng. Nhưng đối với đám thường dân thì họ có nhiệt tình và được hoan nghênh và họ để hết mình vào những nỗ lực vượt khỏi phạm vi quân sự. Mới đầu thì chính Đại tướng Tolliver cũng dè dặt vì điều dễ hiểu là ông ngờ vực mọi chuyện chính trị. Nhưng sự tiếp tục cuộc viếng thăm đã khiến chúng tôi trở nên thân mật với nhau. Ông cũng có nỗi bực dọc riêng của ông vì đã quá nhiều lần ông bị bó buộc phải đưa ra những lời tiên tri về quân sự để làm thỏa mãn Ngũ-giác-đài và các ông Thượng-nghị-sĩ sang viếng thăm. Theo ý ông thì tất cả những lời tiên tri đó đều vô nghĩa. Bao lâu chúng ta còn sẵn sàng để đưa thêm người và vật liệu vào, bao lâu chúng ta còn sức mạnh không quân và Đệ thất Hạm đội thì chúng ta
vẫn có thể duy trì được một cuộc hành quân ở miền Nam Việt-nam trong một thời gian lâu dài. Nhưng ta không thể thấy được sự kết cuộc hay đưa ra được một hành động qui mô nào có tính cách quyết định cả; và chắc chắn không có hy vọng chiến thắng. Đại-tướng Tolliver có nêu lên một điểm đáng lưu ý mà tôi đã ghi lại chi tiết.
« … Có điều mà thiên hạ thường quên là chúng ta đang đương đầu với một trong những chiến lược gia quân sự lớn nhất hiện đại, Đại-tướng Võ nguyên Giáp. Giáp là người đặt kế hoạch và thực hiện – vâng, phải như vậy-sự sụp đổ của Điện-biên-phủ. Hắn đã biết là Pháp theo truyền thống vẫn ưa thích trận địa chiến cố định. Do đó hắn đã để cho De Castries tập trung mười hai ngàn quân dọc theo thung lũng một con sông với hai đường bay ở chính giữa. Họ có đủ phương tiện cần thiết-liên lạc hàng không, pháo binh nặng, chiến xa … đủ thứ! Họ cũng biết rằng Giáp không có pháo binh và thiếu đồ tiếp tế. Bởi vậy trông như chuyện quá dễ ăn. Một hành động duy nhất, cồ điển, có tính cách quyết định – và bùm một cái, thế là xong! Nhưng người Pháp không có tính đến Trung-cộng. Bọn chúng cho Đại tướng Giáp hai trăm khẩu sơn pháo. Giáp chỉ thị cho tháo rời những khẩu pháo ấy ra và chuyên chở từng bộ phận một trên lưng những người phải khai thông lối đi trong rừng rậm và có khi một ngày đi tới tám mươi cây số! Để tiếp tế lương thực cho bộ đội của mình, Giáp tổ chức một đoàn tiếp vận từng trạm gồm các lao công người Trung-hoa, mỗi người với một chiếc xe đạp chở nặng những bao gạo … Bọn họ đặt các khẩu pháo trên những đỉnh núi bao quanh Điện-biên-phủ, bọn họ đào những đường hầm bên dưới các cứ điểm của Pháp và trải một vòng đai sáu mươi ngàn quân bao vây thung lũng. Rồi các trận mưa kéo tới và quân Pháp không nhúc nhích đi đâu được! Trong vòng năm mươi sáu ngày, trận chiến đã kết thúc hoàn toàn … Giờ đây cũng tên Giáp đó đang điều khiển cuộc chiến tranh chống miền Nam Việt-nam. Đối với Giáp thì cuộc chiến tranh này vẫn là một bởi vì Phùng-văn-Cung chỉ là một con chó săn của đế quốc Mỹ! Nhưng Giáp quá khôn ngoan nên không còn dựa vào chiến lược cũ nữa. Hắn biết là chúng ta cũng sẽ không mắc mưu chiến lược ấy đâu. Hắn còn liều lĩnh dám tuyên bố chiến lược của hắn nữa. Ông đã nghe thấy đài Hà-nội nói đêm qua … «Kẻ thù sẽ từ từ bước từ thế công sang thế thủ và sẽ bị kẹt ở thế lưỡng nan: nó phải kéo dài chiến tranh để thắng nhưng nó lại không có những tài nguyên tâm lý và chính trị để chiến đấu lâu dài! » … Chắc ông đã để ý lối hắn nói. Hắn biết là các tài nguyên vật chất của chúng ta hầu như vô tận. Nhưng về phương diện chính trị thì đất nước này đã kiệt quệ lắm rồi … »
«Và đó là lý do khiến Cung luôn luôn nói về tâm lý nhân dân.»
« Đúng vậy … và nỗi bi thảm thực sự là chúng ta không thể làm được gì nhiều cho tâm lý hay cho chính trị. Bởi vì chúng ta vẫn chưa hiểu tâm lý và chính trị một cách hoàn toàn. »
« Nhưng mà Cung hiểu chứ? »
« Tâm lý thì, vâng. Nhưng chính trị sẽ đánh bại òng. »
« Vậy thì ai giải quyết được vấn đề chính trị cho đúng lúc? »
« Chắc không phải là những chính trị gia. »
Tolliver mỉm cười nói. «Hãy nhìn ngay chúng ta mà xem! Trận đánh cuỡi cùng của cuộc Nội chiến riêng của chúng ta đang diễn tiến vì vấn đề kỳ thị! Và thử xem ai vẫn tiếp tục trận đánh? Cũng một loại người như ông đã gặp ở đây, bọn chính trị gia, bọn tham nhũng và bọn đục nước béo cò …
Thôi ông Đại-sứ, xin ông đi nghỉ. Sáng mai chúng ta quay về Saigon. »
Đêm hôm đó, tôi thức nằm nghe tiếng ếch kêu trong các ruộng lúa kế bèn và tiếng chân bước nhịp đều và trấn an của lính canh. Trước đây tôi đã hy vọng là cuộc viếng thăm các vùng chiến trận sẽ cho tôi được một đườug lối tư tưởng mới về cuộc khủng hoảng. Nhưng không, tôi thấy tất cả các đường lối đều quy tụ vào một người, Phùng văn Cung và một vấn đề, liệu ông có nắm giữ được quyền hành đủ lâu để hoàn tất cái công trình mà ông đã khởi sự một cách tốt đẹp như thế không. Giờ đây tòi đã đích thân nhìn thấy những vấn đề của ông. Tôi cũng đã nhìn thấy cái hình dạng vĩ đại của kế hoạch ông vạch ra cho xứ sở. Ông là một người xây dựng và ở nơi thôn dã, người ta dễ cảm phục công trình của ông nhiều hơn là ở trong phạm vi một đô thị giả tạo và chán chường. Cũng ở nơi thôn dã, sự tranh chấp giữa người Phật-giáo và người Ki-tô giáo ít lộ liễu hơn.
Ở một vài nơi không có cả sự tranh chấp nữa bởi vì con người giản dị, ngu dốt và thỉnh thoảng lòng bác ái của nhà sư cũng giống như của nhà truyền giáo. Tuy nhiên có một điều đã trở nên rất rõ rệt đối với tôi nếu là ông Cung không chịu tự mình đi gặp nhân dân để qui tụ sự trung thành của họ vào chính cá nhân mình thì tất cả bộ máy kiểm soát và phát triển của ông sẽ không có ích gì cho ông cả. Ông rất có thể bất động hóa được những người hùng chống đối ông trong một thời gian nhưng ông không thể xây dựng được cái gì với những
viên chức hạng tồi không có một chút tâm trí nào để vào những cộng đồng của đất nước hay những sắc dân dị biệt họp thành số dân cư.
Vậy làm sao đây? Tôi là người giữ cho cán cân thăng bằng. Tôi sẵn sàng ném cả sức nặng của tôi về phía Cung Nhưng ông đã ngờ vực tôi và bác bỏ lời khuyến cáo của tôi. Và treo trên đầu tất cả chúng ta là hình bóng của Đại tướng Giáp, tay kỳ thủ bậc thầy từ phía Bắc nhìn xuống và thấy trọn được cả bàn cờ, biết những con cờ là ai, ai là những con xe thí mạng và khi nào thì những sĩ, tượng tan rã vì chiến lược kiên nhẫn của mình. Về mặt pháp lý thì lập trường của tôi thật là minh bạch. Tôi không có quyền gì phê phán Phùng-văn-Cung hay qui định điều gì cho tương lai chính trị của ông. Thật ra thì áp lực của những biến cố và hoàn cảnh đang cưỡng bách tôi vào vị trí một nhà trọng tài cho định mệnh của ông. Cùng một lúc, tôi vừa là quan tòa, vừa là bồi thẩm, vừa là biện lý và luật sư bào chữa. Vâng, tôi là chủ ngân hàng của ông. Nhưng một ông chủ ngân hàng có thể đòi hỏi được gì hơn ngoài một sự bảo chứng xứng hợp với số tiền mình cho vay?
Tôi là cố vấn của ông, nhưng nếu ông không được tự do bác bỏ lời khuyến cáo của tôi thì tôi lại hỏa ra kẻ tiếm quyền … Và tuy vậy, và tuy vậy … Tôi chẳng là cái gì cả. Tôi là một công bộc ăn lương của đất nước tôi, một đại lý cho những chính sách của nước tôi, hay hoặc dở. Nhưng Tổng-thống tôi đã bảo tôi, «Anh còn hơn là một công bộc và hơn là một nhà đại diện. Anh là mắt của tôi, tai của tôi và lưỡi của tôi. Tôi tin cậy nơi anh hành động thay thế tôi và chấp nhận hoặc là những vinh dự của thành công hoặc là những sự thua thiệt của thất bại.» Vậy là tôi lại trở về hầu tòa, với số phận của một người và một nước treo trên sự tuyên án của tôi.
Qua những cánh đồng lầy ở phía đẳng xa, tôi nghe thấy tiếng súng nổ lẹt đẹt. Rồi im lặng trở lại, chỉ khuấy động bởi tiếng ềnh-ương kêu ồm ộp và tiếng chân bước làm yên dạ của những người lính canh trong vòng rào kẽm gai.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.