This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Hai tay chắp sau mông, bác sĩ Hai đếm bước trên gạch, giữa hai hàng sập trong một “phòng chung” của dưỡng đường Chợ Rẫy.
Bác sĩ lớn người, mập và trắng. Hai cánh tay to, nặng những thịt bệu, thò ra khỏi chiếc “bờ lu” ngắn tay, chừng như mỏi vì đặt mãi sau lưng, được đem ra phía trước, khoanh lại trên ngực.
Người bịnh ở phòng thì cứ ăn cơm, coi như là không có bác sĩ nơi đó, vì họ đã quen với sự đi dạo của bác sĩ giờ nầy trong phòng, y như là ngày hôm qua, hôm kia, những hôm trước nữa. Có một người bịnh mới vô, ái ngại, lén nhìn bác sĩ, rồi không thấy ông ta rầy la gì ai, lại an lòng cúi xuống ăn tiếp.
Bác sĩ không có phận sự xem xét bữa ăn của bịnh nhơn, cũng không có tánh tò mò muốn quan sát cảnh thân mật của người nghèo. Trong dưỡng đường Chợ Rẫy có tục lệ thăm bịnh sớm lắm – sớm đến nỗi muốn cho “đâu đó xong xuôi đàng hoàng” những người quét dọn, mới năm giờ sáng đã lôi tốc người bịnh dậy để vén mùng, lau gạch, đổ ống phóng và những “thầy khán hộ học trò” mới năm giờ rưỡi sáng đã lo đi lấy nhiệt độ, gây nên sự chộn rộn, phá giấc ngủ đang ngon của người bịnh mới lành hay của người bịnh nặng trằn trọc suốt đêm, mới chợp mắt được một đôi giờ – Vì vậy bác sĩ được rảnh rất lâu trước giờ tan buổi làm, và không biết làm gì trong lòng giấy, nên vào phòng bịnh giữa những bữa ăn – cũng lại rất sớm, dầu người bịnh chưa nghe đói – để cho người giúp việc “xong mọi việc” trước khi hết giờ làm.
Bác sĩ không thích đọc sách, cũng không có một đời sống bên trong phong phú. Ông tìm đến chỗ đông người đặng trốn sự trống rỗng và, không cần nói chuyện với họ, hay nhìn họ, nghe tiếng chén đũa khua, nghe họ râm ri là đủ cho bác sĩ thấy đỡ chán hơn là ở nơi văn phòng tịch mịch của ông.
Người bịnh thì ăn cơm ngay trên sập của mình. Phần đông ăn riêng. Có vài người chung đậu đồ ăn lại. Đó là những người thảo ăn cứ mời mọc nhau mãi như là đãi khách. Có người đem phần ăn lại ngồi chung một sập với người khác, mà vẫn ăn riêng. Đó là những người “thống nhất mà phân trị” vậy.
Không hiểu sao hôm đó bác sĩ lại dừng bước trước sạp của hai người “phân trị”. Có phải chăng vì hai chiếc áo màu dà của hai anh “cu li cao su” nầy đã buông một tiếng đàn lạc điệu vào bản nhạc y phục đen tối của phòng thi nầy? Không biết. Nhưng một cảnh tượng khiến bác sĩ không tiến bước được nữa.
Một anh “cu li” thừa lúc bạn đồng sàn ngó lơ, gắp bớt giá xào tóp mỡ của bạn bỏ vào dĩa mình. Nửa phút sau đó, nạn nhơn thấy bạn nhìn bác sĩ, cũng lại gắp giá xào tóp mỡ của bạn, rồi chôn dưới cơm. Người sau nầy có lẽ cũng tham ăn, chớ không phải trả miếng – nói cho đúng là lấy lại miếng – vì anh ta thật không hay hành vi của bạn hồi nãy.
Bác sĩ bật cười. Bịnh nhơn ngơ ngác buông đũa nhìn. Bác sĩ nhớ lại một chuyện đời xưa nói anh em nhà kia đêm đến lén lén ra đồng vác lúa cho nhau. Bác sĩ ngạc nhiên không hiểu sao người mình tham ăn đến thế và tham ăn cả những món không ngon đến thế. Ông nhớ lại ở làng, hễ nhà ai có động dao, động thớt là tức thì có người bu đến, cà rà, tìm công việc để làm, nói là giúp, nhưng thâm tâm họ quyết chờ những miếng thịt của con heo người ta đang thọc huyết bên hè.
Bác sĩ trề môi, khinh bỉ hai người bịnh, hay bọn nhà quê mà bác sĩ nhớ đến? Rồi không suy nghĩ thêm nữa cho niệt trí, bác sĩ lại đếm bước trên gạch.
Câu chuyện trên đây đã xảy ra mười lăm năm nay rồi. Nhưng cũng cần nhắc lại.
Bác sĩ đương ở nơi đâu, tại nhà ai, nhà ra sao, ông không rõ. Ông chỉ biết mình đang đứng trước chảo cơn chiên. Ông vừa với tay lấy chén để xúc cơm thì một thằng nào đâu không biết, xờn xợt chạy đến đá đổ chảo cơm. Sự tức giậu toan bùng ra bằng ít lắm là một cái bạt tai thì bác sĩ giựt mình thức dậy.
Bác sĩ còn đang tiếc bữa ăn hụt, mặc dầu biết rằng đó chỉ là bữa ăn trong mơ, thì bỗng nghe vang dậy tiếng chào cờ đằng trụ sở bên cạnh nhà ông ở đậu:
… Non sông ơi, cờ theo gió bay càng cao…
Cùng với nắng sớm, tiếng hát reo tươi trên lá xanh, khiến bác sĩ nghe thèn thẹn, nhận thấy tật ngủ trễ của mình có cái gì chọi với đám người trẻ không yên kia, đã dậy cùng với mặt trời. Nhưng đó chỉ là một ý nghĩ lẩn lút thôi. Vụ hụt ăn lại trở về ám ảnh bác sĩ. Ông nhớ thuở nhỏ thường chiêm bao thấy ăn kẹo, bánh trái. Nhưng không lần nào được ăn thiệt. Luôn luôn có một thằng, một con gì, hay lột tiếng động đến rất đúng cái giây phút sắp đưa đồ ăn vào miệng như là có ai quyết tâm cản trở ông ăn trong mơ.
Mấy bà cụ quả quyết rằng “ai” đó là ông thần hộ mạng của mỗi người. Quỷ sứ nó dụ mình ăn. Ăn là chịu theo nó. Bác sĩ bực tức cằn nhằn thầm:
– Mà ai cần hộ mạng chớ. Chết bỏ, miễn là được ăn thôi. Ăn giả, phải. Nhưng cần gì giả hay thiệt. Mình có đói đâu mà cần no. Mình chỉ thèm và cần thỏa cái thèm.
Phải bác sĩ thèm, thèm thịt, hay ít ra cũng món gì chiên xào bằng mỡ, hay tệ lắm là mỡ nước chan cơm ăn, chắc cũng ngon trong lúc thèm nầy.
Một tháng nay, bác sĩ nghe lời “mấy đứa nhỏ” con ông, tản cư vào vùng quê. Trong buổi hỗn độn ban đầu, việc tiếp tế lương thực cho dân chúng thật là bết lết. Ai có cái gì cũng muốn giấu để ăn, vì không biết thời cuộc kéo dài đến bao giờ. Và không ai dám đi đâu để mua cái gì về bán hết.
Sau một bữa ăn kia, trong tuần lễ đầu đi tản cư, bác sĩ nghe thiêu thiếu cái gì. À, một món tráng miệng. Ban đầu ông tính dẹp cái thói quen phiền phức ở thành ấy lại (vì ông cũng biết tự thích nghi với tình thế chớ không quá câu nệ lắm). Nhưng nỗi nhớ mọi người “la sét” lần lần biến thành sự thèm cái gì ngọt, cục đường thẻ cũng được, thứ đường đỏ sẫm lộn rác và bụi mà trước kia không bao giờ ông mó đến. Cái thèm gào hăng quá, bác sĩ thấy nó là sự đòi hỏi về sanh lý hơn là sự nhắc nhở của thói quen. Bác sĩ lẩn thẩn tưởng tượng những biến thể, những trao đổi, những điều hòa bí mật của sanh lý trong các bộ máy của thân ông; ông cử động, máy phải quay; ông muốn quay, nó cần phải có chất đốt; chất đốt đó là đường. Rồi ông đâm hoảng. Sau những suy tính của một nhà khoa học, sự thèm ngọt đã biến thành nỗi lo âu về thiếu chất cần cho cơ thể. Và con người rất thương thân thể của mình nầy bươn bả đi kiếm đường.
Lạ, sao cái món ăn rất thường ấy ở nhà, giờ nào cũng có, tiệm nào cũng bán. Thường quá rồi, có khi người ta quên rằng có nó trong đời nầy. Và không ai gọi nó là món ăn bao giờ. Còn bây giờ ở đây sao lục lạo mãi không ra. Giá nào ông cũng dám mua kia mà. Bác sĩ Hai tính lầm thầm:
– Nếu mua được thứ bánh ít (ích) bột khoai báng, lền xơ khoai, mình cũng sướng chán.
Rồi ông đâm tiếc những trái chuối nẫu (thúi, nát) ruột mà trước kia ông chê. “Chuối? ờ, cái gì cũng được. Miễn ngọt thì thôi chớ. Người ta đồn bên xóm Bà Miệng, mía nhiều, mình qua đó thử coi”.
Bác sĩ Hai đạp rạp rạ khô, đi dưới nắng tháng chạp. Gió đồng dán vào lưng ông vạt sau của chiếc áo bà ba vải đen mà ông phải mặc như những người khác. Vải gặp mồ hôi dính sát vào da. Trong ánh nắng rung rinh, hơi trên lớp vải bốc lên nghi ngút. Bác sĩ bây giờ tóc đã hoa râm, bụng lớn lên và phệ ra. Ông rất phiền phải lặn lội cực khổ vì một món không ra gì. Rồi ông oán “sấp nhỏ” đã xui dại ông. Nào ông có tính tản cư làm chi cho khổ thân. Nhưng “sấp nhỏ” nó cứ nhát: “Tụi con, ba đứa đều làm việc hết. Ba không đi nó sẽ bắn Ba, bỏ tù Ba”. Thế là ông hoảng, gởi bà và đứa con nhỏ về Sàigòn, còn mình thì chạy đến làng nầy, và bây giờ phải khổ đủ thứ!
Khi bác sĩ đi ngang qua nhà kia, ông nghe tiếng một người trai trẻ hỏi lớn:
– Mầy làm gì mà hè lụi trong buồng vậy a Lịch?
– Tao làm “công tác đào đường”.
– Thằng nói lạ, đào đường gì mà đào trong buồng?
Lạ thật, bác sĩ đứng lại chờ nghe tiếp. Một phút sau nghe tiếng người trai trẻ hồi nãy rùm lên:
– Tụi bây ơi, vô mà coi. Nó đào đường thiệt chớ. Mà đều thứ đường khạp làm ở Biên Hòa.
Bác sĩ quên lễ độ, cười lớn lên với những người trai trẻ trong nhà. Nhờ trận cười ấy mà bác sĩ làm quen được với họ và khỏi phải đi xa. Và từ đó biết chỗ mua đường.
“Ai mà cần ai hộ mạng chớ”, bác sĩ tức tối cằn nhằn với mình; bác sĩ đã bị thịt, bị mỡ ám ảnh. Từ ngày bị cướp ở làng bên cạnh, bác sĩ hết tiền, trôi dạt qua đây, nhờ một người bà con cho mượn chút ít, bác sĩ phải ăn hà tiện cho đỡ tốn. Không đến đỗi chết đói, nhưng cũng không no lắm. Nhứt là mấy ngày sau đây số tiền đã cạn mà người bà con lại bị Tây bắt mất. Không biết ai đó ở đâu, và hồi nào vì sự tình cờ hay nhờ tìm tòi, mà đã phát minh ra rằng ăn cơn với mắm ruốc cùng đường ngon tuyệt. Rồi như một dây thuốc pháo bị cháy lan, nghệ thuật ăn của phái “mắm ruốc đương” được phổ cập khắp các làng. Vả không hoan nghinh mắm ruốc cũng không có gì khác mà ăn, vì người nào cũng hết tiền, còn thịt heo thì mắc như vàng.
Một và cơm, một quệt mắm, một miếng đường tán nhỏ, cái thành phần kỳ dị của những miếng ăn ấy đối với bác sĩ chỉ “ngon tuyệt” bữa đầu thôi. Mấy bữa sau ông nghe xót ruột như đã uống át-pi-rin không ngâm tan trong nước. Ông thề nguyền khi trở về, không bao giờ dám chê ngán những đĩa ra-gu, những miếng sườn ram nữa.
Bác sĩ triết lý:
– Thèm ngọt không nằm chiêm bao. Thèm thịt thì nằm. Vậy cơ thể đòi thịt hơn là đòi đường.
Ông nhớ lại cái chết tội nghiệp trong nhà thương của những người bịnh thương hàn mới khỏi. Nhiều người rất biết nỗi nguy nếu ăn khi mới vừa khỏi, nhưng vẫn ăn bừa chỉ vì thèm, đói quá. Ăn rồi lăn đùng ra khóc không phải vì đau đớn, mà vì hối hận, hoảng sợ cái chết đến nơi trong vài giờ.
“Thịt kho tàu, khổ qua hầm, cũng ngon chớ – không hiểu vì một ý bắc cầu nào mà bác sĩ nhảy từ người bịnh thương hàn chết oan đến vụ thịt kho – mà sao cho bằng “cay xôi cấy”, “hà khàu”, “phù dùn hại”. Cá hấp tương với đồ Tàu cũng ngon. Nữa mình về, mình sẽ đi ăn hai ngày đồ Tây, hai ngày đồ Tàu, ba bốn ngày mì chả giò, hủ tiếu xào, xíu mại, bánh bao”.
Bác sĩ thở dài, rầu lòng nhớ lại ý muốn trốn về thành mà không được của ông. Chung quanh ông toàn là thanh niên vác tầm vông canh gác. Một con chó cũng không lọt qua. Còn cái làng gì ở biên giới thành ấy, nghe họ nói gác dày mịch như màn sắt mà ghê. “Nghĩ mà tiếc của cải mấy mươi năm gây dựng, không biết nữa còn chút ít gì không. Còn ba đứa lớn, thằng Minh, thằng Công, con Hà, chúng nó sẽ học dở dang, thua sút đám con ông huyện Cần”.
Bỗng bác sĩ Hai ngồi tốc dậy sần sượng với ai:
– Mà ai cầu ai hộ mạng chớ?
Bác sĩ lững thững lại tiệm cà phê. Tiệm cà phê đây là một chòi tranh mà chủ nhà, một dân quê có óc con buôn nhìn thấy bao nhiêu người lạ mặt tựu về, người nào cũng ghiền cà phê, bèn chụp ngay cơ hội tốt, mở tiệm. Mặc dầu vợt làm bằng vải áo cũ, và cà phê có mùi cơm cháy, khách vẫn đông, nhứt là những ông đằng đình, cái đình làng dùng làm trụ sở.
– Bà chiên gì mà thơm dữ vậy? Bác sĩ hỏi chủ quán.
– Tôi ram thịt để bán.
– Thịt ram ăn với gì?
– Cuốn bánh tráng.
– Trời! sớm mai, ai mà ăn bánh tráng cuốn thịt ram.
Nói vậy nhưng bác sĩ vẫn hỉnh mũi hít mùi thịt chiên. Ông cố hít nhẹ cho bà chủ quán không nghe thấy và hít dài để tận hưởng.
Bác sĩ mò tay vào túi, rồi nét mặt ông xịu xuống, không phải vì thất vọng, mà vì rầu. Ông men lại chảo thịt chiên. Đây là một mớ thịt phay, mỡ chiếm tám phần mười trong mỗi lát thịt. Thịt đã ram vàng, mỡ thịt thắng ra lênh láng.
– Tôi nghe như là thịt hôi, phải không bà?
– Hôi gì mà hôi. Thịt chiều hôm qua đó.
– Tức quá! Tôi thử coi.
Nói đoạn bác sĩ lấy đũa gắp một miếng, đưa lên mũi. Ông làm bộ như chưa đánh hơi ra mùi thật của nó, thổi sơ vào miếng thịt rồi cắn một miếng.
Mùi thịt ram mơn trớn mũi ông Hai, chọc những hạch nước miếng hai bên hàm dưới ông. Và ông lắng nghe nơi bao tử, một thứ nước gì tiết ra.
– Hay là mình ăn chịu? Không được. Họ không tín đám người lạ mặt cứ lưu động mãi nầy. Không lẽ ăn bừa rồi tới đâu sẽ hay. Chậc! Cũng không còn cái đồng hồ để cầm đỡ. Bây giờ làm thế nào ăn được món thịt ram cuốn bánh tráng? Thật là cả một bài toán đố khó giải lý.
Chợt có người bước vào, bác sĩ Hai rất mừng khi nhận thấy người còn trẻ ấy là người quen cũ ở thành.
– Anh giúp ban tuyên truyền?
– Thưa phải. Hổm nay hai anh Minh, Công và chị Hà có về thăm bác không?
– Sấp nhỏ nó đi đâu mất, tôi lo quá.
Dạ thưa còn bác có giúp đâu chưa?
– Ôi tôi già rồi…
Người con trai tên là Tương nầy kêu bánh tráng cuốn thịt ram.
– Dạ thưa bác, món nầy, hồi ở nhà có mấy thuở mình ăn, nhứt là sớm mai. Mà sao giờ ăn ngon lạ.
Bác sĩ Hai mỉm cười một cách cố thản nhiên. Ông theo dõi từng cử chỉ của Tương. Hai hàm răng bén của người trẻ cắn đứt ngon cuốn thịt, đôi môi khép lại, che giấu cái bã đồ ăn đang nhai.
– Cháu vô phép quá. Xin lỗi, bác đã điểm tâm rồi?
Bác sĩ còn một chỗ nước miếng trong họng, vội nuốt để trả lời. Nhưng bác sĩ giựt mình e thẹn nghe tiếng nuốt nước miếng của mình lớn quá. Lại mớ nước miếng nữa dồn đến. Nuốt đánh ực nữa thì sợ Tương nó nghe biết, nó cười thầm. Còn để vậy thì nghẹt họng, đừng nói chi trả lời, nội cái việc thở mà còn không thông, bác sĩ bưng tách cà phê lên, làm bộ uống nốt những giọt đã cạn tử hồi nào, nuốt trôi được mớ nước miếng và rất bằng lòng thấy sao mình lanh trí được như vậy.
Thấy rằng nếu làm bộ chê món thịt cuốn thì thất sách, bác sĩ ấp úng:
– Tôi vừa ăn xong cũng món độc nhứt đó.
Nhưng bác sĩ hối bận ngay. Ờ, mình đã ăn rồi thì còn ma nào nó mời nữa.
Tương không mắc cỡ miệng, mặc dầu bác sĩ nhìn anh trừng trừng. Sau những cái nuốt, anh thè lưỡi biếm môi mỡ và đánh lưỡi một cái “chách” lên đốc giọng. Bỗng một miếng mỡ rơi xuống đất. Bác sĩ nhìn theo vừa tiếc hùi hụi thì một con chó vện chực sẵn đâu dưới ấy hồi nào không biết, táp phập ngay lấy.
Nhìn sự chụp giựt của con chó đói nhà quê, nhìn lại mình, một niềm tủi nhục mênh mông bỗng dâng trào lên, vặn thắt trái tim không bao giờ biết thổn thức của bác sĩ lại.
Bác sĩ cúi gầm mặt xuống chiếc bàn cũ. Trong giây phút những hình ảnh xưa ở đâu hiện về, chớp nhoáng; hai người bịnh nghèo ăn cắp giá xào lẫn nhau, mười lăm năm về trước, những người nhà quê bu quanh một cái hòm, ăn nhậu; những miếng thịt heo đút lò cả chồng mỡ, trong đình làng…
Bị kích thích mạnh, óc bác sĩ Hai làm việc chóng và nhiều hơn bao giờ hết.
– Tại sao họ tham ăn, tại sao mình thèm ăn quá như vậy?
Câu trả lời đến ngay trong trí bác sĩ.
Sự thật nảy ra như tia lửa trong một buổi sáng thèm thịt làm ông ta lảo đảo. Ông nghe cả một sự sụp đổ trong người ông. Sự sụp đổ của nhơn sinh quan sẵn có của ông.
Sự thật đầu tiên, đến tóc bạc hoa râm ông mới tìm thấy.
Rồi ba chơn, bốn cẳng, ông chạy ù về nhà, miệng lẩm bẩm:
– Thôi không thèm trốn về nữa. Mình phải đi xin một việc làm mới được. Phải mà, người mình không tham ăn sao được!
Hồi hai thập niên 30 và 40, mấy cô mấy chú của tôi thường hát nhạc Tây lời Tây. Mấy bản do Tino Rossi, Albert Préjan, Lucienne Boyer được họ chiếu cố đặc biệt. Cô tôi vẫn ưa nhái theo nữ tài tử Joséphine Baker hát bài “J’Ai Deux Amours” trong các buổi họp bạn. Chú tôi vừa phì phà điếu thuốc Mélia vừa hát vừa huýt sáo bản “Une Chanson pour Nina” điệu bộ y chang như ca sĩ kiêm tài tử điện ảnh Tino Rossi. Ngoài ra, họ còn thích các bản dân ca cổ truyền như “Il Était un-Petit Navire”, “Chevaliers de la Table Ronde”, “Auprès de ma Blonde”, “Au Clair de la Lune” … Bài “Auprès de ma Blonde” (“Gần Cô Em Tóc Vàng của Tôi”) vẫn là bài trữ tình với những lời âu yếm thơ mộng như sau:
Dans le jardin d’ mon père
Les lilas sont fleuris (bis)
Tous les oiseaux du monde
Viennent y faire leur nid
Auprès de ma blonde, qu’il fait bon, fait bon, fait bon!
Auprès de ma blonde, qu’il fait bon dormir!
Còn bài “Chevaliers de la Table Ronde” tuy là hành khúc nhưng vẫn là lời bát ngát men rượu bồ đào:
Si je meurs, je veux qu’on m’enterre
Dans une cave où y a du bon vin
Dans une cave! Oui! Oui! Oui!
Dans une cave! Non! Non! Non!
Dans une cave où y a du bon vin.
(Nhắc lại đoạn chót).
Các bài hành khúc của nước Pháp đều có lời phóng khoáng hoặc lời tình tứ trừ bài Quốc Thiều “La Marseillaise”. Còn bài nhạc hùng của xứ mình thì toàn những lời yêu nước, những lời nung chí phấn đấu tinh thần yêu nước, gầy dựng giang san, đoàn kết ba miền Nam Trung Bắc. Vào thời thanh niên yêu nước bắt đầu ló mòi chống Pháp, dẫu chưa có ai đặt nhạc, nhưng vẫn có người dùng bài tình tứ “Auprès de ma Blonde” để đặt lời Việt thật thiết tha như sau:
Anh em quyết tâm một lòng
Cảm thông một đích tối cao
Sao không giúp cho mọi người?
Người dân tâm chí lớn lao
Yêu dấu đất nước nhà ta
Trung với đất nước nhà ta
Dù rằng gặp nguy khốn, thề vẫn không ngã
lòng bao giờ
Dù rằng gặp nguy khốn, thề vẫn không ngã lòng,
người ơi!
Khi tôi bắt đầu học lớp dự bị bậc tiểu học thì tôi được nghe các thanh niên trong xóm hát bài “Cô Lái Đò Mơ” của Dzoãn Mẫn với những câu buồn rười rượi như sau:
Dừng chèo lại đây cô lái đò ơi,
Dừng chèo lại đây giây phút ngừng bơi
Cho tôi sang đến bên sông xa vắng
Rồi đây đôi ngả cách xa mình tôi.
Rồi sau năm 1945, trong lúc khắp ba miền Bắc Trung Nam chìm trong khói lửa ngập trời, tôi được nghe nhiều bản nhạc hùng khác. Tiếc thay mãi tới năm 1948 mới có những ca sĩ tài tử ca những bản nhạc hùng ấy và cho thâu thanh vào dĩa nhựa. Thuở đó, nhạc hùng và ngay cả một số đông nhạc du dương có lời xây dựng tinh thần yêu nước. Chẳng hạn bài “Dứt Đường Tơ” với tiết điệu êm ái làm rung cảm những tâm hồn lãng mạn, nhưng lời của bản nhạc lại nhắn nhủ quốc dân đồng bào nên từ bỏ những mơ mộng sầu tình để hưởng ứng
tiếng gọi non sông:
Tóc tang còn âm u trong gió
Thiết tha chi những nỗi hoài mong
Đàn lẻ cung thôi đừng buông tơ
Đắm hương tình khi đang giông tố.
Non nước đang tràn máu anh hùng
Đừng mơ ái ân, đàn ơi!
Dù là thứ nhạc được hâm mộ bởi thanh niên thuộc thế hệ trước thế hệ tôi hay dù là thứ nhạc phấn khích lòng yêu nước thích hợp cảm quan quần chúng, hoặc dù là thứ nhạc lãng mạn sầu tình, song thứ nhạc nào cũng tác dụng vào nội giới của tôi nhiều ý tình thật thiết tha. Tôi đi vào cõi tiết điệu và âm thanh bằng những rung cảm tuyệt vời, bằng hoài bão đóng góp cho bộ môn nầy mai sau, tuy tôi không biết ca hát, đờn địch hoặc sáng tác hòa âm gì ráo trọi. Nhưng tôi vẫn giữ niềm tin mai sau tôi sẽ “làm được cái gì” cho âm nhạc. Thì đây, công
việc kể truyện sự thăng trầm hưng phế của bộ môn ca nhạc há không phải là một sự đóng góp hay sao, dù là sự đóng góp yếu ớt và tiêu cực đi nữa?
Ở quyển nầy, tôi xin viết về bộ môn ca nhạc trên sân khấu Đại nhạc hội và viết về các giọng hát tân nhạc của các đài phát thanh, trong làng dĩa nhựa. Ở chương cuối, tôi sẽ viết chút ít về môn thoại kịch, về vũ bộ và viết luôn về các giọng diễn ngâm trong ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên do thi sĩ Đinh Hùng sáng lập.
Các bạn độc giả chắc sẽ chê rằng tác giả quá ôm đồm, bốn mâm xôi nhồi chung một chõ thì e rằng chẳng có món xôi nào ra hồn. Nhưng tôi biết làm sao hơn! Vì rằng tôi viết quyển nầy bằng hồi ức của mình, không có tài liệu tham khảo. Xôi dù có dở, nhưng vẫn đem lại đôi chút hiểu biết về các ngành ca vũ nhạc kịch cho những người yêu các bộ môn trình diễn từ thuở phôi thai cho tới ngày chung cuộc của miền Nam tự do là ngày 30/4/75.
Tôi không nhớ rõ tôi thích các bộ môn ca vũ nhạc kịch từ năm nào. Chỉ biết rằng, thuở đó tôi lên 10 tuổi thì phải. Tôi có dịp nghe nữ nghệ sĩ ngành ca kịch cải lương vốn gốc người Bắc tên là Ái Liên (mẹ của nữ ca sĩ Ái Vân bây giờ) hát thu thanh vào dĩa nhựa của hãng Béka một số bài Tây lời Việt. Sau đó, tôi lại có dịp nghe nhạc sĩ kiêm ca sĩ Đức Quỳnh hát những bản do chính anh sáng tác là “Nhớ Mẹ”, “Đời Tôi Một Bóng”. Hai bản nầy thu thanh vào dĩa Asia tròng trắng chữ lục. Tôi cũng được nghe Trần văn Trạch và Túy Hoa hát chung bài “Hứa Hẹn”, Trần văn Trạch đơn ca bản “Ba Giờ Khuya” của Đức Quỳnh và bản “Người Chơi Độc Huyền” của Lê Thương (độc huyền nói theo tiếng Bắc tức là đàn bầu — monocorde). Giọng hát của Trần văn Trạch và Túy Hoa được thâu âm vào dĩa nhựa Polyphone. Tiếp theo đó, vào năm 1948, các nữ danh ca Minh Diệu, Mộc Lan, Kiều Nga cùng các nam ca sĩ Mạnh Phát, Châu Kỳ, Vĩnh Lợi cộng tác với hãng dĩa Polyphone để thâu các bản như sau:
— Bản “Trầu Cau” nhạc và lời của Phan Huỳnh Điểu do Minh Diệu, Mạnh Phát và Vĩnh Lợi ca.
— Bản “Đàn Chim Việt”, nhạc và lời của Văn Cao do Mộc Lan và Châu Kỳ ca.
— Bản “Trên Sông Hương” nhạc và lời của Nguyễn văn Thương do Minh Diệu ca.
— Bản “Ai Về Sông Tương” nhạc và lời của Thông Đạt do Mạnh Phát ca.
— Bản “Biệt Ly” nhạc và lời của Dzoãn Mẫn do Mộc Lan ca.
— Bản “Ngày Về” nhạc và lời của Hoàng Giác do Minh Diệu ca.
— Bản “Bến Cũ” nhạc và lời của Anh Việt do Minh Diệu và Mạnh Phát Ca.
— Bản “Hoa Thủy Tiên”, nhạc và lời của Lê Thương do Minh Diệu ca.
— Bản “Dứt Đường Tơ” nhạc của Văn Thủy, lời của Dzoãn Cảnh do Minh Diệu ca.
— Cũng bản “Dứt Đường Tơ” nhưng lại do Kiều Nga ca.
— Bản “Chiều Vàng” nhạc và lời của Nguyễn văn Khánh do Kiều Nga ca.
Từ các giọng hát của Minh Diệu, Mộc Lan, Kiều Nga, Mạnh Phát và Châu Kỳ, tôi lần lượt tìm nghe những giọng hát đi trước những ca sĩ nầy. Đó là giọng của Văn Thiệt, Việt Hùng, Nguyễn Việt và của cô Ngọc Hà. Những giọng nầy đều được thu thanh, phần nhiều là cho hãng dĩa Việt Nam, còn những hãng khác thì tôi không nhớ. Tôi xin kể đại khái như sau:
— Bản “Khúc Khải Hoàn” của Lưu Hữu Phước do Việt Hùng ca.
— Bản “Bạch Đằng Giang” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt ca.
— Bản “Trên Sông Bạch Đằng” do Ngọc Hà và Văn Thiệt ca.
— Bản “Chi Lăng” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt ca.
— Bản “Xuất Quân” nhạc và lời của Phạm Duy do Việt
Hùng ca. Về sau, trên sân khấu Hương Hoa, Việt Hùng mặc quân phục sĩ quan, hát bản nầy làm cho các nữ khán giả mê mẩn rụng rời.
— Nhạc kịch “Huyền Trân Công Chúa” của Lê Thương do Nguyễn Việt và Ngọc Hà ca.
— Bản “Tiếng Hờn Trong Gió” của Văn Thanh do Ngọc Hà ca.
— Bản “Thiếu Sinh Việt Nam” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt và Ngọc Hà ca.
Ngoài ra hãng Asia cũng có thu giọng Ái Liên, Kim Chung và Lê Thương, được phân phối như sau:
— Bản “Thằng Cuội” nhạc và lời của Lê Thương do Ái Liên ca.
— Bản “Học Sinh Hành Khúc” nhạc và lời của Lê Thương do Kim Chung và Lê Thương song ca.
— Bản “Lòng Mẹ Việt Nam” nhạc và lời của Lê Thương do Kim Chung ca.
Còn những dĩa Oria từ bên Pháp gửi về với các nam ca sĩ Văn Lý, Hải Minh (một biệt hiệu của Trần văn Khê), Hoàng Lan và Bích Thuận:
— Bản “Con Thuyền Trên Sóng” nhạc và lời của Lê Xuân Ái do Hải Minh ca.
— Bản “Hoà Bình 48” nhạc của Lê Thương do Hải Minh ca.
— Bản “Thanh Niên Ơi” nhạc và lời của Thẩm Oánh do Hải Minh ca.
— Bản “Nhớ Ai” nhạc và lời của Võ Đức Thu do Văn Lý ca.
— Bản “Bóng Ai Qua Thềm” của Văn Chung do Hoàng Lan ca.
— Bản “Chùa Hương” nhạc và lời của Hoàng Quý doHoàng Lan ca.
— Bản “Tiếng Hát Dân Quê” của Nguyễn văn Khánh do Bích Thuận ca.
— Bản “Suối Mơ” nhạc và lời của Văn Cao do Văn Lý ca.
Những dĩa hát từ ngoài Bắc đem vào Nam có:
— Bản “Đoàn Lữ Nhạc” của Đỗ Nhuận do Kim Chung ca.
— Bản “Chiều Vàng” của Nguyễn văn Khánh do Kim Chung ca.
— Bản “Cô Tú” do Ngọc Bảo ca.
— Bản “Nương Chiều” của Phạm Duy do Ngọc Bảo ca.
Thuở đó, tuy nghe những giọng hát tiền phong và thời danh đó nhưng tôi không thích lắm bởi vì ngành nhạc Tây lời Việt và ngành Tân nhạc nước nhà không thấm sâu vào tâm hồn tôi bằng cổ nhạc cải lương Nam kỳ. Vào cuối niên học lớp Đệ Thất, tôi được xem anh Lê Tấn Lộc, anh ruột của nhà văn Kiệt Tấn đang học năm thứ ba chương trình Thành Chung leo lên sân khấu hát bài “Khúc Hát Sông Thao” của Đỗ Nhuận. Anh có giọng ấm và vang dội làm tôi liên tưởng đến những dòng trường giang chảy cuồn cuộn trên đất nước miền
Nam, trong đó có dòng Cổ Chiên chảy qua tỉnh Vĩnh Long của chúng tôi. Tôi mê say uống từng đợt âm thanh tuôn từ miệng anh xuyên qua máy vi âm để rải khắp hí viện. Đó là lần đầu tiên tôi được xem một người hát trên sân khấu. Đó cũng là lần đầu tiên tôi thích một giọng hát, dù đó là một giọng hát tài tử tuy có làn hơi mạnh nhưng còn non kém kỹ thuật, nhưng vẫn là một giọng hát gây sôi nổi trên sân khấu học đường vào dịp lễ phát phần thưởng vào cuối niên học. Tôi không dè, trong thời gian bị đi học tập cải tạo dưới chế độ Cộng Sản, anh Lộc tập sáng tác nhạc. Và vào năm 1992, anh cho đăng các bản nhạc mà anh trước tác đăng trên nhiều báo ở hải ngoại.
Song song đó, anh viết truyện ngắn, viết phóng sự về sinh hoạt giới cầm bút. Những bài nầy được đăng trên báo Sóng ở Montréal (Gia-nã-đại) hay đặc san Phù Sa Sông Cửu ở Texas (Hoa Kỳ) và tạp chí Thế Kỷ 21 ở California (Hoa Kỳ). Cũng thuở xưa, tôi có dịp ngắm bà Nguyễn thị Sương, giáo sư dạy môn Anh văn lớp Đệ thất của tôi hát. Bà là vợ của nhà nhạc học Trần văn Khê và cũng là mẹ của nhà nhạc học Trần Quang Hải. Đó là người đàn bà đầu tiên đỗ bằng Tú tài Pháp ở tỉnh tôi. Cô tôi đẹp, thanh lịch, ăn nói dạn dĩ và duyên dáng. Cô thường hát cho các học trò của cô ngay trong lớp học nghe. Tôi chỉ còn nhớ mang máng rằng có một hôm nào đó, cô mặc chiếc áo mousseline đen in bông huệ màu hoàng yến và màu hồng đào rất choáng lộn. Cái hình ảnh ấy in sâu đậm vào ký ức cậu học sinh 11 tuổi thuở ấy là tôi đây, khó phai mờ cho tới bây giờ. Cô hát bài “Xa Quê” của Lê Quang Nhạc, bài “Trở Về” của Châu Kỳ bằng một giọng thật trong ấm, bằng chuỗi ngân nhỏ mức. Tôi thầm nghĩ rằng nếu cô chán nghề dạy học, chọn nghề trình diễn thì cũng không có gì sai hỏng. Lúc hát cô làm màu mè giống như cô đào Jane Powell trong cuốn phim ca nhạc tô màu Technicolor. Tôi không ngờ, anh Lộc lẫn cô Sương gieo cho tôi một chút đam mê về nghệ thuật trình diễn để rồi sau nầy tôi có dịp đi xem ca kịch cải lương, xem những buổi Đại nhạc hội, chút đam mê ấy lớn dần và bám theo cuộc đời tôi cho tới bây giờ vẫn chưa dứt.
Trước đó, dù không biết thưởng thức bản nhạc hay dở ra sao, nhưng tôi vẫn thích hát những bản có dạy trong chương trình lớp nhứt bậc tiểu học và trong chương trình lớp Đệ thất bậc trung học như “Khỏe Vì Nước”, “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”, “Hè Về” của Hùng Lân, “Nhà Việt Nam” và “Quyết Tiến” của Võ Đức Thu, “Bóng Cờ Lau” và “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Hoàng Quý, “Con Đường Vui” nhạc của Lê Vy nhưng lời của Phạm Duy, “Đón Gió Mới” của Ngọc Bích, “Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng” và “Hò Leo Núi” của Phạm Đình Chương. Đó là những ca khúc vui tươi nhằm khơi dậy niềm lạc quan và ý chí phấn đấu cho thanh thiếu niên. Và tôi cũng rất thích hát những lời hát sửa đổi nhảm nhí trong những bản hát nổi tiếng. Chẳng hạn:
Khoẻ vì nước bánh ướt tôm khô
Đoàn thanh niên ta ních mười tô.
(Điệu “Khỏe Vì Nước”)
hoặc:
Rờ mềm mềm, bóp êm êm
Rờ một cái muốn rờ thêm.
(Điệu “Hè Về”)
hoặc:
Chiều ơi, lúc chiều về gặp vợ lấy trai
Vác chày vồ đập vợ tét hai .. , ở tù
(Điệu “Nương Chiều”)
và hoặc:
Em có chồng sao em không nói?
Để anh theo anh chọc em hoài
Chắc có ngày anh ăn dao phay …
(Điệu “Hà Nhật Quân Tái Lai” hay là “Tango Chinois”)
Từ giọng hát học trò của anh Lê Tấn Lộc, tôi bắt đầu mê giọng hát của những ca sĩ trong các phim ca nhạc như Mario Lanza, Vic Damone, Howard Keel, Frank Sinatra, André Claveau, Luis Mariano … (bên nam), Katryn Grayson, Jane Powell, Judy Garland … (bên nữ). Nhưng trong phim ca nhạc vẫn có những màn nhảy múa với các ngôi sao Fred Aster, Gene Kelly … (bên nam), Cyd Charisse, Leslie Caron … (bên nữ). Lại còn cô nữ tài tử Esther Williams bơi lội và múa dưới nước nữa chi. Phim ca nhạc lôi kéo mộng tưởng tôi vào biết bao chuyện thần tiên diễm ảo kỳ thú. Nhưng dù có say sưa choáng ngợp ngành ca vũ của người ngoại quốc, song trong thâm tâm, tôi vẫn thích cây nhà lá vườn, thích ta về ta tắm ao ta hơn.
Về sau nầy, khi bắt đầu tìm hiểu các bộ môn nghệ sĩ trình diễn, tôi được biết Mạnh Phát vốn là một công chức ở tòa tân đáo, chuyên coi về các ngoại kiều đến Việt Nam định cư như người Chà-và hay người Khách trú chẳng hạn. Thu Hồ thì làm việc ở Đông Dương Ngân Hàng (Banque de l’Indochine), còn Đức Quỳnh thì chuyên nghề dạy đờn guitare và có một tiệm đờn ở đường Hamelin (dưới thời Cộng Hòa được gọi là đường Hồ văn Ngà). Minh Diệu là vợ của Mạnh Phát. Riêng Châu Kỳ và Mộc Lan thì là dân xứ Huế yêu thích âm nhạc nên dấn thân vào ca giới nhạc trường chứ không có một nghề chuyên môn nào. Kim Chung, Bích Thuận, Túy Hoa, Việt Hùng đều là nghệ sĩ của ngành ca kịch cải lương. Văn Thiệt là công chức. Còn cô Ngọc Hà là ca sĩ tài tử. Chị ruột của Ngọc Hà là nữ nghệ sĩ Ngọc Hải đã từng sáng chói trên các sân khấu Năm Châu, Phụng Hảo. Ngọc Hải hát nhạc Tây lời Việt cũng rất hay và nổi tiếng qua ca khúc “Sérénade Sans Espoir”.
Mạnh Phát có khuôn mặt khôi ngô, tóc dợn sóng trước trán, sắc mặt điềm đạm. Sau nầy hãng phim Mỹ Vân thực hiện phim “Tình Quê Ý Nhạc” thì có mời anh cùng nữ ca sĩ Mộc Lan đóng vai chánh. Giọng hát của Mạnh Phát chỉ đẹp ở âm sắc (timbre), nhưng không phong phú và vang lộng ở âm lượng (volume). Anh ngân nga cũng không điêu luyện, chỉ được vài lượn nhỏ lăn tăn. Nhưng đây là một giọng hát đẹp làm người nghe liên tưởng đến một chàng trai hào hoa mã thượng. Giọng hát của Mạnh Phát chỉ hợp ở những bản đừng
lên cao xuống thấp vì cái âm vực (intervalle) của giọng anh hơi hạn hẹp. Mạnh Phát có sáng tác bản “Bến Nước Tình Quê”. Khi sáng tác các bản “Khúc Nhạc Đồng Quê”, “Mong Người Chiến Sĩ” thì anh lấy biệt hiệu là Thúc Đăng. Khi sáng tác bản “Trăng Sáng Trong Làng” thì anh lấy biệt hiệu là Tiến Đạt. Điều đáng nói là bản “Ai Về Sông Tương” của Thông Đạt do anh trình bày thật điệu nghệ và được thâu vào dĩa nhựa Polyphone. Chính bản nầy dù được nữ nghệ sĩ Bích Thuận ca ở phần phụ diễn tân nhạc trên sân khấu cải lương Phụng Hảo hay trên đài phát thanh vẫn không gieo ảnh hưởng đậm đà vào lòng khách mộ điệu như anh. Chính nhờ giọng anh mà bản nầy nổi như cồn. Có một lần, một ông bạn vong niên của tôi ngồi trong quán cà-phê ở đường Pellerin (về sau gọi là đường Nguyễn Công Trứ) chợt thấy một đám ma của người khách trú
đi qua. Theo sau nhà vàng chở quan tài là giàn nhạc Tây do các nhạc công Tàu đảm trách với kèn thau, kèn đồng, clarinette, chập chõa, trống … Đố các bạn độc giả, họ hòa tấu bản gì? Chính là bản “Ai Về Sông Tương” đấy, các bạn ạ! Ông bạn vong niên của tôi cười, phun cả ngụm cà-phê xuống bàn. Vậy mới biết bản “Ai Về Sông Tương” thuở đó thịnh hình biết là dường nào!
Châu Kỳ thanh tú và chải chuốt hơn Mạnh Phát. Anh là chồng đầu tiên của nữ danh ca Mộc Lan. Giọng anh không vang lộng, chỉ gợi cảm ở nét mềm mại. Một giọng rất thường, nhưng nhờ điệu đà và trau chuốt mà có một hấp lực riêng. Anh hát bản “Trương Chi” của Văn Cao, hoặc những bản do anh sáng tác như “Từ Giã Kinh Thành”, “Trở Về” rất điệu nghệ. Tiếng hát của anh gợi nên nét chạm tinh xảo trên gỗ quý hoặc trên ngà voi. Minh Diệu hơi thấp người, mặt dịu hiền nhưng không đẹp lắm. Chị là vợ của Mạnh Phát, dáng dấp hơi cục mịch, ăn mặc nhã đạm, không ra dáng dấp nghệ sĩ chút nào. Giọng chị êm dịu trong trẻo, nói theo Thế Lữ là “tiếng hát trong như nước Ngọc Tuyền / Êm như hơi gió thoảng cung tiên”. Đã vậy, giọng lại còn non mướt và nói theo Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc: “Hoa xuân nọ còn phong nộn nhuy / Nguyệt thu kia chưa hé hàn quang”. Đó là tiếng hát tài tử hơn là tiếng hát chuyên nghiệp gợi nên cái vẻ non mềm của búp lá nụ hoa. Tuy nhiên gần cuối thập niên 40 và bước qua ba năm đầu của thập niên 50, đây là tiếng hát ăn khách nhất. Giới học sinh say mê tiếng hát của chị. Các cô nữ sinh tập hát theo chị, nhái giọng chị, cố ém tiếng mình vào trong sâu cuống họng để được trong trẻo và ngời sáng như tiếng của chị. Nhưng than ôi, một trăm cô ém tiếng như vậy thì tiếng chỉ có chát chát chua chua đi kèm theo cái âm sắc trong trẻo kia, chứ đâu được vừa trong trẻo vừa ngọt ngào như giọng của Minh Diệu. Nhạc sĩ Dương Minh Ninh sở dĩ nổi tiếng ở bản “Gấm Vàng” cũng nhờ giọng Minh Diệu. Hoàng Giác nổi tiếng ở bản “Ngày Về” cũng nhờ chị. Bản “Hoa Thủy Tiên” mà phổ biến sâu rộng trong các trường học nếu không nhờ chị thì nhờ ai? Cho nên Minh Diệu là người đã gây một hiện tượng sôi nổi trong ca trường nhạc giới nước nhà đang độ vươn cao. Tiếng hát của chị thật chân phương, biểu dương một tính tình giản dị, một tâm hồn chân phác.
Mộc Lan, dáng dấp yêu kiều quí phái, khuôn mặt thật đẹp dù có sống mũi hơi thô (về sau chị nhờ khoa giải phẩu thẩm mỹ sửa mũi cho thanh tú hơn). Chị Mộc Lan tên thật là Phạm thị Ngà, nhưng khi vào sinh sống ở Sài Gòn, chị xưng mình là Phạm thị Nga vì chị chê tên Ngà nôm na mách qué, nghe không được văn chương hoa mỹ. Chị có giòng máu Trung Bắc, nhưng sanh sống hết 3/4 cuộc đời ở Sài Gòn. Cha chị là người Huế, khi đổi ra Bắc làm việc thì cưới mẹ chị vốn là người Bắc miền Thượng du. Cho nên giọng nói của chị pha đủ ba miền Bắc Trung Nam. Chị có người em một mẹ khác cha là ký giả kiêm nhà thơ Trần Áng Sơn. Trên sân khấu Đại Nhạc Hội tại rạp Nam Việt, chị được nhạc sĩ Lê Thương mời đóng vai Mộc Lan Công Chúa trong vở ca kịch “Trên Sông Dương Tử”. Chị đóng thật xuất sắc, ca thật hay, được báo chí khen ngợi nên chị lấy biệt hiệu Mộc Lan kể từ đó. Khi gặp ca sĩ kiêm nhạc sĩ Châu Kỳ, chị bị cú sét ái tình nên chịu kết hôn với anh ta. Lúc đôi bên ve vãn nhau, chị Mộc Lan tưởng Châu Kỳ là con một ông quan xứ Huế, lại thuộc lớp tân học. Nhưng thật ra anh Châu Kỳ xuất thân từ một gia đình thanh bạch, học lực không cao. Do đó mà chị chán nản, tìm cách ly dị. Người chồng cuối cùng của chị là Trung tá Trương Minh Đẩu, tùy viên của Đại tướng Dương văn Minh (thiên hạ thường gọi là “Big Minh”). Giọng Mộc Lan tuy có pha giọng óc hơi chua,
nhưng chị xử dụng làn hơi thật tròn trịa và điêu luyện, không có chỗ nào hao hụt. Khi xuống trầm, chị hát tròn tiếng nên khá dội sâu và ấm áp nồng nàn như khói trầm hương bách hợp, như băng phiến. Mộc Lan khi chung sống với Châu Kỳ thì còn là giọng hát tài tử. Về sau, chị luyện giọng nhờ sự dìu dắt của nhạc sĩ Lâm Tuyền nên giọng hát chị mới điêu luyện được sắp hàng đầu với giọng Kim Tước, Châu Hà, Tuyết Hằng, Mai Hương, Quỳnh Giao và Thái Thanh sau nầy. Hai bản “Trở Về Dĩ Vãng” và “Tiếng Thời Gian” của Lâm Tuyền được chị trình bày thật điệu nghệ. Nhà văn Thanh Tâm Tuyền rất thích giọng Mộc Lan. Theo anh, tiếng hát của chị tự bản chất là tiếng hát cô đơn, không cần rên rỉ tỉ tê như đa số nữ ca sĩ bất tài đã từng làm ô uế giọng hát bằng cách văn vẹo tiếng hát để cho tiếng hát được buồn sướt mướt. Chính anh đã viết một bài về tiếng hát của Mộc Lan ở ngay tập san Kịch Ảnh số 1 (1962).
Kiều Nga chỉ hát và cho thu giọng vào dĩa nhựa hai bài “Dứt Đường Tơ” và “Chiều Vàng” rồi giã từ luôn khỏi ca trường nhạc giới. Tiếng hát của chị rõ lời, tuy không óng ánh gấm vóc như giọng hát Minh Diệu, nhưng lại mượt mà dáng nhung mềm. Cũng như Túy Hoa và Ngọc Hà, chị hát bằng giọng Nam, cách phát âm trau chuốt và điệu đà vừa phải. Việt Hùng là một công chức, học lực anh xong bậc trung học theo chương trình Pháp. Lúc đầu anh ca tân nhạc, nhưng khi say mê cô đào cải lương Ngọc Nuôi thì anh học bài bản cổ nhạc cải lương để bước vào nghề làm diễn viên ngành cải lương. Ái Liên, Kim Chung, Bích Thuận đều là nghệ sĩ ngành ca kịch cải lương ngoài Bắc, được huấn luyện hát tân nhạc. Lại nữa, Ái Liên cùng người chị là nữ nghệ sĩ Lan Phương vì được huấn luyện bởi cậu ruột của mình là nhạc sĩ Canh Thân nên ca tân nhạc vững vàng lắm. Văn Thiệt cũng là kẻ ca tài tử, về sau trở thành xướng ngôn viên Đài Phát Thanh Quân Đội với giọng tố cộng thật sắt máu. Từ đó anh giải nghiệp cầm ca luôn.
Đức Quỳnh có một người vợ tên là Ngọc Thanh, khá đẹp. Anh ra công đào luyện cho chị ta thành ca sĩ và giọng hát của chị được thu vào dĩa nhựa Asia. Song khi chia tay với Đức Quỳnh, Ngọc Thanh còn dan díu với một vài người và chết vì chứng hậu sản. Giọng Đức Quỳnh trước sau vẫn là giọng tài tử. Anh hát rõ tiếng, cố xử dụng làn hơi để cho tiếng nồng ấm và không thô tháp thế thôi. Giọng anh như một trái cây giấm chưa chín đúng mức, như xôi rượu tuy ủ cẩn thận, nhưng chưa dậy men sung mãn. Giọng hát đó chỉ nghe tạm được cũng như giọng hát của Jean Tịnh thời tiền chiến trong giai đoạn âm nhạc nước nhà hãy còn phôi thai. Ngọc Hà là một giọng hát độc đáo, khi lên cao tuy hơi chua nhưng dẻo bền, càng xuống trầm càng vang rền và dội sâu. Đây là giọng mà giới sành nhạc gọi là giọng contralto, một giọng thật trầm của phái nữ gợi nên tiếng đại hồ cầm (contrebasse). Âm vực trong tiếng hát của chị thật rộng nên chị không kén bài hát, vì bài hát nào chị cũng lướt phom phom. Đặc biệt nhất là chị hát các bản rumba rất giòn, rất điệu nghệ nên được báo chí tặng cho cái biệt danh là “Nữ Hoàng Rumba”. Những bản theo thể điệu rumba như ‘Gió Mùa Xuân Tới” (của Hoàng Trọng), “Đường Ra Bình Phú” (của Thanh Châu), ‘Tiếng Hờn Trong Gió” v.v … được chị diễn tả thật xuất sắc, càng nghe càng thống khoái. Ngọc Hà có một chuỗi ngân điêu luyện, không thô rít, đều đặn và thoải mái như những lượn sóng rập rờn. Tiếng hát của chị lảnh lót và véo von như sáo diều khi lên hơi cao, ấm áp, chắc nịch, oanh liệt khi xuống trầm. Đây là giọng đã từng làm mưa gió ở các vũ trường, phòng trà, sân khấu Đại nhạc hội, trên làn song điện và trong làng dĩa nhựa. Khi chị giải nghệ rồi thì trong làng ca nhạc không có nam ca sĩ hay nữ ca sĩ nào hát rumba tuyệt vời như chị.
Hai anh em Trần văn Khê và Trần văn Trạch thuộc giòng giõi âm nhạc ở đất Sầm Giang (Rạch Gầm) thuộc tỉnh Mỹ Tho. Khi hát cho hãng dĩa Oria thì ông Khê lấy biệt hiệu là Hải Minh (tên ghép của hai cậu con trai của ông là Trần Quang Hải và Trần Quang Minh). Trần văn Khê là chồng của bà giáo sư Nguyễn thị Sương; cô Sương là thầy dạy môn Anh Văn của nhà văn Kiệt Tấn và tôi khi cả hai ngồi lớp Đệ Thất A trường Cao Tiểu Vĩnh Long. Rồi đó, khi chúng tôi chuyển qua chương trình học ban Thành Chung và ngồi năm Đệ tam
niên A thì cô Sương dạy chúng tôi môn Pháp văn. Cô Sương ăn ở với thầy Khê được bốn mặt con, kể theo thứ tự là Trần Quang Hải, Trần Quang Minh, Trần Thị Thủy Tiên, Trần thị Thủy Ngọc. Giờ đây, Trần Quang Hải và Trần thị Thủy Ngọc đều trở thành nhà nhạc học lừng danh. Vợ của Hải là nữ danh ca Bạch Yến. Ngoài ra, người em gái út của thầy Khê và anh Trạch là chị Trần Ngọc Sương. Hồi còn con gái, chị hát cho đài Pháp Á, lấy tên cháu gái Thủy Ngọc của mình làm cái nghệ danh cho mình. Nữ ca sĩ Thủy Ngọc có giọng kim cao
vút, hát bài “Áng Mây Chiều” của Dương Thiệu Tước thì không chê vào đâu được. Về sau nầy, con gái của chị Thủy Ngọc tên là Trịnh Quỳnh Yến theo Trần Quang Hải học nhạc và cùng đi trình diễn khắp Âu Châu và Mỹ Châu với Hải. Cô lấy biệt hiệu là Hoàng Mộng Thúy. Cô hát dân ca ba miền thật hay, ngâm thơ rất rựa ràng và cho giọng mình thâu vào dĩa rất nhiều. Tiếc thay, khi cô lấy ông chồng bác sĩ y khoa thì giải nghệ luôn. Sau đó, Trần Quang Hải kết hôn với nữ danh ca Bạch Yến và chính Bạch Yến thay thế Hoàng Mộng Thúy theo Hải đi lưu diễn khắp Âu Mỹ để phổ biến cái đẹp ngành âm nhạc Việt Nam.
Hải Minh có giọng hát to và khỏe nhưng làn hơi không thuần thục, như cơm gạo nấu chưa chín. Giọng nầy dùng để hát hài hước thì được, hát nhạc mùi thì không có nét mềm mại truyền cảm. Cho nên khi ông hát bài “Con Thuyền Trên Sóng” của Lê Xuân Ái thì ông rống quá nhiều khi lên cao, tuy rống mà tiếng hát không thông, không ngọt. Đã vậy ông không biết ngân nga. Hải Minh (Trần văn Khê) trước sau vẫn không phải là ca sĩ. Ông cũng không phải là một nhạc sĩ có bản lĩnh dù ông đã phổ những bài thơ thành nhạc như “Đi Chơi Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp, “Giận Nhau” của Nguyễn Xuân Huy, “Chỉ Một Lần Thôi” của bà Mộng Trung. Ông vẫn chỉ là một nhà nhạc học có kiến thức uyên thâm, có tấm lòng thương yêu sâu đậm đối với cái tinh hoa của âm nhạc truyền thống của nước nhà. Trong những thập niên 50, 60 ông đã cùng nữ sĩ Mộng Trung đi khắp Âu Mỹ để diễn thuyết về ngành âm nhạc Á Châu. Ông diễn thuyết và xử dụng vài món nhạc khí cổ truyền trong khi đó bà Mộng Trung hát để chứng minh lời diễn giảng của ông. Bà Mộng Trung vốn là em họ của ông, một cây bút viết ký sự rất lỗi lạc cho tập san Bách Khoa (Sài Gòn) do ông Huỳnh văn Lang làm chủ nhiệm. Bà đẹp, có vốn liếng kiến thức về văn hóa sâu rộng trong khi đó học lực của bà chỉ ở bậc trung học. Đó là một phụ nữ tự học (autodidacte) mà trở thành bậc trí thức làm tôi ngưỡng mộ vô cùng. Bà qua đời vào năm 1969, để lại hai tác phẩm là Giọt Thời Gian (tập thơ) và Hôn Nhân Dị Chủng (biên khảo và phóng sự). Dù gì đi nữa, dĩa Oria thâu bản nhạc hài hước “Hòa Bình 48″ của Lê Thương do Hải Minh hát rất phổ biến trong mọi tầng lớp khán giả yêu nhạc và dĩa bán chạy như tôm tươi vào các năm 1948, 1949, 1950. Do đó mà về sau, Trần văn Trạch theo dấu chân anh của mình từ lãnh vực hát nhạc mùi chuyển qua hát nhạc hài hước. Nếu chúng ta giở lại những bản “Ba Giờ Khuya” của Đức Quỳnh, “Người Chơi Độc Huyền” và “Nàng Hà Tiên” của Lê Thương mà Trần văn Trạch đã hát và thâu vào dĩa nhựa, chúng ta mới nhận thấy anh có một giọng nhung mềm gấm mượt, đẹp kinh khủng! Giọng đó như mây lướt, như nước trôi, thật dễ dàng, thật trơn mướt và khi chẻ qua giọng óc (son de tête) cũng ngọt ngào, gieo một cảm giác thống khoái cho người nghe. Tôi còn nhớ có lần nữ danh ca Mộc Lan bảo tôi:
— Anh Trần văn Trạch thường hát ở đầu lưỡi nên giọng thật mịn thật nhẹ. Giọng ấy sao mà thật mùi, thật đặc biệt!
Khác hơn Trần văn Khê, khi lên cao Trần văn Trạch có thể rống một cách hùng dũng và trơn ngọt, lúc đó làn hơi anh vẫn không hao hụt chút nào Trên làn sóng điện, anh thường ru hồn thính giả bản “Dạ Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca. Giọng anh có cái âm sắc của một ca sĩ Tây phương. Sau đó khi chuyển qua hát nhạc hài hước như “Tai Nạn Téléphone” chẳng hạn, anh nổi tiếng còn hơn là hát nhạc mùi có âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương. Bài “Đừng Có Lo” của chính anh do anh hát thâu dĩa tuy là bài hài hước, nhưng cũng có chỗ để anh biểu diễn cái âm lượng phong phú và nếp điêu luyện của giọng hát mình. Tôi chưa thấy ai hát hay hơn anh qua những bản “Nàng Hà Tiên”, “Dạ Khúc”, “Đừng Có Lo”. Về sau nầy, anh hát bài hát ngắn “Xổ Số Kiến Thiết” cũng độc đáo khôngkém, nhất là lúc anh chẻ qua hát giọng óc ở cuối câu. Khi qua viếng nước Pháp vào năm 1965, Trần văn Trạch ăn mặc như người sơn cước và lên đài truyền hình hát bài “Chiều Mưa Biên Giới” làm cho kiều bào thuở đó hãnh diện lây. Bài nầy sau đó ít lâu có thu vào dĩa Việt Nam. Và khán giả quốc nội có dịp nghe lại giọng hát của anh vì nó vắng bặt ở làng dĩa nhựa từ đầu mùa nền Đệ nhất Cộng Hòa. Ôi, cái giọng khi thì ở đầu lưỡi mịn như tuyết nhung, khi thì trong khẩu cái rất khỏe khoắn, rất vang lộng và rất tròn tiếng (pleine voix); nếu anh không diễn tả những bản hài hước mà chỉ hát những bản nhạc tình cảm mùi mẫn thì nó cũng đủ sức đưa anh lên tuyệt dỉnh đài danh vọng rồi.
Hoàng Lan là một giọng hát cao vút, tuy hơi khàn ở những chỗ hát không cao không thấp. Chị trình bày bản “Chùa Hương” của Hoàng Quý và bản “Bóng Ai Qua Thềm” rất điệu nghệ. Còn Văn Lý có một giọng hát đẹp, trau chuốt vừa phải nhưng cực kỳ gợi cảm. Anh hát bài “Nhớ Ai” của Võ Đức Thu không chê vào đâu được. Bước sang bản “Suối Mơ” của Văn Cao, anh làm cho khán giả đắm chìm trong cái thế giới âm thanh hư ảo đầy mộng mơ lộng lẫy, đầy rung cảm kỳ thú. Tiếc thay, Hoàng Lan cũng như Văn Lý hát thâu thanh ở bên Pháp rồi gửi dĩa về Việt Nam. Họ không có cơ hội hành nghề ở quê nhà nên tiếng hát của họ rất chóng vánh trở thành kỷ niệm.
Túy Hoa là nghĩa nữ của bà Năm Phỉ (đệ nhất nữ diên viên sân khấu cải lương miền Nam). Nhưng ngành cải lương không phải là đất dụng võ thật sự của chị. Cho nên chị chuyển qua hát nhạc Tây. Khi đoàn Tố Như từ ngoài Bắc vào miền Nam lưu diễn thì chị xin gia nhập để cùng Bích Thuận, Kim Chung làm mưa làm gió trên sân khấu nầy. Đoàn Tố Như tuy là đoàn cải lương pha hát Hồ Quảng, nhưng vẫn có chỗ để các đào kép hát vài bản tân nhạc. Hồi còn xuân sắc, Túy Hoa rất sáng đẹp dưới ánh đèn sân khấu, hát nhạc Tây lời Tây rất rựa ràng nói gì hát nhạc Tây lời Việt hoặc nhạc Việt lời Việt (mà dân mình gọi là Tân nhạc). Giọng chị thuở đó mỏng, thanh tao và mềm mại. Sau nầy, vì chị phải mổ dạ con nên âm lượng tiếng hát của chị giảm sút, và không hiểu sao giọng chị lại hơi nghẹt mũi. Cho nên từ 40 tuổi trở lên, Túy Hoa phải nhào qua lãnh vực thoại kịch, chuyên đóng vai hài rất thành công. Có một thuở Túy Hoa chuyên hát những bản samba nên được báo chí gọi là “Nữ Hoàng Samba”. Chị vừa hát vừa múa may rất bắt mắt qua bản “Xuân Xuân” của Nguyễn Hữu Ba. Đặc biệt là trong nhạc cảnh “Bên Sông Đưa Tiễn”, chị thủ vai Nhị Nương, còn Bích Thuận thủ vai tráng sĩ Trần Quang Ngọc. Đây là sự tích rút trong quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng. Chị cũng mặc áo chàm thêu ngân tuyến, đeo vòng tay, khoen tai và kiềng cổ, kiềng chân đóng vai cô sơn nữ trong nhạc cảnh “Nụ Cười Sơn Cước” và chị hát bài hát có tựa chung với nhạc cảnh nầy (nhạc và lời của Tô Hải). Túy Hoa cùng các nữ ca sĩ Minh Nguyệt, Hoàng Yến, Hồng Lan lập ra ca vũ bộ Bốn Phương. Cả bốn mặc theo gái Hạ-uy-di, áo hở vai kết bằng hoa lá, váy bằng chỉ sợi giống như cỏ khô, tóc xõa cài hoa sặc sỡ. Hình như vào năm 1948 thì phải. Thuở đó phong trào ca nhạc xứ mình chưa có phát triển. Tuy nhiên, nhờ tìm tòi mà tôi được nghe các giọng hát nữ danh ca Ái Liên trong các dĩa hát Béka tròng lục chữ vàng qua các bản “Un Bateau”, “Santa Lucia” hoặc bản “Guitare d’Amour” (mà chị hát chung với nghệ sĩ cải lương Năm Châu trong dĩa Béka tròng vàng chữ đen). Ai cũng bảo rằng giọng Ái Liên là giọng trong như suối và mát như lụa. Quả vậy, tiếng của chị mỏng, thanh tao và óng ả. Nhưng phiền một nỗi chị hát không rõ lời. Thành thử ra, khán giả chỉ thưởng thức được giọng hát, điệu hát mà không sao thưởng thức được lời hát.
Nhưng Ái Liên là cô đào cải lương đất Bắc, có một thời vào Sài Gòn xây dựng sự nghiệp. Chị đã hát nhạc Tây lời Việt thuở tiền chiến, thuở mà tôi còn thơ bé. Khi tôi được thưởng thức giọng hát của chị thì chị đã không còn theo các gánh hát ở trong Nam và trở về ngoài Bắc rồi. Về sau nầy, các cô con gái của chị đều nối nghiệp mẹ như Ái Loan, Ái Xuân, Ái Vân và Ái Thanh. Ái Vân khi ly khai Cộng Sản để định cư ở hải ngoại bắt đầu nổi đình nổi đám. Còn Ái Loan chỉ nổi tiếng hát Quan Họ với mẹ từ lúc cô ta hãy còn thơ bé. Ái Loan cũng đã đóng hai phim Nghệ Thuật Và Hạnh Phúc và phim Phạm Công Cúc Hoa (vai Nghi Xuân). Về sau, khi Cộng
Sản cưỡng chiếm miền Nam rồi thì tôi không nghe ai còn nhắc tới Ái Loan nữa.
Ái Liên chuyên hát nhạc Tây lời Việt do Huỳnh Thủ Trung (tức là nghệ sĩ Tư Chơi) và do Nguyễn Thành Châu (tức là nghệ sĩ Năm Châu) soạn ra. Đồng thời với Ái Liên có cô đào Kim Thoa (vợ thứ hai của Tư Chơi) và bà Bảy Phùng Há (vợ đầu tiên của Tư Chơi); đó là hai ngôi sao thượng thặng trong ngành ca kịch cải lương Nam Kỳ, tên tuổi và sự nghiệp vuợt xa Ái Liên nhiều. Nhưng Phùng Há khi hát nhạc Tây lời Việt sao mà quê kệch dù giọng bà rắn chắc như kim cương và lảnh lót như chuông vàng khánh ngọc và dù bà có chuỗi ngân
nhỏ mức như hạt trân châu. Thì ra với chuỗi ngân ấy, với âm sắc lảnh lót vang lộng ấy, Phùng Há chỉ có thể hát các bản Hồ Quảng trong các vở tuồng Tàu thì đúng điệu hơn. Còn giọng hát của Kim Thoa trong sáng như pha lê và dịu ngọt như mật ong. Chị hát bản “Tabou” thật óng ả du dương, nhưng tiếc thay chị không biết ngân nga. Trên sân khấu Trần Đắc, chị có hát bài “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương hoặc “Hòn Vọng Phu” (bài I) của Lê Thương có thể mê hoặc một số học sinh trung học đất Nam Kỳ và một số sinh viên ngoài Bắc vào đầu thập niên 40.
Ái Liên là người đoan trang phúc hậu, rất khôn khéo. Khi chị vào Nam hành nghề thì biết bao vương tôn công tử ve vãn chị. Còn những chàng kép đẹp trai đồng diễn trên sân khấu với chị cứ tìm dịp cọ quẹt chị. Chị chỉ dùng lời nghiêm trang khuyên nhủ họ, không hề mắng nhiếc chửi bới ai. Thái độ đó khiến cho kịch giới kính nể chị. Cuộc hôn nhân giữa chị và một nghiệp chủ trẻ tuổi đẹp trai, Hà Quang Định, được báo giới nói đến nhiều vì tiệc cưới của họ thật huy hoàng vĩ đại. Chú rể tặng cô dâu một chiếc xe Dodge có 8 máy, 21 mã lực, giá 7.000 đồng. Thuở đó, lương thầy giáo dạy lớp nhứt chỉ có 80 đồng mà thôi. Chị của Ái Liên là nữ nghệ sĩ Lan Phương thì trải qua nhiều đời chồng, đời nào cũng đem lại tủi cực cho chị. Nhưng về sau chị lại sánh duyên với một nhiếp ảnh gia, tìm được hạnh phúc vào lúc cuối đời. Lan Phương có cặp mắt đẹp, lai láng sóng thu, lúc nào cũng như sáng mọng châu lệ. Mắt đẹp kiểu ấy là thứ mắt lỗi tướng số nên thảo nào chị phải khóc cho những cuộc tình duyên oái oăm và điêu đứng của mình.
Kim Thoa khi làm vợ nghệ sĩ Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) thường xảy ra cảnh cơm không lành canh không ngọt dù chị có thiện chí chung tình với chồng. Tư Chơi ưa rượu chè mèo chuột. Cho nên cuộc hôn nhân của họ phải tan vỡ. Sau đó, Kim Thoa tái hôn với một ông bác sĩ y khoa tên Ngô Thiếu Khai ở Trà Vinh, nhỏ tuổi hơn chị nhiều. Tuy nhiên chị được chồng thương yêu nên tìm được hạnh phúc cho đến cuối đời.
Nghệ sĩ cải lương Năm Châu cũng võ vẽ hát nhạc Tây lời Việt. Ông trình bày bản “Guitare d’Amour” với Ái Liên trong dĩa Béka tròng vàng kim nhũ chữ đen. Giọng ông quá tầm thường, làn hơi hao hụt, đã vậy ông thường hát sai giọng. Hát xướng ở lãnh vực mới, ông làm một chuyến phiêu lưu không gây hào hứng cho khán giả bốn phương chút nào. Kim Chung vào thập niên 40, có một giọng đẹp, khi hát ở những chỗ ngang ngang thì mỏng như lụa the, dịu ngọt như nước cam vắt, nhưng khi lên cao như xé lụa, vang lộng lảnh lót như chuông ngân. Những lúc đó, giọng chị không chát, không chua, không gắt cổ, lại còn giữ vẹn âm sắc thanh tao. Chị trình bày một bản hát với một chút điệu đà đầy nữ tính, nhưng không vặn vẹo từng chữ, không bẻ giọng để giọng được ỏn thót. Cái điệu đà của chị là thứ điệu đà kín đáo và phơn phớt như chút phấn tuyết nhung trên vóc sa-teng hay trên cánh hoa thược dược, nhưng vẫn làm say lòng người. Hồi còn xuân sắc,
chuỗi ngân của chị rập rờn nhưng mềm mại như những nét thu ba; nhưng về sau, khi chị vào tuổi đời chênh bóng thì chuỗi ngân sắc nhọn như răng cưa. Khi còn ngoài đất Bắc, Kim Chung được báo chí mệnh danh là “Tiếng Chuông Vàng Đất Bắc”.
Bích Thuận nhỏ nhắn và đẹp lộng lẫy. Giọng hát của chị dẻo bền như thép tôi luyện đúng mức để làm gươm báu và rắn chắc như kim cương. Đó là một giọng vang lộng mà vẫn ngọt. Cách trình bày một bản nhạc của chị thật đơn giản, chị không có một chút điệu đà nào để trang điểm cho giọng hát mình, nhưng giọng hát vẫn quyến rũ người nghe ở chuỗi ngân rập rờn óng ả, ở cách hát khỏe khoắn trơn ngọt. Trong các tuồng cải lương do chị đóng phần nhiều vẫn có chỗ để chị hát tân nhạc, nếu không phải đó là tuồng tàu.
Việt Hùng vừa cao lớn vừa hùng dũng xứng đáng là kép hùng trên sân khấu. Anh có chơi thể dục thẩm mỹ chút ít nên có ngực đầy đặn và khá vạm vỡ. Eo anh thon, tay chân anh nổi bắp thịt. Trong giới sân khấu cải lương chỉ có Việt Hùng, Ba Xây, Văn Khoe và Hùng Cường là biết o bế thân vóc. Tuy nhiên, dù vóc anh rất hùng, nhưng khi anh ca cổ nhạc, giọng anh hơi nhừa nhựa. Cho nên khi anh cùng Tám Thưa, Duy Chức cùng hai cô Tư Bé và Ngọc Nữ diễn các tuồng cải lương do Duy Lân soạn và thâu vào dĩa Kim Khánh thì anh luôn thủ vai lão hoặc vai nịnh, còn những vai jeunes premiers thì dành cho nghệ sĩ Tám Thưa. Tuy nhiên khi hát tân nhạc, anh lại chọn nhạc hùng. Giọng anh tuy hơi nhừa nhựa nhưng anh có làn hơi dồi dào. Khi hát nhạc hùng, nhờ tiết điệu xốc nổi của bài hát, anh dù có muốn kéo nhừa nhựa vẫn không được. Chính cái làn hơi dồi dào kia giúp anh hát trơn ngọt thoải mái làm cho người nghe cảm thấy khỏe khoắn và phấn khởi ngay.
Thuở đó, các cô khán giả choai choai mê Việt Hùng như điếu đổ mỗi khi xem anh phụ diễn tân nhạc. Khi hát bài “Xuất Quân” của Phạm Duy hay “Khúc Khải Hoàn” của Lưu Hữu Phước, anh mặc quân phục sĩ quan, đội mũ kê-pi, đeo lon đại úy, đeo giây biểu chương. Các cô vừa ngắm anh hát vừa lấy tay đè lên quả tim đang thổn thức của mình. Khi tôi vừa mới lớn thì Kim Thoa cộng tác đài phát thanh Pháp Á, chỉ hát cổ nhạc cải lương chung với các nữ ca sĩ Ngọc Nữ, Mỹ Tiên, Bạch Mai … Song song đó, chị vẫn cộng tác cho gánh Phụng Hảo và là một trong bốn cô đào then chốt của gánh là Phùng Há, Thanh Tùng, Bích Thuận và Kim Thoa. Vào đầu mùa Đệ nhất Công Hòa, Kim Thoa giải nghệ và rút luôn vào bóng tối. Nhưng con trai của chị là ca nhạc sĩ Huỳnh Hiếu (con chung của Tư Chơi và cô) trở thành một nam ca sĩ giọng kim (ténor) vang lộng và cao chót vót đã cùng nữ ca sĩ Thanh Xuân làm mưa làm gió ở vũ trường Văn Cảnh và vũ trường Đại Kim Đô. Khi Kim Thoa còn hát cổ nhạc cải lương trên đài phát thanh, thì bên Tân nhạc, đài phát thanh đã có những giọng hát Oanh Oanh, Vi Lan, Mộc Lan, Minh Diệu (bên nữ) và Mạnh Phát, Anh Ngọc, Châu Kỳ, Thu Hồ (bên nam). Sau đó hai cô Vi Lan và Oanh Oanh rút lui hẳn khỏi ca giới nhạc trường, thì Minh Trang xuất hiện huy hoàng như một ngôi tinh đẩu và lay động như cơn lốc để trở thành vương hậu ngành ca nhạc trong hai năm cuối của thập niên 40 và bắc qua trọn thập niên 50.
Tôi còn nhớ trong một tấm chương trình của đài phát thanh Pháp Á, có những dòng quảng cáo về tiếng hát của nữ ca sĩ Oanh Oanh đại khái như sau: “Oanh Oanh là nữ ca sĩ có tiếng hát vang vang như tiếng chuông chiều và véo von như tiếng sáo diều”. Nhưng theo tôi, thuở đó chưa có ca sĩ nào ăn đứt nữ ca sĩ Minh Diệu. Cô Oanh Oanh chỉ có cái bóng sắc trội hơn giọng hát; cái bóng sắc ấy nâng đỡ giọng hát tài tử của cô thêm phần hấp dẫn. Cô Vi Lan cũng thế, vẫn có giọng hát tài tử chứ không là giọng hát của kẻ chuyên nghiệp. Dù rằng đã có một thời, cả hai là ca sĩ đài Pháp Á, nhưng sự nghiệp của họ khó mà lâu bền vì trước sau, giọng hát họ vẫn là những trái nho chưa được ủ men đúng mức nên chưa thành rượu bồ đào. Cũng thế, giọng Thu Hồ chỉ chinh phục khán giả ở chỗ hát rõ tiếng, hát bằng giọng miền Nam thật chân phác và mộc mạc. Nhắc tới Thu Hồ, giới mộ điệu chỉ nhớ tới những bản nhạc rất nổi tiếng của anh là “Tiếng Sáo Chiều Quê”, “Quê Mẹ”, “Mùa Lúa Chín” … chứ ít ai còn hoài vọng tới giọng hát của anh. Thu Hồ có một người con gái kết hôn với nam tài tử điện ảnh La Thoại Tân. Một người con gái khác của anh tên Mỹ Huyền khi ra hải ngoại trở thành ca sĩ, hát chung với Tuấn Vũ thật rựa ràng lắm.
Theo lời giới mộ điệu thuật lại thì trước đó chị Minh Trang làm thông dịch viên lẫn xướng ngôn viên phần Pháp văn cho đài phát thanh Pháp Á (hồi đó bọn trẻ chúng tôi gọi là đài phát thanh Phát Ớn). Nhân một hôm nữ ca sĩ Oanh Oanh trong ban nhạc Charles Thu (tức là nhạc sĩ Võ Đức Thu) bị bệnh nên không thể hát được. Lúc đó, chị Minh Trang vụt ngứa nghề, thừa dịp ấy tình nguyện hát bản “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương để thay cô Oanh Oanh. Tuyệt vời thay, với kỹ thuật ca hát điêu luyện, người thay thế cô ca sĩ chính thức lại hát hay hơn cô ca sĩ chánh thức nhiều. Và từ đó, song song với nghề xướng ngôn viên, chị Minh Trang bắt đầu hành nghề ca sĩ. Nhưng chị Minh Trang lúc đầu chỉ được giới sành điệu quá ít oi ái mộ mà thôi. Khán giả bốn phương chưa thể thưởng thức nỗi cách ngân gợn sóng dài lê thê đúng theo trường độ một nốt nhạc tròn của chị. Do đó mà có người cho rằng chị hát giống ma tru quỷ hú, làm cho họ rợn óc và nổi da gà. Lại có người bảo chị hát giống mấy cô ca sĩ đầm bên Pháp, nghe mà bắt buồn nôn. Cái phản ứng của khán giả vào những năm cuối của thập niên 40 vốn thô bạo vì khiếu thưởng ngoạn của đa số đều thô sơ. Nhưng mà tôi không nghĩ vậy khi nghe chị hát những bản nhạc của Dương Thiệu Tước như “Bóng Chiều Xưa”, “Bến Xuân Xanh”, “Ngọc Lan”, “Thuyền Mơ”. Vâng, chị Minh Trang hát giống đầm thật đó. Nhưng cách ngân nga gợn sóng lịm ngát rung rung kia dễ gì có ai mà bắt chước được? Ngân nga đâu phải ai cũng dễ làm theo ý muốn? Phải trầy vi tróc vảy, phải tốn hơi luyện tập mới tạo được một chuỗi ngân dài và óng ả cho giọng hát mình. Thuở đó, tôi cũng đã 13 tuổi, sớm hiểu biết được cái khó khăn nhất ở chỗ cách tập ngân nga trong lúc hát. Lại nữa, trong một bài điểm danh các giọng hát, nhạc sĩ Lê Thương có viết: “Minh Trang có giọng ca lưu luyến … ”. Do đó mà tôi tin ông ngay. Ngoài Bắc, đồng thời với Minh Diệu và Mạnh Phát có nam danh ca Ngọc Bảo. Hai bản “Nương Chiều” của Phạm Duy và “Cô Tú” của Long Châu được giọng hát rõ và gợi cảm
của anh diễn tả, trở thành phổ thông suốt từ Nam chí Bắc. Hai bản nầy đều được thu vào dĩa nhựa và bán chạy như tôm tươi. Thật ra, giọng hát của Ngọc Bảo chỉ gợi cảm và rõ tiếng chứ không phải là một giọng điêu luyện. Ngọc Bảo ngân nga không vững như Mạnh Phát và Châu Kỳ. Sở dĩ giọng anh nổi tiếng là nhờ bài “Nương Chiều” và bài “Cô Tú” vốn hợp với cảm quan lớp thính giả thuở đó. Đó là trường hợp “cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”. Nhờ anh mà hai bản nhạc kia phổ biến, nhưng cũng nhờ hai bản nhạc kia mà anh gây được tên tuổi trong thời kỳ nền tân nhạc vừa chớm nở.
Thuở 1948, có gánh Nam Hồng do ông Lưu văn Trình làm giám đốc. Gánh nầy là thối thân của gánh Đức Huy của ông Charlot Miều. Vào đầu mùa khói lửa, gánh Đức Huy giải thể. Ông Lưu văn Trình bèn mua lại xác gánh Đức Huy, sắm thêm tranh cảnh và y phục và gom góp mớ đào kép cũ của gánh Đức Huy, dựng nên bảng hiệu Nam Hồng. Kép có Quang Hữu, Tường Vân, Thiện Hữu. Đào có Thanh Tình, Lệ Thủy, Hồng Sáp, Lệ Hoa, Hồng Son, Bích Liên. Đào kép chánh như Thanh Tình, Lệ Thủy, Quang Hữu, Tường Vân đều ca tân nhạc rựa ràng, ngân nga lảnh lót lắm. Thanh Tình đẹp và hát hay không kém nữ nghệ sĩ Bích Thuận. Chị có khuôn mặt sắc sảo, tầm vóc tuy hơi nhỏ nhưng thật cân đối. Có một thời, chị là người tình tuyệt vời của anh chàng du ca Phạm Duy, lúc đó đang làm quản lý cho gánh Đức Huy. Chị thủ vai Triệu Trinh Nương hát bài “Đêm Mê Linh” của Văn Giảng, “Bản Đàn Xuân” của Lê Thương hay không chỗ chê. Giọng chị vì ém sâu trong cuống họng nên hơi gắt, nhưng thật vang lộng, khi lên cao thật chắc thật dẻo, chuỗi ngân của chị thật rập rờn có thể kéo dài trên trường độ một nốt nhạc tròn. Hình ảnh chị mặc áo hoàng bào thêu ngân tuyến, chít khăn vành giây gài những chiếc trâm nạm hạt thủy tinh lấp lánh cứ ám ảnh tôi không ngớt suốt cả tuần sau đó. Còn anh Quang Hữu đẹp trai quá thể, cặp mắt thật nhung, sống mũi cực kỳ thanh tú, vóc dáng vạm vỡ và cân đối. Anh hát ba bài “Hòn Vọng Phu I, II, III” làm tôi mê luôn. Giọng anh có âm lượng phong phú, lối ngân nga điêu luyện. Giọng hát sao mà hùng dũng như thác Cam Ly, lai láng như dải trường giang vào mùa nước nổi. Ai nào có thể ngờ ở một vóc dáng và sắc diện của một con người rất thơ và rất mộng như anh mà có một giọng mãnh liệt đầy âm vang lộng lạc dường ấy! Nói gì Lệ Thủy (người vợ đầu tiên của Quang Hữu) yểu điệu như nhánh thùy dương, thướt tha như cành lệ liễu, tuy không sắc sảo mặn mà như nữ nghệ sĩ Thanh Tình, nhưng khuôn mặt vẫn có những nét hài hòa. Giọng của chị thật ấm, hơi khao khao lúc xuống thấp, nhưng khi vút lên cao thì trong trẻo và ngời sáng. Chị có một chuỗi ngân khá điêu luyện. Tôi còn nhớ, vào đầu mùa nền Đệ nhất Cộng Hòa, nữ nghệ sĩ Thanh Tình vĩnh viễn bỏ sân khấu, chấp nhận cảnh làm vợ hiền cho một ông lương y Tây học thì ông giám đốc đoàn Nam Hồng phải tìm hai cô đào Hoàng Hoa và Thiên Kim thay thế chị. Riêng Lệ Thủy (người Bắc) thì nhường các vai nhì cho đào Thiên Kim. Chị chỉ giữ phần phụ diễn tân nhạc mà thôi. Tôi vẫn còn nhớ những màn phụ diễn tân nhạc do chị đảm nhiệm. Chị vẫn giữ vóc gầy như mai, sắc diện lúc nào cũng buồn như cúc. Luôn luôn chị lấy màu xanh làm chuẩn trong cách chọn áo dài: thiên thanh, lam ngọc, thủy, thanh tùng, bích liễu, thúy trúc, bích ngọc, uất lam, tĩnh thanh v.v … Giọng Lệ Thủy ấm áp, mặn mà. Lúc lên cao, từ giọng thật chị chuyền qua giọng óc rất khéo. Nghe chị hát hai bản “Nhớ Người Phương Xa” của Phạm Duy và bản “Trở Về” của Châu Kỳ mà tôi có cảm tưởng cái thế giới ca nhạc sao mà gần gũi với mình một cách thân tình và đậm đà đến như vậy.
Lệ Thủy có một chuỗi ngân thật óng ả, không chao đảo như lối ngân của nhiều nữ ca sĩ bên tân nhạc thuở đó.
Sau nầy, khi có người Bắc di cư vào Nam, tôi mới biết rằng trong những gánh cải lương ngoài Bắc, đa số các nam nữ nghệ sĩ đều biết hát tân nhạc. Chẳng hạn trong gánh Huỳnh Lan Anh gồm có Huỳnh Thái, Lan Phương và Anh Đệ đều biết hát tân nhạc cả. Huỳnh Thái mà hát những bản của Lê Thương như “Sao Hoa Chóng Tàn”, “Bản Đàn Xuân”, “Thu Trên Đảo Kinh Châu” thì thật du dương, dễ ru hồn nữ khan giả, ngoài những câu Vọng Cổ nhịp 16. Lan Phương là chị ruột của Ái Liên đẹp và hát hay không kém Ái Liên về cổ nhạc cải lương cũng như về tân nhạc. Anh Đệ cũng đã chứng tỏ tài hát tân nhạc của mình trong phim ca vũ Nghệ Thuật và Hạnh Phúc. Ngoài ra, cô đào cải lương Lệ Thanh và kép cải lương Ngọc Toàn trên đất Bắc cũng hát Tân nhạc rựa ràng lắm. Lệ Thanh cũng đã chúng tỏ tài nghệ ca hát của mình bên cạnh Anh Đệ và Ái Liên trong phim Nghệ Thuật và Hạnh Phúc. Ngoài ra cô đào Kim Xuân đã từng đóng phim Kiếp Hoa bên cạnh Kim Chung, hát tân nhạc thật quyến rũ, thật điệu nghệ, chỉ kém Kim Chung, Ái Liên mà thôi chứ chưa hề nhường Lệ Thanh, Bích Hợp, Lan Phương, Phụng Khánh bao giờ. Ngọc Toàn cũng đã hát thật truyền cảm bản “Cây Đàn Bỏ Quên” của Phạm Duy trong phim Kiếp Hoa. Khi đoàn Kim Chung theo làn sóng di cư vào Nam thì trong vở tuồng Tình Vương Ý Nhạc do Hoàng Lan soạn, Ngọc Toàn có dịp ca hát với Kim Chung nhiều bản tiền chiến, đặc sắc nhất là bản “Chiều”, thơ của Hồ Dzếnh, nhạc của Dương Thiệu Tước.
Ngoài ra ở ngoài Bắc, kép Mộng Dần, kép Sỹ Hùng, đào Phụng Khánh, đào Tường Vi (vợ của Sĩ Hùng và cũng là em gái của nữ nghệ sĩ Bích Thuận), đào Huệ Chúc, đào Lữ Nhàn, đào Khánh Hợi, đào Bạch Tường cũng hát Tân nhạc nào có kém chi ai? Dường như các nghệ sĩ gốc Bắc khi dấn thân vào nghiệp ca kịch cải lương là phải học thêm cách ngâm thơ, cách hát tân nhạc để bù đấp vào tài hát cổ nhạc Nam Kỳ vốn không mấy tinh thông điêu luyện của mình. Tôi có nhiều dịp trò chuyện với những bậc trưởng thượng từ Bắc di cư vào Nam về bộ môn nghệ thuật trình diễn ngoài Bắc. Theo họ, từ sau năm 1945 cho tới sau những năm dân Hà Nội hồi cư về các thành phố có chính phủ Liên Hiệp Pháp tạm chiếm, đất Thăng Long có những ca sĩ như Thương Huyền, Minh Đỗ, Tâm Vấn (bên nữ), Mai Khanh, Kim Tiêu, Ngọc Bảo (bên nam). Trong quyển hồi ký Thời Cách Mạng Kháng Chiến ở đầu chương sáu, Phạm Duy đã viết như sau:
Lúc đó, tôi rất nhớ sân khấu. May thay ở Hà Nội đang có phong trào đi nghe nhạc phòng trà. Những phòng trà đầu tiên của thời đại là:
Quán Nghệ Sĩ ở đường Bờ Hồ, do tay violoniste số một là Nguyễn văn Giệp điều khiển. Có nam ca sĩ Mai Khanh thường tới hát “Bên Hồ Liễu”. Nữ ca sĩ Bùi thị Thái, người vợ tương lai của Quản Liên, trưởng ban quân nhạc lính khố xanh thì chuyên hát bài “Con Chim Lạc Bạn”. Thỉnh thoảng có Dương Thiệu Tước tới đánh guitare hawaienne và có Thẩm Oánh tới để làm xướng ngôn viên.
Ở Hàng Bông có phòng trà Thăng Long với các nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt, Nguyễn Khắc Cung, Lương Ngọc Châu, Vũ Anh Thường. Tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm có phòng trà Tuyết Sơn với Vũ Thành thổi sáo. Trong đám nam ca sĩ lúc đó, tôi cho rằng Kim Tiêu là người hát hay nhất. Trong khi tôi vác bài “Buồn Tàn Thu” đi lưu diễn trong Nam thì ở Hà Nội, chính nhờ giọng hát Kim Tiêu mà những bản “Thiên Thai”, “Trương Chi” của Văn Cao nổi tiếng.
Một anh bạn của tôi là Đặng Trần Vận mở ra ở phố Hàng Gai một phòng trà lấy tên là THIÊN THAI vì dân chúng đang thời hâm mộ bài hát rất trữ tình của Văn Cao. Đây là nơi tôi được các nhạc sĩ Trần Quang Trường (biệt hiệu là “Schubert giả”), Đỗ Lệnh Tâm (“Tâm Xì” vì da đen như củ súng) và em là Đỗ Lệnh Kiên … đệm đàn cho tôi hát. Tôi lăng xê giọng hát phái nữ hay nhất của lúc đó là Thương Huyền. Nàng là người tình chớp nhoáng mới đây của tôi. Tên thật của nàng là Thường. Tôi đặt cho nàng một cách giản dị, theo lối đánh vần “thương huyền thường”. Tôi dạy cho Thương Huyền hát bài “Trào Lòng”, một bài ca nhờ ở giọng hát trong trẻo của cô ca sĩ rất đa tình nầy mà trở thành nổi tiếng. Thương Huyền có nụ cười và hàm răng như hoa nở. Tính tình thuộc loại bạt mạng, bất cần đời.
… Về sau tôi còn gặp lại Thương Huyền nhiều lần trong kháng chiến.
Về ca sĩ Kim Tiêu, nhà văn kiêm họa gia Tạ Tỵ đã viết trong quyển Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi ở chương ba (chương có cái tựa là “Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Trong Hà Nội Tạm Chiếm”) như sau:
… Trong khi tôi đang say mê với màu sắc, bỗng nghe tin ca sĩ Kim Tiêu đã bị giam trong Hỏa Lò từ mấy tháng nay. Kim Tiêu và Mai Khanh là hai ca sĩ rất nổi tiếng từ tiền kháng chiến. Trong đời ca hát của Phạm Duy, Duy chỉ nể có hai ca sĩ này Kim Tiêu về thành trước tôi nhiều tháng. Nhưng sau thời gian sống giữa lòng Hà Nội, có lẽ hằng ngày phải đối mặt với kẻ thù, hơn nữa cái mảnh trời kháng chiến nó cao rộng và hào quang quá, nên làm tâm trạng anh bứt rứt. Từ bứt rứt đi đến giận hờn, rồi chống đối, do đó, anh bị Pháp bắt, buộc tội là Việt Minh! Vào tù, anh vẫn không sợ, dù bị đánh đập, tra khảo thế nào, anhcứ coi thường. Pháp nhốt anh vào xà-lim (cellule), anh vẫn ca hát những bài của Việt Minh. Sáng nào, anh cũng nắm chặt tay vào song sắt hát bản “Tiến Quân Ca” của Văn Cao để đánh thức các tù nhân khác dậy. Từ ngoài khu kháng chiến, Văn Cao được tin cảm động lắm, làm một bài thơ, bí mật đem vào Hà Nội, rồi nhờ các cán bộ tình báo nội thành đưa vào Hỏa Lò cho ca sĩ Kim Tiêu. Tôi có được cả bài thơ, nhưng lâu ngày, bây giờ chỉ nhớ vài câu:
… Người danh ca ấy nằm trong ngục
Hà Nội nhớ tôi, hát bài ca cũ
Tiếng ca như buổi sớm trong
Tiếng ca vang vang khí phách
Xà-lim nổ tung ra
Cả Hỏa Lò vỡ toang thành khối nhạc !…
Câu chuyện về ca sĩ Kim Tiêu, tôi chỉ biết tới đấy, còn sau nầy, Kim Tiêu sống hay chết trong tù, tôi không hay.
Nước Mỹ áp dụng chế độ cưỡng bách giáo dục ở bậc trung và tiểu học. Ngoài những trường nổi tiếng và trường tư, hệ thống đại học công ở tiểu bang California gồm có hai hệ thống: UC (University of California system) như UC Berkeley, UC Davis, UCLA,… và CS (California State University system) như CS Northridge, CS Fulleton, CS Los Angeles,… Hệ thống UC có vẽ khá và nổi tiếng hơn. Chương trình giáo dục của Mỹ khá hoàn thiện, riêng tiểu bang California lại càng ưu đãi cho ngành giáo dục hơn mọi tiểu bang khác. Ít nhất ở thời điểm của thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước, hệ thống đại học công ở tiểu bang California đều miễn phí, sinh viên chỉ đóng một ít lệ phí nhập học mà không phải đóng tiền học phí cho mỗi lớp học. Tôi đã vào trường học hơn một khóa, nhưng thành phố Thousand Oaks dường như không bao giờ rời xa tôi. Nơi đây có một sự ràng buộc hay những mảnh vụn có thể xóa lấp những giây phút buồn và nhớ gia đình. Nhưng cũng có những lúc tôi không muốn trở lại Thousand Oaks trong ngày cuối tuần nếu ngày thứ Hai kế là ngày thi, nhưng ít khi nào tôi làm được chuyện đó! Thỉnh thoảng hội bảo trợ Tin Lành tổ chức những ngày họp mặt cho những gia đình tị nạn Việt Nam và những người di dân khác đến Thousand Oaks trước đây. Những cuộc họp mặt có tính cách hướng dẫn và dìu dắt người tị nạn làm quen để hòa đồng với cuộc sống mới. Những người tham gia thường là những gia đình thành công về học vấn hay trên con đường thương mại. Nhưng cuộc sống và xã hội nơi này rất khác với thành phố Sài Gòn, muốn hội nhập cũng đòi hỏi thời gian. Chỉ chưa đầy một năm trước, những buổi tối khi học xong năm ba chữ thấy đói bụng là, xẹt ra đầu hẻm ngồi ngâm nga bên tô phở bốc hơi, hay ngồi nhà gọi đứa bé đang gõ lóc cóc mang vào tô hủ tíu. Hay những buổi chiều cuối tuần xách xe chạy lang bang trên phố Sài Gòn tìm thăm vài người bạn, ghé thăm người tình hay cặp kè nhau đi trên phố. Không khí sôi động và nhộn nhịp của thành phố Sài Gòn nóng bỏng đã ăn sâu vào cuộc sống hằng ngày, mà khi còn ở đó người ta xem rất tầm thường, nhưng xa rồi mới thấy nhớ. Nhớ từ những việc rất đơn sơ như bóng người, sân trường với những tà áo bay phất phới, tiếng nói, và cả những cái nóng gay gắt trong những đêm Hè. Còn bao nhiêu thứ khác mà xã hội này không thể nào đáp ứng – tình cảm người thân và bạn bè. Có hôm Tẩu rủ tôi xuống thăm vài người bạn dưới San Diego. Tôi không có xe nên đi đâu cũng nhờ bạn bè hay đi xe buýt. Ở xứ này không có xe cũng giống như cái chân bị cụt vậy, cho nên nhà nào cũng có xe hơi và sở hữu chiếc xe hơi cũng như người Sài Gòn có chiếc xe đạp vậy thôi. Tẩu sắm chiếc xe gắn máy Honda 400 phân khối để đi học và đi làm hằng ngày. Và hôm đó Tẩu đèo tôi trên lưng chiếc xe Honda xuống San Diego. Ngoài xa lộ hầu hết là xe hơi chạy như tên bay, lâu lắm người ta mới phát hiện chiếc xe gắn máy. Và để có thể chạy ngoài xa lộ được thì xe gắn máy tối thiểu cũng phải 250cc trở lên. Ngồi sau lưng Tẩu tôi chờm người nhìn về phía trước, xe phải chạy theo vận tốc xa lộ không thì bị người ở phía sau bấm còi, bực bội! Nên Tẩu phải chạy lẹ, những làn gió thổi ngược lại đập vào mặt tôi làm cho da mặt cuộn lên từng gợn như gợn sóng trên mặt hồ! Và mỗi lần há miệng ra nói thì gió thổi lồng vào tạo thành tiếng kêu lạch bạch! Rồi chúng tôi cũng đến thành phố San Diego. Hôm đó trời mưa lâm râm. San Diego có khí hậu tương tự như ở Sài Gòn, nắng ấm và mưa cũng nhiều. Chúng tôi vào thăm gia đình người bạn của Tẩu. Là ngày cuối tuần nên nhiều người tụ tập lại ăn chơi. Chiều tối về họ ăn nhậu, bia, rượu và thức ăn đầy bàn. Sau cuộc ăn nhậu họ gầy sòng đánh bài. Những cuộc sát phạt không hề nương tay và khi máu ăn thua nóng lên thì người ta hay quạu, và bản chất thật sự của con người lúc đó hiện ra như trần truồng! Giữa cuộc chơi, người ta nghe tiếng khóc của đứa bé độ vài tuổi. Tiếng khóc trẻ con làm gián đoạn cuộc vui người lớn, và người mẹ vội vàng cho vào miệng đứa bé vài ngụm rượu đế. Từ đó tiếng khóc im dần và đứa bé đi vào giấc ngủ trong lòng người mẹ, bên sòng bài! Trong giấc ngủ chắc em nằm mơ cũng cám ơn cho đời, ít ra người mẹ cũng cho em cái hình hài này. Sáng ngày hôm sau chúng tôi giả từ những người bạn ở San Diego trở về Thousand Oaks. Con đường cũng dài bấy nhiêu đó nhưng sao thấy lẹ hơn lúc đi. Tôi trở lại trường Pepperdine. Khóa học thứ hai sắp chấm dứt. Bây giờ tôi có khái niệm về cuộc sống nơi đây, ít nhất là làm thế nào để tương lai bản thân không gặp vất vã trong công việc mưu sinh hằng ngày. Ngày xưa ở quê nhà có đôi lần tôi theo Cha đi săn chồn với đàn chó săn, và những ngày còn nhỏ trong mình tôi dường như lúc nào cũng có cái ná bắn chim. Cái thú săn bắn bỗng trở lại trong tôi khi tôi thấy đàn chim cút mập, no tròn, hằng ngày cứ lảng vảng trên bãi cỏ bên cạnh đại học xá tôi ở. Tôi thấy đàn chim cút “lì” hết biết, nó chẳng biết sợ con người, trong khi nó mang trên mình một “khối” thịt béo mở và nhởn nhơ như trêu chọc tôi. Từ đó, những ngày làm việc trong chuồng ngựa tôi để dành một ít tiền, và lần về thăm bạn bè ở Thousand Oaks tôi mua một cây súng trường bắn đạn bi. Tôi hứa với mấy người bạn ở Thousand Oaks, rằng: “Tuần sau tao sẽ cho tụi bây một chầu cút cụt đuôi.” Một buổi chiều, sân trường vắng bóng sinh viên, chỉ còn lưa thưa những kẻ không chỗ đi chơi hay nhà ở xa. Nhìn cảnh vắng vẽ trên đại học xá, tôi biết đàn chim cút đang nhởn nhơ ngoài đó, nên, tôi lòn cây súng trong người, và lức láo bước ra bụi rậm. Những con chim cút rút rít đi từ bụi cây này qua bụi cây khác, vừa đi vừa giật đầu lên xuống như con gà nuốt giây thun. Tui nằm sải sòng bên bụi cây, rình và đưa súng lên nhắm. Hình hài con chim cút lọt vào vòng tròn nút rùi của đầu súng, ngón tay tôi để sẳn trên con cò, nín thở. Tui đang hồi hộp. Ðến giây phút quyết định, tui đưa tay sát cò. Ðịnh bấm cò thì có tiếng lẹt xẹt bật lên kêu liên tục, rồi những hạt nước từ sân cỏ phun lên tứ tung vào chỗ tôi nằm! Chết rồi, tôi sợ tái mặt, chắc có nhân viên bảo vệ thấy tôi bắn “trộm” chim cút nên chơi tui. Tui liền dấu súng trong người, nằm yên xem xét tình hình. Một hồi lâu không thấy ai hết, và nước cũng ngưng phun lên những ngọn cỏ. Tôi bò đến khu khác nơi đàn chim cút đang ăn. Lần này tôi sợ. Sợ nhân viên bảo vệ nhà trường bắt gặp. Nhưng tôi không chịu thua mấy con cút cụt đuôi, nó cứ nhởn nhơ trước mặt tôi! Tôi ngồi trong bụi cây, nhìn ra bốn phía xem không thấy bóng người, tôi an tâm lôi súng ra. Phải nói những con cút xứ này sao “ngu” thiệt. Ngày xưa mỗi lần tui bắn hụt là mấy con chim cu đất bay đi thật xa chứ đâu có lì như mấy con cút này. Tôi lại kê súng bên bụi rậm và nhắm bắn. Tôi quyết tâm xách một con về Thousand Oaks để khỏi bị đám bạn chê là mình dở như hạch. Tôi đang nhắm mũi súng vào đàn chim, nín thở và đặt mọi chú ý vào bộ lông màu xám biết đi trước mắt tôi. Ðến giây phút gay cấn và tôi quyết định bấm cò, thì, xẹt xẹt, những hạt nước từ dưới đất lại phun lên những ngọn cỏ, và bụi cây nơi tôi nằm. Tôi liền thâu súng dấu vào trong người, và không còn nghĩ gì đến những cục thịt béo mở đang nằm trước mặt kia nữa. Tôi nghĩ chắc bị phát giác! Thế nào cũng bị bắt. Tôi lén rời những bụi cây và đàn chim cút, rút lui về khu đại học xá. Vừa đi vừa lức láo để ý nhân viên bảo vệ. Tôi vẫn không thấy ai. Và tôi về thẳng phòng trọ. Vậy là xong, chuyện của tôi và những con cút cụt đuôi coi như không có duyên! Tôi bỏ súng ở nhà đi dạo bên ngoài xem sao. Đi một hồi thì thấy sân cỏ sau lưng học xá tự nhiên nước từ dưới đất phun lên, và hết khu này tắt đi thì đến khu khác nổi lên, mà không thấy một ai mở nước hay cầm ống để tưới cỏ. Tôi mới ngộ ra. Và nhớ lại ngày xưa, nơi tôi lớn lên. Một đêm tối trời. Có hai ba người cán binh vì đói khát họ vào ngôi làng trong đêm tối. Trong màn đêm tịch mịch bỗng nhiên có tiếng kêu “quặp,… quặp quặp,…quặp.” la vang xóm nhà ông đại diện xã rồi im bặt, kế tiếp là tiếng chó sủa ầm lên. Thế là những người bảo vệ làng mang súng ra lùng xét. Những tiếng súng nổi lên xé tan giấc ngủ dân làng. Một người đang nằm dưới mương, chỉa súng lên bắn. Những tia chớp từ đầu súng lóe lên trong bóng tối làm một người khác thấy và chạy đến. Trong bóng đêm, viên đạn bay chổng lên trời và người ngồi dưới mương hỏi: “Ai đó?” Người kia không nói, tiến lại gần và ra khẩu hiệu: “Trót trót trót.” Người dưới mương liền chỉa súng bóp cò liên hồi. Người ra tiếng trót chó biết mình lầm và tiến sát vào mương chụp họng súng dơ lên cao cho khỏi bị trúng đạn. Cây súng tiếp tục nhả đạn và nòng súng nóng lên, người kia chịu nóng không nổi, buông tay ra, và viên đạn đã xuyên qua! Người dưới mương lật xác ra thấy trong người còn mang con vịt mới vừa bị vặn cổ. Sáng ngày người ta biết con vịt bị vặn cổ là của ông đại diện xã. Và thân xác người kia được trả về rừng. Cuối tuần đó tôi trở về Thousand Oaks, nhưng không mang theo được con cút cụt đuôi nào! Tôi hẹn đi chơi cùng Annet, nhưng tôi và nàng đều không có xe nên chỉ lòng vòng ngoài mall đến hết giờ. Lần này tôi hỏi lại nàng: “Tại sao em thích anh?” Annet nhìn tôi: “Vì anh nói em đẹp.” “Chỉ vậy thôi sao?” “Vậy thôi.” “Không lý không còn ai nói em đẹp sao?” “Không. Em chưa bao giờ nghe ai khen em đẹp ngoài anh, ngay cả bố mẹ em cũng chưa bao giờ nói rằng em đẹp. Cho nên hôm nghe anh khen em đẹp, em thích lắm.” “Nhưng mà em đẹp thật mà.” “Nhưng sao bao lâu nay người ta không nói với em điều đó!?” “Có lẽ họ ghen tương với sắc đẹp của em.” “Em không biết, nhưng biết có anh khen em đẹp là em vui rồi. Thôi mình đi ăn kem nhe.” Tôi lên xe buýt đưa Annet về nhà nàng rồi trở lại căn hộ của người bạn ở Thousand Oaks. Cuối tuần đó, sau những cuộc nhậu tôi lại trở về trường. Sau hai khóa học tôi thấy Pepperdine cho tôi đủ thứ, từ học phí đến nơi ăn chốn ở, nhưng có một điều vẫn làm tôi trăn trở, là, với mảnh bằng lấy được từ Pepperdine tôi có thể làm được những gì? Pepperdine chỉ có các ngành khoa học tự nhiên, luật và kinh tế. Những ngành này có thể giúp tôi tìm được việc làm nhưng chắc không dễ. Sau nhiều lần suy nghĩ tôi quyết định theo ngành kỷ thuật, vì tôi nghĩ, với tôi các ngành kỷ thuật sẽ dễ học và ra trường dễ tìm việc làm hơn. Nhưng Pepperdine không có phân khoa kỷ sư. Ngoài việc chọn cho mình một ngành dễ tìm việc làm, tôi còn một nỗi niềm nữa là nhớ nhà và nhớ gia đình. Gần hai năm sống một mình nơi xứ người có nhiều đêm tôi vẫn nhớ về quê hương ray rức. Ngày ra đi tôi chỉ muốn xa gia đình đi học, khi học xong tôi sẽ trở về. Nên bây giờ tôi muốn học ngành nào giúp ích tôi khi tôi trở về. Và cũng ở thời gian này những tin tức về ngành dầu hỏa, tin mỏ dầu Bạch Hổ sẽ được khai thác ngoài khơi Việt Nam đã cho tôi một quyết định. Tôi sẽ tìm trường để học kỷ sư dầu hỏa. Thực ra tiểu bang California cũng có trường có ngành dầu hỏa nhưng chỉ là dầu hỏa biến chế. Và tôi muốn theo học ngành tìm và khoan mỏ dầu, tôi muốn trong túi tôi chứa đầy đất cát của mỏ dầu thay vì học cách biến chế. Và chỉ có Oklahoma University mới có ngành này. Mùa Thu năm 1976 tôi tiếp tục ghi danh ở Pepperdine University và cùng lúc đó tôi đưa đơn xin học ở đại học Oklahoma. Và cũng mùa Thu năm 1976 Annet vào đại học. Hè 1976 Annet tốt nghiệp trung học và muốn xuống Pepperdine thăm chơi mấy ngày cuối tuần. Tôi nhờ người bạn gái tên Mamuda, sinh viên du học và là con gái của đề đốc Hải Quân Nam Dương, chở Annet xuống Malibu và ở trong phòng của Mamuda. Pepperdine University có khá nhiều sinh viên du học từ Á Châu, phần đông là từ Nhật Bản, Nam Dương, Hồng Kông và Singapore. Những sinh viên du học này đến từ những gia đình khá giả và có tiếng. Tôi biết một điều là con gái Nhật hầu hết có tên tận cùng với vần “Ko”. Trong lớp Anh Văn tôi học có một người con gái tên Kaiko (cây- ai- cô). Kaiko lúc nào cũng mang nụ cười trên môi, và Kaiko cũng làm cả đám bạn cười bể nụng mỗi lần nàng phát âm câu “As a matter of fact”. Những chữ kia không có gì lạ khi Kaiko phát âm, chỉ trừ chữ “motter fat” nàng bỏ chữ of và đã làm chúng tôi vui cười đến bể bụng. Ấy thế mà Kaiko lại thích dùng chữ “matter fact” trong nhiều trường hợp nàng phát biểu! Và đó là điều tôi nhớ nhiều nhất về Kaiko. Hầu hết những du học sinh đều ở trong đại học xá và hầu hết chúng tôi biết mặt nhau. Chúng tôi thường ngồi chung bàn hay chung nhóm trong những buổi ăn trưa và tối ở câu lạc bộ sinh viên. Brian cũng đến từ Nhật Bản, Brian là con trai của một đại tư bản, nhỏ con, da ngâm, miệng cười rất có duyên, và Brian thích ăn chơi hơn học. Ngoài căn phòng trong đại học xá Brian còn mướn một căn nhà riêng trên bãi biển Malibu để vui chơi. Bố mẹ Brian giàu có và chi tiền cho Brian không tiếc rẻ.Thỉnh thoảng Brian mang chúng tôi về căn nhà ngoài biển chơi. Trong nhà Brian có đủ thứ rượu bia và một dàn nhạc không khác gì một hộp đêm. Khóa đầu tiên Brian hòa đồng và thường đi chung trong nhóm sinh viên ngọai quốc, nhưng càng về sau Brian càng ít đi chung. Ðến khóa thứ nhì thì thân hình Brian tiều tụy đi nhiều. Rồi một buổi chiều người ta thấy tay chân Brian đổ máu đầm đìa, mặt xanh như tàu lá. Và đó là kết quả của những lần rượu chè, bạch phiến mà Brian vướng phải. Con ma thuốc đã hoành hành thân xác Brian trở nên điên cuồng, đập phá. Nhưng với Andy mập và Takeo thì khác. Tôi thường về nhà Andy mập trên bờ biển chơi và dạy cho Andy mập bài ca Việt Nam. Có lần Andy mập và Takeo cùng chúng tôi lái xe lên cầu Cựu Kim Sơn chơi, trên đường về chúng tôi đồng ca bài Những Ðồi Hoa Sim. Andy mập trong giọng ngọng nghịu: “Xưa, xưa nói gì bên em . . . Một người đi chưa về mà đành lỡ ước tơ duyên.” Annet đến thăm tôi vào mùa Hè, khuông viên trường vắng vẽ. Tôi không có xe nên chỉ đưa Annet đi chơi xung quanh trường và tôi cùng nàng lội bô qua cánh đồi cỏ xanh non để xuống thành phố Malibu, từ đó chúng tôi băng ra bờ biển. Annet trông hồn nhiên chạy nhảy trên những bãi cát. Biển Malibu hẹp, ít sóng và không có chỗ tắm nước ngọt nên chúng tôi chỉ nô đùa trên cát. Một hôm Annet nhìn lên ngọn núi sau trường và nàng muốn leo núi. Tôi chiều nàng và cùng nhau băng qua rặng đồi sau đại học xá. Một lát sau chúng tôi đứng giữa núi, bên một hố nước không sâu lắm, chỉ có đá, những bụi cây thấp, và rất nhiều hoa dại màu vàng rực rỡ như hoa dã quỳ mọc bên suối. Annet nắm tay tôi đến một tản đá. Mùi thơm hoa rừng lan tỏa trong không giang tịch mịch của núi rừng quyến rũ như mùi thơm da thịt cửa nàng thiếu nữ. Annet yểu điệu mơ màng bên những cành cây như “Trăng nằm sóng soải trên cành liễu”. Với đôi môi đỏ mộng mơ màng chỉ “Ðợi gió đông về để lả lơi”. Núi đồi hoang vu, tiếng chim ca hót, tiếng chuông giáo đường trong Chapel, tiếng côn trùng rỉ rả và ngay cả “Tiếng lòng ai nói sao im đi?” Annet ôm cứng tay tôi trong cánh tay nàng, nhìn xuống chân đồi đầy hoa vàng, và trách: “Sao con trai Việt các anh có cái tội cố chiếm quá vậy.” “Em nghĩ như vậy sao?” “Ừ. Hình như các anh bị dồn nén trong chiến tranh lâu quá, nên không có cái nhìn thống thoáng về tình yêu. Nên khi yêu chỉ muốn chiếm đoạt thôi.” “Có lẽ em đúng. Nhưng em thử nghĩ xem, trước một tác phẩm tuyệt vời mà tạo hóa đã tạo nên, thử hỏi bọn con trai nào lại không muốn chiếm đoạt.” “Anh chỉ có giỏi nịnh đầm thôi.” Annet ngả đầu vào vai tôi, đôi mắt lim dim dần theo tiếng gió trên đồi. Chiều Chủ Nhật hôm đó tôi đưa Annet về trở về nhà. Và tuần sau nàng rời Thousand Oaks lên đường đi học. Năm tháng sau tôi không nghe tin gì về Annet, nàng cũng ít khi trở lại Thousand Oaks. Ðầu năm 1977 nhận được thư chấp nhận của Oklahoma University, tôi trở về Thousand Oaks thăm gia đình Mom Valeri và papa Smith. Tôi đã trình bày cùng Mom và papa rằng tôi quyết định rời Pepperdine để đi học trường khác. Mom có vẽ tiếc và nói: “Con có biết mấy ai may mắn có được cái học bổng như Pepperdine cho con không?” “Con hiểu. Nhưng nếu con ham và ôm cái học bổng này thì chỉ sợ sau này tìm việc làm khó mà thôi.” Và tôi nói với Mom và papa Smith rằng tôi cũng xin được học bổng bốn năm, gồm học phí nơi ăn chốn ở, từ Oklahoma University như Pepperdine đã cho tôi. Mom và Papa Smith vui mừng không còn khuyên tôi nên ở lại Pepperdine nữa. Những ngày tháng còn lại ở Pepperdine tôi vẫn vừa đi học và làm cho chuồng ngựa. Ngoài tôi và một sinh viên khác làm trong chuồng ngựa còn có Richard là nhân viên chính. Richard không theo học ở đây, anh ta chỉ đến đây làm việc. Mỗi ngày tôi lên chuồng gựa dọn dẹp phân trong chuồng ra và mang cỏ bỏ vào máng cho ngựa ăn. Có nhiều lúc tôi cũng thấy Richard làm những công việc như tôi, nhưng Richard làm thấy dễ dãi và sướng hơn tôi nhiều. Mỗi lần xúc phân ngựa mang ra khỏi chuồng tôi phải dùng cái xẻng và mang ra bằng tay. Nhưng Richard thì khác, anh ta mang xe xúc (tractor) đặt trong lối đi nhỏ bên trong chuồng ngựa, dùng xẻng xúc phân ngựa bỏ vào xe xúc, xong Richard lái xe xúc mang phân ra ngoài đổ. Tôi thấy Richard làm khỏe quá, còn tôi thì hì hục mang từng xẻng phân nặng nhọc. Nhưng một hôm không có ai trên chuồng ngựa ngoài tôi ra. Tôi thấy chiếc xe xúc nằm ngoài sân, tôi liền leo lên lục tìm chìa khóa và đề xe nổ máy. Xong tôi lái chiếc xe một vòng trên sân, thấy không sao, tôi bắt đầu làm như Richard, mang xe vào lối đi trong chuồng ngựa. Sau khi xúc phân bỏ đầy cảng xe xúc, tôi leo lên xe và mang phân ra ngoài. Lối đi bên ngoài giữa chuồng ngựa và gò đất chật hẹp, tôi chạy một hồi thì cảng xe đụng bên này xong đụng bên kia. Tôi cố lách để mang đống phân ra, càng lách đầu này thì cảng xe đụng vào bức tường bên kia. Tôi vẫn không chịu thua, và cố lách để mang xe ra. Cuối cùng cảng xe dính cứng vào vách chuồng ngựa, tôi lại cố lôi ra, và đùng, bức tường chuồng ngựa bị bể một lỗ to bằng cái nong làm ngựa hoảng hồn phóng ra ngoài chạy tứ tung lên núi. Tôi tắt máy xe ra ngoài đi gom ngựa về nhưng quá trể, một bầy ngựa như ngựa hoang tản lạc khắp nơi trên núi. Thôi rồi, biết làm sao đây. Tôi rầu rỉ lủi thủi trở về phòng đại học xá, chờ sáng mai ra nhân tội. Tôi biết có bán hết thân tôi cũng đền không nổi kỳ này. Và đây là lần đầu tiên tôi lái xe ở Mỹ! Sáng ngày tôi thức dậy sớm và mò lên chuồng ngựa. Gặp ông George, người chủ trì chuồng ngựa, là người dạy tôi trong lớp kỵ mã khóa trước, và cũng là người chấp nhận cho tôi làm việc ở chuồng ngựa này. Tôi không đợi ông George lên tiếng trước, tôi đến và nói với ông rằng cái lỗ đó là do tôi gây ra và những con ngựa biến đâu mất cũng do tôi gây ra, bây giờ ông muốn phạt tôi ra sao thì cứ phạt. Ông nhìn tôi và nói không sao, mấy con “ngựa hoang” kia ông sẽ kêu nó về, nhưng ông nói từ hôm nay tôi không còn là nhân viên của chuồng ngựa nữa. Ông bảo tôi khỏi phải đền bù cho bức tường tôi làm bể, vì có đền tôi cũng không đủ tiền để đền. Tôi không nói lời nào, chỉ nói tiếng cảm ơn thật nhỏ rồi lặng lẽ bước ra khỏi khu chuồng ngựa. Xong khóa học cuối ở Pepperdine University tôi trở về Newbury Park thăm “gia đình”. Một tuần sau, những người bạn ở Thousand Oaks đếm đâu được bảy thằng: Lang, Tẩu, Dương, Tư, Lợi, Diễn, và Quang. Chất một đống trên chiếc station wagon của Quang tiễn tôi ra phi trường Los Angeles. Chiếc máy bay rời phi trường bay về thành phố Philadelphia thăm năm ba người thân, trước khi tôi vào trường dầu hỏa Oklahoma University. Những cuộc nhậu, và tiếng cười trong căn nhà nhỏ ở Thousand Oaks từ đó vắng bóng tôi. Hay là, Thousand Oaks, “ở đây sương khói mờ nhân ảnh; Ai biết tình ai có đậm đà!”
Cơn ác mộng của tôi đã qua. Nhưng tôi đã phải rời bỏ quê hương, và dân tộc Việt Nam hãy còn sống trong nô lệ, những bạn bè thân thiết của tôi vẫn còn ở trong những trại khổ sai đểu cáng ở Miền Bắc và Miền Nam.
Thế mà vừa đến được trại tị nạn, tôi có ngay cái cảm tưởng là đa số chúng ta đã quá bội bạc với những người còn ở lại. Mọi người chỉ trông thư, trông tiền, trông ngày đi định cư, nôn nao bàn tán hàng ngày về những tin tức định cư mà tâm tư dành cho những người còn ỏ tù tại Việt Nam thì dường như chỉ chiếm một chỗ rất nhỏ trong lòng. Anh em còn ở trong tù từng phút từng giây mong đợi ở những người bên ngoài. Chiến dịch nhân quyền mà hồi ở tù chúng tôi biết được qua những bài báo chống đối Cộng sản, và qua những tin tức rất hạn chế nghe được, đã an ủi chúng tôi rất nhiều. “Thế giới chưa quên chúng ta” – chúng tôi đã nói với nhau như vậy khi nói đến chiến dịch nhân quyền. Nhưng chỉ chiến dịch nhân quyền chưa đủ. Kẻ lì lợm như Cộng sản, nhất là Cộng sản Việt Nam, phải chịu những đòn nặng nề hơn, cụ thể hơn, mới mong có sự thay đổi.
Chúng ta, những người chống Cộng, dù đã thua trận phải bỏ nước ra đi, vẫn còn chia rẽ, nghi kỵ nhau, đổ trách nhiệm cho nhau.
Tôi nghĩ bây giờ không phải là lúc ngồi chửi nhau. Trong hoàn cảnh mất nước, mỗi người chúng ta đều phải tự nhận trách nhiệm của mình. Người lãnh đạo phải nhận trách nhiệm đã lãnh đạo tồi tệ và đã không thành tín với dân chúng. Người đối lập phải nhận trách nhiêm đã phá rối trật tự, làm hại tinh thần chiến đấu chống Cộng. Tưởng ta phải nhận trách nhiệm đã chỉ huy kém, đã tham nhũng. Công chức, cán bộ phải nhận trách nhiệm đã ươn hèn, tham nhũng. Ký giả xách bị gậy đi biểu tình phải nhận trách nhiệm đã gây dư luận rã rời trong lúc nước sắp mất. .
Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đối với những trẻ em đã rơi xuống biển trong cuộc di tản 1975, những thương binh Việt Nam Cộng Hòa bị đuổi khỏi các bệnh viện trong ngày sụp đổ, những người con gái bị hải tặc hiếp dâm trong khi đi tị nạn, những người hiện còn ở trong các trại tù.
Tôi nghĩ đến những người Biệt Kích đã ra đi công tác tại Miền Bắc từ thời bác sĩ Tuyến, họ nghe Tổng Thống Diệm bị lật đổ, họ nghe đảo chính, chỉnh lý liên tiếp ở Miền Nam, cho đến lúc nghe tin Dương văn Minh đầu hàng Cộng sản , và nay họ vẫn còn tiếp tục ở tù. Những người đã ra lệnh cho họ đi công tác, và những cố vấn Mỹ của chương trình nầy, nay ở đâu?
Trong một chế độ bất ổn, mọi người chống đối nhau, thanh toán nhau, rồi kéo nhau chạy ra ngoại quốc, kẻ ở Pháp, người ở Mỹ, hoặc tiếp tục chửi nhau, hoặc im lặng sống trong những ngôi nhà tiện nghi, để lại các viên chức xã ấp cho Cộng sản về thanh toán, để lại các phế binh cụt cả hai chân bò đi ăn xin ngoài đường, để lại những người khí tiết bắn vào đầu tự tử, để lại những người anh em ở trong các trại khổ sai không biết bao giờ thoát được ra.
Tôi nghĩ đến những người Đồng Minh đã cùng chúng ta chiến đấu bảo vệ Tự do, và khi chúng ta mất nước thì họ vẫn là siêu cường; và liệu chúng ta vẫn nên cám ơn rằng dù sao thì họ cũng đã đổ mau và đổ tiền để giúp chúng ta bảo vệ Việt Nam Công Hòa, hay là trách họ rằng đã bỏ rơi một tiền đồn Thế giới Tự Do, trong chiến lược toàn cầu của họ?
Tôi nghĩ đến những em bé Miền Bắc mà tôi đã gặp đi bắt cá mò tôm trong những ngày đông tháng giá, áo quần không có. Tôi nghĩ đến những bà già Miền Bắc suốt đời đói khổ làm lụng vất vả phải luôn miệng nhớ ơn Bác ơn Đảng trong khi thân thể chẳng còn ra được dáng người.
Tôi nghĩ đến những người bị đuổi đi vùng kinh tế mới, sống không nổi, trở về thành phố cũ, vợ con nheo nhóc nằm trên lề đường giữa mùa mưa gió.
Chế độ Cộng sản thực ra chẳng có gì mạnh. Lý thuyết Cộng sản đã tỏ rõ là không tưởng trong lý thuyết và sai lầm trong thực tế. Cộng sản chỉ nắm chính quyền bằng những kỷ thuật chính quyền của Lénine, chứ không phải nhờ lý thuyết của Marx. Kinh tế Việt Nam bây giờ ngày càng xuống dốc nhưng những kẻ cầm quyền giáo điều. Hết đổ lỗi cho đế quốc thực dân đến đổ lỗi cho thiên tai, chứ họ chẳng bao giờ chịu nhận là chính họ đã sai lầm về đường lối căn bản.
Thực tế là hơn ba mươi năm nay, Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã bắt dân tộc Việt Nạm phải chiến đấu cho công cuộc bành trướng của Nga Sô để khoảng mười triệu người đã phải bỏ mình, và áp dụng một đường lối sai lầm làm cho mọi người ngày càng nghèo khổ đói rách. Cộng sản Việt Nam tự cho rằng trong mấy mươi năm nay họ đã làm được hai cuộc cách mạng: cuộc cách mang giải phóng dân tộc, và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Kết quả của cái gọi là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chỉ là để dâng cảng Cam Ranh cho Nga và tàu chiến Nga có thể vào vịnh Thái Lan. Kết quả của cái gọi là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ là mọi người đều phải đi làm thuê cho nhà nước trong tình trạng đói rách, bần cùng.
Trước khi vượt biên, tôi nghe có người nói chuyện rằng trong một phiên họp, Võ văn Kiệt, Bí thư Thành bộ Sàigòn, có nói “cần phải chấm dứt tình trạng phi lý là trong khi một bác sĩ chuyên khoa tại bệnh viện mổ dạ dày con người để vá lại thì chỉ được trả có mấy hào (tính theo số lương mà bệnh viện phát cho), còn một anh sửa xe đạp ngoài lề đường vá một cái ruột xe đạp thì ăn đến mấy đồng.” Tôi không biết câu chuyện có thật không, nhưng nếu quả Võ văn Kiệt có nói như thế thì các bác sĩ chẳng có gì đáng mừng, nhưng những người sửa xe đạp thì rất đáng lo, bởi vì Cộng sản xưa nay vẫn chỉ một cách giải quyết đối với các trường hợp bất bình đẵng là dành cho tất cả mọi người đều nghèo xuống chứ không phải là nâng người nghèo lên đâu.
Tình trạng dân chúng chống đối ngày càng công khai, sự chia rẽ trong nội bộ đang vì vấn đề Trung quốc, nạn tham nhũng lan tràn, quân sự sa lầy, kinh tế lụn bại… mỗi yếu tố đều khiến cho ta thấy sự sụp đổ của chế độ Cộng sản đã được báo trước. Nhưng không phải cứ thế rồi tự nó sụp đổ. Phải có người hoạt động lật đổ nó.
Tôi nghĩ rằng việc lật đổ chế độ Cộng sản Việt Nam không phải là việc khó. Nếu chung ta làm không được thì đó là tại chúng ta quá kém chứ không phải là tại việc khó. Tất nhiên chúng ta không thể lật đổ chúng bằng tay không, trong khi chúng được Nga sô viện trợ mỗi ngày ba triệu dollars. Nhưng chúng ta cũng chẳng thể ngồi chờ cho các cường quốc dọn dẹp ngôi đình Đông Dương, dọn mâm cỗ sẵn để cho chúng ta giành nhau đóng vai Tiên Chỉ.
Tôi cho rằng cái khó đối với chúng ta là làm sao xây dựng lại nước Việt Nam sau khi Cộng sản sụp đổ. Hàng ngũ chúng ta dường như lúc nào cũng bê bối. Quần chúng Miền Nam hiện giờ rất tốt, họ đã biết cái tự do bê bối ngày trước và biết tính cách nô lệ của chế độ Cộng sản hiện nay. Nhưng nếu tình hình nầy kéo dài năm, mười năm nữa thì không biết lớp thanh niên sau nầy sẽ như thế nào.
Còn quần chúng Miền Bắc, sau mấy mươi năm sống dưới chế độ Cộng sản, họ đã quen với lối làm việc mà hiệu năng kinh tế rất kém, tôi e rằng sau nầy dù có đường hướng tự do họ cũng chậm chạp trong công cuộc phát triển kinh tế vì thiếu sáng kiến, thiếu khả năng kỷ thuật, và có thể ngã về con đường tự do vô kỷ luật.
Trong hoàn cảnh như vậy, những người lãnh đạọ, những cấp chỉ huy và cả bộ máy chính quyền phải có chính sách đúng, chấp hành đúng, kỹ thuật cao, mới có thể đem lại trật tự xã hội và thúc đẩy, phát triển kinh tế. Không chuẩn bị sẵn đường lối chính sách và hàng ngũ cán bộ thì dù thời cơ có đến, chúng ta cũng chỉ là những kẻ ăn hại nữa mà thôi.
Trên chuyến xe lửa từ Thanh Hoá về Saigon, tháng chạp năm Kỷ Mùi, khi xe qua cầu Bạch Hổ, tôi nhìn thành phố Huế, nhìn cột cờ Phu Văn Lâu bên ngoài Thành Nội và nghĩ đến những biến chuyển của đất nước kể từ năm 1945. Cột cờ Phu Văn Lâu với lá cờ Long Tỉnh thời Pháp thuộc, lá cờ Quẻ Ly thời Nhật, lá cờ đỏ sao vàng khi vua Bảo Đại thoái vị, rồi lá cờ vàng ba sọc đỏ của Quốc Gia Việt Nam, của Việt Nam Cộng Hòa… Phu Văn Lâu cũng là nơi mà năm 1964, Mac Namara Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã hô lớn “Việt Nam muôn năm“
Tôi chợt nhớ câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
Ta còn để lại gì không Kìa non đá lở nầy sông cát bồi…
Và lại nhớ đến câu hát trong bài Tâm Ca của Phạm Duy: ·
“… để lại cho em hèn kém của anh”.
Nhưng trên dòng sông Hương u buồn như đọan đầu ở thể nhạc mineur của bản Tâm Ca, từ đáy lòng, tôi vẫn nghe dội lên tiếng sóng đâu đây, rộn rã như điệp khúc đã chuyển qua majeur của bản nhạc:
“Xin nhận lời tranh đấu… Cho niềm kiêu hãnh vươn lên.”
Khởi sự tại trại Tỵ-nạn Songkla, Thái-lan. Viết xong tại trại Tỵ-nạn Galang, Indonesia. ngày 9-11-1980
Một buổi sáng Chủ Nhật đầu tháng Giêng năm 1976, Mom Valerie thức dậy sớm. Cũng như mọi buổi sáng, Mom bày trên bàn 5 tô cereal (thức ăn dùng để ăn chung với sữa tươi), 5 ly nước cam tươi, 5 trái chuối, và 5 viên thuốc bổ cho 5 đứa con. Riêng Papa Smith và Mom thì có dĩa trứng gà ấp- la, mấy lát thịt heo ba chỉ dài và mỏng như tàu lá được chiên dòn cong queo, vài lát bánh mì nướng, năm ba cục bơ, kem dâu, và ly sữa tươi. Những bữa ăn sáng như thế này Mom Valerie đã làm và làm rất đều đặn cho gia đình. Có lẽ vì vậy mà ít khi thấy những đứa con của Mom bị sổ mũi, hay nóng lạnh. Jim Jr., Jeff và John, ba đứa nhỏ, ăn xong chào mọi người rồi bước ra con đường trước nhà đón xe buýt đến trường. Papa Smith rời bàn ăn, khăn áo chỉnh tề, Mom Valerie trao cái mũ vải màu xanh đen có viềng mấy cành hoa dương liễu màu vàng cho Papa Smith. Trước khi bước chân ra xe chạy về phi trường, Papa Smith bắt tay tôi và Điện, nhắn nhủ vài lời lo học hành và thường xuyên về thăm gia đình. Papa Smith đặt nụ hôn lên má của Mom rồi ra đi. Papa Smith và Mom đều kỵ câu “chúc mừng may mắn trong chuyến bay” mỗi lần lên đường cho phi vụ, nên tôi chỉ bắt tay và nói hẹn ngày gặp lại. Vẫy tay chào Papa Smith, chúng tôi quay vào nhà phụ Mom dọn dẹp bàn ăn, Mom bảo: – “Chúng ta phải đi kẻo muộn.” Từ hôm qua tôi đã đến thăm và giã từ bạn bè ở Thousand Oaks. Bốn chiếc vali thời cổ lỗ sĩ màu vàng cứng như đá được đẩy lên chiếc station wagon của Mom. Chúng tôi lên xe. Một lần nữa tôi nhìn lại căn nhà ấm cúng với một “gia đình” thân yêu, tuy mới biết và hai tháng qua tôi đã sống trong đó. Khi chiếc xe từ từ lăn xuống con đường South Longford, một cảm giác không rõ giữa buồn vui lại hiện ra trong tôi. Trong căn nhà ấm cúng này tôi bắt đầu cuộc sống mới. Tình cảm của Mom, Papa Smith và ba đứa em nhỏ dành cho chúng tôi thật trọn vẹn. Mặc dầu Papa Smith ít khi trò chuyện, một phần vì ông thường bay và một phần ông có vẽ nghiêm trang, ít nói. Thỉnh thoảng Papa Smith cũng suy tư về những ngày ông đóng quân ở Việt Nam, về những người bạn cùng ông chiến đấu đã bỏ mình nơi đó. Những địa danh tiếng Việt ông phát âm hơi lạ làm tôi khựng lại và mỉm cười mỗi lần chúng tôi trò chuyện. Nhưng những câu chuyện chiến tranh thường được chấm dứt rất ngắn. Xe chạy ngang qua nhà chị Joann, cổng sân nhà chị đóng kín, không thấy bóng người. Có lẽ giờ này chị vẫn còn lay hoay trong bếp, sửa soạn khăn gói để lên nhà hàng Mễ Tây Cơ. Tôi mỉm cười và thầm cảm mến một người chị dễ thương, yêu kiều. Chắc chắn từ đây tôi sẽ không còn cơ hội được ngồi bên chị, nghe chị nói, nhìn chị cười mỗi buổi sáng đi làm. Rời khỏi Newburry Park, Mom bắt vào Freeway 101 chạy về hướng thành phố Los Angeles. Xe chạy xuyên qua thành phố Thousand Oaks, một lát đã đến những cánh đồng cỏ thênh thang dọc theo hai bên Freeway 101.
Đầu mùa Xuân, cây bắt đầu đâm chồi và những ngọn cỏ cũng bắt đầu xanh trở lại. Xe vẫn lao trên xa lộ và gió vẫn thổi. Mom chỉ cho chúng tôi những con đường và xóm nhà nằm cheo leo bên sườn đồi, đó là khu nhà của những người nông dân giàu có, họ sống một mình một cõi giữa triền núi. Nửa tiếng đồng hồ sau Mom rẽ Freeway 101 bắt vào Malibu Canyon Road, đi về thành phố Malibu bên bờ Thái Bình Dương. Đi được nửa đoạn đường, Malibu Canyon Road trở nên ngoằn ngoèo, hiểm trở. Con đường khúc khủy cong queo như con rắn, một bên là sườn núi một bên là vực sâu thăm thẳm. Nhìn qua cửa xe những chỏm núi đá kéo dài đến ngoài tầm mắt. Núi không có cây lớn, chỉ có những bụi nhỏ và đá. Mom ôm tay lái chậm chạp len qua từng kí- lô- mét. Xe chun qua một đoạn đường hầm. Ra khỏi đường hầm là đi được hơn nửa đường đèo, núi rừng trở nên xanh tươi hơn. Từ đây dõi mắt nhìn về phía trước sẽ thấy Thái Bình Dương bao la. Và xe đổ xuống đèo. Dưới chân đèo là một vùng cỏ xanh tươi như mạ non, bên tay mặt là một tảng đá to nằm bên cạnh bức tường hình cánh cung, ngắn, thấp, có ghi hàng chữ to: Seaver College. Mom tách khỏi Malibu Canyon Road vào con đường riêng dẫn vô khu đại học Pepperdine University. Hôm nay là ngày Orientation (ngày đầu giới thiệu trường cho những sinh viên mới). Khuôn viên đại học người đông nhộn nhịp, những bãi đậu xe đều kín mít, nhiều phụ huynh và tân sinh viên dập dìu trên khuôn viên trong ngày thăm trường. Mom đậu xe, đưa tôi và Điện đến bàn thông tin đặt ngoài sân để trả lời mọi câu hỏi cho mọi người. Mom hỏi nhân viên phụ trách chúng tôi phải “trình diện” nơi đâu, vì chúng tôi không là công dân Mỹ cũng không là du học sinh từ nước nào. Trong khi Mom đang hỏi về trường hợp chúng tôi thì từ đâu Dr. Moore lù lù đi đến. Dr. Moore là người vân động cho tôi vào trường nầy. Dr, Moore bắt tay Mom và nói Mom hãy để cho ông ta đưa tôi và Điện đến nơi ghi danh lớp học. Mom vui tươi chào Dr. Moore, nhắn nhủ tôi và Điện đôi lời cố gắn học hành, rồi giã từ ra về. Tôi không là du học sinh và không văn phòng nào phù hợp nhất để lo học vụ cho tôi và Điện ngoài trừ phòng học vụ dành cho sinh viên ngoại quốc, và Dr. Moore đã đưa chúng tôi đến đó. Nơi đây chúng tôi được hướng dẫn những môn, ngành, phòng học, thời khóa biểu, trao thẻ ăn để dùng mỗi ngày, và cũng nơi đây đã ghi danh tôi và Điện ở cùng một khu đại học xá. Tôi vẫn còn trong thời gian tìm hiểu về trường đại học này, và cũng chưa đủ khả năng Anh Văn để ghi danh những “cua” cao cấp. Hơn nữa tôi được chấp nhận vào Pepperdine University như một sinh viên năm thứ nhất, nên, để dễ thở và để chuẩn bị cho những cuộc chạy đua sau này, tôi chỉ ghi những “cua” khoa học căn bản: Toán, Lý, Hóa và một lớp Anh Văn cho sinh viên ngọai quốc. Đó là những món ăn cho “trí thức”, ngoài ra chương trình đại học Mỹ còn đòi hỏi sinh viên phải lấy những lớp kiến thức tổng quát ngoài chương trình chính, gọi là elective courses. Tôi chưa rõ và không biết gì để chọn nên tôi ghi danh lớp Tennis sơ cấp. Bấy nhiêu đó tạm gọi là đủ cho khóa học đầu tiên. Rời phòng ghi danh, tôi tìm đến căn đại học xá mà tôi sẽ trú ngụ cho suốt học kỳ ở đây. Khuôn viên khu đại học Pepperdine nằm trên sườn núi. Đứng trên khuôn viên đại học nhìn xuống là thành phố Malibu và bờ biển Thái Bình Dương. Sau lưng khuôn viên đại học là dãy núi đá với những chồi cây nhỏ chen lẫn nhau tạo thành một màu xanh nâu. Pepperdine University, một khu bất động sản thật lãng mạn, đẹp, và hùng vĩ! Khu học chính, khu quản trị, thư viện, đại học xá, sân vận động, hồ bơi, sân tennis, và nhà ăn đều không nằm trên một mặt bằng, mà được xây trên những mặt đất được xén ra từ triền núi cao thấp khác nhau, như những ruộng thang ở Sơn La, Hà Giang. Nằm riêng biệt trên triền núi là văn phòng của viên giám đốc điều hành học vụ, gọi là Provost House dưới quyền của viên Hiệu Trưởng, với con đường đi lên quanh co giữa những chồi cây. Provost House có nuôi một đàn chó Berger để phòng kẻ trộm. Khu đại học xá là một dãy nhà riêng biệt trên một độ cao thoáng mát. Con đường tráng nhựa chạy cong cong trước mặt khu đại học xá với hàng cây lá đỏ như màu Phượng Vĩ. Bên kia con đường là sân vận động, sân baseball (bóng chày), sân tennis, và hồ bơi. Và nhìn xa hơn nữa là dãy nhà dân với những mái ngói đỏ chói. Học xá tôi ở là một cụm nhà kế chót trong dãy đại học xá, nhỏ vuông tượng, hai tần, có tên là Tau (phát âm là “Thâu”), ký hiệu chữ T La Mã dùng trong toán học (sau này cụm nhà mang tên Tau được đổi thành Morgan Hall). Tôi ở căn phòng lầu dưới, nhìn ra là thảm cỏ với bông hoa và hàng cây bóng mát. Mỗi căn nhà có tám phòng, mỗi phòng dành cho hai sinh viên ở. Tôi ở chung với một tân sinh viên khác tên là Craig (không còn nhớ tên họ của Craig.) Lần đầu tiên tôi cảm thấy mình như một đứa con nhà giàu, được học tại một trường nổi tiếng (học phí $400 cho mỗi tín chỉ thời 1976), đẹp, thơ mộng. Đi bên cạnh những sinh viên được cha mẹ đưa đến trường mỗi sáng thứ Hai trên những chiếc xe sang trọng như Cadillac, Mercedes hay tự lái những chiếc xe xì- po bóng loáng, mà trong túi tôi không có một xu! Hệ thống trường đại học Pepperdine thời 1976 gòm có ba học viện (campus): Một ở Los Angeles, một ở Malibu city, và một ở Heidelberg Tây Đức. Ngày nay Pepperdine University có bảy campus trên khắp thế giới: Buenos Aires – Argentina; Florence – Ý Đại Lợi; Heidelberg – Đức; London – Anh Quốc; Shanghai – Trung Quốc; Lausanne – Switzerland; và Chiang Mai – Thái Lan. Ngoài học viện chính tại Malibu city, Pepperdine University còn có sáu campus khác (hầu hết là bậc hậu cử nhân) nằm rãi rác trong tiểu bang California: West Los Angles Graduate Campus, Encino Graduate Campus, Irvine Graduate Campus, Silicon Valley Center, và Westlake Village Gradutes Campus. Và ngày nay khu học viện chính Malibu Campus được mở rộng rất nhiều so với thời 1976. Ngày thứ Hai hôm sau là lớp học đầu tiên. Sinh viên nơi đây ăn mặc tùy tiện, nhiều nữ sinh đến lớp với chiếc quần sọt cụt ngủn để lộ ra cặp đùi dài thường thược, trắng nõn. Đại học xá Pepperdine University không chấp nhận nam sinh và nữ sinh ở chung một khu học xá, nhưng những căn học xá của nam sinh và nữ sinh vẫn ở chen kẻ nhau. Mỗi căn học xá có một sinh viên làm quản lý. Sau 11 giờ đêm nam sinh không được ngồi trong học xá nữ sinh và ngược lại. Pepperdine University là một trường đạo. Những buổi sáng thức dậy, đoàn người sinh viên chúng tôi ôm sách vở đi trên con đường cong cong trước đại học xá để đến nhà ăn và khu học vụ. Có những buổi sáng sương mù từ Thái Bình Dương bay vào phủ kín khuôn viên khu đại học, những cụm khói trắng bay là là len lỏi dưới những tàn cây và ôm ấp những bãi cỏ còn đọng sương mai, và năm ba bóng dáng nữ sinh vội vàng đến lớp trong bóng sương mù. Và có những buổi sáng trời trong xanh biếc, nhìn ra Thái Bình Dương với đàn cá Voi nô đùa bơi bày kỳ trên mặt nước, đôi khi chúng thở phun thành những cột nước trắng xóa trên mặt đại dương. Có những buổi chiều tôi ngồi một mình trên khuôn viên đại học nhìn ra Thái Bình Dương, xa thật xa bên kia bờ, tôi thấy nhớ ray rức. Đã hơn mười tháng từ ngày miền Nam sụp đổ, tôi và hàng trăm ngàn người tị nạn khác không liên lạc được với gia đình. Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam và thế giới tự do đã cắt đứt mọi quan hệ, không thư từ, không bưu điện, không có một liên lạc nào giữa người bên trong và người bên ngoài. Chính quyền Việt Nam đã đoạn tuyệt với những người ra đi tìm tự do! Và bên trong, những người còn ở lại phải đối diện với cuộc sống mới khốc liệt. Hàng ngàn gia đình phục vụ cho chế độ cũ bị đưa về “vùng kinh tế mới”, một chính sách “cái cách ruộng đất” mới. Và một số người bên trong gọi ngày 30 tháng 4 là ngày “cách mạng giải phóng!” Đúng ra hai chữ “cách mạng” tự nó đã mang ý nghĩa tốt đẹp rồi. Nhưng thật ra thì, không biết cuộc cách mạng đã mang lại điều gì tốt đẹp mà mọi người (và ngay cả cột đèn, nếu được) đều muốn ra đi. Khuôn viên đại học Pepperdine cảnh đẹp nhưng chỉ có ba sinh viên Việt Nam nên buồn. Hai tuần sau, vào một buổi chiều thứ Sáu vài người bạn ở Thousand Oaks xuống trường chở tôi và Điện về chơi cuối tuần. Từ đó mỗi cuối tuần là tôi và Ðiện được trở về Thousand Oaks thăm bạn bè. Ở đây những người tị nạn độc thân sống những ngày tháng theo đúng nghĩa của chữ “độc thân”, rất buồn. Những tháng ngày đầu tiên người tị nạn “bị” đưa đi rãi rác khắp nơi trên đất Mỹ, họ ít có điều kiện gặp nhau. Suốt tuần làm việc quần quật trong những nhà hàng, trạm bán xăng, cửa tiệm buôn bán hay những cánh đồng rau quả,… Trong chung cư của Lang có Lang và Lợi làm cho trại nuôi gà, Tư và Thuận làm cho xưởng chế súng. Mỗi tuần trại gà biếu cho mỗi nhân viên hai vĩ trứng gà mang về nhà. Sau một thời gian căn hộ của Lang chất đầy trứng gà, ngày nào cũng trứng gà úp- la, trứng luộc, trứng chiên, trứng xào, trứng la- cót vậy mà cuối cùng cũng còn món trứng “đầy nhà”. Nên sau này căn hộ của Lang là trung tâm cung cấp trứng gà miễn phí cho những gia đình người Việt ở Thousand Oaks! Mấy cô con gái của gia đình “Thất Long Công Chúa” và “gia đình sơ sơ ba chục người” là nguồn cảm hứng của mấy chàng độc thân ở Thousand Oaks. Nhưng trời sao phụ lòng người, trứng mấy anh mang đi cho mấy nàng nhận đủ mà cuối cùng giống như trứng ung vậy, không đâu ra đâu. Nên cuối tuần đâm ra rảnh mà cũng không biết đi đâu nên chỉ biết ngồi nhà nhậu. Mà nhậu một mình thì buồn nên chiều thứ Sáu là Lang và Tẩu lại mang xe xuống trường “xúc” tôi và Ðiện về để có bạn nhậu! Có những đêm thứ Bảy đôi ba thằng vùi đầu ngủ trong cầu tiêu, vì say mèm. Chỉ riêng có Thuận bất cần đàn bà con gái, suốt ngày đầu chải Pelentine láng nhuốc, ruồi đậu còn trượt chưn, xách mấy khẩu súng lục “có vấn đề” mang từ xưởng về ngắm nghía miết mà không thấy chán. Tẩu thấy vậy chọc chơi: “Súng mày hết xài rồi!” Đặc biệt Thuận chỉ tắm một lần một tuần! Đến ngày nó tắm mà bị kẹt vì chuyện gì là coi như tuần đó nó miễn tắm. Nó đến từ Chợ Lớn, ngày sinh nhật 18 nó nhập binh chủng Lôi Hổ. Đi lính chưa được một năm thì tháng Tư đến. Nó chạy theo đơn vị. Mãi đến bây giờ mỗi đêm nhớ nhà nó vẫn thắc mắc tại sao nó lại ở đây! Ba tháng trôi qua, khóa học đầu tiên chấm dứt. Tôi trở về Thousand Oaks ở ké nhà bạn bè một tuần chờ khóa học mới. Lợi nhìn Thuận lau chùi khẩu súng gãy ngày này qua ngày nọ, chán, nói: “Tụi bây đi học đại học làm cái gì cho khá hơn thằng Thuận tao xem coi.” Tôi thấy cũng mắc cười nên bỏ xuống phố (mall) dạo chơi. Tôi gặp một nàng tóc hoe, da trắng có chấm đồi mồi, cao, đang dạo chơi với mấy người con trong gia đình “Thất Long Công Chúa” ngoài mall. Tôi chận lại hỏi thăm làm quen. – “Sao mấy em không đi học mà dạo ngoài này?” – “Dzô ziên, người ta đi đâu, làm gì mắc mớ gì đến you!” – “À! You guys cut class!” Nàng tóc hoe nghe tôi nói “cut class” liền nói: – “School breaks, man. Ridiculous, what he thinks he is, my father, let’s go.” Tôi nói theo: – “You are so beautiful!” Nàng tóc hoe quay đầu nhìn trừng trừng vào tôi một chặp, rồi đi. Ði dạo mall mà trong túi chẳng có đồng xu mua cà lem ăn nên tôi chán, đành quất bộ về nhà. Tuần sau tôi lại trở về trường. Khóa thứ nhì tôi tiếp tục ghi danh những lớp khoa học, và lấy lớp cởi ngựa cho môn thể thao. Bây giờ thì tôi không còn đồng xu nào dính túi, nên tôi phải tìm việc làm thêm ngoài giờ học. Công việc ở đại học xá thì giới hạn chung quanh việc làm bảo trì khu sinh viên ở và những việc lặt vặt. Tôi hỏi và xin được việc làm trên chuồng ngựa. Việc làm rất đơn giản, mỗi buổi chiều tôi chỉ cần cào dọn sạch sẽ phân ngựa trong chuồng ra ngoài và mang cỏ bỏ vào máng cho ngựa ăn, chỉ vậy thôi. Việc học ở trường càng ngày càng nặng hơn trước, nhưng cái nặng nhất đối với tôi là nghe và hiểu lời giáo sư giảng dạy! Hầu như tôi hoàn toàn điếc! Những lời giảng dạy như gió cứ chun vào lỗ tai này rồi tự nhiên chun ra lỗ tai kia không một chút lưu luyến. Ðại khái là sau những giờ lectures tôi chỉ biết “mò” qua từng chữ trong trang sách, mà càng “mò” nó càng rối như đống rơm. Tôi bèn mang theo máy ghi âm và trong khi thầy giảng bài tôi bật lên ghi hết vào máy. Tối về mở ra nghe và dò lại, cũng như không vì cũng chẳng giúp tôi hiểu thêm chút nào hơn. Thôi kệ, tới đâu hay tới đó. Nhưng môn cởi ngựa thì tôi học giỏi lắm, chỉ sau một tuần là tôi biết rành làm sao ra lịnh cho ngựa đi bộ, cho chạy lúp xúp, cho ngựa chạy nước đại. Và một hôm tôi biểu diễn món chạy nước đại trong giờ thực tập. Ông huấn luyện viên ngồi trên một chiếc ghế trên một cái giá nhỏ, cao, giữa sân. Tôi từ mút ngoài đầu sân đua, cho ngựa chạy như bay nhắm thẳng giá ngồi của huấn luyện viên mà đâm tới. Khi tới gần giá ngồi tôi giựt gây cương cho ngựa đứng lại, ngựa chạy hăng quá, tôi kéo cương hết ga, ngựa dũi hai chưn trước cho cà một đường bay khói trên mặt đất, dừng cách giá ngồi huấn luyện viên chừng vài gang tay! – “You’re crazy!” Huấn luyện viên mặt tái xanh nhìn tôi, quát. – “But you’re good”. Tôi rờ tay lên trán, những giọt mồ hôi rướm từng hột!!! Con ngựa tôi chạy mới vừa ba tuổi, nó hăng như ngựa hoang!!! Cuối tuần tôi lại trở về Thousand Oaks thăm chơi bạn bè, nhậu. Và la cà ngoài mall chọc ghẹo đám bạn nhà “Thất Long Công Chúa”. Những lần sau trở lại Thousand Oaks tôi tình cờ nhận cú điện thoại của nàng tóc hoe. Nàng “rủ” tôi đi chơi ngoài trời cùng gia đình nàng trong ngày đại hội hàng năm ở thành phố Thousand Oaks. Hôm đó trời trong và sáng, hàng trăm gia đình tham gia ngày hội. Tôi cùng nàng đến một ngọn đồi chung quanh đầy những cây xương rồng nho nhỏ. Trời về chiều, những tia nắng yếu dần. Nhìn xuống thung lũng, tôi hỏi nàng: “Tại sao em lại thích anh?” Nàng không nói mà ôm choàng lấy tôi đè đầu xuống những ngọn cỏ với một nụ hôn nồng cháy thay cho câu trả lời! Tôi không còn thắc mắc, nằm yên bất động nhìn trời, và những làn mây, bay chập chờn. Hôm sau tôi trở về trường lòng rạo rực, hớn hở như kẻ vừa được yêu. Annet, tên nàng tóc hoe, cũng vào năm cuối của bậc trung học.
Chiều ngày 11-1-1980, đội chúng tôi đang trên đường về trại sau giờ lao động khổ sai, thì có một cán bộ đi xe đạp từ phân trại A qua, đến gần chúng tôi và hỏi anh Đội trưởng:
– Trong đội nầy có ai tên Trần Huỳnh Châu không?
Đội trưởng Nguyễn Thành Danh trả lời có, và chỉ tôi. Tên cán bộ không nói gì, bảo để về trại sẽ hay. Tôi nghĩ chắc lại có gì rắc rối cho mình đây.
Đến cổng trại, trong khi các anh em khác vào trại, tôi được gọi riêng vào gặp cán bộ trực. Tên cán bộ trực hỏi tỉ mỉ về lý lịch của tôi, xong rồi bảo tôi về trại dọn gấp tất cả đồ đạc cá nhân để di chuyển ngay. Tôi bảo chưa ăn cơm chiều, tên cán bộ bảo lãnh phần cơm mang theo để tối ăn.
Tôi vào trại gấp rút dọn đồ đạc, chẳng hiểu vì sao phải di chuyển gấp như thế. Anh em tíu tít phụ giúp dọn đồ đạc cho nhanh, chào hỏi vắn tắt, chúc nhau may mắn.
Anh Tạo, trước là sinh viên Luật Khoa, Phong trào Quốc gia Cấp Tiến, đến nói nhỏ với tôi :
– Có thể chúng thả anh đấy, nhưng vì anh thuộc thành phần bị coi là không tiến bộ trong trại nên chúng không công bố.
Trước đó đã có vài đợt về, mỗi đợt chừng bốn, năm người và chúng có tuyên bố là cho về. Nhưng chuyện tôi thì chúng chẳng nói năng gì cả.
Tôi hấp tấp mang đồ đạc ra cổng, chúng tháo tung tất cả đồ đạc ra kiểm soát rất kỹ. Rồi bảo tôi mang đồ đạc đi bộ sang phân trại A, có một cán bộ đi xe đạp, mang súng hướng dẫn.
Sang đến phân trại A thì đã tối, chúng mở cửa một phòng giam tống tôi vào đó. Vừa vào đến phòng giam tôi nghe có tiếng reo của nhiều người “A, Trần Huỳnh Châu”. Trong ánh đèn dầu lờ mờ, tôi nhận ra các anh Nguyễn Hữu Thới, Nguyễn Đình Xướng, Bùi Minh Châu, Bửu Nghi, Nguyễn Bá Quát v.v… Các anh vội lấy nước cho tôi rửa mặt mũi, rồi tôi lấy phần cơm mang từ phân trại C qua, các anh mỗi người đem cho một ít thức ăn, tôi vừa ăn vừa nói chuyện với các anh về tình hình phân trại C.
Tối hôm ấy tôi không ngủ được, suốt đêm băn khoăn không biết chúng nó đưa tôi sang đây để làm gì.
Sáng hôm sau, chúng gọi tôi lên Bộ Chỉ Huy. Một tên thiếu úy bắt tôi phải bỏ kính cận thị ra rồi mới bắt đầu nói chuyện. Tên nầy nói cả tiếng đồng hồ rồi mới tuyên bố trả tự do cho tôi. Tôi được trở về phòng giam lấy đồ đạc. Lúc ấy các anh trong phòng đã đi lao động cả, chỉ còn một anh trực ở nhà. Tôi nhờ gởi lời chào tất cả anh em, cho biết là tôi đã được thả, rồi mang đồ đạc lên văn phòng Bộ Chỉ Huy.
Chuyến ấy chúng tôi về có ba người: một anh bên Z6 (khu sĩ quan) là Thiếu tá Không quân Chữ Quán Anh, một anh bên khu tù địa phương Miền Bắc (anh này năm 1954 đưa vợ con vào Nam rồi trở ra Bắc hoạt động đến năm 1964 bị bắt về tội gián điệp), và tôi. Các đợt trước chúng có cho ăn một bữa thịt trước khi về, nhưng đợt của ba chúng tôi thì chỉ có bữa ăn sáng gồm cơm trắng với canh rau thôi. Mỗi người chúng tôi chỉ ăn được chén cơm nhỏ vì trong lòng quá bồn chồn.
Chúng cho xe chở chúng tôi về Thanh Hóa, có Công An đi theo ra đến ga xe lửa giữ chổ lấy vé cho chúng tôi xong mới chia tay.
Trại có cấp cho mỗi người 50$ nhưng phải tự túc mua vé. Giá vé xe lửa Thanh Hóa về đến Sàigòn là 45$, chỉ có chỗ ngồi, không có giường nằm. Tiền lưu ký của chúng tôi được trả lại đủ, nhờ vậy tôi có 250$ trong túi, không ngại gì về chi phí ăn uống dọc đường.
Lấy vé xe lửa xong thì mới khoảng l1 giờ sáng mà đến 7 giờ tối xe lửa từ Hà Nội mới vào đến Thanh Hóa. Chúng tôi, vào một tiệm phở gần nhà ga xe lửa để thưởng thức lại món phở mà gần 5 năm qua chẳng bao giờ được nhìn thấy.
Tiệm phở là một tiệm quốc doanh. Phải mua vé trước rồi mới vào lấy phở. Muỗng, đũa, nước mắm, mình phải tự đi tìm lấy. Có ớt nhưng không có chanh. Ăn xong đi tìm tăm nhưng không có. Mỗi tô phở giá 2$ (800$ tiền cũ). Tô phở chẳng ra gì, nhưng sau mấy năm mới được ăn phở, bụng đang đói lại mừng được về, tôi làm một hơi hết ba tô. Hỏi tiệm có rượu không, họ lắc đầu. Tôi ra ngoài đường, đến một sạp bán nuớc chè, kêu rượu. Tôi làm luôn hai ly rượu đế, kéo một hơi thuốc lào và thấy rằng dù sao thì được thả cũng khoái hơn là ở tù, tuy biết rằng mình vẫn còn như cá nằm trên thớt.
Chúng tôi trở lại nhà ga,nhờ anh bạn đồng hành giữ đồ đạc, còn tôi với Chữ Quán Anh thì đi một vòng xem thị xã Thanh Hóa. Thành phố gồm toàn những nhà cửa cũ kỹ, tiều tụy. Không có một tiệm ăn, tiệm buôn nào ra hồn. Dọc lề đường, chỉ có những quán bán nước chè. Đường sá trong thành phố không được tu bổ, hư hỏng nhiều. Có một rạp hát mới xây cất trông sang trọng nổi bật hẳn trong đám nhà cửa cũ kỹ. Chắc là rạp hát nầy cũng là nơi tổ chức các cuộc hội họp lớn trong tỉnh. Cộng sản thường chê các xã hội tư bản là có sự cách biệt giữa thành thị và thôn quê. Nay các nước Tây phương đã đem tiện nghi đến cho thôn quê. Ngược lại trong xã hội Cộng sản Bắc Việt thì có sự cách biệt ngay giữa thành thị.
Rạp hát mới xây ở Thanh Hóa đứng cô đơn, trơ trẻn trong một thị trấn nghèo nàn, cũng giống như đường dây điện cao thế giăng ở thôn quê đói rách.
Năm 1975, Miền Bắc chiếm Miền Nam luôn miệng chê Miền Nam là “phồn vinh giả tạo”. Nay tôi nhìn tận mắt thấy cái nghèo đói thực sự của Miền Bắc bên cạnh một vài công tác xây dựng có tính cách tuyên truyền nhưng chỉ có tác dụng làm nổi bật thêm sự nghèo đói thực sự của toàn dân. Nó còn tệ hại hơn là phồn vinh giả tao. Nó còn lố bịch hơn là “trưởng giả học làm sang”. Nó là một thứ chính quyền học làm sang trọng một xã hội đói rách. Đáng lẽ phải đặt ưu tiên làm sao cho dân chúng có nhà cửa khang trang trước, thì chế độ tự mệnh danh là “nhân dân” ấy để mặc cho dân chúng sống trong những ngôi nhà tiều tụy, để dồn tiền xây cất một vài công trình chỉ có tính cách chưng bảnh với người ta.
Trở lại nhà ga xe lửa, chúng tôi thấy những người chờ xe nằm ngồi ngổn ngang trong ga và đầy cả sân ga. Chúng tôi hỏi thì mọi người cho biết rằng hầu như ngày nào cũng có người chờ xe như thế. Quang cảnh nhà ga trông lôi thôi như cảnh chạy loạn trong chiến tranh. Thế mà tình trạng lôi thôi như thế mọi người vẫn thấy là bình thường. Người dân ở Miền Bắc đã quá quen với cảnh chờ đợi, cảnh vác chiếu ra sân ga, ra bến xe nằm chờ chực nên chẳng ai thắc mắc nữa.
Khoảng bảy giờ rưỡi tối, xe lửa đến. Đây là chuyến tàu Thống Nhất. Chúng tôi lên xe tối 12-1, theo chương trình thì sẽ đến Sàigòn sáng 15-1. Toa xe lửa của một nước Đông Âu đóng, trông cũng được. Chúng tôi lấy chỗ ngồi. Khi xe huýt còi chạy, chúng tôi nhìn nhau, cảm động bảo nhau “chúng ta thực sự bắt đầu đi về Sàigòn rồi đây”.
Sáng hôm sau xe đến Đồng Hới. Chúng tôi thấy xe ngừng lâu, xuống kiếm cháo ăn sáng rồi hỏi những người bán hàng mới biết là ga Đồng Hới. Không còn nhà ga. Chỉ là một bãi đất trống. Những người bán thức ăn đều ngồi dưới đất.
Gần trưa thì xe qua cầu sông Bến Hải. Khoảng ba giờ chiều, xe đến Huế. Khi xe sắp qua cầu Bạch Hổ, chúng tôi đứng sẵn ở cửa toa xe, chuẩn bị nhìn lại thành phố Huế. Xe qua cầu, chúng tôi nhìn thấy chiếc cầu xây sau Tết Mậu Thân bắc qua sông Hương ngang chỗ Phú Văn Lâu, xa nữa là cầu Trường Tiền. Dòng sông Hương vẫn êm đềm chảy, thành phố vẫn là thành phố Huế, nhưng trên cột cờ Phú Văn Lâu lại có lá cờ đỏ sao vàng, trông thật đáng giận.
Xe đến ga Huế, chúng tôi nhảy xuống định tìm một tô bún bò giò heo gần 5 năm mong nhớ mà không thấy gánh bún nào trông được cả.
Buổi trưa chúng tôi đã ăn một dĩa cơm ở toa hàng ăn. Cách phục vụ của toa hàng ăn thật là buồn cười. Trông bề ngoài, thấy toa hàng ăn cũng được lắm. Nhưng mới đến chín giờ sáng, toa hàng ăn hãy còn khóa cửa, không ai vào được. Trong đêm, tôi cứ mong trời sáng để lên toa hàng ăn ngồi uống một cốc cà-phê. Hồi trước tôi hay đi xe lửa Sàigòn – Nha Trang- Đà Nẵng trong những năm xe lửa còn chạy được. Điều thích thú nhất của tôi khi đi xe lửa là sáng sớm lên toa hàng ăn ngồi uống cà-phê nhìn ra phong cảnh bên ngoài. Tôi vẫn tưởng toa hàng ăn cũng kiểu như ngày xưa, không ngờ buổi sáng lên xuống mấy lần cửa toa vẫn khóa kín. Hỏi ra mới biết rằng toa hàng ăn chỉ bán buổi trưa và chiều, đến tối thì nhân viên toa hàng ăn khóa cửa để ở riêng với nhau trong toa ngủ cho đến sáng, mới tà tà thức dậy nấu cơm rồi đến trưa mới bán. Khoảng 10 giờ, nhân viên toa hàng ăn mới đi các toa, bán vé ăn cơm trưa. Muốn ăn phải mua vé trước. Mỗi vé là một đĩa cơm. Tuy mua vé rồi, nếu đến chậm vẫn có thể hết cơm. Có vé trong tay rồi mới lên toa hàng ăn xếp hàng để đợi lãnh dĩa cơm của mình. Lãnh xong lại ra tự đi kiếm muỗng đũa và nước mắm. Ăn hết đĩa cơm mới thấy rằng phải ăn ba đĩa mới no. Nhưng toa hàng ăn đã hết cơm. Chẳng phải là vì khách ăn đông đâu. Những người thường đi xe lửa họ chỉ chờ đến các ga xuống mua thức ăn chứ chẳng mấy ai ăn ở toa hàng ăn. Nhưng cơm đã hết vì nhân viên toa hàng ăn chỉ nấu rất ít. Họ làm cho nhà nước mà. Toa hàng ăn là một thứ của hàng quốc doanh. Khi xếp hàng lãnh dĩa cơm, tôi thoáng nghe có người nói “xã hội chủ nghĩa xếp hàng cả ngày”.
Xe rời ga Huế, đến Phú Bài, tôi thấy phi trường Phú Bài trống trải, vắng lặng. Vào đến Đà Nẵng thì trời đã tối. Chúng tôi xuống ga Đà Nẵng kiếm cơm ăn. Cửa hàng quốc doanh tại ga Đà Nẵng lại còn phải xếp hàng, chen lấn vất vã hơn trên toa hàng ăn nữa. Tôi đứng ở sân ga Đà Nẵng, không nhìn thấy một người nào quen, dù Quảng Nam Đà Nẵng là quê hương tôi.
Sáng hôm sau, xe đến Diêu Trì. Chúng tôi nhảy xuống, ngồi dưới đất ăn cháo của mấy bà bán hàng rong, đỡ phải xếp hàng.
Khi xe đến Đèo Cả, sắp vào hầm, tôi nhìn thấy Hòn Vọng Phu trên núi. Tôi sực nhớ đến bức thư của vợ tối viết sau khi thăm tôi ở Thanh Hóa về, hồi tháng bảy năm 1979:
“Em đi trên xe lửa, nhìn thấy Hòn Vọng Phu gục đầu hướng về phương Bắc trông chồng, lòng nao nao muốn khóc. Nhưng em không cúi đầu như người vọng phu hóa đá. Em vẫn ngẩng cao đầu…”
Tôi nghĩ đến những vất vả nhọc nhằn cả vật chất lẫn tinh thần mà vợ tôi phải chịu đựng trong gần 5 năm, suốt thời gian tôi ở tù. Sau công ơn của Đấng Sinh Thành, là công ơn của vợ. Tôi còn sống được mà về như thế nầy là nhờ vợ. Không có thức ăn và thuốc men của vợ gởi ra thì tôi đã bỏ xác ở Quảng Ninh hoặc Thanh Hoá rồi. Vợ tôi vẫn ngẩng cao đầu dù tôi đang ở tù. Ngẩng cao đầu vì chẳng có gì phải xấu hổ dù tuyên truyền Cộng sản có gọi chúng tôi là “ngụy”. Ngẩng cao đầu vì dân chúng vẫn thương mến gia đình những người chế độ cũ. Ngẩng cao đầu để đủ sức chạy ngược chạy xuôi nuôi con, nuôi chồng và giúp đỡ cả bà con họ hàng hai bên. Ngẩng cao đầu để chống đỡ áp lực bắt đi vùng kinh tế mới. Tuy ngẩng cao đầu như vậy, vợ tôi đã phải khóc nhiều lần, đứa em tôi đã cho tôi biết như thế, vì nhiều lúc quá cơ cực đắng cay. Nay tôi trở về, chẳng có cái vinh quang của người chinh phu về, chỉ có sự vui mừng lúc đoàn tụ, nhưng là sự vui mừng rất hạn chế trong khi thân mình, dân tộc mình còn sống dưới ách Cộng sản.
Xe lửa đến Nha Trang vào khoảng hai giờ chiều.
Tôi đã sống ở Nha Trang từ năm 1953 đến 1956, khi còn là một học sinh trường Trung Học Võ Tánh, Nha,Trang, thành phố xinh đẹp với những kỷ niệm buổi thiếu thời.. Tôi bước xuống sân ga, và cũng như ở Đà Nẵng, không nhìn thấy một người nào quen cả. Những người bạn cũ của tôi đâu cả rồi… Quả là chế độ Cộng sản đã thay đổi hẳn lớp người. Tôi nhìn lên nhà thờ Nha Trang. Ngôi nhà thờ vẫn đó, kỷ niệm đêm Noël 1955 vẫn còn bồi hồi trong lòng tôi, nhưng những người chung quanh tôi ở sân ga Nha Trang nay toàn là người lạ.
Xe rời ga Nha Trang, tôi mở cửa sổ nhìn ra ngoài và suýt nữa bị một viên đá ném vào người. Đây là một hiện tượng kỳ lạ: xe lửa bị ném đá. Không phải chỉ ở Nha Trang. Xe đã bị ném đá nhiều lần ở các tỉnh Miền Bắc lẫn Miền Nam, và nhân viên Cục Đường Sắt đã quen thuôc với việc nầy nên thưòng xuyên nhắc nhở hành khách phải đóng cửa sổ lại, và đóng bằng cửa gỗ chứ không phải cửa kính, để đá khỏi bị ném vào toa xe hoặc làm vỡ cửa kính. Trẻ con đứng dọc theo đường xe lửa vừa reo hò vừa ném đá, sự việc diễn ra nhiều lần trong thời gian lâu rồi mà không thấy chính quyền giải quyết gì cả.
Tại các nước tự do, người ta có tự do chê bai Tông thống, chê bai chế độ, nhưng người ta giữ rất kỹ kỷ luật đi đường, kỷ luật làm việc. Còn trong chế độ Cộng sản Việt Nam, người ta chỉ giữ rất kỹ việc hoan hô Bác và Đảng, còn trẻ con ném đá lên xe lửa dường như là việc không đáng chú ý. Khi về đến Sàigòn, tôi nghe có người nói rằng việc ném đá này bắt nguồn từ khi khánh thành việc tái lập đường sắt Bắc Nam nhân dịp Đại Hội Đảng Kỳ IV. Các đoàn xe lửa đã cắm cờ đỏ sao vàng, trên xe toàn là cán bộ đội nón cối nên các trẻ em không ưa, rủ nhau ném đá, thành thói quen ném đá mãi đến bây giờ, và lại phát triển ra cả các tỉnh Miền Bắc nữa.
Khoảng ba, bốn giờ khuya thì xe đến Rừng Lá, khi xe đi lên một đoạn đường dốc, tôi thấy một đám người rất đông đang làm củi trong rừng. Lợi dụng xe lên dốc chạy chậm, họ nhảy lên xe giật đồ đạc của hành khách, vừa giật vừa cười đùa với nhau. Trong khi đó, một nhóm người quăng củi lên các toa khác để chở về Sàigòn, chắc là chở lậu về. Thế mà nhân viên Cục Đường Sắt vẫn ngồi nói chuyện với nhau như thường. Về sau tôi mới biết chuyện xảy ra rất thường, chuyến xe nào cũng vậy, chẳng có gì lạ cả. Chuyến tàu Thống Nhất thế nầy còn là khá. Các chuyến tàu chợ, chạy đoạn đường ngắn, bọn cướp giật còn lên các toa xe soát xét, rờ rẫm từng người, kể cả đàn bà con gái. Nhân viên Công An Cộng sản thật đông nhưng chúng chỉ để ý đến việc đàn áp chính trị, còn các tệ nạn xã hội thì chúng giải quyết rất kém.
Từ Long Khánh trở đi, đầu máy xe lửa bị hư, xe chạy rất chậm, mỗi khi lên dốc chạy không nổi. Vì vậy đáng lẽ xe đến ga Bình Triệu lúc sáng sớm thì mãi trưa mới đến. Lúc xe chạy ngang vùng Suối Lồ Ồ tôi nhìn thấy Nghĩa trang Quân Đội, và ngậm ngùi cho những chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hy sinh vì Tổ Quốc. Ga Bình Triệu không có xây cất gì, quang cảnh lôi thôi, dơ bẩn, trông rất là tạm bợ.
Khi về đến nhà, tôi định dành cho vợ tôi sự ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi, nhưng không được. Tôi vừa bước xuống xe, cả xóm đã reo ầm lên. Mọi người đổ xô đến hỏi thăm tíu tít, kêu cửa nhà tôi rầm lên. Hàng xóm láng giềng vẫn là của tôi, nhân dân vẫn là của ta. Cảm tình nồng nhiệt của đồng bào, vẫn dành cho những người chế độ cũ, dù rằng chế độ cũ trước đây có rất nhiều khuyết điểm.
Sàigòn bây giờ đầy những trụ sở Công An. Mỗi phường có một trụ sở Công An. Số phường nay nhiều hơn trước, vì Cộng sản chia một phường cũ thành nhiều phường để việc kiểm soát được chặt chẽ. Tất cả các cây xăng đều đóng cửa nhưng xăng lậu bán từng chai, góc đường nào cũng có. Sự lưu thông trong thành phố còn có được là nhờ xăng lậu, xăng ăn cắp. Mỗi buổi chiều, khi hoàng hôn xuống, làm một vòng các đường phố, thấy dân đi vùng kinh tế mới bỏ trốn về Sàigòn, không có nhà ở (vì nhà cũ đã bị tịch thu) nằm la liệt trên các lề đường. Tôi ước tính có khoảng 100,000 người sống trên lề đường kiểu này.
Đề tài hàng ngày của mọi người là đánh số đề và vượt biên. Dân chúng Sàigòn chửi Cộng sản mạnh bạo hơn là sự tưởng tượng của chúng tôi trong tù. Người ta kể chuyện ở những vùng mật khu của Cộng sản ngày trước, vùng “thành đồng đất thép” của chúng, những “bà mẹ chiến sĩ” ngày nay tâm sự với nhau: “trước kia chúng nó núp dưới hầm bí mật, mình giả vờ làm bụng có chửa để đem thức ăn, đem tài liệu về cho chúng. Bây giờ có chính quyền rồi chúng bóc lột dân như thế, kìm kẹp dân như thế, mong sao cho Việt Nam Cộng Hòa trở lại, chúng mà núp dưới hầm bí mật thì mình nấu nước sôi mà đổ vào hầm.”
Lòng dân như thế nhưng không thấy có người nào, có tổ chức nào lãnh đạo chống Cộng. Đành phải tính chuyện vượt biên, dù biết rằng vượt biên rất nguy hiểm, và có may mắn đến được bến bờ Tự Do thì cũng sẽ còn nhiều vấn đề, còn nhiều ưu tư.
Sau gần 5 năm ở tù, về ở Sàigòn được 3 tháng, tôi lại lên đường.
Tôi trở về saigon với một cặp đầy tài liệu ghi chú và một số vốn tin tưởng mới. Giờ đây ít ra thì tôi cũng có thể cân nhắc được những tin tức được đem lại cho tôi và đánh giá được luôn cả nhữug người đem tin nữa. Trong thời gian tôi vắng mặt, không có một biến chuyển nào lớn nhưng lệnh thiết quân luật đã được bãi bỏ và đã có một số lớn sinh viên và sư sãi được thả về. Đài phát thanh Saigon và báo chí do chính quyền kiểm soát đã mở một loạt những cuộc chỉ trích các
sự trừng phạt của chúng ta, nhưng đó cũng chỉ là những tiếng vang của bài diễn văn Cung đã đọc tại Quốc-hội. Tôi thấy không cần phải trả lời gì cả.
Cuộc không-vận những nhân viên hành chánh đã bắt đầu và dự trù hoàn tất trong vòng hai tuần lễ. Tổng-thống Cung đã giữ lời hứa và gửi đến cho tôi một tài liệu dài về sự khuynh đảo của Cộng-sản trong các chùa chiền. Tôi đọc tài liệu ấy rất kỹ lưỡng và thấy đó là một công trình sưu tầm đáng tin cậy nếu không phải là hoàn toàn thích đáng. Trong đó có đủ những sự kiện để bắt
ta phải đề phòng và chứng minh cho sự theo rõi nhưng lại có quá nhiều ức đoán để biện minh cho sự khống chế đại quy mô toàn thể tăng giới. Người ta đã quá nhấn mạnh về những vụ nổi loạn và những cuộc tụ họp công khai, là hậu quả của sự tàn bạo của cảnh sát cũng như là của hoạt động khuynh đảo. Những lời buộc tội chống Harry Yaffa và CIA đều được trình bầy dài dòng, nhưng chứng cớ để buộc thì sơ sài, có thể nói là quá ít; trong khi đó thì có một vài chứng cớ hiển nhiên là đã căn cứ vào những lời khai dưới cực hình. Tôi đưa bản phúc trình cho Mel Adams và hắn cũng đi tới một kết luận như tôi. Harry Yaffa cũng có đọc nữa nhưng hắn có ý kiến khác hẳn. «Thưa ông Đại-sử, tài liệu này đã được biến chế! Cung và nhân viên của ông biết nhiều hơn là họ đã khai ra. Họ cố tình nói rất mơ hồ về hoạt động của chúng ta và những điệp viên mà họ nói tới đều là những tay ít quan trọng nhất. »
« Vậy thì tại sao họ lại mất công gửi cho tôi phúc trình hày làm gì? »
« Tôi cho rằng cũng khá dễ hiểu. Cung đã hứa gửi cho ông thì Cung phải giữ lời hứa, nếu không sẽ mất mặt. Tôi đoán rằng nhân viên an-ninh của ông ta đã mó phải cẳng ngựa bởi vì một bản phúc trình nói lên sự thật nắm trong tay ổng và tay tôi có thể gây rắc rối cho một vài người trong bọn họ. Hệ thống an ninh của họ cũng gồm có nhiều đẳng cấp, cho nên họ sẽ mất mát nhiều hơn là lợi lộc nếu họ liệt kê ra tất cả những tin tức mà họ có. »
«Anh đã biết là tôi có hứa gửi một bản sao tài-liệu này về Hoa-thịnh-đốn. Anh có thấy trở ngại không? »
«Không có, thưa ông Đại-sứ. Nhưng tôi xin thêm vào đó một vài lời bình
luận. »
Tôi cũng không thấy trở ngại chi về việc đó cả. Tôi quan tâm đến việc tìm hiểu Yaffa có tin tức gì mới cho tôi không thì đúng hơn. Thật là nhiều hơn là tôi đã mong ước trong khoảng thời gian quá ngắn ấy.
« … Trước hết là George Groton đã bay ra Huế ngày hôm sau ông đi khỏi. Tôi đã xin được cho hắn giấy giới thiệu với vị sư trụ trì chính ngoài đó-mà lạ thay, lại qua trung gian của ông Viện trưởng Đại-học, một vị Linh-mục đã từ chức sau khi xẩy ra vụ bắn giết và hiện nay gần như bị giam lỏng tại tư dinh của Đức Tổng Giám-mục Saigon. Groton đã ở lại chùa trong hai ngày và ở đó hắn nghe thấy xì xầm nói về một tổ chức gọi là Mặt trận Giải-phóng Quốc-gia miền Nam. Điều này ăn khớp với một vài tin tức mới từ Cam-bốt qua. Ít lâu nay chúng tôi đã biết rằng Sihanouk vẫn liên lạc với những người Việt-nam lưu vong ở Ba-lê và đã cố gắng thành lập một đảng trung-lập với sự trợ giúp của người Pháp. Bây giờ chúng ta đã có tên của tổ chức đó. »
«Lại người Pháp nữa! »
«Đúng vậy. Nhưng chừng nào mà bọn chúng vẫn ẩn diện và để cho tụi Miên đứng ra thương lượng thì một tổ chức trung lập vẫn có thể thu hút được một dân số địa phương nào đó. »
«Còn ảnh hưởng của Cộng-sản tại Huế thì sao? »
«Không có chứng cớ gì nhiều. Groton báo cáo là có một khuynh hướng quốc gia mạnh, điều tự nhiên vì Huế vốn là thủ đô văn hóa cũ. Tuy nhiên có một tổ chức chặt chẽ chống chế độ Cung và tuyên truyền rất mạnh cho một cuộc đảo chính. »
« Do ai lãnh đạo? »
« Trung tướng Khiết, vị tư lệnh Quân đoàn dưới vùng châu thổ. Ông tạ sinh trưởng ở Huế trong một gia đình Phật-tử cổ xưa và được kính nể. »
« Vậy ra Groton làm việc giỏi đấy chứ. »
« Thưa rất giỏi. »
« Bây giờ hắn ở đâu? »
« Thưa ông, ở bên Cam-bốt. Chúng tôi cho hắn một giấy thông hành dân sự với một chiếu khán du lịch và đề nghị hắn đi du ngoạn Angkor Wat rồi nói chuyện với Phật-tử ở Nam-vang, Hắn có thể tìm ra được một đầu mối tin tức dẫn ngược trở lại bèn này. »
Việc ấy thật đã vượt qua những điều kiện mà tôi đã đưa ra trước đây, nhưng tôi đâu có thể phản đối gì được vì làm vậy sợ tỏ ra sủng ái đặc biệt đối với Groton. Thế nên tôi bỏ qua. Yaffa tiếp tục. « Tôi cũng đã kiểm soát lại bản báo cáo về tin tức ở Ba-lê. Claude Gemelle là một ký giả tự do đã đến Saigon chừng một tháng trước
đây và ở lại một tuần lễ để phỏng vấn nhiều người. Hắn không phải là một điệp viên. Một vài người hắn đã phỏng vấn là những bạn hữu của chúng ta và những bản tường thuật hắn viết về bọn họ đều thật là đúng. Do đó có thể là bản tường thuật về Cung cũng đúng nữa »
« Đúng, nhưng vẫn còn mơ hồ. »
« Dạ đúng. thưa ông. »
« Theo anh nhận xét thì bài đó có bao hàm một ý nghĩa là Cung đã sẵn sàng để thương thuyết với miền Bắc nếu chúng ta thúc đẩy ông quá mạnh không? »
« Có thể lắm. »
« Có cách nào làm cho ông ta lập lại lời tuyên bố mà không cần phải tấn cống chính – diện ông? »
«Tôi cũng suy nghĩ về việc đó. Nhưng chắc chắn là ông ta sẽ không lập lại cho bất cứ báo chí địa phương nào … Và ông có thể tin chắc rằng ông ta sẽ không lập lại cho một nhà ngoại giao đâu. »
« Tôi không tin chắc là như vậy. »
« Làm sao biết được, thưa ông? »
Tôi kể cho hắn nghe tôi trò chuyện với người Pháp trong buổi tiệc rượu và hắn chau mày một cách không vui sướng.
« Chuyện ấy không ăn nhằm gì hết, thưa ông Đại-sứ. Không ăn nhằm gì tới tụi Miên, bọn lưu vong và Mặt trận giải phóng Quốc gia gì hết. »
« Có thể lắm chứ. Anh hãy thử xem vị trí của Cung. Ông bị đe dọa bởi một cuộc nổi loạn của các tướng lãnh. Quân đội bị chia rẽ bởi một lực lượng thứ ba, có thật chứ không phải chuyện chơi. Rồi lại có một cuộc vận-động trung lập khởi sự ở Cam-bốt và Ba-lê. Đó là một sự đe dọa gồm ba mũi dùi, do đó trong sự tuyệt-vọng, Cung rất có thể quyết định xáp gần lại với miền Bắc khi ông vẫn còn sức mạnh để mặc cả. »
«Nhưng nếu bọn Pháp biết như vậy và chấp thuận thì tại sao chúng lại đi ủng hộ bọn lưu-vong và tụi Miên? »
«Đó là một cuộc «ma-nớp»-hay một nghi kế, tùy anh nghĩ! Thêm áp lực đè lên Cung để đẩy ông đi tới một bước quyết định. Bất cứ sự liên-minh nào giữa miền Bắc và miền Nam đều có lợi cho bọn Pháp về kình-tế và ngoại-giao … Tôi nghĩ rằng mình không nên bỏ qua hẳn sự việc đó. »
«Nếu quả thật như vậy, » Yaffa hỏi một cách ý tứ, «nếu Cung đang nghiền ngẫm một cuộc thương lượng, thì lập trường chúng ta ra sao?
Chúng ta cứ để ông ta làm vậy hay chúng ta đưa ra ám hiệu và làm gấp cuộc đảo chính? »
«Đó là một vấn đề chính sách ở cấp bậc cao. Tôi sẽ phải trình lại Hoa-thịnh-đốn. Nhưng tôi đoán là họ sẽ lựa chọn cuộc đảo chính. Họ đã chi ra quá nhiều và cam kết quá sâu xa nên không thể đồng ý với một cuộc thương lượng bắt tay với Bác Hồ. »
«Vậy thì tôi phải đưa vụ này trở thành dự án số một cho tất cả nhân viên của chúng tôi».
«Anh cứ làm đi, anh Yaffa. Nhưng cho họ biết rõ là tôi cần phải có những sự kiện. Tôi không thể làm gì hay đề nghị gì được với sự phỏng đoán nữa đâu. »
«Tôi biết vậy lắm, thưa ông. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng. »
Và vấn đề bắt buộc phải dừng lại ở đó. Trên bàn tôi đầy ngàp giấy tờ trong năm ngày qua và tôi lại còn phải viết một bản báo cáo về việc viếng thăm của tôi nữa. Anne Belldon và tôi làm việc suốt buổi chiều qua đến buổi tối và cái núi giấy tờ vẫn chỉ giảm đi được có một nửa. Sau tất cả những chuyện đã xẩy ra, đối với tôi thật khó mà mô tả ra được mối liên hệ đã nẩy nở giữa chúng tôi trong những giờ phút làm việc riêng tư dài dặc. Nàng vẫn còn ở trong Ngành và tôi không muốn nàng bị tai tiếng hay mất phẩm giá. Tuy vậy, nàng vẫn là một phần của lịch sử những biến cố đó. Có một vài người đàn bà mà ngay cả trong sự đam mê ta cũng không dám tự cởi mở bởi vì họ liền đòi hỏi ngay một sự chiếm đoạt quyền sở hữu về cả tâm hồn lẫn thể xác.
Khi ta khước từ, thì họ trở nèn cay chua và độc địa bởi vì chính con người họ không có sự hiền dịu. Cũng có những người đàn bà khác mà đối với họ sự cho đi là bản chất đích thực của tình yêu và những người ấy là những người duy nhất mà ta có thể cùng họ hưởng thụ được sự gần gũi trong khi vẫn duy trì được mối liên hệ về nghề nghiệp. Những kẻ đa nghi có thể mỉm cười nếu họ muốn và những kẻ tán dóc có thể che miệng thầm thì, nhưng khi ta đã biết được một tình yêu sâu đậm và đẹp đẽ – và cả Anne Beldon lẫn tôi đã được biết tình yêu đó – thì ta không muốn dấn mình vào những hậu quả của một sự đam mê đột ngột. Trước mặt mọi người chúng tôi đối với nhau rất có nghi thức. Trong sự riêng tư, chúng tôi thấy thoải mái và biết ơn sự ấm cúng khi có nhau. Chúng tôi khòng đụng chạm nhau với lời nói và không đùa bỡn nhau với những cử chỉ tế nhị của sự giả tạo. Đối với cả hai chúng tòi thì hành động như thế có quá nhiều nguy hiểm mặc dầu không ai đả động đến sự nguy hiểm ấy bao giờ.
Từ ngày Gabrielle mất đi, tôi đã trở nên u uất với sự tin tưởng của tôi nhưng tòi đã cởi mở đối với nàng và nàng đáp lại một cách thành thật. Tôi cho nàng biết về những việc khó xử của tòi, về chuyện tôi sợ hãi chính tôi và nàng cũng đủ trí khôn để thú nhận rằng cũng thấy sợ hãi cho tôi. Tôi cũng nói về lòng mến chuộng của tòi đối với George Groton và nàng đã hiểu được sự thèm khát có người nối dõi của những kẻ không con cái.
Nàng cũng thèm khát như vày, mặc dầu nàng đã biết cách chế ngự vì nàng biết rằng nàng dễ sa ngã hơn tôi nhiều. Chính là sự chín chắn đáng mến ấy của tấm lòng và tâm hồn nàng đã hấp dẫn tôi đến với nàng một cách mãnh liệt nhất.
Nàng có cái mà tôi tin rằng những nhà đạo đức học gọi là một lương tri đã lập thành-một sự chấp nhận bao dung, dễ dãi đối với những sự điên rồ của thế giới, nhưng nhìn thấy rất rõ những sự điên rồ mà chính mình đã phạm phải và quyết tâm không tái phạm nữa. Nàng thay đổi tính tình mau lẹ, cũng mau giận dỗi nữa, nhưng gần như lúc nào nàng cũng tìm cách kìm hãm lại được. Nàng không bao giờ làm điệu e thẹn, dẫu rằng nàng chưa bao giờ rơi vào cái thứ ngôn ngữ sống sượng mà rất nhiều bà lịch lãm đã giả bộ dùng. Liệu nàng đã có người yêu nào sau khi chồng chết chưa? Tôi chưa hề hỏi nàng bao giờ. Nàng có yêu tôi không? Có – mặc dầu khi tôi khám phá ra thì đã quá muộn. Tôi có yêu nàng không? Giờ đây thì tôi biết là tôi đã yêu nàng và tôi tự trách tôi đã để biết bao giờ phút mất đi, biết bao lời không nói ra và để rồi tất cả giờ đây chỉ còn lại là kỷ niệm huy hoàng, rực rõ. Tuy vậy một ông góa vợ đã năm mươi tám tuổi, một vị Đại-sứ và Sử thần bận rộn với chính trị cao siêu và nguy hiểm đâu lại có thể chơi trò ú tim và đùa cợt với ái tình trong phòng tiếp tân của Sứ quán được! Còn phương diện Quốc gia chứ, thưa ngài! Nhưng có những kẻ quyền quí hơn tôi, những Sứ thần giỏi hơn nhiều, những vị Tổng-thống tài ba đã chọn con đường khác hẳn tôi; và tòi không biết là vườn nhà có tươi tốt hơn hay những thắng lợi của tôi có bớt trống rỗng hơn không vì tôi đã không chịu bẻ hoa hồng bên đường? Một người ở tuổi tôi chẳng bao giờ nên đùa cợt với ái tình. Yêu thì yêu, không thì thôi ! Bởi vì ngày mai bao giờ cũng là quá muộn mất một ngày!…
Ngay sau khi tôi trở về Saigon đã xẩy ra một loạt biến cố không ăn nhập gì với nhau, một biến cố gây nên một chuỗi hậu quả mang theo sự chết chóc. Sáng ngày Chủ nhật, một ngày trước khi Ủy-ban Liên-hiệp-qnốc sang, một nhà sư già đã từ xe hơi đậu trước nhà thờ bước ra và tự thiêu ngay trước mặt mọi người đi dự lễ mười giờ trở ra. Kết quả là lại thêm xáo trộn, thêm bắt bớ và chấm dứt cuộc hòa hoãn mỏng manh của Cung với Phật-giáo. Đêm thứ Hai, trong Chợ-lớn, một quả lựu đạn đã được ném vào một bar mà quân nhân Việt-nam và Mỹ thường hay lui tới. Ba cô chiêu đãi, một binh sĩ nhẩy dù Việt-nam và hai Thủy-quân Lục-chiến Mỹ bị thương. Ngoài ra có hơn mười người bị thương. Một anh Thủy-quân Lục-chiến bị thương ở bụng lảo đảo bước ra ngoài đường được người ta đưa ngay vào một căn nhà người Trung-hoa, được các bà ở trong đó băng bó mau lẹ và khéo léo nên đã thoát chết. Kết quả là phòng Dân vận của Đại-tướng Tolliver đã kêu điện thoại cho tôi và đề nghị Sứ-quán nên có cử chỉ cám ơn. Căn nhà đó là của người Trung-hoa số Một, một nhân vật vô dạnh và ít người gặp được mà Mel Adams đã nói với tôi khi tôi mới tới Saigon.
Do sự quan trọng của gia đình đó và với hy vọng có thể ít ra cũng xâm nhập được phần nào vào cái cộng đồng kín như bưng của người Trung-hoa nên tôi quyết định đích thân làm cái cử chỉ cám ơn đó. Tôi thảo một bức thư đưa tay bầy tỏ sự cảm ơn của tôi và của chính phủ tôi về hành động cứu người ấy. Tôi xin được phép gặp ông gia trưởng để tặng một kỷ vật tượng trưng cho sự tri ân của chúng tôi. Người đưa thư quay về đem cho tôi một bức thư Hán-tự nét chữ tươi đẹp, dùng một ngôn ngữ Quan-thoại kiểu mẫu mời tôi đến dùng trà lúc bốn giờ chiều ngày hôm sau.
Tôi lựa chọn quà tặng một cách kỹ lưỡng. Tặng vật đó phải đơn giản, quý giá nhưng không quá đắt tiền vì sợ gây sự bất ưng ý, sự bối rối và một sự đáp lễ quá lớn lao. Sau rốt tôi lựa một món trong bọn sưu tập của tôi: một bát đựng nước thật đẹp bẳng sứ cần ngọc quý do Nomura Ninsei ở Awata làm ra vào thế kỷ thứ mười bẩy. Với tặng vật trong tay và sau hai giờ nghiên cứu tài liệu của Sứ quán về các sắc dân thiểu số Trung-hoa ở Việt-nam, tôi ra đi với người tài xế mới và Bill Slavich cầm khẩu súng săn ngồi ghế trước. Bill Slavich không muốn phiêu lưu với một vụ ám sát cá nhân tôi lần thứ hai trong những phố phường đông đúc ở Chợ-lớn. Người Trung-hoa số Một tiếp đón tôi với nghi lễ cổ xưa. Ông là một người cao niên, trong bộ y
phục hiền nho. Ông nghiêm nghị, bình thản và được trời phú cho một thứ phẩm cách tự nhiên của người trưởng tộc. Như thường lệ, ông nói với tôi về cái vinh dự tôi mang đến cho căn nhà tồi tệ của ông và ông nhận tặng vật của tôi với sự ưng thuận bình thản. Ông đem các con cháu ông ra giới thiệu rồi đuổi chúng đi. Sau đó, với những lời khen tặng và dò dẫm lòng vòng, chúng tôi bắt đầu câu chuyện.
Vị chủ nhân của tôi than phiền về bạo lực và sự rối loạn của thời cuộc. Ông ngỏ ý tiếc về vụ mưu sát tôi và sự thương vong do các cuộc tấn công khủng bố gây ra cho thường dân vô tội. Từ đó, câu chuyện bước qua những vấn đề đặc biệt của người Trung-hoa và ông trình bầy những vấn đề đó với tôi trong bối cảnh lịch sử của chúng. « … Thưa ngài, trong suốt một ngàn năm, đất nước này đã là một tỉnh của Trung-hoa. Mặc dầu nền văn hóa của Việt-nam là do Trung-hoa tạo thành, chúng tôi vẫn bị coi là kẻ thù truyền kiếp. Lịch sử Việt-nam đầu tiên do người Trung-hoa viết. Chúng tôi đã đưa vào đây cái cầy và con trâu. Chúng tôi đã cùng nhau chia sẻ ngôn ngữ và kiến thức: các tướng sĩ của chúng tôi đã cưởi đàn bà Việt làm vợ. Ngay cả khi Lê-Lợi lập nên một triều đại Việt-nam đứng vững được ba thế kỷ rưởi, nhà vua đã lập nên một quan chế căn cứ theo mẫu mực Trung-hoa: và chế độ này đã đứng vững cho đến khi người Pháp đến chiếm mất nước …
«Trong trận chiến tranh với Nhật-bản, gần một nửa triệu người Trung-hoa chúng tôi đã ty nạn hay di cư sang đây và cho đến nay vẫn luôn luôn có hôn nhân hợp chủng giữa phụ nữ chúng tôi và đàn ông địa phương. Thường thường chúng tòi trở thành các thương gia và chủ ngân hàng và dưới thời Pháp, chúng tôi vẫn giữ được quốc tịch Trung-hoa và được quyền kêu gọi Trung-hoa báo vệ các quyền lợi đặc biệt của chúng tôi.
«Năm 1956, Chính phủ ban cho tất cả chúng tôi quốc-tịch Việt-nam. Nhưng đó không phải là một sự ra ơn mà là một sự cưỡng bách. Nếu không nhập quốc-tịch, chúng tôi không được tham gia vào thương mại, kỹ nghệ hay canh nông. Chúng tòi vẫn còn được tự trị với các Bang của chúng tòi … Nhưng Bang đã được hủy bỏ năm 1960. Các trường học của chúng tôi được đặt dưới quyền kiểm-soát của Chính phủ và bị cưỡng bách dày tiếng Việt-nam …
«Chúng tôi quan niệm những sự việc ấy như là một sự tăng trưởng tự nhiên của chủ nghĩa quốc-gia ở Á-châu, Những sự việc tương tự đã xây ra ở Thái-lan, Nam-dương và Miến-điện. Tôi không thấy có lợi lộc gì trong việc chống lại những sự việc ấy nhưng tôi đã gặp phải khó khăn trong việc dậy người Trung-hoa chúng tôi biết nghệ thuật thích nghi. Đã có nhiều sự chỉ trích và bất mãn. Cũng có sự trốn tránh pháp luật nữa … Và bởi vì Trung-hoa hiện nay là một quốc gia cộng-sản, sự trung tín của người Trung-hoa chúng tôi luôn luôn được đặt thành vấn đề … »
Đó là một sự trình bầy thẳng thắn mặc dù là thiếu sót về một vấn đề dân thiểu số đã làm điêu đứng tất cả vùng Đông-nam-Á. Nó không đả động gì đến thài độ chính-trị của các sinh viên trẻ và bất mãn người Trung-hoa và sự kêu gọi thống nhất và phục-hưng Trung-quốc. Nó không nói gì đến sự di-cư bất hợp pháp và sự xâm nhập của các tên xách động Cộng-sản. Cũng không nói đến sự sách nhiều, vi thiềng và hối lộ chính trị ở khắp mọi nới. Nhưng tôi đã biết rõ những điều ấy và người Trung-hoa số Một cũng biết là tôi đã biết: do đó thể diện vẫn được bảo tồn và tôi có thể đặt được một câu hỏi ít có chủ đích hơn nhưng không kém quan trọng.
«Cụ là người lãnh đạo của cái cộng đồng này. Do chỗ tôi được biết thì cụ đã rất có công giữ cho cộng đồng này được thống nhất, có kiểm soát và không dính dáng gì đến một sự dấn thân quá nguy hiểm về chính trị. Tôi xin cụ cho biết ý kiến riêng về Tổng-thống Cung và các sách lược chính trị của ông ta».
Ông ngẫm nghĩ về câu hỏi này trong một lúc rồi hỏi tôi:
«Chúng ta đang ngồi uống nước trà trong nhà tôi. Bởi vậy chắc đây là một cuộc thảo luận riêng. tư và kín?»
«Lẽ dĩ nhiên. »
«Vậy thưa ngài, tôi xin nói rằng nếu Tổng-thống của chúng ta có nhỡn quan ít vẻ Pháp và thêm vẻ Trung-hoa hơn thì ông sẽ thành công hơn nhiều. Cũng như người Pháp, ông rất thành thạo với guồng máy quyền bính, chúng tôi cũng vậy. Nhưng chúng tôi hiểu rằng guồng máy chỉ chạy tốt nếu có người giỏi điều khiển. Và trước sau gì thì chính là dân chúng phải được xoa dịu. Tôi cũng có guồng máy của tôi nữa – các nhóm gia tộc; các hội bí mật, các hiệp hội có tính cách xã hội; nhưng nếu già như tôi mà tôi còn điều khiển được là bởi vì tôi luôn sẵn sàng tiếp xúc với dân chúng … Ngài thấy không, đó là nhược điểm của Tổng thống. Dân chúng không biết ông là ai cả. Bất cứ kẻ vô lại nào trong chính quyền cũng khoe là nói với giọng của ông, và dân chúng làm sao mà biết thật, hư được?»
« Ông ta có lương thiện không? »
«Tôi biết chắc là ông lương thiện. Tôi đã nhiều lần thương lượng với ông và ông đều giữ đúng lời cam kết. Có lần ông đã ngồi ngay chỗ ngài ngồi hiện giờ và chúng tôi đã dự liệu nhiều điều hay cho người Trung-hoa chúng tôi — nào nhà thương, nào chấn chỉnh học đường. nào chống tham nhũng của cảnh sát, nào cho người Trung-Hoa cơ hội được phục vụ trong chính quyền. Tôi đã giúp ông thành lập Hội Văn-hóa Việt-Hoa và điều đình sự hợp tác kinh tế với Đài-Loan. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi ông quá sức hứa hẹn của ông. Tôi cũng không bao giờ hứa hẹn quá sức tôi thực hiện nỗi. Thế nên chúng tôi kính trọng lẫn nhau. Chúng tôi không hẳn là bạn hữu, nhưng bất cứ lúc nào muốn đến ông cũng được nghênh tiếp tại nhà tôi.»
« Cụ nghĩ sao hành động của ông ta chống lại Phật-giáo? »
Ông nhún vai và co hai bàn tay dài của ông. vào trong ống tay bộ áo hiền nho của ông.
«Tôi là một nhà nho cổ hủ. Tôi ngờ vực tất cả các tôn giáo bởi vì tôi thấy rằng không một tôn giáo mà là không tự nó đem theo những mầm mống mâu thuẫn và bạo động. Đôi khi tôn giáo cũng tạo ra được những vị thánh nhân-nhưng các vị này bao giờ cũng là những người xả thân cho nghĩa vụ và cho việc thiện chứ không phải là cho sự đấu lý. Tôi nghĩ rằng Tổng-thống đã làm nhiều lỗi lầm, nhưng những lỗi lầm này đều được sự tán thành của những kẻ nhìn thấy có lợi lộc trong đó. Tôi nghĩ rằng ông có thể phạm thêm nhiều lỗi lầm nữa, bởi vì sự cô lập thường gây nên ngờ vực và ngờ vực thường đưa tới hành động tàn bạo. »
«Và cụ nghĩ thế nào về chính sách của chúng tôi ở Á-châu? »
Lần đầu tiên tôi thấy ông mỉm cười và ông trả lời câu hỏi của tôi bằng một câu hỏi khác.
« Thưa ngài, ngài muốn tôi giữ lễ hay muốn tôi nói lên sự thật? »
« Sự thật. »
« Vậy theo quan điểm của tôi thì sự thật như thế này. Ta không thể quên lờ đi bẩy trăm triệu người được. Và họ cũng không thể bị nhốt trong một cái lồng và bị khước từ sự thông thương bình thường với các nước trên thế-giới được. Họ đã sống quá lâu-quá kinh nghiệm và quá tự ải nên không thể ngăn cản họ được. Tổ tiên tôi đã đến xứ này vào thời nhà Minh. Họ đã làm quan cho Lê-Lợi và tôi vẫn còn ở đây – người Trung-hoa số Một vào hạ bán thế kỷ thứ hai mươi. Đây là một sự kế tục vĩ đại và sự kế tục đó không có gì bẻ gẫy được, cả cách mạng bên trong lẫn áp lực từ bên ngoài … Đây không phải là một vấn đề chính trị-một cuộc cãi lý tạm bợ giữa nhà nho hay người Mác-xít hay người dân chủ Hoa-kỳ. Đây là lịch sử của Á-châu hàng ngày vẫn tự viết đi viết lại như biển cả viết lên cát …
Chúng tôi chuyện trò thêm chốc lát nhưng câu chuyện đã cạn. Khi tôi đứng dậy ra về, ông trao cho tôi món tặng vật của riêng ông-một đĩa nhỏ bằng ngọc thạch trong, nằm gọn trên lụa trong một hộp bẳng gỗ trầm. Trên mặt đĩa có khắc những hàng chữ công phu và tuyệt đẹp. Người Trung-hoa số Một dịch ra thành một câu nói của Không-Tử.
«Kẻ có trách vụ tinh thần không được nhường bước ai, dù rằng sư phụ của mình. »
Cách đấy hai ngày sau, tôi dự cơm tối với bạn đồng nghiệp Úc của tôi. Hắn vui mừng gọi đó là «một dịp thân mật trong nhà». Tôi đinh ninh rằng buổi tối sẽ buồn tẻ nhưng vì thiếu hắn món nợ xã giao nên tôi sẵn sàng chịu đựng. Nhưng tôi ngạc nhiên thấy mình đứng giữa một đám người thông minh và bất chấp nghi thức. Với sự vui vẻ thành thật, họ đã làm tôi hết vẻ trịnh trọng và cảm thấy mình là người trở lại. Có ông bạn người Đan-mạch của tôi – người của lông vịt và những vấn đề vận chuyển; vị chỉ huy Phái-bộ Quân-sự Úc-châu,
người đã hơn mười năm sống với chiến tranh du kích ở Miến-điện và Mã-lai nhưng rặt nói chuyện về ngọc quý, về các bản thủ tự Phạn ngữ và bọn thực dân các nước khác vẫn còn tụ tập ở những nơi xa lạ. Có một nàng tóc nâu đậm xinh đẹp vào khoảng mới ngoài ba mươi sinh sống khá đế vương bằng nghề vẽ chân dung các vị có tiếng tăm ở Thái-lan; và bà vợ người Thụy-sĩ của ông bạn đồng nghiệp của tôi, cứ theo bữa ăn mà xét, phải là một tay đầu bếp tốt nghiệp Cordon Bleu (1). Họ đặt tôi ngồi giữa bà vợ ông người Đan-mạch và bà vợ người Anh của nhà chuyên viên du kích; trong khi trước mặt tôi là một tiểu thuyết gia sống nay đây mai đó và có tiếng tăm khá lẫy lừng nhưng sách của hắn tôi chưa hề đọc.
Chẳng mấy khi lại có rất ít chuyện ngoại giao như lần này và tôi thấy tôi bị thách đố vượt ra ngoài sự cô đơn của tôi để tham gia vào câu chuyện, từ cảch nấu ăn của Pháp đến đồ sứ, bến Karl Barth (2), đến giá cắt cổ của nghệ thuật hạng bét và những sự điên rồ của một cặp minh tinh màn bạc nổi tiếng. Vị chủ nhân của tôi vui mừng để cho buổi tối cứ trôi đi theo đà của nó và ông nhà văn đã tỏ ra là một người biết nghe chuyện có kinh nghiệm. Chính hắn gợi ra các đề tài và để cho câu chuyện theo đuổi các đề tài đó trong nhiều chiều hướng một lúc. Tôi hỏi hắn đến cái nơi khổ ải này làm gì thì hắn cho tôi hay hắn đang bắt tay vào việc nghiên cứu phong trào Cộng đồng và các sự liên hệ giữa Ki-tô giáo và các tôn giáo khác. Hắn là một tín đồ Ki-tô giáo và những biến cố mới xảy ra gần đây ở miền Nam Việt-nam đã làm hắn ưu tư một cách sâu xa. Hắn đã đến đây để tự làm lấy cuộc điều tra. Hắn là một công dân Úc từ lúc khai sinh và được Sứ quán giới thiệu. Tác phẩm của hắn cũng đã có nhiều độc giả ở Pháp và Tổng thống Cung đã chấp thuận cho hắn được phỏng vấn và giới thiệu hắn với các nguồn tin chính thức khác. Hắn có vẻ biết ơn sự đãi ngộ đó nhưng cũng khôn Ngoan để nhận ra rằng Cung rất có thể muốn lợi dụng hắn để phản công lại phúc trình của Ủy-ban Liên hiệp-quốc. Tôi hỏi hắn có ý muốn cho xuất bản các tin tức của hắn khõng thì hắn trả lời rằng hắn là một tiểu thuyết gia chứ không phải là một ký giả và một cuốn tiểu thuyết có thể phải mất hai năm mới hoàn thành được. Vả lại hắn cũng ngại viết phóng sự và không muốn đem tên mình vào những sự nhận định vội vã về một hoàn cảnh phức tạp. Sau khi đã gặp khá nhiều ký giả quốc tế và sau những lời tuyên bố hàng tuần của các danh nhân, tôi
(1) Một trường dậy nấu ăn nổi tiếng ở Ba-lê.
(2) Giáo sư thần học người Thụy-sĩ, bị Hitler trục xuất khỏi nước Đức nam 1935 chủ trương quay về thuyết tiền định.
thấy quan điểm của hắn có vẻ bổ ích. Khi uống cà-phê tôi dẫn hắn ra một chỗ riêng và hỏi thẳng hắn có vui lòng giúp tôi một việc không.
« Xin vui lòng, nếu tòi có thể làm được. »
«Bao giờ ông sẽ phỏng vấn Tổng-thống Cung? »
«Mười giờ rưỡi sáng mai. Ông hỏi làm chi? »
«Xin ông vui lòng hỏi Tổng thống Cung một câu mà tôi sẽ đưa cho ông.»
« Vâng. »
«Ông có vui lòng cho tôi biết câu trả lời của Cung ra sao không? »
«Không được, tôi e rằng không được. » Câu trả lời hắn rất mực lễ độ và hắn vừa nói vừa mỉm cười. Đoạn hắn tiếp lời,
« Tôi ghen với con người của tôi, xin ông biết cho như vậy. Tôi không phải là một gìán điệp. Tôi là bạn của Hoa-kỳ. Tôi đã từng sống ở bên đó và rất thích nước Mỹ và dân tộc Mỹ. Nhưng điều ông yêu cầu đưa tôi vào một vị trí giả tạo … Có điều là nếu tôi có thể đưa được Sứ quán của tôi để thảo luận về việc
này ».
« Tại sao không? Tôi có thể đoán đươc là ông Manson cũng quan tâm đến việc này như tôi vậy ».
Tôi ra hiệu cho Manson và hắn bước tới nhập bọn với chúng tôi. Tôi kể lại với hắn lời yêu cầu của tôi và sự phản đối của ông bạn nhà văn. Manson nói một cách vơ vào. « Vấn đề có lợi chung. Câu trả lời rất quan trọng với tất cả chúng ta. »
« Được rồi ». Ông nhà văn nói.
«Vậy câu hỏi ra sao? »
«Hiện này hay bất cứ lúc nào hay trong bất cứ hoàn cảnh nào, liệu Cung có ý định bắt liên lạc với miền Bắc Việt-nam không? »
Có sự im lặng trong một lát. Rồi Manson gật đầu tán thành nhưng lại thêm vào một lời bàn.
«Ông Amberley, có lẽ ông nên giải thích về ý nghĩa câu hỏi đó. »
«Và luôn cả cái gì dính liền với câu trả lời nữa,» ông bạn văn của chúng tôi thản nhiên nói.
«Tôi sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm báo cáo chính xác. Nhưng hậu quả lại là một chuyện khác. Vậy xin ông thành thật với tôi».
Hắn quá khôn ngoan và biết quá nhiều nên không thể lừa dối hắn bằng sự thật nửa vời được cho nên, dựa vào sự nhận xét riêng của Manson về ông khách của mình, tôi kể cho hắn nghe đầu đuôi sự việc cho đến quãng câu chuyện ở buổi tiệc rượu tại Sứ quán Anh. Manson đã tỏ ra là một bạn đồng minh tốt. Hắn nói rằng chính hắn cũng nghe thấy câu chuyện như vậy và rất mong muốn được sự xác nhận. Nhà tiểu thuyết gia nghe trong im lặng rồi ngẫm nghĩ về đề nghị của tôi trong ít lâu. Sau hết hắn trả lời chúng tôi một cách dè dặt:
«Tôi hiểu các ông cần gì và tại sao lại cần như thế. Tôi có một bổn phận đối với chính phủ tôi và một thái độ thân hữu đối với chính phủ Hoa-kỳ. Nhưng đối với tôi thì dường như là nếu tôi đem lại được một câu trả lời nào đó thì nó sẽ có thể gây nên một hành động nào đó. Tôi nói có đúng không? »
« Đúng. »
« Nếu tôi cố ý báo cáo sai lạc về cuộc đàm luận thì sao?»
«Tôi không tin là ông sẽ làm như vậy. »
«Hay là giải đoán sai lạc đi thì sao?»
«Tôi nghĩ rằng ông thừa thông minh để không hiểu sai lạc. Nhưng dẫu sao đi nữa thì sẽ không có hay sẽ không thể có hành động nào nếu chỉ căn cứ trên một nguồn tin duy nhất không phải là của Mỹ. Cơ quan CIA sẽ kiểm chứng những điều ông thuật lại với những nhân viên tình báo của họ. »
«Vậy thì tôi sẽ đặt câu hỏi của ông ra với Cung và cố gắng minh bạch về câu trả lời của ông ta. Tôi sẽ đưa ông một bản sao đánh máy của cuộc phỏng vấn trước năm giờ chiều mai. »
«Xin cám ơn ông. »
Hắn nhún vai, uống một hơi cò-nhắc và mỉm cười mẻo sẹo với chúng tôi.
«Khi còn trẻ tôi vẫn thường tin tưởng ở sự vô tư hoàn toàn của người nghệ sĩ. Giờ đây khi đã có đôi chút tiếng tăm và khá giầu để có thể sống xa cách, tôi lại tự thấy mình mỗi ngày dấn thân vào một quyết định đạo đức. Đây là một quyết định khó khăn. Nếu nhầm lẫn, tôi khó lòng mà tự tha thứ cho mình được. »
«Vậy mà ông quyết định mau lẹ đấy chứ. »
«Tôi có một vài ưu điểm, thưa ông Đại-sứ. Tôi biết các lời nói có ý nghĩa gì và tôi rất kính trọng lời nói. Tôi làm một nghề đơn độc. Tôi nhìn thế giới với chính con mắt của tôi. Tôi tự gánh lấy nguy hiểm và tôi trả giá những sự thất bại của chính tôi. Tôi hiểu số phận có ý nghĩa gì – và đã từ lâu tôi biết rằng mình không bao giờ có thể mượn được sự khoan hồng của kẻ khác.»
Sáng hôm sau bọn Miên đến gõ cửa tôi với một lời phản kháng giận dữ và một lời yêu cầu bồi thường thiệt hại. Có một đơn vị Việt-cộng đã bị bộ binh và trực thăng truy kích sang phía bên kia biên giới phía Nam. Một làng người Miên đã bị hỏa lực của rốc-kết phá hủy, một số dân làng bị chết và bị thương. Tôi hứa sẽ cho điều tra nội vụ và sau bốn mươi phút đối đáp nhau kịch liệt, bọn họ ra về. Đây lại là thêm một trong những sự phi lý cay đắng của cuộc chiến tranh ung thối này. Thực ra thì sự trung lập của Cam-bốt đã bị vi phạm; nhưng thực ra thì bọn Miên cũng đã tự vi phạm sự trung lập của mình bằng cách để cho vũ khí và người xâm nhập xuôi dòng Cửu-long và cung cấp nơi ẩn nấp cho bọn du kích tha hồ lẻn đi lẻn về qua biên giới.
Những nạn nhân đích thực là đám dân làng, bà già, con trẻ và nông dân, giờ đây đã được chôn chặt dưới đất mà bia mộ của họ sẽ chỉ là một đống tin tức cắt ở báo ra và những hồ sơ văn-thư ngoại giao. Vậy mà trong một xã nhỏ, hận thù lại được reo rắc và tránh cũng không khỏi những trái của nó mọc lên thành những người võ trang …
Buổi trưa Yaffa đem lại hai bản báo cáo trong số có một của C.I.A. ở Hương-cảng gửi về. Ở đó người ta đã theo rõi từ ít lâu nay một người Việt-nam trước kia là công chức của phủ Tổng-thống và được mọi người biết là đã có chủ trương. «Lực lượng thứ ba». Gần đây hắn đã tiếp xúc với nhân viên của Ngân-hàng Trung-hoa và liền ngay sau đó đã thiết lập một tín-khoản nửa triệu bảng Anh với Ngân-hàng Thương-mại của Pháp. Hai ngày sau hắn đi thuật lại một cách rất tình tiết với một phóng viên người Mỹ tất cả những sự mắc mớ trong Dinh Tổng-thống và những mâu thuẫn trong Bộ Tổng Tư-lệnh. Hắn đề nghị biếu người phóng viên này mười lăm ngàn Mỹ-kim nếu đem được vợ và gia đình hắn ra khỏi Saigon trong vòng sáu tuần lễ.
Bản báo cáo thứ hai từ Vạn-tượng tới. Ở đó một viên chức hạng thứ yếu của bộ Ngoại-giao chính phủ miền Nam Việt-nam đã gặp gỡ và đàm luận với một sứ giả của Bắc-việt. Về đề tài cuộc đàm luận thì không có tin tức gì; nhưng hai giờ sau đó, người sứ giả đã rời khỏi thủ-đô Lào trên một chiếc phi-cơ mướn của một tên buôn thuốc phiện lậu người Pháp.
Trong cái mở hỗn độn những âm mưu và phản âm mưu, hai sự việc xẩy ra trên kia có thể được giải đoán theo nhiều cách, nhưng Yaffu tin chắc rằng những sự việc đó ăn khớp với những kết luận của riêng chúng tôi: là hiện có một sự toan tính chia rẽ Quân-đội bằng cách thành lập và tài trợ cho một lực lượng thứ ba sau này sẽ bị cưỡng bách đi với phe Việt-cộng; và ít nhất thì Cung cũng đang dính líu vào những cuộc thảo luận thăm dò với chính quyền Hà-nội. Khi tôi kể lại cho hắn nghe câu chuyện ở bữa tiệc thì hắn tỏ vẻ khá kích động và yêu cầu tôi kêu điện thoại cho hắn khi bản báo cáo được đưa tới. Ông nhà văn giang hồ của chúng tôi đã chứng tỏ khá đúng hẹn như tội đã hy vọng. Đúng năm giờ hắn đến trình diện tại văn phòng tôi với một bản sao đánh máy của cuộc phỏng vấn Tổng-thống Cung. Còn bản chính thì hắn mỉm cười nói với tôi rằng đã được trình cho ông Đại-sử Úc, để bảo toàn những sự lịch thiệp quốc tế. Khi tôi yêu cầu hắn đợi tôi đọc xong để cho tôi ý kiến thì hắn từ chối một cách lễ độ. Hắn đã nhận làm công việc ghi chép cuộc đối thoại. Trong bản báo cáo của hắn đã có một lời bình luận và đoạn tổng kết. Thấy quan điểm của hắn rất là hợp lý nên tôi cảm ơn hắn và để hắn đi. Tôi thèm muốn có được sự độc lập như hắn và cái quyền tự hạn chế trách nhiệm riêng của mình một cách chính xác như vậy. Trách nhiệm của tôi thì gần như là vô hạn, nhưng tôi lại không có quyền trốn tránh nó. Tôi thấy biên bản ghi âm ấy thật là một tài liệu tuyệt diệu, gọn ghẽ và triệt để giới hạn ở những ý tưởng đã quy định. Tôi chép lại trong cuốn ký sự này dù chỉ để mọi người thấy vấn đề chót đã được trình bầy một cách minh bạch, theo ý tôi.
V. Vấn đề Phật-giáo rõ ràng là vẫn chưa được giải quyết xong. Ngài có cho rằng sẽ còn nhiều cuộc biểu tình và hành vi tử đạo của Phật-giáo nữa không?
Đ. Nếu có xẩy ra chúng tôi sẽ biết cách đối phó. Nhưng thái độ của Hoa-kỳ đã dẫn tới một sự cuồng tín như vậy … Người Mỹ đang phá hủy tâm lý của nước chúng tôi. Họ không hiểu được chúng tôi, chỉ chúng tôi mới hiểu được dân tộc chúng tôi, họ nghĩ ra sao và phản ứng ra sao. Người Mỹ nói đến dân chủ nhưng nền dân chủ mà họ nói đến đối với nước này là vô dụng.
V. Ngài cho rằng thể chế chính quyền nào là tốt nhất cho miền Nam Việt-nam?
Đ. Thể chế chúng tôi có hiện nay. Một chính quyền trung-ương mạnh, có thể đương đầu với cuộc chiến tranh và phát triển đất nước … Nếu đó là sự độc tài thì chính là chúng tôi cần phải độc tài, nhưng chúng tôi đang đặt nền móng dân chủ ở miền thôn quê … Đô thị (Saigon) không có nghĩa gì đối với chúng tôi cả. Nếu cần chúng tôi sẽ bỏ rơi tất cả thành phố và tổ chức thành phố thành những ấp chiến lược như chúng tôi đã làm ở thôn quê. Dân chúng ở thành phố bị bất mãn, hư hỏng, đầu độc bởi chú nghĩa cá nhân Tây-phương. Dân tộc chúng tôi cần phải phát-triển nền kinh tế và trật tự xã-hội trong khuôn khổ của gia đình và cộng đồng, trong những giới hạn lịch sử của họ. Đó là ý nghĩa chủ-nghĩa nhân-vị của chúng tôi.
V. Mặc dầu ta chấp nhận những giới hạn tự nhiên do lịch sử và trật tự xã hội đặt ra, phải chăng là ngài đang đặt ra những giới hạn trái với tự nhiên và giả tạo? Như những biện pháp khống chế chống Phật tử và sinh viên chẳng hạn?
Đ. Dĩ nhiên là chúng tôi đặt ra những giới hạn. Các nhà sư không muốn chiến đấu, vậy thì tại sao họ lại có quyền can thiệp vào chiến cuộc? Tăng giới chỉ là một thành phần nhỏ của quốc gia. Tại sao họ lại được quyền quyết định tất cả dòng lịch sử của chúng tôi? Các sinh viên, thanh niên nam và nữ đều phải có bổn phận sẵn sàng chia xẻ cuộc chiến đấu chống Cộng của chúng tôi. Tại sao họ lại được đòi hỏi quyền chểnh mảng bổn phận bằng những cuộc biểu tình bất chính? Thái độ của Hoa-kỳ đã gây mầm cho những sự việc đó. Nếu chúng ta muốn chiến thắng thì dân chúng phải được tẩy độc cái đã.
V. Mọi người đều biết rồ rằng mặc dầu quân lính Mỹ đang chết trong cuộc chiến tranh của ngài, mặc dầu ngài đang chiến đấu với tiền và vũ khí của Mỹ, hiện nay đang có sự thù nghịch công khai giữa chế độ và Hoa-kỳ. Có thể có hay nên có những biện pháp nào để hàn gắn sự rạn nứt đó?
Đ. Các biện pháp thật là rõ ràng. Người Mỹ hãy cho chúng tôi vũ khí, tiền bạc, trực thăng và phương tiện quân vận, chúng tôi sẽ tự lực chiến đấu. Đây là cuộc chiến tranh của chúng tôi, không phải của họ. Chính tôi là người hoạch định chiến lược. Chính tôi là người có trách nhiệm xây dựng nên tám ngàn ấp chiến lược. Vậy mà mỗi lần tôi muốn xử dụng một chiếc trực thăng, tôi phải xin phép người Mỹ.
V. Ngài muốn người Mỹ rút khỏi xứ này?
Đ. Đúng vậy.
V. Nếu ngài có mọi thứ ngài mong muốn – vũ khí, tiền bạc, phương tiện chuyển vận và nếu người Mỹ đi khỏi xứ này, liệu trong bao lâu ngài sẽ chiến thắng?
Đ. Hai hoặc ba năm, về bề ngoài.
V. Và nếu người Mỹ ở lại thì sẽ mất bao lâu mới chiến thắng được?
Đ. Có trời biết được.
V. Khi đã thắng trận, ngài quan niệm sự liên hệ với miền Bắc Việt-nam như thế nào?
Đ. (Giọng giận dữ) Cũng chính trong phòng này các viên chức người Mỹ đã kết tội tôi là duy trì liên lạc với Hồ-chí-Minh. Tôi đã nói cho họ biết rằng người Mỹ đã làm đủ mọi thứ có thể làm được để đẩy tôi vào vòng tay ông Hồ, nhưng tôi vẫn giữ được sự trung tín đối với các mục đích và đất nước của tôi.
(Sau đó lại là một tràng dài những lời công kích phương pháp và chính sách của Hoa-kỳ)
V. Chúng ta hãy nhìn vấn đề một cách khác. Là chiến lược gia chủ chốt của chiến cuộc này, ngài phải quan tâm đến những sự việc gì xảy ra ở miền Bắc, dù chỉ là trên phươug diện tình báo.
Đ. Dĩ nhiên.
V. Ngài quan niệm thế nào về hoàn cảnh của Hồ-chí-Minh và miền Bắc Việt-nam?
Đ. Có ba nhóm chính trong đảng Cộng-sản của ông Hồ. Trước hết có Quân đội, tùy thuộc vào Trung-cộng về võ khí, tiếp liệu và huấn luyện. Sau là có những kẻ theo đường lối ôn hòa của Mạc-tư-khoa nhưng họ không quan trọng mấy. Còn có một nhóm nữa gồm những kẻ đã trở thành Cộng-sản vì những lý do quốc-gia chủ nghĩa trước và sau Điện-biên-phủ.
V. Hiển nhiên đó là nhóm mà ngài quan tâm đến nhiều nhất.
Đ. Tự nhiên.
V. Ngài có thành công trong việc xâm nhập hàng ngũ họ chưa ? Ngài có liên lạc gì với họ trên phương diện tình báo hay trên phương diện nào khác không?
Đ. Có. Nhưng không phải là tôi đã bắt liên lạc với họ trước.
V. Chúng ta hãy giả thiết rằng người Mỹ không cho ngài những gì ngài muốn, rằng họ vẫn tiếp tục những trừng phạt của họ và công khai chống đối các chính sách của ngài. Vậy thì sạo?
Đ. Khi ấy thì tôi phải có bất cứ biện pháp nào cần thiết để chấm dứt cơn hấp hối lâu dài của nước tôi.
V. Những biện pháp ấy có gồm việc, thương lượng với Hồ-chí-Minh không?
Đ. Chính trị là nghệ thuật của điều khả dĩ. Tôi phải cứu xét tất cả các điều khả dĩ làm được – và đó là điều mà hiện nay tôi đang làm.
BÌNH LUẬN.
Nói đến đây Tổng-thống Cung đột nhiên bỏ rơi đề tài và làm một bài thuyết minh dài dòng nữa về nhân-vị chủ-nghĩa, về những lỗi lầm và âm mưu của người Mỹ. Tôi đã tìm cách hỏi thêm một câu nữa trước khi cáo từ.
V. Ngài nghĩ thế nào về ông Maxwell Amberley?
Đ. Trong việc ông ấy đang làm không có một mảy may đạo đức nào cả. Với người đi trước ông ấy thì ít ra cũng có được một quan điểm đạo đức. Trong cái con người này, không có một chút đạo đức nào và không có một mảy may nào là tư tưởng tôn giáo cả.
TỔNG KẾT.
Cảm tưởng sau chót của tôi về cuộc phỏng vấn là Cung đã muốn dùng tôi để truyền bá đi cái cảm nghĩ chống Mỹ mãnh liệt của ông. Ta cũng thấy rõ rằng vấn đề có thể có những liên lạc với miền Bắc không phải là sự hăm dọa quá bưng bít về điều gì có thể xẩy ra nếu chế độ không được thỏa mãn theo ý nghĩa là sự trung lập hóa miền Nam Việt-nam bằng một sự thựơng lượng đổi chác với miền Bắc: « Chúng tôi sẽ làm người Mỹ rút khỏi nếu quý ông chấm dứt chiến tranh». Tôi không biết làm cách nào để suy đoán được rằng không hiểu thật sự Cung có tin rằng có thể thương thuyết như vày được không hay là ông có thể sống thoát được cuộc thương thuyết ấy, nếu có …
Tôi kêu Harry Yaffa đến văn phòng tôi và trao cho hắn bản văn đánh máy. Hắn đọc trong im lặng rồi đặt bản văn xuống bàn giấy của tôi trong một cử chỉ có tính cách dứt khoát.
«Thưa ông, tôi nghĩ là chuyện đúng như vậy. Thật rõ như ban ngày và phù hợp với các tin tức khác của chúng tôi. Thế là tướng lãnh thì làm loạn. Quân đội thì rất có thể sẽ nổi loạn và Cung thì ra mặt đe dọa chơi ván bài riêng của ông với phe tả … Tôi thấy chúng ta cần phải hành động – và hành động mau lẹ
nữa. »
« Tôi đồng ý là chúng ta có thể phải hành động, nhưng Hoa-thịnh-đốn mới quyết định được việc này.»
« Ông có gửi báo cáo về không? »
« Trong vòng hai ngày nữa. Nhưng trước hết có hai việc tôi phải làm. »
« Việc gì vậy, thưa ông? »
« Trước hết tôi muốn bản văn này được thông đạt cho tất cả các ban trong tòa Đại-sứ và cho Đại tướng Tolliver với Bộ Tham-mưu của ông. Sau đó tôi muốn triệu tập một buổi hội thảo đúng nghi thức ở đây vào chiều tối mai. Trong khi đó, tôi sẽ đến yết kiến Cung và đối diện với bản tin tức này. »
«Làm như vậy có khôn khéo không? »
«Cần phải làm vậy. »
Hắn nhún vai tỏ vẻ hoài nghi và nhắc nhở tôi một cách chua cay:
«Thưa ông, trong trường hợp đó, chúng ta tốt hơn nên bảo vệ cho kẻ đã đưa tin. Chúng ta nên đem hắn thoát lẹ ra ngoài nước. »
«Anh Yaffa, anb sẽ lo việc đó. »
«Tôi cũng sẽ báo động cho các tướng lãnh biết nữa, trong trường hợp Cung quyết định làm một cuộc thanh trừng đột ngột. Đó là vấn đề sinh tử của họ ».
«Tôi biết. Anh thấy gì cần thiết thì cứ làm. »
Khi hắn đã đi khỏi, tôi đứng suy ngẫm về những lời khắc trên đĩa ngọc và thấy ánh sáng mờ dần mau lẹ thành tối đen.
Đêm hôm đó tôi làm việc khuya và sau đó ngủ không được. Tôi nắm mơ thấy tôi trần truồng và cô độc ngồi trên một khcảng đất trông bằng phẳng như mặt bàn bi-da. Có ánh sáng chiếu nhưng tôi không thể thấy ánh sáng ở đâu lại. Sau vùng ánh sáng, ở phía xa đen tối là những hình chữ nhật lớn, trông như những tấm phông sâu khấu. Tôi đang ngắm nhìn thì nghe thấy tiếng nhạc gẩy nhẹ như tiếng đàn sa-mi-sen. Trong khi nhạc đang chơi thì các hình chữ nhật bắt đầu nhẩy múa ngả nghiêng, quay lông lốc, khi ở góc bên này, khi ở góc bên kia. Tiếng nhạc nghe lớn dần. Các hình nhẩy múa lại gần hơn cho đến một lúc tột độ không chịu nỗi thì bao vây lấy tôi và đóng chặt lấy nhau thành một cái buồng nhốt tôi trong đó, một cái buồng không có mái che nên tôi vẫn còn trông thấy ánh sáng ở trên đầu. Giờ đây thì im lặng – im lặng và có ánh sáng chiếu và tôi thì ngồi xếp chân bằng tròn nơi sàn nhà ngước nhìn lên ánh sáng. Rồi từng li từng li một, các bức tường bắt đầu di chuyển về phía tôi. Thoạt đầu tôi tưởng đó là một ảo giác của sự bất động và căng thẳng khi ngắm lâu một vật gì. Tôi nhìn bức tường ở phía trước mặt tôi thì thấy nó có vẻ bất động. Tôi quay lại nhìn phía sau thì bức sau lưng tòi tiến lại gần hơn. Trong khi tôi còn đang ngắm nhìn thì các bức tường ở bên phải và bên trái tiến lại phía tôi. Tôi nhìn lên phía trên. Ánh sáng đã nhỏ lại. Tôi bỗng kinh sợ và ngồi yên cứng nhắc, mắt dán về vùng ánh sáng thu hẹp lại dần. Các bức tường tiến lại gần hơn, ảnh sáng giảm dần đi từng phần một cho đến khi tôi cảm thấy sức đè ép đầu tiên ở sau lưng, khuỷu tay và đầu gối. Áp lực tăng lên mạnh hơn và tôi có thể cảm thấy thịt và bắp thịt bị trầy sát. Ánh sáng mỗi lúc một nhỏ dần, rồi đột nhiên tôi la lên vì khủng khiếp và tỉnh dậy, người nóng bỏng như rang và ướt đẫm mồ hôi trong căn phòng tràn ngập ánh trăng. Tôi nhìn đồng hồ tay, lúc đó là bốn giờ sáng. Sự khủng khiếp của cơn ác mộng vẫn đeo dính lấy tôi và tôi lấy quần áo sạch thay rồi ngồi làm việc trong thư phòng riêng cho đến giờ ăn điểm tâm.
Tôi chẳng cần ông thầy nào để giải đoán giấc mơ cả. Tôi biết rõ giấc mơ đó có ý nghĩa gì. Chính tôi đây sắp sửa bị xử án, tôi, vừa là quan tòa, vừa là bồi thẩm, vừa là trạng sư bào chữa. Chẳng còn bao lâu nữa, chứng cớ sẽ được trưng ra, rồi bàn cãi và tòa sẽ tuyên án Maxwell Amberley, sứ thần ngoại hạng. Trút bỏ bộ y phục của chức vị, hắn sẽ đứng trước tòa để nghe sự phán quyết vô tư và sau sự phán quyết sẽ là án quyết – chung thân bị giam cầm trong nỗi cô đơn của bản ngã bí ẩn … Dĩ nhiên đó là chuyện vô lý; sự vô lý sẽ bị đánh tan bởi ánh nắng đầu tiên và tách cà-phê đầu tiên. Maxwell Gordon Amberley đâu có bị xét xử. Hắn là con người ngồi ở địa vị quyền thế, với quyền sinh sát và trị vì. Dĩ nhiên hắn sẽ công minh và bao dung nữa; nhưng hắn là người được ủy thác để quyết định, hắn không thể lui bước trước sự sợ hãi hay ngã theo một đặc ân nào. Hắn sẽ rộng lượng nhưng thận trọng. Hắn sẽ cảnh cáo, nhưng không phải là không có ác ý. Nhiều công việc đại sự đã được giao phó cho hắn và hắn sẽ xử sự một cách kẻ cả, một trọng tài của tất cả những ngày đã qua và một kiến trúc sư của những ngày mai vinh quang. Amen! .,. Và xin cô thêm một tách cà-phê nữa, cô Anne. Ngày hôm nay nhiều công việc lắm đấy!
Cuộc gặp gỡ với Cung được ấn định vào mười một giờ sáng. Lúc chín giờ rưỡi, người đấm bóp tới và tôi nằm một tiếng đồng hồ dưới đôi bàn tày êm dịu và khỏe mạnh của hắn trong khi gân cốt tôi rãn hết sự căng thẳng và tôi sắp xếp lại các ý tưởng cho có trật tự cho cuộc hội đàm lần chót này. Đây là cuộc hội đàm lần chót; tôi biết như vậy, cả hai chúng tôi đều không còn thì giờ nữa. Bánh xe đã quay, người hồ lỳ nói như vẹt lần chót: «Cất tay mở này! ». Hòn bi nhỏ nẩy từ đỏ sang đen và từ đen sang đỏ và cả hai chúng tôi đều ăn thua với chủ sòng và ăn thua với nhau.
Có một điều tôi đã định tâm. Tội sẽ tuyệt đối thành thật. Tôi sẽ không dùng cái thứ ngôn ngữ dè dặt của ngoại giao nữa. Tôi sẽ nói ra hết sự thật mà tôi được biết. Tôi sẽ cộng nhận những lỗi lầm. Khi nào cần phải thú nhận, tôi sẽ thú nhận là tôi ngu dốt và bất lực. Và đến lúc phải hành động tôi cũng sẽ không trốn tránh trách nhiệm … Thương thay cho sự lương thiện thanh khiết của tôi. Chỉ có mỗi một điều là tôi không thể thú nhận được. Tiền của tôi đặt trên chiếu bạc, nhưng tôi cũng là chủ sòng nữa và sòng bạc thì phải thắng, nếu không vơ sạch cả làng thì cũug phần nào. Nhưng thưa tất cả quý ông chơi bạc, các ông còn chơi được sòng nào nữa? Các người đã đá đít người Pháp đi. Người Nhật thì lỗ sở hụi, mà các ông lại không thích chơi phán-thán của người Tầu. Vậy tôi là sòng bạc duy nhất còn lại!… Da tôi bóng nhẫy, bắp thịt tôi cử động dễ dàng. Tâm trí tôi tỉnh táo và tôi đã quên mất cơn ác mộng. Và trong sự trống rỗng tinh thần can đảm ấy, tôi lên đường tới Dinh Tồng-thống.
Cung tiếp tôi với nước trà tầu và sự lịch thiệp lạnh nhạt. Lần này ông không nói giáo đầu nữa, nhưng thách thức tôi một cách không úp mở:
«Ông có chuyện gì nói với tôi, ông Đại-sứ? Tôi sẵn sàng nghe ông ».
Lời nhập đề của tôi được chuẩn bị kỹ lưỡng và tôi cứ thế đọc ra một cách hết sức tự nhiên.
«Thưa Tổng-thống, cuộc hội đàm lần trước đã chấm dứt ở một ngõ bí. Giờ đây, ngài cũng như tôi, đều gặp phải sự khủng hoảng. Tôi muốn chấm dứt sự khủng hoảng nếu có thể làm được; phải đi bao xa để đạt tới, tôi sẽ đi. Tuần trước đây tôi có đi viếng thăm các vùng chiến trận. Tôi thấy tận mắt biết bao nhiêu thứ ngài đã thực hiện cho đất nước này. Tôi công nhận thành quả của ngài một cách tự ý. Tôi rất kính phục cái thành quả ấy và tôi cũng kính phục ngài nữa, mặc dầu giữa chúng ta không có sự hòa hợp. Tôi kính trọng sự quyết tâm và sự thanh liêm của cá nhân ngài. Tôi sẽ thú nhận những lỗi lầm trong chính sách của chúng tôi; tôi thú nhận sự thiển cận của tôi trong nhiều điểm. Mặt khác, tôi cũng mong ngài chấp nhận những sự khó hhăn và những vấn đề rắc rối của cái vị trí khó hiểu của chúng tôi trong xứ này là chúng tôi có thể làm cố vấn, nhưng không được phép chiến đấu, chúng tôi phải chi tiền bạc nhưng không được kiểm soát, chúng tôi không có quyền hành trong Chính phủ của ngài vậy mà vẫn phải cùng hứng chịu sự chê bai về những lỗi lầm của Chính phủ ngài. Thưa Tổng-thống, tôi hy vọng là tôi đã trình bầy rõ? »
«Rất là rõ ràng, ông Đại-sứ, xin ông cứ tiếp tục. »
«Nhưng thú nhận tất cả những điều đó cũng không thay đi gì được hoàn cảnh hiện nay của tôi hay của ngài. Thưa Tổng-thống, tôi xin phép trình bầy sự thật của sự việc. Các tướng lãnh cao cấp của ngài đang nổi loạn và âm mưu lật đồ ngài. Quân đội của ngài – ít nhất thì một phần của quân đội-đã đến độ làm loạn. Các viên chức hành chánh của ngài đã sẵn sàng bỏ trốn. Phật-giáo thì thù nghịch đối với ngài, còn người Ki-tô giáo thì bị chia xẻ giữa lòng trung thành của họ đối với Tòa-thánh và những kỳ vọng họ đặt nơi ngài như một anh hùng giải phóng dân tộc. Ngài đã thất bại, không lôi kéo được đám thường dân về với mục đích của ngài hay cá nhân ngài. Ngài đã chửi rủa và làm chúng tôi đang là bạn của ngài trở thành thù nghịch – vậy mà ngài không chịu nhượng bộ, hay không có được cử chỉ nào để đi tới sự hòa giải. Hơn thế nữa, ngài biết rằng mình bị cô lập nên ngài đe dọa – một lời đe dọa được lập đi lập lại, thưa Tổng-thống – rằng ngài sẽ dấn thân vào một cuộc phiêu lưu nguy hiểm khác: ký một hiệp ước với Hồ-chi-Minh, mà ngài hy vọng rằng sẽ đem lại cho ngài được sự an ninh ngài vẫn chưa thể đạt tới bằng vũ khí, ngoại giao hay lòng trung thành đơn thuần! Tôi đến đây hôm nay để trình ngài hay rằng chúng ta đã gần đến đoạn cuối của con đường vẫn đi chung với nhau. Nhưng vẫn còn đủ thì giờ để quay trở lại và đi vào con đường khác. Nhưng nếu ngài không chịu quay bước, thì ngài sẽ đi một mình – và sự đảm bảo cho sự sống còn của ngài rất mỏng manh. »
Phải nhìn nhận rằng ông rất thản nhiên khi nghe tôi nói vậy. Ông ngồi một lúc lâu, im lặng, mắt hùm hụp nhìn xuống đôi mu bàn tay được giữ gìn sửa sang của ông. Khi ông cất tiếng nói thì đó là giọng khô khan của một giảng viên tin tưởng ở sự dẫn dụ của luận lỷ thuần túy.
«Thưa ông Đại – sứ, tôi xin cám ơn sự thẳng thắn của những lời nói nhập đề của ông, và tôi tin tưởng rằng những lời khen tặng và ý định của ông là thành khẩn. Bởi vậy tôi sẽ ráng thẳng thắn đối với ông. Ông nói với tôi là có nổi loạn, âm mưu và bất mãn. Tôi biệt là có. Tôi biết những người nhúng tay vào những việc đó rõ hơn là ông. Nhưng xin ông hãy nhìn lại, ai nắm quyền ở đây? Chính là tôi, không phải là dễ dàng, tôi công nhận, không phải là không có lo âu. Nhưng tôi đang nắm quyền và ở trong các vùng chiến trận, lệnh của ai điều khiển đường lối của chiến cuộc? Lệnh của tôi, chắc ông sẽ phải công nhận điều đó. »
«Tôi xin công nhận, nhưng có những … »
Ông dơ một bàn tay lên để chặn tôi lại.
«Khoan, xin để tôi nói hết! Ông bảo tôi rằng ông tin chắc ở sự lương thiện và sự quyết tâm của tôi. Liệu ông có thể nói được như vậy về tướng Đạo hay tướng Khiết hay ông bạn Thọ của tôi ở vùng ngoài kia không? Ông biết gì về những người ấy ngoại trừ những điều chính họ đã nói ra với ông hay những điều ông đã nghe thấy người khác nói về họ? Họ là những quân nhân tốt. Vâng! Nhưng còn là kinh tế gia? Điều khiển hành-chánh công? Chuyên viên tài chính? Nhà giáo dục? Tôi đã sống với những người đó, đã cùng với bọn họ âm mưu chống Pháp và Nhật. Tôi biết rõ họ thế nào! Tôi xin nói để ông hay là tướng Giáp ở ngoài Bắc bằng gấp nắm chục người như họ – và liệu ông có thể xây dựng được một chính quyền với những người như họ không? Liệu ông có để cho Đại-tướng Tollive làm công việc của ông không, hay bầu ông ta làm Tổng-thống Hoa-kỳ? Ông hãy xem chương mục ngân hàng của họ và của tôi! Tôi nghèo hơn họ nhiều, xin ông tin tôi! Ông sẽ không thấy có đồng đô-la nào của ông dính vào tay tôi cả. Nhưng còn họ thì quá nhiều. Vậy ông muốn gì, ông Đại-sứ? Ông muốn gì? »
« Một sự hòa giải các mâu thuẫn, giữa ngài và Phật-giáo, giữa ngài và các tướng lãnh. Tôi xin vui lòng đứng ra làm trung gian hòa giải nếu ngài muốn ».
« Ông Đại-sứ, xin ông biết cho rằng đó là đường lối Tây-phương, không phải đường lối của chúng tôi. Họ sẽ khoái được ông đứng ra hòa giải. Họ sẽ ôn hòa và biết điều, nhưng trong khi đó họ sẽ nói. Cung thua rồi. Hắn đã phải kêu gọi tới người Mỹ. Vậy thì hôm nay bọn mình xin ngón tay cái của hắn và ngày mai sẽ lấy luôn cánh tay hắn. »
«Dù rằng như vậy vẫn còn hơn là làm loạn và phiến loạn ».
« Không. »
« Tại sao không? »
« Bởi vì mỗi sự nhượng bộ lại làm nảy ra một mối đe dọa khác và sau đó lại một mối đe dọa khác. Thà cứ thử sức một lần còn hợn là làm phí sức lần lần. »
« Có thể ngài sẽ không tồn tại được ».
« Thưa ông Đại-sứ, nếu tôi đi xuống thì Hoa-kỳ sẽ ra đi khỏi miền Nam Việt-nam. Có lẽ không đi ngay nhưng sớm muộn gì cũng sẽ đi khỏi. Vâng, quý ông là những người kỳ cục, ông ăn thịt bạn bè như ăn nho và nhỗ vỏ ra vì nó quá rát lưỡi! »
« Thưa Tổng-thống, vậy thì xin ngài cho tôi biết ngài muốn làm gì? »
« Thật là giản dị. tôi muốn chiến đấu. Tôimuốn chấm dứt chiến tranh và xây dựng hòa bình cho dân tộc tôi ».
« Chúng tôi đến đây là để giúp ngài thực hiện điều đó. »
« Đó là điều quý ông tưởng. Thật ra thì quý ông đưa cho chúng tôi khẩu súng rồi sau đó hủy diệt ý chí chiến đấu của chúng tôi đi. Quý ông đầu độc dân chúng bằng những ý tưởng Tây-phương về cá nhân chủ nghĩa và tự do mà chúng tôi chưa sẵn sàng để đón nhận. »
«Vậy tôi xin lập lại câu hỏi. Ngài muốn gì? »
«Cho tôi súng ống, tiền bạc, phương tiện chuyên chở, máy bay và tôi sẽ chấm dứt chiến tranh rất mau lẹ. Nhưng ông và các người Mỹ phải ra đi!»
«Chúng tôi không thể ra đi được. Ngài biết rõ điều đó, chúng tôi đã dấn thân vào quá sâu. »
«Vậy ra trong thâm tâm, các ông cũng giống như bọn Pháp, muốn chứng tỏ mình là bạn thì cần phải duy trì một chỗ đứng trong phòng khách. Như vậy có khác chi chủ nghĩa thực dân lỗi thời? »
«Thưa Tổng-thống, còn một việc khác nữa. Tôi đã thấy súng ống mà chúng tôi viện trợ cho ngài quay lại bắn chính dân của ngài. Liệu chúng tôi có thể nhắm mắt làm ngơ điều đó được không? »
«Nhưng các ông sẽ nhắm mắt làm ngơ khi bọn tướng lãnh đến hạ sát tôi cũng bằng những súng Mỹ ấy, có đúng không ? Hay là ông Harry Yaffa sẽ đến để bóp cò? »
«Thưa Tổng-thống, đây chỉ là một cuộc cải lý vô ích vì không đếm xỉa đến các sự kiện có thật. Không nhượng bộ thì ngài không thể đứng vững được. Thế mà ngài lại không chịu nhường nhịn, không chịu thương lượng, không chịu chấp nhận có người đứng ra hòa giải. Ngài muốn có súng ống và tiền bạc của chúng tôi và Ngài lại không muốn có chúng tôi … Thế là ngài đã đóng tất cả các cửa ngõ lại-trừ ra một. »
«Cửa nào vậy? »
«Ngài có thể thoái vị hoặc chấp nhận một Ủy ban Chính phủ mà ngài làm Chủ tịch »
«Thoái vị! »
Ông có vẻ ngạc nhiên thực sự.
«Liệu ông có yêu cầu Tổng-thống của quý ông thoái vị bởi vì đảng Cộng hòa bất đồng ý kiến với chính sách của Tổng thống không? »
«Nói thật ra thì chúng tôi có làm việc đó – bốn năm một lần. »
«Tôi sẽ không làm điều đó! Khòng bao giờ! Tôi sẽ không thoái vị như Bảo Đại và để cho xứ này bị tiêu diệt!»
«Vậy thì tất cả các cửa đều bị đóng, trừ ra cái cửa mà ngài đang định mở ra một cách bí mật – cái cửa ăn thông với miền Bắc. »
«Việc đó có làm ông kinh ngạc không, ông Đại-sứ? »
«Tôi lấy làm vô cùng kinh ngạc. Tôi thấy đó là một sự điên rồ quái gở! »
«Sao lại là điên rồ? » Nụ cười của ông khá đễ dàng và có vẻ thương hại cho tôi.
«Tôi đã đứng vững được với người Mỹ. Tôi sẽ đứng vững được với các tên tướng lãnh thối nát của tôi.
Tại sao tôi lại không thể đứng vững được với một sự liên-minh với Hồ-chí-minh? Ít nhất thì chúng tõi cũng cùng một ngôn ngữ với nhau. »
« Trời ơi, đó là điều ngài mong muốn sao? »
« Không phải thế. Đó là điều mà ông có thể cưỡng bách tôi chấp nhận. »
Tôi đấu khẩu với ông trong suốt một tiếng đồng hồ nữa nhưng tôi không thể lay chuyển ông được. Ông không chịu cho đi một cái gì, thay đổi điều gì, thương lượng việc gì cả. Sau hết ông hỏi tôi:
« Giờ đây ông tính sẽ làm gì, ông Đại-sứ? »
«Tôi sẽ phúc trình về Hoa-thịnh-đốn và đợi chỉ thị. »
Ông nhún vai bước đến gần tủ sách và lấy ngón tay lượt tìm khắp các tên sách cho đến khi tìm thấy cuốn ông tìm. Ông lật rở qua cuốn sách đoạn mỉm cười quay lại với tôi.
« Ông Đại-sứ, ông là người yêu những gì về Nhật-bản. Tôi có câu chuyện này có thể làm ông thích: Có ba người Nhật danh tiếng phải đương đầu với một con chim cu bướng bỉnh.
Nobunaga nói. « Tôi sẽ giết con chim cu nếu nó không chịu gáy».
Hideyoshi. «Tôi sẽ mời nó gáy. »
Iyeyasu nói: «Tôi sẽ đợi cho nó gáy. »
… Và đây là câu đố, thưa ông Đại-sứ. Trong ba người, ai có lý?…
(bài của ông Nguyễn-Văn-Thư-Tạp chí BÁCH KHOA, số 92 ngày 1-11-60)
Dẫn.
Bài của tôi (VHS), được tạp chí Bách-Khoa đăng vào số 89 đề ngày 15-9-1960. Qua số 92 ngày 1-11-1960, báo Bách Khoa cho đăng bài nhan là “Đồ sứ và tranh Đại Tống”. Dưới bài, ký tên Nguyễn Văn Thư, trước ngồi Thẩm phán ở Quảng Trị, sau về Saigòn và năm 1967, tôi có hân hạnh được gặp tại Huế-đô. Nguyễn đại nhân là bạn viết văn, tôi tưởng không hẹp gì mà không cho tôi trích đăng lại đây, bài của òng viết năm trước có nhắc đến bài của tôi và tiện đây tôi cũng xin anh bạn thân Lê Ngộ Châu cho phép, với tư cách chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Bách Khoa, vĩnh viễn gần như lớp xưa, ông Rene Doumic, bỉnh bút tờ Revue des Deux Mondes (Tập san Lưỡng Thế Giới Paris.) Đa tạ. V.H.S.
Đồ sứ Đại Tống và tranh Đại Tống.
“Nhân đọc bài “Từ chén trà Đại Tống đến tích trảm Trịnh Ân”, của ông Vương Hồng Sển, tôi có dịp nhìn nhận tại trang phụ trương mấy hình chén Tống và một cái hũ. Ai đã nhập môn nghề sưu tầm cổ vật, tất phải được nghe giảng về giá trị của các cổ vật:
Đồ đồng như kiếm, lư đỉnh thì tìm nhà Chu, nhà Hán. Đồ sứ men màu thì hỏi nhà Tống, nhà Minh và men chàm thì phải tìm niên hiệu Khang Hy nhà Thanh. Đây là chuyện đồ sứ thuộc về thời đại nhà Tống, tức là thứ đồ sứ quí giá nhất trong các loại đồ sứ. Tác giả đã vui vẻ giảng cho ta một cách rất rõ ràng, ý vị và rất thú vị, nếu có thể nói thế được quả trình của cai chén Tống, từ lúc nó là chén uống rượu cho đến ngày ngự bút giáng xuống làm chén uống nước trà, nghĩa là tất cả mánh khóe của vua Thái Tổ nhà Tống, trong tấn tuồng “Xích Long túy tửu, Hắc Hổ qui thần”. Tuy nhiên về chỗ chiếc hũ Tống, thì chúng tôi còn vài điểm muốn thỉnh thị Vương quân. Vương quân có trinh bày tấm ảnh một chiếc hũ nhỏ có chạy cánh hoa sen và viết rằng: “Tương truyền đời nhà Tống, người Tàu qua chiến tranh cùng nước Việt Nam ta, khi chết thường liệm hài cốt tướng sĩ tử trận trong hũ sành loại nầy.”
Về loại hũ sứ nầy, chúng tôi cũng có được một chiếc và thấy nó cũng có những đặc điểm như chiếc hũ trong ảnh; nghĩa là:
– Cao độ 20 phân Tây.
– Màu da trắng ngà ngà, có rạn mạng nhện (khác với màu da xanh rêu thẩm hay xanh đen của men Tống Trung Hoa).
– Chất đất nhẹ (khác với chất sứ của đồ Tống Trung Hoa).
Loại hũ nầy, cũng như vài món vật dụng khác thuộc loại bát chén, đều chung một sắc men và một chất nguyên liệu, đều tìm thấy được ở vùng Thanh Hóa, cho nên loại đồ sứ được mệnh danh là đồ Tống Thanh Hóa. Vấn đề đồ Tống Thanh Hóa và đồ Tống Trung Hoa cần được nhận định về nhiều phương diện:
a) Phương diện nghệ thuật.
Tuy rằng hai thứ đồ sứ đều do người Trung Hoa thời Tống chế tạo ra, nhưng hai nghệ thuật khác hẳn nhau.
Đời Tống Thanh Hóa rất mỏng manh, nhẹ, làm bằng đất nung, men ngà ngà và bóng. Không bao giờ có ánh kim sa, chỉ có đường nứt mạng nhện màu gạch.
Đồ Tống Trung Hoa nặng chình chịch; hơn nữa các chén đến đĩa, bình hoa đều dày dặn và mát lạnh (do đó những bát, bình hoa Tống dùng để thực vật trong mùa nực có năng lực giữ cho vật lâu hư, cắm hoa lâu héo).
Có người cho rằng sở dĩ đồ Tống mát và nặng vì nguyên liệu chế tạo là một thứ sa thạch. Đem đá tán nhỏ cho thật nát, lọc qua mấy từng bể nước rồi rây qua lụa được một chất bột sứ, chất rất mịn. Vì lẽ phải dùng công phu như thế nên đồ sứ đời Tống rất hiếm và quý giá. Nghệ thuật hồi ấy chỉ đủ để phụng sự quý tộc. Đồ sứ là một trong những sản phầm ít khi lọt ra ngoài nhân gian. Làm được chiếc nào thì đem tiến nội. Vua dùng và thỉnh thoảng ban cho các đại thần để thưởng công, các quan đem cho lại thân thích của mình để truyền tử lưu tôn làm kỷ vật.
b) Muc đích khác nhau.
Đồ Tống Trung Hoa được chế tạo với cứu cánh dĩ nhiên của nó: chén đề uống rượu, uống trà, bình đề cắm hoa và bát đĩa để đựng quả vật. Đồ Tống Thanh Hóa, như Vương quân đã nói đúng, hướng về một mục đích khác. Các hũ sành được chế tạo ra cốt để lưu trữ di hài của người Tống chết ở tha phương trong khi chờ đợi dịp đem về Bắc địa. Thảng hoặc người ta có thể tạo các chén bát khác thì cũng chỉ là những thứ làm thêm chớ không phải là mục đích chính. Sau khi hoàn toàn đồng ý với Vương quân về nhiều điểm tôi nhận thấy, về đoạn giải thích, tôi cần trình bày một vài ý kiến riêng mong Vương quân chỉ chính.
Các đồ sứ Tổng gọi là Tống Việt-Nam đều đào được ở Thanh Hóa. Ngòai ra không đâu có nửa, vì vậy nên được hỗn danh là Tống Thanh Hóa. Nguoi Trung Hoa ở Thanh Hóa, tác-giả các loại đồ sứ nầy, có một lịch sử:
Khi ông Lý Thường Kiệt và Tôn Đản, vào khoảng năm Ất Mão (1075) , đem quân sang vây châu Khâm, châu Liêm, để phản đối chính sách của Tể tướng Vương An Thạch có bắt về một số tù binh. Số người này được phát lưu vào Thanh Hóa để dung vào công cuộc khẩn hoang. Đất Hóa châu hồi đó là biên cương phía Nam của nước Đại Việt. Những người Tống này mang nghệ thuật nung đồ sứ của Trung Hoa sang để cung ứng cho nhu cầu cần thiết của họ là đem tro xương của kẻ mệnh một chốn đất khách về chôn nơi quê nhà (khi có người chết họ đem lên giàn hỏa thiêu lấy tro để vào hũ, y như kiểu các nhà sư làm lễ Trà Ty).
Vì không có nguyên liệu và sẵn phương tiện tại chỗ, nên bọn Tống binh đã dùng đất nung chớ không dùng sa thạch. Do đó bên ta mới có một thứ Tống Thanh là sản phẩm của dân Bắc quốc trên con đường di cư cưỡng bách: cố nhiên những đồ Tống nầy không có giá trị bằng những đồ sứ của chính quốc Đại Tống, làm bên Trung Hoa. Từ đồ sứ nhà Đại Tống, ta đi sang các họa phẩm.
Các loại tranh vẽ đi Tống, đời Minh, đều quý giá không kém gì các loại đồ sứ; có khi còn hơn cả đồ sứ nữa, vì lẽ dồ sứ dễ giữ và các bức họa thường chịu ảnh hưởng của thời gian.
Xét các bức họa nhà Tống thì có lẽ quý nhất vẫn là mấy bức tranh hoa điểu của Tống Huy Tôn (1253-1278) 1.
Một nhà phê bình nghệ thuật có nói rằng “nghệ thuật Trung Quốc có thể tượng trưng bằng một lọ Túy Hồng và một bức tranh chim Ưng Dương. Lọ Túy Hồng là lọ tráng men ửng đỏ mà hiện giờ thứ men ấy đã thất truyền. Tranh Ưng Dương thuộc về loại tranh cầm điểu mà chính vua Tống Huy Tôn ngự bút vẽ ra.
Đề quý vị có ý niệm về các bức họa của Tống triều, tôi xin hiến quý vị một mẫu ảnh chụp bức tranh Ưng Dương mà chúng tôi có may mắn giữ được. Sau đây là các đặc điểm của bức tranh ấy:
1) Hình vẽ ngay ngắn ở giữa bức bức tranh, biểu lộ sản phẩm của ngòi bút đế vương, lúc nào cũng ngay ngắn, nghiêm trang và chánh vị.
2) Vẽ trên lụa, vì lâu ngày lụa đã nhuộm mùi thời gian và mòn gần hết tơ.
3) Vẽ bằng thủy mạc, điểm trân châu phấn, khiến cho trải qua bao nhiêu năm mà màu trắng không bị phai nhạt.
4) Chính giữa bức tranh và về phía trên có đóng một dấu son, nét son đã xuống màu.
5) Dấu son quốc bảo đóng lên một giòng chữ đại tự chân phương ghi câu:
“TUYÊN HÓA NGỰ BÚT”
1./Lý Thường Kiệt hưng binh đánh với Tống (1075-1077).
1. Huy Tôn (Hoei-tsong) lên ngôi năm 1101 và thoái vị năm 1125; bị Kim Phiến đày lên Bắc năm 1127, mất năm 1135, thọ 54 tuổi, mất tại Ngũ quốc thành, nay Ninh cổ tháp tại Kiết lâm (Ou-kouo-tch’eng. -Ningkout’a.- Ki-lin) theo Mathias Tchang, Synchronismes chinois. Về hiệu Tuyên Hóa là 2 năm 1119 và 1120, chưa biết năm nào vua Huy Ton ngự bút vẽ tranh này, tính theo dưonglịch.
Sển
6) Bên phía tả là bài bạt của Đoàn Minh Điện Đại Học Sĩ Hạ Chấp Trung. Đai ý nói rằng: “Bệ hạ đã dùng diệu bút, lấy màu sắc mà diễn tả một thế vỗ cánh vượt qua ngàn dặm, trông rõ như muốn bay muốn kêu. Thật là thần trí của Đức Vua ngang với Tạo Hóa vậy.
7) Bên hữu là thủ bút của hai nhà danh họa Trường Châu và Động Sơn. Hai người này đã từng được mắt coi bức họa (Tả quan), nên ghi chữ làm bằng và có dấu son làm tín hiệu.
Nguyễn Văn Thư
5. Bắc Cầu
1) Bài thứ nhất. – Trả lời muộn cho ông Nguyễn Văn Thư:
Nguyễn tiên sinh nhã giám,
Mấy lời vàng ngọc tiên sinh chỉ giáo trong Bách Khoa số 92, tòi giữ kỹ từ năm 1960. Sở dĩ không trả lời ngay lúc ấy, vì trong khi ông nhẹ bước đường mây, tòi vẫn lận đận thân làm công nhựt nơi Viện bảo tàng, cuối năm 1960, giao kèo tái tuyển chậm ký, chén cơm gần muốn văng, bụng dạ nào ngồi viết chuyện hũ Tống và tranh “cầm điểu”Tuyên Hóa? Từ ấy, cánh bèo trôi giạt, nhớ có một lần gặp ông tại Huế đô, nhưng làm sao đủ thời giờ nhắc chuyện phù phiếm? Rồi cho đến nay, tôi đã về vườn, viết được 4 cuốn trong bộ Hiếu cổ đặc san tập 4 khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa, có đoạn tả rõ hũ đựng cốt Tống đại. Tập sẽ tới số 5 là Cảnh Đức trấn đào lục sẽ nói nữa về đồ Tống và các đời khác. Ngày nào mắt xanh bắt gặp, đó là ngày kẻ này chờ lời châu ngọc chỉ giáo thêm của cố nhân.
Mấy trang trước tôi chép y bài soạn của ông, mà không viết bài trả lời năm trước. Ông muốn phúc đáp cũng không làm sao được, nên tôi đành ngơ. Quan hà diệu vợi, tình nghĩa còn nhiều, Ngặt năm nay đã 70, không biết còn diện kiến tôn nhan và còn được bắt tay nhau?
Trân trọng kính bái,
V.H.S.
Gia định ngày 27 tháng 10 năm 1971
2) Bài thứ nhì .- Kính tặng ông Huỳnh Đắc Ứng ở Nha Trang.
Bài tôi viết về chuyện “Từ chén trà Đại Tống đến tích Trảm Trịnh-Ân “đăng trong Bách-Khoa số 89 ngày 15-9-1960. Tiền nhuận bút, tôi đã ăn trót lọt, lâu hoắc. Ngoài bài của ông Nguyễn Văn Thư trên đây, cách ba năm sau, tờ bảo hằng ngày TỰ DO có cho in liên tiếp hai bữa, trong mục “NÓI HAY ĐỪNG », hai bài dài, số 1780 ngày 21-2-1963 và số 1781 ngày 22-2-1963, tựa nhan đề là:
BÀN PHIẾM VỀ SỰ TÍCH CHÉN ĐẠI TỐNG».
Tác giả là ông Huỳnh Đắc Ứng ở Nha Trang. Về tác giả, tôi chỉ biết được bao nhiêu đó và đến nay tôi còn hối hận vì cho đến giờ nầy, tin tức âm hao, diện mạo, sức khỏe của Huỳnh tri kỷ (xin cho phép gọi làm vầy), tôi cũng không rõ biết, như buổi ban đầu.
Hôm nay dỡ tập hồ sơ cũ, soạn về “Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn», trước hết, tôi xin sao y nguyên văn hai bài của Huỳnh tiên sanh, đề rồi tiếp theo đó, tôi sẽ ghi lại những gì tôi hiều biết hiện thời về cái chén trà đời Tống và sự tiến triển cua nghệ thuật đời Tống về đồ gốm, đồ sành. Biết làm sao tỏ sự tri ân? Nếu Huỳnh ngọc hữu đọc mấy hàng nay và cho tôi biết địa chỉ, – đàng nay tôi sẽ hỏi thêm nơi tòa soạn Bách Khoa, tôi sẽ dâng sách đến nhà, chuộc những lỗi năm xưa chểnh mãng.
Xin nhận lỗi và tri ân:
V.H.S (27-X-1971)
6. Bàn Phiếm Về Sự Tích Chén Đại Tống
Bài của ông Huỳnh-Đắc-Ứng (Nha-trang).
(Trích báo TỰ-DO số 1780 ngày 21-2-1963, mục “Nói hay đừng”).
Đọc lại tạp chí BÁCH KHOA 36 89 ra ngày 15-9 năm 1960, thấy ông Vương Hồng Sển có viết một bài với đề:
“Từ chén trà Đại Tống đến tích trảm Trịnh-Ân”. Tác giả kể lại giá trị của chén ấy và trình bày cho ông bạn ngoại quốc, sự tích chén Đại Tống mà ông cho là ở sự tích Triệu Khuông Dẫn nghe lời Hàn Tố Mai chém Trinh Ân. Ông kể cho vị nầy nghe, rồi xác nhận chén Đại Tống, trước đó dùng để uống rượu, sau mới dùng uống trà, tác giả viết:
“Lúc ấy, người em thứ ba, trích huyết thề nguyền, bộ “ba “Sài Vinh, Triệu Khuông Dẫn, Trịnh Ân” (Trịnh Ân, “ sau Tống Thái-tổ phong đến Nhữ Nam Vương), đã cùng “nhau uống máu ăn thề, nguyện lấy gương Đào Viên tam “thệ Lưu-Quan-Trường đời Tam-Quốc, nay anh lớn Sài Vinh vừa mất, anh thứ là Khuông Dẫn lại truất ngôi của “con Sài Vinh, từng gọi mình bằng chú, giành làm vua lấy, Trịnh-Ân là người bộc trực, ăn ngay nói thẳng, hễ mỗi lần có chén, “rượu vào lời ra”, thường không dè dặt lời nói và một đôi khi xúc phạm đến Tống Thái Tổ. Chổ “anh em thì tha thứ được, mà nay là niềm tôi chúa sao nên?” Bởi vậy, trong truyện Tam hạ Nam Đường, tác giả bịa ra chuyện “ Xích tu long túy tửu, Hắc hổ qui thần”, để nhắc việc Tống Thái Tổ không biết say giả hay say thiệt, nhè nghe lời sủng phi là Hàn Tố Mai, hạ bút trong “cơn say, phê chữ “trảm” “trên tờ sớ, đề cho Hàn-Phụng chém đầu Trịnh-An, cơn say qua, thì đầu Trinh-Ân đã rụng”!
“Nhữ-Nam-Vuơng vương-phi la Đào-Tam-Xuân, dấy binh quyết báo thù chồng. Non nước này, ta lại thấy ngón “giang-hồ mã-thượng” của ông vua từng ăn cơm dạo khắp xứ, quen gần đủ mặt gái sông-hồ, tôi muốn nói “Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn. Vì đề thủ tiêu một nhân chứng bép xép lỗ miệng không thua Tam đế Trịnh Ần, Thái tổ bèn giả sợ oai Trịnh vương phi, nên nạp mạng ái phi la cục cưng Hàn Tố Mai cho Đào Võ Trạng Tam Xuân, để cho bà này lăn đèn đốt sống Tố Mai tế chồng là Trịnh Ản. Kế rất độc, một mũi tên giết hai con điểu, vừa thủ tiêu một bà phi quá hiểu biết việc trong “cung cấm (Tố-Mai), vừa làm hết giận một nữ tướng giỏi, còn nhiều hữu dụng mai sau (Tam-Xuân).
“Sau khi làm hai việc có một không hai ấy, chém bạn giết vợ, có lẽ là vừa ăn năn vừa để chứng tỏ bản lĩnh cao cường của mình, Tống Thái tổ hạ chỉ giới tửu”, từ đó cấm dùng rượu mỗi khi có lễ sự và khuyên nên dùng trà thay cho rượu, vì trà vừa tinh khiết, vừa hiền hơn rượu, trà uống mãi không say, trà không làm hư đại sự.”
“Vì thế, thưa tiên sinh Elisseeff, tôi, một tiểu sinh nước Việt, dám nói: chén Đại Tổng, trước kia dùng để uống rượu, sau đó đổi lại làm chén dùng đề uống trà.”
“B.K. số 89 tr. 12 và 13).
Chúng tôi thành thật mừng ông Vương Hồng Sển có của quý là chén Đại Tống; lại nữa chúng tôi thành thật nhận lối kể chuyện của ông Vương Hồng Sển rất hấp dẫn, khi ông kể sự tích chén Đại Tống của ông cho ông bạn Serge Elisseeff nghe.
Sau đây tôi cũng xin có vài nhận xét riêng về chiếc chén Đại Tống để xem nó dùng vào việc uống rượu hay uống trà. Một vấn đề trên ngàn năm mà lại của nước người không có một tài liệu nào chính xác, mà cứ như Vương tien sinh kể trên, thời ông bạn gốc Nga, Pháp tịch thế nào cũng tin mạnh rằng cái chén ấy trước dùng rượu sau là dùng trà. Theo chỗ hiểu của chúng tôi thời thuyết đó không đúng và Vương tiên-sinh đã nêu ở trên là trưyện “Tam hổ Nam Đường”, tác giả bịa chuyện Triệu Thái tổ nghe lời Hàn Tổ Mai trảm Trinh Ân, rồi giết luon Tố Mai, để rồi lại phải hạ chỉ giới-tửu … , nội chừng đó đã mâu thuẫn rồi. Vả lại chính tiên-sinh cũng cho chuyện nầy là bịa, cho nên ông cũng không tin chắc là trước chén Đại Tống dùng uống rượu, cho nên Vương tiên-sinh đã phải nói: “Thưa tiên sinh, theo kẻ hậu sinh này biết, có lẽ chén này, trước dùng uống rượu, sau đó đổi qua dùng làm chén uống trà.
(tr. 11, B.K. số 89).
Thật ra, chén Đại Tống có phải trước dùng uống rượu sau mới dùng trà không? Về điểm nầy ta cần biết về cái chết của tướng Trịnh Ân thì đặng rõ. Như trên đã nói, tác giả “Tam hạ Nam Đường” bịa ra câu chuyện Triệu Khuông Dẫn giả say phê chiếu trảm Trịnh Ân, chứ thật ra theo Nam Tống diễn nghĩa, thời lúc Triệu Khuông-Dẫn đã được quân Trần kieu phủ áo bào tôn lên làm hoàng đế, lập ra nhà Đại Tống thì ở Lộ châu có tiết đại sứ là Lý Quân không phục, liền kéo quân về đánh lại Triệu Thái tổ tại Kinh đô. Khuông Dẫn lien ngôi giá thân chinh đi dẹp Lý Quân; lúc bấy giờ có Trịnh Ân, Cao Hoài Đức, Thạch Như Tín, Mã Toàn Nghĩa, và vạn muôn binh theo hộ giá.
Đoạn này trong truyện có nói rõ về cái chết của Trịnh Ân như sau:
«Khi ấy đại binh Tong Thai-to gan toi thành Thạch-chân, thì gặp binh Lộ-châu của Lý-Quân vừa kéo tới. Thái-tổ liền hạ lịnh dừng binh lập trận thế rồi lên ngựa ra đứng dưới cờ mà hỏi Lý-Quân rằng: « Nhà ngươi với trẫm đều là cựu thần nhà Châu, nay phước trời đã lập trẫm lên ngôi thiên-tử, lẽ ra nhà ngươi phải kbuôn phò cho đẹp lòng bá tánh mới phải, chớ sao nhà ngươi lại phản trẫm là nghĩa gì? »
Lý-Quân giận lắm, nói rằng: « Nhị-công ỷ thế chúa mà đoạt ngôi vua, trời đất nào dung? Nay ta đem binh tới hỏi tội, nói cho nhà ngươi biết. »
Triệu Thái-tổ giận lắm, liền ngó chư tướng mà hỏi:
«Ai ra chém thẳng nghịch tặc ấy cho trẫm.
Sau đó có Trịnh-Ân múa đao giục ngựa ra đánh Lý-Quân. Hai bên đánh nhau hơn 80 hiệp. Lúc ấy bên quân Bắc-Hon có tướng Lư-Tang thấy Lý-Quan đánh không lại Trịnh-Ân, bèn lấy một mũi tên lắp vào cung rồi bắn một mũi trung ngay mặt Trinh-Ân nhào xuống ngựa, nhờ có Cao-Hoài-Đức cứu kịp đem về trại.
(Mai tiếp)
Huỳnh Đắc Ứng (Nha Trang).
*
Qua ngày sau, 22-2-1963, báo Tự-Do, mục «Nói hay đừng » cho in tiếp bài nầy:
BÀN PHIẾM VỀ SỰ TÍCH CHÉN ĐẠI TỐNG (1I)
Trịnh-Ấn bị tên nằm mê man. Thái-tổ lo sợ, khiến người mổ lấy tên ra, huyết chảy không ngớt. Lúc tỉnh lại,
Trịnh-Ân biết mình sống không nổi, liền than với Triệu Thái-tổ rằng: « Từ khi tôi gặp bệ-hạ đến nay, thì việc gì cũng chung có nhau trong sớm tối. Tôi cũng ước ao lo giữ mối giềng cho bệ-hạ mau an bốn bề, không dè nay gặp nước như vậy, chắc là tôi phải vĩnh biệt bệ-hạ. »
Thái-tổ khóc rằng: « Khanh với trẫm, tuy khác họ mà niềm ruột thịt cũng không hơn. Nay khanh bị nguy hiềm như thế nầy, nhờ thuốc men ắt cũng khỏi đặng, hà tất khanh than điều ấy làm như dao cắt ruột trẫm. » Nhưng rồi Trịnh-Ân thác.
Sách còn chép rằng, lúc Trịnh-Ân thác, Thái tổ Triệu-Khuông-Dẫn vì quá thương cảm nên tẻ xiu bất tỉnh nhơn sự, khiến chư tưởng hết sức lo lắng. Sách truyện không thấy đoạn nào nói Triệu-Khuông-Dẫn tỏ ý ghét Trịnh-Ân, cho đừng nói tới việc trảm như tác-giả Tam-hạ Nam-Đường bịa ra cả. Theo ngu ý, thời tác-giả bộ Tam-hạ Nam-Đường là người nhà Thanh đã bịa ra để xuyên tạc trào Tống để làm cho nó có vẻ « não nùng ai oán », chớ một minh-quân sáng nghiệp như Trieu-Khuông-Dẫn, người đã làm lừng danh đời Đại-Tống, có lý nào lại nghe lời một mụ sủng-phi mà giết một danh tướng lại một nghĩa đệ bao giờ?
Hơn nữa lúc dịch bộ Nam-Tống diễn nghĩa, ông Trương-Minh-Chánh, cũng đã phải nói như sau:
« Thuở nạy ai ai cũng đều nói rằng « Trịnh-Ân thác là vì bởi Hàn-Tố-Mai muốn trả thù cho chú mình, mà phục rượu cho Thái-tổ say, rồi cầm tay phê chiếu chém Trịnh-Ân. Đã vậy, thường thường hát bội cũng hát theo như thế. Nay tôi dịch bộ truyện nầy từ đầu chi cuối không thấy chỗ nào nói sự tích ấy, kiếm cũng hết hơi, hoài công thì có chớ chả thấy đâu. Có nhiều ông bác làm quần thơ nói rằng:
«Tích này không có trong sử Tàu; ấy là do người Thanh đặt ra như vậy; mà nay bản chánh mất rồi, nên xin chư vị miễn chấp. »
Sử liệu Trung Hoa lưu truyền tại Việt Nam, mà kẻ thiển học như chúng tôi, chỉ biết có thế, nên về sự tich chén Đại-Tống, tạm kết luận như thế nầy:
– Nếu Trịnh-Ân bị Triệu Thái tổ đời Đại-Tống trảm, thời chén Đại-Tống trước dùng uống rượu, sau lại đề uống trà là đúng.
– Nếu Trịnh-Ân chết vì bị Lư Táng bắn, thì sự tích đó sai.
Mà đúng hay sai, việc đó không cần thiết lắm, tuy có điều chắc chắn nhất là chén Đại-Tống hiện nay có trên ngàn năm và ở tại tư-trang của Vương tiên-sinh thì đó là một bảo-vật vô cùng qui giá.
Riêng kẻ viết bài nầy, cũng chỉ vì tánh tò mò hay lục lạo sách vỡ, vậy xin Vương tiên-sinh hay xem đây chỉ là một việc: « đọc sách cũ, nói chuyện xưa » mà thôi.
Ký tên: Huỳnh Đắc Ứng (Nha Trang).
(Trích nhựt báo TỰ-DO số 1780 và 1781 ngày 21 và 22 tháng 2 năm 1963).
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.