Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Bài 1 – Sau ba năm ở Mỹ

Một

8, tháng 6, 1993 …

Khi vòng tay vắt sợi giây xích khép hờ chiếc cổng gỗ của khu đất, trên đó dựng “tài sản” đầu tiên và cũng là cuối cùng của anh sau năm mươi năm cố sống. Căn nhà tranh, đúng hơn chiếc lều do chính tay anh cùng Phg lợp lên từng liếp lá dừa, lót dần mỗi tấm gạch nền. Căn nhà, hiện thực cảnh sống của anh với từng người bạn …

Nằm trên võng anh hay cười và nói thành lời một mình … Chỗ nầy là của ông Mê Linh nhảy dù cho. Cái cửa là do ông Yến làm báo ở Mỹ. Chỗ góc là của hai vợ chồng bác sĩ không rõ tên bên Canada. Cô Nga em ông Giang trước ở Đà Nẵng cho một trăm. Mình mua cái gì nhỉ?! Anh mong có ngày anh đón BẠN VỀ … Anh không hề có cảm giác nhà, đất của riêng mình. Anh chỉ làm nhiệm vụ coi giữ. Bởi chúng có được từ những người ở xa. Nhưng sáng nay, bình yên kia không còn. Anh phải đi … Anh có cảm giác rã rời của người phải tiếp tục lần đi sau chặng đường quá dài, trước mắt lại mở ra thăm thẳm nẻo xa. Anh đã vào tuổi già. Quá già cho lần bắt đầu muộn. Anh thật muốn trở vào, vất bỏ cái túi xách đựng những vật dụng hằng ngày, thêm khối giấy tờ xuất cảnh, khoảng năm ba chục trang hồ sơ, gồm nhiều tập, mà mỗi kẻ đi tù về luôn mang giữ; chen giữa những tập giấy kia là đồ dùng vệ sinh; hai gói mì ăn liền, thức ăn khô đề phòng lần (nếu) bị bắt giữ bất ngờ. Cũng do hai hai chữ “công an”, cảm giác mỏi mệt kia tăng thêm độ sắc. Nhìn những màn cửa sổ mầu xanh dọi nắng sáng bay đong đưa, lộ lệch phần bên trong căn nhà, anh tưởng ra độ mát của nền gạch tàu mà dẫu ngày hè nóng bức vẫn cho cảm giác gây gây lạnh. Chiếc võng sợi dừa treo ở hàng hiên đã được móc lên cao, bàn gỗ nhỏ uống trà … Sáng nay nếu không phải đi, đây là lúc ngồi chơi, chờ cho Ti ăn sáng … Giữa chừng ý nghĩ, anh liếc về phía đầu khu đất, nơi tiếp giáp căn vườn ông ngoại đứa bé, chỗ nhỏ Ti thường đợi anh đi qua. Con bé không có mặt, trời còn sớm quá … Anh lẫm bẩm những tiếng vô nghĩa, lên xe, đạp nổ máy. Chỉ một điều cho anh thoáng mối vui, chút bằng lòng … Đã thắp hương lên bàn thờ mẹ, nếu được sống bình yên trong cảnh nầy, chắc mẹ vui lắm. Con bé Ti cũng tuổi Mùi như mình, mẹ tuổi Tuất, cách nhau hằng năm mươi, sáu mươi năm hơn – Với anh – Tất cả là một. Anh ra khỏi hẻm cát, lên lộ đất, hướng Sàigòn. Lòng buồn hiu.

Người sĩ quan công an của PA15, Phòng an ninh phản gián Ban bảo vệ chính trị Thành uỷ Sàigòn, đặc trách văn nghệ sĩ, thuộc lớp tuổi ngoài ba mươi, loại người sắc bén, khôn ngoan, giỏi nghiệp vụ. Nghiệp vụ tìm thấy những sự việc chỉ có thể xẩy ra ở tương lai với tỷ lệ xác xuất nhỏ nhất. Hoặc, không hề xẩy ra. Lịch sự, đĩnh đạc, tự tin, người nầy mở lời …

– Anh có gặp Dương Phục?

– Vâng. Anh thở hơi bình thường sau cơn căng thẳng từ sáng sớm; thật ra từ những ngày qua, sau khi nhận tờ giấy gọi trình diện cơ quan đặc vụ nầy. Như vậy thì không đáng sợ. Anh lấy lại đôi phần cảm giác yên ổn.

Phản ứng của kẻ lương thiện và tin nơi lòng tốt của người. Dẫu cho người phía đối nghịch. Anh thành thật trình bày tiếp: Tôi đến để thăm anh Dương Cự, anh của Phục, chứ không biết Phục ở Mỹ về, từ bao lâu nay tôi với anh ấy không hề liên lạc, cũng không là bạn thân, trước kia chỉ chung sở làm …

– Anh và Dương Phục đã tới những đâu? Câu hỏi có ý tìm hiểu những nơi chốn đã đi. đến, không để xác định một hành vi, làm sáng tỏ về yếu tố đang đề cập. Người nầy lộ vẻ không chú ý câu trả lời của anh. Coi như việc đã nắm rõ.

– Chúng tôi đến chỗ hoạ sĩ Phạm Cung, chẳng là Dương Phục muốn biết về sinh hoạt của giới văn hoá, văn nghệ Sàigòn ngày trước, hai nhà cùng khu Phú Nhuận, chỉ cần qua lối tắt, đi bộ, không phải dùng Honda. Không cần đợi người kia hỏi thêm, anh “thành thật khai báo”. Sống lâu cùng người cộng sản, rõ ràng mọi người đều nhiễm phải phương pháp luận lý, xử dụng từ ngữ của họ. Cũng như anh vừa nghĩ ra cụm từ kia, đồng thời có ngay so sánh, đánh giá :” … Không thể nào “ngắn, gọn, giản đơn hơn được … ”. Lại một số từ ngữ nghe quen khác xuất hiện tiếp trong đầu. Nhưng nói cho cùng, sở dĩ anh có cách thức ứng xử phản xạ với những ngữ từ nhập tâm nầy, bởi vì anh đã hiểu rõ: Khi công an hỏi đến, tức chuyện hẳn có – Thời gian trước, sau khi xẩy ra chỉ là phần kỹ thuật – Kỹ thuật thẩm vấn, tra cung. Sống cùng người cộng sản gần hai mươi năm, quả thật anh đã “bước đầu có tiến bộ nhất định”. Thế nào là “tiến bộ nhất định”? Trước kia anh hay buồn cười về những từ ngữ chung chung nầy. Nhưng nay, qua kinh nghiệm bản thân, anh hiểu ra nghĩa thật … Không “tiến bộ nhất định” thì gọi như thế nào để xác đáng với tình thế của hiện tại đang đương cự Nhưng nỗi hân hoan, tự tin về cách cư xử khôn ngoan, thành thật của anh đã hoá nên vô dụng, bởi viên cán bộ hình như đã quá tường tận tình thế, anh ta ngắt ngang:

– Chúng tôi biết. Chỉ muốn anh tự nói ra để xem mức độ giác ngộ của cá nhân anh trước khi có “biện pháp cụ thể”.

Cụm từ cuối cùng của người công an có ngay hiệu lực. Anh im bặt, chưng hững, ngây ngô nhìn người đối diện … Mình phải bắt đầu từ đâu? Suýt nữa anh buột miệng (như nhiều lần nơi trại tù khi phải làm kiểm điểm) … Cán bộ muốn tôi khai báo những gì?! Anh mắt viên công an long lanh cười cợt sau lớp kính trắng. Anh ta đổi giọng thân mật:

-Anh vẫn ở Lái Thiêu nhỉ? Giọng trống không.

– Vâng. Anh im lặng. Không hiểu y ta muốn gì? Anh tỏ vẻ nôn nóng, bực dọc cốt để người kia nhận thấy, anh ta sẽ lộ ra phản ứng, dễ đối đáp hơn. Gã cán bộ tiếp cơn đùa, chủ động tình thế: Chỗ anh ở đẹp lắm.

– Vâng. Anh đáp sẳng, bất mãn: Vùng ấy toàn nhà giàu, trước kia hay bây giờ cũng thế. Nhưng xóm tôi chỉ có người nghèo,

– Anh không thích ở đấy à … Đến lượt người nầy không nắm vững diễn tiến từ chính mình vừa tạo nên. Do anh ta không thể nghĩ anh đã phản ứng đến mức ngây ngô như thế kia. Người công an tiếp tục, bày ra ẩn ý, ám chỉ: Anh thì quen sống nơi vui, đông. Anh khối bạn, đâu cũng có,

– Vâng. Tôi quen nhiều người, nhiều giới, nhiều lớp tuổi. Ngay cả ngoài Bắc, phía tù hình sự gọi tôi là “Nam kiên giam” theo cách đặt biệt danh của họ. Cán bộ đã ở ngoài ấy hẳn rõ. Anh mở rộng ra con đường mà người kia cố tình làm rối rắm.

– Không tôi muốn nói phía người Việt ở Mỹ kia chứ.

Người nầy lại buộc vào.

– Ở Mỹ, Pháp, Úc … Đâu tôi cũng quen suốt. Anh chuyển qua cách tự tin, hãnh diện trong âm, chữ diễn đạt.

– Anh và Dương Phục chắc có nhiều điều để nói nhỉ. Bao lâu mới gặp nhau lại. Người cán bộ trở lại, sau chặng đi lòng vòng xa. Anh trả lời ngay bằng xác định, không quanh co, ẩn dấu: Tuy cùng Ban Liên Hợp, chung toà báo Sóng Thần, nhưng Dương Phục với tôi không là bạn thân. Thân, phải kể như Đằng Giao mới đúng nghĩa. Nhưng, tôi quý tất cả, đối với Phục hay bất kỳ ai. Và tôi đã nói với cán bộ ngay từ đầu, tôi đến chỗ đấy chỉ cốt thăm anh Cự, việc đưa Phục đi gặp những người kia là do yêu cầu của anh ấy đối với họ.

– Những người kia là ai? Viên cán bộ làm ra vẻ hình như nhớ lại công việc đang cần phải hoàn tất chứ không do ý muốn cá nhân,

– Thì sau đó đến nhà Trần Mạnh Hảo,

– Rồi đi đâu nữa?

– Chẳng đi đâu hết. Tôi về Lái Thiêu.

– Các anh định đi ăn cơ mà …

– Định thôi … Nhưng đâu có đi!! Anh kêu lên … Từ nhà Trần Mạnh Hảo, tôi về Lái Thiêu. Chúng tôi không đi

đâu hết. Đây, có sẵn cái hộ chiếu, nếu cán bộ nhận, tôi xin trả. Bù lại, cấp cho tôi tờ hộ khẩu về ở chính

thức nơi Ấp Bình Đức, xã Bình Nhâm … Anh nói lớn. Vùng vẫy pha lẫn phẫn nộ. Phản ứng của kẻ cùng

đường, oan ức. Buổi chiều. Anh ra khỏi PA15 với quyết định dứt khoát … Phải đi Mỹ. Đi … Đi Mỹ.

Hai

2 tháng 11, 1993 … Đất trời chính xác đến thế nầy thì thôi, cũng một ngày tháng nầy ba mươi năm trước!!

Anh ngẫn lên cao, trời xanh, nắng sáng, chung quanh cảnh sắc lặng lẽ, khu nghĩa trang nằm giữa hai tỉnh Bình Dương, Biên Hoà, trên đường liên tỉnh Lái Thiêu qua Dĩ An. Rừng lá bạch đàn vi vu gió xôn xao gây gây mát lạnh. Thời tiết hiền hoà cảm xúc của riêng miền Nam, buổi cuối năm. Nhưng lòng anh thấm đẫm mối thê thiết giăng giăng” … Ngày nầy … Ngày nầy đây, ba mươi năm vút, len lỏi giữa đám đông để bắt kịp đoàn tuỳ tùng của trước … Và xa hơn, ba mươi sáu năm … Đứa bé chạy vun tổng thống. TỔNG THỐNG- Người mặc bộ đồ trắng, dáng thấp, đi nhanh, mặt rực sáng, hiền hoà trung hậu …. Tổng Thống!! Tổng Thống!! Đứa bé bật kêu do cảm khích cao độ bất chợt. Tổng thống!! Tổng thống!! Anh kêu thất thanh từ giấc mơ sâu, bởi chân đang kẹt trong vũng DẦU … Tay cầm lá CỎ, anh cố chạy lên mặt NƯỚC …. Bãi Dầu giữ bước chân, nhưng anh vùng vẫy, kháng cự, vượt cơn khẩn cấp, băng Sông Mã, leo lên núi … Từ đỉnh cao, bạn NGÔ Vương Toại đưa tay vẫy; người vợ (qua vóc dáng của MẸ) đang nằm trên sườn đồi với vẻ mệt mỏi, chờ đợi; vị thế nằm như người đàn bà trong tranh của Rousseau. Tranh mầu LỤC. Ao màu LỤC có ô sọc VÀNG của NHƯ HẢO, buổi khai trường 1955. Đường Nguyễn Hoàng đầy bướm chết thảm thương trên mặt đường. Cổng xe lửa nhìn chéo tới LẦU ĐEN CỦA THU.

Anh và các bạn đứng lố nhố vui thích, chờ đầu máy tiến tới. Anh liếc qua cô gái nhỏ – Chiếc áo màu LỤC. Xe lửa tiến tới …. Ô kìa, xe chạy trên mặt nhựa đường, (đường rầy đã bị AI bóc dỡ), in hình hai vệt bánh sắt nên thành con số II, chữ số nằm xiên … Tương tự dáng mẹ nằm trên núi ĐẦU SÔNG MÃ. Mẹ họ NGÔ. Đứa bé chạy thoăn thoắt giữa đám ĐÔNG đứng lèn chặt, cố bắt kịp NGÔ TỔNG THỐNG … Nó vụt kêu …. Tổng Thống!! Tổng Thống!! Đám đông nhìn nó như khen ngợi. Có người đưa máy hình lên chụp ẢNH. “Nó+Anh” nghĩ: Mình đã làm việc cực tốt. .Mình là người ĐẸP trai. Mùa ĐÔNG năm 1957, Năm CON GÀ, Hôm nay, tiết QUÝ ĐÔNG năm QUÝ DẬU. Buổi sáng Mồng 2 Tết 1948 qua 1949, CON GÀ đá vào bụng em ANH. Em tên “KH-ANH”. Ông Võ gật gù giải thích chữ Hán-Việt … “Ngô hay Ngã cũng chung cách viết

– Chỉ CHÍNH MÌNH. CHÍNH ANH”.

SÁNG NAY, 2(II) THÁNG II, NĂM QUÝ DẬU,

1993, anh rời chỗ dung thân cuối cùng, Lái THIÊU để ra khỏi NƯỚC. Giấc mơ đứa bé lên BA, ” … Chiếc cầu gãy bên căn nhà tranh bốc CHÁY. Cầu trơ lại HAI chân cắm XIÊN nhô CAO khỏi mặt NƯỚC”. Căn nhà tranh bốc cháy của giấc mơ “bốn-bẩy” (47) năm trước với căn nhà anh vừa rời bỏ là MỘT. Số tù anh nhận ở Hoàng Liên Sơn, 7747. Em Khanh sinh 1947. Đại đội 74, Tiểu đoàn 7 Dù- Đơn vị ĐẦU TIÊN. Tất cả sách anh VIẾT có bìa ĐỎ-LỬA.

Anh đến trước ngôi mộ,” … Chúng tôi là kẻ có tội và cầu cho kẻ xúc phạm mình. Chúa Jesus chuộc tội cứu thế Cầu cho Anh Linh GIOAN BAOTIXTA”.

Anh Tin: “Đất-Trời-Người” hằng lắng nghe.

Ba ngày sau …

Phải. Đây là đất Mỹ. Đất Mỹ của một tiểu bang đông người nhất với những thành phố không chỉ cỡ quốc gia, nhưng là tầm quốc tế. Những phi cảng đứng hàng thứ hai, thứ ba thế giới; lẽ tất nhiên, cái hàng đầu ở đâu đó, xa hơn một chút, cũng thuộc tiểu bang nầy. Đã thật ở đất Mỹ để thấy ra nghịch lý- Những điều hoang tưởng nhất thoắt trở thành hiện thực. Và những thực tại trong chớp mắt đà nên xong vất bỏ. Vất ngay không nương tay. Tất cả tổng hợp nên một TÍNH TRẠNG KHÔNG THẬT CỦA CÁI THẬT.

– Ông nặng bao nhiêu pound?

– Ở Việt Nam tôi cân được năm mươi lăm ky-lô-gram, nay tại Mỹ chắc nặng hơn một chút …

– Ông tính ra bao nhiêu pound hộ, tôi không biết về cái mà ông vừa nói. Người đàn ông nói chậm rãi, chêm những tiếng “you know” giữa câu để anh có thể theo dõi kịp. Ông ta thật tinh tế, biết anh vừa đến Mỹ.

Trong khi nhẫm tính ra số pound sức nặng của thân thể mình; anh nhìn người chủ căn chung cư nơi bạn anh thuê, căn phòng hiện tại anh đang tạm trú từ ngày bước xuống đất Mỹ … Người Mỹ tử tế thật, mình chỉ là bạn ông Trạc chứ quen biết gì, thế mà cũng hỏi thăm sức khoẻ, chiều cao, sức nặng. Ai bảo người Mỹ vô tình, lạnh nhạt,

Có sống mới biết lòng người. Anh thở phào, hớn hở:

Như thế, tôi có từ 120 đến 130 pounds. Hôm khám sức khoẻ nhập cư, tôi nhớ, cũng khoảng chừng ấy số cân,

– Như thế, ông có tối thiểu 120 pounds? Người đàn ông kết luận. Ông ta có vẻ thoải mái như đã tìm ra đáp số cho một vấn đề nào đó.

– Đúng thế. Anh nói lớn, đồng ý về bản thân để khỏi gây thắc mắc, phiền lòng người. Lại là người tốt bụng.

– Nầy, ông xem … Người đàn ông lật lật những trang giấy tập hồ sơ đóng bìa trắng … Đây, nó đây … Ông đọc chỗ nầy, hàng nầy … Ông ta di di cây bút trên những hàng chữ đánh dấu màu xanh, nét mực tươi rói, dễ nhận.

Đợi anh đọc xong, trả lại tập giấy. Người đàn ông hỏi … Ông biết? Ông hiểu? Âm tiếng khoan hoà lịch sự,

– Tôi biết. Anh đáp, thật sự chưa hiểu hết câu chuyện.

Tại sao ông ta đưa xem cái giấy ấy, mình có nuôi gì đâu?

Anh đang tìm lời giải thích.

– Thế nầy … Người chủ nhà thân mật … Đây, đấy là hợp đồng thuê nhà, người thuê, nghĩa là bạn anh chỉ được nuôi “pet”, (Anh hiểu pet là cái gì nho nhỏ, dễ thương như đồ chơi … ), cái pet ấy không quá ba pounds … No excess of three pounds, you know! Đằng nầy anh nặng 120 pounds, ít nhất cũng 120 pounds, anh đồng ý với tôi. Anh nói Mr Ngyen đến gặp tôi … OK?

Khi anh đứng ở lề đường với những bao gói ngỗn ngang đợi Nguyễn Thức tới đưa đi, ông già ăn xin thường trực trước quán ĐL có lời khuyến dục: “Ông làm cái bảng “Homeless” đeo trước ngực, người Á châu sẽ cho ông dollar bill, chứ không phải chỉ quarter như cho tôi … OK?

Lần đầu tiên trong đời anh SỢ- Thật Sợ- Sợ từ một tình thế vượt khỏi mọi dự liệu. Cho dù, anh đã hằng hằng nguy biến của hơn ba mươi năm khắc nghiệt. Dẫu, anh đã cuối vũng lửa, cái chết. Bởi, bây giờ, hoàn cảnh khác hẳn mọi kinh nghiệm. Trước mắt anh giãi ra một biển lửa mở rộng với vạn ngọn đèn màu đỏ … Khu giao lộ phía đông thành phố Los từ đường 15 đổ xuống. Buổi sáng, ở Utah, khi bạn anh đưa chìa khoá xe, chiếc Chevrolet hai chỗ ngồi, lời âu lo: “..Ông mới qua Mỹ, đường sá không thuộc, lái từ đây về Orange County có được không? Anh tự tin trả lời: “Một tuần sau khi đến Mỹ, tôi đã cầm tay lái đi từ Bắc xuống Nam Cali. Ba mươi năm lái xe, chưa hề gây tai nạn, cũng chưa hề để thằng khác đụng phải. Ông yên chí, bản đồ tỷ lệ 1/100.000 tôi gọi pháo binh bắn như đặt bi vào lổ, bản đồ đường sá Mỹ thiết lập cho người có trí thông minh dưới trung bình …”. Anh nói chắc. Bạn nghe hợp lý, hơn nữa anh vốn được tiếng khôn, nhanh, xốc vác, chịu đựng. Nhưng tất cả “kinh nghiệm” của tháng qua, của ba mươi ba năm lửa đạn chiến tranh, của năm mươi năm khốn cùng Việt Nam đến đây đã hoàn toàn trở nên vô dụng. Bởi, bây giờ là Đêm- Đêm nước Mỹ ở khoảng đường đông xe nhất thế giới. Sau nầy, anh hiểu ra, người sinh trưởng ở bản địa cũng ngại lái xe vào khúc đường nầy, khoảng từ sáu giờ chiều đến tám giờ tối. Dân New York, vùng phía Bắc lại càng luống cuống, chịu thua. Xe mới, đường lạ, các bảng chỉ dẫn cấp kỳ xuất hiện, những lối Exit liên tục khẩn cấp và vận tốc trên 60 Miles một giờ … Anh mê đi trong vũng lửa di động, để tới nửa đêm, thay vì về đến Orange County như dự liệu, anh nghe tiếng sóng của một bãi biển giữa đường đi San Diego. Chuyện lạc đường ở Mỹ không là điều đáng nói. Nhưng, đây là lần đầu trong đời ANH KHÔNG TIN ĐƯỢC NƠI MÌNH- ANH THẤY SỢ. Nước Mỹ, nơi dạy anh biết sợ hãi. Và sau nầy, ở những tình huống lặng lẽ bình thường hơn, phản ứng kia luôn xẩy ra, cảm giác lo lắng về một tai nạn đang sẵn chờ- Tai nạn không do anh gây ra, nhưng từ đâu sau lưng, bên cạnh, chung quanh. Rất nhiều lần, quá nửa đêm, ở khoảng đường vắng của một city hẻo lánh nào đó nằm cạnh xa lộ liên bang vạn dặm anh đi qua … Khi ngừng xe tại những bảng STOP, nếu nhỡ đầu xe hơi nhích lên quá vạch vàng, anh vẫn tự động lùi về phía sau … Sorry .. sorry … Anh vội vã, cuống

quýt, mau mắn … Anh sợ phạm lỗi. Anh sợ tai nạn. Tâm thức nầy không chỉ riêng anh, nhưng là của chung. Của tất cả. Của những người sống thường trực bất an. Cho dẫu, cũng ở đây, hệ thống bảo vệ an ninh, an sinh xã hội coi như toàn hảo. Có những bảo hiểm trọn đời. Sau khi chết.

Nhưng, sau ba năm ở Mỹ, từ trạng thái “luôn chờ đợi một tai nạn, điều bất hạnh, nguy biến”, anh dần phục

hồi với sức lực đơn giản – Nguồn Vô Uý từ khám phá ra điều THẬT- ĐỜI SỐNG LÀ GIẢ HÌNH- TÍNH GIẢ Ở MỸ ĐẠT ĐẾN MỨC TUYỆT ĐỐI VÀ CỤ THỂ CAO ĐỘ. Chủ đề quen thuộc của anh từ bao lâu, lúc bắt đầu cầm bút. Buổi thanh xuân còn háo hức, nông cạn.

Sự Thật lớn nhất,

Là cái CHẾT

Đã giáp mặt rồi,

Không sợ gì hết.

Những lời nầy không là ngoa ngôn. Anh đã xác chứng bằng chính bản thân với mười mấy năm nơi tù ngục.

Đất Mỹ không thể đốn gã anh được dù đây là nơi kỹ thuật trấn áp lên tất cả mọi lãnh vực. Cuộc cách mạng kỹ thật mà Alvin Toffler mô tả đang lên đến cao điểm của nó. Nhưng dù sao cũng vẫn là kỹ thuật. Không phải ĐẠO. Đạo đến từ Phương Đông cùng hướng mặt trời mọc. Phương quê nhà. Chốn anh phải trở về. Cũng do ..

Bởi vì đã Đi nên sẽ Đến

Người và Bóng Tối phải chia tay …

Tô Thuỳ Yên.

Người Bạn-Thi Sĩ tôn vinh Lý Tất Thắng

Thi Sĩ đích thực là Tiên Tri.

Ba

Từ lầu ba khu thương xá Galeria anh nhìn xuống …Một vùng hoa đỏ chói được xếp khéo, tinh xảo chen lẫn

giữa đám lá màu lục. Hoa, lá, giòng suối, vòi nước,vườn đá tảng … Thật, giả chen lẫn nhau, khó phân biệt được. Khu thương xá lớn như một thành phố thu nhỏ. Loại quần thể với cấu trúc khép kín bày đủ tất cả các mặt hàng có khả năng thoả mãn cho người toàn bộ nhu cầu về đời sống vật chất, các phương tiện, dịch vụ giải trí, sinh hoạt gia đình, xã hội. Anh đang đứng giữa một vùng mênh mông màu sắc, đồ vật, hoạt động chuyển dịch bất tận, liên tục cuả một hệ thống tổ chức hiện đại văn minh nhất của xã hội tiêu thụ Mỹ … Áo quần, son phấn, đồ nữ trang, máy móc điện tử, vật dụng cơ khí, sản phẩm kỹ thuật cao … Tất cả mang nhãn hiệu “New Brand; Last Model; Top Fashion … “, vừa mới xuất hiện trên tờ báo sáng hôm nay, chương trình ti-vi tối hôm trước ở mục Tin Cuối Cùng. Tất cả đồng được bày ra, khiêu gợi, mời chào xử dụng. Nhưng đối với anh, tất cả khối vật thể đồ sộ nầy hoàn toàn bất tác động. Giả sử có một kẻ đầy đủ quyền hành như bà tiên trong chuyện thần thoại, cho phép anh được lấy bất cứ món đồ gì ở khu quần thể vĩ đại nầy, cho dù đắt giá đến bao nhiêu, với mỗi điều kiện, chính anh phải xử dụng nó, không được bán hay cho đi … Thì chắc anh sẽ từ chối, để không ngần ngại chọn chai nước ngọt – Vật độc nhất anh thực sự cần thiết trong lúc nầy, ở đây. Bởi, qủa thật anh không chút nhỏ liên hệ, nhu cầu gì đối với bất cứ món đồ nào trong khối vật chất tràn ứ đang vây bọc.

Nó không phải của anh. Cho anh. Bộ đồ anh mặc, đôi giày đi hoàn toàn không có xuất xứ, chung đụng với những đồ dùng đồng dạng, loại đang được trưng bày. Chúng cũ kỹ, quá hạn, thuộc về một thế giới, đời sống khác – Cảnh sống thực của khổ nạn miên viễn, với nỗi đau chồng chất, hiện mới từng ngày. Nụ cười rạng rỡ trên bích chương quảng cáo in hình đôi thanh niên thiếu nữ do được xử dụng một hợp chất hoá học tối ưu trong việc gội đầu, nhuộm tóc gây nơi anh cảm ứng về một điều giả tạo. Cách cười ấy, không mang niềm sống

động của tuổi thanh xuân, nhưng bày ra phần kiệt quệ, nhợt nhạt của những cái gọi là “nguồn vui, hạnh phúc tiền chế “- Những phản ứng tâm lý, tình cảm đáng lẽ nẩy sinh do, từ hân hoan, xúc cảm nơi trái tim, ở trí tuệ, nhưng nay bởi vì lớp da được thoa xức, mái tóc được chải gở, đánh rối, thổi bùng. Và nói cho cùng, những áo quần, kiểu tóc, làn môi, ánh mắt kia thực sự lại là những biểu tượng tổng hợp của một thứ, loại văn minh làm hư xấu, khinh miệt con người của một thời đại phi nhân tính, vô nhân cách. Anh không hề nói quá, hãy nhìn những “thời trang” quái đản, rách ngướu, những màu sắc, đường nét “fauve, timeless, ageless. “do những những nhà tạo kiểu đã trở nên”huyền thoại”, dọc danh hiệu .. Christian D’or, Giorgio Armani, nơi tập trung toàn bộ sức lực, trí lực, phương tiện khoa học, kỹ thuật, mỹ thuật (chữ dùng thật mang nghĩa mĩa mai, khinh thị) để bày ra một chút mông đàn bà cho thời trang mùa thu, che bớt phần ngực ở thời trang mùa đông, phô trương trân tráo vô vị khoảng da bụng của mùa hè … Tất cả những đường nét, hình khối, sắc màu nầy do một đám nam nữ “model” thể hiện bằng một phong cách chung chung với cánh môi chẫu ra tục tĩu, ánh mắt đăm đăm mê mê đần độn. Đàn ông xỏ lổ tai, đàn bà cạo trắng phần gáy, tóc uốn chổng ngược hình tháp nhọn. Những hiện tượng ăn mặc, áo quần nầy không thuộc một phạm trù riêng biệt, nó nằm chung trong một cơn lốc. Cơn Lốc của Sự Ác- Tính Bất Thiện đang đầm đìa tràn lan khắp hành tinh thế giới cuối thế kỷ, mà Nước Mỹ là đỉnh cao, chỗ hội tụ của đợt sóng tàn hại kinh hoàng đáng sợ nầy. Nước Mỹ là đỉnh cao nhất, cũng là nơi còn lại cuối cùng của nổ lực muốn tồn tại lẫn mối sa đoạ hủy diệt.

Chúng ta nói rõ vấn nạn nầy một lần tường tận. KHÔNG AI CÓ QUYỀN GIẾT NGƯỜI. Đây là nguyên lý tối thượng. Đạo của Trời. Lý cho Người. Luật Đời Sống trên Đất. Nhưng rõ ràng, con người của thế kỷ hung hản nầy đã vi phạm đến mức độ đáng sợ điều linh thiêng tối thượng kia. Người không thực hiện tội ác đơn lẽ, lén lút trong cơn say máu ngắn ngủi, nhưng hoàn tất với tất cả nồng nhiệt của tiến bộ lý trí, kích thích tâm lý, mãnh liệt tình cảm. Và đáng sợ hơn hết, tiến trình tệ hại nầy được đồng lòng, thúc dục của đám đông. Đám quần chúng luôn được kích động, cổ võ bởi những từ ngữ cũ kỷ nhưng vô cùng hiệu lực, gây tác động … Những “độc lập, tự do, dân chủ, dân tộc .. “, kể cả cách nhân danh “thượng đế, đức tin” của rất nhiều lần, ở nhiều nơi.

Tạm gác lại câu chuyện về những người lính – Đối tượng thụ nạn đầu tiên của trò chơi độc hại gọi là chiến tranh mà con người hằng thực hiện từ khi được tổ chức thành đoàn thể xã hội với những tập hợp gọi là quân đội. Những quân đội ấy khi có thêm tiếp tay đắc lực từ kỹ nghệ cơ khí, đã chịu đựng số lượng thương vong tăng vọt với nấc cao chóng mặt. Trận Waterloo đầu thế kỷ 19 với Napoléon, con người làm thay đổi cục diện Châu Âu (mà cũng là trung tâm thế giới vào thời đại ấy), đã gây nên số quân nhân tử thương được đánh giá là

“khủng khiếp” với 48.000 mạng người đối với phía liên quân Tây-Au. Con số nầy trở nên “buồn cười” so với năm triệu người chết của Thế Chiến Thứ Nhất, lại càng nhỏ nhoi, vô nghĩa khi kể ra mươi năm sau, vì chỉ mỗi Liên bang Sô-viết cũng đã có 7 triệu người chết; chưa kể 7 triệu khác, không chỉ 7 triệu thôi mà thật số 7 triệu

7. Số lượng của những người chết không hề cầm vũ khí. Những người dân. Dân thường. Nghĩa là bao gồm đàn bà, người già, trẻ con. “Thành tích Chết” như vừa tóm lượt trên buộc con người có chút lương tri phải xét lại vấn đề của bạo lực. Để đến cuối cùng, một người cứng cỏi, cương nghị của nước Anh, Winston Churchill phải lên tiếng thống thiết “Chiến tranh vốn tàn bạo và vinh quang nhưng nay đã trở nên tàn bạo lẫn tồi tệ .. ”. Nói thế cũng đã đúng nhưng chưa đủ, chúng ta cần những đánh giá nghiêm khắc và kết án mạnh mẽ hiệu quả hơn. Nhưng buồn thay, hình như Sự luôn thắng thế, lấn bước trước Tính Thiện. Cuối thế kỷ, ở đây, đất Mỹ bày ra bao điều đau thương. Những tội ác phạm phải không do một nguyên cớ nào khác ngoài sự kiện: Người thiếu tính nhân với đồng loại và lòng giả tin nơi Thượng Đế. Thật sự cũng chỉ là vóc dạng, định mệnh con người được hình tượng hoá. Bởi kể đến hôm nay:”Chưa một ai đã từng thấy Chúa (Jn 1:18)”. Vấn đề còn lại chỉ giữa người với người.

Năm 1942, Đoàn nghệ sĩ (?) trung ương Berlin có nhiệm vụ giúp vui cho những tiểu đoàn SS Đức, thời kỳ chiến dịch tàn sát Người Do Thái lên đến đỉnh cao nhất. Khi trình diễn ở Lukow, viên trưởng đoàn thỉnh cầu ban chỉ huy SS cho phép dự phần “vinh quang” vào buổi xử bắn đám người Do Thái, dự trù tiến hành sau khi đơn vị SS đã được những giờ phút giải trí tuyệt vời do những nghệ sĩ tài ba mang lại. Tháng 12, 1942, nhân vật lãnh đạo bảy vùng Tin Lành ở Đức ra thông cáo: “Người Do Thái do từ nguồn gốc hiến định là kẻ thù của thế giới(?) và nước Đức, không thể được rửa tội, cần phải bị trừng phạt nghiêm khắc”. Cũng tương tự như thế, thực dân Pháp chặt đầu những người lãnh đạo Quốc Dân Đảng Việt Nam với nhân danh bảo vệ chính nghĩa khai sáng các dân tộc thuộc địa chậm tiến. Người cộng sản Nga giết sạch gia đình Sa Hoàng Nicolas III tháng 11, 1917 để bảo vệ thành quả cách mạng vô sản. Mao Trạch Đông dùng xe ủi đất hốt xác người tại thành phố Nam Kinh hiện thực bước quyết định của cách mạng văn hoá. Cộng sản Việt Nam chôn sống người ở Huế, mùa Xuân 1968 do yêu cầu” trừng phạt những kẻ có nợ máu với nhân dân”. Liệt kê còn rất dài, kéo mãi tận hôm nay, thập kỷ cuối cùng của Thế kỷ Hai mươi, với hiện tượng người Serb tàn sát người Hồi giáo ở Bosnia; dân thuộc tộc Hutus giết tộc Tutsis ở Rwanda sau khi noi gương sáng của Khmer Đỏ giết đồng bào mình lẫn người Việt sau năm 1975. Chuỗi chém giết vấy máu nầy không hề có dấu hiệu giảm sút, chỉ được biến dạng dưới những hình thức khác nhau, do những nguyên cớ khác nhau. Hoặc không bởi một lý do nào khác ngoài nỗi hung bạo căn cơ từ hơi thở, nơi tiếng nói, ở trí não, luồn sâu, hư thối trái tim. Bọn “đầu trọc” trẻ tuổi tấn công, đốt cháy trại tỵ nạn người Lỗ ở Rostock, Đông Đức năm 1992; với tên McVeigh, nổ bom toà nhà Liên Bang ở Oklahoma hôm 19 tháng 4, 1995 … Tất cả những “sự nghiệp đẫm máu” vừa kể qua ở trên, đồng có chung một nguồn mối – Chúng là sản phẩm được hoàn tất bởi những kẻ hít thở đủ không khí nhiễm độc của thời đại nầy. Suốt thời đại bắt đầu từ khi “Văn minh kỹ trị” được xây dựng và củng cố. TưBản-VôSản; QuốcGia-QuốcTế; CộngSản-DânTộc … Tất cả chỉ là mặt biểu hiện biển lận của hai đầu mối ác độc, phát xuất từ một chỗ hiểm nguy: VănMinh-VănHoa-Tây Phương. Nước Mỹ – Trung tâm cơn bão tàn khốc nầy.

Không phải vô cớ, do may mắn,

Bill Clinton đắc cử hai lần tổng thống.

Chẳng phải đắc cử một lần, nhưng đến hai lần với tỷ số áp đảo; đánh bại một đương kim tổng thống lừng lẫy, tài giỏi, bản lãnh. Bill Clinton không đắc cử một mình với trường hợp biệt lệ, bất ngờ do sự hên may, nhưng anh ta đã đoạt thắng cùng lần với những người thuộc cùng hệ phái, chung phẩm cách, cùng xuất xứ. Những sản phẩm thuần thành của thời đại, như cựu phó tổng thống Dan Quayle (thời Tổng Thống Bush), những người chọn chỗ trú ẩn trong hàng ngũ Vệ Binh Quốc Gia, mà vào thời điểm 1970 không phải là nơi dễ dàng thâu dụng. Bởi ở đấy chỉ có thể nhận vào một nhân viên khi đã sa thải một người khác. Ở thời điểm Johnson đôn quân, lúc mà cơ quan trưng binh gọi trình diện đến 120.000 người trong năm 1965; 320.000 cho năm 1966 thì chỗ “những chỗ trú ẩn an toàn” kia đã là nơi tranh đua của những “cậu ấm” con nhà thần thế, cự phú. Không ai xa lạ, bây giờ là ứng cử viên tổng thống Steven Forbes của Đảng Cộng Hoà, con tỷ phú báo Forbes, mà lúc ấy, niên khoá 1970 đã bảo vệ sự nghiệp chính trị hiện tại với chân rửa chén mang danh số 94B20 của đoàn Vệ Binh New Jersey. Danh sách sẽ rất dài với Phil Gramn, bây giờ là Thượng nghị sĩ tiểu bang Texas, đã một lần dùng mánh “lưu dụng” để được giữ lại dạy họcTexas A & M University, 1967. Lamar Alexander trốn súng đạn Việt Nam với chức vụ tối cần thiết, “tống thư văn” cho quan toà Wisdom ở New Orléan, 1966. Có thể kể thêm chủ tịch hạ viện Newt Gingrich, tay “hữu khuynh chống cộng” trên cột giấy báo, Pat Buchanan.

Tất cả cũng chẳng hay hớm, oai phong gì. Rặc một đám trốn lính. Nhưng những con người ngày nay đang giữ những chức chưởng trong Quốc Hội Mỹ, đang nắm vận mệnh nước Mỹ, (cũng là vận mệnh thế giới, nếu không muốn nói quá), đã được chọn cùng lần với Bill, bởi người dân thấy không thích ứng nữa đối với những vinh quang từ quá khứ. Người dân Mỹ hiện tại không cần thiết có một tổng thống từng đánh trận Bastogne ở Đức, 1945; đã sống trong lửa ngày Trân Châu Cảng bị bom, 1941; bò, trườn xao xác dưới đạn ở bãi cát Iwo Jima, dựng cờ lóng lánh sao trên đảo Suribachi. Người dân Mỹ cũng chẳng cần biết. Càng không muốn nhớ (như số đông Người Việt ở Mỹ hôm nay) một chốn gọi là Việt Nam, với những hốc hẻm khó đọc lên tên như Khe Sanh, Cồn Tiên, Cửa Việt … Một nơi chốn đã từng làm thiệt mạng 58.000 lính Mỹ mà nay qua hơn một phần tư thế kỷ, hội chứng vẫn còn âm ỉ. Tuy nhiên, khi hỏi 100 sinh viên thuộc đại học Texas Tech về Việt Nam, giáo sư sử học James Rechner, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam ở Lubbock, ghi nhận chỉ có một sinh viên (tất nhiên thuộc khoa sử) biết được nước nầy là gì, ở đâu?!

Thể nên, kẻ trốn tránh chiến tranh kia được xem như đã lập một “thành tích” khôn ngoan, thức thời, để hôm nay hiện thực khả năng lãnh đạo nước Mỹ trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, mà các xung đột chỉ xẩy ra ở các khu vực; thẳng lợi không vình quang, nhỡ thua thì mất vài anh lính. Người ta chỉ cần một anh tổng thống loại tầm tầm, “công khai hoá” hộ những lỡ lầm, hư đốn như trốn thuế, đồng tính luyến ái, mau nước mắt và biết trốn thoát khỏi gian nguy chết người để vẫn ngày ngày bình yên đợi chủ nhật đi lễ. Hãy tưởng tượng hai anh lính Mỹ, tuổi trên dưới hai mươi, tóc dài, cột theo lối đuôi ngựa, hoặc cạo trọc (cũng may nhờ ảnh hưởng của mấy cậu đánh bóng rổ thường phần đông cạo trọc đầu) nên lính Mỹ hôm nay cũng không phải cần tranh đấu để được cạo đầu như đã một lần kiện đến quốc hội để được quyền có tóc, râu dài rậm. Hai anh chàng tuổi trẻ có những cái vòng ở tai ấy, với vũ khí tận răng, máy móc tân kỳ đầy ắp trên người, chỉ đợi đêm xuống (đêm của giờ địch quân hoạt động) … Đến đêm, họ sẽ chui vào chung một túi ngủ để “make night fun“, thực hiện cái trò tục tĩu mà một đứa trẻ vị thành niên bình thường ở những thế hệ trước đây đỏ mặt vì xấu hổ nếu mắc phải. Nhưng “cái trò nham nhở mất dạy” kia nay đã là một “mục tiêu tranh đấu” của ứng viên Tổng Thống Liên Bang Bắc Mỹ trong chiến dịch tranh cử và cũng là hãnh diện của mẹ cha viết lên biểu ngữ trong buổi mít-ting ở New Orléan:“Đứa con GAY chúng tôi là một tuyệt vời”.

Vâng, khi những chuyện của sau cánh cửa, giữa bóng tối, về những bộ phận sinh dục nay đã biến thành một mục tiêu chính trị, quyền tự do hiến định và là một tiêu chuẩn của văn minh, sinh hoạt tiến bộ của xã hội tổ chức cao. Thì quả thật, những mẫu mực về Thiện, Mỹ của xã hội kia cần phải xét lại. Một xã hội gồm những trí thức khoa bảng, chuyên viên kỹ thuật cao cấp, dụng hết tất cả sở học, phương tiện báo chí, truyền hình để tìm cho ra một yếu tố về tính bất khả thể (của phép tính xác xuất) hòng chạy tội cho một tên giết người trân tráo; và đã thành công trong một phiên toà kéo dài hơn một năm, tạo nên cơn động não không tiền khoáng hậu trong lịch sử tư pháp, vào tận phòng ngủ của những cặp vợ chồng, nơi nấu ăn của bà nội trợ. Lời tên giết người được viết thành sách, in khẩn cấp, bọc bìa cứng tràn lên tay của đám đông đang di chuyển khắp các xa lộ, trong giờ ăn trưa, nơi phòng hút thuốc. Hình ảnh, diễn tiến sự kiện giết người phơi bày ba lần một ngày trên toàn bộ hệ thống truyền hình quốc gia, chuyển lên mạng lưới toàn cầu; hình dạng đứa sát nhân được thu nhỏ thành búp bê đặt vào tay trẻ nhỏ đang thiêm thiếp nơi ghế ngủ. Đại học Luật khoa Rice, Houston, Texas nổi tiếng về học phí cao, giáo sư giảng dạy toàn những nhân vật tiếng tăm như cựu bộ trưởng ngoại giao James Baker, đã tranh đua cùng một trường khác, đại học Oxford nơi đào tạo lớp lãnh đạo quý tộc cho đế quốc Anh, cố đón bằng được luật sư J. Cochran, kẻ cầm đầu biện hộ vụ án, để cổ võ “sự chiến thắng của trí tuệ, của luận lý” qua xác chứng: Tên giết người kia không phải là kẻ xử dụng đôi găng tay trưng ra tại phiên toà. Tóm lại, hai thây người bị đâm nát, chết do một kẻ thứ ba nào đấy, hoàn toàn không hiện hữu nơi đời sống nầy. Cùng lúc, đại học Oxford trao tặng tước hiệu danh dự và toàn thể ban giảng huấn đến cúi mình trước tên giết người vừa được chạy tội. Xã hội kia còn đạt đến mức độ sa đoạ đáng kinh sợ khi nại đến tâm lý học, xã hội học, tác động nhu cầu, ẩn ức tình dục lên tâm lý của kẻ giết con Suzan Smith, để đi đến kết luận:

“Người đàn bà khi bình thản nhốt con trong xe, xong xô xuống vực là do thúc đẩy “muốn duy trì tình yêu”, từ, của một gã đàn ông vô lại nào đó, bởi gã ta đã cho ả sự thoả mãn hứng tình trọn vẹn!!.

Hãy xem gà mẹ che con trước diều hâu; hãy xem bồ nông cào cổ nuôi con; bò mẹ liếm bê con sau khi sinh. Những “con người”, người của xã hội văn minh nhất hành tinh hãy hổ thẹn cho lần biện hộ đối với những … Suzan Smith, Darlie Routier – Loại đàn bà nhẫn tâm giết con thai sinh từ máu thịt mình.  Nhưng đám đông cấu tạo nên xã hội nầy, đám đông đồng thuận gọi tên giết vợ là “anh hùng thời đại; một mẫu mực đàn ông mới; Othello của thế kỷ hai mươi” … không phải vài thành phần điên dại khật khùng nào đó. Nhưng là đa số quyết định tối hậu về sinh mạng nước Mỹ- Nhân tố hai lần chọn Bill Clinton nên thành tổng thống. Họ đã chọn loại hình lãnh đạo mới có cơ mưu của một kẻ chuyên nghiệp môi giới lu loa, khí phách của tay chơi lì lợm, cách khôn ngoan của gã quảng cáo hàng rẻ tiền. Đám đông kia không cần những xác tín về lòng ái quốc như câu nói hàm xúc cao cả của Kennedy “Đừng đòi hỏi Tổ Quốc làm gì cho anh. Hãy tự hỏi anh đã làm gì cho Tổ Quốc”. Đám đông đa số của nước Mỹ hiện tại đồng thuận để viên tổng thống do họ chọn lựa cho thuê phòng ngủ Tổng Thống Abraham Lincoln để lấy dăm ba ngàn đô-la gây quỹ. Viên tổng thống nầy chỉ có một điều chưa thực hiện, mặc dù có thể anh ta đã nghĩ tới – Mời O.J Simpson vào Toà Bạch Ốc ăn điểm tâm xong cả hai vào chung phòng bù khú, hiện thực mẫu mực “cách mạng tình dục, giải phóng phái đồng tính luyến ái”. Xong cả hai dẫn nhau qua Hà Nội thăm lăng Bác- Một kẻ thuận lòng để kẻ khác hiếp, giết vợ con mình vừa bị phanh phui. Nhắc thêm một điều, Bill nhớ xỏ lỗ tai trước chuyến đi.

Đối diện với đám đông nầy. Ở nước Mỹ.

Quả thật – Anh không sợ. Anh cao độ Tự Tin.

Bởi, Anh là:

Người Việt Nam vượt sống,

Người Lính chiến đấu,

Người Viết Văn trung trực.

Từ Mùa Đông

Ra khỏi nước


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment