Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Chương 7

Bàn Phiếm Trở Lại Chén Trà Đại Tống Còn Tàng Trữ Tại Nhà Tôi

Ở đời, có vay có trả. Sau tám năm (1963-1971) im hơi lặng tiếng, tôi phải trả lời. Đúng ra cũng không phải trả lời, vì biết hai ông bạn tri-kỷ bây giờ ở đâu? Ông Nguyễn-Văn-Thư thì chắc chắn đường mây nhẹ gót, địa-chỉ ông còn dễ kiếm; cho như ông Huỳnh-Đắc-Ứng ở Nha Trang, bặt vô âm tín, mới khó làm sao?

Câu chuyện « Từ chén trà Đại Tống đến tích trảm Trịnh-Ân », tôi tưởng đã lui vào dĩ-vãng, không dè đến nay anh em bạn gặp tôi còn nhắc, nhứt là ông Huỳnh-Đắc-Ứng đã khơi từ năm 1963 về cái chết của tướng Trịnh-Ân, theo ông, là « tử tại trận tiền », thế là «hy sinh vì chúa », chết danh dự vì một mũi tên của Lư Táng bên phe Bắc-Hán, chết như vậy phải nhắc lại đề nhớ đời chớ há nào để mai một.

Huỳnh tiên-sinh đã dạy cho như vậy và khiêm tốn hơn nữa, tiên-sinh gọi rằng « bàn phiếm » mà thôi, chẳng qua là một việc « đọc sách cũ, nói chuyện xưa », chớ « đúng hay sai không cần thiết lắm.

Bởi ỹ y « không cần thiết », nên tôi mới dám « neo » tới ngày nay và vì tiên-sinh chỉ dạy «bàn phiếm », vậy tôi cũng xin « bàn phiếm » cho vui câu chuyện. Tóm tắt lại, thuyết của Huỳnh tiên-sinh là thuyết vừa nêu cao gương trung-liệt của Trinh-Ân, vừa gỡ gạc cho Tổng Thái-tổ, cả hai đều được danh thơm. Thuyết ấy, tôi có khảo cứu rồi, chẳng qua là của nhà Nam-Tống, sửa lại cho « xuôi chèo mát mái », Tống Thái-tổ khỏi mang tiếng, nhứt là vì không « ăn thua » gì với cái chén « trước rượu, sau trà », nên tôi mạn phép đã lướt qua độ nọ cho khỏi rậm rà câu chuyện. Người Tàu họ hay lắm: sử của họ nhiều khi họ không nhắc, vì sợ đụng chạm đó đây; họ có cách nói khều, họ chế ra tuồng hát, « bình dân hơn » và bởi vì « ngoại sử » nên mặc tình thêm mắm thêm muối …

Và dầu cho tích trảm Trịnh-Ân rất xa sự thật, nhưng nó đã bị đóng đinh vào đầu anh thợ đồ gốm nhà Tống quá sâu, nên hễ có dịp là anh thợ ấy, nặn cái chén theo sự hiểu biết rất « bình dân » của mình, để coi mở chút lòng, vì từ xưa đến nay, có chánh phủ nào được dân chúng bằng lòng, nhứt là vua chúa thì thường hay « độc tài », dân không nói được nên lời, thì để cho bọn nghệ-sĩ tỏ ra lòng ấm ức, tội tình gì ta « vua hơn vua » (plus royaliste que le roi), nghe theo sử là thuyết của vua tuy nhiều khi cũng đúng sự thật, nhưng cũng có khi, vua sai viết để che lấp những gì muốn được che lấp. Truyện rất khác với sử: Tam- hạ Nam-Đường và Nam-Tống diễn nghĩa, đều mot thứ, binh vực mỗi một ý nghĩa, người đọc truyện cần tìm cho thấy, thì mới thú vị, như giải được một bài toán đố. Khi cầm cái chén Temmoku trên tay, thấy nó nhỏ nhít, uống rượu cũng được mà uống trà cũng xong, thêm càng đọc sách nghiên cứu về đồ gốm Tống và càng đọc sách Pháp viết về đoạn sử nhà Tống, tôi mới viết năm đó dựa theo tuồng hát bội: chuyện « Xich-tu-long túy tửu, Hắc-hổ qui thần », tôi viết bài luận nhỏ như đã thấy, ngụ ý ngầm chỉ trích một ông vua có tiếng là minh-quân (mà năm 1963 tôi từng cung chiêm chơn-dung trên bức tranh lụa qui tàng trữ tại viện bảo-tàng Đài-Bắc và lúc nhỏ khi đọc Phi-long diễn nghĩa, tòi quí trọng như thần thánh), thế mà có một án mờ ám giết bạn, sát thê, say thiệt, say giả?

Lời tục nói: « không có lửa, làm sao có khói?», và «có tích mới dịch ra tuồng ».

Còn việc đời vua Thanh nói xấu đời vua Tống, là thế-gian thường tình, nhà viết văn đời Tống viết đặng có bay đầu? Và dẫu cho bịa, cũng có một phần nào gần với sự thật. Tôi kính ông Huỳnh-Đắc-Ứng như bạn tri-kỷ, nên tốt hơn thuyết của ai thì nấy giữ, thêm nữa về phần tôi, chữ Nho tịch mù, tôi rất sợ cuộc bút chiến, Nhưng thằng đui nhờ có giác-quan thứ sáu, tôi không đui, nhưng dốt chữ Hán thì tôi đọc và tìm hiểu qua chữ Tây, vừa sách nghiên cứu nghệ thuật, vừa sách khảo về lịch-sử. Tôi sẵn long phục thiện, chuyện chén trà hay chén rượu, xin để y như vậy, không tội gì làm cho « bình địa khởi phong ba » trong một cái chén lớn không hơn tròng mắt con trâu, nhứt là Trịnh-Ân đã chết, và « tử giả biệt luận. »

Duy đã gọi bàn phiếm, trên chiếu đi tìm hiểu nghệ thuật có xin hãy tha thứ cho nhau và trong khi đi khai thác để hiểu, xin cho phép tôi kể lại như sau, – gọi để thêm vui câu chuyện, – những gì tôi đã khám phá trong khi đọc sách, một phần thuộc chánh sử, một phần thuộc sử của nghệ-thuật (histoire de l’Art) và những khía cạnh tôi đã học lóm với cô bác và ngoài đường ngoài sá, vì lớp tôi, không có truờng dạy và không có thầy hay như bây giờ. Nếu tôi nói sai, xin chư tôn chỉ giáo, tôi xin vạn tạ.

(Trong bài đăng B.K. 89, mấy câu « có lẽ, … » « tôi tưởng … » là một cách nói để đặt người đọc ngang hàng với mình, cho câu chuyện dễ trị, chớ hể mình quả quyết, thì một là mình vô duyên, hai là độc giả đâm ra nghi ngờ, tôi khai huych tẹt, không phải tôi làm phách mà vốn muốn gởi gắm chút gì cho các anh học trò cũ, nếu đã ra trường mà còn tìm đọc sách của tôi.

Một điều tối quan trọng, là trong tầm mắt chuyên môn mặc dù có gàn đôi chút là đến nay tôi còn tin chắc đến gần dám quả quyết, cái chén tàng trữ trong tủ nhỏ tại tệ  xá, vốn thật là một di vật đời Đại Tổng. Xét ra nó cũng không qui hồ gì lắm, vì vẫn nhiều người có, chớ không phải một mình tôi. Nhưng bởi ngày nay có một đại quốc gần Trung-Hoa, chuyên làm chén giả, khó phân biệt xưa nay, cho nên tôi mới dám lấy chút hiểu biết riêng, tường thuật ra đây, dặn bà con khá nên đề phòng, không nên quá ham mà mua lầm đồ giả. Chỉ có thế thôi. Đó là chén « bol Song, fourrure de lièvre », nay mới biết dịch « chén Tống, Thố- hào- trản » (xin xem bộ « Khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa » và bộ « Cảnh-Đức-Trấn đào-lục », nói rành rẽ hơn).

Chén nầy, năm 1960, tôi định làm vào đời Tống Thái tổ, lối khoảng năm 960, tức được 1011 tuổi có dư (1971-960). Nhưng năm nay, với chút kinh nghiệm già hơn, dựa theo danh từ ngày nay cũng gọi chén Kien (tasse Kien), nghiệm ra « Kien » là chữ tắt trong «Kien-ngan » (Kiến-An) hoặc «Fou-kien » (Phước-kiến) là nơi sản xuất loại chén nầy, vậy thì chén thuộc đời Nam-Tống (1127-1279) và có ít nữa 844 tuồi (1971-1127). (Sở dĩ tôi không kể năm 1279, vì năm nầy nhà Tống mất nước, làm gì chế tạo đồ từ-khí nữa). Phàm, trong nghề khảo cổ, tuồi của mỗi món cổ-vật, đều được phép dời qua xít lại theo lập luận khá vững chắc và mớ kinh nghiệm đích xác của mình, chớ không ai dám dùng những danh từ quả quyết, như « rựa chém đất » bao giờ. Trừ phi, gặp lại những món quá quen thuộc, từng nghiên cứu rồi, thì mới dám định tuổi món đồ liền khi đó, để lấy le, cho người ta thấy mình lão luyện. Một điều thứ nhì là tôi thấy chén tại nhà, nơi đáy và chung quanh phía ngoài có một thứ ẩn-quang sáng sáng, chỗ mờ lu, chỗ chớp chớp, đó là cái mà Pháp gọi « traces d’irisation », trong sách Tàu có khi gọi « thủy-ngân-tầm », (traces mercurielles), đó là triệu-chứng chén lâu đời lắm, đã cao niên lắm. Tiện đây, trong B.K. 92, thầy Nguyễn-quân dạy rằng « đồ Tống mát và nặng, vì nguyên liệu chế-tạo là một thứ sa-thạch » (tr. 14). Tôi không dám cãi với Nguyễn-quân và xin ghi nhớ để học thêm. Riêng đây, tôi từng nói trong bộ «khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa» là số 4 trong bộ Hiếu-Cổ Đặc-San đã phát hành. Trong ấy, tôi có mạn phép ông Đào-Duy-Anh, vắng mặt, rằng: trong Tự điển Pháp-Việt do Đào-quân soạn, nhà Minh-Tân xuất bản lần hai tại Paris, thì Đào-quân dịch:

«Grès n.m. Đá sỏi, sa-thạch. – 2 Đồ, bình bằng sa-thạch. Gres flammes ou flambes: đồ gốm bằng sa – thạch.

Về nghĩa số 1, tôi xin đồng ý với Đào-quân. Còn về nghĩa số 2, tôi xin mời nhị vị lật cuốn Petit Larousse, sẽ thấy: Gres n.m. (empr. au francique).

1. Roche sédimentaire formée de grains de quartz réunis par un ciment silicenx ou calcaire, utilisée pour la construction ou le pavage (grès des Vosges).

2. Poterie très dure, opaque, formée d’argile plastique, de sable et de bases (chaux, baryte, etc), appelée encore grès cérame.

Về danh từ 2, Đào-quân định nghĩa như trên: «Đồ, bình bằng sa-thạch » lại thêm: grès flammés ou flambés:

« Đồ gốm bằng sa-thạch. » Tôi lấy làm ngờ, vì dịch như vậy, e hiểu lầm, tai hại về sau cho người ít học tiếng Pháp. Dựa theo câu diễn của Petit Larousse, poterie très dure, … , tôi hiểu: trong loại grès, có đất sét dẻo (argile plastique) có cát (sable), vôi (chaux) và base (trọng thổ, loại đất rất nặng như baryte) như vậy mà Đào-quân dịch « đồ, bình bằng sa-thạch ». Và Nguyễn-quân ở đày cũng day rằng về chén Tống, «nguyên liệu chế-tạo là một thứ sa-thạch. »

Tôi xin nhị vị, học nhiều hơn tôi, xem lại và dạy cho. Tôi không nói khiêm và thật tình muốn thỉnh giáo.

Cũng trương 14 B.K. số 92, Nguyễn-quân nói gốm Tống chế-tạo rất ít, thỉnh thoảng, vua ban cho các đại-thần và các quan cho lại thân thích đề truyền tử lưu tôn, làm kỷ vật. Tôi đồng ý với Nguyễn-quân rằng gốm Tống làm ra rất ít và các quan khi được thì cất để dành làm kỷ vật truyền tử lưu tôn. Nhưng đọc trong bộ Cảnh-Đức-Trấn đào-lục, một chỗ có nói: mỗi lần lò nào làm đồ ngự dụng nếu nạp vào cung vua, thì có lệ « một trăm món dâng vô, lựa lấy mười » trả lại « chín chục», và « một ngàn món nạp, thì trong Nội-phủ trả ra chín trăm », như vậy người chủ lò cũng khôn quá, có lỗ lã chi mà sợ, vì các món sa thải được miễn thuế mà chớ, lại dầu hèn cũng thể, cũng là đồ đặc biệt « ngự dụng », bán rất chạy, ế ẩm chi mà ngại. Tôi không biết đời Tống đã có phong tục này chưa, xin mời Nguyễn-quân mua giùm một cuốn Khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa và một cuốn Cảnh-Dức-Trấn đào-lục, một ông Tòa không đến nổi nghèo, mà thằng già mửa máu viết sách, đỡ biết mấy.

Chừng ấy, Nguyễn-quân sẽ đọc và dạy cho. Nếu muốn chữ ký, tôi sẽ không tính tiền thêm. Xin Nguyễn-quân đừng giận. Tôi cũng ngừng nơi đây, nhưng cũng nói vói rằng Nguyễn-quân dùng danh từ « đồ sứ Tống », tôi không dám thổi lông tìm vết, nhưng riêng phần tôi, vì sách cũ đã dạy, nên cũng vì « méo mó nghề nghiệp », xin thầy lấy:

T’ao = đào, là danh từ dùng đến đời Đường.

Yao = Dao, điêu, danh từ có từ Đường về sau, để thay cho « đào ».

Yeou = Diêu và Yeou = dứu, vân vân (tôi gần điên cũng vì mấy chữ này, nay không tiện viết ra Hán-tự vì tốn kém) đều dùng để gọi poterie, porcelaine, còn chữ « Sứ » (do từ-khí) thì có từ đời Minh, hoặc đời Thanh đây thôi, mà tôi riêng muốn để dành dùng gọi « đồ sứ là đồ đi sứ mang về = porcelaine diplomatique, ou porcelain d’ambassade. (Trong Nam, porcelaine là đồ sành, tốt hơn nữa là đồ kiểu (đề làm kiểu: porcelaine d’échantillon); tốt hơn hết là «đồ sứ: porcelaine d’ambassade). Về Poterie Song, tôi dịch là đồ gốm đời Tống.

Nãy giờ tôi nói nhiều, là vì lâu ngày nhớ Nguyễn-quân nên muốn giải bày những gì tìm tòi được bấy lâu chớ không khi nào dám múa rìu qua mắt thợ, đúng hơn không dám «đánh trống trước cửa nhà sấm» vì Nguyễn – quân vốn là một vị cầm cân nảy mực bên Pháp-đình. Và tôi vẫn: thành tâm thỉnh giáo.

Đề vui câu chuyện, gồm trong hai chữ « bàn phiếm », tôi xin dọn đường bằng cách trình bày ra đây những tài liệu tôi thâu hái được trong khi đọc vài sách Pháp. Nhưng tôi xin thanh minh: các tài liệu nầy nghiêng nhiều về khía nghệ thuật đồ gốm đồ sành gọi Tống-diêu hơn là sử đời Tống. Tôi cố ráng giải thích theo sức tôi, vài đoạn sử của nghệ thuật Tống. Phàm muốn nghiên cứu một đề tài sử-liệu gì cho chu đáo, ít nhứt phải thông thạo và lão luyện chữ nghĩa cổ-văn, kim-văn của nước đó. Nay lấy chuyện Trung-Hoa đời Tống ra nói như tôi đang làm, mà không đọc được chữ Hán và cũng không đi được đến tận chỗ thấy tận mặt những đồ gốm, chén bát, di tích các lò đời Tống sót lại bên Trung-quốc, chỉ dựa theo một bản dịch từ Hán-tự qua Pháp-văn của cố Wieger, gọi textes historiques, in năm 1905, dịch lại lần nữa như tôi đây mà vẫn có chỗ dịch chưa bằng bụng vì không đủ tài, có chỗ lại tự thêm phần nghe thấy của mình vào cho sáng câu chuyện, kể ra một bản Hán-văn dịch qua Pháp-văn rồi dịch lai lần nữa từ Pháp-ngữ ra Việt-văn, tôi thú nhận là đã làm một việc « bạo hồ bằng hà »1; nhưng tôi có chỗ miễn thứ là tuổi đã không cho ngày chết, tài liệu này lấy cuốn kèn cũng không đủ liệm, thôi thì cứ in ra mặt giấy, mong các bạn có dịp sẽ bổ túc giùm những sơ sót không thể tránh.

Trong những bài lần lượt kể sau đây, tôi cố gắng viết lại những chuyện tôi thấy biết có ảnh hưởng nhiều vào mỹ-thuật Trung-Hoa, nhứt là về đồ gốm đồ sành của các vua:

– nhà Hậu-Chau, từ Quach-Oai, Sai-Vinh, …

– nhà Đại-Tống: Triệu-Khuông-Dẫn, Triệu – Quang-Nghĩa, Huy-Tôn, Cao-Tôn, v.v …

Đời Hậu-Châu (951-960)

Tai-tsou (Thai-tổ) (951-954) .- Châu Thái-tổ, Quách-Oai, từng nói với tề-tướng Vương-Tuấn (Wang-tsounn):

«Trẩm từng sanh trong cảnh hàn-vi, sống trong cảnh hoạn nạn, nay được làm vua do một cuộc khởi nghĩa từ bình-dân đưa đẩy lên, bởi vậy nay trẫm không lòng nào quên gốc nguồn và dám phạm đến « dân đen con đỏ »

Khanh hãy ra truyền rao cho dân chúng biết từ nay trẫm bãi bỏ tục cũ bắt dân nạp lễ vật cho vua chúa. »

Một khi khác, ông lại nói: «Trẫm xuất thân võ-tướng,. kém học, nên không rõ đạo trị dân. Phàm chư khanh, văn quan cũng như võ thần, người nào biết cách đem lại cho lê dân sự ấm no, hạnh-phúc, thì cứ tâu bày cho trẫm rõ. »

Khi Thái-tổ thấy các món ngoạn-phầm xinh-tốt sót lại trong cung vua Hậu-Hán, thì phán rằng: « Nực cười các vua chúa lớp trước khéo say mê những vật vô dụng như mấy món này. Hãy dẹp và hủy bỏ hết cho trẩm đừng thấy nữa. Tự hậu trẫm không muốn ai đem vào đây, những vật xa-xí-phầm, đẹp mắt thì có chớ không dùng được chỗ nào, gọi rằng có ích. »

Năm 952, Châu Thái-tồ cầm binh đi dẹp giặc, binh đến Khúc-Phụ (K’iù-fou), Thái-tổ vào khấu-bái trước bài- vị đức Thánh-Khổng. Khi vua toan sụp lạy, can thần ngăn lại, rằng: « vua không phép lạy tôi ». Thái-tổ nạt:

« Khồng-phu-tử là thầy của vua chúa trong muôn đời. Tại sao trẫm kbông lạy được? »

Lạy nơi thờ bài-vị rồi còn ra lạy trước lăng mộ và truyền rao không cho phá phách động đến lăng. Năm 953, Thái-tổ phong Sài-Vinh làm thái-tử, cho ăn họ, đổi là Quách-Vinh (Koùo-Joung). Từ trước, có lệ tế trời tại Lạc-Dương (Lao-yang). Thái-tổ khởi tiên bày tế tại Khai-phong-phủ (K’ai-fong-fou) là kinh đô của Hậu-Châu. Thái-tổ dạy lập hai đàn, một thờ thần đất đai, một thờ thần mùa màng và dạy lập miếu thờ tổ tiên họ Quách. Năm 954, Thái-tồ yếu nhiều, không bồn thân đứng chủ tế được và cho Thái-tử Quách – Vinh thay. Khi lâm bịnh nặng, bèn đòi Thái-tử đến gần long-sàng mà phán rằng:

«Trẫm từng thấy mười tám lăng các vị đế-vương Đại Đường bị quật lên, bày xương cốt tồi tàn, chẳng qua vì theo tục cũ, ham chôn nhiều châu báu theo xác chết. Khi trẫm băng rồi, hãy liệm thây trong y phục giấy, dùng hòm quách bằng đất nung, cấm dùng đá xa-hoa xây huyệt mả, nên dùng loại gạch tầm thường, nếu có đào cũng không dùng lại được nữa. Khi táng cũng đừng ép dân khiêng vác nặng nề, hãy lựa chọn ba mươi gia đình gần lăng giao việc coi sóc quét tước sạch sẽ và được miễn thuế đời đời. Cũng đừng chon người sống và sinh thú theo trẫm, duy đặt trước mộ người đá, hồ, ngựa, dê bằng đá là được. Nếu sau nầy có ai chỉ trích vương-nhi là bỏn sẻn, thì hãy trả lời, đó là lịnh của phụ – vương trối lại. Nếu con cãi lời này, phụ-vương dưới Suối Vàng, sẽ không ban phước cho con đâu ». Câu chót như trước đã có nói, là: «Con nhớ chạm trên bia trước mộ hai câu:

«Châu thiên-tử bình sanh háo kiệm,

Di mạng dụng bố-y ngõa-quan ».

Lời bàn của tôi.

– Vua Châu Thái-tổ là người có bản lĩnh. Dốt thì xưng rằng dốt, đủ thấy sự anh hùng. Không thâu lễ vật của dân là liêm, lạy trước bài-vị Khổng-Tử là lễ, ghét đồ xa-xí-phẩm là giàu kinh nghiệm, bày sự cúng tế tổ-tiên, là hiếu, bãi lệ chôn người sống, thú vật sống là nghĩa. Về phương diện chôn tro xác trong quách bằng đất nung, phải chăng ông là người chế ra tục lệ nầy (urnefuneraire), hay tục này đã có từ đời Đường, theo đạo Phật, nên dùng hỏa-táng. Một ý nghĩa khác của sự chôn trong quách sành, là đời ấy loạn ly không ngớt, chọn có xây mộ lớn, sợ giặc đào, chi bằng thâu gọn xác chết vào tiểu sành dễ giấu, sau này sẽ mai táng trọng thể hơn. Ông vua nối ngôi, lại còn đi xa về cải cách hơn nữa, và ấy là:

Châu Thế-tôn Sài-Vinh (Cheu-tsoung) (954-959). Sài-Vinh, sau đổi là Quách – Vinh (Koùo – joung), nối ngôi Quách-Oai (Kouo-Wei) năm 954 s.T.I. Vua này có can đảm làm nhiều việc phi thường:

– năm 955, Châu Thế-tông ra lịnh, ngoại trừ binh-khí, lễ-khí, chưng kiểng nhà chùa, còn lại nào tượng cốt Phật bằng đồng, đều phải nạp vào kho nấu thét lấy chất đồng đề đúc tiền, vì thuở ấy hút kém tiền đồng dữ lắm. Nhưng mặc dầu lịnh nghiêm, dân mãi mê tín, không dám xài tiền do cốt Phật nấu ra, và đồng Châu-Nguyên thông-bửu, dân không xài, và cất giữ lên để đeo làm bùa hộ mạng, tiền tệ lại càng thêm hút kém hơn trước. (Về sau thấy lợi, bọn trục lợi làm tiền Châu-Nguyên giả hiệu rất nhiều).

— Sài Thế-tôn sáng chế gồm Sài-diêu (Tchaï-yao) (Về tiền Châu – Nguyên và gốm Sài – diêu, xin xem trở lại bài đầu, đăng trong tập nầy từ trương 70. Năm 958, Thế-tông ngự giá thân chinh, đánh dẹp Nam-Đường. Rồi ông lại hưng binh đánh phạt Khiết-đơn (les Tongouses K’i-tan), nhưng nửa đường thọ bịnh rồi băng, tuổi chưa đầy ba mươi chín.

Năm 959, Triệu-Khuông-Dẫn (Tchao-k’oang yinn) còn giữ chức Tiết-độ-sứ tại Qui-Dức-phủ (prefet de Koei-tei), kiêm Điện-tiền Đổ-kiểm-điểm.

Châu Cung-đế (Koung-ti) (960).

Sài-Vinh mất rồi, con trai là Quách Tông-Huan (Kouo-tsoung-hunn), vừa bảy tuổi đầu1, lên nối ngôi cha. Các tướng võ, trong thâm tâm, không phục một ông vua còn trứng nước làm vậy, làm sao biết xét công lao của mình. Giặc Khiết-Đơn nổi dậy, Triệu kiểm-điểm được lịnh kéo binh đi tiểu trừ. Binh mã vừa đến cầu Trần-kiều thì trời cũng vừa tối. Truyền đóng trại nghỉ ngoi. Chiều hôm ấy, mặt trời hiện ra hai quầng trên không -trung (Pháp gọi parélie, parhélie). Ngày nay, ta biết đó là một hiện tượng thiên nhiên hằng thấy, do hào-quang phản chiếu vào một đám mây có nhiều giá tuyết rọi ngược tia sáng lại nhau. Nhưng vào giữa thế kỷ thứ X, lòng người con tin nhiều vào điềm lạ (nhựt thực, sao chỗi, v.v … ), quân-sư là Miêu Huan (Miao-hunn-hao) bàn rằng mặt trời sanh đôi là điềm phải thay vua khác, vì đời sắp đồi mới. Các tướng-sĩ trong lúc ấy không ngớt xầm-xì xậm-xịt, dụm năm dụm ba, bàn tán về việc hai mặt trời, trọn đêm không ngủ … Nhóm nầy nghĩ Cung-đế bé thơ e không biết xét công-lao; nhóm khác phê bình chỉ có Khuông -Dẫn là bấy lâu rất được lòng tướng-sĩ … Trong khi ấy, sau rõ lại có em Khuông-Dẫn là Triệu-Quang-Nghĩa (Tchao k’oang-i) dọn đường, làm tay trong, am trợ đủ mọi cách và một mặt Quang- Nghĩa sai người thân-tín bay ngựa về kinh đem tin sắp đặt cho các tướng còn ở tại triều rõ tự sự, một mặt khác, Quang-Nghĩa dẫn đầu, thừa lúc trời nhá nhem chưa sáng, kéo róc bộ-hạ chư tướng vào trung-dinh, đỡ xóc Khuong-Dẫn dậy, -lúc ấy hơi men còn nồng, khoác huỳnh-bào lên vai, rồi chư tướng lạy mọp tung hô vạn tuế. Xong rồi, đỡ Khuông-Dẫn lên ngựa, kéo binh trực chỉ trở lại kinh đô. Khuông-Dẫn đêm qua say vùi, nay tỉnh rượu, ngồi trên tuấn-mã, gò cương la lớn: « Chư hiền-đệ làm việc nầy chẳng qua vì mấy chữ « Phú-Quí Công – Danh ». Để cho ta nói đôi lời như thuận tình thì luôn luôn phải nghe lời ta, bằng ngày sau đổi ý bất tuân lịnh ta, thì thà hôm nay các em lựa người khác, chớ ta không ưng làm điều trái ngược như vầy. »

Các tướng sĩ, một lần nữa, thề quyết không nhị tâm. Khi ấy Khuông – Dẫn đưa ra bốn điều: thứ nhứt, không phạm đến Sài mẫu-hậu, vợ Sài-Vinh, là chị dâu mình; thứ nhì, Cung-đế vốn gọi ta bằng chú, tức cháu của ta, các em không quyền sát hại; ba là các quan lớn nhỏ tại triều, vốn cùng ta là cố-tri bạn cũ, phải để sanh tồn; bốn nữa, các cung điện lăng tẩm Hậu-Châu, không nên phá phách. Binh kéo về Khai-Phong-phủ, mọi việc đều dàn xếp ổn thỏa, quả nhiên không tốn một sanh mạng nào. Đến đây, nhà Hậu – Châu đếm được ba vua: Quách-Oai, Sài-Vinh, Sài Tống-Huân, chia nhau trị vì được mười năm (951-960).

Đời Ngũ Đại Tân Đường, cộng năm triều đại, được mười ba vua, kể tám họ khác nhau, trị vì năm mươi bốn năm, thì dứt, nhường cho cho nhà Đai Tống. Trong số, Châu Thế – tôn Sài- Vinh được tiếng thơm là hoàn toàn nhứt, hiền, sáng suốt, nhơn đức, đáng là một bực minh-quân. Ông mất rồi, nhơn dân đều mến tiếc.

  1. Yểu số, mất năm 973, thọ 22 tuổi.

Đại Tống, nhà Triệu (Dynastie SONG, famille Tchao) (960-1279)

Triệu-Khuông-Dẫn, xích-diện liên mi, nay viện bảo-tàng Đài-Bắc còn giữ một bức chơn dung tôi từng được thấy, nguyên quán ở Trác-quận (Tchouo-tcheou). Khi lên ngôi, đóng đô tại Khai – Phong – phủ như trước. Việc làm đầu tiên là lập miếu thờ tổ-tiên và tuyên bố chọn Khồng-giáo làm quốc đạo. Thái-tổ dạy mở thêm trường học. Từ trước thờ chư Thánh bằng bài-vị gỗ, nay chế ra đúc tượng và vẽ hình bày nơi các học-viện trong nước. Thái-tổ giữ thói quen như cũ, ban đêm thường giả-dạng thường dân ra ngoài phố vừa ngao du chen lộn trong chúng dân y như buổi thiếu thời, bôn ba khắp xứ, khi bị vua Hậu-Hán họa đồ hình lùng bắt, vừa dùng dịp ấy dò xét dân tình. Các quan thường hay can gián, rằng buổi giao thời, nhơn-tâm chưa ổn định, không nên đặt mình rồng chung sống với tép tôm. Nhưng Thái – tổ gạt ngang, đinh ninh «đã là bực chí tôn, đi đâu đã có bá linh phò trợ, nếu xảy ra việc gì, không qua mạng trời. »

Năm 961, mẹ là Đỗ – thị, nay là Thái – hậu, đau nặng. Thái-tổ vốn là người con chi hiếu, ngày đêm săn sóc mẹ không rời. Khi biết mình khó thoát, Thái – hậu dạy đòi Triệu-Phổ (Tchao-pou) vào viết tờ di-chiếu.

Thái-hậu hỏi vua: « Vương-nhi có biết nhờ gì ngôi báu về tay con chăng? ».

– Nhờ đức dày của tổ-tiên để lại; nhờ phúc đức của mẫu-hậu, nên con mới được như vầy.

– Vương-nhi xét như vậy cũng phải đôi chút, nhưng phần khác, là vì nhà Hậu-Châu cạn xét, đặt ngôi báu trong tay ấu – chúa còn trứng mén ngây thơ. Bởi vậy không đủ gây tín nhiệm. Nếu lúc trước Cung – đế đã trưởng thành, chưa chắc ngôi cửu-ngũ về tay Vương-nhi. Vậy nay ta hãy lấy gương ấy làm răn. Theo ý mẹ ao ước cho đến nay, con nên lần lượt sau nầy truyền ngôi tỷ như cho các em, luân chuyển từ con qua tay Quang-Nghĩa, rồi qua tay Quang-Mỹ, đến chừng Đức- Chiêu (con của Thái -tổ) khôn lớn, Quang-Mỹ sẽ giao quyền cai-trị trở lại. Như vậy ngôi báu luôn luôn luân phiên được ở trong tay người trưởng thành kinh nghiệm đủ tài đủ trí, thì khỏi lo sự phế lập ấu quân. Thái-tổ mỗi mỗi đều vâng lời, khóc lạy mẹ, sai Triệu-Phổ quì, ghi chép lời di chúc, mà sau nầy Quang -Nghĩa bội tín chẳng vâng theo. Thái-hậu trối rồi thì tắt hơi.

Sự thiển cận của Thai-tổ là đầu mối của sự lụn bại của Trung-quốc sau này.

Thái-tổ thấy cái họa phiên trấn đời Đường và đời Ngũ-Đại, lòng hằng lưu ý. Thái-tổ rất ghét cái gương tướng sĩ mạnh thế, tự chuyên, thường làm cái việc ủng-lập Hoàng-đế, mà chính mình cũng là do binh lính tôn lên; nên khi lên ngôi và bề thế vững chắc rồi, thi Thái-tổ tìm hết cách để giảm binh quyền các tướng ngoài phiên – trấn, và làm cho quyền ở trung-ương được vững mạnh thêm. Vì vậy, khi các chức phiên – trấn có khuyết, Thái – tổ cho các quan văn ra thay lại đặt ở các chân, chức Thông-phán coi việc quân chính và dân-chính, phải tâu mọi việc về triều đình biết; đem các quận trước kia thuộc các Tiết-độ-sứ về trực thuộc quyền cai – trị của chính – phủ trung-ương; đặt ra ở các lộ chức Chuyển-vận-sứ trông nom về tài chánh, số thu được, trừ số chi-tiêu trong lộ, còn lại bao nhiêu đều gom hết về triều đình; sai các châu chọn lính mạnh đem về kinh cho nhập

  1. Đây là kế gọi « bôi tửu truất binh quyền » của Tống Thái-tổ (vẫn giả say để dễ nói chuyện). Một hôm vua thiết tiệc rượu, mời Thạch-Thư-Tín, Vương-Thẩm-Kỳ … Tiệc vừa mềm môi, Thái-tổ sai đuổi kẻ tẻ hữu ra, rồi nói với bọn Tín, Kỳ: «Làm thiên-tử coi vậy mà khó khăn, chớ không đuợc vui sướng luôn như lúc làm Tiết-độ-sứ. Trẩm thường ăn ngủ không yên. Thủ-Tín hỏi vì sao; Thái-tổ thở dài đáp: Ngôi cao quí này, ai lại không muốn? Thủ-Tín lật đật tâu: « Bệ-hạ sao lại nghĩ thế? Thiên mạng đã định. Ai còn dám nhị

tâm? » Vua nói: «Các khanh thì cố nhiên, trẩm tin được. Nhưng bọn thủ-hạ, ai là không ham phú quý? Phỏng như một ngày kia, họ đem hoàng-bào đắp vào mình khanh, khanh không muốn cũng không được! Việc binh biến Trần-Kiều trước kia phải đề phòng ». Thach-Thủ-Tín và Vương-Thẩm-Kỳ hiểu ý, sáng ngày cáo bịnh, xin giải chức từ quan. Thái-tổ chấp thuận và an ủi: «Nay chư khanh còn khương kiện, hãy cùng trẩm tận hưởng chuỗi ngày còn lại. Chư khanh về làng thủ vai hương-lão, việc nuớc dã có đoàn hậu tân gánh vác. Rồi đây chúng ta đời đời kết làm thông-gia, cha truyền con nối, chẳng hơn là nay còn bôn vào đạo cấm-quân, còn lính già yếu thì ở lại các châu làm sương-quân, cứ mỗi năm cho lính cấm-quân và lính thú ở biên trấn đổi chỗ nhau một lần, đề cho các tướng sĩ khỏi quen thân nhau mà được mạnh thế, kết vây kết cánh, phép ấy gọi canh-nhung. Các tướng công thần như Thạch – Thủ – Tín (ông Huỳnh-Đắc-Ứng gọi Thạch-Như-Tín), như Vưong-thẩm-Kỳ là những cố nhân có công trận lớn với vua, được giao giữ cấm-quân, nhưng sau đó, Thái-tổ dùng lời nói khéo làm cho các tưởng ấy phải tự xin giải tước binh quyền1.

Các chánh sách ấy tuy nhất thời trừ được các tích-lệ (như ngày nay họa đảo chánh của bọn quân phiệt), nhưng về sau kết quả rất tai hại:

1) Cứ theo phép canh-nhung, binh lính thay đổi nhau luôn, thành thử không hiểu rõ tình thế địa – phương nơi

biên trấn, thêm nữa các văn-thần lại không thể luyện tập, khi lâm sự không thể chỉ-huy, vì vậy khi chinh-chiến, chưa gặp địch, đã tan vỡ trước khi giao chiến.

2) Các quyền binh đều thu về trung-ương cả, khiến nên những người có tài ở các địa-phương không có chỗ dùng, phải rút về kinh đô, nhưng ở đây chức vị đã có hạn, một là không cất đầu lên được, hai là có nạn tranh giành rồi kết thành phe đảng khuynh loát nhau từ chút;

3) Thâu những kẻ thất nghiệp, du đãng dữ tợn làm lính, gặp lúc đói kém, thường dùng cách chiêu binh để làm chánh sách cứu – hoang, – tuy cũng có chỗ hay, -nhưng về lâu số linh tăng lên mãi, phí tổn cho chánh phủ thêm nhiều, tài chánh trở nên kiệt quệ. Cho nên đời Tống, chỉ có hai đời vua Thái-tổ và Thái-tông, khoảng mấy chục năm là dân chúng tận hưởng thái-bình, qua các triều đại sau, các bộ lạc Liêu – Kim – Hạ, Mông-cổ xâm phạm bờ cõi, các địa-phương mất lực lượng tự vệ, không chống cự nổi. Về sau, hai vua Tống bị binh Phiên bắt đi hành hạ đến mất nửa phần giang san phương Bắc, nhà Tống chạy dồn về Nam, cái kế « bôi tửu trích binh quyền » chỉ tránh nạn gần mà nạn xa không thấy, vua Thái-tổ mưu sâu hóa ra cạn là vì vậy.

Năm 962-963, Thái-tổ ra lịnh cấm thiêu xác (hỏa-táng). Do điển nay, ta biết từ đời Ngũ-Đại Tân-Đường, loạn lạc không dứt, nên dân gian theo Phật-giáo, dùng hỏa-táng cho gọn và theo tôi, những hũ đựng cốt (urnes funéraires) rất thịnh hành vào đời Ngu-Đại Tân-Đường này. Từ 960, thái bình trở lại, Khổng-giáo lại được chọn làm quốc-giáo nên Thái-tổ cấm hỏa-táng là phải. Theo sách Pháp của cố Wieger, đạo sắc chỉ thứ hai của Thái-tổ lại càng chứng to sự anh minh của vua này. Nguyên trong công-thần-miếu, có bài-vị của tướng Bạch-Khởi được thờ từ vua Đức-tông nhà Đường. Thái-tổ viếng miếu, lấy tay chỉ bài-vị Bạch-Khởi mà phán rằng: «Thân làm đại tướng mà đang tay sát hại đám ba quân đã quì lạy đầu hàng thì không phải mặt anh hùng. Hãy dẹp bài-vị này và từ đây không thờ Bạch-Khởi trong Công-thần-miếu nữa. »

Năm 968, nhơn dự buổi tế-tự tổ-tiên, Thái-tổ thấy bày đồ từ-khí theo cổ-lệ, phán: « Tổ-tiên trẫm vốn hàng thứ dân, làm sao dám hưởng vật cúng bày trong chén dĩa sang trọng nầy? Hãy dẹp, dẹp hết đi, và mau mau dọn tế-vật trong chén dĩa tầm thường, y như buổi sanh-tiền của tổ-tiên trẫm đã dùng thuở trước». (Lời nói đúng của một người chơn thật và giàu kinh nghiệm, phong-trần đã trải). Năm 972, mưa lớn và lụt nhiều nơi. Quan thiên-văn bàn vì âm thịnh, nên có lịnh sa-thải nhiều cung nữ. Năm 973, Cung-đế (con vua Sài-Vinh) tỵ trần. Thái-tổ dạy chôn theo bực Vương-lễ. Những nét đặc sắc nhứt của Tống Thái-tổ la lòng hiếu với mẹ và rất thương em là Triệu Quang-Nghĩa, vì đoạn này rất quan trọng, tôi xin được dài dòng, trước lược thuật hành vi của Thái-tổ, sau chép lại bản Hán-văn và bản dịch Pháp-văn ghi trong bộ Textes historiques của Wieger,

trương 1826, để chư tôn mặc tình xét đoán:

Phần dịch đại lược:

Thái-tổ rất mến Quang-Nghĩa. Thường hay đến nhà, thăm viếng và ban cho nhiều báu-vật. Quang-Nghĩa đau,

danh trục lợi, quên cái già lẩn thẩn theo sau ». Thái-tổ ban thuởng cho các tướng rất hậu. Còn truyền tụng, đời Tống, Thái-tổ miễn thuế dời đổi hòn Hoa-sơn cho tiên đế Trần-Đoàn vì năm xưa thua một ván cờ. Cũng đời Tống chế ra lệ ban « đơn thơ » (bằng cấp bằng son), và « thiết-khoản » (bằng khoản bằng sắt), « kim sách » (sách bằng vàng thật) đề con cháu công thần (như Sài-Tấn trong truyện Thủy-Hử), cứ giữ và trao lại con cháu những báu vật ấy mà hưởng lộc Tống-tộ cha truyền con nối. Lời ước thề của Thái-tổ giao kết với các công thần cũng rất nên thơ. Đó là câu «Đái-lệ san-hà », (tức khi nào Hoàng-hà nhỏ còn bằng giải thắt lưng, Thái-san bé còn như vien đá mài, khi ấy dòng họ trẩm mới có thể quên công ấn khai quốc) – lời thề thiệt là thống thiết vì đai là đai áo, lệ là đá mài.

có lần phải dùng đến ngải-cứu (moxa), Thái-tổ tự đốt ngải trên da mình cho em thấy không đau và bớt sợ nóng. Thái-tổ thường khen em có tướng tốt: « long hành hồ bộ » (tướng đi như rồng, bộ như hồ).

Tháng mười năm 976, Thái-tổ băng, Quang-Nghĩa nối ngôi. Đoạn này gay cấn nhut, tôi xin đọc nguyên văn dưới đây chữ Hán (phiên âm) và bản Pháp-văn, chỉ dịch thoát để cùng nhau chiêm nghiệm và độ chừng những bí-ẩn còn nhiều chung quanh cái chết của vị anh hùng Triệu-Khuông-Dẫn (xem hai bản nơi sau).

Cứ như đoạn Hán-văn ấy, Tổng Thái-tổ chết một cách mờ ám, sử không dám nói rõ.

Phần Hán-văn (Textes historiques, Wieger, page 1826). – (Bản phiên âm).

« Đế hữu ái Tân-Vương Quang-Nghĩa sở hạnh kỳ đệ. An lễ thậm hậu. Quang – Nghĩa thường hữu tật thân vì « chước ngại. Quang-Nghĩa giác thống Đế diệc thủ ngại tự viêm. Mỗi đối cận thần ngôn Quang-Nghĩa long « hành hổ bộ. Tha viết tất vi thái bình thiên tử. Phúc đức phi ngô sỡ cập dã. Thập ngoạt đế băng, Tân-Vưong « Quang-Nghĩa tức vị. Lý Đạo Vân. Thượng bất dư dạ triệu Tân-Vương.  Thuộc dĩ hậu sự tả hữu giai bất đắt « văn đãng diêu kiến chúc ảnh hạ Tấn-Vương thời hoặc ly tịch. Nhược hữu sõ tốn ty chi sàng. Ký nhi thượng dẫn trụ phủ trịch địa. Đại thánh vị Tân-Vương việt. Hão vi chi. Dĩ nhi đế bang. Cố mạng. Đại sự dã. Thật luc chánh sử giai bất năng ký.

« Tích tai. »

Bản trích Pháp-văn (L. Wieger, Textes historiques, page 1826).

« Quelques historiens non classiques ont voulu voir du mystere dans la mort de Tchao k’oang yinn. Son frere «Tchao koang i l’aurait achevé, ou aurait déterminé sa mort en le mettant en colere, pour s’assurer le trone.

« Ces racontars, répétés par beaucoup de lettrés modernes, s’appuient plutôt sur ce que Tchao-koang i fit plus tard à son frère cadet et à ses neveux, que sur les circonstances de la mort de T’ai-tsou. Voici le texte: « Etant

«tombé malade à l’improviste, l’empereur fit appeler au milieu de la nuit son frère Tchao-koang i, pour lui inti-

«mer ses dernières volontés. Les deux frères se virent en tête à tète. Du dehors, on vit seulement l’ombre de K’oang i qui se mouvait. Ses gestes etaient d’un homme qui refuse et s’excuse. Puis l’empereur saisit la hache d’armes suspendue à une colonne près de son lit, et la lui jeta en disant: « Fais bien la chose! » Le testantent d’un empereur, ajoute l’historien, est chose tres importante.

«Cet acte doit donc avoir des témoins. Il est regrettable que les Annalistes n’aient pas été à même de nous laisser sur la mort de T’ai-tsou, des documents bien authentiques … De ces paroles obscures, les uns infèrent que Tchao-k’ouang i voulut céder le trone au fils de l’empereur, et que celui-ci l’obligea à regner, conformement aux dernieres volontes de leur mere. Fais bien la chose, signifierait Sois un bon empereur! La hache jetee, exprimerait la remise du pouvoir. L’histoire officielle interprète ainsi … Les autres pensent

que le mourant demanda à son frère de se désister en «faveur de son fils, et que celui-ci refusa, s’appuyant sur le testament maternel. La hache jetée, serait un acte agressif. La dernière parole, serait une exclamation de dépit: Règne donc, puisque je ne puis pas t’en empêcher! Cette interprétation parait bien tourmentée; mais, comme elle est romanesque, elle a eu du succès … En tout cas, quand Tchao-k’ouang i sortit de la chambre de son frère, celui-ci était mort. Il avait cinquante ans.

Cứ như hai bản trên đây thì Thái-tổ mất một cách khá mờ ám. Mấy hàng dịch phiên âm bản Hán văn và bản

nguyên văn Pháp-ngữ cho ta thấy nhiều sử-gia phe nghịch thấy trong cái chết của Thái-tổ còn nhiều bí ẩn, đến nay chưa dứt khoát. Theo họ, Quang-Nghĩa hình như đã chọc tức anh, làm cho giận dữ và mau chết, hầu dễ đoạt ngôi báu. Những giả – thuyết và lời đồn vô căn cứ này, càng được các tân-sử-gia khai thác và nhắc đi nhắc lại do lời thuật của Quang-Nghĩa nói cho con cháu nghe sau này:

«Thái-tổ thình lình ngọa bịnh. Nửa đêm lật đật vời em là Quang – Nghĩa đến nghe lời chỉ huấn. Hai đàng giáp mặt nhau, trong một vuông phòng kín, không một nhân chứng nào khác chứng kiến. Những kẻ đứng ngoài phòng, chỉ thấy bóng Quang-Nghĩa tỏ vẻ khúm núm nửa như từ chối nửa như tạ tội. Về sau nghe thuật lại, Thái-tổ lúc đó vói chụp cái búa (phủ) treo nơi cột điện gần bên long sàng, quăng ra và nói lớn ngay mặt em:

« Hão vi chi! » Theo các sử – gia, thì di – chiếu của một ông vua như Thái-tổ là một việc tối quan trọng, cần phải có mặt nhiều nhân chứng. Cớ sao về mấy phút cuối cùng của Thái-tổ, Thật-lục chánh sử, không ghi chép đầy đủ, lại viết vỏn vẹn ba chữ: « Hão vi chi! » Và tùy thời, tùy cảnh ngộ, ba chữ « Hão vi chi » muốn cắt nghĩa làm sao, cũng được.

1) Có người bàn, lúc Thái-tổ ngặt mình, vời Quang-Nghĩa nói chuyện trao ngôi, ý muốn nhượng ngôi báu cho em, y như lời mẹ dặn, nên Thái-tổ quăng cây búa (phủ), tượng trưng sự giao quyền bính và như vậy, khi phán câu: « Hão vi chí », là muốn nói: «Hãy nối ngôi báu nầy và rán làm cho nên việc ». (Đây là thuyết chánh-thức được công nhận).

2) Thuyết khác nghĩ rằng Thái-tổ tỏ ý muốn thấy em mình nhường ngôi cho con của mình, nhưng Quang-Nghĩa viện lời mẹ trối, không nhận lời Thái-tổ (nên thấy bóng Quang-Nghĩa lom khom vừa xin lỗi vừa tạ tội), và vì vậy, cây búa (phủ) quăng ra nên hiều sự tức giận gây hờn, câu «Hão vi chi » có nghĩa : «Nay anh chẳng còn cản trở nữa được, thi đây búa này giữ lấy, ngồi kia cứ lên, hảo lắm, tốt lắm ! Thuyết sau tuy kiểu sức, khấp khênh, nhưng đượm mùi « tiều thuyết » và mộng ảo, nên được nhiều người truyền tụng … Khi Quang-Nghĩa trong phòng buớc ra thì Thái-tổ đã tắt thở. Triệu – Khuông – Dẫn thọ năm mươi tuổi.

3) Một thuyết thứ ba, tôi không đảm bảo, vì đọc ở đâu không nhớ, rằng Khuông-Dẫn đau mục nhọt sau lưng, hình như đau gan làm độc, xì « phát bối », như vậy Quang-Nghĩa chọc tức thì chết liền. Lại nữa ông thọ có năm mươi tuổi, lại ưa giải quyết nhiều việc khó bằng rượu: trảm Trịnh-Ân, bôi tửu trích binh quyền, không kể lúc thiếu thời, trôi nổi khắp xứ thì rượu uống là sự thường, rồi sau làm vua thì tửu sắc đến dâm, khó tránh, cho nên làm sao thọ lâu được, và khi hiểu việc, giới tửu uống trà là thậm phải. Theo tôi nhớ mại mại, sách tôi đọc còn quả quyết Tống Thái-tổ đau abcès du foie mà chết, nhưng xin các bạn đừng tin mà bán lúa giống!

Việc nên tin là sử chép lại và khen Thái-tổ có nhiều đức tinh tốt: biết tiết kiệm của công và bình sanh không thích sự se sua. Sử chép ngày nọ có một bà công chúa được vua yêu dấu, đến triều bái vua cha, mình mặc một chiếc áo rất đắt giá. Thái-tổ lập tức sai về thay bộ áo khác, rằng: « Con không nên khoe áo đẹp. Không khéo các em con mỗi đứa xin một chiếc như vậy thì tốn kém biết sao mà đội »

Một hôm khác, cũng một bà công chúa đến xin vua cha cho thợ thếp vàng một chiếc phụng – sang. Thái – tổ phán: « Vàng trong kho không thiếu, nhưng đó là của công. Phụ-vương không quyền lấy của công làm của tư và làm vừa lòng con được. »

Một ngày nọ, Thái-tổ đi điền điệp. Ông phi ngựa theo thỏ rừng, ngựa làm ông té, sẵn kiếm báu trong tay, ông đâm ngựa chết. Hết giận, Thái-to lấy làm hối hận và từ ấy bãi tục đi săn. Ấy là sự tích nhón lại của một ông vua mà tôi mê từ thuở nhỏ và nay nếu có xúc phạm là cũng vì muốn định nghĩa một cái chén trước dùng uống rượu sau dùng uống trà. Nếu không phải vậy thì cũng kiếm được một thiên phiếm luận đủ tiền tạm sống.

Nay xin bắt qua tìm hiểu tánh tinh Triệu Quang-Nghĩa, người em đã được vua anh thương nhiều, hằng khen hơn mình nhiều lẽ: « Long hành hồ bộ », « tất vi thái-bình thiên-tử, phúc đức phi ngô sở cập. »

Tống Thái – tông (Triệu – Quang – Nghĩa) (976 – 997). -L’empereurT’ai-tsoung des Song.

Theo tôi, Thai-tổ thương Quang-Nghĩa vì đã thay cho minh, ở gần cha mẹ lo việc phụng dưỡng thế cho mình,

mắc tội bỏ nhà chạy trốn, người đi xa thường thương người thân và mến trọng người thân, chớ dưới mắt tôi,

Quang-Nghĩa thua xa anh.

Năm 978, Thái-tông sắc phong Khổng-Nghi (K’oung-i) là cháu đời thứ 44 của đức Khổng-Tử làm Văn-Tuyên-công (propagateur des Lettres). Năm 979, vô cớ Thái-tông hưng binh đánh Khiết-đơn, đánh không lại, đến đỗi phải bỏ long-xa, trốn trên xe của thường dân mới thoát khỏi nạn nguy. Trong khi vua trốn, Khiết-đơn phong con vua Khuông – Dẫn, là Đức – Chiêu (Tchao-teitchao) làm nhiếp-chánh-vương. Khi Thái -tông trở về kinh, Đức-Chiêu tâu xin thăng-thưởng các tướng hữu công, vua phán giọng lẫy: «Hãy chờ khi lên ngôi, sẽ phong lấy! » Đức-Chiêu buồn rầu, về cắt cổ chết. Thái-tông điếu tang, khóc: « Cháu sao dại dột và cạn xét như vầy ». (Trong Wieger nói: « Bớt một mũi nhọn thứ nhứt. »

Năm 981, Triệu – Đức – Phương (Tchao – teifang) là em của Đức-Chiêu, bỗng chết, – không rõ vì bịnh hoạn hay vì cớ nào khác, Wieger lại phê: «Bớt một mũi nhọn thứ nhì. »

Còn lại người con út Thái-tổ là Triệu-Đình-Mỹ (Tchao T’ing-mei), được Thai-hậu di-chiếu cho hưởng ngôi kế vị Thái-tông sau nầy. Thái-tông vấn kế Trieu-Phổ, Phổ tâu:

« Vua trước xét cạn: cha truyền ngôi cho con mới gọi là đúng chánh-pháp. »

Năm 982, Đình – Mỹ phạm tội, bị đày và năm 984 Đình – Mỹ thác, thế là dòng giống Triệu – Khuông – Dẫn

không còn người nào để tranh chấp ngôi vua với con của Quang – Nghĩa.

Năm 983 đê Hoàng-Hà vỡ, ngập lớn vùng Khai-phong- phủ, nước sông Hoàng chảy phủ tới sông Hoài, lut lớn

khắp nơi, dân chết đến số triệu.

Năm 997, Tống Thai – tông thăng hà, con là Huyền (Heng) ba mươi tuổi, lên nối ngôi, ấy là vua Chơn-tông.

Công lao của nhà bác, bác nghe lời mẹ, nay chú và dòng chú hưởng. Nói cho công bình, đời Thái-tông được thái bình, vì Thái-tổ và ông, đã dẹp được «an bốn biền », vua lại hay giảng võ, khuyến nông thương, lại biết yêu chuộng văn chương, kính sĩ dụng hiền và Thái-tông có lập một kho sách, hơn tám mươi muôn cuốn.

Đúng với lời tiên tri của Trần-Đoàn, khi gặp bà Đỗ-thị trong buổi chạy giặc, gánh hai thúng đựng vua  Khuông-Dẫn và vua Quang-Nghĩa, Trần-Đoàn đã cười ngất mà gọi « thái bình đã đến rồi » và tích nầy đã ghi trong một dĩa trà có thơ nôm hai câu « Mó rận luận chơi thời-sự », «Ngã lừa mừng thuở thái bình » (văn Tây – sơn, tôi sẽ nói khi viết đến thủ chơi ấm chén và đồ sứ men lam Huế, sau nầy).

(tập số 7).

Tống Chơn-tông (998-1022).

– L’empereur Tchenn-tsoung. Thái-tông mất, không lập con nhà bác, dòng Khuông-Dẫn và lập con ruột là Chơn-tông, dòng nhà chú. Vua nầy mê tín lắm. Wieger kể lại đời vua nầy cho phổ biến thuyết  trên trời, cao hơn hết có Thượng-đế, kế đó là Ngọc-Hoàng đại-đế và hai ông giáng sắc phong trên cõi dương-thế đại diện là Hoàng-đế Tống Chơn-tong, cai trị dân gian. Đời vua nay nhìn nhận trong nước có ba đạo chánh: Nho, Thích, Lão và phân ra có: lạc-thổ (le paradis), địa- ngục (l’enfer), ngạ quỷ (les démons affamés, prêtas), tội-hồn (les âmes pécheresses), và luyện ngục (le purgatoire) v.v … Nên nhớ năm Cảnh-Đức (1004), Chơn-tông dạy xây lò làm gốm tại Cảnh-Đức-Trấn.

Năm 1006, trung-thần Khấu – Chuan (K’eou-tchounn), người mình biết hơn dưới đại danh là ông Bao-Công, bị nịnh sàm tấu, vua dạy ra trấn ở Đại-Danh-Phủ (T’ai-ming-fou), ông lại được người Khiết-đơn rất mến phục, khi họ vào triều thấy vắng mặt Bao-Công, nay gặp ở đây, lấy làm * lạ hỏi, ông cuời bịa rằng « vì trong triều vô sự, nên vua sai ông ra chăn dân và trấn ải địa đầu này!

Tống Nhân-tông (1023-1063). – L’empereur Jenn-tsoung.

Năm 1022 vua Chơn-tông băng. Thái-tử Trinh (Tcheng), chỉ được muời ba tuổi, lên kế vị, xưng Nhơn-tông. Vua nay có phước, văn có Bao-Công, võ có Địch-Thanh hết lòng phụ bậc. Tôi rất phục dòng Khuông-Dẫn không tranh giành làm vua (hoặc vì thiếu phe đảng, biết tranh cũng không lại, bị giết oan mạng), thà giữ địa vị Bác-Vương (vua anh) và sau con cháu phong Lộ-Huê-Vương, tức ông vua ra đường có rắc hoa cho đạp lên hoa mà đi, như vậy mà sướng hơn!

Nhơn-tông là con của bà Ly-thần-phi, khi nhỏ nhờ bà Nam-cung Dịch Thái-hậu là đầu dòng Khuông – Dẫn giấu nuôi, sau có Bao-Công tra án Quách-Hòe mới lòi ra manh mối tích «ly miêu hoán chúa» và tích «xử án Bàng quí-phi » rất ly kỳ thống thiết, nên tìm truyện Tàu đời Tống mà đọc: – (truyện Vạn-Huê-lầu, v.v…)

Vua Nhơn-tông đáng được gọi ông vua biết lễ nghĩa. Năm 1024, ông viếng nhà Đại – Học, bổn thân khấu bái trước bàn thờ đức Khổng-Tử.

Đời nầy thiên hạ thải bình. Các danh thần, văn nhân rất nhiều, xin lượt kể không phân biệt thứ-tự và tôn-phái:

Âu-dưong-Tử (Neouyang-siou) (1007-1072); Phạm-Trọng-Yêm (Fn-tchoungyen) (989-1052); Hàn-Kỳ (Han-K’i) (1008-1075); Phú-Bậc (Fóu – pi, mất năm 1083); Tư – mã Quang (Seuma-koang) (1019- 1086);

Thiệu – Hùng (Chao – young) (1011-1077); Trình-Hạo (Tch’eng-hao) (1032-1085) ; Trình-Di (Tch’eng- i) (1033- 1107); Vương – An – Thạch (Wangnancheu (1020-1086); Thái-Kinh (Ts’ai-king) (1046 – 1126);

Tô – Tuấn (Sou – sunn) (1009- 1066); Tô – Thức (Sou – cheu) (1036-1101);

Tô-Triệt (Sou- tchee) (1039-1112); Châu – Hy (Tchou-bi) (1130-1200), v.v …

Năm 1052, đời vua Nhân-tông này, có Nùng-Trí-Cao (Noung – tcheu – kao) làm phản gần ranh Bắc – Việt, tướng Địch-Thanh (Ti-ts’ing) dẹp xong gặp bà Thoại – Ba công-chúa, hai người kết duyên (xem tuồng Ngũ hồ bình Tây của Trần-Văn-Hưởng và Lê- Ngọc- Trụ hai ông này sao chép và trình bày, còn đặt đề là do Cụ Tú Nguyễn-Diêu, hiệu là Nhơn-Ân (có Cụ Đào-Tấn sửa một đoạn).

Tống Anh-tông (1064-1067). – L’empereur Ying-tsoung.

Năm 1063, Nhơn-tông băng. Vua nầy không con, nuôi con nhà thúc bá, tên Thự (Chòu) 32 tuổi, truyền ngôi, xưng Anh-tông. (Tiếng rằng con nhà thúc-bá, nhưng có nghĩa dòng Quang-Nghĩa chớ không phải dòng Khuông-Dẫn). Vua này ở ngôi được bốn năm thì mất, thọ 36 tuổi, con được 20 tuổi, kế vị, ấy là vua Thần-tông.

Tống Thần-tông (1068-1085). – (L’empereur Chênn-tsoung).

Vua Thần-tông được tiếng là ăn cần ở kiệm và biết kính hiền trọng sĩ. Nhưng ông không được thọ, trị vì được mười tám năm thì băng (thọ 38 tuổi). Con tên là Hù, mười tuổi, nối ngôi.

Tống Triết-tông (1086-1100). – (L’empereur Tchée-tsoung).

Vua Triết-tông lên ngôi, chỉ có mười tuổi, nên có bà Cao-hậu dự chánh. Trong nước may không có nịnh thần, và các ông Tư-mã Quang, Lữ – công – Trụ và các tôi hiền khác giúp vua nên nước đặng yên. Triết-tông băng năm 1100, tuổi vừa hai-mươi-bốn. Bởi không có con kế vị, nên em là Kiết (Ki) nối ngôi.

Tống Huy-tông (1101-1125). – (L’empereur Hoei-tsoung).

Đây là ông vua tài-tử nhứt đời. Ông là con thứ 10 của Thần-tông, tước phong Thoại-Vương, nối ngôi anh năm 1101, thường xưng mình là Ngọc-Thanh giáo-chủ hạ giáng. Huy-tông ngày nay kẻ khen người chê, dư luận không đều. Chê là vì đời ông, ninh-thần đầy triều: Cao Cầu, chỉ giỏi đá cầu mà được phong Thái-úy, Thái-Kinh, văn hay chữ tốt, ngặt ham ăn hối lộ nhất đời, và giặc loạn Lương-sơn-bạc, 108 vị anh hùng do Tổng- Giang cầm đầu, chống chánh-phủ cũng vào đời nay (xem truyện Thủy-Hử). Khen là vì ông là một họa sĩ đại danh, tranh ông ngày nay bên Mỹ giành mua giá trên nhiều triệu đô-la, Huy-tông biết sưu tầm ngọc báu, nâng cao mỹ-thuật, nâng cao nghề chế bức tranh « Cầm điều » ký « Tuyên-Hòa ngự bút » của ông đồ gốm celadon, ham chơi tranh, chơi cổ ngoạn và nếu Nguyễn-Văn-Thư nói trong Bách-Khoa số 92 kể nơi bài của ông, nếu nay ông còn giữ và nếu đó thiệt đúng ngự bút của Huy – tông, thì trên cõi Việt-Nam nầy, không ai có phước và giàu hơn Nguyễn-quân vậy.

Năm 1104, phương-sĩ Nguy Hon – Tan (Wei-hantsiun) tuân lịnh Huy-tông, đúc chín đỉnh đồng thật lớn, đến năm 1105 mới xong. Tể-tướng đời ấy là Thái-Kinh, sùng bái đao Lão, gây nhiều ảnh hưởng tốt đối với mỹ-thuật, nghệ thuật, nhứt là ngành đất nung, gốm, céladon, ngọc chạm, v.v …Một quốc-gia chỉ lo việc trong nhà, sợ việc phế tập vì phe đảng, mà quên sức mạnh đang dấy lên như nước thủy-triều của các phiên-quốc vây chung quanh, một ông vua có nhiều máu phong-lưu tài-tử, nghệ-sĩ tới chót đầu móng tay, tội nghiệp thay Huy-tông đã dốt chánh trị thêm lười, lại quá tin và giao hết việc nước cho hai tham quan nịnh-thần cỡ Cao-Cầu và Thái-Kinh, nên về sau ông Huy-tông tuy thoái vị năm 1125, mà vẫn tránh không khỏi năm 1127 bị Kim-Phiên bắt đày lên phương Bắc, nhốt hay cầm tù trong một cái giếng loạn tại Ngũ – quốc – thành (Ou – kouo tch’eng, nay là Ninh-cổ-tháp ở Cát-lâm), và nhịn đói nhịn khát, kéo dài đời sống đến năm 1135 mới chết lạnh tại đây, tuổi được năm mươi tư. Tôi nói Tống Thai-tổ không thấy xa và cái họa của kế « bôi tửu trích binh quyền », chẳng phải báo hại chỉ hai vua Huy-tông và Khâm-tông, mà còn di hại đến đời Thanh với bọn xâm lăng da trắng nữa là khác.

Tống Khâm – tông hoàng đế (1126 – 1127). – L’empereur K’inntsoung.

Ông vua chia hoạn nạn với Huy – tông là Khâm tông hoàng-đế, con của Huy-tông, được cha nhường ngôi năm 1125. Huy-tông lên ngôi Thái-thượng-hoàng. Năm 1126, trời lạnh đến nước sông đặc thành giá, binh Kim – Phiên thừa dịp tràn qua nước Tống, độ binh qua Hoàng-hà, đến gần Khai-phong-phủ. Thế giặc dữ quá, Huy-tông phải chạy xuống Trấn-giang, trên sông Dương-tử. Quân Kim bắt Túc-vương Triệu -Xu về làm con tin, mới chịu rút lui. Huy – tông trở về triều, đày Thái – Kinh xuống cù – lao Hải Nam, nhưng dọc đường Thái – Kinh từ trần.

Tống Huy-tông, chưa biết binh Kim lợi hại thế nào, chẳng lánh thì chớ, lại sai binh rượt đánh tập hậu, ấy là công khai bội ước và tự chiêu kỳ họa. Quân Kim đùn đùn nổi giận, quày đầu trở lại, Tống binh đại bại.

Vua Tống hạ mình tạ tội, nhưng đã muộn, Kim buộc Tông-đế Khâm-tông và Thái-Thượng-Hoàng Huy-tông nạp mình và cũng bắt luôn vừa hoàng thân quốc thích, vừa văn võ quan viên hơn ba ngàn người, giải về Phụng-thiên-phủ (Kiết-lâm).

Khâm-tông, lên ngôi năm 1125, nhưng kể từ 1126. Đến năm 1127, bị Kim bắt về Phiên-quốc, cầm tù một chỗ với Huy-tông và đến năm 1156, mới từ trần, thọ 61 tuổi.

Nhà Bắc-Tống (960-1127), tuy tổ chức binh – bị kém, nhưng văn-hóa, triết-học, lên rất cao. Nghệ thuật chế tạo đồ gốm, đồ céladon, đồ độc sắc (monochromes) đều lên đến tuyệt đỉnh, các đời sau không theo kịp.

Nam Tống (les Song du Sud) (1127-1279).

Thái-tử Triệu-Cấu, con thứ 9 của vua Huy-tông, cũng bị binh Kim bắt đem về Phiên-quốc, nhưng trốn được về Nam, bay ngựa qua sông Dương-tử (huyền thoại để tuyên truyền thuở ấy cho đồn ông có bá linh phù trợ, nên có tích « nê-mã độ Khương-vương », con ngựa ông cỡi qua sông Hoàng-bà, qua được rồi thì rã rớt ra thành đất cục, vì là ngựa bằng đất thờ trong miễu, nhờ phép linh biến ra thần mã độ ông qua sông lớn). Đến Nam-kinh, ông tức vị xưng Cao-tông hoàng-đế (1127-1162). Đến năm 1162, ông nhường ngôi cho con, và còn sống thêm cho đến năm 1187 mới từ trần, thọ 81 tuổi. Năm 1138, định đô tại thành Hàng-châu. Năm 1135, được tin từ Bắc-Phiên cho hay Huy-tông đã mất. Đến năm 1142, cốt hài tiên đế và của hai bà Tống-hậu, được đưa về Trung-hoa mai táng. Vua Khâm-tông vẫn bị sanh cầm trên cõi Bắc, mãi đến năm 1156 mới từ trần.

Muốn biết các việc xảy ra đời này, xin xem bộ Thủy-Hử và bộ Nhạc-Phi diễn-nghĩa. Để giúp tài liệu đích xác, đây là vài chi tiết đã thấy trong sách Pháp:

– Nhạc-Phi, đầu phe chủ chiến, bị Tần-Cối sai giết tại Phong-ba-đình, năm 1140, (thọ 39 tuồi);

– Ngột – Truật (Ou-tchou), địch thủ của Nhạc- Phi, nguyên-soái Kim-Phiên, mất năm 1148;

– Tần-Cối (Ts’inn-koei), cầm đầu phe nghị hòa, chết năm 1155.

Từ nhà Tống dời đô về Nam, Trung-quốc ở vào thế người bại trận, vì binh Kim lấy mất phân nửa giang-san miền Bắc. Trong miền Nam lại chia ra hai phe rõ rệt:

a) phe chủ chiến, cầm đầu là Nhạc-Phi. Nhưng đánh thì bất phân thắng bại, vì vừa thắng thế thì bị triều đình, do Tần – Cối ăn của hối bên Phiên, làm mất cơ hội tốt: lương thực tiếp tế không đúng thời, tướng giỏi bị kiều-chiếu đòi về bắt giết, …

b) phe nghị hòa, cam đầu là thua -tướng Tần-Cối, theo truyện Tàu, là nịnh – thần, ham ăn hối lộ của Kim-

Phiên đút lót, quyết lòng mãi quốc cầu vinh. Nhưng trong sách Pháp, thì đấy là nhóm chiến bại, gồm bọn làm giàu về mễ cốc, về tơ lụa, muốn nghị hòa với Phiên, bỏ phứt Bắc-kinh là kinh-đô xa xôi, chỉ giữ kỹ miền Nam lấy Hàng-châu làm đô, tức là bọn kinh tài tư bản, chỉ biết sự nghiệp tiền bạc làm trọng, không thiết gì quốc – gia bị chúng chia cắt.

Vì thế, trong nước sanh ra chủ nghĩa yếm thế, mặc cho đời, tởi đâu hay đó.

Sở dĩ Nhạc – Phi bị hại, một phần cũng tại hay tỏ ý muốn một hai đánh thấu lên Bắc-Phiên, rước nhị đế về, – mà như vậy Cao – tòng đâu còn làm vua được, – hai nữa, tánh Nhạc-Phi thích kết giao với các tướng về hàng để đồng lòng trừ giặc, nên bọn nịnh sàm tấu làm cho Cao-tông nghi ky, nên Tần-Cối giết tướng giỏi mà vua giả bộ không hay.

Đạo yếm thế là do đạo Lão chủ trương. Văn chương yếm thế là văn khóc mây bay thương nước mất, tìm cao siêu trong chút dư vị thanh thanh của trà. Vì đó sanh ra thú hay nghệ thuật uống trà. Mỹ-thuật cũng yếm thế, luyện cho được cái biến hóa bất thường: đồ từ khí đẹp như ngọc chuốt (céladon, monochromes), không đẹp thì kỳ hình dị tướng (chén trà đất nung, bình tích da chu, bầu rượu dị hình, hoặc bị lửa già nên đổi dạng, hoặc kinh niên nên trỗ màu biến sắc, hoặc nứt rạn khác thường … Kiểng vật thì ưa phong cảnh đẹp tươi, hoa kiểng thì thích uốn nắn cụm trúc hóa long, cây mai chiếu thủy. Thuật yếm thế tuy vậy có chỗ hay vì đã đem một sinh lực khác thường vào văn hóa Trung-hoa quá cũ kỹ.

Đạo-gia, tu-sĩ, triết-gia, ai ai cũng đều muốn thoát tục. (Vì thế ngày nay tôi muốn đổi lại, không nói chén trà Đại Tống có từ Tống Thái-tổ, mà muốn nói chỉ có từ dời đô về Nam, lấy đất sét đen và nặng của vùng Phước-kiến chế ra, nên cũng gọi « kiên » là chén trà màu lông thỏ tôi đã kể năm 1960. Cho hay, trong nghề khảo cổ, được phép viết lập luận lại nếu mình thấy sai sự thật, miễn sao đừng lấy nai làm ngựa, và đừng uốn sừng sửa xoáy, phải thấy sao nói vậy và từ khoảng 1960 đến 1971, kinh nghiệm cho phép tôi trình bày một cách khác hơn năm 1960, chung quanh câu chuyện « từ chén trà Đại Tống, đến tích trảm Trịnh-Ân ».

Một mấu chốt khác tôi tìm ra là nhơn đọc bộ « Cảnh-Đức-Trấn đào-lục » (Tập 5) tôi thấy có câu: « Quan Đại-phu Thiệu-Thành-Chương (Chao-tch’ing-tchang) khi theo vua về Nam, ông muốn gây dựng cổ tục phương Bắc, nên dạy xây lò hầm đồ gốm trong « Nội-Phủ », chế ra một loại gốm gọi « Nei-yao » (Nội-diêu), gốm nầy dùng đất sét chọn lọc và chế tạo công phu, không thua đồ gốm Bắc-Tống ».

Nếu vậy, danh từ « đồ Nội-Phủ » có lẽ phát sanh từ Nam-Tống phải không?

Nhơn tiện, tôi xin trả lời cùng ông Nguyễn-Văn-Thư, rằng: «sở dĩ đồ Tống tìm gặp ở Thanh-hóa, nhẹ hơn đồ

Tống-diêu làm ben Trung-quốc, va đều rạn «mạng nhện », màu da trắng ngà (B.K. 92 ngày 1-11-60), Nguyễn-quân gọi đó là «đồ Tống Thanh-hóa », theo tôi, gọi làm vậy cũng được, nhưng muốn đúng thời gian, ý tôi muốn gọi đó là « đồ gốm do người di-thần đời Tống về làm tại Thanh-hóa trong khoảng 1279-1368, vì khoảng ấy Trung-hoa bị quân Mông-cổ (nhà Nguyên) chiếm, nên họ kéo về Thanh-hóa lánh nạn, đến năm 1368, nhà Minh dẹp được quân Nguyên, đuồi về Mông-cổ, thì đám nghệ sĩ di-thần nhà Tống cũng rút về Tàu, vì đã phục hồi độc lập được rồi, cho nên từ năm 1368, ta không thấy vùng Thanh – hóa chế tạo gốm post – Song (hậu Tống) này nữa. Việc gốm nặng hay nhẹ, mỗi người mỗi « cân » theo ý riêng, không thành vấn đề, bài nầy viết trả lời Nguyễn-quân sau mười năm cách mặt là để nhớ nhau, chớ không dám làm cho giận.

Tống Hiếu-tông (1163-1189). – L’empereur Hiao-tsoung.

Vua Cao-tông trị vì đến năm 1162, thì nhường ngôi cho con, và tiếp tục sống đến năm 1187 mới mãn phần, thọ 81 tuổi. Vua Hiếu-tông, rất tôn súng Khổng-giáo, nhưng nghe lời Nho-sĩ, đánh thuế thầy chùa và đạo-sĩ, chỉ làm mất nhơn-tâm, vô ích.

Năm 1189, ông thoái vị và mất năm 1194, thọ 68 tuổi.

Tống Quang-tông (1190-1194). – L’empereur Koang-tsoung.

Năm 1189, Hiếu -tông nhường ngôi cho con (xưng Quang-tong), để lên làm thái-thượng-hoàng. Quang-tôngtức vị, lại không thuận thảo với thượng-hoàng, vua cha và hoàng-đế không hề thấy mặt nhau cũng vì hoàng-báu, họ Lý, phao vu tin đồn thượng-hoàng-tiếc hối, muốn thuốc vua đề lấy ngôi báu lại. Bà Lý-hậu nầy, nước ghen không chỗ nới. Sử chép có một bà phi một hôm dâng rượu cho vua được vua khen có hai bàn tay xinh tốt; qua bữa sau vua nbận được của Lý-hậu một hộp dâng đồ ngự tiến: mở ra xem thì đó là hai bàn tay ngọc của bà phi vô phước có chồng là một ông vua mắc chứng sợ vợ. Năm 1194, thượng-hoàng Hiếu-tông đau nặng, Quang-tông giả cớ cũng đau nên viện lẽ ấy không đến viếng thượng-hoàng. Đến khi Hiếu-tông băng, Quang-tông không đứng chủ tang, để cho thái-tử, 27 tuổi, thay thế. Bà Thái-hậu đã ghét sẵn, lấy cớ nầy, hài tội bất hiếu của Quang-tông mà truất ngôi tôn. Thái – tử có công đứng chủ tang thượng – hoàng, nay được nấy trao quyền bính, ấy là Ninh-tông.

Tống Ninh-tông (1195-1224). – L’empereur Ning-tsoung.

Ninh-tông lên ngôi, nhưng cũng không được thấy mặt cha là Quang-tông. Năm 1200, Lý-hậu từ trần. Chừng ấy cha con Ninh-tông mới diện kiến nhau, nhưng chẳng bao lâu thì vua cũ Quang-tông nhắm mắt lìa đời.

Năm 1204, Hàn Đà-Tru (Han-l’ouotcheou) tâu vua xin với phong Nhạc-Phi và làm tội Tần-Cối.

Năm 1206, Hàn Đà-Trụ mật sai chỉnh tu binh mã, dự bị phạt Kim, nhưng cơ mưu bại lộ, binh Tống vừa ra quân, binh Kim đánh thua xiểng liểng. Năm 1208, Hàn Đà-Trụ bị xử trảm, đầu lâu bị lấy ra khỏi hòm, bêu giữa chợ rồi gởi nạp vua Kim. Tần – Cối, chết năm 1155, lại được phục vị như cũ. Năm 1206, bên nước Kim, Thiết-mộc-chơn (T’ie-mou-tchenn) (Temudjin), tức vị xung đế xứ Mông-cổ. Ông này có nhiều tên để lại trong sử sách: Thành – Cát – Tư – Hãn (Tch’êng- ki -seu – han), (Djenguiz khan, Gengis-khan, le Khan des Forts), tên khác nhau nhưng người vẫn một. Yelu-tch’outs’ai, quân sư của Thành-Cát, có nói một câu bất hủ, theo Pháp-văn, là nhu vầy: «C’est en chevauchant que vous avez conquis l’empire; c’est en l’organisant que vous le conserverez ». (Bệ-hạ ngồi trên lưng ngựa (nhiều công hạn mã) mà gây dựng nghiệp-đế; nay muốn giữ đế-nghiệp cho vững bền thì phải ra công sắp đặt trong ngoài cho có trật tự, mới được).

Yelu-tch’outs’ai (Du-Lục-Sở-Tài), mất năm 1243, làm tôi được hai triều, quân sư của Gengis-khan và của Ogotai. Khi lâm chung, có người dèm pha nên bà hoàng-hậu nhà Nguyên, la reine Tourakina, sai khám xét dinh-thự, thì chỉ thấy vỏn vẹn một cây cithare (một loại luc-huyền-cầm), còn sách vở thì không biết bao nhiêu mà đếm. Du-Luc-Sở-Tài để lại ơn lớn cho quan lại nhà Tống. Không thì bọn này đã bị tàn sát hết rồi. Lão thông Hán-văn, ông từng tâu với Nguyên-chúa Ogotai, rằng: «Muốn giữ vững nền cai trị cõi Trung-hoa, thì phải tín dụng bọn Nho-gia và dung dưỡng đám Nho-thần. » Lời nói có nhân đạo ấy vừa giải nguy cho bọn di thần nhà Tống, vừa đặt ấn triều đại mới trên lãnh thổ Trung-nguyên. Cái gì có hại, cũng có lợi một bề nào. Đó là luật bù trừ. Nhờ Mông-cổ là dòng du-mục, xâm chiếm Trung-hoa, mà mỹ thuật, âm nhạc và văn hóa của nước Tàu cũng chịu ảnh hưởng một phần nào. Đồ sành da trắng vẽ men lam, có lẽ là do binh Nguyên đem sang Trung-hoa.

Tống Lý-tông (1225-1264). – L’empereur Li-tsoung.

Vua này nối ngôi Ninh-tông. Năm 1237, vua truyền chỉ các trường phải dùng bộ sử ký Tư-mã Quang (le Miroir historique de Seuma-koang), làm sách học. Bộ sử này Châu-Hy dọn lại. Nhưng việc làm của Lý-tông, tai hại nhứt cho vận mạng về sau của nhà Tống, là liên hiệp với Nguyên để tiêu diệt nước Kim; thế ba chân vạc: Tống-Nguyên-Kim không thủ, nay làm cho Kim mất, dè đâu Tống cũng không còn. Sơ khởi, binh Nguyên mượn đường nước Tống, để tiến quân đánh Kim. Tống không cho. Nguyên cứ kéo binh tràn qua

Trung quốc đến giao chiến với quân Kim, kế hai bên nghị hòa. Sau đó, Mông-cổ sai sứ qua xin Tống hiệp binh đánh Kim, chuyện này Tống nghe theo … Nước Kim vi vậy, mất năm 1234, tính ra được chín đời vua, trị vì 120 năm. Từ đó Mông-cổ càng ngày càng thạnh, năm 1237 kéo quân sang đánh Âu-châu, rồi đánh Cao-ly và đánh Tống. Năm 1251, Mông-kha lên làm Đại-Hãn, sai em là Hốt-tất-liệt (Koubilai) bình nước Đại-Li (Ta-li), trước kia gọi Nam-Chiêu (Nan-tchao), rồi bình vùng T’ou-fan (Tho-Phồn), Tây-tạng (Tibet), đến năm 1255 giao tranh cùng nước ta, Giao-Chỉ. Năm 1260, Koubilai tức vị xưng Đại Chúa khắp Mông-cổ (Grand Khan). Cũng từ đây Mông-cổ đổi lại xung Đại-Nguyên (Yuan).

Tống Độ-tông (1265-1274). – L’empereur Toú-tsoung.

Kế vị cho Lý-tông là vua Độ-tông. Ông rất tôn sùng

Khổng-giáo. Năm 1267, bổn thân đứng chủ tế đức Khổng-Tử. Năm 1274, Độ-tông băng.

Tống Cung-đế (1275-1276). L’empereur Koung-ti.

Khi lên ngôi, Cung-đế vừa được năm tuổi đầu. Kế bị Mông-cổ bắt và giam cầm tại Hàng-châu một lượt với bà

Thái-Hậu (la Regente) và các hoàng tộc. Trạng-nguyên Văn-Thiên-Tường (Wenn-t’iensiang) sau làm Thừa-tướng, tận trung cùng Tống, phò hai vị hoàng tử chạy về Phước-châu (Fou-tcheou), và lập hoàng-tử lớn, vừa được tám tuổi, nối ngôi. Đó là Đoan-Tông.

Tống Đoan-tông (1276-1278). – L’empereur Toan-tsoung.

Đoan-tông không làm gì được, phần tuổi bé thơ, phần vận nước đã suy vi, vô phương cứu chữa; thêm  Koubilaï khôn khéo, biết thừa cơ hội, dựng đạo Lão, Thích ngang hàng đạo Nho, đặt người cầm đầu Lão-giáo, Thích-giáo, chống Khổng-giáo do Tống đặt làm quốc giáo. Năm 1274, gần Hàng-châu, hòn Thiên-mẫu-san (T’ien-mou-chan) bỗng gãy sụp một góc lớn. Nhơn đó, người mê tín bàn rằng vận nước Tống đã đến lúc mạt vận. (Nên nhớ do núi nay, người Nhựt đặt tên các chén do họ chế tạo nhái chén Tống là Temmoku). (Sách The ceramic wares of Siam của Ch. Nelson, tr. 34 dịch Thiên-muc-thủ (Tem-moku-te), tưởng nên đọc theo thuyết sau). Năm 1278, Đoan-tông băng, tuổi vừa mười một.

Đế Bính (1278-1279) .- L’empereur Pìng, dernier roi des Song.

Nước Tống đã hết thời, đến đỗi có một tăng nhơn tên Dưong-liễn-trinh-gia (le bonze Yang-lien-tchenn-kia), lưu manh đào quật cả thảy 101 lăng tẩm các vua nhà Tống chôn tại Thiệu-hưng-phủ (Tchaohing-fou).

Năm 1279, một đại thần ôm vua Đế Binh nhảy xuống sông, nhà Nam Tông dứt.

Kết luận. — Nhà Tống trị vì ba trăm hai chục năm, gồm:

– Bắc-Tổng, đô là Khai-phong-phủ: 9 đời vua, trị vì 167 năm (960-1127);

– Nam-Tống, đô Hàng-châu, 9 đời vua, trị vì 153 năm (1127-1279).

Nếu luận về tài cai trị, thì quả đời Tống, vua và quan, phần đông không biết sắp đặt việc nước. Cái họa mất nước bắt đầu từ trái lời Thái-Hậu, không luân phiên chọn người lớn tuổi và thông minh làm vua, lại để vua bé thơ giữ ngôi báu, khiến cho ninh thần lộng hành, lại thêm lựa thuyết yểm võ tu văn, đến lúc hữu sự, trước nạn xâm lăng, cây bút lông không thay cây kiếm sắt. Nhưng luận về các phương diện khác, triết lý, văn học, mỹ thuật, nghệ thuật, nghề điêu khắc, chạm ngọc, chạm ngà, chạm gỗ, làm đồ gốm, Nho, Thích, Giáo, đua nhau nảy nở, gây một tiếng dội rất lớn khắp hoàn cầu, đến nay tiếng dư âm vẫn còn chưa dứt. Ngày nay, đồ gốm Tống, nhứt là đồ celadon, các hũ đựng cốt, tranh đời Tống, ngọc cổ, đồ sơn mài, chữ đại tự Tổng, v.v .. , để tiếng thơm cho đời Tống, chứng minh đến ngày nay, với khoa học hiện đại, các nước Âu-Á-Mỹ, vẫn chưa theo kịp. Có thể nói từ khi gay chiến với Khiết-đơn rồi Mông-cổ (Kim và Nguyên), mà có sự trao đồi nghệ thuật văn hóa: ảnh hưởng nước ngoài nhiễm vào Trung-quốc không ít. Nếu Huy-tông xa hoa, ham chơi ngọc, thì nghề chạm ngọc tự nhiên được nâng cao. Bởi Huy-tông ham đá cầu, ham vẽ tranh mà trong nước biết trao giồi các môn ấy. Nghệ thuật Bắc-Tông có vẽ đoan trang thêm đượm màu Nho-Thích. Từ Cao-tông di đô về Nam, các đạo sĩ trong núi tìm được nhiều giống trà, nên có nghề trồng trà, nghề làm chén trà và thú uống trà được nâng lên làm một nghệ thuật, hơn nữa làm một đạo thuật (như ngày nay người Nhật-Bản còn truyền giữ), quả hoàn cầu thọ hưởng văn minh đời Tống không ít. Nghệ-thuật Nam-Tông chuộng và gần Nho-Lão hơn đạo Thích. Nhưng chuộng văn đến quên việc võ, quên sự phòng bị biên cương, tập luyện quân sĩ, thì cái hại mất nước đã kề, và cái triết lý yếm thế, đóng cửa tham thiền, không đủ ngăn giặc dữ bên ngoài. Rồi dữ lắm cũng phải có ngày tàn, luật thiên địa tuần huờn là như vậy.

Sau Tống, nhà Nguyên trị vì Trung-hoa chưa đầy một trăm năm, thì vì nhiễm văn minh của nước bị chiếm, mà bị nhà Minh đuổi trở về vùng du-mục.

21-3-1963/2-11-1971

Lời bàn thêm. – Theo quyển «Céramique ancienne de l’Asie » của ông Fujio Koyama (do bà Daisy Lion-Goldschmidt dịch ra Pháp-văn), thì tác giả Nhựt định đồ gốm Bắc-Tông chịu ảnh hưởng của Khổng-giáo (xem đồ bản ở sau) và đồ gốm Nam-Tống, trái lại, chịu nhiều ảnh hưởng của Phật-giáo (tr. 64 sách dẫn thượng). Thuyết này, các chuyên gia Âu-châu cho quá thiên về bí truyền, bí giáo (ésothérique) và không công nhận. VHS

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Bài 8

Không Gian,

Với Bằng Hữu,

Không là khoảng cách.

Từ chuyến đi ngắn hạn một vài ngày, trong tuần, với chiều rộng dăm tiểu bang, mà thật sự cũng hơn hai vòng Việt Nam, nam-bắc ra vào … Người Lính Viết Văn dần dà dự phần vào tầm cỡ suốt hai trục Đông-Tây, Nam-Bắc quả đất, dầu không hề chuẩn bị. Anh chỉ có thể đi lên chiều cao, rộng kia từ một lực yểm trợ có thật, bất khả thay thể – Vòng Đai Bằng Hữu toàn thế giới. Anh hiện thực nên thành một Người vui sướng sống động ngay nơi đời sống nhiều khắc nghiệt khó khăn nầy. Anh cũng chứng nhận ra nỗi huyền nhiệm mà đã nhiều phen ứng xử nơi vũng lửa, tràn bóng tối tù ngục- Điều cảm động bừng bừng ấy là: Khi anh sống hết lòng cùng Bạn- Bạn ắt cho lại toàn phần chân thật. Bạn gọi Anh: Anh tới. Tự nhiên như sóng, như gió … đâu dây là bài viết của Hai Người Bạn- Người tận hai dầu địa cực, chưa hề gặp gỡ …. Nhưng không nề gì …

CHUYỆN, NGƯỜI LÍNH BỊ NÉM ĐÁ, HAI LẦN.

* BÙI XUÂN VŨ- Sydney, Australia.

Dù khá muộn màng, tôi vẫn viết những đề tài có liên quan đến người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trước hết, viết để vinh danh công việc của họ đã làm cho quê hương Việt Nam; kế đến, viết vì lòng ngưỡng phục và biết ơn họ. Từ nguyên ủy này, tôi đã viết về Cương, một người lính, bạn cuả tôi, tuổi đời tuy còn non trẻ, nhưng sức sống của anh đã trổi vượt lên trên sự chết với Một Bản Án. Anh là một biểu tượng cuả Người Lính Trẻ Việt Nam, dám đem tim gan mình thách đố với cuộc cơ cầu của non sông. Anh đã kháng lệnh đầu hàng và quyết không rời tay súng. Hơn thế, anh đã tiếp tục chiến đấu, tiếp tục hiện thực giấc mơ tìm ngày Hòa Bình cho Việt Nam. Súng đã nổ rền vang giữa đêm Giao Thừa mùa Xuân năm 1977, khơi dậy niềm tin, nỗi ước mơ dù mong manh trong những đôi mắt đứng tròng trước cơn bão loạn màu cờ đỏ đang đè nặng trên quê hương. Vào lúc ấy, những đôi mắt trắng trông chờ kia, thêm một lần hăm hở bàng hoàng, vội chắp đôi tay, cầu mong sự an bình cho người đi làm sứ mệnh và khấn nguyện cơn quốc nạn sớm chuyển mình để người người đón nhau về trong ngày hòa bình thật sự cuả quê hương.

Đến sáng hôm sau, một bản án tin về … Huyện Ủy Thống Nhất (Trãng Bom, Biên Hòa) thuộc Tỉnh Đồng

Nai đã bị bắt và bị kết án treo cổ. Xác hắn treo lơ lửng trên cành cây cao su cách huyện không đầy hai trăm

thước. Trớ trêu thay, định mệnh ác độc, tháng Sáu cùng năm, Cương bị bắt. Sang mùa Xuân năm sau, Cương tự kết liễu đời mình trong ngục cải hối ở Tân Hiệp, Biên Hòa. Rồi đến Nguyễn Quý Cương, một người lính và cũng là thầy của tôi trong lớp áo người phu xe! Có lẽ thầy Nguyễn Quý Cương không phải là người xa lạ với Tiểu đoàn 52 Biệt Động. Nghiệt ngã thay, thầy tôi đã trở thành một người phu xe sau ngày đổi màu cờ, thay sắc áo. Và còn nhiều nữa, những người lính bên giòng sông Ba, trên một đoạn đường.! Đến hôm nay, tôi lại được thôi thúc phải viết về một chuyện có lẽ không vui như một việc chẳng đặng đừng:

“Chuyện Người Lính Việt bị Người Mỹ gốc … Việt ném đá trên nước Mỹ!”. Thật ra, sự kiện Người Lính Việt Nam bị ném đá không phải là điều quá lạ. Ngay sau ngày họ mất toàn bộ môi trường chiến đấu, tan tác ước mơ hoài bão cho ngày toàn thắng cuả quê hương, thì họ đã không còn, dù chỉ một lối về. Họ như cánh lá lìa cây cành …

Ngửa lên chỉ thấy trời xanh ngắt

Cúi xuống ta nghe giọt lệ đầy

Và họ biết tìm đâu một ước hẹn, tìm đâu một con đường để nối kết niềm tin?

Mảnh tình này, ta không xé sao vội rách,

Quân phục ấy, ta vốn mặc giờ lại tan!

Trên chặng đường long đong ấy, những Người Lính tìm lối riêng để tự cứu:

-Chào nhé, thôi vùng đất trắc trở,

Xa nhau, xin gởi lại một làn hơi!

Từ đó, đàn Chim Việt chia lìa, tan tác, lạc bầy. Riêng những người, mà cuộc đời của họ đã trải dài và kéo

căng cùng thống khổ quê hương, thì định mệnh lại thêm một lần chờ đón họ ở cuối đường nghiệt ngã … Những nhà giam mọc lên cùng khắp với vây bũa, đe doạ mũi súng. Cho rằng nước hết chiến chinh.

Riêng trên đất Bắc, vào những ngày trước khi đoàn tù Miền Nam ra đến, cán bộ cộng sản đã cẩn thận giáo dục nhân dân địa phương trò chơi biểu lộ lòng hận thù … Đất bùn được nặn thành những cục, phơi nắng khô, chờ bọn “lính Ngụy” đi qua … Ai ném nhiều và trúng đích sẽ được “biểu dương”. Theo đó, đám người đói, già, trẻ chen nhau, đứng chờ sẵn ven đường, bãi ruộng. Họ ngần ngại gì không ném vài hòn đất, cục đá để cán bộ tang cường “công điểm” thêm lưng chén gạo, củ khoai! Cuộc “chơi” toàn phần hứng khởi. Hòn đá, cục đất từ tay nhân dân ném đi, hẳn nói lên ý trời? Có ai ngờ, giữa lúc cán bộ cười rơi nón cối vì viên đá trúng vào bọn “lính Ngụy”, thì cũng cùng lúc hàng nước mắt đã vội trào ra, chảy xuống trên những gò má hom hem nắng cháy … Sao lại khóc? Ai không khóc khi thấu tận niềm đau! Ai biết họ đã vỡ nát niềm tin? Biết bao tháng đợi năm chờ … Những thế hệ người Bắc từ 1945, từ 1954 …Những tưởng có được ngày “người trong ấy” ra ngoài này … Ngờ đâu, những hình ảnh tả tơi trước mặt đã chứng minh một điều không muốn tin cũng phải nhận: Có lẽ lần này chúng không nói điêu: “ta” đã thắng trận rồi!! Từ đó, “viên đá học tập” kia biến thành “viên đá ngậm ngùi”, họ “uất hận vì “người Miền Nam” đã làm rụi tàn niềm mơ ước được tự do – Họ thống trách vì “trong ấy” không chịu thắng! Ai hiểu được lòng người đang chịu đựng cơn đau xé ruột kia?

Cùng lúc ấy ở Miền Nam, khi đoàn tù binh thất thểu đi qua, lẽ tất nhiên không có một viên đá học tập nào ném vào họ, mà chỉ những giòng lệ rơi không che dấu … Nước mắt của Người Dân có chung nỗi xót xa với Người Lính bị hạ nhục. Hỏi có Người Miền Nam nào khi qua Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nhìn thấy tượng Người Lính bị kéo đổ, gục đầu bên vệ đường mà long không nặng xuống? Hỏi có còn niềm đau nào, đau hơn cho người Dân Việt Miền Nam khi tượng hình chiến sĩ hằng lâm cơn khổ nạn. Hồn thiêng sông núi, anh linh người đã chết vì quê hương về đâu theo giông bão …

Linh hồn tử sỹ ở đây chăng?

Đất lạnh chôn đời bao dối giăng?

Tượng đá hôm nào ôm súng gác,

Ấm hồn kẻ chết những đêm trăng!

Tuy thế, những điều tôi đã viết, hầu như chỉ gói trọn trong màu cờ tổ quốc với thân xác của người đã khuất, ít khi tôi dám viết đến những người còn sống. Tôi không viết, không phải vì không muốn tán dương hoặc cám ơn họ, nhưng sợ ngòi bút làm hư đi hình ảnh …Nhưng đến hôm nay, có thể là một lần phá lệ. Tôi viết về người lính có thật, còn sống. Hơn thế nữa, Người Lính ấy đang cố sức đi nốt đoạn đường làm giảm nỗi đau cho hơn 70 triệu con người. Đường đi ấy có đến hay không, tôi không biết trước được, tôi không nói đến. Tôi chỉ nói những điều Người Lính ấy đã viết, đã làm …

Ngược dòng thời gian cách đây hơn ba mươi năm, người thanh niên ấy đã giã từ bút nghiên, dấn thân vào cơn bão lửa. Khi ấy, chiến tranh chưa lớn, chưa lan rộng, nhưng chắc lòng anh hẳn đã mang hoài bão … Anh là người nhỏ tuổi nhất trong hai trăm khoá sinh nhập Khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia? Mộng chẳng biết “lớn” thế nào nhưng ngày ra trường thứ hạng của anh “không nhỏ”– Anh đứng thứ 189 trên 191 sĩ quan mãn khoá. Đến khi bắt thăm về đơn vị, phải vất vả xin đổi chỗ Truyền Tin để lấy phần số Nhẩy Dù. Về Nhẩy Dù, anh những tưởng sẽ được theo cánh dù mà lên cùng rộng rãi trời cao. Nhưng thực tế, mặt đất đã làm anh kinh hãi bàng hoàng … Bạn bè chết không kịp chôn, đâu đâu cũng đàn kiến, lũ ruồi dậy lên theo mùi máu tanh, thịt cháy. Và tên người thì được ghi theo từng dấu địa danh … Những nơi đi không ngày về … Bình Đại, Đồng Xoài, Bình Giả … Những ai đang yên ngủ trong thành phố có biết chăng Dấu Binh Lửa đã ngập tràn trên quê hương với những đớn đau khôn cùng … Những dấu vết như dấu chân oan khiên, không phải của người lính mà mẹ già từ bãi ruộng trở về đạp trúng quả mìn trên bước đường trước mặt anh!!

Ở Việt Nam, có một con đường dài nhất-Đường Số Một, chạy dọc từ Bắc chí Nam. Đúng ra đấy là con đường nối liền, chuyên chở tình thương, ước mơ của hai miền và của lòng người. Nhưng không, nó bị chém đứt đôi, hằn lên nỗi hận hai bờ sông Gianh mới …

– Sông Gianh thiên tạo đã bao đời,

Tháng Bảy năm nào phải cắt đôi !

Ngó Bắc đau lòng xưa đất cũ

Nhìn Nam tan tác mới dân trôi!

Để rồi, Dọc Đường Số Một, trên đoạn đường khổ nạn ấy, tất cả những người Việt, không trừ ai, đều Dựa Lưng Nỗi Chết … Mỗi tấc đường ngấm một lượng máu khô. Những cũng đến một ngày, mẹ già, em bé được thông báo … Đã có Hoà Bình!! Câu hát đồng dao “Hòa Bình” chưa kịp cất, mẹ lại phải nghẹn ngào hai tiếng “Tù Binh”. Lần chiến tranh vừa qua trong buổi cầu kinh, mẹ thấp thỏm từng phút … Mẹ từng phút đợi con về. Sau chiến tranh, mắt mẹ thêm độ mù lòa vì khóc tiễn con lên đường lưu đày tù tội. Từ hoàn cảnh khắc nghiệt nầy, người lính chiến cũng đành xuôi theo vận nước nổi trôi. Mất đơn vị, bỏ gia đình, anh nhận lấy một tên gọi mới:

Học tập cải tạo!!

Còn lại gì cho kẻ chiến bại?

Những viên đá ném tới tấp lên anh. Anh hay người ném đá chịu đau hơn? Rất khó trả lời, chỉ thấy người tù binh cúi đầu lặng lẽ và thấy nước mắt hoen úa trên mặt người vừa tung viên đá khỏi tay. Vào trại giam, anh nhận thêm những điều cay đắng.. Tù binh được phân chia thành phần khác nhau … Đám đông hưởng quy chế chung, một mình anh hứng chịu riêng cách khắc chế tàn nhẫn khác … Cứ thế, ngày thêm dài và đêm tối vô cùng, vô tận. Cái chết luôn chực sẵn! Một trái bắp vừa cổ tay thường có từ mười hai đến mười bốn hàng, và mỗi hàng có trên dưới bốn chục hột. Theo đó, trái bắp có khoảng 600 hột. Người tù của tình trạng kiên giam được miễn đi lao động (còn có tên gọi khác, biệt giam, kỹ luật, tùy theo lối xử dụng từ ngữ của mỗi trại), được hưởng chế độ “đãi ngộ đặc biệt”, với tiêu chuẩn cơm bưng nước rót, ngày hai lần. Một lần, mỗi chén bắp được đếm kỹ, trung bình có từ 280 đến 300 hột, muỗng nước muối và một bát nước lạnh. Bữa nào quá 300 hột, phải được kể là lần “tiệc lớn”! Tuy thế, đói riết rồi cũng quen … Anh nhận ra điều cùng đành và người tù binh ấy không chết vì khẩu phần “tiêu chuẩn” này. Tuy nhiên, anh vẫn sống là vì còn nghe được âm thanh quen thuộc của những người đồng cảnh ngộ bên cạnh … Anh Còn Bạn … Anh Còn Sống! Anh còn sống để chờ dịp Tết. Chờ Mùa Xuân. Mùa Xuân của anh bắt đầu khi cánh cửa phòng kiên giam mở ra, viên trại trưởng theo thông lệ, bước vào nghiêm trang hỏi anh:

– Anh có khỏe không?

Xong câu hỏi thứ nhất, không một thắc mắc về hình hài như nắm xương của người tù. Gã hỏi tiếp:

– Anh có nhận được thư nhà không?

Cảnh thâm u hôi hám của phòng kiên giam thúc dục người nầy “hỏi mau”, không cần anh gật đầu chào hay trả lời … Gã tiếp câu thứ ba:

– Thôi anh vào nghỉ đi!!

Và mùa Xuân đã hết sau câu nói ấy, để người tù lại tiếp tục ngồi đếm từng hột bắp trong mỗi bữa ăn, chờ 365 ngày nữa … Một mùa Xuân tiếp sẽ đến! Anh qua đời tù mười bốn năm không kẻ hở. Cơn ác mộng những tưởng qua theo, quên đi với mười bốn năm khốn cùng kia … Nhưng không, khi trở về, đời sống có nhiều bất hạnh hơn anh dự tưởng. Tuy thế, nỗi đau trong thâm tâm người lính năm nào lại không biến thái nên thù hận. Trái lại, anh mở lòng, trang bị cho mình tâm thức mới- Tính NHÂN là sức mạnh lớn nhất Ở anh, rõ ràng người ta không hề bắt gặp một lần tức giận đối với những người ngày trước, từng ra oai, ký cho anh nhiều ngày phạt, những nhận xét hàm hồ,”sĩ quan kém khả năng … “. Thay vào đó, ngoài việc chấp nhận phần riêng của mình trong nỗi đau chung; anh không hề lên án, thúc dục thù hận. Và đối với những người một lần khác chiến tuyến, anh mở lòng thân ái, quên đi nhục khổ (mà những kẻ ấy, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp cũng dự phần trong lần hành hạ anh của suốt mười bốn năm qua). Anh lấy cách chí nhân trả lời cho lòng oán hận! Anh xử dụng khoan dung (của người bị đánh giá là thua trong cuộc chiến) để đối với nỗi bất hạnh của người được coi là đoạt phần thắng lợi … Câu chuyện hai nhân vật anh chở trên đường khuya, từ cầu Ba Thôn, Lái Thiêu về ngã tư An Xương (Hai Người Lính Sau Một Lần, Đường Trường Xa Xăm).

Với bài viết này của anh, tôi nghĩ:” Chưa có một người nào chống Cộng rõ ràng, dứt khoát và khôn ngoan như anh. Trước kia, anh chống địch ngay trong lòng địch, cấp trên của anh không … thích. Kết quả anh nhận 60 ngày trọng cấm.

Lúc này, anh tiếp tục đường riêng … Đường của lòng Nhân, tính Thiện, cách Bao Dung của người Miền Nam để tha thứ, làm nhẹ đi một phần nào thống khổ của những: “Dũng sĩ diệt Mỹ, anh hùng quân đội nhân dân” của đang trên đường khất thực với cây gậy mò mẫm trong đêm thay cho đôi mắt … Quả thật, không mấy người làm được và chắc không ai có thể lên tiếng trách cứ anh? Trước nghĩa cử này, những kẻ mù trong chế độ cộng sản, dĩ nhiên không thể nhìn được, nhưng với những kẻ còn đôi mắt … Họ nghĩ gì? Họ sẽ tìm cách tẩy trừ những dòng chữ viết đậm nét kia của anh chăng? Hay họ sẽ tìm đủ mọi cách để xóa đi tội lỗi của bản thân trước phê phán lịch sử của dân tộc này?

Và khi ra khỏi nước, những người, theo một mẫu số chung, cùng chiến tuyến với anh, họ sẽ nghĩ gì và làm gì đối với anh? Hát bài ca tụng chăng? Chờ tí! Lý do:

Bài hát ấy chỉ dành riêng cho những người đi không trở lại như: Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Nguyễn Đăng Vỹ và Hồ Ngọc Cẩn … Một con số quá khiêm tốn so với cái tỷ số đông đảo đang còn hiện diện Như thế, làm gì có bài hát dư dật dành cho một … đại úy? Lại nữa, “ba cây-một người ty nạn- chụm lại”, đến đây rồi ai hơn ai? Ngày xưa thời, thế khác nhau; nay“ông”, ty nạn; “tôi”, một người lao động mất xứ sở và phải nương nhờ đất người … Ai hơn ai? Riêng về nỗi đau trong lòng … Cũng không biết ai đau hơn ai? Ông “làm quan” mất phần xôi thịt! Còn tôi dân đen, cũng mất mảnh đất, khúc ruột quê nhà!!

Thêm vào đó, năm năm, hoặc mười năm tù đổi lấy cái giấy H.O … Trong đời ai còn muốn nhìn ai? Người đi trước, tự cho mình cái “khôn ngoan” tài giỏi!! Kẻ đến sau, ôm một bụng thương đau! Ai sẽ nói chuyện với ai? Ai nhường ai? Chữ “tập hợp” đã đi đến chỗ tận cùng lối rẽ, không thể gặp nhau. Ai đứng ra nối lại vòng Và ai sẽ tin ai thực tình vẽ lại mảnh dư đồ? (ít ra là ở trong tâm nguyện?). Còn ai sẽ cho ai những cái mũ rớt bên đường? Nhưng trường hợp của anh, có lẽ là một ngoại lệ. Cái Dũng của anh đã vượt thoát ngục tù, xâm nhập vào thớ thịt, tấc lòng không những chỉ riêng bạn tù nơi nhà giam mà còn làm cho kẻ thù phải căm giận, phải khuất phục. Một chiến dịch lớn, cầm đầu bởi những “công thần văn hóa” … Chế Lan Viên, Tô Hoài cốt hạ nhục anh trong đợt học tập dài suốt 1978, trước ngày Tàu đánh Việt Nam. Sức mạnh Tính Nhân, nó không còn là một chuyện dấu kín trong lòng, nhưng giống như một ngọn đèn sáng đã đặt trên giá, để chính những kẻ cựu thù của anh cũng thấy lòng dịu đi …. Rồi đến Trí Lực, anh đã nhìn đến vận mạng của cả dân tộc hơn là nhìn đến một hoàn cảnh bi đát theo một góc độ riêng. Phải chi, tác giả của những quả cảm ấy, ngày trước có được một vài ông sao trên cổ áo. Hay hơn thế, cầm cái gậy tổng chỉ huy quân đội trong tay thì chả cần phải nói thêm nửa lời. Anh muốn nói dơi nói chuột cũng khối người nghe! Khốn nỗi, trên cổ áo anh lúc trước không có ngôi sao, và hào quang quanh anh chỉ có mấy cuốn sách thay vì cây gậy chỉ huy. Trong khi đó, tướng, tá trong quân đội ngày xưa còn nhiều. Họ chưa làm anh hùng, thì chừng nào mới “cho phép” viên đại úy có cả trăm ngày trọng cấm trong hồ sơ quân bạ? Bá Vương có khi nào nhìn ra Hàn Tín?

Anh bị ném đá như một điều tất nhiên! Phải, vì lần thứ nhất thì được coi như lẽ bắt buộc, nhưng quả thật lần thứ hai này nghe ra có nhiều xót xa quá. Xót xa vì người chủ mưu và kẻ dự phần ném đá anh rất mực hăng hái – Họ đã cùng anh chung chiến tuyến- Họ ném đá với danh xưng, chủ đích, tư cách …

NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Viết đến đây, tôi không thể không đặt nên câu hỏi:

– Thứ nhất, những người chủ mưu và vận dụng cuộc ném đá nhà văn Phan Nhật Nam có những toan tính gì ?

– Thứ hai, những người này đã nhân danh việc riêng hay việc công để ném đá Nam?

Nếu vì việc riêng, cho tôi rút lại những câu hỏi này. Còn nếu bảo là “việc chung” thì xin quý vị hãy nghĩ và dừng ngay tay lại. Lý do, tuổi trẻ Việt Nam đã gần như thiếu cạn những tấm gương rọi sáng. Đã gần như khánh kiệt niềm tin trong những trò chơi múa rối của những ngày qua. Đến lúc này, quý vị lại tính diệt cho bằng hết một chút gì cần phải lưu nhớ nữa hay sao? Há những người chủ mưu trong vụ này không biết rằng, càng ném đá Phan Nhật Nam nhiều bao nhiêu, bọn Cục Tình Báo Hải Ngoại, bọn Phòng Phản Gián văn nghệ sĩ tại Sái Gòn, tại Hà Nội lại mừng bấy nhiêu hay sao? Nói như thế, tôi không dám nghĩ đến việc, người này, người kia trong nhóm ném đá, đã được học tập và chỉ đạo để ném đá Nam. Không tôi không nghĩ như vậy.

Tôi chỉ muốn nhấn mạnh: Phần ưu thắng của chính nghĩa đã đến mức phải báo động. Chúng ta đã quá nhiều nhầm lẫn với anh em ta. Những ngày còn giam Nam trong tù, người cộng sản Hà Nội đã từng nghiến răng trợn mắt, muốn ăn tươi nuốt sống anh, muốn giết anh đi để trừ cái họa về sau, nhưng không dám … Họ cũng đủ khôn ngoan để không cần thiết vấp phạm khuyết điểm trước lương tri, phán xét của những con người thế giới. Hơn nữa, họ đã có quyết định tập thể: Giam giữ có lợi hơn giết bỏ .. Và đó là một lý do duy nhất để những người như PNNam, như Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện được còn sống.

Đến hôm nay; quý vị, những người được coi như đã từng tranh đấu cho PNNam, đứng chung chiến tuyến với Nguyễn Chí Thiện lại bắt đầu ném đá vào Nam và bôi bẩn Nguyễn Chí Thiện bằng những luận điệu kiểu Nhật Tiến hay sao? Hỏi còn nỗi vui mừng nào lớn hơn nữa, mà những người này chưa dành cho tập đoàn cường quyền Hà Nội, là những kẻ đang ghìm chặt áp bức trên sinh mệnh khốn khó của toàn dân tộc. Chắc họ đang chờ ngày Bác Sỹ Nguyễn Đan Quế, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt đến đây. Họ sẽ kết thúc bài ca tranh đấu của những người chịu đựng khổ nạn với những viên đá kế tiếp hay sao?

Ném đi! Ném nữa đi! Ném để được trọn vẹn mối nghi nan, dố kỵ hung hiểm và hèn mạt … Tôi muốn hỏi những người ném đá khi tôi đối diện với Nam. Nhà Văn Người Lính Phan Nhật Nam.

Anh Phan Nhật Nam thân mến,

Không phải đến lúc này tôi mới biết tên anh. Nhưng biết ngay từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, trước cuộc bể dâu 30 tháng 4 năm 1975. Dĩ nhiên, lúc ấy, tôi chỉ biết anh qua những bút tích của anh. Phải chờ đến ngày 5-1-96, nghĩa là sau ngày anh bị ném đá lần thứ hai tại Mỹ khá lâu, tôi mới có hân hạnh diện kiến anh lần đầu tại nhà anh Đoàn Lưu Em, người cùng khóa Võ Bị với anh. Theo đó, sự biết của tôi về anh chắc không đầy đủ. Tuy nhiên, tôi vẫn quyết định viết về anh sau lần gặp mặt tình cờ này. Viết từ điều tôi đọc, thấy và nghe từ, của Anh. Tôi không có ý định viết để “ca tụng” anh, nhưng bởi nhiệm vụ (chẳng ai bó buộc ai) phải bảo vệ lấy “nghĩa đồng bào” và “niềm tin” cho tuổi trẻ … Những yếu tố cần thiết cho sự tự tồn vong bản ngã, tính chất Người Việt ở Hải Ngoại.

Có mây nào tụ mãi … Cũng thế, những kẻ ném đá anh rồi cũng tàn lụi vào bóng tối với nguyên trạng tốt hoặc xấu của riêng nó. Với anh, vấn đề có còn lại với thời gian hay không, không tùy thuộc vào những bài viết và những viên đá tung ra ấy-Nhưng từ sức vươn tới của anh. Đường trường tuy có xa xăm … và có làm anh mỏi mệt hay không thì chúng tôi phải chờ xem … Anh đồng ý chứ?

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Bài 9.

Thịt Chuột và Văn Hóa

Văn hóa vốn là sản phẩm tinh hoa nhất của loài người. Mỗi dân tộc có một văn-hóa riêng. Theo ông, lấy văn-hóa của kẻ khác làm của mình phải rất thận trọng kẻo không sẽ bị bội thực vì không tiêu hóa nổi. Nhân một người bạn thân của ông viết về văn hóa Việt Nam, Nghiêm Sỹ Tuấn đã góp ý dưới hình thức một chuyện phiếm “Thịt chuột và văn-hóa”.

Con chuột ví với ông, là những kỷ niệm bình dị của thời thơ ấu xa xưa nơi thôn dã. Ông tuổi Tý, cầm tinh con chuột, sống ở nhà quê ăn thịt chuột, thưởng thức tranh vẽ đám cưới chuột, lớp học chuột, v.v …

Vì thế chuột với ông hay rộng ra với người Việt Nam có một liên hệ tinh thần thật đẹp. Con chuột đã mang trên nó một văn-minh, văn-hóa đặc thù Việt Nam vậy. Bởi thế ông không thích truyện “Dịch hạch” của Camus, truyện “Của chuột và người” của Steinbeck. Nói rõ ra văn-hóa ngoại lai nó thô bạo và kịch cỡm với ông cũng như trò khâu đít chuột của một học giả (Lê văn Siêu) bày ra vậy.

Nghĩ cho cùng, lời nói của ông hữu lý phần nào. Bởi vì nếu cứ ăn, cứ nhập mãi văn-hóa người khác, rất nghèo cái của mình và giàu những cái của người khác do mình tự cầm tới.

Tôi sinh năm Tý. Theo lời mẹ tôi, thì sinh tôi được một ngày là hết năm. Thành thử mới sống trên đời hai ngày, tôi đã mang nặng trên vai hai tuổi. Có lẽ vì thế mà vóc người tôi nhỏ bé, nhưng lại sớm ra vẻ già. Dầu vậy, tôi đã sống những ngày thơ ấu đầy đủ vô tư nơi quê ngoại. Đấy là một làng hiền lành nằm kề một con sông rộng mười lăm nhịp cầu tre, với khá nhiều vó bè hai bên bờ và thuyền nan trái sắn chèo xuôi ngược, nối liền sinh hoạt dân làng với sinh hoạt tỉnh ly. Ruộng thường cấy hai mùa, chen giữa là những vụ trồng bông, ngô, khoai, gọi chung là trồng mầu. Mực sống tương đối khá, nhờ thêm nghề đan cót. Có cả một bến nứa suốt ngày tấp nập. Mùi nứa ngâm lâu dưới nước khiến không khí trong làng nhiễm mùi đặc biệt, vừa nồng vừa ngái, vừa thoảng hương nước nắm Nghệ. Nhưng cót đan xong phơi khô, lại trở thơm mộc mạc. Gặt hái rồi, lúa mới thật nỏ quây trong cót mới tạo nên mùi ấm áp dịu dàng, cảm thấy dễ chỉ có những bàn chân gót dầy nứt nẻ vì lội nước gieo cấy mùa đông.

Vào khoảng ấy thường có những người đi bán thịt chuột. Chuột đây là chuột đồng, suốt mùa lúa, từ lúc trổ đòng xanh đến khi chín vàng, đã vụng trộm gậm nhấm của người. Bây giờ, trên đồng chỉ còn gốc rạ, người ta mới đem rạ hun bắt chúng ăn thịt trả thù. Con nào con nấy béo mẫm, thui vàng da cam, moi hết gan ruột, buộc túm đuôi lại từng chùm thịt chuột thui như thế, chặt con cờ, rang ăn với lá chanh tươi thái nhỏ như chỉ rối, là một món rất khoái khẩu. Không hiểu sao những nhà văn sành ăn lại quên, không ghi món thịt chuột rang này trong các tác phẩm ẩm thực của mình. Tôi cho rằng các vị ấy sống nơi thành thị quá nhiều, chỉ biết

có chuột cống rãnh, chuyên sống chui rúc nơi tối tăm, nhờ rác rưởi và thức ăn thừa, nên trông bộ bẩn thỉu hôi hám. Chẳng ai thèm bắt ăn thử xem sao. Cũng như các vị ấy cứ nhất mực tán tụng không khí trong lành nơi thôn quê, cứ thi vị hóa những buổi cấy, buổi gặt, mà quên bẳng đại khái cái mùi nứa đặc biệt tôi vừa nói trên cùng những gót chân dầy nứt nẻ sưng giá đi cấy, những lưng đẫm mồ hôi dầu muối đủ loại và những con đỉa trâu khổng lồ trong mùa gặt nắng lửa chói chang. Thịt chuột cũng thế. Nó là món ăn của dân quê, vua chúa trên đời không hề biết đến. Tôi sinh nhằm tuổi Tý, nên rất háu ăn, gặp được món thịt chuột rang, còn gì thích thú cho bằng. Con chuột vô tình đã đóng một vai trò khá quan trọng trong đời sống dân ta. Ngay từ lúc còn mặc quần thủng đáy, chúng ta đã được thưởng thức tranh vẽ đám cưới chuột, lớp học chuột khăn

đóng, áo dài, đi đứng hai chân, trịnh trọng như người. Nó lại đứng đầu trong đám con vật biểu tượng mười hai địa chi, trên cả con rồng, con hổ. Ây vậy mà các ông vua, ông tướng của ta từ xưa tới nay cứ để yên thứ tự đó, kể cũng lạ. Nhất là bây giờ chuột đồng không có, chỉ có toàn chuột hôi, mang đầy mầm mống dịch hạch trên mình.

Tôi khởi sự đi học hơi muộn, hương vị thịt chuột rang hồi nhỏ nhờ đó đôi khi còn thức dậy nơi đầu lưỡi, làm tôi nhìn giống chuột với cặp mắt bao dung. Vì thế tôi cứ đận đà, không muốn xem những truyện Dịch Hạch của ông C .. , truyện Chuột và Người của ông S, mặc dù nhiều người văn-hóa, trong đó có cả anh bạn học thân của tôi, nghiền ngẫm, dịch giải một cách say mê. Nghĩ rằng giống vật ăn thịt được hẳn là giống hiền. Ăn thịt nó cũng quá rồi, nỡ nào đem ra bới lông tìm bọ chét. Ác hơn nữa có nhà văn-hóa lại bày trò khâu đít chuột, làm chúng mắc chứng táo bón cấp tính, sinh cáu kỉnh, cắn hại lẫn nhau mà tự tiêu diệt.

Ngẫm cho cùng, chuột thời buổi này khổ cực nào kém chi người. Bắt buộc, chúng phải làm chuột thành phố hết thẩy. Còn đâu đòng đòng non ngọt ngào, lúa chín vàng chắc nịch, cùng với không gian khoảng khoát nơi đồng ruộng. Hết ăn được chúng, loài người thù ghét chúng thậm tệ. Giả sử hiểu được tiếng nói, văn tự của người, chắc chuột sẽ là những đệ tử trung thành của ông lão Nam Hoa. Ông này vốn chỉ biết chuột đồng, không bao giờ ngờ rằng lại có thứ chuột thành phố. Chen chúc, tranh giành cơm thừa, canh cặn, còn bị đuổi xua giết chóc, chạy đâu cũng lủng củng những vỏ chai, vỏ hộp. Thét rồi chúng trở nên tình ranh hơn, né tránh lẩn trốn tài tình và đúng lúc. Thành ra mẹo khâu đít chuột tuy hay mà chưa ai thực hiện nổi. Tôi nghĩ mừng riêng cho chuột. Nhưng người chủ mưu kia khổ nỗi lại là người văn hóa khác, nghiện nặng sách của ông C., truyện của ông S., thấy mẹo hay hay, bèn đem áp dụng làm chính sách văn-hóa cho người mình, thì thật là tai họa lớn.

Các cụ nhà ta ngày xưa, mỏi miệng tử viết, thi văn thật nhưng ít ra còn biết đọc theo giọng của mình. Chứ bây giờ trẻ con mới ráo máu đầu đã uốn lưỡi tập nói giọng hầu, giọng mũi, tin ngây thơ theo các quảng cáo hùng hồn dán trên vách các nhà tiểu công cộng, rằng: chắc chắn nói được! cam đoan nói được! Tôi tinh nghịch đã tính bữa nào giả câm, giả ngọng lần đến các lớp ấy xin học thử xem có nói được không. Nhưng thấy nếu mình đã giả đò ú ớ, chắc gì mấy vị giáo sư kia hiểu nổi ý mình, đâm ra ú ớ thật theo luôn, tôi lại thôi. Trở về chuyện văn-hóa, anh bạn tôi cứ loay hoay mãi, không biết nên dịch thuật trước hay sống và suy tưởng trước. Tôi thích ăn thịt chuột, nên không có ý kiến gì, ngoài việc nghĩ rằng làm gì thì làm, văn hóa cũng là một món ăn, cần phải tiêu được trước đã. Còn cái kiểu năng nhặt chặt bị của anh, theo thiển kiến, chẳng qua cũng chỉ là một lối khâu đít chuột. Tôi vừa nói trên kia, học vấn của tôi khởi sự muộn màng lại thiếu sót ngay từ căn bản, nên tôi đã từng choáng váng ngây ngất trước những lâu đài văn hóa rực rỡ cổ kim.

Đông cũng như Tây. Khi được đi học, tôi vội vàng thu lượm, và chính anh bạn đã cười thấy tôi ngồi tỉ mỉ vạch từng nét ngang, nét sổ. Rút lại bây giờ cũng chỉ tạm đủ để đọc Đồ Long Đao với Thiên Long Bát Bộ hoặc ngâm nga mấy bài thơ quen thuộc cũ mèm viết tự đời Đường, đời Tống. Còn Văn-hóa thực ra là cái chi chi tôi vẫn mờ mịt như thuở nào.

Tội tôi thật đáng đánh đòn, biết chỉ một dúm mà cũng dám nói chuyện văn-hóa. Gia dĩ còn đem thịt chuột ra bàn lẫn vào, bạo gan hơn cả nhà thơ Ngỗng Trắng rượu say xáo trộn văn chương với chả cá. Song tôi trộm nghĩ, một mảnh bát vỡ còn được các nhà khảo cổ, lau chùi nâng niu, câu sáu tám nắm xôi thằng Bờm còn được đem làm đề tài cho bao phiên khảo luận tràng giang đại hải, không lẽ món thịt chuột rang thơm như thế, ngậy như thế, lại không dám nói tới. Cảm quan đại chúng thật ra đã cao lắm và đặt trên những nền tảng đơn sơ mộc mạc mà vững chắc. Nay bỗng dưng có vấn đề nâng cao cảm quan ấy, tôi hoang mang không hiểu nguyên do tại đâu. Cái này chắc phải đợi mấy ông Nghè Tây, Nghè Mỹ xứ mình trở về học thêm tiếng mẹ đẻ, rồi nghiên cứu lại ca dao cùng những điệu lý, điệu hò, mới có thể giải thích nổi. Đến chuyện thời gian và không gian của văn-hóa nói chung, của văn-nghệ nói riêng, tôi càng bỡ ngỡ hơn. Một nhà văn lão thành, có tinh thần cách mạng, – cách mạng theo kiểu nghệ sĩ, cố nhiên – hồi sinh tiền đã chủ trương văn nghệ phải phi thời gian và phi không gian, nhưng đồng thời lại tự ví mình với con voi già Sở Thú nằm lù lù một đống. Khiến tôi thắc mắc không ít, chẳng hiểu thời gian của ông dài hay ngắn hơn tuổi con voi già, không gian của ông rộng hay hẹp hơn Sở Thú. Nhưng giờ này hương hồn ông, vốn nặng tình văn hóa, chắc cũng ngậm cười, thấy chủ trương của mình đã được các nhà văn trẻ noi theo, dù là vô tình phần lớn. Phi thời gian và phi không gian đến cái độ dám in rõ ràng trên bìa báo rằng “đọc văn ông X”, trong khi ông X. chết cách đây đã cả chục năm có lẽ và chắc ông ngoại quốc X. ấy, trước khi thở hơi cuối cùng, vẫn chưa hề biết chữ S là hình thể nước ta, nói chi đến biết có một thứ văn tự dùng mẫu tự la tinh ở góc Đông Nam Á. Còn Văn Chương sáng tác, thời gian và không gian thu hẹp hơn, giới hạn trong một ngày xe đò hay mấy giờ máy bay, trong một quán kem, tiệm phở, hay trong một thân thể nào đó, nhưng lại hơn được điểm phi lý. Phi lý tất cả mọi chuyện. Ăn, ngủ, tiêu hóa, làm ái tình, đánh giết nhau. Đâm ra tôi cứ có mặc cảm tội lỗi, thấy mình hay nghĩ tới những chuyện không đâu, chuyện thịt chuột hôm nay chẳng hạn. Được cái may tôi không phải người làm văn hóa, nên lương tâm đỡ cắn rứt phần nào. Nhưng mới đây, một anh bạn giỏi Đức ngữ kể cho nghe một câu chuyện chuột ăn thịt người chết hồi thế chiến thứ II, tôi tự bảo, thôi phen này hết bênh vực chuột nữa nhá. Lũ này thật lộng quá rồi, ngạo mạn chúng ta hết mực. Nhớ khi còn ở trường bộ binh, đi giầy da cao cổ, nện gót cồm cộp, mà chúng nó cứ vọt qua mặt tôi như thường. Dù thế mặc lòng. Tôi vẫn tự an ủi là chuyện chuột ăn thịt người đó xảy ra ở bên Đức. Nước ta tuy cũng bị chia cắt như nước này, song tôi chưa thấy ai viết những truyện loại ghê gớm đó. Tinh thần Đông phương sâu sắc hơn, chuyện ấy chắc bị coi là tầm thường kém xa chuyện làm văn-hóa khâu đít chuột. Một anh bạn khá giả khác của tôi, có vợ ba con, làm nghề gõ đầu trẻ, hiện đang đợi ngày trình diện, đã lo lắng rằng nếu ở cả hai miền đất nước ta, người ta cứ lầm hoài văn-hóa kiểu khâu đít chuột này, thì chỉ mươi mười năm nữa, lớp con anh lớn lên sẽ thành cáu kỉnh hết, lúc ấy không biết thế nào là thịt chuột rang, chúng nó không suy nghĩ gì cả khi gặp những lớp người đồng lứa tuổi với chúng vượt sông rúc bụi qua đây với súng đạn cầm tay. Tôi mới chỉ thất tình sơ sơ, nên cũng thấy hơi lo lo, e nếu tình cảm con người sau này biến đổi như thế, chắc tôi sẽ thất tình nặng mất. Viễn ảnh một phá sản tinh thần và truyền thống đang đe dọa lớp thiếu niên vừa lớn.

Trách nhiệm của những người làm văn hóa, như anh bạn tôi đây, rồi sẽ rất nặng nề. Tôi gửi đến anh những dòng này, như lời cầu kiên nhẫn cũng như ông cha ta khi còn mang tên Giao Chỉ đã kiên nhẫn mở mang bờ cõi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cũng như thiên hạ bây giờ vẫn kiên nhẫn chen nhau mua xe gắn máy, mua sữa, mua đường, kiên nhẫn chen nhau lên xe buýt, chen nhau đi coi chớp bóng ở Lê Lợi và lời chúc thành công. Để ít ra tôi còn được thưởng thức thịt chuột rang với lá chanh tươi thái chỉ rối một lần nữa trong đời.

NGHIÊM SỸ TUẤN

[Trích Thung Lũng Hoàng Hôn, Nxb Y Tế 2002]

Bầy Sư Tử Lãng Mạn

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Bài 9

– Tại sao em chống đối quản giáo?

– Yêu cầu anh tôn trọng nội quy của trại!

– Thằng nhãi ranh hỗn láo, tao đáng tuổi bố mày mà mày dám gọi tao là anh, hả?

– Tôi yêu cầu anh tôn trọng nội quy.

– Nội quy của can phạm, không áp dụng cho cán bộ.

– Anh cần tôi đọc không?

– Được, tao thua mày.

– Tù gọi cán bộ bằng anh xưng tôi. Cán gọi tù bằng anh xưng tôi. Tù gọi tù bằng anh xưng tôi, bất kể già trẻ, lớn bé. Nội quy dán ở cửa phòng, anh cần nghiên cứu. Cách mạng dạy sao, tôi học vậy. Tôi gọi cụ Diên 80 tuổi là anh Diên, cụ ấy không phản đối. Hay cụ ấy là tù yên phận, còn anh là cán bộ anh hách xì xằng? Muốn gọi tôi là mày, xưng tao thì bảo cách mạng sửa lại nội quy đi!

– À, gớm nhỉ?

– Chả gớm gì hết, đây chỉ triệt để thi hành nội quy.

– Tại sao chống quản giáo?

– Chống bao giờ?

– Ăn nói lễ độ.

– Anh trống không thì tôi cũng trống không!

– Tại sao… anh chống quản giáo?

– Tôi không chống, tôi không ăn cơm vì cơm đầy thóc.

– Anh còn nói gì?

– Tôi nói cách mạng nuôi tù tệ hơn nuôi gà.

– Anh sách động cả phòng không ăn cơm. Tuyệt thực, hả? Định làm loạn hả?

– Tại sao anh đánh giá tôi cao tít trời xanh vậy? Nhãi ranh mà sách động được người lớn à? Cách mạng sáng suốt, anh thì tối mò.

– Mày dám…

– Ê, yêu cầu áp dụng nội quy.

Cai ngục muốn bợp tai thằng nhãi ranh này quá. Mặt mũi thằng nhãi câng câng, dễ ghét. Giá nó can tội móc túi thì nó đã ăn đòn rồi. Đàng này nó lại là can phạm chính trị! Bợp nó, nó tru tréo lên phiền lắm. Rồi nó tố cáo với chấp pháp là đàn áp nó, càng rắc rối. Cai ngục Bàng đành chịu lép vế. “Thằng nhãi khốn nạn, mày nghiên cứu nội quy kỹ hơn cả bố mày”!

– Tôi cho anh hai tờ giấy, về phòng làm kiểm điểm.

Thằng nhãi nhún vai rất đểu:

– Không ăn cơm đầy thóc thì thôi, kiểm điểm cái gì?

– Không ăn là tuyệt thực.

– Tôi không tuyệt thực.

– Anh đã không ăn cơm.

– Tôi chỉ… nghỉ ăn thôi. Chiều nay, cơm còn thóc, tôi nghỉ ăn nữa.

– Anh phải làm tự kiểm.

– Tôi không làm.

– Không làm là chống đối đảng và nhà nước.

– Ngon vậy à? Anh xác nhận tôi chống đảng à?

Cai ngục nghiến răng, đập bàn cái rầm:

– Thôi, cút về phòng!

Thằng nhãi cười:

– Về thì về. Khi không gọi lên rồi đuổi về. Bộ thế là… giáo dục can phạm, hả?

Cai ngục đưa nó về phòng, mở cửa đẩy nó vào. Hắn xô cửa thật mạnh để trút nỗi tức giận. Cai ngục đi khỏi, thằng nhãi bi bô:

– Nó thua cháu rồi, các bác các chú ạ! Cháu sẽ chơi nó lên chấp pháp.

Cả phòng khen thằng nhãi:

– Mày bảnh lắm, Năm. Các bác không dám nhúc nhích…

Năm. Thằng nhãi tên là Năm. Trong lý lịch của nó ở nhà tù, nó khai: Trần văn Năm, 15 tuổi, bị bắt ngày

10-6-1976, can tội phản động!

Hôm nó mới vào phòng 5C1, nó đeo cái bị cói, ngơ ngác nhìn mọi người.

Trưởng phòng hỏi nó:

– Em can tội gì?

Thằng Năm phưỡn ngực đáp:

– Chính trị!

Cả phòng cười vang. Năm đỏ mặt. Nó bị chạm tự ái. Nó ngẩng mặt ra dáng nhà chính trị:

– Nhóc con không thể làm phản động được à? Người lớn việc lớn, người bé việc bé.

Khẩu khí của nó khiến mọi người hết dám chế nhạo nó. Cả phòng giúp nó treo bị, lo chỗ nằm cho nó. Người ta biết ngay “thân thế và sự nghiệp phản động” của Trần văn Năm sau đó. Nó kể rất chân thành và giản dị. Trần văn Năm không biết bố mẹ nó là ai. Nó lớn lên ở cô nhi viện, vậy má nó là các bà Phước. Má nó dạy nó học, thương yêu nó và vẽ cho nó một tương lai khi nó rời cô nhi viện. 30-4-75, cách mạng vào Sài Gòn. Người ta giải phóng các viện cô nhi, đuổi các bà Phước, các ni cô và trẻ em ra đường phố. Năm biến thành đứa trẻ lêu bêu. Nó lang thang vỉa hè. Người ta lùa trẻ con vỉa hè đi lao động ở các trại tập trung cải tạo, Năm lẩn trốn. Thế là nó hết nơi nương tựa. Tự nhiên, đời sống đang êm đềm và đang mơ ước bị cuốn xoáy, dạt trôi. Thằng bé mồ côi ngỡ ngàng trong thác lũ cách mạng. Lý lịch của nó trở nên mờ ám. Chế độ mới khu trừ nó. Nó vừa tự mưu sinh vừa né tránh. Chẳng bao giờ nó có thể gặp lại các ma sơ. Năm thèm trở về cô nhi viện. Nơi chốn ấy vô cùng ấm áp. Nhưng nơi chốn ấy đã được cách mạng giải phóng. Năm hết đường về. Ngày kia, một thằng bé đánh giầy lẩn trốn như Năm bảo Năm rằng, mày muốn về cô nhi viện, muốn gặp lại các má nó thì phải “chơi” cách mạng. “Tao cũng muốn có một vỉa hè tự do của tao ngày xưa”, thằng đánh giày nói. “Chắc muốn vậy, tao nên nhận lời mấy ảnh”. Thằng đánh giày dẫn Năm đi tìm mấy anh Phục Quốc. Mấy anh giao công tác rải truyền đơn cho thằng đánh giày và Năm. Đi với thằng “giang hồ vỉa hè”, Năm dạn và học thêm nhiều bài học sáng giá. “Muốn về cô nhi viện phải đánh tan Cộng sản”. Năm chỉ còn một lối đi. Đời sống hiện tại truy lùng nó, nó tìm kiếm đời sống khác. Rồi Năm bị bắt, trong giỏ của nó đầy truyền đơn đả đảo Cộng sản. Thoạt đầu, nó nằm ở nhà tù quận 2. Mấy anh Phục Quốc cưu mang nó, phả vào tâm hồn nó ý chí chiến đấu và lòng tin tưởng. Năm chẳng có gì để sợ hãi. Nó tiến tới vùng vằng, kiêu ngạo. Ít ra, nó đã biết yêu nước và làm lợi ích cho nhiều người.

– Năm! – Một người tù gọi nó.

– Dạ. – Năm thưa.

– Cháu định làm to chuyện thật à?

– Con bà Phước là hết sợ ai, chú ạ! Chiều nay các chú đừng ăn là cháu nổ.

– Đồng ý.

Buổi chiều, cơm vẫn đầy thóc như buổi sáng. Nhãi ranh phản động Năm lãnh đạo cả phòng chê ăn. Nó đặt miệng vào chấn song cửa, hét lớn:

– Báo cáo cán bộ, tôi cần gặp cán bộ chấp pháp Dần!

Nó báo cáo ba lần. Chấp pháp Dần ngồi ở văn phòng đầu dãy nhà khu C1, đi tới.

– Ai báo cáo?

Năm dơ tay:

– Thưa chú, tôi.

– Có việc gì?

– Cơm đầy thóc tôi không nuốt nổi.

– Đã báo cáo quản giáo chưa?

– Thưa chú, buổi sáng đã báo cáo. Quản giáo Bàng gọi tôi ra làm việc, chửi tôi hỗn láo, bắt tôi làm kiểm điểm.

– Đưa cơm xem nào!

Năm đưa ca cơm của nó qua chấn song cửa. Chấp pháp Dần bốc nhúm cơm xem xét.

– Đưa ca cơm khác.

Chấp pháp Dần kiểm soát năm ca cơm rồi bảo can phạm đổ hết cơm vào thùng nhựa lớn. Ông cho gọi quản giáo Bàng, trưởng khu C1.

– Đồng chí cho người ta ăn thế này sao?

Quản giáo Bàng nói:

– Trách nhiệm của quản lý cấp dưỡng không phải của tôi.

– Đồng chí chưa báo cáo ban cấp dưỡng.

– Tôi chưa nắm vấn đề.

– Can phạm Năm đã báo cáo đồng chí buổi sáng rồi mà.

Quản giáo Bàng ngậm miệng. Hắn nhìn nhãi ranh phản động bằng cặp mắt thù hận.

– Tôi yêu cầu đồng chí can thiệp với cấp dưỡng đổi thực phẩm thay thế khẩn trương.

Thực phẩm thay thế: Một thùng nước sôi và mỗi can phạm một gói mì ăn tạm. Hôm sau, cơm hết thóc. Cán bộ cấp dưỡng đến từng phòng hỏi xem cơm còn thóc không. Quản giáo Bàng bị thuyên chuyển. Cai ngục gian ác sang bên Chí Hòa. Chấp pháp Dần biểu diễn quyền uy và đóng kịch nhân đạo của đảng. Nhãi ranh phản động tuyên bố một câu hay ho: “Mình dùng việt Cộng đánh việt Cộng các chú, các bác ạ”! Phòng giam yêu mến Năm lắm nhưng sợ sự bạo mồm bạo miệng của Năm nhiều. Giám thị trại ghét Năm cay đắng. Chấp pháp Dần bênh nó. Năm lợi dụng chấp pháp để coi thường cai ngục. Chấp pháp Dần muốn tha Năm. Ông ta đã nghiên cứu hồ sơ của Năm. Khổ nỗi, tha Năm, chẳng biết Năm sẽ về đâu. Nó tứ cố vô thân. Đưa nó đi cải tạo với bọn trẻ vỉa hè là hợp nhưng Năm lại thuộc thành phần can phạm chính trị. Hội đồng chấp pháp họp phiên chót đưa ra một quyết định rất phù hợp đường lối của đảng: Lý lịch Trần văn Năm mù mờ, can phạm do Thiên chúa giáo đào tạo, y theo tổ chức Phục Quốc phá hoại đảng ta, đợi khi đủ 18 tuổi, cho đi cải tạo với các can phạm chính trị khác! Chấp pháp Dần không dám có ý kiến nữa.

Nhãi ranh phản động Trần văn Năm không hề biết đảng Cộng sản việt nam đánh giá nó là người của Vatican! Và đảng Cộng sản việt nam thì quên khuấy giáo điều của sư tổ Lénine: “Kéo dài thời gian cải tạo là hun đúc lòng căm thù của tù nhân”. Năm càng lớn càng thù hận Cộng sản. Một hôm, người tù chính trị lớn tuổi ngồi tâm sự với Năm chuyện Phục Quốc.

– Em biết chị Nguyễn thị Lan không?

– Cháu không biết.

– Có nghe nói về chị ấy không?

– Dạ, không ạ!

– Chị ấy là học sinh trường Lê văn Duyệt, hoạt động Phục Quốc rất hăng.

– Chị ấy bao nhiêu tuổi?

– Mười tám.

– Hơn cháu ba tuổi.

– Cộng sản bắt chị ấy, bịt mắt chị ấy đem ra bãi bắn xử tử.

– Nó giết chị Lan?

– Ừ. Trước khi chết, chị Lan hô to khẩu hiệu “Việt Nam muôn năm”!

Trần văn Năm run rẩy toàn thân. Nó nắm chặt hai bàn tay lại, rên rỉ:

– Ước gì cháu được là chị Lan…

Người tù vỗ vai Năm:

– Em phải sống để trả thù cho chị Lan chứ?

Năm gật đầu lia lịa:

– Vâng ạ, vâng ạ…

Người tù đã bịa chuyện người nữ phục quốc lên đoạn đầu đài. Ông ta không dè phản ứng của Năm mãnh liệt thế. Từ đó, người tù coi Năm như con, dạy dỗ Năm, chỉ dẫn Năm những điều cần thiết trên bước đường tù đày. Rồi, như mọi tù nhân khác, Năm bị chuyển phòng dài dài. Nó ở đủ bốn khu đề lao Gia Định. Nó đã gặp Đặng Hữu Trí, Lê văn Nam, Nguyễn Bảo Châu, Ngô Tỵ, Đặng Cơ Bản… Nó phục Đặng Hữu Trí sát đất. Đặng Hữu Trí kể nó nghe chuyện Đinh Vượng, Hoàng Sơn Trường… Năm thấy nó chưa đi đến đâu cả. Nó cần ghê gớm hơn thì mới trả thù cho chị phục quốc Nguyễn thị Lan được. Nó, Trần văn Năm, thằng bé mồ côi bị tống ra vỉa hè, bị truy lùng đến nỗi chạy lạc đường vào lịch sử. Nó vô tình làm lịch sử rồi nhiệt tình làm lịch sử. Không hiểu nên đặt nó là biểu tượng của cái gì. Nhưng ở khúc quanh của lịch sử dân tộc, một thằng bé vỉa hè đòi đi làm lại đất nước thì cũng đáng để cho những nhà ái quốc lưu vong, những con chuột ghẻ còn cố giành nhau gặm nhấm cái bức dư đồ đã rách bươm xấu hổ. Và nếu mắt thế giới đã sáng thêm một chút, họ sẽ tự hỏi lương tâm họ: Đến nỗi ấy cơ à, một thằng bé mồ côi vất vưởng cũng phải chống đối Cộng sản đòi quyền sống cơ à? Bây giờ thì Năm là một biểu tượng tuyệt diệu: Biểu tượng của kẻ khố rách áo ôm chống chủ nghĩa vô sản, chủ nghĩa của kẻ khố rách áo ôm! Nghĩ cũng hay, thằng bé xuất viện mồ côi đi làm lịch sử ngay trên những vỉa hè oan nghiệt, đắng cay của quê hương nó. Còn những ông đại đức, những ông linh mục thì lại di tản, vượt biên lập chùa, lập nhà thờ để cầu nguyện vẩn vơ, để phô trương thanh thế, để lấy vợ đẻ con và để buôn bán.

Trần văn Năm gần gũi Chúa Giêxu. Biết đâu chừng nó sẽ trở thành một Đấng Cứu Thế mới của dân tộc nó và của nhân loại. Hiện thời nó đang ước ao. Người công an chấp pháp tên Dần không hiểu nổi nó. Có lẽ, đảng Cộng sản đã hiểu nó. Mỗi năm, người ta đối xử với nó một khác. Mỗi năm, người ta nhìn nó một khác. Nhà tù là cơ hội sáng giá đối với Trần văn Năm. Dần dần, nó thấm thía đời sống. Nó biết kính trọng và biết khinh bỉ. Nó biết yêu thương và biết hận thù. Ba năm lưu lạc đề lao Gia Định, Năm đổi lốt niên thiếu. Nó cơ hồ con cua lột. Cái vỏ nhũn mềm đã rắn chắc và đôi càng của nó nguy hiểm. Một thằng nhóc mồ côi, thông minh, ngoan ngoãn, được một làn gió lạ thổi vào tâm hồn, được bao nhiêu tù nhân người lớn chỉ dẫn, gặp bao nhiêu sư tử lãng mạn, tất nhiên, nó đã là sư tử ra ràng đúng dáng dấp sư tử.

Một buổi sáng tháng 11 năm 1978, chấp pháp của sở công an thành phố gọi Trần văn Năm làm việc.

– Anh có biết anh can tội gì không?

– Biết chứ.

– Tội gì?

– Phục quốc.

– Anh mà cũng đòi phục quốc? Cái mặt anh cũng phục quốc à?

– Cái mặt tôi không phục quốc, mặt nào xứng đáng phục quốc? Dĩ vãng tôi thơm tho, hiện tại tôi thơm tho, tôi sẽ làm được tương lai thơm tho cho mọi người.

Chấp pháp sững sờ. “Nó không còn là thằng bé mồ côi rắc truyền đơn nhảm nhí nữa”. Người ta muốn gặp nó năm 18 tuổi xem thái độ của nó ra sao để tha nó về. Về rồi, nó sẽ vào thanh niên xung phong hay đi bộ đội. Bướng bỉnh nữa thì đi nông trường, công trường. Thế này là hỏng. Tư tưởng nó đã diễn biến không đúng ý muốn chính sách cải tạo.

– Anh muốn ở tù mãi mãi à? Ba năm chưa thấm à?

– Tôi còn muốn chết cho phục quốc nữa.

– Anh sẽ được chết.

– Tôi sợ gì chết.

– Anh sắp chết.

– Tôi mong.

– Nhưng chết từ từ, chết dần chết mòn.

– Sống mòn như các ông không hấp dẫn bằng chết mòn đâu!

Người ta kết thúc vụ Trần văn Năm. Hồ sơ của nó khép lại và thay bìa xanh bằng bìa đỏ. Chấp pháp của sở ghi hàng chữ lớn trên bìa: “Cải tạo thêm 12 năm”. Mỗi mốc của tù nhân là 3 năm. Trần văn Năm sẽ còn phải đi qua 4 mốc trên đường tù gian nan. Nếu nó thoát nỗi chết mòn sau khi qua 4 mốc thử thách, nó sẽ trở về năm 30 tuổi. Và lịch sử phải thay đổi với những người như Trần văn Năm.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Chương 9

 Chẩn

Tháng ba bà già chết rét. Còn tháng hai thì sao? Ca dao tục ngữ không nói đến nhưng tù trại Khe Tối đã nếm trải. Từng dãy lán làm bằng dang, nứa, màu nâu xám, xỉn lại, như co ro tê cứng trong cái lạnh tháng Hai. Sờ đâu cũng thấy lạnh. Đụng đâu cũng thấy lạnh. Bao nhiêu áo quần phải mặc hết lên người cũng không đủ ấm. Chỉ một số ít có áo len hoặc áo mặc ấm, còn đa số giống như những cái giá móc áo quần di động. Những cái khăn cũ, áo lót, thì dùng để trùm đầu. Da tím bầm và mốc thếch. Nước mắt, nước mũi chảy thành dòng không ngưng. Hai má tóp lại, răng nhô ra, đôi mắt trũng sâu hoắm. Tối tăm và đờ đẫn. Toàn trại là những hình nộm halloween sống động. Vô cùng sống động! Ban đêm không thể ngủ, nhưng bụng thì đói, cồn cào xay xát. Trong lúc nầy thì “giá cả” một vài bi thuốc lào vô cùng cao. Có người nghiện, phải hy sinh gô coóng, hoặc nhín lại thức ăn để đổi thuốc. Càng đói, con người càng đâm liều với cơn đói. Vì đàng nào cũng đói rồi nên chạy tìm chút lãng quên khác trong hơi thuốc khi ngồi bên đống lửa. Dù lệnh của trại cấm tù đốt lửa, chỉ trừ hai ngọn đèn treo ở hai đầu lán, nhưng không còn cách nào khác để chống lạnh, chống đêm dài, chống đau nhức vì da các kẻ tay, kẻ chân đều bị nứt nẻ, chỉ còn có lửa! Đêm tăm tối, rừng núi thâm u với những âm thanh bí hiểm, năm bảy người ngồi co cụm vây quanh từng đống lửa hồng. Tiếng than nổ tí tách, thỉnh thoảng bắn ra những đóm đỏ cháy vèo như những ánh ma trơi. Quay mặt vào đống lửa thì lưng lạnh, quay lưng vào đống lửa thì mặt lạnh, nên tù phải xoay qua trở lại, nhưng làm cách nào thì đôi cánh tay áo cũng ướt vì phải quẹt nước mũi đang chảy liên tục mà bàn tay không còn khả năng để lau chùi. Mười ngón tay tê cứng không còn cảm giác cứ đưa sát gần lửa cho đến khi cảm thấy nóng, giựt bắn người trở lại, thì đã có mùi khét của thịt cháy và bỏng.

Toàn trại như một đạo âm binh, đêm đêm xuất hiện giữa rừng hoang với ánh lửa bập bùng, ma quái.

Đói và lạnh. Cái lạnh làm thêm đói và cái đói làm thêm lạnh. Đói lạnh đi liền với nhau, khắn khít với nhau. Đôi uyên ương nầy là nỗi kinh hoàng của tù. Đói lạnh đã làm tê điếng hình hài. Đói lạnh đã làm rã rời trí óc. Đói lạnh đã làm con người mụ mị. Khù khờ. Ngu ngơ. Đôi mắt không còn thần sắc. Mờ và đục. Bước chân xiêu vẹo. Cái lạnh trong văn chương, với mền bông, áo bông. Cái lạnh đẹp. Cái lạnh nên thơ. Cái lạnh để đứng nhìnhoa đào năm trước còn cười gió đông [1] là cái lạnh đài các, cao sang. Nhưng cái lạnh của tù đói, xương xẩu, da nứt nẻ, mốc thếch, áo quần không đủ mặc, là cái lạnh bị hành hạ thời nô lệ thời Trung cổ. Người nô lệ, dù sinh mạng nằm trong tay chủ, nhưng chủ bỏ tiền ra mua về để làm việc thì cũng phải cho cái ăn, cái mặc. Nhưng với tù đói thời đại Xã hội Chủ nghĩa thì khác. Họ không tốn tiền để mua nên không cần cho ăn, không cần cho mặc và phải lao động khổ sai cho đến chết. Còn sống, còn khổ sai. Chết đi thì tù khác lấy chăn chiếu của tù chết quấn lại, khiêng ra bìa rừng ngoài trại, đào huyệt chôn là xong.

Chẩn đói. Chẩn lao động quanh khu nhà bếp của khung. Chẩn vừa làm, vừa theo dõi. Bột mì nhồi nước, đập lại thành bánh và luộc. Những cái bánh luộc có màu trắng đục, đang bốc khói làm Chẩn thèm thuồng. Cứ tưởng tượng nhai được miếng bánh, vừa dai vừa bùi! Chỉ cục bột làm thành bánh, đơn giản như vậy thôi cũng đã thấy ngon tuyệt vời. Còn nước luộc bánh hơi sánh lại, bỏ thêm tí muối vào làm cháo… Chẩn biết nơi nào ông bộ đội anh nuôi cất giữ bánh để sáng mai phát cho các ông cai tù.

Buổi chiều sau xuất sắn ăn tối, Chẩn đi dạo ngoài sân. Chẩn đếm từng cây trụ hàng rào. Ghi dấu trong đầu nơi nào hàng rào có khe hở, có thể chui lọt qua được. Đêm không trăng sao như đêm nay sẽ thuận tiện cho việc chui rào, mò đến khu nhà bếp bộ chỉ huy. Ông chín ngón và bộ chỉ huy biết núi rừng ở đây tù không thể trốn thoát, nên hai lớp hàng rào nứa là ngăn trở khó vượt qua đối với tù thường, nhưng không khó lắm đối với tù quyết tâm trốn trại. Tù cũng biết như vậy. Chẩn có kế hoạch trong đầu và quyết thực hiện một mình. Vào khuya, trời tối đen như mực nhưng Chẩn đã định hướng nên tìm được chỗ bò ra khỏi trại. Men theo hàng rào một đoạn, rồi rẽ xuống con mương và bò vào hàng rào nhà bếp khung. Đêm thật yên. Chỉ có tiếng côn trùng và nhịp tim đập của Chẩn. Hai cánh cửa tre được cái khóa dây loại khóa xe đạp khóa lại. Chẩn kéo cánh cửa ra và nhờ cái nền nhà cao hơn bên ngoài tạo một cái khe hở vừa đủ để Chẩn nằm chui vào. Chẩn mò mẫm thật cẩn thận. Đây rồi cái chảo lớn đựng thức ăn, vì không có tủ. Chẩn phân vân, nên lấy bao nhiêu cái. Lấy nhiều thì chỉ một lần vì bị lộ, không thể tiếp tục lần khác. Đặt kế hoạch lâu dài, Chẩn quyết định chỉ lấy năm cái. Với số lượng ít như vậy thì hy vọng ông bộ đội anh nuôi không phát hiện, vì ít ra khi làm bánh mấy ông anh nuôi cũng phải làm dư ra một số để phòng hờ. Chẩn ôm mớ bánh bò trở vô trại an toàn. Chẩn kín đáo chia cho bọn Nghiêm ba cái, dặn phải tuyệt đối bí mật và ăn tất cả trong đêm, không để lại dấu vết.

Hai đêm sau Chẩn quyết định thực hiện chuyến thứ hai vì sợ mùa trăng non lại đến. Theo lộ trình cũ, Chẩn vào trong nhà bếp khung không khó. Lần nầy không phải là bánh mà là một chảo cơm còn ấm. Phải khó khăn Chẩn mới xới cơm sang cái túi nylon được. Chẩn đậy nắp son lại như cũ và mò trở ra cửa. Hai cánh cửa được đẩy ra và đôi chân Chẩn chui ra trước. Chẩn nằm ngửa, để bọc cơm trên bụng oằn người chui ra. Nửa thân người Chẩn vừa lọt được ra khỏi cửa thì ánh đèn pin chói sáng. Một chiếc dép râu đạp đè mạnh lên bụng Chẩn. Chẩn như ngộp thở. Kinh hoàng. Tiếng một ông bộ đội vang lên:

– Đéo mẹ, chúng không nói thẳng với ông nhưng tớ biết chúng nghi ông ăn vụng bánh. Bây giờ thì đã rõ rồi.

Ông gằn giọng:

– Con tới số rồi con ạ.

Chẩn kẹt giữa cửa, không thể nào tránh được những cú đá, những cú đạp trên nửa thân người phía dưới, chỉ cố xoay người nằm sấp xuống để chống đỡ trận đòn thù. Rồi lịm đi.

Chẩn tỉnh dậy khi thấy mấy ánh đèn pin chiếu thẳng vào mặt. Nhắm mắt lại trong giây lát, Chẩn biết tay chân mình đã bị trói chặt. Hơi đất ướt đập vào mũi. Miệng môi Chẩn đầy bùn đất và có vị mặn của máu. Chẩn không thể cựa quậy. Chẩn biết mình đã kiệt sức nhanh chóng.

– Nó tỉnh rồi, phải hỏi cho ra thôi.

Tiếng một ông bộ đội nào đó thật mơ hồ, dội đến.

Chẩn được kéo ngồi dậy, có thể họ đã dội nước cho Chẩn tỉnh dậy. Tiếng một ông bộ đội khác:

– Ai là đồng bọn ăn trộm với mày?

Quai hàm Chẩn cứng lại. Đầu óc tê dại. Chẩn không thể trả lời. Mấy ông bộ đội đổ về mỗi lúc một đông hơn. Một vòng người đằng đằng sát khí vây quanh Chẩn. Chẩn là con mồi cùng đường, đầy thương tích, đang giãy giụa giữa một bầy chó săn. Những móng vuốt, những răng chỉa nhọn đang diệu võ dương oai, sẵn sàng nuốt sống.

Chẩn lại ngất đi dưới những ngọn đòn thù.

Không biết bao lâu Chẩn mới tỉnh lại. Chẩn ngạc nhiên trước khả năng chịu đựng của cơ thể mình. Cha mẹ sinh ra, nuôi nấng, dưỡng dục, chỉ mong cho cơ thể con khỏe mạnh, nhưng trong lúc nầy tỉnh dậy càng sớm càng chịu thêm những ngọn đòn thù. Phải chi được hôn mê. Hôn mê và chẳng bao giờ tỉnh lại!

Con người khi đối diện với cái chết thường nghĩ tới gia đình. Chẩn cũng thế. Cái đầu tiên, Chẩn nghĩ đến mẹ. Mẹ đã một nắng ba sương, chứ không phải một nắng hai sương như ca dao, tục ngữ, đã mô tả về sự vất vả của một đời người bất hạnh. Mẹ Chẩn cũng như hàng trăm bà mẹ quê, tần tảo, nghèo nàn, tại miền Trung, cố nuôi con khôn lớn. Mẹ đã ra đồng từ tinh mơ, lúc sương sớm chưa kịp bủa vây. Những ruộng lúa, những vườn rau, công việc tất bật mẹ một mình gánh chịu. Bầy con mẹ, những bốn đứa đều còn thơ dại. Chồng bị giết chết trong một đêm hãi hùng năm 1965, khi mấy ổng tràn về! Từ đó mẹ yên lặng. Câm nín. Mẹ nhẫn nhục. Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân! [2] Sương chiền tản mạn, khói lam chiều cô đơn, u uất, mẹ cũng miệt mài với công việc. Gắng chút nữa. Gắng thêm chút nữa trời đang mát dễ làm! Cứ như thế, mẹ tự nhủ. Và ngày tháng trôi đi. Khi sương đêm buông xuống, mẹ đành ngưng việc để trở về nhà. Lúc đó mẹ lại chăm sóc cho từng đứa con. Cho Chẩn.

Chẩn nhận ra quang cảnh chung quanh đã khác. Ông chín ngón nét mặt lạnh lùng, đang nhìn Chẩn và hai ba ông bộ đội nữa. Họ đang quan sát Chẩn. Ông chín ngón sai mở dây trói chân cho Chẩn và đưa Chẩn đến văn phòng làm việc. Chẩn khập khểnh từng bước. Ông chín ngón và ông quản giáo Hương ngồi làm việc với mấy tờ giấy để trên bàn và cây đèn dầu có cái thông phong thật lớn. Chẩn được chỉ định ngồi trên ghế để dựa vào vách. Hai ông vệ binh đứng hai bên cửa ra vào.

Ông chín ngón đặt vấn đề:

– Anh thấy đấy, nếu không có sự hiện diện của chúng tôi kịp lúc thì anh đã chết rồi. Anh chết vì tội trạng anh đã rõ nhưng đó không phải là mục đích của cách mạng. Cách mạng bao giờ cũng khoan hồng và tha thứ, tạo điều kiện tốt để các anh làm lại cuộc đời. Bây giờ anh thật thà khai báo vẫn còn kịp. Có những ai trong toán của anh đã âm mưu đầu độc chúng tôi?

Chẩn bất ngờ trước câu hỏi. Chẩn nghĩ, có thể sau mấy lần ngất đi tỉnh lại nên nghe và hiểu không đúng với ý nghĩa câu hỏi của ông chín ngón. Chẩn yên lặng và vẫn gục đầu xuống. Ông chín ngón ôn tồn lặp lại câu hỏi. Thật kiên nhẫn. Lúc nầy Chẩn cố gắng ngẩng đầu lên. Thều thào:

– Tôi đói. Tôi ăn cắp thức ăn. Chỉ có vậy. Tôi hoàn toàn không biết gì về việc đầu độc cả!

Chẩn gục đầu trở xuống.

Ông chín ngón chậm rãi tiếp:

– Tôi biết rõ âm mưu đầu độc chúng tôi của các anh, nhưng các anh chưa kịp thực hiện thì bị phát giác. Cho nên các anh giả vờ đánh lạc hướng bằng cách ăn cắp thực phẩm, chứ chút thực phẩm có đáng gì để trị tội anh?

Rồi ông tiếp:

– Các anh có một âm mưu lớn là đầu độc toàn thể cán bộ, cướp vũ khí và trốn trại. Anh ăn năn, hối cải, nhận tội vẫn còn kịp.

Chẩn biết đây là đòn độc. Ông chín ngón dùng ngón đòn nầy để giết Chẩn và chạy tội cho chính ông. Vì ông đã làm ngơ để bộ đội hành hạ Chẩn đến thân tàn, ma dại. Trung đoàn có đọc bản báo cáo thì chắc chắn khen ông chín ngón đã kiềm hãm được nóng giận, không rút súng bắn vào Chẩn trước tội lỗi tày trời của Chẩn. Ông chín ngón sẽ được khen. Vừa mẫn cán trong công tác, vừa chấp hành chính sách Đảng!

Ông quản giáo Hương đọc biên bản và bảo Chẩn ký vào. Chẩn không ký và lặp lại:

– Tôi chỉ ăn cắp vì đói. Chỉ có thế thôi.

Yên lặng kéo dài. Sau cùng ông chín ngón bảo ông quản giáo Hương viết thêm dòng cuối đối tượng vẫn ngoan cố không chấp nhận tội trạng dù đã được giải thích rõ ràng về sự khoan hồng của đường lối chính sách! Sau đó ông chín ngón nói lời cuối với Chẩn:

– Anh đừng lợi dụng tính nhân đạo của cách mạng mà ngoan cố. Không phải cách mạng không có biện pháp đâu.

Ông chín ngón đẩy ghế đứng lên. Ông ném một cái nhìn cho ông quản giáo Hương, rồi bước ra ngoài.

Đêm lạnh. Trời tối đen. Ông chín ngón châm điếu thuốc và rít một hơi dài. Ông vẫn nhớ tiếc ổ trứng gà của ông nhưng cơn giận của ông ít ra cũng giảm đi nhiều.

Đêm tăm tối, u uất. Bên trong căn phòng với ánh đèn mờ nhạt, vang lên từng tiếng thình thịch. Liên tiếp. Nhưng không nghe một tiếng người.

Buổi sáng ông quản giáo ra lệnh cho Nghiêm và Lân thu góp đồ cá nhân của Chẩn, đi theo ông đem ra cổng, vì Chẩn thuộc toán Nghiêm.

Nghiêm và Lân làm một cái cáng để khiêng Chẩn lên trung đoàn. Khi bước vào căn phòng, thấy Chẩn như một con vật đã chết, nhưng tay chân vẫn còn bị trói chặt. Nghiêm gọi:

– Chẩn…

– …..

– Chẩn. Nghiêm và Lân đây. Tụi tao sẽ khiêng mầy lên trung đoàn.

Như một đứa con liệt giường chợt nghe tiếng mẹ. Khuôn mặt dị dạng của Chẩn bắt đầu cử động. Mắt trái sưng húp. Tím bầm, không thấy được bên trong. Mắt phải đỏ màu máu. Môi trên sưng cao làm cái miệng bị méo đi. Từng mảng máu khô trên cằm. Trên râu. Vung vải trên áo. Cái quần ướt sũng và bốc mùi.

Nghiêm xin phép ông cán bộ để thay cho Chẩn cái quần khác. Ông cán bộ bỏ ra ngoài. Phải khó khăn và nhẹ tay Lân và Nghiêm mới làm được.

– Mày có nhắn gì lại cho gia đình thì suy nghĩ kỹ đi. Dọc đường đi đến trung đoàn mày cho tụi tao biết. Đây là bổn phận của những đứa còn sống sót trở về.

Dẫu đói lạnh, dẫu ốm đau, nhưng hàng ngày sáng sáng, chiều chiều cũng bị gậy ra vào cổng trại lao động với nhau. Sự thân quen trên từng lối đi về giờ đây sẽ là kỷ niệm. Ba chiếc bánh Chẩn trao cho bọn Nghiêm là sự tiếp máu cho nhau. Nhưng cái giá Chẩn phải trả một mình là mạng sống. Tình chiến hữu. Tình anh em. Tình tù. Bao nhiêu thứ tình xoáy quyện vào nhau, ràng buộc lấy nhau. Một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ! Giờ một con đã ngã ngựa, nếu tìm được chút cỏ biết chia sớt cùng ai? Những mẩu chuyện trong ngày tháng tù chung lại hiện về. Chẩn còn độc thân vì bận chuyện hành quân khắp các vùng chiến thuật nên chưa kịp lấy vợ cho mẹ có cháu bồng, dù đó là ước ao của mẹ. Mẹ như cục than hồng luôn luôn làm ấm lòng và thêm nghị lực cho Chẩn trong những lúc khó khăn, cùng khốn.

Nghiêm khiêng phía sau nên nhìn Chẩn đầy xúc động. Mái tóc đen, tuổi chưa tới ba mươi của Chẩn, qua một đêm chịu đựng tra hỏi, hành hạ, không bạc trắng như mái tóc của Ngủ Viên [3] sau một đêm tìm kế thoát thân, nhưng cũng trở thành mái tóc bạc. Bánh xe thời gian chợt quay cuồng vội trong một đêm đen trước tuổi thanh niên của Chẩn.

Đến trung đoàn, khi chia tay Chẩn mới khò khè:

– Đừng kể chuyện này cho mẹ tao, vì sợ mẹ không chịu đựng nổi. Chỉ nói với mẹ là tao luôn luôn nghĩ đến mẹ. Mẹ là điểm tựa của tao trong giờ nguy khốn. Là hơi thở. Là từng nhịp tim của tao.

Chẩn ngưng lại giây lát. Rồi tiếp:

– Vĩnh biệt.

Khuôn mặt chai sạn và lì lợm của Lân chợt run lên:

– ĐM. Giá như tao khóc được!

[1] Đào hoa y cựu tiếu đông phong, thơ Thôi Hiệu, Tản Đà dịch

[2] Chinh phụ ngâm

[3] Ngủ Tử Tư, một nhân vật trong Đông Châu Liệt Quốc

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Bài 7

NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA THIỆN CHIẾN

LTS: Nhà văn Phan Nhật Nam, sau khi thoát khởi những ngày tù ngục đen tối ở quê nhà, sau những đón tiếp ồn ào náo nhiệt của đồng đội, thân hữu và độc giả khắp nơi …. Anh đã bắt đầu thấm “đòn … Tự Do”. Xuất hiện trong một buổi hội thảo chính trị, sinh hoạt nội bộ của Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt tại Houston, Phan Nhật Nam đọc bài thuyết trình một đề tài do anh soạn từ đồng thuận của Ban Chấp Hành, Hội Đồng Tư Vấn gồm các niên trưởng của anh trong vùng Houston.

Do tính nhậy cảm của một số cựu sinh viên sĩ quan, những người đi từ 1975, “ở lâu”nơi đất Mỹ, không đồng ý với cách” ẩn dụ tượng trưng”của phần dẫn nhập bài thuyết trình, cũng như một vài ý kiến “giải thích”về thân bài, đã chỉ trích dẫn “vài câu này, nọ- Không nằm trong văn bản”mà không lý hội gì đến nội dung toàn bài văn (SỨ MẠNG NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM, Từ trang 78-150, MĐGL), thêm tiếp tay “đánh hôi” của một vài tờ báo quảng cáo thương mại địa phương – Việc đả kích nhà văn Phan Nhật Nam khởi sự và lan khắp những nơi có đông Người Việt cư ngụ, chủ yếu là Houston, TX và Quận Cam, Cali.

Cách đây không lâu, trong một cuộc phỏng vấn với tờ New York Times, mà trong đó người ký giả phong vấn Phan Nhật Nam nêu lên một điểm đáng chú ý: “Ông đã sống sót 14 năm trong chiến tranh và kế đó là 14 năm trong ngục tù Cộng Sản. Liệu ông có sống sót được trong đời sống xã hội này hay không?”. Không hiểu khi nêu nghi vấn này, người ký giả kia muốn nói tới xã hội Hoa Kỳ hay cộng đồng Việt Nam trong xã hội Hoa Kỳ?!.Người Việt trích đăng một bài về những dư luận xoay quanh Phan Nhật Nam. Bài của Lính Chiến, một chiến hữu cùng xuất thân Trường Võ Bị, chung đơn vị Nhảy Dù, cũng một lần tù ngục Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hoá với anh. Bài viết của một nhà văn có “tăm tiếng” Kỳ Văn Nguyên đã mở đầu bằng những lời tuyên bố: “thương hại cho vô vàn văn, thi sĩ vì cơm áo và đời sống bản thân mà phải làm văn nô cho “Cộng Sản,” và ông lại “thực sự khinh miệt những kẻ nào” đã một thời đề cao chính nghĩa quốc quốc gia, ca tụng người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa” trong “nhiều” vụ chống lại cộng sản xâm lăng miền Bắc”.

Sau khi trích dẫn một cách vắn tắt để khỏi làm mất thì giờ của quý vị độc giả và tiết kiệm giấy mực tòa báo, Lính Chiến tôi lại còn cẩn thận gạch dưới những hàng chữ: “thương hại cho (cho đến đoạn) … văn nô cộng sản” và “khinh miệt những kẻ (cho đến đoạn) … chống lại bọn xâm lăng Miền Bắc” và phần nội dung nghiêm khắc lên án PNNam là đã bị cải tạo tư tưởng triệt để đến nỗi bây giờ đang ở đất tự do vẫn còn sợ CS. Sau đó để biểu lộ sự phẫn nộ tột cùng với “kẻ phản bội (PNN)” của tác giả bài viết, Lính Chiến xin kể lại nhóm chữ “ông ta đã bán rẻ linh hồn cho quỷ sứ, bản chất ông rất xấu xa, phản phúc, nham hiểm, đểu cáng”. Đồng thời tôi cũng cần lập lại những “lời của Kỳ Văn Nguyên nhắn các cựu tù nhân chính trị” rằng: “Từ ngày các anh thua trận phải đi học tập cải tạo, dưới sự giáo dục của Đảng và Nhà Nước, các anh phải đấu tranh liên tục với chính bản thân, phải tự lột xác, để từ một kẻ phản quốc có nợ máu với nhân dân, trở thành một người lao động khổ sai mới được hưởng sự khoan hồng của Đảng.” Hoặc là … “Các anh … vẫn cứ phải tuân theo những lời Đảng chỉ dạy. Dư luận thế giới đã bỏ quên các anh rồi, không còn ai biết đến các anh là người chiến sĩ Cộng Hòa nữa đâu mà ham!”. Tôi “có thể hiểu và có quyền hiểu rằng”, KVN ấy chỉ mượn cớ chỉ trích PNN để “thành khẩn” làm cái điều mà bọn Cộng Sản Việt Nam “thực sự muốn làm”, nghĩa là muốn lợi dụng sự việc KVN sẵn sàng nổi nóng và chửi rủa ngay không tiếc lời (đối với PNN), để chửi thẳng vào mặt những người Chiến Binh Cộng Hòa chúng tôi, nhất là đoạn văn ông ta dùng để cáo buộc PNN: “Ông ta dùng một thủ thuật rất ư là xảo quyệt” khi “mập mờ đánh lận con đen”, dùng khổ nhục kế mà chửi tập thể Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: “là một tập thể quân đội đã bị thua trận, thân làm kẻ chiến bại, mãi đến tận ngày hôm nay vẫn là kẻ thua trong trận chiến 1975. Không cần ai vinh danh chúng tôi cả, khi chúng tôi chưa làm tròn nhiệm vụ …”. Tại sao lại không vinh danh được những vị tướng đã LINH THIÊNG VONG THÂN TUẤN QUỐC, những sĩ quan anh hùng nêu cao khí tiết sĩ phu ngay tại pháp trường, trước mũi súng tiểu đội hành quyết? Có phải vì họ “đã thua trận” và “vẫn còn thua trận” theo cách hiểu “ma giáo để sỉ nhục quân đội Việt Nam Cộng Hòa” của ông “cựu nhà văn quân đội KVN” nói trên? Chẳng lẽ bao chiến công anh hùng, bao tấm gương oanh liệt của một thời nào chúng ta cùng hiên ngang đứng dưới Ngọn Cờ Vàng, hãnh diện làm những người trai thời chiến xông pha đạn bom bảo vệ tổ quốc, đều phải bị nhận chìm không bao giờ được nhắc nhở đến, vì chúng ta đã thất bại trong một trận đánh không công bằng? Rồi ông ta (KVN) sẽ nói sao với con cái chúng ta khi chúng hỏi về sự kiện 1975, sự kiện cả một quân đội kéo nhau vào các trại tập trung để bị đọa đầy, bị lăng nhục? Liệu ông có lại lăng nhục những trang thanh niên đã liều thân cứu nước nhưng đành bó tay buông giáo chỉ vì trời chẳng chiều người nên tài bất thắng thời?…

Thành thật xin quý vị độc giả và tác giả Kỳ Văn Nguyên thứ lỗi khi đã không nói trước rằng, tất cả đoạn bài viết trên đây chỉ là “một giả dụ,” và là “một giả dụ cố làm như thật” (như cách KVN hạ nhục PNN) để ông Nguyên may ra có thể cảm nhận và hiểu thấu nỗi phẫn nộ của người bị nhục mạ một cách vô lý là PNN, lẫn phần bực dọc của thành phần độc giả chúng tôi vì phải thưởng thức lối văn nghị luận chỉ dẫn dụ “một mặt, một khía cạnh”. Thật độc hại cho người “bị phê bình, PNN”, khi “người phê bình, KVN” đành đoạn làm lơ, cố tình quên rất nhiều điều khác trong toàn bộ tác phẩm. Và những ngôn từ nhục mạ được in nghiêng trong ngoặc kép ở đoạn trên cũng là “những gì của chính ông Nguyên”, đã được chúng tôi “dùng lại” để thử xem tác giả lúc bình tâm có nhận ra đó là chữ nghĩa của mình không: “Một người lớn tuổi, có giáo dục, lớn chức trong quân đội, đã là nhà văn tăm tiếng?!”. Khi xỉ nhục người khác, tác giả tất nhiên không cảm thấy bị xúc phạm như khi chính mình phải hứng chịu những lời lẽ đó. Như tổng thể một bức tranh nói lên một chủ đề hay gợi lên một cảm tưởng cho người thưởng thức, cho nhà phê bình nghệ thuật, phải được ngắm nhìn toàn diện, không thể đem cắt một phân vuông có màu đen để hô hoán lên rằng họa sĩ chỉ biết bôi đen cuộc đời. Cũng thế, nói về một nhà văn, ngay cả chỉ một tác phẩm, người nhận định cũng cần phải cẩn trọng đích thân nghe, đọc, nghiên cứu tường tận trước khi đặt bút phê phán, nhất là lại phê phán một cách quyết liệt bằng sự lăng mạ với những chữ nghĩa thô bạo nhất mà một người có học, có lương tri khó có thể nghĩ ra, viết nên. Tác giả Kỳ Văn Nguyên đã, “xây dựng nhận định của mình căn cứ trên một bài nhận định của một phóng viên nào đó về một bài thuyết trình của Phan Nhật Nam”, trong đó phóng viên kia đã “viết rõ ràng” rằng: “Phan Nhật Nam đã lệch hướng” vì theo ông phóng viên kia nhận định thì bài nói chuyện của ông Nam đã có những nội dung như thế này như thế khác, kết thúc bằng những chữ v .. v .. Những điều trình bày của PNNam đã được báo Xây Dựng, Houston “tóm lại” như trên, (không phải là nguyên văn lời nói, chữ viết của PNN), cũng đủ để tác giả Kỳ Văn Nguyên “kết luận” rằng, đó là luận điệu của một “cán bộ cộng sản … ” và ông phải “viết một đôi điều” chỉ vì Phan Nhật Nam là một người đã từng được “nhiều người mến mộ”. Có lẽ ý ông muốn cảnh tỉnh nhiều người khác đừng vì tăm tiếng sẵn có của ông Nam mà lầm mưu cộng sản!! Thật đáng ngạc nhiên khi một “cựu nhà văn quân đội tăm tiếng, từng trải”, một người chắc đã nhiều kinh nghiệm về truyền thông và chiến tranh chính trị, lại có thể chỉ do căn cứ vào những điều “kể lại” từ một loai phóng viên hạng ba, hạng tư nào đó của một thứ báo chợ địa phương nói về một bài thuyết trình (đúng ra là một bản tham luận chính trị, quân sự nghiêm túc, có tầm cỡ) được “tóm tắt” theo cách hiểu của nhà phóng viên kia! Bài viết “được” (đúng ra là “bị” một cách oan uổng và bất cân xứng) kết luận và lên án qua những kể lại lặt vặt về câu trả lời ngớ ngẩn, về điếu thuốc lá trong trại tù Cộng Sản … Những điều vụn vặt tầm phào nầy đã có thể khiến ông Nguyên “kết luận” ngay tức khắc về “bản chất” của nhà văn Phan Nhật Nam, khiến chúng tôi không khỏi liên tưởng đến bọn quản giáo Việt Cộng nói vanh vách như vẹt về cái được mệnh danh là “bản chất tay sai bán nước” của những người chiến sĩ quốc gia khi lỡ sa vào tay chúng, và ông Nguyên cũng “suy” ngay ra rằng: “Phan Nhật Nam đã bị cộng sản khuất phục, đã quên mất Đại Nghĩa, bỏ tất cả chí khí anh hùng của người chiến binh Cộng Hòa, bỏ mất cả lương tâm của người cầm bút, sẵn sàng bán rẻ linh hồn để lấy đô-la do “ai đó”‘ đưa ra mua chuộc !”

Người cầm bút ai cũng hiểu rằng “dịch là diệt”. Có người nói hơi quá đáng rằng đọc văn dịch đã là “uống nước bọt” của người khác, nhưng quả thật văn dịch dù có cẩn trọng đến đâu cũng ít nhiều mang dáng dấp cá tính, và có thể cả suy tưởng của dịch giả lồng vào nguyên bản, vì khi đọc một tác phẩm, mỗi người đọc có thể có một cách hiểu khác nhau tùy trình độ, cá tính, căn bản suy tưởng và căn bản đạo đức, tư tưởng chính trị, tôn giáo, xã hội. Trái lại, ở trường hợp nầy, chỉ căn cứ một bài “tóm tắt,” rồi một loạt “nhận định riêng” của một cá nhân (không được mấy bảo đảm phẩm hạnh, khả năng), được gọi là “viết rõ ràng như sau”. Tất nhiên, phóng viên nào đã chẳng viết ra mà không “rõ ràng”, kể cả “rõ ràng sai lẫn rõ ràng đúng”; nhưng lại căn cứ vào những cái của một “kẻ thứ hai chứ không là PNN” để “tái nhận định”, đặt trên nhận định của một người khác mà không quan tâm đến tiên kiến, thiên kiến, thiện cảm, ác cảm hay mưu đồ (có thể có) của kẻ thứ hai nầy, thì có lẽ còn đi xa hơn là đọc bản dịch. Nhưng đi quá xa hơn nữa là do cái máu Trương Phi của vị cựu sĩ quan chắc đã một thời quen lệch lạc sai phái chỉ thị, khiến ông vội mang một “tiên kiến vô cùng sai trái” đối với người bị phê bình, không được kể ra, nói đến một cách công bằng lương thiện. Tác giả Kỳ Văn Nguyên quá giận dữ vì ác cảm tiên khởi đó, nên đã chỉ lăm lăm quan sát Phan Nhật Nam qua chiếc lăng kính của sự nóng nảy tột cùng, biểu lộ bằng những ngôn từ nhục mạ thậm tệ mà một nhà văn từng trải, một sĩ quan Cộng Hòa lớn tuổi khó có thể nghĩ ra khi còn đủ bình tĩnh tình cảm, cân bằng lý trí và lương thiện trí thức. Thành thật mà nói, chúng tôi vẫn kính trọng sự nóng nảy phát khởi vì một lý do “có vẻ đầy chính nghĩa” như ông Nguyên đã biểu lộ, cũng như vẫn luôn kính trọng những người Quốc Gia cùng chung chiến tuyến, dù cung cách hành sử trước sự việc của họ có rất nhiều dị biệt và vì không phải ai cũng vạn toàn. Nhưng khổ nỗi, ông lại trút cơn thịnh nộ lên “một người được nhiều đồng ngũ biết đến như một trong những ánh đuốc leo lét thắp sáng niềm tin không hề tắt nghỉ của những người chiến sĩ quốc gia bất khuất kiên cường trong tay giặc”, niềm tin vào Chân Lý Chính Nghĩa mà rất đông những Người Lính chúng ta vẫn luôn chắt chiu ấp ủ sâu kín tận đáy tim trong những tháng năm bi thiết nhất của đời người.

Nếu bài này có vinh dự được KVN để mắt tới thì cũng xin ông khoan nổi giận đùng đùng mà đẩy luôn cả người viết bài này vào chiến tuyến “cộng sản” với Phan Nhật Nam. Mong ông đừng quá giận mất khôn đến nỗi “xô đẩy dân về phía Việt Cộng là tự sát,” ông Nguyên nhé! Nói như vậy không có nghĩa là tôi sẵn sàng bênh vực Phan Nhật Nam về những điều “được nghe nói rằng” anh đã làm. Chuyện đâu cũng còn đó. Chúng ta đã có kiên tâm và nhân ái chiêu hàng cả những kẻ thù từng bắn thẳng vào đồng bào quê hương ta, như chính sách chiêu hồi dẫu có đưa về một số cộng quân “ngụy hồi”, cũng đã từng giải trừ hằng sư đoàn địch, thì tại sao không thể ôn tồn chiêu dụ những người của chính chúng ta “mới được nghe nói rằng “có lẽ” sa chân, lệnh hướng,” mà cũng chưa kịp hại đến tinh thần hay vật chất của bất cứ ai trong cộng đồng hải ngoại nầy?

Sự kêu gọi lấy ngày 30 tháng Tư làm vinh danh “Người Lính Việt Nam” quả thật là một sơ thất hay một sai lầm chính trị khó dung thứ, nhưng xin đừng vội xô đẩy ngay người bạn cũ vào phía cộng thừ. Ta có thể phê phán gay gắt đến đâu cũng được trong chân tình và ngay cả trong sự nóng giận giữa những người quốc gia với nhau. Ai đó có thể gọi sở thất đó là ngây thơ hay ngay cả lập dị vì điên loạn, kiêu ngạo vì dại khờ, cũng vẫn là cãi vã đầy chân tình, vẫn là một cách uốn nắn thẳng thắn của những người vốn là chiến hữu, đã có nhiều lúc văng tục chửi thề với nhau, nhưng bởi đã cùng nhau nằm gai nếm mật, còn hơn là đẩy hẳn bạn ta sang phía thù nghịch một cách tức tưởi mà cũng không kém phần nông nổi. Bài viết của ông Nguyên Huy trên báo Sài Gòn Nhỏ về Phan Nhật Nam là một điển hình của một cây bút chừng mực, khoan hòa bao dung nhưng không kém phần sắc bén và thẳng thắn, đúng là tình cảm đồng đội tha thiết đậm sâu mà vẫn mang nỗi âu lo đầy tính thuyết phục, đã gây sự cảm mến và xúc động trong chúng tôi bao nhiêu, thì những lời lẽ nóng nảy của ông Nguyên (không có Huy!) đem lại thất vọng về một cây bút chính trị bấy nhiêu. Những “nhận định trực tiếp” của chính tác giả (không phải “tái nhận định” nấu lại từ người khác) ở một bài khác mà tôi có đọc qua, về những bài viết của Phan Nhật Nam, lại cũng gây ngạc nhiên không ít. Quả thật, cách dùng chữ của Phan Nhật Nam trong những bài viết gần đây cũng có chỗ thiếu khúc chiết, không còn là loại văn được gọi là “trong văn có lửa” như những ngày mùa hè năm xưa, mà còn lẩn thẩn với những nét huyền hoặc khó cảm thông. Quả là Phan Nhật Nam có thể bị coi là “chao đảo” do cái “tình thương” lập dị, kiểu nhân nghĩa rởm được phùng xòe quá đáng trong một số bài viết của ông. Nhưng những nỗi “bi thương có thật”, những xúc cảm có thật” trong toàn bộ văn chương ấy đã gợi lại cho người đọc những phút giây xúc động, gợi lại những hờn căm đã bao năm trường nung nấu chưa hề nguội tắt trong quay cuồng tù ngục năm xưa và quay cuồng sinh kế ngày nay. Những lời kêu “… anh lính cộng hòa ơi …” của người dân An Lộc trong cơn tuyệt vọng đã từng gợi lên trong lòng chúng tôi và những người bạn từng cầm súng ra vào nơi khói lửa đau thương ấy những thống thiết xót xa của hai chữ trách nhiệm rền rĩ, đồng thời cũng như một xác quyết của dân tộc Việt rằng VỊ QUỐC AN DÂN là điều chúng ta, vàchỉ chúng ta, những người Chiến Sĩ Cộng Hòa, phải giương vai gánh vác. Và người dân đã xác nhận điều ấy trong cơn tuyệt vọng khốn cùng, chỉ còn biết kêu lên “anh lính cộng hòa” như tận trong tiềm thức, như từ một niềm tin sâu kín, họ vẫn tâm niệm rằng đó là người che chở bảo vệ cứu vớt họ. Người Lính Cộng Hòa nào đã từng cầm súng xông pha chiến trận mà không cảm thấy niềm hãnh diện pha lẫn đau xót cay đắng khi không còn cách nào làm tròn sứ mạng vị quốc an dân. Nhưng ông Kỳ Văn Nguyên cảm thấy đó là sự “đổ vấy trách nhiệm cho Người Lính Cộng Hòa” về sự khổ đau của dân chúng là điều khó hiểu. Nói về tên lính cộng sản thản nhiên khai hỏa trái mìn giết dân, theo chữ nghĩa của PNN, tôi cảm thấy những lời văn mô tả sự thản nhiên đó lại chính là bức tranh đen trắng không tô màu, vẽ lại trọn vẹn chân dung những kẻ vô thần, vô hồn, những thây ma mà linh hồn đã bị lấy mất đi để bị sai khiến làm những điều tàn ác một cách vô thức-Vô thức đối với lương tâm bình thường của một con người bình thường trên quả đất. Còn lời mô tả một tên Cộng Sản nào có thể chân xác hơn hình ảnh đó? Hay là ta cứ phải bắt các nhà văn hô to khẩu hiệu chống cộng, viết văn tố cộng thật rõ rang để cho đa số quần chúng hiểu được, vì e rằng quần chúng không đủ trình độ cảm nhận những lối diễn tả gián tiếp, gợi nhiều suy gẫm, có tác dụng sâu đậm hơn là những lời nguyền rủa ầm ĩ? Một văn nô viết theo chỉ thị sẽ buộc phải viết đoạn văn đó như sau: “Tên Việt Cộng mặt mũi dữ tợn, đúng là một kẻ uống máu người không tanh, lăm lăm trên tay bộ phận kích hỏa của trái mìn giết người do Nga Xô việt trợ, hí hửng chờ chiếc xe đang chạy lại càng lúc càng gần. Mắt nó đỏ rực như mắt loài chó dại. Chiếc xe vừa chạy đến đúng chỗ hẹn của tử thần là kẻ giết người tàn ác kia sung sướng cười ha hả cho nổ trái mìn. Một tiếng nổ rùng rợn vang lên rền rĩ khắp khu rừng. Tiếng người già, con trẻ kêu khóc trong mùi xăng dầu và da người cháy khét vang cả một khoảng không. Tên Việt Cộng đứng thẳng người lên, hân hoan tay giơ cao nắm đấm và hô vang “Hồ Chủ Tịch muôn năm; Đả đảo bọn Mỹ Ngụy vừa bị trừng trị đích đáng!!” Hắn quả là một kẻ vô thần tàn ác nhất trên đời, chúng là một cái máy giết người không hề biết suy nghĩ, chỉ làm theo những gì đảng cướp của chúng ép phải làm. Chúng ta cần suy nghĩ và học tập về câu chuyện này để hiểu Cộng Sản là tàn ác bất nhân và phải căm thù chúng, phải căm thù chúng đến đời đời con cháu mai sau!!! “Tôi chắc rằng ông Nguyên cũng không ưa nổi loại tả chân rẻ tiền kiểu đó, dù rằng kiểu văn tuyên truyền như vậy (hẳn ông đã từng thực hiện qua chức vụ hoặc trong những “tác phẩm” nào đó của ông trước đây), cũng vẫn có thể làm một số người thỏa mãn lòng căm thù Cộng Sản.

Nhưng đối với rất nhiều người khác, nhất là những người trẻ chưa hiểu được bộ mặt thật của Cộng Sản, và những người trẻ sớm được hưởng cuộc sống tự do công bằng hạnh phúc ở xứ văn minh như Hoa Kỳ này, nơi mà nhiều người dân không thể tin được trên đời có thể có những kẻ tráo trở gian manh như Cộng Sản Việt Nam, thì e rằng tác dụng tuyên truyền lại trở thành một trò cười tầm phào mạt hạng. Y như học sinh miền Nam đã thật thà hỏi thầy cô giáo về một đoạn thơ Tố Hữu viết kể đặc công Nguyễn Văn Trổi lúc ở pháp trường đã bị trói quặt tay ra sau lưng, bịt mắt, bịt miệng thật chặt mà vẫn có thể dơ tay hô lớn “Hồ Chủ Tịch muôn năm!? “.

Hoặc sẽ có tác dụng giống như màn diễu dở trong đoạn văn, kịch tả Võ Thị Sáu ra pháp trường còn dừng lại ngắt hoa ven đường cài lên mái tóc! Các nhà văn của chúng ta không viết theo lệnh, không viết theo đơn đặt hàng nên chúng ta có tác phẩm được lưu truyền cho hậu thế, trong khi miền Bắc suốt bao năm chìm ngập trong bóng đêm xã hội chủ nghĩa kiểu cộng sản không hề có được một tác phẩm văn học thực sự. Ta nên bắt chước kiểu văn học Việt Cộng chăng? Có phải vì đường lối văn hóa nghệ thuật có chỉ huy đó mà chúng đã thắng trận đánh 1975? Ta có phải làm đúng như chúng về mọi điều mọi việc thì mới thắng lại được chúng không? Sự thắng trận 1975 của Việt Cộng cùng những điều chúng ta hiểu biết về Cộng Sản Việt Nam qua bao năm trường tù đầy có cần được xem là những điều cần học hỏi và rập khuôn như là tấm gương của kẻ thắng trận chăng? Nếu không thì đâu là phương sách hữu hiệu để tiếp tục cuộc đấu tranh còn dang dở, nối tiếp sự nghiệp chính nghĩa còn dở dang? Khi trả lời đứng đắn những vấn nạn nêu trên là chúng ta đã có câu trả lời xác đáng cho nhiều vấn đề ung nhọt của Cộng Đồng Người Việt hải ngoại, nhất là tại California, Hoa Kỳ.

Với một đoạn khác về những người lính cộng hòa xung phong lên tuyến địch mà tay còn lủng lẳng nồi cơm nấu dở, Phan Nhật Nam lại bị chỉ trích là đã đưa ra “những hình ảnh tầm thường để bêu xấu Người Lính Cộng Hòa.” Thật đáng lấy làm sửng sốt khi nghe một điều nghịch lý đến như vậy. (Và một lần nữa chúng tôi lại rợn da, khi không khỏi liên tưởng đến luận điệu tanh mùi máu trong quyển sách “Những Tên Biệt Kích Văn Hóa” của Việt Cộng viết ra để cho lũ đảng viên, đoàn viên cùng “quần chúng nhân dân” học tập phê phán các văn nghệ sĩ miền Nam trước 1975). Đọc lại đoạn văn trên của PNN, những người thật sự cầm súng băng rừng lội ruộng, thực sự lăn mình gian khổ trong hàng trăm cuộc hành quân không ngưng nghỉ mới thấy không những tất cả nỗi thương cảm đối với người Lính Chiến Cộng Hòa, mà còn cả sự kiêu hùng thực sự của những con người bình thường hằng có trong cuộc chiến. Họ vào gian nguy sống chết như trong trò chơi đuổi bắt của trẻ em hay cuộc đánh lộn của tuổi trẻ hiếu động. Đúng là những người lính của chúng tôi đã vừa lội nước rừng Tây Ninh vừa nấu cơm để vừa nghỉ quân là có cơm chín ăn liền. Không, chúng tôi lính chiến không phải những người hùng không cần ăn uống, không cần đi vệ sinh, chỉ vì hình ảnh ăn uống và đi vệ sinh không có tí gì là “anh hùng” cả. Đúng là trước một lần xung phong quyết tử giải tỏa đường An Lộc về Suối Tầu Ô, một người lính đã chia cho tôi nửa bao cơm sấy trộn mắm ruốc kho và dặn rằng: “Ông ráng ăn một chút để lỡ có gì cũng còn sức chờ tản thương, mà không có gì thì cũng có sức chơi với tụi nó trong cái rừng tre kia tới tối mai không chừng, không còn thì giờ nấu cơm đâu.” Đúng là trong đêm bị cắt đoạn và vây bọc tứ bề trên quốc lộ 13, có người lính của trung đội tôi còn lén che pông-sô nấu nước dưới hầm chiến đấu, trộn cơm sấy, pha cà phê ngay lúc Việt Cộng đang rình rập trinh sát quanh phòng tuyến đại đội. Đúng là người lính đánh giặc với nồi cơm trên tay, hay miếng cơm sấy trong mồm là những hình ảnh sống thực.

Và đối với tôi, đó là hình ảnh hết sức nhân bản của những người coi cái chết nhẹ như lông hồng, nhưng một cái gì đó trước và sau bữa ăn vẫn là điều tối cần thiết. Họ cũng chẳng cần biết đến câu “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, nghe khó hiểu và xa lạ quá. Những người lính thiện chiến đã chai lỳ trận mạc từng thản nhiên đi vào nơi sống chết như thế đó. Hạ Sĩ Nguyễn Hiền của trung đội tôi, người quê Quảng Trị, một mình đứng song lưng bắn đại liên M 60 với tôi làm phụ xạ thủ, đẩy lui cả một đợt xung phong của địch qua mặt lộ đường 13, cứu sống một trung đội. Sau đó anh giao đại liên cho tôi, rút M 72 bắn tung cả một ổ DKZ 75 đang lăm le quất sụm cây đại liên quá sức anh dũng, vừa kịp thì giờ cho tôi điều chỉnh phi pháo đập tan trận tấn công sinh tử của địch. Vào An Lộc , một mình anh bắn tỉa chín tên địch chuyên bắn tỉa quân ta. Người lính thiện chiến đến mức huyền thoại ấy không bao giờ gây gỗ với đồng đội. Giờ rảnh rỗi giữa các trận đánh chỉ được anh dùng để lau chùi vũ khí, chăm chút từng viên đạn để sẵn sàng đặt vào đầu mỗi địch quân một và chỉ một viên M 16 hay viên M 60 bắn phát một không bao giờ trật. Anh anh dũng đền nỗi tôi buộc anh phải về nấu cơm ở tuyến trừ bị, ở mặt sau nhà thương An Lộc, không dám cho giáp mặt địch quân vì sợ mất đi một chiến binh tự mình vượt qua mức một chiến binh lý tưởng. Hình ảnh và tên tuổi người lính anh hùng thần thoại ấy không bao giờ phai mờ trong tim tôi dù ở bất kỳ mặt trận nào, bất kỳ trại cải tạo sát nhân nào, bất kỳ nơi an lành sung túc nào trên mảnh đất tự do ngày nay. Người chiến sĩ thứ thiệt như Nguyễn Hiền rất cần no bụng, không “cắm hoa đầu súng,” và “vừa làm thơ vừa đánh giặc” như những nhà văn, thi sĩ, nhạc sĩ ở hậu phương tưởng tượng để ca ngợi họ. Người lính của chúng ta có lãng mạn thật, thích những hình ảnh thơ mộng ấy thật, biết ơn các chiến hữu tâm lý chiến đã vẽ lên hình ảnh dễ thương của họ, nhưng thực tế, họ anh hùng hơn tất cả những gì mà ngành chiến tranh chính trị từng nói đến. Nhiều vị sĩ quan chỉ biết đến chữ “đói” khi bị đi cải tạo, nhưng người lính chiến chúng tôi hiểu rõ trước 1975; hiểu từ lâu rằng, bụng đói gây chậm chạp và cáu kỉnh dễ làm mồi cho AK, B40 lắm. Cái bụng no cùng sức vóc cường tráng của người chiến binh quan trọng không kém những vũ khí cá nhân và cộng đồng của đơn vị luôn phải được lau chùi, thông nòng, vô dầu mỡ hằng ngày dưới sự kiểm soát trực tiếp của các sĩ quan chỉ huy, cũng quan trọng không kém những hầm hố phòng thủ đêm phải được đào đủ độ sâu để ẩn núp chiến đấu. Không phải những hình ảnh mình đồng da sắt, khơi khơi xung phong trong mưa đạn, vừa tác chiến vừa “ngắt hoa ép vào lưới mũ sắt để đem về tặng em” như các chiến hữu ở hậu phương tô vẽ. (Lính tác chiến không bao giờ đội nón sắt có lưới ngụy trang!). Và làm sĩ quan chỉ huy ở mặt trận thì ai cũng hiểu tiếp tế lương thực và tổ chức dừng quân trong các bữa ăn là quan trọng hơn những bài thơ văn hùng hồn đến đâu …

Đó là cái nhìn của một người lính chiến về những điều đã viết về lính chiến. Đó là cái nhìn theo khía cạnh của riêng tôi mà tôi cho là chân xác. Những hình ảnh lính chiến có vẻ không được “đẹp trai oai hùng” trong bộ quần áo ủi hồ giầy bóng loáng do Phan Nhật Nam thật thà đưa ra mới đây đã thấm thía vào đâu so với những hình ảnh sống thực đến đau lòng trong “Tháng Ba Gẫy Súng” của Cao Xuân Huy? Mà có ai lên án Cao Xuân Huy bôi nhọ Người Lính Cộng Hòa đâu? Chưa kể đến biết bao tác phẩm Việt-Mỹ khác nói đến người lính Cộng Hòa chúng ta bằng những lời thóa mạ. Tại sao không dành tim óc để trả lời, để phản bác, để khai hóa bọn xuyên tạc. Và sự bất công bắt nguồn từ một nguyên do sâu kín nào? Thưa chỉ có tác giả Kỳ Văn Nguyên hiểu rõ, chẵng dám lạm bàn nơi đây.

Chúng tôi không đủ thì giờ và có lẽ cũng không cần dẫn chứng thêm những bài viết khác của Phan Nhật Nam trong hai quyển sách ông mới ra mắt đồng bào Quận Cam. Độc giả hẳn đã có cái nhìn và sự nhận định đứng đắn về những suy tưởng ông Nam đã dành cho những người Chiến Sĩ Cộng Hòa qua những câu chuyện về những người biệt kích, về những cấp chỉ huy anh dũng trong quân đội chúng ta. Hãy đọc hết, đọc trọn vẹn tác phẩm của một tác giả với tâm tư thư thái, với óc phê phán chừng mực và khách quan. Đừng bỏ quên những bài những đoạn không phù hợp với tiên kiến hay ác cảm sẵn có của mình. Hãy chỉ dùm hạt bụi trong mắt người khác khi nào cái xà nhà tiên kiến trong mắt mình đã được bình tâm cất bỏ. Hãy khoan hòa chỉ ra những sai lầm yếu kém về hình thức và nội dung, về văn chương cũng như tư tưởng. Đừng nhận diện anh em như nhận diện kẻ thù. Ở đất nước tự do, thành trì chống cộng hữu hiệu, mà anh em chúng ta vẫn đang “phòng thủ đêm” đó. Thật vậy, đừng bắn loạn xạ vào nhau chỉ vì những ảo giác trong bóng đêm. Hãy làm người lính thiện chiến- Chỉ khai hỏa chính xác vào đúng dăm ba tên đặc công Việt Cộng đang cười thầm khoái chí, vì chúng chỉ cần ném hỏa mù, hô hoán dọa nạt là anh em ta đã vội tưới đạn vào nhau. Chỉ những người “lính tồi” mới bắn lầm quân bạn!! Người lính thiện chiến và tự tin không bao giờ bắn vãi đạn vào chỗ nghi ngờ, mà chỉ cần một viên đạn cho một quân thù. Họ còn có thể chỉa súng bắt đầu hàng, hoặc bắn bị thương để bắt sống địch quân.

Xin hãy nhớ nơi đây đội ngũ chúng ta đông đảo, tinh thần chúng ta vững mạnh, tư tưởng chúng ta đồng nhất.

Kẻ địch chỉ là rất ít những tên gián điệp chuyên chú vào việc gây chia rẽ để ta tự diệt nhau, một ít những tên

thân cộng vì lợi ích kinh doanh làm giàu cho cá nhân, cùng dăm ba kẻ đón gió trở cờ âm thầm nối giáo cho

giặc, thâm độc múa may khi nhìn thấy anh em chúng ta chia rẽ và tự diệt. Hãy nhớ dùm bọn chúng chỉ là thiểu số đang ngu dại phù trợ một chế độ trên bước suy vong. Nay đâu còn những đêm bị buộc phải đem bạn tù ra mổ lên mổ xuống chỉ vì miếng khoai củ sắn LẤY CỦA VIỆT CỘNG để sinh tồn, mổ đến nỗi nạn nhân phải tự phê nhận mọi tội lỗi ghê gớm như là “phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa là phản động, là chống cải tạo, chống nhân dân, chống đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa là đáng tội … tử hình, hay khoan hồng chăng thì cũng cải tạo suốt đời …!!” Hãy quên những cơn ác mộng ấy đi, ít ra cũng đừng gieo cho người khác nơi đây. Đừng mang thứ “sinh tử phù” của những trò “cảnh giác đấu tranh, phê bình, kiểm điểm từ các trại cải tạo” sang đến tận nơi đây để “cùng tiến bộ đến hố diệt vong”, làm trò cười cho chính con cháu chúng ta, những thế hệ đang hân hoan hấp thụ những giá trị tinh thần và vật chất của một xã hội thượng tôn luật pháp, lấy trí thức, khai phóng, tự do, dân chủ, công bằng, bác ái làm tôn chỉ cho toàn xã hội, dẫu chưa thể vẹn toàn nhưng cũng vẫn là gương sáng để noi theo mà xây dựng Tổ Quốc Việt Nam mai sau. Mong sao những điều tâm huyết chân thành này của Người Lính Chiến được đón nhận bằng tâm huyết chân thành. Nếu có điều gì khiếm khuyết trong cách trình bầy, hay đã tỏ ra không tự chế, chúng tôi thành tâm xin quý độc giả, xin các chiến hữu, và mong ông Kỳ Văn Nguyên thứ lỗi. Nếu muốn, xin hãy phê phán nhau trên cương vị những người quốc gia cùng chung mục đích cao cả đối với quê hương, với lòng nguyện ước cuối cùng, không còn tập đoàn băng đảng tội ác Việt Cộng trờikhông dung, đất không tha, chẻ trúc Trường Sơn làm bút, chấm nước biển Đông làm mực cũng chưa ghi hết tội ác- Tội ác đoạ đầy một Dân Tộc vào cơn cùng khốn của hơn nửa thế kỷ … Từ rất lâu, trước cả 1945!!

NGƯỜI LÍNH CHIẾN,

Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù,

Tù Binh,

Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hoá.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Bài 8

Những Ám Ảnh của Chứng Nan Y: Nan Y hay Dịch Tễ Xã Hội

TỪ JOB ĐẾN NHỮNG NGƯỜI CÙI TRÊN VỈA HÈ

Đời xưa, ở vùng Idumée, có một người cùi tên Job. Quần áo tả tơi, chấy rận nhung nhúc, da thịt nứt nẻ, lở loét từ đầu đến chân, Job ngồi trên đống tro tàn của cơ nghiệp mình, một mảnh bát vỡ cào gãi mụn nhọt trên thân thể. Job ngồi đấy tro trọi, cô đơn. Vợ con, cháu chắt, bạn bè, tôi tớ … thảy đều trở mặt quay đi. Ngày tháng qua mau như thoi cửi, không một chút hy vọng. Và những nỗi đau khổ của Job còn nặng hơn cát biển.

Mấy nghìn năm sau, vào thời Trung Cổ, cảnh tượng thảm thương không mảy may bất nhẫn này lại diễn ra, khi những “trận dịch đen” bùng lên ở Âu Châu. Người chết từng loạt, con số lên tới hàng trăm ngàn. Người ta ào ào chạy trốn Thần Chết. Bạn bè bỏ nhau, vợ bỏ chồng, anh bỏ em, và hơn thế nữa, cha mẹ bỏ ngay con cái mình. Tử khí lan tràn thành phố. Người bệnh la liệt trong nhà, ngoài đường, nằm hấp hối chờ chết với nhau. Sợ hãi tới mức kinh hoàng. Làm sao giải thích nổi những cái chết tập thể, trong khoảnh khắc, nếu không kêu gọi đến một thần quyền. Tội lỗi quá nhiều. Job kia còn bị các bạn buộc tội, huống hồ con người của hàng nghìn năm sau. Luật lệ và hình phạt được đặt ra. Người cùi phải tập trung vào một nơi. Người mắc dịch bị vứt bỏ ngoài đồng vắng. Người có bệnh mà trốn tránh, cũng như người lành giấu giếm, chứa chấp người bệnh, đều bị trừng trị nặng nề. Nỗi kinh hoàng cùng với dịch tễ rồi cũng qua đi. Những người nan y đã quen và cam chịu sống riêng rẽ, tự tổ chức thành những xã hội nhỏ riêng rẽ. Ở Việt Nam trước kia đã có những “làng” người cùi. (Văn Môn, Khuya ở Bắc Việt) với lý trưởng, trương tuần cẩn thận. Sự hiện diện của họ chỉ còn được nhắc nhở tới bằng mấy tiếng lục lạc báo hiệu, hay cái bóng quái dị, nghiêng ngả, trong đống quần áo rách nát, bất chợt nghe, bất chợt gặp trên đường. Chúng ta tránh mặt họ, không muốn dây dưa với họ. Sự sợ hãi thuở xưa đã nhường chỗ cho một cảm giác ghê tởm với lòng khinh bỉ, tất nhiên, đi kèm.

Y học tiến bộ, ngăn chặn dịch tễ lan tràn, cản các chứng nan y bành trướng. Chẳng ai sợ nữa, khi thấy những bệnh kỳ quái, hao mòn cơ thể, biến dạng hình hài. Tổ chức Y tế xã hội chu đáo hơn. Với những trại cùi, làng tế bần, viện bài lao, viện ung thư. Người bệnh ngày nay có nơi ăn, chốn nghỉ, yên tâm điều trị. Ai cũng mong, tin thế. Cho đến một ngày. Một ngày nắng ráo, một ngày lễ trên hè phố đông đúc, như những vết bùn đất của mấy ngày mưa dầm còn sót lại, giữa bao màu sắc rực rỡ linh động, loáng thoáng một vài người cùi ngồi ăn xin. Họ ngửng lên nhưng khuôn mặt không lông mày, không sống mũi; những mí mắt những vành tai dầy cộm, sần sùi. Họ giơ lên những bàn tay không ngón, loang lồ, cong queo. Chúng ta đi qua, đi lại ngay trước mặt họ, sát bên lưng họ. Mắt chúng ta nhìn mà không thấy, tai chúng ta lắng mà không nghe. Họ ngồi xệp dưới đất thấp quá. Vả lại họ có nói gì đâu. Họ là những gốc cây, những cột đèn, những ghế đá hay một thứ cồng kềnh nào đó trên mặt lộ. Cần gì phải la hét, trốn chạy, cần gì phải khinh bỉ, hắt hủi. Cứ tự nhiên mà bước, linh tính sẽ khiến ta không đụng phải họ. Họ là những gốc cây …

THỊT XƯƠNG LÀ SÔNG NÚI

Nhưng họ vẫn phải hiện diện, vẫn phải sống. Dù đau đớn, dù hao mòn, dù biến dạng. Trong thế giới riêng của họ với những ý nghĩ và mặc cảm đặc thù do bệnh tật gây ra. Ý nghĩ nan y, ý nghĩ thân mình tàn phế. Mặc cảm ký sinh, mặc cảm bị ruồng rẫy, mặc cảm tội lỗi. Với một ám ảnh lớn đè nặng tâm hồn. Sự chết.

Thời gian điều trị và nghỉ ngơi lâu dài cộng với việc phải chăm chút tẩm bổ – điều kiện cần thiết để lành hai lá phổi – tạo cho người lao phổi một mặc cảm ký sinh nặng nề. Ở trong một hình hài bề ngoài nguyên vẹn là một cơ thể đã bị gậm nhấm suy yếu. Dù có khỏi hẳn, cũng không xốc vác nổi những công việc đòi hỏi một sức khỏe dồi dào. Trong một giới hạn nào đó, người ấy vẫn có thể mãi mãi là ký sinh.

Người phong cùi cũng đau khổ về hình hài, nhưng ở đây là một hình hài không nguyên vẹn. Mặt mũi biến dạng, tay chân rụng rời, và cả xác thân ô uế. Tiếng kêu “Tôi ô uế! tôi ô uế!” của người cùi thuở xưa mỗi khi ra đường, vọng qua ngàn năm, hiện vẫn còn vang bên tai họ. Thực sự hay tưởng tượng, họ luôn luôn là những người bị rẫy ruồng, hắt hủi. Và đi dần đến chỗ cô đơn. Cùng chia sẻ với họ nỗi tủi nhục của tấm thân ô uế, họa chăng có những người hoa liễu. Bệnh phong tình, tự bao giờ đến giờ và ở đâu cũng vậy, vẫn là một bệnh đáng xấu hổ. Người ta che giấu nó nhân danh luân lý, đuổi bắt nó nhân danh thuần phong. Vì nó trái với đạo đức và làm bại hoại xã hội, người ta chỉ biết kết tội như thế. Những ý nghĩ như thế châm ngòi cho những phản ứng khác nhau nơi người bệnh. Một người mềm yếu, kém ý chí, thì chỉ nghĩ nan y với hệ luận là cái chết sớm muộn không thể tránh, cũng đều cho người ấy đi đón trước Tử thần. Mạnh hơn một chút, người ta coi thường tất cả. Can đảm, liều lĩnh, ca hát, vui đùa hôm nay, thực ra chỉ để quên đi ý nghĩ cái chết cô đơn, lạnh lẽo ngày mai. Đó là những phản ứng một chiều, phản ứng có thể gọi là hướng nội.

Phản ứng hướng ngoại, ở một mức độ thấp chỉ có tính cách phá phách gây đổ vỡ. Lợi dụng tình trạng “bất khả xúc” của mình, người bệnh làm sống lại và đem gieo rắc sự kinh hoàng của thời dịch Trung Cổ. Những đoàn người cùi hành khất ở miền Bắc trong thế kỷ trước là một thí dụ. Họ quấy nhiễu các đám hiếu hỉ, vầy vò đồ ăn thức uống trong mâm tiệc, để đòi hỏi bạc tiền và lương thực. Ở mức cao nhất của ý chí, người bệnh chế ngự mặc cảm, biến nó thành động cơ sản sinh ra những năng lực khác thường. Nhưng dù ở mức độ nào, từ những người tự đi tìm cái chết đến những bậc thiên tài bệnh hoạn, phản ứng hướng nội hay hướng ngoại, chỉ làm dầy thêm bức tường bao quanh thế giới những người bệnh hoạn, được xây bằng những ý nghĩ và mặc cảm hằn in trong tiềm thức họ. Vô tình, chính những người bệnh cũng góp phần vào sự cách biệt giữa họ và những người lành mạnh. Trong thế giới của họ, ta xa lạ, bỡ ngỡ. Bầu trời điên loạn, đầy trăng sao và lạnh buốt dưới bàn tay không ngón của Hàn Mặc Tử, những phong cảnh hoặc ảm đạm, hoặc rực rỡ, mang những màu nét rung động, quần quại như hờn giận, đau thương, thoát ra nơi đầu bút của Van Gogh (1); bậc siêu nhân đầy nghị lực, thông minh và kiêu hãnh trong con người tê liệt, yếu ớt như trẻ sơ sinh của Nietzsche. Tất cả đều mang một sắc thái khác thường, khó cảm thông, nếu không như có lực mạnh, đẩy bật ta ra.

Hình hài thay đổi, sinh lý xáo trộn, chính là những nguyên nhân đầu của sự xa cách, về cả hai phía, bệnh và không bệnh. Thịt xương ở đây còn hơn là sông núi (2). Đó là vực sâu đầy gai góc, rắn rết; là vũng lầy không đáy, chướng khí mịt mù.

NHƯNG LÒNG NGƯỜI KHÔNG NGẠI NÚI E SÔNG

Bây giờ chúng ta muốn hai phía lại gần nhau? Còn gì giản dị và hợp lý hơn là lấp phẳng cái hố sâu ngăn cách kia. Hãy sửa lại hình hài và đem quân bình sinh lý, tâm lý về cho người nan y. Giữ lại, hay bù đắp vào, những đường nét, hình thể và những cơ cấu Tạo hóa đã ban cho người. Bổn phận thiêng liêng của mỗi người – tự giữ cho mình và bù đắp cho người – mà sự chu toàn đòi hỏi bao nhiêu cố gắng, kiên nhẫn và hy sinh.

Những tháng năm cặm cụi trong phòng thí nghiệm, đun nấu, ghi chép, tính toán của những Koch, Hansen, Pasteur, Virchow …rồi của những Flemming, Waksman, Bửu Hội, Umezawa … đã đem lại nhiều khám phá, đáp ứng, có thể nói là trọn vẹn, cho những toan tính phá tan mặc cảm và trung hòa phản ứng nơi người nan y. Con người hôm nay tha hồ chết vì bom đạn, xe cộ, nhưng không được chết vì lao phổi nữa. Streptomycin, Isoniazid, PAS. Cũng không có lý gì tồn tại, những cơn tê liệt toàn thân của bệnh giang mai thời kỳ thứ ba. Penicillin, Bismuth. Phong cùi ư? Sulfones. Ung thư ư?

Thì đây, bao nhiêu là thuốc, là chất phóng xạ, là quang tuyến, lại đây nữa, bao nhiêu phương thức thực nghiệp tinh vi, ngõ hầu phát giác ra những trường hợp mới chớm. Bỏ đi một mảnh phổi chai đá, cắt đi một bướu nham ruột già, bây giờ là việc thông thường của khoa thủ thuật. Lưỡi dao thuần thục hơn, uyển chuyển hơn, tế nhị hơn. Lưỡi dao tạo hình, ghép da, nắn mũi, sửa tay. Ấy là thủ thuật cho bệnh cùi. (3)

Tâm hồn lành mạnh trong thân thể hùng cường. Bây giờ phải đảo ngược mệnh đề lại và nói: thân thể lành mạnh chứa đựng tâm hồn hùng cường. “Tứ chứng nan y” rồi đây chỉ còn là một từ ngữ thuộc vào y sử.

TRỜI XANH IM LẶNG

Vấn đề “nan y” xem ra như thế dễ dàng giải quyết, với những khám phá tiến bộ của y học. Một xã hội không còn người lao cùi … đâu phải là một điều không tưởng. Còn lại có vấn đề thời gian. Bao giờ? Bao giờ, khi những người lao còn phải cong lưng, vừa ho vừa làm, mà vẫn không đủ tiền mua một miếng thịt nhỏ mỗi ngày? Bao giờ, khi người ta cứ phải ở chung lộn, chồng chất, chui rúc, trong những túp nhà lụp xụp, tối tăm, bên cạnh rác rưởi và sình lầy? Bao giờ, khi những người mua dâm và bán dâm, không những không kiểm soát được, lại còn tăng số mãi lên? Bao giờ, khi người ta vẫn chưa biết đường lối và chưa có phương tiện để dò ra một ung thư mới chớm ngay chính nơi thân thể mình? Bao giờ …?

Đấy là thảm trạng của những nước chậm tiến. Ở Đông Nam Á, ở Phi Châu, ở Nam Mỹ Châu. Và có gì lạ đâu, nếu đủ các thứ bệnh tật thi nhau phát triển. Nghèo khổ vật chất. Nghèo khổ cả tinh thần. Thiếu ăn, thiếu mặc đã đành. Mà lại thiếu cả một gáo nước rửa mặt, cả đến thước khối khí trời để thở, cả đến ánh sáng mặt trời để ngẩng đầu cao. Hãy nghe lời một người lao phổi thời tiền chiến nói với bạn trước khi tắt thở: “Nếu mỗi ngày tôi có được một miếng thịt bò, thì đâu có đến nỗi chết”. Hãy nghe tiếng kêu cứu tuyệt vọng của một bà mẹ mắc chứng bạch huyết với bầy con nhỏ bên tay. Bà van xin những nhà thông thái, khẩn cầu các nhà hảo tâm. Bây giờ bà còn sống hay đã chết? Và chẳng biết có ai đáp lại lời kêu cứu của bà không? Chắc nó chìm ngay trên trang nhật báo, giữa những dòng rao bán chó, bán nhà, dạy khiêu vũ, sửa sắc đẹp … (4)

Chưa đủ. Thêm vào đó còn có mù chữ, thất học, mê tín, dị đoan. Và những tín điều viển vông, cao vời của những người quá yêu mến đồng bào. Bao nhiêu điều kiện thuận lợi, nuôi dưỡng, làm nẩy nở mọi mầm mống vi trùng, tạo nên môi trường thích hợp để “bảo tồn” bệnh tật. Có ích gì khi chữa lành một, hai lá phổi, để lại trở về thở hít chung bầu không khí với một hai chục người khạc nhổ suốt ngày? Có ích gì khi cứ ba bốn ngày mới chích được phân nửa liều thuốc, trong khoảng năm ba tháng, để trở lại bệnh viện với những con vi trùng mạnh mẽ hơn, dai dẳng hơn? Lưỡi dao giải phẫu thôi đành xếp lại trước những cục bướu nham lớn bộn, rắn chắc, kèm thêm ít nhiều hạch ung thư chuyển đi khắp cơ thể.

Đúng là những chứng nan y, không chữa được. Không chữa được, không phải vì chữa không được, mà vì chữa không đúng, không đủ, không nhanh, không kịp thời. Những chứng nan y đã khoác một bộ mặt mới. Bây giờ chúng không còn là “nan y” nữa, chúng là những dịch tễ xã hội.

Ở Việt Nam tự do, dân số 14 triệu, có 45.000 đến 50.000 người lao xác chứng (active tuberculosis). 70% trẻ em trên 15 tuổi có triệu chứng nhiễm lao rõ ràng. Và mỗi năm, cứ 1000 dân lại có một người chết vì lao. Tổng số người cùi vào khoảng 50.000 (5).

Còn những người hoa liễu? Ung thư? Chưa ai biết con số đích xác. Từng ấy con người đau đớn. Những cơn ho vỡ cổ, đôi gò má điểm hồng. Những trận “mê man chết điếng cả làn da”. Cuồng điên, mất trí, tay chân run rẩy. Da dán vào xương, hơi thở hôi hám, bướu lớn dầy đặc trong miệng, khuôn mặt mất rồi những nét đều đặn nhịp nhàng. Bốn bề là bóng tối và im lặng. Cái im lặng ghê rợn, nặng nề của Tạo vật.

MỘT BUỔI LẠC QUYÊN KHÔNG KẾT QUẢ

Vậy chỉ còn lại những người với nhau. Để tự giải quyết lấy thân phận cho nhau. Để vượt, không phải ra khỏi, mà là vượt lên cái thân phận con người. Đã từ lâu, người ta toan tính giải quyết bằng lòng từ thiện, dẫn

xuất từ tính trắc ẩn trước khổ đau của đồng loại. Tổ chức những buổi từ thiện. Lập cơ quan từ thiện. Đi làm việc thiện. Có người chuyên môn, có người tài tử. Quyên tiền bạc, xin cơm áo, nhân danh người đau khổ. Rồi có một buổi đi thăm viếng trại lao, trại cùi. Những ông, những bà khỏe mạnh, quần áo tươm tất, đường bệ đi vào. Người bệnh xếp hàng: hai tay tuy đã hết ngón mà vẫn chẳng biết cất đâu, nét mặt chẳng biết nên vui hay nên buồn. Đôi lời ngỏ ra, đôi lời đáp lại. Cảm tạ. Biết ơn. Những tiếng chào từng loạt. Những ông, những bà bèn đi vòng, xem xét; để ra về. Như đi dự một buổi tiếp tân, như đi coi hát bóng. Và những cái bóng nói, cười, yêu đương trên tấm vải căng trong buồng tối kia có khác gì. Ở đây, người bệnh cũng là những cái bóng. Đủ hay, đủ lạ, để người khác nhìn xem trong chốc lát.

Rồi người ta mệt mỏi dần, dù chỉ là đi thăm viếng suông. Chán nhìn những hình hài bệnh hoạn, chán nghe những nỗi khổ đau diễn tả bởi những người không đau khổ. Người ta muốn được “yên thân” -như Scrooge, vì – cũng như Scrooge – đã “giúp đỡ nhiều cơ quan từ thiện. Như thế đủ tốn cho tôi lắm rồi” (6). Lời từ chối thật đủ lý lẽ, đủ công bằng, để mắt khỏi nhìn, tai khỏi nghe, mà lòng vẫn bình yên trong im lặng đồng lõa.

TRÁI ĐẤT LÀ CỦA CHÚNG TA

Nhưng có nhiều người cho thế là chưa đủ. Những người thực sự muốn con người vượt lên trên thân phận con người. Những người yêu mến, nâng niu, kính trọng sự sống. Họ dang hết hai tay, mở rộng tâm hồn, phát triển cùng trí lực để đón nhận cuộc sống, với tất cả thương yêu, hoan hỉ. Họ dấn thân vào đám người bệnh hoạn, nghèo khó, đau khổ để những tình cảm thương yêu tràn đầy trong họ – tràn sang những người đang cần tình cảm ấy; để giải thích ý nghĩa cuộc sống – cho những người đang mất tin tưởng; để phá tan cái im lặng ghê rợn – đang bao phủ những người anh em ấy. Họlà những linh mục Pierre, những Schweitzer, những Follereau, là những người hiểu rằng Trái Đất là của Con Người. Trái Đất là của Con Người. Trên đó sự sống là của tất cả, dù bệnh hoạn hay không. Mỗi người phải là một nghệ sĩ của cuộc sống để tô điểm cho nó tươi sáng, rực rỡ thêm lên. Không phải chỉ bằng những công trình kiến thiết đồ sộ, những tiện nghi tối tân, những

ánh sáng điện năng hay nguyên tử năng. Mà còn và cần phải bằng những con người khỏe mạnh không mặc cảm, chuộng công bằng và biết thương yêu. Hãy đến cùng người “nan y” trong ý niệm ấy. Với thiện tâm nhân ái, với thiện cảm hoạt động. Tự giải thoát mình khỏi những cảm giác ghê sợ giả tưởng; giải thoát người khỏi những mặc cảm yếu kém, thiệt thòi – để chấp nhận và thích hợp hóa người “nan y” vào cuộc sống bình thường. Mỗi người phải là một người thợ cần mẫn của cuộc sống để xây dựng cho nó ngày thêm giàu mạnh, phong phú. Trái Đất như một bà mẹ giàu có, rộng rãi, không hề tiếc gì với con người. Trở về với Đất, hai bàn tay chắc chắn, lòng yêu chuộng giản dị và sự làm việc – để sản xuất và cung cấp, đủ cho mình, đủ cho người. Kho vựa đầy, y thực đủ, nhiên hậu mới nghĩ tới thuốc men, đến thủ thuật trong những khi đau ốm, tai nạn, vốn bất trắc và phi lý của con người.

Mỗi người phải là một tiên tri cho cuộc sống để đoán biết tương lai, ngõ hầu áp dụng những cải cách thích nghi. Trong mọi lãnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế. Với lòng khiêm tốn, thanh bạch, cúc cung tận tụy. Những gốc dâu của Khổng Minh. Những luống cày của Cincinnatus. Cần chi đâu những tín điều viển vông, cao vời. Trên mặt trăng hay trên thượng tầng khí quyển. Mỗi người phải là tất cả mọi người trong cuộc sống. Để cảm thông, hòa đồng, để khoan dung, tha thứ, để chung vui, xẻ buồn. Để sẽ tới ngày mà “con vua và hành khất đều trở thành anh em” như lời thơ Schiller.

Một thế giới không còn bệnh nặng, làm ngạt thở vì đau đớn và kinh hoàng, không còn những giọt nước mắt ngây thơ vô tội, làm ta băn khoăn; không còn những cái chết non dại, mệt nhọc và xấu xa. Một thế giới trong đó đôi ba ngày nhức đầu sổ mũi chỉ là cái cớ để người ta thương yêu nhau hơn lên. Với những tiếng cười pha lê, làm ngơ ngác muôn ngàn tinh tú. Và sự chết lúc đó mang trọn vẹn ý nghĩa của hạt thóc gieo vào lòng đất. Chết không phải là chấm dứt sự sống. Mà là khởi đầu sự sống. Là móc nối liền những sự sống.

Tất cả, hãy sẵn sàng ngay tự bây giờ.

NGHIÊM SỸ TUẤN

[Tình Thương Số 10, tháng 10,1964]

1. Đoàn Thêm – Tìm Hiểu Hội Họa

2. … thịt xương là sông núi

Chia biệt người ra từng xứ cô đơn (Huy Cận)

3. André Carayon – Chirurgie de la Lèpre.

4. Lời viết bằng tiếng Pháp đăng trên một nhật báo Thủ đô, cách đây chừng năm,

5. Theo các bác sĩ Gilbert (OMS) và Nguyễn Văn Ái (Viện Pasteur Saigon) sáu tháng.

6. Dickens – A Christmas Carol.

Bầy Sư Tử Lãng Mạn

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Bài 8

Bản tự khai ngắn nhất của Lương Việt Cương.

Sơ yếu lý lịch

Họ và tên: Lương Việt Cương

Sinh năm: 1945

Sinh quán: miền Bắc Việt Nam

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: miền Nam Việt Nam

Nghề nghiệp: Dạy học

                                                                                Bị bắt ngày: 6-11-1975

                                                                                Can tội: Yêu tự do, dân chủ.

Từ năm 10 tuổi trở lại, tôi còn bé không biết gì cả. Từ 10 tuổi đến 18 tuổi, tôi vẫn chưa biết gì cả. Từ 18 tuổi trở lên tôi biết nhiều thứ và chống nhiều thứ. Tôi chống chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm; tôi chống bọn tướng lãnh quân phiệt; tôi chống chế độ độc tài Nguyễn văn Thiệu; tôi chống bất công, tham nhũng, áp bức, bóc lột và mọi cơ cấu bịp bợm của chính sách Mỹ và lũ tay sai. Tôi chống chiến tranh, bọn thụ hưởng chiến tranh và bọn làm giàu nhờ chiến tranh. Bây giờ, tôi chống Cộng sản vì yêu tự do, dân chủ và vì tất cả những gì mà tôi chống trước đây.

Đề lao Gia Định, 10-1-1976

Lương Việt Cương

Người công an chấp pháp cầm bản tự khai của Lương Việt Cương nhét vào trong tờ bìa đỏ sau khi đọc xong. Ông ta nhìn tên phản động đối diện mình như muốn ăn tươi nuốt sống. Tên phản động tỉnh bơ vấn thuốc rê đốt, hít, nhả khói khét lẹt căn phòng làm việc nhỏ bé ở khu A. Hắn có khuôn mặt hao hao Nguyễn Khánh. Đương đầu với cán bộ chấp pháp, hắn vừa kiêu ngạo, vừa xấc xược. Thái độ của hắn lộ rõ rệt vẻ khiêu khích. Thái độ ấy bắt nguồn từ lòng khinh bỉ kẻ chiến thắng của dân Sài gòn. Trước ngày sang trang lịch sử phản phúc, người Mỹ đã đánh bóng cộng sản quá kỹ và dọa dân miền Nam quá nhiều. Rốt cuộc, nhìn rõ Cộng sản, người ta thấy nó chẳng đáng gì. Và người ta khinh bỉ nó. Người ta khinh bỉ nó ngoài đời. Người ta còn khinh bỉ nó ở trong tù, khi nằm xó tối cachot, tay chân bị nó siết còng.

Vung trái đấm đập bàn cho hả giận, người công an chấp pháp rít qua kẽ răng:

– Anh ngồi làm việc cho nghiêm túc!

Tên phản động liệng điếu thuốc, dùng chân dí mạnh rồi ngẩng mặt nhìn thẳng vào quyền uy của chế độ:

– Tôi đã báo cáo anh rồi, mông tôi đầy mụn ghẻ mủ, tôi không thể ngồi ngay ngắn được.

– Ngồi ngay ngắn. Anh nhớ rằng anh đang làm việc với người đại diện của đảng, nhà nước và nhân dân.

– Đồng ý. Nếu đảng của anh hẹp hòi với cả những mụn ghẻ mủ thì tôi ngồi ngay ngắn. Sự đau đớn ở hai cái mông tôi đánh giá lương tri của chủ nghĩa.

– Tôi cấm anh nói cái giọng điệu đó, giọng điệu của bọn phản động cộng lưu manh.

– Vậy tôi không làm việc với anh.

– Anh tưởng anh ngoan cố nổi mãi à?

– Không ngoan cố gì cả, tôi muốn làm việc với người có học, anh vô học, anh thù hằn cả mụn ghẻ! Anh cứ yên tâm, chế độ của anh cho can phạm cái quyền khiếu nại. Điều này không có nghĩa là chế độ dân chủ đâu mà để kiểm soát xem anh có hối lộ can phạm không, có thi hành sai chính sách không. Tôi sẽ không khiếu nại mà chỉ hỏi cấp lãnh đạo của anh để biết mụn ghẻ mủ có phải là tù nhân tư tưởng, tù nhân chủ nghĩa, tù nhân giai cấp.

Người công an chấp pháp bỏ ra khỏi phòng. Ông ta khép cửa sổ, cửa ra vào kín mít. Một mình Lương Việt Cương ngồi trên ghế gỗ bên trong. Tên phản động trán cao, mắt ốc nhồi thừa hiểu, bên ngoài, mấy thằng công an quản giáo đang canh chừng mình. Đã có chủ ý, tên phản động không thèm đứng dậy, không thèm thay đổi tư thế ngồi liền liền như có mặt công an chấp pháp. Hắn ngồi ngay ngắn, ngồi nghiêm túc. Thoạt đầu, hai mông hắn đau buốt. Dần dần bớt đau vì những mụn ghẻ mủ đã vỡ. Mủ thấm ướt quần và dính lớp nhớp lên mặt ghế, lên bộ mặt của chủ nghĩa Cộng sản. Tên phản động Lương Việt Cương đã chế ngự được nỗi đau tầm thường. Hắn cảm giác thoải mái và vấn thuốc hút lia lịa. Lần đầu tiên, từ ngày bị bắt, chấp pháp gọi hắn ra làm việc. Người ta nhốt hắn ở cachot số lẻ sở Công An thành phố đúng hai tháng. Hắn bị còng chân bằng còng số 8 nhãn hiệu USA. Nhờ bạn tù cachot “phổ biến” cách tự mở khóa, hắn đã dùng que diêm xin cai ngục mồi thuốc lá để nậy chốt an toàn và có những đêm ngủ chân không. Bạn tù cachot, đêm khuya, tỉ tê với hắn rằng, đã tới sở Công An là không lo bị tra tấn. “Nó chỉ tra tấn đầu óc mình thôi”. Ngày 6 tháng 1 năm 1976, hắn rời quán trọ sở Công An sang khách sạn Đề Lao Gia Định. Hắn chớm ghẻ ở cachot sở Công An, qua đây ba ngày thì ghẻ mủ bộc phát nhanh chóng. Khắp mông, khắp đùi toàn những mụn vàng đầu đen. Hôm nay, hắn ra khỏi cachot khu A đi làm việc.

Ở đề lao Gia Định, không một tù nhân nào bị tra tấn bằng đòn công an, cảnh sát cổ điển cả. Nhưng có những thứ còng siết vào cánh tay tính từng giây. Đến giây thứ 50 thì chết. Thường, tới giây thứ 20, can phạm đã gật đầu hứa khai hết sự thật. Đòn tra tấn này dành cho những can phạm lý lịch mơ hồ. Khách hàng của đòn này đa số là nhân viên tình báo không hề ký tên thật trong sổ lương của Tổng Nha Cảnh Sát, của Trung Ương Tình Báo và tàn quân bắt được trong rừng. Những kiểu còng treo người hàng tháng, ở đề lao Gia Định không hiếm. So với khám Chí Hòa, đề lao Gia Định “lý tưởng” gấp bội. Công an chấp pháp không đánh đập can phạm lúc hỏi cung. Can phạm có quyền khước từ khai báo và có quyền xin làm việc với chấp pháp khác. Đã không ai dám khước từ hoặc bướng bỉnh với chấp pháp, trừ những cô cậu sinh viên, học sinh của Sài Gòn can tội phản động và trở thành khách hàng “đắt giá” của khách sạn Đề Lao số 4 đường Phan Đăng Lưu, Gia Định. Tên phản động Lương Việt Cương không sợ bị tra tấn. Hắn đã nếm đòn của mật vụ Dương văn Hiếu, của cảnh sát Mai Hữu Xuân, của cảnh sát đặc biệt các triều đại Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn văn Thiệu. Hắn đã rắc cơ man là kỷ niệm trong các nhà tù việt nam qua các chế độ. Bây giờ, hắn ngồi đây, ngồi làm tan những mụn ghẻ mủ nhớp nhúa trên khuôn mặt của chủ nghĩa ưu việt nhất loài người!

Người công an chấp pháp đã trở lại. Cửa sổ mở tung. Ông ta nhìn tên phản động ngồi nghiêm túc, mỉm cười tự mãn:

– Vậy là chúng ta làm việc được rồi.

Tên phản động lắc đầu:

– Không, tôi không thích làm việc với anh.

– Tại sao?

– Vì anh không đủ tư cách làm việc với tôi.

– Anh biết chấp pháp là gì không?

– Biết. Chấp pháp là “thần tượng” của tù nhân, tha hay nhốt là do chấp pháp. Ở tù lâu hay về sớm là do chấp pháp. Nhưng chấp pháp của ăn trộm, ăn cắp, lường gạt thôi. Đã không có chấp pháp của tôi. Tôi hả, người có thể tha tôi, có đủ tư cách tha tôi chỉ là sự giải thoát dân tộc toàn diện sắp bùng nổ.

– Khi ấy anh ở đâu?

– Ở nhà tôi với vợ tôi, với bạn bè tôi hoặc tôi ở dưới mộ.

– Được, anh thích xuống mộ thì anh sẽ xuống mộ. Anh tạm về biệt giam suy nghĩ thêm.

Lương Việt Cương từ từ đứng dậy. Hắn nghe rõ một thứ âm thanh như âm thanh băng keo scotch lột ra khỏi thùng carton. Hắn nhìn người công an chấp pháp, chỉ tay vào mặt ghế:

– Đó, cái đó cũng là một dấu ấn của thời đại mà con người thù hằn cả mụn ghẻ.

Lương Việt Cương theo tên công an quản giáo về cachot. Hắn được hưởng chế độ còng rất hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tên phản động nằm dài, hai chân luồn vào hai khoen còng có móc luồn ra ngoài tường cachot. Hai gót chân hắn chạm sát tường bên trong. Người ta khóa phía ngoài. Với kiểu còng cộng sản, tên phản động đành nằm trên bục xi măng suốt ngày đêm, không trở mình cũng không ngồi dậy được. Hai bữa cơm, người ta mở còng cho hắn ăn uống, đi ỉa, đi đái vào cái thùng đạn đại liên Mỹ khoảng mười lăm phút mỗi lần. Không có ống nước dẫn vào cachot loại nhốt thứ bất trị nên không có tắm rửa. Không có luôn thuốc ghẻ lở. Không có gì cả. Lương Việt Cương bị đầy đọa, bị hình phạt của thù hận của chủ nghĩa biến thành một con chó ghẻ lở nhầy nhụa máu mủ tanh tưởi trên bục xi măng nhà tù cách mạng, nơi mà không ai dám đòi “cải thiện chế độ lao tù”, không ai dám ví nó với chuồng cọp Côn Sơn. Nơi ấy, bút mực của bọn nhà báo Mỹ diễn tả như một lớp học phục hồi phẩm cách làm người. Nơi ấy, thiên kiến và sự khờ khạo của thế giới đã giết chết lương tri của họ. Nhưng, nơi ấy, một người Việt Nam vì chiến đấu cho quyền sống con người, cho tự do, dân chủ đang can đảm chịu đựng âm thầm và kiêu hãnh. Cái gì sẽ nở rộ từ máu mủ khô quánh đũng quần người tù nhân tư tưởng việt nam? Chưa ai biết. Chắc chắn, sự can đảm chịu đựng trong cô đơn của anh ta đã định nghĩa con người và phẩm cách của nó.

Hai tuần lễ sau, người ta mở còng cho Lương Việt Cương, dẫn hắn đi tắm gội, liệng cho hắn cục xà phòng và bộ quần áo tù màu cháo lòng. Người ta đưa thuốc ghẻ cho hắn bôi, cho hắn uống. Rồi người ta làm việc với hắn bằng cung cách mới. Công an chấp pháp già dặn hơn, nhã nhặn hơn, nồng nhiệt hơn.

– Anh bớt ghẻ chưa?

Người chấp pháp ân cần hỏi. Ông ta đặt gói thuốc Phù Đổng và hộp diêm Thống Nhất trên bàn, khẽ đẩy sát phía Lương Việt Cương.

– Anh hút thuốc đi. Tôi đã nhờ quản giáo pha cà phê mời anh.

Ông ta cầm lại gói thuốc, tự tay bóc, chiêu đãi tên phản động:

– Mời anh. Xin lỗi nhé, tôi không biết hút thuốc! Tôi nghĩ đến anh nên mua thuốc biếu anh.

Tên quản giáo bưng hai ly cà phê vào.

– Uống đi cho tỉnh táo, anh Cương.

Lương Việt Cương nhìn người chấp pháp mới, mỉm cười:

– Cám ơn anh.

Rồi hắn thản nhiên nhấm nháp cà phê “cho tỉnh táo” và nhả khói thuốc thơm Phù Đổng.

– Lát nữa, anh chuyển sang biệt giam khu C1. Anh ghẻ lở, nên ở biệt giam cho mau khỏi. Tôi đã ra lệnh rồi, mai quản giáo dẫn anh đi cắt tóc, cạo râu. Anh được hưởng tiêu chuẩn bồi dưỡng. Anh sẽ được viết thư, nhận thư và được thăm nuôi. Anh có gì cần hỏi không?

– Không.

– Vậy uống cạn cà phê đi, rồi về chuyển phòng nghỉ ngơi.

Người ta tặng Lương Việt Cương gói thuốc, hộp diêm, chuyển cachot và không còng chân tay hắn nữa. Cachot C1 rộng rãi, thoáng mát. Người ta đang lắp ống nước. Hiện thời, mỗi ngày, người ta đưa vòi nước qua ô cửa cachot hai lần để tù biệt giam tắm giặt, xối cầu tiêu. Khi Lương Việt Cương hết ghẻ lở, hắn đi làm việc liên miên, làm việc phờ phạc. Hoạt động của Cương, Cương khai hết, không thiếu sót một chi tiết nào. Bạn bè của Cương đã bị bắt trọn ổ, cần gì phải dấu diếm. Mà cũng khó dấu diếm. Và nữa, chiến đấu cho tự do, dân chủ là việc làm quang minh chính đại, không cần dấu diếm. Vấn đề đặt ra cho Lương Việt Cương như đặt ra cho tuổi trẻ Sài Gòn lại không phải là sự khai báo thành thật mà ở sự thành thật nhận lỗi và hứa ăn năn sám hối tội lỗi. Với Cộng sản, có lẽ, họ nghĩ rằng, những phong trào, những tổ chức chống đối họ không mấy quan trọng, không thể lay chuyển nổi chế độ của họ. Nhưng họ kiêu ngạo, họ muốn tận diệt lòng tự phụ của tuổi trẻ, họ muốn tuổi trẻ ăn năn sám hối và nhận từ họ sự khoan dung, độ lượng. Đã nhận sự tha thứ của kẻ thù thì hết tự phụ, thì chỉ còn là gục mặt cam đành mãn kiếp và hứng đủ sự khinh bỉ của kẻ thù. Do đó, sư tử lãng mạn chọn lựa con đường như họ đã chọn lựa. Biết chiến đấu là biết ngẩng mặt.

– Anh nhất định không nhận tội?

Người chấp pháp thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy… đều hỏi câu ấy.

– Không, tôi không có tội gì cả. – Lương Việt Cương trả lời.

– Ai đã làm gì anh mà anh chống đối?

– Ai đã làm gì Chủ Tịch Hồ Chí Minh?

– Thực dân, phát xít, đế quốc đã dày xéo quê hương chúng ta.

– Với chúng tôi, bây giờ là Cộng sản.

– Câm cái miệng phản động hôi hám của anh lại.

– Vậy anh đừng nên hỏi tôi nữa.

Người ta không hỏi gì Lương Việt Cương nữa. Cộng sản không dại gì ban phát cho kẻ thù tư tưởng một cái chết dễ dàng, êm ái. Họ để kẻ thù của họ sống mà đếm nỗi chết từng ngày. Họ bắt kẻ thù của họ thèm chết, khao khát nỗi chết. Lương Việt Cương bị nhốt vào phòng đặc biệt. Người ta buộc giây điện vào hai ngón tay cái của hắn, đẩy hắn úp mặt sát tường. Người ta bảo hắn kiễng hai chân lên. Người ta cột giây điện vô thanh sắt trần phòng. Lương Việt Cương đứng kiễng chân, hai tay dơ cao. Nếu hắn để gót châm chạm đất cho đỡ nhức nhối mười đầu ngón chân thì hai ngón tay cái của hắn đau buốt, chịu không thấu. Nếu hắn rướn người thêm một chút cho hai ngón tay đỡ nhức nhối thì mười đầu ngón chân của hắn đau buốt. Hắn đành bất động, tìm quên hình phạt thể xác bằng thiền đứng và ước mơ. Không ai chịu nổi hình phạt này quá một tuần lễ. Lương Việt Cương đã chịu nổi mười hai ngày đêm. Đừng hòng người Cộng sản ưu việt và đầy nhân cách cởi giây cho anh ăn uống, ỉa đái. Một tù nhân khác cho anh ăn, uống. Miệng anh nốc nước, chân anh vẫn kiễng. Răng anh nhai cơm hẩm, tay anh vẫn dơ cao. Anh đái, ỉa, ngủ, chiêm bao, sợ hãi, đau đớn trong hình phạt. Hãy nghĩ anh ỉa đái lên hình phạt. Và nếu hình phạt của thù hận oái oăm này là biểu tượng ưu việt của chủ nghĩa Cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa thì anh đã ỉa đái lên nó. Anh ngờ vực hình phạt và sự chịu đựng hình phạt của con người? Cứ tự do ngờ vực như cái thế giới tự do của anh. Sắp đến lượt Cộng sản nước anh treo anh như nó đã treo Lương Việt Cương. Anh cứ ngoảnh mặt đi. Có ngày anh sẽ tru tréo phân trần: Tôi chẳng có tội gì, tôi chỉ tranh đấu cho nhân quyền. Thưa anh, đòi hỏi quyền làm người, ở thế giới Cộng sản, là tội lỗi phải trừng phạt bằng cách buộc giây điện vào hai đầu ngón tay, kiễng lên với mười đầu ngón chân và treo cao tay lên!

Người ta nghỉ chơi hình phạt này và cho Lương Việt Cương nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ít lâu. Rồi có trò chơi khác cho Lương Việt Cương. Khi các thứ trò chơi của chủ nghĩa không làm Cương nhận tội, ăn năn sám hối tội lỗi, người ta xếp Lương Việt Cương vào thành phần “không thể cải tạo”, người ta giả vờ quên Cương. Hai năm sau, người ta gọi Lương Việt Cương ra làm việc. Người ta hỏi Cương có muốn trở về xum họp gia đình không, Cương đáp không, không, không.

– Tại sao?

– Như tổ quốc tôi, thân thể tôi đầy sẹo Cộng sản.

Đó là lần làm việc cuối cùng của Lương Việt Cương, đại biểu của tuổi trẻ việt nam có mặt trong mọi dấy động của đất nước. Những người viết lịch sử sau này sẽ quên tên Lương Việt Cương, thày giáo dạy toán lý hóa. Điều đó chẳng sao và cũng chẳng đáng ngạc nhiên. Bởi vì sử gia của chúng ta đã chạy trốn hết. Và họ đang viết những trang sử ca ngợi sự nghiệp giải thoát dân tộc của các ông trùm công an, các ông cò đã đóng góp nhiều vào các cuộc đàn áp tuổi trẻ việt nam. Hình như Lương Việt Cương chẳng thích ai biết về mình.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Chương 8

Diệu Thủ Thư Sinh

Con gà mái vừa rời ổ, nhảy xuống nền đất mới làm cỏ, kêu cục cục. Cô nàng vừa chạy, vừa dang đội cánh, đập đập như muốn bay. Đấy là động tác làm giản gân cốt của con gà mái đang ấp, cũng vô tình báo tin cho Lân biết, cô nàng đang có một ổ trứng. Lân liếc về phía ông vệ binh, rồi liếc nhanh về phía ổ gà nơi chái nhà. Mọi người đang cắm cúi làm việc. Tù làm cỏ. Tù be bờ, để nước mưa có lối thoát. Tù đang sửa lại các bậc tam cấp đã sụp lở, xói mòn. Đây là bộ chỉ huy của ông chín ngón.

Tù lao động ở đây phải chăm chỉ, vì ngoài đôi mắt của ông vệ binh trực tiếp canh giữ, còn có nhiều đôi mắt khác quan sát. Nhất cử, nhất động, đều có thể bị để ý, theo dõi. Một vài tù đói thuốc, lo tìm dế nhưng Lân không để ý đến chuyện đó vì có một việc lớn hơn làm Lân đang suy nghĩ.

Lân cào cào gom đống cỏ lại, rồi đến gần Nghiêm nói thật nhỏ:

– Có ổ trứng.

– Ở đâu?

– Nơi chái nhà.

– Làm cách nào?

– Đặt kế hoạch đi.

Rồi Lân lãng ra xa, dùng tay tơi đất và gom cỏ thành đống, vừa suy nghĩ. Nghiêm dùng cuốc, cào cào cỏ lại chỗ Lân:

– Có cái túi nào không?

– Có cái hồ lô[1]

– Tao tin cho thằng Diệu thủ Thư sinh [2], mày để hồ lô giữa đống cỏ cho nó.

– Tao canh chừng cuối sân đầu bên nầy, mày bên kia.

– Còn trường hợp chúng ở trong nhà nhìn xuyên qua vách?

– Chỉ trời cứu thôi.

– Phải thực hiện ngay kẻo con gà mái quay trở lại ổ thì rắc rối lớn.

Nghiêm ra phía trước sân, gần bậc tam cấp, nơi Diệu thủ Thư sinh đang làm, thông báo kế hoạch. Diệu thủ Thư sinh thêm ý kiến:

– Mầy tìm cách giữ chân thằng vệ binh ở đây cho đến khi tao đặt túi trứng giữa đống cỏ và sau đó thì mầy xin nó cho phép mang cỏ đi đổ. Thằng Lân sẽ bỏ cỏ vô sọt và kêu tao khiêng với nó là êm.

Diệu Thủ Thư Sinh tiếp:

– Còn chuyện đem vô cổng?

– Tao sẽ cho thằng Huỳnh hay, vì nó nuôi heo, ra vô cổng hằng ngày, ít khi bị chận xét.

Trên đường đi đến gặp ông vệ binh ở cuối sân phía bên kia, Nghiêm bắn tiếng để lấy lòng ông vệ binh:

– Anh em cố gắng làm tốt đi, tôi sẽ xin phép cán bộ cho nghỉ giải lao.

Gặp ông vệ binh, Nghiêm nói:

– Thưa cán bộ, xin cán bộ cho biết cách sửa các bậc tam cấp. Cán bộ quản giáo đã chỉ cho tôi sáng nay rồi nhưng có vài trở ngại cần đến ý kiến của cán bộ ở đây.

Ông vệ binh đi với Nghiêm đến nơi bậc tam cấp thì Diệu thủ Thư sinh đang ôm cỏ đi về phía Lân.

Nghiêm kể một vài khó khăn để làm các bậc tam cấp khỏi sạt lở, như cần cây và cọc để đóng cừ, đắp đất. Cần xẻ hai mương ở hai bên cho nước có lối thoát, rồi Nghiêm xin ông vệ binh cho một người đi chặt cây.

Nhiệm vụ của ông vệ binh là chỉ canh giữ tù, còn việc cắt cử tù đi làm việc khác phải do ông quản giáo, cho nên ông vệ binh chưa thể quyết định được. Nghiêm chỉ chờ có vậy để kéo dài thời gian. Ông vệ binh đang phân vân, chợt nhìn thấy ông chín ngón từ xa đang đi về phía bộ chỉ huy. Ông vệ binh nói với Nghiêm:

– Chờ thủ trưởng đến, tôi sẽ hỏi.

Nghiêm hồi hộp vô cùng, nên liếc nhìn về phía Lân. Lân nhìn lại nhưng không thấy Diệu thủ Thư sinh ở đâu cả, Nghiêm đoán chắc đang ở nơi ổ gà. Như vậy thì tai họa sẽ đến. Ông chín ngón là con cáo già chứ không phải đơn giản.

Ông vệ binh đón hỏi ông chín ngón, khi ông vừa lên được mấy bậc tam cấp. Lên đến trên sân, ông chín ngón đứng nhìn bao quát, rồi ra lệnh:

– Cho người làm sạch cỏ hai bên mương rồi đánh sâu xuống. Cắt người đi về khu nhà bếp khung lựa một số củi tốt và thẳng, đem về đây đóng cọc.

Rồi ông quay lại Nghiêm:

– Anh theo tôi ra phía sau các dãy nhà tôi sẽ chỉ việc cho.

Bên trong trái tim Nghiêm như muốn văng ra khỏi lồng ngực nhưng bên ngoài Nghiêm vẫn giữ bình tĩnh:

– Dạ.

Ông chín ngón không đi ngay về phía Lân, nơi đống cỏ, ông đi về cuối dãy phía bên kia. Ông vệ binh và Nghiêm theo sau. Ông chín ngón chỉ vẽ công việc. Nghiêm như chăm chú lắng nghe nhưng mắt liếc về hướng Lân. Nghiêm thấy Diệu thủ Thư sinh và Lân đang hợp tác kéo một số dây leo xuống vung vãi, choán cả lối đi phía sau nhà. Nghiêm hiểu ý, Lân muốn làm cản lối đi của ông chín ngón, nhưng ông chín ngón cứ đạp lên đống dây leo đi tới. Ông đứng lại giây lát, rồi đi vào bên trong chái nhà. Nghiêm phụ với Diệu thủ Thư sinh và Lân gom góp, dọn dẹp trong căng thẳng thần kinh. Lân ra dấu nơi đống cỏ. Cả ba lắng tai nghe từng tiếng động nhỏ từ trong chái nhà vọng ra. Nếu ông chín ngón phát hiện thì diễn biến sẽ như thế nào. Cái gì sẽ xảy ra? Có thể ông sẽ tập họp cả toán rồi kêu các vệ binh lục soát. Có thể những trận đòn sẽ xảy ra để tra hỏi, tìm cho ra thủ phạm. Đống cỏ đang lù lù trước mắt bây giờ như một cái gì ghê tởm mà cả ba đều muốn tránh cho xa.

Chợt tiếng con gà mái kêu lên cục cục trong chái nhà làm cả ba kinh hoảng. Tai họa chắc chắn sắp đến. Có thể ông chín ngón đang kiểm tra ổ trứng. Diệu thủ Thư sinh nói thật khẻ:

– Phải có một đứa hy sinh. Tao chịu cho.

Lân nói:

– Để tao.

Nghiêm nói:

– Bình tĩnh. Có thể chịu càng nhiều, càng tốt. Vì một đứa chúng dễ bắt làm vật hy sinh nhưng đông thì chúng khó giải quyết hơn.

Cả ba cùng im bặt khi nghe tiếng ông chín ngón bước trở ra nhưng không dám quay lại. Cả ba đang nghĩ, chắc ông chín ngón đang nhìn phía sau lưng họ và đang đánh giá ai là thủ phạm. Tình trạng căng thẳng như tử tù chờ nghe tuyên án. Nhưng ông chín ngón không nói gì. Ông chỉ đi đến cuối căn nhà, gần nơi đống cỏ, ông đứng nhìn quanh quất, rồi vòng ra phía trước sân. Chỉ chờ có thế. Gánh nặng căng thẳng cả ngàn cân chợt tan biến mất. Lân nói:

– Trời còn thương nên cho con gà mái về lại ổ kịp lúc. Nó ghiền trứng nên nằm ấp ổ không, chứ nếu không thì tai vạ lớn đang xảy ra. Đã mất ăn mà phải chịu đòn vọt, kiềm kẹp.

Giờ giải lao, Nghiêm xuống suối rửa tay, đón gặp Huỳnh đang gánh đôi thúng dọc suối, tìm lá ráy cho heo và dặn:

– Thoát được vô cổng thì bỏ trong nồi cháo heo luộc ngay trong khi cả trại còn đang ở hiện trường lao động. Vụ nầy lớn nên phần mầy thì thanh toán ngay để nếu có đổ bể thì ít ra cũng có thằng đã nuốt được vô bụng. Còn lại, chia nhỏ giấu ngoài bờ, bụi. Tuyệt đối không để ở trong lán.

[1] Túi thu quyền phép của Thái Thượng Lão Quân trong truyện Tây Du Ký.
[2] Nhân vật có biệt tài ăn cắp, trong truyện Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung.

Ý nghĩ bình dân

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/03/2018   

Post by Sơn râu 3 Jan 2026

Ở biển ngoài, muốn in ra cuốn sách phải chạm mặt bao điều nan giải. Quỵ luỵ, chìu lòn, cực lòng nhờ cậy, dẹp bỏ tự ái, một mực xuống nước. Sách trình làng, tâm huyết bày ra, ruột để ngoài da, ghẻ lạnh. Hòn sỏi ném đi, hờ hững nước trôi chẳng gợn tăm. Thi phú ích gì cho buổi ấy, tiền nhân dạy. Chuyện ngày xưa, chữ chưa phai “văn chương hạ giới rẻ như bèo!” Nói bỏ lỗi ai cầm thước đo hầu quy định và sắp hạng? Mặt trái một tác phẩm có khi giá đắc phỏng tay. Hoặc nôm na khi chào đời nó chịu qua nhiều gió bão, trầy vi tróc vẩy lội lọt khe, đánh đổi bao tổn thất gần ngang tin chiến sự: từ chết tới bị thương đếm không xuể.

Có điều gì gần như khó thông hiểu, mụ mị thần hồn, gạt bỏ hết, tom góp in thành cọc giấy dày mấy trăm trang, cuối cùng bày ra lợn cợn một dấu hỏi, xiết ngậm ngùi: Có đáng chăng khi vất nó ra đời? Mong cầu điều gì? Cho có với anh em? Cho khỏi thẹn với bè bạn? Ai sao ta vậy cho xôm tụ bầu cua tôm nai cá gà? Có thêm lắm câu trả lời vẫn chưa lấp đầy, vẫn thấy thiếu. Thiếu, có nhiều người sinh ra đã phát hiện thiệt thòi, phân bua do hoàn cảnh. Có người đầy đủ nhưng nhìn quanh mình có lắm số phận đớn hèn. Một đứa chính trực sẽ chẳng an toàn khi sống trong xã hội toàn cả bọn bất lương. Những con két biết giả giọng người sẽ căm ghét “con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi”. Định nghĩa về một loài hoa đẹp, không gì đơn sơ giản dị cho bằng, vì hoa nở lẻ loi, khác thường giữa một rừng bông thuần chủng loại. Chẳng ai ngó lơ được cây mắc cỡ (hổ ngươi) mọc chen giữa luống vạn thọ mãi chăm bón. Vẻ đẹp bất thường của nó khiến đứa thưởng hoa nhàm mắt phải sững sốt. Hậu quả là buộc phải bứng nhổ cái dằm nằm trong con ngươi.

Hải ngoại có lắm đầu sách thuộc dạng vô thưởng vô phạt, có cũng vậy mà không có vẫn thế. Kiểu “ôi ta buồn ta đi loanh quanh bởi vì đâu?” hoặc “trời chợt mưa chợt nắng chẳng vì đâu!” Vì đâu xẩy ra cớ sự này? Giả nhời: Một vài trống canh thôi mà. Năm canh chày thức đủ vừa năm. Và khôi hài: Em ơi, ngày mai trời lại tối! Nhà văn Mai Thảo từng có thơ: “Nơi một ngàn chương thiếu một tờ”. Chữ thiếu-một-tờ cô đọng trong câu ấy là một cánh cửa mở để tuỳ tâm cảm từng cá nhân tìm cách đóng khép ngó sao cho vẹn toàn. E bất khả?

Trong muôn một, cuốn “Chính Trị Bình Dân” của Phạm Đoan Trang tựa một cánh tay (nối dài) với ra để đóng lấy, để lấp đầy, để góp gạo nấu ăn chung, để chất củi thổi lửa, để làm kiềng ba chân, cho dù có cay mắt vì khói vẫn mong tựu thành một sự chín tới, buộc phải thế. (Không có lửa làm sao có khói?) Tựa đề nhằm lưu ý nó không thuần là món ăn tinh thần dễ nuốt. Nó khó nhai bởi hơn một lần nó sống sót trong cuộc chiến có xiết bao kẻ “từ chết đến bị thương” từ vùng chôn nhau cắt rốn của bá tánh giao chỉ.

Con gái đàn bà phụ nữ khắp ba miền nước Việt có rất nhiều người mang tên Đoan Trang từ sống tới bị thương cho đến chết thảy trùng lẩn. Thành ra Đoan Trang có thể gọi là một mỹ từ bình dân. Nhưng ở vào thời điểm này, khởi đầu mùa xuân năm con chó, danh xưng Phạm Đoan Trang đã “vượt lên trên số phận” của bình dân. Vượt lên những định nghĩa thông tục về vẻ đẹp can trường, biệt lệ. Thử đọc lời của nhà thơ Đỗ Trung Quân trên facebook: “Mấy năm trước an ninh chỉ canh giữ cửa nhà và bám theo một thời gian dài, chỉ khủng bố tinh thần tôi ở cấp mẫu giáo mà có lúc tôi đã rơi vào stress nặng cáu gắt lung tung với chung quanh. Việc vờn bắt, thả Phạm Đoan Trang hôm nay ở cấp đại học. Không phải chuyện đùa. Mong cô bình tâm và an lành…”

Đoan Trang có bình tâm và an lành không? Tôi chẳng nghĩ vậy, bởi lời Đỗ Trung Quân chúc hơi bị trái khoáy, ở cấp mẫu giáo mà anh còn bị stress trong khi người ta đang chịu thử thách tới cấp đại học, tìm đâu ra bình tâm và an lành? Chưa nói tới người ta là phận đàn bà con gái trong khi anh đường đường là đấng mày râu. Thân thể anh nguyên vẹn trong khi cô ấy từng bị an ninh “tả xung hữu đột” cho đến nỗi bị thương tật ở đôi chân. Cách so sánh của anh hầu như chỉ để làm rõ thêm sự đớn đau mà Đoan Trang đang phải chịu đương cự và đồng thời nhằm xác định về sự tán dương mà anh thua cô ấy ngay tự cơ bản, cách biệt giữa trường đời: Mẫu giáo- Đại học. Và cá nhân tôi, vì ở xa nửa vòng quả đất, tôi thua kém anh ở mặt “thất học”, chưa mài đít ở trường mầm non, mẫu giáo. Như thế, nói tới Đoan Trang, tôi phải ngước mắt nhìn lên, tự nhủ rằng không phải ai cũng được bình dân như cô ấy. Bình dân từ khuôn mặt, bình dân từ số phận. Bình dân đến độ toả sáng, như ngọn hải đăng lẻ loi cắm giữa tảng đá chịu nhiều vùi dập của sóng biển. Một vẻ đẹp quá ư cần thiết giữa đêm đen kẻ hải hành lỡ mất định hướng.

Tôi chưa đọc cuốn sách “Chính Trị Bình Dân” đang gây tiếng vang do nhà báo Phạm Đoan Trang viết nên. Tôi chỉ mới đọc bài “Chúng sẽ đến trong năm phút nữa” và bài “Họ còn muốn gì nữa?”, chừng đó đã đủ “say sóng”, đã nghiệm thấy trước mắt, chờn vờn mấy chữ vô vàn mến yêu. Đã muốn viết nên một cuốn tiểu thuyết kể chuyện một cô gái xuống tàu thực dân Pháp làm nghề rửa chén, phiêu bạt sang xứ người nếm trải muôn vàn khốn khó hòng mong kíu lấy số phận ám tối của một bộ phận không nhỏ mãi chịu cảnh bị đè đầu cỡi cổ triền miên ở cố hương. Bình dân tới độ muốn sưởi ấm giấc ngủ cơ hàn, nhân vật giả tưởng ấy sẽ đi ăn cắp hai cục gạch, gọi tên là Trường Sa và Hoàng Sa, mang gửi vào lò nướng bánh mì của một tay luôn cổ xuý chuyện đấu tranh giai cấp. Trời ơi, nó đỏ hồng như thế thì biết dùng vật gì để chứa đựng, mang về chêm dưới giường một đêm Paris trời đổ tuyết hờn căm? (Đọc sang hồi sau sẽ rõ). Nếu cuốn fiction ấy có ai chịu xuất bản giúp, trang đầu tôi sẽ trang trọng dành tặng Đoan Trang. Lại mở một cái ngoặc đơn: Theo lẽ tường thì đứa viết văn tự xưng mình ở cấp “đại học” trong khi đứa viết báo lại nằm dưới lớp “mẫu giáo”. Nhưng xin đóng lại ngoặc đơn: Cách nhập cuộc của nhà báo Đoan Trang buộc lắm nhà văn phải đưa tay ra sau ót tự rờ rẫm nếu không tiện soi mặt vào gương.

Tôi cũng ngạc nhiên để ngưỡng mộ về ngón đàn guitar có vẻ dày công học tập của Đoan Trang, những bản nhạc cô trình bày cũng hợp với đôi tai “bình dân” của đứa tự nhận là vịt nghe sấm, ví dụ như các sáng tác của ban nhạc Bread mà năm 1972-73 từng làm mềm lòng tôi qua giọng ca ngọt ngào đầy cảm xúc của David Gates: Everything I Own, Lost Without Your Love, To Make It With You, The Guitar Man… Và Đoan Trang đã hát bài If, là bài sau bao đổi đời tôi vẫn còn nhớ một tiểu đoạn:

If a man could be two places at one time
I’d be with you
Tomorrow and today
Beside you all the way.

Phạm Đoan Trang sinh năm 1978 (năm tôi chuẩn bị vượt biển), cựu học sinh trường Amsterdam, đại học ngoại thương ở Hà Nội. Ra trường lại chọn nghề phóng viên đầu quân vào báo điện tử VnExpress. Lại nhảy sang làm cộng tác viên cho Vietnamnet. Công việc cuối là phóng viên báo Pháp luật TP. HCM tại Hà Nội. Là người tuyên bố câu đáng ghi vào sử sách: “Tôi chấp nhận bị đàn áp, vì tôi chống họ. Nhưng phải kính sợ, nể phục một “cái gọi là nhà nước” hèn như thế thì không. Không bao giờ”.

Nếu tôi biết hát bài “If” như David Gates, tôi sẽ đổi lời: Nếu tôi có thể về quê cũ, tôi sẽ đi thăm Nguyễn Hoàng Vi, Nguyễn Phương Uyên, Phạm Thanh Nghiên, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Phạm Đoan Trang, những bậc quần hồng khiến thế giới phải biết đến thành tích đấu tranh ôn hoà bất bạo động của họ. Thầm lặng tô son vào hình ảnh nữ lưu xứ Việt, chẳng rụt rè trét phấn vào thời cuộc chừng như đang âm thịnh dương suy. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Sách gối đầu của các nhà làm cách mạng (lạc hậu) đã được con cháu của Hai Bà Trưng viết lại chương mới, hào hùng và đầy oan nghiệt. Tôi không chúc Phạm Đoan Trang bình an và may mắn, tôi cũng chẳng mong mỏi cô chân cứng đá mềm. Bởi cô xứng đáng đứng ở vị thế cao mà những lời chúc khuôn sáo kia sẽ mang đủ cái giới hạn của sự tầm thường, và đời thường. Cô xứng đáng mang hình ảnh của kẻ tử vì đạo, đánh đổi bao thiệt thòi để thắp đỏ ngọn lửa mong manh có tên gọi “Chính Trị Bình Dân”. Cho tôi kết thúc bài viết bình dân này bằng một dấu chấm: Phạm Đoan Trang bị bắt vào ngày 8 tháng 3, ngày Phụ Nữ Quốc Tế.

Hồ Đình Nghiêm