This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Dưới mắt Thượng Đế chúng ta phải làm gì? Hãy tha thứ lỗi lầm cho nhau – Thượng đế sẽ tha thứ chứng ta. Hãy thương yêu nhau – Thượng Đế sẽ yêu thương chúng ta. Còn gì tuyệt vời hơn tình yêu trong tâm hồn chúng ta?
PARACELSE
MỘT BỮA, tôi phải đi thăm hệnh ở khu Giải phẩu chỉnh trực. Viên y sĩ trong khu này, một người tài ba, đã bất mãn bỏ đi vì bất đồng ý kiến với ban giám đốc. Chưa tìm được người thay thế ông giảm đốc bệnh viện đã nhờ tôi tạm thời trông coi khu ấy, thêm vào nhiệm vụ vẫn có thường ngày.
Sáng hôm ấy, tôi chú-ý ngay đển một bệnh nhân mới vào, một người dân bà quê mùa, trạc bốn mươi tuổi, ở miền Rừng Đen. Gương mặt nghiêm trang, gần như khắc khổ dưới mái tóc sớm điểm bạc chải hết ra đằng sau gáy, lộ vẻ tiều tụy vì sương gió, lộ vẻ khắc khổ và tiều tụy của những nông phu miền núi thường phải cày cấy và canh tác trong những điều kiện cực kỳ khó nhọc. Qua lá thư người bạn đồng nghiệp đã săn sóc rồi gửi bệnh nhân đến đây, tôi được biết bà ta bị bại hai chân và đã phải nằm liệt giường từ tám năm nay. Tôi còn được biết bệnh nhân đã ngã khi bắt đầu bị liệt. Tôi khám sơ qua và chẳng biết thêm được gì. Hai bắp chân có vẻ bình thường nếu các bắp thịt không bị teo lại vì bất động quá lâu. Tình trạng đôi chân thật đáng ngại hơn. Gan bàn chân vẹo vào phía trong, cổ chân duỗi thẳng – trong nghề chúng tôi gọi là “bàn chân ngựa vẹo vào”- thành ra bắp thịt bắp chân và gân gót co ngắn lại rất nhiều. Bệnh nhân không giơ chân lên được, vì các bắp thịt thường thi hành cử động ấy đã suy yếu quá. Tóm lại, người có “bàn chân ngựa vẹo vào” không thể đi được, cố gắng lắm cũng chỉ nhích được một tí trên đầu ngón chân là cùng. Hơi phân-vân, tôi khám lại kỹ càng hơn. Tôi đã tốn công vô ích: không một thương tích nào ở trung khu vận động, không một hỗn loạn cảm giác nào ở da và cũng không phải tê liệt thần kinh. Hình rọi quang tuyến cũng không thấy thương tích nào ở xương sọ hay xương sống khả dĩ đụng chạm đến não tủy. Dưới khía cạnh bệnh nghiệm, liệt chân như thế thật kỳ và lạ, nếu không nói là vô lý. Còn muốn giảng tại sao hai chân bị vẹo thật cũng dễ lắm. Khi nằm dài, hai bàn chân ta tự-nhiên duỗi thẳng ra, các bắp thịt co lại, trong khi các bắp thịt trước ống chân cũng dãn, hai bên co dãn tỉ lệ nhau. (Muốn nhận định rõ, ta chỉ việc nằm dài xuống là thấy ngay). Thêm vào đó, chăn nệm đè nặng trên người, giữ hai chân duỗi thẳng, nhất là khi nằm ngửa. Vậy mà bệnh nhân nằm im, bất động đã tám năm trường …
Nhưng, nguyên nhân sự tê liệt vẫn không sao giải thích nổi. Chụp quang tuyến từ đầu tới chân, không một vết gẫy nào ở sọ cũng như ở xương sống, ở chân cũng như ở vòng xương chậu. Tuy nhiên, phải có một nguyên cớ nào khiến người đàn bà này phải chịu tàn tật gần như hoàn toàn trong suốt tám năm. Trong y khoa, người ta phân biệt hai loại tê liệt. Hầu hết những tê liệt bắp thịt đều do một chứng bệnh nặng nơi óc hay tủy sống, hoặc do một khiếm khuyết nơi hệ thần kinh khi bị ngộ độc hay bị thương. Nhưng ngoài ra, còn có những tê liệt giả do một nguyên nhân chủ-quan: bị kích động mạnh hay đau đớn quá, bệnh nhận chợt thấy không thể làm một vài cử động nào đó, duỗi tay ra, co chân vào chẳng hạn. Guồng máy vận động như bị hãm lại, nghĩa là khi sắp làm một cử động, bệnh nhân không thấy tác dụng thần kinh, khiến các bắp thịt phải thi hành cử động ấy không thể hoạtđộng được. Những trường hợp này, các y sĩ trẻ, mới ra trường, thường cho là loạn thần kinh hay bệnh nhân cố ý, coi người bệnh hoặc như một người điên hoặc như kẻ giả ốm. Theo ý tôi, phán đoán như vậy hơi vội vàng, ta cần phải tìm cho được những nguyên nhân sâu xa của hiện tượng.
Hai ba bữa sau, với ý định ấy tôi trở lại thăm người đàn bà nhà quê “của tôi”. Vì khu giải phẫu chỉnh trực đầy người nên bệnh nhân được nằm một mình trong một buồng nhỏ. Thật là một cơ hội để tôi dò xét bà ta. Thoạt tiên, tôi hỏi thăm về nông trại ruộng nương, trâu bò. Cứ nhìn dáng điệu dễ dàng sung túc khi thiếu phụ kể nào nhà, đất, tôi cũng biết nhà rất khá giả; hai vợ chồng khai thác một trong những trang trại đẹp nhất do hàng bao thế hệ nông dân kiêu hãnh cần cù lập nên ở vùng Rừng Đen. Dần dà đề cập đến chuyện bệnh tật, ở điểm này tôi vẫn e ngại một sự kín đáo tiêu cực và thụ động. Thường thường dân miền quê hay rụt rè e lệ khi nói đến chuyện sức khỏe hay bệnh tật. Phải làm như hỏi cung lục vấn mới cậy họ rỉ răng cho biết tai nạn đã xảy ra thế nào hay bệnh tình diễn biến ra sao. Thế mà tôi rất ngạc nhiên khi bệnh nhân, không đợi hỏi han, đã kể lể con cà con kê hết cả sự tình. Nỗi khổ đau, niềm thống khổ bắt đầu từ tám năm trước. Hôm ấy cả gia đình họp mặt trong trại: có bà mẹ chồng, ông anh chồng, người chị và em trai thiếu-phụ. Bốn người ngồi ăn quanh chiếc bàn kế cạnh gốc cây hồ đào cổ thụ. Mọi người nói chuyện ồn ào vui vẻ – trừ bà chủ gia-đình. Theo lệ thường, một mình bà trong bếp bận pha cà-phê. Bao giờ cũng vậy, thui thủi một mình chẳng ai giúp đỡ: người đàn bà ấy cong lưng thổi nấu dọn dẹp từ sáng tới chiều. Thỉnh thoảng mới có dịp vui đùa giải trí trong trại, thì lại chỉ được đóng vai chầu rìa.
Vậy hôm ấy, bà luôn luôn bận bịu bếp núc trong khi người khác vui chơi. Lửa nhỏ, củi hết, bà ta lặng lẽ ra chái nhà lấy thêm. Vừa bước được mấy nấc thang từ bếp ra sân, thiếu phụ trượt chân mất thăng bằng, cả mình ngã ra đằng sau, bàn tọa đập mạnh vào những bậc đá. Đứng dậy không được bà ta kêu cứu. Mãi một lúc sau, cả nhà chạy lại. Ông chồng đến sau cùng. Dửng dưng trước sự đau đớn rên rỉ của vợ, ông phá ra cười.
– Nhà cháu hỏi sao cháu lại chơi ván trượt tuyết (toboggan) trên lưng như thế, rồi bảo cháu nào còn son trẻ gì, – nhưng thấy cháu không đứng dậy được, anh ấy cũng sợ, thôi không cười nữa. , thưa bác sĩ, từ lúc ấy cháu không đi được nữa … đã tám năm trời rồi …
Thiếu-phụ ngừng lời, cố nén nức nở. Tôi lặng yên để bà ta bình-tĩnh lại. Câu chuyện vừa nghe chẳng giúp tôi tiến thêm bước nào để giải quyết vấn đề cả. Ngã mà chẳng có thương-tích nào hết, chắc phải có nguyên cớ gì khác chứ – nhưng nguyên cớ nào?
– Lúc ấy, bà có cho mời bác sĩ đến không?
– Thưa có ạ. Nhà cháu có sai thằng nhỏ phóng xe vào làng mời. Bác sĩ đến, nhưng không tìm thấy gì cả ạ. Sau cùng ông bảo có lẽ cháu bị đau ở xương cụt, rồi thế nào nó cũng sưng-tấy lên, cần phải coi lại. Cháu phải nằm mất tám ngày, chườm chỗ đau bằng mỡ heo. Còn bác sĩ thì có vẻ do dự lắm. Thấy thế, mấy người nhà tỏ ra hối hận, ngày nào cũng đến thăm cháu, lại còn cho kẹo bánh nữa, chứ trước kia, họ chỉ đến chơi suông thôi, Chắc bác sĩ cũng biết, cháu chỉ được cái hay là hay làm, hay tiếc công tiếc việc, chẳng ai để ý đến cháu. Bây giờ người ta tử tế thì cháu lại què mất rồi, tử tế cũng bằng thừa … thật khổ cho cháu phải nằm liệt suốt tám năm … Lần này bệnh nhân không cầm được nước mắt. Rõ ràng sự tàn tật cũng không làm bà buồn phiền bằng cái không khí thù hằn ở quê nhà, khi hồi tưởng lại bao nỗi nhục nhằn đã cam chịu. Nguyên do hai chân bị liệt chắc là ở đấy. Cái tai nạn kia không thể nào làm đau ốm lâu đến thế được, mặc dù người đàn bà đáng thương ấy đã đau nhức như chịu hành hình: thật vậy một thương tích nhỏ nhoi ở xương cụt cũng có thể làm đau đớn dữ-dội, vì nhất cử nhất động, các bắp-thịt mông đều kéo mạnh vào xương. Tôi nhớ lại giọng chua chát khi thiếu phụ nói đến chồng: “Nhà cháu phá lên cười, rồi bảo cháu già rồi mà còn … ” Nỗi oán hờn vừa hé lộ còn có nguyên nhân nào khác nữa không?
– À, mà tôi quên hỏi bà, bà được mấy cháu?
Bà ta lắc đầu:
– Cháu sợ nhất khi ai hỏi đến con cái. Cháu không thể có con được.
Bà ta quay mặt đi, như xấu hồ vì lỗi vô tự, vì đã không làm trọn thiên chức của người đàn bà, rồi nỗi thất vọng chất chồng bao tháng năm bỗng nổ bùng: thiếu phụ nghẹn ngào nức nở.
– Nhà cháu gọi cháu là một quả hồ-đào rỗng … đồ vô tích-sự …
Thảm trạng người đàn bà này, giàu vật chất nhưng khốn khổ đã rõ ràng. Người chồng, chắc cũng cứng rắn như bao nông dân khác, muốn có một mống con trai để kế tự, và người vợđã không thể chửa đẻ gì được. Vợ mình chỉ là một “trái hồ-đào rỗng tuếch” cái danh từ tàn nhẫn ấy đã nói lên tất cả nỗi thất vọng của người chồng đối với người vợ son trẻ. Ông ta chắc đã tìm đủ cách để hành hạ, giày vò vợ; người đàn bà đáng thương đã phải đền bù lại sự “yếu kém” của mình bằng cách gia công làm như một tên khổ sai, đến kiệt sức. Nhưng người ta không chấp nhận toan tính đền bù ấy: không một hy sinh nào làm người chồng nguôi giận,
cũng như ông đã quyết bắt vợ phải trả giá sự giận-dữ ấy. Ngoài ra lại còn gia đình. Ai cũng lo làm vừa lòng ông bác, ông anh họ hay anh rể giàu-sụ có của thừa kế này, thành ra mọi người đều nghĩ cách làm tội làm tình người đàn bà vô phương tự vệ. Đối với những người chỉ sống vì nhu-cầu và thèm khát vật chất, luật “mạnh được yếu thua” là nhất, họ chẳng còn một chút nhân đạo sơ-đẳng nào. Kẻ yếu nhất trong bọn là con mồi để họ theo đuổi, hành hạ và hạ thủ trong niềm vui của loài thú dữ. Chính để thoát khỏi cái không khí hung bạo cố hữu này ngườiđàn bà khốn khổ đã phải ẩn náu trong bệnh tật, nơi duy nhất có thể tìm thấy một chút trắc ẩn hão, lòng âu yếm vợ. Nhưng ẩn trốn rồi, bà ta phải chịu một sự thay đổi, hay đúng hơn một biến dạng của ý chí, dẫn lần đến tình trạng loạn thần kinh. Tình trạng này, người thầy thuốc, biết rõ hay nghi ngờ, đều phải hết sức điều chỉnh lại. Người bệnh này lại thích vai trò mới của mình: được người ngoài ái ngại, nhưng người bệnh lại thoát được tình trạng bán nô lệ đã bắt bà ta chịu những thói quen ghê sợ hằng ngày, và trở nên trung tâm của gia đình. Đây là lần đầu kể từ khi về nhà chồng, bà có thể tự cho mình quan-trọng, thỏa mãn cái ước muốn uy quyền có ở ngay cả những kẻ bất-hạnh nhất trong chúng ta.
Vậy mà tình trạng này cũng đang nguy ngập. Hiển nhiên là nếu khỏi, người đàn bà này lại bị ném trả về quãng đời khốn khổ khi xưa. Bởi lo ngại nên cố bám lấy bệnh tật như kẻ đắm tàu bám vào tấm ván đã trôi nổi giữa sóng biển khơi. Tóm lại, bà ta muốn ốm và muốn ốm mãi.
Ngay hôm sau tôi thấy án chẩn của tôi đúng. Bệnh nhân khăng khăng không chịu giải phẫu. Tôi cố giảng giải: chỉ cần một cuộc giải-phẫu hết sức vô hại – kéo dài hai gân gót chân là bà ta có thể đi được; nhưng thiếu-phụ cương quyết không chịu, lại tỏ thái độ gần như khiêu khích. Từ tám năm nay, bà nói, có đến cả tá ông thầy chữa bằng đủ băm sáu chước, mà cũng chẳng ăn thua gì, huống-hồ bây giờ một ông thầy khác lại muốn đem chân bà ta ra thái vụn như anh hàng thịt hay sao? Không, bà ta không bao giờ chịu để làm thế? Tôi hiểu ngay, trong những trường hợp này, nếu ta dồn con bệnh vào ngõ bí, họ sẽ phản-đối quyết liệt và không bao giờ nhượng bộ nữa.
Tôi bèn ngưng ngay câu chuyện và bỏ đi ra. Những ngày sau, trường hợp người đàn-bà thích liệt chân hơn đời sống bình thường bắt tôi luôn luôn nghĩ ngợi. Chắc chắn, nếu chỉ giải phẫu không thôi thì không mong gì chữa khỏi được. Thật vậy, giải phẫu rồi, mà muốn đi lại được như xưa, bệnh-nhân phải tự gắng sức tập. Không bao giờ tôi có thể mong đợi bà ta sẽ gắng sức hợp tác. Chỉ còn một cách là làm sao để bệnh nhân thành thật ước muốn trở lại thế giới những người khỏe-mạnh. Đã tám năm nay, bà ta cứ tưởng ốm là hay; bây giờ tôi phải làm sao cho bệnh nhân tin rằng khi bình phục cũng không kém thích thú, nếu không nói là còn hơn thế nữa.
Bắt đầu, tôi cho chuyển bệnh nhân sang buồng khác có năm nữ bệnh nhân khác. Tôi đã chọn những người thật là dễ-thương; tôi còn cẩn-thận cho chuyển đi nơi khác một bà âu-sầu gắt gỏng hay chỉ trích đay nghiến nên có thể phương hại đến cách trị liệu tâm lý của tôi. Phương pháp tôi sắp áp dụng chẳng có chi tân kỳ cả. Bất cứ một y sĩ nào có chút kinh nghiệm cũng biết rằng đời sống cộng đồng, nghĩa là ở chung phòng với các bệnh nhân khác, thường có ảnh hưởng tốt đẹp cho một bệnh nhân đã mất tinh-thần. Nhiều người lại còn xin nằm cùng buồng, ước muốn phát xuất tự một bản năng hoàn toàn lành mạnh. Chỉ cần sống với những kẻ đồng cảnh ngộ cũng đủ giúp ta lướt thắng mọi đau khổ; bệnh nhân hết có cảm tưởng mình bị lẻ loi, bỏ rơi không phương chống đỡ với lo sợ, u sầu và suy tư khổ hạnh. Bệnh nhân dự vào một nhóm trong đó người này săn sóc người kia, dần dần phát triển và thành hình một tinh thần tập thể. Một tinh thần lúc nào cũng rộng rãi đã nẩy nở vì nề lẫn nhau, vì tận tâm với nhau và cùng chân thành giao cảm: ai đã cảm thấy mình đau khổ tất sẽ hiểu rõ nỗi khổ đau của người khác hơn là kẻ có sức khỏe dồi dào. Nhiều khi những bệnh nhân cũ trở lại bệnh-viện, hàng tuần liên tiếp, vào đúng giờ thăm bệnh, chỉ để nói chuyện với các bạn cùng phòng xưa, để nhớ lại mình đã khổ đau như họ. Phần đông, họ vô tình không biết, làm như thế, họ đã bị lôi cuốn vì đã luyến tiếc một tập thể trong đó họ đã sống sung sướng, vì trong thế giới vất vả của những người khỏe-mạnh, họ cảm thấy nhớ nhung. Chính trên cái tinh thần tập thể ấy mà tôi mong đợi để làm nứt rạn cái vỏ cứng rắn người đàn bà tự khoác vào mình. Tôi còn đợi mấy ngày nữa mới gợi lại câu chuyện phải giải
phẫu cho thiếu phụ nghe. Lần này tôi dùng một chiến thuật khác. Dĩ nhiên tôi không non nớt gì mà phụ họa với bệnh nhân rằng cuộc giải phẫu này thật quá phiêu lưu, như thế, là tôi đã phản lại tôi. Tôi cố gắng thuyết phục bệnh nhân rằng, theo ý tôi, nếu bà ta hoàn toàn bình phục thật là một phép-lạ. Tôi nhấn mạnh nhiều lần hai chữ “phép lạ”, mừng thầm khi thấy nét mặt bà tươi hẳn lên. Rõ ràng, ý-tưởng sẽ trở thành “một phép lạ y học” đã quyến rũ bà. Mấy bệnh nhân kia chú ý theo rõi câu chuyện. Bỗng một bà đứng tuổi cất lời:
– Chết, sao em cứng đầu vậy! Nếu ông thầy cứ muốn mổ cho em, em cũng nên chiều ông một tí!
Mọi người đều phá ra cười; ngay cả người bệnh “cứng đầu” của tôi cũng hồn nhiên cười. Bây giờ băng tuyết đã tan, bệnh nhân bắt đầu nhượng bộ. Mười lăm phút sau, trước khi tôi ra khỏi phòng, bệnh nhân đồng ý chịu mổ, đồng ý không phải vì bị ép buộc, mà sốt sắng vui vẻ biểu đồng tình với mấy người bạn cùng phòng.
Hai ngày sau, tôi “trịnh trọng” bắt đầu cuộc giải phẫu nhỏ – kéo dài gân gót chân phải trước, rồi tuần sau tới chân trái. Sau khi đã nắn hai bàn chân về vị-trí cũ, tôi bó bột lại. Đợi ba bốn tuần cho gân gót liền, tôi mới tháo băng. Ngay hôm sau, tôi bắt phải xoa bóp và tập đi lại cho các khớp xương cổ chân và đầu gối quen dần. Bây giờ mới là lúc quyết định. Ai cũng nhận thấy nếu bệnh nhân cứ khăng khăng không muốn mình khỏi, cuộc giải-phẫu vừa rồi cũng chẳng ích gì. Tôi phải làm thế nào để bệnh nhân hợp-tác với tôi? Sau khi đã nêu ra và loại bỏ nhiều mưu chước, hoặc vì cầu kỳ quá, hoặc vì lộ liễu quá, tôi quyết định một phương pháp khả dĩ hài lòng: tinh thần tập thể trong phòng này đã giúp tôi một lần, tại sao lại không áp dụng lần nữa cho cùng một mục đích?
Một buổi sáng, nhân lúc hai cô y tá vừa dẫn bà bệnh “của tôi” vào phòng tắm để xoa bóp chân trong nước nóng, tôi đến dàn cảnh chương trình đã định sẵn với năm bệnh nhân kia:
– Tôi cần các bà giúp tôi, hay đúng hơn các bà cùng đóng kịch với tôi. Các bà cũng biết bà X … vừa bị mổ vì tê liệt chứ? Cuộc giải phẫu đã thành công, trên nguyên tắc bà ấy phải đi lại được. Nhưng bà ấy cứ tin là không thể đi được. Bây giờ các bà phải giúp bà ấy tin tưởng. Chiều mai, khi đi thăm bệnh, bất thần tôi sẽ bắt bà ta đứng dậy khỏi giường. Khi thấy bà ta đứng được các bà hãy lộ vẻ kinh ngạc hết sức, như không ngờ có thể như vậy được. Các bà nhớ cho, đây không phải chuyện đùa, mà chúng ta chữa bệnh. Muốn cho bà ấy khỏi, các bà phải tỏ vẻ thán phục lòng can đảm và khuyến khích bà ta. Rồi, mỗi bước đi, dù phải bám vào thành giường, các bà cứ vỗ tay cho tôi. Cần lắm đấy, nếu các bà không giúp luôn luôn như vậy, không bao giờ người đàn bà xấu số này lại có thể đi được. Tôi hoàn toàn tin ở các bà đấy nhé!
Bà nào cũng sốt sắng hứa hưởng ứng, có vẻ hăm hở nhiệt thành với công việc sẽ làm. Vững tâm, tôi rút lui ngay trước khi “nạn-nhân” về.
Chiều hôm sau, như thường lệ, tôi bước vào phòng, theo sau có cô y tá, dĩ nhiên cũng tùng đảng với tôi. Năm bà “đồ đệ” của tôi trông vẻ thản nhiên hơn bao giờ hết; phải tinh lắm mới cảm thấy bầu không-khí căng thẳng đang bao trùm phòng bệnh. Đến cạnh giường bệnh và hất mạnh tấm chăn ra, tôi lạnh-lùng truyền lệnh:
– Bà ngồi dậy! Để chân xuống đất đi.
Tôi nắm một cánh tay bệnh nhân, ra hiệu cho cô y tá nắm nốt cánh tay kia. Bao nhiêu con mắt đổ dồn như chờ đợi. Phút quyết định đã tới.
– Bây giờ bà đứng dậy đi!
Không để tỏ dấu phản kháng, tôi xốc nách và lôi mạnh bệnh nhân đứng dậy. Bệnh nhân chưa hiểu ất giáp gì. Tuy ngây người ra, ngơ ngác, và rơm rớm nước mắt, … nhưng bà ta vẫn đứng. Thật ra, trong khoảnh-khắc, bà vẫn tự hỏi có nên khuyu xuống hay không. Tôi vừa lo lắng vừa chăm chú theo dõi. Bệnh nhân lảo đảo, rồi đứng yên, trong khi năm bà bạn reo hò ầm-ĩ:
– Chị ấy đứng kìa! Thật không ngờ nhỉ? Phúc đức quá! Thôi khỏi rồi!
Tôi suýt bật cười. Các diễn viên như đã xuất thần đảm nhiệm vai trò của mình. Nhất là bà gác dan hai tay giơ lên trời như lên đồng, luôn miệng suýt soa: “Phép lạ! Đúng là phép lạ!” Thực tình tôi muốn bà ta diễn xuất kín-đáo hơn. Bệnh nhân hầu như chỉ để ý đến hai chữ “phép lạ” mà không nhận ra các diễn viên đã đóng kịch quá lố. Và hai chữ “phép lạ” đã làm phép lạ thực sự. Dần dần vẻ âu lo trên nét mặt dịu xuống, vẻ
âu-lo của con thú đến bước đường cùng nhường chỗ cho bình-thản còn đượm chút hoài nghi. Tôi cảm thấy sự thay đổi trong tâm hồn người đàn bà và một chuyển hướng của ý chí từ lâu đã lạc vào ngõ cụt. Đôi mắt mở to. Nụ cười e dè. Nét mặt hiền hậu. Bệnh nhân khẽ đưa chân về phía trước để đứng cho thoải-mái hơn. Chúng tôi đã thành công. Từ giờ phút này, bệnh nhân lần lần bình phục. Người đàn bà này, trước kia đã chối từ cuộc sống bình thường, nay chăm chỉ tập đi. Lúc đầu, đi chung quanh giường, sau từ giường này đến giường nọ, luôn luôn được năm bà bạn dìu dắt và khuyến khích. Mỗi bước đi là một tiến bộ, theo sau là lời trầm trồ thán phục. Đáng thán phục lắm chứ, vì một người tê bại đã tám năm trời lại có thể phục hồi nhanh chóng như vậy. Nếu trong tám năm qua, đã khăng khăng nằm lì trên giường thì giờ đây bà ta lại cũng khăng khăng giành lại sức khỏe. Chỉ tuần lễ sau, bà đã có thể chống nạng đi khắp phòng. Rồi tiến đến hành lang, và tuần lễ sau nữa, tôi ngạc nhiên thấy bóng thiếu phụ lững thững trong vườn. Cuối tháng ấy, bệnh-nhân đã trở về nhà. Bốn tuần sau, bà ta trở lại thăm tôi. Đến lượt tôi, tôi cũng suýt thốt lên hai chữ “phép lạ”. Bà ấy khoe có thể đi dạo hàng giờ, không cần chống gậy, hơn nữa còn leo được cả ngọn đồi thông sau trại. Bà nói rất nhiều đến dư luận lúc trở về: ông thị-trưởng đến chơi tận nhà xem bà đi, ông thầy thuốc săn sóc bà xưa kia cũng phải bối rối.
– Thưa đúng ạ, ông bác sĩ cứ nói mãi thật không ngờ. Ông khám lại hai chân cháu rồi lắc đầu và hỏi thế bác sĩ trên tỉnh bó bột rồi còn làm gì nữa không? Dạ, cháu cứ thú thật là bác-sĩ chẳng làm gì thêm cả.
Tôi chỉ mỉm cười:
– Tháng sau, có dịp bà lại đến thăm tôi nhé! Mời cả ông nhà nữa.
Đúng hẹn, hai vợ chồng đến thăm tôi. Người chồng vạm vỡ, dáng đi nặng nề, thật rõ là con người cục mịch miền núi. Ông ta lí nhí vài câu cảm ơn rồi im lặng để vợ nói … Khi tiễn hai vợ chồng về, tôi quay lại hỏi ông chồng:
– Bây giờ chắc ông hài lòng nhỉ? Bà nhà khỏe mạnh hoàn toàn rồi nhá!
Ông ta cúi đầu:
– Thưa bác sĩ, vâng, cháu cũng mừng, nhà cháu lại đi được như mọi người, có điều … nhà cháu vẫn như xưa.
Một lúc sau, tôi mới hiểu: ông ta ám chỉ vợ mình không bao giờ có thể có con. Tôi đề nghị:
– Nhân tiện hai ông bà ở đây, để tôi giới-thiệu đi khám cả xem.
– Họ tỏ vẻ ngại ngùng, nói vài câu cảm ơn rồi lên xe. Bẵng đi, tôi không được tin gì của họ nữa. Một hôm, tôi gặp bạn đồng nghiệp phụ trách khu sản phụ khoa trong hành-lang. Anh bảo tôi:
– Hôm qua hai vợ chồng người đàn-bà bị tê liệt đến tôi khám bệnh. Người vợ không sao cả. Lỗi tại người chồng. Ông ta bối rối lắm, vì chắc không ngờ tới vì mình mà vợ đã không chửa đẻ được.
Tôi nghĩ ngợi mãi khi nghe tin ấy. Không biết phản ứng của người chồng ra sao, khi lòng kiêu hãnh bị xúc phạm đến tột cùng. Còn người vợ, liệu người đàn-bà ấy có trả thù lại bao nhiêu nhục-nhã chồng chất tháng năm? Hoàn-cảnh này thật đặc-biệt. Tôi định sẽ tìm hiểu kỹ hơn. Chủ nhật sau, lái xe qua miền Rừng Đen, đến tận thung-lũng Precht để thăm trang trại của hai vợ chồng. Đỗ xe bên đường cái, tôi leo bộ lên căn nhà gỗ cũ kỹ, có nhiều cửa sổ, mái rộng mênh mông nhọn hoắt.
Không thấy ai, tôi vòng ra phía sau nhà, đẩy cánh cửa gỗ nhỏ, bước vào vườn. Hai vợ chồng đang ngồi trên ghế dài, dưới bóng rợp cây hồ đào cổ thụ. Người vợ đan áo, người chồng cặm cụi đẽo gọt một khúc gỗ. Dưới chân họ, một đứa bé tóc vàng chơi đùa trong cỏ. Người vợ trông thấy tôi trước. Bà vụt đứng dậy, vui mừng thốt lên:
– A, bác sĩ … quý hóa quá, bác sĩ đến chơi!
Người chồng cũng đứng dậy, mỉm cười, tiến lại rồi bắt tay tôi.
– Kìa, nhà đi lấy chai rượu; lấy cả bánh mì và dăm-bông nữa.
Này, lấy cả hũ rượu anh đào nữa nhá! Quý hóa … quý hóa quá! Kìa, mời bác sĩ ngồi.
Người chồng lật đật đi vào nhà. Tôi hỏi nhỏ người vợ:
– Thằng cu này là thế nào đây?
– Thưa, cháu tên Henri, con bà chị cháu. Bố mẹ cháu bị tai nạn xe hơi chết cả hai vợ chồng cách đây đúng mười lăm ngày … Kinh khủng quá, bác sĩ ạ. Xe trượt bánh đâm nhào xuống vực. Được tin vợ chồng nhà cháu đến ngay, đem về nuôi mụn cháu nhỏ này. Bâygiờ nó là con chúng cháu. Chắc bác sĩ không tin cháu đâu, chứ nhà cháu cưng nó lắm. Chiều nào cũng làm đồ chơi cho cậu con giai. Nói thế chứ nhà cháu khéo tay lắm …
Tôi cúi xuống vuốt ve đứa nhỏ. Tóc nó mềm mại, miệng nó nhoẻn cười. Không cần khám nghiệm kỹ, chỉ cần nghe giọng nói cảm động của thiếu phụ tôi cũng biết bà ta đã hoàn-toàn bình phục thực sự. Đúng như ý-nghĩ của Paracelse, dưới mắt Thượng Đế, thiếu phụ đã tìm thấy nước Trời, một vũ trụ trong đó tâm hồn được nuôi dưỡng bởi TÌNH YÊU.
Truyện này được viết để tặng một thế hệtuổi trẻ Việt Nam
trưởng thành sau 30-4-1975
Bài 14
Đúng 5 giờ sáng, công anh ập vào chùa An Lạc. Từ lúc nào, bộ đội vây quanh khu vực chùa, chắn hết các lối ra vào, không ai biết. Chủ tiểu Thích Thanh Bần chưa kịp rung hồi chuông sớ. Chú vừa nâng cái chày thì họng súng lạnh ngắt đã dí sát sau gáy chú, bắt chú buông tay xuống và đẩy chú trở vô. Chẳng hề sợ hãi, chú tiểu thản nhiên làm theo lệnh công an. Thân chú, chú không lo mà rất lo cho Hoàng Sơn Trường vì đêm qua Trường ngủ ở chùa. Trường định viết những trang đầu của chủ thuyết tiểu tư sản tại đây. Công an đã lùa chú tiểu Thích Thanh Bần vào chính điện, nơi đó, tất cả những người tu hành bị cưỡng bức tới, ngồi co ro một góc. Nhiều mũi súng chỉa sát. Những khuôn mặt lạnh lùng. Một lát, sư cụ được dẫn ra, được mời ngồi ở chỗ ngài ngồi tụng kinh niệm Phật nhưng quay lưng về phía Phật đài.
– Đáp “phải” hay “không phải”, thế thôi. Gọn ngắn và khẩn trương. Thích Tâm Binh, tên thật của anh là Lê Minh Mẫn, phải không?
– Phải.
– Thích Giác Ngộ, tên thật của anh là Nguyễn Trọng Thu, phải không?
– Phải.
– Thích Chánh Đạo, tên thật của anh là Phạm Tuấn, phải không?
– Phải.
– Thích Gìáo Lý, tên thật của anh à Vũ Văn Hiền, phải không?
– Phải.
– Kể từ phút này, chúng tôi bắt các anh!
Công an còng tay bốn nhà sư lại.
– Các anh nghe đọc “Quyết Định”
“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bộ Nội Vụ
Sở Công An Nội Chính thành phố Sàigòn
Quyết Định số….
…….
…….Bắt nhốt những tên Lê Minh Mẫn tự Thích Tâm Bình, Nguyễn Trọng Thu tự Thích Giác Ngộ, Phạm Tuấn tự Thích Chánh Đạo, Vũ Văn Hiền tự Thích Giáo Lý can tội tổ chức bè phái chống phá cách mạng, đe doạ an ninh tổ quốc…”
Công an hỏi:
– Các anh có phản đối gì không?
Bốn nhà sư cùng đáp:
– Không.
Công an lễ độ – thứ lễ độ giả tạo – nói với sư cụ:
– Thưa thượng toạ, chúng tôi rất tiếc đã xúc phạm cửa Phật và thượng toạ. Chế độ ta không hề đàn áp tôn giáo, mọi công dân đều được tự do tín ngưỡng trong pháp chế của nhà nước . Những người bị bắt vì phạm pháp chế của nhà nước, chống phá chế độ nên bắt buộc chúng tôi phải bắt nhốt để giáo dục họ. Đồng thời chúng tôi mời hết các nhà sư về Sở để hỏi thăm vài việc. Chúng tôi sẽ khám xét chùa xem có tài liệu nào làm ô uế thanh danh chùa không , xin thượng toạ tha thứ…
Sư cụ khoan thai:
– Các ông cứ làm nhiệm vụ.
Sư bác Tâm Bình xin phép công an thưa với sư cụ vài lời. Công an đồng ý.
– Bạch Thầy, chúng con thật có lỗi với Thầy…
Sư cụ mĩm cười độ lượng:
– Chúng sinh đầy tội lỗi, riêng gì các con. Tham vọng, tham vọng lạc lối dẫn con người vào cõi u mê.Tự do là tội ác và hình phạt. Tự do là chiến tanh và ngục tù. Các con chỉ có lỗi riêng với thầy là đã dấu diếm hành động riêng tư của các con, không cho thầy biết. Nếu thầy biết, thầy sẽ hoan hỉ vào tù với các con….
Công an khó chịu:
– Đủ rồi, thưa thượng toạ. Nhà chùa không thể là cái ổ phản động và thượng toạ nên tụng kinh gõ mõ để lên Niết Bàn. Nhà tù khác Niết Bàn. Ở đó, thượng toạ không được ăn chay, không được gọt đầu, không được hưởng một tí đặc quyền đặc lợi nào hết. Và theo đúng Nội Quy nhà tù, mọi người phải gọi thượng toạ là anh. Thượng toạ cần sáng suốt để còn được xưng tụng là thầy cho đến lúc lên cõi Niết Bàn.
Công an cứ nói, sư cụ đã vô thiền rồi. Họ lục soát chùa chiền, moi móc đủ chỗ, tự do xúc phạm chốn thiêng liêng. Trước khi giăng lưới bắt bốn nhà sư, họ đã theo dõi bốn nhà sư cả tháng trời. Họ biết những ai hay đến chùa, ngủ lại chùa. Ngô Tỵ, Trần Chiêm Đồng, Hoàng Sơn Trường có tên trong sổ đen công tác của họ. Họ điều tra lý lịch ba người thanh niên này. Họ nắm vững diễn tiến tư tưởng của Ngô Tỵ sau khi Ngô Tỵ ly khai Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh.
Dĩ nhiên, họ có địa chỉ của từng người và rõ giờ giấc, địa điểm tới lui của từng người . Họ quyết đoán Tỵ, Đồng, Trường nằm trong tổ chức của bốn nhà sư. Họ không hề biết chú tiểu Thích Thanh Bần và Hoàng Sơn Trường thuộc một tổ chức riêng biệt, độc đáo. Chú tiểu Thích Thanh Bần cũng vô cùng ngạc nhiên. Nhưng chú rất sung sướng. Trường đã tâm sự với chú: “Ở thời của chúng ta, chỉ đánh chết chủ nghĩa cộng sản mới đắc đạo. Không dám đánh cộng sản thì dẫu chẳng nỡ giết con kiến cũng mang tội ác”! Chú tiểu Thích Thanh Bần không bị vướng mắc tâm hồn nữa. Còn nỗi niềm lo lắng trong chú là Hoàng Sơn Trường. Nếu Trường bị bắt, chủ thuyết tiểu tư sản ra sao và đâu là vũ khí tư tưởng võ trang toàn diện cho cuộc chiến đấu tiêu hủy chủ nghĩa cộng sản.
Lịch sử có nhiều bất ngờ hữu hạnh và bất hạnh. Chủ thuyết tiểu tư sản đang nằm trên một sự bất ngờ của lịch sử. Chữ thời luôn luôm đúng cho mọi trường hợp, cho mọi thời đại, cho mọi người . Nó quyết định vận mạng của dân tộc và của nhân loại. Nếu Hoàng Sơn Trường bị bắt, bị chết chưa kịp viết xong chủ thuyết tiểu tư sản thì cái thời của Trường oan nghiệt quá. Người ta chỉ giăng lưới bắt cá nhỏ, không ngờ bắt luôn được cá mập. Chú tiểu Thích Thanh Bần lo lắng, hồi hộp và nuối tiếc.
Công an đã dẫn Hoàng Sơn Trường ra, đẩy cậu ngồi chung với các nhà sư. Mấy trang bản nháp mở đầu cho chủ nghĩa tiểu tư sản cũng bị tịch thu. Giòng cuối còn tươi màu mực: “…Không còn tài phiệ khuynh loát quốc gia, không còn kỹ thuật nô lệ hoá con người, tước đoạt mọi sáng tạo của con người, không còn giáo điều cưỡng bức con người thù hận con người….”
Người công an chỉ huy cuộc vây bắt hỏi Hoàng Sơn Trường:
– Anh thuộc tổ chức sư mô phản động?
– Không.
– Anh đến đây làm gì?
-Thăm bạn tôi là Thích Thanh Bần.
– Thích Thanh Bần là ai?
– Tôi đây.
– Đứng lên… Cả Hoàng Sơn Trường nữa.
Hai người bạn đứng lên.
– Ngô Tỵ và Trần Chiêm Đồng quen hai anh?
Chú tiểu Thanh Bần đáp:
– Quen tôi thôi.
Công an hỏi:
– Bốn anh thuộc một tổ chức khác?
Chú tiểu Thanh Bần nói:
– Chúng tôi không có tổ chức, chưa có tổ chức.
Người công an cầm mấy trang bản nháp, đọc qua, rồi hỏi:
– Ai dám viết chủ nghĩa tiểu tư sản?
Hoàng Sơn Trường trả lời:
– Tôi.
– Nhóc con mà viết nổi à? Ai đã nói với anh về chủ nghĩa tiểu tư sản?
– Tôi suy tư và viết.
– Nói thật đi, rồi về Sông Bé sống với gia đình. Đừng tưởng qua mặt nổi công an. Chúng tôi biết các anh hơn các anh biết các anh nữa. Các anh xui dục Ngô Tỵ ly khai cách mạng, rủ rê Trần Chiêm Đồng cấu kết người Hoa chống chế độ. Ai là tác giả chủ nghĩa tiểu tư sản dơ dáy, ăn bám.
– Tiểu tư sản hào hoa, lãng mạn. Dơ dáy dùng cho chủ nghĩa khác.
– Được rồi. Mẹ anh sẽ ân hận chứ không phải anh, nếu anh không nói ai dạy anh chủ nghĩa tiểu tư sản.
Công an còng tay Hoàng Sơn Trường và Thích Thanh Bần với nhau để phân biệt hai vụ. Nhà lập thuyết và nhà sư chung một còng. Cuộc lục soát vẫn còn, kỷ lưỡng hơn, thận trọng hơn vì chủ thuyết tiểu tư sảnh chạm đúng nọc độc tôn của chủ nghĩa cộng sản . Hai người bạn trẻ có thể nói chuyện thầm thì.
– Chúng ta vô duyên với lịch sử.
– Đừng buồn. Cần tồn tại. Chúng ta không cần sống mà cần ý nghĩa của sự sống của chúng ta tồn tại. Vậy phải biết cách sống. Nhà chùa là sơ khởi, nhà tù là hoàn thành. Hoa nở ở nhà chùa, sẽ kết trái ở nhà tù. Phật xưa không viết. Chúa xưa không viết. Khổng Tử xưa không viết. Môn đồ của họ viết. Môn đệ của họ nghe rồi truyền giảng. Biết đâu, ở tù, chúng ta sẽ gặp người lỗi lạc. Và chủ nghĩa của chúng ta sẽ thăng hoa.
– Cậu vẫn ước mơ?
– Luôn luôn ước mơ.
– Biết bao giờ khai sinh chủ nghĩa tiểu tư sản?
– Cậu đã rung chuông khai sinh nó rồi.
Công an thúc báng súng lên vai chú tiểu Thích Thanh Bần:
– Bàn tán gì thế?
Họ tháo còng ra và còng riêng từng người, bắt mỗi người ngồi một góc. Đến 10 giờ, cuộc lục soát hoàn tất. Công an phát giác nhiều truyền đơn, tài liệu học tập chống phá cách mạng. Họ lợi dụng cơ hội tịch thu toàn bộ kinh sách của nhà chùa . Họ tịch thu luôn “tài sản” của các nhà sư. Họ lập biên bản và đọc cho sư cụ nghe. Sư cụ vẫn thiền, họ lay sư cụ tỉnh và yêu cầu sư cụ ký vào biên bản xác nhận họ đã tới chùa, không gây huyên náo, không xúc phạm cửa Phật, chỉ tịch thu tang vật phản động.
Sư cụ không ký, ngài nói:
– Với Phật tử, cái có là cái không, cái được là cái mất, mọi chuyện trên đời ra cái gì đâu mà quý ông bắt tôi ký.
Người công an chỉ huy cười thật đểu:
– Này sư cụ , Phật không dạy thế đâu, sư cụ đừng chơi chữ. Với người cộng sản, được thì chẳng bao giờ mất cả. Sự ưu việt của chủ nghĩa chúng tôi thừa khả năng biến cái vô sắc thành hữu sắc.
– Nhưng các ông không đủ khả năng biến cái vô sản thành hữu sản. Các ông chỉ có tài biến cái vô sản thành cái vô cùng tăm tối.
Người công an chỏ tay về phía chú tiểu:
– Ký sinh trùng ăn bám xã hội, trốn tránh lao động, phản tiến bộ mà cũng dám nói hỗn à?
Chú tiểu bình tỉnh:
– Tôi đã đọc nhiều sách vở về chủ tịch Hồ Chí Minh, thấy chủ tịch nói năng đạo đức chứa chan hơn cả Phật, cả Chúa. Ngôn ngữ và cung cách của ông đối với những người tu hành khiến tôi nghi ngờ cái vĩ đại của Hồ chủ tịch. Ông nên lễ độ để làm sáng danh người cộng sản . Chúng tôi đã đi tu thì đi tù cũng thế và sống hay chết đều vô nghĩa. Người cộng sản hình như , chưa ai dám tự thiêu. Chúng tôi có nhiều người đã dám tự thiêu. Và sẽ có cả tôi, nếu cần.
Người công an bĩu môi:
– Xăng dầu không thừa cho anh dùng vào việc tự nướng cái thân anh . Bọn Mỹ Ngụy xúc động chuyện tự thiêu của các anh chứ người cộng sản thì dửng dưng. Anh tự thiêu, chúng tôi sẽ đánh thuế ngu và bắt thân nhân anh phải nôp. Ở tù, một que diêm cũng bị cấm, nghe chưa?
Chú tiểu nói:
– Khi tôi cần tự thiêu, tôi tự thiêu bằng lửa của trái tim tôi, hiểu chưa?
Sư cụ lên tiếng mắng chú tiểu:
– Thanh Bần, con nói nhiều quá.
Rồi sư cụ vẫy người công an:
– Đưa đây, tôi ký.
Người công an bảo sư cụ giữ một tờ biên bản, đoạn nghiêng mình rất hài hước, xấc láo:
-Nhà nước bảo về chùa An Lạc một thời gian. Từ nay cấm mọi đàn chay, lễ lạc.
Công an dẫn dắt các nhà sư rút khỏi chùa. Chú tiểu Thích Thanh Bần bị đưa về Sở Công An. Hoàng Sơn Trường đi đâu, chú không rõ. Khoảng 22 giờ cùng ngày, ngó qua ô cửa cachot, chú thấy Ngô Tỵ và Trần Chiêm Đồng. Đợi khuya vắng, cai ngục ngủ gà ngủ gật, chú gọi Ngô Tỵ,Trần Chiêm Đồng và dặn dò nên khai báo sự thật, không cần dấu diếm vì dấu diếm sẽ có thể bị khai thác dài dài và làm liên lụy những người khác.
Ngay hôm sau, chú tiểu Thích Thanh Bần được gọi ra làm việc và chú được “vinh dự” với Mai Chí Thọ.
– Nghe nói chú đọc nhiều sách lắm phải không?
– Không nhiều lắm. Tôi nghèo và ít thì giờ.
– Chú đã đọc Tiêu Sơn tráng sĩ chưa?
– Rồi.
– Và chú muốn biến chùa An Lạc thành chùa Tiêu Sơn?
– Ông hiểu lầm đó.
– Chú nghĩ gì về Phạm Thái?
– Tôi yêu nhà Tây Sơn.
– Yêu nhà Tây Sơn mà chú lại noi gương Chiêu Lỳ?
– Phạm Thái và tôi khác nhau đủ thứ, tâm trạng và thời đại, tài hoa và ước mơ.
– Phạm Thái là tên phản động. Tây Sơn là cách mạng, là chúng tôi
– Thư ông, tôi đứng về phía Tây Sơn khi Gia Long đã diệt xong Tây Sơn.
– Thịnh suy là định luật của muôn đời, chú chống nổi chân lý?
– Ngụy chưa hề thịnh. Tôi muốn nói về những người ngụy Tây Sơn thời đại của tôi.
– Tôi lại hiểu thêm chú chút nữa.
– Cám ơn ông.
– Ai đã nói với chú về chủ về chủ nghĩa tiểu tư sản?
– Bạn tôi, Hoàng Sơn Trường?
– Hoàng Sơn Trường?
– Vâng, thần tượng của tôi, nhà lập thuyết trẻ nhất lịch sử triết học cổ kim, đông tây.
– Tôi không tin bạn chú ghê gớm vậy.
– Tại vì hoặc ông kiêu ngạo, hoặc ông chẳng biết cái gì khác ngoài cái miệng giếng chủ nghĩa cộng sản của ông!
Mai Chí Thọ muốn bợp chú tiểu Thích Thanh Bần vài cái. Ngụy quân tử đã nén giận, mĩm cười, lên mặt đạo đức:
– Chú sẽ nên người nếu được giáo dục tốt.
– Cám ơn ông , tôi vẫn được giáo dục tốt.
– Tôi sẽ làm việc với chú vào dịp khác.
Mai Chí Thọ nhấn chuông. Một người công an khác dẫn chú về cachot. Từ lúc này, tay chú bị còng chéo vào chân. Dĩ nhiên, đó là lệnh của giám đốc Mai Chí Thọ.
Nhìn dáng của ông chín ngón đứng trên bờ hồ cá có thể thấy được phần nào những diễn biến trong trại trong những ngày sắp tới. Cái năng nổ, tự tin như đã mất trong ông tự bao giờ, ông không hay biết. Những bước đi vững chắc, giọng nói oang oang, gãy gọn và dứt khoát của ông đã thay đổi. Giọng ông bây giờ lại phân vân, lưỡng lự vì một câu hỏi lớn trong đầu ông chưa có câu giải đáp.
Bây giờ hàng ngày khi mở radio, ông nghe ra rả luận điệu kích động và lên án bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh là bọn Sô vanh nước lớn nhưng luận điệu nầy chỉ mới xảy ra mấy tháng trước đây thôi. Còn từ trước đó ông chỉ nghe nói đến tình hữu nghị Việt Trung đời đời bền vững! Ông đã nghe không biết bao nhiêu lần, đến độ thuộc nằm lòng câu môi hở răng lạnh của lãnh tụ Trung Quốc hậu thuẫn cho Đảng trong thời gian chiến tranh với miền Nam. Ông chỉ nghe mọi người đều dùng những danh từ trang trọng nhất để gọi các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc vĩ đại. Ông tin Đảng. Đảng vĩ đại. Đảng là đỉnh cao trí tuệ của loài người nên đã đánh thắng cả hai đế quốc sừng sỏ nhất. Đảng mang đôi hia bảy dặm. Có đôi mắt nhìn suốt được chiều dài của lịch sử. Đảng đã ca ngợi thành đồng Xã hội Chủ nghĩa Liên Xô, người anh em vĩ đại Trung Quốc. Đảng không thể nào sai. Nhưng hôm nay cũng Đảng, lại đả kích Trung Quốc như là kẻ thù nguy hiểm nhất, ác độc nhất, chắc hẳn Đảng cũng không thể nào sai. Đảng ca ngợi Trung Quốc, Đảng đúng. Đảng kết án Trung Quốc, Đảng cũng đúng. Đảng nói như thế nào cũng đúng nhưng có lẽ lỗi là tại chính ông. Ông không hiểu được cái đúng mới nhất mà Đảng đang kích động quần chúng, nhân dân đấy thôi. Đảng đang kích động chính ông nữa nhưng ông chưa theo kịp cái nhìn mới của Đảng. Cái tội không phải là Đảng thay đổi lập trường xoành xoạch, nhanh như trở bàn tay, nhưng cái tội là ở ông. Ông chưa bắt nhịp được sự chuyển hướng mới của Đảng để đưa dân tộc đi lên cho kịp nhịp bánh xe của thời đại mới, của ba dòng thác cách mạng. Ông như người ăn cơm mắc nghẹn. Ông phải ráng nuốt. Chỉ cần nín thở mà nuốt. Nuốt đánh ực cái là xong. Là ông sẽ thấy ngay vận hội mới của dân tộc và của bản thân ông!
Hôm qua đi họp ở trung đoàn, ông chính ủy ban lệnh phải thu gọn lại mọi kế hoạch của các trại, càng nhanh càng tốt. Thế mà chỉ hai tháng trước đây thì đặt kế hoạch trường kỳ, bung ra càng nhanh càng tốt! Cái hồ cá khang trang, ông đã nuôi bao nhiêu mộng. Ba mươi ngàn con cá trám cỏ thả xuống đợt đầu, chỉ cần bảy tám tháng nữa thì sẽ thành một số vốn khổng lồ. Mọi công khó đã xong xuôi, bây giờ chỉ cần cho tù cắt cỏ, xắt lá sắn quăng xuống hồ hằng ngày và đợi thời gian thu hoạch. Cơm đang lùa tới miệng chỉ đợi nuốt, thế mà ông chính ủy bắt phá đập bắt cá! Khi họp, ông chín ngón cứ tưởng ông chính ủy quên mất kế hoạch mà ông đã trình lên trước kia và được chính ông chính ủy biểu dương trước trung đoàn, nên có ý nhắc khéo ông chính ủy:
– Thưa anh, cái hồ cá của trại tôi đang phát triển rất thuận lợi, chỉ đợi ngày thu hoạch.
Thế nhưng ông chính ủy tảng lờ:
– Theo lệnh trên, mọi kế hoạch đều phải thu vén lại trong thời gian ngắn nhất và chờ đợi.
Ông chín ngón đau lòng lắm nhưng không dám đặt câu hỏi để biết cho được nguyên nhân. Cái nguyên nhân ác ôn nào đã giết giấc mơ và niềm hy vọng của ông. Đất nước đã thống nhất, đã hòa bình rồi cơ mà! Người anh em Xã hội Chủ nghĩa môi hở răng lạnh vĩ đại lại đang ở bên cạnh, nhưng cái hồ cá vẫn không yên!
Ngoài trách nhiệm của một quân nhân, ông còn mang bổn phận của một đảng viên, cho nên ông chỉ phải thi hành. Chấp hành tuyệt đối. Mọi người chỉ có bổn phận phải thi hành lệnh Đảng và bảo vệ bí mật. Phải thi hành. Khóc mà thi hành. Tức tưởi mà thi hành. Ông chín ngón tan nát lòng mà thi hành. Đảng là bộ óc của ông. Ông không có quyền khác ý kiến. Ông phải nhất trí. Phải nhất trí!
Ông chính ủy ở xa nên ra lệnh cho ông rất dễ vì không thấy trước mắt, nhưng ông chín ngón lại phải trực tiếp ra lệnh cho ông quản giáo cho một đội phá đập. Ông phải trực tiếp nhìn dòng nước ồ ạt chảy, chảy cuốn băng băng mang đi niềm mơ ước của ông với bùn đất. Ông thi hành nhưng không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Ông chỉ lờ mờ nhưng không hiểu. Không hiểu nhưng ông phải nhất trí. Ông có biết đâu cấp trên của ông và chính các ông lãnh tụ Đảng cũng không hiểu, không biết phải làm gì để xây dựng đất nước, để đưa dân tộc ra khỏi nghèo đói và lạc hậu, để hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù giữa hai miền Nam Bắc mà Đảng đã dày công tạo ra trong thời gian chiến tranh. Các ông chỉ quen việc gây chia rẽ và hận thù nên không có trái tim biết đoàn kết và yêu thương đồng bào. Đàng sau khẩu hiệu đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết là sự khô cứng về tư duy và khốn cùng về ý thức. Các ông lãnh tụ chỉ biết Liên Xô vĩ đại, Trung Quốc vĩ đại, và Đảng cũng vĩ đại, nhưng là loại đàn em nên có bổn phận phải phục tùng! Cái khổ là hai người anh em vĩ đại nầy đang xung khắc nhau và bây giờ đến lượt xung khắc với Đảng! Vì đã đụng đến Đảng nên các ông phải quyết tâm bảo vệ, bảo vệ quyền lợi Đảng. Quyền lợi Đảng trên hết. Trên tổ quốc và xương máu nhân dân!
Đảng treo bó cỏ trước mắt con ngựa, bắt con ngựa phải chạy. Chạy vả cả mồ hôi, chạy đến sùi bọt mép, nhưng bó cỏ vẫn luôn luôn ở trước mắt. Nên, nếu cần hy sinh, đã có dân, những con ngựa bị khớp mõm! Nếu cần chiến đấu, đã có quân đội, quân đội đang mang tên nhân dân! Đảng là chủ nhân ông. Chủ của người dân. Chủ của quân đội. Chủ cả cánh đồng cỏ xanh tươi.
Giao việc cho ông quản giáo Hương dùng một đội phá đập. Xả nước từ từ, chờ hai ba ngày sau khi cạn nước thì tăng cường một đội nữa để tìm cách thu hồi số cá. Ông chín ngón lại nôn nóng đi thanh tra hiện trường cưa xẻ.
Cây gỗ lớn đã dứt ra thành nhiều đoạn ngắn. Ban đầu, ông nghĩ kế hoạch còn lâu dài, nên cho xẻ thành ván những đoạn nhỏ trước, vừa để tù cưa xẻ học việc, vừa cho đội mộc đóng một số bàn ghế gia dụng, sau đó ông cho xẻ ván các đoạn gỗ lớn, vì lúc nầy tù cưa xẻ đã có tay nghề khá hơn, nên ván của các đoạn gỗ lớn sẽ rất rộng bản và có giá trị. Ông đã lên kế hoạch và liên lạc mối lái về thành phố. Trung đoàn sẽ cho xe chở đi tiêu thụ. Mọi việc đang diễn ra tốt đẹp nhưng đến đây thì bị đảo lộn. Ông chín ngón phải cho tù xẻ ngay gỗ rộng bản. Ông cho tăng tiêu chuẩn ăn của tù cưa xẻ lên 21 cân và tuyển chọn thêm tù, tăng cường cho toán. Điều quan trọng trong lúc nầy là lưỡi cưa không được ngưng! Cứ luôn phiên nhau cưa từ sáng đến chiều. Ông cắt hai vệ binh trực tiếp canh giữ.
Lưỡi cưa nhất định phải rèn rẹt. Rèn rẹt liên tục như cưa được thời gian và vặn ngược được kim đồng hồ!
Linh tính cho Tố Nga biết toán cưa xẻ thế nào cũng cắt Nghi đi xuống suối lấy nước, nên Tố Nga quanh quẩn nơi dòng suối chờ đợi. Cô ẩn hiện, rình rập, như một con chồn nhỏ tinh khôn chờ cơ hội, dù Tố Nga cũng biết cơ hội có thể không còn nữa.
Buổi sáng hôm qua Tố Nga đã thấy một người xuống lấy nước nhưng không phải là Nghi và có một ông vệ binh đi theo nên Tố Nga thất vọng, lặng lẽ quay về nhà. Mang trở về gói thực phẩm cô đã nấu cho Nghi nhưng không gặp, lòng cô buồn vô hạn. Cô mở gói thực phẩm chính cô nấu với tất cả thương yêu trao gửi trong đó, rồi ngồi nhìn nó thẫn thờ. Cô muốn ăn nhưng không còn tha thiết nữa. Lần đầu tiên cô thấm thía câu ca dao:
Mâm đồng chùi sáng Để dưới ván thấy hình Cháo đậu xanh kia, đường cát nọ, Nhớ mình, quên ăn!
Người ta thì nhớ mình, nhớ người chồng đến quên ăn, còn Tố Nga? Tố Nga biết mọi diễn biến đang thay đổi rất nhanh. Có thể cô sẽ không bao giờ còn có cơ hội gặp lại Nghi, nên cô chuẩn bị một cách thật tình cờ để gặp ông vệ binh tại dòng suối, nơi hàng ngày toán cưa xẻ xuống lấy nước.
Hôm nay Tố Nga đi rừng, mệt và ngồi nghỉ thỏa mái nơi bến nước của dòng suối. Cô không có cái hồi hộp, rình rập và sợ sệt như ngày hôm qua. Tình cờ, cô nhất định phải tình cờ gặp ông vệ binh và một người tù lấy nước tại đây. Những câu hỏi, câu nói, cô đều chuẩn bị sẵn để cố moi cho được tin tức trong trại.
Từ xa cô đã thấy Nghi đang đi xuống. Cái dáng dấp đi rừng của Nghi cô không thể nhầm lẫn với ai được. Nó không có vẻ cực khổ, lam lũ của một người sống ở rừng cho dù Nghi tiều tụy, rách nát! Nghi vẫn có cái nét nào đó của một tài tử đóng phim trong rừng. Cô cũng không có cái nét của một người đang sống ở rừng, điều mà chính cô không hề hay biết. Tố Nga bối rối, quên cả mọi chuẩn bị phải đối phó như thế nào với ông vệ binh đeo súng đang lẽo đẽo theo sau Nghi. Cô quên hết. Cô sững sờ khi thấy Nghi. Trái tim cô đập lên thình thịch.
Nghi thấy Tố Nga. Nghi biết có thể gặp Tố Nga trong giây lát ở một nơi nào đó nhưng không ngờ lại gặp ở đây. Nghi biết cái khôn ngoan, nhanh nhẹn của Tố Nga, dù thế nào cô cũng dàn cảnh để thấy nhau trong chốc lát trước khi chia tay. Nghi cần phải bình tĩnh, nên khi vừa thấy Tố Nga, Nghi đi chậm lại đợi ông vệ binh đến gần. Nghi muốn dựa theo phản ứng của ông vệ binh khi thấy có Tố Nga nơi suối để có phản ứng riêng. Ông vệ binh lên tiếng:
– Có dân nhỉ?
Rồi ông nhận ra người quen:
– À, chào cô Tố Nga, ngọn gió nào đưa cô đến đây sáng nay?
– Dạ, chào anh Quân. Anh đang dẫn đối tượng đi đâu đấy?
– Đi lấy nước. Tôi được tăng cường coi toán cưa xẻ hôm nay.
– Dạo này chắc anh bận nhỉ?
– Vâng, toàn trại đang phải tập trung nhân lực để dứt điểm một số vụ việc…
– Thảo nào không thấy các anh ghé nhà chơi như trước kia.
– Vâng, bận lắm. Và không biết bao lâu mới lại có giờ rỗi rảnh đây.
Ông vệ binh quay qua nói với Nghi, hơi lớn tiếng để kín đáo khoe tí oai quyền:
– Cho phép anh nghỉ giải lao mười lăm phút, nhưng đừng đi đâu xa nhé.
– Dạ, cám ơn cán bộ.
Trong lúc ông vệ binh và Tố Nga nói chuyện, Nghi men theo bờ suối, đi về phía ngả ba, giao điểm của hai dòng nước, nơi Tố Nga đã hẹn Nghi trước kia. Vừa đi, vừa suy nghĩ làm thế nào để Tố Nga biết và nhận được mảnh giấy Nghi đã chuẩn bị sẵn mang theo trong người mấy hôm nay. Đến nơi, Nghi nhìn quanh rồi ngồi xuống dở một viên đá nhỏ, lật ngược lên, để tạo chút khác biệt và giấu mảnh giấy bên dưới. Nghi bẻ thêm một nhánh cây nhỏ vứt bên lối đi, thân của nhánh cây hướng về viên đá như một mũi tên định hướng. Nghi hy vọng cái thông minh của Tố Nga giúp cô nhận ra được.
Mười lăm phút sau Nghi quay lại. Nghi biết Tố Nga thế nào cũng kín đáo quan sát anh. Ông vệ binh chào Tố Nga. Nghi cúi xuống xách thùng nước lên, một nhánh cây vô tình cài vào quai xách, Nghi bẻ nhánh cây vứt tại chỗ rồi xách nước lên đồi. Nghi hy vọng hình ảnh nhánh cây gãy là lời nhắn khéo cuối cùng cho Tố Nga.
Bỏ lại Tố Nga, bỏ lại dòng suối phía sau lưng Nghi mang thêm một nỗi buồn. Thêm một lần chia ly, thêm một lần mất mát trong đời! Tố Nga lặng người. Gặp nhau không dám nhìn. Không dám nói. Yên lặng xót xa. Yên lặng đau đớn. Tố Nga bước xuống suối rửa mặt, cố giấu những giọt nước mắt nhạt nhòa. Dòng suối ơi. Dòng suối ơi!
Hồ cá đã cạn. Trời lại đang mưa phùn. Gió bấc thổi từng cơn. Rét, lạnh và sình lầy nhầy nhụa. Ông quản giáo Hương mang đôi ủng, khoát áo mưa. Rất đông vệ binh đội mưa, đi đi lại lại trên bờ hồ, chỉ huy cả hai đội tù bắt cá. Tiếng chỉ trỏ, kêu réo, khá ồn ào huyên náo. Đa số tù không có tay nghề bắt cá nên những chú cá cứ vẫy vùng từ nơi nầy đến nơi khác. Tù lại một phen tắm sình.
Hình ảnh của những chú cá không còn lối thoát nhưng cố vẫy vùng tìm cách thoát thân cũng giống như đám tù cùng đường trong ao tù chế độ.
Tù cùng nhau yên lặng hành động. Những chú cá lớn lớn phải bóp đầu cho chết và dìm xuống sình, rồi tìm cách nhét vào túi áo quần. Những Tôn Ngộ Không ứa máu, trong lần dỡ sắn ba tháng trước đây lại hiện về nhưng thời điểm đã khác nhau. Ngày đó trại thi hành kỷ luật khắc khe, nhưng hôm nay là hoạt cảnh chợ chiều ba mươi Tết. Ông chín ngón và các ông quản giáo lo tìm cách thu vén và bảo vệ quyền lợi cá nhân nên không ông nào còn nghĩ đến chuyện kỷ luật đối với tù.
Tiêu ướt sũng, tái mét, run rẩy giao cho Nghiêm gô cá đầy ắp rồi vội vã ra suối tắm. Cái lạnh đã quá sức chịu đựng nên cần phải tắm nhanh rồi tìm ấm. Nghiêm ra suối làm cá. Nhìn đám tù sình lầy, đen đủi, trần truồng, xương xẩu, chen lấn nhau tắm giặt, cũng huyên náo, ồn ào như một bầy khỉ ở Phi Châu đang tranh nhau trong vũng nước. Có phải đây là đám vượn người thời tiền sử của Darwin và chủ nghĩa duy vật?
Thủy tổ của nhân loại, của Karl Max-Lenin lại tái xuất hiện vào cuối thế kỷ 20!
Đảng Cộng sản Việt Nam thật có công lớn khi đưa lịch sử nhân loại đi một vòng tròn trở về thời kỳ nguyên thủy!
Hai tuần lễ sau khi họp ở Trung Đoàn thì có lệnh chuyển trại. Ông chín ngón dậy thật sớm. Ông kéo một hơi thuốc lào thật sâu, rồi ngồi trầm ngâm ở văn phòng. Tất cả nhân viên của ông đều đang bận chuẩn bị cho việc chuyển trại, trừ ông.
Mới tờ mờ sáng, tù đã bắt đầu lũ lượt rời trại, trong màn sương trắng như màu sữa loãng. Những con vượnngười lại thêm một bước văn minh, biết gồng gánh, khiêng vác hành trang cá nhân của mình! Thứ hành trang tù thật đơn giản, gọn nhẹ nhưng thật sự không nhẹ chút nào với tình trạng sức khỏe cạn kiệt và đường xa. Chỉ cần đi bộ không thôi, trên mấy chục cây số cũng đã là một việc khó rồi. Ông chín ngón đứng nhìn theo cho đến người tù cuối cùng rời khỏi trại. Một cảm giác trống vắng thật khó tả trong ông. Những sinh động của một trại tù giờ đây không còn nữa. Cái ồn ào, nhộn nhịp trong thời gian qua không còn nữa. Núi rừng lại trở về với cái im vắng mênh mông của nó. Ông rơi vào nỗi cô đơn lạ lùng.
Chờ nắng lên, ông một mình đi lang thang trong trại. Ông nghe cả âm thanh của những chiếc lá khô vàng quyện theo bước chân ông. Từng dãy lán nằm im lìm như còn vương vấn hơi tù. Ông bước vào hội trường, một cảm giác thật khó tả. Mới hôm nào ông đứng trên bục giảng, hùng hồn thuyết về chủ nghĩa, đường lối chính sách, về nội quy, kỷ luật. Những khuôn mặt tù hốc hác, tai tái, chì chì, nhìn ông trong sợ hãi. Những ánh mắt đó cho ông có cảm tưởng ông cao lớn hơn, oai quyền hơn, nhưng bây giờ thì tất cả không còn nữa.
Xuống trại mộc, những sản phẩm chưa kịp hoàn tất, đang còn ngổn ngang ra đó. Căn nhà ông ấp ủ, bàn ghế ông mơ ước đang ở trước mắt ông nhưng sao lại xa vời. Đến bên suối, nhìn những lối mòn, những tảng đá nhẵn bóng vì sinh hoạt của tù và dòng nước vẫn róc rách trôi. Không một ai chung quanh ông. Ông trở về con người thật của ông, bản chất của ông. Ông đứng đái trên dòng nước.
Về lại bộ chỉ huy, sau khi giao việc cho mấy ông vệ binh coi giữ trại, ông chín ngón đi ra hiện trường cưa xẻ. Đến hồ cá ông dừng lại. Mặt hồ nước rộng mênh mông, xanh biếc không còn nữa. Cái kiếng thần vĩ đại, phản chiếu cả màu trời và ước mơ của ông không còn nữa. Mặt hồ bây giờ sâu hoắm, lỗ chỗ, xấu xí. Một lớp nước mỏng trên mặt sình chì xám, với những hang hốc quanh bờ, đều phô bày ra, xám xịt khó coi. Ông chín ngón bước đi, bước chân nặng trĩu.
Những ngày trước kia, trên đường đi kiểm tra toán cưa xẻ, cũng núi rừng, cũng suối nước, cũng cái yên vắng muôn đời của rừng già nhưng ông chín ngón thấy nó linh hoạt và sống động mà sao bây giờ lại như một bức tranh tĩnh vật?
Tố Nga ngồi yên trên mặt phẳng của khúc gỗ cưa còn dở dang. Cô chết lặng đi với nỗi nhớ. Những sinh hoạt tại đây cô chưa bao giờ đặt chân đến nhưng cô biết rất rõ. Cái chòi lá sơ sài, trống trải nhưng là nơi che mưa nắng của toán cưa xẻ. Mấy chạng ba của mấy cây trụ lều là nơi móc quần áo, gô, coóng. Những que củi còn chụm đầu lại trong đống tro bếp đã nguội lạnh, những chiếc lá cháy nám lăn tăn trên nền đất theo cơn gió nhẹ. Sinh hoạt của tù cưa xẻ còn rõ ràng nhưng không có một dấu vết đặc biệt nào của Nghi. Tố Nga chỉ cần dấu vết của Nghi.
Cô đã nhận được mảnh giấy của Nghi nơi dòng suối, những lời dặn dò làm cô khóc khô cả nước mắt. Tố Nga cũng viết sẵn một lá thư hồi âm, cô dự trù sẽ giấu gần nơi Nghi đã gửi mảnh giấy cho cô. Không cần dặn dò, không cần chỉ điểm nhưng khi hai trái tim tìm nhau, hướng về nhau thì sẽ nhận diện được dấu vết của nhau. Loài thú khi yêu nhau cũng bắn tin nơi cành cây, hốc đá để biết và tìm đến nhau. Ôi chao khi hai người yêu nhau lại phải làm theo dấu thú.
Tố Nga đã đến dòng suối nhưng dòng suối vắng lặng. Tố Nga lại tìm đến nơi cùng Nghi hò hẹn trước kia nhưng chỉ thấy cây lá vô tình. Không có một dấu vết nào của Nghi. Cô lần lên lưng chừng đồi, với hy vọng được nghe tiếng rèn rẹt quen thuộc thân yêu. Tiếng lưỡi cưa ăn vào gỗ là tiếng khổ sai của tù nhưng cũng là tiếng hy vọng của Tố Nga. Thế nhưng bây giờ mọi nơi đều yên vắng. Yên vắng hoàn toàn. Đi nhanh hơn. Nhanh hơn, nhưng nhóm cưa xẻ không còn nữa. Tất cả đã biến mất. Khi Tố Nga thấy căn chòi trống trơn, vắng lặng, cô bật khóc. Khi loài thú xa nhau còn có những tiếng kêu đặc biệt nhưng khi con người xa nhau, sao yên lặng ngập tràn?
Nga khóc. Cô nghe tiếng thổn thức của chính mình. Tiếng kêu của chính mình. Tiếng kêu tuyệt vọng trong một cuộc tình câm nín. Bước chân tù của Nghi đã đi về đâu. Bước chân người ở lại như cô sẽ về đâu?
Tố Nga nuối tiếc. Nếu hôm qua Tố Nga ra đây, biết đâu cô có thể gặp Nghi lần cuối? Tố Nga đem lá thư cô viết cho Nghi ra xem lại. Không gửi được cho anh, không trao được đến tay anh, thì em ngồi đây đọc cho anh, cho cây cỏ, núi rừng lắng nghe chúng sẽ chuyển đến anh…
Ông chín ngón ngạc nhiên. Không phải là thú rừng. Không phải là bóng ma. Là người sao lại xuất hiện ở đây? Câu hỏi đến đột ngột trong ông. Có thể có người đã biết tù di chuyển nên đến đây tìm cách ăn cắp gỗ của ông. Ông bước nhanh hơn.
Thấy có người đi đến, Tố Nga giật mình lo sợ. Cô gấp vội lá thư bỏ vào túi thì ông chín ngón đã đến gần. Ông ngạc nhiên nhưng chưa lên tiếng. Đôi mắt ông dừng lại nơi tờ giấy vừa gấp lại vội vàng. Ông là con cáo già. Ông có câu hỏi khôn khéo, để thăm dò:
– Chào cô Tố Nga, cô ngồi nghỉ lâu chưa? Đây là khu vực quân sự của chúng tôi đấy.
Tố Nga bối rối như một người bị bắt quả tang vì phạm tội. Cô lúng túng tìm cách trả lời:
– Chào thủ trưởng, tôi đi rừng đang lúc mệt, lại thấy có mặt gỗ bằng phẳng nên ngồi nghỉ ấy mà! Tôi không biết đây là khu vực quân sự của thủ trưởng.
Ông chín ngón tiếp:
– Đây là nơi làm việc của tù dân không có quyền lui tới.
Tố Nga xuống nước tìm kế thoát thân:
– Tôi không biết thủ trưởng ạ chỉ mới ngồi nghỉ chốc lát ấy mà!
Ông chín ngón không để cho Tố Nga rút yên được. Ông tiếp:
– Tôi chịu trách nhiệm ở khu vực nầy và mọi việc liên quan đến tù. Tuy cô đến đây một mình không thấy có liên hệ nào với tù nhưng về mặt an ninh tôi cũng phải hỏi. Tôi chỉ muốn giúp cô bảo vệ an ninh cho chính cô. Bọn tù nầy rất nguy hiểm nếu vô tình gặp chúng cô có thể bị mất mạng đấy!
– Dạ, cám ơn thủ trưởng mách bảo. Xin phép thủ trưởng tôi đi và sẽ chẳng bao giờ trở lại khu vực nầy đâu.
– Tôi đã bảo với cô, tôi chịu trách nhiệm an ninh trong khu vực nên cô có thể cho tôi xem mảnh giấy cô vừa cất vào túi được không?
Tố Nga bối rối ra mặt. Cô tìm cách chống chế. Cô cố biện minh để thoát khỏi sự nghi ngờ của con cáo già nầy. Tố Nga nói:
– Đấy là bài hát, vật riêng tư cá nhân thủ trưởng xem làm gì.
– Xin lỗi cô, tôi đã bảo vì an ninh cơ mà!
Tố Nga phản ứng:
– Tôi không có quan hệ gì với các đối tượng. Tôi không có gì sai quấy cả. Thủ trưởng không có quyền tra xét tôi.
– Tôi đã bảo, phải bảo vệ cô cũng như người dân trong vùng nầy. Đó là trách nhiệm của tôi.
Vừa nói, ông chín ngón vừa trờ tới. Tố Nga đứng dậy, thối lui, cô cố thoát tay ông chín ngón. Nhưng ông chín ngón không còn là ông thủ trưởng nữa, ông là con gấu khổng lồ tấn công Tố Nga tới tấp. Chỉ trong giây phút Tố Nga đã bị khống chế hoàn toàn. Ôm và vật Tố Nga trên đất một cảm giác mới bừng bừng trong ông. Mảnh giấy không còn là mục tiêu nữa. Cơ thể một người đàn bà ấm áp, đương độ và sinh động đang nằm trong vòng tay ông. Điều mà trong những giấc mơ, cứ đêm đêm hiện về quậy phá giấc ngủ của ông. Run rẩy và thèm khát. Giọng ông hấp tấp:
– Sẽ không có một ai biết chuyện nầy đâu Tố Nga. Em kêu lớn cũng vô ích. Mảnh giấy em đang giữ chắc chắn có liên quan đến tù. Em sẽ bị liên hệ. Em sẽ bị điều tra. Cái án cải tạo… tôi sẽ bỏ qua..
Tố Nga không còn nghe rõ. Cô chỉ cố vùng vẫy. Vùng vẫy trong tuyệt vọng. Đến khi cô biết thì đã muộn. Cô không thể đi rừng một mình. Đi đêm có ngày gặp ma! Cô có thể bị giết chết và chôn giấu tại đây mà không ai có thể tìm được xác. Bản năng sinh tồn trỗi dậy. Cô gắng sức vùng vẫy, chống trả. Nhưng vô vọng. Càng chống trả, quần áo cô càng xốc xếch, xô lệch.
Ông chín ngón không còn nghe bất cứ tiếng than van, xin xỏ nào của Tố Nga. Ông như con vật đang say mồi. Tố Nga tuyệt vọng. Cô kêu cứu, nhưng tiếng kêu của cô mất hút giữa núi rừng mênh mông và làm cô mất thêm sức. Cô tự nhủ, phải bình tĩnh trong lúc nầy. Cô cần phải sống. Phải nhận diện dấu vết rõ ràng nơi ông chín ngón. Từng dấu vết nhỏ nhất trên cơ thể ông cô phải ghi nhớ. Cô sẽ đưa ra pháp luật dù cô thừa biết thứ pháp luật của người cai trị. Hai tay cô bị bẻ ngoặc ra phía sau. Cả thân người đồ sộ của ông chín ngón đè lên cô. Bàn tay còn lại của ông tung hoành trên cơ thể cô. Những mảnh vải tối thiểu trên người cô lần lượt đều bị ông chín ngón tháo bỏ. Chính hai cái tay áo sơ mi của cô trở thành sợi dây buộc hai cánh tay cô. Ông chín ngón trút bỏ áo quần của ông trước đôi mắt kinh hãi của Tố Nga. Rồi cơ thể ông đổ lên người cô. Cô nhắm mắt. Nước mắt ràn rụa. Nghi ơi. Nghi ơi!
Việc nói về Phan Nhật Nam, nhà văn trong buổi họp mặt ngày hôm nay là một điều bất công đối với ông. Phan Nhật Nam lớn hơn nhiều, Phan Nhật Nam con người cũng như Phan Nhật Nam nhà văn lớn hơn như thế nhiều. Cứ mở phần danh biểu cuối cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan của Võ Phiến là chúng ta thấy ngay điều đó. Nếu số lần được nhắc đến trong cuốn sách này là một thước đo tầm vóc của một nhà văn thì với gần 20 lần được nhắc nhở trong cuốc sách đó, Phan Nhật Nam phải là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại.
Nhưng họ Phan vẫn bị đối xử một cách rất bất công. Ông thường bị xếp vào hàng ngũ những người viết bút ký chiến trường. Bút ký chiến trường thực ra không phải là một hình thức văn chương thấp hơn các thể loại văn chương khác. Nhưng có lẽ trong suốt cuộc chiến Việt Nam, những bút ký chiến trường chỉ được viết ở một mức độ cao hơn những bản tin chiến sự của Bộ Quốc Phòng một chút mà thôi. Thêm nữa, thể loại này chưa bao giờ được viết một cách nghiêm chỉnh, bằng những nỗ lực nghiêm chỉnh, với những tên tuổi có thể đem lại những mức độ nghiêm chỉnh cần thiết. Người ta thường quên “con người nhà văn” của họ Phan.
Người ta nghĩ ông chỉ viết bút ký chiến trường. Phan Nhật Nam không phải như thế. Căn bản ông là một nhà văn. Ông là một nhà văn sống cuộc sống của một người lính chiến. Như Saint Exupéry là một nhà văn lái máy bay. Như Ernest Hemingway là một nhà văn viết về nội chiến Tây Ban Nha, về Đệ Nhất Thế Chiến. Như Jean Larteguy viết về chiến tranh và những tàn nhẫn của nó. Phan Nhật Nam viết về chiến tranh, quả thật có mang nặng những chi tiết về võ khí, về chiến thuật, chiến lược; nhưng thật sự vẫn là cái không khí súng đạn, mặt trận, chiến trường mà ông viết xuống dưới các tác phẩm của ông. Các nhà văn không có cuộc sống như Phan Nhật Nam không viết như thế. Và các ký giả chiến trường không là nhà văn cũng không viết như thế.
Phan Nhật Nam căn bản là một nhà văn. Ông không là một nhà văn viết về cuộc đời duy nhất mà ông biết, và tình cờ đó là cuộc đời của một người lính sống trong những năm chiến trường khốc liệt. Phan Nhật Nam viết những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam với muôn vàn phẫn nộ, và có lẽ cũng vì thế người đọc cũng phẫn nộ với ông. Ta hãy nghe Phan Nhật Nam trong “Dọc Đường Số Một” nói về chuyện viết lách, chữ nghĩa của ông: “Viết bút ký hay là một thứ cầu kinh trong niềm cô đơn đen đặc, viết bút ký để thấy những giọt nước mắt vô hình tha hồ tuôn chảy sau bao nhiêu lần nín kín, viết bút ký như một lần nức nở được thoát hơi sau hàm răng nghiến chặt, thấm máu tươi từ đôi môi khô héo.” Những chữ này không thấy trong ký sự chiến tranh chúng ta đọc trên báo. Phan Nhật Nam đi đến với văn chương không để tạo cho mình một cái tên. Ở nơi ông không có những thứ văn chương phù phiếm để lập thân, cách lập thân tối hạ như người trước đã nói.
Phan Nhật Nam, nói như Võ Phiến, là “một con ngưoi phẫn nộ, ông nổi trận lôi đình ầm ĩ trước những tàn bạo ngoài tiền tuyến, những xáo trộn vô trách nhiệm ở hậu phương. Ông lăn xả vào thời cuộc chính trị, vào chiến trận quân sự, ông văng tục, xỉ vả tưng bừng. Trái với lớp trẻ mười năm trước, Phan Nhật Nam dấn thân hết mình, bám sát thời thế. Ông nổi cáu, mạt sát những người cầm bút lè phè ở trong thành phố, không biết đến cuộc chiến trên quê hương … ” Như chúng ta thường đọc thấy trong Dọc Đường Số Một, Dấu Binh Lửa, Dựa Lưng Nổi Chết Phan Nhật Nam đã nguyền rủa cái ốc đảo Sài Gòn lãnh đạm, xa rời chiến tranh như thế này trong Dấu Binh Lửa:
“Một tháng ở thủ đô đủ để tạo tan hoang trong tâm hồn. Một tháng đủ để cho chúng tôi hiểu rõ nỗi ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy hằn học và dục vọng. Sài Gòn, chúng tôi thù ghét và ghê tởm thủ đô đục ngầu phản bội và thù hận. Tôi ao ước một cơn hồng thủy sẽ cuốn trôi thành phố sau lưng, một cơn hồng thủy xóa hết thành phố nhơ bẩn mà thủ đô đã bôi lên khuôn mặt của quê hương … “.
Với ông, không có “lính đa tình,” không có “lính viết tên người yêu trên ba lô nặng chĩu … ,” không “chiều nay em ơi, một chăm phần chăm … ,” không có những hình ảnh làm xấu hổ những người lính có lòng, có tâm hồn, yêu đất nước quê hương. Ông là hình ảnh thấy thấp thoáng trong một đoạn thơ của Nguyễn Bắc Sơn:
“…Nhậu để khói sầu lên ngút ngút
Đốt lòng uất hận cao ngùn ngụt
Ngửi mày một tị xem làm sao
Thân thể mày bay mùi binh đao
Ngày trước mày hiền như cục đất
Giờ mở miệng ra là chửi tục
Hà hà ra thế con nhà binh
Ngôn ngữ thơm tho như mùi đất
Ngày trước mày định đi tu tiên
Giờ bi đông lính tu ừng ực … ”
Hay một đoạn khác :
“ … Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu
Nếu mai đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui … “
Nhưng đọc kỹ Phan Nhật Nam, sau những phẫn nộ đó là một sự buồn phiền, là một lòng nhân hậu bao la rộng lớn .. Hãy lại nghe ông trong Dấu Binh Lửa, “Mưa thật lớn trên đồi cao, gió giật mạnh. Doanh trại vắng vẻ như tha ma. Ngồi một mình nhìn ra khoảng không gian xám đặc … Con chim sẻ trốn mưa bay vào phòng đậu trên thành giường sù lông rũ nước kêu những tiếng nhỏ thật cô đơn. Tôi cũng như những con chim nhỏ trong chiều mưa này. Và từ đó thấy lòng những tình lạ thật thiết tha, hồn hậu như những ngày vừa mới lớn..”
Đôi lúc họ Phan cũng ân hận về những gay gắt, hằn học mà ông đã nhiều lần viết xuống. Ông thấy đã có lúc ông có quá độ. Đó là nét nhân ái thấy rất nhiều trong con người phẫn nộ Phan Nhật Nam.
Con người nhân ái của Phan Nhật luôn luôn thấy thấp thoáng trong khung cảnh sống tàn bạo kinh khiếp, man dã của chiến tranh. Bản chất thiện của người lính Phan Nhật Nam được tìm thấy ngay trong giữa cảnh đổ nát, khói lửa mịt mùng của một trận đánh vừa chấm dứt. Trong Dấu Binh Lửa, Phan Nhật Nam viết về một phụ nữ trẻ trong ngôi nhà đổ nát, vôi vữa hoang tàn. Người phụ nữ hai tay đưa cho người sỹ quan trẻ cái lẳng đựng vài món quần áo và tư trang. Và khi người lính nhẩy dù từ chối, thì người đàn bà nọ tự động, im lặng, thẫn thờ bứt hàng nút áo ngực đưa phần thân thể phía trên ra để “mời” ông thiếu úy …
“Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sỹ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính đánh trận, chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt … Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này, cho những người lính chung quanh … “
Viết như vậy là văn chương. Không là bút ký chiến trường. Văn chương ở mức độ vượt lên mọi tác phẩm khác về chiến tranh Việt Nam. Nếu quá khứ cho chúng ta biết phần nào về tương lai thì người ta tin là Phan Nhật Nam, sau những Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số Một, Ải Trần Gian, Mùa Hè Đỏ Lửa, Dựa Lưng Nỗi Chết, Tù Binh và Hòa Bình, ông sẽ viết những tác phẩm khác. Những tác phẩm xuất sắc hơn. Thấm hơn . Đau hơn …
Phan Nhật Nam đã tiếp tục viết, và hôm nay, ông trở lại với Những Chuyện Cần Được Kể Lại và Đường
Trường Xa Xăm. Chúng tôi không đi vào từng bài thơ, từng tùy bút, từng đoạn ký trong hai cuốn sách này, mà chỉ xin mời độc giả của ông đọc ngay truyện “Giữa Vũng Tối” trong Đường Trường Xa Xăm và “Hai Người Lính … Sau Một Lần” trong Những Truyện Cần Được Kể Lại.
Truyện “Giữa Vũng Tối” viết về một đoạn kiên giam của người tù Phan Nhật Nam. Đoạn tù này làm cho cảnh tù đầy trong “Một Nửa Đàn Ông là Đàn Bà” của Trương HIền Lượng là một chuyến picnic, và “Một Ngày Trong Đời của Ivan Denissovich” mà Alexander Solzhenytsin viết lại chỉ là một ngày nắng đẹp … Nhà tù của Phan Nhật Nam khủng khiếp không thể nói sao cho hết. Nói theo một nhân vật của Vũ trọng Phụng thì nhà tù nơi Phan Nhật Nam bị kiên giam “oai” hơn các nhà tù mà Trương Hiền Lượng, Solzhenytsin đã trải qua rất nhiều. Truyện “Hai Người Lính Sau Một Lần” bi thảm hơn truyện hai người lính trong một ca khúc của Phạm Duy gấp trăm lần. Trong bài hát của Phạm Duy, tình cảnh hai người lính chỉ là sản phẩm của tưởng tượng.“Hai Người Lính” trong truyện Phan Nhật Nam là người thật sống. Truyện kể một người lính “Ngụy” sau khi ra khỏi nhà tù, nhà tù mà Phan Nhật Nam đã tả trong “Giữa Vũng Tối” trở về một vùng quê nọ để sống. Vào một buổi tối, người lính “Ngụy” khi hành nghề chạy xe ôm đã gặp một gia đình bốn người đứng đón xe. Anh lính “Ngụy” giúp gia đình nọ hai chuyến mới chở hết được đến nơi họ muốn tới. Câu chuyện trao đổi trên lưng chiếc xe Honda giữa người lính “Ngụy” và hai vợ chồng người đón xe mở ra những chi tiết bất ngờ … Người đàn ông nguyên là bộ đội bị hỏng mắt trong trận đánh cuối cùng ở Đà Nẵng, và người đàn bà thì từng được “Cách Mạng” phong là “Nữ anh hùng diệt Mỹ”. Hai vợ chồng teo quắt lại như những chiếc vỏ chanh bị vắt đến kiệt nước. Và người lính “ngụy” cũng xác xơ sau mười mấy năm tù cộng sản. Những nạn nhân đó cuối cùng gặp nhau, người lính thì không nói ra câu chuyện của mình. Hai vợ chồng người bộ đội thì kể ngọn nhành những bi thảm của đời họ, tô điểm đây đó với những chi tiết độc ác về bọn lính “Ngụy” và tiếp tục lo ngại quyết định đi ăn xin kiếp sống của mình có thể làm xấu mặt nhà nước. Người lính “Ngụy” trút hết cả số tiền trong túi cho cả hai vợ chồng người bộ đội và trở lại Lái Thiêu. Người lính để cho người đọc thắc mắc, nếu anh “Ngụy” kia nói cho hai vợ chồng người bộ đội nọ biết anh là ai, thì phản ứng của hai vợ chồng người bộ đội biến thành ăn mày đó sẽ như thế nào?
Có lẽ Phan Nhật Nam không tàn nhẫn đến độ đâm một nhái dao vào lương tâm của người đàn ông và người đàn bà bất hạnh đó, để cho họ tiếp tục tin tưởng, tiếp tục có được những nụ cười khi nói về những huân chương “dũng sĩ diệt Mỹ, anh hùng lao động, anh hùng kháng chiến” của họ. Đó là nét nhân bản nơi con người Phan Nhật Nam. Hai cuốn sách mới của ông là hai cuốn sách đáng đọc. Có một điều những người đọc Phan Nhật Nam thấy là khi đọc ông, người ta gần như luôn luôn có chung với nhau một thái độ: “Người ta không thể đứng ở ngoài nhìn vào những điều ông nói. Không thể dửng dưng trước những điều ông viết xuống. Không thể không cùng phẩn nộ, đau xót, không thể không cùng cảm nhận những điều bi thảm ông nhìn thấy và ghi lại”. Đọc Phan Nhật Nam là nhập cuộc. Sống cùng những điều bi thảm đó. Chúng tôi xin mượn một số nhận xét của Võ Phiến về Phan Nhật Nam trong cuốn Ký, Bút, Kịch Miền Nam vừa do nhà Văn Nghệ xuất bản. Trong cuốn sách này, Võ Phiến viết: “Mười lăm năm trong lao tù cộng sản, ông làm một tù nhân can trường … Văn nghiệp của ông phản ảnh chỗ nhiệt tâm, dũng mãnh và can trường trong cuộc sống ấy.”
Trước phòng họp này có một đống đá. Tôi nhớ một vị giáo chủ cũng đã có lần cầm một cục đá, nói với những người hò hét chung quanh một người đàn bà bị kết án ngoại tình rằng: “Ai nghĩ mình là “người vô tội” thì hãynhặt đá lên và ném cho người phụ nữ ấy chết đi”. Thời đó, tội ngoại tình là tội bị trừng phạt bằng những cục đá. Vị giáo chủ này đã không ném đá vào người đàn bà. Cũng không ai dám làm công việc đó. Dù đó là một người phụ nữ đã bị kết án, đã có bằng cớ ngoại tình. Tôi không dám cầm cục đá mà ném Phan Nhật Nam vì lẽ Phan Nhật Nam không có tội gì hết. Đâu là căn bản của luật pháp nước Mỹ, quốc gia chúng ta đang sống? Cái căn bản khẳng định một người phải được coi là vô tội cho đến khi nào pháp luật chứng minh được rằng ông ta có tội.
Phan Nhật Nam gần đây có lúc bị treo cổ như những người da đen trong thế kỷ trước và đầu thế kỷ này.
Những người da đen nọ chỉ cần bị “tình nghi” là phạm pháp, là không tôn kính, hay xúc phạm phụ nữ da trắng là thân xác của người ấy có thể bị đong đưa dưới một cành cây ở những tiểu bang miền Nam nước Mỹ lập tức.
Cũng thế, Phan Nhật Nam “đã bị treo cổ” mấy lần bởi những người cùng màu da với ông, bởi những tội mà ông không hề phạm phải. Phan Nhật Nam viết ở đầu hai cuốn sách ông xuất bản ở Hoa Kỳ rằng: “Không (có) khai sinh, căn cước, thẻ sĩ quan (và) chưa hề có một tài sản nào quá 10 đô la”. Thế thì ông chỉ giống như chúng ta thôi. Ba tờ chứng thư ông không có. Một số chúng ta cũng không có đủ ba thứ. Một số khác chỉ có một. Mà nếu tất cả còn nằm trong tay chúng ta thì chúng có được công dụng gì? Chắc chắn là không. Vậy những công chứng thư này trở thành vô giá trị trước luật pháp nước Mỹ. Sao lại căn cứ vào đấy để bảo Phan Nhật Nam “từ khước quá khứ quân đội dẹp bỏ tổ quốc, khinh miệt người lính” vì không mang theo trong người những chứng thư đó. Ông khai chưa có một tài sản nào quá 10 đô la, thì cũng nhiều lần chúng ta cùng hoàn cảnh tài chánh ngặt nghèo như ông. Chúng ta đã có lúc không có được tài sản quá 10 đô la. Nhưng “vì thiếu tiền mà bảo rằng chúng ta là người vô sản, cộng sản” có quá đáng hay chăng? Người bạn chúng ta mà là cộng sản ư? Người quân nhân từng chửi xa xả cộng sản trên tầng số máy truyền tin ở An Lộc ngày nào, người lính từng thương tích đầy người vì đạn đối phương ngoài mặt trận mà là cộng sản ư? Người không khoan nhượng với cán bộ cộng sản …(Thứ cán bộ cộng sản gộc, những Võ Đông Giang, Hoàng Anh Tuấn, Trần Văn Trà … Bùi Tín cũng chỉ là một viên Thiếu tá trưởng Ban Báo Chí của nhà nước VNDCCH không đủ cân lượng để “cầm cự“ trong cuộc “đọ sức” ngày 4 tháng 3, 1973 ngay tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội …) … Không khoan nhượng một chữ nói lên, mỗi tiêu đề viết xuống tại phòng hội Ban Liên Hợp, nơi địa điểm trao trả … Và cuối cùng, đấy cũng là người chịu cùm kẹp, lê lết qua đủ các thứ trại tù cộng sản kinh hoàng nhất lịch sử Việt Nam, cũng gớm ghê hơn tất cả chế độ giam giữ trên toàn thế giới …. Con người không chịu ngã gục kia mà lại là Cộng Sản ư … Hãy hổ thẹn vì những tiếng lời đã hạ nhục Người Bạn chúng ta!
Tôi phải bất đồng ý kiến với những lời cáo buộc nầy. Vì hai câu vừa trích dẫn trên, ông bị quàng cho cái tội:
“Từ khước quá khứ quân đội và là một người cộng sản!” Tôi không nghĩ vậy. Tôi cũng như tất cả quý vị đang ngồi trong phòng họp nầy, chúng ta không thể ném ông bằng những cục đá trong đống đá trước cửa, chẳng phải vì chúng ta cũng là những người “mang cái tội” Nam bị gán cho. Mà vì Phan Nhật Nam không phải là người có những tội đó. Mà là vì chúng ta không thể xúc phạm Nam như thế. Mười mấy năm trời chiến trận, bao nhiêu năm cấm cố, tra tấn, đánh đập, kiên giam … Phan Nhật Nam xứng đáng được chúng ta kính trọng.
Những lời lăng mạ, gán ghép, bóp méo, xuyên tạc, bôi bẩn, vu cáo, mạ ly không thể đến từ phía này. Kẻ thù chúng ta mới làm điều đó. Kẻ thù chúng ta mới quen làm và có thể làm những việc đó. Và chúng đã thực hiện với Phan Nhật Nam, với bạn bè bằng hữu của chúng ta, với các chiến hữu của quý vị.
Chúng ta không thể tiếp tay với những bàn tay man dã thô bạo mà rất nhiều người trong số quý vị đã rất biết sự tàn ác của những bàn tay ấy, để cào cấu, bóp cổ Bạn của chúng ta được:
Tôi không thể cầm những cục đá đá ném Phan Nhật Nam. Nếu phải ném, chúng ta đã biết mục tiêu phải ném tới. Mục tiêu đó không phải là cựu Đại Úy Nhẩy Dù Phan Nhật Nam, cựu sĩ quan của các tiểu đoàn 7,9,2
Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù tốt nghiệp Khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Phan Nhật Nam là người mà chúng ta rất vinh dự được gọi là Bạn.
Tôi còn thiếu sót một vài giọng hát nổi danh trước khi Mỹ bắt đầu tham chiến ở Việt Nam. Đó là giọng của Thanh Sơn, Anh Duy, Vũ Thành An, Trường Hải, Ngọc Sơn và Nhật Thiên Lan.
* Thanh Sơn:
Dù đậu khôi nguyên trong cuộc chung kết của cuộc tuyển lựa ca sĩ, nhưng Thanh Sơn có một giọng chân phác quá nên không ăn khách được. Giọng hát của anh vững vàng, chuỗi ngân không dài nhưng thoải mái. Nhưng buồn một nỗi cái âm sắc của anh không đẹp, không làm thính giả mường tượng được một hình ảnh đẹp có thể làm rung cảm họ. Đó cũng như tiếng hát của Nguyễn Hữu Thiết, tuy cứng về kỹ thuật nhưng nghe không ngọt ngào du dương. Qua tiếng hát của cả hai, thính giả chỉ mường tượng đó là mẫu ca sĩ mộc mạc đến trơ trẽn, cục mịch, không một chút bay bướm để làm cho cuộc sống nên thơ. Thanh Sơn bỏ nghề ca hát để sáng tác nhạc. Hai bản “Mùa Hoa Anh Đào” và “Nỗi Buồn Hoa Phượng” của anh đi sâu vào quần chúng nhưng không phổ biến trong giới thức giả.
* Vũ Thành An:
Khi chưa sáng tác, anh thích hát những bài nhạc uớt át, nhưng có phẩm chất cao như “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật Ngân, “Chiều Mưa Công Viên” và “GióLạnh Đêm Hè” của Y Vân. Vũ Thành An trắng trẻo khôi ngô. Nhưng anh ốm yếu lỏng khỏng, hàm răng thưa nên trông anh nhạt nhẽo như khứa cá ngon nhưng chưa ướp muối và gia vị. Nhưng tiếng hát của anh thì trái lại thanh tao và đậm đà, phần ngân nga trội hơn hơn phần ngân nga của Thanh Sơn nhiều. Qua tiếng hát của anh, thính giả có thể mường tượng những khung cảnh rất mộng rất thơ, có thể nghĩ đến ánh trăng trên sông dài bát ngát, đến ánh nắng làm rực bóng dáng đồi biếc núi lam, toàn là những khung cảnh dành cho đôi lứa yêu nhau say đắm. Đó là tiếng hát làm phong phú sự liên tưởng, cõi mường tượng, niềm ước mơ của khán thính giả. Trong lãnh vực sáng tác, nếu Thanh Sơn đưa âm nhạc xuống phố chợ, xuống đám dân bình dị thì Vũ Thành An nâng âm nhạc lên chỗ cao sáng vời vợi hơn, biến âm nhạc thành ánh nắng trữ tình, ánh trăng mộng mị để len lỏi vào tâm hồn giới tuổi trẻ bén nhạy cảm xúc, vào khiếu thưởng ngoạn của khách sành điệu hơn.
* Trường Hải:
Giới mộ điệu môn ca hát biết anh nhiều qua các ca khúc thời trang của anh hơn là giọng hát của anh. Đây là một giọng trong trẻo, hơi nũng nịu điệu đà một chút. Nhưng anh hát những bản blues rất điệu nghệ vì giọng anh dẻo mê dẻo mệt. Bài “Những Chiều Không Có Em” là bài đưa tên tuổi anh lên cao (trong lãnh vực nghệ thuật sáng tác lẫn nghệ thuật hát diễn tả bài hát). Trong hàng ngũ ca sĩ hát nhạc blues đen gồm có Hùng Cường, Duy Khánh và anh.
* Ngọc Sơn:
Anh vừa là nhạc sĩ mà cũng vừa là ca sĩ như Trường Hải. Anh sáng tác nhiều nhạc phẩm, nhưng chỉ có nhạc phẩm “Hoa Mimosa” là vượt được cái tạp chất của ý nhạc để vươn lên cái phong phú của giai điệu, cái chuốt lọc của nghệ thuật. Ngọc Sơn có vẻ hơi phong trần, nhưng giọng hát của anh lại sang quý như một thứ ngọc được giồi mài đúng mức. Tôi có lần nghe anh hát “Về Dưới Mái Nhà” của Xuân Tiên, lối hát rất điệu nghệ.
* Anh Duy:
Anh trắng trẻo và phương phi, bắt chước giọng Duy Khánh cũng được 90%, nhưng lại không thành công về phương diện ăn khách. Anh xuất hiện nhiều lần trên các sân khấu Đại nhạc hội quy mô, cũng được khán thính giả vỗ tay nồng nhiệt để rồi sau đó dư hưởng tiếng hát anh cũng như một áng hương mong manh phai nhạt đi trong tâm tưởng họ và họ chỉ còn nhớ tiếng hát Duy Khánh mà thôi.
* Nhật Thiên Lan:
Cô có dáng tròn trịa, mập mà chắc và xinh. Tiếng hát cô hơi khàn, ấm áp, nhưng không vững chãi. Chuỗi ngân của cô cũng không được thoải mái, khi có khi không. Đây không phải là một giọng già dặn về kỹ thuật, nhưng nghe qua, thính giả có thể mường tượng được những hình ảnh ấm cúng và thân mật. Nhật Thiên Lan cũng là một ca sĩ phòng trà, nhưng không trở thành một ngôi sao trong môi trường ấy vì cách trình diễn của cô không có gì đặc biệt, tiếng hát cô lại không đủ ma lực để thu hút hồn phách những khách thưởng ngoạn.
Tôi xin nói qua vài nét chấm phá về thời cuộc nước nhà khi bước vào một giai đoạn bắt đầu khó khăn. Cộng Sản len lỏi vào Nam để cùng với bọn nằm vùng thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do chính quyền Hà Nội tạo ra. Việt Cộng lúc đầu mở những cuộc đánh du kích, sau là những mặt trận lớn với sự tham chiến của những lực lượng chính quy. Trong hàng ngũ quốc gia, sự rối reng càng ngày càng trầm trọng. Các đảng phái ló mòi tranh chấp nhau. Chính quyền trong tay một vị nguyên thủ theo đạo Gia-tô. Ông lập nên đảng Nhân vị, chẳng những muốn độc tôn cai trị nhân dân bằng cách đàn áp các đảng phái khác mà còn muốn đưa đạo Gia-tô lên hàng Quốc Giáo bằng cách đàn áp các tôn giáo khác, đặc biệt là Phật Giáo vì số tín đồ Phật Giáo quá đông gấp 10 lần các tín đồ theo đạo Gia-tô. Vụ đàn áp Phật Giáo của anh em họ Ngô là giọt nước cuối cùng làm tràn ly, đưa đến sự sụp đổ của một chế độ độc tài dựa vào tinh thần gia đình trị.
Sau khi lật đổ chế độ anh em họ Ngô, các tướng lãnh thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng để điều khiển vận mệnh quốc gia. Phật Giáo ưa làm khó làm eo chính quyền, tổ chức nhiều cuộc biểu tình đại quy mô. Chùa Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự không phải là chỗ để hành hương nữa mà là chỗ để sư sãi sách động quần chúng. Người Mỹ khởi sự tham chiến. Đây là một xã hội rối reng, một giai đoạn lịch sử trùng trùng biến cố nhất. Trong vòng 20 tháng sau ngày tàn của Ngô triều xảy ra 13 cuộc chỉnh lý, tái chỉnh lý, đảo chính, phản đảo chính. Có 9 chính phủ ra đời và có 4 bản Hiến Pháp đặt ra. Phật Giáo và Công Giáo xung đột nhau. Cộng Sản len lỏi ở chỗ chùa chiền, các cơ quan thông tin văn hoa, các hệ thống truyền thông đã đành mà còn trà trộn vào giới học sinh, sinh viên để gây những cuộc xuống đường, những cuộc biểu tình bãi khóa. Về sinh hoạt âm nhạc, Phạm Duy vẫn dẫn đầu về phẩm cũng như về lượng. Nhạc anh không quá cao như nhạc Vũ Thành, không quá yêu kiều quý phái như nhạc Lê Trọng Nguyễn hay nhạc của Cung Tiến. Đây là thứ nhạc dễ hát, dù có nhiều bài không âm hưởng dân ca, nhưng quen thân và gần gũi với cảm quan người Việt Nam biết bao.
Phạm Duy đã viết trong “Hồi Ký” (quyển III, Thời Phân Chia Quốc Cộng) như sau:
Khi Hoa Kỳ ồ ạt vào Việt Nam, tuổi trẻ đua nhau đi học Anh Văn để làm thông dịch viên và có đời sống cao hơn. Sau khi nắm được Anh Ngữ, họ lại càng đọc thêm những sách của thời thượng như thuyết chán đời, hippy v.v … Một sự kiện quan trọng nữa là — lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh — cuộc chiến ở Việt Nam được chiếu trên Tivi, do đó Sàigon là nơi có một đạo quân báo chí, truyền hình đông đảo nhất thế giới, với những phóng viên trẻ trung, hăng hái, xông xáo, có phương tiện tối tân để thực hiện phương pháp làm báo rất táo bạo … Tiền bạc đổ ra — chỉ riêng cho việc lấy tin tức – còn hơn tiền ném qua cửa sổ. Tất cả ảnh hưởng mạnh tới giới truyền thông Việt Nam, giới dịch vụ với Mỹ kể từ cô gái bán bar, anh lái xe taxi, anh sinh viên hay người trí thức, ảnh hưởng tới người làm thương phẩm cũng như ảnh hưởng tới người làm văn học nghệ thuật. Trong làng nhạc, có một biến chuyển lớn.
Saigon vẫn có thứ văn nghệ thông thường, rất mềm mại, than thở về chuyện đi lính, chia ly, nhớ Thành Đô v.v … rất ăn khách của các bạn soạn nhạc ít bận tâm về thời thế. Bây giờ máy thu băng hay máy chạy đĩa hát mang những tên những tên PIONEER, AKAI, SONY giúp cho nhạc Âu Mỹ (nhất là nhạc Beatles) nhẩy vào Việt Nam cùng với lính Mỹ. Loại “Nhạc Trẻ” ra đời, ồ ạt như vũ bão. Nhiều ban nhạc được thành lập để đi hát cho lính Mỹ nghe. Nhiều bài hát soạn theo điệu “rock” ra đời. Các hãng băng đua nhau phát hành chương trình nhạc thương mại. Tôi xin bổ túc thêm vài chi tiết nhận định của anh Phạm Duy. Quả thật, khi lính Mỹ bắt đầu tham chiến thì xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn. Đó là cái cớ để cho Việt Cộng đả kích. Khi lính Mỹ đóng tại căn cứ nào trên bốn Vùng Chiến Thuật thì nơi đó biến thành một thị trấn nhộn nhịp. Các snack bar dành cho lính Mỹ lẫn dân sự Mỹ (thiên hạ gọi trại là “sờ-nách-ba”), tiệm giặt ủi, phòng tắm hơi, nhà cho thuê, các tiệm nước và các quán ăn dành cho người Việt làm việc cho Mỹ, tất cả mọc ra như nấm. Các snack bar là nơi để lính Mỹ đến giải khát, nhưng thật ra là nơi để họ tìm đào. Các cô chiêu đãi
viên là các cô điếm trá hình. Khi tìm được đào vừa ý là họ đưa tới khách sạn, hoặc về tổ quỷ của họ. Bởi đó nhóm Bảo Vệ Nhân Phẩm Phụ Nữ ra đời nhằm đả kích việc chính quyền dung túng cho các snack bar và các ổ mãi dâm dành cho người Mỹ. Song song đó, có thêm nhóm Tin Văn do Vũ Hạnh và Nguyễn Ngọc Lương chủ trương; nhưng thật ra Hội Bảo Vệ Nhân Phẩm Phụ Nữ lẫn nhóm Tin Văn đều do ông Lưu Hữu Phước, Bộ trưởng bộ Văn Hóa & Giáo Dục của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu (Hóc Môn) giật dây dụi để bài xích nền văn nghệ đồi trụy ở miền Nam. Văn chương miền Nam lúc bấy giờ là thời kỳ hưng thịnh của nhóm Sáng Tạo. Trước khi Ngô triều sụp đổ, nó chỉ như cái thai vừa tượng hình trong bụng mẹ. Giờ thì nó đã trưởng thành. Đây là thứ văn nghệ có khuynh hướng theo thứ văn nghệ hiện sinh từ bên Tây nhập cảng qua. Thật ra, ở bên Tây, văn nghệ hiện sinh đã chết từ lâu, nhưng không hiểu sao chút tàn dư vô cùng độc hiểm của nó một khi chui vào nhóm Sáng Tạo bỗng trở nên hiển thánh bất ngờ. Văn chương ụa mửa, chán đời, khuyến khích tự tử đi song hành với nền âm nhạc ca tụng cuộc tình dang dở giữa Lan và Điệp, giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm, giữa chú tiểu Lan và chàng sinh viên Ngọc trong quyển Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng và giữa chàng trai khói lửa và người vợ bé nhỏ hậu phương trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan. Sở dĩ có loại nhạc ca tụng tình yêu dang dở như vậy là bởi cuốn phim Hồng Kông Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài của Lý Hàn Tường chiếu tại Sài Gòn đã hốt bạc kinh khủng. Mối tình giữa chàng Lương và nàng Chúc cũng như mối tình cặp Romeo và Juliet đã lay động biết bao tâm hồn và trái tim giới trẻ. Cho nên các nhà soạn nhạc cố tìm trong kho tàng tình sử, trong kho tàng văn chương nước nhà những mối tình tuyệt vọng ngập tràn nước mắt na ná như mối tình Lương & Chúc, như mối tình Juliet & Romeo để hốt bạc của những thính giả tuy có trình độ thưởng ngoạn kém, nhưng có trái tim mẫn cảm và nguồn nước mắt dồi dào sẵn sàng để cho tiết điệu của nhạc phẩm họ chi phối.
Trong giai đoạn nầy, có sự xuất hiện của Phạm Mạnh Cương với “Thu Ca” và “Thương Hoài Ngàn Năm”, của Dũng Chinh với “Những Đồi Hoa Sim”, của Mạc Thế Nhân với “Ru Em Tròn Giấc Ngủ”, của Hàn Châu với “Ánh Mắt Hỏa Châu” …
Cung Tiến và Anh Việt Thu đã nổi danh từ khoảng cuối thập niên 50. Cung Tiến với “Thu Vàng”, Anh Việt Thu với “Giòng An Giang” đem đến giới trẻ một thứ nhạc xanh mướt tâm tình. Nhưng trong giai đoạn mới nầy, Anh Việt Thu nổi danh trong quần chúng với những bản nhạc kém về phẩm chất nhưng dễ đi sâu cảm quan những kẻ thích loại tiết điệu lâm ly phù phiếm trong đó có bài “Hai Vì Sao Lạc”. Riêng Cung Tiến với bản “Hương Xưa” đã làm say mê biết bao kẻ sành nhạc. Anh Việt Thu vẫn là người có tài. Nếu không vì cơm áo, anh không chọn đường lối đi vào lớp thưởng nhạc có trình độ kém như vậy. Những bài hát trong quyển tuyển tập nhạc dành riêng cho anh có cái tựa là Con Đường Chúng Ta Đi do Kẻ Sĩ xuất bản là những nhạc phẩm có phẩm chất ở nhạc lẫn lời. Sau “Hương Xưa”, Cung Tiến sáng tác thêm những nhạc phẩm trác tuyệt như “Hoài Cảm”, “Nguyệt Cầm”, “Mắt Biếc” …
Còn về môi trường ca hát thì sao?
Hai năm trước khi nhà Ngô sụp đổ, Hoàng Thi Thơ có lập ra ban ca vũ nhạc đại quy mô, cách dàn dựng sân khấu rất mỹ thuật. Phần vũ dưới sự điều khiển của vũ sư Trịnh Toàn giới thiệu được văn hóa dân tộc. Ban ca vũ nhạc kịch nầy có hai vở ca kịch đạt đến phẩm chất cao là Cô Gái Điên và Ả Đào Say. Ban ca vũ nhạc kịch Hoàng Thi Thơ xuất ngoại, qua trình diễn ở hội chợ Osaka thành công rực rỡ. Bởi Hoàng Thi Thơ làm mếch lòng một số báo chí, không lo lót tiền hối lộ cho bọn ký giả tham nhũng nên bị chúng nó vu khống nào là là đoàn bị khán giả Nhật đả đảo vì các tiết mục văn nghệ quá thấp kém không hợp với trình độ cao của dân Nhật, nào là sân khấu bên Nhật vĩ đại, trong khi đó tranh cảnh của đoàn chỉ hợp với sân khấu nhỏ như các sân khấu ở Sài Gòn. Nhưng kiều bào bên Nhật viết thư về cho họ hàng của họ ở Việt Nam biết rằng,
khán giả Nhật hoan hô các tiết mục văn nghệ của đoàn Hoàng Thi Thơ, nhất là các màn múa nón, múa quạt làm kiều bào hãnh diện lây.
Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà, Mai Hương, Quỳnh Giao, Tuyết Anh, Thể Tần, Phương Nga, Nhật Bằng, Ngọc Long, Anh Ngọc, Phượng Bằng, Hồng Phúc là những kiện tướng đài Sài Gòn. Hai khuôn mặt mới là Phượng Bằng và Phương Nga tuy tuổi rất trẻ, nhưng tài cao. Phượng Bằng hát không kém Anh Ngọc bao nhiêu, chuỗi ngân đều đặn và vững vàng. Phương Nga tuy có giọng hát trong, nhưng làn hơi không phong phú và dũng mảnh. Phượng Bằng có khuôn mặt hồng hào xán lạn, nhưng anh không đẹp trai nên ngại xuất hiện trên sân khấu và chỉ chường mặt vài lần trên Tivi về sau. Phương Nga khá đẹp nhưng không đậm đà, tuy nhiên cũng có thể lên sân khấu hoặc chường mặt ở trên Tivi mà không chút mặc cảm. Về sau cô thường đi chung và ca chung với Mai Hương, Quỳnh Giao, Như Thủy.
Duy Khánh, Nhật Trường, Hùng Cường, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Thái Thanh, Thần Đồng Phương Mai vẫn là những ngôi sao ca nhạc ăn khách trên sân khấu Đại nhạc hội. Kế đó là Thanh Hùng, Việt Ấn.
Bốn ngôi sao mới bắt đầu rực sáng là Phương Dung, Hoàng Oanh, Hà Thanh và Chế Linh. Phải đợi hai năm sau mới thêm Thanh Tuyền, và từ đó có thêm Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Hương Lan Giao Linh, Kim Loan.
Hà Thanh rời xứ Huế vì chị thấy thời cuộc ở đó căng thẳng. Vả lại Huế không thể là nơi để chị mở tầm hoạt động ca hát được. Lúc đầu chị bắt chước theo cách hát của Lệ Thanh để quyến rũ quần chúng. Nhưng sau đó khi đã liệt vào hàng ngũ ăn khách nhất, chị hát theo cái bản sắc của giọng hát mình, tránh bớt những cái láy qua láy lại tiếng cuối của câu hát. Tiếng Lệ Thanh dù có vang lộng nhưng nghẹt mũi, còn đằng nầy tiếng Hà Thanh dù có giống đôi chút tiếng Lệ Thanh nhưng khỏe khoắn và ngọt ngào hơn. Cho nên chẳng bao lâu khách mộ điệu quên hẳn tiếng Lệ Thanh sau khi Lệ Thanh đi lấy chồng vì họ đã có một giọng hát lành mạnh và tài ba hơn thay thế. Cũng như Hoàng Oanh, Hà Thanh không thích hát trên sân khấu mà chỉ thích hát trên đài truyền thanh, đài truyền hình và trong làng dĩa nhựa mà thôi.
* Phương Dung:
Phương Dung vốn quê ở Gò Công, lên Sài Gòn học trường Nguyễn Bá Tòng. Cô có một khuôn mặt mặn mà. Trong thời gian đeo đuổi theo nghề hát, cô vẫn giữ dáng dấp nữ sinh, thường thích mặc áo dài màu nguội và nhạt, nhất là thích áo dài màu trắng. Cô có vóc mình tầm thước và thanh cảnh, mái tóc uốn kiểu thường, son phấn thật nhạt. Nhìn cô, không ai nghĩ rằng đó là một nghệ sĩ cả, bởi cô quá giản dị để có thể hòa mình vào đám đông bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dũng Chinh đã làm cô nổi tiếng, sau đó là “Nỗi Buồn Gác Trọ”, “Chuyện Tình Lan và Điệp”. Cũng có lần, cô hát bài có giá trị nghệ thuật hơn, như bài “Tống Biệt” của Võ Đức Thu (phổ bài thơ cùng tựa của Tản Đà), “Khúc Hát Ân Tình” của Xuân Tiên, “Mưa Rừng” của Huỳnh Anh …
Giọng của Phương Dung lảnh lót, có ngân vang. Nhưng đây là một giọng không được cắt xén gạn lọc những cái cặn bã thô tháp. Nó ví như một loài man thảo mọc sum suê lấn át những kỳ hoa dị thảo khác một cách bừa bãi. Nó giống như một cây hoang dại gặp thời tiết thích hợp là đâm cành, nẩy lá, đơm nụ, trổ hoa, kết quả. Nó không được tỉa xén nên không thể trở thành một cây cảnh trồng trong chậu sứ hay trong một ngự uyển hoặc một hoa viên nào. Được cái khi lên cao, Phương Dung ít khi chịu chuyền qua giọng óc. Nhưng thay vì rống lên để tiếng vang lồng lộng thì cô thọc sâu tiếng vào trong cổ họng để rít lên chua ơi là chua! Cô ca mà người thưởng ngoạn có cảm tưởng tiếng cô mắc kẹt ở chỗ nào trục trặc nhiêu khê trong cổ họng cô nên cô không thể ngân nga được. Đây là tiếng hát chỉ lấy cái lảnh lót để che đậy nhiều tỳ vết, nhiều lỗi lầm. Một giọng hát thiếu cái mềm mại để đi vào những ngõ ngách uyển chuyển trong tâm hồn người thưởng ngoạn cao. Đó là tiếng hát đến chúng ta bằng những đợt sóng huyên náo và tới tấp để rồi chìm trong quên lãng, không đọng lại trong tâm hồn khách sành điệu dù là một giọt nắng tàn ảm đạm hay một giọt sương giá ngắt nào. Nhưng dù sao đây là một tiếng hát đẹp, một quặng kim có chất vàng quý giá. Nhưng tiếng hát đó phải được tập luyện đúng mức, quặng kim đó phải được loại ra các tạp chất thì mới có chất vàng ròng tinh túy. Trong khoảng 11 năm ròng, tiếng hát Phương Dung đã trở thành thân tình ấm áp đối với quần chúng. Tiếng hát của cô nói lên những ước vọng thầm kín của họ rằng đây là tiếng hát mà họ có thể nhái theo để tự hát và tự thưởng thức hoặc để gửi trao những kẻ mà họ mến yêu. Đây là tiếng hát của giới học sinh, của các anh lính tiền đồn. Đây cũng là tiếng hát của những tâm hồn chất phác không cần đào sâu vấn đề, nhưng giàu sang mạch cảm hoài, thích sống hồn nhiên như cỏ nội hoa ngàn. Phương Dung được báo chí tặng biệt danh là “con nhạn trắng Gò Công”. Tiếng nhạn kêu sương là tiếng thê lương tự bản chất. Nhưng tự bản chất, tiếng Phương Dung rất mộc mạc, lảnh lót như tiếng nhạn nhưng không buồn như tiếng nhạn. Nó không uốn vặn để tỉ tê sướt mướt. Nó gợi nên những giếng nước ngọt ở vùng biển mặn như vùng đất Gò Công đúng hơn. Nó hợp cùng hình ảnh người hát thành một biểu tượng ngọt ngào như xôi nếp một, như đường mía lau, nói lên cái bình dị nhưng phong phú của đất nước mến yêu, của đồng ruộng hiền hòa. Nghe Phương Dung hát, chúng ta có thể liên tưởng đến những cô nữ sinh tỉnh lẻ, những người phụ nữ trung lưu yêu nếp sống khiêm tốn cùng khung cảnh bình lặng vây chung quanh mình. Những kẻ đó tuy có bận vì sinh kế, nhưng vẫn có đôi lúc để tâm hồn mình ngấm sâu vào phong vị thơ văn thuở tiền chiến, vào tình ý ca dao của ba miền đất nước và vào những huyền thoại của nơi chôn rau cắt rún của mình.
* Hoàng Oanh:
Xuất thân từ lò Nguyễn Đức, nên Hoàng Oanh không được luyện giọng theo lối chân truyền. Cô nổi danh khi chưa thành thiếu nữ, hãy còn bé bé xinh xinh như nàng ngọc nữ và non mềm như cô kiều nga trong bộ áo đầm với chiếc áo sơ mi trắng và chiếc váy xám kẻ ô quả chám. Vào 4 năm cuối của thập niên 70, tôi cộng tác cho tạp san Quê Mẹ ở Gennevilliers, thành phố phụ cận phía bắc của kinh đô Paris. Tạp chí nầy do Võ văn Ái làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, còn tôi làm tổng thư ký tòa soan. Tôi đã viết về tiếng hát của Hoàng Oanh trên tạp san Quê Mẹ số 27 (ngày 4/10/78) như sau:
Mỗi tiếng hát mang một hình ảnh, một khung cảnh, mang luôn cả thế giới nào đó mà mỗi người nghe, qua óc tưởng tượng tuyệt vời, có thể mường tượng ra.
Tiếng hát của Hoàng Oanh, hồi 15 về trước, trong trẻo du dương gợi cho tôi bóng dáng cô bé gái, mắt to, cái nhìn reo vui, khuôn mặt trong sáng, váy đầm xòe, tóc cài nơ bướm màu hồng. Chung quanh cô bé đó là khung cảnh một sân trường vui nhộn, tràn ngập tiếng cười hồn nhiên. Đó là tiếng hát Hoàng Oanh trong thời kỳ nàng còn ở trong ban thiếu nhi do nhạc sĩ Nguyễn Đức điều khiển mà bên cạnh nàng còn có Phước Vân, Bích Vân, Ngọc Vân, Thanh Lan …
Nhưng khi Hoàng Oanh trưởng thành thì tiếng hát đó càng buồn đậm thêm, dù nó vẫn mang bản chất tiếng hát nữ sinh từ lớp học, sân trường bay lọt ra ngoài. Tiếng hát gợi nên câu thơ tình của Trần Dạ Từ trong tập “Thuở Làm Thơ Yêu Em”:
Em mười sáu tuổi, trăng mười sáu
Áo trắng phơi buồn sân nắng trưa.
Tiếng hát nàng lúc đó vẽ nên hình ảnh cô nữ sinh tóc xõa, áo dài thướt tha, nón lá nghiêng nghiêng, đôi mắt to đẹp. Đôi mắt đó biết mơ mộng trên những trang sách diễm tình của Tuấn Huy, của Văn Quang, của Thanh Nam, biết thấm buồn qua âm hưởng thơ tình thời tiền chiến, biết chớp mắt vì cảm động khi nghe chương trình Dạ Lan với lời thỏ thẻ của em gái hậu phương gửi về anh trai tiền tuyến. Đó là thời kỳ Hoàng Oanh cùng với Phương Dung, Hà Thanh thao túng nhất trong môi trường dĩa nhựa. Thính giả mê say giọng hát nàng vì họ cảm thấy sao mà nó thân mật, gần gũi với cảm xúc và tâm hồn họ đến thế! Mãi tới bây giờ tiếng hát đó vẫn còn là bông hoa hiếm quý nở mãi trong lòng họ không bao giờ tàn phai.
Giọng Hoàng Oanh khi lên cao hoặc lúc xuống trầm hơi mỏng, chuỗi ngân không kéo dài lắm, nhưng ở nốt ngang ngang, giọng hát của nàng như rung ngời thứ ánh sáng cực kỳ mê hoặc. Với âm vực hẹp, Hoàng Oanh hát với một thái độ khiêm tốn, không cần tới làn hơi phong phú và kỹ thuật điêu luyện. Tiếng hát đó truyền cảm thâm thúy như chất rượu để lâu năm hay vị trà tàu thơm đậm, ngấm vào lòng người bằng cảm giác say sưa phiêu diễu. Nó gợi nên một going sông buồn lặng chảy qua một khung cảnh thơ mộng, trong bóng chiều êm dịu. Nó gợi nên con đường rợp bóng râm miền ngoại ô tỉnh ly nào đó, mà người đi qua đã trải tâm hồn thi vị của mình trên từng bước đi. Biết bao cô nữ sinh yêu tiếng hát nàng vì họ tưởng đó là tiếng lòng của chính họ để họ gửi gấm về một ông hoàng mộng tưởng nào đó. Còn các chàng trai thì sao? Vâng, có biết bao cậu trai tân trong ngưỡng cửa học đường hoặc những anh lính chiến đã từng ôm tiếng hát đó vào giấc ngủ, cất giấu vào chỗ đẹp nhất của tâm hồn mình.
Hãy nghe Hoàng Oanh hát “Ai Ra Xứ Huế” của Duy Khánh và “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy” của Trầm Tử Thiêng để yêu thêm cái tài nhấn vuốt của nàng trong tiếng hát. Hai bài hát nầy mang âm hưởng cổ nhạc miền Trung, nếu ai đó hát đúng theo nốt cây piano sẽ làm gãy đổ mất tình ý đậm đà của bài hát đi. Hoàng Oanh khi trình bày hai bài hát đó, biết uốn giọng, biết tạo những nét láy uyển chuyển và thật bay bướm và biết dồn tất cả những rung động của trái tim mình vào tiếng hát. Bởi đó khó có ai qua mặt nàng khi hát hai bài đó. Nếu chúng ta bị tiếng hát của nàng chinh phục ở những bài mang tính chất dân ca, thì chúng ta càng mê say lối diễn ngâm của nàng trên chương trình Tao Đàn hoặc chương trình Thi Nhạc Giao Duyên. Nếu giọng diễn ngâm của Hồ Điệp sắc sảo, đượm nhuần hơi hướm cổ nhạc miền Bắc, nếu giọng ngâm của Hồng Vân điêu luyện và lảnh lót, nếu giọng của Mai Lan trong trẻo, nếu giọng của Hỷ Khương đài các, nếu giọng của Mai Hiên thướt tha, thì giọng ngâm của Hoàng Oanh ngọt ngào, đưa tâm hồn người nghe vào cuộc viễn
trình của thế giới mộng mơ thời tiền chiến. Hiện nay dù cách Paris một bán cầu, bên kia nước Mỹ, Hoàng Oanh vẫn là bạn thân của Gia Đình Quê Mẹ, đã đóng góp vào sự cổ động cho báo Quê Mẹ. Từ New Jersey tới Paris, những lá thư của nàng và của chồng nàng (nhạc sĩ Mai Châu) thường xuyên đến chúng tôi, thăm hỏi, tâm sự, bàn bạc những kế hoạch phát hành Quê Mẹ. Hoàng Oanh đến với chúng ta qua điệu hát, giọng ngâm, mãi mãi viết lên đời sống một bức thông điệp của Tình Yêu, của Cảm Thông và của Hòa Điệu.
Ở bài nầy, tôi không nói hết những gì tôi suy nghĩ về tiếng hát Hoàng Oanh. So với tiếng hát Phương Dung, tiếng hát Hoàng Oanh mềm mại hơn, gợi cảm hơn. Nhưng cái mà làm tôi khó chịu là chuỗi ngân của cô chỉ có ba hột, không thể kéo dài thêm. Chuỗi ngân không vững chắc và không óng ả tự nhiên. Cô cố tình ngân nga, chứ không phải kéo một hơi dài để chuỗi ngân đến một cách tự nhiên. Đó là cô không luyện tập theo lối chân truyền căn bản. Lại thêm, khi cô hát ngang ngang thì hùng dũng biết bao, nhưng xuống trầm tiếng cô bị sa lầy, bị mắc cạn. Và khi lên cao cô chuyển giọng óc nghe lồng lộng. Từ giọng thật đến giọng óc, có một lằn ranh phân biệt rõ mồn một như lằn ranh giữa nước với dầu. Thái Thanh và Mai Hương khi lên cao cũng chuyển giọng óc, nhưng cả hai khéo léo hơn Hoàng Oanh nhiều. Họ không cho ta thấy cái giáp mí giữa giọng óc và giọng thật trong tiếng hát của họ. Hoàng Oanh là mẫu người có phẩm hạnh, có tư cách. Khi tôi viếng đài Phát thanh Sài Gòn thường gặp cô cùng với Mộc Lan, Hồ Điệp, Hoàng Hương Trang, Hồng Vân, Diễm Chi, Hoàng Oanh ngồi chờ thâu trong hai chương trình Thi Văn Tao Đàn và Thi Nhạc Giao Duyên. Hồng Vân bày trò nói tiếu lâm với Mộc Lan và Hoàng Hương Trang, nhưng Hoàng Oanh cùng Hồ Điệp và Diễm Chi chỉ ngồi nghe và cười hiền lành. Khi câu chuyện tới chỗ giật gân thì Hồ Điệp có thể bật cười,
trong khi đó Diễm Chi thẹn đỏ mặt, còn Hoàng Oanh không hề đổi sắc mặt, và vẫn chỉ cười thật ôn nhu đằm thắm, thái độ thật đoan trang thùy mị.
Hoàng Oanh không thích lên sân khấu. Không phải cô sợ mình không ăn ánh đèn, mà cô muốn giữ trong tâm tưởng thính giả của mình một tiếng hát học trò qua hình ảnh hư hư thực thực để họ tha hồ mà mường tượng chân dung cô. Có lần nữ ca sĩ Thanh Tuyền lập phòng trà, có để tên cô vào danh sách các ca sĩ thường trực của phòng trà ấy. Hoàng Oanh yêu cầu những ký giả quen thân đính chính dùm cô rằng cô không quen hát phòng trà nên cô không cộng tác với Thanh Tuyền, cô bạn đồng nghiệp mà cô hằng quý mến.
Ra hải ngoại, Hoàng Oanh vẫn giữ nghề ca sĩ. Tiếng hát của cô cực kỳ mê hoặc; càng nghe chúng ta càng bị thu hút vào cái âm sắc lảnh lót và véo von của nó. Chưa có tiếng hát nào gợi cảm và tràn ngập nữ tính hơn tiếng hát của cô. Dù lên cao và xuống trầm không oanh liệt và xông xáo, như cô hát thật thao túng, cô đùa bỡn với tiết điệu và âm thanh thật thoải mái. Nét uốn lượn của cô thật duyên dáng, nét láy của cô thật mềm mại. Cô hát bằng trái tim mẫn cảm, bằng tâm tình trung thực. Cô gửi trọn tâm hồn, nhiệt huyết của mình lúc hát thì bảo sao sự nghiệp ca hát của cô không lâu dài?
* Thanh Tuyền:
Hà Thanh và Hoàng Oanh không chịu lên sân khấu. Lệ Thanh và Thanh Thúy đi lấy chồng. Lệ Thanh thì tuyên bố dứt khoát lìa bỏ nghiệp cầm ca. Trong khi đó, Thanh Thúy không hẹn chính xác bao giờ cô trở lại cung đàn tiếng hát. Một mình Minh Hiếu và Phương Dung thôi không đủ tạo nên sức lôi cuốn cho khán giả phòng trà lẫn khán giả Đại nhạc hội. Do đó mà nhạc sĩ Mạnh Phát tung ra đúng lúc một ngôi sao ca nhạc mới, có tiếng sang sảng không kém tiếng Phương Dung. Đó là tiếng hát một cô nữ sinh ở Đà Lạt mang cái nghệ danh là Thanh Tuyền.
Thanh Tuyền có vóc vạc tầm thước, tròn lẳn. Khuôn mặt cô khá phúc hậu, dù đôi mắt cô hơi nhỏ, cái miệng tươi nhưng không đẹp bởi hàm răng hơi vẩu. Nhưng trông cô có một cái gì mộc mạc đáng mến làm người ngắm có cảm tưởng đây là một chồi măng le được xắn từ trong rừng, có thể làm ngọt mát bát canh trong mùa mưa tưới tẩm nhuần đượm khắp vùng sơn cước. Đôi mắt cô nhỏ nhưng cái nhìn rộng lớn, như ôm choàng cảnh vật xung quanh bằng niềm thương mến. Đôi mắt nhỏ nhưng không làm cho mặt cô có vẻ ngái ngủ như người bị chụp thuốc mê vì thần thái của cô thật rạng rỡ. Lúc đầu, Thanh Tuyền chưa biết ăn diện và hóa trang. Cô chỉ đánh phấn sương sương, không kẻ viền mắt cho đôi mắt thêm rộng, không biết kẻ mày tạo cho khuôn mặt có nét bầu bĩnh của cô thêm một nét cong duyên dáng. Cô chỉ mặc chiếc áo lụa màu thiên thanh và đeo chiếc vòng bằng ngà ở cườm tay mặt. Tuy nhiên tiếng hát cô lồng lộng trải rộng sân khấu và hí viện. Tiếng hát sao mà véo von như chim sơn ca, vững chắc và dẻo dai như thép. Đây là một tiếng hát không điệu đà, nhưng lại thảm thiết.
Thanh Tuyền có nội lực thiên phú trong giọng hát, nhưng giá cô tập luyện giọng cho có phương pháp chân truyền, chắc chắn tiếng hát của cô sẽ dũng mãnh hơn, gieo vào tâm hồn người thưởng ngoạn những dư âm tê điếng hơn. Có nhiều khi cô phung phí làn hơi ở những chỗ không đáng đem ra ứng dụng để rồi khi lên hơi cao, cô lại hụt hơi. Thường thì khi lên cao cô nhốt sâu tiếng hát trong cổ họng, thay vì rống lên để cho âm vang trải rộng ra thì cô lại nhốt sâu trong cuống họng và cô chỉ có thể rít tru tréo. Về ngân nga, Thanh Tuyền không có căn bản luyện một chuỗi ngân cần thiết. Giống như Hoàng Oanh, cô ngân rời rạc, chao đảo. Có nhiều khi cô chẳng them ngân nga gì cả mặc cho trường độ một nốt nhạc có kéo dài tới đâu.
Nhưng dù gì thì dù, đây là một giọng thiên phú, trong như một dải suối mùa xuân, lại còn gợi lên hình ảnh một khối ngọc băng, một khối pha lê. Chất thảm trong giọng hát của cô làm cho biết bao người đang có tâm sự u hoài dễ cảm thông với nó.
Bà chị Thụy Vũ của tôi vào năm 1967 có việc lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gặp Đại Úy Thục Vũ, tình cờ cũng gặp Thanh Tuyền đến đó. Khi về tới nhà, chị bảo tôi:
“Thanh Tuyền đẹp đó chớ, đẹp hơn khi xuất hiện trên sân khấu nhiều. Cô ta trắng trẻo và phúc hậu, dễ thương lắm. Đã vậy, cô ta ăn nói khiêm tốn mềm mỏng”. Có một dạo Thanh Tuyền bày vẽ hát Vọng Cổ và ngâm thơ Tao Đàn. Ở hai lãnh vực mới nầy cô không mấy tinh luyện nhuần nhuyễn nên ít lâu cô dẹp nó qua một bên. Hát Tân nhạc không thôi, cô có thể đứng vào hàng ngũ những giọng ăn khách nhất.
Sau năm 1975, cô hát cho ban Kịch nói Kim Cương. Không hiểu ai đó luyện tập cho cô lại cách hát mà cô ngân nga thật vững vàng, dàn trải làn hơi thật sành sỏi. Chu choa ơi, giọng cô thật vững nên cô trình bày bản “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây” và bản “Nổi Lửa” rất nghề. Thuở đó, đi xem ban Kịch nói Kim Cương, tôi chỉ thích nghe Thanh Tuyền hát. Cô chẳng cao ráo để chế ngự sân khấu, nhưng tiếng hát cô lại mở một chân trời lồng lộng. Nhạc của Cộng sản dù tôi rất ghét, nhưng tiếng hát cô như mang sẵn cả một cái gì quý báu như thanh bảo kiếm Long Tuyền đang long lanh dưới ánh nguyệt đêm rằm.
Từ đầu thập niên 60, những cuộc đánh lớn mang những cái tên Plei-me, Chu-prong, Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả v.v … xảy ra khắp bốn Vùng Chiến Thuật của miền Nam đất nước. Chính Quyền không thể kiểm soát được vùng xôi đậu, tức là vùng có Việt Cộng trà trộn nên cùng các toán Dân Sự Vụ tổ chức các cuộc di dân, đem dân chúng từ những vùng bất an ninh mà chính quyền không thể kiểm soát về những vùng định cư mới. Ở Sài Gòn, Huế, sư sãi và Phật tử thường tổ chức các cuộc xuống đường. Công giáo xuống đường. Sinh viên bãi khóa, cũng xuống đường. Các chùa chiền, nhà thờ, các giảng đường đại học mở cuộc họp hành liên miên. Sinh hoạt ở hai thủ đô lớn là Huế và Sài Gòn thường bị ngưng trệ bởi những bãi thị đình công. Trong khi đó, Cộng Sản ở Hà Nội vẫn tiếp tục cho quân theo Đường Mòn Hồ Chí Minh và ngõ Tam Biên (nơi gặp nhau giữa Việt Miên Lào) để vào Nam.
Trong tình trạng trăn trở bất an của đất nước, Phạm Duy vẫn là người mẫn cảm với ý nhạc. Thời thế dù có xoay trở cách nào cũng tác động vào thần trí sáng tạo của anh những cảm hứng phồn thịnh láng lai. Từ 1963 cho tới lúc Tổng Tấn Công trong dịp Tết Mậu thân (1968), anh sáng tác trường ca “Mẹ Việt Nam”, 10 bài “Tâm Ca”, những ca khúc cho tổ chức Xây Dựng Nông Thôn, những ca khúc cho Cục Chính Huấn (thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị).
Về trường ca “Mẹ Việt Nam”, Phạm Duy đã viết trong “Hồi Ký” quyển III như sau:
Nếu CON ĐƯỜNG CÁI QUAN là một hành ca ghi lại bước tiến của dân tộc ta trên một sinh lộ nhất quyết không chịu chia cắt thì MẸ VIỆT NAM là một âu ca, ca tụng Mẹ Tổ Quốc và những mẹ điển hình trong truyền kỳ lịch sử nước nhà, đề tài và cảm hứng nhắm dựa vào Tình Thương Yêu và Tính Hiếu Hòa, tính tình nầy đã sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tại. Đây là một Trường ca trong đó, lúc trẻ tuổi, Mẹ Việt Nam được biểu tượng bằng ĐẤT MẦU tươi tốt, đa tình, nền tảng của gia đình, ruộng nương, làng nước. Khi đứng tuổi, Mẹ hiện thân là NÚI NON sắt đá, trong sự hy sinh ròng rã, vẫn bền bỉ đợi chờ và che chở người chinh phu chưa hết nợ đao binh. Mẹ còn âm thầm xót thương lũ con SÔNG NGÒI, có những đứa dại dột, hiếu thắng, phản bội Mẹ vì sự tranh giành lẫn nhau, gây oán hận phân chia, làm tan nát lòng Mẹ. Vào lúc tuổi già, Mẹ trở thành BIỂN CẢ đại lượng bao dung, kêu gọi và ôm đón đàn con giang hồ, thành công hay thất bại. Nước mắt vui mừng của MẸ lúc gặp con bốc lên trời cao làm mây đầy đặn và ấm áp, bay đi rửa sạch địa cầu bằng ơn mưa móc, nối chặt chu kỳ của trường ca MẸ VIỆT NAM.
Mẹ Việt Nam trong một sớm một chiều làm đề tài cho biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc. Các nghệ sĩ sáng tác cứ gọi Mẹ nhiều quá thét rồi Mẹ cũng trở nên nhàm đối với đa số kẻ thưởng ngoạn. Nhà văn Lê Tất Điều đã có lần phàn nàn trong quyển Phá Núi rằng thiên hạ lạm dụng trong việc đưa Mẹ Việt Nam vào công trình sáng tác của họ. Mấy tên đá cá lăn dưa ở khắp hang cùng ngõ hẻm đô thành cũng cảm thấy có cái gì không ổn khi các văn nghệ sĩ cứ réo giật ngược Mẹ Việt Nam một cách bừa bãi xả láng như thế. Họ cứ bắt Mẹ phải chui vào tác phẩm của họ cho kỳ được dù tác phẩm của họ dở t. Họ cứ hành tội Mẹ liên miên không để Mẹ nghỉ ngơi ăn trầu uống nước cho khỏe được dăm ba phút. Bởi đó chúng sửa lời trong bài “Lối Về Đất Mẹ” của Duy Khánh như sau:
Em ơi, em ơi!
Mẹ Việt Nam ghẻ lở
Mẹ Việt Nam mắc cở
Mẹ Việt Nam tắt thở.
hoặc:
Em ơi, em ơi!
Mẹ Việt Nam mắc cổ
Mẹ Việt Nam xấu hổ
Mẹ Việt Nam muốn nổ.
Vậy mới biết Phạm Duy vừa xướng ra điều gì đều cũng được nhất hô bá ứng cả. Ngày xưa, bên Pháp nhà thi hào Victor Hugo với những thiên trường ca (bằng thơ) của ông được người cùng thời gọi ông là “L’Écho du Siècle” (Tiếng Đồng Vọng của Thế Kỷ). Còn Phạm Duy với gia tài âm nhạc của anh qua bao lớp sóng phế hưng của lịch sử nói chung, qua hai thiên trường ca “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” cùng “Mười Bài Tâm Ca” nói riêng há không được cái biệt danh “Chứng Nhân của Lịch Sử” hoặc “Tiếng Đồng Vọng của Thế Kỷ” hay sao?
Về “Mười Bài Tâm Ca”, Phạm Duy viết như sau:
Bây giờ, tôi đang đứng trước một quê hương đã trở thành nơi thử võ khí tranh chấp ý thức hệ của những thế lực quốc tế. Với mức độ gia tăng của chiến tranh, xã hội Việt Nam quay cuồng theo cơn lốc chiến cuộc, những giá trị tinh thần bị đổ vỡ và bị thay thế bằng những giá trị vật chất, đời sống càng ngày càng trở nên khốc liệt …tôi cần phải nhận diện lại quê hương. Không thể cứ xưng tụng một nước Việt Nam lý tưởng qua những dân ca, trường ca yêu nước được nữa! Bây giờ là lúc phải phê phán xã hội. Vấn đề là phê phán ra làm sao thôi. MƯỜI BÀI TÂM CA, với những tựa đề như “Tôi Ước Mơ”, “Tiếng Hát to”, “Ngồi Gần Nhau”, “Giọt Mưa Trên Lá”, “Để Lại Cho Em”, “Một Cành Củi Khô”, “Kẻ Thù Ta”, “Ru Người Hấp Hối”, “Tôi Bảo Tôi Mãi Mà Tôi Không Nghe”, “Hát Với Tôi” …muốn được là tiếng nói lương tâm của con người đối mặt cùng sự thật, nhận diện lại mọi thứ trong đời. Tuy nhiên có một vấn đề cần phải đặt ra. Hai thiên trường ca “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” cùng một số bài tâm ca vẫn có cái gì quá cao, quá trang trọng nên chúng mắc kẹt trên sân khấu Đại nhạc hội, trong các ban nhạc lừng danh của đài phát thanh, trong những cộng đồng gồm các sinh viên có sự thưởng ngoạn âm nhạc cao. Nó không thể đi vào quần chúng được. Còn những bài dành cho tổ chức Xây Dựng Nông Thôn, cho Cục Chính Huấn dù hay tới đâu thiên hạ cũng nghĩ là đó là nhạc tuyên truyền, tác giả đặt ra để moi tiền chính phủ. Cho nên trong giai đoạn nầy Phạm Duy có sáng tác một bài hát mà toàn dân đều ngưỡng mộ. Đó là bài “Việt Nam! Việt Nam”. Người nào hát bài đó có cảm tưởng tác giả vắt tim óc, máu và nước mắt trên từng câu, từng dòng nhạc để chảy ùa vào nội giới của mình. Chính ra trong những lần đi sinh hoạt với kiều bào từ Việt Nam vừa đặt chân tới trại tạm cư hay trại tiếp cư bên Pháp, tôi được hát bài nầy với họ. Họ vừa hát vừa khóc ròng. Có một ông già 70 tuổi bảo tôi:
— Được ra nước ngoài để hát bài “Việt Nam! Việt Nam” là cả một may mắn còn lại cho cuối đời của tôi.
Song song với vận sự Phạm Duy trước tác những bài Tâm Ca thì trong hàng ngũ sinh viên, có Hoàng Ngọc Tuệ tổ chức Phong Trào Du Ca với những tên như Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu …
Sự xuất hiện của Trịnh Công Sơn ở giai đoạn nầy hãy còn mờ nhạt. Bài “Ướt Mi” của anh do Thanh Thúy hát không được thính giả hâm mộ lắm bởi vì giọng cô không hợp với bài nầy. Thái Thanh hát thâu dĩa bản “Diễm Xưa” chua như giấm. Hà Thanh hát thâu dĩa bản “Hạ Trắng” ngọt quá là ngọt trong khi bài nầy cần một chút đắng ở giọng người diễn tả mới nổi bật tình ý của tác giả. Nhưng Bạch Yến hát “Lời Buồn Thánh”, Lệ Thu hát bài “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” thì thính giả bắt đầu chú ý tới nhạc của anh nhất là lời nhạc thật đẹp của anh.
Trịnh Công Sơn có giọng hát êm và khá trong, chuỗi ngân nhỏ và óng ả. Anh hát không cố gắng, có vẻ lười lĩnh. Với thân hình gầy gò, ốm yếu, nhưng anh có chất thơ mộng và vóc dáng nho phong lại thêm có cái phong độ nghệ sĩ nên cái mã của anh dễ lôi cuốn giới trẻ. Năm 1967, vào một buổi tối, anh tháp tùng theo Tô Thùy Yên đến viếng nhà Thụy Vũ. Anh mang theo hai tập nhạc của anh là Ca Khúc Da Vàng và Ca Khúc Trịnh Công Sơn vừa xuất bản. Tập thứ hai do Tô Thùy Yên viết tựa (về ý nghĩa các ca khúc) và viết bạt (về con người du ca). Cũng như các nhà văn trong nhóm Sáng Tạo, Tô Thùy Yên quen thói viết phô trương Tây học của mình. Yên so sánh nhạc của Sơn qua những bài “Thánh Vịnh” của vua David và những “Diễm Tình Ca” của vua Salomon, rồi nhìn Trịnh Công Sơn qua những chàng du ca (troubadour) thời Trung Cổ bên Âu Châu. Tôi biết ngay rằng tựa và bạt sẽ đưa nhạc Trịnh Công Sơn đi thật xa vì thuở đó giới trẻ phần đông chuộng thời thượng và ưa làm dáng trí thức. Ai đó mà hát những bài trù ẻo cuộc đời, nguyền rủa thế hệ theo kiểu triết lý và văn chương nôn mửa của bọn hiện sinh qua các bài trong Ca Khúc Trịnh Công Sơn như “Xin Mặt Trời Ngủ Yên”, “Vết Lăn Trầm” v.v … sẽ được coi như mình thành tín đồ ông Sartre một cách ngon ơ. Trong những kẻ thời thượng vào thuở đó, than ôi lại có tôi, cho nên ngồi nghe Trịnh Công Sơn hát, tôi vụt thấy Sơn lẫn Yên hiển thánh ngay trong thi ca và âm nhạc của nước nhà một cách kỳ diệu.
Hôm đó, Trịnh Công Sơn ngỏ ý muốn mời nhà văn nữ Nguyễn thị Hoàng theo anh đi khắp nơi trình diễn các nhạc phẩm của anh. Anh còn cho tôi biết anh đã nghe Nguyễn thị Hoàng hát bài “O Cangaceiro” rất hay, giọng thật mùi và thật nghệ sĩ. Tôi cười:
— Người ta có chồng rồi, lại sanh con đẻ cái đùm đề, theo ông sao được? Lệ Thu hát bài “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của ông rất tới, sao ông không rủ chị ta?
Trịnh Công Sơn bảo:
— Tôi có rủ bà ấy, bà ấy thoái thác vì đang kẹt ở các phòng trà và lại bận trông nom gia đình.
Chừng vài tháng sau, Trịnh Công Sơn lên Đà Lạt gặp được Khánh Ly. Thế là có những cuộc trình diễn ở sân trường Đại Học Văn Khoa ở Sài Gòn những bài phản chiến lẫn những bài than thở số phận bi đát của nhân loại (mà anh gọi là “phận ca”) qua giọng hát khàn đục và quyến rũ của Khánh Ly. Trịnh Công Sơn bảo rằng giọng hát Khánh Ly là giọng ma túy. Theo tôi, nếu giọng Khánh Ly là ma túy thì nhạc Trịnh Công Sơn là bùa mê, hai cái đó làm bàng hoàng ngây ngất cả một thế hệ trẻ vào hai năm cuối của thập niên 60 và leo qua 5 năm đầu của thập niên 70. Trong khi Trịnh Công Sơn leo lên tuyệt đỉnh vinh quang thì có hai nhạc sĩ trẻ tuy không phải là du ca, nhưng nhạc tình của họ cũng làm say lòng giới trẻ không kém. Đó là Vũ Thành An và Từ Công Phụng.
Từ Công Phụng vóc dáng cứng cáp và khỏe mạnh, khuôn mặt gân guốc như nét chạm trên đá. Anh có nước da ngăm đen, hồng hào, xán lạn và nồng mặn. Chính tại nước da nầy mà có nhiều người đồn rằng anh lai Chiêm Thành. Những nhạc phẩm nổi tiếng của anh là “Bây Giờ Tháng Mấy”, “Tình Khúc Mùa Mưa”, “Trên Ngọn Tình Sầu”. Chính Từ Công Phụng cũng là một ca sĩ với giọng hát thật cừ, với chuỗi ngân tinh luyện, với âm sắc thật đẹp. Tôi được xem anh hát vài lần chung với vợ anh là Từ Dung tại Quán Cây Tre của Khánh Ly.
Cũng có lần tôi được xem anh hát bài “Mộng Đêm Xuân” của Tuấn Khanh trên Tivi, phải nói rằng càng nghe tôi càng cảm thấy giọng hát của anh đậm đà khó tả. Từ Dung trắng trẻo, mảnh mai, dáng dấp cao sang thanh thoát, khuôn mặt trong sáng và thông minh. Cô diện áo sơ-mi trắng, váy maxi in hoa diêm dúa trong thật gợi cảm. Từ Dung có giọng hát na ná như giọng Châu Hà, dù chuỗi ngân và cách dàn trải làn hơi của cô kém điêu luyện hơn chuỗi ngân và cách dàn trải làn hơi của Châu Hà. Hỏi ra, thì chính cô đã luyện giọng dưới sự hướng dẫn của Châu Hà.
Trong giai đoạn nầy, những giọng hát tinh túy thì không có ai. Nhưng bốn giọng hát của Hương Lan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh và Chế Linh bắt đầu khuynh đảo trên làn sóng điện, trên sân khấu Đại nhạc hội, trong làng dĩa nhựa và bắt đầu làm mưa làm gió trong làng băng nhựa.
* Chế Linh:
Anh gốc Chàm, tên thật là gì thì tôi không rõ. Anh có vóc dáng thanh cảnh, nước da sậm nhưng ấm áp, khuôn mặt khôi ngô, cặp mắt nòi tình, nụ cười cởi mở. Đây là mẫu ca sĩ chẳng những được phụ nữ say mê như điếu đổ mà cũng được nam giới ngưỡng mộ đặc biệt. Nữ giới, nhất là những cô nàng thường xây mơ dệt mộng trên những trang sách diễm tình của Dương Hà, Trọng Nguyên, Ngọc Linh, Sĩ Trung, Văn Quang, Thanh Nam, Tuấn Huy, bà Tùng Long thường xem Chế Linh như một nhân vật hào hoa từ trong các tác phẩm của các tác giả kia chui ra. Còn nam giới nhất là lính tráng thích mô phỏng theo nhân dáng của Chế Linh để chải chuốt ăn mặc và mơ được biến thành mẫu người có thể làm rung động hàng vạn trái tim phụ nữ như anh. Chế Linh là mẫu người vui tính, lém lỉnh. Nhưng khi bước ra sân khấu thì anh tạo một khuôn mặt thâm trầm, đầy chất nhạc chất thơ. Giọng anh lúc đó trở nên thê thiết quằn quại như giọng của những kẻ đang mềm người vì roi vọt bạo tàn. Khi cất cao, giọng anh trầm thống như khua động vào trong lòng tháp Chàm huyền bí, như đánh thức những ma Hời đã từng gửi xương thịt trên đất nước xa xưa của họ mà từ lâu đã bị người Việt lấn chiếm và xóa tên trên bản đồ Đông Nam Á. Bài “Đêm Nguyện Cầu” là bài đưa tên tuổi anh đi xa khắp mọi địa danh từ Bến Hải xuống mũi Cà Mau và đi sâu vào tâm hồn một khối đông đảo quần chúng. Khi lên cao, anh dùng giọng thật, nhưng ở chỗ ngang ngang, anh thường chẻ qua giọng óc để làm cho giọng thật nổi lên những nét bay bướm và huê dạng. Elvis Phương, Thái Châu, Giang Tử, Trường Hải, Ngọc Sơn về sau nầy cũng đi theo vết chân anh là tét qua giọng óc để làm duyên làm dáng, làm eo làm nũng với cuộc đời. Và dù họ không rên rỉ sướt mướt để hoàn toàn theo anh nhưng cũng tạo được những giọng đau khổ rã rời để hớp hồn khán thính giả.
Tuy nhiên đã là người làm nghệ thuật, giọng hát của Chế Linh dù được hàng triệu kẻ say mê chiêm ngưỡng, nhưng anh vẫn bị có người chê bai, đánh gục chí tử. Nhà văn nữ Túy Hồng, dưới bút hiệu Hân Tố Tố, đã nhận xét giọng Chế Linh đại khái như sau: “Giọng Chế Linh là giọng nửa trong nửa đục, nửa âm nửa dương, nửa trống nửa mái, nửa đực nửa cái … “. Còn nhà văn Phạm Quốc Hùng thì cho rằng giọng hát của Chế Linh như giọng con heo nái đang lúc động cỡn, được chủ nhà lấy cọng dọc mùng thọc vào bí huyệt khoái lạc của nó cho nó đỡ ngứa ngáy tình dục. Chế Linh không phải là một ca sĩ có kỹ thuật căn bản trong giọng hát. Nhưng cũng như Thái Thanh, Hoàng Oanh, Hương Lan, anh biết sáng tạo một giọng hát đặc biệt, giọng nầy gợi cảm và truyền cảm thì có, nhưng đạt được cái căn bản nghệ thuật thì chưa. Anh không cần ngân nga. Khi anh kéo dài làn hơi ở chữ cuối câu hát, làn hơi ấy gợn được bao nhiêu lượn sóng thì hay bấy nhiêu, anh không chú ý đến vấn đề then chốt đó. Thật ra, anh cũng chẳng biết ngân nga. Anh chỉ biết kéo dài làn hơi cho nhừa nhựa, cho tỉ tê như dế khóc sương, như đỗ quyên khắc khoải dưới trăng hè. Đó là một giọng hát mà ông Hoàng Đức Nhã, cố vấn của Tổng thống Thiệu (báo chí gọi là ông Hoàng Đã Nhứt) cho là giọng trù ẻo, có thể làm mất nước. Cho nên trong khoảng 1972 cho tới 1975, Chế Linh bị cấm hát một cách oan uổng bất công. Lính tráng rủng chí chiến đấu đâu phải vì giọng Chế Linh mà bởi tại tập đoàn tham nhũng của Vua Thiệu trong đó có ông Hoàng Playboy có cái tên là Đã Nhứt. Dù rằng đất nước anh bị tổ tiên người Việt cướp mất, dù bị chính quyền Vua Thiệu đối xử bất công, dù bị một nhà văn nữ nổi danh và một nhà văn nam thuộc hạng cá kèo chê bai một cách thô tục, nhưng không vì vậy mà Chế Linh thù oán cả dân tộc Việt Nam, nhất là những người Việt bỏ xứ Việt Nam đi tìm tự do trên các đất nước Tây phương. Khi mới ra hải ngoại, Chế Linh không lấy tiền thù lao khi hát cho các cuộc trình diễn văn nghệ kiếm tiền bạc cho con tàu Cap Anamur cứu vớt người vượt biển. Cho đến nay, giọng anh cùng với giọng Tuấn Vũ thuộc loại giọng hát ăn khách hàng đầu.
* Hương Lan:
Tôi đã viết về Hương Lan trên Quê Mẹ số 29 (ngày 30/12/1978) như sau:
Hương Lan là một tài năng đa diện: cổ nhạc, sân khấu, màn ảnh … Cô cũng là kẻ thừa tự giòng máu nghệ sĩ. Thân sinh của cô là nghệ sĩ Hữu Phước, một danh tài sân khấu cải lương với lối ca Vọng Cổ xa-lông tuyệt vời đã từng thủ vai chính suốt 25 năm trên sân khấu đại ban Kim Chưởng và Thanh Minh Thanh Nga.
Hương Lan đã từng là đào con trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga với cái tên là em bé Ngọc Ánh. Cô đã xuất sắc trong vai đứa con không cha trong vở Hai Chuyến Xe Hoa của Thái Thụy Phong, phóng tác theo quyển tiểu thuyết cùng tựa của An Khê. Ít lâu sau, điện ảnh gia Hoàng Anh Tuấn chuyển vở ca kịch nầy thành phim. Hương Lan lại chứng tỏ khả năng diễn xuất của mình khi nhảy qua lãnh vực nghệ thuật thứ 7. Vào khoảng năm 1973, cô lại được đạo diễn kiêm kịch sĩ Nguyễn Long chọn để thủ một vai trong phim Em Yêu Anh bên cạnh Trần Quang, Hùng Cường, Phương Uyên và Tú Trinh. Nhưng thật ra, Hương Lan thành công ở địa hạt tân nhạc. Giọng hát của cô dù hơi giống giọng hát Hoàng Oanh, tuy không truyền cảm bằng, nhưng dài hơi và nhiều âm lượng hơn. Bởi đó, Hương Lan có thể hát những bản ruột của Hoàng Oanh để chiếm cho mình một số đông đảo khán thính giả như “Ai Ra Xứ Huế”, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gấy”, “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê”. Nhưng lần lần từ đó, Hương Lan tạo cho mình một lối diễn tả riêng, với nét gợi cảm, say đắm riêng. Tiếng hát Hoàng Oanh dịu dàng uyển chuyển thì tiếng Hương Lan đầy âm vang lanh lảnh. Nếu căn cứ theo bản chất thì tiếng Hoàng Oanh như loại nhung mềm, còn tiếng Hương Lan như một thứ lụa mượt mà, rập rờn ánh sáng. Hai tiếng hát đó có một khởi điểm chung, để rồi tách biệt hoàn toàn với nét độc đáo riêng.
Tiếng hát Hương Lan đầy đủ hấp lực để diễn tả loại nhạc âm hưởng dân ca, đôi lúc ngọt ngào, đôi lúc tái tê. Mật ong pha trộn mật đắng. Và tiếng hát đó đưa chúng ta vào những cảnh phố khuya đèn muộn, cảnh quạnh quẽ rã rời …. Về bên cổ nhạc, tiếng hát Hương Lan thuộc loại kim pha đồng, có nghĩa là cao vút và vang dội. Đây là một tài nghệ vững chắc nhất của cô. Cái lối sắp chữ huê dạng của cô là lối sắp chữ theo chân truyền, thoát thai từ một căn bản nghệ thuật vững vàng, chứ không phải lối huê dạng tật nguyền của một số nghệ sĩ của công ty Kim Chung hồi còn ở bên quê nhà. Về phương diện sân khấu cải lương, Hương Lan đã có lần đóng vai chính trong vở tuồng Em Đi Trên Phím Nhạc của soạn giả Lê Khanh phỏng theo cuốn tiểu thuyết La Dame Aux Camélias của Alexandre Dumas Fils. Vở nầy đã từng được Út Bạch Lan đóng vai mà Hương Lan đảm nhiệm, nhưng nếu Út Bạch Lan thành công về mặt diễn xuất thì Hương Lan tuy chưa qua mặt cô Út về phương diện này, nhưng lại thao túng ở mặt trình bày những bản Tân nhạc, có nghĩa là thành công ngay ở chỗ sở đoản của Út Bạch Lan.
Về mặt trình diễn Tân nhạc, Hương Lan đến với quảng đại quần chúng bằng tiếng hát ngọt như quít Hương Cần, làm rung động hàng triệu con tim khán thính giả. Riêng về bên Cổ nhạc, Hương Lan cho chúng ta thấy rõ “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, đã thừa hưởng một giòng máu nghệ sĩ để tạo ra một lối hát chân truyền và giờ đây là một Vương hậu Vọng Cổ ở hải ngoại. Hương Lan đến với chúng ta qua nhiều khía cạnh tài năng, có một thành tích lộng lẫy trong giới trình diễn và giờ đây là một tiếng hát hiếm quý của kiều bào chúng ta.
Bài nầy nhằm giới thiệu một giọng hát chứ không phải là một bài phân tích một giọng hát. Thật ra Hương Lan có những cái défaut không thể giúp cho cô tiến xa. Một là vóc dáng cô hơi bé nhỏ. Cho nên trên sân khấu, dù có ca hay diễn giỏi tới đâu, nhưng cô không thể làm đào chánh. Khi đứng chung với Mỹ Châu hay Lệ Thủy trên cùng một sân khấu, cô cũng phải làm đào nhì, đóng những vai thứ hạng. Hương Lan không xấu, nhưng cũng không đẹp. Cô chỉ có duyên mà thôi. Môi cô hình củ ấu, lúc ngậm miệng lại thì chiếc miệng của cô có vẻ quạu quọ, như sẵn sàng để bật ra những tiếng phàn nàn, bực dọc, càu nhàu. Ây vậy khi cô cười thì nụ cười tươi ơi là tươi, xinh đẹp một cách bất ngờ, chiếu hào quang rạng rỡ lên khuôn mặt cô. Hương Lan giỏi tài hóa trang. Những chuyến đi trình diễn chung với Bạch Yến cô hóa trang tươi thắm, đậm đà và lộng lẫy át hẳn mầu trang điểm kể cũng gọi là sành sõi của Bạch Yến. Khi hát, cô cũng không ra điệu bộ nhiều như Bạch Yến, nhưng nét mặt cô linh hoạt khác thường.
Hương Lan khi hát Vọng Cổ thì theo lối chân truyền, nhưng khi hát Tân nhạc, cô xài nhiều quái chiêu. Tiếng hát cô dù có trong sáng ngọt ngào, dù có một âm sắc quyến rũ cùng diễn tả cách bay bướm tuyệt vời đi nữa, song không phải là một tiếng hát tập luyện thuần thục theo phương pháp nghiêm chỉnh. Cô ngân nga không vững. Cô không thể hát những bài bản lớn đòi hỏi một nội công thâm hậu trong cách luyện giọng và đòi hỏi một kỹ thuật vững chãi. Cô chỉ trình bày những bản nhạc dành cho thị hiếu thấp kém của quần chúng, chứ không thể hát những bài có giá trị cao để làm thỏa mãn giới sành điệu. Tiếng hát của cô chỉ có lan rộng trong dân gian nhưng không thể vươn lên cao, bay đến chỗ kỳ diệu của âm nhạc được.
Hương Lan lăn lóc với nghề trình diễn quá sớm. Chung quanh cô, báo chí thêu dệt biết bao cuộc tình nẩy lửa, biết bao “xì-căng-đan”. Vào thuở đó, cô có vẻ còn bé bỏng, mặc áo đầm xòe, tóc cài nơ lụa. Cô không hề đăng tin cải chính trên báo rằng những tin đồn như vậy có thất thiệt hay không cũng như không cần che đậy những cuộc giao du của mình với bạn trai. Ở Hương Lan, ngay lúc cô còn mặc áo đầm xòe, các cậu học sinh vẫn không coi cô là biểu tượng tiếng hát học trò như ở trường hợp của Thanh Lan. Cô chỉ là người yêu trong mộng của các anh chiến sĩ ngoài tiền đồn, khi cô hát hai bài nổi danh của Trúc Phương là “Hai Mươi Bốn Giờ Phép” và “Trên Bốn Vùng Chiến Thuật” thì cô biến thành thần tượng huy hoàng của những kẻ khoác chinh y.
Vào năm 1978, tôi có nhiều lần tháp tùng Bạch Yến, Hương Lan và Pauline Ngọc đi trình diễn ở Lyon, Toulon v.v …Hương Lan có tài kể chuyện tiếu lâm làm ai cũng cười. Bạch Yến ưa nhắc thời oanh liệt cũ, Pauline Ngọc có tâm sự buồn, trong khi đó Hương Lan lúc nào cũng vui vẻ, mộc mạc, nhưng cực kỳ duyên dáng. Cho nên tôi cảm thấy gần gũi với cô hơn vì ở cô tôi tìm được mẫu người miền Nam đúng nghĩa. Cô thường khen tôi bằng câu:
— Không hiểu cái anh nầy cốt con gì mà nhớ dai như vầy!
* Phương Hoài Tâm:
Tôi nhớ mang máng rằng trong một lần hát mừng ngày Phật Đản, Phương Hoài Tâm xuất hiện trong một đoạn phim thời sự. Cô mặc áo đầm, tóc uốn theo kiểu Lollo úp, khuôn mặt thật đẹp và trong sáng như khuôn mặt thiên thần. Phương Hoài Tâm xuất thân từ lò Nguyễn Đức, dĩ nhiên là giọng hát của cô làm sao trui rèn đúng mức. Nhưng có lẽ khi ra nghề, cô luyện giọng thêm nhờ sự hướng dẫn của nhiều nhạc sĩ khác nên giọng cô nhuần nhuyễn hơn. Phương Hoài Tâm khi còn ở trong nước, luôn mang dáng dấp một nữ sinh. Khuôn mặt cô có đôi lưỡng quyền hơi cao. Đáng lẽ với đôi lưỡng quyền ấy, khuôn mặt cô trở nên tối tăm và cứng cỏi. Nhưng mà không, mặt cô vẫn trong sáng, đôi lưỡng quyền ấy đem lại cho cô cái duyên dáng mặn nồng thâm thúy kỳ lạ. Đã vậy, khuôn mặt cô lại hiền dịu, nụ cười hơi thẹn thùng e ấp nhưng thật tươi sáng. Khuôn mặt thánh thiện ấy lại được cắm trên một vóc dáng tầm thước, nồng nàn sinh lực. Những chiếc áo dài màu tươi phơn phớt hay những chiếc áo dài màu trắng vẫn có thể làm cô đẹp, chẳng cần những chiếc áo dài in hoa hay những chiếc áo dài thêu đăng teng.
Giọng hát Phương Hoài Tâm ngoài cái ngọt dịu và trong sáng như nước cam trộn mật ong và nước đá, chẳng có gì đặc biệt khác. Khi cô xuất hiện trên bục ca hay trên sân khấu, cô vẫn thôi miên khán giả ở lối diễn tả đơn giản làm cho giọng hát của cô có về đằm thắm thục nữ. Âm vực trong giọng hát cô không rộng. Ấy vậy, có lần cô hát bài “Thu Vàng” của Cung Tiến thì tôi lo sợ giùm cho cô khi cô hát gần tới chỗ lên cao. Vậy mà cô vẫn hát khá đạt, dù giọng cô lúc lên cao hơi mỏng, nhưng cô hát trôi chảy, không vỡ gãy, không chai sượng. Đã vậy cô còn ngân lăn tăn được vài lượn thu ba. Phương Hoài Tâm có đóng một vai trong phim Nàng do Thẩm Thúy Hằng sản xuất. Thẩm Thúy Hằng khen nào là Phương Hoài Tâm đóng rất nghề, nào là Phương Hoài Tâm làm việc nghiêm chỉnh, nào là Phương Hoài Tâm mềm mỏng dễ thương … Nhưng không hiểu sao ở các cuốn phim sau do chính Thẩm Thúy Hằng sản xuất, Phương Hoài Tâm lại không được mời đóng nữa. Thôi thì chúng ta nên đổ thừa rằng Phương Hoài Tâm không có duyên nhiều với điện ảnh, cho nên ở các phim sau, cô không tìm gặp những vai nào thích hợp.
* Phương Hồng Hạnh:
Cũng xuất thân từ lò Nguyễn Đức như Hoàng Oanh, Thanh Lan và Phương Hoài Tâm, nhưng xem ra Phương Hồng Hạnh lép vế hơn hết. Khuôn mặt cô là khuôn mặt trứng ngỗng, đôi mắt lá răm hơi nhỏ, giọng hát hơi lu chìm. Suốt quãng thời kỳ mới lớn với tấm nhan sắc thịt không ra thịt, cá không ra cá ấy, không ai có thể nghĩ rằng Phương Hồng Hạnh có thể tiến xa trên đường sự nghiệp. Nhưng khi cô bước vào ngưỡng cửa dậy thì, khuôn mặt cô nồng mặn bất ngờ, thân hình cô nồng nàn sinh lực không kém thân hình của Phương Hoài Tâm. Khi cô bước ra sân khấu, đôi mắt lá răm của cô được kẻ đường viền đen hòa hợp với cặp mày tô đậm uốn cong theo viền trăng mỏng, tạo nên một hòa điệu tuyệt vời, làm cho khán giả liên tưởng đến câu ca dao: “Đôi mắt lá răm, đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền”.
Phương Hồng Hạnh không đẹp bằng Phương Hoài Tâm, nhưng đài các và sang trọng hơn. Khi cô bước ra sân khấu với chiếc áo dài trắng, dáng dấp của cô phiêu hốt làm khán thính giả nghĩ đến một nàng tiên trong nội cỏ thiên đường nào ghé qua. Khi trình bày một bản nhạc vui, cô hơi lém lỉnh một chút. Nhưng sắc diện thần tiên của cô không thể nào lẳng lơ được. Lúc nào cô cũng giữ vẻ đằm thắm đoan trang, vẻ điềm đạm thùy mị. Cô chỉ đẹp có vài ba phân, tức là chỉ đẹp vừa phải thôi, nhưng cái vẻ cao sang thanh thoát làm cô đẹp trội lên tới mười.
Giọng Phương Hồng Hạnh là giọng lu chìm. Nhưng cô biết xử dụng máy vi âm nên hát rất điệu nghệ. Về sau, với sự luyện tập của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Phương Hồng Hạnh tiến bộ rất xa về phương diện kỹ thuật. Cô hát nhuyễn lắm, có chiều hướng đi lên theo giọng Mai Hương, chuỗi ngân cô thật điêu luyện. Nhưng than ôi, cô phải trả một giá rất đắt: Có nhiều nhà báo độc miệng tanh lòng nỡ vu oan cho cô tằng tịu với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm những chàng nam sinh ái mộ cô thất vọng không ít.
Bìa cuốn Hinte runs steht nur der Herrgott của Giáo Sư Bác Sĩ Hans Killian cùng bản dịch Pháp Văn Sous le Reagrd de Dieu được Nghiêm Sĩ Tuấn và Nguyễn Vĩnh Đức dịch và giới thiệu trên báo Tình Thương.
HANS KILLIAN
NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC dịch
NGUYỄN VĨNH ĐỨC bút hiệu Tô Tam Kiệt sinh ngày 4 tháng 12 năm 1938 tại Hà Nội, Bắc phần, trung học J.J. Rousseau Saigon, tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn 1965, nguyên Phó Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, Chủ bút đầu tiên báo Sinh viên Y khoa Tình Thương tới số 24 (tháng 12. 1965) cũng là ngày anh ra trường; anh là cây bút đa hiệu viết nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ, truyện dịch và viết các bài chính luận. Nguyễn Vĩnh Đức có công lớn xây dựng Nguyệt san Tình Thương trở thành một tờ báo có tầm vớc.
Sau 1975, anh di tản khỏi Việt Nam, định cư Canada; trở lại hành nghề Y khoa tại Montréal từ 1978. Anh mất ngày 28 tháng Giêng năm 2005 thọ 67 tuổi.
NGHIÊM SỸ TUẤN bút hiệu Yến Thử, sinh ngày 7 tháng 2 năm 1937 tại Nam Định, Bắc phần trong một gia đình thanh bạch và đông anh em. Cắp sách tới trường muộn màng ở tuổi 14. Hoàn tất học trình Trung học và Đại học trong khoảng thời gian 14 năm. Trong thời gian học Y khoa, Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký Tòa soạn báo Sinh viên Y Khoa Tình Thương từ số ra mắt tới tới số 13 [khoảng thời gian từ 01-1964 tới 01-966] tới ngày Anh ra trường, là tác giả nhiều bài viết sâu sắc. Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận ở Khe Sanh tháng 4 năm 1968 ở tuổi 31.
NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC
Nghiêm Sỹ Tuấn đã cùng Nguyễn Vĩnh Đức dịch một cách tài hoa tác phẩm rất giá trị, đầy tính nhân bản: Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, đăng từng kỳ trên báo Tình Thương, như một trong những tiết mục thường xuyên, đã được bạn đọc nồng nhiệt đón nhận thời bấy giờ. Ngoài bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu, Nghiêm Sỹ Tuấn còn tham khảo bản gốc tiếng Đức Hinter uns steht nur der Herrgott khi dịch tác phẩm này.
Tờ Di Chúc
Lời Nói Đầu:
Tôi có thói quen – chắc là một thói xấu – khi bắt đầu đọc quyển truyện nào là y như rằng đọc CÂU CUỐI trước. Thường thường, những câu cuối mọi truyện là những cảm giác, tâm trạng của nhân vật hay của tác giả xuyên qua một dáng điệu, một lời nói hoặc một câu tả cảnh tầm-thường … Một câu tuy tầm thường cũng đủ làm vỡ con đê chặn kỷ-niệm thấm-thía ổ-ạt như thác-lũ. Nếu đem tách riêng chúng ra ngoài, những câu đó có khi quá tầm-thường, có khi thật trơ trẽn, và có khi lại quá cục-mịch. Chúng chỉ gây xúc cảm khi được lồng vào truyện … Ta còn nhớ mãi mãi khi gấp cuốn truyện lại. Truyện ngắn chúng tôi khởi đầu trích-dịch dưới đây là truyện ngắn cuối cùng – có thể là CÂU CUỐI – của tập truyện-ngắn “Hinter uns steht nur der Herrgott”tạm dịch là “Dưới mắt Thượng-Đế”, ký ức của một thủ thuật gia danh tiếng người Đức Hans Killian. Có lẽ tôi đã trót theo thói quen trên. Nhưng, thật ra khi đọc truyện-ngắn này tôi đã xúc-cảm nhiều nhất. Bỗng nhiên tôi thấy đã bước vào ngưỡng-cửa vườn văn-nghệ y khoa đem theo một suy-tưởng: Con Người trước Sự Chết.
Nguyễn Vĩnh Đức
Con người thời-đại mới, tự-nhiên theo bản-năng, tim cách để xua đẩy – tôi có thể nói: có khi gần như để quên lãng – ý-nghĩ sự chết. Thuở xưa, người bệnh chết tại nhà, giữa những người thân; thời nay, người bệnh thường trút hơi thở cuối cùng trong cô đơn lạnh ngắt bệnh-viện. Nghĩa-địa, xưa kia bao quanh thánh-đường, ở giữa thành phố, nay đã dời xa về ngoại-ô, có khi còn xa nữa, xa khuất mắt kẻ sống. Tuy-nhiên, sự chết đối với mỗi người trong chúng ta, vẫn còn là điều chắc-chắn độc nhất. “Thưa Thượng-Để, xin người dạy chúng con nghĩ rằng một ngày kia chúng con sẽ chết, để chúng con suy-tưởng nhiều hơn”, lời Thánh-ca còn đó … nhưng ngày nay ai là người đọc Thánh-ca? Và ai là người thật sự sẵn sàng đương đầu với sự chết? Vì vậy, tôi muốn kết thúc quyển ký-ức này bằng câu chuyện một thiếu phụ trẻ, mà cuộc đời đã kếtliễu một cách thảm khốc, nhưng cái chết nàng trọn-vẹn nhận lấy, đã cho tôi một niềm an-ủi mầu-nhiệm.
Tôi có cảm-tình ngay với thiếu-phụ. Dáng người mảnh dẻ, mái tóc vàng, bà ta có một khuôn mặt thanh-tú đễ thương, và trong ánh mắt xanh hình như có về gì vừa hiền lành vừa dí-đỏm. Thật khó ai thấy một người đàn bà như thế. Tuy nhiên khi quan-sát chăm-chú hơn, tôi thoáng thấy trong dáng bộ thiếu phụ một nét mệt-mỏi, như chịu đựng và như lo-lắng. Bà ta là vợ một đồng-nghiệp bị động-viên và đã tự ý đến nhờ tôi khám bệnh. Bắt đầu hỏi bệnh, tôi được biết bà ta có hai đứa con, một trai lên năm và một gái lên ba, hiện giờ đang ở miền quê với đì chúng, và thiếu-phụ đang đợi đứa thứ ba sắp ra đời. Thật vậy, chỉ nhìn cũng biết bà ta mang bầu.
– Thưa bà, bao giờ bà ở cữ?
– Thưa, còn năm tháng nữa.
Hơi sững-sờ, tôi nói:
– Nếu vậy bà nên đến một bác-sĩ chuyên về sản khoa hơn là đến tôi.
Bà ta lắc đầu và vẻ mặt bỗng nhiên trang trọng lo-lắng:
– Dạ, không phải thế đâu ạ. Tôi đến để nhờ giáo sư xem bệnh, vì ít lâu nay tôi thấy đau bên vú trái. Lẽ dĩ-nhiên tôi biết, khi có thai, như vậy không lạ gì. Khi tôi có mang hai cháu lớn, tôi thường thấy hai bên vú căng lên và thỉnh-thoảng nhức lắm. Nhưng lần này thì khác hần: hai vú tôi căng phồng lên và rắn, hơn nữa da dẻ lại óng ánh xanh … và sáng hôm qua tôi thấy dưới nách một cái hạch nhỏ. Và … tôi thường nghe nhà tôi nói nhiều điều về … Cố làm ra vẻ tự-nhiên, tôi mời bà ta cời áo và nằm lên để tôi khám bệnh. Thiếu-phụ chỉ cho tôi bên nách trái, tôi thấy một hạch bạch-huyết rất cứng, chắc chắn đã bị hư-biến. Ngay bên cạnh, tôi thấy một hạch khác, rồi một hạch khác – có lẽ đến cả chục cái. Vẫn thản-nhiên tôi khám tiếp vú bên trái. Cái vú phồng hẳn lên, rất căng, và khi nắn, có rất nhiều bướu lớn. Càng lúc càng kinh ngạc, tôi khám sang vú bên phải, hầu có thể chắc-chắn mà so sánh. Tôi suýt giật mình khi thấy ở đây cũng lại có những cục rắn khác. Có một chỗ làn da nhăn lại, như co vào trong. Nách bên phải cũng có nhiều hạch lớn, và gần những huyết-quản chạy xuống cánh tay cũng có hai cục lớn hơn. Không còn nghi-ngờ gì nữa, bà ta đã bị ung-thư cả hai vú và chắc-chắn ung-thư đã phát-triển rất nhanh. Hiện giờ, bệnh-nhân chưa thể đoán được tôi đã cố gắng thế nào để khắc-phục niềm kinh-hoàng đang xâm-chiếm tôi. Cách đây chưa đầy bốn tháng, tôi đã khám cho một thiếu-phụ Ba-Lan, cũng có chửa và cũng bị ung-thư. Lúc đó chúng tôi đã tự hỏi có nên mổ hay không. Sau cùng, tôi vẫn cứ mổ, không phải vì tôi tin chắc là phải mổ, mà vì trên bình-diện nhân-bản tôi không thể mặc-nhiên phó-thác bệnh nhân cho số-mệnh. Vậy mà trường-hợp người đàn bà xấu-số ấy lại rắc-rối thêm: bà ta oán ghét chiếc bào thai đã làm mình bị ung-thư. Nỗi oán ghét này, bà ta đã trút lên tất cả mọi người và lên chính mình nữa. Bà ta oán giận bác-sĩ, oán giận y-tá, oán giận cả thân mình. Sau hai lần mổ thật nguy hiểm, bệnh-nhân ủ-rũ hàng tuần, quay mặt đi khi chúng tôi đến hỏi han; cuối cùng chết, bất hòa với cả Thượng-Đế và với mọi người. Tôi cố gắng lắm mới có thể xua-đuổi kỷ-niệm ghê-gớm ấy. Dù thế nào chăng nữa, bổn phận tôi là tận-tâm với người sống, chứ không phải với người chết. Tôi phải làm gì bây giờ? Cắt hạch ra để khám-nghiệm ư? Nhưng, hỡi ơi trong trường hợp này, khám nghiệm thật hiển-nhiên là thừa; không còn nghi-ngờ gì nữa, ung thư này phải giải-phẫu ngay không nên chần-chừ. Trong khi người thiếu-phụ mặc lại áo, tôi tìm, một cách tuyệt vọng, một lời nào hay nhất để nói sự thật với bà ta. Vì, với bà ta, tôi đã quyết định không giấu giếm gì. Tôi tin và bây giờ tôi vẫn còn tin hơn bao giờ hết, rằng một lời nói dối “nhân đạo” vẫn là một lời nói dối, mà hậu quả chỉ có tai-hại. Một đằng bệnh-nhân, giam chặt trong ảo-tưởng mất hết liên-lạc với thực tế; đằng khác, xét cho cùng, lời nói dối đánh đổ niềm tin rất cần thiết của con bệnh đối với người thầy thuốc.
Tôi nói bằng một giọng an-ủi:
– Thưa bà, chắc bà biết bệnh này cũng nặng. Không giấu gì bà, bệnh này phải mổ. Nhưng trước khi quyết định, thế nào tôi cũng phải bàn với ông nhà. Chúng tôi sẽ mời ông ở tiền tuyến về ngay …
Tôi ngạc-nhiên thấy bà ta òa lên khóc và nức-nở:
– Tôi cũng chẳng biết bây giờ nhà tôi ở đâu nữa! Mấy tháng nay tôi không được tin-tức gì cả.
Tôi hiểu ngay, trước sự khủng-hoảng tinh thần này, tôi bắt buộc phải nói sự thật tàn-nhẫn:
– Thưa bà, bây giờ chắc chắn tính mạng bà đang lâm nguy. Những sự biến-đổi nơi vú chắc có liên lạc với cái thai của bà: tác dụng của vài chất kích-thích-tố đã làm những tế bào trong vú bà hư biến, nghĩa là bị ung thư. Vì thế cần phải mổ, tuy không phải để hủy cái thai, nhưng ít ra cũng cần làm cho nó đừng tiến triển nữa.
Chúng ta phải hết sức làm thế nào hãm lại và nếu có thể, đừng để những hạch này to thêm nữa. Thật vậy, tất cả những cố gắng của chúng ta sẽ vô hiệu, khi mà trong cơ thể bà, vẫn còn rất nhiều kích-thích-tố tăng-trưởng, rất cần cho đứa bé nhưng rất hại cho bà. Bà thấy không, chúng ta không có quyền lựa chọn.
Bà ta cầu khẩn nhìn tôi:
– Không, không bao giờ! Thưa giáo-sư, đứa bé không thuộc một mình tôi, mà còn của chồng tôi nữa, không đời nào tôi chịu bỏ nó. Tôi muốn trao nó lại cho chồng tôi. Nó là TỜ DI-CHÚC của tôi, tôi biết lắm, tôi không thể sống được. Chính vì thế mà tôi xin giáo sư cho tôi được sống đến khi đứa bé ra đời. Vì nó mà tôi đến đây, chứ không phải vì tôi.
Tôi hết sức phản đối, và cho thiếu phụ biết rằng bỏ đứa bé đi là cơ hội độc-nhất để cứu sống bà. Nhưng thiếu-phụ vẫn không lay chuyển. Đến nỗi cuối cùng, bối-rối trước tấm lòng can-đảm ấy, tôi đành khuất-phục.
– Nếu bà đã quyết-định như vậy, tôi xin chiều ý bà. Bà hãy về thu-xếp việc nhà và sửa-soạn càng mau càng tốt, bà sẽ phải nằm bệnh-viện lâu lắm đấy. Xong, bà trở lại đây ngay, chúng ta không thể phí thì-giờ được nữa.
Ba ngày sau, tôi bảo cho thiếu-phụ biết tôi sẽ bắt đầu cắt bỏ một bên vú. Trong vòng hai hay ba tuần-lễ, sau khi bà ta lấy lại sức khỏe, tôi sẽ có thể mổ nốt bên kia.
– Tuy thế, tôi nói tiếp, vẫn còn một mối nguy. Là cơ-thể đàn-bà có thai thường thường không thể chịu nổi một cuộc giải-phẫu quan trọng như vậy. Dù cẩn thận đến đâu, tôi vẫn ngại là giải-phẫu như thế đứa bé sẽ sinh ra thiếu tháng. Tôi ngại vậy thôi, tuy không đáng lo lắm, nhưng vẫn phải nghĩ tới.
Tôi kinh-ngạc thấy bà ta vẫn hoàn-toàn bình tĩnh:
– Trường hợp ấy chắc là ý Trời, ta không thể cưỡng lại được. Cuộc giải-phẫu thứ nhất diễn ra bình thường. Bệnh nhân không một chút hãi-động khi mũi Evipan đầu tiên đâm vào mạch máu. Tôi bắt đầu rạch quanh vú bên trái, tiết-kiệm từng tí da rất cần cho sau này. Xong, tôi lấy cả bắp thịt ở ngực cùng những cục bướu dính trên đó ra. Những người phụ-tá kẹp vội mạch máu không để mất một giây nào. Tiếp đó, tôi cắt chỗ cơ-ngực-lớn dính vào xương đòn gánh, bỏ hằn cơ-ngực-nhỏ, cắt chỗ bắp-thịt cánh tay dính vào xương và đầy đủ cái vú ra ngoài. Giai đoạn đầu như vậy đã xong. Sau khi bảo ngừng cho ê-te tôi tự tay dùng điện đốt các đầu mạch máu bị cắt. Tôi chỉ phải khâu và cột lại có một tĩnh mạch lớn. Rồi tôi bắt đầu giai-đoạn thứ hai, là nạo toàn-diện các hạch ở nách và dưới xương đòn gánh. Công-việc thật khó-nhọc, vì vùng-phải-nạo đầy hạch nhỏ. Chỉ còn làm sạch các bắp thịt phía sau nách, chỗ thường có nhiều hạch, là việc nạo kết-thúc. Sau khi để một “ống nòng” cao-su, tôi khâu lại đường cắt đi từ vú bên trái đến cánh tay. Tất cả mất 45 phút. Tuy bệnh-nhân mất ít máu, tôi vẫn cho truyền-máu trong giai-đoạn giải-phẫu cuối cùng.
– Những ngày sau đó, bệnh-nhân tỏ ra bình tĩnh một cách đáng khen. Nhưng một buổi sáng, khi vừa rút cái “ống nòng” ra, tôi thấy bệnh-nhân co rút người lại. Bỗng thiếu-phụ hỏi tôi:
– Thưa giáo-sư, tôi còn sống được bao lâu nữa?
Tôi hiểu liền ý-nghĩa câu hỏi ấy. Bệnh-nhân muốn biết mình có đủ sức chịu-đựng đến khi sinh-hạ đứa bé không. Không muốn an-ủi bằng một câu khôi-hài tầm-thường. Tôi chỉ trả-lời:
– Câu hỏi đó, bà không cần phải đặt ra làm chỉ.
Ngày hôm sau, tình-trạng bệnh nhân bắt đầu nặng thêm. Càng ngày càng gầy đi, làn da mặt mịn-màng khô như giấy, đôi mắt mở quà bánh cô kiếm được mặc dù khẩu-phần bị hạn-chế trong thời kỳ lớn thêm. Tôi dặn cô y-tá-trưởng lén dành cho bệnh-nhân tất cả chiến-tranh. Người nữ-tu già săn-sóc bệnh-nhân nhún vai và nói:
– Thưa, không ích gì đâu. Bà ấy không thiết gì ăn. Tôi phải dỗ mãi mới ăn được một tí.
Đôi khi, tôi đem lại cho thiếu phụ vài miếng súc-cù-là, trong lòng cố quên cái ý-tưởng khốc liệt rằng đồ ngọt giàu nhiệt-lượng không những nuôi sống người mẹ và đứa con lại còn nuôi-dưỡng cả ung-thư nữa.
Vả lại, vú bên phải không ngừng phồng lên. Tôi muốn mổ ngay, nhưng sức-khỏe bệnh-nhân buộc tôi phải từ bỏ ý-định đó. Tuy vậy, tinh thần bà ta vẫn vững ít ra trong ý-hướng là đã không mất hy-vọng sẽ cho con ra chào đời. Càng ngày bệnh-nhân càng không thể tập-trung tư-tưởng vào một vấn-đề nào khác trong khi nói chuyện. Thế-gioi chung-quanh chi tồn-tại nếu hòa-điệu với di-sản tình yêu mà thiếu-phụ dành cho người chồng. Lẽ dĩ-nhiên, tôi giấu không cho thiếu-phụ biết là di-sản ấy có thể không bao giờ đến tay người thu-nhận. Không cho bà ta hay, tôi đã đi hỏi Nha Quân-Y và còn giữ trong ô keo một bức-thư riêng báo cho tôi biết đơn-vị của người chồng thiếu-phụ được coi như “mất tích trên chiến-tuyến miền Đông”.
Điều lạ là cuộc giải-phẫu thứ hai đã diễn ra, cũng tốt đẹp như lần đầu tiên. Nhưng không may, mặc dầu chúng tôi đã cố gắng, tình-trạng lại trở nên nguy-ngập. Hon nữa, tôi bắt đầu sợ bào-thai có thể chết trong bụng mẹ. Bệnh nhân vừa được cho về phòng, tôi đã theo ngay đến, để nghe tiếng tim bào-thai đập. Tim đập hơi yếu nhưng thật rõ ràng. Tám ngày sau, bệnh-nhân hân-hoan báo cho tôi biết đứa bé đã máy; như thay đổi hắn, bà ta thì-thầm:
– Thằng bé nó đạp!
Khi cái thai được tám tháng, tôi đề-nghị cho bà ta sanh ngay, nhưng thiếu-phụ cương-quyết chối-từ.
– Tôi đã khỏe rồi, phải không, thưa giáo-sư? Vậy giáo-sư cho phép tôi về.
Cô em gái – một thiếu-phụ đẫy-đà, tràn trề nhựa sống – đến đón bà chị. Khi nghe thấy cô ta cần-nhằn trách chị sao không chịu ăn, tôi kéo cô ra nói nhỏ:
– Bệnh tình chị cô nặng lắm đấy. Vừa bị mổ hai lần, lại sắp sinh nở. Tôi mong cô nương nhẹ bà ấy.
Trong khi tôi đưa ra xe hồng-thập-tự, thiếu phụ hướng về phía tôi, đôi môi tái nhợt mấp máy câu hỏi, câu hỏi tôi vẫn e ngại:
– Còn bao lâu nữa?
Tôi chỉ có thể lắc đầu. Dù bất cứ với giá nào, tôi cũng không muốn dối bà ta. Tôi nói với một giọng vui vẻ gượng gạo:
– Thế nào cũng cho tôi biết tin sinh cháu nhé.
Ngong-ngóng đợi một tấm thiệp in, tôi đã ngạc nhiên khi nhận được một lá thư dài.
Kính thưa giáo sư,
“Vì đã gắng sức giúp tôi, giáo-sư sẽ là người độc nhất đọc thư tôi viết báo tin mừng này. Tôi hãy còn yếu và phải giữ-gìn chút sức tàn còn lại. Cách đây tám ngày tôi đã sinh một cháu trai. Cháu nhỏ tí-tẹo, nặng 2 ký 640, nhưng cháu sống, và bác-sĩ nói nhất định cháu sẽ sống.”
“Tôi không biết nói gì để tạ ơn, tạ ơn Trời và tạ ơn giáo-sư.”
“Mấy tuần lễ vừa qua thật khó nhọc và đã có lúc, tôi nghĩ rằng không thể cầm-cự đến phút cuối cùng. Bây giờ, giáo-sư ạ, tôi biết là phút cuối đã tới. Dù bác-sĩ ở đâu tốt bụng cho là tôi nói đông dài, dù em gái tôi luôn luôn giả vờ giận tôi, thì vẻ mặt lo lắng của người này, đôi mắt đỏ hoe của người kia đã nói trái lại những lời nhân đạo kia.”
“Dù sao, tôi biết tôi không thể sống được lâu nữa. Đôi khi tôi đã sợ chết – thật ra, tôi không can đảm hơn một người đàn-bà nào khác, nhưng tôi tự an-ủi ngay: sự hiện hữu của đứa bé chứng tỏ cho tôi tình-yêu vô cùng của Thượng-Đế. Có lẽ giáo-sư hoài-nghi trước những “mặc-khải cá-nhân” của tôi, nhưng mong giáo-sư hãy tin rằng “mặc-khải” đó sẽ giúp tôi khi tôi về thế-giới bên kia.”
“Tôi đã từng yêu cuộc đời – yêu hoa, yêu nắng, yêu nhạc; tôi đã cố gắng làm một người mẹ hiền, và trong mười năm không một bóng mây nào làm vẩn tình yêu vợ chồng bền chặt của chúng tôi. Tôi ra đi, biết rằng tôi sẽ thấy ở thế giới bên kia tất cả đẹp hơn, trinh trắng hơn trên trái đất này. Và bây giờ xin vĩnh biệt giáo sư.”
“T.B. Nếu chồng tôi về, xin giáo-sư trao lại cho chàng bức thư này.”
Mười-lăm ngày sau, tôi nhận được thiệp báo-tang. Còn điều mong-ước cuối cùng của thiếu phụ, tôi không sao thực-hiện được: người chồng không trở về.
Truyện này được viết để tặng một thế hệtuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau
30-4-1975
Bài 13
«Vâng, tôi lấy danh dự hứa rằng tôi không nói dối. Cũng chẳng cần phải nói dối vì những người liên hệ với tôi trong tổ chức đã bị bắt hết. Tên tôi là Ngô Tỵ, 19 tuổi, học sinh lớp 12 trường Cộng Hòa. Ba tôi người Minh Hương, má tôi người Việt Nam. Nhà tôi nổi tiếng vì cái bảng hiệu Tám Mập, chuyên bán đồ nhậu ở ngã tư Phan Thanh Giản – Cao Thắng, gần rạp hát Đại Đồng. Tôi có chân trong hội múa lân của bang Triều Châu. Cách mạng vô Sài Gòn, tôi được chị Bí thư chi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh kếp nạp vào đoàn và được làm phụ tá cho chị ấy, hoạt động tại các trường Régina Mundi, Marie Curie, Lê Quý Đôn thuộc phạm vi quận 3 là những trường của con nhà giầu học, nghiêng về chương trình Pháp. Chị Bí thư cần tôi vì chị ở bưng ra, chữ nghĩa chị rất kém.
Tôi hoạt động tích cực. Chị Bí thư có nhiều cảm tình với tôi, thường biểu dương tôi và khuyên tôi thoát ly gia đình theo cách mạng. Đôi khi, một mình tôi chủ trì những phiên họp ở các trường quận 3. Tôi đã giáo dục bọn học sinh Régina Mundi, Marie Curie, cấm chúng nó viết thông cáo bằng Pháp ngữ, Anh ngữ nặng tính chất chống đối. Tôi bị chúng nó ghét cay ghét đắng. Điều đó không thành vấn đề. Vấn đề là tôi đã đưa chúng nó vào sinh hoạt mới, kỷ luật mới, đời sống mới. Chị Bí thư trao súng K54 của chị cho tôi giữ. Chị dạy tôi cách xử dụng. Đi đâu tôi cũng đeo súng và rất hãnh diện. Tôi tự vẽ cho tôi một tương lai huy hoàng. Tôi sẽ trở thành đảng viên đảng cộng sản Việt Nam quang vinh. Tôi sẽ sang học bên Liên Sô. Tôi sẽ đem hết khả năng của tôi cống hiến đảng và nhân dân. Tôi đã đọc cuốn truyện liên xô, nhan đề: Thép đã tôi thế đấy và tôi rất yêu mến anh Pavel. Anh này đúng là biểu tượng của thanh niên cộng sản. Tôi còn đọc cuốn Ruồi trâu và tôi khinh bỉ Thiên Chúa Giáo. Tôi là ước mơ của bao nhiêu đứa bạn bằng tuổi tôi, được đảng chiếu cố, được đảng ban phát ân huệ để nở mày nở mặt với đời. Đời xưa quen gọi tôi là thằng chệt, thằng ba tàu, thằng hủ tíu…! Đời nay gọi tôi là “đồng chí”, là anh Tỵ. Ba má tôi hồ hởi, phấn khởi. Họ hàng tôi tự cho là có chỗ nương dựa ở xã hội mới.
Nhưng tại sao tôi thay đổi toàn bộ tư tưởng? Một buổi tối tháng 10, thằng bạn tôi là Trần Chiêm Đồng đến rủ tôi đi uống cà phê. Tôi theo nó. Đồng và tôi nói chuyện.
– Tư sản mại bản Chợ Lớn bị bắt nhốt ở Chí Hòa mày biết không?
– Biết. Bị bắt hồi tháng 9.
– Ông bang trưởng Đào Mậu cũng bị bắt.
– Thế hả?
– Ông bang Trần Thành nằm khám luôn.
– Thế hả?
– Các đội trưởng múa lân Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu trong Chợ Lớn bị bắt hết.
– Thế hả?
– Các hiệu trưởng trường Tàu vào ấp cả.
– Thế hả?
– Hội Tinh Võ bị giải tán rồi. Tinh Võ Môn bị Nhật Bản nó phá vỡ bảng hiệu! Tiếc rằng không có Lý Tiểu Long.
Trần Chiêm Đồng đưa ra những câu hỏi làm tôi choáng váng. Nó lại nhắc tôi tinh thần yêu nước của người Trung Hoa trong phim Tinh Võ Môn. Tôi cũng là võ sinh của Tinh Võ Môn. Ở hội múa lân là phải giỏi võ vì các hội khác bang thường thách thức thí võ và đánh nhau.
Chúng tôi im lặng một lát. Trần Chiêm Đồng thở dài.
– Đời này làm gì có Lý Tiểu Long.
Nó chưởi thề:
– Mẹ kiếp, bao nhiêu năm ăn cơm, uống nước của người Việt Nam, bây giờ, bảng hiệu Việt Nam bị gỡ xuống, nghĩ rất thẹn vì không có tinh thần Lý Tiểu Long. Cái thân phận Việt gốc Hoa nghìn năm bị khinh bỉ ở đất nước Việt Nam chỉ vì sống theo kiểu gió chiều nào nương chiều ấy. Nay, Việt cộng nó bắt bỏ tù, nó tịch thu tài sản, nó đuổi về vùng kinh tế mới, dám làm gì nó không? Kêu cứu ông Mao Trạch Đông, ông Tưởng Kinh Quốc đi!
Nó hỏi tôi:
– Bao giờ mày được vào đảng?
Tôi đáp:
– Còn lâu!
Nó chản nản:
– Đợi mày vào đảng để cứu các ông bang chắc các ông ấy rũ xác trong tù rồi.
Nó mỉa tôi:
– Năm nào mày đi tố cáo Việt cộng, năm nay mày đeo súng Việt cộng. Kỳ quá, Tỵ à!
Cái vụ này, tôi xin kể: Năm 1970, quán nhậu của ba tôi rất đông lính Cộng Hoà. Có người đến ăn nhậu rồi bỏ lại cái giỏ đỏ. Tôi chạy theo bảo người ấy trở lại lấy bị đồ. Người ấy bỏ chạy nhanh. Sinh nghi, tôi báo cảnh sát bắt người ấy. Rồi tôi về quán báo động. Khách hàng bỏ chạy tán loạn. Nhờ một sĩ quan công binh giỏi nghề chất nổ nên cái giỏ chất nổ để đồng hồ tự động đã bị vô hiệu hóa.
Nó tiếp:
– Nếu chất nổ không được sĩ quan “ngụy” hủy diệt, ba má mày chết hết, mày què cụt, hôm nay mày có theo Việt cộng không?
Tôi cứng họng không trả lời nổi. Nó dọa tôi:
– Việt cộng nó thù dai lắm, tội từ thuở lọt lòng nó còn lôi ra đấy. Mày đừng tưởng bở.
Nó chia tay tôi ở quán cà phê. Tôi về suy nghĩ cả đêm không ngủ. Đầu óc tôi muốn nổ tung. Hôm sau, tôi đến nhà Trần Chiêm Đồng thật sớm.
– Tối qua mày gợi những chuyện ấy với tao nhằm mục đích gì?
– Không nhằm mục đích gì cả.
– Mày cứ nói thật đi!
– Tao không còn tin mày nữa. Bây giờ, tao tự nhận tao là Quốc Gia, còn mày thì đã là Cộng Sản. Quốc Gia không tin Cộng Sản.
– Tao chưa là cộng sản.
– Mày đeo súng hoạt động cho cộng sản, mày là cái gì? Nói thật rồi mày có đi tố cáo thì đi, tao không sợ đâu. Mày lúc này cộng sản không ra cộng sản, ngụy không ra ngụy, mày mình dơi đuôi chuột. cộng sản nó bắt mày hôm nào tao chưa biết nhưng Quốc Gia về thì mày chết trước. Mày tưởng Quốc Gia chết rồi à? Mày tưởng ngụy nhào rồi à? Ngụy nhào, Mỹ cút nhưng Quốc Gia vẫn sống hiên ngang. Quốc Gia sắp về. Mày mù, mày điếc nên không biết gì cả. Mày tự chặt cầu rồi, mày, mày… Tội nghiệp mày quá!bần thần, ngồi đưa tay bưng mặt khóc. Trần Chiêm Đông vẫn nói trong tiếng khóc của tôi:
– Tao rất sợ sự phẫn nộ của quần chúng khi Quốc Gia trở về. Mày gây thù hận ở các trường quận 3 khiếp quá.
Tôi nức nở:
– Mày cứu tao! Mày là bạn thân nhất của tao, Đồng ơi!
Nó nói:
– Mày tự cứu lấy.
– Tao tự cứu tao bằng cách nào?
– Làm sao tao biết được!
– Mày nói mày là Quốc Gia. Quốc Gia mới hay Quốc Gia cũ?
– Quốc Gia mới.
– Tao có thể là Quốc Gia mới không?
– Tự mày hỏi mày đi. Mày nên về suy nghĩ kỹ lưỡng. Mày cần nhìn rõ cộng sản đã.
– Tao suy nghĩ kỹ rồi.
– Chưa đâu. Người Quốc Gia mới không đùa với cộng sản bằng truyền đơn vớ vẩn. Tao chắc mày đánh giá người Quốc Gia mới như mấy anh Phục Quốc. Không. Phục Quốc là mặt nổi, mặt chìm của người Quốc Gia mới là đồ chơi sẽ đẩy chủ nghĩa cộng sản xuống hố thẳm của thời đại.
Tôi đâm ra nể sợ Trần Chiêm Đồng. Về sau, tôi phục nó, yêu mến nó hơn và mãi mãi tôi yêu mến nó. Bởi vì nó đã dẫn tôi đi trên con đường lạ lùng của tuổi trẻ ước mơ. Nó có vẻ không cần tôi vội vã. Nó bắt tôi suy nghĩ để tôi khỏi ân hận. Một tuần lễ sau, tôi lại tới nhà Trần Chiêm Đồng.
Nó hỏi tôi:
– Mày nhìn gì thêm về cộng sản chưa?
Tôi đáp:
– Rồi.
– Kể tao nghe!
– Nó đẩy tao vào đường chết. Nó chỉ thị tao phải cứng rắn với bọn học sinh Régina Mundi, Marie Curie mà nó thì lại ngọt xớt. Con mụ Bí thư chi đoàn nham hiểm thật.
– Nó cho mày giữ súng của nó để mày tự sát đấy.
– Tao sẽ bắn nó.
– Bắn nó đâu có chết chủ nghĩa cộng sản. Bắn chết chủ nghĩa cộng sản thì đảng cộng sản chết, chế độ cộng sản tiêu luôn. Người Quốc Gia mới chỉ cần bắn chết chủ nghĩa cộng sản thôi. Không bắn chết chủ nghĩa cộng sản, mọi việc chống đối, kháng chiến là trò đùa. Người Quốc Gia mới không võ trang bằng súng đạn Mỹ. Họ võ trang bằng tư tưởng. Tư tưởng mạnh hơn súng đạn.
– Ai dạy mày điều đó?
– Người Quốc Gia mới.
– Họ ở đâu?
– Sàigòn.
– Tao gặp được chứ?
– Được. Dù mày có phản bội, họ vẫn chấp nhận mày.
– Tao thật lòng.
– Mày chứng minh sự thật lòng của mày trước đi.
Tôi trả khẩu K54 cho chị Bí thư chi đoàn, báo cho chị ấy biết là tôi nghỉ hoạt động, không nêu lý do. Tôi đến các trường trung học ở quận 3 họp hành, xin lỗi và tuyến bố tự ý rút lui khỏi chức vụ phụ tá Bí thư. Tôi trả thẻ đoàn viên. Trần Chiêm Đồng hứa sẽ giới thiệu tôi với người Quốc Gia mới. Nó giữ lời hứa. Đồng dẫn tôi tới chùa An Lạc. Ngang qua một con hẻm, chúng tôi dừng lại vì công an đang ập vào một căn nhà và dân chúng lối xóm bu quanh đông nghẹt. Có gì lạ thế? Dân chúng nói, ông chủ căn nhà có thằng con trai 10 tuổi. Nó là thiếu niên quàng khăn đỏ tiên tiến, xuất sắc, gương mẫu. Nó đi họp hành tối ngày, người ta giáo dục nó kiểm soát cha mẹ và tố cáo với phường khóm ngay nếu phát hiện tội lỗi của cha mẹ. Hôm nay, thằng thiếu niên khăn đỏ, “cháu ngoan bác hồ” tố cáo cha nó chôn dấu súng với công an phường. Công an đến khám xét.
Chúng tôi tò mò đứng chờ kết quả. Công an còng tay bố thằng thiếu niên lôi đi với khẩu M16 bọc ni-lông dính đầy đất ướt. Thằng bé đã được học tập căm thù để đưa bố nó vào tù. Tôi nhìn rõ mặt thằng bé. Nó cười hớn hở khi ông phường trưởng xoa đầu biểu dương nó. Còn mẹ nó thì khóc sướt mướt. Hình ảnh đó, hôm nay tôi vẫn chưa quên. Tôi cám ơn Trần Chiêm Đồng đã lôi tôi ra khỏi tội ác. Chúng tôi bỏ đi. Lòng tôi dậy lên con sóng phẫn nộ. cộng sản là thế, là con nít cũng không tha đầu độc, hủy diệt tình nghĩa của nó. Tôi vào chùa An Lạc, gặp chú tiểu Thích Thanh Bần. Chú pha trà mời tôi uống và hỏi tôi:
– Anh viếng chùa hay tôi?
Trần Chiêm Đồng nói:
– Anh ấy viếng chú. Tôi đã bảo chú là anh Ngô Tỵ sẽ đến thăm chú.
Tôi nói:
– Hân hạnh quen biết chú.
Chú tiểu cười thật dễ thương.
– Đừng gọi tôi là chú nữa, tôi chưa xứng đáng để anh phải thủ lễ. Anh Đồng là bạn học cũ lại năng viếng chùa, chúng tôi coi nhau như anh em, cùng gia đình Phật tử cả.
Cạn chén trà, chú tiểu hỏi:
– Anh Tỵ gặp tôi là muốn tìm hiểu người Quốc Gia mới phải không?
Tôi đáp:
– Vâng, tôi tha thiết gặp mặt người lãnh tụ.
Chú tiểu lại cười:
– Theo tôi biết thì họ không có lãnh tụ, họ chỉ có người mở đường, người này chưa tiện gặp ai. Anh Đồng cũng chưa gặp.
Trong khi chú tiểu và tôi nói chuyện, Trần Chiêm Đồng ngồi im hút thuốc, uống nước.
– Thỉnh thoảng, người ấy ghé chùa, tôi có dịp nghe người ấy nói về tương lai dân tộc Việt Nam và cái thế tất bại của chủ nghĩa cộng sản. Người ấy quả là con người ước mơ. Anh Tỵ có nhiều mơ ước không?
– Tôi ít ước mơ lắm.
– Tuổi trẻ cần nhiều ước mơ. Ước mơ 10 ngọn núi rồi thực hiện 1 ngọn núi là đủ. cộng sản thật bất hạnh vì họ không biết ước mơ. Họ chỉ biết tạo ra đau khổ và bắt con người phải chịu đựng.
Giọng nói của chú tiểu quyến rũ vô cùng. Tôi nghe chú nói bằng cả tâm hồn tôi. Tôi không ngờ, chỉ bằng tuổi tôi thôi, mà chú ấy quảng bác quá. Chú ấy phân tích những sự sai lầm của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản và chứng minh hai chủ nghĩa này cùng đốn mạt và đã toa rập với nhau hủy hoại văn minh Việt Nam, cày nát quê hương Việt Nam và làm điêu đứng dân tộc Việt Nam. Chú ấy nói về chủ thuyết tiểu tư sản. Tôi ngẩn ngơ. Tôi mê mẩn và tôi chìm đắm vào cái chủ thuyết tuyệt vời đó. Chú ấy bảo cha đẻ của chủ thuyết này là người tôi muốn gặp mặt. Tôi rất tin tưởng vào cái thế tất thắng của người Quốc Gia mới.
Sau hôm đó, tôi thường lui tới chùa An Lạc. Mỗi lần ngồi nghe chú tiểu luận bàn thời thế là mỗi lần tôi vẽ thêm mơ ước. Tôi chưa gặp người mở đường cũng chưa được giao công tác gì. Tôi nghĩ họ còn thử thách tôi. Nếu họ giao công tác, bất cứ công tác nào, nguy hiểm cách mấy, tôi sẽ nhận và thực hiện bằng được. Tôi hơi buồn vì tưởng mình bị thử thách. Lần chót, chú tiểu xua tan lớp mây ngờ vực của tôi:
– Chiến đấu bằng tư tưởng khác với chiến đấu bằng súng đạn. Súng đạn chỉ giải quyết ở chiến trường, không giải quyết được lòng người. Đó là kinh nghiệm chiến thắng của cộng sản. Cuộc chiến đấu của chúng ta sẽ chiến thắng bằng chính tư tưởng của mọi người trong toàn thể dân tộc ta. Khi mọi người đều thấm tư tưởng mới thì vũ khí là trái tim mạnh hơn cả nguyên tử. Bởi vậy, chúng ta phải kiên nhẫn, phải chờ đợi tư tưởng thấm vào hồn.
Tư tưởng mới nằm trong chủ nghĩa tiểu tư sản. Tôi hiểu và tôi cảm thấy có cái gì khác lạ xứng đáng để tôi dấn thân. Sự liên hệ của tôi với Trần Chiêm Đồng và chú tiểu Thích Thanh Bần mới đến thế. Tôi đem những gì nghe được ở chùa An Lạc kể cho bạn hữu nghe, đứa nào cũng khoái và muốn đến chùa. Bạn hữu tôi lại kể cho những người quen thân khác. Và chú tiểu nói như thế là vận động tư tưởng là công tác trọng đại. Rồi, tự nhiên, công an bảo vệ chính trị tới nhà tôi bắt tôi giam nhốt. Tôi hoàn toàn không hiểu tại sao, do đâu tôi bị bắt. Ông bảo tôi khai hết sự thật, tôi đã khai hết sự thật. Chẳng cần dấu diếm làm gì. Tôi đã thấy Trần Chiêm Đồng và chú tiểu Thích Thanh Bần ở cachot đối diện cachot tôi. Họ ra hiệu cho phép tôi nói thật, nói hết. Chiến đấu bằng tư tưởng là chiến đấu đẹp, là chiến đấu cho sự thật, cần chi phải gian dối.
Tôi còn muốn nói thật với ông rằng, không có thứ gì tẩy xóa nổi sự say mê chủ nghĩa tiểu tư sản đã khắc sâu trong tâm hồn tôi. Ông đừng dối lòng ông là ông không thèm làm người tiểu tư sản. Hãy liệng cái xe Honda của ông xuống sông rồi gạ đi chung xe với đồng chí của ông xem sao! À, lúc ấy ông sẽ thấy quyền tư hữu của cộng sản và ông mơ ước làm người tiểu tư sản hào sảng, thông minh, lãng mạn. Cái nôi của loài người không là chủ nghĩa cộng sản đâu. Mà là chủ nghĩa tiểu tư sản.»
Trước khi bước ra khỏi nhà Tố Nga quay lại nói nhỏ với em:
– Chị biết nhà mình thiếu gạo tháng này rồi nhưng chắc cũng sẽ xoay được thôi. Trưa về chúng mình sẽ liệu.
Tố Uyên vỗ vai chị:
– Chị cẩn thận, bọn quản giáo Hương và mấy đồng chí của nó bám chị em mình không được, coi chừng chúng dở trò hoặc theo dõi chuyện khác đấy!
Tố Nga ra khỏi nhà mang theo hai nỗi lo. Tình trạng kinh tế gia đình ngày một thiếu hụt, hai chị em cố xoay xở mọi bề nhưng ngày càng khó sống. Thầy mẹ đang tình trạng già yếu mà nhà lại không có con trai. Nỗi lo thứ hai, Tố Nga biết cuộc tình vô vọng với Nghi sẽ nhiều bất trắc nhưng Tố Nga không thể nào cưỡng lại được. Nghi thấy điều đó và cũng đã tâm sự với Tố Nga. Anh lo sợ về an ninh của Tố Nga và bản thân. Nếu mọi chuyện vỡ lở thì cái tội cấu kết với thành phần có tội phản động sẽ là của Tố Nga và với Nghi thì tội âm mưu trốn trại, quan hệ với thành phần xấu trong xã hội và biết đâu lại không thêm một cái án hiếp dâm ly kỳ không chừng! Bấy nhiêu đó thì chắc Tố Nga sẽ nguy khốn, còn Nghi, cũng có thể bỏ mạng. Nghi khuyên Tố Nga nên nhìn vào thực tế đời sống, nhưng cũng như bao nhiêu lần, anh không thể dứt khoát trước những dòng nước mắt lặng lẽ chảy dài trên đôi má của Tố Nga.
Tình yêu là trái cấm. Càng khó khăn cách trở, càng đam mê. Càng hồi hộp âu lo, càng liều lĩnh. Trong tim Tố Nga như có thêm một mệnh lệnh thầm kín nào đó, Tố Nga không thể nào hiểu được. Có lẽ đây là trường hợp đúng nhất để hiểu câu con tim có lý lẽ riêng của nó!
Cả hai tuần qua Tố Nga không gặp được Nghi. Lòng cô nôn nóng. Đợt hàng hợp tác xã phân phối về có cái tem phiếu được một ký thịt lợn, Tố Nga dành gần phân nửa, xào nấu, rồi tìm cách đi gặp Nghi. Cũng may là Tố Uyên lại biểu đồng tình với chị, nên chuyện lớn, chuyện nhỏ, hai chị em thường thì thầm với nhau.
Với buổi sáng nơi núi rừng chưa qua cơn ngái ngủ về đêm, con đường đất sỏi như rộng hơn. Tố Nga cắm cúi đi. Cô nghe cả tiếng lạo xạo trên đất theo từng bước chân. Nhịp tim cô cũng nôn nóng nhưng phân vân. Trạng thái mâu thuẫn tự nhiên, đến rồi đi, rồi lại đến. Cái gùi cô vẫn mang trên vai như cô đang đi rừng tìm măng. Cô không có được bước chân bay bổng của một người được tự do hò hẹn với người yêu. Cô không có được ước mơ được người yêu đứng đợi nơi chỗ hẹn hò, để được nhào tới ôm nhau và một nụ hôn như không bao giờ rời ra được. Cô vẫn phải cảnh giác! Núi rừng chung quanh, cây lá chung quanh như vẫn có đôi mắt nào đó, đang dòm ngó theo dõi. Hai tuần qua không gặp Nghi, Nghi sẽ ra sao? Có bao giờ hôm nay Nghi lại ốm, không đi theo toán cưa xẻ không? Tố Nga và Nghi chỉ luôn luôn như những kẻ gặp nhau tình cờ, không thể có hẹn hò như những cặp tình nhân khác.
Qua khỏi con đường mòn đi lên ngọn đồi có toán cưa xẻ của Nghi đã khá xa, nhưng đây cũng là mục đích của Tố Nga, để đánh lạc hướng những đôi mắt vô hình đang theo dõi. Nhìn trước sau, đường vẫn vắng vẻ, Tố Nga rẽ vào trong rừng và thoáng chốc đã mất hút trong cái mênh mông tĩnh mịch của núi rừng buổi sáng.
Tố Nga cố tranh thủ tìm cho được vài mụn măng bỏ vào gùi, để không ai có thể nghi ngờ cô nếu tình cờ gặp bộ đội hay quản giáo. Sau đó cô đi ngược về ngọn đồi nơi có toán cưa xẻ của Nghi. Dòng suối nơi lần đầu tiên Tố Nga gặp Nghi lại hiện ra. Dòng nước, dòng thời gian vẫn cứ róc rách trôi. Mới đó mà đã gần hai tháng qua và còn bao lâu nữa Nghi sẽ bị chuyển trại? Câu hỏi đến thật bất ngờ. Thật đau đớn.
Tố Nga không đi theo lối mòn quen, cô tìm một lối đi mới để đề phòng bất trắc. Đến lưng chừng đồi Tố Nga đã nghe được tiếng rèn rẹt của lưỡi cưa ăn vào gỗ. Rồi tiếng rèn rẹt mỗi lúc một lớn hơn, Tố Nga đã thấy được nhóm người cưa xẻ. Ngồi quan sát không thấy có ai lạ, Tố Nga ném một viên sỏi để bắn tin, viên sỏi đụng nhánh cây rơi xuống. Cô ném lần thứ hai thành công, rồi ngồi yên chờ đợi.
Nghe tiếng viên sỏi rơi xuống đất, Nghi hiểu. Toán cưa xẻ cũng hiểu. Nghi nói với Đương cốm điều gì đó, rồi lấy cái thùng vội vã đi xuống suối lấy nước. Đi một quảng, thấy không có gì nghi ngờ, Nghi rẽ vào lối khác.
Rừng núi lại như một vòng tay ôm bảo bọc cho đôi tình nhân gặp gỡ.
Tố Nga không nói được lời nào, chỉ nhìn Nghi, rồi lặng lẽ khóc. Cô khóc, vì thời gian sẽ không chờ đợi một ai. Rồi một ngày nào đó, có thể rất gần, rất bất ngờ Nghi sẽ bị đưa đi nơi khác và chắc chắn sẽ không một lời báo trước. Cái mong manh của tình yêu như những bóng nắng đang nhởn nhơ trước mắt rồi vội mất. Như những bong bóng trước hiên mưa nhà cô những chiều tha thiết. Vỡ nát. Tan biến. Và nhạt nhòa trong ảm đạm trời buồn.
Ôm Tố Nga trong vòng tay, Nghi không hiểu được tâm trạng của người yêu, nên hỏi:
– Em có chuyện gì buồn phải không? Có phải thầy mẹ biết và can ngăn?
Nghi lấy tay áo của mình, lau những giọt nước mắt cho Tố Nga.
– Không anh ạ. Bỗng dưng em thấy cái mong manh của cuộc tình nên khóc. Thế thôi.
Nghi thở dài. Anh cũng cảm thấy như vậy, anh nói:
– Chúng mình đều biết tình yêu sẽ không có đoạn kết và càng ngày càng nguy hiểm cho em hơn.
– Nhưng thà hoàn cảnh buộc chúng mình xa nhau, chứ riêng em không thể nào đủ can đảm chấm dứt. Mỗi lần gặp gỡ em luôn mang tâm trạng là lần gặp sau cùng.
– Em thật lãng mạn nhưng anh cũng cùng tâm trạng đó.
Nghi cuối xuống cởi chiếc giày màu nâu tím đã sờn rách, mà lúc còn ở trong Nam anh đã tự may bằng vải áo giáp nhuộm với màu trái lựu đạn khói trước sự ngạc nhiên của Tố Nga. Anh lần gở từ trong mũi giày, lấy ra một bọc plastic anh đã giấu trong đó. Anh nói:
– Anh biết những khó khăn về vật chất mà vô tình em phải gánh chịu thêm từ ngày chúng mình gặp nhau. Anh đoán được sự khó khăn đó của gia đình em và sự hy sinh của em và Tố Uyên. Cả nhóm cưa xẻ tụi anh đều hiểu điều đó. Mà lần nào gặp gỡ cũng như là lần sau cùng, do đó anh mong em nhận chút quà nầy.
Tố Nga ngạc nhiên và phân vân. Nghi ôm lấy Tố Nga, đặt lên môi cô một nụ hôn thật dài, rồi nói:
– Em nhận đi để anh vui.
– Mà vật gì thế cơ?
– Cái đồng hồ đeo tay của anh. Trước năm 1975 tại miền Nam nó có chút giá trị, nên anh nghĩ bây giờ có lẽ có giá trị nhiều hơn. Anh chưa bao giờ đăng ký nộp cho trại tù và cố giấu cho đến bây giờ.
Ngưng giây lát, Nghi tiếp:
– Chúng mình không có thời gian. Mong em đừng từ chối.
Tố Nga đón nhận và từng dòng nước mắt lại nhạt nhòa trên má.
– Là cái đồng hồ đẹp như thế nầy thì có lẽ cả đời em cũng không thể mơ mình có được.
Nghi nói thêm:
– Đừng quan trọng nó là vật kỷ niệm cần phải giữ lại. Em nên giải quyết tùy theo hoàn cảnh của gia đình.
Tố Nga tựa đầu nơi ngực Nghi. Nghi vỗ về:
– Em nghĩ có thể giúp tụi anh trong một kế hoạch trốn trại được không? Tụi anh biết, cho đến bây giờ vẫn chưa có một tù nào trốn trại và thoát được nhưng sớm muộn gì cũng chết, nên cố tìm cái sống trong cái chết, em nghĩ sao?
Đôi mắt Tố Nga chợt ráo hoảnh. Cô ngồi thẳng người lại, nhìn trực diện với Nghi:
– Em cũng có nghĩ đến điều nầy. Nhưng rừng núi rất hiểm trở, khó thể thoát.
Tố Nga tiếp:
– Anh đừng nói gì thêm cả. Em hiểu. Em chấp nhận vì yêu anh. Nhưng liệu có thoát được hay không? Ở đây có hai hướng đi theo hai lộ chính khác nhau. Một về hướng Yên Báy, xa khoảng hơn bốn mươi ki lô mét, rồi từ Yên Báy đi ngược lên biên giới Trung Quốc cả trăm ki lô mét. Hướng thứ hai, đi về Nghĩa Lộ, cũng hơn mấy trăm ki lô mét mới sang Lào. Nhưng cả hai tuyến đường đều không thể nào đi thoát được, vì công an và dân chúng. Còn băng rừng, lội suối thì vô cùng hiểm trở, em không thể biết được… Thực phẩm, quần áo, em có thể lo được và chôn giấu ngoài nầy.
– Tụi anh có ba người. Liệu có cách nào cải trang và di chuyển bằng xe ra Yên Báy và từ Yên Báy lên gần biên giới Trung Quốc, rồi từ đó tụi anh băng rừng?
– Trước mắt em thấy không có cách nào. Vì dân ở đây rất ít, nên mọi người nhẵn mặt với nhau. Chỉ một người di chuyển bằng xe, cả ô tô cơ động hoặc xe đạp cũng khó thoát rồi.
Nghi lần trong ve áo ra trao cho Tố Nga một mảnh giấy nhỏ, ghi địa chỉ nhà anh ở Sài Gòn. Anh nói:
– Em giữ cẩn thận mảnh giấy nầy, nếu bất cứ trường hợp nào chúng mình không còn liên lạc được với nhau thì địa chỉ nhà ba má anh ở Sài Gòn là nơi liên lạc. Đây là tín hiệu để ba má anh nhận diện được người mà anh tin tưởng và nhờ đưa tin. Phải có nét chữ viết của anh và loại giấy đặc biệt nầy. Nếu tụi anh trốn đi, em cố gắng tin cho ba má anh biết. Em đừng nghi ngại gì cả. Ba má anh hiền lành và phúc hậu lắm!
– Đi vào Nam thì chưa chắc em dám đi. Còn gửi thư thì em sẽ tìm cách an toàn để gửi nhưng thư từ trong Sài Gòn gửi tới đây không chắc gì không bị rà xét hoặc bị giữ lại tại công an để điều tra trước khi đến tay em. Công an đã nắm vững lý lịch từng gia đình và bọn chúng cũng bám theo Tố Uyên và em nữa. Chúng biết rõ gia đình em không có quen biết ai ở Sài Gòn cả anh ạ.
Tố Nga tiếp:
– Ờ nhỉ, thế sao anh lại không viết một lá thư cho gia đình để em gửi…
Vừa nghe Tố Nga mách nước, Nghi bừng tỉnh. Anh ôm chầm lấy Tố Nga:
– Anh đã nói là em vừa đẹp, vừa thông minh mà!
Tố Nga xúc động lắm. Cô cố đẩy Nghi ra:
– Cái anh này…
Giây phút tuyệt vời. Giây phút mặt trời như đứng lại nhìn xem cây lá vỗ về trên da thịt.
(Hình chụp: Nhiếp Ảnh Gia Nguyễn Ngọc Hạnh) Nguồn Internet
Câu chuyện này xảy ra vào khoảng tháng 4 năm 1977, tại trại Tập trung ở Bù Gia Mập.Khu trại K3 gồm 3 dãy nhà lá, sắp theo hình chữ U. Mỗi dãy có 3 căn. Nhà bếp và nhà ăn ở trong khoảng miệng của chữ U. Khi bị chuyển từ trại Suối Máu lên đây, anh em tù nhân đã cất những nhà này. Họ đều là những Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đặc biệt có rất nhiều Bác sĩ Quân Y, từ Thiếu tá đến Trung tá. Tôi chỉ nhắc lại sơ sơ một số nhỏ: Y sĩ Trung tá Nguyễn Đức Liên, Y sĩ Trung tá Phạm Hữu Thi. Y sĩ Thiếu tá Trần Văn Tích, Y sĩ Thiếu tá Bùi Nghĩa Bỉnh, Y sĩ Thiếu tá Hồ Trí Dõng, Y sĩ Thiếu tá Trần Xuân Dũng, Y sĩ Thiếu tá Vũ Văn Quynh.
Vũ Văn Quynh cùng học PCB với tôi ở Khoa Học Đại Học Sàigòn, năm 1958. Sau đó, cùng lớp Năm thứ 1 Y Khoa, Y Dược Đại Học Đường Sàigòn, ở đường Trần Quí Cáp. Cuối năm đó Quynh bị rớt. Kết quả là tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ sau tôi một năm.
Quynh rất vạm vỡ, nhưng không cao lớn. Tính Quynh bộp chộp. Thuận mồm thì nói, vui miệng thì cười. Không thâm hiểm, không nịnh bợ. Mỗi lần toe toét với anh em bạn bè, thì để lộ ra một hai cái răng vàng. Quynh từ Pháp về Việt Nam học PCB, nên nói tiếng Tây như mây bay gió cuốn. Tôi phục Quynh lắm.
Khi Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân về làm Chỉ Huy trưởng Trường Quân Y, một số Quân Y sĩ Nhảy Dù được kéo về theo. Thí dụ như Vũ Khắc Niệm, Đoàn Văn Bá, Hoàng Ngọc Giao, Vũ Văn Quynh. Quynh ở Đơn vị này cho đến khi mất nước vào tháng 4 năm 1975.
Khi bị nhốt trong những trại tập trung của Việt Cộng (mà chúng gọi là trại cải tạo), Quynh và tôi cùng gặp nhau ở khu K3 trại Suối Máu. Trại có 22 căn nhà. Tôi ở căn nhà số 6, Quynh ở căn nhà số 12. Tuy 2 số cách nhau như vậy nhưng thật ra hai đầu nhà chỉ cách nhau có một con đường chừng 3 thước. Do ngẫu nhiên bọn cai tù Việt Cộng chỉ định Quynh làm đại diện cho anh em tù trong căn nhà số 12, và tôi cũng bị chỉ định đại diện cho căn nhà số 6. Mỗi buổi chiều, trước giờ ăn cơm, cứ khoảng 5 rưỡi là Quynh và tôi đều phải tới hội trường gặp tên cai tù phụ trách, để nhận công tác cho ngày hôm sau, rồi về sắp xếp anh em.
Mặc dù cùng học, biết nhau nhiều năm và cùng ở trong hoàn cảnh tù, khổ sở cùng cực nhưng tôi và Quynh chưa bao giờ trở thành một đôi bạn chí thân – không lúc nào sơ hơn, mà cũng chẳng khi nào gần hơn.
Khi bị chuyển trại lên Bù Gia Mập, Quynh và tôi lại ở cùng một dãy. Quynh ở căn nhà gần cổng ra vào. Tôi ở căn giữa. Cả hai đều may mắn là không còn bị chỉ định đại diện cho tù nhân trong căn nhà nào cả.
Ngày ngày, 600-700 Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bị lùa lên núi đồi xung quanh trại để làm những công việc khổ sai. Chặt tre, đẵn gỗ, phá rừng, trồng lúa, trồng khoai mì, v.v
Tuy công việc nặng nề, nhưng ai cũng cảm thấy dễ chịu hơn lúc ở Suối Máu. Lý do là đỡ cuồng cẳng, và được thở không khí thiên nhiên. Trong khi ở Suối Máu, lúc nào cũng như bị nướng trong dãy nhà tôn vào mùa hè, và xung quanh là hàng rào kẽm gai với những họng súng đại liên trên vọng gác. Gần Sàigòn hơn, nhưng đúng là trong trại giam. Còn ở Bù Gia Mập, được lên núi, xuống đồi, không khí căng thẳng của tình cảnh bị tù đầy giảm bớt. Mặc dù vậy, nỗi thê lương vẫn đè nặng trong tim mỗi người. Ai cũng vẫn hiểu rằng: Ngày về xa lắm! Người ơi!
Vì trại ở gần biên giới Việt Miên, nên những người thân với nhau, thường nghĩ đến chuyện vượt biên giới để sang Cao Miên, rồi lần mò tìm đường sang Thái Lan để tìm Tự Do. Ngặt một nỗi, Miên bấy giờ cũng đang ở trong tay Khmer Đỏ. Cho dù có vượt được biên giới, rồi tới đất Miên đi chăng nữa, chắc gì đã thoát chết.
Do đó không ai tính đến chuyện đó nữa. Một hôm, như thường lệ những người tù của trại lại được đưa lên những ngọn đồi rải rác quanh đó để làm việc. Hôm đó trời nắng đẹp, không nóng lắm, vào khoảng tháng 4 năm 1977. Đến 5 giờ chiều, họ lại được trở về trại, rồi xuống nhà ăn, ăn cơm chiều.
Đang nửa chừng bữa, bỗng lũ công an cai tù của toàn trại, lăm lăm cầm tiểu liên AK 47 chạy tới, hạ lệnh mọi người phải lập tức trở về dãy nhà ở, và ai nấy phải ngồi yên tạÏi chỗ ngủ của mình. Đám tù đứng lên ngay. Người đã nuốt xong miếng cơm chót. Kẻ còn chút xíu trong lon hay trong ca, trong chén của mình cũng chỉ cần cầm cái đồ đựng đó đứng lên là xong. Về đến dãy nhà ở, không ai được phép di chuyển khỏi chỗ nằm của mình. Cấm không được trò chuyện.
Cả cái khoảng sân rộng, nằm giữa 3 dãy nhà nối tiếp nhau xếp thành hình chữ U, không một bóng người. Chỉ có những phần tử thuộc loài động vật nón cối, lăm lăm cầm AK 47 đi đi lại lại, sẵn sàng bóp cò tiểu liên nhả đạn. Ở mỗi đầu nhà hay dọc theo hai bên, những động vật này cũng đứng ngồi, hờm sẵn.
Những người tù chúng tôi đương nhiên không hiểu chuyện gì. Trong suốt chín tháng ở trại này, ngày hôm nay căng thẳng nhất. Những người lạc quan, bụng bảo dạ, chắc có đánh nhau ở vùng biên giới gần trại, nên bọn Việt Cộng phải canh giữ gắt, để phòng có một lực lượng nào đó đến phá trại giải thoát đám Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang bị giam. Những kẻ bi quan, không phải là không có lý do, nghĩ rằng, chỉ chốc lát nữa thôi sẽ có một đoàn xe vài chục chiếcMolotova kéo vào sân, chở cả lũ ra Bắc. Như một lần chuyển trại nữa, thế thôi ! Mỗi người, tự nêu một ảo vọng, hoặc tự nghĩ đến một nỗi kinh hoàng mới.
Khoảng mười lăm phút sau, mấy tên cai tù đi vào mỗi căn nhà, điểm danh, đếm từng người một, rồi bỏ đi. Trong căn nhà tôi ở, không thiếu một ai.
Trời tối hẳn, không khí căng thẳng càng trở nên ngột ngạt. Những động vật nón cối vẫn không ngớt lởn vởn. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi giật mình. Vài tràng súng AK nổ, vọng về từ hướng cái suối mà anh em vẫn thường xuống tắm giặt. Những người đang hy vọng có đánh nhau ở vùng biên giới, mắt sáng hẳn lên. Họ chờ những tràng súng lớn, dù của bên nào. Đại bác hay đại liên mà nổ lên, thì vui quá. Không phải vui tai, nhưng đủ cho ảo vọng lớn dần lên. Còn nhóm âu lo bị chở ra Bắc, không có phản ứng. Vài tiếng súng từ rừng vọng ra không thể mang lại ý nghĩa gì. Nhưng dù sao, chắc chắn là có chuyện rồi, ai cũng nghĩ thế.
Mấy tiếng đồng hồ trôi qua. Khoảng 10 giờ tối, cai tù cho lệnh tất cả phải ra sân ngồi xuống.
Tên quản giáo lên tiếng. Ở bất cứ nơi đâu, và vào bất cứ lúc nào, lời mở đầu của 1 tên cai tù Việt Cộng cũng giống nhau. Bất biến. Lời ca tụng cái thằng Bác Hồ, cái đảng Cộng sản, và cái chính sách tập trung Sĩ Quan cũng như Công chức của Chính quyền cũ để cải tạo.
Đoạn tên quản giáo cho biết, chiều hôm đó, 6 tên Ngụy không chịu cải tạo đã bỏ trốn trại này.
Nó đọc tên:
– Vũ Văn Quynh
– Đỗ Đình Tiêu
– Tôn Thất Hy
và 3 người nữa.
Tôi giật mình. Trong số 6 người tôi biết 3. Mới chiều hôm trước, Bác sĩ Vũ Văn Quynh còn đứng trước cửa căn nhà tôi ở, bô bô với tôi và vài anh em khác, để lộ ra một hai chiếc răng vàng khi toe toét cười.
Còn Đỗ Đình Tiêu, tôi quen từ hồi còn bị nhốt trong trại Suối Máu. Người dong dỏng cao, Tiêu có khuôn mặt rắn rỏi. Một hôm khi nghe nói Tiêu có họ là Đỗ Đình, tôi buột miệng hỏi:
Vậy anh có họ gì với Đỗ Đình Phương không?
Tiêu đáp: Tôi là em ruột của Anh Phương.
Tôi bảo: Tôi là học trò Tây Ban Cầm của Anh Phương, và cũng là bạn của anh ấy nữa (Đỗ Đình Phương là đệ nhất danh thủ Tây Ban Cầm của Việt Nam Cộng Hòa – Dạy ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc).
Vì nghe tôi nói là bạn của Phương và đồng thời là bạn của Bác sĩ Lê Đình Tuân – anh rể của Phương, nên Tiêu cũng hoan hỉ trò chuyện. Chắc Tiêu nghĩ, có thêm 1 người liên quan chút ít với gia đình mình, thì cũng vui, để thỉnh thoảng có thể nói về những truyện trong nhà. Phương với Tiêu là con ông Đỗ Đình Đạo, một đảng viên có tên tuổi trong Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20-07-1954, dân chúng miền Bắc nhốn nháo. Trong lúc mọi người sửa soạn di cư thì ông Đỗ Đình Đạo bị một nữ cán bộ Cộng sản tên là Thụy An lừa đến nhà rồi đầu độc chết. Báo chí đăng ngay tin đó trên trang nhất. Dư luận xôn xao. Nhưng chỉ vài ngày sau, vụ án mạng đó bị quên đi một cách mau chóng, vì những diễn biến dồn dập xảy ra trên đất Bắc và những ưu tư chồng chất trên đầu óc mọi người.
Ở Bù Gia Mập, Tiêu không ở trong cùng dãy nhà với tôi mà cũng chẳng ở cùng căn với Quynh.
Còn Tôn Thất Hy là một Thiếu tá Quân Cụ. Người rất cao, có thể tới 1m80, và đen. Tay chân hợp với kích thước cơ thể và rất mạnh.
Do hoàn cảnh nào, 6 người này quen nhau, và thân thiết với nhau, để rồi bàn tính cùng nhau trốn trại, tôi không rõ.
Sau khi đọc tên 6 người, tên quản giáo đe dọa chúng tôi đủ điều và trước khi dứt lời, hắn cho biết là công an của trại đã bắt lại được hết.
Đêm ấy, rất nhiều người không ngủ được. Tôi cũng không tài nào chợp mắt. Thỉnh thoảng, từ xa xa trong rừng vẫn vọng về vài tràng súng AK 47. Tôi nghĩ thầm: Tên quản giáo nói đã bắt được hết cả là nói láo. Nếu đã bắt được họ, sao công an của trại không giải ra cho mọi người thấy, đánh đập thẳng tay để khủng bố tinh thần anh em chúng tôi. Hơn nữa, nếu đã bắt được rồi, thì sao còn những tràng súng AK bắn ở trong rừng.
Ai cũng mong 6 người đó đi thoát. Họ có thoát được, những người khác mới nghĩ kế làm theo. Còn nếu họ bị bắt, ý nghĩ trốn trại của anh em sẽ bị xoi mòn.
Sáng ngày hôm sau, mọi người vẫn bị đưa đi lên đồi hay núi làm công việc khổ sai thường lệ. Lẽ dĩ nhiên, với sự tăng cường canh phòng của toán công an đi theo. Rồi những ngày kế tiếp, cũng không thấy bọn quản giáo dẫn 6 người ra trước mắt mọi người, để xử bắn, giống như cách chúng đã làm hồi ở Suối Máu, đối với mấy người bỏ trốn mà bị bắt lại.
Sau khi được thả về, tôi tìm cách vượt biển. May mắn thành công. Sống ở trên đất tự do, tôi bèn đem sách Y khoa ra học gạo lần nữa ở trong đời. Sau vài năm, được hành nghề Bác sĩ trở lại. Một hôm, khi tôi từ Phòng mạch vừa về tới nhà thì vợ tôi hỏi:
– Anh còn nhớ thằng M không? Nó là con của bà cô ruột em ấy mà?
– Có chứ! Có phải cái thằng to con mà tóc xù chứ gì? Tôi đáp.
– Đúng nó đấy.
– Độ này nó ra sao ? Có còn ở Hàng Sanh cùng với cô không? Tôi hỏi.
– Thì em đang định nói chuyện về nó với anh đây! Sau khi mình thoát khỏi Việt Nam thì nó cũng tìm cách vượt biển. Xui xẻo cho nó, bị Việt Cộng bắt đưa lên nhốt ở Bù Gia Mập. Em không biết có phải đúng chỗ anh bị giữ hồi trước không. Nhưng chắc chắn là Bù Gia Mập rồi.
– Bù Gia Mập rộng lắm. Có rất nhiều trại. Dù bị nhốt ở trại nào thì cũng khốn khổ. Tôi ngắt ngang.
– Vợ tôi nói tiếp: Chẳng biết bao lâu sau, nó trốn trại. Hôm nay em nói chuyện về nó, vì tuần trước em mới nhận được thơ của bà cô báo tin là nó đã tới được Mỹ, ở với nhạc phụ. Bà cô còn cho em số điện thoại để liên lạc với nhau. Chiều hôm nay em đã nói chuyện được với nó mấy tiếng đồng hồ liền.
– Nó kể: Bị nhốt ở Bù Gia Mập mấy năm, không được thả, tôi bèn tìm cách trốn trại. Tôi có biết phương hướng chính xác gì đâu. Chỉ phỏng đoán, nhắm về phía Sàigòn mà đi. Nhưng không thể nào giữ cho khỏi lạc được. Quanh quẩn mấy ngày. Một buổi xế chiều, đang loay hoay tìm lối ở trong rừng, tôi bỗng đá phải một cái xác. Nhìn xuống, thì đó là một bộ xương người rất lớn. Tôi hoảng sợ quá, muốn chạy mà không cất bước nổi. Mà chạy hướng nào bây giờ ? Tôi ráng nhìn quanh thì nổi da gà. Tôi thấy 5 bộ xương nữa, tổng cộng là 6. Bộ thì co, bộ thì duỗi, bộ nằm nghiêng, bộ nằm ngửa. Thịt, da trên mặt đã biến mất hết. Ròi bọ cũng không còn. Riêng có một bộ ngồi dựa vào gốc cây, hàm răng có vài cái răng vàng hắt ánh ra trong lúc trời chạng vạng tối ở giữa rừng. Nhìn thấy thế, tôi chẳng còn kịp suy nghĩ đến phương hướng gì nữa. Co giò chạy tuốt. Trời xui đất khiến làm sao, mấy ngày sau tôi cũng mò về được Sàigòn. Rồi lại vượt biển nữa. Sau đó được Mỹ nhận, vì có ông bố vợ đã định cư tại đó từ trước, bảo lãnh cho.
Vợ tôi ngưng kể lời người em họ.
Tôi ngậm ngùi, liên tưởng
Cũng xin nói thêm là sau khi được thả ra khỏi tù, tôi chưa hề kể cho vợ tôi nghe về việc trốn trại của 6 anh em kia. Rồi khi sống trên đất Tự Do, tôi cũng không đả động gì đến chuyện này cả. Còn cậu em họ vợ, tôi chưa bao giờ gặp lại sau thảm họa mất nước vào tháng 4 năm 1975. Và cậu ta cũng chưa bao giờ biết bạn bè tôi có những ai.
Kể từ năm 1991, mỗi khi có dịp đi tham dự Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do, tôi đều để ý tìm Bác sĩ Vũ Văn Quynh. Đồng thời hỏi những đồng nghiệp, xem có ai gặp anh không. Ở Paris, ở Florida, ở Montréal, ở San Jose, không bao giờ tôi thấy Quynh cả. Và mỗi lần nhận được một cuốn – Danh Sách Y Sĩ Việt Nam trên Thế Giới Tự Do mới, tôi đều giở vần Q ra để tìm tên và địa chỉ Anh.
Trước khi gửi bài này cho Tập San Y Sĩ, tôi lại giở cuốn Danh Sách Y Sĩ Việt Nam trên Thế Giới Tự Do, xuất bản năm 2008 ra, tìm lần nữa. Trên hai trang 196, 197 vẫn không thấy tên Bác sĩ Vũ Văn Quynh.
Hình bìa cuốn Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker, Nxb Hutchinson, London 1954; được Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần dịch với bút hiệu chung Hà Hợp Nghiêm, đăng từng kỳ trên báo Tình Thương từ số ra mắt 01.1964.
Lịch Sử Y Học
KENNETH WALKER
Bản Quốc văn của HÀ HỢP NGHIÊM
Bài 10 – Lịch Sử Y Học
TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
Kenneth Walker là một trong những thủ thuật gia lỗi lạc nhất của Anh quốc. Tốt nghiệp Đại học Cambridge và bệnh viện St. Bartholomew ở Luân Đôn, hội viên Học viện Giải phẫu Hoàng gia, ông nổi tiếng, ngoài y học thuần túy, về những tác phẩm y học và triết học của ông. Ông đã xuất bản: Lịch Sử Y Học và Lịch Sử của Máu. Ngoài ra ông còn cộng tác thường xuyên với nhiều tạp chí y học và khoa học lớn nhất hiện thời.
Trong cuốn Lịch Sử Y Học mà chúng tôi hân hạnh trình bày bản dịch dưới đây với quý vị độc giả, Kenneth Walker đã tóm tắt trong 20 chương, tất cả quá trình tiến hóa của Y học trong hơn 3000 năm, bắt đầu từ những văn minh tối cổ cho đến nền văn minh hiện đại, từ Hippocrates, Galien đến Pasteur, Fleming, cả một truyền thống lấy phụng sự làm động cơ, lấy lý trí làm hướng đạo, luôn luôn cố gắng cho đời thêm tươi đẹp, đáng sống. Tác giả đã phác họa hình ảnh người Y sĩ qua các thời đại: từ thầy phù thủy đội gạc hươu, qua thầy tư tế, đến người Y sĩ khoa học ngày nay, đội mũ trắng, mặc áo choàng trắng, và dĩ nhiên hay đeo kính trắng! Phù hợp với hình ảnh ấy, người y sĩ được thân chủ kính trọng và biết ơn, được xã hội bảo đảm một mức sinh hoạt khá.
Nhưng vinh lắm, lụy nhiều: xưa kia khoét mắt chặt tay, nay ba tòa kiện cáo, người y sĩ đã trải nhiều phen cay đắng. Ngoài ra, tác giả còn trình bày khái quát về việc huấn luyện y sĩ, từ khi tập sự đến lúc hành nghề, họ học hành ra sao và với tinh thần nào. Đấy là về phương diện nhân bản. Về mặt chuyên môn, tác giả chủ ý kể lại cho những người không chuyên môn đà tiến triển của khoa học y khoa: manh nha từ thế kỷ XVII cơ thể học, sinh lý học, tế bào học … Cơ thể học chẳng hạn, lại bắt đầu nhờ những họa sĩ nổi danh, trong đó có Léonardo da Vinci, Michelangelo và Rembrandt. Sau đó rất nhiều ngành mới xuất hiện: cơ thể bệnh lý với Morgagni, vi trùng học với Pasteur, phân tâm học với Freud. Đến nỗi người ta phải nhận rằng ngày nay bảy năm học y khoa ở trường đại học còn là quá ngắn! Những biến đổi về quan niệm căn bản của y học là quan niệm về bệnh tật cũng được tác giả trình bày cẩn thận. Khởi đầu là quan niệm siêu hình: bệnh do âm dương bất hòa, bệnh do thần linh quở phạt. Rồi đến Hippocrates, với quan niệm triết lý vững chãi hơn, đã dùng lý trí và quan sát thiết lập nền y học thực nghiệm. Cuối cùng là bộ ba Laënnec, Bernard, Pasteur đặt nền tảng khoa học cho nghề thuốc. Bởi là một hiện tượng xã hội, nên, hơn ở đâu hết, y khoa đã theo đúng tam trạng luật của Auguste Comte. Thời Trung cổ người ta còn tin rằng con người là một linh vật không thể mắc bệnh với các loài động vật khác. Khoa ký sinh trùng học ra đời đã lật đổ quan niệm đó. Bệnh dịch hạch chẳng hạn, theo quan niệm ngày nay, là một bệnh của loài gậm nhấm, mà con người chỉ tình cờ mắc phải.
Trong những chương cuối cùng, tác giả đã đặt ra những vấn đề khó khăn cho y học, mối nguy hại của những thầy “lang băm”, vấn đề khảo cứu và phát triển khoa học, v.v …
Lịch sử y học bắt đầu cùng với lịch sử loài người và là một phần của lịch sử đời sống trên mặt địa cầu. Người ta chờ đợi ở tác phẩm một quan điểm tiến hóa, và quả thật Kenneth Walker đã chứng tỏ được sự tiến bộ của loài người. Ở giữa cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ, bước tiến ấy cũng không là bao nhiêu; nhưng nhìn chung những đau khổ của nhân loại, ta thấy y khoa đã tiến bộ hữu hiệu trong công cuộc chống lại bệnh tật. Nơi đây người ta có thể vững lòng tin tưởng ở lý trí con người, ở tiến bộ khoa học, ở một tương lai xán lạn của nhân loại chống lại hoài nghi và hư vô chủ nghĩa.
Tuy thế, ngay ở mấy dòng đầu của chương nhất, tác giả đã thốt lên những lời kinh ngạc, thấy sự sống loài người vẫn tồn tại sau bao phiêu lưu mạo hiểm, bất chấp định luật đào thải tự nhiên của Darwin. Đời sống rút cục vẫn là một mầu nhiệm. Đấy là điểm hứng khởi của tác phẩm. Con tàu tự bến Luân Đôn, xuôi dòng sông Thames, đã tới cửa bể, du khách bàng hoàng nhìn chân trời mở rộng: một cuộc phiêu lưu mới bắt đầu. Chúng tôi ước mơ rằng, qua bản dịch dù còn nhiều sơ sót và sai lầm, mỗi độc giả viết thêm được cho cuốn sách “chương 21″. HÀ HỢP NGHIÊM
Ghi chú 56 năm sau (1963-2019):
Tác phẩm Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker được Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần dịch và đăng từng kỳ trên Nguyệt san Tình Thương từ số đầu tiên. Cũng giống như các tác phẩm Nuôi Sẹo của Triều Sơn, Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian còn đang dở dang … Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker được HàHợp Nghiêm dịch / chỉ mới đăng đến Chương VII trong tổng số 20 chương của cuốn sách; lý do báo Tình Thương bị đình bản năm 1967. Theo anh Hà Ngọc Thuần, thì sau biến cố 1975, bản dịch Lịch Sử Y Học để trong Tổng Y Viện Cộng Hòa và sau đó đã thất lạc hay bị thiêu hủy. Trong hơn nửa thế kỷ qua, Y học của nhân loại đã tiến thêm những bước khổng lồ, và trong Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn này, chúng tôi vẫn cho đăng lại Chương I: Y Học Thời Tiền Sử, như bước khởi đầu của Lịch Sử Y Học, cũng để bạn đọc có chút ý niệm về một công trình dịch thuật tài hoa và thận trọng của hai anh Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần, khi ấy cả hai anh mới đang là sinh viên năm thứ 3 trường Đại học Y khoa Sài Gòn.
Chương I.
Y Học Thời Tiền Sử
Đời sống là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm, vì nó bắt ta phải thích ứng liên tục với một môi trường luôn luôn thay đổi. Nhìn những khó khăn cơ thể chúng ta phải chống trả, ta không khỏi ngạc nhiên thấy chẳng những đời sống đã trường tồn trên trái đất mà còn tiến hóa dưới nhiều hình thức khác nhau. Nào là thay đổi bất ngờ của điều kiện thiên nhiên như từ nóng sang lạnh, từ ẩm ướt qua khô ráo, từ trời quang mây tạnh tới bão táp phong ba; nào là phải luôn luôn tìm kiếm thực phẩm, nào là những cuộc tấn công của các sinh vật khác cạnh tranh với ta; và còn biết bao nhiêu khổ nhọc khác. Tóm lại, từ triệu năm qua, con người đã gặp cả ngàn lẻ một sự rắc rối bất ngờ. Ngay từ lúc xuất hiện lần đầu trong đầm nước bùn lầy, con người đã phải chịu bệnh tật, ghẻ lở. Một trong những thiên ân quý giá nhất của con người là tự chữa lấy mình được, tự làm khỏi các bệnh tật được, là có cái tài mà ta gọi là năng lực trị liệu của tạo vật (vis medicatrix naturae). Loài vật cũng có một linh tính thúc đẩy chúng đi tìm những dược liệu khả đĩ cho cái năng lực trị liệu kia:
chó ốm nhai cỏ gà, cú mèo tắm bụi để trừ rận, động vật liếm các vết thương trên mình. Y nghệ con người phát sinh từ cái linh tính sơ thủy ấy của loài vật. Thế nên lịch sử y học bắt đầu cùng một lúc với lịch sử của các bệnh tật, mà bệnh tật lại có từ khi đời sống bắt đầu nẩy nở trên mặt địa cầu. Một mẫu tối cổ của bệnh tật còn giữ được trong bảo tàng viện cơ thể bệnh lý, có lẽ là dấu vết một chứng bệnh phát ra cách đây hàng triệu năm: mẩu đuôi của con khủng long tìm thấy ở tiểu bang Wyoming, Hoa Kỳ. Chú khủng long này bị ung thư xưong, và nhờ mẩu xương, ta còn có thể viết lại cuộc đời đau thương của con khủng long khổng lồ kia, đau đớn vì cái đuôi mỗi ngày một thêm cứng nhắc. Con vật đáng thương chắc phải khó nhọc lắm mới di chuyển đi tìm kiếm mồi được, đến nỗi hao mòn dần mà thác. Chuyện vật đã xong, giờ đến chuyện người. Cái mẫu cổ nhất về bệnh của con người đào thấy ở Java năm 1891, là xương đùi của một “ông tổ” chúng ta, người Pithecanthropus erectus: đầu trên cái xương có một mụn bự: lại ung thư xương!
Ngoài người Pithecanthropus bị tiêu diệt cách đây hàng triệu năm và chúng ta không biết chắc người ấy xuất hiện vào lúc nào. Thế nên thời đại của chiếc xương đùi trên kia cũng không xác định được, trừ phi … nói rằng: thời ấy xa xưa lắm lắm …
Chứng tích về bệnh tật con người phần lớn đều ở các xương, vì lẽ giản dị rằng di tích của tổ tiên con người chỉ có thể là những khúc xương. Những xác ướp Ai Cập còn giữ được nhiều dấu vết đặc thù của chứng cốt tiết viêm (osteoarthritis), cặn thống phong (gout) trong các khớp xương, vết lao xương sống, và ngay cả một ruột thừa viêm đã dính kết xung quanh. Người cổ Ai Cập hay mắc nhất hai chứng nướu viêm độc và phong thấp kinh niên. Hai chứng này thường đi đôi nhau; có thể răng mục là nguyên nhân của phong thấp chăng? Lại nữa, nướu viêm độc và răng mục thường do thiếu ăn sinh ra, như thế dân Ai Cập có thể đã từng thiếu sinh tố C. Vậy vào thời nào ta nên bắt đầu lịch sử y học? Một lịch sử bắt nguồn quá xa trong dĩ vãng đến nỗi những bước đầu chìm mất trong bóng tối thời gian? Ta hãy chọn là khởi điểm một thời đại xa ta chừng 17.000 năm. Thời đại này còn để lại tiểu tượng tối cổ của một vị phù thủy kiêm lang y, vẽ trên vách hang Ba-Anh-Em ở Pyrénées: thân mặc da thú, tay chân tô đầy vằn, trên đầu buộc một cặp gạc hươu. Khởi điểm rất thú vị cho cuộc nghiên cứu lịch sử y học, vì chính từ cái ông thầy lang phù thủy kia mà có người thầy thuốc ngày nay. Coi những dụng cụ và khí giới bằng đá lửa tìm thấy trong hang, chúng ta có thể kết luận rất hữu lý rằng những người này tất có đủ thông minh để tìm ra phương thuốc trị các vết thương và bệnh tật của họ. Tuy ma thuật vẫn giữ một vai trò quan trọng, ta đừng vội lầm tưởng rằng ông thầy lang kia chỉ là một thầy phù thủy suông. Trong cuốn “Y học, Ảo thuật và Tôn giáo”, bác sĩ Rivers đã nhấn mạnh rằng, ngay thời bây giờ, các dân tộc sơ khai vẫn còn dùng những phương thuốc “mẹ truyền con nối” để trị các bệnh mà theo ý họ, chưa cần tới thầy mo của bộ lạc.
Như trường hợp thổ dân ở Tân Ghi-nê, ngoài những bùa phép cúng tế của thầy mo, người dân còn dùng nhiều bài thuốc rất giản dị như cao dán bằng trái thốt nốt, trích huyết chữa nhức đầu, dùng đĩa giác hết đau, tắm hơi khỏi phong thấp … Ông thầy mo đeo sừng trên kia chắc sẽ bổ khuyết các nghi lễ cúng vái quỷ thần của mình bằng những nước thuốc, cao dán và hương dược tạp nhạp. Điều chắc chắn là người tiền sử đã liều mổ đầu, mổ óc. Vô số sọ tiền sử bị khoan thủng được tìm thấy ở Pháp, Áo, Ba Lan, Nga, Đức và Tây Ban Nha. Phần nhiều nhà nhân chủng học cho rằng đục như thế là để đuổi ma quỷ đã gây ra chứng điên, chứng động kinh hay nhức đầu, ra khỏi đầu người bệnh. Chung quanh lỗ khoan không có một vết thương nào khác; như thế đủ rõ rằng bị khoan không phải để nâng mảnh xương vỡ lên cho khỏi chạm vào não. Một số khác lại cho rằng họ đã khoan như thế trong lễ nghi tôn giáo. Sự phân loại lỗ khoan đầu ra lỗ khoan nghi lễ và lỗ khoan trị liệu không giải nghĩa thêm được gì về sự khác biệt giữa hai lý do kể trên. Bất cứ ai nghiên cứu lịch sử y học cổ sơ cũng nhận thấy rằng ông thầy thuốc trước hết là một ông thầy tư tế. Những bổn phận tôn giáo và y học của ông ta liên hệ mật thiết với nhau, đến nỗi không còn là riêng rẽ nữa.
Những Yếu Tố Thiên Nhiên Và Siêu Nhiên Trong Y Học
Độc giả sẽ thấy trong Lịch sử Y học, sự quan trọng tương đối của hai yếu tố – tôn giáo và nghệ thuật trị liệu – thay đổi tùy theo thời đại, lúc thì yếu tố này quan trọng hơn, lúc thì yếu tố kia. Trong nước cổ Ai Cập, yếu tố siêu nhiên hết sức quan trọng, chính ông thầy tư tế kiêm luôn nhiệm vụ thầy thuốc, vốn chỉ là thứ yếu. Trong những chỉ cảo về y học, thần chú và yêu thuật cũng nhiều ngang với thuốc men. Khi uống thuốc, con bệnh buộc phải đọc lời khẩn cầu, đại khái: “Hỡi linh dược, ta hoan hỉ chào mi! Hỡi linh dược, hãy trừ những bệnh hoạn trong tim và tay chân ta!” Về sau vào thời Hippocrates, người ta mới nhận rằng thuốc quan trọng hơn, lời phù chú chỉ còn là vấn đề cá nhân, người bệnh có thể đọc hay không tùy ý.
Đến thời Trung Cổ, một lần nữa, yếu tố siêu nhiên lại được quan trọng hóa dưới hình thức những nghi lễ khu tà tróc quỷ và những thánh tích có thần năng trị liệu. Thế kỷ XVII, bình minh của nền Y học khoa học, ông thầy tư tế tưởng như sẽ bị vĩnh viễn loại trừ ra khỏi y khoa. Theo với thời gian, các y sĩ càng ngày càng có nhiều quan niệm y học “duy vật” hơn. Nhưng sau cùng, ông thầy tư tế xuất hiện trở lại, lần này vai trò của ông hoàn toàn trần tục. Sau thất bại của những toan tính cắt nghĩa đời sống vật chất bằng cơ học, giải thích bệnh tật bằng từ ngữ mô tả các máy trục trặc, người y sĩ mới chú ý tới phần tinh thần bệnh nhân và hiểu rằng không thể lãng quên phần này được. Thế là một lớp tu sĩ trần tục mới, những nhà trị liệu tinh thần xuất hiện để trị “tâm bệnh”. Các ma thuật lại được dùng trong y học dưới hình thức khoa phân tâm và khoa dẫn dụ.
Nhờ năng lực hồi phục phi thường của cơ thể và sự mềm dẻo của tinh thần, con người khi đau ốm thường phục hồi hoàn toàn sức khỏe, bất kể đến những thay đổi thăng trầm và ngay cả những cách trị liệu đã chịu.
Giờ ta bắt đầu bước vào lịch sử của nghiên cứu y học trong những thời đại đầu tiên. Các ý kiến còn chưa thống nhất về việc định thời điểm cho cái ta gọi là “văn minh”. Thôi thì chúng ta đành theo truyền kỳ mà khởi đầu từ lúc con người linh cảm thấy tai biến sắp tới, rời bỏ lục địa Atlantide trước khi lục địa này chìm sâu dưới biển. Người ta di cư sang bờ biển Phi châu và miền tây Âu châu, rồi tản cư về phương Đông, xây dựng nên ba nền văn minh lớn: Ai Cập, Su-me và tiền Aryen của Ấn Độ để rồi trở thành những trung tâm phát huy văn hóa quan trọng vào bậc nhất.
Y Học Các Xú Su-Me Và Ba-By-Lon
Càng nghiên cứu văn minh Su-me, ta càng thấy cái vĩ đại và tầm quan trọng của nó. Thành Ur, thủ đô Su-me, nằm trên bờ song Euphrates, về phía đông vịnh Ba Tư, cách vịnh chừng trăm dặm. Nhờ công cuộc tìm tòi khảo cổ, chúng ta biết rằng người Su-me đã có một trình độ cao về thủ công cũng như về nghệ thuật. Đời sống cộng đồng được tổ chức rất chu đáo. Trên nhiều tấm bảng đất sét, những dòng chữ hình nêm (cuneiform) cho ta biết rằng ở Ur có một y sĩ đoàn có lương tâm nghề nghiệp khá cao. Người ta đào được nhiều dao nhỏ bằng đồng, phải chăng đây là dao giải phẫu của các thủ thuật gia Su-me? Người Su-me bị tiêu diệt vào năm 2000 trước Công nguyên. Hai nền văn minh đến kế tiếp: người Assyrie ở bắc và người Ba-by-lon ở nam. Chúng ta sở dĩ hiểu rõ y học Ba-by-lon hơn y học Su-me là nhờ một bộ luật được soạn thảo và khắc trên một cột đá đen, theo lệnh của ông Hoàng rất thông minh Hammourabi (1948-1905 trước Công Nguyên). Ông này thấy cần phải lập pháp quy chế nghề y sĩ, nên đã ra nhiều sắc lệnh, trong đó có cả sắc lệnh về thù lao của thầy thuốc:
“Trị bệnh, mổ nhọt, hay chữa mắt cho một nhà quý tộc, y sĩ được thù lao 10 đĩnh bạc. Nếu bệnh nhân chỉ là một nô lệ, người chủ phải trả 2 đĩnh bạc.”
Cách điều xử trên đây rất có lợi cho người thầy thuốc, nhưng ở một đoạn văn khác, hành nghề y sĩ ở Ba-by-lon không phải là không nguy hiểm như:
“Nếu y sĩ mổ nhọt bằng dao đồng và làm chết bệnh nhân hay làm bệnh nhân hư một mắt, ông ta sẽ bị chặt hai tay”. Tuy nhiên hình phạt này chỉ áp dụng khi bệnh nhân là người quý tộc; chứ nếu chỉ là một tên nô lệ thì ông thầy ít may mắn kia phải bồi thường một nô lệ khác, hay phải trả nửa tiền mua nô lệ mới nếu tên nô lệ bệnh chỉ hỏng có một mắt. Tóm lại các đạo luật cho ta biết ở Ba-by-lon đã có tổ chức y sĩ hẳn hoi, và y sĩ thời ấy đã dám làm những cuộc giải phẫu nhỏ. Điều này không lạ, vì công cuộc khảo cổ đã gặp nhiều nền văn minh cổ hơn nhiều mà chẳng hề quá sơ khai như ta tưởng. Nghệ thuật thời thạch khí rất đáng được chú ý: lạ hơn nữa là đồ gốm đời cổ thạch khí lại có phần tinh xảo hơn đồ gốm thời tân thạch khí. Nói cách khác, càng biết nhiều chi tiết về người tiền sử, ta càng thấy người tiền sử khác xa với cái hình ảnh ước lệ của một động vật thô bạo nửa người, nửa khỉ, tay cầm rìu đá, tàn sát địch thủ.
Y học đã được coi rất quan trọng ở Ba-by-lon thời cổ. Sử gia Hérodote kể rằng bất cứ người Ba-by-lon trí thức nào cũng để ý đến y học. Cho nên có tục đặt bệnh nhân nằm ngoài đường để cho người qua lại, hoặc đã có cùng chứng bệnh, hoặc có biết những ca tương tự, có thể đoán bệnh và mách giùm cách chữa chạy. Không ai được quyền im lặng đi qua không hỏi đến căn bệnh của người nằm giữa chợ. Một dân tộc tò mò về y học như thế, dĩ nhiên không khi nào hài lòng với các thầy lang tài tử chữa bệnh ở giữa chợ. Người y sĩ chuyên nghiệp đã đến lúc phải xuất hiện. Sau đó, nhiều ông tự chuyên môn, đến nỗi ở Ba-by-lon cũng như ở Ai Cập có rất nhiều thầy chuyên trị riêng từng thứ bệnh.
Y Học Ấn Độ
Những tài liệu cổ nhất viết bằng Phạn văn có liên quan đến y học là hai bộ Rig-Veda (1500 trước Công nguyên) và Yajur-Veda (700 trước Công nguyên). Theo những tài liệu này thì môn thủ thuật giải phẫu Ấn Độ đã khá tiến bộ, mặc dầu kiến thức về cơ thể học rất ít ỏi. Ngày nay những nhà giải phẫu thẩm mỹ còn nói đến phương pháp vá mũi bằng một miếng da trán của thủ thuật Ấn Độ. Phương pháp này dùng để sửa những mũi quá tẹt và những cái mũi xấu số của các bà thích “ăn nem””! Một thủ thuật gia danh tiếng tên là Suśruta đã mô tả tỉ mỉ hàng trăm dụng cụ giải phẫu được sử dụng trong thời ông. Ngoài ra, người Ấn còn biết mổ tử cung lấy con và mổ đường tiểu lấy sạn.
Bộ Rig-Veda tuy cổ hơn, nhưng chỉ viết nhiều về triết lý và khoa học. Bộ Yajur-Veda có mô tả hệ thống huyết quản, tiến trước cả Harvey, người khám phá ra sự tuần hoàn. Trong đó còn có nhiều nhận xét xác đáng, như dịch hạch sẽ phát sinh ở nơi nào có nhiều xác chuột, sốt rét cơn do muỗi sinh ra, các triệu chứng lao gồm có ho dữ dội, sốt và khái huyết. Hơn 700 dược thảo và một số lớn thuốc dán, thuốc xông, thuốc bột còn ghi trong bộ sách vĩ đại này. Y sĩ Ấn Độ thời ấy không thuộc giai cấp Bà-la-môn, tức là giai cấp tu sĩ, mà thuộc giai cấp Vaisya. Theo luật, họ là người không thanh tịnh, không được hưởng các nghi lễ tống táng. Tuy không là thành phần của kinh Veda, bộ kinh điển tôn giáo của Ấn Độ, người ta cũng cho rằng bộ Yajur-Veda đã được thần linh hay vị đại sư nào đó đọc cho hai thủ thuật gia Charaka và Suśruta.
Y Học Ai Cập.
Nền văn minh cổ rực rỡ thứ ba là văn minh Ai Cập. Các thầy tư tế giữ quyền hành nghề y sĩ, y học liên quan mật thiết tới thần học. Minh chứng nhận xét này là Ai Cập có rất nhiều thần thánh bảo trợ Y khoa. Imhotep, Thần Trị Liệu, là một trong những y sĩ đầu tiên còn lưu danh cho hậu thế, Imhotep nghĩa là “người mang lại sự bình an”, thật không còn tên nào xứng đáng hơn cho một y sĩ chân chính. Sau khi chết Imhotep được tôn sùng như một vị thánh, rồi được thần hóa luôn. Nhiều thế kỷ sau, người Hy Lạp đồng hóa Imhotep với Thần Y của họ là Esculape. Điều không may là chúng ta ngày nay biết rất ít về những hoạt động y học của Imhotep mà lại biết khá nhiều về các công trình kiến trúc của ông. Chính Imhotep đã vẽ kiểu kim tự tháp Saqqarah. Nhiều tượng đồng tạc hình ông ta ngồi, chú mục vào một tờ chỉ cảo trên đầu gối: chắc lại là một đồ án kiến trúc. Dù sao, Imhotep vẫn là một y sư cự phách đồng thời là một kiến trúc sư có thiên tài, có thế mới được dân Ai Cập tôn thờ như Thần Y học trong bao thế kỷ.
Trong buổi sơ thủy của văn minh Ai Cập, thầy tư tế và thầy thuốc chỉ là một người. Mãi đến triều đại sau, y học mới thoát khỏi phạm vi tôn giáo. Dân Ai Cập không coi bệnh tật và sự chết như những hiện tượng tự nhiên, mà tin rằng một sức mạnh thù nghịch làm họ đau ốm. Theo sử gia Maspéro, sức mạnh ấy thuộc về thế giới vô hình, chỉ biểu hiện bằng những cuộc tấn công độc hại:
có thể là một ông thần, một con quỷ, hay hồn thiêng một kẻ quá vãng, đã nhập vào người bệnh, hoặc thừa cơ vô ý, hoặc là hung dữ quá con bệnh không chống được. Khi đã làm chủ được cơ thể con người, sức mạnh ma quái ấy bẻ xương mút tủy, uống máu nhai tim, gậm ruột, nhấm thịt, làm cho con người mòn mỏi rồi chết, nếu không đuổi được nó trước khi mình bị tàn phá quá nhiều. Người trị bệnh vì thế phải làm hai việc quan trọng. Trước hết phải tìm biết bản tính và tên họ của con yêu, rồi phải tấn công nó, trục xuất nó, tiêu diệt nó. Muốn thành công, cần phải cao tay ấn, tức là phải biết niệm chú, chế bùa. Nhiên hậu mới phục dược và ăn uống kiêng khem để trị các xáo trộn của cơ thể do quỷ mị gây ra. Thế nên, xem các tài liệu y học Ai Cập, ta thấy trước tiên là các lời phù chú, các biểu tượng và phương thức thần thông để trị nhiều chứng bệnh khác nhau. Rồi mới đến các thứ thuốc: thuốc nước, thuốc súc miệng, thuốc sáp, thuốc bột, thuốc xông, thuốc để hậu môn, thuốc cao, thuốc đồ ** (poultices). Các thầy tư tế y sĩ Ai Cập còn biết sử dụng a-phiến, cỏ độc cần, các loại muối đồng, cỏ hải song và dầu thầu dầu.
Nếu thủ thuật giải phẫu Ai Cập rất thô sơ, thì trái lại, vệ sinh cá nhân và công cộng đạt tới trình độ rất cao, vượt hẳn Âu châu thời Trung Cổ. Y học tiến bộ lần lần, những thầy tư tế y sĩ ngoài bùa chú và nghi lễ rườm rà, đã biết cách khám bệnh nhân để truy ra căn bệnh. Đoạn chỉ cảo dưới đây về phép án chẩn các thứ bướu cho ta thấy rõ tiến bộ đó:
“Một cục bướu trên cơ thể con người, nếu nó giống như da thuộc, nếu da trên cái bướu đó nhấp nhấp ướt, nếu khi sờ, ta thấy nó chuyển động dưới tay trong khi tay ta đang yên, thì đó là một bướu thịt. Ta dùng lửa chữa nó.
“Nếu cục bướu trong cơ thể con người, xâm lấn mạch máu và cứng như đá, là một bướu mạch. Ta dùng dao cắt nó.
“Một cục bướu có mủ ở chân hay tay, nếu khi sờ ta thấy nó di động mà lớp thịt bên dưới vẫn căng thẳng, ấy là mủ đã gom lại. Lúc ấy ta dùng dao rạch nó ra”.
Một chỉ cảo khác chép cách chữa các vết thương và trẹo xương. Đặc biệt hơn nữa là trong đó có một cách chữa sái quai hàm rất giống với cách chữa của chúng ta ngày nay. Một tác giả y học dưới thời vua Ramsès đệ nhất đã biện minh cho mình như sau như trong bài tựa tác phẩm của mình:
“Tôi xuất thân ở trường Y khoa Héliopolis, các Tôn sư ở đấy đã dạy tôi phương pháp của các Ngài. Tôi còn tốt nghiệp trường Phụ khoa Sais, các Thánh Mẫu ở đấy đã truyền thụ cho tôi kỹ thuật của các Ngài. Tôi thuộc lòng các phù chú do chính Thần Thath hướng dẫn. Thần là người phát minh ra ngôn ngữ, là tác giả nhiều bài thuốc rất công hiệu, là người độc nhất quy định danh tiếng cho những nhà phù thủy và thầy thuốc học đạo của Ngài. Mỗi lời thần chú đều rất hay cho bài thuốc, và mỗi bài thuốc đều xứng hợp với lời thần chú của nó”.
Ta thấy ở đây có sự pha trộn giữa hai yếu tố của Y học Ai Cập: phù chú và thuốc men. Có thể nói đây là những bước đầu của một nền y học vừa tinh thần vừa hình thái: phù chú trị liệu tinh thần, thuốc men trị liệu thể xác. Năm 525 trước Công nguyên, sau chiến thắng Ba Tư, một trường Y khoa được lập ở Sais, miền Hạ Ai cập, trường này được sử gia Hérodote hết sức tán dương và được nhiều người đương thời chú ý.
Y Học Trung Hoa.
Ông thầy thuốc đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa là vua Thần Nông, sống vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên. Tuy chỉ là một y sĩ tài tử, vua Thần Nông rất ham mê tìm kiếm các y lý mới, và thí nghiệm ngay trên chính bản thân mình. Người ta cho rằng Thần Nông đã tìm ra nhiều dược thảo và độc dược. Tác phẩm “Bản Thảo” đã được in lại nhiều lần, kể cả lần tái bản năm 1911 ở Ai Cập. Viết sách mà truyền được hơn 4000 năm quả thật là hiếm có.
Một ông vua khác cũng rất thích y học là vua Hoàng Đế (2650 trước Công Nguyên). Trong thiên Nội kinh viết về sinh lý học, ta thấy có đoạn này:
“Máu cơ thể đều do tim phân phát … Máu luôn luôn tuần hoàn trong cơ thể không lúc nào ngưng”.
Thật khó mà biết rằng Hoàng Đế đã căn cứ vào đâu để kết luận chính xác như thế, bởi lẽ vốn hiểu biết của nhân loại thời ấy ít ỏi lắm. Harvey đã phải xét nghiệm tỉ mỉ hệ thống mạch quản mới khám phá ra sự tuần hoàn huyết. Trong nước Tàu cổ, người ta hầu như không biết gì về cơ thể học; vả lại việc mổ xẻ tử thi thường bị cấm ngặt. Với quyền thế một ông vua, Hoàng Đế có thể đã tìm tòi nhiều trong lãnh vực này chăng?
Vị vương giả thứ ba ham thích và nghiên cứu y học là vua Càn Long. Ông này lập hẳn một ủy ban chuyên môn để soạn bộ “Y Học Bảo Giám”, bách khoa y học vĩ đại, gồm 40 cuốn. Ta thấy ở đấy có những nguyên tắc y học Trung Hoa, rất nhiều phương pháp trị liệu, có cả khoa đấm bóp và châm cứu, cùng hai lý thuyết lớn của cổ Trung Hoa.
Thứ nhất là thuyết Ngũ hành: thổ, hỏa, thủy, mộc, kim; cơ thể con người được coi như do năm hành đó cấu thành. Thuyết tứ dịch của Tây phương có lẽ do thuyết ngũ hành này mà ra.
Thứ hai là thuyết Lưỡng nghi: Âm và Dương. Âm Dương là hai lực đối nhau, nhưng bổ túc cho nhau mà sinh ra vạn vật, tỉ như: lực và phản lực, trống và mái, nóng và lạnh, sống và chết … Mọi vật trong vũ trụ – nhất là sức khỏe của người ta – đều coi như phụ thuộc vào thế quân bình của năm hành. Trên quan điểm triết học, ngày nay ta cũng quan niệm rằng khỏe mạnh là do sự hòa hợp giữa một số yếu tố. Bệnh tật trái lại là một đổ vỡ, một nghịch âm trong sự hòa hợp đó.
Y Học Cổ Do Thái.
Y học cổ Do Thái rất thô sơ, trừ một số nguyên tắc rất hay về vệ sinh do luật Moise bắt áp dụng. Trong Cựu Ước, vai trò người thầy thuốc rất lu mờ bởi bệnh tật được coi là một hình thức giận dữ của Thần Linh. Vì thế con bệnh phải cầu đến các thầy tư tế. Những vị này giảng rằng ai sống theo luật Moise thì thể xác sẽ thanh sạch.
“Ta không phạt con bằng những tai ương Ta đã giáng xuống dân Ai Cập, vì ta là đấng Vĩnh Cửu hằng che chở con.” (Phát trình ký, XV-26)
Độc giả để ý rằng những tai ương nói trên đều là bệnh truyền nhiễm cả. Dân Do Thái, sở dĩ hơn dân tộc khác, là nhờ biết đề phòng bệnh truyền nhiễm. Quyền hành rộng lớn trong tay, các thầy tư tế Do Thái hành động với tư cách những nhà vệ sinh học đầy đủ tài năng. Trong khi đó thì ở những thời đại sau, người Hy Lạp hình như vẫn chẳng biết mô tê gì về bệnh truyền nhiễm cả. Người Do Thái ngừa lây bệnh bằng đủ mọi cách. Kinh Lê-vít có định rõ ràng và chính xác thế nào là thực phẩm, vật dụng tinh khiết hay ô uế, thế nào là vệ sinh khi hành kinh và lúc mang thai, thế nào là tổ chức ngừa lây bệnh. Thịt lợn có thể truyền ký sinh trùng như sán dẹp và sán kim; vậy tốt nhất là đừng ăn thịt lợn. Trong mọi trường hợp về bệnh lậu, bệnh bạch đái, bệnh phong cùi, kinh sách đều nhấn mạnh đến việc phòng ngừa: nào là cho người bệnh ở phòng riêng, nào là tẩy uế đồ dùng của người bệnh … Phương pháp tẩy uế được triệt để thi hành, chẳng hạn như san bằng nhà con bệnh ở, hay ít ra là quét vôi lại hoàn toàn. Những phương pháp phòng bệnh ghi chép trong Thánh kinh được coi là hữu hiệu đến nỗi người Âu phải bắt chước khi bệnh này lan tới Âu châu. Phần đóng góp của dân tộc Do Thái vào nền y học như thế chỉ là có trong lãnh vực vệ sinh và y học dự phòng.
Sưu tập những khẩu truyền dẫn giải luật Moise tôn giáo và dân sự, kinh Talmud còn ghi lại nhiều kiến thức y học chính xác hơn là những truyện bán truyền kỳ của Cựu Ước. Điều khoản thù lao cho y sĩ mãi sau mới được thêm vào, khi vai trò người thầy thuốc đã khá quan trọng:
“Ngươi phải trả công thầy thuốc cho xứng đáng, vì Đấng Tối Cao đã tạo ra người ấy, vì mọi phương dược thần hiệu đều do Thượng Đế ban phát và Nhà Vua tưởng lệ. Tài năng sẽ nâng cao địa vị người thầy thuốc và ông ta sẽ được các bậc quyền quý ngợi khen.” (Truyền đạo thư, 38, 1-5).
Lời nói trên, theo các nhà chú giải có uy tín, phát biểu một ý kiến mới được bổ khuyết về người y sĩ. Ngoài ra, không có bằng chứng nào tỏ rằng người thầy thuốc Do Thái đạt được địa vị cao trước thời Trung cổ, và ngay cả trong thời ấy nữa, bởi vì luật cấm cầu cứu đến họ, là những người tà giáo. Tuy nhiên thời đó ai cũng hiểu rằng chỉ có họ mới đủ tài khám bệnh. Trong những năm dài u tối vì dốt nát và lười biếng tinh thần, chỉ còn người thầy thuốc Do Thái và Hy Lạp giữ được nghề của Hippocrates. Người ta tránh sự cấm đoán bằng cách đi nước đôi: giữa công chúng, người y sĩ Do Thái bị gièm chê nhục mạ, trong bóng tối ông ta lại được thỉnh đi coi bệnh. Người thầy thuốc Do Thái, chung số phận với toàn thể quốc gia Do Thái, thấy mình vừa bị gièm chê vừa được trọng dụng, vừa bị ghét bỏ, vừa được quý mến, vừa bị xỉ vả vừa được ngợi khen.
Và cứ như thế cho đến khi Đại chiến Thế giới thứ hai bùng nổ.
Bản Quốc văn của HÀ HỢP NGHIÊM
[Chương 1, Tình Thương Số 1 & 2]
1/ các bà thích “ăn nem” là cách dịch thoát và ví von của Hà Hợp Nghiêm, từ câu “ông ăn chả bà ăn nem” chỉ đôi vợ chồng không chịu thua kém nhau trong quan hệ bất chính. Nem và chả là cách gọi khác nhau của hai miền Nam Bắc.
Người đàn bà ngoại tình bị trừng phạt cắt mũi.
2/ thuốc đồ / poultices như một loại thuốc đắp trên vùng đau hay viêm.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.