Trung tá Dat Nguyen (gốc Việt), Trưởng Phòng Quản lý Lực lượng toàn cầu, Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ (USFK) tại Nam Hàn.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on January 17, 2026 by dongsongcu

17/01/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

Trung tá Dat Nguyen (hình của linkedin.com).

Trung tá Dat Nguyen* được bổ nhiệm chức Trưởng Phòng Quản lý Lực lượng toàn cầu, Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ (USFK) tại Nam Hàn từ tháng 7 năm 2021 đến nay. Trong vai trò Trưởng phòng quản lý Lực lượng toàn cầu, ông quản lý các dự án, chỉ huy các nhóm liên minh quân sự đa năng của Bộ Tư lệnh Lực lượng Liên hợp (CFC) gồm các Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ (USFK), Bộ tư lệnh Quân đội Nam Hàn và Bộ tư lệnh Liên hiệp quốc (UNC). Bộ Tư lệnh Lực lượng Liên hợp (CFC) giữ vai trò nền tảng hòa bình, an ninh và ổn định trên bán đảo Triều Tiên, ba Bộ tư lệnh liên hợp hoạt động đồng bộ để ngăn chặn sự xâm lược, bảo vệ nền Cộng hòa Nam Hàn (ROK) và sẵn sàng ứng phó với bất kỳ mối đe dọa nào.

Trung tá Dat Nguyen là một Sĩ quan tận tâm với nhiều năm kinh nghiệm chỉ huy các nhóm đa chức năng ở cấp Bộ tư lệnh Tướng 4 sao trong Bộ chiến tranh (U.S. Department of War). Ông là Chuyên gia quân sự trong việc phối hợp các học thuyết, cấu trúc tổ chức, quản lý đào tạo, trang thiết bị, lãnh đạo & giáo dục, nhân sự, cơ sở tiếp liệu và chính sách của Bộ chiến tranh. Trung tá Dat Nguyen chỉ huy các nhóm lập kế hoạch tác chiến để thực hiện các sáng kiến, giải quyết các vấn đề phức tạp và cải thiện các quy trình tổ chức. Xuất thân khiêm tốn từ gia đình tỵ nạn gốc Việt, nay đã trở thành Chuyên gia hàng đầu của Bộ chiến tranh, nhờ sự kiên trì và quyết tâm, ông có thể đảm nhận bất kỳ vai trò chỉ huy nào và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Sinh viên Sĩ quan** Đat Nguyen, Học viện quân sự Hoa Kỳ West Point (hình của war.gov/News).

Trung tá Dat Nguyen tốt nghiệp Học viện quân sự Hoa Kỳ West Point năm 2003 với Văn bằng Cử nhân hệ thống kỹ thuật. Đơn vị đầu tiên trong binh nghiệp của Thiếu uý** Đạt Nguyen được chỉ định phục vụ tại Trung đoàn 37 thiết giáp, Sư đoàn 1 Thiết giáp từ tháng 1 năm 2004. Là một Sĩ quan trẻ, tác chiến và chỉ huy đã thúc đẩy Đat Nguyen phát triển nhanh chóng, thành thạo về kỹ thuật và chiến thuật, cùng với tinh thần trách nhiệm với quân nhân cấp dưới trong môi trường chiến đấu, luôn chủ động bảo trì các chiến xa sẳn sàng hoạt động tốt trong mọi tình huống. Đạt nguyễn được thăng cấp Trung uý** sau nhiệm kỳ phục vu đơn vị Thiết giáp.

Từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 7 năm 2016, Đại uý** Dat Nguyen được chỉ định phục vụ lần lượt tại các đơn vị: Đại đội trưởng, từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 6 năm 2012; Sĩ quan quản lý lực lượng từ tháng 7 năm 2012 đến tháng 7 năm 2013; Sĩ quan phối hợp lực lượng Lục quân tại Fort Shafter, Hawaii từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 11 năm 2014; Thiếu tá** Trưởng phòng phối hợp Lực lượng Lục quân tại Schofield Barracks, Hawaii từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 7 năm 2016.

Từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 6 năm 2020, Thiếu tá, Sĩ quan chiến lược, chỉ huy nhóm đa chức năng, phân tích yêu cầu chiến lược thuộc Bộ tư lệnh quân sự Hoa Kỳ tại Phi Châu, Stuttgart, Baden-Württemberg, Germany.

Từ tháng 7 năm 2021 đến nay: Trung tá** Trưởng Phòng quản lý Lực lượng toàn cầu, Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ (USFK) tại Nam Hàn.

Thiếu uý Đạt Nguyen và đồng đội trong quân phục nguỵ trang huấn luyện (hình của war.gov/News).

Trung tá Dat Nguyen hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng Cử nhân hệ thống kỹ thuật, Học viện quân sự Hoa Kỳ West Point (United States Military Academy at West Point); Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh, Trường Kinh doanh Haas, Berkeley, Đại học California (University of California, Berkeley, Haas School of Busines); Văn bằng Cao học nghiên cứu tác chiến quân sự, Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College). Ngoài ra, Trung tá Dat Nguyen đã thụ huấn nhiều khoá học chuyên môn về quân sự và bằng nhảy dù.

Trung tá Dat Nguyen là 1 trong hơn 60 Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt (không tính nhiều vị đã hồi hưu) đang phục trong các binh chủng và ngành Lục quân***.

Chú thích: *Ghi theo họ tên từ tài liệu, họ và tên Việt, Nguyễn Thành Đạt; Ghi theo thời gian mang cấp bậc; ***Sĩ quan các binh chủng và ngành bộ binh, thiết giáp, pháo binh, phòng không, hàng không (Aviation), công binh, truyền tin, quân báo tiếp liệu, tiếp vận, Quân y v.v… thuộc Quân chủng Lục quân.

Nguồn: war.gov/News; linkedin.com; congress.gov.

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

Bài 17.

THƯ GỞI NGƯỜI BẠN TRẺ

NHÂN BUỔI ĐẦU XUÂN,

SAU LẦN ĐI DÀI …

Năm qua tôi có gởi đến Bạn lá thư thắm thiết từ lòng thành nhân mùa Vu Lan, Phật Lịch, buổi Trại Hè Về Nguồn ở Kentucky. Thư đề cập đến sức mạnh quyết định cuối cùng của Lực Từ Nhân. Nay nhân sau buổi đi dài, chấm dứt vào đúng mùa Xuân, nơi vùng đất có cảnh sắc u trầm, tại khoảng thời gian bí nhiệm, nặng cảm xúc như đang ở quê hương. Chiều cuối năm gió gây rét thổi xoáy trên đường phố kín cửa; nắng hanh vàng chói sáng đám xác pháo loang lổ hồng tươi. Và con trẻ hân hoan cười vui áo mới. Cảnh của vùng Nam bán cầu, nơi cách Việt Nam một múi giờ, chung lượng nắng, hơi gió, mùi biển và thổ ngơi đầm đầm cảm động … Trong giây khắc chất ngất hàm súc kia, tôi đã cùng các Bạn hát lại ca khúc ngày xưa..” Hướng Đạo Việt Nam đuốc thiêng soi đường … ” Lời hát của một thời niên thiếu. Đã bốn mươi năm qua, lúc tuổi trẻ, lòng thơ. Tôi viết lá thư này với lòng thắm thiết của ngày Vui không hề tàn lụi, như ánh sáng. Như mùa Xuân …

Bạn Thân Mến,

Như thư thứ nhất đã trình bày, tháng 8, 1995, chúng ta đã đồng ý với nhau tiền đề lạc quan và hy vọng: Hành sử Tự Do trong chọn lựa Tính Thiện, Sự Thật. Thế nên quả thật thuận tiện và rất bổ ích, nếu hôm nay ta tiếp tục sử dụng nguồn năng lực sống động này vào công việc luôn cần thiết: Sự Học, mà đối với tuổi trẻ càng là một nhu cầu cấp bách. Bởi Học là cách sống tích cực nhất của người. Học đồng nghĩa Sáng Tạo và Tái Tạo. Các Bạn đang trên đường đi này. Nhưng thật nguy hiểm và sai lầm nếu chúng ta quan niệm học vấn chỉ là phương tiện (trong số những phương tiện và phương pháp khác) thực hiện những mục tiêu giữa đời sống cộng đồng, xã hội để có một mức sống vật chất, văn minh tiện dụng cao cấp. Vẫn biết về mặt thực tiễn, những tri thức khoa học, kỹ thuật, bằng cấp, học vị đưa đến những thành quả, thâu hoạch cụ thể kia; nhưng học vấn có một chức năng, tác động mãnh liệt và cao quý gấp bội. Học phải được quan niệm là vận động Tái Tạo, Cải Tiến và Hoàn Thiện Con Người. Định nghĩa về giáo dục từ thượng cổ đến hiện đại, Đông lẫn Tây phương đồng tập trung ở chủ điểm này. Từ cultivate có ngữ căn cult do từ cultus Hy Lạp, nguyên nghĩa thờ phụng, tế tự, cầu xin, bồi đắp. Và Học của Đông phương do từ ngữ ý “Vào trong núi tìm Thầy để học đạo lớn” (chữ Hán “Học” được ghép bởi “gò núi” ở trên và “người con trai”(tử) ở dưới). Với sinh hoạt văn minh, văn hóa hiện tại nơi thời điểm này, chúng ta cũng cần phá bỏ quan niệm, “Học chỉ là một quá trình trau giồi và bổ sung tri thức”. Điểm này đúng nhưng chưa đủ. Bởi tri thức mở ra sự vô cùng; không ai có thể bảo đã hoàn tất, thủ đắc đủ, nắm giữ trọn vẹn mọi nguồn cội. Quan niệm như trên tức hạn chế năng lực dự phóng của tri thức, hướng đến tình cảnh bất toàn và cách biệt, cách biệt giữa Ta và Vật. Bất toàn vì chỉ cốt ôn tập, lập lại những điều sẵn có của người trước, của quá khứ. Học cao quý và kỳ diệu hơn. Học là vận động không ngừng nghỉ, biến kiến văn của người nên của mình vào mục đích phụng vụ chung. Học là Hoàn Thiện Chính Mình với Phẩm Giá Con Người. Trước sau tôi bám chắc cùng đích này – Xin tha thiết nói đến cùng các Bạn, những người Bạn Trẻ. Tại sao tôi lại phải nhấn mạnh đến điều trên? Bởi đã có những nền văn minh rất tráng lệ, kiên cố, to lớn mà những người sáng lập đều có chung hoài bão là những nền văn minh ấy sẽ tồn tại lâu dài cùng lịch sử. Nhưng rốt cuộc chúng đã tàn rụi và tiêu vong một cách thảm hại, bày ra cảnh kiệt cùng của giới hạn tất yếu về khả năng, tri thức con người. Khi người rời bỏ phẩm hạnh ưu thế “Tính Thiện, Lòng Nhân” thì tất cả thành quả vật chất xây nên quanh nó hoàn toàn vô ích và vô dụng. Trong sa đọa của những văn minh vùng sông Nil (Ai Cập), Lưỡng Hà (Trung Cận Đông), lần sụp đổ của các đế quốc Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, hẳn không phải vì thiếu sức mạnh quân sự, mưu thuật chính trị, thủ đoạn bạo lực.

Nhưng tất cả sụp vỡ đó đã xẩy ra từ, với một mẫu số chung: Chúng đã xây dựng được hình khối Văn Minh nhưng thiếu nền tảng Văn Hóa đích thực. Mà Văn Hóa nói cho cùng là, “Nhân Hóa – Trở Thành Người”, cho người. Lịch sử văn minh nhân loại phải thực hiện cho kỳ được mục tiêu tối thượng này, nếu không tất cả chỉ là vô ích. Trở lại vấn đề của chúng ta. Trong phần thứ nhất của câu chuyện, chúng tôi đã thông báo đến các bạn về số lượng những người tuổi trẻ trong nước. Hơn hai mươi triệu trong số bẩy mươi ba triệu dân, những người không phải gánh chịu trực tiếp tai ương cuộc chiến dai dẳng của ba mươi năm qua – Những người này phải được thực hiện quyền lợi tối thượng của tuổi trẻ: Họ phải được Học, phải được thể hiện giá trị của người có giáo dục. Họ phải được thực hiện phẩm giá của riêng người. Nhưng thực tế, những người trẻ tuổi này đang bị khinh miệt, vất bỏ một cách tàn nhẫn nhất. Chúng ta cần nói đến họ. Chúng ta cần phải trở về nơi quê hương khổ nạn. Chúng ta cần trở lại Cội Nguồn toàn diện. Triệt để. Trước khi đào sâu vấn đề tôi xin được nói điều thành thật … Bản thân cá nhân không hề xem hoàn cảnh nghèo khổ là điều đáng quan ngại, đầu mối của thống khổ, bởi đã quen với cơ hàn, tranh sống từ tuổi niên thiếu. Tuy nhiên, thật tình cũng không thể phấn khởi nếu sau hai mươi năm “thống nhất nước nhà về mặt Nhà Nước; thâu giang sơn về một mối; đánh sập toàn thể bộ máy kìm kẹp của bọn bán nước Ngụy quân Ngụy quyền; đuổi sạch bóng quân xâm lược …” cách nói huênh hoang, lớn lối quen thuộc của người cộng sản Việt Nam-Nhà cầm quyền Hà Nội vẫn không thực hiện được và cũng không khả năng tiến đến việc mở đầu hiện thực “xây dựng nước Việt Nam đàng hoàng to đẹp gấp mười lần năm xưa”. – Lời di huấn của Hồ Chí Minh mà giới lãnh đạo, toàn bộ Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN quyết tâm thực hiện, như họ đã nhiều lần thề nguyền thâu đoạt chiến thắng quân sự với bất cứ giá máu nào, mặc cho toàn dân tộc phải gánh chịu sau những thời điểm 1945, 54, 75. Để đến hôm nay với kết quả Việt Nam xếp hạng thứ năm trong mười nước nghèo khổ nhất thế giới, với tổng sản lượng 200 USD/ năm tính theo mỗi đầu người. Tôi cũng không gọi sự khiếm khuyết về mặt chuyên môn của những người có học vị phó tiến sĩ, bác sĩ y khoa chích lộn thuốc gây tê liệt thần kinh (chuẩn bị giải phẫu phần sọ não), làm hư hại toàn phần cánh tay khỏe mạnh; tiểu giải phẫu Amygdale không cầm máu được để chết bệnh nhân. Ông giữ bò (chiến sĩ thi đua Hồ Giống) trở thành thú y sĩ … Là những sự việc quá độ quan trọng đáng phải gay gắt bàn cãi. Những khuyết điểm do nghèo nàn, thiếu học vấn, kém chuyên môn chỉ cần thời gian tập huấn ắt sẽ dần sửa đổi, điều chỉnh được, nếu như chính phủ VN có một chương trình cải tiến dân sinh và giáo dục tốt. Điều đáng nói ở đây bây giờ, năm 1996 – Chỉ còn bốn năm nữa hết thế kỷ 20 – Những người cộng sản cầm quyền ở Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu đang chuẩn bị một chương trình giáo dục khả thể tương đối hữu hiệu. Sự bi thảm tuyệt vọng cuối cùng là đây. Chúng tôi nói rõ vấn nạn này.

Chúng tôi không đặt nặng quá độ sự việc chiếu trên đài truyền hình Cần Thơ tiết mục “Chuyện Xã Tôi” về sự kiện hầu hết trường học ở Hậu Giang (Châu Đốc) bị hư nát, đổ sụp, hoàn toàn không có bàn ghế, mỗi lớp chỉ còn lại độc nhất bàn cô giáo. Học sinh nhỏ cấp Một đi học mang theo chiếc chiếu, tấm ván nhỏ để nằm, ngồi, viết bài học. Cảnh tượng tương tự như lớp học thầy đồ của vài ba thế kỷ trước nhưng thảm não và tội nghiệp hơn, vì cô giáo kiêm nghề bán quà vặt với gánh hàng gồm mấy miếng chuối chiên, vài gói xôi bọc lá chuối đặt trước cửa lớp – Gọi là “cửa lớp” vì đấy là lối ra vào, tấm cửa gỗ thực sự bị gỡ mất từ lâu. Vâng, cảnh tượng thật đáng xa xót. Nhưng điều đáng sợ không nơi phần kiến trúc hư nát, điều kiện sinh hoạt vật chất tồi tệ kia; điều đáng sợ hiện lên trong tròng mắt nghiệt ngã uất hờn của đứa bé. Nơi trí não con trẻ- Người sẽ thực hiện Tương Lai Dân Tộc Việt Nam ở thế kỷ sắp bước tới. Ngày xưa, ngay trước và sau thời điểm 1954, riêng cho miền Nam, chúng tôi là những thiếu niên quần cộc chân trần; đời sống vật chất giá đình chắc cũng không hơn những đứa bé trong đoạn phim bao nhiêu, và trường lớp cũng không khang trang to lớn lắm, nhưng chắc không đến nỗi tồi tệ như kia. Thông thường trường chúng tôi chỉ gồm dẫy nhà ngang dăm lớp, dạy từ lớp Năm đến lớp Nhất (lớp 1 đến lớp 5, cấp Một). Trường không lớn, nhưng sạch và im bóng mát Vào giờ học, lũ học trò đồng im lặng chăm chỉ làm bài. Ta nghe được âm động ngòi bút vạch lên giấy, tiếng thở âu lo và ngoài sân gió cuốn lá bàng khô rụng khẽ … Tất cả cảnh sắc chìm lắng, co rút lại để chỉ bừng sáng một nhân dáng biểu tượng – Người Thầy. Vào những ngày tháng ấy, nơi những thôn xóm, quận lỵ và ngay cả thị xã, thành phố Miền Nam, Người Thầy là một hình tượng tuyệt đối cao quý, không khiếm khuyết để nhận đủ kính trọng của toàn xã hội. Giờ tan học, trên những lộ đá, dọc đồng lúa, những người nông dân, lính nghĩa quân, ông hội đồng, ủy viên cảnh sát … Tất cả đều tránh vào lề đường khi “người thầy” đi qua. Thật sự “người thầy” kia cũng có thể chỉ là một thanh niên, một thiếu nữ vừa qua tuổi hai mươi, mới ra trường sư phạm cấp tốc. Nhưng bởi vì đấy là người dậy dỗ con cái họ. Nghiệp vụ cao quý này gây nên mối kính trọng tự nhiên kia.

Chương trình giáo dục và xã hội Việt Nam ở những thời điểm kia lẽ tất nhiên còn nhiều điểm thiếu sót, từ nội dung giảng dậy đến cơ sở tổ chức học đường. Nhưng chắc một điều, các thầy cô trẻ tuổi ấy đã dậy đám con trẻ những điều rất mực đứng đắn. Đám trẻ được học những điều đơn giản, trong sáng như sau.

Tổng quát, đối với người:

Thương người như thể thương thân

Gặp ai lỡ bước khó khăn đến nhà

Đồng tiền bát gạo mang ra

Rằng đây cần kiệm gọi là lòng nhân.

Đối với anh em, bài học có phân tích chi tiết:

Anh em nào phải người xa

Cùng chung bác mẹ một nhà tình thân

Anh em như thể tay chân

Anh em hòa thuận hai thân vui vầy.

Chúng tôi còn được dậy thêm điều cảm động:

“Chuyện anh em người họ Điền định chia nhau gia tài gồm cả cây cổ thụ trước nhà. Cây bỗng nhiên khô héo vì tình anh em cạn kiệt, chẳng đợi nhát búa bổ vào. Anh em nhà kia ôm nhau khóc dưới gốc cây biết xúc động với lòng người.

Đối với bạn bè, tuổi nhỏ được dậy dỗ:

“Chim có đàn cùng hát, tiếng hát mới hay;ngựa có bạn cùng đua, nước đua mới mạnh.

Huống chi người học trò trên đường học tập phải có bạn theo cùng … “

Chúng tôi được dẫn dắt để cảm xúc hướng theo dòng cảm động khi Dương Lễ bảo vợ là Châu Long thay mình đi nuôi bạn Lưu Bình. Tất cả yếu tố của câu chuyện cuối cùng dẫn đến kết luận: “Đạo bằng hữu phải có thủy chung.” Và đứa bé mặc nhiên công nhận đấy là điều tốt lành cần phải theo đuổi, thực hiện.

Và cuối cùng, tất cả vận động, tác dụng của nền giáo dục kia bàng bạc, lắng sâu, cô đọng nơi tụ điểm:

Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ Mẹ kính Cha

Cho tròn chữ Hiếu mới là Đạo con.

Đứa trẻ con cũng được giải thích để hiểu tại sao phải giữ Đạo Hiếu. Vì những Mẹ Cha đã hoàn thành một cách tự nhiên và vô vị lợi quá trình hiện thực Tình Thương, gồm những động tác bé nhỏ, đơn giản:

Đêm khuya con ngủ giấc nồng

Kìa ai chăm sóc bên giường cùng con

Mẹ nhìn con miệng mỉm cười

Khi con đau yếu hãi hùng lo âu.

Cá bạn cũng nên lưu ý, chữ “con” được lập đi lập lại bốn lần trong bốn câu thơ chẳng phải do người thi sĩ này quá kém cỏi về kỹ thuật tu từ; nhưng chắc hẳn người này muốn nhấn mạnh đến đối tượng “con” mà chủ thể “Mẹ” luôn vây chặt chung quanh, như những âm điện tử cố kết bất phân ly với hạnh nhân trong một cấu tử sống động. Từ phương thức giáo dục đơn giản và thuần hậu kia, lớp trẻ chúng tôi nên người – Một người bình thường với Nhân Tính luôn được bảo vệ, đề cao.

Trái lại, điều đáng kinh sợ đã xảy ra phía bên kia – Nơi những người cộng sản, kẻ đoạt thắng về mặt bạo lực.

Những người chiến thắng này có một sách lược quan trọng và nghiêm khắc để riêng dạy trẻ: Một đời trồng

cây, trăm năm trồng người. Ý niệm cao cả về giáo dục này phát xuất từ Quản Trọng, không phải ý riêng của ông Hồ. Nếu ông ta dụng riêng do tư tâm, tư ý tốt, việc cũng không đáng trách. Nhưng điều cần cáo buộc về ông HỒ là đã trồng NGƯỢC NGƯỜI. Ông tạo nên những vấn đề giả cho mấy thế hệ Việt Nam mà hệ quả đến hôm nay vẫn không có dấu hiệu chấm dứt, không có cơ hội phục hồi. Khổ nạn trầm kha của Dân Tộc Việt từ đấy đã nên thành. Những “vấn đề giả” xuất hiện dưới những “tin vui” độc địa:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà

Nam, Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta.

“Tin Vui” mà ông Hồ ban xuống cho người Việt nói chung và người tuổi trẻ nói riêng có giá máu, QLVNCH:

Tử thương 3,500 người; bị thương 10,678 người; mất tích 543; tổng cộng 14,722 người. Phía Đồng minh: Chết 2,832; bị thương 15,832; mất tích 352; tổng cộng 19,016.

Phía Cộng sản: Chết 41,191; bị bắt 48,572 (số liệu Newsweek, tháng 2, 1968). “Tin Vui” kia còn có những kết quả mà người cộng sản không kể ra: 14,300 người chết; 24,000 bị thương; 72,000 căn nhà bị phá; và 627,000 người ty nạn – Tất cả chỉ là dân thường – Bắt đầu từ giờ Giao Thừa Mậu Thân, Tết 1968, giờ ông Hồ ban tin vui!

Đến đây, chúng ta cần đặt nên câu hỏi đau đớn: “Tại sao người cộng sản, sau bao nhiêu năm kể từ đêm xuân máu hận kia, vẫn không thoáng chạnh lòng khi nghĩ đến thành quả của lần gọi là “Tổng Công Kích Toàn Thắng Mậu Thân?! “. Hằng năm vào dịp ra báo Xuân, lễ Tết (kể đến Tết vừa qua, 1966), người Cộng sản vẫn tổ chức tưởng niệm lần “Chiến Thắng Mùa Xuân oanh liệt trên vạn xác chết” – Chiến thắng được dựng nên từ máu và thây người Việt Miền Nam bị bức tử ở phút giây hoan lạc và hy vọng. Tại sao người cộng sản giết người cực độ tỉnh táo và vô ích như thế kia?! Câu hỏi sẽ hoàn toàn không phương giải đáp nếu chúng ta không đi đến cội nguồn để hiểu ra: NGƯỜI CỘNG SẢN ĐÃ GIẾT NGƯỜI TỪ MỘT CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC XIỂN DƯƠNG SỰ NGHIỆP SÁT NHÂN. Chính sách đó được hoàn thành từ chiến lược “trồng người” với những tiêu chuẩn đạo đức, thẩm mỹ mới:

Con ong làm mật yêu hoa

Con cá yêu nước

Chim sơn ca yêu trời

Thương người đồng chí ai ơi …

Thật chính xác, dứt khoát. Kể từ đây người chỉ được yêu thương người, không vì đó là một nhân vị siêu việt.

nhưng bởi đấy là người cùng ta đào một đoạn đường, đắp khoảng mô, khiêng khẩu pháo, giật trái mìn … Ta chỉ được quyền thương yêu người cùng ta chia phần hủy diệt, thực hiện cái Chết; Không phải yêu người cùng ta giữ gìn nguồn Hy Vọng Phục Sinh. Người đối xử với nhau qua tương quan của xác ma – Loại quỷ nhập tràng dậy nên từ men hận thù bốc mùi máu. Cách đây hơn bốn mươi năm, nhà văn Lỗ, Gheorghiu, đã báo động nền văn minh kỹ thuật Tây Âu đang đến kỳ phá sản với sự xuất hiện của loại người mới: NGƯỜI CÔNG DÂN, thay thế con người đơn giản thuần thành như hằng có. Từ mối vong thân căn bản này, con người sẽ và chỉ đối xử qua tương quan chính trị khắc nghiệt lạnh lùng và Tây Âu ắt phải tan vỡ từ phân loại tàn nhẫn về con người của chính mình này. Lời báo động đã hiện thực với và sau Thế Chiến Thứ Hai. Một loạt những cái gọi là Ngai Vàng, Chủ Tịch, Đại Thống Chế, Đại Chủng Tộc, Đại Văn Minh phút chốc trở nên những tay vô lại tầm phào, đầu mối tất cả miệt thị và nguyền rủa. Cơn đổ sụp đó không chỉ giới hạn nơi phương Tây với Berlin, Dresden của nước Đức, mà còn tràn qua phương Đông với hai thành phố Hiroshima, Nagasaki phút chốc vùi vũng lửa và giấc mộng Đại Đông Á của giới quân phiệt Nhật vỡ tan như bọt sóng vô định ngoài biển Đông. nhưng hai nước Đức, Nhật dù bị thất trận quân sự, vỡ tan tham vọng chính trị, tiềm lực công nghệ, họ vẫn còn cứ điểm cuối cùng: Con người khi được trả lại tự do và phẩm giá – Người với tất cả sức mạnh tự thân. Người được phục hồi danh xưng, vất bỏ “tính công dân nhẫn tâm và đáng khinh miệt” dựng nên do bộ máy cầm quyền của chính quốc gia họ (nay đã bị vất bỏ, thay thế). Hai nước bại trận này cuối cùng đã vững vàng kiêu hãnh đứng dậy cùng thế giới sau hai thập niên đắng cay.

Trường hợp Việt Nam thì trái lại. Do có điều “không hợp lý” đã xảy ra. Vấn đề không khó hiểu quá độ, bởi chúng ta đã có hai mươi năm sau ngày 30 tháng Tư, 1975; bốn mươi năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, và năm mươi năm sau mùa Thu, tháng Tám, 1945. Với phép tính xác suất, tỷ lệ 1/100,000 được gọi là “có ý nghĩa”; tỷ lệ 1/10,000 là “rất có ý nghĩa”; và tỷ lệ kia càng nhỏ thì không phải là xác suất nữa mà đã là “khẳng định tính.” Ở đây, sau ba thắng lợi, thắng lợi sau hơn thắng lợi trước, và mức độ tồi tệ của đời sống quốc gia (vật chất lẫn tinh thần) càng trầm trọng hơn … Như thế là thế nào?! Ta chỉ có thể trả lời với thực tế nghịch lý: Lần gọi là “chiến thắng” kia là đầu mối của tất cả tai họa. Theo dòng phân tích đang cố công tìm hiểu, chúng ta có thể nói chắc rằng: Những lần thâu đoạt thắng lợi kia cũng là buổi gây nên vô vàn khốn đốn đau thương cho người Việt Nam. Người Việt đã bị tận dụng rất mực vô ích, cực độ phí phạm; và tập đoàn cầm quyền Cộng sản là thủ phạm chính trong quá trình đánh vỡ toàn bộ sức đề kháng cuối cùng của dân tộc, biến người Việt Nam thành một loại nhân dân đồng hạng, vô tính, đánh giá rẻ. Đấy cũng không phải là “nhân dân bình thường,” mà là một đẳng cấp nhân dân đặc biệt. NHÂN DÂN GIÁC NGỘ CÁCH MẠNG. Với định nghĩa hàm hồ, thậm tệ quái gỡ này người cộng sản tự cho mình khả năng hành sử điều ghê gớm nhất: Họ giành lấy quyền giết người nhân danh một định nghĩa chính trị, giết người không thuộc thành phần “nhân dân giác ngộ.” Và cuối cùng, khi con người đã bị khinh miệt thì Nguồn Lực đầu mối tạo nên sản phẩm (con người) kia tất nhiên bị vất bỏ. Vất bỏ cùng một lần, ngay lập tức. Ông Trời, Đấng Thượng Đế, Vị Chủ Tể, Ngôi Thiên Chúa … Tất cả đối tượng cao quý này bị xếp chung vào hạng mục “giai cấp phản cách mạng,” tất nhiên đồng chịu lần thanh toán không nương tay:

Trời không có thiên thần

Đất không có thánh nhân,

Chỉ có NHÂN DÂN THẦN THÁNH

Và Đảng Ta làm nên sức mạnh

Bay đến chân trời!!

Những lời thơ của Hoàng Trung Thông trên đây không phải là hứng khởi của riêng đám văn lại cao cấp, nhưng là “tài liệu học tập” được chính thức phổ biến và lên “phương án tiếp thu” cho toàn chế độ. Một chế độ biến tướng nên cơn đồng nhập, dẫn dắt toàn xã hội bừng vỡ cơn kích ngất bệnh hoạn từ những chất gây men giả gọi là “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, Chủ Nghĩa Xã Hội … “là nguồn cổ vũ tôi mạnh mẽ bước lên đường. Phần dẫn nhập lá thư đầu tiên tôi hẳn không nói quá lời. Tôi lên đường dù chỉ vì – Với Một Người Bạn.

Những dòng chữ cuối cùng trong phần kết thúc lá thư, tôi xin nói đến cùng Bạn điều tìm thấy đơn giản nhưng sâu xa hàm súc. Ây là: “Khi lạnh lẽo phương Bắc là ngày mùa Hè rộ nở bán cầu Nam; Thu đến nơi này cùng lúc Xuân về chốn khác … Thực tế thoạt tưởng như đương nhiên này bổng chốc giúp cho ta giải quyết bao nhiêu điều từ lâu làm ta nặng nhọc khó khăn. Đấy là những “ý niệm” về “chỗ kia – nơi này; phía Bắc – phương Nam; gió Đông – gió Tây ... ” Tất cả những mối cụ thể này, mà ngày trước ta tưởng là “cố định, bất biến,” hóa ra là những điều phù hư, tương đối; chúng chỉ có do nhu cầu của từng cá nhân, nhóm người, tại mỗi lúc, theo từng mỗi điều kiện, môi trường. Và cuối cùng, ý niệm, phạm trù chủ đạo (về, của Thời Gian) mà qua đó toàn thể sự sống, đời sống thể hiện và tồn tại … Toàn thể những thực thể, hiện tượng này hóa ra chỉ có cội nguồn nơi Tính Không và Hằng Hóa Không. Bởi cái mốc mà ta thường gọi là Quá Khứ – Hiện Tại – Tương Lai …quả tình chỉ là điều KHÔNG THẬT. Tôi nghĩ ra điều rối rắm này từ một thực nghiệm đơn giản : Rời đất Úc lúc đang chiều ngày thứ Bẩy, nhưng đến cảng Los lại vào lúc giữa trưa cùng ngày.

Điều nghĩ ra như trên xưa cũ,

Và hằng có như ánh sáng.

Người Bạn,

Trong tiến trình thoạt thấy vô lý và bi thiết như trên, bổng nhiên khi máy bay hạ cánh, tôi có cảm giác gần gũi và cảm động: Tôi về Đất. Trở lại Nhà. Lẽ tất nhiên, không phải thái độ vồ vập, ham hố để nghĩ thành phố Los rực rỡ ánh sáng kia là một chỗ thay thế phần Việt Nam đã lâu dài xa cách. Nhưng tôi cảm xúc vì một điều đơn giản, rộng rãi hơn: Phần đất nằm dưới tầng tầng mây kia là chốn cư ngụ cho Người. Đất đấy không của riêng ai. Nó có cho người vượn Lucy, sống cách chúng ta 3,18 triệu năm, đào thấy được từ 1974 tại vùng Hadar, Ethiopia. Nó đã mở ra trước mắt Colombus cách đây năm thế kỷ. Cũng là nguồn xúc động cho người tù đi theo diện H.O … Hẳn anh đã rưng rưng nước mắt khi lần đầu tiên đến đây, từ trên độ cao nhìn xuống vũng

chân trời rộ sáng, chợt nhớ đến đêm đông giá rét mù mịt nơi núi rừng đất Bắc Nước Việt mười năm trước …

Đất này đây hẳn đã bùng vỡ ánh vàng tại giây khắc hấp hối của bao nhiêu người Việt trước khi chìm xuống đáy biển trên đường vượt biên. Đất thiêng liêng Giải Cứu. Đất đồng nghĩa Hy Vọng.

Phần tôi, chuyến đi còn nhiều cơn hạnh phúc, bao lần hãnh diện. Bởi khắp nơi tôi đều có BẠN. Bởi khắp nơi tôi nghe vang vọng bao la tiếng gọi BẰNG HỮU.

Tháng Ba 96.

Mùa Xuân.

Vô Vàn Thiết Thân.

Cho dầu Người Lính QLVNCHI đã phạm những khuyết điểm trong Sứ Mệnh:

BẢO QUỐC AN DÂN và họ phải trả giá bằng chính mạng sống bản thân. Nhưng khi người lính ấy buộc phải buông vũ khí, Người Dân biết, kêu cùng ai? Người Việt thành “tiện dân” không Tổ Quốc nơi những trại cấm khắp vùng Đông Nam Á .. (Trg 380).

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

Bài 19.

Phía bên kia con đường có bóng

… và cứ như vậy ta bước tới cùng với thời gian qua, – đến buổi ta chợt thấy, rất gần, như có một lần giới tuyến, một con đường có bóng. Lúc đó, ta mới biết là mình đã phải vĩnh viễn rời khỏi vũ trụ vô tư của tuổi trẻ.

JOSEPH CONRAD

Con đường có bóng này, mọi thủ thuật gia trẻ đều phải bước qua. Họ có thể chuẩn định rất chính xác giây phút mà họ đã bước, bước lớn đó: giây phút quan trọng và nghẹt thở của cuộc giải phẫu đầu tiên. Một khoảng thời gian thật ngắn ngủi, thật kỳ cục so với cả một sự nghiệp dài đăng đẳng, nhưng tuy vậy đầy đủ ý nghĩa thầm kín của nó. Vài phút mà sau bao nhiêu năm trời ta còn nhớ mãi vì nó đầy căng thẳng làm sao! Đối với tôi, sự thử thách còn đen tối hơn phần đông những thủ thuật gia trẻ, bởi định mệnh còn ghép vào một biến cố buồn nữa. Khỏi cần phải nói, cuộc giải phẫu đầu tiên là đoạn cuối của một sự chuẩn bị lâu dài. Tất cả việc đào tạo thủ thuật gia tương lai đều cấu đặt theo nguyên tắc này: đi từng bậc một, việc đào tạo sẽ đưa đến tột đỉnh luôn luôn kỳ vọng và cũng e ngại nữa. Bắt đầu bằng những giờ học giải phẫu trên những mô hình mẫu cơ thể học. Sau khi học lý thuyết về những chi tiết của những cuộc giải phẫu sắp phải làm, chúng tôi thực nghiệm trên xác chết. Hồi đó chiến tranh vừa chấm dứt (dĩ nhiên là đệ nhất thế chiến): sinh viên nhiều, xác chết ít. Nghĩa là những phương tiện học hỏi rất eo hẹp. Nên tôi phải ở lại sau những giờ giảng để nghiên cứu một mình những cuộc giải phẫu đa dạng nhất. Thỉnh thoảng, tôi cũng lén xuống căn phòng ở dưới giảng đường cơ thể học viện chứa những xác chết. Tôi hăng say mồ xẻ quên hết mọi việc. Dưới ánh đèn điện hiu hắt của những chiếc bóng đèn dính đầy bụi, tôi rạch mồ tìm từng động mạch, tìm từng dây thần kinh, tôi thử xét những hiểm nguy của những vết rạch mổ, tôi tưởng tượng những vụ đứt mạch máu mà tôi phải đối phó và nổi giận với chính tôi khi không tìm được một bộ phận nào thật nhanh chóng. Mỗi lần tôi phải lần tay vào thịt người chết, tử thi lạnh ngắt làm tôi rùng mình. Nhưng nghề đã dạy tôi cũng như tôi đã học nghề. Không những tôi tập mổ những thứ thường “tiểu giải phẫu” mà còn thử những vụ giải phẫu lớn, như cắt bỏ bướu cổ hay một cái vú, hoặc nạo hạch vùng nách. Trong những giờ cặm cụi một mình, cứ theo dõi trong tưởng tượng những cuộc giải phẫu thật, đến nỗi tôi đã sống trước tất cả những giai đoạn, những tình tiết bi đát nhất. Không ai biết về công việc lén lút này, trừ ông già giữ nhà xác. Ông đã để cho tôi làm. Chắc trong thời trai trẻ, ông đã mơ ước thực hiện những kỳ vọng ấy! Bây giờ chỉ còn tìm hiểu tôi sẽ xử sự ra sao khi đứng trước một người sống, khi giờ hành động đến. Tôi thoáng nhận biết lần đầu tiên khi ở bệnh viện – thật khiêm nhường thôi, hôm đó tôi mổ một cái áp-xe (abscess). Tuy vậy, đây là lần đầu tiên mà tôi cầm dao rạch vào da thịt người sống, và, như những sinh viên lính mới tò te, tôi cứ sợ đâm vào một mạch máu hay dây thần kinh. Mọi việc đều tốt đẹp cả. Và một khắc sau, tôi mỉm cười nhạo chính tôi lúc đó đã lúng túng. Nhưng tôi cũng biết mổ như vậy chưa phải là giờ phút quan trọng dấn thân.

Vài tháng đã trôi qua trong sự bình thản dối mình. Rồi một buổi sáng, tôi cảm thấy đã bước đến gần con đường có bóng. Tôi cố gắng tưởng tượng tình trạng căng thẳng đến với tôi khi mổ lần đầu tiên, và phải tỏ vẻ can đảm như thế nào, tóm lại, tôi đạo mạo cho là quan trọng lắm. Nhưng khi giờ phút quyết định đã tới, mọi việc đều xảy ra khác với dự tính. Có lẽ vì hôm đó, tôi đã may mắn có gần tôi một người cộng sự viên. Sự tin cẩn ở người đó đã giúp tôi vượt qua giai đoạn quyết liệt e ngại và ngập ngừng. Một người đàn bà đã giúp tôi rất nhiều mà tôi đã vô tình đưa đẩy vào một cái chết bi đát. Tôi sẽ nói nhiều về bà ở cuối truyện này. Sơ Erna đã làm việc mấy năm nay rồi ở bệnh viện này. Một người đàn bà nhỏ thó, nét mặt nghiêm nghị nhưng thanh tú. Với chức vụ nữ y tá trưởng, sơ không được cảm tình của mọi người cả bệnh nhân lẫn các nữ tu khác; bởi tính hay gắt gỏng, nét mặt cáu kỉnh và luôn luôn thiết lập trật tự trong bệnh viện. Phần tôi, tôi nhận thấy bà sống với nội tâm nhiều hơn. Hiển nhiên, vũ trụ của sơ là nhà thương; có thể nói, đối với sơ, thế giới bên ngoài không hiện hữu.

Sơ đã che chở cho tôi, – theo kiểu sơ nghĩa là cứng rắn, nhưng thân mật. Trong khi các bậc đàn anh thường thường không đếm xỉa tới anh lính mới tò te là tôi, thì sơ Erna đã chỉ cho tôi nhiều điều quý giá, không những về phạm vi y học mà còn trên bình diện nhân bản.

– Bác sĩ thấy không, một hôm bà nói với tôi, khoa thủ thuật ví như cuộc đời: điều cốt yếu là phải có một bàn tay cương quyết nhưng phải biết sử dụng thật mềm mại. Một phương thức thật kỳ diệu, thay cho câu văn cổ điển “bàn tay sắt trong chiếc găng bằng nhung”! Hơn một lần trong cuộc đời chức nghiệp, tôi đã bắt gặp ý nghĩa thầm kín và sâu xa của câu nói đó. Những người phụ tá trong bệnh viện chưa bao giờ có dịp tham dự những cuộc giải phẫu lớn. Vì họ làm việc trong những căn  phòng đầy vi trùng, nên khi họ vào phòng mổ đã khử trùng thật là một điều hiểm nghèo. Tôi cũng vậy, phạm vi khử trùng là nơi cấm địa. Tôi chỉ được dự những cuộc giải phẫu những trường hợp nhiễm trùng như mổ một khớp xương đầy mủ hay áp-xe (abscess) lớn. Tôi nóng lòng chờ đợi. Tôi tưởng đã sửa soạn tất cả để hành nghề cao quý của tôi. Hồi bé, tôi hết lòng tập cho tay càng ngày càng nhanh lẹ, càng tinh tế khi kéo vĩ cầm và vẽ. Khi trở thành sinh viên, tôi đã quan sát thật kỹ càng điệu bộ và dáng dấp của những ông thầy giỏi khi mổ, một sự hòa hợp cường lực với dịu dàng thanh thoát. Dáng bộ mà tôi cố bắt chước mỗi lần phải làm phụ tá giúp mổ. Tôi cũng đã làm hết sức, – bởi đâu có dễ – để vứt bỏ thói quen thật tai họa, tính xấu của những người mới học lúc đầu, là giơ đầu lên vùng mổ để “nhìn cho rõ hơn”. Mà, khi giải phẫu lại cứ nghiêng mình thì làm sao mà có thể cử động thoải mái được. Nghĩa là vẻ thanh thoải của một thủ thuật gia lành nghề. Tôi cũng nhận thấy là trong phòng mổ hay ở đâu cũng vậy, bao giờ cũng có những thói xấu và tốt. Những thói xấu được biểu hiện một cuộc xô đẩy xung quanh “bàn bi da”. Tôi thấy đầu bác sĩ chạm nhau đôm đốp trên vùng giải phẫu. Nhiều khi trong trường hợp khó, còn tranh luận ngay trong khi đang mồ để biết ta phải hoặc nên làm những điều gì. Cũng may mà trong khu giải phẫu của chúng tôi, những điều sơ suất này bị cấm đoán ngặt nghèo. Ông Thầy cũng như các bác sĩ, phê phán rất chính xác và đường mổ tuyệt diệu, gọn gàng, có đủ uy quyền với nhân viên để có một sự phục tùng hoàn toàn, im lặng và hữu hiệu. Hơn nữa, ngay trong những tình trạng nguy ngập nhất, họ đều giữ được bình tĩnh – điều kiện cốt yếu trong nghề chúng tôi, một nghề mà mọi sự thụt lùi đều không thể được. Nhưng cũng có những thủ thuật gia mất bình tĩnh, sợ trách nhiệm cuối cùng, hay ngay cả bỏ cuộc trước khi chiến đấu, e ngại trước một khó khăn bất thường. Dĩ nhiên là nhân vô thập toàn và con người lắm khi yếu đuối, nhưng bệnh nhân lãnh đủ.

Sau bốn tháng ở bệnh viện tôi được đổi đến một khu khác. Bây giờ cánh cửa phòng giải phẫu khử trùng sắp mở trước mặt tôi. Giây phút quyết liệt đã đến …

Một buổi sáng, anh y sĩ trưởng nhờ tôi phụ anh mổ một sa ruột bẹn (hernie inguinale). Tôi thuộc lòng kỹ thuật mổ này. Khi tiến tới phòng tiền giải phẫu, tôi gặp sơ Erna. Sơ gật đầu chào nhưng vẫn nhìn tôi chằm chằm vẻ suy tư. Đến ngày hôm nay tôi còn nhớ cái nhìn ấy: đôi mắt to và đen hình như dò hỏi, như muốn móc một điều bí mật nào. Tôi định hỏi sơ lý do của cái nhìn soi mói này, nhưng bỗng nhiên, sơ quay mặt đi vào phòng tiền giải phẫu trong đó anh y sĩ trưởng đang sửa soạn mồ. Hơi thắc mắc, tôi theo gót bà. Suốt mười phút chúng tôi không nói với nhau một lời nào. Chúng tôi rửa tay trong nước nóng, thọc tay đến khuỷu vào một dung dịch Sublimé và trong cồn, sau đó để tay khô. Rồi mặc áo blouse đã khử trùng và đi bốt trắng, chúng tôi vào phòng giải phẫu. Bệnh nhân rất nhạy cảm nên anh y sĩ trưởng đã ra lệnh đánh thuốc mê, vì trường hợp đặc biệt, vì thường thường, mổ bướu bẹn chỉ tiêm thuốc tê. Bệnh nhân đã ngủ say rồi và nằm trên bàn. Tôi sắp đứng ở vị trí phụ tá của tôi thì anh y sĩ trưởng quay lại tôi:

– Hôm nay anh mổ, tôi sẽ phụ tá anh.

Tôi tưởng đã nghe nhầm.

– Anh dạy chi?

– Anh mổ đi! – Anh vừa cười vừa nói.

– Cám ơn anh. Rồi tôi đứng vào vị trí người mổ.

Cô y tá phụ trách dụng cụ đưa cho tôi một đôi găng tay. Tôi đeo ngay. Khi quan sát vùng mổ, bỗng nhiên tôi nhớ lại một lời nói của thầy tôi, giáo sư LEXER: “Cần nhất là những anh trẻ phải học mổ đi!” Chính vì muốn cho họ cơ hội, nên ông luôn luôn, nếu có thể, để cho họ mổ, trong khi những thầy khác đều có vẻ thờ ơ hay muốn giấu nghề. Trong khoảnh khắc, tôi biết là tôi mổ được bướu bẹn này.

Vừa cầm lấy dao mồ, tôi rạch một đường ở bẹn. Không ngần ngừ một chút nào cả, trái lại, tôi làm thật  nhanh, thúc đẩy bởi tham vọng khoe tài. Nói thật thà hơn, tôi sẩy nẩy quá. Bỗng nhiên anh y sĩ trưởng nói:

– Đi đâu mà vội thế bồ … Khỉ chửa, anh bị lửa đốt hay sao thế! Cứ từ từ, đi đâu mà vội!

Mọi việc đều trôi chảy như xếp. Tôi đem dễ dàng túi bướu bẹn, mở nó ra, xem trong đó có gì, ấn nó lên rồi khâu đáy lại. Tôi cho luồn tất cả dưới bắp thịt, khâu theo kiểu Bassini, khâu các loại mô liên kết lên trên và đóng vết mổ lại. Sau khi băng vết mổ lại, mấy anh phụ cởi dây buộc bệnh nhân và đưa về phòng. Anh y sĩ trưởng đã bỏ đi từ mũi kim đầu. Cả toán rời phòng giải phẫu. Tôi đứng một mình trước bàn mổ trống. Cuộc giải phẫu đầu tiên của tôi? Thật ra tôi, không cảm thấy một chút hứng cảm hãnh diện nào? Hứng cảm mà tôi chờ đợi mãi giây phút trọng đại này. Có phải tôi đã mổ, dưới sự kiểm soát của một cấp trên? Có thể, nhưng tuy vậy …

“Chỉ có thế thôi ư?”, tôi nghĩ lòng thất vọng. Trong hành lang trước chỗ rửa tay, tôi gặp lại sơ Erna. Sơ có vẻ vui quá, đôi mắt biểu tượng một niềm hoan lạc vô tả. Tôi không thể không nghĩ đặt một sợi dây nhân quả giữa niềm vui ấy và “chiến công” của tôi. Tôi muốn rõ trắng đen.

– Ma-sơ ạ . . . có phải vì ma-sơ mà tôi được mổ không?

Bà cười mà không trả lời. Nhưng vài phút sau, một chị đến xác nhận điều ấy:

– Sơ Erna chắc vui lòng lắm. Sáng hôm qua, tôi đang đứng với anh y sĩ trưởng thì ma-sơ đến và cứ nằng nặc để xin cho anh được biểu diễn một đường dao. Ma-sơ nói vẻ chắc chắn anh có phong thái một thủ thuật gia giỏi.

Bắt đầu từ buổi đó, tôi nghĩ đến sơ Erna nhiều hơn là cuộc giải phẫu đầu tiên của tôi. Thật lạ quá. Một người đàn bà dị kỳ! Ma-sơ có ngoan đạo không – đúng với ý nghĩa sâu xa của nó? Tôi vẫn tự hỏi mãi. Ma-sơ vẫn thường đi lễ, như tất cả những nữ tu, nhưng bà thiếu sự trong sáng của đức tin mãnh liệt. Ở nhà thương rất nhiều sơ còn trẻ, những người đàn bà khả ái nhưng tin chắc ở tình thương của Chúa đã đem gieo rắc tình thương cho tha nhân. Các sơ tạo một bầu không khí chung quanh đầy thánh thiện thanh thản và niềm mến tha thiết. Nhưng sơ Erna không toát ra vẻ thánh thiện ấy. Cứng rắn và nghiêm khắc, bà có vẻ một người ghét cuộc đời và khinh loài người. Có thể bà đã thất vọng quá nhiều mà không thể thoát được, – một mối tình ngang trái hay từ chấn động tâm linh từ thủa nhỏ. Càng nghĩ về câu hỏi và thắc mắc này tôi càng muốn biết rõ câu chuyện nhiều hơn. Không phải vì tò mò, mà vì tôi muốn giúp bà trên phương diện nhân bản, như bà đã giúp tôi trong nghề nghiệp. Mấy hôm sau cuộc giải phẫu đáng nhớ này, đến phiên tôi gác đêm. Đi dọc theo hành lang tối tăm, tôi rất ngạc nhiên khi nhận thấy trong văn phòng chánh còn ánh điện. Qua cánh cửa mở hé, tôi thấy sơ Erna đang cặm cụi với hồ sơ bệnh nhân. Tôi bước vào.

– Thế nào, tôi nói giọng như trách, quá nửa đêm rồi, Sơ không nghỉ bao giờ? Tuy ở đời chỉ có công việc là quý. Nhưng Sơ có bao giờ nghĩ ngày mai sẽ làm gì không và lại là ngày chủ nhật nữa?

Sơ từ từ ngửng đầu lên. Với vẻ mặt khắc khổ, đường nét như chạm trổ dưới ánh đèn để bàn, đôi mắt mệt mỏi viền đỏ chứng tỏ hùng hồn bao nhiêu mỏi mệt của những buổi thức đêm liên tiếp.

– Mai tôi làm gì ư? – Bà nhắc lại. Thì, bác sĩ cũng thừa biết. Như những chủ nhật trước. Làm việc, đi lễ, rồi lại làm việc. Rồi sau bữa trưa tôi đi dạo một giờ, hay nếu trời xấu thì nằm nghỉ. Rồi làm gì nữa? Thì lại làm việc, ở nhà thương có bao giờ hết việc làm đâu? Bà nói giọng thật bình thản làm tôi thấy bực tức gần như nổi loạn. Tôi gắt:

– Thật vô nghĩa quá! Sơ không thấy Sơ đang sống như một người bị khổ sai à? Làm việc, rồi lại làm việc, lúc nào cũng làm việc … Sơ lại sắp nói với tôi là cuộc sống này thật hạnh phúc?

Bà trả lời tôi giọng khô khan:

– Chúng ta không sống trên đời để hưởng sung sướng, nhưng để làm bổn phận mình. Tôi biết lắm. Chính KANT đã đặt những phương thức cứng rắn ấy. Tôi chưa bao giờ tin được là một người bằng xương bằng thịt, lại là đàn bà nữa, có thể tuân theo toàn diện nguyên tắc ấy.

Tôi ngạc nhiên khi thấy Sơ cười.

– Chính vì thế mà bác sĩ nhầm rồi. Tôi có thể nói, sống như vậy, tôi sẽ sung sướng, theo cách sống của tôi.

Không biết trả lời thế nào, tôi nhún vai và đi ra. Mấy tuần sau buổi đối thoại này, tôi lại gặp Erna trong phiên trực đêm. Tôi rất hài lòng vì có thể tin cậy bà. Từ lúc tối đến giờ bệnh nhân và những người bị tai nạn cứ ồ ạt như thác lũ đến chất đầy phòng nhận bệnh. Dù tôi có muốn đi chăng nữa, cũng không có thì giờ để tiếp tục câu chuyện với Sơ.

Vào khoảng hai giờ sáng, xe cứu thương chở đến chúng tôi, nằm trên cáng, một thanh niên tái mét và sốt, má hóp lại vì đau đớn. Phiếu gửi bệnh có ghi án chẩn: Sưng ruột thừa cấp tính. Lại một trường hợp đòi hỏi một quyết định tức thời. Khi quan sát bụng bệnh nhân, tôi thấy phần phải vùng bụng dưới không đưa đẩy theo nhịp thở nữa. Khi sờ nắn, thấy bắp thịt và da bụng căng cứng. Tôi bảo bệnh nhân co chân lại để bụng bớt căng; thật vậy, bụng mềm hẳn đi không gồng nữa nhưng trừ phía phải bụng dưới. Hiển nhiên viêm chứng đã lan tới màng bụng rồi. Hơn nữa, bệnh nhân đau lắm, đụng vào bụng đã rên ầm lên. Đúng là chứng sưng ruột thừa phát triển thật nhanh và có thể gây rất nhiều biến chứng. Do sự nhận xét của tôi, ruột thừa sưng này phải ở sát màng bụng lắm; có thể đã thủng rồi. Có thể miếng ruột thừa này không ở chỗ thường lệ, giữa rốn và đỉnh xương hông, mà dưới nữa. Sơ Erna, đứng ở đầu cáng nhìn chăm chú và lo ngại cuộc khám nghiệm này. Khi Sơ ngước nhìn tôi có ý dò hỏi, tôi nhún vai:

– Ma-sơ cho bảo ông y sĩ trưởng đi. Phải mổ ngay.

– Y sĩ trưởng không mổ được ngay bây giờ. Vừa mới có một người bị tai nạn, trường hợp nặng lắm một phần ngực bị đè nát; còn phải mổ lâu lắm.

Hơi tư lự, tôi nhìn chăm chú khuôn mặt rầu rĩ của bệnh nhân. Tình trạng này có thể chờ được không? Hiển nhiên, mọi sự chậm trễ rất tai hại và nguy đến tánh mạng. Nhưng hiện giờ anh y sĩ trưởng không thể mổ được … Chợt sơ Erna tiếp:

– Ông có thể mồ một mình trường hợp này.

Bà nói rất nhỏ, giọng năn nỉ. Ngạc nhiên, tôi ngửng đầu lên. Bà đang nhìn thẳng vào mắt tôi như ngăn cản không cho tôi từ chối. Vào lúc đó tôi cảm thấy, trước mặt có “cái bóng” hằng e ngại này. Bây giờ tôi chắc chắn như vậy.

– Được, để tôi mổ.

Sửa soạn thật nhanh chóng.

Anh phụ tá tập sự. Chúng tôi rửa tay.

Đặt lên bàn mổ. Bắt đầu đánh thuốc mê. Chưa bao giờ căn phòng mồ về đêm đối với tôi, lại rộng lớn và buồn tẻ đến như vậy. Tôi gần như quên sự hiện diện của mấy anh phụ tá, tôi có cảm tưởng đứng một mình với ánh điện chói sáng, một mình gánh trách nhiệm về án chẩn này, từng đường mồ, từng nhịp tay, từng mũi khâu. Trách nhiệm trước mọi biến chứng dù nhỏ mọn, mọi hiểm nguy của thuốc mê, mọi cơ hội nhiễm trùng và tình trạng khúc ruột … và bao nhiêu điều khác không thể lường được.

Lần đầu tiên, một con người bị bất lực đang ở trong tay tôi và phó thác cả tính mệnh cho tôi. Đây không phải là cuộc giải phẫu đầu tiên, dưới sự kiểm soát, của một y sĩ tha thiết muốn chọn hướng thủ thuật gia, nhưng là giờ phút của trách nhiệm, đầu tiên, trách nhiệm hoàn toàn, không ai giúp và chỉ bảo, giờ phút cảm thấy cô độc, dưới mắt Thượng Đế. Tôi phải nói, mặc dù tâm trí căng thẳng nhưng tôi không mất bình tĩnh. Khi rạch đường mồ đầu, tôi lấy lại sự bình thản cố hữu. Tôi có thể làm việc với đầu óc minh mẫn cần thiết. Đây không phải là một trường hợp dễ dàng. Khi tôi rạch những lớp màng bụng và mở bung ra, nước mủ chảy ra ngay. Tôi tìm với ít nhiều khó khăn, miếng ruột thừa sưng ú và nhầy nhụa. Tôi kéo nó ra, buộc chặt cuống ruột thừa; nhưng cũng phải tế nhị lắm, đối với anh lính mới tò te như tôi, vì cứ bắt đầu buộc (nơ) là chỉ lại tuột về phía ruột bị sưng. Sau khi buộc và cẩn thận tách phần ruột thừa có mạch máu, dây thần kinh và mạch cắt làm ba, tôi cố hướng mũi khâu vào vùng ruột tốt và chắc. Tôi cắt miếng ruột thừa sưng đỏ và vứt vào chậu. Sau đó, phải xem cẩn thận những vùng khác, đặt ống thông nòng, khâu lại và băng vết mổ.

Khi ngửng mặt lên, tôi bắt gặp ánh mắt đen láy của sơ Erna đang hướng về phía tôi. Bà nhìn tôi thật lâu. Sau cùng bà gật đầu và mỉm cười như muốn thầm nói: “Thôi nhé! Bây giờ ông mổ cừ rồi đấy!” Riêng tôi cảm thấy như thay đổi, như trưởng thành, trong vài phút ngắn ngủi, cái cảm tưởng sâu xa và thực thụ ấy.

Độ một tháng sau, trong bệnh viện có một biến cố nhỏ nhưng đầy hứng thú: một cô y tá mới vừa đổi đến. Cô Hồng thật xứng với mỹ danh của cô: vừa đảm đang, vừa được mọi người tin cậy, cô lại trẻ đẹp và vui như tết. Bệnh nhân mến cô. Các bác sĩ nở nụ cười khi cô vào phòng bệnh. Chỉ một vài ngày khu bệnh viện cô phụ trách đã thay đổi hoàn toàn vì vẻ duyên dáng và thanh tú của người nữ y tá đó. Một hôm tôi đang nói chuyện với cô cạnh cửa sổ lớn ngoài hành lang và đang cười nói khôi hài thì sơ Erna tới. Khi nhìn thấy chúng tôi, sơ dừng lại và đôi mắt đưa đảo. Rồi sơ quay mặt đi thẳng.

Buổi chiều tôi gặp lại sơ Erna trong phòng rửa tay. Khi chúng tôi đang thoa xà phòng, sơ Erna nhìn tôi và nói nhỏ:

– Bác sĩ có lý. Bữa nọ bác sĩ nói đúng. Tôi không sung sướng và đến hôm nay tôi vẫn không sung sướng. Nhưng không sao. Có thể tôi sẽ thay đổi đi nhiều.

Sáng hôm sau, cả khu bệnh viện thì thầm xúc động. Sơ Erna chưa đến phòng làm việc. Căn phòng đóng chặt cửa, gọi mãi không thấy sơ trả lời. Lo lắng, anh bác sĩ giám đốc cho xô cửa để vào. Người nữ tu sĩ nằm bất động trên giường, một đống máu đỏ đã đông đặc. Cô y tá trực cho chúng tôi biết, đêm qua sơ làm việc đến một giờ sáng để xếp lại hồ sơ cho có thứ tự. Sau đó, sơ đi ngủ và lấy dao mổ rạch động mạch đùi.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 17, tháng 5, 1965]

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

4. Lời giới thiệu của nhà xuất bản và tác giả Olivier Todd

30 tháng 4 năm 1975: Một ngày lịch sử đen tối của thế kỷ 20 , một ngày không bao giờ quên được đối với tất cả đồng bào Miền Nam Việt Nam. Ngày đó “quân đội nhân dân” Miền Bắc của chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (bộ đội Bắc Việt) tiến vào Sai Gon. Ngày đó coi như cuộc chiến 30 năm chấm dứt, một cuộc chiến dai dẳng mà cộng sản Việt Nam theo đuổi bằng mọi giá, ….. dưới chiêu bài “đánh Pháp giành độc lập”, và “chống Mỹ cứu nước” nhằm đuổi họ ra khỏi bán đảo Đông Dương .. bất chấp sự chết chóc, đau thương thống khổ của người dân Việt, để cuối cùng dâng trọn đất nước Việt Nam cho Liên Xô, một pháo đài trung ương của vùng Đông Nam Châu Á …

Ba tháng cuối cùng của tấn bi kịch lịch sử hiện đại nầy được tác giả Olivier Todd tường thuật đầy đủ một cách sống động và độc giả sẽ nhận diện được từng nhân vật bị lôi cuốn hằng ngày theo biến cố nầy, và từng sự việc có liên quan đến tình hình chánh trị quốc gia và quốc tế.

Ông Olivier Todd, sanh năm 1929 tốt nghiệp đại học Sorbonne (Pháp) và Cambridge, Belligue (Anh) là cộng sự viên của đài BBC, của tuần báo Times, Newsweek (Mỹ), là một phóng viên của tờ Nouvel Observateur (Pháp), là tổng biên tập viên của tờ l’Express (Pháp) và là tác giả của nhiều tiểu thuyết có giá trị như: “L’année du crabe” (Năm con cua) hay “Les canards de Ca Mau” (Vịt Cà Mau) v.v.. Ông là một sử gia hiện đại, một trong rất ít nhà báo Tây Phương may mắn theo dõi sát được cuộc chiến từ Hà Nội, Saigon đến vùng bưng biền của Việt Cộng. Rất quen thuộc Việt Nam và nhiều thủ đô của các quốc gia khác ông sẽ đưa độc giả đến các chiến trường sôi động như Phước Long, Kontum, Pleiku, Hué, Đà Nẵng, từ các vùng ngoại ô đến trung tâm Saigon, Washington, Moscou và Paris. .. đến gặp tất cả những nhân vật sống, đang hoạt động lúc bấy giờ, từ Nguyễn văn Thiệu đến Gerald Ford, Kissinger, Võ nguyên Giáp, Phạm văn Đồng, Dương văn Minh v.v… , từ các chiến binh đến những nạn nhân đau khổ của chiến cuộc… Và cuối cùng đến thảm trạng ngày 30/4/75…

Do đó “Tháng Tư Nghiệt Ngã” sẽ được xem như một bản tường thuật đầy đủ và chính xác nhất về những ngày khủng khiếp dẫn tới ngày 30/4/75, ngày báo hiệu cho một màn đêm dài vô tận và còn khủng khiếp hơn nữa cho dân tộc Việt Nam.

Nhà xuất bản Robert Laffont – Paris

Tháng Tư Nghiệt Ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

3. Lời giới thiệu của người dịch

Đối với người dân Miền Nam Việt Nam, ngày 30/4 là một ngày dài, bi thảm! Tuy quân dân Miền Nam đã chiến đấu rất anh dũng để bảo vệ đất nước đến giờ phút cuối cùng, nhưng hầu hết Quân Dân Cán Chính Miền Nam vẫn chưa hiểu được

Tại sao TA mất nước ?

Dĩ nhiên phải có những nguyên nhân xa, nguyên nhân gần với những hậu quả chánh trị và quân sự của nó, phải có những lý do chủ quan và khách quan dẫn tới ngày 30/4/75.

Cho dù may mắn chạy thoát được nanh vuốt của bọn quỷ đỏ trước hay sau ngày bộ đội Miền Bắc dùng chiến xa T.54 của Liên Xô ủi sập hai chữ “Độc Lập” của Miền Nam Việt Nam , hay không may mắn hơn phải bị cộng sản lùa đi lao động khổ sai hằng chục năm dài đau khổ từ biên giới Trung Quốc đến mũi Cà Mau, gần như hầu hết quân dân cán chính chúng ta sau giây phút bàng hoàng ngơ ngác chiếu ngày 30/4 với sự có mặt của anh bộ đội Miền Bắc ngay tại Saigon, tất cả đều đã giải đoán sai hết về câu hỏi

Tại sao chúng TA mất nước ?

Có hơn “một ngàn lẻ một” câu trả lời: “Tại, Bị, Song le, Vì bởi, Lẽ ra “ … v.v. và v.v.. nhưng tôi nghĩ là chúng ta mỗi người ở mỗi vị trí khác nhau, như người mù chỉ được người ta cho sờ có mỗi một bộ phận nào đó của con voi thôi thì làm sao người đó tả lại đúng hình dáng và kích thước của con voi được ?

Do đó lần lượt chúng tôi xin được giới thiệu với độc giả một vài tác phẩm mà hôm nay là quyển “Tháng Tư Nghiệt Ngã” (nguyên tác: “CRUEL AVRIL”) của tác giả người Pháp: Olivier Todd.

Tác phẩm nầy được xuất bản vào tháng 11 năm 1987 tại Pháp.

Tác giả là một phóng viên, một nhà báo có tên tuổi đã từng cộng tác với các tờ báo lớn ở Hoa Kỳ và Pháp, nên đã theo dõi được gần hết các biến cố chánh trị , quân sự cũng như xã hội tại hai miền Nam Bắc trong suốt cuộc chiến ở Việt Nam.

May mắn hơn ông còn có nhiều liên hệ mật thiết với các bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ, Liên Xô, Đông Âu, và ngay cả Việt Nam: Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản Bác Việt và MTGPMN. Nhờ đó tác giả có cái nhìn bao quát hơn, thấy rõ hơn chúng ta mọi nguyên nhân xa gần nhất là về chánh trị và hậu quả của từng sự việc, đặc biệt theo sát được diễn biến của tình hình quân sự ở Miền Nam trong suốt thời gian 4 tháng đầu năm 1975.

Đặc biệt hơn nữa là trước 75, tuy không thuộc hẳn thành phần chống chiến tranh như Jane Fonda hay Ngô công Đức, nhưng ông có tư tưởng tự do phóng khoáng nên ít hay nhiều bị ảnh hưởng của chiến dịch tuyên truyền quy mô , dai dẳng và có hiệu quả của tập đoàn cộng sản quốc tế hỗ trợ cho cộng sản Bắc Việt , nên ông đã có một cái nhìn thiện cảm về “nền hòa bình” mà cộng sản Việt Nam đã vẽ ra và đòi hỏi để lấy đó làm chiêu bài dối gạt dư luận quốc tế về mục tiêu của cuộc chiến xâm lăng của họ, một cái nhìn khác hơn cái nhìn thực tế của chúng ta là những người trong cuộc, đã và đang ra sức chống lại làn sóng xâm lăng của cộng sản quốc tế mà CSVN chỉ là một đạo quân tiền phong.Giống như vợ chồng nữ tài tử Jane Fonda và các nhóm người “chống chiến tranh đòi hòa bình”, về sau nầy tác giả may mắn thấy được thế nào là “hòa bình” kiểu xã hội chủ nghĩa qua sự thật trần truồng được phơi bày rõ ràng trước cả thế giới, từ thái độ đến hành động của cộng sản đối với người dân Miền Nam Việt Nam trong hơn một thập niên sau khi Sai Gon thất thủ năm 1975, ông chợt nhận ra sự thật phũ phàng, tuy có hơi muộn.

Từ đó ông có một lăng kính khác hẳn với quyển “Cruel Avril” mà chúng tôi tạm dịch là “Tháng Tư Ngiệt Ngã” xuất bản năm 1987, ông thấy rõ nguyên nhân sâu xa và thầm kín của cuộc chiến xăm lăng bạo tàn do cộng sản tạo dựng ra ở Việt Nam, thấy được hậu trường chánh trị của cả phe cộng sản từ Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc đến công cụ tay sai của họ là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Nhờ đó ông cũng đã thấy được nổ lực chống cộng sản và chánh nghĩa sáng ngời của quân dân cán chính Miền Nam …. nên quyển sách nầy rất có giá trị về mặt lịch sử, một lịch sử suốt chiều dài của hậu bán thế kỷ 20 mà cộng sản Bắc Việt đang cố ra sức bẻ cong, viết theo chìu hướng “yêu nước” và “anh hùng dân tộc” của họ, hầu che đậy kỹ và chạy tội với hậu thế hành động bán nước hại dân, làm tay sai cho đệ tam quốc tế cộng sản . …..

Chúng tôi xin chân thành giới thiệu tác phẩm nầy với các bạn “yêu nước mà không yêu xã hội chủ nghĩa” ở hải ngoại cũng như ở trong nước, nhất là đồng bào ở Miền Nam Việt Nam của chúng ta, để trả lờì cho hằng ngàn thắc mắc có khi đến giờ nầy vẫn không hiểu “Tại sao ta mất nước”. Văn của tác giả Olivier Todd là lối văn phóng sự của một nhà báo và đôi khi của một nhà bình luận chánh trị, nên có nhiều đoạn chúng tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới nắm được ý chính của tác giả. Dù vậy, chúng tôi cũng cố gắng với số vốn nghèo nàn về Pháp văn của mình trong công tác chuyển ngữ, vừa giúp độc giả thấy được và nắm được từng sự việc, sự kiện lịch sử để giải tỏa thắc mắc của mình, nếu có, vừa ghi lại những sự kiện chánh trị cũng như quân sự có liên quan đến lich sử trước và trong ngày mất Miền Nam Việt Nam 30/4/1975, cốt không để cho cộng sản Việt Nam bóp méo được lịch sử theo ý đồ bất chính đến ma giáo của họ.

Chúng tôi xin chân thành đón nhận tất cả những ý kiến xây dựng và sửa chữa của quý độc giả xa gần để bản dịch ngày càng chính xác hơn, trước khi xuất bản.

Người dịch: Dương hiếu Nghĩa

Dấu chân ngày xưa

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

Bài 4.

Đại bàng gãy cánh

Trời vào mùa Đông, cảnh núi đồi trở nên trơ trụi, đó đây một vài cánh chim bay lượn. Dưới cánh đồng lộng gió, những ngọn cỏ chết khô vì giá buốt, đang rạp mình dưới chân con mèo hoang rình mồi. Và trên sườn núi, cánh chim đại bàng đang na cành về làm tổ. 
Mùa Đông đang về với núi rừng Phi Châu. Những cánh đồi xanh tươi, tràn đầy nhựa sống, bây giờ xơ xác, thiếu cả tiếng xào xạc của rừng lá trông đến vắng lặng. Những thân cây cổ thụ bày cành trơ trụi trước gió đông, và nơi đây, chỉ có những ngọn gió thổi rì rào trên bải cỏ hoang tàn. Trên không là một cặp trống mái đại bàng, đang nhào lộn, lách mình xuyên qua những cành cây khô trụi lá, để lùng bắt những con mồi xấu số. Gió thổi càng mạnh đại bàng càng thích thú. Cặp mắt sáng quắt, đại bàng vươn đôi cánh trên cành cây khô, và cơn gió từ từ bốc người bay lên. Rồi nhào một cái là cả đám côn trùng lẫn chuột, thỏ đều kinh hồn chạy tán loạn. 
Sự sống và cái chết trên triền núi này chỉ là gang tấc. 
Mùa Đông đến mang theo cái lạnh về với rừng núi. Cũng là lúc đại bàng xây tổ uyên ương. Có những chiều gió lạnh, cặp đại bàng trống mái cùng nhau đi săn mồi mang về tổ ấm. Cái tổ ấm đơn sơ, chỉ có chổ nằm nhưng không có chổ che nắng che mưa, được xây lên bên cạnh vách đá. Rồi những cuộc tình mây mưa giữa gió trời lồng lộng, trống mái cuộn tròn trong nhau, cho rơi tự do với tốc độ ái ân. Rồi đùng một cái chàng đưa nàng bay bỗng lên trời cao, như đã đến tột đỉnh của tình yêu, nàng xòe đôi cánh thả mình lơ lửng trong bầu trời xanh lơ. Một thoáng qua đi, rồi cơn gió đưa nàng trở về bên tổ ấm. Tình yêu thật màu nhiệm, để bây giờ trong nàng, cuộc sống mới bắt đầu chớm nở. 
Dưới thời tiếc khô khan và giá buốt, những ngọn cỏ trên cánh đồng hoang càng ngày càng già úa. Sức sống cỏ cây ở đây cũng tàn lụi dần theo cái lạnh của mùa đông. Và cánh đồng bây giờ lại càng rõ nét, nên bầy thỏ, chuột lại mất đi tấm màn bảo vệ. Những con mồi béo bõng hằng ngày vẫn lồ lộ trước mắt nên đại bàng suốt ngày no nê, chỉ một mình đại bàng trống cũng có thể tìm được bửa ăn hằng ngày cho “gia đình.” 
Có lẽ vì thế mà đại bàng chỉ sinh nở vào mùa đông. 
Từ trên vách đá cheo leo đại bàng cất cánh. Hắn xòe đôi cánh ra để đón gió, trong một cái liếc mắt, những ngọn gió luồng dưới đôi cánh khũng lồ, và nghiêng người đi một cái, hắn đã đưa thân hình bay bỗng lên không trung. Gió vẫn thổi, và cũng hai đôi cánh, hắn đứng yên trong vòm trời. Với hai con mắt tò vọ, hắn đão nhìn xuống phía dưới. Bóng dáng con thỏ vừa xoai mình nhảy ra khỏi buội rậm là hắn xếp cánh, như một chiến đấu cơ, đại bàng cắm xuống, rà phía sau con thỏ xấu số. Rồi nhanh như chớp những vuốt chân xòe ra rồi chụp lại. Hai đôi cánh lại quạt liên hồi, và trong nháy mắt hắn đã kẹp con mồi bay về tổ ấm. 
Hắn ân cần xé từng miếng mồi nhỏ cho nàng, rỉa từng sợi lông trên đôi cánh của nàng như một cử chỉ yêu đương triều mến. 
Gió mùa đông càng về sau càng lạnh, nàng dùng đôi cánh và những sợi lông mềm mại đẻ ấp ủ trứng. Rồi ngày tháng cũng đến, trứng vỡ ra, một cuộc sống mới lại chào đời. Như mừng rỡ nhìn thấy giọt máu của mình, hắn lại cất cánh bay đi, nhặt một cành cây khô thật lớn, bay vút lên không trung. Hắn thả cành cây cho rơi tự do, rồi lao mình bay theo chụp lại. Rồi lại thả cho rơi tan tành trên vách đá. 
Có lẽ chỉ có nàng mới hiểu nỗi sự vui mừng của hắn! 
Bên cạnh hai chiếc áo giáp màu đen với thân hình khổng lồ lại là một đứa bé nhỏ xíu với bộ lông trắng nõn. Chào đời giữa mùa đông, nhưng đứa bé luôn được ấp ủ bởi đôi cánh ấm áp. Đại bàng con ăn nhiều chóng lớn. Màu lông trắng từ từ chuyển qua màu vàng nâu, và những móng chân sắc bén bắt đầu thực tập trên những miếng mồi. 
Và mùa đông cũng đã đi qua. 
Trên sườn núi, và cánh đồng dưới chân, đang mang dấu mùa xuân trở lại. Bầy chuột và thỏ bây giờ cũng đông hơn. Trống mái thay phiên nhau đi săn mồi đem về cho đại bàng con. Trên vách đá đại bàng con suốt ngày lẫn quẩn trong ổ. Nhìn xuống cánh đồng những hoa, quả và màu xanh từ từ trở lại, nó cũng muốn tung đôi cánh theo bố mẹ nhào lượn dưới đó. Để sửa soạn cho ngày đó, ngày mà cả ba trong gia đình dìu nhau rong chơi trên cánh đồng hoang trước mặt, bố đang tập cho nó từng bước di chuyển và cách xử dụng đôi cánh. Đôi cánh vụng về đang đập bành bạch trong gió, đôi khi làm nó chúi nhũi. 
Gia đình, cái không khí gia đình thật là ấm cúng. Hằng ngày trống mái đại bàng vẫn quanh quẩn tìm mồi về nuôi con. Cũng như như bao nhiêu cặp đại bàng khác, nó chỉ sinh ra một đứa con vào mùa đông, bảo vệ và nuôi nấng cho lớn. Khi vào mùa hè thì đại bàng con sẽ được huấn luyện đầy đủ để một thân một mình bay vào cuộc sống. 
Nhưng lần này thì khác. 
Cái ấm cúng gia đình đang chớm nỡ thì đại bàng mái lại đi xây tổ ấm khác. Mỗi ngày sau khi cho đại bàng con ăn xong, nàng lại đi na cành vè xây một tổ ấm bên sườn núi phía dưới. Rồi những cuộc tình mây mưa giữa bầu trời lại tái diễn. 
Mùa xuân chóng qua, mùa hè lại đến, đại bàng lại đến ngày sinh nở. Nàng cho ra đời hai quả trứng. Rồi một cảnh hai quê, nàng vừa ấp ủ trứng vừa phụ chàng nuôi nấng đại bàng con. 
Rừng hoang nào lại không có thú dữ! Và mèo hoang vẫn luôn rình mò đi tìm miếng mồi béo mỡ. 
Mùa hè càng ngày càng gay gắt, màu xanh cây cỏ cũng từ từ biến thành màu nâu vàng úa. Côn trùng, chim chuột cũng hao mòn và lẫn trốn xa dần cánh đồng hoang. 
Cuộc sống ở đây ai cũng là thợ săn mà cũng là con mồi. 
Ðại bàng ngự trị trên không, tung hoành khắp đó đây với đôi cánh khỏe mạnh và đôi chân sắc bén. Dưới ánh nắng hừng hựt của mùa hè, đại bàng xòe đôi cánh, in hình trên thảm cỏ khô là cả bầy chim, chuột khíp cả hồn vía. Nhưng ở đây không những chỉ có đại bàng mà còn ác thú khác nữa là mèo hoang. Ngày và đêm, trong từng bụi rậm mèo hoang vẫn luôn rình mồi. Với bước chân nhẹ như tơ hồng, mèo hoang thụt thùi bên bụi cỏ. Rồi cơn gió thoảng đi qua, mang theo mùi hôi da thịt mèo hoang làm cánh nhạn cất cánh bay lên. Nhanh như chớp, mèo hoang phóng mình nhảy lên rồi chụp xuống. Thế là những sợi lông chim lại bay phất phơ trong gió, để tiếc thương cho một linh hồn vừa rời khỏi xác. 
Càng vào mừa hạ thức ăn càng khan hiếm. Ðại bàng hằng ngày phải đi săn lùng liên tục may ra mới có đủ bửa ăn gia đình. Những con mồi càng ngày càng quen thuột với thói quen của kẻ đi săn, nên đại bàng phải làm việc cực nhọc hơn và phải đi xa để kiếm ăn. Ánh nắng vẫn hừng hựt nun đốt cỏ cây trên triền núi. Rồi một ngày nóng cháy hai trứng kia cũng đến lúc vỡ ra chào đời. 
Ðại bàng lần đầu tiên phá thông lệ sinh ra hai lần trong một mùa. 
Ðứa anh cả suốt ngày trông đợi bố mang mồi về, nhưng thức ăn lúc này bửa đầy bửa vơi. Nó năng tập tành đôi cánh để sớm vươn chải nuôi lấy bản thân. Cuộc sống càng khó, trống mái đại bàng sợ một ngày nào đó không đủ thức ăn, đại bàng anh có thể cắn chết hai đứa em. Nên nó đã xô đuổi đứa con lớn đi thật xa, xa khỏi tầm nguy hiểm của hai đại bàng mới sinh. Vậy là từ đó một mình đại bàng con tìm đường sinh sống nơi vách đá xa xôi. Với đôi cánh thiếu kinh nghiệm, đại bàng con nhiều lần đành ngó con mồi vuột đi trong nổi hối tiếc. 
Ðêm xuống vùng đất sa mạc càng giá lạnh, đại bàng con co ro một mình trên vách đá. Những miếng ăn tiếp tế từ đại bàng trống càng ngày càng thưa dần, đại bàng con càng ốm yếu. Và xa xa bên kia hai đứa em bắt đầu thấy đói. Ðứa chào đời trước lớn hơn, dành giực thức ăn của đứa ra sau. Nên sự chênh lệch về thể xác đã trở thành rõ rệt. Những con mồi bây giờ trở nên khôn ngoan, một mình đại bàng trống không còn đủ sức bắt mồi cho cả gia đình, vậy là trống mái phải cùng nhau đi săn chung. Hai đại bàng con không còn đôi cánh của mẹ chăm sóc, và vì đói khác, đứa lớn đã cắn chết đứa nhỏ. 
Tiếc trời sa mạc, cái nóng bang ngày vẫn tiệp tục dâng lên và cái lạnh về đêm vẫn tiếp tục hạ xuống. 
Trống mái đại bàng lại càng quẩn trí khi miếng ăn cho hai đứa con không còn đều đặn. Trống mái thường rời khỏi tổ ấm, bỏ đại bàng con mới sinh ra một mình để đi săn. Dưới ánh nắng như thiêu như đốt, không có đôi cánh của đại bàng mẹ che chở, đứa con như nằm trong cơn lửa. Ðại bàng anh bất lực săn mồi, và ngơ ngác như một con nai tơ bên cạnh những móng vuốt tử thần hằng đêm rình rập. Nhưng vì sự sống của gia đình, trống mái đại bàng phải cùng nhau đi săn. 
Hôm nay không tìm được con mồi, dù chỉ là con chuột nhỏ bé. Trống mái đại bàng đành phải làm một cuộc phiêu lưu. Hai đôi cánh vẫn rông rũi từ cánh đồng hoang này đến cánh đồng hoang khác tìm mồi về cho con. Trong cuộc săn lùng nó đã đi quá xa và trời đã tối. Bỏ lại hai con một mình trong đêm vắng. Ðến ngày hôm sau, trống mái na về một con thỏ béo mỡ. Nó bay thật nhanh đem về cho đứa con nhỏ. Nhưng khi về đến tổ ấm, dưới cái nắng như thiêu như đốt của sa mạc, đứa con nhỏ đã chết. 
Nhìn thân xác đứa con nhỏ nằm chết co ro dưới cái nắng, đại bàng lại mang con mồi béo mỡ đi tìm đứa con lớn. Trên triền núi, bên cạnh những vách đá cheo leo, đại bàng phát hiện đứa con chỉ còn lại hai đôi chân sắc bén nằm chơi vơi trên tảng đá. Và bên bụi cây, mèo hoang đang liếm những vết máu trên từng vuốt chân. 
Nó thả con mồi nằm bên cạnh đôi chân lạnh buốt, đưa mắt nhìn về phương trời xa xăm, cất tiếng kêu oan oát, rồi bay đi. Và tiếng gió, vẫn thổi rì rào qua cánh đồng hoang

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 17 Jan 2026

Bài 16

Thư bạn trẻ I

Với Bạn,

Người luôn đi tới …

Phần lớn của tập sách nầy, người viết nói về Bạn. Từ, với Bạn. Không phải là cách quá độ tập trung về một mối liên hệ. Nhưng bởi nói cho đến cùng, những tương quan tốt lành nhất đều ẩn chứa yếu tính nầy- Yếu tính bằng hữu- Qua đó Người đổi xử nhau như Huynh Đệ với rất mực tôn trọng, công bằng. Trong khi chờ đợi buổi ĐẠI HOÀ VŨ TRỤ, mà chưa biết đến bao giờ hiện thực nơi trần thể nhiễu nhương, tranh chấp, tàn nhẫn nầy- Đối xử nhau như ANH-EM ắt hẳn là bước chuyển tiếp cần kíp nhất để nên lần thế giới thái bình kia. Người Viết rất mực tin vào điều được TÍNH THIỆN DẪN DẮT, nên đã có khẳng định với tự thân rằng: Nếu Lương quan “Giữa Thiên Chúa và Con Người là Một” thì ” tương quan ” Giữa Người và Người cũng là Một” vậy. Chỉ khác, tương quan đầu tiên hiệp thông nơi Nước Trời. Phần thứ hai thực hiện trên Mặt Đất. Bởi trật tự nầy bị đánh vỡ nên con người ắt gặp khốn đốn. Và trò chơi khốn cùng, tàn nhẫn, cực độ vô ích, tối thậm vô nghĩa không gì hơn: Chiến tranh – Nguyên nhân- Kết quả tất nhiên của toàn bộ sa đoạ trần thế. Tôi cùng Bạn cực lực chống lại Tai Hoạ tổi tệ nầy. Muốn được bài học cảm động và đáng bảo lưu trên không phải là điều dễ dàng – Bởi những người có lòng hình như hằng thua thiệt. Kẻ chính tâm luôn gặp phải nguy nan. Bản thân chúng tôi khi được nói lên điều nầy cũng đã trả giá gần hết một đời khổ nạn.

Nhưng chúng tôi rất mực HY VONG- BỞI NGƯỜI BẠN TRẺ SẴN TIẾP TỤC. Chúng tôi xin gởi những lời chân thực sau đây- Tiếng lời của một thế hệ thất bại. Nhưng chúng tôi không hề thất vọng. Xin lập lại. Bởi, chúng tôi có Bạn tiếp đi.

Thư gởi,

Người Bạn Trẻ,

NHÂN MỘT BUỔI VỀ NGUỒN.

BẠN RẤT THÂN MẾN,

Tuy không nêu danh tính Bạn nơi đầu trang thư, nhưng quả tình tôi đã hình dung ra, nghĩ đến Bạn rất nhiều dịp, trước và khi viết lá thơ nầy- Mà tôi quan niệm là một việc quan trọng, cần phải thực hiện hết sức cẩn thận- Do nó chạm tới cội nguồn mục đích tất cả hoạt động cuả con người xã hội trần thế. Đối với người viết văn, tính quan yếu nầy lại càng khẩn thiết, cấp bách – Bởi viết là viết đến, về người đọc. Nói giản dị hơn – Viết không người đọc thì viết làm gì. Qua những chữ nghĩa kia phải có, cần có mối cảm thông giữa người

viết và người tiếp nhận. Thế nên, Bạn là nguồn cổ vũ sinh động rất cần thiết đối với chúng tôi. Bạn cũng là lý do giải thích để công việc của chúng tôi có được điều giá trị. Bạn là mối dục dã chúng tôi tiến bước, giữ chặt ngọn bút rất đỗi hân hoan. Thư nầy, mở đầu với mối tin tưởng cao cả và cảm động – Chúng ta cùng nhau nói về HY VỌNG, vì nếu thiếu chất men sống động nầy, mọi công trình văn hóa, khoa học, nghệ thuật dẫu to lớn, đắt giá bao nhiêu cũng trở nên vô dụng, tầm phào. Với cậy tin vững bền nầy, chúng ta có thể đồng ý với nhau rằng … Dẫu ù lì nín lặng như những tảng đá hình đầu đầu người ở đảo Eastern, ngoài khơi Thái Bình Dương thuộc nước Chilie Nam Mỹ ắt phải chứa đựng một nội dung truyền thông nào đấy. Hoặc, Nguyễn Du khi viết

truyện Kiều chắc cũng không mong gì hơn mối cảm thông đồng điệu của người đời sau. Và tiếng kêu trầm thống của Trần Tử Ngang, đời Nhà Đường, thế kỷ thứ Bảy nào khác gì hơn tấm lòng không người trao gởi …

Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất khứ lai giả …

(Người trước tìm không thấy;

 Kẻ sau chưa dáng về ….)

Vâng, tôi viết thư nầy chỉ với mục đích thẳng thắn và hân hoan nầy: Thơ gởi về những người Bạn. Những Người Tuổi Trẻ. Những người đang sung mãn Hy Vọng. Các bạn là Hy Vọng. Chúng tôi càng cần kíp nói đến các bạn vì hôm nay, trong tổng số 73 triệu người Việt nơi quê nhà có hơn hai mươi triệu người sinh sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hơn một nửa của tổng số người kể trên không hề tham dự vào chiến tranh, không ý niệm về chiến tranh (Tỷ lệ, thực tế nầy ở hải ngoại chắc cũng không khác)- Tai họa mà toàn dân tộc hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong ba mươi năm đã phí phạm tiêu hao năng lực, sinh mạng cực độ vô ích, để đưa đến kết quả: “Việt Nam nằm trong hạng thứ một nước nghèo nhất của mười nước thuộc loại cùng khổ thế giới; hai triệu người bỏ nước ra đi với sáu trăm ngàn người nát thân trên đường di tản; và vết thương chiến tranh hai mươi năm sau ngày dứt tiếng súng vẫn còn tươi máu mới, không cơ hội và khả năng phục hồi”.

Chiến tranh ấy với hệ quả của nó đã là nguyên nhân chính yếu đẩy các bạn cùng với gia đình đến đất nước người. Thế nên, câu chuyện chúng ta hôm nay không phải từ một ngẫu hứng tùy tiện. Đây là công việc và là vấn đề của chính chúng ta – Những người có nhiệm vụ giải quyết một vấn nạn đau đớn, không hợp lý mà bất kỳ người Việt Nam nào với tâm thức Dân Tộc đã không một lần xa xót muốn tìm hiểu nên nguồn cội để giải thích và giải cứu. Và các bạn, may mắn hơn chúng tôi, đã không phải mang vác gánh nặng của quá khứ, không vấp phạm những sai lầm mà thế hệ chúng tôi (những người sinh trong những thập niên 30, 40, 50 …) đã gặp phải. Những lỡ làng, chệch hướng, không chỉ do khuyết điểm cá nhân cũng như các tổ chức, bộ phận quyền lực chúng tôi đã tham dự … Những sai lầm nầy có tính cách tổng quát và toàn diện với quy mô khuếch tán, tác động theo cùng chiều dài lịch sử. Chúng ta cần nhìn lại quá khứ, nơi khởi đầu, bởi oái ăm thay, lịch sử thông thường chỉ là lần lập lại – Lập lại của những lầm lỡ. Nhưng chúng ta không hề bi thảm do sự kiện thực tế ấy bởi như người Hồi Giáo đã hằng nhắc nhở – Chỉ có Thượng Đế mới là đấng toàn năng, toàn thiện mỹ, trong khi chúng ta chỉ là những con người tại thế. Người sống cùngvận nước nổi trôi …

Với lời mở đầu nầy, chúng tôi cần phải thẳng thắng nói rằng, những thế hệ thuộc lớp tuổi kể trên (Những người ở về phần đất, tham dự vào các tổ chức quân, dân sự đối lập với phiá cộng sản ) đã có một trách nhiệm cụ thể về giai đoạn lịch sử 1945-1975 và cũng đã để đánh vuột mất những cơ hội có khả năng đưa quốc gia nếu không  hơn những lân bang trong vùng Đông-Nam Á thì chắc cũng không phải chịu tình trạng tồi tệ bi thảm như hiện nay. Sự kiện trên có một thời điểm quyết định:

– Tháng Tám, 1945. Năm 1945, lực lượng cộng sản trong mặt trận Việt Minh thật sự chỉ là một nhóm nhỏ với vài ngàn đảng viên, một đội võ trang tuyên truyền không quá ba mươi người (thành lập 22 tháng 12, 1944), nhưng đã giành được quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dậy lên rất sớm kể từ khi có bóng người ngoại xâm trên đất nước Việt, cụ thể hơn từ 1883, năm người Pháp hoàn tất tiến trình thực dân, sau khi đã xâm chiếm sáu tỉnh Nam Bộ từ 1862 và dập tắt cuộc binh biến cung đình do đại thần Tôn Thất Thuyết lãnh đạo với vị anh quân Hàm Nghi, 1885. Khởi nghĩa chống Thực Dân Pháp không hạn chế trong một địa phương nào, từ núi rừng Yên Thế, miền Bắc đến Thanh Hóa, miền Trung vào đồng bằng sông Cửu Long … Những nhà nho, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Thiện  Thuật kết hợp nghĩa binh, lợi dụng địa thế, vận độngquần chúng dậy nên phong trào Văn Thân, hiện thực hùng tâm của giới sĩ phu, thành phần trí thức chỉ đạo bao thế kỷ. Cuộc chiến đấu chỉ tạm thời đình chỉ sau cái chết của Phan đình Phùng, 1895. Người Pháp cũng đã phải mất một thời gian dài 14 năm (1883-1897) mớithật sự bình định được phần đất đầy bí mật của giòng Việt Tộc kiên cường mà nguồn lực chống ngoại xâm không hề cạn qua hai ngàn năm lịch sử dài đấu tranh.

Chính dịch khủng bố trắng kéo dài đến cuối thế kỷ 19 không làm những người yêu nước Việt Nam nhụt chí.

Họ gạn lọc kinh nghiệm, học hỏi khuyết điểm của người đi trước, thực hiện vận động sâu rộng hơn đến với nhiều đối tượng quần chúng xã hội; họ cũng khôn khéo khai triển uy tín, sức mạnh quân quyền qua các vị vua minh tuệ Hàm Nghi, Duy Tân. Phong trào gặp phải sức đàn áp không nương tay từ phía những người Pháp cai trị, các vị vua lần lượt bị lưu đày ra khỏi nước, những nhà lãnh đạo kháng chiến phải chịu những hình phạt trả thù tàn nhẫn … Trần Cao Vân, Thái Phiên, Trần Quý Cáp đồng bị xử chém ngang lưng. Hai nhà đại ái quốc Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh tiếp tục hướng dẫn cuộc tranh đấu theo hướng mở rộng, không còn hạn hẹp với ý thức hệ Nho học, ra khỏi phạm vi quốc gia. Nhưng Nhật Bản đầu thế kỷ chỉ mới là một cường quốc trên đà phát triển, chưa hẳn là một đối lực mạnh mẽ ở vùng Đông Nam Á như những thập kỷ sau, cho dù đã chiến thắng hạm đội Nga ở eo biển Đối Mã, bắc Thái Bình Dương 1905. Hơn thế nữa, những cá nhân, đoàn thể chính trị mà Phan Bội Châu vận động nhắm đến, cầu chính trị mà Phan Bội Châu vận động nhắm đến, cầu viện không hẳn là những yếu tố quyết định của chính giới Nhật Bản, Trung Quốc; chưa nói đến sự bất chung thủy của những người nầy là đầu mối gây nên tai họa, (việc Long Tế Quang, Tổng đốc Quảng Đông năm 1913 bắt giam cụ Phan định giao cho Pháp may nhờ Hồ Hán Dân, Quốc Dân Đảng Trung Hoa giải cứu); cũng như sách lược của chính phủ và các đảng phái cầm quyền ở những nước nầy (dẫu theo đường lối quốc gia, dân tộc) không hẳn hoàn toàn phù hợp với mục tiêu giải phóng Việt Nam trong tất cả mọi giai đoạn- Thái độ hành xử của Tiêu Văn, Lư Hán (thay mặt chính phủ Trung Quốc tại Việt Nam sau tháng Tám, 1945) mặc nhiên đồng lõa để cộng sản thanh toán các cán bộ đảng phái quốc gia đã từng là đồng chí chiến đấu kháng Nhật của họ. Về phần Tây Âu, nơi Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường trao gởi hy vọng sẽ là tác nhân quyết định nên cuộc vận động Dân Sinh, Dân chủ tại Việt Nam, thật sự đang trên đà tiến đến bế tắc (sau giai đoạn cực thịnh của thế kỷ 19 với những đế quốc Anh, Pháp, Hòa Lan, Nga, Áo, Phổ được kết lập), với hiện tượng tổng khủng khoảng 1930 và hai lần đại chiến thế giới đã thành hình và sắp hiện thực. Các vị cũng vấp phải tính mâu thuẩn của thời đại trong hai khuynh hướng đối lập – Duy trì Vương Quyền hoặc một thể chế quân chủ đại nghị (với Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Minh Chủ) của Phan Bội Châu và chủ trương giải thể quân quyền triệt để của Phan Châu Trinh. Hai khuynh hướng đã tác động chính trường Châu Âu từ Cách Mạng Pháp 1789, gây nên cuộc chiến giữa Đế Quốc Pháp và Liên Minh Anh-Phổ-Nga-Áo, mở đầu trật tự thế kỷ 19 tại lục địa nầy, mà nay cuộc Cách mạng Công nghệ Lần thứ Hai đang dần phá vỡ để nên hình thái khác với hiện tượng sụp đỗ một loạt các ngai vua Pháp, Phổ, Nga, Ý … Cơn trào dâng dân chủ cũng không từ bỏ đến nước quân chủ lâu đời nhất địa cầu-Triều đình Mãn Thanh của nước Trung Hoa rời chính trường sau gần ba trăm năm quyền lực. Có thể, hai vị họ Phan không hẳn không thấy ra những khuyết điểm, bế tắc nội tại nầy, nhưng do lòng yêu nước quá đỗi nôn nóng và nhu cầu giải phóng dân tộc thậm cấp thiết nên nhị vị đã phải ở vào tình thế chẳng đặng đừng và không hoàn tất bước đường kỳ vĩ mà toàn dân hằng giao phó, trông đợi. Cuối cùng, QuốcDânĐảng Việt Nam thực hiện bước chót nỗ lực cao cả nầy với toàn thể quần chúng gồm nông dân, binh sĩ, thanh niên, học sinh, thợ thuyền dưới sự lãnh đạo của giai cấp tiểu tư sản trí thức thành thị, lớp người mới vừa được thành hình của xã hội Việt Nam. Thiếu cán bộ trung kiên, căn cứ địa không đủ sức chống đở các đợt tấn công quân sự của Pháp, thiếu phối hợp chiến thuật hành quân và quan trọng hơn tất cả, Quốc Dân Đảng đã không kiện toàn được mạng lưới bảo mật tuyệt đối tối cần thiết cho một tổ chức cách

mạng đang trong hoạt động bí mật. Tất cả những khuyết điểm nầy đã bộc lộ toàn thể trong cuộc nổi dậy tháng cả cán bộ đảng viên, thành viên cuộc khởi nghĩa. Đảng Cộng Sản Đông Dương thụ hưởng tất cả kinh nghiệm

máu của toàn thể người Việt yêu nước, đảng phái quốc gia, lập trận đấu tranh trong mục tiêu chung với phong trào Đệ Tam Quốc Tế cũng là thành trì, căn cứ địa, nơi huấn luyện cán bộ, điểm phát xuất, điều động chỉ đạo chiến lược cho toàn thể các nước thuộc địa. Họ cũng nương vào buổi thuận tiện, giai đoạn Phong Trào Bình Dân cầm quyền nước Pháp (1936-39) và yếu tố quyết định, thắng lợi toàn diện chung kết của lực lượng đồng minh trước phe trực(Đức-Nhật), mà tiếng nói của Liên Só, với sự đồng ý trên nguyên của Mỹ về vấn đề giải thực đã là những áp lực hiệu quả để phong trào Cộng Sản Đông Dương dần thâu đoạt những thắng lợi quyết định nơi địa bàn xung yếu nầy. Việt Nam đã trở nên là một diễn trường xung đột và nơi giải quyết mâu thuẩn

giữa những lực lượng siêu cường thế giới. Người cộng sản Việt Nam đoạt chính quyền từ tay Vua Bảo Đại, người đã lộ ra hoàn toàn bất lực và thụ động trước biến chuyển và nhu cầu lịch sử. Ngày 2 tháng 9, 1945 Nhà

Nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa được thành lập. Trong số chúng tôi, phần lớn đang ở tuổi thiếu niên, người còn ấu thơ và lẽ tất nhiên có kẻ chưa sinh ra đời. Khi vào tuổi các bạn hôm nay, đối với chúng tôi, tất cả đã thành sự. Bởi tất cả đã thành sự, nên sự kiện chia đôi đất nước từ ngày 20 tháng 7, 1954 cũng như lần thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa ở Miền Nam năm 1955 đã hoàn tất nên một sự đã rồi. Chúng tôi không hề có khả năng lựa chọn và chối từ.

Điều bi thảm cay đắng trên lập lại với các bạn nơi ngày 30 tháng tư, 1975. Các bạn cũng không có quyền chọn lựa ở phút giây quyết định nghiêm trọng – Ra đi khỏi nước. Quả thật, chúng ta cùng chung cách thụ động trước những lần chọn lựa tử -sinh. Quả thật, chúng ta cùng chung một nỗi Đau. Nỗi Đau của Người Việt bất lực với chính bản thân, vận mạng tổ quốc mình. Nhưng tình thế không hẳn bi thảm, bế tắc đến như thế. Các bạn chỉ hứng chịu phần đầu của ngọn cuồng phong 1975 và đời sống mới nơi quốc gia nầy sẵn mở rộng đón chờ bạn. Sự phú cường, phát triển của Liên Bang Hợp Chủng Quốc Bắc Mỹ thật vô cùng đa dạng và rộng lớn để không ai có thể bảo đã hiểu thấu đủ về người, đất nước Mỹ cho dù kẻ ấy là một người sinh quán nơi bản địa. Bởi tất cả quá to lớn, quá đầy đủ, quá dư thừa và quá độ. Phải, người, đất Mỹ là hiện thực hình thái quá độ toàn diện và triệt để nhất. Chỉ ở Mỹ mới có thể cho một đứa bé vừa qua tuổi lên mười tất cả kiến thức về thiên văn học, định tính, định vị các chòm sao Đại Hùng thuộc hệ thống sao Bắc Đẩu một cách dễ dàng và đơn giản – Kiến văn mà ở các nước thuộc thế giới thứ ba phải cần đến một trí tuệ thông thái và chuyên môn mới có thể lãnh hội được. Nhưng cũng chỉ ở đây mới xẩy ra những tình trạng ngược ngạo đến nỗi  nhà bình luận Paul Greenberg ở Little Rock, Arkansas phải lên tiếng báo động: “…Trong hai triệu rưỡi học sinh tốt nghiệp trung học niên khoá vừa qua chỉ có 100.000 có khả năng đọc thông suốt văn bằng tốt nghiệp; 250.000 phải cố gắng lắm mới đọc hiểu ra!!”. Cũng chỉ ở Mỹ mới có những trái tim từ nhân một cách tự nhiên của những người xử dụng ngày nghỉ cuối tuần, từ bỏ nơi cư ngụ tiện nghi sang trọng của khu trưởng giả để đi đến những trung tâm từ thiện, hiện thực sống động cách thế sống vì người khác. Nhưng cũng chính ở đây đã xảy ra những tội ác làm vỡ lòng người, xót đau Trái Tim Thiên Chúa – Những tội ác được thực hiện rất mực vô ích và quá độ tàn nhẫn – Loại hành động của Timothy Mc Veigh, của Susan Smith … Tội ác toàn diện của những kẻ không còn dấu vết, tính người. Đây không là vấn đề riêng của những con người ấy nữa (Không biết còn đủ xứng đáng để gọi nên danh xưng cao quý về sản phẩm đáng hãnh diện mang hình dáng Thượng Đế hay không ??), mà là vấn nạn chung của toàn xã hội, nơi tôi và các bạn đang cùng chung sống. Sỡ dĩ tôi phải nêu lên hai điểm tưởng như không dính líu, liên hệ đến cùng nhau. Nguyên nhân, diễn tiến cuộc chiến Việt Nam và tình trạng xã hội nước Mỹ, nơi những người ty nạn cộng sản đã nhận làm chốn dung thân, sống cùng, do hậu quả của cuộc chiến kia tác động.

Các Bạn trẻ rất đáng tin cậy,

Như tôi đã một lần đề cập ở những giòng đầu tiên về nỗi hạnh phúc của lớp tuổi các bạn – Không phải mang

vác tai ách nặng cứng thù hận chiến tranh; và các bạn đã đến đất Mỹ với Tuổi Trẻ Tự Do phơi phới – Tất nhiên là hình thái tự do tương đối của con người tại thế – Tự Do Lựa Chọn. Tuy thế, các bạn thật vô vàn hạnh phúc với quyền hạn thủ đắc được khả năng cao quý nầy. Khả năng chúng tối hoàn toàn bị tướt đoạt từ lúc bắt đầu ý thức về phận người trên quê hương điêu linh . Nhưng khi thâu đoạt tự do cũng có nghĩa đồng thời bạn phải nhận lãnh trách nhiệm – Phải hành xử thế nào để được xứng đáng là đơn vị thụ hưởng lần vinh hạnh lớn lao kia Tôi đề nghị cùng bạn một công việc đơn giản nhưng cũng tràn đầy ý nghĩa – Chúng ta vận động Tự Do trong hành vi bảo vệ phẩm giá con người. Con người sống được là nhờ bánh mì … Thật chúng ta có thể nói như thế mà không sợ sai lầm, bởi xét về mặt sinh học, con người hay bất cứ sinh vật nào trên quả đất nầy cũng chỉ chừng ấy nhu cầu sinh tồn và cách thức biểu hiện. Nhưng con người sở dĩ lớn hơn và tiến xa hơn con vật chỉ do nơi thái độ biết chọn lựa– Hành vi nầy bao gồm Tự Do- Và hiện thực cụ thể nhất từ lựa chọn điều bí ẩn – Nỗi Chết. Nói như thế không là cách thức đùa cợt, chơi chữ nhưng quả tình con người hằng thực hiện động tác nầy trong suốt quá trình hoàn thiện giá trị của mình – Và đỉnh cao của bước đi kỳ vĩ nầy là khi – Người Tự Do chấp nhận cái chết để bảo vệ phẩm giá của một đơn vị siêu việt.

Chúng ta hãy xét lại vấn đề trên với những khía cạnh cụ thể riêng biệt. Bây giờ là năm thứ hai mươi của giờ

đi ra khỏi nước, nếu tính theo các bạn ra đi sớm nhất, chúng ta hẳn có thể đồng ý với nhau về những điều …

Chẳng ai phải chịu chấp nhận một cái chết chắc chắn ắt có, chờ đợi sẵn nơi biển khơi, trên đường di tản do vì Sài Gòn dưới chế độ cộng sản mất đi những tiện nghi vật chất, bữa ăn quá kham khổ thiếu thốn. Người nông thôn miền Bắc thật ra đã ăn độn từ một thuở rất lâu nhưng không hề có hiện tượng vượt biên trước 30 Tháng Tư, 1975. Cũng không thể có người tâm niệm qua đến Mỹ cốt để làm giàu, thực hiện những thành công tăm tiếng với giá máu vợ con bị thảm sát, bản thân bị xỉ nhục … Các Bạn và người thân, những người Việt cao

quý, đã chọn lựa một cách có ý thức trị giá đích thật cuối cùng xứng đáng phẩm chất của mình- Không những thế, các bạn ra đi khỏi nước không hề do lòng thù hận hay sợ hãi đối với người cộng sản. Thế nên, chỉ có một lý do xác đáng duy nhất để giải thích lần bạn rơi Việt Nam: Các bạn lìa bỏ Quê Hương để sống nên  Người Tự Do. Xuất phát từ một khởi điểm cao quý như trên, tôi xin đề nghị cùng các bạn cách thế biểu hiện xứng đáng nơi đất nước người nầy, hiện thực niềm ao ước mãnh liệt khi mẹ cha chấp nhận vượt chết trên hành trình tìm đến tự do. Các bạn hãy xữ dụng sức mạnh chọn lựa cao cả trong mục tiêu tốt đẹp và đáng hãnh diện. Tôi đề nghị các bạn hãy giải phóng CON NGƯỜI KHỎI NGHIỆP ÁC- NGƯỜI VIỆT BỨT THOÁT KHỎI NGUỒN LỰC ÁC ĐỘC TOÀN DÂN TỘC ĐÃ PHẢI GÁNH CHỊU qua chiến tranh mà thế hệ chúng tôi đã hiện thực một cách oan nghiệt. Công việc nầy không đòi hỏi những động tác cao vời, không tưởng, trái lại các bạn hãy thực hiện trong đời sống hằng ngày, giữa xã hội Mỹ quá nhiều đối cực và quá độ. Các bạn nên tìm học những điều thâu nhận được từ viễn vọng kính khổng lồ Hubble để không phải băn khoăn tìm ra sai số chính xác của tuổi vũ trụ … 8, 12 … hay 15, 20 tỷ năm ánh sáng?? Nhưng các bạn nên có một cách nhìn khoan hòa và hồn hậu hơn về phận người trần thế … Thật sự không quá một điện tử chạy trong quỹ đạo một cấu tử nhỏ bé, vô nghĩa gọi là quả đất giữa trùng trùng vũ trụ. Và vũ trụ cũng chỉ từ một hố đen thăm thẩm không dò. Biết như thế để chúng ta phải có thái độ thích đáng với sự việc, người, vật …Những nọa lực nhân danh văn minh, pháp lý, chủ nghĩa quốc gia, dân tộc, chân lý … để chạm đến, đánh vỡ, đày đọa con người cực độ ác độc, nhẫn tâm. Chúng ta phải biết khinh miệt hệ thống pháp luật cố vận dụng tất cả sở học, khôn ngoan tinh tế để cốt tạo nên trò chơi pháp lý chung quanh một vụ giết người vì ghen tuông, trường hợp của vụ án O.J Simpson, trong khi ở Ethiopia đứa bé đói lã ngất hấp hối trước con kên kên đang chờ cắn xé. Các bạn hãy cùng chúng tôi phẫn nộ trước những tội ác tưởng như không thật trong vụ nỗ tòa nhà Liên Bang ở Oaklahoma để xác tín một điều – Giết một người cũng là giết cả loài người. Giết một đứa trẻ đang tượng hình tức hủy diệt đời sống đang hiện thực. Không ai có quyền  quyết định trên mạng sống một người khác bởi bất kỳ nhân danh, nguyên cớ nào. Các bạn hãy cùng chúng tôi cực lực lên án những nại cớ, đòi hỏi con người phải đóng góp, hy sinh đời sống từ, nơi phút giây hiện tại.

Và chúng ta cùng trở lại quê hương để có cái nhìn về sự việc chính xác hơn, trả lại cho nhân dân quyền phê phán, đánh giá về mỗi cá nhân trong giòng lịch sử khắc nghiệt, bi thương của dân tộc. Các bạn hãy cùng chúng tôi giành lại phẩm giá cho mỗi người- Người Việt Nam đã bị biến tướng qua cuộc chiến Ngụy Danh vô cùng xuẩn động, thậm tệ phí phạm và rất mực vô nghĩa mà người cộng sản đã dậy nên trên quê hương khổ nạn. Chúng ta hãy đối xử với nhau như Huynh Đệ đáng được tin cậy, yêu mến và giải hòa.

Các Bạn thân mến, hôm nay là Mùa Vu Lan theo Nguyệt Lịch. Ở Phương Đông đang thực hiện nghi lễ linh thiêng và cảm động-Báo Hiếu và Giải Oan. Chúng ta cùng nhau hân hoan nhớ lại công ơn dưỡng dục các bậc Mẹ Cha đã đưa chúng ta đến cùng đời sống và cùng chúng ta hiện thực sự sống với tất cả sắc cạnh linh diệu qua “sức mạnh yêu thương”. Và chúng ta cũng nhân cơ hội nầy để bày tỏ lòng cảm xúc cùng Đức Lớn Hiếu Sinh của Đất, nơi chúng ta đã đến và đang hiện hữu; của Trời nơi ta xuất phát và trên phương đi về … Đường đi nầy vô cùng Huyền Nhiệm-Từ lần hình thành nguyên tử hữu cơ AND đến con người kỳ vĩ hôm nay không thể là quá trình ngẫu nhiên, thuần vật lý, cơ học, hóa học. Chúng ta phải sống xứng đáng cùng sức mạnh, TOÀN NĂNG, TOÀN THIỆN, TOÀN MỸ và sự trao gởi đầy ân huệ nơi đời sống của mỗi đơn vị Con Người. Và để xứng đáng với lòng TIN CẬY trao gởi trên , chúng ta cấp thiết thực hiện điều đơn giản – Giải oan ngay tự thân ta giòng oán nghiệt đeo chặt vào phận người-Biến Thân Ý ta nên Linh Đài giáng ngự Tính Thiện và Tính Thật. Bởi, nếu có một Hữu Thể Thượng Đế mang vóc dáng con người, ắt hẳn đơn vị cao cả kia sẽ vô cùng buồn đau nếu từ lòng ta hừng hực nên dậy lửa oán hờn và vô vàn hân hoan nếu từ Tâm ta ngời rạng chói lòa lực sáng Thương Yêu. Chỉ một chữ NHÂN thôi thế giới sẽ có năng lực tự cứu hoặc chết di do nỗi KIÊU NGẠO HẬN THÙ trần gian.

CÁC BẠN HOÀN TOÀN TỰ DO, TRONG CHỌN LỰA NÀY.

Tháng Bẩy Ngày Rằm Xá Tội Vong Nhân

20 Tháng 8, 1996

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 17 Jan 2026

Bài 18.

Quyết định to tát

Trong rất nhiều năm, tôi đồng quan điểm với mọi người  cho rằng thường thường những nhà thủ thuật lớn đều nổitiếng nhờ ở một sự chế phục đặc kỳ trong kỹ thuật giải phẫu. Chỉ lần lần, tôi mới nhận thấy tột đỉnh bi đát của khoa thủ thuật sẽ đạt tới trong cái mà ta gọi là chỉ định điều trị (indication) nghĩa là chọn giữa hai điều, mổ hay không mổ ? Thật là một quyết định nhiều khi nguy hiểm hơn cả những vấn đề kỹ thuật khúc mắc nhất. Có khi ngay cả từ chối giải phẫu, bởi đây là một cuộc thử thách cân não ghê gớm đối với người y-sĩ, là một cố gắng nghề-nghiệp của con người vô cùng lớn lao và vô cùng khả-kính. Trong những thí-dụ tôi được dịp quan sát, một trường hợp cách đây hơn một phần tư thế-kỷ đã khắc sâu như in trong tâm khảm tôi. Không những đối với đoàn giải phẫu mà cũng bởi đây là một cơ hội đầu tiên tôi bắt gặp ảnh hưởng của định-mệnh trong cuộc sống thường ngày.

BUỔI BÌNH MINH này u buồn và ẩm ướt đến chầm chậm như mặt trời ngái ngủ. Những đợt mây dày đặc phủ kín ngọn Rừng Đen cao ngất trên núi và còn trải qua những dải sương mù xám xám xuống tận chân núi trong thung lũng sâu. Những cánh cửa kính khu giải phẫu lấm tấm giọt sương mù mờ mờ. Trong phòng chẩn bệnh không khí ẩm thấp hòa lẫn với mùi quần áo ướt sũng. Như mọi ngày, phòng chờ đợi gần khu nhập viện đã đầy người ngay khi mở cửa. Hàng chục người bệnh, đàn ông có đàn bà có, các bà mẹ đưa con đi khám bệnh đã tràn ngập bàn giấy của cô thư ký trẻ và có duyên luôn luôn bình tĩnh và điểm một nụ cười khả ái trên đôi môi hồng. Cô ghi tên tuổi và trao cho mỗi người một “phiếu trị liệu” màu đỏ dành cho đàn ông, đàn bà màu lục và trẻ em màu vàng. Trong đám người bệnh có cả những cậu bé thật can đảm vì đến bệnh viện một mình. Hỏi ra mới biết là bà y tá trưởng đã già tên Alexandra giúi cho các cậu mỗi người một gói kẹo. Chúng ăn tham là phải vì trong thời kỳ đói kém và thất nghiệp này kẹo rất hiếm. Nhưng sơ Alexandra luôn luôn biết cách moi tiền để mua những gói quà nhỏ mọn rất quý báu đối với các cậu “nhái”. Sơ luôn luôn sẵn sàng, sẵn sàng cho tất cả cũng như sẵn sàng phụng sự và có mặt từ hai mươi năm nay; cả ngày lẫn đêm làm việc quần quật mặc dù tuổi tác và công việc nặng nề làm mòn mỏi suốt đời không sóng gió.

Trên khuôn mặt với những luống cày nhăn nheo tỏa một lòng nhiệt tâm nhân ái (chaleur humaine) rất cần đối với bệnh nhân và ngay cả đối với chúng tôi trong chức nghiệp y học, nhất là những lúc được mời đến giường một bệnh nhân sắp từ giã cõi đời … Những lúc đó những người áo trắng cảm thấy bất lực không thể kéo dài một lần nữa những giây phút sống của bệnh nhân. Cuộc sống của sơ Alexandra là một chuỗi hy sinh khắc kỷ không ngừng cho tha nhân.

Buổi sáng hôm đó, công việc cứ trôi chảy như thường ngày đều đều như những chiếc ô sáng vác đi trưa vác về … Công việc trong bệnh viện có vẻ nhàm chán hơn thường lệ. Nào là chín mé, nhọt bọc, vết chém, bị tai nạn xe cộ … cả một chuỗi án chẩn gần như là một ước lệ tẻ nhạt. Những bệnh nhân lũ lượt ra về. Trong phòng đợi lác đác còn vài “khách hàng” … Công việc gần xong. Như thường lệ, tôi ngửng đầu nhìn đồng hồ quả lắc. Bỗng thấy lão Jacques đem một người đàn ông đầu phủ kín dưới một đống băng gạc trắng to bằng quả bưởi. Cha chìa cho tôi một bức thư và nói từ xa:

– Thưa ông thầy, một “cas” quần đinh (anthrax) ở đầu. Là một tay “tổ” lão làng trong bệnh viện, lão biết đây là một trường hợp (mà chúng tôi quen miệng gọi là “cas”) thật hy hữu và đặc biệt có thể nói là một vưu vật! Quần đinh ở đầu quả thật là một chứng bệnh rất hiếm – và cũng rất nguy hiểm. Như bị ảnh hưởng của chiếc đũa thần của các bà Tiên. Chúng tôi thấy hết nhàm chán, tẻ nhạt mà trái lại hứng khởi lạ kỳ. Im lặng, tôi cầm lá thư và mở ra đọc.

Bức thư của một đồng nghiệp, Bác sĩ Siegel ở miền ngoại ô Gundelsheim. Bác sĩ Siegel đã già và là chỗ thâm giao lâu năm. Nét chữ ông biểu hiện tính tình con người: nét chữ già dặn, rất sắc và rất chính xác.

Bệnh nhân làm cho hãng nệm bông ở chỗ tôi. Trong hãng đã có nhiều “cas” quần đinh, thường thường ở cánh tay. Nhưng lần này, theo ý tôi, không thể chối cãi được, đây là một quần đinh ở đầu. Không có đủ các tiện nghi và thẩm quyền chuyên khoa để trị liệu, mong anh nhận người bệnh vào quý khu …

Như mải suy tư, tôi ngắm kỹ người bệnh đang ngồi trước mặt. Người tầm thước nhưng rắn chắc và đẫy đà, ông tỏ vẻ bình tĩnh và trầm lặng lạ thường khác hẳn vẻ e ngại và lo sợ của những bệnh nhân khác. Tôi cất tiếng hỏi:

– Ông biết ông bị bệnh gì không?

– Dạ cháu biết ạ. Bác sĩ Siegel đã giảng giải cho cháu rồi. Dù ông thầy chỗ cháu không nói gì nhưng bây giờ cháu cũng biết rồi. Ông bác lúc nãy dẫn cháu đến đây cũng nói to lắm …

Hơi ngượng. Lão Jacques quay mặt đi. Tôi liền hỏi:

– Gần đây trong xưởng ông có người nào bị như vậy không? Tôi muốn hỏi ông có nhiều hơn mọi lần không?

Hắn suy nghĩ trước khi trả lời:

– Dạ không nhiều đâu ạ. Nhưng thỉnh thoảng có vài người bị đám nhọt mủ ở cánh tay. Cháu nghe nói cũng có người bị như cháu ở đầu. Cách đây độ chừng mười năm. Nếu cháu nhớ không lầm, anh ấy bị chết rồi.

Tôi ngạc nhiên thấy ông ta rất bình thản. Người này phải có một bản lãnh phi thường và thiên phú biết kìm tình cảm không để lộ ra ngoài. Tôi dẫn ông vào phòng khám bệnh riêng của tôi và bảo ông nằm lên giường. Trong khi cô y-tá cởi dải băng đầu, tôi đeo đôi găng cao su mà sơ Alexandra đã lấy sẵn không đợi lệnh tôi.

Một phần lớn dải băng đã cởi ra, tôi nắm đầu băng và cẩn thận từng li từng tí, nhè nhẹ cởi tiếp. Khi gắp miếng băng cuối cùng một cảnh tượng hãi hùng sừng sững trước mặt tôi. Mặt bệnh nhân không còn là “người” nữa, theo đúng nghĩa của nó. Phía phải mặt sưng húp đỏ bầm chứng tỏ bị viêm chứng cấp thời. Một đống sưng vù – trong y khoa gọi là phù viêm (oedème inflammatoire) – mềm đến nỗi ấn ngón tay vào còn ghi hằn dấu trũng hẳn trong vài phút. Chỗ phù sưng ấy lan dần nửa má qua môi trên rồi đến tận sóng mũi. Mắt phải sưng húp không mở ra được và phía góc trong gần mũi còn nước mủ. Quay nhẹ đầu bệnh nhân, tôi thấy chỗ sưng nầy lan đến tận da đầu từ gáy đến đỉnh và da đầu cũng gần như bị tróc hết. Bên thái dương tôi thấy một lỗ nhỏ, xung quanh có vòng nâu nhạt và phủ một lớp vẩy mục trăng trắng.

Trái lại tôi kiếm tìm hoài nhọt mủ đen, điểm đặc biệt thường thấy để chắc chắn đặt án chẩn quần đinh. Hơi ngạc nhiên và bỡ ngỡ, tôi xét lại một lần nữa, từng li da một, chỗ sưng phù và cái lỗ nhỏ kỳ quái và lạ ấy. Các anh sinh viên đi thực tập cũng cúi đầu chăm chú quan sát, ngay cả các cô nữ y tá nữa cũng tỏ vẻ tò mò.

Tôi bèn hỏi bệnh nhân:

– Chỗ mụn ở thái dương này ông có từ bao giờ?

– Dạ cách đây ba hôm.

– Có sốt, nóng không?

– Dạ, ít thôi ạ. Bác sĩ Siegel nói cháu 38,2 độ.

– Ông có biết tại sao có mụn này không? – Tôi hỏi ông ta.

– Thưa bác sĩ, cháu không biết ạ. Có thể … Nhưng có cảm tưởng tự nhiên nó vỡ ra đó. Mới đầu sưng húp ở bên thái dương rồi tấy thành nhọt cứ dần dần ngả màu nâu như cà phê sữa rồi chốc vỡ ra như bác sĩ thấy đó ạ.

– Chỗ mắt phải ông không mở được từ bao giờ?

– Dạ từ hôm qua. Thưa có điều lạ là cháu không thấy đau nhức nữa.

Tóm lại, tôi cũng không biết thêm được chi tiết nào cả. Có thể là một quần đinh nhưng án chẩn không rõ ràng lắm. Tôi hơi ngập ngừng vì lớp vẩy mục trắng trắng này, bởi trong chứng quần đinh cổ không thấy ghi điểm ấy. Có thể là một nhọt bọc (phlegmon) ở da đầu, nghĩa là lớp tế bào bị viêm, có thể bị mủ và có khi, trong trường hợp nặng, chết dễ như chơi. Nhọt bọc ấy có thể do một chỗ da bị trầy nhè nhẹ trước mà thành. Nhưng nhọt bọc hay quần đinh tùy thuộc giống vi trùng gây bệnh. Đối với một vài “loại” bệnh nhân, người y sĩ phải cố gắng có một thái độ điều khiển độc đoán chỉ huy. Nhưng với người đàn ông này thật bình tĩnh và tự chủ, tôi rất thành thật và không giấu ông điều nào.

– Ông ạ, cũng chưa chắc là Bác sĩ Siegel có lý, chưa chắc đã là một quần đinh đâu. Có thể những lớp tế bào ở đầu bị sưng tấy làm nhọt bọc. Và nếu là nhọt bọc thì phải mổ ra đừng để làm hại mắt có thể bị mù …

– Nhưng, thưa bác sĩ – bệnh nhân tì khuỷu tay lên bàn và mắt trái nhìn tôi trừng trừng – nếu là quần đinh thì đằng nào cũng phải rạch mổ ra phải không ạ?

Tôi cố gắng khỏi phải giật mình. Không ngờ người thợ này lại thông minh đến thế. Ông cũng đang hiểu rõ tâm trạng nan giải này. Ông cũng cảm thông với tôi quyết định này rất quan trọng, vì sống chết cũng do đó mà ra. Cố gắng làm mặt nghiêm tôi hỏi ông:

– Tại sao ông biết mà nói vậy?

Người thợ làm nệm khẽ nhún vai:

– Trời ơi! Ở xưởng cháu ai mà chả biết cái bệnh quỷ này, chúng cháu cũng rành lắm.

Tôi lắc đầu: Hiển nhiên tôi phải nói hết sự thật nếu không bệnh nhân sẽ không tin tưởng ở tôi nữa. Tôi còn phải bước thêm một bước nữa, nghĩa là để bệnh nhân cũng góp phần vào quyết định của tôi bởi một lý lẽ rất giản dị là úp mở còn nguy hiểm hơn nói dối thẳng từ đầu. Sau một vài giây lưỡng lự, tôi tiếp:

– Tôi cho đem ông lên nhà mổ trên lầu nhé. Tôi lấy một ít nước mủ ở chỗ nhọt bên thái dương rồi đem đi thử xem là vi trùng nào. Như vậy ta mới biết trong đó có chùm cầu vàng không. Chùm cầu là thứ vi trùng nhìn trong kính hiển vi như một đám trái nho ấy. Biết là chùm cầu vàng mới có thể nói là bị quần đinh. Ông hiểu không? Tốt lắm. Lúc đó có hai điều: Một là nếu thấy chùm cầu vàng (Staphylocoques dorés) khỏi phải rạch mổ ra làm chi. Hai là nếu không có thứ vi trùng này thì ông bị làm nhọt bọc, da đầu bị sưng tấy nên có thể bị ăn vào mắt mù hay có thể nguy hiểm đến tính mạng ông đó. Lúc đó ta phải rạch mồ nạo mủ ngay.

Ông ta bình tĩnh gật đầu. Tôi hiểu ngay ông vẫn tin tôi. Trong khi chờ cho đem băng ca đến tôi nói chuyện với ông rất tương đắc như hai người bạn già. Ông thợ nệm có vợ và ba con còn nhỏ. Có lẽ ông tưởng chi tiết gia đình này bắt buộc tôi phải cân nhắc quyết định kỹ càng hơn vì bỗng nhiên ông nói với tôi giọng chân thành:

– Bác sĩ đừng bận tâm lo nghĩ nhiều cho cháu. Sống gửi thác về. Số mệnh trong tay Chúa hết ông thầy ạ.

Xe băng ca đã đến. Người y công đẩy ông lên từng lầu một.

Tôi quay lại nói với một anh sinh viên tập sự:

– Anh lên ngay labo, bảo sửa soạn lấy mủ thí nghiệm phân chất nhé. Anh bảo cho đem các miếng kính, hai ống nghiệm và  chai lọ đã khử trùng đem lại ngay vào phòng mổ ca nhiễm trùng (champs opératoire septique) cho tôi.

Xong, tôi trở lại phòng chẩn bệnh khám nốt những bệnh nhân còn lại. Nhưng trí óc tôi ở đâu đâu. Tôi suy đi đoán lại bài toán vừa rồi. Một bài toán có ẩn số. Một bài toán sống, chết hệ trọng. Luôn luôn cảm thấy trong lòng trách nhiệm đè nặng, trách nhiệm quyết định của riêng tôi. Tôi còn nhớ lời thầy tôi, Giáo sư Von Bergmann trừng đôi mắt sau đôi kính cận, giơ tay trỏ nghiêm nghị như tuyên án: “Đừng bao giờ rạch mổ một quần đinh! Đừng bao giờ, các anh nhớ nhé!” Hình như thấy chưa đủ, thầy tôi còn áp hai đầu ngón tay

cái và ngón giữa vào nhau, đưa lên đưa xuống và cất tiếng sang sảng giải thích những hậu quả nếu không tuân theo “giáo điều” đó – nghĩa là cầm dao rạch mổ – chùm cầu sẽ đổ ào ào vào máu như thác lũ và bệnh nhân chắc chắn hai mươi bốn giờ sau sẽ từ giã bệnh viện trong một bộ áo bằng gỗ! Nhưng đây có phải là quần đinh không? Nếu không phải thì phải mổ ngay, bởi là một khẩn cấp vì nhọt bọc này lớn quá, lan rộng quá, có thể nguy đến tính mạng nếu lừng khừng chậm trễ. Sau khi khám mấy bệnh nhân còn lại, tôi đứng dậy bước lên lầu. Tôi phải ngừng ở hành lang để nhường chỗ cho một chiếc xe băng-ca đem một bệnh nhân đến phòng nhận bệnh. Một cụ già tóc bạc trắng toát như bông gòn ngay một người thường chỉ nhìn thoáng qua cũng có thể hiểu ngay là bà cụ đang hấp hối. Mặt xanh xám, hơi thở cách quãng như nấc, mồm há rộng, bất tỉnh nhân sự, một cơn hôn mê đứng trước ngưỡng cửa Tử Thần.

Tôi gắt một cách vô lý với người y công:

– Bà cụ đến đây từ bao giờ?

– Thưa ông Thầy, họ vừa đem đến vài phút đây. Ở làng xa lắm. Chắc họ không muốn bà cụ chết ở nhà – phiền phức lắm, nhà lại nghèo nữa ạ.

– Thế người nhà đâu?

– Dạ, đi rồi ạ. Chắc là anh chị em đây – họ có vẻ vội lắm ạ.

Đột nhiên, tôi phải nghiến răng thật mạnh mới ngăn cản những tiếng bất nhẫn. Đáng lẽ phải để bà cụ tắt thở trong nhà, họ hàng vô nhân đạo đã lôi kéo bà cụ khỏi giường khi sắp lìa trần!

Tiếng người y công như phân trần:

– Thưa bác sĩ, đây đâu phải là lần đầu tiên. Họ nghèo quá. Chẳng qua vì tiền bạc khốn khó kiếm không ra. Người sống còn khó huống chi …

– Thiếu tiền à? Sao vậy?

– Thưa, Ông Thầy nghĩ xem. Phải chôn cất bà cụ cạnh mộ chồng. Nghĩa địa xa lắm. Lại còn xe tang nữa. Dạ đắt tiền lắm. Vì vậy người nhà phải đem xe đò chở đến đây khi bà còn thở. Tiết kiệm được nhiều lắm ạ.

Tôi không biết trả lời sao. Tôi thấy nghèn nghẹn nơi cổ họng. Trong hành lang bệnh viện yên tĩnh, tôi nghe những tiếng khò khè của bà cụ tóc bạc.

– Ông cho bà cụ nằm phòng riêng. Cho mời cha đến làm phép cho cụ.

Bước vội lên cầu thang, tôi không khỏi không nghĩ đến câu thơ đắng cay của Friedrich Hebbel khi nói đến cha ông làm thợ nề:

“Sự nghèo khó đã chiếm chỗ của linh hồn” …

Trong phòng mổ, mọi người chỉ chờ có tôi. Trên bàn, trải khăn trắng lên người bệnh chỉ chừa có cái đầu. Những ngọn đèn mổ chiếu thẳng vào chiếc mặt sưng húp. Trong ánh điện, bộ mặt người thợ còn đáng sợ hơn; ánh đèn hình như cắm sâu vào chỗ sưng mủ. Vẩy mục ở bên thái dương, độ chừng nửa phân vuông, óng ánh như tuyết. Anh sinh viên vừa mang dụng cụ đến, trên một chiếc khay có đèn cồn, hai lọ nước và vài miếng kính thử để hứng mủ rồi đem nhuộm màu để xem dưới kính hiển-vi. Cô nữ y tá phòng mổ như một cái máy kiểm soát lại lần cuối các dụng-cụ giải-phẫu. Nào là pince kocher, kéo, dao mồ. Những ống cao su để rút nước cuốn cuộn trong một chiếc bình như những con rắn. Những miếng gạc để cạnh những kim, chỉ và kẹp bím. Những dụng cụ khác còn để trong túi vải. Bây giờ phải quyết định mồ hay lấy mủ đi khám nghiệm. Trong cả hai trường hợp mọi người và dụng cụ đều sẵn sàng cả.

Tin đồn đã bay khắp bệnh viện; ông thầy đang gặp một trường hợp đặc biệt và hy hữu, phải quyết định ngay, cánh cửa phòng mổ bỗng mở. Tôi thấy cô bác sĩ Monica đang rón rén bước vào. Nàng mới đổi đến đây nhưng đã chiếm trọn cảm tình của mọi người. Không những thùy mị có duyên và vui tính, nàng lại bình tĩnh lạ thường và lương tâm tận tụy thoáng hiện qua đôi mắt đen láy. Ai cũng trầm trồ khen ngợi khi thấy dáng dong dỏng cao và bộ mặt xương của cô bác sĩ Monica đi visite.

– Tôi đến coi một chút được không, anh Killian?

Vừa xoa xà phòng rửa kỹ đôi tay, tôi vừa mỉm cười trả lời:

– Ồ! Hân hạnh! Hân hạnh! – Rồi khẽ hất đầu chỉ về phía bàn mổ – một cas quần đinh ở da đầu, nhưng tôi đang phân vân đây. Tôi lau khô tay rồi cầm khoác một chiếc áo blouse để mặc cho cô y tá buộc dây đằng sau lưng mà tiến đến bàn mồ. Monica đang đứng cạnh bàn mổ nhìn bệnh nhân. Đôi tay thọc trong túi áo blouse, nàng ngắm, vẻ nghĩ ngợi, chỗ vẩy mục trắng bên thái dương, khác hẳn với chỗ sưng tấy đỏ ở mặt. Nàng có vẻ suy nghĩ nhiều lắm; trong đôi mắt đen láy hiện vẻ hiền từ nhân ái.

Cô y tá đeo đôi găng tay đã khử trùng cho tôi đây là cẩn thận quá mà thôi bởi, thường thường không cần phải đeo găng khi lấy mủ. Nhưng có thể “tụi” chùm cầu vàng nguy hiểm và quỷ quái nhất trong các loại vi trùng. Tôi quay mặt về Monica và nói:

– Không thể khử trùng bên thái dương được vì có thể làm thay đổi cuộc khám nghiệm đi.

Tôi có luồn một que platine dưới chỗ vẩy mục để lấy nước dĩ nhiên đừng làm cho chảy máu!

Cô nữ y tá đưa tôi chiếc que platine. Tôi đốt trên ngọn lửa đèn cồn. Rồi, khẽ nâng một phía vẩy mục bằng một chiếc kẹp thật nhỏ tôi khẽ luồn chiếc que platine để hứng nước nhọt chảy ra tôi quệt vào miệng kính xét nghiệm để nhuộm màu. Rồi quấn một miếng gạc nhỏ đem hút vào chỗ mụn để vào một cái lọ cho đem đi cấy vi trùng.

Miếng kính và lọ đựng miếng gạc, tôi giao cho cô y tá đưa ngay đi viện Pasteur khám-nghiệm. Tôi bảo gọi Charles đến:

– Anh Charles này, việc này quan trọng lắm. Anh nhảy lên xe đạp và đem ngay đến viện Pasteur. Anh lên lầu hai gặp Bác sĩ Pfaundler nhé. Anh đưa ngay gói này và chờ đem kết quả về ngay. Tôi đợi anh ở phòng mổ này. Để tôi gọi điện thoại cho ông ta. Anh đi ngay đi.

Charles vừa đi khỏi, tôi cũng gọi điện thoại ngay. Tôi muốn báo cho Pfaundler biết việc này thật khẩn cấp. Chúng tôi quen biết nhau đã lâu. Anh Pfaundler rất dễ thương, tính tình tế nhị và bặt thiệp có một bộ mặt rất đẹp trai lại ra vẻ thông thái. Là một nhà khảo cứu cặm cụi suốt ngày với ống nghiệm, canh cấy với không khí an bình và yên tĩnh của các phòng thí nghiệm. Pfaundler không thể chịu được công việc nhộn nhịp gần như quay cuồng và nhất là những khía cạnh bi đát của cuộc sống bệnh viện …

Như mọi lần, điện thoại viện Pasteur ít khi rảnh nên phải đợi hai phút mới bắt được đầu dây giọng nói quen thuộc trầm trầm của Pfaundler.

– Kính anh. Để trình anh một việc. Tôi vừa cho một nhân viên đem đến anh để khám nghiệm mủ nhọt của một cas quần đinh kỳ lắm. Có một miếng kính để anh nhuộm và xem hộ cùng một miếng gạc thấm mủ. Anh cho xét ngay hộ miếng kính nhé. Còn việc cấy vi trùng để làm sau. Tôi lấy ở nhọt bên thái dương phải. Vì có một vẩy mục trắng trên nhọt mủ nên tôi không thể thấy màu đỏ đen của mụn. Anh vẫn nghe đều đấy chứ?

– Vâng, anh nói tiếp đi.

– Vì có cái vẩy mục trăng trắng này nên tôi không chắc đó là quần đinh. Thoạt nhìn thấy có vẻ là anthrax lắm nhưng có thể là nhọt bọc da đầu với oedème bự. Mắt phải nhắm nghiền sưng húp. Bệnh nhân hơi sốt.

– Bệnh nhân ở đâu đến đấy?

– Anh Siegel ở Gundelsheim gửi hắn đến đây cho tôi. Đây cũng là một chi tiết quan trọng quý giá để xét đoán là anthrax. Hắn làm thợ nệm trong một hãng đã có nhiều trường hợp anthrax lắm …

– Tôi có nghe nhiều lần …

– Thế hả. Hay lắm. Có thể là quần đinh đấy. Nhưng tôi muốn quyết định có bằng có cớ, anh Pfaundler ạ. Cần nhất là phải có bằng chứng đó là chùm cầu. Khẩn cấp lắm: bệnh nhân đang nằm trong phòng mổ. Vì vậy, nhờ anh gọi tôi khi khám nghiệm xong nhé. Xin lỗi đã làm phiền anh nhưng cần lắm, nhờ anh giúp hộ cho …

– Thôi đừng khách sáo nữa, cụ ơi. Tôi bắt tay vào việc ngay đây.

Tôi đặt ống nghe xuống. Tôi ngại ngùng và lo lắng lắm. Khi trình bày cùng Pfaundler, tôi lại càng thấy có tình trạng bệnh lý và cơn giông tố trong lòng tôi và trong lòng … người bệnh nữa. Trong phòng tiếng thì thầm to nhỏ. Hiển nhiên tin đồn bay nhanh hơn âm thanh – một lần nữa, tôi lại ngạc nhiên trước cơ hành của hệ thống “giao thông” mà tôi gọi là “hệ thống giao thông vô hình” – rồi thì mọi người tấp nập đến … xem: Ai cũng hiện vẻ khẩn trương đạo mạo trên nét mặt, chứng tỏ họ cũng như tôi đều hiểu rõ tính chất cấp kỳ quan trọng khi cần phải quyết định. Cô bác sĩ Monica gần tôi và ngước mắt như thầm hỏi. Tôi nhún vai và nói nhỏ:

– Phải chờ cái đã.

Ngồi trên chiếc ghế sắt, trong góc phòng mồ, tôi xét thầm lại những trường hợp quần đinh đã gặp từ trước đến giờ. Tôi lại nghĩ đến phương pháp trị liệu và nghĩ đến Pollender, người đầu tiên đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh của quần đinh. Rồi Robert Koch tiếp tục công cuộc khảo cứu của Pollender và đã cấy được một loại nguyên chất của vi trùng đó. Tôi cất tiếng nói với mọi người:

– Nếu vi trùng quần đinh, hay bệnh than là vi sinh thể lần đầu tiên được tìm thấy bởi nó như những chiếc gậy khá lớn (dĩ nhiên qua kính hiển vi). Ngay cả những kính hiển vi cũ kỹ và thô sơ nhất thời ấy cũng đủ để phân biệt kẻ sát nhân này với thứ vi trùng khác, được người ta đặt cho các tên mỹ miều là chùm cầu vàng. Ở viện Robert Koch, tôi đã có dịp ngắm qua kính những hình chiếc gậy nhỏ ở đầu có vỏ bọc tròn, hay những chùm len lạ kỳ giống như những chùm tóc nhỏ trên dung dịch cấy (bouillons de culture). Tôi kể tiếp về những biến chứng và đặc tính của bệnh: bệnh than ruột (charbon intestinal) do ruột hấp thu thức ăn có khuẩn cầu vàng (staphylocoques); bệnh rẻ rách “maladie des chiffonniers” hay bệnh than phổi (charbon pulmonaire) là “bệnh của những người đổ rác” với mụt mủ cấp tính, là một thể quần đinh ở da. Quần đinh ở da cũng do những lông thú vật nuôi trong nhà mắc bệnh than hay do các y phục da thuộc. Trong trường hợp này, bệnh nhân chắc bị nhiễm trùng bởi những lông bờm ngựa thường dùng trong các xưởng làm nệm. Nhưng may thay – đến đây, tôi cất cao tiếng giảng cốt để bệnh nhân nghe thấy – da không bị trầy hay thủng thì không ngại gì cả.

Rồi hạ giọng tôi tiếp:

– Trái lại, nếu vi trùng nhập vào máu thì nguy đến tính mạng. Không có một phương pháp nào để chữa trị chứng nhiễm trùng huyết chùm cầu (septicémie staphylococcique) còn về nguyên nhân gây bệnh, các bạn chắc còn nhớ những cuộc thí nghiệm kỳ lạ của Besredka về vai trò bí hiểm của da. Hôm nay, tôi thấy những điều tôi giảng dạy thiếu nhiệt tâm. Đề tài rất hấp dẫn nhưng tôi không thể tập trung tinh thần được. Nặng trĩu như một gánh nặng siêu nhân, trong ý tưởng tôi chỉ có một câu hỏi khủng khiếp đang ngự trị: kết quả khám nghiệm vi rùng học ra sao? Nếu như tôi dự liệu miếng kính quết mủ ấy có  chùm cầu vàng Pfaundler không khó khăn và lâu gì mà chưa tìm ra. Không thể nói tiếp nữa, tôi đành ngừng tiếng. Đôi mắt lơ đãng nhìn vào khoảng không rồi chờ đợi; cơn căng thẳng lo nghĩ này và sự im ắng toàn diện này càng không thể chịu được.

Bỗng nhiên chuông điện thoại reo vang. Mọi người giật mình. Tôi chưa đứng dậy, Monica đã nhảy đến và cầm ống nghe lên. Vô tình, tôi nín thở. Có phải Pfaundler không? – Tiếng Monica.

– Không ạ! Không phải đâu ạ. Tôi không biết, để tôi gọi tổng đài.

Tôi thở dài. Gọi điện thoại nhầm giữa lúc đang căng thẳng và chờ đợi này! Monica đi về phía tôi.

– Người ta gọi Bác sĩ Heller.

Nàng nói như thể xin lỗi đã làm chúng tôi thất vọng. Lại chờ đợi. Trong im lặng căng thẳng. Qua cửa sổ tôi thấy những đám mây như những chiếc bánh phồng tôm, nặng trĩu mưa, bay từng đàn nhè nhẹ và chậm chạp càng thử thách sự kiên nhẫn của tôi. Pfaundler đến đâu rồi? – Có lẽ hắn quên rồi, – tôi không thể để người bệnh nằm hoài trên bàn mổ được! Khốn nạn – chắc hắn còn căng thẳng và lo nghĩ hơn cả tôi. Tôi tưởng tượng Pfaundler trong phòng thí nghiệm, tôi nhẩm thầm những công việc hắn đang làm. Tôi thấy khuôn mặt hắn luôn  luôn nhuốm buồn. Có lẽ hắn đang giữ ống nghiệm lên tầm mắt đểnhìn vào kính hiển vi. Hắn đã tìm thấy kẻ sát nhân chùm cầu vàng hay không? Tuy vậy tôi có thể tự an ủi: Pfaundler là người rất có lương tâm, có thể tin tưởng hoàn toàn nơi hắn. Khổ thay, vì có tính cách quyết định quan trọng, hắn phải rất tỉ mỉ, vậy phải làm thật chính xác vì vậy phải chờ vì … lâu! Người bình tĩnh nhất trong bọn chúng tôi lại là bệnh nhân. Chỉ có một lần, hắn nhìn tôi như muốn hỏi điều gì. Xong, có lẽ tự hổ thẹn với chính mình vì không đủ kiên nhẫn, hắn quay mặt nhìn vào tường và lại nằm bất động.

Sau cùng, chuông điện thoại lại reo vang. Lần này tôi đến nhấc ống nghe. Nhưng vì tay còn đeo găng khử trùng, nên tôi nhờ Monica đặt ống nghe sát tai tôi. Ở đầu dây, giọng Pfaundler thật thờ ơ và bình tĩnh lạ thường.

– Kính anh, tôi đã xét rất kỹ càng nhưng không thấy gì cả, -không có gì cả! Miếng kính sau khi nhuộm thấy có vài chú vi trùng tròn và dài nhưng không có một cô chùm cầu tóc vàng nào. Muốn chắc hơn, tôi lại quệt miếng gạc vào một miếng kính và lại nhuộm không thấy gì cả Killian ơi!

– Vâng. Vậy không phải là quần đinh phải không? Ý kiến của anh là vậy phải không?

– Đúng thế.

– Vậy là một nhọt bọc da đầu phải không?

– Tôi không biết. Cái đó tôi không biết được. Người bệnh của anh, tôi biết làm sao được.

Tôi chỉ có thể bảo đảm với anh một điều: sau khi khám nghiệm các tấm kính anh gửi đến cho tôi, đây không phải là một quần đinh. Hắn còn nói thêm vài lời nữa, nhưng giọng nói bỗng nhiên nhẹ hẳn, ngập ngừng hình như lắp bắp vài câu. Quay đầu lại tôi thấy tay Monica run cầm cập. Mặt nàng tái mét. Tôi khẽ nói với Monica.

– Bác sĩ ơi! Làm gì mà run vậy.

Rồi nói vào ống điện thoại:

– Cám ơn ông anh nhé, kính chào đại ca.

Monica đặt ống nghe lên máy điện thoại. Nhưng tôi không thể nào rời máy. Tôi từ chối không thể hiểu được những điều Pfaundler vừa nói với tôi. Đáng lẽ tôi phải mãn nguyện, Pfaundler đã hùng hồn trả lời: tôi có lý nghĩa là án chẩn của Bác sĩ Siegel nhầm lẫn: không phải là một quần đinh. Tuy vậy tôi không cảm thấy mãn nguyện. Trái lại, gánh trách nhiệm hình như còn đè nặng hơn trên đôi vai tôi. Trong khoảnh khắc một vài giây, tôi phải xua đẩy ý nghĩ một điều thảm khốc đổ vỡ không thể tránh được và sắp sửa xảy ra. Sau cùng, tôi lấy bình tĩnh và quay về phòng mồ.

Tôi báo cho bệnh nhân hay:

– Không phải là quần đinh đâu ông ạ! Ông Bác sĩ chuyên khoa về vi trùng học vừa xác nhận với tôi xong, không tìm thấy gì cả.

Rồi, trong im lặng, tôi sửa soạn mở nhọt bọc. Cô y tá đứng cạnh bàn đựng đồ mổ đang chờ lệnh. Một lần cuối tôi nhìn lại chỗ vẩy mục trắng trắng kỳ dị kia, một vết nhỏ nhoi trong đám thịt sưng đỏ như hoa phượng. Người bệnh, mím chặt đôi môi, quay mặt nhìn tôi không chớp mắt. Tôi nhìn lại người thợ làm nệm và giơ bàn tay phải lên: Đó là một hiệu lệnh gần như một nghi thức cổ truyền: Cô y tá đã đưa vào tay tôi con dao mổ dáng điệu rất chính xác và máy móc. Tôi sắp sửa mổ.

Cánh tay trái bệnh nhân đặt trên một chiếc giá. Một anh sinh viên buộc dây cao su để làm nổi mấy lần gân xanh căng phồng. Sau khi bôi cồn lên da, anh cầm chiếc ống tiêm đựng thuốc: Một dung dịch vàng nhạt, thuốc EVIPAN lóng lánh trong ống, Anh lại dựng ngược ống tiêm và đẩy những bọt không khí qua kim tiêm. Vừa nhìn hắn làm, tôi cảm thấy căng thẳng không thể cắt nghĩa được. Chưa bao giờ, trước khi mổ tôi lại có thể căng thẳng đến thế; như máy, tôi quay về phía trái chỗ cô y tá đang chờ đợi: tôi bắt gặp ánh mắt của Monica. Nàng đã đi quanh chiếc bàn và lẳng lặng đứng trước mặt tôi. Đôi mắt nàng to và đen như đôi mắt nai, mọi khi rất bình tĩnh, hôm nay lộ vẻ lo sợ không thể kìm hãm được, một vẻ lo ngại gần như mất trí. Tôi có cảm tưởng đôi mắt ấy cố gắng hỏi tôi một lần chót: “Có chắc là anh có lý không, có chắc không? Hoàn toàn chắc không?”

Lúc đó, có điều gì nổi lên trong tâm trí tôi như một sức kháng cự điên dại không thể kiểm soát được. Không, tôi không chắc gì cả phải có một việc nhầm lẫn nào, một điều nhầm lẫn ghê sợ. Tôi đặt con dao mồ xuống và hét lớn:

– Tôi không muốn. Tôi không thể tin được! Không thể được!

Như trời trồng và ngạc nhiên hết sức, mọi người trong phòng  mổ đứng đơ như tượng đá câm như hến. Tôi cầm tay anh sinh viên đang sắp sửa chích thuốc vào tĩnh mạch …

– Để tôi lấy thử lần nữa xem sao. Lúc nãy tôi sợ chưa đi vào sâu.

Cố chống lại xúc cảm còn ghì chặt lấy cổ, tôi lại hơ chiếc que platine lên đèn cồn và cúi xuống thái dương sưng tấy của người bệnh, liền đó, một dòng mủ chảy từ chỗ hồng bị loét; tôi còn đem theo cả một đám thịt bị thối mà không chảy máu gì cả. Tôi không quệt lên kính nữa, mà để cả vẩy dính đầy mủ và thịt tróc vào một ống nghiệm đã khử trùng rồi lấy bông đậy lại. Không ai dám nói khi tôi đang làm công việc tế nhị này.

Nhưng, trong đầu tôi, nổi lên một cuộc đối thoại, đối thoại với chính mình. “Tại sao mình làm vậy? Có phải vì đôi mắt đẹp của cô bạn đồng nghiệp biểu tỏ một niềm lo sợ vô vọng? Có phải vì đến phút sắp mổ, một sức mạnh không thể kìm hãm nổi đã ngăn cản? Hay đúng hơn vì tự hào – niềm tự hào vô lý vì Pfaundler đã trả lời rõ ràng rành mạch như vậy? Thế mà, Pfaundler, mình biết rõ hắn hơn ai hết, hắn không phải là tay gà mờ, mỏ trắng (blanc bec), hắn được mọi người mến phục và tin tưởng … “

Tâm trạng con người thật kỳ diệu: không thể chấp nhận lời trách móc hay mắng mỏ vì đã hành động trái với lý trí và biện luận. Tôi đã phản ứng thật tự nhiên, gần như không tự nhận biết, phản ứng với chính những lời tố cáo của mình. Bác sĩ Siegel đã chẳng định bệnh là quần đinh rồi đấy ư? Một y sĩ già lành nghề tại khu ngoại ô kỹ nghệ này hơn ba mươi năm trời phải có nhiều kinh nghiệm và đã gặp nhiều trường hợp quần đinh hơn tôi, một y sĩ đã hết mình theo chí hướng, luôn luôn nhạy cảm và nhiệt tâm không bao giờ chấp nhận một án chẩn vội vã … Nên tự tin vào điều phê phán của chính mình, còn hơn là dựa trên độc có một miếng kính quệt mủ! Nhưng tôi không muốn vỗ về tự ái riêng tôi, nói đúng hơn tôi không muốn tự dối mình về bào chữa: những lý lẽ đẹp đẽ trên, tôi thấy đúng và thật lắm chứ không phải đến cùng một lúc và có tính cách quyết định. Ngay giây phút rời bỏ con dao mổ, tôi đã tuân theo những điều khác, rõ hơn là do một sức mạnh thầm kín, không thể phân tích rõ được và cũng không thể định nghĩa cho được. Một sức mạnh, tùy theo tâm tính hay niềm tin cá nhân, có thể gọi là “linh tính”, hay “lý trí”, hay “thần linh run rủi”.

Trong khi đó, Charles, sứ giả của tôi cử đến Viện Pasteur đã về … một lần nữa? Chưa biết thế nào cả.

-Em đem ống này đến Bác sĩ Pfaundler. Tôi sẽ gọi điện thoại cho ông ấy ngay. Nhanh lên nhé. Cần lắm.

Hắn cầm ống nghiệm và chạy bổ xuống cầu thang. Phần tôi cũng nhảy xổ đến điện thoại.

– Cho tôi nói chuyện với viện Pasteur, – Bác sĩ Pfaundler.

Vâng. Cũng số ấy … lẹ lên !… lẹ lên!

Ống nghe hầu như muốn chuồn khỏi đôi tay tôi. Bất nhẫn và nổi nóng, tôi giật tung đôi găng tay cao su. Nửa phút sau, giọng Pfaundler ở đầu dây.

– Xin lỗi anh lại phải nhờ anh … thử lại xem … một lần nữa …tôi chưa thể mổ được. Tôi đã đi sâu vào thêm nên lấy một lần nữa đấy. Tôi có lấy cả vẩy nữa. Nhân viên sẽ đem đến anh ngay, hắn vừa đi xong. Mong anh giúp cho, xem lại kính hiển vi hộ cho nhé. Có gì báo ngay cho tôi nhé. Tôi vẫn chờ đấy. Ở trong phòng mổ …

Tôi đã đoán trước phản ứng của Pfaundler. Đối với hắn chỉ có một ý nghĩa: Tôi không hoàn toàn tin ở hắn. Nhưng bây giờ không phải là lúc nói đến chuyện tự ái, nể nhau và tế nhị nữa. Khi trở vào phòng mổ; người bệnh, vẫn nằm trên bàn mồ, quay nhìn về phía tôi. Tôi cảm động và bỡ ngỡ khi thấy trong ánh mắt còn mở của người bệnh hiện niềm tin tưởng trọn vẹn. Nụ cười tôi làm hắn bình tĩnh hơn, hắn lại mỉm cười trả lại như cũng để ủng hộ tôi. Tôi lại ngồi trên chiếc ghế đẩu trong một góc phòng gần cửa và lại vùi mình trong tư lự: Linh tính, lý trí. Những điều ấy có thật không? Và nếu có, ta có thể nào tin được những điều ấy không?

Quả thật là những câu hỏi tư lự mà con người, nếu chân thành với chính mình không bao giờ dám tự trả lời. Những phút chầm chậm lại lê bước làm sưng tấy ý nghĩ trong im lặng nặng nề. Chưa bao giờ tôi lại hiểu rõ thời gian là một ý niệm tương đối như thế! Tôi luôn luôn nhìn đồng hồ quả lắc. Charles phải đến Viện Pasteur từ lâu rồi! Pfaundler chắc đang nhuộm màu đây …

Monica, đứng gần tôi không thể im lặng được nữa.

– Bác sĩ có muốn tôi gọi điện thoại Viện Pasteur không? –

Nàng nói như thầm thì năn nỉ. Tôi cũng trả lời rất nhẹ:

– Không cần. Chỉ làm rộn anh Pfaundler thôi. Anh ấy không chậm một phút nào đâu. Anh ấy hiểu rõ tình hình ấy. Lại im lặng. Bên ngoài ngay trước cửa sổ, vài con quạ bóng  dáng ẩn hiện trên màu xám của đám mây, đang kêu inh ỏi để tránhgió. Nếu tôi là người xưa, tôi sẽ tin đó là điềm xấu; nhưng ngay trong thời đại này, tôi tự nhủ, có lúc con người không dễ gì xua đuổi những điều dị đoan cũ mèm ấy …

Hai mươi lăm phút rồi … thật không thể hiểu được. Hay Charles bị tai nạn gì? Tôi nghĩ đến chỗ hay xảy ra tai nạn nhất là “chỗ quẹo đỏ” – chỗ này con đường quẹo và gặp một chiếc cầu dành cho xe lửa. Chỗ này xe cộ đi nhiều như mắc cửi hơn nữa xe nhỏ hay vượt mặt các xe hàng nặng chở gỗ và xi măng. Không thể chịu được, tôi đi bách bộ từ bàn mổ đến chỗ đặt điện thoại. Có lúc, tôi ngừng trước máy, chống chọi với mình để không gọi điện thoại cho Pfaundler. Chuông điện thoại reo khi tôi quay về phía bàn mồ lần thứ 50. Hai bước nữa tôi đến cầm ống nghe.

– Allo, đây là phòng mồ …

Tôi nhận được giọng Pfaundler. Trái lại, mới đầu không thể hiểu được Pfaundler nói gì bởi hắn nói nhanh quá. Hiển nhiên, hắn xúc động quá. Đừng mồ – Đừng mổ nhé … Đừng mổ nghe! Nếu mổ thì đi đời rồi!… Ghê quá … Đầy vi trùng. Chùm cầu vàng đầy cả như một canh cấy!

Trong khoảnh khắc, tôi không thể nói được lời nào. Pfaundler lại càng không hiểu tại sao tôi im lặng. Hắn hét như tuyệt vọng.

– Có nghe tôi nói không? Có hiểu không? Trả lời đi! Anh đã …

– Không. Cứ an tâm. Không có gì cả. Tôi chưa mổ.

Tôi đặt ống nghe. Bỗng nhiên tôi cảm thấy như quay cuồng đứng không vững. Hai chân run run, tôi phải tựa vào tường. Phải mất hơn một phút mới có thể vào được phòng mổ. Cơn bão vừa qua, tôi trở lại và nói lớn:

– Không mổ đâu. Anthrax đó.

Không ai nói được cả nhưng tôi nghe thấy như mọi người đều thở nhẹ nhõm. Bầu không khí căng thẳng đã nới rộng. Cố làm vẻ bình tĩnh, tôi cúi xuống nhìn bệnh nhân và một lần nữa tôi lại quan sát nhọt mủ có vẩy mục trắng đã làm khó tôi không nhỏ? Bỗng nhiên một ý nghĩ lóe lên. Tôi hỏi người bệnh:

– Bác sĩ Siegel có bôi gì vào cái nhọt mủ ở thái dương cho ông không?

– Có ạ. Ông ấy nói thoa bằng acide nhiều khi hay lắm.

Tôi khẽ à một tiếng. Tại sao tôi không nghĩ sớm hơn? Có thể Siegel đã bôi acide trichloroacétique nên nó mới mọc vẩy trắng. Chỉ một chi tiết nhỏ này thôi nếu biết trước có phải đỡ lo đỡ sợ không.

Bây giờ, thật là rõ như ban ngày. Tôi đặt lên chỗ sưng đỏ những miếng gạc khử trùng thấm vaseline rồi quấn lại. Tôi bảo đem bệnh nhân xuống phòng và thấy Monica bước vội khỏi phòng mồ. Tôi liền theo nàng bén gót. Mặt tái mét, đôi mắt nhắm chặt, nàng tựa vào tường. Tôi khẽ nói:

– Thế nào – Tôi không muốn ai nghe câu chuyện giữa chúng tôi nên tôi nói như thầm thì – sao vậy cô? Có thế mà sao đa cảm đa sầu vậy?

Nàng mở mắt và khẽ cười:

– Xin lỗi … thế là xong rồi. Vài hạt nước mắt còn dính trên mi. Cảm động vì lòng can đảm của Monica, tôi suýt ôm nàng. Lúc bấy giờ tôi vẫn chưa biết nàng sẽ là vợ tôi. Chúng tôi lại vào phòng mổ. Mấy người y công lại dẫn một bệnh nhân khác đến. Công việc thường ngày lại tiếp tục, luôn luôn bận rộn cho đến chiều.

Khi màn đêm xuống đã từ lâu. Tôi rời bệnh viện, mệt nhọc, tôi gặp chiếc băng ca trên có một xác người mặt phủ bằng tấm khăn trắng đang tiến ra cửa sắt. Tôi hỏi ông gác-dan:

– Hôm nay có người chết à?

– Vâng. Bà cụ sáng nay đấy! Bác sĩ quên rồi ư?

– Phải, tôi nhớ ra rồi. Phải, thật chua chát một đám tang tốn ít tiền …

Rồi ngày qua trong việc bận rộn ở phòng mồ, phòng nhận bệnh … Tôi quên không nghĩ tới Bác sĩ Pfaundler.

Đêm hôm đó, tôi bị dựng dậy bởi chuông điện thoại.

– Bác sĩ Killian đây hả? Tôi là vợ Pfaundler đây. Phiền bác sĩ đến hộ. Chồng tôi …

– Bị tai nạn hả?

– Không ạ. Nặng hơn. Chỉ có bác sĩ mới giúp được anh ấy. Van bác sĩ, xin bác sĩ đến cho.

Giọng người đàn bà run run, lo sợ cả lời nói. Tôi không thể điếc trước lời gọi cảm động ấy. Khi ra đến cửa, mưa lạnh như cắt làm tôi tỉnh hẳn. Mười lăm phút sau, tôi bấm chuông nhà Pfaundler. Bà Pfaundler đã mở ngay.

Bà đã đợi từ lúc điện thoại cho tôi.

– Không biết làm sao để cảm tạ bác sĩ đã đến. Tôi lo quá có lẽ  phát điên mất …

Qua hành lang, bà chỉ vẻ mệt mỏi cánh cửa trắng đã róc sơntừng mảng.

– Cũng may các cháu ngủ cả. Bác sĩ đưa tôi mắc cái áo mưa …

– Có việc gì đấy ạ?

– Chồng tôi đi làm về nom tiều tụy quá. Anh ấy không ăn tối. Vào ngay phòng làm việc vẻ thất vọng, buồn bã chẳng nói chẳng rằng. Theo chỗ tôi biết và suy đoán ra, anh đã phạm một lầm lỗi lớn. Anh ấy luôn miệng nói suýt nữa gây nguy hiểm đến tính mạng một người bệnh. Xin bác sĩ giúp cho … chỉ có bác sĩ thôi.

Bà ngừng lại và úp mặt vào hai bàn tay khóc thút thít. Hơi ngượng nghịu, tôi giả vờ khó mở những chiếc khuy áo mưa. Thiếu phụ đang khóc và tuyệt vọng này. Tôi biết lắm. Tôi biết nàng khi thành hôn với Pfaundler, nhí nhảnh ngây thơ và duyên dáng … Hôm nay, bà có vẻ già trước tuổi, chồng bận việc ở phòng thí nghiệm, năm con mọn phải chắt chiu mới đủ tiêu. Lương tháng của chồng cũng vừa đủ ăn tuy dạy thêm và làm việc cho vài hãng của chồng cũng không mở mày mở mặt cho lắm!

Tuy vậy Pfaundler là một thiên tài giỏi và rất thông minh, ông đã viết nhiều bài nói về các công việc nghiên cứu của mình nên tên ông rất quen thuộc trong giới y học. Nhưng khổ thay ông luôn luôn làm việc say mê trong tháp ngà nên không thể nhận thấy cuộc sống chắt chiu, dè sẻn gần như luôn luôn thiếu thốn đã làm khổ vợ  mình. Cha hiền, chồng thảo Pfaundler đã hết mình làm việc quầnquật để bù vào chỗ thiếu thốn ấy cho gia đình êm ấm hơn. Nhưng trên con đường chức nghiệp Pfaundler đã chọn, không phải trải bằng tiền rừng bạc bể.

Tôi hỏi nhỏ:

– Chính ông nhà đã bảo bà gọi tôi đến đấy à?

– Không ạ. Anh ấy không biết tôi đã gọi điện thoại cho bác sĩ. Tôi van bác sĩ, hãy cố khuyên nhủ anh ấy hộ tôi.

Tôi đẩy cửa phòng làm việc. Pfaundler, gục người trên bàn, đầu úp vào đôi bàn tay run rẩy, tuyệt vọng. Anh như thẫn thờ cả người không biết gì cả. Lâu lắm mới nhận được ra tôi. Sau cùng, anh quay đầu lại và rất ngạc nhiên, đứng dậy phía tôi.

– Anh đấy à … khuya rồi … À tôi hiểu, chắc là vợ tôi … xin lỗi đã làm phiền anh đến đây … có lẽ nàng có lý …

Đến đây anh ngừng tiếng và cúi đầu. Khuôn mặt sắc sảo và thông minh đang bị tuyệt vọng vô bờ tàn phá và hằn từng nét. Con người đứng trước mặt tôi đã phải đau đớn biết bao trong khoảng thời gian vài giờ trước đây! Anh mời tôi ngồi rồi phịch xuống chiếc  ghế bành.

– Cảm ơn anh khuya khoắt thế này mà anh cũng đến. Thành thật cảm ơn anh. Tôi hết cả sức lực, không thể nào nghĩ được và tập trung tư tưởng nữa anh ơi. Sau khi gọi điện thoại cho anh, sáng nay tôi không tiếp tục làm việc nữa. Tôi ngừng hết cả công việc, ngay cả công việc nghiên cứu của tôi nữa. Tôi về nhà suy nghĩ hầu lấy lại sức lực: Nhưng không thể nào được, hối hận quá, tôi xúc động quá. Tôi không thể nào suy nghĩ mọi chi tiết sáng nay: Tôi đã đi đến một sự lầm lẫn không thể tha thứ được. Tôi cảm thấy có lỗi. Không, anh đừng chống chế, tôi biết là tôi phạm lỗi. Bây giờ, vì anh đã có lòng tốt tới đây, tôi cần phải nói với anh điều gì đã xảy ra. Tôi nợ anh sự thật, tất cả sự thật. Anh có chấp nhận nghe tôi nói không?

– Chắc chắn rồi, cho dù tôi tới không phải vì điều đó. Anh đã phạm một sai lầm, đúng như vậy, nhưng có ai mà không sai phạm, ngay tôi cũng vậy …

– Tôi xin anh, hắn ngắt lời tôi. Tôi phải thoát ra khỏi gánh nặng này. Anh thấy tôi chẳng đáng có một thứ lỗi nào. Tôi phải nói ngay rằng cú điện thoại thứ hai của anh đã làm tôi lấn cấn. Dĩ nhiên anh nghĩ rằng tôi phải cần thêm một mẫu thử thứ hai để làm lại cùng một xét nghiệm. Nhưng không phải như vậy. Tôi hiểu rõ và cũng hiểu ngay rằng anh muốn có được tất cả những bảo đảm có thể có được. Lúc đó tôi đang theo đuổi các công trình khảo sát khó khăn, và đúng sáng nay, các công trình của tôi tới điểm quyết định. Tôi có cảm tưởng giải pháp vấn đề là trong tầm tay của mình. Có lẽ anh đã biết và cũng trải qua như vậy, với sự xúc động đặc biệt mà người ta cảm nhận được trong khoảnh khắc. Người ta như phát sốt, cảm thấy rằng chỉ trong vài phút tới là đi tới quyết định thành tựu hay thất bại của một công trình kéo dài bao nhiêu tháng trời … Và lúc đó, có cú điện thoại thứ hai của anh! Khi nhân viên của anh đạp xe tới mang theo mẫu thử, tôi đưa cho cô xét nghiệm viên bảo chuẩn bị nhuộm mẫu thử. Rồi tôi trở lại với công việc của mình. Trong vòng 10 phút, cô ta làm xong và kêu tôi tới đọc các mẫu nhuộm. Tôi phải thú nhận rằng khi ngồi trước kính hiển vi tôi không chờ đợi một ngạc nhiên nào. Sau hết, tôi cũng đã xem xét cùng một mẫu nghiệm ấy ngót một giờ trước đó và không phát hiện ra một con khuẩn cầu vàng (staphylocoque doré) nào. Nhưng lần này ngay khi tôi dán mắt vào ống kính, tôi nhảy nhồm lên và như ngã ngửa trên ghế. Trên tấm kính chi chít những vi  khuẩn! Kinh hoàng, tôi phải bám vào bàn, hai chân muốn khuyu xuống, mồ hôi lạnh toát chảy dọc sống lưng. Một cách ngớ ngẩn, tôi tự hét lên:

“Xem đây, đầy những khuẩn cầu vàng!”

Cô xét nghiệm viên chạy tới, cả những cô gái làm việc trong các phòng khác cũng ùa tới, luân phiên nhau, cúi mình trên ống kính hiển vi. Tôi tách ra khỏi họ, phóng tới chiếc máy điện thoại. Trong nỗi xúc động, tôi không còn nhớ được số điện thoại của anh, mặc dù đó là con số tôi biết rõ trong nhiều năm! Rồi cũng tìm thấy và cũng hai lần bấm lộn số. Tôi không thể mô tả được với anh cảm giác nhẹ nhõm là thế nào khi nghe giọng anh nói: “Tôi chưa có mổ!”

Anh ta im lặng, như kiệt sức sau câu chuyện dài. Tôi gật đầu nói:

– Tôi cũng tưởng tượng cảnh trí gần như vậy. Chỉ còn một điểm mà tôi chưa hiểu được: tại sao kết quả xét nghiệm đầu tiên lại có thể là âm tính?

Tôi hoàn toàn không muốn tìm cách chê bai anh ta, câu hỏi của tôi chỉ nhằm làm sáng tỏ một chút bí ẩn kỹ thuật (mystère technique) trong cuộc nói chuyện giữa tình bạn đồng nghiệp. Tôi ngạc nhiên về phản ứng của anh ấy. Pfaundler đứng bật dậy như chiếc lò xo, nhìn tôi vẻ kinh hãi, rồi rơi người xuống chiếc ghế bành nói như rên rỉ:

– Đúng vậy, giọng anh ta như thắt lại, đó mới là thảm kịch. Sau khi đặt ống điện thoại xuống, tôi lấy lại các mẫu thử đầu tiên với sự trợ giúp của cô xét nghiệm viên, đặt dưới ống kính hiển vi và xem xết kỹ từng millimètre một. Và lúc đó, trong vòng nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi bỗng phát hiện nơi góc của miếng kính xét nghiệm (lamelle) hai vi khuẩn hình gậy (bâtonnets), không thể chối cãi được đó là khuẩn cầu vàng! Hiển nhiên chỉ có hai, nhưng tôi phải thấy chứ. Tôi không có quyền không thấy chúng. Anh ta có một cử chỉ như bất lực và quay mặt đi. Tôi ngắm khuôn mặt người bạn, biểu hiện sự cố gắng không ngừng của nhà nghiên cứu với cả những khiếm khuyết, khuôn mặt ấy bỗng chốc biến dạng thành đau đớn. Một con người mà tôi ngưỡng mộ, một đồng nghiệp đang bị xâu xé bởi những hối hận, – tôi phải tìm cách giúp anh ấy lấy lại sự quân bình.

– Tất cả đều tốt, kết thúc tốt. Tôi nói với giọng an ủi. Vào phút chót, tôi đã không mồ, như một linh cảm (presssentiment), hay như từ một tiếng nói bên trong đã ngăn tôi lại. Người bệnh sống và rất có thể sẽ xuất viện. Cử chỉ của một bàn tay vô hình đã ngăn tôi lại, bàn tay mà tôi nhận được như món quà của trời đất (un cadeau du ciel). Cả anh nữa, anh có muốn nhận phần anh trong món quà đó không?

Anh ta nhìn tôi với vẻ hoài nghi. Tôi đưa bàn tay ra. Anh ta siết chặt bàn tay tôi rất lâu, môi anh run run.

– Đó không đơn giản là một linh cảm, giọng anh ta như thì thầm. Đó là một ước nguyện cao cả (volonté supérieure); anh đã có lý, tôi cũng xin chấp nhận món quà ấy.

Ba tuần lễ sau, tôi gọi điện thoại cho Viện Vi trùng học:

– Bác sĩ Pfaundler đấy phải không? Anh còn nhớ trường hợp bệnh than trên đầu không? Rất vui là người bệnh ấy đã xuất viện.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 23-24-25-26,

tháng 11-12,1965 tháng 1-2, 1966]

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 17 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

ĐOẠN KẾT

Tuần lễ bồi dưỡng thể xác và bồi dưỡng tinh thần trôi đi rất nhanh. Người ta muốn ăn cơm trắng với thịt lợn kho dài dài và nghỉ lao động dài dài để mơ mộng cái ngày Mỹ đem trực thăng bốc khỏi trại tập trung. Thế mà đã thứ sáu . Tiếng kẻng đã hết vẻ gầm gừ. Dường như âm điệu của nó thoang thoảng gió đàn ngọt mát. Hai mươi tám con sư tử lãng mạn và cô đơn không muốn rời phòng giam những lần cửa mở. Với họ, nhà tù ấm áp hơn trại tập trung. Nhà tù có nhiều chí lớn. Trại tập trung thì đẩy dẫy kèn cựa, tranh giành và những đầu óc trống rỗng, những đôi mắt cận thị. Ở nhà tù, con người thường xuyên trực diện hình phạt của thù hận, thường xuyên đứng giữa biên giới sống chết nên con người trang trải, cao cả.>Ở trại tập trung, con người rên siết vì miếng cơm thiếu, cứ phàn nàn vì việc làm nhiều, thành thử con người hẹp hòi, bé nhỏ. Sư tử chưa biết mình còn phải luân lạc tới những vùng trời phiền muộn nào của quê hương. Thực sự, sư tử chán ngấy vùng trời vừa đến. Nó hào hùng khoảnh khắc. Nó sôi nổi nhất thời. Nó hy vọng ngớ ngẩn. Nó son sắt phút giây. Nó thiếu ước mơ. Nó cây mục. Nó cành khô. Nó lá rữa. Nó không thể kết trái bởi chẳng bao giờ nở hoa.

Ngày thứ bẩy, ông Ủy viên lại có mặt ở văn phòng giám thị. Ông mang chỉ thị của Trung Ương.

– Đồng chí Giám thị!

– Dạ.

– Diễn biến tư tưởng của chúng nó ra sao?

– Thuận lợi cho ta.!

– Chiều nay xe tải vào đây. Chập tối, xe về thị xã Nam Định, chạy thẳng ra ga.

– Bao giờ ban lệnh ạ?

– Ngay bây giờ. Tập trung chúng nó ở sân trại.

Giám thị truyền lệnh cho trực trại.. Một hồi kẻng khua vang. Lúc ây là giờ. Mười lăm phút sau, toàn thể trại viên tập họp từng đội giữa sân, trừ hai mươi tám con sư tử bị nhốt trong phòng. Giám thị nghênh ngang bước qua cổng trại. Vẻ thân mật hôm nào biến mất. Khuôn mặt Giám thị đanh lại nguyên vẹn khuôn mặt một cai ngục chuyên nghiệp, lão thành. Ông ta đứng trước các trại viên. Trực trại điều khiển cuộc chào đón.

– Chú ý, tất cả trại viên đứng dậy!

Qúy vị sĩ quan răm rắp tuân lệnh anh trung sĩ công an.

– Nghiêm.

Trực trại quay lại, giơ tay chào Giám thị:

– Trung sĩ Đỗ Ngọc Tùng, cán bộ trực trại, báo cáo đồng chí thủ trưởng, quân số tập họp đủ, chờ lệnh đồng chí thủ trưởng.

Giám thị vẫy tay:

– Đồng chí cho họ ngồi.

Và trở mặt về phía trại viên, hô lớn:

– Tất cả trại viên ngồi xuống!

Quý vị sĩ quan ngoan ngoãn ngồi xuống. Giám thị nói:

– Lệnh của Trung ương, các anh được về Nam. Từ đây di chuyển xuống thị xã Nam Định bằng xe tải. Từ Nam Định, các anh đi xe lửa vào Nam. Trên đường đi, các anh phải triệt để tuân hành mệnh lệnh của cán bộ chiến sĩ bảo vệ. Hành động chống đối sẽ không được tha thứ. Hành động chạy trốn sẽ bị bắn chết ngay. Các anh về phòng thu dọn toàn bộ đồ đạc và khẩn trương ra sân tập trung. Rõ chưa?

Qúy vị sĩ quan nhất loạt đáp:

– Rõ.

Giám thị rời sân trại. Vệ binh tăng cường vây kín hàng rào trại. Sư tử bám chấn song cửa quan sát cảnh tượng. Hoàng Sơn Trường lên tiếng:

– Đàn anh hố to rồi!

Dzũng quan tài cười hô hố:

– Lát nữa, nó còng hai đàn anh vào một. Còng Mỹ, chứ không phải trực thăng Mỹ bốc đi.

Lương Việt Cương nói:

– Mình cần tiễn đàn anh vị chút tình chứ, các bạn?

Đình Vượng đáp:

– Tại sao không? Mình tiễn đàn anh bằng bài hát tức là cho đàn anh bài học về sự cả tin…cộng sản!

Chú tiểu Thích Thanh Bần lắc đầu:

– Đừng, đừng làm buồn các ông ấy. Mỗi người đều lỗi lầm cả vì mỗi người đều có tâm sự riêng.

Nhiều vị sĩ quan già đã tay xách nách mang hành lý tù ra sân. Ý hẳn tranh thủ ra sớm ngồi xe chỗ tốt! Nửa tiếng sau, sân trại đã đông đủ cải tạo viên với hành lý ngổn ngang đủ thứ: Nồi niêu, xoong chảo, lồng chim, lồng gà, điếu cày, hoa lan, đàn sáo… Trực trại hỏi:

– Ghi tên cách anh ngoài bị hành lý chưa?

– Rồi.

– Tập trung hành lý một chỗ.

– Rõ.

Lộn xộn chừng mươi phút khiêng hành lý xếp đống. Trực trại nói:

– Trưa nay không kịp cơm nước . Buổi tối, các anh sẽ ăn ở Nam Định.

Trời hôm nay nắng dữ. Cải tạo viên sĩ quan trình diện ngồi phơi nắng rất thảm hại. Cái hùng khí bữa nào biến mất. Dzũng quan tài thắc mắc:

– Giá mấy vị tặng mình cây guitare và con gà thì tuyệt. Đàn mang theo thì ôkê, gà mang theo chỉ cho mệt.

Dzũng quan tài ngó Thích Thanh Bần:

– Tham sân si quá hả, nhà chùa?

Chú tiểu mỉm cười, chắp hai tay trước ngực:

– Mô Phật!

Đội cấp dưỡng cũng bị chuyển trại luôn nên sư tử nghỉ ăn cùng với các vị sĩ quan. Họ ngồi phơi nắng, mồ hôi chảy tầm tả suốt mấy tiếng đồng hồ. Đế 14 giờ, xe tải đến và đậu ngoài đường . Trực trại điều khiển chuyến đi. Vệ binh còng tay hai cải tạo viên chung một chiếc còng.

– Đội 1 khuân toàn bộ hành lý lên xe. Các đội khác ngồi tại chỗ.

Đúng 15 giờ, các xe tải quay đầu lại. Trực trại ra lệnh:

– Đứng dậy!

Hai mươi tám con sư tử xích đến gần nhau, cất tiếng hát:

“Đứng vững lên bao thanh niên yêu nước

Tiến về miền Nam miền quê hương ta nắng chói

Theo bước chân người xưa

Ta tiến lên đường ,ôi nắng mưa, sương gió ngại ngùng chi…

…

Đi về miền Nam, miền quê hương bông lúa tràn ngập đầy đồng

Đi về miền Nam,miền thân yêu đất rộng cùng chung đời sống…”

– Từng đội ra, khẩn trương lên xe!

Tiếng hát mỗi lúc một hùng hồn, tha thiết. Những người chuyển trại ngoảnh lại, vẫy tay chào sư tử. Nước mắt anh em ứa ra. Nước mắt sư tử cũng ứa ra. Nước mắt đã làm trôi đi mọi hiểu lầm, ghét bỏ hôm qua. Nước mắt bây giờ là gần gủi và nuối tiếc một ngày của một đời tù tội.

– Sư tử, ở lại vùng vẫy nhé! Yên chí, từ nay các anh chống tự kiểm.

– Các anh đi, bình yên… Hẹn ngày chiến thắng.

– Sư tử, không được đầu hàng!

Sư tử nghẹn ngào. Sư tử phóng ra lời son sắt:

“Việt Nam, Việt Nam tên gọi vào đời..

Việt Nam hai câu nói trên vành môi….Việt Nam nước tôi…!

Những người chuyển trại hát theo:

“Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam muôn đời…”

Nước mắt sư tử vẫn ứa ra. Sân trại trống vắng, buồn tênh. Nỗi cô đơn dàn trải mênh mông. Lần đầu tiên trong lịch sử nhà tù cộng sản, người ta dọn sạch một trại tập trung. Sư tử bám chấn song phòng giam nhìn ra cái khốn cùng của cuộc sống. Và những trái tim rộn rã ước mơ.

Ở phòng giám thị, ông Ủy viên dập điếu thuốc cháy dở:

– Ngay tối nay, đẩy hai mươi tám thằng bất trị xuống hầm đá!

Viết xong tại Ivry Sur Seine

10-10-1984

DUYÊN ANH

VŨ MỘNG LONG

Dấu Chân Ngày Xưa

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 17 Jan 2026

Google image

3. Bờ sông xưa

Sông Vệ, con sông ngoằn ngoèo bắt nguồn từ những con suối trong rặng Trường Sơn. Những con suối ăn sâu vào lòng núi thật xa trên quê hương làng mạc Quảng Ngãi của Trường An, Ðồng Kè, Ðồng Ú. Rồi những con suối họp lại thành sông. Sông chảy qua Vạn Xuân, Nghĩa Phú, Nghĩa Thuận, qua đồn Cộng Hòa, và nghiêng mình lách qua những vực thẳm cao vút của đèo Eo Gió, đèo Quán Thơm để đổ về đầu làng tại Bải Hà. Từ đây dòng sông không còn gập gềnh nữa. Lòng sông hiền hòa uốn mình quanh co qua từng làng mạc để cuối cùng đổ vào biền Ðông tại Cổ Lũy. Trước khi đến Bải Hà, lòng sông sâu, nhỏ và chảy xiết, một bên là sườn núi đèo Quán Thơm có dinh Bà, bên kia là chân núi Ðình Cương có dinh Ông. Hai dinh nằm đối diện nhau trên bờ sông, và cũng nơi đây người ta đã từng thấy cọp beo xuống sông uống nước trên hòn đá chải bên cạnh dinh Bà. 
Những người đi buôn từ miền xuôi thường mua mắm, muối mang lên miền thượng du để đổi lấy lâm sản như quế, trà, vân vân. Dinh Bà trên đèo Quán Thơm là con đường duy nhất mà bạn hàng từ Thi Phổ, Mộ Ðức, Ðức Phổ phải đi qua. 
Mỗi lần đến dinh Bà, những người bạn hàng thường ngã nón, vào dinh thắp cây nhan (vì sợ sự linh thiên huyền bí của cái dinh) rồi mới đi. 
Sau ngày “giải phóng” dinh Ông và dinh Bà cũng bị đập phá đi, nhưng ngày nay người dân đã tái lập và thờ cúng hằng ngày. 
Khúc sông chạy thẳng từ đèo Quán Thơm đến bãi Phù Sa. Nơi đây nó bẻ khúc quanh 90 độ để đổ về Ðề An, và chảy ra cầu Lá Hai (Ðá Hai), có đến bốn bờ xe nước. Bờ xe Chán Thủy đổ vào ruộng Rộc Máng bên An Chỉ; Bờ xe Xuân Ðình và Ba Bình đổ vào cánh đồng Sa Băng và bờ xe Mễ Hưng đổ vào cánh đồng An Ba. 
Ngày đó, ngày còn được chút thanh bình, nó đã lớn lên bên bờ con sông nầy. 
Những buổi chiều oi ả mùa Hè nó thường đem bầy trâu ra trầm mình dưới sông. Hôm nay, bắp đã ra hoa, cà đà ra nụ và ruộng đồng cũng đã lên bông, những con trâu chỉ có biết ăn chơi nên thân hình chúng mập nâng ra, da bóng loáng. Mới vừa thấy con nước là nó chạy như điên như khùng làm anh em nó bị ngã nhào xuống bãi cát. Những con trâu đen sì giờ đây chỉ còn thấy những cặp sừng nhấp nhô trong dòng sông, mũi thở phì phèo làm tung bay bụi nước. Trong chốc lát dòng sông yên tịnh giờ rộn ràng với bầy trâu và đám con nít la hò ầm ỷ bên tiếng reo của bờ xe nước. Xa xa trên bãi cát Ba Bình, người thiếu nữ đang giăng chiếc máy quay tơ. Trời vào tháng Bảy cái nóng càng ngày càng thêm ra. Bầy trâu đang ăn ở gò mã Cây Sanh, nóng qúa một vài con trâu chun vào vũng trâu lăn, lăn qua lăn lại làm bùn sình dính đầy mình. Nó đang đi lùng bắt mấy con châu chấu bào cào cho con chim Chà Chiện, vô tình bị con trâu quật cái đuôi sình bay lên dính đầy mặt, nó bực bội nhảy lùi ra xa vũng sình, rồi mắng “Mã cha mầy, mới tắm rửa hôm qua sạch bách mà bầy giờ lăn sình dơ hết trơn rồi, đồ ở dơ như trâu!” Con trâu cũng chẳng buồn nhìn nó nói những gì. Nó chợt nhớ không biết con chim Chà Chiện hôm nọ cho Mõ Làng nay lớn đến đâu rồi. 
Mặt trời xuống qúa xế chều, mấy con trâu mới ăn được lưng lững. Ngày nào cha nó cũng nhắc là phải cho trâu ăn no rồi tắm rửa sạch sẽ thì trâu nó mới mau lớn. Nhưng gò mã Cây Sanh ngày nào trâu bò cũng ra gặm nên lúc nào cũng láng cón như bãi cỏ sân cù, trâu ăn sao no được. 
Ánh nắng mặt trời sắp dịu lại rồi, anh em nó muốn lừa trâu ra sông tắm khi ánh nắng còn chút ấm áp trên bờ sông; Trâu còn đói thì tối về nó sẽ rút rơm cho ăn. Nó lấy giỏ bịt mồm (đan bằng nan tre hay giây giang bức từ trong núi) bịt mồm trâu lại để khỏi ăn lúa người ta. Rồi anh em nó trèo lên lưng trâu cho đi vào làng để ra sông. 
Những thửa ruộng lúa đang trổ đồng đồng, trải một màu xanh biết xa ngoài tầm mắt, chỉ một vài ngọn gió nho nhỏ cũng đủ làm những bông lúa non uốn mình đùa giởn trên khắp cánh đồng. Ngày đó nó cũng không biết thế nào là mùi thơm của lúa, nhưng nó thích bức bông lúa đồng đồng chứa đầy bộng sửa cắn ăn. 
Có lẽ từ ngày sinh ra nó chỉ biết vui chơi và lớn lên bên cánh đồng lúa, nên những lời ca tụng mùi thơm của lúa trong thi văn dường như không để ý đến và thấy nhạt nhoài, xa lạ. 
Những lúc ra đồng nó thường bức những hột bông é khô, nhỏ bằng hột lúa chín, bỏ vào lòng bàn tay rồi nhổ một giọt nước miếng lên đó. Nó chăm chăm nhình vào một lúc thì hột é khô nỗ kêu cái tách. Nó lấy làm lạ, vì sao một hột é khô khi bỏ vào nước miếng thì nó lại nỗ lên? 
Bầy trâu qua khỏi cổng bờ rào vi, nhìn lại thấy quần áo dính đầy bông cỏ may, nó đưa tay lên gỡ. 
Thân hình nhỏ bé, nó ngồi trên lưng trâu trông như con thằng lằn bu cột đình. Qua khỏi chòi canh nó đi ngang ngôi trường làng, ngôi trường bây giờ vắng lặng, cái vắng lặng của lớp học trong những tháng ngày mùa Hè! Và cô giào làng có lẽ giờ nầy cũng đang cặm cụi trên những luống khoai. 
Hôm nay dòng sông thật hiền hòa, nước trôi nhịp nhàng êm ả. Anh em nó cùng một đám con nít vội vàng chạy trên bãi cát nóng bỏng. Ðến bờ nước nó nhảy ùm xuống sông. Dưới cái nóng rực như thiêu như đốt lòng bàn chân, nó mới thấy cái mát êm dịu của con nước dòng sông quê hương là thiên đàng. 
Quê hương nó trải dài trên bờ sông nầy. Dòng sông rất hiền hòa nhưng cũng có những lúc mưa gió bão bùng làm điêu đứng dân làng. Những tháng trời không mưa gió, lòng sông chứa đầy những sỏi cát nên con nước lúc nào cũng trong veo. Dưới những hạt sỏi, cát đó, có biết bao nhiêu là sò, ốc, hến và cũng không thiếu một loại đặc sản của quê hương xứ Quảng: cá bóng. Những con cá bóng dồ to bằng cổ tay thì chui trốn trong bờ độn xe, còn những con cá bóng găm thì bơi lững lờ trong dòng nước, với một tiếng động là nó găm mình trong cát. 
Dường như ngày nào nó cũng bơi lội trong dòng sông nầy. Nó nhớ ngày đó, cái ngày mà nó bắt đầu chập chửng theo cha ra tắm sông. Nó sợ sệt mỗi lần cha nó ôm xuống nước, nó bám vào cổ cha như con đỉa đói, rồi cha nó hụp xuống nước một hồi thật lâu, ngóc đầu lên, nó thở hổn hển. “Ôm cổ tao cho cứng nghe hông.” Cha nó dặn. Rồi ổng lại hụp xuống nước. Một hồi hụp lên hụp xuống, bây giờ cha nó đặt lòng bàn tay dưới bụng rồi đưa người nó một vòng trong dòng nước, thả tay ra, nó đập hai tay tứ tung, hớp nước sông đầy bụng! 
Vậy là từ đó nó bắt đầu làm quen với nước! 
Những ngày sau đó nó theo anh ra tắm sông, nhưng nó chỉ dám bò bên bờ nước cạn. Rồi có những hôm đám con nít, những đứa biết bơi, bảo nó phải cho chuồn chuồn cắn rún mới biết bơi được. Vậy là nó bắt một con chuồn chuồn bầu, đưa rún ra và nhắc cái đầu con chuồn chuồn vào rún, nó cắn một cái! Ðau chết bà. Nó nhảy ra sông, với sự hổ trợ của anh nó, từ đó nó biết bơi! 
Bây giờ nó bơi thật hay, không những biết bơi mà nó còn biết lặn thật lâu dưới nước. Con sông nơi đây có nhiều cát và sỏi, nó hụp xuống nước rồi cắm mình lủi đến tận đáy sông, lấy hai chân đạp vào sỏi cát và lướt mình về phía trước. Cứ thế làm mãi, nó có thể lặn và di chuyển dưới nước thật xa. 
Những người thợ xe chuyên môn lặn hụp dưới nước để xây đắp bờ xe, nên họ là những người thợ lặn chì nhất trên khúc sông nầy. 
Hôm nay bên bờ xe nước nầy nó chia phe nhau chơi trò đá tôm. Mỗi bên năm ba đứa, hụp lặn dưới lòng sông, khi đến gần đối thủ thì phóng người lên mặt nước, và búng bàn chân đập lên người đối thủ rồi lặn xuống nước trốn ra xa. Bên nào bị đá trúng nhiều hơn thi bị thua. Có nhiều khi nó bị bên kia đá trúng vào vai vào đầu đau điếng người! 
Mặt nước phía trước những bánh xe trông rất bình thản, nhưng khi đến gần bờ xe thì nước chảy xiết và thường tạo nên những lổ bún, nguy hiểm cho con nít. Ngược lại phía sau bờ xe, nước chảy ào ào, xoi đất cát tạo thành những lường sâu và bọt nước tung bay mịt mù. 
Ðám con nít nó thường tắm phía sau bờ xe nước và mỗi lần ra đó nó hay đu lên bánh xe để kéo lên nửa chừng thì thả tay ra cho rớt xuống cái ùm. Có hôm nó đu lên bờ xe khi lên cao nó sợ quá không dám thả tay ra và bánh xe đưa nó lên tận trên đỉnh, nó với tay chụp cái máng và nằm trên đó sợ tái mặt. Ông thợ xe phải trèo lên cỏng nó xuống. Nó biết thế nào nó cũng bị một trận đòn nhớ đời mà nó vẫn bám cứng vào người ổng. Khi xưống đến mặt nước nó cố vùng vẫy lặn trốn nhưng ổng chụp nó lại không cho chạy đi, và mang nó lên bãi cát quất cho nó mấy roi đau chết người, xong rồi cột vào gốc bờ máng xe cho đến khi chiều về mới thả nó về. 
Hôm đó nó đau và sợ lắm, nhưng những ngày kế tiếp ra tắm bờ xe nó vẫn bu lên bánh xe, mặt cho ông thợ xe rập rình trong chòi. 
Bờ xe nước Ba Bình có dòng sông cạn nên phải làm bờ độn ngăn con nước lại để đủ sức đẩy bánh xe chạy đều. Những ngày đầu mùa của tháng Ba, trương cử, những người có phần hùn trong bờ xe đóng góp tre, lá mía và công sức xây dựng nên bờ độn. Khi những hàng cọc và phên tre cắm xuống giăng ngang qua con sông, và những lá mía khô được tấn lên hàng phên tre là từng cặp trâu bò được mang ra kéo cát tấp lên thành bờ độn như một con đê bắt ngang dòng sông. 
Người thợ xe trổ hai lổ cổng trên bờ độn gọi là lổ cổng gió để điều hòa mực nước. 
Có những lúc những chiếc thuyền, ghe từ dưới Vạn và những miền hạ lưu sông Vệ chuyên chở hàng hóa đem về miền thượng du buôn bán. Hoặc những chiếc thuyền xuôi mái chèo về miền biển là người thợ xe lại ra mở cổng gió cho thuyền lướt qua. Những lúc mưa to gió lớn, mực nước sông dâng cao thì hai lổ cổng gió cũng được mở ra để nước thoát giảm sức ép lên bờ xe. 
Bờ sông sau làng là một bãi cát trắng, rộng, trải dài từ bãi Hà đến bãi Phù Sa. Có những buổi chiều nó lội bộ dọc theo bờ sông lên tận Bải Hà và xuống tận đến bãi Phù Sa. Bải cát rộng hàng trăm mét trải từ mé nước đến bìa làng, nơi những lũy tre xanh, cao ngạo nghễ, đứng đón những ngọn gió chiều thổi rì rào. Trên bãi cát là những đám bắp, đậu phụng, đậu xanh, dưa hấu, v.v… và hàng hàng những đám dâu tằm được trồng ngay hàng thẳng lối. 
Không biết từ thời nào mà người dân trong làng nó bắt đầu trồng dâu nuôi tằm và dệt lên những tấm lụa làm đẹp cho đời. Những bãi dâu cao quá đầu người, già nua, được chặt xuống để làm thành những tấm vĩ, mành mành làm tổ cho tằm nhả tơ. Rồi trên những đám dâu già nua ấy lại nhảy chồi đâm nhánh thành những bãi dâu non, xanh biết, làm thức ăn cho tằm. 
Những buổi trưa, chiều, người thiếu nữ đeo gùi trên lưng ra hái những lá dâu (mulberry) về nuôi tằm. 
Cuộc đời con tằm bắt đầu như thế nầy: Những con ngài (moth) được nuôi dưỡng trong cái mâm, ngài sẽ đẻ trứng vào mùa Ðông, trứng sẽ được “ấp” theo nhiệt độ thích hợp và sẽ nở thành tằm (silkworm) vào mùa Xuân. Những con tằm sẽ được rải trong những tấm vĩ, đan chi chít bằng nhánh dâu khô, xếp dựng đứng từng hàng, và suốt ngày đêm tằm ăn dâu để lớn, và lớn rất lẹ. Khoảng một tháng sau (18- 28 ngày) tằm đủ lớn để vương tơ tạo thành kén (cocoon). Những sợi tơ óng ánh, dài có thể đến hàng ngàng mét, quấn tròn lấy con tằm nhiều nuột. Sau năm ba ngày con tằm nằm bên trong con kén sẽ biến thành con nhộng (pupa), nhộng sẽ bị luột chết đi để lấy tơ từ con kén, và một số được giữ lại để thành ngài làm giống cho lứa sau. Và cứ thế, cưộc đời con tằm lại xoay vần. 
Nhộng sau khi luột chết đi, sẽ được tách ròi khỏi kén và bán cho người dân dùng để ăn. Phần kén còn lại sẽ được bỏ vào một chậu nước âm ấm, rồi người ta tìm ra cái mối cuối cùng của sợi tơ, buột vào trục quay, và từ đó những sợi tơ rối bù từ kén được gở ra và quay vào trục. 
Chiều hôm nao trời nắng ấm, bên cạnh bờ xe nước, với tiếng nước reo rào rạt, là một bãi cát trắng với những bãi khoai lan, khoai mì được xét mỏng đem ra phơi khô. Trên bến sông tiếng gọi đò của bà mẹ già vội vàng qua sông cho kịp buổi chợ chiều, và đây đó một đàn con nít nô đùa trên bãi cát. Cũng trên bãi cát nầy người thiếu nữ giăng máy quay tơ để quay những sợi tơ tằm thành chỉ. Tơ được căng ra ở hai đầu máy và bàn tay thon thon của người thiếu nữ quay đều chiếc máy thủ công, tiếng máy kêu ro ro thật đều như cuộc sống êm đềm của người dân làng. Những sợi tơ óng ả sẽ được mang đi bốn phương để tô thắm cuộc đời cho kẻ giàu sang. Nhưng biết bao giờ người thiếu nữ đó mới thoát cảnh nghèo, hay suốt đời chỉ là con tằm vương tơ. 
Và chiều hôm nay, sau bao năm xa cách nó trở về ngôi làng cũ, đứng bên bờ sông xưa. Con sông hiền hòa ngày nào bây giờ khô cạn nước, bãi cát trắng nay thành màu vàng nằm im lìm bên bìa làng. Nhưng tiếng reo của bờ xe nước và lũ con nít nô đùa bên bờ xe đã vắng bóng lâu rồi. Nước không còn sâu nên ông lái đò cũng không còn nữa và hình bóng người thiếu nữ quay tơ cũng đã xóa mờ theo đám dâu tằm, và đâu đây nó nghe tiếng hò: “Em như tấm vải lụa đào, gió đưa, gió đẩy, biết vào tay ai.” 
Nó quay bước trở vào làng, miệng ngâm nga mấy câu thơ của bà Huyện Thanh Quan: 
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, 
Nước còn cau mặt với tang thương 
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ 
Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.