vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 18 Jan 2026


Bài 17.
THƯ GỞI NGƯỜI BẠN TRẺ
NHÂN BUỔI ĐẦU XUÂN,
SAU LẦN ĐI DÀI …
Năm qua tôi có gởi đến Bạn lá thư thắm thiết từ lòng thành nhân mùa Vu Lan, Phật Lịch, buổi Trại Hè Về Nguồn ở Kentucky. Thư đề cập đến sức mạnh quyết định cuối cùng của Lực Từ Nhân. Nay nhân sau buổi đi dài, chấm dứt vào đúng mùa Xuân, nơi vùng đất có cảnh sắc u trầm, tại khoảng thời gian bí nhiệm, nặng cảm xúc như đang ở quê hương. Chiều cuối năm gió gây rét thổi xoáy trên đường phố kín cửa; nắng hanh vàng chói sáng đám xác pháo loang lổ hồng tươi. Và con trẻ hân hoan cười vui áo mới. Cảnh của vùng Nam bán cầu, nơi cách Việt Nam một múi giờ, chung lượng nắng, hơi gió, mùi biển và thổ ngơi đầm đầm cảm động … Trong giây khắc chất ngất hàm súc kia, tôi đã cùng các Bạn hát lại ca khúc ngày xưa..” Hướng Đạo Việt Nam đuốc thiêng soi đường … ” Lời hát của một thời niên thiếu. Đã bốn mươi năm qua, lúc tuổi trẻ, lòng thơ. Tôi viết lá thư này với lòng thắm thiết của ngày Vui không hề tàn lụi, như ánh sáng. Như mùa Xuân …
Bạn Thân Mến,
Như thư thứ nhất đã trình bày, tháng 8, 1995, chúng ta đã đồng ý với nhau tiền đề lạc quan và hy vọng: Hành sử Tự Do trong chọn lựa Tính Thiện, Sự Thật. Thế nên quả thật thuận tiện và rất bổ ích, nếu hôm nay ta tiếp tục sử dụng nguồn năng lực sống động này vào công việc luôn cần thiết: Sự Học, mà đối với tuổi trẻ càng là một nhu cầu cấp bách. Bởi Học là cách sống tích cực nhất của người. Học đồng nghĩa Sáng Tạo và Tái Tạo. Các Bạn đang trên đường đi này. Nhưng thật nguy hiểm và sai lầm nếu chúng ta quan niệm học vấn chỉ là phương tiện (trong số những phương tiện và phương pháp khác) thực hiện những mục tiêu giữa đời sống cộng đồng, xã hội để có một mức sống vật chất, văn minh tiện dụng cao cấp. Vẫn biết về mặt thực tiễn, những tri thức khoa học, kỹ thuật, bằng cấp, học vị đưa đến những thành quả, thâu hoạch cụ thể kia; nhưng học vấn có một chức năng, tác động mãnh liệt và cao quý gấp bội. Học phải được quan niệm là vận động Tái Tạo, Cải Tiến và Hoàn Thiện Con Người. Định nghĩa về giáo dục từ thượng cổ đến hiện đại, Đông lẫn Tây phương đồng tập trung ở chủ điểm này. Từ cultivate có ngữ căn cult do từ cultus Hy Lạp, nguyên nghĩa thờ phụng, tế tự, cầu xin, bồi đắp. Và Học của Đông phương do từ ngữ ý “Vào trong núi tìm Thầy để học đạo lớn” (chữ Hán “Học” được ghép bởi “gò núi” ở trên và “người con trai”(tử) ở dưới). Với sinh hoạt văn minh, văn hóa hiện tại nơi thời điểm này, chúng ta cũng cần phá bỏ quan niệm, “Học chỉ là một quá trình trau giồi và bổ sung tri thức”. Điểm này đúng nhưng chưa đủ. Bởi tri thức mở ra sự vô cùng; không ai có thể bảo đã hoàn tất, thủ đắc đủ, nắm giữ trọn vẹn mọi nguồn cội. Quan niệm như trên tức hạn chế năng lực dự phóng của tri thức, hướng đến tình cảnh bất toàn và cách biệt, cách biệt giữa Ta và Vật. Bất toàn vì chỉ cốt ôn tập, lập lại những điều sẵn có của người trước, của quá khứ. Học cao quý và kỳ diệu hơn. Học là vận động không ngừng nghỉ, biến kiến văn của người nên của mình vào mục đích phụng vụ chung. Học là Hoàn Thiện Chính Mình với Phẩm Giá Con Người. Trước sau tôi bám chắc cùng đích này – Xin tha thiết nói đến cùng các Bạn, những người Bạn Trẻ. Tại sao tôi lại phải nhấn mạnh đến điều trên? Bởi đã có những nền văn minh rất tráng lệ, kiên cố, to lớn mà những người sáng lập đều có chung hoài bão là những nền văn minh ấy sẽ tồn tại lâu dài cùng lịch sử. Nhưng rốt cuộc chúng đã tàn rụi và tiêu vong một cách thảm hại, bày ra cảnh kiệt cùng của giới hạn tất yếu về khả năng, tri thức con người. Khi người rời bỏ phẩm hạnh ưu thế “Tính Thiện, Lòng Nhân” thì tất cả thành quả vật chất xây nên quanh nó hoàn toàn vô ích và vô dụng. Trong sa đọa của những văn minh vùng sông Nil (Ai Cập), Lưỡng Hà (Trung Cận Đông), lần sụp đổ của các đế quốc Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, hẳn không phải vì thiếu sức mạnh quân sự, mưu thuật chính trị, thủ đoạn bạo lực.
Nhưng tất cả sụp vỡ đó đã xẩy ra từ, với một mẫu số chung: Chúng đã xây dựng được hình khối Văn Minh nhưng thiếu nền tảng Văn Hóa đích thực. Mà Văn Hóa nói cho cùng là, “Nhân Hóa – Trở Thành Người”, cho người. Lịch sử văn minh nhân loại phải thực hiện cho kỳ được mục tiêu tối thượng này, nếu không tất cả chỉ là vô ích. Trở lại vấn đề của chúng ta. Trong phần thứ nhất của câu chuyện, chúng tôi đã thông báo đến các bạn về số lượng những người tuổi trẻ trong nước. Hơn hai mươi triệu trong số bẩy mươi ba triệu dân, những người không phải gánh chịu trực tiếp tai ương cuộc chiến dai dẳng của ba mươi năm qua – Những người này phải được thực hiện quyền lợi tối thượng của tuổi trẻ: Họ phải được Học, phải được thể hiện giá trị của người có giáo dục. Họ phải được thực hiện phẩm giá của riêng người. Nhưng thực tế, những người trẻ tuổi này đang bị khinh miệt, vất bỏ một cách tàn nhẫn nhất. Chúng ta cần nói đến họ. Chúng ta cần phải trở về nơi quê hương khổ nạn. Chúng ta cần trở lại Cội Nguồn toàn diện. Triệt để. Trước khi đào sâu vấn đề tôi xin được nói điều thành thật … Bản thân cá nhân không hề xem hoàn cảnh nghèo khổ là điều đáng quan ngại, đầu mối của thống khổ, bởi đã quen với cơ hàn, tranh sống từ tuổi niên thiếu. Tuy nhiên, thật tình cũng không thể phấn khởi nếu sau hai mươi năm “thống nhất nước nhà về mặt Nhà Nước; thâu giang sơn về một mối; đánh sập toàn thể bộ máy kìm kẹp của bọn bán nước Ngụy quân Ngụy quyền; đuổi sạch bóng quân xâm lược …” cách nói huênh hoang, lớn lối quen thuộc của người cộng sản Việt Nam-Nhà cầm quyền Hà Nội vẫn không thực hiện được và cũng không khả năng tiến đến việc mở đầu hiện thực “xây dựng nước Việt Nam đàng hoàng to đẹp gấp mười lần năm xưa”. – Lời di huấn của Hồ Chí Minh mà giới lãnh đạo, toàn bộ Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN quyết tâm thực hiện, như họ đã nhiều lần thề nguyền thâu đoạt chiến thắng quân sự với bất cứ giá máu nào, mặc cho toàn dân tộc phải gánh chịu sau những thời điểm 1945, 54, 75. Để đến hôm nay với kết quả Việt Nam xếp hạng thứ năm trong mười nước nghèo khổ nhất thế giới, với tổng sản lượng 200 USD/ năm tính theo mỗi đầu người. Tôi cũng không gọi sự khiếm khuyết về mặt chuyên môn của những người có học vị phó tiến sĩ, bác sĩ y khoa chích lộn thuốc gây tê liệt thần kinh (chuẩn bị giải phẫu phần sọ não), làm hư hại toàn phần cánh tay khỏe mạnh; tiểu giải phẫu Amygdale không cầm máu được để chết bệnh nhân. Ông giữ bò (chiến sĩ thi đua Hồ Giống) trở thành thú y sĩ … Là những sự việc quá độ quan trọng đáng phải gay gắt bàn cãi. Những khuyết điểm do nghèo nàn, thiếu học vấn, kém chuyên môn chỉ cần thời gian tập huấn ắt sẽ dần sửa đổi, điều chỉnh được, nếu như chính phủ VN có một chương trình cải tiến dân sinh và giáo dục tốt. Điều đáng nói ở đây bây giờ, năm 1996 – Chỉ còn bốn năm nữa hết thế kỷ 20 – Những người cộng sản cầm quyền ở Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu đang chuẩn bị một chương trình giáo dục khả thể tương đối hữu hiệu. Sự bi thảm tuyệt vọng cuối cùng là đây. Chúng tôi nói rõ vấn nạn này.
Chúng tôi không đặt nặng quá độ sự việc chiếu trên đài truyền hình Cần Thơ tiết mục “Chuyện Xã Tôi” về sự kiện hầu hết trường học ở Hậu Giang (Châu Đốc) bị hư nát, đổ sụp, hoàn toàn không có bàn ghế, mỗi lớp chỉ còn lại độc nhất bàn cô giáo. Học sinh nhỏ cấp Một đi học mang theo chiếc chiếu, tấm ván nhỏ để nằm, ngồi, viết bài học. Cảnh tượng tương tự như lớp học thầy đồ của vài ba thế kỷ trước nhưng thảm não và tội nghiệp hơn, vì cô giáo kiêm nghề bán quà vặt với gánh hàng gồm mấy miếng chuối chiên, vài gói xôi bọc lá chuối đặt trước cửa lớp – Gọi là “cửa lớp” vì đấy là lối ra vào, tấm cửa gỗ thực sự bị gỡ mất từ lâu. Vâng, cảnh tượng thật đáng xa xót. Nhưng điều đáng sợ không nơi phần kiến trúc hư nát, điều kiện sinh hoạt vật chất tồi tệ kia; điều đáng sợ hiện lên trong tròng mắt nghiệt ngã uất hờn của đứa bé. Nơi trí não con trẻ- Người sẽ thực hiện Tương Lai Dân Tộc Việt Nam ở thế kỷ sắp bước tới. Ngày xưa, ngay trước và sau thời điểm 1954, riêng cho miền Nam, chúng tôi là những thiếu niên quần cộc chân trần; đời sống vật chất giá đình chắc cũng không hơn những đứa bé trong đoạn phim bao nhiêu, và trường lớp cũng không khang trang to lớn lắm, nhưng chắc không đến nỗi tồi tệ như kia. Thông thường trường chúng tôi chỉ gồm dẫy nhà ngang dăm lớp, dạy từ lớp Năm đến lớp Nhất (lớp 1 đến lớp 5, cấp Một). Trường không lớn, nhưng sạch và im bóng mát Vào giờ học, lũ học trò đồng im lặng chăm chỉ làm bài. Ta nghe được âm động ngòi bút vạch lên giấy, tiếng thở âu lo và ngoài sân gió cuốn lá bàng khô rụng khẽ … Tất cả cảnh sắc chìm lắng, co rút lại để chỉ bừng sáng một nhân dáng biểu tượng – Người Thầy. Vào những ngày tháng ấy, nơi những thôn xóm, quận lỵ và ngay cả thị xã, thành phố Miền Nam, Người Thầy là một hình tượng tuyệt đối cao quý, không khiếm khuyết để nhận đủ kính trọng của toàn xã hội. Giờ tan học, trên những lộ đá, dọc đồng lúa, những người nông dân, lính nghĩa quân, ông hội đồng, ủy viên cảnh sát … Tất cả đều tránh vào lề đường khi “người thầy” đi qua. Thật sự “người thầy” kia cũng có thể chỉ là một thanh niên, một thiếu nữ vừa qua tuổi hai mươi, mới ra trường sư phạm cấp tốc. Nhưng bởi vì đấy là người dậy dỗ con cái họ. Nghiệp vụ cao quý này gây nên mối kính trọng tự nhiên kia.
Chương trình giáo dục và xã hội Việt Nam ở những thời điểm kia lẽ tất nhiên còn nhiều điểm thiếu sót, từ nội dung giảng dậy đến cơ sở tổ chức học đường. Nhưng chắc một điều, các thầy cô trẻ tuổi ấy đã dậy đám con trẻ những điều rất mực đứng đắn. Đám trẻ được học những điều đơn giản, trong sáng như sau.
Tổng quát, đối với người:
Thương người như thể thương thân
Gặp ai lỡ bước khó khăn đến nhà
Đồng tiền bát gạo mang ra
Rằng đây cần kiệm gọi là lòng nhân.
Đối với anh em, bài học có phân tích chi tiết:
Anh em nào phải người xa
Cùng chung bác mẹ một nhà tình thân
Anh em như thể tay chân
Anh em hòa thuận hai thân vui vầy.
Chúng tôi còn được dậy thêm điều cảm động:
“Chuyện anh em người họ Điền định chia nhau gia tài gồm cả cây cổ thụ trước nhà. Cây bỗng nhiên khô héo vì tình anh em cạn kiệt, chẳng đợi nhát búa bổ vào. Anh em nhà kia ôm nhau khóc dưới gốc cây biết xúc động với lòng người.
Đối với bạn bè, tuổi nhỏ được dậy dỗ:
“Chim có đàn cùng hát, tiếng hát mới hay;ngựa có bạn cùng đua, nước đua mới mạnh.
Huống chi người học trò trên đường học tập phải có bạn theo cùng … “
Chúng tôi được dẫn dắt để cảm xúc hướng theo dòng cảm động khi Dương Lễ bảo vợ là Châu Long thay mình đi nuôi bạn Lưu Bình. Tất cả yếu tố của câu chuyện cuối cùng dẫn đến kết luận: “Đạo bằng hữu phải có thủy chung.” Và đứa bé mặc nhiên công nhận đấy là điều tốt lành cần phải theo đuổi, thực hiện.
Và cuối cùng, tất cả vận động, tác dụng của nền giáo dục kia bàng bạc, lắng sâu, cô đọng nơi tụ điểm:
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ kính Cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là Đạo con.
Đứa trẻ con cũng được giải thích để hiểu tại sao phải giữ Đạo Hiếu. Vì những Mẹ Cha đã hoàn thành một cách tự nhiên và vô vị lợi quá trình hiện thực Tình Thương, gồm những động tác bé nhỏ, đơn giản:
Đêm khuya con ngủ giấc nồng
Kìa ai chăm sóc bên giường cùng con
Mẹ nhìn con miệng mỉm cười
Khi con đau yếu hãi hùng lo âu.
Cá bạn cũng nên lưu ý, chữ “con” được lập đi lập lại bốn lần trong bốn câu thơ chẳng phải do người thi sĩ này quá kém cỏi về kỹ thuật tu từ; nhưng chắc hẳn người này muốn nhấn mạnh đến đối tượng “con” mà chủ thể “Mẹ” luôn vây chặt chung quanh, như những âm điện tử cố kết bất phân ly với hạnh nhân trong một cấu tử sống động. Từ phương thức giáo dục đơn giản và thuần hậu kia, lớp trẻ chúng tôi nên người – Một người bình thường với Nhân Tính luôn được bảo vệ, đề cao.
Trái lại, điều đáng kinh sợ đã xảy ra phía bên kia – Nơi những người cộng sản, kẻ đoạt thắng về mặt bạo lực.
Những người chiến thắng này có một sách lược quan trọng và nghiêm khắc để riêng dạy trẻ: Một đời trồng
cây, trăm năm trồng người. Ý niệm cao cả về giáo dục này phát xuất từ Quản Trọng, không phải ý riêng của ông Hồ. Nếu ông ta dụng riêng do tư tâm, tư ý tốt, việc cũng không đáng trách. Nhưng điều cần cáo buộc về ông HỒ là đã trồng NGƯỢC NGƯỜI. Ông tạo nên những vấn đề giả cho mấy thế hệ Việt Nam mà hệ quả đến hôm nay vẫn không có dấu hiệu chấm dứt, không có cơ hội phục hồi. Khổ nạn trầm kha của Dân Tộc Việt từ đấy đã nên thành. Những “vấn đề giả” xuất hiện dưới những “tin vui” độc địa:
Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà
Nam, Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta.
“Tin Vui” mà ông Hồ ban xuống cho người Việt nói chung và người tuổi trẻ nói riêng có giá máu, QLVNCH:
Tử thương 3,500 người; bị thương 10,678 người; mất tích 543; tổng cộng 14,722 người. Phía Đồng minh: Chết 2,832; bị thương 15,832; mất tích 352; tổng cộng 19,016.
Phía Cộng sản: Chết 41,191; bị bắt 48,572 (số liệu Newsweek, tháng 2, 1968). “Tin Vui” kia còn có những kết quả mà người cộng sản không kể ra: 14,300 người chết; 24,000 bị thương; 72,000 căn nhà bị phá; và 627,000 người ty nạn – Tất cả chỉ là dân thường – Bắt đầu từ giờ Giao Thừa Mậu Thân, Tết 1968, giờ ông Hồ ban tin vui!
Đến đây, chúng ta cần đặt nên câu hỏi đau đớn: “Tại sao người cộng sản, sau bao nhiêu năm kể từ đêm xuân máu hận kia, vẫn không thoáng chạnh lòng khi nghĩ đến thành quả của lần gọi là “Tổng Công Kích Toàn Thắng Mậu Thân?! “. Hằng năm vào dịp ra báo Xuân, lễ Tết (kể đến Tết vừa qua, 1966), người Cộng sản vẫn tổ chức tưởng niệm lần “Chiến Thắng Mùa Xuân oanh liệt trên vạn xác chết” – Chiến thắng được dựng nên từ máu và thây người Việt Miền Nam bị bức tử ở phút giây hoan lạc và hy vọng. Tại sao người cộng sản giết người cực độ tỉnh táo và vô ích như thế kia?! Câu hỏi sẽ hoàn toàn không phương giải đáp nếu chúng ta không đi đến cội nguồn để hiểu ra: NGƯỜI CỘNG SẢN ĐÃ GIẾT NGƯỜI TỪ MỘT CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC XIỂN DƯƠNG SỰ NGHIỆP SÁT NHÂN. Chính sách đó được hoàn thành từ chiến lược “trồng người” với những tiêu chuẩn đạo đức, thẩm mỹ mới:
Con ong làm mật yêu hoa
Con cá yêu nước
Chim sơn ca yêu trời
Thương người đồng chí ai ơi …
Thật chính xác, dứt khoát. Kể từ đây người chỉ được yêu thương người, không vì đó là một nhân vị siêu việt.
nhưng bởi đấy là người cùng ta đào một đoạn đường, đắp khoảng mô, khiêng khẩu pháo, giật trái mìn … Ta chỉ được quyền thương yêu người cùng ta chia phần hủy diệt, thực hiện cái Chết; Không phải yêu người cùng ta giữ gìn nguồn Hy Vọng Phục Sinh. Người đối xử với nhau qua tương quan của xác ma – Loại quỷ nhập tràng dậy nên từ men hận thù bốc mùi máu. Cách đây hơn bốn mươi năm, nhà văn Lỗ, Gheorghiu, đã báo động nền văn minh kỹ thuật Tây Âu đang đến kỳ phá sản với sự xuất hiện của loại người mới: NGƯỜI CÔNG DÂN, thay thế con người đơn giản thuần thành như hằng có. Từ mối vong thân căn bản này, con người sẽ và chỉ đối xử qua tương quan chính trị khắc nghiệt lạnh lùng và Tây Âu ắt phải tan vỡ từ phân loại tàn nhẫn về con người của chính mình này. Lời báo động đã hiện thực với và sau Thế Chiến Thứ Hai. Một loạt những cái gọi là Ngai Vàng, Chủ Tịch, Đại Thống Chế, Đại Chủng Tộc, Đại Văn Minh phút chốc trở nên những tay vô lại tầm phào, đầu mối tất cả miệt thị và nguyền rủa. Cơn đổ sụp đó không chỉ giới hạn nơi phương Tây với Berlin, Dresden của nước Đức, mà còn tràn qua phương Đông với hai thành phố Hiroshima, Nagasaki phút chốc vùi vũng lửa và giấc mộng Đại Đông Á của giới quân phiệt Nhật vỡ tan như bọt sóng vô định ngoài biển Đông. nhưng hai nước Đức, Nhật dù bị thất trận quân sự, vỡ tan tham vọng chính trị, tiềm lực công nghệ, họ vẫn còn cứ điểm cuối cùng: Con người khi được trả lại tự do và phẩm giá – Người với tất cả sức mạnh tự thân. Người được phục hồi danh xưng, vất bỏ “tính công dân nhẫn tâm và đáng khinh miệt” dựng nên do bộ máy cầm quyền của chính quốc gia họ (nay đã bị vất bỏ, thay thế). Hai nước bại trận này cuối cùng đã vững vàng kiêu hãnh đứng dậy cùng thế giới sau hai thập niên đắng cay.
Trường hợp Việt Nam thì trái lại. Do có điều “không hợp lý” đã xảy ra. Vấn đề không khó hiểu quá độ, bởi chúng ta đã có hai mươi năm sau ngày 30 tháng Tư, 1975; bốn mươi năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, và năm mươi năm sau mùa Thu, tháng Tám, 1945. Với phép tính xác suất, tỷ lệ 1/100,000 được gọi là “có ý nghĩa”; tỷ lệ 1/10,000 là “rất có ý nghĩa”; và tỷ lệ kia càng nhỏ thì không phải là xác suất nữa mà đã là “khẳng định tính.” Ở đây, sau ba thắng lợi, thắng lợi sau hơn thắng lợi trước, và mức độ tồi tệ của đời sống quốc gia (vật chất lẫn tinh thần) càng trầm trọng hơn … Như thế là thế nào?! Ta chỉ có thể trả lời với thực tế nghịch lý: Lần gọi là “chiến thắng” kia là đầu mối của tất cả tai họa. Theo dòng phân tích đang cố công tìm hiểu, chúng ta có thể nói chắc rằng: Những lần thâu đoạt thắng lợi kia cũng là buổi gây nên vô vàn khốn đốn đau thương cho người Việt Nam. Người Việt đã bị tận dụng rất mực vô ích, cực độ phí phạm; và tập đoàn cầm quyền Cộng sản là thủ phạm chính trong quá trình đánh vỡ toàn bộ sức đề kháng cuối cùng của dân tộc, biến người Việt Nam thành một loại nhân dân đồng hạng, vô tính, đánh giá rẻ. Đấy cũng không phải là “nhân dân bình thường,” mà là một đẳng cấp nhân dân đặc biệt. NHÂN DÂN GIÁC NGỘ CÁCH MẠNG. Với định nghĩa hàm hồ, thậm tệ quái gỡ này người cộng sản tự cho mình khả năng hành sử điều ghê gớm nhất: Họ giành lấy quyền giết người nhân danh một định nghĩa chính trị, giết người không thuộc thành phần “nhân dân giác ngộ.” Và cuối cùng, khi con người đã bị khinh miệt thì Nguồn Lực đầu mối tạo nên sản phẩm (con người) kia tất nhiên bị vất bỏ. Vất bỏ cùng một lần, ngay lập tức. Ông Trời, Đấng Thượng Đế, Vị Chủ Tể, Ngôi Thiên Chúa … Tất cả đối tượng cao quý này bị xếp chung vào hạng mục “giai cấp phản cách mạng,” tất nhiên đồng chịu lần thanh toán không nương tay:
Trời không có thiên thần
Đất không có thánh nhân,
Chỉ có NHÂN DÂN THẦN THÁNH
Và Đảng Ta làm nên sức mạnh
Bay đến chân trời!!
Những lời thơ của Hoàng Trung Thông trên đây không phải là hứng khởi của riêng đám văn lại cao cấp, nhưng là “tài liệu học tập” được chính thức phổ biến và lên “phương án tiếp thu” cho toàn chế độ. Một chế độ biến tướng nên cơn đồng nhập, dẫn dắt toàn xã hội bừng vỡ cơn kích ngất bệnh hoạn từ những chất gây men giả gọi là “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, Chủ Nghĩa Xã Hội … “là nguồn cổ vũ tôi mạnh mẽ bước lên đường. Phần dẫn nhập lá thư đầu tiên tôi hẳn không nói quá lời. Tôi lên đường dù chỉ vì – Với Một Người Bạn.
Những dòng chữ cuối cùng trong phần kết thúc lá thư, tôi xin nói đến cùng Bạn điều tìm thấy đơn giản nhưng sâu xa hàm súc. Ây là: “Khi lạnh lẽo phương Bắc là ngày mùa Hè rộ nở bán cầu Nam; Thu đến nơi này cùng lúc Xuân về chốn khác … Thực tế thoạt tưởng như đương nhiên này bổng chốc giúp cho ta giải quyết bao nhiêu điều từ lâu làm ta nặng nhọc khó khăn. Đấy là những “ý niệm” về “chỗ kia – nơi này; phía Bắc – phương Nam; gió Đông – gió Tây ... ” Tất cả những mối cụ thể này, mà ngày trước ta tưởng là “cố định, bất biến,” hóa ra là những điều phù hư, tương đối; chúng chỉ có do nhu cầu của từng cá nhân, nhóm người, tại mỗi lúc, theo từng mỗi điều kiện, môi trường. Và cuối cùng, ý niệm, phạm trù chủ đạo (về, của Thời Gian) mà qua đó toàn thể sự sống, đời sống thể hiện và tồn tại … Toàn thể những thực thể, hiện tượng này hóa ra chỉ có cội nguồn nơi Tính Không và Hằng Hóa Không. Bởi cái mốc mà ta thường gọi là Quá Khứ – Hiện Tại – Tương Lai …quả tình chỉ là điều KHÔNG THẬT. Tôi nghĩ ra điều rối rắm này từ một thực nghiệm đơn giản : Rời đất Úc lúc đang chiều ngày thứ Bẩy, nhưng đến cảng Los lại vào lúc giữa trưa cùng ngày.
Điều nghĩ ra như trên xưa cũ,
Và hằng có như ánh sáng.
Người Bạn,
Trong tiến trình thoạt thấy vô lý và bi thiết như trên, bổng nhiên khi máy bay hạ cánh, tôi có cảm giác gần gũi và cảm động: Tôi về Đất. Trở lại Nhà. Lẽ tất nhiên, không phải thái độ vồ vập, ham hố để nghĩ thành phố Los rực rỡ ánh sáng kia là một chỗ thay thế phần Việt Nam đã lâu dài xa cách. Nhưng tôi cảm xúc vì một điều đơn giản, rộng rãi hơn: Phần đất nằm dưới tầng tầng mây kia là chốn cư ngụ cho Người. Đất đấy không của riêng ai. Nó có cho người vượn Lucy, sống cách chúng ta 3,18 triệu năm, đào thấy được từ 1974 tại vùng Hadar, Ethiopia. Nó đã mở ra trước mắt Colombus cách đây năm thế kỷ. Cũng là nguồn xúc động cho người tù đi theo diện H.O … Hẳn anh đã rưng rưng nước mắt khi lần đầu tiên đến đây, từ trên độ cao nhìn xuống vũng
chân trời rộ sáng, chợt nhớ đến đêm đông giá rét mù mịt nơi núi rừng đất Bắc Nước Việt mười năm trước …
Đất này đây hẳn đã bùng vỡ ánh vàng tại giây khắc hấp hối của bao nhiêu người Việt trước khi chìm xuống đáy biển trên đường vượt biên. Đất thiêng liêng Giải Cứu. Đất đồng nghĩa Hy Vọng.
Phần tôi, chuyến đi còn nhiều cơn hạnh phúc, bao lần hãnh diện. Bởi khắp nơi tôi đều có BẠN. Bởi khắp nơi tôi nghe vang vọng bao la tiếng gọi BẰNG HỮU.
Tháng Ba 96.
Mùa Xuân.
Vô Vàn Thiết Thân.

Cho dầu Người Lính QLVNCHI đã phạm những khuyết điểm trong Sứ Mệnh:
BẢO QUỐC AN DÂN và họ phải trả giá bằng chính mạng sống bản thân. Nhưng khi người lính ấy buộc phải buông vũ khí, Người Dân biết, kêu cùng ai? Người Việt thành “tiện dân” không Tổ Quốc nơi những trại cấm khắp vùng Đông Nam Á .. (Trg 380).
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.