This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trước mặt ngôi trường trung học mới mẻ này là Trường Nam Tiểu Học Đà Nẵng, bộ dạng có phần bề thế hơn cả ngôi trường trung học của chúng tôi. Xế mặt trái ngôi trường, là “Mã Thánh Tây,” với những hàng thánh giá cũ kỹ, là nơi chôn cất những người Pháp từ thời thuộc địa. Đi lên vài trăm thước, dốc “Cầu Vồng,” phía dưới là đường xe lửa. Những buổi chiều đi học về, chúng tôi thường đua nhau gò lưng đạp xe đạp lên đỉnh dốc, rồi ngừng, mặc cho xe lao nhanh xuống. Rẽ sang bên trái là chợ Cồn, nhà Đặng Ngọc Khiết, rẽ sang bên phải là bãi biển Thanh Bình. Trên lối ra biển, qua góc đường Nguyễn Hoàng là trạm gác xe lửa, cũng là nhà ở của Phan Chánh Dinh. Đi vài chục thước nữa, là cư xá hỏa xa, nhà Lê Thị Như Hảo. Từ đấy rẽ sang bên trái, là ga Đà Nẵng, nơi những chuyến tàu cũ kỷ chở hành khách mang đầy thúng mũng, mỗi ngày một chuyến, chậm chạp kéo còi, nhả khói, rời Đà Nẵng qua Nam Ô, ì ạch leo dần lên đèo Hải Vân, luồn qua Hầm Sen, dọc bãi biển Lăng Cô, qua Nong, qua Truồi rồi ra đến Huế. Chúng tôi lớn lên ở Đà Nẵng vào những năm yên ổn.
Sáng sớm đi tắm biển. Trưa nắng đi tắm sông. Nhà Vũ Ngự Chiêu bên kia sông Hàn. Nhà Bùi Ngọc Tô ở Chợ Mới. Nhà Đồ Toàn bán tre tại đường Hoàng Diệu. Nhà Trần Trí Dũng ở gần Ngã Năm. Nhà Phan Nhật Nam ở đường Pasteur, góc sân vận động. Chủ nhật, chúng tôi rủ nhau đạp xe đi chơi xa: Lên núi Non Nước bên làng Mỹ Thị, đến chùa Bà Quảng ở làng Hòa Vang, hoặc đi xa hơn nữa, về Vĩnh Điện, Hội An.
Nhưng tất nhiên, không đi xa quá như sau này.
2. Khi định viết vài dòng về buổi ra mắt sách sắp đến của Phan Nhật Nam tại San Jose trên nước Mỹ, tôi không thể không hình dung lại ngôi trường cũ và thành phố xa xưa ở Việt Nam, nơi chúng tôi đã gặp nhau đã sống những tháng ngày hồn nhiên hạnh phúc, rồi chia tay, mỗi người theo một con đường định mệnh: Đặng Ngọc Khiết đi Biệt Kích, nhẩy ra Bắc, bị bắt xử tử rất sớm (Phan Nhật Nam có viết về cái chết này trong mấy cuốn sách cũ và hình như cả trong cuốn sách sắp ra). Trần Trí Dũng, ngôi sao sáng về thể thao, một cậu bé đẹp trai, tóc ngắn, nụ cười trong sáng: Vào Võ Bị Đà Lạt, vừa ra trường đã thiệt mạng ngay tại Đồng Xoài.
Đỗ Toàn, cậu học trò đánh đàn ghi-ta trong những giờ sinh hoạt hiệu đoàn, đi Không Quân, phi công, bị bắn hạ. Vũ Ngự Chiêu, Nguyên Vũ, tiền thám pháo binh, viết “Đời Pháo Thủ” và vài chục quyển sách khác, khi sang Mỹ cố bắt đầu học lại để lấy Tiến Sỹ Sử, nay tóc đã bạc nhưng vẫn lao đao lận đận. Bùi Ngọc Tô, Nha Sỹ Quân Y, từng cầm súng ở Dạ Lê, ở đồn Mang Cá, hiện mở phòng Nha tại San José, nhưng thường làm việc nghĩa nên không bao giờ giàu có. Lê Thị Như Hảo, hoa khôi của trường Phan Châu Trinh, tiếng nói êm ái nhất của Đài Truyền Hình Sài Gòn, năm vừa qua đã làm việc tận tụy để dựng Đài phát thanh Mẹ Việt Nam tại San José nhưng Trời vẫn chưa cho khá …
Nhưng trong những người bạn cũ của tôi ở thành phố Đà Nẵng xa xưa ấy, có hai người họ Phan, vào thuở bé thơ, họ thân nhau đáng kể: Phan Chánh Dinh và Phan Nhật Nam. Một người đang ở trong Trung Ương Đảng Cộng Sản, một người đã trải qua mười bốn năm tù cải tạo, trong đó có tám năm kiên giam, đã bị cùm kẹp trong mười bốn căn hầm cấm cố tử hình.
3. Vào thời gian viết cuốn “Ngọn Cỏ Bồng,” khi nghĩ về cuộc chiến Việt Nam, tôi thường nhớ mãi về hai người bạn học cũ này như một hình ảnh biểu trưng và đã nhắc đến họ nhiều lần trong cuốn sách. Nhưng lúc ấy, Phan Nhật Nam đang nằm trong một của mười bốn hầm cấm cố, vì sự an nguy của anh nên tôi không tiện nhắc tên.
Họ thân nhạu từ bé.
Khi nghĩ đến Phan Chánh Dinh, tôi thường nghĩ ngay đến một thiếu niên tóc phủ lòa xòa quá mi mắt, mỗi lần nói chuyện thường đưa thẳng ngón tay trỏ ra với một bộ điệu bộc trực – Và nghĩ đến những câu thơ anh làm năm đệ lục (lớp bẩy, thuở mười ba, mười bốn). Khi làm thơ đăng báo Bách Khoa, Dinh ký tên là Phan Duy Nhân, nhiều bài rất hay. Người ta chỉ có thể viết được những bài thơ như vậy vào lúc tâm hồn trong sáng nhất.
Khi gặp lại Phan Nhật Nam vào năm ngoái, lúc anh mới đến Mỹ, tôi có hỏi chuyện Phan Chánh Dinh tại nhà và cả trong một chương trình phỏng vấn của Đài phát thanh Mẹ Việt Nam, thì Nam vẫn còn đọc lại được nhiều bài thơ của Dinh. Có lẽ, cho đến tận ngày nay, sau bao vật đổi sao dời, người duy nhất có thể đọc thuộc được những bài thơ của Phan DuyNhân vẫn là Phan Nhật Nam.
Đấy không hẳn vì Phan Nhật Nam là người có một trí nhớ phi thường. Anh nhớ ngày sinh tháng đẻ của tôi. Anh nhớ rất nhiều chi tiết của nhiều người, nhiều chuyện khác vẫn làm tôi ngạc nhiên. Nhưng ngoài ra, đó là vì Nam vốn là người đối với bạn bè rất trung hậu.
4. Cha của Phan Chánh Dinh làm nghề gác cổng xe lửa, nhà nghèo. Cả gia đình sống quây quần trong một trạm gác vuông vức, chật chội, mỗi bề bốn thước, sát đường rầy xe lửa. Hình như em của Dinh bị đau ốm tật nguyền, tôi không nhớ rõ. Nhắc đến họ, tôi đã viết trong cuốn sách xuất bản mười năm trước là :
“…Có lần tôi nghĩ đến hai người bạn cũ, may ra họ có thể trả lời cho các câu hỏi của tôi. Họ là chuyên viên về các loài hoa, ấy là tôi ăn nói màu mè như vậy. Cả ba chúng tôi đã trải qua những tháng ngày ở một ngôi trường Trung học Đà Nẵng, lúc ấy là một tỉnh nhỏ êm đềm. Chúng tôi đua xe đạp, đi tắm sông, đọc thơ Xuân Diệu, Huy Cận. Một anh lúc bé đã có nụ cười hồn nhiên của thi sĩ. Anh mơ mộng hoa cỏ. Anh ta viết một câu thơ thế này vào năm mười ba mười bốn tuổi: “Thèm ăn một chút hoa sim tím, và nuốt hồn em vô trái tim …”. Cha anh là một người gác cổng xe lửa. Mỗi lần những con tàu già nua chậm chạp đến gần, ônglắc lư chiếc đèn dầu nhỏ, thổi vài tiếng kèn, đóng cản chặn xe trên đường lại. Tôi còn nhớ Đà Nẵng dạo ấy rất ít xe hơi. Phần lớn học trò chúng tôi đi xe đạp, thỉnh thoảng lại bóp chuông. Khi chúng tôi lớn hơn một chút, chiến cuộc dữ dội, anh đọc Mã Khắc Tư, bỏ ra khu, bị quân đội miền Nam bắt làm tù binh, đánh gẫy một hai cái xương sườn. Nghe nói bây giờ anh đã trở lại thành phố cũ. Còn người thứ hai là bạn thân của tôi cho đến lớn. Cha anh theo cộng sản ra Bắc từ lúc anh còn nhỏ. Mẹ ở miền Nam, một mình đi làm thư ký nuôi ba con, ung thư, thất nghiệp rồi qua đời. Chúng tôi thường cởi truồng tắm biển và sau này lớn lên mới biết, lúc bé bỏng ấy chúng tôi cùng thương mến một cô con gái mà chẳng ai dám bạo dạn ngõ lời. Anh ta là cựu Hướng Đạo sinh, thích làm việc thiện, rất “sợ ở tù”. Điều này nói có sách, mách có chứng. Anh trở nên một sỹ quan nhẩy dù bị lột lon nhiều lần chỉ vì anh vốn là người tử tế. Anh ta trở thành nhà văn. Bây giờ đọc lại sách cũ của anh, tôi thấy anh ta rất sợ ở tù, anh ta có nói rõ như vậy. Thế mà hạn tôi vẫn đang ở tù.
Hai người bạn nhỏ ấy và tôi, trong cuộc đời oái oăm đã cùng học chung một ngôi trường tỉnh nhỏ. Một anh người Quảng Nam, một anh người Huế, còn tôi, Bắc Kỳ di cư. Chúng tôi đã nằm bò ở sân trường viết bích báo. Đã đi xe đạp hàng tư, hàng năm, buông tay lái, nắm lấy tay nhau. Thật ra hai anh chàng kia thân nhau hơn. Một anh them anh một chút hoa sim tím và một anh … Họ đều là những người yêu thích thiên nhiên và hoa cỏ, nhưng mà tôi chỉ kể lược qua như vậy …
Đoạn văn ấy có một vài chi tiết sai, ví dụ đối với tôi, Phan Nhật Nam nói tiếng Huế, ấy là một người Huế, nhưng thật ra gốc gác không phải vậy. Còn các chi tiết khác đều đúng, nhưng tôi đã giản lược đi, hoặc chỉ không biết các chi tiết về sau. Những chi tiết giản lược đi, đó là Phan Chánh Dinh thoạt đầu theo các phong trào sinh viên tranh đấu ở Đà Nẵng, Phan Nhật Nam trở thành sĩ quan Dù, được lệnh đưa lính đi dẹp biểu tình.
Nam nhận lệnh phải bắn hạ tên cầm cờ dẫn đầu. Khi vừa nhận ra tên cầm cờ chính là Phanh Chánh Dinh, thằng bạn thân với mái tóc lòa xòa trên trán, chưa kịp phản ứng gì thì lính đã nổ súng rồi. Chuyện ấy tôi không nhớ rõ là Nam đã kể lại trong “Dọc Đường Số Mộ” hay “Dấu Binh Lua” hay “Mùa Hè Đỏ Lửa,” và hình như Nam có diễn tả nỗi chán chường của việc phải đưa lính đi dẹp biểu tình vào thời liên tục đảo chánh, chỉnh lý trong giai đoạn ấy. Và sau này, nói chuyện với Nam, mới biết Phan Chánh Dinh bị thương và đã theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
5. Cũng có những điều tôi không biết rõ mặc dù đã là bạn thân bốn chục năm trời. Ví dụ tôi biết ở nhà, bác Dung, mẹ của Nam, con Bi, con Bé, em gái của Nam đều gọi Nam bằng tên thân mật là thằng “Rốc”, anh “Rốc”, Lê Mễ, Tiểu đoàn trưởng Nhẩy Dù, bạn thân của Nam cũng thường nói về Nam với tôi bằng giọng Huế: “Mi có trộ thằng Rốc ở mô không hí!” Tôi không hề biết tên thật của Phan Nhật Nam là Phan Ngọc Khuê, sinh năm 1943, kém Bùi Ngọc Tô với tôi một tuổi, chứ không phải tuổi Ngọ lông bông như chúng tôi. Hôm nay, cầm bản thảo “Những Chuyện Cần Được Kể Lại” với phần mở đầu “Đôi điều về Phan Nhật Nam,” mới thấy ra tên tuổi như thế.
Cũng có những điều khác nữa sau này mới biết khi gặp lại: Cha của Nam theo cộng sản ra Bắc, chẳng chức tước lớn lao gì như người ta đồn đãi, cha con suy nghĩ khác nhau, nhưng Nam vẫn giúp đỡ cha những khi cần thiết. Cha của Nam mới mất năm vừa qua. Mẹ chết năm Nam mười bảy tuổi. Em gái, Bé, tên thật là Phương Khanh tự tử những năm cộng sản mới chiếm miền Nam. Trên người Nam đầy những vết sẹo, những vết thương của những năm chinh chiến, tôi hãy còn nhớ những ngày vào thăm Nam băng bó đầy mình trong bệnh viện Cộng Hòa. Cộng thêm mười bốn năm tù cải tạo, gia đình chia cách. Suốt thời gian ở tù, nằm hầm cấm cố tử hình, hàng đêm chờ bịt mắt dẫn đi bắn bỏ. Thật quá sức chomột kiếp người và cho tinh thần một con người có thể chịu đựng.
Và tôi cũng biết chuyện Nam kể lại lúc Phan Chánh Dinh từ Hà Nội về Đà Nẵng với tư thế khác, thái độ khác. Ngày nay, là đồng chí Ng Ch phụ trách Tôn Giáo Vận trong Trung Ương Đảng, đã về Đà Nẵng xa xưa của chúng tôi như Pacha Antipov đổi thành Strelnikov trở về Mátxcơva. Và đã bảo, “đáng lẽ phải giết Phan Nhật Nam mới đúng”. Tôi vẫn hy vọng câu chuyện không đúng vậy. Nhưng nếu câu chuyện đúng như vậy, thế giới này là một chiếc tầu ngầm thiếu dưỡng khí đang ngạt thở chìm dần. Làm sao ngoi lên được?
6. Sau nhiều chục năm, Nam đã cầm bút trở lại với các độc giả của anh. Một cuốn sách sắp được ra mắt tại San José đúng ngày Chủ Nhật Ba mươi Tháng Tư, hai chục năm sau ngày miền Nam sụp đổ. Từ Houston, Texas, tuần rồi Nam điện thoại dặn tôi phụ một tay. Đúng lúc tôi cũng đang bận bịu ngày đêm để sửa chữa ấn hành cho kịp cuốn sách dịch cũng về ngày Ba mươi Tháng Tư, nên tôi chưa có thì giờ đọc cuốn bản thảo Nam gởi. Người đứng tổ chức, anh Bùi Đức Lạc và hội Gia Đình Mũ Đỏ đã cho in một tấm thiệp mời dự buổi ra mắt sách, đề là “Những Câu Chuyện Cần Được Kể Lại, bút ký của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, người bị hạ nhục quá nhiều.”
Hạ nhục, có lẽ đúng vậy. Bị giam giữ cùm kẹp mười bốn năm trời, nằm dưới hầm sâu để sống còn với khẩu phần vài trăm hạt bắp. Miếng cơm nắm, vài hạt muối. Để được hút một hơi thuốc lào phải dấu diếm dành dụm từng sợi thuốc, phải qua nhiều tháng rút từng sợi chỉ lén lút hong khô rồi tìm cách cọ, quẹt, châm ra lửa. Phải đối mặt cái chết với mỗi ngày đêm suốt mười bốn năm trường. Phải nghe những lời miệt thị. Phải ẩn náu trong bóng tối để dành sự sống. Quả là sự hạ nhục. Nhưng tôi muốn chính xác và ôn hòa hơn trong ngôn ngữ, tôi muốn đề nghị là: Mời thân hữu và độc giả đến dự buổi ra mắt sách của Phan Nhật Nam, người đã bị chúng ta đối xử quá bất công. Thượng Đế đã bắt Nam uống một chén quá đắng. Cha Cộng Sản, mẹ Quốc Gia, con đi lính đạn bom đầy thương tích, mẹ chết, một mình nuôi hai em gái, bị lột lon nhiều lần, đồng lương Đại úy không đủ ăn cơm tháng, đành gởi em nay chỗ này mai chỗ khác, viết văn phải chạy vạy từng xấp giấy. Vừa im tiếng súng là đối mặt bóng tối kìm kẹp của mười bốn năm tù đầy. Sang đến Mỹ, đang hồ hởi với tình bạn, qua cơn say đã nghe những lời vô tư cách. Tất cả thế giới từ Thượng Đế đến con người đều đã đối xử bất công với bạn tôi. Kẻ thù hạ nhục. Bạn hữu đối xử không công bằng. Khi còn nằm trong trong tay địch, chân tay còng kẹp dưới hầm sâu, người ta vẫn đòi hỏi Phan Nhật Nam phải làm anh hùng, người ta xưng tụng anh, trao giải thưởng chống Cộng cho anh mà không nghĩ đến việc thiệt hại cho sinh mệnh anh. Sang đây còn có kẻ lại hỏi anh sao không tự tử? Để làm anh hùng ư? Tất cả chúng ta đều đã đối xử bất công như thế.
7. Ở thành phố Đà Nẵng vào những năm bình yên xa xưa, đêm mùa hè, bọn trẻ chúng tôi thường rủ nhau bắt ghẹ, bên Mỹ này gọi là con cua xanh, blue crab. Bãi biển Thanh Bình, vì nằm trong Vũng Thùng, bãi phẳng thoai thoải, vào những hôm nước cạn, có thể lội rất xa mà nước vẫn không lên quá bụng. Những đêm không trăng, chúng tôi thường sắp sẵn lốp cao su để đốt: Một tay cầm lửa, một tay cầm những cây chĩa, chúng tôi vừa lò mò lội nước vừa nhìn xuống chân. Những chú ghẹ chắc nịch không bao giờ chạy đi đâu quá xa. Thấy ánh sáng, chúng luống cuống tìm cách ẩn mình dưới cát, chúng tôi nhìn kỹ, tiến đến bình tĩnh lấy chân dậm lên hoặc lấy chĩa chọc xuống. Bắt xong mớ ghẹ, cả bọn lên ngồi bên hàng dương liễu nướng ăn, rồi tráng miệng với những gánh chè đậu xanh đậu ván. Ai ăn chè đậu xanh đậu ván … Tiếng rao lanh lảnh mà mấy chục năm qua vẫn reo trong trí tôi. Những đêm hôm ấy, trong tuổi thần tiên của chúng tôi, bọn con trai ngồi quây quần bên đám lửa vừa ăn uống vừa nói cười những chuyện tầm phào. Như chuyện thầy Bùi Tấn dậy toán thường bắt chúng tôi phải viết những dấu bằng (=) một cách thật ngay ngắn từ trên xuống dưới. Như thầy Mậu dậy vẽ thường đánh đàn ghi-ta hát hỏng (một cách tức cười đối với chúng tôi) bài “Hò Kéo Gỗ Trên Sông Volga”: Dô tà dố tà, dô tà dố tà … Như Thầy Trần Tấn dậy Pháp Văn (Con xin lỗi vong linh Thầy) về việc thầy không có thói quen mặc quần lót, nên mỗi lần thầy đứng ghếch chân lên bục, đứa nào cũng phải chú ý đến một cái gì xề xệ bên trong cái quần của thầy. Khi bàn đến chuyện này, lũ chúng tôi vừa cười sằng sặc vừa hát theo điệu nhạc của bản “Tiếng Hờn Trong Gió” với những lời ca do chúng tôi đặt ra là:
“Cái gì to thế? Cái gì to thế trong cái quần?” Đứa to mồm nhất trong lũ chúng tôi, bao giờ cũng là Phan Nhật Nam. Hắn có thể nhái giọng La Thoại Tân. Hắn có thể bày đặt rất nhiều chuyện để làm cho chúng tôi vui cười, hắn muốn làm cho chúng tôi yêu mến và cảm phục. Cho nên ở trong trường, Phan Chánh Dinh có viết kịch thơ cho giờ sinh hoạt hiệu đoàn, không mấy ai vỗ tay, nhưng hễ Phan Nhật Nam lấy nhọ nồi vẽ râu, đóng vai thằng nhỏ láu lỉnh, bên cạnh một ông chủ lờ mờ (là tôi, vai này rất dễ đóng, không phải nói nhiều), thì bạn bè, nhất là bọn con gái đều ôm bụng lăn ra cười bằng thích.
Phan Nhật Nam cần tình thương từ thuở anh còn nhỏ. Anh học hành tử tế để được thầy thương, mặc dù không phải là loại học gạo và xuất sắc như Lê Chí Thảo (Đệ nhất Tham Vụ sứ quán Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Thịnh Đốn), hay là Lê Tự Hỷ, thiên tài toán (hiện là Giảng sư tại Đại Học Sài Gòn). Phan Nhật Nam đối với mẹ rất ngoan ngoãn và rất yêu thương mẹ. Anh thường nhắc đến mẹ nhiều lần trong những quyển sách của anh. Khi đi học, anh thường mặc những cái áo do mẹ may. Bác Dung, lúc còn sống là thư ký Ty Cảnh Sát Đà Nẵng, lương thư ký chắc chắn rất ít, nhưng đã khéo may cho con một cái áo lạnh bằng vải bông màu đỏ, làm tôi cũng phải đến nhờ bác may cho một cái hệt như thế, mầu xanh.
Nam cần tình thương yêu của bạn bè, nên thích khôi hài, kể chuyện … Anh đội cái mũ rơm kiểu cao bồi bắt chước James Dean, bắt chước hề Jerry Lewis để bạn bè vui vẻ, bạn bè thán phục cố đạt sự thương yêu, và Nam đối với bạn bè như tôi đã nói, rất là trung hậu. Những người bạn học cũ, đến bây giờ, ai cũng quý Nam. Những người bạn lính của Nam, những Lê Mễ, Phạm Như Đà Lạc, Lô, Lã Quý Trang, Nguyên Vũ … rất nhiều người khác nữa đều là những người bạn lâu dài và sinh tử của Nam. Nhu cầu thương yêu ấy mặt khác có làm khổ lụy cho Nam, vì đàn bà không thể chia xẻ tình yêu như những bạn trai. Và tôi nghĩ rằng nhu cầu cần được thương yêu ấy đến từ lý do vì anh thiếu cha từ nhỏ.
Nhưng cả thế giới này đã khai thác và lạm dụng nhu cầu cần được thương yêu của Nam. Nam đã pha trò, Nam đã quý bạn, Nam đã chiến đấu, Nam đã viết, Nam đã làm nhiều thứ đáng để được thế giới hiểu biết và thương yêu. Nhưng thế giới quanh Nam đã không tử tế như thế. Người ta đã bắt Nam cho thì nhiều mà đáp ứng lại thì ít công bằng, xứng đáng và đầy đủ. Với bẩy lần thương tích thừa chết thiếu sống, tốt nghiệp khóa 18 Võ Bị Đà Lạt, khi cuộc chiến chấm dứt, Nam vẫn chỉ là một Đại úy (Sau nầy mới rõ chỉ là đại uý
“nhiệm chức”, nghĩa là trung uý thực thụ). Với sáu cuốn sách rất chạy, Nam không bao giờ có tài sản, lúc ở Sài Gòn có căn nhà đường Trần Nhật Duật là do Cẩm buôn bán giỏi rồi mua được. Trong thời gian Nam nằm trong hầm tối ở Việt Nam, bên Mỹ bên Úc bên Tây bên Gia Nã Đại, suốt từ 1975, cùng một lúc với việc in lại những loạt truyện Kim Dung, là những quyển sách của Phan Nhật Nam. Người ta thi nhau lấy sách Nam chụp ra, in lại, những quyển sách viết bằng máu và nước mắt trong những trận chiến mà Nam tham dự, nhưng không hề ai tìm cách gửi cho Nam một khoản thù lao nhỏ gọi là để giúp cho một tác giả nằm tù, hoặc để giúp đỡ qua gia đình anh. Ngày đến Mỹ, Nam xuống vùng Nam Cali, đến một tiệm sách trong Khu Phước Lộc Thọ, của nhà xuất bản X … Một của những trung tâm in sách Nam hằng mười lăm, mười tám năm qua … “Chúng tôi không biết anh là ai hết … Chúng tôi chỉ biết bán sách … ” – Nam nhận được câu trả lời như thế.
Tôi nghĩ thế giới không công bằng với Nam.
8. Ngày hôm nay, người Cộng Sản muốn thay đổi. Bản thân tôi cũng lấy làm mừng vì thứ nhất, tôi không thấy có giải pháp vũ lực để làm việc ấy, thứ hai, dẫu có, tôi cũng không mong muốn nước ta lại lâm vòng chiến trận đau thương. Khi nói chuyện hòa hợp hòa giải, bản thân tôi vẫn tin đấy là nguyên tắc tốt về phương diện đạo lý. bản chất người Việt Nam đều muốn có sự hòa hợp hơn sự tranh chấp tương tàn. Mọi tranh chấp, chia cách trong lịch sử Việt Nam sớm muộn đều lui vào dĩ vãng. Nhưng có lẽ, bản thân tôi cũng như nhiều người khác, khi nghĩ đến “hòa hợp hòa giải” về phương diện chính trị, cũng đều e ngại thắc mắc tự hỏi: Đấy chỉ là khẩu hiệu hay thực tâm? Chính vào thời điểm này đây, người Cộng Sản phải trả lời. Riêng về một người bạn cũ, Phan Chánh Dinh, nếu những chữ này có tình cờ lưu lạc đến tay anh, liệu anh có thể gửi được cho Nam những lời xin lỗi? Để dẫu muộn màng, anh vẫn có thể chứng tỏ được ý niệm công bằng mà có lẽ vào thời chúng ta thơ ấu, anh đã tin khi tìm đọc Mã Khắc Tư?
9. Có một đêm vào mùa hè năm ấy, lũ chúng tôi ngồi trên bãi biển Thanh Bình sau khi đã bắt được một mớ ghẹ. Bên đống lửa, chúng tôi vừa nướng ghẹ ăn, vừa pha trò nhảm nhí. Như thường lệ, người ồn ào to tiếng nhất vẫn là Phan Nhật Nam. Nhưng sau khi mọi câu chuyện dí dỏm để làm chúng tôi cảm phục và thương yêu của anh đã cạn dần, Phan Nhật Nam có một sáng kiến. Anh biểu diễn làm xiếc. Nhân tiện chúng tôi có khá nhiều cao su lốp dùng để đốt lửa bắt ghẹ, anh vác ra một cái bánh xe hơi cũ. Anh bới cát, dựng lên rồi châm lửa đốt. Khi lửa đã bắt đầu cháy đều chung quanh vòng tròn cái bánh xe cao su, anh nhắm cái bánh xe, bước lùi lại rồi bảo chúng tôi: Bây giờ hãy xem đây. Anh cởi trần, thân hình chắc chắn không có vẻ gì lực sĩ như những Trần Trí Dũng (chết ở Đồng Xoài), như Đặng Ngọc Khiết (Biệt Kích, chết ngoài Bắc), tuy nhiên cũng không đến nỗi quá mảnh mai như Bùi Ngọc Tô (Nha sĩ San José). Anh ta mặc một cái quần đùi đen, haibên có hai sọc trắng, mốt của chúng tôi vào những năm “năm mươi”. Trước những cặp mắt ngưỡng mộ và yêu mến của bạn bè về lòng can đảm, anh nghiêng mình phóng tới, cố nhẩy lọt qua vòng tròn bánh xe. Y như một ông cọp trong những phim hát xiệc chúng tôi xem ở rạp xinê Ngã Năm, hoặc rạp xinê Chợ Cồn, Đà Nẵng.
Nhưng anh Rốc nhảy qua không lọt. Anh Rốc mắc kẹt ngay giữa cái bánh xe cao su đang cháy khét lẹt. Mủ cao su nóng bỏng chảy nhễu xuống với những ngọn lửa xanh lè đốt xèo xèo trên lưng anh Rốc. Anh Rốc đã nghiến răng chịu đau để được anh em thán phục vỗ tay. Nhưng hôm ấy, chắc bác Dung đã chảy nước
mắt khi nhìn vào lưng con trai. Đấy là những vết thương đầu tiên trên thân hình Phan Nhật Nam trước khi bị mổ xẻ khâu vá bẩy lần sau này trong cuộc chiến.
VẪN NHƯ LÀ NGÀY XƯA.
MÙA HÈ, 1995
Người chết tên ghi trên Bức Tường. Người sống đắng cay.
Người lính bị hạ nhục …. Tất cả đồng thiện thực điều cao cả:
Trong những Lá Thư viết ở Cối Xay Gió, Alphonse Daudet đã kể lại sự tích Người Có Bộ Óc Vàng. Câu chuyện tànkhốc của một chàng trai, nhân bị tai nạn, đã để lộ cho cha mẹ thấy mình có một bộ óc bằng vàng khối. Ngay sau đó, kho vàng được khai thác. Lần lượt gia đình, bè bạn, rồi ngay đến cả người yêu của
chàng trai khốn khổ, kéo đến làm việc ở mỏ vàng ấy. Cho đến một ngày, chàng thiếu niên, hai bàn tay đầy máu, móng tay tuột hết, cậy nốt mảnh vàng còn sót lại trong đầu. Daudet kể chuyện ấy như một ngụ ngôn nói lên tình cảnh của người lao tâm khổ trí; nhưng tôi chỉ thấy trong đó có nỗi uất hận của một thi sĩ mà tâm hồn đã bị thương tổn nặng nề. Tuy nhiên, ngày kia, trước một trường hợp cực kỳ bi đát, tôi mới hiểu rằng sự thật ở cõi đời này đôi khi còn vượt quá xa trí tưởng tượng phong phú và táo bạo nhất.
Tôi đang đi thăm bệnh buổi sáng như thường lệ thì được báo có bác sĩ Richter, y sĩ trưởng và giám đốc một bệnh viện lớn ở Ruhr, muốn nói chuyện với tôi qua điện thoại.
– Xin lỗi đã làm phiền anh, anh Killian. Mới đây, tôi có đọc trong Tạp chí Y-học, một bài của anh viết về những bướu hơi (1) …Bài rất hay … vì thế tôi mong anh sẽ nhận giùm tôi một “ca” … Bệnh nhân này có một bướu hơi trong đầu, to bằng quả trứng vịt; hơn nữa, nước trong óc chảy ào ào qua lỗ mũi trái, như thể có cả một cái thác trong đầu. Áp suất nước trong đầu rất cao … Để tôi gửi đến anh xem.
– Được lắm, tôi đang muốn thử chữa xem sao. Thực tình, tôi rất nóng lòng được khám người bệnh này. Trong bài báo của tôi, tôi đã tóm tắt tất cả các trường hợp bướu hơi mô tả trong những tài liệu y khoa từ trước tới giờ, rồi thêm vào một ít nhận xét riêng. Tất cả chỉ có 27 trường hợp, và thế là giờ đây tôi sắp được khảo sát trường hợp thứ 28.
Bác sĩ Richter tiếp lời:
– Vậy thì còn gì bằng. Nhưng lúc nào tôi gửi bệnh nhân đến anh được?
– Càng sớm càng hay. Dù sao cũng nội nhật hôm nay thôi chứ!
– Thế cũng được. Chắc bệnh nhân sẽ đến anh vào lúc chập tối. Vả lại không phải chỉ có mình ông ta thôi đâu. Tội nghiệp, cả một đoàn tùy tùng gồm ba ông lớn trong Sở đi theo. Khó chịu lắm đấy, vì ba vị này bám lấy bệnh nhân dai như đỉa đói, hòng móc cho được một phương thức gì đó. Rồi anh xem, nếu họ không đến quấy rầy anh ngay từ chiều nay, thì muộn lắm cũng là sáng mai. Thôi chào anh, chúc anh và bệnh nhân của anh may mắn nhé!
Khoảng 6 giờ chiều, người ta vừa cho tôi biết bệnh nhân đến, thì chừng một phút sau người gác cổng bệnh viện báo rằng có ba ông khách xin gặp tôi ngay vì “có việc rất khẩn cấp”. Tò mò về những lời giải thích nửa chừng của bác sĩ Richter tôi nhận tiếp họ ngay, trong khi tôi cho đặt bệnh nhân nằm trong một phòng yên tĩnh. Trông ba ông khách theo sau người nữ thư ký của tôi bước vào, tôi bỗng liên tưởng đến những ống đại quản cầm. Người đầu tiên nhỏ thó, theo sau là một ông người tầm thước và ông đi đoạn hậu cao xấp xỉ hai thước. Ông nhỏ người nhất, khoảng năm mươi tuổi, đầu sói bóng, bụng phệ, da dẻ hồng hào, tia mắt khắc nghiệt, bắt đầu tự giới thiệu là tổng giám đốc một xưởng đúc sắt lớn, hai bạn ông: người cao vừa là giám đốc kỹ thuật, còn ông cao nhất là trưởng phòng nhân viên.
Ngồi chưa nóng chỗ, ông giám đốc vào đề ngay:
– Thưa giáo sư, chúng tôi đến để xin hầu chuyện giáo sư về ông bạn Reinhardt, bệnh nhân vừa được bác sĩ Richter gửi đến giáo sư. Ông Reinhardt là trưởng phòng nghiên cứu trong xưởng chúng tôi. Giáo sư chắc đã được kể rõ về tai nạn của ông ấy.
Tôi ngắt lời:
– Chưa đâu ạ!
Ngạc nhiên, ông khách nhíu mày như tỏ ý không bằng lòng, rồi ông giải thích:
– Ông Reinhardt bị tai nạn xe hơi khi ở Thụy Sĩ về. Xe hơi trượt bánh, đâm nhào xuống dốc xa lộ. Anh tài xế chết ngay tức khắc, còn Reinhardt thì bị thương nặng ở đầu, được chở về nhà thương, tính đến nay chừng gần ba tháng. Điều tai hại và bi đát cho chúng tôi là như vậy mất một công thức rất cần cho sự sống còn
của hãng.
Đến đây có lẽ tôi đã lộ vẻ bỡ ngỡ, vì thế ông ta vội vàng tiếp luôn:
– Đây, thưa giáo sư, sự thực nó như thế này. Từ mấy năm nay hãng tôi có thử một máy tua-bin phóng lực. Máy này nếu thành công sẽ làm đảo lộn các phương cách sản xuất năng lượng từ trước đến nay. Chúng tôi đã tốn kém nhiều lắm mới thử xong tất cả mọi thứ được một năm nay. Thế mà khi hoàn thành xong kiểu mẫu đầu tiên, chúng tôi mới thấy là kim loại dùng để đúc tua-bin yếu quá, không chịu nổi sức mạnh của máy. Chúng tôi cho phòng nghiên cứu thí nghiệm lại. Thế là lại tốn thêm mấy mươi triệu nữa. Nhưng tiền tiêu không uồng vì chỉ có mấy tháng, Reinhardt đã tìm cách chế được một hợp kim mới, có thể nói là mạnh đến đâu cũng chịu được.
“Bây giờ chắc giáo sư đã thông cảm việc tại sao tai nạn xe hơi này thật là một thảm họa đối với chúng tôi. Dạ, ông kỹ sư trưởng chúng tôi bị mất trí nhớ! Giáo sư có thể tưởng tượng nổi điều này ảnh hưởng đến chúng tôi ra sao không? Nghĩa là, không có phương thức của hợp kim này chúng tôi không thể nào chế tạo được loại máy tua-bin phóng lực mới, chúng tôi sẽ mất bao nhiêu “còm-măng” tính ra đến hơn mấy trăm triệu bạc.
Tôi cũng chưa có thể biết xưởng còn tiếp tục làm việc được nữa hay không. Tóm lại những hậu quả của tai nạn này chắc chắn không thể nào lường được!”
Rút khăn tay ở túi ra, ông lau rất lâu chiếc đầu hói trên đó long lánh mấy giọt mồ hôi.
– Xem nào, tôi nói, chắc thế nào trong các hồ sơ lưu trữ của công ty cũng phải có những điều ghi chú hay những con tính liên hệ đến phương thức hóa hợp của chất hợp kim này chứ?
Ông ta giơ cao hai tay lên trời rồi nói lớn:
– Dạ, thế mới đến nông nỗi bi đát này! Chắc chắn Reinhardt đã ghi rõ phương thức ấy, nhưng hiềm một nỗi chúng tôi tìm mãi không ra. Chắc đã bị cháy cùng với những giấy tờ khác trong cặp vì chiếc xe bị cháy rụi. Thật là một lỗi lầm không thể tha thứ được của ban giám đốc kỹ thuật: họ quên không làm một bản sao mật cho những giấy tờ ấy. Bởi vậy cho nên, bây giờ …
Ông Tổng giám đốc ném một cái nhìn hằn học về phía ông Giám đốc Kỹ thuật. Ông này từ nãy mặt ngơ ngác và chảy dài nay ửng hồng.
– Chắc ông Tổng giám đốc quên rằng cách đây ba năm chúng ta đã bị một vụ gián điệp đánh cắp tài liệu kỹ nghệ tối mật. Còn về phần tôi, tôi thiết tưởng điều hiển nhiên và tối cần thiết là, sau vụ ấy ông Trưởng phòng nghiên cứu …
Ông Tổng giám đốc cắt ngang, giọng hách dịch:
– Thôi. Việc này cứ để đấy!
Rồi ông lại quay về phía tôi.
– Đã kết thúc những điều tôi vừa trình bày với Giáo sư về tình trạng này, xin phép cho tôi được tóm tắt lại những việc đã xảy ra sau tai nạn này. Trong vòng ba tuần lễ Reinhardt như ngây như dại; khi chúng tôi đến thăm, tội nghiệp anh cũng không nhận ra chúng tôi nữa. Khi anh ấy có thể về được nhà tĩnh dưỡng, chúng tôi đã nuôi lại tin tưởng. Anh Trưởng phòng nhân viên đây – ông hất đầu về phía người khổng lồ – cũng đã nhiều lần đến thăm Reinhardt. Anh đã kiên nhẫn hỏi đi hỏi lại nhiều lần mong rút cho được phương thức. Nhưng khốn thay, cố gắng thế nào cũng vô vọng. Tôi lắc đầu. Tôi tưởng tượng thật dễ dàng những buổi “hỏi cung” ấy đã là một cực hình cho bệnh nhân. Tôi nói, giọng hững hờ và dửng dưng:
– Thưa các ông, không biết các ông mong đợi gì ở tôi?
Ông Giám đốc kỹ thuật kêu lên:
– Dạ, tìm cái phương thức ấy ạ.
Còn ông Tổng giám đốc thì có vẻ tế nhị hơn.
– Thưa Giáo sư, chúng tôi mong rằng Giáo sư sẽ giúp anh bạn khốn khổ của chúng tôi tìm lại được trí nhớ.
– Vâng. Tôi hiểu. Thế các ông cho là tôi có thể giúp như thế nào?
Ông khổng lồ tiếp lời:
– Dạ chúng tôi xin góp ý kiến ạ. Sau tai nạn thảm khốc này, chúng tôi đã nghiên cứu về kết cấu của bộ não con người ta. Nếu chúng tôi không lầm thì, hiện nay, chúng ta có thể biết chính xác vị trí trên vỏ não của những vùng điều khiển các cơ năng tâm linh. Ví dụ có trung khu vận động, có trung khu xúc giác, hay lại có những trung khu tính toán, hiểu chữ viết cùng phân biệt màu sắc, v.v … Ta có thể họa một bản đồ của não và mỗi khu có nhiệm vụ điều khiển mỗi cơ năng. Trong trường hợp anh bạn Reinhardt chúng tôi đây, thật hiển nhiên là trung khu trí nhớ đã bị hư hại. Nhân tiện đây, thưa Giáo sư, chúng tôi cũng xin mạn phép được hỏi Giáo sư vài điều. Xin Giáo sư chỉ giáo cho. Thật ra trí nhớ hay ký ức là gì và nói rộng ra ý tưởng là gì? Chúng ở vị trí nào trong óc? Tôi nén mình cố không đứng phắt dậy. Ông này muốn trêu gan mình chăng? Dĩ nhiên, với tư cách một người ở ngoài y khoa đã có công “nghiên cứu và sưu tầm tài liệu”, ông ấy không biết tôi thật đang bối rối. Ký ức là gì? Ý tưởng là gì? Thật ra tôi có một định kiến cóc khô nào đâu … ai mà biết được …
Dè dặt, tôi lên tiếng:
– Vâng, tôi hiểu ông muốn nói gì. Và trong một phạm vi nào, tôi đồng ý lối suy luận của ông. Thật vậy có khá nhiều trung khu trong não. Sau hàng ngàn công trình nghiên cứu và khảo sát, ta có thể định được vị trí và cơ năng của chúng trên một bản đồ vỏ não. Có những trung khu vận động chỉ huy cử động của một bắp thịt hay một số bắp thịt. Lại còn những trung khu có nhiệm vụ kiểm soát cảm giác hay thị giác. Như vậy, khó mà định nghĩa được ý niệm về ký ức hay ý tưởng. Tôi xin thử trình bày đại khái để ông có vài định kiến tổng quát.
Tất cả những khích động thu được hoặc ở mặt da hay bởi những giác quan hoặc trong cơ thể đều được dẫn truyền lên não. Ở đó chúng gây những cảm giác hay những cảm thức và do đó sẽ tạo những phản ứng. Lại nữa, một sự kích thích thường trực, hay ít ra liên tục, có thể tạo thành những kỷ niệm. Những kỷ niệm này nếu còn ấn tượng có thể được óc cho cất giữ vào kho, chúng tạo những “hình ảnh tinh thần” tùy ứng với tình cảm con người như lòng ham muốn, nỗi thất vọng, niềm lo sợ …
Nói một cách tổng quát, toàn thể những kỷ niệm này và những hình ảnh tinh thần này được gọi là trí nhớ hay ký ức. Khi óc biến đổi chúng thành những ý niệm mới, nó hoàn thành một công việc mà ta gọi là ý tưởng, sự biến đổi này sinh ra những định kiến mới, tạo cả một liên hệ những biểu tượng cụ thể và trên một bình diện cao siêu hơn, tạo những ý niệm trừu tượng. Sau khi tạo được liên hệ này không những ta có khả năng tái tạo mà lại còn có khả năng sáng tạo đặc kỳ hay phát minh. Bây giờ, từ những khái niệm ấy ta có thể đi đến kết luận nào? Rằng, ý tưởng và ký ức là một sự cố gắng của toàn thể não bộ. Nói cách khác, không có một trung khu đích xác nào cho ý tưởng và ký ức. Rất có thể, ký ức phần nhiều đặt cơ sở căn bản nơi những hình ảnh tinh thần mà tôi vừa nói. Nhưng ta không biết những hình ảnh tinh thần này đặt vị trí ở đâu. Bởi không có trong khu ký ức nên ta không thể mổ và hàn gắn lại, ngõ hầu vãn hồi trật tự. Điều ta có thể làm được là làm sao chữa khỏi trạng thái bệnh lý đã gây ra chứng mất trí nhớ này, với hy vọng là sau một thời gian trí nhớ sẽ tự nó bắt đầu làm việc trở lại. Tôi nhận thấy rằng những lời giảng giải này có tác dụng như một gáo nước lạnh đổ vào người giữa mùa đông cóng rét: ba ông khách của tôi lúc vào văn phòng như muốn ra lệnh, nay có vẻ như rụng rời sửng sốt. Có thể tôi cảm thấy thỏa mãn một phần nào nếu cuộc tiếp xúc này không có tính cách trang trọng và bi đát, như sinh mạng một người bệnh đang lâm nguy.
– Vậy, tình trạng này không giản dị như các ông tưởng đâu. Ta chỉ có thể hy vọng là sau khi mổ áp suất quá lớn mà bộ óc của ông cộng sự viên của các ông đang phải chịu đựng sẽ hạ xuống. Rồi, dần dần các cơ năng tâm linh bình thường của não sẽ lại có thể phục hồi và biết đâu trí nhớ cũng sẽ tìm lại được.
Ông Tổng giám đốc là người đầu tiên định thần lại.
– Tóm lại, giáo sư định sẽ làm gì đây?
– Trước hết tôi còn phải khám người bệnh – Tôi chưa nhìn thấy ông ấy. Xong, khi nào định bệnh được, tôi sẽ quyết định sau. Chứ bây giờ tôi không thể nói hơn được gì nữa. Họ đứng dậy và từ giã tôi thật nhanh chóng. Riêng ông Trưởng phòng nhân viên cố che giấu sự bực dọc của mình. Khi bước vào căn phòng dành riêng cho Reinhardt, tôi thấy các nhân viên di đặt bệnh nhân nằm rất cẩn thận, ông ta nằm ngửa và thẳng, đầu đặt hơi cao lên. Nghe thấy tiếng động, cô y tá, đang ngồi đầu giường để coi sóc cho bệnh nhân, quay lại, vẻ mặt lo âu, hùng hồn hơn cả lời nói, đã báo cho tôi trước trường hợp này nặng lắm.
Xanh như tàu lá và trên mặt còn ghi hằn nét khổ đau, Reinhardt đang đắm chìm trong trạng thái kinh hoàng gần như vô giác vô tri. Bộ mặt này xưa chắc phải đạo mạo như những bộ mặt khả ái của những nhà bác học khảo cứu, nhưng bây giờ xấu hẳn đi vì hai vết sẹo còn đỏ tươi. Một vết đi từ gò má bên trái chạy tuốt xuống cả má, và một vết ngoằn ngoèo ở phía trái vầng trán. Hơn nữa cả vùng trán này hơi xẹp xuống. Thêm vào đó cung mày lún xuống nên mắt trái có vẻ nhỏ hơn. Mặt bệnh nhân vì thế bị méo mó và không đối xứng.
Tôi khẽ gọi tên bệnh nhân. Người bệnh tuy quay mặt một cách rất chậm chạp và nặng nề về phía tôi nhưng không thể hướng tầm mắt nhìn tôi. Tình trạng ngây dại đã khiến bệnh nhân không thể điều khiển được mắt mình. Rõ ràng ông ta đang cố gắng trả lời; nhưng vì trạng thái vô lực ủ rũ nên ông chỉ có thể phác một nét nhăn nhó đau đớn. Tiến gần lại giường, tôi nắn phía trái vầng trán: tôi sờ thấy rõ các mảnh xương gồ ghề, hậu quả của tai nạn. Người bệnh phác một cử chỉ mệt mỏi như muốn đẩy tay tôi ra, có lẽ vùng trán này rất nhạy cảm và bệnh nhân đau đớn lắm.
Tôi bàng hoàng khi sờ vào cổ tay bệnh nhân. Mạch nhảy rất chậm – năm mươi bốn lần trong một phút – chứng tỏ rõ ràng là trung khu phế vị bị kích thích, sự gia tăng áp suất trong xương sọ. Hiện tượng thường xảy ra sau khi xương sọ bị dập vỡ và kèm theo là chứng xuất huyết trong não; cần phải trông nom và theo dõi cẩn thận lắm. Thật vậy nếu mạch nhảy dưới năm mươi lần một phút – bốn mươi sáu hay có khi bốn mươi hai – tính mệnh người bệnh bị lâm nguy có thể chết ngay được và bắt buộc y sĩ giải phẫu phải mổ ngay sọ ra xem để đối phó kịp thời. Tôi ra lệnh cho cô y tá cứ cách nửa giờ bắt và ghi mạch một lần, và phải báo cho tôi ngay nếu mạch còn xuống nữa.
Tôi đo áp huyết. Con số hơi lên và biên độ [amplitude: khoảng giữa hai số áp huyết cực đại và cực tiểu] cũng vậy. Nhịp thở lại còn làm tôi lo ngại hơn nữa. Người bệnh thở từng lúc, nhịp ngắn và không đều, khiếm khuyết thường hay xảy ra khi có vết thương trong não. Tôi chưa kịp tháo máy đo áp huyết ở cánh tay ra, bệnh nhân bỗng nhiên buồn nôn. Như bị mắc nghẹn ở cổ, bệnh nhân chống khuỷu tay lên giường để cố ngồi dậy và xoay nghiêng mình nằm sấp – lần đầu tiên tôi thấy một chất lỏng trong như nước từ lỗ mũi trái chảy ra. Cứ mỗi lần bệnh nhân buồn nôn, nước lại chảy ra và dần dần rỏ giọt lên gối. Thì ra đó là chứng chảy nước mũi mà Bác sĩ Richter đã nói với tôi qua cuộc điện đàm vừa rồi. Hiển nhiên tôi không thể để bệnh nhân trong tình trạng này mãi, ngồi bên thành giường, tôi suy nghĩ tìm một phương cách nào tốt nhứt để hạ áp suất nước trong đầu và giảm sự kích thích trung khu phế vị. Bởi hai chứng này do bướu hơi “to như quả trứng vịt” mà anh bạn đồng nghiệp tôi đã khám phá được trong hình quang tuyến chụp thùy trán bên trái của não. Thoạt tiên tôi nghĩ sẽ chọc thùy não qua xương sọ để hạ bớt áp suất khí trong bướu. Nhưng ngay sau đó, tôi liền bỏ ngay giải pháp này. Bởi tôi sẽ phải thường trực để cái “canule” cốt tránh cho bướu hơi khỏi đầy ắp không khí mỗi khi bệnh nhân nôn ọe hay ho húc hắc và như thế có nghĩa là não sẽ bị nhiễm trùng.
Phải tìm một giải pháp khác. Tôi kê đơn cho tiêm hai ống morphine và atropine, vừa làm dịu đau, vừa làm dịu dây thần kinh não thứ mười nghĩa là thần kinh phế vị. Tuy tôi biết chắc, bất đắc dĩ lắm mới kê chất morphine trong trường hợp não bị thương bởi lại có thể gây nhiễu loạn nơi trung khu hô hấp. Nhưng trong trường hợp vô vọng này, tôi không có quyền lựa chọn. Tôi lại còn bảo anh y sĩ trực, cứ hai giờ, tiêm vào tĩnh mạch một dung dịch glucose thượng đẳng. Chất glucose sẽ làm mất nước trong cơ thể đi; tôi hy vọng do đó sẽ làm hạ áp suất trong đầu. Dĩ nhiên tôi nói với cô y tá đêm nay đừng cho bệnh nhân uống một giọt nước nào. Tôi đã ở bên giường bệnh nhân hơn hai mươi phút. Vừa ra khỏi phòng bệnh tôi gặp ngay ba ông kỹ nghệ gia ban chiều. Họ đang đứng nói chuyện với nhau bên cửa sổ gần phòng bệnh. Thái độ Ngoan cố và vô nhân của họ, thú thật, làm tôi tức giận gần như phẫn nộ.
Viên Tổng giám đốc tiến thẳng lại gặp tôi.
– Thưa Giáo sư, tình trạng ra sao ạ?
Tôi không thấy một lý lẽ nào để nương nhẹ ông ta.
– Nguy lắm, chắc chắn là tính mạng ông Reinhardt đang lâm nguy. Tôi tính mai sẽ khám kỹ càng và đầy đủ hơn, nếu tình trạng bệnh nhân cho phép. Rất có thể nội đêm nay phải mổ gấp.
Ông Tổng cười ruồi, như để cho tôi hiểu rằng ông không tin tôi lại có thể phóng đại tình trạng nguy ngập này. Như thách đố, ông ta còn hỏi tôi:
– Chừng nào chúng tôi có thể tiếp xúc và nói chuyện với bệnh nhân?
– Vấn đề này chưa đặt ra. Tôi cũng lưu ý ông rõ rằng ở thời điểm này, trừ khi có lệnh mới, tuyệt đối cấm không được đến thăm bệnh nhân. Ông Reinhardt cần phải tĩnh dưỡng hoàn toàn.
Ông ta mím chặt đôi môi và ánh mắt như khiêu khích:
– Thưa Giáo sư, chừng nào giáo sư cho chúng tôi biết kết quả cuộc khám nghiệm này và sự quyết định ra sao?
– Ba ngày nữa.
Ông ta nghiến chặt hai hàm răng làm nổi những bắp thịt dưới làn da đỏ ửng.
– Thưa Giáo sư, còn điều chi nữa không ạ?
– Đến giờ phút này thì không còn điều gì cả!
– Cảm ơn giáo sư.
– Không dám ạ.
Dứt lời, tôi quay gót đi thẳng, mặc ông ta đứng như trời trồng. Tôi thức gần trọn đêm để nghiên cứu hồ sơ bệnh nhân. Đọc giấy nhập viện tôi được biết ông Johan-Christopher Reinhardt, 43 tuổi và độc thân không còn bà con thân thích nào để báo tin trong trường hợp ông ta có mệnh hệ nào. Reinhardt sống cô độc và có thể sống theo sở thích mình như bao nhà khảo cứu chân chính. Sau đây là chi tiết về tai nạn: Tai nạn xảy ra vào lúc nửa đêm về sáng. Sở cảnh sát cho rằng người tài xế đã ngủ gục trên “volant”. Mãi đến sáng sớm người ta mới phát giác ra hai nạn nhân. Người tài xế chết liền ngay lúc đó, thân thể nát nhúm; còn ông kỹ sư bất tỉnh trên vũng máu. Phải đi hết nhà thương này đến nhà thương nọ mới tìm được một bệnh viện có đủ khả năng để chăm sóc bệnh nhân.
Trên một tờ giấy khác có ghi những nhận xét đầu tiên như sau đây:
Má bên phải bị rách từ gò má đến mép; vết thương có cạnh rất rõ ràng, có thể do mảnh kính gây ra. Vết thương thứ nhì, nát bấy ở phía bên trái trán; có thể do sự va chạm mạnh vào tấm kính xe khi bệnh nhân bị hất về phía trước. Nửa xương trán bên trái bị lún xuống, nắn thấy động đậy và rõ từng miếng xương vỡ vụn.
Vết xương nứt rạn lan đến tận đáy xương sọ. Xương sụn này chắc cũng bị vỡ. Lúc nhập viện, bệnh nhân bất tỉnh nhân sự. Đây là một trường hợp chấn động não thật nguy ngập, kèm theo chứng xuất huyết trong vùng thùy trán bên trái não bộ.
Qua những nhận xét trên đây tôi được biết, bệnh nhân lúc đến bệnh viện, mạch còn bình thường. Nói một cách khác chưa có triệu chứng nào chứng tỏ rằng áp suất nước trong đầu đã tăng lên. Vì lý do ấy, nên họ chỉ để bệnh nhân tĩnh dưỡng hoàn toàn. Sau đó tôi cầm các hình chụp quang tuyến đính kèm hồ sơ và đặt lên máy nhìn. Hình thứ nhất chụp ít lâu sau tai nạn, ta thấy rõ xương sọ bị vỡ và các vết nứt của các mảnh xương. Vết nứt quan trọng nhất đi từ đỉnh sọ tới xương trán về phía bên trái. Điều đáng lo ngại nhất là vết nứt đó đi qua xoang trán (frontal sinus), như vậy nghĩa là rất có thể màng nhầy bọc lỗ hổng này đã bị rách.
Hình chụp nghiêng cho ta thấy vết nứt không giới hạn ở phía trước xoang trán, mà phía sau cũng bị lún và bị đẩy ra ngoài. Một biến chứng cực kỳ nguy hiểm là: khi vỏ sau của xoang trán bị lún sẽ mở đường nhiễm trùng từ khoảng mũi lên các màng óc và não bộ. Những bản sao của các phiếu bệnh viện đầu tiên đã ghi những điều săn sóc cho bệnh nhân kể từ lúc nhập viện. Không có điều nào thiếu sót cả. Cứ cách nửa giờ lại bắt mạch, đo áp huyết và đếm nhịp thở. Tôi được biết, trong hồ sơ, bệnh nhân vẫn bất tỉnh trong vòng bốn mươi tiếng đồng hồ. Rồi bỗng nhiên, vùng vẫy la hét. Rất nhiều lần, người bệnh giựt các mảnh băng quanh đầu ra, vùng vẫy rất mãnh liệt khiến các nữ y tá và y công hết sức và nhọc công mới ghì được. Sau phải cho uống thuốc an thần, dĩ nhiên, không thể để một người bệnh nặng như vậy có những hành động mạnh mẽ như thế.
Mấy ngày sau, những cơn vùng vẫy dứt hẳn. Diễn tiến của bệnh trạng đã khả quan hơn. Bệnh nhân bình phục trông thấy. Tình trạng rầu rĩ bớt dần và biến mất hẳn, người bệnh đã hồi tỉnh và hơn nữa lại nói được. Tuy thế, trí nhớ rất kém. Đúng hơn, trong ký ức người bệnh có một lỗ hổng lớn, một khoảng chân không hoàn toàn. Reinhardt không thể nào nhớ được mình đã làm gì còn nói chi đến phương thức quý báu kia. Hơn nữa bệnh nhân quên cả tai nạn đã xảy ra như thế nào. Phiếu bệnh viện còn ghi các chứng nhiễu loạn khác nữa: nhức đầu kinh khủng, chóng mặt, chứng song ảnh (nhìn một thấy hai).
Những chứng này không có gì khác thường cả. Hai chứng trên có thể cắt nghĩa được bởi xương sọ bị vỡ và não bộ bị chấn động. Còn chứng song ảnh là gián tiếp do xương trán bị lún xuống; do đó, mắt trái cũng hạ xuống và máu chảy xối xả vào hốc mắt. Tuy nhiên, chuyên viên nhãn khoa không thấy mắt nhìn kém đi hay một khiếm khuyết nào trong lòng mắt cả. Vậy không có điều gì lo ngại về phía này cả. Hai tháng sau, khi bệnh nhân được phép về nhà, kết quả của buổi khám nghiệm lúc ra này rất lạc quan. Chứng chóng mặt bớt đi nhiều, chứng song ảnh hoàn toàn biến mất, ngay cả chứng nhức đầu cũng giảm đi đến độ có thể chịu đựng được. Bệnh chứng độc nhất thật đáng lo ngại vẫn là mất trí nhớ. Trước khi cho bệnh nhân về nhà – dĩ nhiên sẽ còn được y-sĩ coi sóc và điều trị – anh bạn đồng nghiệp tôi có khuyên sau ba tháng nên đến để khám kiểm soát lại một lần nữa. Tôi ngừng đọc để nhận định tình trạng bệnh nhân lúc ấy. Không thể chối cãi được rằng bệnh có thể khỏi được nhưng chỉ một phần nào. Thật vậy, những vết thương nặng như vậy ở thùy trán não có thể gây ra một sự nhiễu loạn không thể chuyển lại được, về tính tình có thể đi đến sự suy thoái tâm thần (dégénérescence psychique). Đính kèm phiếu ra bệnh viện, có đóng dấu và có chữ ký theo đúng thể thức, tôi thấy những hình quang tuyến khác chụp trong thời gian điều trị, vậy là ít lâu sau khi nhập viện. Tôi cho gài máy nhìn và kêu lên một tiếng. Trên hình chụp thẳng, ngay dưới chỗ xương trán lún xuống, có một vết sáng và tròn, không có ở những hình quang tuyến trước đã xem. Một vết thứ nhì thấy ở gần đường chính giữa, cách cung mày trái độ vài phân. Thật rõ ràng những vết này là những khoảng không khí đã tạo hình trong sọ, có thể ngay trong não, sau vùng xương trán bị vỡ. Điều kỳ lạ là trong phiếu ra bệnh viện không thấy nói đến chúng. Với ít nhiều bứt rứt tôi vẫn mở hồ sơ đọc tiếp đoạn hai của bản diễn tiến bệnh lý. Đoạn này khởi ghi sau khi bệnh nhân về nhà được bốn tuần lễ mà thôi. Vậy Reinhardt đã trở lại bệnh viện hai tháng trước ngày đã định để khám kiểm soát lại. Tôi tìm được lý do ngay trong những dòng chữ đầu. Tình trạng, không những không tiến triển, mà lại nguy ngập thêm. Chứng chóng mặt càng tăng thêm, chứng nhức đầu lại càng không thể chịu được nữa. Lại thêm vào đó, bệnh nhân thấy buồn nôn nhiều hơn. Khi nhận bệnh, y-sĩ thấy sự nhậy cảm cực kỳ của vùng não thùy trán và gò má trái khi ấn tay lên hay gõ vào đó. Những dây thần kinh da trên và dưới hố mắt cũng gia tăng cường độ khích động. Nhưng ngay hôm sau trên hồ sơ có ghi một bệnh chứng mới: mũi chảy nước. Khi bệnh nhân cúi đầu về phía trước, một chất nước lỏng chảy ra ở lỗ mũi trái; khi đầu về vị trí cũ nước thôi chảy nữa. Khi được hỏi về bệnh chứng này, bệnh nhân khó khăn lắm mới tìm được chữ, đã khai rằng đã thấy nước chảy lỗ mũi từ ba tuần trước nhưng đã cho là vì cảm nên sổ mũi. Rồi người bệnh còn nói thêm một chi tiết không ngờ là mỗi khi lắc đầu anh nghe thấy trong óc như có tiếng róc rách, “như không khí trộn lẫn với nước.”
Y sĩ ghi nhận ngay điểm quan sát kỳ lạ này. Khi nghiêng đầu về phía trước, nước từ lỗ mũi trái chảy raliền và đồng thời ta nghe thấy một tiếng động làm liên tưởng đến tiếng òng ọc của chai nước đang đổ. Y sĩ chuyên khoa tai mũi họng, khi khám bệnh nhân đã ghi nhận không thấy một khiếm khuyết và nhiễu loạn nào trong mũi và yết hầu; những nhiễu loạn này chỉ do vùng khoang trán. Những điều ghi nhận khác trên giấy gợi cho tôi một hình ảnh thật thảm bại:
Trong mọi cử động của đầu, bệnh nhân đau đớn không chịu được; trạng thái kiệt lực toàn diện; tình trạng tâm linh suy sụp; trí nhớ hầu như bị mất. Nếu bệnh nhân không bị sốt thì trái lại mạch hạ xuống năm mươi hai lần trong một phút, bằng chứng của một sự tăng áp suất trong đầu. Áp suất dạo này cũng biểu thị bởi sự tụ huyết ở những gai thần kinh mắt khi đem khám ở khu vực nhãn khoa. Sau đó, đến một câu ghê gớm và kinh khủng nhất:
Bệnh nhân nôn ọe rất nhiều và rất mạnh. Dịch não tủy (L.C.R) chảy rất nhiều qua lỗ mũi trái.
Đây là lần đầu tiên phiếu bệnh lý ghi dịch não tủy chảy ra ngoài và như vậy chứng tỏ mọi sự giao thông có thể thiết lập giữa khoang trán trái và màng não. Muốn hiểu sự nguy hiểm của sự giao thông này, ta phải biết là bộ óc được bao bọc chung quanh hay nói một cách khác, được “treo” lơ lửng trong sọ bằng một hệ thống thủy lực là dịch não tủy. Nay, màng cứng nghĩa là màng não ngoài bị rách và hậu thành của khoang trán bị sụp nên nước qua chỗ rách đó có thể chảy xuống mũi. Trước khi bệnh nhân đến bệnh viện của Bác sĩ Richter, đến bệnh viện này mới tìm ra nguyên nhân của chứng chảy nước mũi ấy, bệnh nhân bị một biến chứng trầm trọng. Nhiệt độ lên rất cao, mê lịm, mạch đang nhảy chậm bỗng vọt lên 100-120 nhịp một phút. Đồng thời gáy bị cứng nhắc, dấu hiệu chắc chắn và đích xác của bệnh sưng màng óc lúc khởi đầu mà bệnh nhân không thoát khỏi được. Vào cái thủa chưa tìm ra thuốc SULFAMIDES và thuốc kháng sinh, người y sĩ khi phải trị bệnh sưng màng óc, bị bó tay vô phương chữa, và điều đó chúng ta ngày nay không thể tưởng tượng nổi.
Tuy thế nguy hiểm cũng qua, thật gần như một phép lạ, và người ta đã có thể chụp quang tuyến thêm những bức mới. Những tấm hình chụp này cho ta thấy rõ mồn một hình tròn không khí, một bướu hơi, ở não thùy trán trái. Tôi nhận ra ngay “trứng vịt” mà Bác sĩ Richter đã nói với tôi hôm trước. Sự giao thông giữa vùng xoang trán trái bị sụp và não thùy trán. Bướu hơi này lớn và rất rõ ràng với những đường nét tròn trĩnh. Ngay một người thường cũng nhận ra ngay khi cầm tấm hình chụp lần đầu tiên. Nhưng khi nghiên cứu kỹ càng và chăm chú hơn tấm hình quang tuyến, tôi còn thấy một cái bướu hơi thứ hai nữa, một hình trăng khuyết nhỏ trong vùng não thất thứ tư bên trái (Não thất là những khoảng quan trọng có từng đôi một và chứa đầy dịch não tủy; giống như những hồ hẹp, những khoảng này ở trong não). Sự khám phá này làm cho tôi say mê: cái bướu thứ hai này chỉ có thể hình thành sau khi não thất bị không khí tràn vào. Nhưng không khí làm sao mà có thể xâm nhập vào được?
Hiển nhiên tôi cần phải có, sớm chừng nào hay chừng nấy, những tấm hình quang tuyến từng lớp stratigraphies) của bán cầu não trái. Phương pháp trị liệu và ngay cả giải phẫu bất ngờ nếu cần, sẽ tùy thuộc ở những điều nhận xét trong những tấm phim này. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tôi trở lại phòng bệnh nhân. Trong ánh hoàng hôn, Reinhardt nằm nghỉ khá yên ổn. Nhịp thở gần như bình thường, mạch đã tăng nhịp và nhảy hơn con số 60. Hơn nữa bệnh nhân cũng không nôn oẹ nữa. Tóm lại, tình trạng đã khá hơn lúc nẫy. An tâm, tôi nhắc lại những lời dặn cô y tá túc trực bên giường. Một ngày làm việc của tôi đã xong. Tôi trở về nhà. Chiếc máy điện thoại đặt ở đầu giường tôi câm nín cho đến sáng. Tôi tự bảo người bệnh của tôi cũng đã trải qua một đêm ngủ bình thường. Trái lại khi tôi đang mặc quần áo thì Ông Tổng Giám Đốc xưởng gọi điện thoại cho tôi. Nói năng rất lễ phép khác hẳn thái độ chiều qua, ông Tổng xin lỗi đã gọi tôi quá sớm thật làm phiền tôi và xin tôi vui lòng cho ông được “yết kiến” một lần nữa.
– Chúng tôi muốn được thưa chuyện với sự thân mật hơn, không có sự hiện diện của các cộng sự viên của chúng tôi. Không, quả thật thế, chuyện rất tế nhị và phức tạp lắm nên chúng tôi không thể thưa chuyện cùng giáo sư trong điện thoại được ạ. Vâng. Chúng tôi cũng xin giáo sư đại xá cho, để xin giáo sư cố cho, vì …
Không muốn nghe ông Tổng năn nỉ mãi, tôi hẹn ông ta đến tối hồi mười một giờ rưỡi. Tôi hy vọng vào giờ đó kết quả chụp quang tuyến từng lớp sẽ cho phép tôi xét rõ vấn đề hơn. Vừa tới bệnh viện; tôi đã lại phòng Reinhardt ngay. Trông bệnh nhân bớt mệt hơn. Tôi rất hài lòng vì khi tôi bước vào phòng, lần này, Reinhardt đã nhận thấy sự hiện diện của tôi. Tôi gọi tên ông ta. Tuy bệnh nhân không quay lại phía tôi, nhưng cũng đã giơ cao bàn tay trái lên như để ra hiệu đã hiểu. Khi tôi hỏi thăm ông ta, Reinhardt cố gắng trả lời tôi. Tuy vậy, ông nói ngọng líu nên hai chữ “khá mệt” gần như khó hiểu. Xong, Reinhardt chỉ vào đầu nói nhức đầu lắm. Ông ta cũng không thể nói rõ ràng được. Có thể, vì áp suất do bướu hơi lên trong khu vận động nói, thường thường ở bên não trái, nên đã tạo một khiếm khuyết cơ năng nơi đó.
Mạch lên 65 nhịp một phút. Dung dịch đường và hỗn hợp morphine-atropine tiêm đều cho bệnh nhân hồi đêm đã cho những kết quả mong ước.
Không muốn làm mệt bệnh nhân vô ích, tôi khám rất nhanh. Tôi thấy, ngoài những nhiễu loạn về lời nói, chân phải bệnh nhân cử động yếu ớt. Một bằng chứng nữa để nghĩ rằng trung khu vận động của bán cầu não bên trái bị ảnh hưởng của sự tăng áp suất này bởi hiện tượng rối loạn thần kinh ra xa. Tôi thận trọng đưa hai tay đỡ đầu bệnh nhân, đưa đẩy từ trái sang phải. Lúc đó, tôi nghe thấy rõ ràng tiếng róc rách ở trong đầu, – điều quan sát dị thường nhất trong đời chức nghiệp của tôi! Sau cùng tôi đưa đầu bệnh nhân cúi về phía trước, tức thời một dòng nước chảy qua lỗ mũi trái. Tôi gọi hai y-công khiêng cáng, và giúp họ đặt Reinhardt nằm ngửa lên băng ca. Tôi bảo họ đưa bệnh nhân đến phòng quang tuyến. Tôi cũng đi theo để dặn bảo nhân viên quang tuyến. Rất nhiều việc tùy thuộc ở kết quả chẩn đoán này. Tôi bảo sẽ ở lớp nào và ở chiều sâu nào cần phải hướng máy. Phải chụp cả thẩy tám tấm hình. Tôi không thể kiên nhẫn chờ đợi nên đi theo tận vào phòng tối rửa phim. Tôi cầm những tấm phim còn ướt vừa rửa xong và treo lên màn ảnh có đèn chiếu. Những điều nhận xét trên những tấm phim này thật kinh khủng kỳ dị và làm tôi kinh ngạc hết sức. Tôi cho gọi ngay mấy anh phụ tá. Tôi thấy hai khoảng trắng: một bọt không khí hình như trái lê trong não thùy trán trái, và lại khoảng này cứ lớn dần so với tấm hình chụp lúc trước, ngoài ra còn khoảng thứ hai chiếm cả phần trên não thất bên trái. Như thế có nghĩa là bướu hơi đã phải “ăn sâu vào” sừng hẹp (corne effilée). Và ở chỗ đó, có sự trao đổi giữa dịch não tủy và không khí. Như vậy ta có thể suy ra là hình không khí như trái lê giao thông một phía với não thùy trán bên trái và phía kia với não thất thứ tư (4è ventricule).
Như vậy những bệnh chứng, tiếng róc rách trong đầu bệnh nhân và dòng thác như vô tận chảy ra lỗ mũi, từ trước đã làm tôi nản lòng và chưng hửng, nay đã có thể cắt nghĩa được.
Ta phải biết rằng dịch não tủy giữ hai vai trò trong cơ cấu của não. Một là, nó bao bọc não trong một cái vỏ có màng, gọi là màng óc, mà màng ở ngoài gọi là màng cứng (dure-mère); hai là nó được chứa trong các não thất ở ngay trong óc. Hai hệ thống này giao thông tự do với nhau. Bình thường, sự liên lạc ấy được thực hiện như sau: dịch não tủy được tạo bởi một huyết quản hệ đặt ở não thất thứ tư; sau khi chảy qua những não thất khác, dịch này chạy xuống ống giữa tủy sống rồi lại được hút bởi một hệ thống chằng chịt tĩnh mạch.
Thế mà, trong trường hợp của bệnh nhân đây, hệ thống đóng khép này bị gián đoạn. Lý do chính của cuộc gián đoạn này là ở chỗ sừng trước (corne antérieure) của não thất thứ tư. Qua lỗ rách ấy, dịch não tủy, bị đầy bởi không khí tràn vào, chảy vào nên đáy bướu hơi hình trái lê như một cái thác con. Trên hình chụp quang tuyến, ta nhìn thấy rõ mức nước trong não thất và trong bướu hơi hình trái lê. Từ đó dịch não tủy, qua một cái thác thứ hai chảy vào khoang trán bên trái và chảy cho đến khi đầy. Khi ta ấn vào vùng trán trái, hoặc khi bệnh nhân lắc lư đầu hay nôn ọe, chất lỏng này qua một cái thác thứ ba chảy vào mũi rồi qua lỗ mũi. Tóm lại, cái thác trong đầu mà Bác sĩ Richter đã tả cho tôi bữa nọ vừa được giải thích và chứng minh: ông Reinhardt đáng thương này có những ba cái thác trong đầu!
Sau khi nghiên cứu hai ba lần tình trạng hy hữu và có thể nói độc nhất này, tôi thấy chỉ có một giải pháp: lúc nào thuận tiện, phải mồ ngay. Bất cứ lúc nào, những tác nhân nhiễm trùng có thể qua chỗ cửa để ngỏ ấy mà len lỏi vào trong óc. Nói một cách khác, bệnh nhân sẽ bị một hiểm nghèo có thể chết được: đó là bệnh sưng màng óc. Vậy phải cấp tốc đóng cái lỗ hổng giữa khoang trán và não thùy trán. Còn những điều khác có thể chờ được. Chỉ có một trở ngại, mà lại là trở ngại lớn lao nhất: dưới khía cạnh giải phẫu, cuộc mổ mà tôi vừa phác họa là một bước đi vào ẩn số và phiêu lưu. Đã từng nghiên cứu về bướu hơi, tôi được biết trong tất cả những trường hợp bướu hơi trên thế giới này không có một “ca” nào lại quan trọng phức tạp và cần phải mồ ngay như trường hợp của Reinhardt. Từ trước đến giờ chỉ có những “ca” rất giản dị vì bướu hơi ấy rất nhỏ. Tuy nhiên tôi vẫn dám làm bởi vì bệnh nhân, nếu không mổ, sẽ hoặc bị nhiễm trùng rồi chết, hoặc sẽ quỵ, có thể rất chóng, do sự tăng áp suất trong sọ.
Trong khi tôi đang đặt điều hơn lẽ thiệt thì cô thư ký báo cho tôi biết có ông Tổng giám đốc đến thăm. Dù ông Tổng đến sớm quá nhưng tôi vẫn nhận tiếp ông ta. Vả lại ông ta cũng xin lỗi vì đã đến quá sớm. Vì phải đi Paris bất thần bằng chuyến máy bay hồi mười một giờ, ông Tổng cần gặp tôi trước. Tôi báo ngay cho ông Tổng biết bây giờ vì có kết quả quang tuyến rồi nên tôi quyết định mổ Reinhardt ngay sáng mai.
– Thưa giáo sư, ngài mong đợi gì ở cuộc giải phẫu này? Tôi muốn nói là … theo ý giáo sư, bao giờ bộ óc của ông kỹ sư trưởng sẽ làm việc bình thường trở lại? Xin Giáo sư hiểu cho, điều này là điều chúng tôi quan tâm nhất.
– Làm sao tôi có thể trả lời câu hỏi của ông? Tôi cũng đã chẳng giải thích với quý ông là chúng ta chỉ có thể làm hạ bớt áp suất nguy hiểm đang đè nặng lên óc người bệnh, với mục đích để những tế bào của các mô không bị kích thích hay sao? Tôi cũng đã chẳng nói với ông đây là cơ hội may mắn độc nhất vì một ngày kia trí nhớ sẽ khôi phục lại để có thể tìm lại phương thức quý báu của các ông đấy chứ!
Cũng chỉ vì cái phương trình này mà ông đến đây có phải không?
– Một ngày kia … một ngày kia … ông Tổng nhắc đi nhắc lại giọng bực tức. Ai có thể bảo đảm với chúng tôi là một ngày kia sẽ không chậm mất rồi, không chậm quá mất rồi!
Tôi nhún vai mà không trả lời. Ông Tổng vẫn ngoan cố nói:
– Giáo sư thấy không, giáo sư không hiểu được nổi sự quan trọng của vấn đề này đối với chúng tôi. Số tiền đặt vào đó thật khổng lồ. Chiều qua, trước mặt mấy cộng sự viên của tôi, tôi chưa muốn nhấn mạnh vào những hậu quả của tai nạn bi đát này nhìn dưới con mắt một người giám đốc một hãng lớn. Đôi khi có nhiều
sự thật không nên nói, có phải không ạ. Hôm nay đây, chỉ có giáo sư và tôi, tôi có thể thú thật với ngài: nếu không tìm cho ra phương thức của hợp kim này trong khoảng thời gian ngắn nữa, chúng tôi sẽ vỡ nợ và phá sản … hay ít ra cũng ở bên bờ vực thẳm vỡ nợ, ông Tổng nói thêm ngay.
Thấy tôi vẫn im lặng, ông ta vẫn tiếp tục đọc diễn văn:
– Chúng tôi chỉ là thương gia, thưa giáo sư, nên mù tịt về địa hạt y khoa, nhưng tôi cũng xin biết ít ra có người mổ hay, có người mổ dở. Nên chúng tôi muốn xin đề nghị cùng giáo sư một điều. Nếu ngài cố gắng thành công trong một kỳ hạn ngắn, ví dụ trong sáu tuần nữa, móc bệnh nhân cho được phương thức này, bằng cách nào, để tự ngài tìm lấy, thì chúng tôi sẽ hậu tạ … ông ta ngừng nói như muốn gây ấn tượng cho tôi, chúng tôi xin sẽ hậu tạ nửa phần trăm trên số tiền bán sỉ của mỗi máy chế tạo theo nguyên tắc Reinhardt và sau khi bán được rồi. Chắc tưởng tôi phải bối rối lắm nên ông Tổng lại thao thao bất tuyệt ngay:
– Chắc ngài có vẻ không hiểu rõ nửa phần trăm là được bao nhiêu phải không ạ? Dạ xin thưa giáo sư; sơ sơ cũng độ ba mươi ngàn mã khắc (độ ba triệu quan), và như vậy trong nhiều năm liền. Tôi nghĩ rằng ngay cả đến vua cũng không có thể trả cho giáo sư một số bổng lộc cao hơn nữa.
Tôi vẫn không nói một lời nào. Ông Tổng hiểu sự im lặng này một cách tôi không thể ngờ tới. Ông cười ruồi rồi nói:
– Thật ngài khó hơn tôi tưởng. Vậy, thế này nhé, thế 0,75 phần trăm có được không? Ngài cũng phải công nhận cho, chúng tôi rất hậu hĩnh đấy. Nhưng, xin giáo sư cũng nên hiểu rõ cho: số tiền này chúng tôi xin tạ ngài để cho riêng cái phương thức thôi đấy ạ, chỉ riêng cái phương thức thôi. Còn về việc chữa bệnh nhân khỏi hay không, đó lại là việc khác đấy ạ. Không thể chịu nổi những điều vô liêm sỉ và bỉ ổi này, tôi đứng phắt dậy.
– Thật ông đã hoàn toàn nhầm tôi với hạng người nào rồi. Đây là một bệnh viện. Ở đây chúng tôi không nhận “còm măng”. Chúng tôi làm bất cứ điều gì có thể làm được để cứu bệnh nhân, đó là bồn phận và cũng là mục đích độc nhất của chúng tôi. Mỗi người trong chúng tôi làm sức mình, ngay cả trường hợp không có phần trăm hoa hồng nào.
Ông ta không hề nhíu mày trước vụ chối từ của tôi.
– Thôi vậy. Nếu giáo sư không muốn …
Tưởng câu chuyện kỳ quái này đến đây kết thúc nên tôi vẫn đứng nguyên. Nhưng ông khách lại cất tiếng hỏi tôi một điều nữa.
– Chúng tôi nghĩ rằng … Tóm lại, sáng mai giáo sư sẽ mổ sọ cho ông kỹ sư trưởng của hãng tôi …
Ông khách nhìn tôi như dò hỏi. Tôi gật đầu.
– … và giáo sư sẽ thấy những vết thương óc và sẽ quyết-định. Bấy giờ, nếu ngài thấy rằng, sau khi mổ sọ ra, óc đã bị hỏng không thể chữa được, nói trắng ra: rằng anh bạn khốn-khổ sẽ vĩnh viễn là một người tàn-tật về tâm-trí, thì trong trường-hợp này, ngài có thể vui lòng báo cho chúng tôi biết kịp thời không ạ?
– Tại sao vậy? Thật ra, tôi đã biết câu trả lời ra sao rồi, nhưng tôi muốn nghe chính miệng ông ấy nói. Lần đầu tiên kể từ đầu câu chuyện đến giờ, ông Tổng có vẻ ngượng-nghịu và bối rối.
– … Vâng … Ngài không biết sao … ngài nên nhớ Reinhardt vẫn còn được lãnh mấy ngàn mã-khắc nữa mà. Tiền do quỹ chúng tôi đài thọ …
– Nghĩa là ông muốn cho ông ấy thôi việc?
– Vâng … nghĩa là có thể thôi … chỉ khi nào mà …
Trong bệnh-viện, có một bệnh nhân gốc ở cùng tỉnh với mấy ông trong hãng này. Tình-cờ bà ta đã kể với tôi là, sáu tháng trước đây, Reinhardt đã chối từ một số tiền lớn mua chuộc bỏ hãng về làm cho một công ty Hoa Kỳ, viện lẽ ông muốn trung-thành với hãng. Vì thế tôi đã cất lời mai-mỉa:
– Ăn nghĩa trả nghĩa, có phải không, ông Tổng-giám-đốc nhỉ?
Tôi rất ngạc-nhiên khi thấy ông Tổng hiểu ngay những điều tôi muốn nói. Ông cũng chẳng tỏ vẻ bất-bình gì cả.
– Ôi dào ôi! Mấy ông bác-học khảo cứu thế đấy! – Ông vừa nói vừa nhấc bàn-tọa khỏi chiếc ghế bành. Ngài không bao giờ có thể chạy “áp-phe” được. Tuy vậy, dù cho thể nào chăng nữa chúng tôi vẫn tin-tưởng giáo-sư sẽ cho chúng tôi hay kịp thời …
– Chắc chắn là không.
Chúng tôi từ-giã nhau trong một bầu không-khí mát-lạnh nếu không muốn nói lạnh như tiền. Khi cánh cửa đóng lại sau bước ông Tổng tôi thở phào nhẹ nhõm. Thật vậy, tôi tưởng thôi thế là thoát nợ với mấy ông này rồi. Nhưng hy-vọng của tôi, hỡi ôi, sẽ bị định-mệnh cải-chính ngược lại.
Mất nửa giờ tôi mới có thể trút bỏ nỗi ngao-ngán này. Mãi đến lúc gần ngọ, trong phòng họp, khi tôi ghi trên tấm bảng đen, chương-trình làm việc ngày mai của tôi, tôi mới có thể chăm-chú hoàn-toàn vào cuộc giải-phẫu sắp tới. Tôi biết lắm, tôi biết cái tình trạng nội-tâm cứng rắn và mãnh-liệt đến xâm chiếm người y-sĩ giải-phẫu trước khi sắp lãnh một cuộc mổ quan-trọng nào. Trong đó lại có một yếu-tố cá-nhân hơn: viên kỹ-sư này, mà tôi không nói chuyện và tiếp-xúc từ trước đến giờ, đối với tôi hơn cả một người bệnh phải săn-sóc, – cũng bởi thái-độ không thể mô-tả và tưởng- tượng được của những đồng nghiệp ông ta.
Vì cuộc giải phẫu này quan trọng và phức tạp nên tôi quyết định toán giải phẫu sẽ gồm toàn những phần tử ưu tú. Người phụ tá thứ nhất sẽ là Bác sĩ Heinrich, lầm lì, chưa bao giờ mất bình tĩnh. Thí dụ nếu cần phải giữ dụng cụ để phanh vết mổ ra, thì thà chết chứ Bác sĩ Heinrich cũng không bao giờ chịu rời bỏ nó. Người thứ nhì là bạn đồng môn với tôi Bác sĩ G. Schintz, chúng tôi gọi là “Jojo”, một nhà giải phẫu có tài thiên phú mà tôi biết từ lâu. Anh có phản ứng rất nhạy và rất khéo cả tay lẫn về kỹ thuật. Tôi còn chọn một anh dáng người nhỏ nhắn tên là Youki; anh này khôn ngoan và khéo léo, láu cá như vượn.
Khi tôi ghi ba tên này lên bảng, ai nấy, từ y tá đến các sinh viên đều thì thầm to nhỏ. Dĩ nhiên, trong bệnh viện ai cũng biết chân giá trị và biệt tài của mỗi y sĩ. Vì thế lý do tại sao ba nhà “quán quân số dzách” này cũng có trong một toán ai ai cũng đều biết cả: cuộc giải phẫu định vào sáng mai bảy giờ sẽ “độc nhất vô song và vô cùng hấp dẫn”. Chiều hôm ấy, tôi lại đến thăm Reinhardt. Tình trạng tiến triển rõ rệt. Tôi có thể báo cho ông ta ý định tôi là sẽ giải phẫu ngày mai và chỉ tiêm thuốc tê thôi chứ không cần đánh thuốc mê. Ông ta giơ một tay lên tỏ ý hiểu những lời tôi nói và vui lòng chấp thuận. Vì là một cuộc giải phẫu rất nguy hiểm nên cần phải ngồi bất động trong mấy tiếng đồng hồ liền. Như vậy thật là một cuộc cực hình không thể chịu được cho bệnh nhân. Tôi kê những thứ thuốc, hẹn vào lúc gần sáng sẽ cho bệnh nhân uống. Thuốc sẽ ru Reinhardt vào một giấc ngủ hoàng hôn. Xong tôi trở về nhà.
Sáng hôm sau, mặt trời mọc trong một khoảng trời xanh không một đợt mây. Trong khi bước trên những con đường phố vắng, tôi nghĩ đến niềm hân hoan sẽ được mổ trong ánh sáng ban ngày. Thật vậy ánh sáng mặt trời có lợi hơn ánh sáng điện vì ưu điểm là không làm thay đổi màu sắc của những mô. Khi tôi bước vào phòng giải phẫu, thì gần bảy giờ sáng. Ai nấy đều sẵn sàng. Toán giải phẫu, mặc blouse đã khử trùng, đang chờ tôi trong phòng rửa tay. Tôi cho kê bàn mổ sát vào cửa sổ rộng. Cửa sổ này trông sang – thật là một sự tượng trưng thật khổ sở – nghĩa địa với những hàng thánh giá đặt đều đặn. May thay, mặt trời huy hoàng và màu xanh trong của khoảng trời làm dịu bớt vẻ tang tóc của quang cảnh.
Đúng 7 giờ, trong khi tôi còn bận rửa tay và mặc blouse, bệnh nhân được mang tới. Ông ta đang chìm trong một giấc ngủ hoàng hôn. Giấc ngủ này cũng không có hại gì cho sự hô hấp và tuần hoàn. Vì tôi đã đoán trước là cuộc giải phẫu sẽ kéo dài, nên chính tôi trông cho nhân viên đặt bệnh nhân lên bàn mổ; phải tránh làm sao cho bệnh nhân không được đau đớn vì thế ngồi bất tiện. Như vậy tránh cho bệnh nhân phải cử động. Nhưng tôi cũng không phải nhọc công nhiều vì lão Frantz, người y tá già, đã sửa soạn thật chu đáo. Những gối đệm gáy và đệm đầu gối để rất đúng chỗ; gối để tựa lưng và nhất là chỗ thắt lưng để rất đàng hoàng. Những miếng dây da để cột chân tay cũng thắt vừa đủ. Tôi cúi xuống hỏi bệnh nhân xem có thoải mái không. Reinhardt lầm bầm một câu “có” thật yếu ớt rồi lại thiếp đi ngay.
Khi tôi rạch đầu bên trái ở phía trước, trong vùng não thùy trán, để xem bướu hơi lớn, tôi để cho bệnh nhân nằm ngửa. Như vậy, người bệnh có thể thở dễ dàng hơn là nằm sấp; bởi trong những cuộc giải phẫu ở óc không thể tránh được thế nào cũng phải cho bệnh nhân nằm sấp.
Những cuộc sửa soạn cuối cùng đã xong, chúng tôi đứng quanh bàn mổ. Tôi đứng ở đầu bàn trên. Bên phải là “Jojo” và bà sơ Johanna đang lúi húi trên hai chiếc bàn có gắn bánh, đựng đầy dụng cụ mồ. Bên trái là Bác sĩ Heinrich và “Youki” đang ngồi lên chiếc ghế thấp. Thân hình nhỏ nhắn của Youki bị che lấp bởi những tấm “champ” trắng đã khử trùng trùm lên bệnh nhân và giải thòng xuống hai bên bàn. Youki giữ phận sự đánh thuốc mê, theo dõi nhịp thở, mạch đập và huyết áp, thông báo cho tôi thường xuyên, anh ấy cũng điều chỉnh lượng oxygène cho bệnh nhân. Tôi trải những tấm champs, định giới hạn tạm thời vùng mồ và gây tê cục bộ. Sau khi trải những tấm khăn tôi nhìn lại lần cuối những tấm hình chụp ngày hôm trước đang treo bên cửa sổ. Rồi trong khi hút dung dịch Novocaine vào ống tiêm tôi báo cho Reinhardt:
– Ông đừng ngại gì nhé. Ông sẽ thấy nhói đầu bởi tôi sẽ tiêm cho ông ba mũi thuốc tê lên da đầu. Nhẹ thôi.
Người bệnh trả lời tôi bằng mấy tiếng càu nhàu ngái ngủ. Vì màng óc và não vô giác nên tôi chỉ tiêm thuốc tê vào da đầu trong vùng mồ. Vùng này được giới hạn bởi một đường cong đi từ chân mũi đến đỉnh đầu rồi vòng xuống tận tai trái. Ở những góc cạnh vùng này tôi tiêm dung dịch làm tê để có thể dễ dàng làm tê nốt những nhánh dây thần kinh có nhiệm vụ kiểm soát vùng da đầu.
Ống kim tiêm đi một vòng quanh chu vi vùng giải phẫu. Từ từ, khi dung dịch novocaine len lỏi ngấm vào da đầu, trên sọ nổi những bướu phồng lớn, cùng một lúc da lột khỏi xương. Tôi cẩn thận tiêm vào những chùm dây thần kinh đi từ vực trên hốc mắt và xung quanh tai. Công việc thật vất vả nhưng không gặp một trở ngại nào cả. Mười phút sau, tôi đã làm xong; bệnh nhân vẫn nằm yên tĩnh. Ngoài ba mũi nhói khi tiêm thuốc tê anh không thấy đau gì cả. Tôi ngừng một chút để cho thuốc ngấm. Trong khi ấy Youki đặt cái mặt nạ dưỡng khí vào mặt bệnh nhân. Xong tôi cầm kẹp sắt bấm các khăn mổ với nhau để chúng khỏi rơi trong khi mổ.
Mười lăm phút sau, thuốc tê đã ngấm và vùng đầu phải mổ đã hoàn toàn vô giác. Lúc đó Youki cho dưỡng khí vào mặt nạ để bệnh nhân dễ thở hơn. Dưỡng khí dùng có hai mục đích: thứ nhất bệnh nhân bị ngộp thở dưới những tấm khăn phủ lên mặt, thứ hai bệnh nhân không phải thở thán khí và hơi nước đọng trong mặt nạ.
Giải phẫu bắt đầu. Sơ Johanna đưa cho tôi con dao mổ sáng loáng. Tôi ra hiệu cho Heinrich ấn tay vào những huyết mạch thái dương, và ở trên mắt trái. Tôi ấn mạnh đầu dao xuống đỉnh đầu, đi sâu vào xương rồi chạy xuống sống mũi. Chỉ cần một nhát dao tôi đã cắt được hết những chỗ thịt mềm. Heinrich và Jojo chận không cho máu chảy bằng cách kẹp những huyết mạch. Đường rạch mổ thứ hai cũng đi từ đỉnh đầu nhưng chạy xuống tai trái. Một lần nữa con dao mổ lại đi sâu tận xương. Các phụ tá của tôi lại kẹp những huyết mạch. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cẩn thận khâu sơ qua những đoạn huyết mạch chính để tránh không cho máu chảy và tràn ngập vùng giải phẫu. Hai bờ vết rạch cắm đầy kẹp sắt. Như vậy chúng tôi để vùng mổ mở rộng thành một hình tam giác mà cạnh đáy chạy ngang trán. Tôi lấy ở tay sơ Johanna dụng cụ dùng để tẽ da đầu khỏi xương sọ. Tôi kéo cả mảng da đầu xuống cạnh đáy hình tam giác vừa rồi, giữa sống mũi và tai trái. Công việc làm rất nhanh vì da đầu không chảy máu. Xong tôi phủ lên da đầu những gạc băng thấm nước (và lẽ dĩ nhiên đã khử trùng).
– Không có gì thay đổi cả. Mạch vẫn thế, áp huyết như cũ … nhịp thở vẫn đều. – Tiếng Youki dõng dạc nói.
Bây giờ, tôi thấy vùng xương sọ trắng hếu. Giai đoạn đầu tiên và cũng dễ nhất, đã chấm dứt. Bây giờ là lúc mở xương sọ từ trán đến đỉnh đầu ra. Công việc này thật khó nhọc và phải dùng sức lực nhiều. Lắm khi phần đông các nhà thủ thuật giao phó cho phụ tá làm, để dành sức và sự nhanh nhẹn của đôi bàn tay cho lúc mồ óc tế nhị hơn. Nhưng trong trường hợp này, tôi không muốn giao phó cho ai: bệnh nhân đã bị vỡ xương trán, nay lại mổ ra có thể gây nhiều biến chứng bất ngờ.
Trước khi bắt đầu giai đoạn thứ hai tôi nhìn lại một lần nữa mấy tấm phim chụp quang tuyến. Tôi vững dạ khi nhận thấy những xoang (sinus) của bệnh nhân, diện tích của những xoang này tùy thuộc và có thể thay đổi theo từng bệnh nhân một, tương đối khá nhỏ. Công việc sẽ dễ dàng hơn. Tôi có thể định rất chính xác chỗ nào có thể mồ trên xương sọ. Miếng xương phải rạch dài chừng 8 đến 10 phân.
Trước khi bắt đầu, tôi lại cẩn thận báo cho bệnh nhân biết trước. Vì khi khoan và đục xương sọ, bệnh nhân có thể giật mình vì sợ hãi bởi tiếng đục tiếng búa.
– Bây giờ tôi mổ xương nhé. Kêu to lắm đấy, nhưng ông không thấy đau đớn gì đâu.
Bệnh nhân lại ú ớ vài lời. Tôi cầm trước hết một cái “drille” (máy khoan) và khoanh tròn bảy lỗ nhỏ lên xương sọ. Xong tôi dùng một cái “fraise” (dùng để khoan loe miệng hình nón chạy bằng điện) để khoan những lỗ kia cho rộng ra độ một phân rồi đi sâu vào xương đến tận màng cứng của não.
Ngay lúc đầu, chúng tôi nhận thấy máu rỉ rất nhiều qua những lỗ này: điều hiển nhiên, vì áp suất quá cao trong óc đã gây trở ngại cho sự lưu thông của máu và làm cho máu bị ứ lại trong các tĩnh mạch. Heinrich vội lấp những lỗ này bằng sáp ong lỏng và đã khử trùng. Tuy vậy, mặc dầu chúng tôi đã đề phòng như thế mà bệnh nhân cũng đã tỏ vẻ khiếp đảm.
Reinhardt rên rỉ và tỏ vẻ lo lắng. Youki cất tiếng:
– Mạch xuống: 60 … áp huyết 11/8 … nhịp thở tốt. Tôi hơi lo: vì khi bệnh nhân lo lắng, áp suất trong sọ cũng tăng lên! Tôi tưởng đã dự liệu trước hết cả, thế mà tôi không ngờ bây giờ phải làm gấp rút vì thời gian không cho phép. Bây giờ phải tranh thủ từng phút một. Sau khi đã khoan xong, vấn đề tiếp theo là phải tìm cách mở xương sọ ra. Ngành giải phẫu tân tiến đã dự liệu nhiều phương pháp mới áp dụng “burin” (máy đục) và kìm đặc biệt. Tuy vậy, tôi quyết định dùng cưa dây, phát minh mới của GIGLI: phương pháp và kỹ thuật này thật đơn giản, tao nhã và có ưu điểm là nương nhẹ cực điểm những dây thần kinh não. Ta cho đưa qua lỗ xương một cái ống dò (sonde) dẹt bằng thép mềm và làm sao để giữa màng cứng não và xương. Ông dò này có một cái móc nhỏ. Ta đóng chặt cưa dây vào cái móc. Như vậy cưa cũng đi theo ống dò vào trong xương sọ. Lúc cưa phải cẩn thận để dây cưa nghiêng chéo góc như vậy về phía ngoài miếng xương nhỉnh hơn phía trong óc. Nếu không, miếng xương sẽ lọt vào trong khi ta đậy nắp xương vào chỗ cũ sau khi mổ. Như ta thấy, công việc này rất tế nhị, đấy là chưa kể phải tránh không gây một vết thương nào cho màng cứng não.
Heinrich giúp tôi đặt ống dò và đẩy nó vào dưới xương sọ. Khá nhanh, nhưng cũng chưa đủ nhanh, vì Youki lại dõng dạc báo cho chúng tôi biết:
– Mạch 48 … áp huyết 10/7 … nhịp thở không đều. Bệnh nhân khó thở …
Chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc. Những con số này thật nói lên hùng hồn và khiếp đảm: có nghĩa là áp suất trong óc lên rất cao đến độ nguy cấp. Câm nín, đôi môi mím chặt, chúng tôi lại cúi xuống vùng giải phẫu. Chúng tôi đang chạy đua với đồng hồ, một cuộc chạy đua mà giải thưởng là mạng sống của bệnh nhân. Không ai nói với ai một lời. Các nữ y tá chỉ dám thở thật khẽ. Người ta chỉ nghe trong căn phòng lớn tiếng cưa xương. Mặc dầu chúng tôi đã vội vã một cách tuyệt vọng, chúng tôi đã mất gần hai mươi phút trước khi cưa xong nhát cuối. Trước khi lôi miếng xương ra, tôi bảo Heinrich cầm lấy chiếc “nắp xương” này, bởi lúc cưa xương xong nó có thể rách trước, một phần giây sớm hơn, và có thể sẽ rơi xuống đất. Vì, sau khi mổ chúng tôi lại phải để vào chỗ cũ, nên không được làm nhơ nhớp miếng xương. Sau khi đã đưa nhát cưa cuối cùng, đây là lúc mọi người hằng mong đợi. Miếng xương vừa cắt sẽ được tách khỏi màng cứng não. Giây phút nguy kịch nhất, bởi sự kích thích và thay đổi bất ngờ của áp suất trong sọ có thể gây một trạng thái kích ngất cực kỳ nguy hiểm.
Youki lại cất tiếng dõng dạc:
– Mạch lại xuống thấp nữa: 44 … áp suất xuống … nhịp thở không đều.
Cần phải ra tay ngay. Tôi để một “burin” dưới “nắp xương” và quay cổ tay để làm đòn bẩy khẽ đẩy nó ra ngoài. Tay trái tôi nắm lấy nó. Heinrich đem bọc nó bằng miếng băng ướt rồi đưa cho y tá. Trước mắt chúng tôi, là màng cứng não óng ánh xanh. Ngoài màu xanh đặc biệt, không làm thế nào để nhận được ra nó. Những huyết mạch, bình thường rất nhỏ, ẩn sâu giữa màng, bây giờ chỉ mờ; có lẽ vì áp suất quá lớn nên chúng bị chèn ép. Cũng không nhận thấy màng óc rung động do nhịp thở và nhịp tim đập. Sờ vào thấy thật cứng và căng. Cầm một con dao mổ, tôi khẽ rạch một đường nhỏ ở đỉnh óc. Tức thời Sơ Johanna đưa ngay cho tôi đôi kéo đặc biệt có mấu. Tôi mở màng cứng não qua lỗ hở vừa rạch chỉ để lại một cạnh đáy ở đàng trước và ở dưới sọ. Sau mỗi nhát kéo, khối não thùy trán càng phồng to lên, như một chiếc ruột bánh xe lồi qua vết rách của vỏ. Chẳng bao lâu, nó có hình dáng một quả bóng màu trắng lợt, chỉ cần ấn mạnh cũng đủ để đẩy nó ra khỏi sọ. Bướu hơi nầy đã thấy trong hình chụp quang tuyến phải đè nặng bằng sức ép của nó lên óc bệnh nhân. Nhờ mở đỉnh sọ, nên áp suất trong não cũng đã bắt đầu giảm đi. Giọng sang sảng của Yuki biểu-hiện cho sự giảm sụp sức ép này bằng những con số đích xác:
– Mạch tăng dần … nhảy 50 … áp huyết 10/7 … nhịp thở hơn trước … vào đúng lúc bệnh nhân rên rỉ. Reinhardt vừa tỉnh dậy. Hiển nhiên, ông đã bị ngất đi trong suốt thời kỳ áp suất trong óc tăng lên. Như bị thôi miên, chúng tôi ngắm não thùy trán bị đẩy ra ngoài. Khối óc không giống như mọi khi. Những rãnh lớn của những khúc cuộn não đã hoàn toàn biến mất, như bị là ủi thẳng đi. Ta không còn nhận được ra những động mạch nhỏ màu đỏ và những tĩnh mạch óng ánh xanh. Sự biến đổi chỉ thể hiện nơi bướu hơi với vùng đáy là mảng sáng của lớp dịch não tủy. Nó đã không nổ một khi được giải thoát khỏi màng cứng não bao bọc, thật cũng là một phép lạ. Tôi thận trọng nắn: nó vừa căng vừa mềm và dẻo, như một quả bóng cao su.
Bây giờ phải mở quả bóng này ra. Thường thường khi rạch mặt ngoài não sẽ bị chảy máu rất nhiều. Nhưng trong trường hợp này tôi có cảm tưởng là sự nguy hiểm không còn đáng sợ nữa. Nên không cần phải thận trọng cho lắm. Tôi mở bướu hơi bằng dao mổ điện. Đè lưỡi dao giữa bán cầu não trái tôi rạch một đường dài độ năm sáu phân. Tức thì cả não-thùy trán xẹp hẳn sau một tiếng xì nhẹ. Kinh-ngạc gần như kinh hoảng chúng tôi nhận thấy trong vùng này bề dầy của não-thùy xẹp đi mất hai li! Áp suất của bướu hơi phải kinh khủng lắm mới có thể đè bẹp não như vậy. Thế mà người bệnh khốn khổ này đã phải tiếp tục sống trong tình trạng ấy!
Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ thật lố bịch khi cầu mong tìm một phương thức trong một khối óc bị tàn phá như thế này. Chỉ cần nhìn não thùy tôi cũng đã thấy thật tìm kiếm vô vọng. Cô y tá đưa cho tôi một cái bay (spatule). Tôi cẩn thận thọc thẳng vào trong chỗ hồng. Hai anh phụ tá để những cái móc lớn ở bên trái và bên phải rồi cả ba chúng tôi kéo khối óc này ra, hầu gỡ gáy bướu hơi. Không cần đợi lệnh, cô y tá đã buộc một cái đèn vào trán tôi. Trong chùm ánh sáng, khoảng rỗng tròn và lớn này hiện ra với thành trong nhẫn thín và lóng lánh màu ngà trắng. Tuốt tận sâu trong đáy ta thấy một dải nước trong vắt tạo bởi thác dịch não tủy. Giọng Youki lại sang sảng:
Rồi bỗng nhiên bệnh nhân cất tiếng nói, chậm chạp nhưng rõ ràng:
– Thưa giáo sư, tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm, không thấy khối nước này đè nặng nữa.
Tôi ngẩn người ra. Phải gần 20 giây tôi mới có thể hiểu được rằng, một khi áp suất cao trong óc giảm đi hẳn, thì bệnh nhân cũng thoát khỏi trạng thái vô giác vô tri kia. Và có thể.
Thế nghĩa là hiểm nghèo trầm trọng nhất đã qua. Tôi cúi xuống nói vào tai Reinhardt:
– Ông thấy sao?
– Khỏe lắm, Tôi không nhức đầu nữa.
Tôi đưa ngón tay sờ vào vài nơi trong khoảng rỗng của não.
– Ông có thấy đau không?
– Không. Ngoài bắp vế ra tôi chẳng đau ở đâu cả; dây da buộc chân chặt quá.
Một cơ hội phi thường: tôi đang nói chuyện với một người và đồng thời đang nhìn tận trong óc người ấy. Tôi không thể nào vượt nổi một nỗi lo sợ gần như đượm mê tín và dị đoan. Phải chăng tôi vừa bước chân đi sâu vào một phạm vi đã bị cấm đoán đấy ư? Phải chăng tôi vừa lọt được vào cơ nguyên huyền bí của Ý Tưởng mà guồng máy phải thoát khỏi sự tò mò của người bác học?
May mà tôi định thần lại ngay. Bây giờ thật không phải lúc để tôi suy nghĩ. Trước hết, tôi cần phải kiểm soát lại án chẩn: Bướu hơi thật ra có 2 lỗ thông không? Tôi lại cúi đầu xuống thấp hơn nữa, trong khi Heinrich kéo khối não hầu có thể nhìn rõ phần trước của đáy khoảng rỗng. Thật đúng như tôi nghĩ: có một cái lỗ đường kính độ 3 hay 4 ly. Chắc chắn sự giao thông với xoang trán được tạo trực tiếp bởi tai nạn, hay nói cho chính xác hơn, do sự sụp đổ của thành hậu của xoang và cũng do màng nhầy của nó bị rách. Nhiệm vụ chính yếu của tôi là đậy cái lỗ hồng với những đường viền như bị viêm.
Còn phải xem có lỗ thông thứ hai giữa bướu hơi và sừng hẹp của não thất thứ tư không? Chúng tôi xoay nhẹ đầu bệnh nhân. Tôi cũng đổi vị trí để rọi chùm sáng tỏa từ ngọn đèn buộc trên trán xuống thành hậu của khoảng rỗng. Heinrich kéo thật nhẹ một chiếc móc. Tức thì, quả nhiên, tôi thấy ngay lỗ thông thứ hai. Nước đang chảy từng dòng xuống đáy quả trứng vịt không. Một cảnh tượng phi thường … có lẽ một trường hợp đầu tiên được quan sát: một cái thác nối từ hệ thống não thất với não thùy trán. Ta có thể khép lỗ hổng này bằng vài mũi khâu trong mô não. Ý kiến này thật quyến rũ. Nhưng ở phía kia đằng nào dịch não tủy trong não thật này cũng nối liền với hệ thống dịch toàn diện của não. Nên tôi có thể để mặc lỗ này yên vị bởi tình trạng thủy lực thật ra cũng không bị ảnh hưởng gì. Điều cần chú trọng tới nhiều nhất là lỗ thông ở phía đằng trước, hiện đang để nước thoát ra ngoài. Tôi suýt giật mình khi nghe bệnh nhân cất tiếng hỏi tôi giọng rõ ràng và bình thản:
– Thưa giáo sư, trong óc tôi có gì lạ không?
– Để tí nữa tôi sẽ nói ông hay, ông Reinhardt ạ. Bây giờ xin ông cứ để tôi làm việc đã nhé.
Reinhardt im lặng nghe lời tôi. Muốn hành động dễ dàng trên lỗ thông mở vào xoang trán tôi phải đẩy não thùy trán trái lên, hầu thấy rõ chỗ bị sụp của thành hậu bướu hơi. Tay cầm những chiếc bay rộng và thật đẹp tôi tẽ não thùy khỏi màng cứng não và xương. Chẳng mấy lúc, tôi có thể nâng não thùy dễ dàng để thấy rõ ràng lỗ hổng. Từ trước đến giờ, mọi việc đều diễn tiến như dự liệu sau khi nghiên cứu những hình chụp quang tuyến. Tôi biết rõ những công việc tôi phải làm và sẽ đi đến kết quả nào. Tôi chẻ màng cứng não và dùng phần trong. Đem cắt một miếng nhỏ và mỏng để lắp vào lỗ hồng này. Tôi làm thật nhanh chóng. Tôi bẻ miếng màng cứng óc lên nóc cong của hốc mắt trái và khâu vài mũi thật nhỏ. Như thế, sự giao thông giữa não và không khí bị ngừng trệ như mong muốn. Tuy vậy, khi ngắm tác phẩm của tôi, tôi bỗng tư lự: miếng màng mỏng này có đủ để lấp kín lỗ không? Hiển nhiên bắt buộc phải củng cố thêm. Nhưng bằng cách nào?
May mắn thay, chúng tôi, trong bệnh viện này, thuộc một trường phái luôn luôn quan tâm đến khoa giải phẫu thẩm mỹ. Mỗi người trong chúng tôi đều nắm chắc kỹ thuật miếng ghép tự do (greffon libre) những mô xương, mô liên kết và mỡ. Tất nhiên tôi có ý kiến cắt một miếng mỡ ở đùi trái bệnh nhân rồi đem giải tấm thảm dầy này lên thành hậu của xoang và của nóc cong hốc mắt.
Một lần nữa tôi báo Reinhardt.
– Ông đừng ngạc nhiên khi thấy chúng tôi chăm lo bên đùi trái của ông. Chúng tôi sẽ cắt một miếng mô mỡ dùng để lấp một lỗ hổng nhé.
Reinhardt không ngạc nhiên chút nào. Ông chỉ hỏi tôi:
– Còn lâu không giáo sư?
– Chóng lắm. Ông sắp trở về giường nằm rồi.
Tôi phủ tạm thời một tấm vải đã khử trùng lên vùng mổ và giao Jojo “trấn giữ”. Tôi tiêm dưới da đùi dung dịch thuốc tê rồi cắt một miếng mỡ độ sáu phân vuông. Để Heinrich khâu vết mổ lại, tôi chuyển miếng ghép (greffon) đem vào óc trải lên lỗ hồng nguy hiểm này khâu vài mũi chỉ tơ. Bây giờ, chúng tôi có thể để nhẹ não thùy trán vào chỗ cũ, nằm êm ả trong chiếc “đệm” mỡ. Mục đích chính yếu của cuộc giải phẫu đã đạt được, tôi chỉ còn khâu lại màng cứng của óc. Còn lỗ hổng thứ hai trong óc, tôi cứ để vậy.
Sau khi đã khâu màng cứng não lại, chúng tôi đặt lại “nắp xương” vào chỗ cũ, kéo da đầu lên xương sọ vừa đưa và khâu cẩn thận vết rạch mổ lại. Tôi thận trọng không để một vũng máu chảy nào. Mổ tất cả mất chưa đầy một giờ rưỡi. Sau khi băng lại, tôi giảng cho bệnh nhân phải, bằng bất cứ giá nào, hết sức tránh cử
động. Bệnh nhân được chở về phòng. Chúng tôi ra ngoài hành lang rít một điếu thuốc. Tâm trí căng
thằng trong chín mươi phút này, với những lúc lo sợ và hy vọng nối tiếp, với những mối giao động càng linh hoạt khi chúng tôi càng phiêu lưu trong một thế giới chưa thám hiểm và với sự cố gắng tập trung tư tưởng trong khoảng thời gian dài này. Phải, tâm trí căng thẳng này chúng tôi đã hoàn toàn sống với nó và đã bị nó hành hạ. Heinrich dập điếu thuốc để gẫy tàn rồi phá tan bầu không khí im lặng.
– Theo ý anh một bộ óc bị tổn thương nặng nề như vậy có thể phục hồi lại những chức năng của nó không? Nó có thể làm việc như hồi xưa trước khi xảy ra tai nạn không? Anh vừa kêu lớn câu hỏi mà tôi vừa tự đặt trong tâm tưởng.
Tôi nhún vai.
– Thật tình nói với anh, tôi cũng không biết nữa. Tuy thế tôi vẫn lạc quan; vả lại cũng nên biết não thùy trán chỉ chịu tác động đè ép của quả trứng vịt to lớn này. Phải chờ đợi – ngay giờ ta không thể quyết đoán được. Khả năng tái tạo của thiên nhiên thật kỳ diệu … trời sinh trời dưỡng … nhiều khi có phép lạ. Và phép lạ có thật! Chứng nhức đầu biến mất, nước mũi thôi không chảy nữa, những nhiễu loạn của ngôn ngữ giảm dần. Chụp hình quang tuyến ba ngày sau cuộc giải phẫu, chúng tôi thấy bướu hơi đã xẹp đi hẳn.
Chỉ có trí nhớ là từ chối không trở về. Tuy vậy ở điểm này, chúng tôi ghi nhận mấy tuần sau một sự tiến triển khởi đầu. Dần dần, như khoảng trời xanh hiện rõ từ từ qua tấm thảm dày đặc mây đen đang bị xé rách lần lần quá khứ đó từng khúc đời. Tôi thật đã mãn nguyện.
Tôi có cảm tưởng như dự kiến một sự phục hưng của trí tuệ mà chính tôi là người có công kiến tạo. Mỗi lần công việc cho phép, tôi thường đến thăm và nói chuyện với Reinhardt. Buổi đàm đạo thật hứng thú vì Reinhardt thật có thiện cảm. Rất thông minh và óc quan sát tuyệt hảo, Reinhardt lại có tính khôi hài trầm lặng tinh tế và đúng lúc. Những nhận xét của anh về mấy anh phụ tá, nữ y tá và y công làm tôi thật tình mến anh. Mặc dù Reinhardt đã bình phục trông thấy, tôi vẫn chưa cho ngồi và dĩ nhiên chưa cho phép đứng dậy được. Tấm bảng “Triệt để cấm thăm bệnh” vẫn còn treo ở cửa phòng. Bởi mọi việc đều xảy ra tốt đẹp như vậy, tôi không muốn, dù phải trả một giá nào liều lĩnh vô ích.
Nhưng, một ngày kia, vào khoảng gần ngọ, chuông điện thoại reo trên bàn giấy tôi. Tôi nhận ra giọng nói của người y công trông coi khu đàn ông, một gã trẻ mới đến làm ở bệnh viện gần ba tháng nay. Gã lắp bắp vì cảm động.
– Thưa giáo sư … ông kỹ sư … ông thầy biết rõ lắm, người bệnh phòng 17 … ông ta vừa ngất xỉu … Mời giáo sư đến ngay cho!
Tôi vội đặt dây nói và chạy ra ngoài hành lang. Tôi thấy Reinhardt nằm dài trên giường, tái mét, thở hổn hển; mạch rất yếu nhảy hơn 200 nhịp một phút. Anh bị ngất đi. Tuần hoàn bị rối động. Người bệnh đang có vẻ bước vào trạng thái hôn mê. Dưới đất, cạnh chiếc ghế, tôi nhận thấy một vũng máu. Vũng máu này
nhỏ không thể nói là nặng lắm; sự có mặt của nó tuy nhiên đã chứng tỏ rằng bệnh nhân vừa lại bị một chấn động mạnh. Thật là một thảm họa. Phụ giúp bởi Heinrich và Jojo, cũng vừa được thông báo và ngừng ngay việc để chạy lại tiếp cứu, tôi bắt đầu làm công việc cứu cấp, – tiêm vào tĩnh mạch một dung dịch đường, thuốc trợ tim và cho thở dưỡng khí. Nhưng nhịp thở lại càng hỗn loạn như dể vỡ. Mặt vẫn còn tím ngắt. Chẳng bao lâu, chúng tôi phải áp dụng đến phép hô hấp nhân tạo. Hai mươi phút sau, đến lượt tim ngừng
đập. Cầm một ống tiêm có kim thật dài, tôi chọc vào phía tim trái và tiêm thận trọng một dung dịch Adrenaline. Vẫn vô vọng: tim vẫn ngừng đập, phổi vẫn không thở nữa. Dù cho chúng tôi cố gắng thế nào đi chăng nữa, người bệnh đã chết trong cánh tay chúng tôi. Đôi mắt mở lớn, đã lờ đờ mất thần, hình như nhìn thẳng chăm chú lên trần nhà. Trên những mặt biến dạng bởi đau đớn ghi hằn, nay đã dần dần trải lên vẻ bình thản bất động xa cách của sự chết. Bất lực không thể hồi sinh lại cuộc sống vừa mới ra đi, chúng tôi chỉ
cúi đầu để che giấu nỗi cảm xúc. Chưa bao giờ một cái chết lại làm tôi không nhận ra tôi và làm tôi bàng hoàng, như cái chết của Reinhardt. Tôi chưa biết việc gì đã xảy ra nhưng muốn tìm cho ra lẽ. Một cô y tá chạy ngay tìm người y công lúc nãy đã gọi điện thoại cứu cấp cho tôi. Gã lưỡng lự, bước vào phòng mặt mày tái mét vì lo sợ.
Tôi lên giọng hỏi:
– Ai vừa vào phòng này?
– Dạ, thưa một ông ở hãng … cháu không biết tên ông ta …ông ta nói ông là bạn thân của ông kỹ-sư đây, ông muốn vào thăm năm phút …
– Trong khi tôi triệt để cấm không cho ai vào thăm cả! Ai cho ông ấy vào?
– Dạ thưa cháu ạ.
– Tại sao anh lại làm như vậy?
Gã cúi đầu không trả lời.
Tôi hét lớn:
– Tại sao? Tôi muốn biết tại sao? Gã vẫn câm như hến, cố tránh cái nhìn của tôi như một cậu học-sinh bị ông giáo bắt quả tang đang làm lỗi.
– Anh có ở trong phòng không?
– Dạ không. Nhưng khi cháu thấy lâu quá nên cháu hé cửa …
– Thế anh thấy gì?
– Dạ thưa cháu thấy ông kỹ sư đứng dậy ngồi vào bàn. Ông viết vào một tờ giấy – dạ nhiều chữ số lắm, toàn là số cả … Cháu muốn dìu ông ấy vào giường nằm nhưng ông khách đã cản cháu và nói: “Chờ một chút xíu, chúng tôi sắp xong rồi.”
– Thế anh làm gì nữa?
– Dạ, cháu đi ra hành-lang và cháu đợi các ông ấy xong. Sau vài phút, ông khách đi ra Mặt ông ấy hớn-hở lắm. Ông ấy cười. Cháu nhìn thấy ông ấy gấp tờ giấy làm tư rồi cất vào túi. Rồi ông ấy vừa đi vừa chạy …
Tôi nắm chặt mấy ngón tay. Cái phương-thức! Bọn họ đã cưỡng-ức một người, không đủ sức tự-vệ, một người, như một phép lạ đã đi từ thế-giới bên kia trở về. Họ đã cố tình móc cho được cái phương-thức. Run người vì tức giận tôi nói lớn:
– Này anh, họ cho anh bao nhiêu tiền?
Gã quay mặt đi. Khuôn mặt gã trở nên lầm lì khiến tôi càng tức giận thêm.
Tôi nắm lấy hai vai gã và lắc mạnh.
– Đồ súc sinh! Mày có trả lời tao không! Bao nhiêu?
Bỗng nhiên hắn bủn rủn cả chân tay.
– Dạ 50 Mã khắc. Hắn nói rất nhỏ và bật khóc.
– Thế sau khi ông kia đi rồi thì sao?
– Thưa cháu thấy trong phòng một tiếng động … như một vật gì đổ, gã ấp úng vừa nói vừa gạt nước mắt. Cháu chạy lại, cháu mở cánh cửa … Ông ấy ngã ngửa ra đằng sau, đầu đụng vào chiếc ghế.
Cháu kêu cứu: bớ người ta! Rồi cháu đặt ông kỹ sư lên giường …rồi cháu chạy đi gọi điện thoại cho ông thầy … Dạ thưa có thế …
Tôi có thể bóp cổ gã mà không thấy chùn tay. Thật chúng tôi đã làm những điều không thể làm được, chúng tôi đã cố gắng từ đầu để cứu người bệnh khốn khổ này, rồi mọi việc trôi chảy như xếp, rồi ngay cả miếng di thực trong não đã dính liền, rồi không một trở ngại cả … để rồi bao nhiêu cố gắng ấy đi đến cái chết vô lý này! Tôi nhìn lơ đãng qua cửa sổ, một mảnh trời tràn ngập nắng, bất chợt tôi giật mình. Người y công nắm chặt lấy tay tôi, năn nỉ van xin:
– Cháu cắn rơm cắn cỏ lạy ông thầy. Ông thầy tha lỗi cho cháu! Ông đừng đẩy cháu vào tuyệt vọng … cháu có vợ dại con thơ … Lâu nay cháu bị thất nghiệp.
Tôi nhìn gã, nghĩ ngợi rất nhiều. Dĩ nhiên là gã có tội, – Nhưng một tòa án dù khắc nghiệt đến đâu cũng cho hắn trường hợp giảm khinh. Nhưng có tội nhiều nhất, trong tấn thảm kịch này, là những người đã thuyết phục và dụ hắn quên bổn phận. Những người này chỉ còn nhìn thấy ở người kỹ sư trưởng của họ một chức vụ kỹ thuật mà quên hẳn chức vụ thiêng liêng của con người có cái tên Reinhardt.
Ba ngày sau, trong chồng thư, tôi thấy một thiệp báo tang, một tờ giấy Bristol dầy viền đen:
Ban Quản trị, Ban Giám đốc và toàn thể nhân viên trong hang X thương tiếc báo tin cùng quý vị: Ông JOHAN-CHRISTOPHER REINHARDT Cử nhân Khoa học, tốt nghiệp Viện Kỹ Thuật Học, đã từ trần sau một tai nạn nặng nề. Ở con người đầy uy tín này đã bị tàn nhẫn lôi khỏi những hoạt động của hãng, cả một cuộc đời tận tụy cho tiến bộ. Hãng chúng tôi đã mất một người cộng sự viên không thể nào thay thế được và đã phụng sự cho đến hơi thở cuối cùng.
Ông Ủy viên trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam gấp cái hồ sơ cuối cùng lại. Trời đã gần sáng. Ông gỡ cặp kính ra, rút khăn lau mặt. Người cán bộ bảo vệ vẫn ngồi ngoài cửa.
– Đồng chí bảo vệ!
Người cán bộ bảo vệ bước vào.
– Thưa đồng chí, tôi chờ chỉ thị.
Ông Ủy viên vươn vai;
– Tôi cần gặp đồng chí Giám thị.
– Rõ.
– Và cốc cà-phê
– Rõ.
Ông Giám thị đã tới. Sau đó là cán bộ cần vụ bưng cà-phê. Uống hết ly cà-phê, ông Ủy viên tỉnh táo.
– Đồng chí giám thị, đồng chí công tác trại giam bao lâu rồi?
– Thưa đồng chí Ủy viên, gần ba mươi năm.
– Tôi có thể biết khái quát quá trình hoạt động của đồng chí không?
– Thưa, được ạ!
– Ta vào ngay đi.
– Sơ khởi, tôi là quản giáo rồi lên trực trại. Tôi đã công tác ở trại Lý Bá Sơn, trại Sơn La, trại Lào Kay. Tôi được điều về đây ngót sáu năm, từ Phó giám thị và hôm nay Giám thị.
– Sự nghiệp cách mạng của đồng chí chỉ quanh quẩn ở các trại giam?
– Vâng.
– Trong gần ba mươi năm công tác, đồng chí đã gặp ca nào giống ca này chưa?
– Tôi chưa hề gặp.
– Trước năm 1975, có ca nào nặng tính chất chống phá trại giam không?
– Thưa không .
– Từ năm 1975 tới nay có ca nào chống lao động không?
– Không.
– Tinh thần bọn sĩ quan ngụy từ ngày ở Nam Hà B ra sao?
– Tích cực lao động cải tạo.
– Bao nhiêu ca biệt giam?
– Bốn mươi.
– Lý do?
– Hát nhạc vàng và liên hệ mua bán đổi chác với dân.
– Đồng chí quả quyết chưa phát hiện ca nào chống đối chính trị cả chứ?
– Vâng.
– Tin tức hôm qua lọt sang Nam Hà A chưa?
– Tôi chưa nắm vững.
– Tôi nắm rồi. Nam Hà A chưa biết gì cả. Bọn tướng lãnh, nghị sĩ không đáng quan tâm. Bọn sĩ quan cấp trung tá mới cần đề phòng. Phân loại chúng nó ra. Bọn sĩ quan chiến đấu quan trọng hơn bọn sĩ quan văn phòng. Nhảy dù, lính thủy đánh bộ, biệt kích nguy hiểm nhất. Đồng chí học tập kinh nghiệm đấy.
– Vâng.
– Cho chúng nó nghỉ lao động một tuần. Bơm cho chúng nó ít hơi hy vọng. Nói nửa kín nửa hở để chúng nó tưởng Mỹ sẽ chuộc chúng nó, đưa chúng nó sang Mỹ với gia đình chúng nó. Như thế, khí thế của chúng nó xẹp xuống, ta đủ thì giờ đối phó.
– Vâng.
– Cho nghỉ lao động, chúng hết dịp gặp dân và ta bảo mật vụ sách động hôm qua.
– Vâng.
– Chuyển công tác mấy đồng chí trực trại đi nơi khác.
– Vâng.
– Riêng hai mươi tám thằng mới đến, đối xử với chúng bình thường.
– Vâng.
– Tại sao đồng chí ra lệnh nhốt ba thằng?
– Tôi muốn dằn mặt chúng.
– Tại sao không cô lập chúng trước? Tại sao để chúng tự do tuyên truyền sách động? Tại sao không rút kinh nghiệm các nhà giam phía Nam? Đồng chí cần kiểm điểm.
– Vâng.
– Bằng mọi giá, mọi cách, bịt lấp tin tức vụ này.
-Vâng.
– Riêng hai mươi tám thằng phản động, cứ mặc xác chúng nó liên hệ với bọn cũ, chờ chỉ thị trung ương. Đồng chí đừng để bọn sĩ quan có đà tiến tới tranh đấu cho lũ nhóc.
– Vâng.
– Đồng chí có nhận ra sự sai lầm của đồng chí Cao Minh Chiếm không?
– Thưa không ạ!
– Thay vì tách ra, đồng chí ấy lại tụ chúng thành sức mạnh.
– Đồng chí thật sáng suốt.
– Tôi về Hà Nội bây giờ. Sẽ có chỉ thị sau. Nhớ cho chúng ăn cơm trắng suốt tuần với thịt lợn, tiêu chuẩn mỗi ngày một lạng cho một đứa…. Đồng chí cần hỏi gì thêm không?
– Thưa không .
– Đừng quên các cửa nhà chỉ mở khoá hai tiếng một ngày.
– Còn tắm giặt?
– Vệ binh dắt chúng ra suối, từng đội, hai ngày một lần. Năm mươi vệ binh coi chừng một đội đi tắm.
– Còn thăm gặp?
– Cho nhận quà, không cho gặp thân nhân.
Ông Ủy viên về Hà Nội. Ngay buổi sáng, cán bộ giáo dục tới từng phòng gọi vài người lên Ban Giám Thị làm việc. Giám thị đã cho những trại viên già thuộc sĩ quan văn phòng, những người an phận và cả tin mà y biết chắc là đã ùa vào đám đông chứ không dám đơn lẻ chống đối. Vậy thì năm mươi đại biểu của ba mươi đội được Giám thị mời ngồi ở hội trường, được uống nước trả Thái Nguyên, được hút thuốc Sông Cầu và được nghe Giám thị nói chuyện thân mật:
– Tôi rất tiếc vụ hôm qua. Cán bộ trực trại có khuyết điểm lớn. Nhưng đó là hiện tượng, không phải là bản chất. Tuy nhiên tôi đã ra lệnh điều mấy cán bộ trực trại công tác nơi khác để tránh mọi điều đáng tiếc nặng tính chất cá nhân. Tôi cũng đã ra lệnh cho các anh được nghỉ ngơi một tuần vì kết quả lao động sáu tháng cuối năm rất tốt. Do đó, vinh quang của lao động là một tuần liền, trại phấn đấu để các anh ăn cơm với thịt, tiêu chuẩn hơn cả cán bộ. Sự bồi dưỡng nằm trong chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước. Các anh cứ tin tưởng vào đường lối trước sau như một của Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh mà học tập tiến bộ để về sum họp gia đình. Gần đây, bọn đế quốc Mỹ đầu sỏ lại vừa tung tin chúng sẽ đổi đô-la lấy các anh đem về Mỹ với gia đình các anh luôn. Làm gì có chuyện đó, toàn tin tuyên truyền nhảm nhí! Giả thử Mỹ muốn đổi tiền lấy các anh, Đảng không bằng lòng thì sao?
Năm mươi trại viên nôn nao quá, không muốn nghe Giám thị rông dài nữa, chỉ muốn về ngay báo tin mừng cho các anh em khác. Nhưng Giám thị thích rông dài:
– Nó tưởng 2500 đô-la của nó mua được một người Việt Nam à? Chế độ ta quý trọng con người vô cùng, do đó, con người vô giá, con người là tài sản của tổ quốc. Nó gây sức ép cách mấy, ta vẫn từ chối.
Giám thị bỏ rơi chuyện Mỹ mua người.
– Việc đáng tiếc hôm qua, khuyết điểm về phía chúng tôi, chúng tôi đã tiếp thu và đã tỏ ra thái độ tích cực. Bốn cán bộ trực trại bị điều đi công tác nơi khác, chúng tôi không trả thù các anh. Về phía các anh, các anh cũng có khuyết điểm và phải nhận khuyết điểm để tiến bộ. Các anh toa rập với những người vừa nhập trại, chống lao động, hát nhạc chỉnh huấn, muốn gây bạo loạn. Trung ương không kịp can thịệp thì quân đội đã đàn áp các anh. Các anh chết, ai thương các anh ngoài vợ con cách anh? Nếu Mỹ nó đưa danh sách trao đổi các anh, chúng tôi gạch tên các anh đi, bảo các anh chết bệnh rồi thì nó làm gì, dám làm gì? Các anh nên tỏ thiện chí. Cán bộ sẽ phát giấy để các anh tự kiểm điểm vụ hôm qua. Có anh nào phản đối không?
Không ai phản đối. Năm mươi người uống trà, hút thuốc phì phèo. Họ về phòng, mang nguồn hy vọng cho toàn trại. Giám thị ra lệnh cho vệ binh canh gác cẩn mật ngoài hàng rào, bên trong bỏ ngỏ tự do, tù nhân tha hồ luận bàn tin Mỹ chuộc sĩ quan cải tạo giá 2500 đô-la một người.
Tự nhiên, hai mươi tám thần tượng sáng qua bị quên lãng. Trước hết, họ là tù nhân tư tưởng, họ là phản động, không hề là sĩ quan trình diện học tập. Giám thị không xếp họ vào thành phần những người được Mỹ chuộc tiền đưa sang Mỹ. Giám thị ngu nhưng Ủy viên khôn. Các sĩ quan xôn xao suy diễn tin “làm gì có chuyện đó” của Giám thị. Có vẻ ăn khớp với tình hình quá. Giám thị đuổi trực trại đi chỗ khác, bồi dưỡng cải tạo viên cả tuần. Cộng sản nói không là có, có là không. Nó đã nói không , chắc chắn sẽ có.
Lương Việt Cương buồn bã nói với Hoàng Sơn Trường:
– Đàn anh mình mãi mãi ngây thơ.
Trường thở dài:
– Dễ hiểu quá. Họ đi trình diện học tập, còn chúng ta bị bắt bỏ tù. Họ cải tạo chung với nhau, chúng ta bị bắt lẻ tẻ, lưu lạc khắp đề lao, khám lớn, trại tập trung , tự khai mửa máu, ăn đòn rạn tim. Còn họ tự khai tập thể một lần, lao động lè phè, thăm nuôi đều đặn. Không thể so sánh họ với chúng ta. Họ đã thua cuộc chiến cũ. Ta vừa khởi sự cuộc chiến mới. Họ có những trung tá, đại tá đã giải ngũ vì tinh thần văn phòng, cộng sản chưa gọi đã vội đi “trình diện sớm để về sớm” rồi cũng bày đặt thù nặng nghìn cân! Tôi thấy mấy anh già không có đầu, chiến đấu với họ cũng uổng mất chính nghĩa. Niềm hãnh diện của tôi là được đứng chung với du đãng Dzũng quan tài, Qúy dao, Hạnh búa,với lơ xe đò Lê Văn Thu, phu nhà đòn Vũ Bình Bắc, với em bé mồ côi Trần Văn Nam.
Cương nói:
– Họ sẽ vỡ mặt, nếu tin lời cộng sản .
Trường cười:
– Tôi mất kính rồi nhưng tôi có thể nhìn rõ tim họ. Ta nên để họ vỡ mặt vài lần, may ra họ khôn lớn. Tổng thống của họ để lại một câu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hay nhìn kỹ những gì cộng sản làm.” Họ đã nhìn kỹ mà họ cứ nghe.
Cường hỏi:
– Cậu có thất vọng về họ không ?
Trường đáp:
– Khi tôi quyết định dấn thân, tôi không hề nghĩ đến họ nên chẳng có gì phải thất vọng. Có điều…
– Điều gì?
– Trong mọi địa hạt, đàn anh mình chết hết rồi!
– Phải thức tỉnh họ.
– Vô ích.
– Tôi cố gắng.
– Anh thử cố gắng xem sao.
Lương Việt Cương đã đến từng phòng, đứng ở cửa sổ, trình bầy với những người sĩ quan cải tạo về thủ đoạn của cộng sản và khuyên họ nên thận trọng về tin tức phóng ra từ miệng cộng sản. Nhiều sĩ quan cấp úy tin Cương. Các sĩ quan già vẫn khư khư lối suy diễn của mình. Lương Việt Cương muốn kể lại hình phạt hai mươi ngày đêm treo hai ngón tay cái bằng giây điện lên cao, mười đầu ngón chân chạm đất cho những ông trình diện học tập nghe. Sợ phí lời và đau đớn thêm, Cương bỏ về phòng.
– Sao? – Trường hỏi.
– Cậu nhận xét đúng. – Cương đáp. Những người trình diện học tập vả những người bị còng tay dẫn đến nhà tù khác hẳn nhau. Họ đầy mặc cảm với cộng sản. Chúng ta thì không. Họ đã cầm súng của Mỹ, lãnh lương do Mỹ viện trợ. Chúng ta thì chưa. Họ còn nhiều thứ để sợ mất nốt. Chúng ta đã chẳng còn gì. Quên họ là vừa.
Hai hôm sau, cả trại bận bịu làm bản tự kiểm cá nhân khuyết điểm với Ban Giám Thị. Hai mươi tám con sư tử không được phát giấy vì không phải là sĩ quan trình diện học tập. Người trình diện có cả trăm ngàn, họ chen lấn nhau xếp hàng ở những địa điểm trình diện. Họ nộp tiền ăn 10 ngày, đem mùng mền, quần áo, thuốc thang, ngồi chầu chực dưới nắng mưa để “đăng ký” một cách trịnh trọng và lễ độ tại bàn giấy của chú bộ đội nhãi ranh. Họ nghỉ ngơi ở các địa điểm trình diện rồi thong thả lên xe về trại học tập cải tạo. Họ làm một tờ tự khai duy nhất. Không ai hỏi cung họ cả. Nếu họ vào biệt giam là vì họ vi phạm Nội Quy, bị kỷ luật. Thế thôi.. Người bị bắt ít lắm. Họ bị còng tay, bịt mắt tống vào nhà lao, vào cachot. Họ bị còng tháng này sang tháng khác. Họ bị cưỡng bách viết tự khai. Họ can tội chống phá chế độ cộng sản sau năm 1975. Họ là những người lính bị chỉ huy bỏ rơi cút sang Mỹ hoặc trốn về chờ trình diện học tập vẫn ngạo nghễ chíến đấu trong rừng già vì danh dự quân đội, vì tổ quốc và đồng bào. Họ không bị xếp vào hàng ngũ “nguỵ quân, ngụy quyền”.
Dzũng quan tài hậm hực:
– Đàn anh vỗ tay hay lắm, vỗ tay khi chắc ăn! Xét cho cùng, du đãng phản động ngon hơn nhiều.
Qúy dao đứng trước một phòng đang cặm cụi tự kiểm, chửi đổng:
– Anh nào cũng đòi ví mình với Hàn Tín! Ông Hàn Tín biết mình có tài, cần bảo vệ mạng sống để thi thố tài năng nên ông ấy không thèm chấp quân đồ tể, lòn trôn cho xong chuyện.! Còn các anh, các anh có tài mẹ gì mà ham sống? Các anh sống như chết rồi. Kệ các anh. Nhưng còn sống, sau này, đi đâu thì nên ngậm miệng và cúi mặt nhé! Tôi không vơ đũa cả nắm đâu, tôi nói một số các anh già sĩ quan văn phòng thôi.
Lương Việt Cương không có tác dụng bằng Dzũng quan tài, Quý dao. Hào khí du đãng phản động bốc ngất trời tù. Các sĩ quan cấp úy chiến đầu không làm tự khai từ đầu. Nhiều sĩ quan cấp tá xé bỏ tự khai làm dang dở. Nửa trại nộp tự khai. Những người không nộp, Ban Giám Thị chẳng có ý kiến gì. Vụ nổi dậy ở trại Nam Hà kể như xong xuôi. Rất đông cải tạo viên tưởng mình đã thắng. Riêng bầy sư tử thì bình thản. Nộp tự khai rồi những ông sĩ quan già ngồi rung đùi suy diễn tin tức Mỹ đòi chuộc cải tạo viên. Tin này đã cũ mèm ở các trại giam miền Nam. Mỹ nó “sang trang lịch sử”, nó ném cả dân tộc Việt Nam vào miệng chó sói cộng sản, nó đứng nhìn chó sói rút ruột dân tộc Việt Nam không mảy may trắc ẩn mà còn tin nó bỏ tiền chuộc vài ngàn anh sĩ quan cải tạo, mà còn hân hoan cám ơ Mỹ thì…khó dùng chữ quá!
Sư tử lãng mạn đã quen cô đơn. Bây giờ sư tử say men cô đơn. Và sư tử chỉ còn tin ở chính mình, ở chính thế hệ tuổi trẻ của mình, thế hệ lập thuyết tiểu tư sản.
Rút trong tuyển tập “Dấu chân ngày xưa” Đồng Sa Băng
Trời vừa sang canh năm, tiếng gà gáy bắt đầu nổi lên đó đây và nhà bà Chi cũng đã lên đèn. Cái đèn dầu Hoa Kỳ, cái nồi đèn to bằng trái bưởi, được thắp lên soi sáng mập mờ căn phòng nhà ngang. Bà Chi và cô con gái – Thanh, lục đục lôi hai đôi nừng chứa đầy đậu phụng để sửa soạn gánh xuống chợ Vam cân cho cửa tiệm Ðậu Không Vỏ. Hôm nay là ngày đầu tiên Thanh theo mẹ đi cân đậu. Mấy đêm nay Thanh phụ mẹ chà mấy thùng đậu phụng. Những trái đậu phụng đã phơi khô Thanh đem bỏ vào một cái rổ tre, tay cầm hòn đá tròn, dẹp, chà đều lên những trái đậu phụng. Vỏ đậu phụng khô nứt bể ra và hột đậu được tách rời khỏi vỏ. Thanh lựa những hột đậu phụng tốt, to, mập mạp bỏ vào một bên, và những hột đậu èo ọp bỏ riêng ra. Có những đêm thật khuya Thanh vẫn còn ngồi bên ngọn đèn dầu để lựa đậu phụng. Những hột đậu bóng loáng, đầy nhựa sống đang luồng trong từng ngón tay của Thanh, nhưng rồi ngày mai nó sẽ được chuyển qua bao nhiêu bàn tay xa lạ. Những ngón tay của Thanh đang lùa trên mâm đậu phụng tự nhiên ngừng lại. Thanh nhìn ra ngoài hiên thấy ánh trăng đang rập rình sau khung cửa. Ánh trăng mỗi lúc càng cao và sáng hơn. Thanh vội bỏ mâm đậu phụng chạy ra sân. Thanh là một cô bé bạc tình. Vừa thấy ánh trăng sáng là đã quên đi ngọn đèn dầu kia rồi! Bởi vì ánh trăng sáng lung linh xuyên qua ngọn tre đã gợi lại ký ức của thời thơ ấu nô đùa dưới trăng. Trăng miền quê khác với trăng thành thị, vì trăng miền quê sáng hơn. Quê của Thanh ngày xưa không có đèn điện, từ làng trên đến xóm dưới chỉ có những ngọn đèn dầu. Khi màn đêm buông xuống là cả xóm làng lung linh với những ngọn đèn mập mờ. Ngoại trừ những đêm sáng trăng. Trời càng về khuya ánh trăng càng sáng tỏ. Những con đường làng phủ kín bởi những lùm tre. Vào những đêm trăng, ánh trăng đâm thủng xuyên qua những cành tre để in hình trên khắp nẻo đường; Nhìn trên con đường làng người ta sẽ thấy những vết loang của ánh trăng chen lẫn với bóng tối mập mờ của trời đêm. Rồi một cơn gió thoảng, lay động cành tre, sẽ làm chao đi những vết loang trên mặt đường. Thời thơ ấu Thanh cùng những đứa trẻ nô đùa chạy nhảy dưới ánh trăng. Những đêm trăng mùa Hạ, Thanh theo cha ra bờ sông ngắm ánh trăng soi mình trên mặt nước. Và có những đêm trăng thanh gió mát, Thanh ngồi ngắm chị Hằng hé cười sau cành lá, rồi say đi trong giấc ngủ khi trăng tàn trên vỉa hè. Mấy mùa trăng qua đi, Thanh đã lớn và làm người thiếu nữ của tuổi trăng tròn lẻ. Bây giờ Thanh xinh đẹp hơn nhiều, cái đẹp mộc mạc của miền quê, và cái đẹp của những đêm giã gạo dưới ánh trăng. Một buổi chiều trở về từ cánh đồng, năm ba người dưới ruộng mở lời chọc ghẹo: “Hởi em trên đường cái quan, dừng chân đứng lại anh than đôi lời” làm Thanh ngượng đỏ mặt. Không biết than với thở cái gì đây, dẫu có hỏi cái gì chưa chắc Thanh biết trả lời làm sao, đừng nói chi đến than với thở. – Thanh, Thanh, tiếng người dưới ruộng gọi lên, em đi đâu về đó? – Em đem cơm cho thợ cấy. – Lại đây ngồi chơi chút đã. Trời nóng quá, em có gì uống hông? – Chị uống nước trà nghen. Ai hò hồi nãy vậy chị Huyền? – Anh nầy nè, anh Mình Tinh bạn của chị đây nề. Huyền và người tình sắp cưới từ làng dưới lên đây dặm lúa. Những ngày không mưa gió họ thường có mặt trên cánh đồng nầy. Có hôm thì nhổ cỏ, có hôm thì tát nước từ dưới mương lên ruộng. Họ quấn quít với nhau bên chiếc gàu tre bóng loáng. Họ đứng cách nhau chừng ba bốn thước trên bờ giửa đám ruộng và mương nước. Một cách nhịp nhàng, họ gặp người lại, bốn cánh tay giang ra đưa chiếc gàu vục xuống nước; Xong lại ngửa người ra, bốn cánh tay lại kéo chiếc gàu chứa đầy nước đổ lên ruộng. Cứ thế hai người trông như hai gã say rượu, lúc thì gập người vào nhau, lúc thì ưỡn người ra và nước thì cứ chảy lai láng trên cánh đồng lộng gió, giữa tiếng hò, tiếng hát hố của người dân quê mộc mạc. Cánh đồng ở đây có những đám ruộng nằm trên gò, nước xe không chảy vào được nên người dân phải dùng gàu hoặc xe đạp nước để mang nước từ dưới thấp lên. – Ngày mai mẹ em có đi cân đậu không ? Người thiếu nữ hỏi. – Có, và em cũng đi nữa. – Nhà em trồng đậu hả, mấy công đất? Người thanh niên hỏi. – 10 công. – Được bao nhiêu đậu? – 10 ang. Người thanh niên rót trà vào chén, ngửa mặt lên trời uống ừng ực, nghe Thanh nói hắn cười sặt sụa rồi quay qua người thiếu nữ: – Trời ơi, đất gì mà 10 công trồng chỉ có được 10 ang đậu! – Lấy đâu ăn mà còn đi bán em. Người thanh niên nói tiếp. – Ðất gò sỏi đá nên đậu nó èo ọp, cha tui chỉ ép một ít lấy dầu nấu ăn, lấy bã nuôi heo còn lại đem đi bán. – Ai lo công việc trồng tỉa nầy? – Cha tui, mẹ tui, và tui cũng phải ra tỉa đậu nữa. – Cực quá hả, người thiếu nữ nói, lấy chồng làm nghề buôn bán cho khỏe em ơi, làm nông cực nhọc mà không có tiền nhiều, khổ lắm. – Hay là để anh Mình Tinh ảnh giới thiệu đứa em họ của ảnh cho em nghen. Em họ của ảnh giống ảnh lắm đó. Có nghĩa là người em họ kia cũng đẹp trai lắm. Nói xong người thiếu nữ liếc mắt nhìn người tình. Thanh cũng không để ý những lời đùa giỡn cuả cặp tình nhân, nàng lễ phép chào họ rồi quảy đôi ky trên vai đi về. Khi đến mương Dân thì tự nhiên con chim xanh ở đâu xuất hiện. Con chim với bộ lông xanh tươi, xanh hơn cả màu xanh lá mạ, và đẹp hơn hết những màu xanh khác, cái đuôi trục lúc, cái mỏ vàng, dài, nhọn hoắc, đang đậu trên một khúc cây khô bên bờ mương. Nó là con bói cá. Thanh cũng chưa bao giờ nghe tiếng con chim bói cá kêu làm sao. Ðang đậu tự nhiên nó bay là là trên mặt nước, rồi nó cất mình bay thẳng lên không trung. Nó đứng một chỗ trên đó, giống như có một sợi dây vô hình cột nó trong giữa trời đất. Nó lức láo soi cặp mắt nhìn xuống mương nước. Đùng một cái, như sợi dây treo bị đứt, nó lao mình cắm thẳng xuống mặt nước; Rồi ngay lập tức như có một sợi dây thun giựt ngược thân hình nó trở lại không trung, và trong cái mõm vàng khè của nó là con cá nằm ngang, cố vùng vẫy tìm lối thoát. Nó lại mang con mồi về đậu trên khúc cây khô trơ trụi bên bờ mương. Thanh đang đưa mắt nhìn theo con bói cá tự nhiên nó bị níu kéo bởi những con cò trắng, chân dài, cổ cao, thân hình trắng nõn, vẫn lê những bước chân âm thầm đi tìm từng con cá con mà lòng khâm phục mỗi khi nhìn thấy con bói cá rơi mình từ không trung. Thanh thầm phục những con cò trắng, hình ảnh của sự kiên nhẫn hơn mọi sự kiên nhẫn khác. Trời vừa hừng đông, Thanh gánh gánh đậu phụng theo mẹ rời nhà để xuống chợ Vam. Con đường thẳng tắp chạy từ đầu làng đến cuối xóm, hai bên đường là những lùm tre già rậm rạp, cao vút. Mặt trời mới vừa lấp lé từ phương Ðông mà bóng người đã tấp nập trên khắp ngõ đường làng quê. Thanh quảy gánh đậu phụng lúp xúp chạy trên con đường làng xuống chơ. Qua khỏi Ðồng Xuân, Mễ Hưng rồi đến đập Bến Thóc là đến gò Rộng với biết bao cây thông nằm ngay hàng thẳng lối. Thanh thấy như mình được mở rộng với thế giới bên ngoài, tiếng thông reo, những lối đi mòn trên bãi cỏ, rừng dương, và tiếng còi tàu rít lên từng hồi của đoàn xe lửa báo hiệu con tàu sắp đến sân ga. Hình ảnh nầy Thanh chưa bao giờ thấy ở nơi chân núi hẻo lánh xa xôi. Qua khỏi gò Rộng một khúc là ngôi chợ sầm uất buôn bán đủ thứ hàng hóa và người đi chợ sao đông đến thế! Không như ngôi chợ bé tí ở làng mà hằng ngay Thanh vẫn đến. – Bà Chi , tiếng gọi của người chủ tiệm Ðậu Không Vỏ, đem đậu vô đây cân đi. Bạn hàng chen chúc, kẻ mua, người bán đông nghẹt, đúng là cái chợ mà! Bà Chi quay lại sau lưng hối đứa con gái: “Mau gánh theo mẹ.” – Con bà đó hả, chà đẹp gái quá, có chỗ nào ngắm nghía gì chưa? – Ngắm với nghía cái gì hổng biết, con nhỏ mới có 17 tuổi đó. – 17 bẻ gảy sừng trâu, bà không nghe nói sao! – Thôi cân lẹ dùm đi, tui còn phải đi chợ nữa. – Con, con ơi, bà chủ tiệm nhiều chuyện, con nhìn thằng kia kìa, nó là con của cô đó, con ưng nó không? – Sao bà dai như đĩa vậy, con tui mới lớn lên để tui nhờ vài ba năm nữa được không. – Thì con bà còn đó, mất mát đâu mà lo. Nhưmg mà nhớ sau nầy làm sui với tui nghen. Thanh như bị con ong nó chích đau cứng bản họng. Ðem đậu xuống đây bán chứ phải đi coi mắt đâu mà bà nầy làm như bả đặt cọc mình không bằng. Nàng lại nhớ cái thời mà Quách đại hiệp và Dương đại hiệp uống rượu rồi ngoéo tay nhau thề sẽ kết thành sui gia khi đứa bé vẫn còn nằm trong bụng của Mục Niệm Từ. Chuyện này nghe giống như “mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ” vậy, có nghĩa là xưa rồi Diễm. Ngày đó ngay cả Hoàng Lão Tà còn đứng ra làm đám cưới cho Dương Quá và Cô Long kìa. Nhưng hên là mẹ của nàng không hứa điều gì với bà chủ tiệm này. Nàng bước vào bên trong tiệm: – Ðôi nừng của tui đâu? – Chà con gái dễ thương quá. Tịnh, đem đôi nừng ra trả cho em đi con. Người thanh niên trao đôi nừng cho Thanh rồi bước vô nhà. Trong giây phút Thanh cảm thấy bồi hồi, thì ra Tịnh, con bà chủ Ðậu Không Vỏ, lại là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Thanh lấy đôi nừng trên tay của Tịnh, liếc mắt thoáng nhìn người thanh niên rồi bước ra cửa tiệm. Hôm nay trong lòng Thanh rất vui. Ngày đầu tiên nàng nhìn cảnh chợ búa sầm uất, cửa hàng đông đảo như ngày hội. Thanh đứng nhìn những cửa tiệm bán quần áo, giày dép đẹp ơi là đẹp, mà quên đi cả giờ giấc. Nàng đưa mắt nhìn một vòng bổng nhiên đôi mắt nàng dừng lại ở cửa tiệm cà rem. Không nhịn được, Thanh đến mua cây cà rem xanh xanh đỏ đỏ. Cây cà rem mát lạnh và ngọt lịm cứ chảy dài, và từ từ tan biến trong nỗi luyến tiếc của Thanh. Trên tay Thanh giờ chỉ còn cái que trơ trụi, nàng bỏ vào miệng mút mút cho đỡ thèm. – Con muốn ăn nữa không? – Mẹ mua thì con ăn. – Ðược, mẹ mua cho con một cây và ba cây khác đem về cho mấy em con. – Nhưng đường xa quá, nó tan hết còn đâu đem về nhà. – Ðừng lo, mẹ biết cách mà. Anh bán cà rem, anh bán cho tui ba cây, gói lại bằng giấy nylon và bỏ vào bịch trấu cho tui. Ðó, con thấy hông, kỳ trước mẹ cũng bỏ vào bịch trấu, gió không vào được, cà rem lâu tan nên mẹ mới đem về nhà được đó. – Ủa Thanh! tiếng nói của Huyền, em bán đậu xong chưa? – Bán hết rồi. Chị làm gì đây? – Chi đi với anh Mình Tinh xống đây mua phân Uré cho lúa. – Ảnh đâu? – Trong kia kìa, trong tiệm Ðậu Không Vỏ kìa. – Bộ quen hả? – Cô của ảnh đó chứ quen gì. – Thôi em phải đi với mẹ em, chị ở lại về sau nghen. Thanh quảy gánh ra về khi buổi chợ bắt đầu thưa người. Cũng trên con đường làng sáng nay nàng đã đi qua, bây giờ có vẻ vắng lặng. Mặt trời đã gần nữa ngày, cảnh làng quê cũng giống như buổi chợ sắp tàn, tiếng nô đùa của lũ trẻ lắng dần trong những tàn cây, bóng mát, khi những bà mẹ gìa đang cặm cụi thổi nồi cơm trưa. Ðôi nừng trên vai Thanh không còn nặng trĩu như sáng nay, chỉ có những món quà cho mấy đứa em và con cá ngừ tươi mà cha nàng đã dặn sáng nay trước khi đi. Nhưng tâm tư của Thanh đã vương vấn chút gì trong bưổi chợ xa nhà đầu tiên. Nàng bước đi khi những chiếc lá tre vẫn rơi đều trên con đường quê. – Thanh, Thanh, tiếng gọi của Huyền, em đem cơm cho thợ cấy về hả. Lại đây ngồi nghĩ chơi chút đã. – Tuần rồi em đi chợ Vam vui hông? – Em có thấy thằng con của bà Ðậu Không Vỏ không? – Em thấy nó đẹp trai không? – Chị ơi, chị làm gì mà hỏi không kịp cho tui thở vậy. Có chứ, mà hình như anh đó ăn hến hơi nhiều đó. – Sao em nói vậy? – Vì em không thấy anh ấy nói một tiếng nào hết. Nhưng mà đẹp trai đó nghen. – Em muốn chị nhờ anh Mình Tinh ảnh nói dùm cho không? – Nói gì, kỳ quá, em không muốn đâu. Từ đó Thanh thường theo mẹ gánh đậu xuống chợ Vam cân bán. Riết rồi đậu trong nhà đã bán hết thì Thanh lại đi mua đậu hàng xóm về chà đem đi bán cho tiệm Ðậu Không Vỏ. Một thời gian sau mối tình đậu phụng cũng chớm nỡ. Thanh đem lòng thầm lặng thương yêu người con trai ít nói của tiệm Ðậu Không Vỏ. Rồi một hôm: – Bà Chi, ngày mai bà sửa soạn chút đồ ăn, có người đến đặt lễ hỏi con Thanh đó nghen. Ông Chi nói. – Ai đi hỏi con Thanh sao tui không hay biết gì hết vậy. Mà sao đùng một cái là làm lễ hỏi là sao? Ai làm mai làm mối vậy? – Mai với mối gì hổng biết, tui đã hứa gã nó rồi. – Mà gã cho ai? – Cho thằng con ông Tri chứ ai. – Cha nói gã con cho con ông Tri nào? Thanh sững sốt. – Tri trên Xuân Ðình đó. – Sao cha không hỏi con? Con không chịu đâu. – Không sao đâu con, thằng nầy biết lo làm ăn cha thấy cũng được lắm. – Thì ai muốn ăn cũng phải làm mới có ăn chứ. Con không muốn lấy chồng bây giờ đâu. Nói xong Thanh bỏ đi vào buồng ngồi khóc. – Nhưng mà ông hứa với người ta làm sao, sao tui không hay biết gì hết. – Thì hôm đó tui đem trâu ra ruộng cày. Ðến trưa thì ông Tri ra tìm gặp tui ngoài đồng, ổng rủ tui vô nhà ổng nhậu chơi. Trong bữa tiệc có anh Quới nữa. Ăn nhậu một hồi, tui cũng hơi xin xỉn, ông Tri rủ tui làm sui với ổng, tui nói làm sui thì làm sui, rồi ngoeó tay nhau uống rượu. – Trời ơi, ông làm sui vậy đó hả? – Ðâu có, tui uống say đâu biết mình nói cái gì. Ai ngờ ổng lấy cớ có anh Quới làm chứng, mấy ngày sau ổng nhắc lại lời hứa của tui, mà lở hứa rồi đâu có nuốt lời hứa được. Nên ngày mai ổng dẫn thằng Xuyến xuống làm đám hỏi để thực hiện lời hứa của tui và ổng đó. – Làm sui gì kỳ vậy! Không nuốt được thì ông cũng ráng mà nuốt đi. – Thôi mà, tui thấy thằng nhỏ đó cũng biết lo làm ăn, vậy là được rồi. Thanh nghe lời cha nói như tiếng sét nổ ầm bên tai. Nàng buồn rầu không biết phải làm sao. Hôm sau Thanh lên hông nhà ông Quới nhìn trộm xem người chồng sắp cưới của mình mặt mũi ra sao. Vừa trông thấy gương mặt của người thanh niên mà cha nàng đã hứa gã nàng làm vợ, Thanh buồn rầu ảo não ra về. Bao nhiêu giấc mơ nàng dệt và ấp ủ trong lòng từ ngày theo mẹ bước chân xuống ngôi chợ xa nhà bây giờ dường như bắt đầu tan vỡ. Những ước mơ có một ngày được cùng nắm tay Tịnh đi trên con đường làng bây giờ đang bị lay động. Như vết loang của ánh trăng trên mặt đường có bao giờ được bình yên mãi mãi đâu. Thế rồi nàng khóc. Những giọt lệ long lanh trên khóe mắt rồi lăn dài xuống đôi gò má. Những giọt lệ không lời âm thầm rơi xuống cho một cuộc tình chớm nở của tuổi mộng mơ. Thanh cũng không buồn cơm nước, ngày này qua ngày nọ tự nhốt mình trong căn phòng nhỏ. Bao nhiêu áp lực nàng đặt lên người cha với một hy vọng sẽ làm đổi ý. Vì cha đâu có hiểu, một người con gái lớn lên ai lại không muốn tìm cho mình một ý trung nhân như hằng mong ước. Con sẽ chấp nhận mọi hậu quả sau nầy mà. – Tui thấy ông nên hồi lại cái đám nầy đi. Lời bà Chi. – Sao lại hồi? – Thì nó chê thằng đó xấu xí, nó không chịu lấy chứ sao. – Hứ, đẹp trai để làm gì. Tui thấy chỗ nầy cũng tốt, và thằng nhỏ tuy xấu trai nhưng biết cày bừa và nhất là có tình nghĩa với anh em là được rồi. Bà nói với con bà đi, tui không đổi ý đâu. Vậy là hết. Tấm thân của Thanh quá nhỏ bé mà xã hội thì quá bao la. Từ đây nàng chỉ còn biết ngóng về ngôi chợ xa nhà, mỗi buổi sáng khi tiếng còi tàu rít lên từng hồi mà nhớ rằng nơi đó có một người nàng thương. Và ly rượu cưới ngày mai, ly rượu nào vui, ly rượu nào sầu! Rồi một chiều cuối năm, người thanh niên dọn dẹp căn nhà để đón Tết. Ngoài sân, đứa bé ngộ nghĩnh đang nô đùa tay cầm chai rượu. – À, đưa chai rượu cho cha. – Anh dọn đồ ăn lên xong chưa? – Ðầy đủ rồi, em ngồi vô mình nhậu một bửa cho say trời say đất chơi nghen. – Ông đó nghen, cũng vì ly rượu mà tui lấy ông đó. Người thanh niên cười khì khì. Tiếng cụng ly vui mừng như ba ngày Tết. Khung cảnh thật ấm cúng trong ngôi nhà nhỏ với hai vợ chồng và một đứa con trai. Họ không còn để ý đến những người xung quanh. Ông lão đi ngang liếc mắt nhìn qua khung cửa: “Tổ cha tụi bây, vậy mà ngày xưa khóc lóc om sòm, nằm vạ nằm tịch đòi không chịu. Hứ, ông già nầy nói có sai đâu.”
Bệnh-nhân chết trên bàn mổ là ám-ảnh lớn lao nhất trong đời người y sĩ giải phẫu. Khi định mệnh tàn nhẫn biến thành hư không tất cả những cố gắng mãnh liệt của chúng ta, giật người bệnh khỏi tay chúng ta để đưa về cõi âm, chính lúc ấy, chúng ta mới thấy quyền lực của y-học mỏng manh biết chừng nào.
Một hôm, tôi được mời diễn thuyết tại trường đại học một tỉnh lớn miền Tây nước Đức. Buổi nói chuyện chấm dứt, vừa bước ra khỏi giảng đường thì có hai y sĩ tạp khoa còn trẻ lại chào tôi. Sau khi nhắc lại rằng xưa kia có theo học những buổi diễn giảng của tôi, họ cười mà thú nhận là chính họ đã kín đáo tặng tôi một chậu nguyệt quế để tỏ lòng khâm phục khi thấy tôi cắt bỏ được một bướu thận khổng lồ.
Cái cảnh tượng bất ngờ tối hôm ấy: một chậu nguyệt quế xinh xắn đặt trong chiếc xe đỏ của tôi, tôi vẫn nhớ rõ ràng, cũng như bây giờ tôi còn cảm thấy nỗi chua chát khi được học trò thầm kín hoan hô như vậy.
Câu chuyện xảy ra nhằm ngày thứ bảy. Theo lệ thường, mỗi thứ bảy có một buổi diễn giảng về bệnh lý, giáo sư, thầy chúng tôi, sẽ giải phẫu, trong hai giờ liền, nhiều “ca” thật “hấp dẫn” trước mắt mọi người. Thầy chúng tôi hãy còn thuộc trường phái cổ điển, nên mới để sinh viên trực tiếp dự khán cuộc giải phẫu. Như vậy còn có lòng tự tin lắm mới được, vì người phải chắc là án chẩn đã trúng; hơn nữa, nhất cử nhất động, mỗi chút bất trắc, mỗi chút khó khăn, mỗi chút ngập ngừng, đều được hàng trăm con mắt chú ý theo dõi,
ghi nhận. Theo ý tôi, giảng dạy trực tiếp như vậy vẫn là phương pháp lý tưởng, mặc dầu, trong khoảng mấy năm nay, phim ảnh đã thay đổi ít nhiều dữ kiện của vấn đề. Trình bày một cuộc giải phẫu bằng phim ảnh hiển nhiên có nhiều điều lợi: nhờ phóng lớn được, người ta có thể làm nổi bật một vài “pha” trong cuộc giải phẫu và nhất là có thể lược bỏ những giai đoạn dò dẫm, những cử chỉ rủi ro hay những rắc rối bất ngờ. Nhờ thế, cuộc giải phẫu diễn tiến một cách hoàn hảo, làm sinh viên khiếp phục, nhưng đồng thời có thể làm sinh viên không nhập tâm được một số cách thức cần dùng trong những trường hợp bất ngờ khi hành nghề y sĩ giải phẫu. Thế nên trường phái của tôi giữ vững nguyên tắc là: thầy phải giải phẫu cho trò xem để luyện cho trò quen sống bình tĩnh và kiên nhẫn trong những giây phút căng thẳng nhất. Thầy chúng tôi – lúc ấy tôi là đệ nhất phụ tá của người – không đời nào bỏ nguyên tắc đó. Sửa soạn một cuộc giải phẫu để diễn giảng cho sinh viên hay cho nhân viên một đại hội y học, đòi hỏi một sự sắp đặt thật tỉ mỉ. Điều khó khăn nhất là xác định thời biểu, vì không thể nào đoán trước được thời gian cuộc giải phẫu, với sai số một phút. Tuy mỗi loại giải phẫu cần một thời gian trung bình, nhưng người y sĩ giải phẫu giàu kinh nghiệm nhất đời cũng không sao tránh được những bất ngờ.
Chương trình hoạch định xong xuôi, từng giai đoạn của cuộc giải phẫu sẽ diễn tiến trên sân khấu giảng đường theo một nghi lễ đã quy định cẩn thận, nếu không muốn nói là long trọng. Trong “đấu trường” thầy chúng tôi đứng giữa, đoàn phụ tá vây quanh. Áo choàng trắng, giảng đường mênh mông cũng trắng, và ánh sáng trắng mãnh liệt tỏa ra từ những đèn hồ quang, tất cả tạo nên “bầu không khí đã tiệt trùng của khoa thủ thuật”, bao trùm mọi sinh viên, tạo nên một vùng huyền ảo, như thôi miên bắt ta sống trong đó. Sinh viên chăm chú ngồi trên những hàng ghế xếp thành từng lớp hình bán nguyệt quanh bàn giải phẫu. Người bệnh được đưa vào trên một chiếc xe. Thầy chúng tôi trình bày đại cương chứng bệnh và vạch những nét chính của cuộc giải phẫu. Trong lúc người tiếp tục nói, bệnh nhân được đưa sang phòng bên cạnh.
Thường thường, khi cánh cửa có lò xo lại mở rộng, giáo sư thầy chúng tôi vẫn còn thao thao bất tuyệt.
Bây giờ, người bệnh đang nằm trên bàn giải phẫu, cả thân mình che dưới lớp vải đã khử trùng. Hai bên bàn, cả một đoàn phụ tá và nữ y tá đang tiến đến đó “blouse” trắng, “tablier” cao su, đeo găng và đi ủng. Rồi đến những chiếc bàn có bánh xe phủ đầy khăn trắng với cả một lô dụng cụ, băng gạc và kim khâu. Những chiếc bàn dụng cụ này làm sao để giáo sư chỉ việc bước tới là cuộc giải phẫu bắt đầu. Những chùm ánh sáng đèn điện chói chang soi thẳng vào vùng giải phẫu, các anh phụ tá và các cô y tá đứng xa ra để cùng tất cả các sinh viên có thể theo dõi cuộc giải phẫu. Chỉ còn chờ “vai chính” xuất hiện.
Buổi sáng thứ bảy này – mà sau đó tôi được “thân tặng” một cây nguyệt quế với cả lòng mến phục vừa khôi hài vừa thảm thiết – giảng đường rộng lớn của bệnh viện lại diễn cảnh náo nhiệt một “buổi đại nhạc hội giải phẫu”. Giáo sư quyết định bắt đầu mổ dạ dầy. Nhưng, đến bây giờ còn nguyên những cơn đau đớn bệnh nhân đã phải chịu đựng từ mấy tuần lễ nay vẫn chưa tìm ra được. Chỉ khi giáo sư rạch một đường giữa bụng để mở ra xem mới khám phá ra: một cục bướu vừa mới thành hình nhưng đã lan rộng đến vùng đuôi vị. Thật ngạc nhiên hết sức vì chúng tôi đã chiếu điện và thử máu mà không thể dự đoán được.
Hiển nhiên là phải cắt bỏ cục bướu – như vậy phải mất ít ra một giờ rưỡi thành ra không đủ thời gian đã tiên liệu cho chương trình buổi sáng nay. Vì ca sau – cắt bỏ một bướu độc ở thận – cũng mất đến gần hai tiếng đồng hồ. Khoa giải phẫu thận là món sở trường của thầy chúng tôi; chính giáo sư đã chọn “ca” này là giảng về bệnh lý rồi hôm nay sẽ đem ra mổ, như vậy sinh viên nhớ kỹ hơn. Từ hôm qua, người đã trình bày cặn kẽ với sinh viên phương diện bệnh lý cùng chỉ rõ kết quả mọi thí nghiệm và đã nghiên cứu và giảng giải những hình quang tuyến. Thật vậy chúng ta có thể khi rọi quang tuyến X, xem rõ cả bể thận và đài thận. Nếu có những biến dạng nào thì nó hiện rõ ngay trên tấm phim.
Trên nguyên tắc, các sinh viên phải được chứng kiến khi cắt bỏ cục bướu thận này. Nhưng chỉ còn có hai giờ để dẫn giải bệnh lý thôi mà trường hợp ung thư dạ dày trên phải kéo dài bất thần nên thầy chúng tôi sẽ bận suốt thời gian này. Người quyết định rất mau: “Gọi ông y sĩ trưởng đến cho tôi. Bảo ông ấy mổ cái bướu thận này.” Ông y sĩ trưởng, chính là tôi. Khi cô y tá đến báo cho tôi hay, tôi tất tưởi chạy đến ngay.
Thầy gọi tôi ra một góc rồi bảo:
– Anh mổ hộ tôi cái bướu thận này. Anh cho đem một cái bàn mổ nữa lại đây. Tôi còn mắc mổ, không thể bỏ dở được.
Tôi nhận lời ngay và ra lệnh cho “sửa soạn” bệnh nhân hai mươi phút sau, bệnh nhân đã thiếp trên bàn mồ.
Bàn mồ đặt cạnh bàn giải phẫu của ông thầy. Tôi nhìn kỹ vùng phải mồ: bên hông phải bệnh nhân. Bệnh nhân phải nằm nghiêng về phía bên trái nằm cong như con tôm. Đoạn, tôi nắn cẩn thận cục bướu: thật lớn và cứng, chiếm cả vùng hông giữa xương sườn thứ 12 và cánh xương chậu. Cầm dao giải phẫu tôi rạch một đường thật nhanh bên hông từ xương sườn cuối đến mép trên xương chậu. Lưỡi dao mở rộng một vết dài độ hai mươi phân, lần lượt rạch lớp da rồi lớp mỡ và những lớp mô ở ngay dưới, cuối cùng rạch cả ba lớp bắp thịt bụng. Qua một kẽ nhỏ tôi đã thấy quả thận. Máu tuôn ra từ mấy động mạch. Tôi bèn kẹp ngay để máu khỏi chảy. Bây giờ bắt đầu tìm cục bướu.
Tôi cố, không động đến màng bụng, nới rộng khe mổ, để miếng sắt tròn phanh vết mổ cho rộng ra. Như thế, tôi thấy ngay cục bướu. Trông nó thật đáng ghét: vừa to kềnh, vừa tròn trịa như củ nâu lại cứng như đá và dính chặt vào vỏ sợi bọc thận (capsule fibreuse du rein). Tôi có thể tẽ dễ dàng cục bướu khỏi lớp bắp thịt lưng. Trái lại, mặt trước cục bướu dính vào màng bụng và nhất là đỉnh bướu lấn vào cả thượng thận dưới hoành cách mô: tách cục bướu ra khỏi đây có vẻ thật khó và nguy hiểm. Tôi cứ lách hai tay mãi tách cục bướu ra. Nhưng nó cứ trơ trơ chống cự lại như thách đố. Tôi bắt buộc phải cắt bỏ một vài chỗ dính vào bướu. Công việc tỉ mỉ và càng phải cột các mạch máu bị đứt lại càng thêm chậm chạp. Sau mười phút khó nhọc tôi thấy hé rạng vùng cuống thận. Tôi bắt đầu đi vào giai đoạn quan trọng vì chính ở cuống thận mà các mạch máu đi vào thận – đại động mạch nuôi dưỡng và tĩnh mạch đem máu trở về tim – Cũng ở vùng này tôi lần tới bể thận, chỗ nước tiểu dồn lại để ống niệu hút ra và chảy vào bọng đái. Bây giờ, cục u bướu bắt đầu “lộ dạng”. Đây là giây phút quyết định. Cuộc giải phẫu có thành công hay không, bệnh nhân sống hay chết, tất cả đều phụ thuộc vào những điều tôi sẽ khám phá sau đây: bướu thận có ăn lấn vào trong lòng tĩnh mạch thận không? Nếu không, cuộc giải phẫu sẽ có nhiều hy vọng thành công. Còn nếu có – và trường hợp này, than ôi! thường xảy ra – chỉ còn một chút hy vọng thật mỏng manh.
Tôi luồn ngón tay cố nắn cuống thận nhưng không thể được: những mạch máu như bị lọc bớt một đống thịt cứng chắc tích lũy đã lâu ngày. Vậy, bắt buộc phải tách nó ra. Lại phải mất mười lăm phút vì trong đống thịt ấy là cả một mớ tĩnh mạch nhỏ mà tôi phải cột từng cái một để tránh không cho máu chảy. Che lấp hết vùng giải phẫu. Sau cùng, khi những mạch máu lớn được tách trần ra, tôi ngạc nhiên thấy động mạch thận bên phải không lớn cho lắm, tuy phải nuôi dưỡng ngoài quả thận, cả khối bướu khổng lồ kia. Đây là một
trường hợp thật đặc biệt và dị thường mà nhân tiện tôi cũng ghi lại để chứng minh cho một mối tương quan mà tính chất chưa được xác định, giữa sự phát triển của những u bướu ác tính và hiện tượng ô-xy huyết kém các mô bị ung thư – ô-xy huyết kém thể hiện qua biến dưỡng suy trầm trọng (grave insuffisance étabolique).
Tôi cắt động mạch thận, dù đường kính nhỏ đang nẩy rất mạnh. Rồi, nín thở, khám hiểu chỗ đầu cùng của tĩnh mạch. Tôi suýt thở phào nhẹ nhõm: u bướu chưa xâm nhập vào trong lòng tĩnh mạch. Chỉ cần biết điều quan trọng này mọi việc sẽ dễ dàng hơn. Tôi sẽ cột tĩnh mạch trước với một sợi dây chắc. Tuy thế, khi ngón tay tôi lần trên vỏ mạch máu, tôi hơi ngần ngừ e ngại: sờ thấy không như mọi khi, tôi có cảm giác khác lạ. Rồi, tôi nghĩ sở dĩ vỏ mạch hơi khác thường là vì thế các mô chắc cũng bị suy biến như vùng chung quanh mông thận. Tôi bảo cô y tá đưa tôi một sợi lụa. Tôi quấn quanh tĩnh mạch ở đáy vũng gần chỗ đổ vào đại tĩnh mạch chủ dưới, một mạch máu to như ngón tay cái đem máu từ vùng chân và bụng dưới về tim. Tôi siết chặt hai đầu dây thắt lại và … việc không thể đoán được đã xảy ra. Tôi bỗng nhận thấy một sự thay đổi bất thường ở vùng giải phẫu. Đúng hơn đó là một cảm tưởng tôi không thể nói sự thay đổi ra sao. Nhưng chỉ một giây sau, tôi thấy những bắp thịt biến sắc, ngả màu nhạt và xanh xao hơn thịt chết. Bắp thịt của người sống có một màu thật đặc biệt vì máu chảy điều hòa và hoàn hảo. Nhưng những bắp thịt dưới mắt tôi không óng lên một chút nào cả. Tôi hiểu ngay rằng tai họa lớn vừa xảy ra và diễn tiến của cuộc giải phẫu sẽ gặp nhiều trở ngại không thể lường được. Bàn tay phải còn ở dưới cục bướu, tôi tiếp tục, như một cái máy, lấy hai ngón tay nắn đầu động mạch đã bị cột. Lúc bấy giờ, tôi mới thấy động mạch không nhảy nữa. Chỉ có một giải nghĩa: tim ngừng đập, – bệnh nhân đã chết!
Tôi liếc mắt nhìn người nữ phụ tá và chuyên viên đánh thuốc mê. Đến bây giờ họ chưa nhận thấy gì cả. Làm sao đây? Tôi đang ở giữa đại giảng đường đầy người, hàng trăm con mắt đang đồ dồn về phía bệnh nhân, vào vùng hông phải giải phẫu và nhất là cục bướu to kếch sù này; vài anh sinh viên lại đem cả ống nhòm để quan sát cho kỹ, không để mất chi tiết nào. Và bệnh nhân của tôi đã chết trên bàn mổ, mors in tabula, một tai họa mà các y sĩ giải phẫu e ngại và luôn luôn bị ám ảnh!
Dĩ nhiên, bây giờ không phải lúc nghĩ ngợi suy tư. Dồn hết những ý nghĩ hỗn tạp và mơ hồ luôn luôn muốn nổi dậy trong tâm trí tôi, tôi để cho bản năng đưa lối và … tiếp tục giải phẫu. Tôi đang mổ một xác chết. Kẹp cuống thận với một cái kẹp cầm máu, tôi cắt, giữa cái kẹp và chỗ cột, rồi đẩy mạnh cục bướu lớn ra ngoài.
Nhờ phương kế mạnh mẽ này, không ai để ý đến bệnh nhân cả. Bao nhiêu con mắt say mê đang đồ dồn vào theo dõi cục bướu khổng lồ kia. Tôi đặt cục bướu vào một chiếc lọ thủy tinh. Đậy vết mổ bằng một cuộn băng gạc lớn. Máu không chảy nữa. Tôi phủ lên một chiếc khăn. Tôi phải cố nén để khỏi bật một tiếng thở phào nhẹ nhõm, rồi quay lại nói to với anh đệ nhất phụ tá, giọng bình thản: – Thôi, anh cho đem ra ngoài đi. Anh khâu hộ ở ngoài ấy nhé. Toán giải phẫu bắt đầu di chuyển. Chiếc bàn mổ được kéo đẩy sang phòng bên. Tôi giảng giải tiếp. Chọn một con dao giải phẫu thật dài, tôi mở cục bướu ra và cắt làm đôi. Tôi đưa cho thầy chúng tôi xem rồi cho chuyền đến các sinh viên. Tôi giảng cho họ những đặc tính của cái phần cơ thể hiếm có này. Các anh sinh viên “vỗ tay” theo kiểu các trường đại học Đức nghĩa là giậm chân xuống đất – một cách kín đáo vì giáo sư, thầy chúng tôi đang tiếp tục giải phẫu. Ông đang vá liền dạ dày và phần thượng của ruột non sau khi đã cắt bỏ vùng bị ung thư. Tôi bước từ từ khỏi phòng đến gặp các bạn tôi trong toán giải phẫu. Anh đánh thuốc mê chạy bộ ngay đến tôi, thở hổn hển.
– Anh ạ! Bệnh nhân không thở nữa!
Tôi gật đầu:
– Thế hả! Bây giờ anh mới biết hả! Ông ta đã chết cách đây mấy phút rồi!
Mọi người bàng hoàng. Chị nữ phụ tá, vẫn còn đa nghi, cầm cổ tay người chết một lần nữa để bắt mạch, xem lại có đúng tim đã ngừng đập hay chưa. Hiển nhiên, họ không thể tin được người bệnh đã chết ngay dưới mắt họ mà họ không thấy. Họ chưng hửng đến nỗi tôi không thể không ái ngại được.
Ồ! Đây chỉ là một tai nạn, không những không thể đoán trước được mà lại còn dị thường và cách ngoại. Các anh chị không có lời gì cả – Cả tôi cũng vậy. Tôi không biết sự kiện đã xảy ra thế nào?
Nhưng tôi cho là một chứng tắc quản vì những tế bào cục bướu đã làm máu bị nghẽn không lưu thông được ngay chính lúc tôi cột tĩnh mạch thận lại.
Tôi lại giảng thêm, theo ý tôi, tai nạn đã xảy ra làm sao. Ở trong lòng tĩnh mạch thận chắc phải đọng một thứ bùn tế bào của các cục bướu. Vì cột tĩnh mạch lại nên đám tế bào này bất thần bị cuốn theo dòng máu trôi vào tận buồng tim phải. Từ đó bơm vào hệ thống tuần hoàn phổi, những hạt tế bào nhỏ ấy đã làm tắc những mao quản phổi. Sự hô hấp bị ngừng trệ, tim ngừng đập … và bệnh nhân chết.
Giả thuyết của tôi là vậy, nhưng bây giờ phải xét xem có chắc có đúng như thế không? Tôi điện thoại cho anh bác sĩ trưởng phòng cơ thể bệnh lý. Tôi kể lại trong trường hợp nào bệnh nhân chết. Tôi còn nói thêm, theo ý tôi, vì máy lọc máu của phổi bị lấp lại bởi đám bùn tế bào. Trong khi đó bài giảng đã hết. Các anh em sinh viên bước khỏi giảng đường trong khi thầy chúng tôi khâu nốt mũi kim cuối cùng, rồi để cho các anh phụ tá quấn băng lại, ông quay lại cầm một tấm khăn vải đã khử trùng lau vầng trán đẫm mồ hôi. Tôi tiến lại:
– Thưa giáo sư, trong khi tôi mồ, giáo sư có nhận thấy điều gì không?
– Không. Có điều gì đấy?
– Bệnh nhân chết rồi!
– Sao! Anh nói sao? Tại sao vậy?
Tôi kể lại tai nạn đã xảy ra làm sao, trình bày lại những điều tôi đã trình bày cho đoàn giải phẫu của tôi nghe và kết luận: một chứng tắc quản gây nên bởi những tế bào của cục bướu. Ông bình tĩnh nghe tôi.
– Tôi hiểu. Lẽ dĩ nhiên, cục bướu to như thế dễ xảy ra tai nạn lắm. Anh hãy báo cho viện cơ thể bệnh lý biết, để họ khám nghiệm kỹ càng. Ít ra mình cũng biết tại sao người bệnh khốn khổ này bị chết.
– Dạ thưa tôi đã báo rồi ạ.
– Tốt lắm. Sao? Đừng nghĩ ngợi bận tâm nhiều! Những người giải phẫu như chúng ta không có may mắn như những nhà toán học đâu! Bài toán của họ bao giờ cũng có lời giải. Trong phòng đoàn phụ tá giải phẫu của tôi còn đứng ngây người ra. Tôi cũng cố tâm an ủi họ, tuy tôi cũng cần được an ủi hơn ai hết. Rồi tôi không chắc một tí nào anh bạn ở viện cơ thể bệnh lý – chúng tôi gọi anh ấy là “Nhà kiểm soát những việc đã hoàn tất” – sẽ chứng minh vừa xác định án chẩn tôi đặt ra về cái chết của bệnh nhân.
Buổi chiều lúc ra khỏi bệnh viện, người mệt mỏi như giần tôi thấy trong xe hơi một cây nguyệt quế kẻ vô danh nào đã đặt trên nệm. Cả một tấm lòng tôn kính vừa kín đáo vừa ý nghĩa của mấy anh bạn sinh viên. Họ đã bày tỏ lòng kính phục vì tôi đã mổ thật hay. Nhưng họ đã không biết và đến bây giờ vẫn không biết cuộc giải phẫu này đã kết thúc thật bi thảm. Đối với tôi những cành nguyệt quế này thật mỉa mai. Dù cho hai ngày sau những cuộc khám nghiệm cơ thể bệnh lý đã xác nhận giả thuyết của tôi là đúng, tôi cũng không gột bỏ được nỗi chua chát trong lòng. Ngay cả đến hôm nay tôi còn giữ lại một dư vị, dư vị của đống tro tàn.
Chuyến xe đêm di chuyển tù nhân có thêm tám người. Tám người này, từ đề lao Gia Định, khám Chí Hoà, ngục Đại Lợi vào Sa Ác đã bốn tháng. Họ còn trẻ và can tội phản động. Bốn người trốn trại. Bốn người chống lao động. Tất cả nằm hầm đá đặc giam hơn một tháng trời. Nhân vụ sách động của Đội 37, trại Sa Ác báo cáo khẩn về cục Quản Lý các Trại Giam thuộc Bộ Nội Vụ và Cục trưởng Cao Minh Chiếm ra lệnh đẩy cả hai đội 1 và 37 đến trại khác, Sa Ác đẩy luôn tám tù nhân biệt giam theo đội 37. Bây giờ họ đủ hai mươi tám người. Người thứ nhất là Đặng Cơ Bản lừng danh đề lao Gia Định mà, hầu hết, hai mươi người của Đội 37 đều biết tiếng. Người ta tưởng Bản đã được thả về, nào ngờ Bản vô Sa Ác nằm hầm đá biệt giam. Người thứ hai là Tư Sơn. Người thứ ba là Huỳnh Nghệ. Người thứ tư là Ngô Cát. Người thứ năm là Phạm Thành. Người thứ sáu là Doãn Lâm. Người thứ bẩy là Vũ Bình Bắc, Người thứ tám là Lê Văn Thu. Trong số tám người thì sáu người là sinh viên, học sinh; hai người cuối Lê Văn Thu – lơ xe đò và Vũ Bình Bắc- phu nhà đòn. Đến giai đoạn lơ xe đò, phu nhà đòn chống cộng sản thì cái thế tất bại của cộng sản gần kề. Con đường nào cũng dẫn tới một trại tập trung, do đó, hai mươi tám người chẳng tìm hiểu phương hướng chiếc xe chở mình đi.
Vụ chống công tác đào bom, khiêng bom đã làm thắm thiết tình nghĩa của những người tuổi trẻ và ném xuống mặt hồ cam đành của tù nhân Sa Ác một viên đá lớn. Người ta bỗng thấy giá trị của Dzũng quan tài, Qúy dao, Hạnh búa khi cần thiết. Sự khôn ngoan được phối hợp với lòng can đảm thành sức mạnh chế ngự tất cả. Nhà binh pháp Ngô Khởi, mấy nghìn năm cũ, đã nhìn rõ chất ngọc trong tâm hồn du đãng. Đời sau coi thường du đãng, chỉ khinh miệt họ và xử dụng họ vào việc đâm chém hèn mọn. Nếu Dzũng quan tài không phanh ngực áo đứng dậy thách thức súng đạn cộng sản, Qúy dao chưa đứng , Hạnh búa chưa đứng, toàn đội 37 chưa đứng. Họ thành công . Bài học đánh cộng sản đầu tiên của họ là đứng dậy một lượt, đứng đúng lúc.
Buổi trưa hôm sau, họ rời Rừng Lá, căn cứ số 5 thuộc tỉnh Phan Thiết. Như ở Sa Ác, họ bị đẩy vào căn nhà mái tôn thấp lè tè. Khác một chút với ở Sa Ác là họ bị nhốt đúng bẩy ngày mới được dẫn ra suối tắm giặt. Ngày thứ tám, Ban Giám thị gọi từng người lên làm việc. Từng người được vuốt ve khéo và bị doạ nạt khéo. Trần Thế Tưởng mất chức đội trưởng. Bây giờ, đội mang số 53, và đội trưởng là Đỗ Mậu Qúy. Đội 53 chưa có quản giáo, chưa được giao công tác cụ thể nào đã phải lên xe vận tải chuyển trại. Vẫn ra đi nửa đêm! Chuyến đi này không mấy xa. Gần sáng, họ đã đến trại mới. Ở trại này, Đội 53 cải danh thành Đội Kỷ Luật.
Chế độ dành cho Đội Kỷ Luật rất khắc nghiệt. Họ được ăn ít và bị lao động nhiều. Họ không được viết thư về gia đình, nhận thư của gia đình và nhận quà thăm nuôi. Họ sinh hoạt riêng. Căn nhà của họ bị vây giây thép gai, cô lập họ với các trại viên khác của trại cải tạo Gia Lay. Cứ một tuần đi làm thì một tuần nghỉ. Tuần nghỉ không được tắm giặt, không được đổi máng cầu tiêư. Hơn mọi cực hình là họ bị tịch thu hết thuốc lào, thuốc lá, ống điếu, diêm quẹt. Tuần lễ nghỉ lao động, cửa nhà bị khoá ín, chỉ mở ra hai bữa nhận cơm nước. Mùi phân tiểu hôi thối, khai nồng. Một hôm cuối tuần nghỉ lao động, người ta mở khoá cửa, dẫn Lê Văn Thu đi làm việc. Thu đi từ sáng, xế chiều vẫn chưa về. Anh em thắc mắc.Đặng Cơ Bản nói:
– Không có gì phải thắc mắc về Thu cả, dù nó chỉ là thằng lơ xe đò. Sống với nó ở Sa Ác mấy tháng, tôi hiểu nó. Nếu nó đầu hàng, nó đã đầu hàng công an Hà Nội, khỏi bị tù , khỏi bị tra tấn..Chuyến xe cuối cùng nó ra Bắc, chở toàn sĩ quan công an. Tài xế ra lệnh ngầm cho Thu nhẩy khỏi xe rồi tống xe xuống đèo, tiêu diệt gọn lũ sĩ quan công an đi phép đặc biệt. Người ta đẩy nó sang cả quân báo khai thác nó. Rốt cuộc, tổ chức của nó vẫn tồn tại và nó can tội “tình nghi thủ tiêu cán bộ”. Nó đã trốn trại vài lần, lần nào cũng bị bắt và ốm đòn. Hẫy sống với Thu lâu hơn, các bạn sẽ yêu nó, phục nó.
Nửa đêm, Thu về, mặt mày sưng vù, hai bên mép ứa máu. Cửa nhà khép lại, khoá xong, mấy người công an khoá nốt cổng hàng rào khuất bóng, Thu mệt nhọc:
– Mới thêm chiếc xe đò rớt xuống đèo Hải Vân!
Anh em dìu Lê Văn Thu, đỡ nó nằm từ từ, xoa bóp chân tay, mình mẩy nó. Thiếu nước để ấp mặt Thu. Thiếu cả dầu cù-là. Gần sáng,người ta gọi Phan Tiến Dzũng. Rồi Huỳnh Nghệ. Rồi Trần Thế Tưởng. Tất cả đã trở lại phòng sau khi ăn no đòn tập trung cải tạo.. Lương Việt Cương nói:
– Nó bịp. Hồ sơ bọn mình kết thúc từ lâu. Nó bịa vụ xe đò rớt ở đèo Hải Vân để đánh Thu. Nó dằn mặt chúng ta, lôi Dzũng, Nghệ, Tưởng lên đánh tiếp. Nó còn đánh anh em mình nữa, chuẩn bị chịu đòn đi!
Chập tối,cậu phu nhà đòn Vũ Bình Bắc đi “làm việc”. Khoảng 22 giờ, Bắc trở lại phòng, nói với anh em: – Nó không đánh tôi, không hỏi tôi nửa lời.
Nửa tiếng sau, Đội Kỷ Luật nhận “lệnh khẩn trương”: Chuyển trại. Vũ Bình Bắc lo lắng trên xe. Trần Thế Tưởng trấn an bạn:
– Nó muốn chia rẽ chúng ta đấy. Bị đánh hay không bị đán thì cũng thế thôi. Nếu chúng ta ngu, chúng ta sẽ thù ghét nhau, thanh toán nhau, nhục mạ nhau, tố cáo lẫn nhau. Tôi nói thật, anh em ai chưa nếm đòn thù cộng sản , nên nếm thử, nếm xong coi sụ đấm đá của nó chả ra cái gì cả đâu.
Lần này, người ta chở Đội Kỷ Luật tới nhà lao Nha Trang. Đây là quân lao ngày xưa, nới nhốt lính đào ngũ và nhốt cộng sản Việt Nam. Những nhà tù ở nước Việt Nam từ 100 năm nay, đều do thực dân Pháp, phát xít Nhật, cộng sản Nga, tư bản Mỹ vẽ kiểu, bỏ tiền xây cất để nhốt người Việt Nam và cuối cùng, để người Việt Nam nhốt người Việt Nam.
Hồ sơ của Đội Kỷ Luật đã rõ bút tích phê phán và chỉ thị trừng phạt của ông Cục trưởng Cục Quản Lý Các Trại Giam Phía Nam. Sự có mặt của họ ở nhà lao Nha Trang chỉ là lịch trình lưu đầy của Cục trưởng Cao Minh Chiếm. Hai mươi tám người trong một phòng giam khá rộng, cửa sắt, chấn song sắt. Họ trở vể đời sống đề lao Gia Định, Chí Hoà, Đại Lợi. Cai ngụ Nha Trang tàn bạo hơn cai ngục Chí Hoà. Họ không chế đói, chết khát nhưng thường xuyên đói khát. Nhà lao cho ăn cầm hơi, uống cầm hơi. Một tuần một lần ra ngoài tắm, mỗi lần tắm năm phút đồng hồ. Qua hai tuần, mọi người quen nếp sinh hoạt nhà lao Nha Trang. Và tất cả cùng chung ý nghĩ: Ở tù, đâu cũng thế!
Đình Vượng nói:
– Tôi phải cám ơn cộng sản. Bất cứ lúc nào có tự do, trừ phi tôi chết, tôi sẽ viết cuốn sách ghi những điều tôi biết ơn cộng sản.
Vương Huy Dũng hỏi:
– Tại sao phải cám ơn cộng sản?
Đinh Vượng đáp:
– Tại vì, nhờ cộng sản, tôi biết thưong yêu thắm thiết và thù hận tha thiết; tôi biết hạnh phúc và đau khổ; tôi biết khinh thường vật chất; tôi biết sức chịu đựng của tôi và tôi biết tôi có thể chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta đừng mong cộng sản vuốt ve, chìu chuộng . Chúng ta phải cám ơn họ hành hạt chúng ta, đánh đập chúng ta để chúng ta mãi mãi tỉnh táo bằng nỗi thống khố.
Hoàng Sơn Trường nói:
– Tôi cám ơn cộng sản nhiều. Họ đã là cảm hứng để tôi viết chủ nghĩa tiểu tư sản. Có thể trong chúng ta đã có người muốn lập thuyết tiểu tư sản. Tôi hy vọng người ấy còn sống để tôi học hỏi. Hoặc người ấy đã chết thì tôi tiếp nối. Dẫu sao tôi vẫn muốn đi hết các nhà tù, các trại tập trung khổ sai lao động,
Nguyễn Kiến Thiết nói:
– Nếu người nào tình nguyện đi hết các nhà tù Việt Nam để không còn nhà tù ở Việt Nam nữa thì người ấy là tôi.
Ngô Tỵ nói:
– Tôi chỉ mong trở về múa lân. Tôi mơ nhất làm đội trưởng múa lân.
Trần Chiêm Đồng nói:
– Tôi hơi khác, tôi muốn làm lại tâm hồn…khách trú. Không, nước Việt Nam của chúng tôi, chúng tôi sẽ xấu hổ phải làm khách trú.
Mỗi người vẽ ra hình ảnh của ngày mai. Nhà tù, với họ, chẳng còn phải là hoả ngục hủy diệt con người . Mà là lò lửa tôi luyện những thanh thép phi thường cho xây dựng đất nước tương lai.
– Các cậu ạ – Trần Thế Tưởng nói – trong hai mươi tám người mình, chỉ có anh Cương và tôi đã lập gia đình. Tôi đã sáng tác xong một ca khúc, nhan đề Sàigòn mai anh về, tôi hát cho các cậu nghe nhé!
Và Trần Thế Tưởng hát:
“Sàigòn ơi, Sàigòn
Mai anh về, em thương
Để em khỏi nhớ
Để em thôi chờ mong
…..
Mai đây anh về
Xin làm cỏ biếc
Vướng chân em đi
Xin làm giọt mưa
Mưa râm rưng rức
Chạy theo bờ mi
….
Anh cầm tay em
Bàn tay khô héo
Anh nhìn mắt em
Gió lùa lạnh lẽo
Anh nhìn lòng mình
Mùa đông vây quanh
Cỏ non mùa xuân
Còn xanh dấu chân
Trăng non mùa hạ
Ướt đôi vai trần
Có xa không nhỉ
Ngày xưa thật gần
Có xa không em
Ngày xưa thật gần
….
Sàigòn ơi, Sàigòn
Em là quê hương
Lòng anh còn nhớ
Lòng anh còn thương…”
Nếu có tiếng lục huyền cầm đệm theo thì tuyệt. Nhưng đã tuyệt rồi. Kẻ thù cộng sản có thể nhìn rõ sự lãng mạn, bay bỗn của những người tù nhân tiểu tư sản. Những kẻ hò hét đâm chém, kêu gào máu trả nợ máu, có bao giờ biết thống khổ. Khi con người ngụp lặn giữa đại dương thống khổ,con người chỉ còn thích nói về thương yêu. Bản tình ca sáng tác trong ngục tù cộng sản . Hãy tìm một động từ giết chóc! Chẳng thể nào có. Hãy tìm một danh từ thù hận! Chẳng thể nào có. Bàng bạc chất thật của con người. Anh đi đánh cộng sản, anh nằm tù vì cộng sản, anh quằn quại vì cộng sản. Anh sẽ đem hạnh phúc cho dân tộc, anh sẽ không giết ai, anh làm cỏ biếc vướng chân em đi. Thế thôi, em yêu dấu
– Tôi cũng có một bài hát, nhan đề Giả sử mai đây khi ta trở lại- Lương Việt Cương nói. Bài tù ca hay tình ca của người tù tôi lẩm nhẩm riết rồi cứ ngỡ hát bài của ai. Tôi hát tặng anh em nhé!
Lương Việt Cương hát:
“Giả sử mai đây, khi ta trở lại trên đường
Gặp tuổi thơ ta cười ròn tan trong nắng
Đuổi bắt trái sao khô xoay tròn khi gió vắng
Ai gọi tên ta mà mùa thu rơi đỏ mặt
Giả sử mai đây ta về trên con phố cũ
Ai thắp lên cho ta những ngọn đèn trong sương
Có đôi mắt nào nhìn ta qua khung cửa kính
Ôi con gấu bông vàng từng dấu mùa kín mười phương
A, cuộc đời đâu có xa, còn y như ngày trước
Những bức tường nghiêng vả những khóm tầm xuân
Ai trèo lên cao mà vừa nghe huýt sáo
Mặt trời hiền dịu ơi, chờ ta qua mấy ngọn thùy dương
Bởi chiếc roi bạo lực chẳng thể vung hoài trong gió
Chú ngựa non reo tiếng lạc sau đồi
Các con ta dưới vầng trăng thuở nhỏ
Với ước mộng xanh như người thả bóng lên trời
Và em nữa, tất nhiên, vẫn là em thời trẻ
Của Sàigòn mở cửa những đêm vui
Em và Sàigòn ăn ô mai ngoài phố
Em và Sàigòn như một vệt son môi
Đã lâu lắm,dường như, ta không còn trẻ nữa
Con chim biếc bay rồi vườn vắng cây khô
Chợt một chiều nghe giòng sông nước chẩy
Gọi ta về thầm kể những đêm mưa
Ta bỗng thấy em đi giữa chiều áo lục
Dẫy phố dài thấp thoáng bóng dù xưa
Em tay bế con mắt nhìn đời rộng mở
Khi nắng hanh vàng mùa đã sang thu
Ôi, giả sử mai đây kh ta trở lại trên đời
Sẽ chẳng còn ai nhớ đến ta,chẳng còn em nữa
Thì trọn kiếp, ta xin làm người nghệ sĩ rong chơi
Đi đọc thơ ta nói chuyện với đời người…”
Âm điệu của bài tù ca vang vọng trong đêm khuya. Vương Huy Dũng thở dài:
– Buồn quá, anh Cương ạ!
Hoàng Sơn Trường cãi:
– Không buồi, phải nói là rất lãng mạn tiểu tư sản. Tôi đ4 nghe bài Sơn La và Côn Đảo của Đỗ Nhuận. Cộng sản họ thích rên siết trong tù. Chúng ta phơi phới. Chúng ta không hùng khí rẻ tiền, không than vản rẻ tiền. Chúng ta thật với tình cảm của chúng ta.
Hôm sau, cả đội bị cúp cơm trọn ngày vì tội hát nhạc đồi trụy. Hôm sau nữa, cả đội bị cúp tắm. Hôm sau nữa, từng người trong đội bị gọi ra, bị ăn đòn. Nhà lập thuyết Hoàng Sơn Trường bị lột kính cận và bị đập nát kính cận!
Ở nhà lao Nha Trang hai tháng, râu tóc rậm rạp, tua tủa như người tiền sử. Bệnh ghẻ tái phát. Sang tháng thứ ba, Đội Kỷ Luật bị đầy vào rừng già. Bây giờ, người ta chỉ định Lương Việt Cương làm đội trưởng và đội vẫn mang tên Đội Kỷ Luật. Ở trại Phú Khánh, như ở Sa Ác, Gia Lai , đội bị biệt giam một khu, lao động không giống giờ giấc các đội khác. Công tác của Đội Kỷ Luật là những công tác đột xuất. Nửa đêm, vệ binh đập cửa gọi thức để ra suối lặn xuống khiêng đá lên bờ. Giữa trưa, vệ binh thúc “khẩn trương” đi vác giây kẽm gai. Tội nghiệp Hoàng Sơn Trường mất kính, mò việc y hệt người mù!
Lương Việt Cương suy nghĩ mãi chưa tìm được cách cho nổ một vụ lớn để được chuyển trại. Ở Phú Khánh, Ban Giám Thị đầy đoạ Đội Kỷ Luật tàn bạo. Họ muốn anh em sưng phổi chết hết nên, mỗi sáng tinh mơ, bất kể mùa đông, họ chế ra trò chơi bắt tù lặn suối khiêng đá. Rút kinh nghiệm Sa Ác, họ không cho Đội Kỷ Luật tập họp chung sân với các đội khác.
Một đêm, Lương Việt Cương bàn với anh em chơi bạo một cú. Vài chiếc quần được cuốn lại thành một sợi giây. Phan Tiến Dzũng tự Dzũng quan tài tình nguyện đóng vai trò của đạo diễn Lương Việt Cương.
– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật có người tự tử!
Cửa nhà tù bị đập thình thình. Tiếng hò hét loạn cả lên.
– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật có người tự tử!
– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật nổi loạn!
Vệ binh chạy rầm rầm về phía phòng biệt giam. Cả trại thức giấc nghe ngóng. Trực trại xuất hiện. Súng lên đạn. Vệ binh vây bên ngoài. Cửa phòng mở. Trực trại quét đèn pin. Dzũng quan tài đang toòng teng trên cây sà ngang, giả vờ há hốc miệng,le lưỡi.. Người ta gấp rút cứu Dzũng quan tài. Rồi bắt Đội trưởng Lương Việt Cương khiêng kẻ chán đời lên trạm xá. Sau vài lần “làm việc” với Dzũng quan tài để nắm vững lý do tự tử, trại báo cáo về Cục. Cao Minh Chiếm quyết định tống cổ cả bọn ra miền Bắc.
TẢN MẠN VỚI TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN DẤU CHÂN NGÀY XƯA
Như vài dòng giới thiệu Một ngày nọ, tạm gọi là tình cờ, tôi nhận được tuyển tập truyện ngắn DẤU CHÂN NGÀY XƯA của Đồng Sa Băng gởi đến từ bên kia bờ Thái Bình Dương. Tôi tham lam đọc ngấu nghiến lần lược theo thứ tự của mục lục lục mà khi thấy cay mắt thì đã 2 giờ sáng! Cũng chính vì sự tham lam này mà tập truyện đã “cao chạy xa bay” ngay buổi sáng hôm sau khi tôi rời khỏi nhà. Thằng bạn ngủ “quá giang” hôm đó nó đã rinh đi mất, sau đó nó còn bị người khác rinh tiếp nên tập truyện chỉ quay lại tôi sau gần ba tuần với nhiều cuộc điện thoại “đòi nợ”! Toàn tập truyện như một cuốn hồi ký về quê hương. Tác giả không có ý định xây dựng một nhân vật chính nào cả, tất cả đều “kể” ra rất thật. Thật như đời sống thường nhật, thật như những con người bình dị nói bằng ngôn ngữ của quê hương ruộng đồng. Truyện ngắn của Đồng Sa Băng không hề thấy sự trau chuốt từ ngữ, thậm chí không sửa các từ địa phương mà chúng ta thường cho rằng khó biết, khó hiểu. Và cũng chính vì điều này ta lại cảm thấy hương vị của hoa đồng cỏ nội lại ngào ngạt lang tỏa khi đọc tập truyện. Đọc truyện của Đồng Sa Băng tôi liên tưởng đến “Thằng quỷ nhỏ”, “Buổi chiều window”… của Nguyễn Nhật Ánh mà ngày xưa tôi thèm đọc như người nghiện thèm thuốc. Xin chân thành cảm ơn tác giả đã vẽ lại bức tranh về đồng quê xứ Quảng bằng cả ký ức và tấm lòng của một người xa xứ. Trong bức tranh này có bóng dáng người mẹ, có em thơ, có tiếng gà sớm trưa, có tiếng bình yên mỗi buổi tinh mơ của học trò rủ nhau đi học, có tiếng khóc cười của buồn vui cuộc sống. Ai lớn lên từ quê hương có đồng ruộng, có núi đồi, có sông nước có lẽ cũng sẽ thấy ít nhiều dấu chân của chính mình trong số các DẤU CHÂN NGÀY XƯA đã in hằn trên quê hương yêu dấu!
Ngô Hữu Đoàn Sàigòn, 09.10.2006 XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU CÙNG CÁC BẠN
Mới vừa năm giờ sáng chiếc xe khách đã len lỏi dưới ánh đèn mập mờ Saì Gòn, lách qua từng con đường lớn, con dường nhỏ, và âm thầm chạy đi trong giấc ngủ của người dân đô thị. Những bóng đèn vàng vọt, treo lẳng lơ trên đường phố, dường như đã mệt nhoài sau một đêm daì soi đường chỉ lối, bây giờ nhường lại cho ánh nắng bình minh để lui vào giấc ngủ. Chiếc xe đang chạy tự nhiên thắng lại kêu két két, bốn bánh xe vạch đường dài trên mặt lộ, và từ từ dừng lại trước một quán ăn bên lề đường. Trước khi nín thở nó lại xịt cho một tiếng thật to, rồi phun khói đen bay đầy trời. Người tài xế bước xuống đi vào quán ăn, tôi mở mắt nhìn ra ngoài, mặt trời mới vừa ló dạng và chiếc xe cũng mới vừa đến ngã ba Dầu Giây. Con đường từ đây lên Ban Mê Thuột còn xa quá, tôi mới vừa ló đầu ra xe thì: “Bánh bao đây, bánh bao đây, bánh bao đi chú.” “Bán cho chú hai cái đi.” Tôi cũng chẳng buồn mở cái bánh ra, ngã mình trên ghế xe, tôi thèm giấc ngủ còn hơn đứa bé thèm cây cà lem của mẹ về chợ. Trong nháy mắt tôi lại nghe tiếng rao văng vẳng bên tai: “Miá ghimmm đây, mía ghimmmmm…” và bao nhiêu tiếng chân người bước đi trong gió. Năm đó tôi vào lớp mười hai trường Văn Học, ngồi nghe Nguyên Sa nói về người Saì Gòn mà cười muốn bể bụng. Nhưng tôi đâu có phải người Saì Gòn đâu. Ngày đó tôi cũng khăn gói, lất lư chạy theo cha mẹ tản cư nhiều lần lắm, chạy đi, chạy về, rồi lại chạy đi. Nhưng cuối cùng không còn chổ chạy về nữa nên tôi mới lọt vào cái trường Tư Chánh B nầy. Những ngày tháng tản cư ngắn ngũi sống ở trường Tư Chánh B tôi thấy vui lắm. Tôi thường lang thang phía sau trường, băng lên khu nhà thương và lên lò bánh mì Chí Thành ở thị xã Quảng Ngãi. Tôi thấy Quảng Ngãi rộng lớn quá, mà tấm thân tôi đến chiếc xe đạp cũng chưa biết cởi, nên suốt ngày chỉ biết lanh quanh ở khu Tư Chánh B nầy. Chiều về, những đứa bé tạm cư kéo nhau ra đầy sân trường nô đùa chạy nhảy, con gái thì nhảy dây, con trai thì tạt lon. Nhưng rồi cuộc vui nào cũng tàn, những chiếc dép Nhật sức đai, những lon sửa bò móp méo, và những sợi dây thừng đứt tả tơi bây giờ nằm chơi vơi trên sân trường. Những đứa trẻ theo gia đình mỗi người đi một ngã, còn tôi thì lại trôi dạt vào cái xứ Sài thành. Mà một người tản cư thì tôi cũng như bao nhiêu người con xứ Quảng khác, phải biết đi làm để đóng tiền trường. Tôi phụ và học việc tại một tiệm sửa đồng hồ của một người cùng quê. Những giờ không có lớp học tôi thường đạp chiếc xe đạp cộc cạch đến tiệm sửa đồng hồ ở Tân Qui Ðông. Từ bến đò Long Kiển, Hương Lộ 24, chạy vào một khoảng đường bốn năm trăm thước là khu thương mại bỏ túi. Cái tiệm sửa đồng hồ của anh Ba nằm trong nhà bà Ðạt và bên cạnh là tiệm may của mấy người con gáí bà Ðạt. Hôm nay có một người thợ may mới về trong tiệm, làm cho không khí tự nhiên ồn ào và náo nhiệt hơn. Những chiều cuối tuần bến đò Long Kiển trở nên tấp nập hơn, người từ phương xa tay xách, nách mang, những bó hoa, những bộ quần áo thật màu sắc, đổ về ngôi mộ bà Ana trong Tân Qui để tặng bà, và xin một vài điều may mắn gì đó. Hay cầu xin bà cho một con số để chiều nay đánh số đề. Trong số những người đến viếng thăm mộ bà Ana có cả những chàng bạch diện thư sinh, và những tà áo nữ sinh bay phất phới trong gió. Họ về đây để xin bà Ana chứng kiến lòng thành của họ, và cầu xin bà cho thi đổ kỳ thi nầy. Nhìn những khuôn mặt khẩn trương, và hớn hở đi trên đường mới biết niềm tin thật là mảnh liệt! Tôi nguyện cầu cho họ. Ở đâu có đám đông thì ở đó có chợ búa nổi lên. Cho nên bến đò Long Kiển bây giờ cũng mọc lên cái chợ chồm hổm. Cái chợ chồm hổm nhỏ chút vậy mà cũng đông người ghê. Tôi xuống xe dắc bộ chen lấn đi vào cửa tiệm đồng hồ. – Ðể xe đụng dơ quần tui rồi, dơ hết trơn rồi, mắt dịch. – Em nói tui mắt dịch hả? – Hổng lý tui nói tui mắt dịch. Thấy quần người ta bị dơ hông? – À, xin lổi, đưa đây tui phủi cho. – Thôi, thôi, đừng có dzô dziên. – Lần sau em đừng nói qua mắt dịch nghe hông. – Hí, lần sau, có lần sau nữa sao, thiệt là. Người con gái có vẽ bực bội, xách cái giỏ đi chợ bước vào tiệm may, nàng không quên quay đầu lại liếc tôi một cái muốn lòì con mắt ra ngoài. Tôi dắt chiếc xe đến cửa tiêm, dựng ngoaì hiên rồi vào trong lấy mấy caí hoá đơn để lên Chợ Củ mua thêm ba đồ phụ tùng về sửa. Từ đây lên Chợ Củ nếu không muốn đi bằng đò thì phải chạy xe dọc theo bờ kênh Tẻ để về cầu Tân Thuận Ðông, rồi bắt qua đường Trịnh Minh Thế đi lên. Ðường đi xa quá nên tôi thường lấy con đò Long Kiển qua cho lẹ. Ðứng bên bờ sông, nhìn chiếc xuồng cập bến tôi lại nhớ con đò An Chỉ ngày xưa. Ngày đó quê tôi nằm bên đây bờ sông Vệ, bên kia bờ là làng An Chỉ. Dọc theo hai bên bờ sông là những cụm tre già ngỗn ngang. Từ làng tôi qua làng bên phải đi bằng một con đò, con đò An Chỉ. Từ sáng tinh sương cho đến chiều hôm, ngày nào ông Ðàn, ông lái đò, cũng đưa khách sang sông. Con đò ông Ðàn đan bằng nan tre, trét dầu rái đen bóng, và lớn gấp ba gấp bốn lần những con xuồng ở bến đò Long Kiển nầy. Những lúc vắng khách, đò ông Ðàn thường cập bến bên cạnh buị tre già. Rồi một tiếng “ông lái đoooò” từ bên kia sông, là đò ông lại khoan thai rẽ sóng với cây sào bằng tre, dài, từ từ chuyển mình rời bến. Ngày đó tôi thường theo mẹ trên con đò An Chỉ qua sông cho kịp buổi chợ chiều. Bây giờ nhìn những con đò chạy bằng máy đuôi tôm lướt mình trên sông, hình ảnh ông lái đò ngày xưa hình như đã chìm lỉm trong dòng sông. Chiếc xuồng đã cập bến, tôi vội vã bước lên xuồng qua Khánh Hội để lên Chợ Củ. Tôi vừa làm vừa học nghề ở tiệm sửa đồng hồ nầy cũng gần một năm nay. Anh Ba, người cùng quê tôi, sau ngày chiến tranh, mất làng mạc, anh cũng chạy tứ tung, rồi anh học được cái nghề sửa đồng hồ đâu ngoài Ðà Nẳng. Sau nầy anh vào Saì Gòn lập nên cái tiệm sửa đồng hồ nầy. Thật sự ảnh cũng không có vốn để lập nên cái tiệm nầy đâu, nhưng vì ảnh có tay nghề giỏi mà ông bà Ðạt thì có nhiều con gái lớn chưa có chồng con, nên ông bà Ðạt mới đồng ý cho anh Ba đặt cái tủ nhỏ trong tiệm tạp hoá ổng bả để sửa đồng hồ, và chỉ cho thằng Lượm con ổng bả làm nghề. Vì chổ cùng quê nên tôi cũng được anh Ba chỉ cho cái nghề nầy luôn. Một năm sau khi anh Ba dọn về làm ở đây, ảnh cưới cô Bốn con gái ông bà Ðạt làm vợ. Ngày đám cưới tôi làm phụ rể cho anh Ba, tôi nói thôi, đám cưới nó vui tưng bừng, ông bà Ðạt mừng có được rể có tay nghề, dìu dắt đám con ổng cùng nhau làm ăn. Còn cô Bốn thì mở tiệm may sát nhà luôn. Tiểu hỷ, đại hỷ rồi tân gia hồng phát giống như rồng gặp nước vậy! Tôi ghé mấy tiệm bán đồ phụ tùng đồng hồ ở gần Chợ Củ, mua ít đồ xong tôi đi thẳng đến trường học luôn. Chiều về, tan trường tôi lấy xe chạy thẳng về bến đò Long Kiển để qua sông về tiệm sửa đồng hồ. Tôi dựng xe, bước vào tiệm và đưa cho anh Ba những gì ảnh nhờ tôi mua sáng nay. Tôi mới vừa ngồi xuống thì chợt thấy người con gái hồi sáng tôi làm dơ quần cổ, cổ cũng có mặt trong tiệm. Nàng đang nói chuyện với bà chủ nhà, và coi có vẽ thân thiện lắm. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn nàng rõ hơn, nàng cũng bình thường như bao nhiêu người con gái khác. Chiếc áo bà ba với mái tóc dài xỏa ngang lưng. Sáng nay tôi bị người ta xô đẩy đụng vào nàng, bây giờ thì gặp nàng ở đây, tôi muốn nhào vô làm quen với nàng ngay. Nhưng tôi không biết mình phải bắt đầu làm sao, nói cái gì? Tồi đành quay qua hỏi anh Ba: – Cô kia là ai vậy anh Ba? – Cháu bà chủ nhà đó. – Có phải cô thợ may sáng nay mới vô đó không? – Ừ, mà sao hôm nay chú hỏi tui chi kỷ vậy? – Thì thấy lạ hỏi thôi, anh biết nhỏ tên gì hông? – Nhị. Anh Ba người thật thà, hiền lắm, nhưng có cái bịnh nặng tai, cũng vì vậy mà anh sinh ra cái tật nói lớn tiếng, cái gì cũng nói như la làng lên. Người con gái đang nói chuyện với bà Ðạt nghe tiếng Nhị liền quay qua chổ tôi đang ngồi, nàng liếc mắt nhìn tôi một thoáng rồi quay đi. Tôi quay qua nói nhỏ anh Ba: – La gì to dữ vậy cha nội. – Hả, chú hỏi tui cái gì? Ổng lại la lên nữa. Khổ quá! Người con gái quay về phía tôi, xong đi thẳng ra về tiệm may luôn. Ông nầy ổng phá bể mánh tui rồi, nhưng tui đâu dám nói lớn nói nhỏ gì ổng được đâu, ổng là ông thầy của tui mà! Tôi phụ anh Ba chùi dầu cái đồng hồ xong tôi lấy xe ra về. Khi ngang qua tiệm may, tôi liếc vô nhìn nhưng không thấy bóng dáng nàng đâu hết. Ra tới bến đò Long Kiển trời đã ngã bóng về chiều. Nước sông đang lên, mang theo lục bình, rác rến đua nhau chạy về miệt cầu Rạch Ông. Cảnh người nhộn nhịp của chợ chồm hổm buổi sáng bây giờ đã vắng chỉ còn lại mấy con đò nằm trên bến đợi khách sang sông. Tôi bước xuống chiếc xuồng con. Cái máy đuôi tôm vừa nổ tạch tạch xong là chiếc xuồng cũng sắp đưa chúng tôi ra giữa dòng sông. Nhìn những đám lục bình trôi vội vàng trên sông sao tôi lại nhớ ánh mắt và mái tóc xỏa ngang lưng của Nhị. Nhưng rồi những con tóan, và hình ảnh những bài vở của ngày mai lại xâm chiếm suy nghỉ của tôi. Ở tuổi nầy tôi cũng biết mộng mơ rồi. Có những lúc đứng trước những bóng hồng, lòng tôi cũng biết bâng khuâng hồi hộp, ước mơ được dìu nhau đi dưới những hàng me xanh mát, hay nắm tay nhau đi bên cạnh bờ sông trong những buổi chiều tắt nắng. Nhưng mà thật tế vẫn là thật tế, những bài vở, những kỳ thi, và những lo toan của cuộc đời vẫn luôn hiện hữu trong tâm tư của người học sinh thời loạn. Những tháng ngày cuối của năm lớp mười hai tôi ít xuống tiệm sửa đồng hồ anh Ba. Mỗi ngày sau bửa ăn tối, tôi vào căn nhà nhỏ ôn bài cho kỳ thi sắp tới. Thỉnh thoảng tôi ghé tiệm anh Ba để mua đồ phụ tùng dùm ảnh. Mỗi lần ghé tiệm sửa đồng hồ tôi thường qua tiệm may của vợ anh Ba chơi. Ngày xưa ít khi tôi vào cái tiệm may nầy đâu, nhưng từ ngày có người thợ may mới tôi lại thường qua chơi. Riết rồi tôi cũng làm quen được với người thợ may mới nầy. Nhà Nhị ở tận ngã ba Cây Thị, Gò Vấp, xa quá nên Nhị ở ngụ tại tiệm may vợ chồng anh Ba. – Sao mấy nay không thấy anh xuống sửa đồng hồ? Nhị hỏi. – Anh đang học thi nên không có thì giờ nữa. Hôm nào Nhị về trên nhà cho anh đi theo với được không?
– Thôi, anh lo học thi đi, theo em về trên đó làm gì. – Anh muốn biết chổ Nhị ở mà. – Không được đâu, má em biết thì chết em đó. Quen biết Nhị mấy tháng rồi mà tôi không dám hẹn hò rủ Nhị đi chơi, có lẽ tôi sợ gia đình bà Ðạt biết, rồi sẽ đến tai gia đình tôi, và nhất là mẹ tôi. Tôi sợ bao nhiêu công lao mẹ tôi dành cho tôi mà kỳ thi Tú Taì nầy không đậu thì chắc khổ lắm. Cho nên mối tình thầm kín của Nhị có lẽ chỉ có Nhị và tôi biết thôi. Còn hai tháng nữa là ngày thi, lúc nầy tôi tự cắm trại một trăm phần trăm, không còn lên xuống tiệm sửa đồng hồ và cũng không có thì giờ gặp Nhị. Và kỳ thi đó tôi đã đỗ. Ngày đi coi kết quả tôi âm thầm ra đi một mình, khi biết đã đậu tôi vội vàng về báo cho mẹ, và anh chị biết, rồi chạy xuống tiệm may tìm Nhị. Trên đường đi tôi nghĩ chắc Nhị sẽ vui thật nhiều khi biết tôi đỗ kỳ nầy. Có lần tôi nhớ Nhị nói: “Anh rán thi đậu đi để khỏi bị xa em. Mấy người thi rớt đi lính hết, xa lắm, biết làm sao gặp.” Mọi ngày con đò Long Kiển chạy lẹ lắm, sao hôm nay tôi thấy nó chậm quá. Qua bên kia bờ tôi liền chạy như bay vào tiệm may của vợ chồng anh Ba, mọi người vẫn còn đó nhưng sao không thấy Nhị. Tôi hỏi anh Ba thì biết nay Nhị không còn ở và may đây nữa. Tôi dấu trong tâm tư một cảm giác thật buồn, những hớn hở vui mừng lúc trước bây giờ chợt bay mất. Tôi hỏi nữa thì mới biết nhà của Nhị trên Gò Vấp bị hỏa hoạn cháy thành than rồi. Nhị phải về trên đó để giúp đỡ má Nhị, tôi nghe thấy buồn cho Nhị và cũng thấy đỡ lo. Những tháng ngày mệt mỏi học thi bây giờ đã qua rồi, tôi thấy mình thật vui đời, không còn bận bịu gì nữa. Tôi đi tìm Nhị. Gò Vấp thì rộng lớn, chứ ngã ba Cây Thị thì có là bao nhiêu, tôi nghĩ như vậy. Và tôi đã đến ngã ba Cây Thị. Vợ anh Ba nói Nhị may cho một tiệm may nào đó ở ngã ba Cây Thị. Tiệm nào tôi đâu có biết, vậy là tiệm may nào trên ngã ba Cây Thị tôi cũng thò đầu vào xem, cuối cùng tôi cũng tìm được Nhị. Nhị rất ngạc nhiên, và rất vui mừng khi biết tôi thi đỗ. Từ buổi hôm đó tôi không còn sợ gia đình bà Ðạt biết nữa, và cũng từ buổi hôm đó tôi và Nhị thật vui bên nhau. Sau ngày tôi vào đại học, những ngày cuối tuần tôi thường lên thăm Nhị. Nhị may cho tôi một bộ đồ bà ba màu nâu, cái áo có hai cái túi. Có những ngày đẹp trời tôi đưa Nhị dạo chơi trong Thảo Cầm Viên. Mỗi lần lên thăm Nhị ít khi nào tôi gặp người gia đình Nhị lắm. Tôi hỏi: – Ba em đâu? – Ba đi bán muối rồi, nhà chỉ có má và em thôi. Có những buổi chiều, tôi ngồi trên đi- vân nhìn Nhị may áo, những tiếng mưa rơi lách tách trên mái hiên, tôi thấy cuộc đời thật hạnh phúc. Rồi tôi lại ngồi bên em, những cánh tay cuộn tròn với nhau, tôi nghe mùi thơm của tóc và ngoài sân, hột mưa vẫn rơi. Thời gian trôi qua, mỗi ngày thứ Sáu ra khỏi trường Ðại HọcKhoa Học tôi chạy lên ngã ba Cây Thị thăm Nhị. Nhưng rồi chiến tranh đến ngày gay cấn, khắp bốn vùng chiến thuật khói lữa điêu tàn. Và rồi tháng Tư cũng đến, Sài Gòn nằm trong hổn loạn, trường trại đều đóng cửa, mọi người nhôn nháo chạy tứ tung. Tôi cũng ham vui và nghĩ rằng cơ hội để con chim sổ lồng bay xa tìm hiểu và khám phá. Nhưng ra đi bỏ Nhị lại tôi thấy buồn lắm, cho nên vào giờ chót, hay là cái giờ thứ 25 tôi chạy lên ngã ba Cây Thị tìm Nhị. – Anh đang tìm đường đi ra nước ngoài đó, em đi với anh nhe. – Ý, không được đâu, còn má em bỏ lại đây một mình sao? – Thì em nói má đi chung luôn. – Không được, má em không đi đâu. – Sao vậy, sao không đi. Người ta đi đầy trời có sao đâu. – Nhưng má không đi được. Anh đi một mình đi nha. – Ba chết rồi, chỉ còn có em và má thôi, anh sẽ dẫn em và má đi luôn. – Em nói không được đâu mà, anh đi một mình đi. – Nếu em không đi thì anh không đi đâu, em đi nhe. Tôi năn nỉ và nói hết nước miếng nhưng cuối cùng Nhị vẫn nhất quyết ở lại. Hôm đó trời tháng Tư, không nhiều mây. Tôi ngồi chơi với Nhị cả buổi sáng. Những ngôi làng xa xa ngoài Gò Vấp tiếng súng nỗ đì đùng. Nhà chỉ có hai mẹ con nhưng sao tôi không thấy má Nhị đâu hết, có lẽ bà còn đi làm chăng! Những lời thắm thiết tôi đã trao cho Nhị, cuối cùng Nhị đi bộ cùng tôi qua một cái gò để ra bến xe Cây Thị. Tôi nói với Nhị nếu Nhị không đi tôi sẽ không đi, nhưng hình như trong lòng tôi đã quyết định. Tôi bước đi bên cạnh, những bước chân thật buồn, tôi sợ có lẽ từ đây sẽ cách xa ngàn dặm cho nên tôi không muốn đi mau. Tôi muốn níu kéo thời gian lại để được gần Nhị thêm vài giờ, nhưng rồi tôi sợ bị trể chuyến xe. Con đường từ nhà ra bến xe cỏ may ngập lối đi, những bông cỏ may đan đầy ống quần của tôi và Nhị, mà sao nó không đan hai tôi lại luôn! Tôi lên chiếc xe đò trở về Saì Gòn. Nhị đứng đó nhìn tôi, vẫy tay chào. Rồi chiếc xe từ từ lăng bánh, hình bóng của Nhị xa dần, xa dần trong gió bụi. Hai ngày sau tôi lên một chiếc tàu Hải Quân, rời Căn Cứ Chuyễn Vận Kho 18 lúc 20h10 ngày 29 tháng Tư. Cũng từ buổi chiều hôm ấy tôi bôn ba bên xứ người. Gia đình và người yêu đã là xa xí. Mãi đến hai năm sau tôi mới nhận lá thư đầu tiên của gia đình. Và tôi mới biết ba Nhị không đi “bán muối”, ngoài ra Nhị còn một người chị nữa, nay đã về đoàn tụ, Những thắc mắc tại sao trong những ngày bom đạn má Nhị không có ở nhà, và tại sao má Nhị quyết định không cho Nhị đi với tôi, bây giờ tôi mới hiểu. Và rồi những lá thư kế tiếp, tôi biết Nhị bây giờ đã lập gia đình với một cán bộ miền Bắc. Vậy là không còn trông đợi gì nữa. Tôi vào trường và tìm quên lãng bên những thằng bạn “mồ côi” như tôi. Ðến nay đã 25 năm qua rồi, 25 năm xa nhà, xa quê hương, hôm nay tôi trở lại. Tôi muốn tìm lại dấu chân ngày xưa, những kỷ niệm thật êm đềm mà tôi gói gắm mang theo. Con đò Long Kiển ngày xưa đưa tôi đến chợ chồm hổm Tân Qui, và bến xe Cây Thị bây giờ vẫn còn đó, tuy có một ít nhiều thay đổi. Nhưng Nhị không còn ở ngã ba Cây Thị nữa. Tôi theo đoàn xe du lịch đi Ban Mê Thuộc, du lịch cao nguyên. Tôi đang mơ màng thì đoàn người trở lại xe sau khi ăn sáng. Những tiếng động đã đánh thức tôi dậy, tôi vừa nhìn ra cửa sổ xe thì: Mía ghimmm đây, mía ghimmm đây… rồi chiếc xe từ từ lăng bánh. Hơn một tiếng đồng hồ sau xe đã đến Gia kiệm. Ngôi nhà thờ Thiên Chúa giáo ngày nào vẫn nằm sừng sững bên mặt đường. Hai bên đường là những líp thuốc lào được phơi ngay hàng thẳng lối. Những quần xanh áo trắng kéo nhau đến trường. Từ đây xe chạy mãi về hướng cao nguyên, qua con sông La Ngà rồi Ðịnh Quán với ba hòn đá chồng. Xa xa lên nữa là ngã ba Bão Lộc, và rồi cuối cùng đoàn xe cũng vượt bao nhiêu đèo cao để đến Ban Mê Thuộc. Ở đây du khách đi chơi tứ phía, cởi voi, cởi ngựa, vân vân. Tôi đứng ngắm những cảnh hùng vĩ của núi đồi cao nguyên mà nhớ lại quê tôi. Những ngày kế tiếp tôi vào thành phố để tìm người anh, anh Ty, ngày xưa người cùng làng tôi và sau này anh lên dạy học ở đây. Cũng mấy mươi năm rồi mới gặp lại, anh nói thao thao bất tuyệt về những này sống chung ở chợ Cây Quéo, Sài Gòn. Rồi anh Ty còn cho tôi biết nữa là anh Ba, người thầy dạy sửa đồng hồ cho tôi cũng ở Ban Mê Thuộc nầy. Vậy là không hẹn mà gặp, tôi tìm đến gặp anh Ba. Lâu rồi ai mà không thay đổi, tôi gặp anh Ba trong ngỡ ngàng và nếu không giới thiệu có lẽ anh cũng không nhìn ra tôi. Anh Ba dẫn tôi đi thăm rừng cà phê của ảnh, và hỏi tôi rằng: – Chú vê đây để tìm một người phải không? – Tìm ai đâu, tui chỉ đi du lịch lên đây chơi, và biết anh Ty ở đây, tìm tới thăm rồi lòi ra anh đó chớ tìm ai. – Thiệt không? – Nữa, đã nói như vậy rồi mà. – Ðược, nếu như vậy thì ngày mai chú trở lại đây gặp tui nghe hông. – Cái anh nầy có cái bịnh nặng tai, sinh ra cái tật nói lớn tiếng, rồi mấy năm không gặp, lại sinh thêm cái tật ấp ấp mỡ mỡ nầy nữa. Có gì thì nói hụych tẹt mẹ nó ra đi. – Không, bây giờ tối rồi, ngày mai chú trở lại đi. Anh cười khúc khích, đưa hai hàm răng khểnh ra trông như cái nạo dừa. Ngày hôm sau tôi trở lại, anh Ba đẫn tôi đến một tiệm tạp hóa nọ. Ðến nơi anh Ba nói: – Ðó, cái tiệm đó có người chú muốn gặp đó. Tui sẽ đợi chú ngoài đầu ngõ kia. Thế rồi anh đi, bỏ một mình tôi đứng đó, đến đây rồi tôi phải vào cho biết. Trời nắng quá ,tôi đeo đôi kiến râm và bước vào cửa tiệm tạp hóa. Một thiếu phụ đứng tuổi đang ngồi trông nôm cửa tiệm bên trong, bên ngoài là một thiếu nữ cỡ tuổi đôi mươi. Mới vừa thoáng nhìn người thiếu nữ tôi giật mình và súyt la lên. Trước mắt tôi là Nhị của 25 năm về trước! Tôi không tin con mắt của tôi, Nhị không còn trẻ như vậy đâu. Nhưng sao giống qúa! Tôi hỏi người thiếu nữ: – Cháu tên gì? – Cháu tên Vân. Tôi bước vào bên trong mua một ít đồ dùng, đứng trước người thiếu phụ, tôi hỏi: – Chào cô, cô buôn bán đây lâu chưa? – Từ năm 75 tới giờ anh. Anh người ở đâu, hình như không phải ở vùng nầy. Anh tên gì? – Tui người nơi xa đến đây thăm chơi. Tên tui là Vân. Chị có quen ai tên Vân không? – Vân. À có. Nhưng lâu rồi không biết ảnh ở đâu. Người thiếu phụ nhìn tôi rồi quay qua người con gái: – Vân, con vô gọi ba về ăn cơm đi con. Ðúng rồi, đây là Nhị, giọng nói đó, khuôn mặt đó, tuy thay đổi nhiều nhưng làm sao tôi quên được! Nhưng buồn thay, nàng không nhìn ra tôi! Tôi bước ra ngoài mua năm ba viên kẹo, viết lên miếng giấy nhỏ vài lời và gọi người thiếu nữ lại. Trao cho cô tờ giấy gói một nửa viên kẹo, bảo cô trao dùm cho má cô, rồi tôi bước ra cửa tiệm. Một lát sau, tôi đã đi gần khuất bóng, tôi quay lại thì thấy, người thiếu phụ đứng ngóng theo. Người con gái hỏi: “Chú ấy nói cái gì với Má vậy?” Người thiếu phụ không trả lời mà chỉ đưa tờ giấy gói nửa viên kẹo cho người con gái: “25 năm về trước, ngã ba Cây Thị, hai người hôn nhau và cắn vỡ viên kẹo cho mỗi người một nửa.” “Tên của con là tên của người ấy.” Người thiếu phụ nói nhỏ rồi bước vào bên trong.
Bạn tôi nếu mới gặp lần đầu, ta có thể nghĩ đấy là gã tay chơi, kẻ sống theo lề lối, sinh hoạt sôi nổi bề mặt. Cũng có thể đúng như thế, một phần do bạn vốn môn đồ Thiếu Lâm, vô địch điền kinh học sinh, khuôn mặt sắc nét tươi vui đều đặn. Bạn cũng có thể trở nên một tay hào hoa ăn chơi không âu lo với cung cách quen thuộc của dân học trường Tây, gia đình tài sản lớn. Nhưng, đời bạn đã không theo con đường dễ dàng thuận lợi đó. Bạn chọn ngã chông chênh, nguy biến hơn … Cũng là lối đi rực rỡ huyền hoặc của tất cả nhân sinh – Đường của người yêu với cách thế, điều kiện đặc thù để diễn đạt tình yêu ấy – Nghệ thuật. Và bạn đã chọn hướng Nghệ thuật hàng đầu-Âm Nhạc-Với thanh sắc kỳ ảo của riêng. Bạn tôi là một cô gái tội nghiệp trong số những thiếu nữ hẩm hiu bất hạnh. Bạn không có nét quyến rũ, lộng lẩy dù đang lúc thanh xuân khởi sắc. Bạn chỉ là một vóc dáng nhỏ bé linh hoạt, tóc nâu nhạt và đôi mắt luôn sáng ánh ngạc nhiên … Loáng lạ lẫm của tâm hồn đơn giản trung hậu trước những điều dữ dội, đe dọa từ cuộc sống. Bạn mất cha từ tấm bé nên gia đình đã là một điều phiền muộn u uẩn. Và lớp học, nơi bạn hằng ngày nôn nao đi về, đôi khi cũng gây nên đớn đau … Tân không có quần áo mới! Tân mặc quần … cháo lòng!”. Gã bạn nhỏ cùng lớp chỉ do nghịch ngợm vô tình nói lên câu ác độc … Bạn bật khóc, lòng ghi sâu mối rúng động gớm ghê. Nỗi xót xa khi trái tim bị xúc phạm. Trong đơn độc tủi hổ của tuổi lớn lên, Bạn như con chim nhỏ giữa đám lá sũng nước. Bạn cảm thấy bị đe dọa và cần được che chở.
… Hai bạn tôi yêu nhau từ một đêm trăng.
Gã thanh niên quả tình chỉ để ý đến người thiếu nữ như một phản ứng bù trừ. Anh học trường Pháp từ tiểu học nên quen giao tiếp phóng khoáng, văn minh. Từ căn gác của gia đình, ngôi nhà lầu mặt tiền con đường lớn nhất thành phố, hằng ngày anh nhìn thấy cô bé từ xóm nhà nghèo đi ra: Xóm nhỏ phần lớn là nhà tranh quay quần quanh khu đường cát lỡ. Những lối đi cát xám, nhỏ vừa đủ hai xe đạp tránh nhau, chạy vướng vít dưới tàng cây sầu đông, vào mùa Hè thoáng hương thơm ngan ngát theo gió từ vịnh biển tản lan. Cô bé (Khi khởi đầu câu chuyện, chỉ là cô bé gái vừa qua tuổi dậy thì) đã đi từ hẻm cát ra đến gốc cây đa, tiếp tục theo một con lộ khác lớn hơn, cũng là đường đất cát mà bộ hành chỉ xử dụng hai lối nhỏ hai bên, khoảng giữa tâm đường, cát gồ lên gò, đống. Đi hết đoạn đường cát, cô mới rẽ vào phố chính trải nhựa.
Một ngày, không nhớ rõ là bao giờ … Người thanh niên thấy ra cô bé … Sao “nó” có nét mặt chịu đựng tội nghiệp đến thế. Vẻ lặng lẽ cam phận này rất dễ nhận vì cô vốn có nét sắc sáng loáng tinh anh với sống mũi cao thẳng, da trắng và ánh mắt loáng xanh linh động. Anh theo dõi bước chân của cô bé như thế từ lúc nào không rõ. Chỉ biết, Hè vừa qua, cô gái đã là một thiếu nữ hoàn hảo, nói lời tiếp xúc đầu tiên: “Thưa anh, em đã đậu trung học … Đậu kỳ vừa rồi. Đậu Bình Thứ”. Giọng nói trong trẻo, tự tin, chững chạc.
Hai bạn tôi tiếp xúc quen nhau sau ba năm nhìn thấy vào ngày Hè 1958. Mùa sống động nồng nhiệt của tuổi trẻ và đất trời. Họ thường hẹn gặp nhau nơi vịnh biển trong rừng dương liễu. Họ chọn khu rừng gần hồ nước, hướng về làng Thanh Bồ, nơi lau lách, đồng cỏ ngút ngàn, tiếp giáp rừng dương, bờ biển để thiên nhiên còn nguyên độ hoang sơ thuần nhã thích đáng, hòa hợp với tình yêu trong sáng, thắm thiết của họ. Ở đấy không bóng người, chỉ tiếng gió vi vu xao động qua tàng cây và hàng lau nghiêng ngã. Chuyến tàu hỏa chở hàng từ ga chợ Hàn trở về gióng âm thanh xa vắng, thả lên trời vệt khói đen mỏng manh chỉ làm tăng thêm độ u tịch của cảnh sắc. Đoàn xe đôi khi bị mất hút đâu đó sau ngàn lau … Ở đây yên tĩnh quá anh há. Người con trai cười nhẹ. Anh chỉ có nụ cười trẻ trung chân thật này. Biết nói thế nào bằng tiếng Việt?! Quả thật âm thanh, ngôn ngữ có một khoảng trống không vận dụng được. Chưa vận dụng được. Anh bất lực để nói lên lời cụ thể. Anh cần một “Cách Thế, Phương Tiện” diễn đạt khác, đầy đủ, chính xác và thắm thiết hơn.
Một mùa Hè, một năm đi qua. Nay lại đến mùa Hè thứ hai từ lúc thương mến. Ngày Hè năm 1959, cô gái đột
nhiên vắng mặt. Gọi là “đột nhiên” vì do phản ứng của mối liên hệ đang bình thường, đang thắm thiết, bỗng nhiên cắt đứt. Người thiếu nữ phải theo đoàn học sinh cùng trường đi cắm trại vào dịp cuối năm. Cô vắng mặt từ sáng sớm, đến chiều người thanh niên động tâm. Chiều, khoảng thời gian sau khi tan học, từ nắng sáng tiếp bóng đêm … Không hẳn thế. Thật sự chỉ là ngày hôm qua, chiều trước của buổi chiều ghê gớm này. Anh đạp xe ra vịnh biển … Đến nơi vùng lau lách quen thuộc Anh để chân trần di động trên bãi cỏ, gò cát … Đi đến chỗ mép hồ, ngồi xuống, nhặt quả thông, khối cỏ tròn, tua tủa những cọng sắc như lông nhím … Anh thả khối cỏ quay lông lốc theo triền dốc cát … Đầu ngọn cỏ nhọn sắc đâm vào tay, hơi mát đầm đầm dưới chân, tiếng rì
rào của gió khua lá, mặt nước hồ hắt khối nắng vàng khô úa … Hình như tất cả cảnh sắc đang sụp xuống tàn tạ, hấp hối; khối đất trời đang đổi thay. Đang chết. Chịu không nổi, anh trở lại thành phố. Phải đi tìm …
Phải đi tìm.
– Ông biết học trò trường Phan Châu Trinh đi cắm trại ở đâu không?
Người bạn anh, vốn huynh trưởng một đoàn Hướng Đạo tuy biết rõ tất cả địa điểm cắm trại của vùng núi đồi, thôn dã quanh thị xã, không trả lời liền. Anh ta nhìn vào nét mặt thê lương ủ dột của bạn …
– Ông làm sao thế?
-Không có gì, tôi muốn biết họ đi cắm trại ở đâu. Cần lắm. Cuối cùng, cả hai đến chân đồi Mỹ Thị lúc ngày hết và trăng đã lên. Giải đồi dương liễu loang loáng, hiện ra mới mẻ theo từng khoảng khắc dưới trăng. Thân lá óng màu sáng bạc xôn xao chuyển động, xô đẩy đùa trăng đi như liếp sóng. Ta có cảm giác như những lượn sóng bạc đẩu đâu từ ngoài trùng dương xa xôi sau khi chạm đến bờ đã tràn qua giải cát, theo trăng lên đồi, tiếp ngọn cây, xô liếp sóng lá cồn lên không gian xanh sáng … Nhưng sóng lá thông còn phải đi hết lộ trình bất tận, chuyển xuống chân đồi, phía làng nhỏ và giòng sông, khua mặt nước làm trôi những giải đường trăng thiêm thiếp tan vào bờ lau, in hình khối núi Non Nước chìm chìm im lặng. Trên sóng nước, giữa giòng trăng, từ con đò len lỏi trong lau sậy bạn tôi đưa ống sáo lên môi. Anh dung nguồn thanh âm của tre trúc thay tiếng lời. Những nội dung mà ngôn ngữ bình thường hạn hẹp không nói được. Từ trên đồi cao, mấy trăm học sinh ngồi dậy. Họ đồng im lặng nghe giữa hơi gió cuốn lá, sóng trăng miên man thanh âm chuyển động kỳ ảo – Giọng tiêu trúc ca ngợi, tỏ tình.
Người thiếu nữ bật khóc. Bóng lá thông khi gió thổi lệnh làm lộ rõ ngấn nước mắt trên má long lanh.
Và, Nguyễn Đình Nghĩa cùng Trịnh Diệu Tân đã nuôi dưỡng, vượt sống, hiện thực tình yêu hằng suốt hơn ba mươi năm … Từ đêm Hè không hề mất độ sáng và âm thanh tiếng sáo vĩnh viễn màu trăng.
Cần gì phải cậy đến điển tích, sự việc người xưa, chuyện thần thoại … Những Trương Lương, Trương Chi, Orphée để diễn đạt, biểu hiện sức mạnh kỳ diệu của tình yêu, âm nhạc. Đêm trăng mùa Hè 1959 nơi đồi Mỹ Thị đã không chỉ của riêng Nguyễn Đình Nghĩa và Trịnh Diệu Tân, mà đã là cảnh sắc, thanh âm, giòng rung động, sức sống của tất cả lớp tuổi trẻ ngày ấy. Tuổi trẻ chỉ có một lần trong đời. Mà ba mươi, bốn mươi năm sau ở chốn cuối trời, nơi xứ lạ hoặc còn trong vùng đất nước tang thương … Những người thầy tóc bạc Nguyễn Đăng Ngọc, Bùi Tấn, Trần Tấn … Những người anh, người chị, Trần Đại Tăng, Trần Đình Hoàn, Đặng Thị Liệu, Trần Thị Kim Đính … Những học trò … Vũ Ngự Chiêu, Nguyễn Bá Trạc, Hà Nguyên Thạch, Bùi Ngọc Tô, Lê Chí Thảo, Tôn Thất Tuấn & Hải, Võ Thị Thương, Lê Thạch Trúc, Lê Như Hảo, Nguyễn Liên Hương, Huỳnh Thị Phú, Võ Hồng Diệp …. Và rất nhiều người. Tất cả đồng một lần xanh ngắt sống lại, một lần linh động phơi phới, khi nhắc lại trường xưa, bạn cũ … Vô vàn tiếng sáo đêm Hè Mỹ Thị sáng giòng trăng. Và quả thật, một mình tôi sẽ không đủ sức đi hết đoạn đường khó nhọc từ mấy mươi năm qua nếu không được sức nâng thường trực bền bỉ, cụ thể từ bằng hữu. Tôi không thể nào sống qua những ngày trẻ tuổi trầm luân thiếu đói nơi căn gác gỗ đường Tô Hiến Thành, Huế nếu không có Trạc, có Nghĩa, có Dinh … Tôi cũng không thể nào qua khỏi mười bốn năm lính điêu linh nếu không có những Mễ, Lạc, Lô, Tâm … Đám bạn lính chia với tôi từng ngày, từng giờ bão lửa. Và cuối cùng, từng phút giây đương cự nơi ngục tối. Tôi biết sống cùng AI, nếu không với những Người Bạn. Mỗi người bạn hiện hữu rõ từng chi tiết, nét mặt, tiếng lời. Sự thiết thân mầu nhiệm này có thật. Nên từ bóng tối, cảnh chết … Tôi đã phục sinh …
Trăng giãi vàng rơi liếp sóng loang
Lau lách im lặng dưới đêm ngàn
Ngũ Hành năm cụm nằm thiêm thiếp
Thuyền chở tiêu sầu qua quá canh
………
Con đâu? Bạn đâu? Trời xưa đâu?
Đêm đã qua lâu, bóng tối sâu …
Còn chút hơi tàn hong nhịp thở
Nhớ Người ghìm tiếng thét chìm đau
Nguyễn Đình Nghĩa không chỉ vận động giòng âm hưởng từ ống trúc để bày tỏ tình yêu. Anh hiện thực, hữu hiệu hóa khối năng lực thanh âm kia thành phẩm lượng vật chất để nuôi dưỡng, duy trì, khai triển tình yêu kia trong đời sống. Anh cùng Người Yêu kết hợp từ tiếng sáo đêm trăng, bỏ Đà Nẵng vào Sài Gòn những ngày đầu thập niên 60. Cả hai vào Sài Gòn với tay trắng. Tay trắng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng- Chỉ với cây sáo Trúc và Tình Yêu. Nhưng chuyện thần tiên và chuyện cổ tích của Nghĩa -Tân được hiện thực hóa ở Sài Gòn với đại nạn chiến tranh, trong căn nhà bốn thước bề ngang, hai mươi thước dọc nơi hẻm nhỏ đường Phan Văn Trị, Nancy. Nguyễn Đình Nghĩa dựng nên thế giới thanh âm tre trúc ầm vang giòng xe luôn náo động của hai con đường lớn nhất Sài Gòn-Chợ Lớn, Trần Hưng Đạo và Cộng Hòa, hòa nhịp với tiếng gõ xe mì, xe hủ tiếu âm động của dãy thùng hứng nước từ đầu hẻm và lẽ tất nhiên, chuỗi rầm rì liên tục mệt nhọc của nhà máy đèn Chợ Quán. Trong hẻm lao động tồi tàn náo loạn đó, Nguyễn Đình Nghĩa đã hoàn thành “tác phẩm” lớn của đời mình – Nuôi dưỡng vợ và ba con từng ngày bằng tiếng sáo. Diệu Tân thành người khoa bảng và các con khôn lớn trưởng thành. Chuyện thần thoại có kết thúc rất cổ điển và trung hậu: Nguyễn Đình Nghĩa là cây sáo số một của Việt Nam, của miền Nam. “Có một thằng cha bên Tàu, và một cha nữa bên Tây … Hai cha này thổi hay hơn moi!! “ Nghĩa đã nói với tôi như thế hơn hai mươi năm trước. Tôi nhìn quanh căn nhà lổng chổng đồ đạc tồi tàn, chiếc xe đạp treo trên tường, tấm bảng đen đầy bụi phấn, đống áo quần dơ, sô nước và Diệu Tân lấm lem khói bếp … “Ông nên “nhường” cho hai cha ấy đi … Sống thế này mà “thổi” được như ông là Thánh”. Ít khi nào lời nói đùa mang độ thật đến như thế. Nguyễn Đình Nghĩa lúc ấy, “cây sáo số một” của Việt Nam, gã Orphée tân thời chỉ một chiếc quần xà lỏn trên mình. Nóng từ mái tôn hắt xuống như đang trong lò bánh mì … Hỏi ai có thể “thổi” hay hơn bạn được. Chỉ cho tên một người khác đi, trước đây hoặc bây giờ.
30 tháng 4, 1975 sập xuống, cùng một lần với Miền Nam, Nghĩa và gia đình bị đuổi ra khỏi căn nhà hẻm Phan Văn Trị. “Sáo với tiêu, rõ nỡm, cái đống tre này chỉ đun được nồi cơm là phèo.” Gã cán bộ chỉ vào đống trúc đang chờ đục lỗ. Nghĩa và Diệu Tân trở lại miền Trung sau hai mươi lăm năm. Khác với lần di chuyển vào Nam ngày trước, chuyến đi của can đảm tuổi trẻ và lãng mạn tình yêu … Hôm nay, hai người có khối nặng của ba con và nỗi thấm nhục bị miệt thị. Hành vi của người Nghệ Sĩ bị đánh giá thành hoạt động hèn mọn chính trị suy đồi: “Chỉ có bọn Ngụy mới trả tiền để anh thổi sáo cho chúng … Cách mạng chúng tôi không cần. Nhân dân ta chỉ cần đánh Mỹ, thắng Mỹ và thi đua lao động.” Nghĩa và gia đình không về lại Đà Nẵng. Anh đưa vợ và ba con đi xa hơn … Nơi hẻo lánh, vùng núi miền Trung. Và chuyện thần thoại được thực hiện lần thứ hai. Cái khó không bó được cái khôn. Với điều kiện chúng ta phải khôn. Sự cùng khổ đôi khi không là tai họa nếu chúng ta có sức vượt qua cùng khổ. Ở miền núi, tiếp xúc với những người sắc tộc Bahnar, H’mong, Rhadé … Nghĩa dần khám phá ra khối lượng nhạc khí độc đáo, kỳ ảo của ho. Với cây đàn Trưng, nhạc khí gỗ khởi vỏn vẹn năm ống tre, đầu mắc vào cột, một người ngồi giữ giây, một người gõ. Người Bahnar (Vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi chạy qua Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột xuống Bình Long, Nam bộ …) Chỉ vận dụng được một cung năm ngữ âm đơn giản, để dùng trong việc liên lạc, mời gọi họp bạn hoặc các buổi tế lễ như hạ trâu, cưới xin, mở cửa mả.
Năm 1978, có mặt trong buổi liên hoan âm nhạc đồng bào sắc tộc Việt Nam tại Nha Trang, Nghĩa nẩy ra ý nghĩ khi nghe đàn T’rưng cải tiến (Từ một nhạc công người Nam đem ra Bắc năm 1954) Đàn T’rưng cải tiến thành cung Mi trưởng, có đầy đủ một hợp âm bát độ. Nghĩa so sánh:” Nếu chỉ với một ống sáo nhỏ bé anh đã tạo nên hằng hà âm giai, âm sắc biến hóa kỳ ảo … Thì huống gì đây những năm ống tre, cũng từ tre, trúc mà ra thôi”. Anh gọt không phải hằng chục, hằng trăm, hàng ngàn, mà hằng chục ngàn ống tre … Chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ để có những ống tre tối ưu – Để buồng hơi (chambre à air) tạo nên âm thanh tuyệt đối thuần túy – Một cung cộng hưởng tối đa. Căn nhà của anh trở nên một rừng tre nhân tạo tua tủa những ống tre. Từng ngày với từng ống tre được gọt theo từng 1/5, 1/10 milimetre một … Năm 1981, Nghĩa hoàn tất chiếc đàn T’rưng đồ sộ gồm 26 ống có khả năng tiết tấu bốn bát độ. Ngoài ra, Nghĩa phải cậy đến một sáng kiến khác của người Nhật Watanabé, nhạc sĩ này đã tìm ra một “gam vồ tình” cũng có thể gọi là “gam mềm” sau khi gắn vào thêm hai ống. Chiếc đàn 29 ống hoàn chỉnh. Bộ trưởng Văn Hóa (Cộng Sản) Lưu Hữu Phước không thể nào vùi lấp sáng kiến và tài năng của Nghĩa, cũng một phần, đây là điều đáng hãnh diện của người Miền Nam sau khi Hà Nội sáng chế nên cây gõ hai đầu; cây gõ nguyên thủy chỉ một đầu.
Nguyễn Đình Nghĩa được chính phủ Cộng Sản – Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chấp nhận.
– Phải chấp nhận – Người nghệ sĩ Miền Nam này là một tài năng đích thực. Tài sản lớn của tất cả Việt Nam.
Thái độ này là một biểu hiện điển hình của thú nhận:
Sau mấy mươi năm chỉ huy miền Bắc, những người lãnh đạo cộng sản đã thành hình được một khối lượng lớn (rất lớn) văn hóa phẩm gồm những bài hát chỉ được hát một lần ở đài phát thanh; những toàn tập chỉ được mua bởi cơ quan chính phủ; những tranh, tượng dùng để trang trí ở các phòng họp, hội trường nhà nước … Họ cũng dần hiểu rõ “mặc cảm” cần được tiêu trừ (Như một cấp lãnh đạo miền Bắc đã nói cùng cố học giả Nguyễn Hiến Lê:
“Miền Nam nên từ bỏ “mặc cảm tự ti” vì lạc hậu, phản động (do thua trận) và miền Bắc cần từ bỏ “mặc cảm tự tôn (do đã thắng trận”). Thật ra, chính là cái “mặc cảm”, đám tổng lý sau khi ăn bạc và cơn say bữa rượu thịt chó của chính họ. Quả tình tôi rất thấm hiểu “cơn trả thù của người nghệ sĩ” khi nhìn thấy hàng hàng cán bộ lãnh đạo, viên chức nhà nước, những văn nghệ sĩ “cấp cao” cộng sản nối đuôi nhau vào xem và tranh mua những họa phẩm của “bọn họa sĩ Ngụy”: Nguyễn Trung, Đỗ Quang Em, Đằng Giao, Phạm Cung, Nguyễn Hải Chí (Chóe). Tranh của cụ Nguyễn Gia Trí đã là một “Tài sản Quốc gia”. Tranh và những họa sĩ đã bị khinh miệt vất bỏ từ buổi sáng ngày 30 tháng 4, 1975.
Nguyễn Đình Nghĩa là một “”trả thù” xứng đáng nhất. Nhân tiện đây, tôi có ý nghĩ, đồng bào hải ngoại chớ nên gay gắt cùng với những văn, nghệ sĩ hiện còn ở Việt Nam nếu như họ có phần “cộng tác” cùng chế độ, chính quyền cộng sản ở đấy. Tại sao ta không chia phần “hãnh diện” vì người Việt Nam (Người ở miền Bắc, Hà Nội lại là đa số) chỉ tìm đọc Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Thụy Long, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Hoàng … và cả đến Bà Tùng Long, cụ Hồ Biểu Chánh. Họ hát “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” của Phạm Duy, bài “Hát Cho Một Người Vừa Nằm Xuống” của Trịnh Công Sơn và “Người Ở Lại Charlie” của Nhật Trường từ phòng giam trại 5 Lam Sơn, Trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa, Trại Hà Nam Ninh … Người miền Nam có hề “thua” đâu. Thấy như thế. Nghĩ như thế.
Nhưng chuyện thần kỳ của Nguyễn Đình Nghĩa không ừng lại ở đấy, ở Việt Nam. Anh đến Canada năm 1984; tháng Giêng 1987 nhân dịp Tết Việt Nam, anh xuất hiện ở phòng hòa tấu Đại học Toronto và liên tục trình diễn qua các cơ sở văn hóa, giáo dục vùng Đông Bắc nước Mỹ. Anh không đứng trên sân khấu một mình. Sau lưng và hai bên anh bây giờ đã có toàn thể khối lực hỗ trợ … Những Đoan Trang, Nam Phương, Nguyễn Đình Nghị và tiếp theo, Nguyễn Đình Hòa và Chiến.
Đây không còn là những đứa bé trèo lên vai, bám lên cổ anh ở hai mươi năm trước, mà đã là người thiếu nữ Việt Nam làm sống động âm thanh khắc khoải
gờn gợn của Độc Huyền (Nam Phương); người dựng lại khối âm thanh rực rỡ của Thập Lục (Đoan Trang) và những cây guitar điện với Nghị, Hòa, Chiến … Tất cả đã hòa nhịp cùng chiếc đàn đồ sộ 29 ống của Nghĩa hiện thực nên điều – Âm nhạc, nhạc khí cổ truyền Dân Tộc Việt Nam là một thế giới kỳ diệu do từ nội dung sâu lắng, phong cách, kỹ thuật trình diễn điêu luyện tế vi. Buổi trình diễn ngày 2/6/1994, tại thính đường Carnegie Đại học Kỹ Thuật New York là một xác chứng về câu chuyện có vẻ không thực của một gia đình tên
gọi Nguyễn Đình Nghĩa. Vì sau gần trăm năm thành lập, phòng hòa âm ấy chỉ dành riêng để các bậc thầy trình diễn về các bậc thầy … Những Beethoven, Mozart, Wagner … Nhưng nguồn sống động làm phấn khởi, thúc dục tôi viết nên bài này không phải là giải thưởng của Thống Đốc Tiểu bang Maryland về “Nghệ Sĩ Độc Tấu Xuất Sắc” năm 1994 mà Nghĩa vừa nhận được hôm 12/6 tại Baltimore. Có một điều gì cao quý và sâu xa hơn. Đấy là dự định mà tôi tin chắc Nghĩa sẽ thực hiện được – Làm sống lại Beethoven, Tchaikovsky, Debussy … Bằng lửa. Với lửa – Nghĩa là Nghĩa sẽ tái cấu trúc, hoàn chỉnh lại cây “Đàn Lửa” của người Vân Kiều (Vùng núi Bạch Mã, Cầu Hai, Thừa Thiên) Một loại đàn đã bị thất truyền và không người có khả năng khôi phục. Lửa sẽ được đốt lên (tất nhiên từ một hệ thống lò ga thay vì lửa trại, lửa rừng) chuyền hơi nóng qua những ống tre lớn, do Nghĩa đã nắm được cấu trúc từng tế bào tre, trúc …)
Và những hợp tấu khúc lớn của các bậc thầy sẽ được dựng nên, bừng dậy như ánh lửa chập chùng hằng cháy sáng từ ngày khai sinh sự sống trần gian. Nhưng cuối cùng, cũng không hẳn như thế. Chẳng phải vì tài hoa đặc dị của bạn mà tôi viết nên lời. Tôi cảm động vì một điều đơn giản. Về một điều rất đơn giản, tầm thường.
… Ngày xưa, buổi rất lâu của hơn bốn mươi năm trước, những ngày của thời gian trước 1954. Tôi lúc ấy là đứa trẻ nhà nghèo thường hay nhặt những hạt, hột không tên, vô vị nào đó để lót lòng vào buổi, giờ xa bữa ăn vốn quá thiếu thốn … Hạt cây quăn vị ngọt nhầy nhầy mủ trắng, hạt trái mâm xôi xám trắng trong trong. Và trong những lúc lẫn quẩn nơi bụi hoang, bãi cỏ để tìm kiếm loại “lương thực” tội nghiệp kia, giữa tiếng lá kiền kiền khô cuốn trong cỏ tranh, trên mặt đường đất đá lồi lõm vùng ngoại ô Đà Nẵng … Giữa tịch mịch của thanh âm nắng, gió, lá, cỏ kia tôi nghe vọng tiếng chim …
Tít … tít .. tít … tịt … t .. tịt .. tịt … Chim kêu tắt tắt, chậm chậm và lịm dần. Tôi không biết tên chim nhưng nghĩ … Chim chắc cũng đang chịu phần tội nghiệp hẩm hiu ...Cũng chưa thấy đáng chim lần nào. Năm 1993, nơi vườn Lái Thiêu, giữa khoảng xanh dầy của tàn măng cụt, tôi trải chiếc chiếu ngủ dật dờ trên đám lá, nắng cuối năm vàng khô lạnh lạnh. Chẳng khá hơn tình cảnh của đứa bé bốn mươi năm trước, và nghe lại tiếng chim
Chịu không nổi. Tôi phải nói lên cùng Út Năng, ông bạn già chủ vườn tôi ở,
– Thì chim “mồ côi” mà cha …
– Mồ côi? Ai mồ côi?!!
– Ông không nghe ra à … père … mère … frère … tout est perdue … Mất hết trơn như vậy làm sao không kêu ..
– Ờ … há … vậy là con chim giống tôi … Hèn gì hồi nhỏ tôi đã nằm lặng ra mà nghe.
Và tôi đã nghĩ có mấy ai trong đời phải mất hết trơn đến tội như thế. Và có ai trong đời hằng phải nhớ đến một tiếng chim. Nhưng không, trong những bài nhạc do Nghĩa soạn cho sáo, đàn có nhiều bài về chim … Bài Phụng Vũ, bài Chim Loan … Và bài Chim Boong Klé. Boong Klé là chim gì? Tôi hỏi bạn.
– Chim “mồ côi” đó mà … Ở Đà Nẵng thuở nhỏ toa có nghe lần nào không …
Vâng, Nghĩa và Tân ạ … Tôi đã nghe tiếng chim ấy và tôi cũng đã đôi lần kêu với nó. Thật ra rất nhiều lần. Vẫn đang kêu cùng chím.
Thật cũng có phần đúng khi người ta nói các thẩm phán, luật sư và các y sĩ giải phẫu thường đứng trước cùng mộttình trạng lưỡng nan. Họ đã phần nào quyết định tính mệnh của đồng loại, nhưng sau đó, họ không bao giờ gặp lại bị can hay bệnh nhân. Thật rất hiếm khi họ được biết tin tức của những người mà số mệnh trong khoảng một, hai giờ, đã được phó thác trong tay họ. Và còn hiếm hơn nữa, những khi việc đời cứ kết thúc vui vẻ như trong truyện thần tiên như trường hợp bác phụ tá kế-toán Trần-Văn-Sợi.
*
Có lẽ chưa bao giờ tôi gặp một người “xám” như Trần Văn Sợi. Chưa đầy ba mươi tuổi mà tóc hắn đã chớm ngả xám màu muối tiêu. Áo tây xám, cà-vạt xám, sơ-mi xám, rồi giày xám, bí-tất xám, và đến nỗi dây đồng hồ trông cũng xám nốt. Hắn đến bệnh viện những mong trút hết mọi điều khổ não chất nặng trong lòng. Dáng người nhỏ thó, Văn-Sợi còn cố thu người lại như muốn mình phải nhỏ hơn nữa. Vừa vào là hắn bắt đầu kể ngay những chuỗi ngày thống khổ:
– Bẩm, thưa bác sĩ, bác sĩ hiểu cho, cháu chẳng bao giờ gặp may trên cõi đời này cả. Cháu chỉ là một thứ “người phụ tùng”. Đã thế, cháu lại mắc một thứ “bệnh phụ tùng” nữa; khổ lắm, bác-sĩ ạ, khổ lắm!
Tôi cố ngắt lời hắn để xem “bệnh phụ tùng” là bệnh gì, nhưng hình như hắn chẳng để ý đến và cứ tiếp-tục kể khổ.
– Bẩm, nói vô phép khi cháu đi đại tiện, ở hậu môn cứ có những cục phồng phồng nổi lên. Bẩm ra cả máu nữa ạ, mà cũng nhức nhối lắm ạ. Cháu không bao giờ có đủ can đảm đi bác sĩ khám bệnh – cháu bao giờ cũng sợ – ngay cả bây giờ, xin bác sĩ đại xá cho, cháu sợ cả bác sĩ nữa. Bẩm, cháu có đến bà mụ trong xóm, dạ … bà ấy đã xem những cục này rồi ạ … Bẩm, cháu ngượng lắm, ngượng vì phải để bà ấy xem nhưng cháu cứ bụng bảo dạ: người ta là bà mụ, người ta xem chán đi rồi. Khám xong, bà ấy bảo cháu:
“Này, ông Sợi này” – vâng chính thế, bà ấy gọi cháu bằng “ông” bẩm, ông vì … bác sĩ hiểu cho cháu chỉ là một thứ “người phụ tùng”, bà ấy bảo cháu: “Ông Sợi ạ, ông bị trĩ hạ đấy”. Rồi bà ấy cho cháu hai thứ thuốc – trong uống, ngoài xoa, bà ấy bảo thế – vâng, một thứ để uống, một để nhét vào … đằng sau! Chắc bác sĩ biết thừa rồi chứ ạ? Nhưng bẩm cũng chẳng ăn thua gì cả, vì cháu không thích dùng, nó lỉnh kỉnh lắm. Chấu cứ bụng bảo dạ: cẩn thận đấy, kẻo lợn lành chữa thành lợn què rồi tiền mất tật mang thì khốn!
Dạ, cũng vì thế mà bây giờ cháu vẫn bị trĩ, và cái “của nợ” này cứ chảy máu hoài. Bây giờ, vâng, bây giờ cháu mới tự nhủ chẳng lẽ cứ để mãi như thế ru? Có người đi đứt vì đau phổi thì chắc cháu cũng đến đi đứt vì mấy “cái ấy” mất thôi. Chỉ nhìn qua cái hậu môn của Văn-Sợi tôi cũng thấy là bà mụ nói đúng những cục “của nợ” trông thật “ớn” quá.
– Chắc chắn là trĩ hạ rồi, bác ạ. Phải lấy nó đi, nghĩa là phải mổ. Trĩ để lâu ngày quá, chỉ có mổ mới khỏi thôi.
Văn Sợi giật nẩy mình kinh hoảng:
– Bẩm, bác sĩ nói thật đấy ạ? Bẩm, không thể được, mà mổ làm sao được chứ! Bác sĩ cứ nhìn cháu, cháu gầy ốm thế này chỉ còn có “nửa người” thôi … một “người phụ tùng” mà!
Vốn còm cõi, nhỏ thó, cháu đã yếu sẵn mà bây giờ lại còn yếu hơn nữa là khác. Bẩm bác sĩ cứ tin cháu đi, mổ thì cháu chết mất, chỉ có đánh thuốc mê không cũng đi đời nhà ma rồi còn gì. Vâng, thật thế, bẩm, bác sĩ đừng mổ cháu. Cứ cho cháu mấy thứ thuốc như của bà mụ cũng được ạ, bác sĩ hiểu cho cháu không còn mặt mũi nào lại nhà bà ấy nữa. Hay bác sĩ làm ơn làm phúc liệu xem còn có cách khác không? Cháu cắn răng cắn cỏ lạy bác sĩ đừng mổ cháu, tội nghiệp!
Tôi phải cố gắng lắm mới nhịn được cười. Tôi nghiêm giọng nói:
_Bệnh này phải mổ, bắt buộc phải mổ. Nếu tôi để bác mãi như thế này, bác sẽ mất rất nhiều máu, rồi người yếu dần đi, nó lử đi, rồi bác kiệt sức mà chết. Muốn khỏi “của nợ” này chỉ có một cách là mổ!
Văn Sợi bàng hoàng ngả người xuống ghế. Nghĩ đến những viễn tưởng đen tối, hắn lầm bầm nói những lời khó hiểu. Muốn hắn khỏi nghĩ ngợi lung tung, tôi hỏi:
_Nhưng nay, sao lại “người phụ tùng”? “Người phụ tùng” là sao chứ?
Đôi mắt hắn lóe lên một tia hãnh diện, nhưng cũng đượm vẻ buồn:
– Bẩm, cháu đã sáng tác ra ba chữ ấy: “người phụ tùng” là một tên tầm thường, không quan trọng gì cả, một tên vô tích sự chẳng ai thèm để ý tới, -Bẩm, cháu muốn nói là chẳng có những chân quan trọng nào, những người mặt to tai lớn, bụng bệ vệ, vẻ đài các nào để ý tới. Bẩm bác sĩ, cháu làm chân phụ tá kế toán trong một hang lớn; cháu chuyên kê danh sách về lương bổng. Từ sáng đến chiều, cháu chỉ viết có chữ số, thành hàng thành lối, rồi cứ đến cuối trang là cháu cộng lại. Công việc không khó lắm, nên cháu làm được. Nhưng phiền một nỗi là công việc dễ quá, nên đồng lương ít ỏi lắm, chỉ đủ vắt mũi đút miệng thôi ạ. Mà cháu lại không biết việc gì khác, nên cả đời cháu chỉ là một anh ký quèn ngồi cạo giấy, cộng cộng trừ trừ cho đến già. Dạ, ông sếp cháu có khi cũng quên cả tên cháu. Cả tháng, ông ấy chỉ nói với cháu chừng một vài lần, mà lại gọi cháu là “bác Thừng” hay “bác Chão”. Bẩm bác sĩ, đối với ông ấy, cháu chỉ là một thứ người phụ tùng, ông ấy nhớ tên cháu làm gì cho mệt đến thân.
Văn-Sợi ngừng lại để thở dài, mặt buồn thiu.
Tôi an ủi:
– Việc gì mà bác phải để tâm đến điều nhỏ mọn ấy. Ông chủ sự nào mà chả như vua con.
Ông chủ sự của bác chắc cứ tưởng mình là Nã-phá-luân chứ gì? Tôi chắc thế nào các bạn bác …
– Dạ, không? Bác sĩ không biết, chứ họ cũng thế cả. Đối với họ, cháu cũng chỉ là một người phụ tùng. Họ sống cuộc đời khác hẳn cháu. Họ có vespa, máy ảnh, họ có bồ có bịch; chủ nhật ngày lễ, anh chị dẫn nhau đi xem xi-nê; có người lại thích đi coi tuồng cải lương. Còn cháu, tối cắp ô về chiếc nhà tôn nóng như lửa đốt,
bác sĩ biết cháu làm gì không? Bẩm, cháu chui vào giường, ngủ như chết … Có một lần, mùa hè năm ngoái, cháu cũng muốn làm như bọn họ. Chủ nhật hôm ấy, cháu đi xe đò về miền quê chơi. Bẩm, cũng kỳ lắm – đi thui thủi có một mình, trong khi thiên hạ, kẻ cặp kè bồ bịch, kẻ sum họp gia đình, có vợ có con. Dạ, cháu buồn, cháu tủi lắm! Rồi lúc trở về, xe đò trật bánh, vâng, họ lái ẩu lắm ạ! Một ông to lớn như hộ pháp ngã đè lên cháu, dẫm bẹp cả mấy ngón chân cháu. Bác sĩ thấy không: cái số cháu là “người phụ ùng” nó thế đấy! Bây giờ lại bị trĩ nữa. Thật đã buồn về trận mưa rào, lại đau về nỗi ào ào gió thu. Bác sĩ có thấy rõ cháu là “người phụ tùng” không?
-Không, bác cứ tưởng tượng thế đấy chứ! Trĩ hạ là bệnh thường, nhẹ thôi. Nhưng vì bác để lâu quá nên nó mới to đến thế đấy! Không thể tránh được, phải mồ bác ạ!
Tôi phải nhấn mạnh cho hắn nghe, bao nhiêu nỗi cực khổ đau đớn đang chờ hắn, nếu hắn cứ khăng khăng giữ mãi thứ “của nợ” này. Tôi còn giải thích cho hắn rằng mổ không có gì nguy hiểm cả. Rồi tôi bảo hắn: “Chí nam nhi ta có ngại gì!” Dần dần, nỗi lo âu tan như mây khói. Nửa giờ sau, tôi cho đưa hắn ra văn phòng làm thủ tục nhập viện.
Thế là Văn Sợi đã nằm trong khu của tôi, chờ ngày mổ. Rầu rĩ nhưng hắn an phận chờ đợi giây phút “khủng khiếp” của cuộc giải phẫu, định sẽ làm hai ngày sau. Ngày hôm ấy, khoảng mười một giờ sáng, trong phòng rửa tay cạnh phòng mồ, toán chúng tôi đang sửa soạn để giải phẫu tiếp. Tiết đại thử, trời oi bức như miền nhiệt đới. Thời gian đi chậm chạp đến sốt ruột. Chân tay rã rời; mồ hôi nhễ nhại làm những tấm tablier cao su dày dính cả vào da thịt. Đến cồn rửa tay, mọi khi mát rượi mà hôm nay cũng nóng như nước hâm.
Phòng mồ, xây nhô ra khỏi các phòng khác, lồng toàn kính. Các kiến trúc sư đã khôn ngoan đoán trước là đến tiết giữa hạ, ánh sáng mặt trời tụ trên lồng kính này, sẽ nóng như thiêu như đốt, nên đã đặt một hệ thống tưới nước chảy đều trên mái. Nhưng hệ thống tân kỳ này có một khuyết điểm lớn, là chưa bao giờ được áp dụng, thành thử chiếc lồng bằng kính này hóa ra một lò lửa. Không khí nóng bức, sặc mùi ê-te làm ta tưởng như phòng tắm hơi. Mát-tít dán cửa mềm đến nỗi chảy cả xuống gạch hoa, kết thành từng vùng nhỏ; đi ủng cao su dẫm phải, dính nhơm-nhớp. Dù phải làm việc trong những điều kiện tồi tệ này, chúng tôi đã mồ gần hết những trường hợp phải hoàn tất nội trong buổi sáng. Chỉ còn cuộc giải phẫu thứ bảy và cũng là cuối cùng – mổ trĩ hạ cho Trần-Văn-Sợi. Bệnh nhân đã được tắm mát, được sửa soạn đầy đủ, và đang nằm trên bàn mồ. Bỏ hết quần áo đi, trông hắn lại càng thêm gầy ốm – đúng là chỉ còn có “nửa người” như hắn đã tự ví.
Bệnh nhân yên lặng, hai mắt nhắm nghiền, hoàn toàn chịu đựng, phó thác thân phận cho số mệnh. Một anh phụ tá bắt đầu chụp thuốc mê. Tôi ngạc nhiên thấy Văn-Sợi rất bình thản; chắc hẳn đã quyết định sẽ tỏ ra biết điều. Từ nãy đến giờ, qua cửa sổ phòng rửa tay, tôi vẫn quan sát hắn. Tôi hỏi anh bạn đồng nghiệp:
– Thế nào, hắn ra sao?
– Ngủ rồi, ông bạn ngoan lắm!
Anh kết luận hơi vội vã. Có lẽ Văn Sợi chỉ chờ khi nghe những câu này là khởi sự. Hắn vùng mạnh, giãy giụa, làm bật tung cái đai da thắt ngang bụng; hắn giật mạnh hai tay bị buộc vào bàn, rồi nhảy xuống đất. Tinh ranh như cáo, hắn đã đánh lừa chúng tôi: đáng lẽ phải hít thật mạnh, hắn chỉ hít có ít khí mê thôi. Giờ đây, hắn đứng sừng sững, trần như nhộng, giữa một đám các cô y tá hốt hoảng. Tôi suýt bật cười khi thấy hắn, theo bản năng, làm dáng điệu của Vệ nữ đảo Milo: hai tay ngây thơ xòe ra che cái mà một người có giáo dục không bao giờ được để lộ ra. Bỗng hắn hét lớn:
– Không … Tôi không chịu mồ … Tôi không chịu mồ nữa đâu!
Anh chuyên viên thuốc mê, nắm lấy cánh tay hắn, cố thuyết phục, nhưng những lý lẽ nêu ra, dù hùng hồn đến đâu, cũng bằng thừa. Văn-Sợi không thèm nghe nữa, cứ gân cổ mà hét, càng hét giọng càng the thé:
– Tôi không chịu mổ đâu !… Không! Tôi không chịu mổ mà!
Khi tôi đến gần, Văn-Sợi nín bặt. Trong khoảnh khắc, hắn nhìn tôi, mặt đượm vẻ kinh hoàng, làm như tôi là một quái vật hay quỷ dạ-xoa đang đứng trước mặt hắn. Bỗng nhiên, nhanh như cắt, hắn đẩy anh chuyên viên thuốc mê ra, quay gót, phá vòng vây của các cô y-tá, chạy thục mạng ra cửa phòng; rồi sau đó mất dạng.
Đúng lúc ấy, trong hành lang, ông Y sĩ trưởng – tục danh là “giáo sư Charlot” đang đi tới, bên cạnh có cô thư-ký riêng tóc vàng, thân hình nẩy lửa. Ông thất kinh, há hốc mồm khi thấy một người vọt ra, ba chân bốn cẳng chạy trước, đằng sau rầm rộ cả một đoàn y-sĩ và y-tá giải phẫu đuổi theo. Giây phút kinh ngạc đã qua, ông lấy lại bình tĩnh ngay. Ông gắt cô thư ký là sao lại đứng đấy như trời trồng, rồi oang oang truyền lệnh đặt bệnh viện trong tình trạng giới nghiêm. Cô thư ký, mặt đỏ bừng, chạy vào văn phòng, gọi điện thoại báo cho tất cả các khu trong bệnh viện. Nhà thương bây giờ giống như một ổ kiến bị kẻ thù xâm nhập. Từ từng dưới đến từng thứ bốn, phòng nào cũng huyên náo ồn ào. Các bệnh nhân chẳng hiểu ất giáp gì, bắt đầu hoảng hốt. Có người tưởng nhà thương bị cháy, tuột khỏi giường tay còn quấn băng, bó bột, mà cũng lê đến tận cửa sồ, kêu cứu ầm ĩ. Ngoài đường, khách thấy bệnh viện huyên náo, tụ tập lại bàn tán: có kẻ lại đổ xô cả đến cồng chính. Thấy thế ông gác-dan nắm tay đập vỡ kính đèn hiệu và ấn nút điện thoại tự động đến sở cứu hỏa. Trong khi ấy, chúng tôi vẫn đuổi theo Văn-Sợi, biệt danh “người phụ tùng”. Hắn chạy bổ đến hành lang bên trái dẫn đến phòng phụ nữ C2. Chợt thấy một cánh cửa, hắn dừng lại, mở ra, nhảy vọt lên một cầu thang phụ. Hắn láu cá đáo để: bắt chước chiến thuật của những chú thỏ rừng, cứ thấy chỗ nào rẽ được là xông vào, theo kiểu chạy chữ chi. Nhưng chúng tôi đã thoáng thấy hắn chạy qua cửa đó, nên chúng tôi bén gót.
Dần dần, viện binh của chúng tôi đến đông thêm: những anh phụ tá, những người đến thăm bệnh, và cả vài bệnh nhân nữa. Trong đám bệnh nhân, có một ông cựu thượng sĩ. Thấy đuổi bắt, máu nhà binh của ông lại hăng say nổi dậy. Bao vây địch! Ông quản rành lắm mà! Đặt bản doanh ở một chỗ hiểm yếu, ông quản, rõ ra dáng chỉ huy, ra lệnh cho người này, cắt đặt cho người kia; thành thử đã rối loạn lại càng rối loạn thêm.
Văn-Sợi đã đến từng thứ bốn; hắn lẻn vào lối đi đến phòng chờ của bệnh nhân. Hắn lao mình đẩy hai cánh cửa, bổ nhào vào một chiếc xe lăn đựng đồ băng bó, làm đổ tứ tung nào lọ, nào bình, nào bông, gạc, nào kéo, kẹp … nhưng “ông nhộng” đã lóp ngóp bò dậy mà tiếp tục chạy. Cách đây mấy thước, bà sơ bề trên cố cản đường Văn-Sợi. Thấy danh dự bệnh viện tổn thương, bà can đảm xông tới dang tay chặn hắn lại. Nhưng cuối cùng, bà mất tinh thần, lại để hắn lách mình chạy thoát. Hắn lại rẽ nữa, nhưng hành lang này là ngõ cụt. Bấy giờ tiến thoái lưỡng nan hắn đành nhào vào một căn phòng nhỏ và đóng sầm cửa lại. Chúng tôi đến chỉ vừa đủ để nghe hắn vặn tách ổ khóa lại.
“Ông nhộng” đang ở trong nhà cầu dãy C6!”
Tin ấy loan đi, nhanh như lửa bắt mồi thuốc súng. Từ tứ phía, đổ xô lại: y sĩ, y tá, y công, các cô đầu bếp, rồi bệnh nhân, đến nỗi khoảng hành lang trước nơi “ẩn dật” này giống khung cảnh một nơi hội họp. Phen này thì anh bạn cợt nhả kỳ cục có chạy đằng giời – anh bạn hết phá trật tự trong cái nhà thương bình yên này nữa nhé! Nhưng chẳng lẽ cứ đứng canh gác pháo đài này mãi sao! Bà sơ Alice, tướng người phốp pháp, trông coi dãy này, bảo chúng tôi hãy im lặng để bà thương thuyết đình chiến qua cánh cửa. – Nào, ông Sợi ơi! Phải biết điều một tí chứ? Có ai làm gì ông đâu mà sợ, đừng sợ mà … mở khóa ra đi … mở khóa đi ông!
Văn Sợi không trả lời. Bà sơ Alice giơ hai tay tỏ dấu “xin chịu”, nhường chỗ cho bà y tá ở khu giải phẫu của tôi, bà có tiếng là lúc nào cũng trầm nghị và bình tĩnh.
– Thế nào, ông Sợi, ông định ở lỳ đến bao giờ đây? Suốt đời hả? Đừng làm thế! Kỳ lắm! Vả lại, ông thầy không bắt mổ nữa đâu. Có gì mà sợ chứ!
Vẫn không có tiếng trả lời. Trái lại, có tiếng xì xầm trong khán giả. “Giáo sư Charlot” vừa thở hổn hển vừa bước tới, có vẻ muốn đem quyền hành mình ra giải quyết phải trái. Ông hét lớn, sau khi đấm vào cửa một cái rầm:
– Có mở cửa ra không nào? Sao ông lại giở chứng ra thế này? Chắc ông tưởng thế là hay lắm hả? Tôi ra lệnh cho ông mở cửa ngay tức khắc, ông có nghe rõ không? Tôi cảnh cáo ông trước: tôi sẽ gọi Cảnh sát, rồi ông sẽ biết, lúc ấy đừng có trách nhé!
Lần này, Văn-Sợi không im lìm nữa. Hắn lên tiếng, nhưng không chiều theo ý của “giáo sư Charlot”:
– Tôi chẳng biết, chẳng biết gì hết. Nếu tôi không muốn mổ, các ông không thể đem tôi ra mổ được. Tôi có ưng chịu, các ông mới được mổ, có phải không đã? Vậy thì còn lâu tôi mới ưng! Còn mở cửa này à? Tôi đâu có đến nỗi ngu ngốc thế! Tôi sẽ không rời khỏi nơi đây; chờ các ông đi rồi, tôi mới chuồn lẹ chứ!
“Giáo-sư Charlot” giơ hai tay lên trời, quay lại gắt với tôi:
– Anh phải tính sao đi chứ! Làm sao thì làm, bệnh nhân này của anh mà.
Đến lượt tôi cũng thử thương thuyết, nhưng vì nể ông y-sĩ trưởng hơn là tin chắc thành công. Tôi cố lấy giọng thuyết phục:
– Bác Sợi ạ! Bác nghe tôi một tí. Bác cũng nhận là cái trò này chẳng đi đến đâu cả. Thật tình, tôi không tin là bác lại có thể làm những điều như vậy. Vì hôm kia đây, chúng ta vừa hàn huyên trang nhã, mà hôm nay bác đã làm loạn cả nhà thương lên. Đừng trẻ con nữa; ra đi, căn phòng này đâu có đủ tiện nghi. Ra đi, về giường mà nằm. Chắc bác đang mệt, tôi không mồ hôm nay đâu. Tôi hứa với bác, bác cứ tin tôi.
Văn-Sợi cất tiếng, giọng cương quyết:
– Bác sĩ đừng nhọc công vô-ích! Đúng, chúng ta đã nói chuyện với nhau thân mật vui vẻ; nhưng tôi đã nói với bác sĩ rồi mà: ngay đến cả bác sĩ tôi cũng sợ mà! Không, bác sĩ ạ, tôi … cháu chỉ ở đây một lát thôi. Căn phòng không đến nỗi tệ lắm đâu!
Làm sao bây giờ? Chỉ còn một giải-pháp: gọi ông thợ khóa. Ông này, miệng cười hô hố, tay xách đồ lề, khật khưỡng đi đến và chưa đầy một phút, khóa cửa đã bật tung. Mọi người nghển cổ nhìn. Cánh cửa vừa mở, một tràng cười rộ lên trong cử tọa: Văn-Sợi, trong y phục của ông A-đam ngồi trên nắp cái chậu xí, hai cẳng
bó sát trước bụng. Hắn run rẩy như một chiếc lá, vừa sợ vừa thẹn. Mọi người xô lại nói với hắn, kẻ mai mỉa, kẻ vỗ về an ủi. Nhưng biết mình trần như nhộng, Văn-Sợi không chịu đứng dậy. Bấy giờ, một bà nhà bếp to lớn, mạnh mẽ cả tinh thần lẫn thể xác, vội cởi cái tablier ra, quấn vào bụng hắn. Như vậy, Văn-Sợi che được phía trước người; còn phía sau dĩ nhiên cũng cần được che kín, nhưng trong lúc bối rối, hắn chưa kịp nghĩ đến chi tiết này. Chúng tôi vây quanh hắn, giáo sư Charlot bên trái, tôi bên phải, những người khác đi sau như một đám rước. Khi đoàn quân chiến thắng dẫn độ hắn về, xuống từng dưới, vừa bước vào hành lang có cửa sổ trông ra đường, tiếng ồn ào bỗng nổi lên làm chúng tôi giật nẩy mình: tiếng động cơ rồ lớn, nhịp với tiếng còi hú liên hồi. Tôi ghé nhìn qua cửa sổ, không giữ nổi tiếng kêu: “Lính cứu hỏa!” Chiếc thang lớn vừa lọt cửa nhà thương, rẽ về bên phải rồi dừng lại trước tòa nhà của chúng tôi, tiếng phanh kít, rồi bánh xe làm vung vãi cả đá sỏi lót lối đi. Những ông lính vòi rồng, đội mũ đồng bóng loáng, nhảy xuống đất, trải các ống nước ra rồi chạy ồ vào nhà. Hơi hoảng, tôi quay lại phía tù nhân của chúng tôi. Giáo sư Charlot, mặt tái đi vì tức giận, nắm lấy hai vai Văn-Sợi lắc lấy lắc để như người ta rung cây cho quả rụng xuống.
– Thật không thể tưởng tượng được! Thật là bêu riếu cho cái bệnh viện này! Ngày mai, cả tỉnh sẽ bàn tán, chê cười! Chắc ông cứ tưởng ông thông minh lắm đấy, nhưng ông quá quắt lắm, quá lắm!
Mấy ông lính cứu hỏa đã chạy lên cầu thang, dẫn đầu là ông đội trưởng cao lớn trượng phu, nhảy bốn bực một lúc. Khi thấy chúng tôi ông hỏi lớn:
– Đâu? Cháy ở đâu?
Giáo sư Charlot giơ ngón tay trỏ tố cáo Văn-Sợi:
– Đây, ông này đây, vì ông này mà nên cơ sự. Ông ta chạy cùng hết trong bộ y phục khiếm nhã này, làm náo loạn cả bệnh viện lên.
Văn-Sợi thực đang ở một tình trạng khó xử. Rõ ràng là hắn chỉ muốn độn thổ cho xong.
Tôi khẽ thích cùi chỏ vào hắn.
– Thế nào bác, bác còn than mãi mình chỉ là “người phụ tùng” nữa hay thôi? Tôi cho rằng trong tấn tuồng này, bác đóng vai chính đấy.
Hắn thở thật mạnh. Trên môi điểm một nụ cười, mới đầu còn bẽn lẽn, rồi càng lúc càng tươi, toe toét đến tận mang tai.
– Bẩm, thưa bác sĩ, chính vậy ạ. Hừ, nếu bác sĩ còn muốn mổ cháu, cháu xin ký cả hai tay.
Tôi vẫn muốn mổ lắm chứ. Cuộc giải phẫu nhỏ này tiếp diễn nhanh chóng, không một trở ngại nhỏ. Khi được chở về phòng nằm, Văn-Sợi còn ngủ rất say, chứng tỏ hắn hít thuốc mê hăng lắm. Mấy ngày sau, chúng tôi thấy một sự thay đổi kỳ lạ trong mọi cử chỉ của hắn. Từ một bệnh nhân lúc trước luôn luôn nép mình sợ sệt, bây giờ hắn lúc nào cũng đói, háu ăn, và tự tin đến làm kinh ngạc mọi người. Hắn vui vẻ, gặp ai cũng bắt chuyện. Điều phi thường hơn nữa, là hắn bắt đầu “lấy le”. Hắn đã nổi danh vì cuộc phiêu lưu vừa rồi. Các bệnh nhân khác, các y-tá và ngay cả các y-sĩ, đều đến nói chuyện với hắn. Ai cũng muốn xem tận mắt con người đã chạy rông khắp các hành lang trong bộ y phục A-đam và đã làm náo loạn cả nhà thương. Ai đến cũng bảo hắn kể lại kỳ công của hắn. Và mỗi lần kể, hắn lại thêu dệt thêm những chi tiết bịa đặt
thật ngông. Khi hắn từ giã bệnh viện, không ai có thể nhận được nơi con người vui vẻ cởi mở này, cái ông phụ tá kế toán đã lạy lục xin tôi đừng mổ. Khi đến chào các cô y-tá, hắn dùng dằng thật lâu, rồi hắn lại khen tặng tôi – dĩ nhiên theo kiểu của hắn.
– Bẩm, thật không chê vào đâu được, bác sĩ ạ. Bác sĩ giỏi thật. Để cháu mách các bạn đến đây chữa bác sĩ.
Ba tháng sau, tôi lại thấy Văn-Sợi đến. Hắn ngồi xe cứu thương đưa một người bị tai nạn xe cộ đến bệnh viện.
– Bẩm, thưa bác sĩ, anh bạn đáng thương này làm cùng sở. Ảnh bị gãy cẳng. Cháu nói với ảnh ngay: Ô! không sao đâu, bồ ơi! Tớ biết một ông đốc mát tay số dzách; ông ấy búng tay một cái là xong. Ông đốc số dzách ấy là bác sĩ đấy. Bác sĩ đừng từ chối nhá
– bác sĩ làm tử tế, cẩn thận hộ cho.
Trong khi bệnh nhân được đem đi chiếu điện, Văn-Sợi ghé vào tai tôi tâm sự:
– Bác sĩ ạ, kể cũng lạ thật. Mà cũng chẳng qua là nhờ mấy “của nợ” của cháu ở … đằng sau. Cháu phải chịu đựng nó từ bao lâu nay, có phải không ạ? Nhưng bây giờ cháu chắc chắn là chính nhờ mấy “của nợ” ấy mà cháu mở mày mở mặt ra.
Tôi ngạc nhiên nhắc lại:
– Mở mày mở mặt ra à? Nhưng sao bác lại nghĩ thế?
– Vâng, để cháu xin cắt nghĩa bác sĩ nghe. Mồ xong, khi cháu đi làm việc lại, thật là “phọt-mi-đáp”! Bác sĩ nghĩ coi, chuyện mấy ông vòi rồng ấy mà, cả tỉnh ai cũng biết cả.
Ông sếp cháu cho gọi cháu lên ngay. Ôi chao! Ông ấy cứ rũ ra cười, cứ ôm bụng mà cười, vừa cười vừa vỗ đùi đen đét – cháu cứ tưởng ông ấy sẽ chết nghẹn vì cười mất.
Ông ấy nói: “Hà hà! Văn-Sợi ơi! Hay! Như thế mới đúng là một chiến công: lôi cả một đoàn vòi rồng đến chỉ vì muốn cắt một cục trĩ hạ! Bọn này cười vỡ bụng khi đọc báo! Văn Sợi ơi, anh sếp sòng lắm! Thôi, bây giờ cứ tiếp tục làm việc đi.”
Vâng, bác sĩ muốn tin cháu thì tin, chứ tự nhiên cháu thấy công việc không còn tẻ nhạt, buồn chán như trước nữa. Rồi tám ngày sau, xưởng của hãng ở ngoại ô nói cần một người kế toán giữ sổ lương. Vâng, có một mình mà trông coi lương bổng của hơn một ngàn thợ. Bác sĩ có biết ông chủ chọn ai không? Bác sĩ nhớ cho:
ông chủ chọn cháu, Trần-Văn-Sợi. Ông ấy lại tăng lương nữa chứ lị – nghìn hai một tháng, cũng khá đấy chứ ạ? Vâng, bác sĩ ạ, cháu hiểu rồi: chính vì mấy cục “của nợ”, bác sĩ đã cắt cho cháu, mà cháu không còn là một thứ “người phụ tùng”. Chỉ vì thế đấy thôi. Bởi vì bây giờ, cháu là một người đầy đủ, giống như mọi người.
Trăm sự cũng nhờ bác sĩ cả.
Tôi tiếp lời hắn trong khi bắt tay từ giã:
– Nhưng cũng nhờ mấy ông sở vòi rồng nữa chứ, như thế mới đúng chứ, bác Sợi nhỉ?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.