Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 21 Jan 2026

7. Chương 2

Phước Long: Trời cũng phải nhỏ lệ

Ở Việt Nam, tên của một số thành phố có liên quan đến lịch sử, đến truyền thuyết hay đến hoàn cảnh: Saigon náo nhiệt, Hà Nội khắc khổ, Hué hoàng gia, Phát Diệm công giáo … v.v..

Phước Bình thuộc tỉnh Phước Long là một thị trấn nhỏ nằm sát biên giới Cam Bốt, không có gợi lên ý niệm gì hết ngoại trừ đối với công chức, nó là một mảnh đất lưu đày.

Mười năm trước đây, một toán đặc công Việt Cộng đã tấn công Phước Bình, năm binh sĩ Hoa Kỳ tử thương, và 12 bị thương. Bây giờ từ trung tuần tháng chạp/ 1974, hai sư đoàn chánh quy Bắc Việt, sư đoàn 3 và sư đoàn 7 đang di chuyển về Phước Bình, quận lỵ của tỉnh Phước Long, một thị trấn nhỏ nằm ngay khúc quanh của con rạch dưới một triền núi của vùng Cao nguyên. Dân số của tỉnh nầy không quá con số 50.000, phần lớn là đồng bào thượng, người Mán và Hmong. Ở đây không có ruộng. người “thượng” sống trong rừng, trồng cao su và khoai mì.

Đối với dân Saigon, Phước Bình là miền “Cực Tây” (Far West), dù nó nằm về hướng Bắc, cách thủ đô 115 cây số. Thị trấn chỉ có một con đường chánh mà dân chúng sống tập trung ở đó, con đường nầy còn được dùng như một phi đạo nữa. Và ở cuối phi đạo là tòa hành chánh, có một gác chuông nhỏ trên nóc. Ở dọc hai bên vừa đại lộ vừa phi đạo nầy là doanh trại của quân trú phòng: 3000 binh sĩ chánh quy, và khoản 1000 Bảo an, Dân vệ. Họ ở cả trong các dãy trại và trong các nhà tranh cất dài theo hai bên đường.

Tất cả các trục lộ về tỉnh nầy đều bị cắt đứt. Quân Bắc Việt đã chiếm hết bốn quận chung quanh, đang bao vây tỉnh theo thế gọng kềm. Tại Saigon Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Nam đang theo sát những diễn tiến nầy. Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân rất lo ngại: nằm về phía Đông Bắc của Phước Bình là ngọn núi Bà Rá, cao 723 thước, là một trung tâm truyền tin.

Đã từ lâu rồi, Saigon phải tiếp tế cho tỉnh bằng phi cơ cánh quạt hoặc bằng trực thăng. Mỗi tháng khoản 500 tấn gạo, đường, muối, xăng dầu và đạn dược.. Chánh phủ Saigon và những người có trách nhiệm quân sự ở đây chỉ bám theo một công thức và những con số thống kê: “còn nắm được tỉnh lỵ là tỉnh đó coi như chưa mất” và “cộng sản chiếm đóng 18% lãnh thổ Việt Nam và kiểm soát 10% dân số.” Chúng ta hãy nhìn thử xem: Làm sao nắm biết được những con số nầy? vì sau 30 năm đánh nhau không có một kiểm kê nào gần đây hết ? với những người dân quê nay đi mai đến, và dân lánh nạn thì nay đến mai đi?

Không còn nghi ngờ gì nữa, các trung đoàn Bắc Việt đang đổ về hướng Phước Bình. người ta nhận dạng được ngay qua vũ khí của họ, qua đồng phục màu “xanh ve” và nón cối của họ, và nhất là qua giọng nói của họ. Lính việt cộng thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không bao giờ có đồng phục , thường mặc bà ba đen và đội nón vải với một khăn rằn choàng cổ.

Cả bộ tham mưu Saigon và của tỉnh đều hoàn toàn bị bất ngờ, khi Bắc Việt tấn công mạn Nam của tỉnh lỵ hồi 7 giờ sáng ngày 1 tháng giêng, với 40 xe tăng T.54. Binh sĩ trú phòng chận đứng được đợt tấn công đầu tiên nầy.

Chiến xa T.54 là một loại tăng nhẹ, dài khoản 7 thước, nặng 36 tấn, là một loại cơ giới mạnh có tốc độ đường trường lên đến 48 cây số/ giờ, bình thường có thể hoạt động trong vòng 500 kms, và 700 kms nếu có bình xăng phụ. T.54 được trang bị một đại bác 100 ly với 34 quả đạn trên xe. Liên Xô không viện trợ cho Bắc Việt loại chiến xa biến chế T.62 và T.10, nặng 50 tấn có trang bị đại Bắc 210 ly. Nhưng họ có cho Bắc Việt xe lội nước PT 76, nặng 14 tấn. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì có chiến xa M.48 mạnh hơn nhiều, nhưng chiến xa T.54 có thể đương đầu với M.48 không khó.Dĩ nhiên kháng chiến quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì không được Hà Nội giao cho một chiến xa nào hết.

Lực lượng bộ binh Bắc Việt bao vây cứ điểm núi Bà Rá và mở nhiều đợt xung phong mặc dầu cứ điểm nầy có được không quân yểm trợ. Phi công Miền Nam phải liều lĩnh xuống thấp có khi đến 1500 thước, họ ít khi bay dưới 3000 thước vì sợ cao xạ phòng không dày đặc của Bắc Việt. Ở đây không phải là vấn đề gan dạ, mà vì phi công nhận được lệnh nghiêm nhặt lắm: họ phải tiết kiệm máy bay. Hôm nay không có mây mù thường bao phủ tỉnh lỵ vào sáng sớm, tầm nhìn vừa rõ vừa xa. Bắc Việt đã bố trí gần núi Bà Rá những khẩu pháo 130 ly nên nhanh chóng 8 khẩu 105 ly và 4 khẩu 155ly của Miền Nam không còn xử dụng được nữa..

Ngày hôm sau, Tổng Tống Nguyễn văn Thiệu họp các tướng lãnh, có sư hiện diện của Phó Tổng Thống già nuaTrần văn Hương nặng về pháp lý hơn về chiến lược, và Thủ Tướng trầm lặng Trần thiện Khiêm. Người ta bàn cãi xem có cần phải tăng cường viện binh cho Phước Bình hay không ? Tăng cường bao nhiêu ? Với lực lượng nào?v.v…

Trong 48 giờ giao tranh, lực lượng trú phòng của tỉnh bắn hạ tại chỗ 15 chiến xa Bắc Việt. Nhưng bô đội Miền Bắc cứ tiến tới. Chiến thuật của họ gây bất ngờ cho mọi người : các tiểu đội bộ binh đi liền sau các chiến xa. Chiến xa cứ tiến tới mặc cho bộ binh chết cứ chết, nhưng đôi khi các chiến xa cũng lui trở lại để đưa môt số bộ binh khác tiến lên theo. Họ đánh chiếm từng cứ điểm, từ nhà nầy qua nhà khác, từng chòi tranh nầy sang chòi tranh khác. Chiến xa được tăng cường các tấm chắn bằng sắt phía trước để chống đạn bộc phá vì loại đạn nầy sau khi xuyên phá qua lá chắn sẽ nổ ngay ở khoản trống nhỏ giữa lá chắn và vỏ chiến xa. Do đó hỏa tiễn M.72 của binh sĩ Miền Nam không còn hữu hiệu nữa được. Đôi khi vì bắn quá gần nên hỏa tiển không kịp xuyên phá, chỉ trúng lá chắn rồi nẩy vọt đi, nổ xa xa ở chổ khác. Hơn nữa chiến xa thường đóng kín các cửa nên binh sĩ Miền Nam khó mà tung lựu đạn vào chiến xa qua pháo tháp. Các doanh trại, hầm trú ẩn và giao thông hào là mục tiêu của pháo binh Bắc Việt nên hầu hết đều bị sụp đổ thảm hại vì đạn pháo.

Phước Bình nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Vùng 3 Chiến Thuật, Bộ Tư Lệnh Vùng 3 đóng tại Biên Hòa, nơi đây có căn cứ không quân quan trọng, nằm về phía Bắc Saigon chừng 30 cây số. Tướng Dư quốc Đống Tư Lệnh Vùng 3, quyết định sẽ chiếm lại thị trấn Phước Bình, nên xin tăng cường lực lượng. Ông dự trù hành quân trực thăng vận đổ binh sĩ thuộc binh chủng Dù xuống phía Bắc thị trấn đồng thời tiếp tế đạn dược cho quân trú phòng. Nhưng ông Thiệu từ chối, tướng Đống xin từ chức, ông Thiệu không cho.

Có nhiều cuộc bàn cãi rất sôi nổi ở Biên Hòa và Saigon:

–          Phải chăng Bắc Việt muốn đánh lạc hướng khi họ tấn công Phước Bình?

–          Hình như Bắc Việt đã sẵn sáng tiến đánh Biên Hòa, vì từ nơi đây các chiến đấu oanh tạc cơ sẽ bay đi yểm trợ các cuộc hành quân khắp vùng 3 Chiến Thuật.

–          Cộng sản cũng có thể vừa đánh chiếm Phước Bình vừa đồng loạt tiến đánh cả 3 vùng chiến thuật khác.

Do đó ông Thiệu không muốn rút quân ở đâu cả. Tư Lệnh Vùng 3 đòi hỏi vài trung đoàn binh sĩ thuộc binh chủng nhảy dù. Người ta chỉ đồng ý cho ông 2 đại đội biệt kích dù, khoản 200 người tình nguyện và chuyên hành quân biệt kích, thuộc tiểu đoàn “81 biệt kích dù” đang đóng ở Biên Hòa.

Ngày 4/ tháng giêng, trên Phước Bình mây thấp và mây đen kịch. Trời mưa to: cuộc hành quân trực thăng vận không thực hiện được , Hai đợt cố gắng đổ quân đều bất thành. Chỉ có một lần Biên Hòa liên lạc vô tuyến được với Phước Bình nhưng nghe rất yếu.

Đến 8 giờ sáng ngày 5 tháng giêng, 120 biệt kích dù mới được đổ xuống phía Đông của thị trấn. Trực thăng có bị trúng đạn phòng không nhưng đã bay về được. Toán biệt kích bắt tay được với quân trú phòng, bố trí được một vài điểm tựa phần lớn nằm chung quanh dinh tỉnh trưởng. Vũ khí chống chiến xa M72 rất hữu hiệu đối với các T.54 nhưng toán biệt kích không mang theo được nhiều.

Đến 21 giờ thì có tin là gần phân nửa toán quân tăng cường bị loại khỏi vòng chiến. Người ta không thể tản thương được . Lực lượng bảo an người thượng chiến đấu rất tốt nhưng lòng trung thành của họ bị giao động. Biệt kích dù cho biết là tình hình tuyệt vọng lắm. Nhưng họ cũng cố tổ chức lại một tuyến phòng thủ chung quanh trung tâm hành chánh và dinh tỉnh.

Sáng hôm sau, ngày 5 tháng giêng, quân Bắc Việt lại tiếp tục tấn công với một số chiến xa và bộ binh khác, đánh nhau suốt cả ngày.

Ngày 6 tháng giêng chịu hết nổi, nhóm biệt kích dù và những binh sĩ trú phòng còn sống sót rút chạy ra khỏi tỉnh. Lợi dụng trời tối, họ rút đi từng toán nhỏ, không liên lạc vô tuyến, không được yểm trợ, có khi cũng không có vũ khí và đạn dược, họ tiến về phía bìa rừng và đi về hướng đồng ruộng.

Tổng kết của trận tấn công nầy quá xấu về mặt quân sự, mặc dầu trên phương diện chiến lược thị trấn nhỏ bé của cái tỉnh đèo heo hút gió nầy có mất đi cũng không có gì quan trọng lắm. Tính ra chỉ còn có 850 người sống sót về được, mất đi 5.400 người vừa sĩ quan vừa binh sĩ. Gần phân nửa quân số của một sư đoàn! Hai vận tải cơ C.130 bị hạ. Saigon có cả thảy là 32 vận tải cơ loại nầy. Đây là một đòn hơi nặng, trên phương diện chánh trị: cộng sản đã chiếm được một tỉnh. Và đây là lần đầu tiên mà quân chánh phủ không tái chiếm lại được.

Cũng là lần đầu tiên mà trong một cuộc tấn công lớn như vậy quân đội Mỹ không can thiệp. Từ ngày ký Hiệp Định Paris, hai năm trước, các tư lệnh 4 Vùng Chiến Thuật đều có đến thăm Bộ Tư Lệnh Không Lực Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, đóng ở Nakhon Phanom, Thái Lan. Hệ thống liên lạc viễn thông từ đây được nối liền đến Saigon và các Vùng Chiến Thuật của Miền Nam Việt Nam. Người ta luôn luôn giải thích và chỉ dẫn thủ tục liên lạc cho các Tư lệnh Vùng, để họ có được sự yểm trợ chiến lược của không lực Hoa Kỳ dễ dàng. Các vị Tư lệnh nầy không có một phút nghi ngờ nào về quyền được oanh tạc cơ Hoa Kỳ yểm trợ. Nhưng vừa rồi tại sao oanh tạc cơ không đến? Tổng Thống Thiệu cho lệnh toàn quốc để tang 3 ngày, đóng cửa các hộp đêm, vũ trường, rạp hát, chiếu bóng . Cấm luôn các trận đá bóng , các buổi đua ngựa, dù đã có chương trình. Các biểu ngữ được treo khắp thủ đô đại ý: “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ đòi món nợ máu nầy” Nhiều cuộc biểu tình được tổ chức trước trụ sở của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn. Trong suốt cuộc chiến ở Phước Bình, nhân viên của Ủy Hội một lần nữa đã cho thấy sự bất lực lạ lùng của họ. Họ cũng không thương lượng được một thời gian ngưng tiếng súng để tản thương hay đưa dân chúng vô tội ra khỏi vùng khói lửa. Các thương gia, công chức , dân quê và 2 nữ tu sĩ và 400 cô nhi đã về được đến Saigon.

Người Mỹ ở Saigon đã cố gắng làm một bản tổng kết tuy có khổ tâm. Trong bản phúc trình của mình ông William Le Gro, người có trách nhiệm về tin tức tình báo ở cơ quan quân sự Hoa Kỳ, đã cho biết là tổn thất của Miền Nam làm cho người ta chóng mặt. Người tài xế của ông ta than rằng: “Đến Trời cũng phải khóc cho Phước Long”

Tại Hoa thạnh Đốn, ngày 7 tháng giêng, ông Kissinger có buổi họp với toán hành động đặc biệt của ông ta. Các chuyên viên trao đổi nhau nhiều câu hỏi về trường hợp Phước Long:

–          “Đây có phải là một cuộc hành quân quan trọng không?” William Colby, trưởng cơ quan CIA cho là “Không.”

–          Làm thế nào để cứu vản tình hình của Vùng 3 Chiến Thuật đây?

–          Có nên gởi đến đó oanh tạc chiến đấu cơ và nhất là oanh tac cơ chiến lược B.52 không?

–          Trên lý thuyết Không Thể Được: Dư luận quần chúng Mỹ sẽ coi đó là một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ mà họ không muốn. Tuy nhiên trận tấn công của Bắc Việt là một vi phạm trắng trợn và quan trọng nhất đối với Hiệp Định Paris kể từ năm 1973.

Người Mỹ là những người duy nhất đã thi hành Hiệp Định Paris, trừ điều 6 là điều dự trù ” Mỹ phải phá bỏ hết các căn cứ quân sự của họ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 60 ngày” sau khi Hiệp Định được phê chuẩn. Đó chỉ là phương diện pháp lý còn thực tế thì giống như một trò xảo thuật: người Mỹ không có phá hủy các căn cứ quân sự của họ mà chỉ chuyển giao qua cho QLVNCH. Họ thi hành pháp luật một cách kỳ diệu ! Trái với những cam kết, thỉnh thoảng họ cũng cho phi cơ quan sát bay trên không phận lãnh thổ Bắc Việt. Không có gì để ngụy trang cho những vi phạm kiểu đó!

Các cộng sự viên của Tổng Thống Ford muốn quên Việt Nam. Trước ngày bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Ford không có lợi lộc gì khi ông muốn gắn hình ảnh của mình vào một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Người ta muốn có một Tổng Thống trong trắng. Sự kiện Việt Nam đã qua đi rồi mà Ngũ Giác Đài chỉ thấy có mất mát mà không thấy có lợi ích nào hết. Từ khi người binh sĩ Hoa Kỳ rút khỏi Miền Nam hay người tù binh Mỹ ở Miền Bắc được đưa trở về nước, đối diện với Việt Nam, Hoa thạnh Đốn bị trầm mình trong tội lỗi ôi thúi, mất hết cảm giác. Càng ít gợi lại bao nhiêu thì bài toán sẽ mờ nhạt bấy nhiêu. Cuộc chiến Việt Nam lẽ ra phải tàn lụi dần khi người ta không còn găng với nhau quá….

Nhóm hành động đặc biệt không đạt được một quyết định nào. Ông Kissinger hình như quá mệt mỏi. Ông ta đã nhắc đi nhắc lại sau khi ký Hiệp Định Paris: “Nếu chúng ta xét thấy rằng Bắc Việt đã thương thuyết với những ý đồ xấu thì chúng ta sẽ có phản ứng mạnh và ngay tức khắc”

Hạ thấp giọng, chậm rãi nhưng cứng rắn, ông Kissinger giải tán phiên họp đặc biệt với một câu đầy bản chất của một người Đức:

–          “Chúng ta thuộc loại người nào đây?

Các nhân viên dân chính và quân sự trong nhóm tự hỏi: Không biết ông Tổng Trưởng nghĩ gì thế? Chắc chắn là ông nghĩ đến sự khả tín của Hoa Kỳ!

Nhỏ thó nhưng người béo phục phịch, ông Kissinger, 52 tuổi, là một Tổng trưởng Ngoại Giao nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ, được mến chuộng nhưng cũng bị nhiều phê phán. Ông dính vào chuyện Việt Nam từ 10 năm nay. Từ sau ngày bầu cử của ông Nixon năm 1969, ông được giao nhiệm vụ chánh trị đối ngoại, kế đến là cố vấn an ninh và sau đó là Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông Kissinger là một giáo sư đại học có giá trị, một công chức hăng say, một chánh trị gia năng nổ trong hoạt động, ông có một nghệ thuật lả lướt trong chính ngành ngoại giao của mình, từ đó ông có cơ hội trở thành một nhà luân lý.

Trong những ngày đầu tháng giêng nầy, tinh thần của ông chú trọng đến danh dự của Hoa Kỳ. Với một tinh thần thực tiễn, thích điều khiển các nước khác hoặc vận dụng các chánh trị gia, ông là một bộ trưởng thường không giữ được hòa khí với nhóm quan lại của mình, thích giữ những bí mật cũng như vinh quang của riêng mình, có lối sống buông thả, muốn tới đâu thì tới. Ông có tầm nhìn chánh trị tổng quát. Ông tìm mọi cách để củng cố “cấu trúc hòa bình” mà ông xem là một thế quân bình mới của thế giới, xuyên qua sự kiểm soát vũ khí chiến lược. Không còn có sự căng thẳng giữa các siêu cường vì cuộc chiến tranh khốn khổ ở Việt Nam nữa. Ông Kissenger cũng đồng ý phần nào với nhận định của ông Galbraith và những người khác thường nói đùa là: “nếu người Mỹ chúng ta không vấp phải nhiều làm lỗi thì cái quốc gia nhỏ bé kia không bao giờ thoát ra khỏi nơi tối tăm mà họ rất xứng đáng phải nhận lấy.” Ông Kissinger phải tốn cả 8 năm dài mệt mỏi cho Việt Nam. Tổng Thống Ford giao hết cho ông Kissenger phần lớn các vấn đề ngoại giao. Khác hơn ông Nixon, ông Ford không có ý kiến gì trong vấn đề nầy. Ông bất lực trong việc tìm kiếm quan điểm để làm vui lòng tổng trưởng của mình. Với cá tánh chậm chạp nhưng là một người có nhiều sáng kiến, ông Nixon có tầm nhìn xa rộng khắp. Nhưng người kế vị Nixon không được như vậy nên ông Kissinger thường nói: “Thật tình mà nói thì tôi cảm thấy gần ông Ford hơn là ông Nixon” điều mà chúng ta phải hiểu là trên phương diện tri thức.

Thường gặp những đổi ý bất thần, có khi đến phải chán nản, ông Kissenger phải tốn ba năm rưỡi để thương thuyết với phái đoàn Hà Nội để đạt được một hiệp ước mà uy tín của Hoa Kỳ không bị mất . Những cuộc bàn cãi chính thức và những buổi “đi đêm” thảo luận riêng tư với Lê đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn cộng sản Bắc Việt tại Ba Lê, đã dẫn tới Hiệp Định Paris. Theo Kissinger thì Hiệp Định không được hoàn hảo lắm, nó chỉ giúp cho quân lực Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam đàng hoàng trong danh dự, mặc dầu có sự chỉ trích triền miên của cánh hữu tại Mỹ. Lâu lắm ông Thiệu không chịu ký vào Hiệp Định. Với một số cộng sự viên, Kissinger cho thấy hình như ông ta hâm mộ những người đại diện phía Bắc Việt hơn là những người của Saigon. Tại thủ đô Miền Nam Việt Nam người ta cho Kisinger cái tên là “nhà ngoại giao đi đêm” và “vua dấu diếm” vì người ta không muốn nói thẳng ông là một thằng hèn, đạo đức giả. Tới năm 1975 thì Kissinger xa cách Việt Nam trên cả mọi phương diện tâm lý cũng như thực tế. Ông chưa hề đặt chân đến Việt Nam từ sau tháng 10 năm 1972, nơi đó ông có một kỷ niệm không tốt gì lắm:

ông Kissinger muốn cho ông Thiệu chấp thuận bản dự thảo Hiệp Định của ông ta. Cuộc gặp gỡ thật nặng nề, ông Thiệu gọi Kissinger là “thằng chó đẻ”. Kissinger nói trước khi rời Saigon:

–          “người ta đã chửi tôi thậm tệ nên chắc tôi không bao giờ trở lại Saigon nữa.”

Một trong những người đối thoại với ông, ông Hoàng đức Nhã, em họ ông Thiệu và là Tổng Trưởng Thông Tin, chọc tức ông Kissinger khi ông chỉ trích Hiệp Định từng điểm một.

Ông Thiệu và ông Nhã đều tin chắc là ông Kissinger hoàn toàn là một người vô liêm sỉ mới đặt bút ký Hiệp Định Paris 1973 với Bắc Việt: “Hoa Kỳ nhận tù binh của họ và an toàn rút quân đội Mỹ về nước, mà trong thâm tâm Hoa Kỳ vẫn biết rằng cộng sản Hà Nội không bao giờ buông bỏ ý định thống nhất Việt Nam bằng vũ lực.”

Ông Kissinger và cộng sự viên của ông đã có nhiều lý do để tin tưởng rằng Hiệp Định dù có yếu kém nhưng cũng có thể đứng vững được: đến một thời điểm nào đó thì việc Việt Nam Hóa quân lực Saigon sẽ cho thấy sự hữu hiệu của nó. Ông Nixon đã đặt hết sự tin tưởng vào đó, nhưng ông Kissinger thì không. Trên căn bản, binh sĩ Miền Nam chỉ có thể đương đầu hữu hiệu với những cuộc tấn công của Bắc Việt ở cường độ trung bình đến cấp trung đoàn. Nhưng ông Thiệu không thể chận đứng được một số lớn sư đoàn Bắc Việt. Dù vậy, chắc Hà Nội sẽ không phiêu lưu trong một cuộc tổng tấn công đâu. Bộ Chánh Trị còn sợ phản ứng của ông Nixon. Ông ta không bao giờ do dự để tung các phi cơ B. 52. Chính ông Nixon đã cho lệnh thả bom ngay vùng thủ đô Hà Nội vào tháng chạp 1972 để kéo Bắc Việt trở lại bàn hội nghị, và tựu trung thì sự khuyến cáo đó có hiệu quả. Hơn nữa, gạt ra ngoài các khó khăn nội bộ, chánh phủ Miền Nam vẫn có phần nào năng nổ tích cực nhất là trên bình diện kinh tế. Chánh phủ không được bình dân lắm nhưng dân chúng Miền Nam không bao giờ nổi dậy.

Cuối cùng, những người có trách nhiệm ở Miền Bắc đã đưa nhân dân mình vào một cuợc chiến quá lâu dài, bền bỉ khó tả, dựa vào sức mạnh của quân đội và công an hùng hậu để cai trị một xã hội bị vắt khô cạn đến hết máu. Họ hy vọng được Hoa Kỳ viện trợ khoản hơn 3 tỷ mỹ kim mà họ quan niệm là “bồi thường chiến tranh”. Ở Paris, Bắc Việt nhấn mạnh điều khoản 21 của Hiệp Định, điều khoản dự trù một sự “hòa giải” và quy định Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc “hàn gắn vết thương chiến tranh” và “tái thiết Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau cuộc chiến”, theo đúng truyền thống chánh trị của Hoa Kỳ . Danh từ “hàn gắn vết thương chiến tranh” là một cụm từ thuần túy của Bắc Việt đã đưa ra mà Hà Nội đã nhấn mạnh và được thấy khắp nơi trên các bản văn tuyên truyền của Hà Nội.

Ông Kissinger tin rằng lãnh đạo quốc gia nào cũng hành động đúng theo quyền lợi của nước họ. Đối diện với những người lãnh đạo Bắc Việt ông có đánh giá quá thấp sức mạnh về ý thức hệ của họ không?

Cân nhắc lợi và hại, ông Kissinger đặt Hiệp Định Ba Lê vào khung cảnh của không khí hòa dịu bớt căng thẳng giữa Hoa Kỳ, Liên Xô, và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông cũng như mọi người đều nghĩ rằng Mạc tư Khoa và Bắc Kinh sẽ thúc đẩy Hà Nội đi đến một sự tự chế. Cả hai thủ đô cộng sản nầy hẳn phải có phương thức để thúc ép Bắc Việt: Họ đã tiếp tế cho Bắc Việt cả về quân sự lẫn kinh tế. Trong cái nhìn của Kissinger, tất cả đều đứng vững hết: ông nghĩ tới mối liên hệ giữa sự “thư giãn” quốc tế” giữa các cường quốc để dập tắt lần lần ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam.

Sáu tuần lể trước khi Phước Long bị tràn ngập, Tổng Thống Ford và ông Brejnev đã gặp nhau ở Vladivostock từ ngày 23 đến 24 tháng 11 năm 1974. Họ đã quyết định tăng cường mối giao hảo giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.. Thật khó có thể và không hợp lý chút nào khi Bắc Việt làm hỏng những thỏa thuận của các siêu cường ! Đối với ông Kissinger vừa là tác giả vừa là người thực hành chánh sách liên kết, ông phải chỉ cho Liên Xô và Trung Quốc thấy là sự “thư giãn” phải được dùng như một áp lực đối với bài toán Việt Nam. Kissinger đã “mua” Liên Xô qua việc Hoa Kỳ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối huệ quốc về thương mãi. Nhưng cách đây vài tháng vào mùa thu 1974, nghị sĩ Henry Jackson, có khả năng là ứng cử viên Tổng Thống, đã đưa ra một dự luật theo đó: “thư giãn phải liên kết với việc cho phép người Do Thái được rời khỏi Liên Xô”. Một dự luật khác cũng hạn chế mức nợ cho Liên Xô vay. Tất cả những chuyện đó không thể khuyến khích Liên Xô trong hành động hợp lý được. Do đó năm 1975 Liên Xô thấy không có lợi lộc gì khi phải thắng các đồng chí Bắc Việt của họ lại.

Trong năm 1974, cho tới ngày từ nhiệm của Nixon, không khí còn có vẻ thuận lợi.

Từ thủ đô cũng như từ các tòa đại sứ của họ, Liên Xô và Trung Quốc đã bắn tiếng cho biết là họ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế cho Bắc Việt, nhưng sẽ giảm bớt viện trợ quân sự.

Ông Kissinger biết rõ chỗ yếu chính của Hiệp Định Paris trên phương diện quân sự: Ông đã không cho Việt Nam Cộng Hòa biết là ông đã không ràng buộc Hà Nội phài rút hết bộ đội Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ Miền Nam , một cách rõ ràng và minh bạch. Do đó quân đội Bắc Việt đã lợi dụng điểm mập mờ nầy để bám trụ nguyên tại chỗ. Hơn nữa Bắc Việt đã không bao giờ tôn trọng những điều khoản quy định về vũ khí và quân dụng hiện có của Hai Bên:

“mỗi cây súng cũ, mỗi khẩu pháo cũ, mỗi quân xa cũ, -tất cả- chỉ có thể được thay thế với thể thức “một đổi một”. Tất cả những chuyện thay thế đó, phải tọa lạc ở những điểm chính xác, và phải được “Ủy Hội Quốc Tế” giám sát nghiêm chỉnh đúng luật lệ như Hiệp Định đã quy định”, một điều khoản không bao giờ được Bắc Việt thi hành.

Một kẽ hở nữa của Hiệp Định, lần nầy là chánh trị:

“trên bình diện “chế độ tương lai của Miền Nam” Hai Bên Việt Nam sẽ thương thảo với nhau”.

Ông Kissinger thừa biết là điếu khoản nầy không bao giờ thực hiện được, cũng giống như việc hình thành một “Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia”. Hãy tưởng tượng xem bằng cách nào mà hai kẻ thù hung hăn ngồi lại được với nhau để cùng nhau cai trị một thôn ấp? đừng nói chi đến cả một nửa nước Việt Nam? Biết vậy nhưng ông Kissinger vẫn còn tin rằng phải bằng mưu mẹo đó, mình mới thắng Bắc Việt được một điểm:

“cho tới mùa hè năm 1972, phái đoàn thương thuyết Bắc Việt vẫn muốn liên kết chuyện ngừng bắn với một dàn xếp chánh trị” (ai cũng muốn có một sự liên kết nào đó của riêng họ). Ông Kissinger vẫn còn tin rằng. Đây là một thắng lợi ngoại giao của mình, vì bù lại Hà Nội không còn đòi hỏi sự ra đi của ông Thiệu nữa, điều nầy cho phép được giữ lại một “cơ cấu chánh trị mạnh ở Miền Nam Việt Nam”.

Cũng như ông Thiệu và ông Nhã, người dân Miền Nam không bao giờ chấp nhận một Hiệp Định Paris mặc nhiên thừa nhận sự có mặt của bộ đội chánh quy Bắc Việt tại Miền Nam.

Trong tỉnh Phước Long có nhiều sự vận chuyển quy mô của các đơn vị chánh quy Bắc Việt cấp trung đoàn và cả cấp sư đoàn. Cho dù cuộc tấn công nầy là một cuộc tấn công hạn chế, thì trò chơi kiên nhẫn gom góp dữ kiện và phân tách tình hình của ông Kissinger cũng bắt đầu tan rã.

–          Làm gì hơn bây giờ?

–          Xin thêm ngân khoản bổ túc cho Miền Nam Việt Nam?

Quốc Hội và nhất là Hạ Viện Hoa Kỳ giờ đây đa số dân biểu thuộc đảng Dân Chủ, trong nhóm của nghị sĩ George Mc Govern, một người chủ trương hòa bình cực đoan. Năm 1974 Quốc Hội đã cắt giảm mức viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam từ 1 tỷ xuống còn 750,000 trong đó có cả phần 300 triệu dành trả lương cho nhân viên dân chính và quân sự thuộc Cơ Quan Quân Sự Hoa Kỳ ở Saigon rồi. Trong cuộc chiến tranh Kippour, Do Thái đã nhận được trên 2 tỷ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Phần lớn những người dân biểu Hoa Kỳ thấy cần phòng vệ cho Do Thái hơn là Việt Nam. Nhìn kỹ lại, nếu tính luôn sự tăng giá dầu do cấm vận của các nước Á Rập, thì viện trợ cho Saigon coi như bị giảm một nửa.

Đối với ông Kissinger, thì mặt trận thứ hai của cuộc chiên Việt Nam nằm ở Hoa thạnh Đốn, ngay tại Quốc Hội và cũng là ngay trong chánh phủ Hoa Kỳ. Nhiều thành viên của chánh phủ xưa kia là diều hâu. Bây giờ thì hết rồi, họ cho biết như vậy, giống như Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlesinger. Một khi đã ra khỏi chánh phủ rồi thì từ một Mc Namara, một Clarke Clifford, một George Bundy, cho tới những người đã triệt để theo Tổng Thống Johnson, bây giờ họ ước tính là phải ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Những người nầy vẫn nghĩ rằng cái gọi là GRP (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam) cũng chỉ là cánh tay của Hà Nội ở Miền Nam mà thôi, và cộng sản Việt Nam cũng độc tài như các đảng cộng sản khác . Những nghị sĩ nặng ký chống cộng thì có John Stennis hay Richard Russell. Những con diều hâu cũ bây giờ ngã theo đám bồ câu nổi tiếng trong Thượng Viện, George Mc Govern, Frank Church, Albert Gore, Wayne Morse, Edward Kennedy. Ngay như tại Nhà Trắng, ông Kissinger chỉ còn có thể tính đến những người đồng minh tự nhiên của ông. Một vài vị thân cận với ông Ford tin tưởng là bài toán Việt Nam tự nó sẽ tan biến thôi. Mệt mỏi, như bị bao vây, Kissinger không dứt than van:

–          “Không biết chúng ta thuộc loại người gì?”

Và cộng sự viên của ông nhận thấy ông đang cắn móng tay….

Sáng ngày 7 tháng giêng, Tướng Viên gọi điện thoại cho ông Thiệu. Tham mưu Trưởng Liên Quân báo cáo cho Tổng Thống. Những phi cơ thám sát trên không phận Phước Bình cho biết là mọi dấu hiệu kháng cự coi như đã chấm dứt.

Tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu triệu tập một phiên họp đặc biệt. Có mặt Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, hai Phó Thủ Tướng Trần văn Đôn và Nguyễn văn Hảo, hai vị Chủ Tịch Thượng Viện và Hạ Viện, Chủ tịch Tối cao Pháp Viện, và tướng Đặng văn Quang, phụ tá Tổng Thống đặc trách về an ninh.

_“Địa thế và khó khăn về tiếp vận của chúng ta đã tiếp tay cho cộng sản. Quân lực của chúng ta khó lòng chiếm lại tỉnh Phước Long được” ông Thiệu nói.

Tướng Quang thường ít khi phát biểu trong các phiên họp, hôm nay tuyên bố:

_ “Quận lỵ Phước Bình và tỉnh Phước Long rất khó phòng thủ nên không thể giữ được.Thị trấn An Lộc và tỉnh Kon tum cũng vậy. Thị trấn An Lộc nằm ở phía Tây và Tỉnh Kontum ở về hướng Đông Bắc. Cả hai đều rất quan trọng. Nhất là tỉnh Kontum”

Rồi hơi sẳn giọng, tướng Quang nói tiếp:

–          “Những nơi nầy rồi cũng sẽ bị mất, nếu cộng sản quyết định đánh chiếm.”

Không thấy một phản ứng nào cả. Như không ai nghe thấy gì hết vậy: Hình như người ta thấy những việc đó không có gì đáng cho họ phải quan tâm.

Ông Thiệu lại phải nói tiếp:

_“Chúng ta có thể phản kháng để thử tìm hậu thuẩn của dư luận quốc tế. Phản kháng ngay Liên Hiệp Quốc. Phản kháng với cả 13 thành viên đã ký tên vào Hiệp Định Paris. Chắc cũng không có kết quả gì đâu. Phần đông các nước đang bấn vì cuộc khủng khoảng năng lượng. Nhưng trước hết chánh phủ chúng ta cần phải có được một sự gia tăng viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ.”

Rồi hướng về 2 vị chủ tịch Thượng và Hạ viện, ông nói:

_ “Chúng ta phải gởi một phái đoàn đến Hoa Kỳ để vận động với chánh phủ Hoa Kỳ làm áp lục Quốc Hội. Nhưng trước hết chúng ta phải chọn lựa vài nghị sĩ và dân biểu để chúng ta mời . Chúng ta vào bàn với Tòa Đại sứ Mỹ về danh tánh những người nầy.”

Chủ tịch Hạ viện đồng ý:

_ “Nhưng hình như các dân biểu Hoa Kỳ có nhiều vấn đề đối với cử tri của họ lắm. Chúng ta nên thăm dò dư luận dân chúng Mỹ trước, xuyên qua các tổ chức.

_ “Tổ chức nào?

_ “Các nghiệp đoàn, Hội Cựu chiến binh, hay Hội Hồng thập Tự …. ÔngThiệu tỏ ra chưa chịu:

_ “Cần phải tiếp xúc với các nghị sĩ Mỹ, vấn đề cử tri đó thuộc về chánh trị nội bộ của họ.

Làm cách nào để có tiếng nói của quần chúng?

–          Tôi thấy sao Chánh Phủ cô đơn quá, Thiệu vừa nói vừa nhìn sang Thủ Tướng dường như Tổng Thống không kiểm soát được chánh phủ vậy.

Ông Thiệu ngưng một giây, chờ ông Khiêm lên tiếng. Nhưng như thường lệ, Thủ Tướng vẫn giữ im lặng. Thiệu nói tiếp:

_ Trong quá khứ, gặp trường hợp khủng khoảng nặng thì các nhóm đối lập sẽ phải hợp tác với Chánh Phủ.

Không có một nhóm nào thực sự hăng say năng nổ hoạt động hết, trừ ra có đảng Dân Chủ do ông Thiệu thành lập. Tổng Thống muốn mở rộng căn bản chánh trị của Chánh Phủ nên ông đã ra một luật đảng phái khá tự do, đúng ra là cho các đảng phái chánh trị để cho phép họ ra hoạt động hết, trừ đảng cộng sản. Điều nầy gây cảm tưởng tốt ở Mỹ.

Sau đó ông Thiệu dặn dò vài điều cho hai vị chủ tịch Thượng và Hạ viện. Ở Miền Nam Việt Nam hành pháp lèo lái lập pháp.

Hai vị Phó Thủ Tướng hiện diện đề nghị ông Thiệu nên đi gặp các nhân vật có tầm vóc quốc gia để tìm hậu thuẩn. Ông Thiệu lắc đầu, nhưng không người nào gợi ý ra được tên ai hết vì có lẽ không mời mọc ai được hết. Ông ta nhắc các dân biểu và nghị sĩ phải hoàn tất luật báo chí và nên cho ông xem qua. Sau cùng phiên họp đưa ra vấn đề kinh tế, nhắc lại các điểm đã bàn cãi trong phiên họp nội các bốn ngày trước. Thủ tướng có nói là phải mua thời gian. Năm 1976 Miền Nam sẽ xuất cảng dầu hỏa.

Như thường lệ ông Khiêm không xen vào các vấn đề quân sự và những bài toán về chánh trị nội bộ, ít nhất trong công khai hay lúc có mặt các tổng bộ trưởng. Ông thích đi sâu vào các vấn đề kinh tế và xã hội . Hôm nay là ngoại lệ, theo ông thì dư luận quần chúng trên thế giới về vấn đề Việt Nam hình như bị “đông lạnh”. Ông còn đi xa hơn khi quả quyết rằng Hoa Kỳ không còn can thiệp quân sự vào Việt Nam nữa, vì ông Ford cũng lạnh cẳng rồi.

Ông Thiệu lắng nghe, gần như không được thoải mái lắm vì ông không đồng ý với Thủ tướng Khiêm.

_ “Chúng ta phải kéo dài sự sống còn trong thời kỳ gọi là khó khăn tạm thời nầy, ông Khiêm tiếp tục nói, chính vì chúng ta sẽ có lợi tức dầu hỏa trong năm 1976.

Ông so sánh tình hình của đất nước với tình thế của người chơi bài phé. Thấy được dầu lửa người ta sẽ tăng thêm tiền đánh cuộc. Trước mặt chúng ta, Hà Nội không theo kịp mình đâu. Muốn cho dầu hỏa chảy ra càng nhanh càng tốt thì các công ty đầu tư cũng phải được hưởng lợi nhuận nhanh. Phải khuyến khích họ, phải nhường cho họ một bách phân hợp lý nào đó của Chánh Phủ.

_ “và lúc đó thì họ sẽ cố gắng thúc đẩy công tác khoan dầu nhanh hơn. Chúng ta không thể tự cho mình một sự xa hoa được hưởng lợi tối đa trong dài hạn.

Ông Khiêm nhắc lại là ông ta có nói với ông Hảo Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế để ông nầy hối thúc các công ty dầu hỏa. Ông Khiêm muốn thấy kết quả cụ thể trong vòng 6 tháng.

Có vẻ phấn khởi, ông nhấn mạnh:

_ “Nếu chúng ta xuất cảng được nhiều dầu vào năm 1997 thì lúc bấy giờ tình thế chúng ta sẽ tốt hơn.

Phiên họp chạy theo tình hình kinh tế quên mất việc tỉnh Phước Long vừa bị Bắc Việt chiếm.

Chiều hôm đó, hai bản phúc trình chi tiết của phiên họp nầy tới tay Tòa Đại sứ Mỹ. Một bản do Phụ Tá an ninh của ông Thiệu. Tướng Quang được yêu cầu báo cáo những gì đã xảy ra ở Phủ Tổng Thống. Thiệu vẫn biết như vậy. Và còn khuyến khích ông nầy làm như một nhân viên CIA tại đây nữa. Nhờ đó mà ông Thiệu điều động được một vài người Mỹ của Tòa Đại sứ trong lúc họ vẫn tưởng họ là “thầy” trong trò chơi nầy. Người Việt Nam bên nào cũng thế đã có một kinh nghiệm lâu đời về nghề gián điệp rồi, cả nhị trùng lẫn tam trùng ! Người Mỹ thì mới đây thôi.

Bản báo cáo thứ hai xuất phát từ một trong những thành viên của phiên họp vừa rồi.

Có rất nhiều sự “thoát tin” như vậy ở Saigon và Hoa thạnh Đốn, và có nhiều người “bán tin” như vậy chung quanh Tổng Thống, Thủ Tướng, và những người có trách nhiệm hành chánh và quân sự. CIA đã gài rất nhiều máy thu âm trong dinh Tổng Thống. Họ tin chắc rằng trong hàng thân cận của ông Thiệu phải có một người làm việc cho Hà Nội. Ai? Quang, Hảo, hay một người nào khác?

Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã được thông báo về những quyết định của phiên họp quan trọng vừa qua. Ông ta đã nhận được chỉ thị, và ông chuẩn bị để thuyết trình cho những người khách Mỹ quan trọng.

Ngày 9 tháng giêng, trong gian phòng thuyết trình rộng lớn của Bộ Tổng Tham Mưu, tướng Viên tổng kết cho các sĩ quan của ông một bản phúc trình dài 11 trang. Ông thông báo kết luận: “một cuộc tấn công quân sự đại quy mô của Bắc Việt”, một cuộc tấn công mà Tổng Thống đang chờ đợi.”

Người ta nói tướng Viên “che dù” một tiếng lóng của giới quân sự Việt Nam. Ông không có sáng kiến mà cũng không có khả năng phân tách hay giải đoán tình hình mà lẽ ra ở cương vị của ông là phải có đầy đủ. Ông nhanh chóng chấp nhận là Bộ Tham Mưu của ông hoạt động trong vai trò của một cơ quan tư vấn, một nhiệm vụ mà bất cứ một đại tá quèn nào cũng đảm trách được . Phải chăng đó là cái giá phải trả để được ngồi mãi ở chức vụ nầy? Ông thích ngồi thiền (yoga) hơn là đi thanh tra chớp nhoáng ngoài mặt trận, với một tướng đi tướng đứng khá đẹp lúc nào đầu cũng đội mũ đỏ của binh chủng nhảy dù. Ông không khúm núm nhưng chịu vâng lời. Tướng Quang cố vấn an ninh, là người soạn kế hoạch đại cương về chiến lược và chiến thuật cho ông Thiệu. Sau khi Tổng Thống chấp thuận thì ông Quang chuyển lịnh thi hành xuống cho Bộ Tổng Tham Mưu. Chính ông Quang đã cho lệnh trực thăng vận đổ 200 biệt kích dù xuống Phước Bình đang bị bao vây.

Ngày 17 tháng giêng, ông Viên nhận được một bản phúc trình của tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị. Bản phúc trình được chuyển đến Thủ Tướng và Tổng Thống, và ngày hôm sau nó cũng đến tay Đại sứ Hoa Kỳ.

Bản phúc trình nghiên cứu về kế hoạch của cộng sản trong năm 1975:

“Chiến dịch nầy có thể sẽ chấm dứt vào tháng 6 dl. Nhằm tiến chiếm một số quận và tỉnh, nhất là thuộc các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Kiến Tường và Kiến Phong” Cộng sản sẽ cố cắt đứt Việt Nam Cộng Hòa theo một con đường kéo thẳng từ Kontum xuống miền duyên hải Quảng Nam. Trong những tháng sắp tới họ sẽ tìm cách phá cho nền kinh tế của Miền Nam yếu đi. Họ sẽ đồng loạt tấn công các cầu, các kho nhất là kho đạn và đặc biệt những cơ sở thuộc kỹ nghệ dầu hỏa. Họ cũng sẽ cẩn thận vì họ cũng muốn giữ cơ cấu hạ tầng để họ sẽ còn khai thác và xử dụng được một khi họ nắm được quyền hành ở đây. Họ sẽ tạo cơ hội để bắt Miền Nam phải nhận cả triệu dân di cư. Và lồng các nữ cán bộ đảng vào các trại di cư kể cả các trại di cư cũ, để tạo biến loạn. Cộng sản sẽ nuôi dưỡng các phong trào chống ông Thiệu để ông không thể ra ứng cử năm vào tháng 11 năm 1975. Họ sẽ hô hào: “Chiến tranh vẫn tiếp diễn khi nào ông Thiệu còn ở chánh quyền” . Những tổ chức của cộng sản như thanh niên phụ nữ và trí thức sẽ hợp tác với phong trào “đòi Hòa bình” ở Hoa Kỳ để ngăn cản Tổng Thống Ford không cho viện trợ quân sự cho Miền Nam. Trong chiến dịch nầy cộng sản hy vọng sẽ dùng những cựu tù binh Mỹ. Nếu kế hoạch và chương trình hành động nầy được thi hành thì vào khoản tháng 6/1975 Việt Nam Cộng Hòa bắt buộc sẽ phải ký một hiệp ước khác và sẽ phải chịu thành lập một chánh phủ liên hiệp. Chừng đó những toán tuyên truyền sẽ cố gắng xé nát tất cả các đơn vị của QLVNCH. Những đại biểu cộng sản trong chánh phủ liên hiệp sẽ tạo thêm nhiều khó khăn trong một hay hai năm, và cái Chánh Phủ đó sẽ bất lực , các thành viên cộng sản sẽ từ nhiệm, và một Chánh Phủ khác sẽ được thành lập: Chánh Phủ độc lập “Quốc Gia Dân Chủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” một Chánh Phủ “cấp tiến, xã hội của giai cấp vô sản” . Và ba bốn năm sau, một “chánh phủ độc tài” thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc sẽ thay thế Chánh Phủ của giai cấp vô sản kia.

Chung quanh ông Thiệu, người ta tin là cộng sản sẽ tốn ít nhất 2 hay 3 năm nữa. Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuy là cô đơn nhưng sẽ đứng vững. Cần nhứt là tình hình kinh tế phải tốt đẹp hơn. Các tổng bộ trưởng phải gia tăng tuyên bố khích lệ thêm lên. Đặc trách về kinh tế ông Hảo cam kết sẽ gia tăng xuất cảng. Bị hối thúc, ông nói gỗ và ngư hải sản có thể sẽ mang về 100 triệu mỹ kim hằng năm. Ông nói hơi quá: trong năm 1974 Miền Nam phải nhập cảng 929 triệu mỹ kim và chỉ xuất cảng được 76 triệu. Người ta đổ cho Chánh Phủ điều hành lãnh vực kinh tế không tốt, ngó lơ các cuộc mua bán ngoại tệ và chợ đen.

Hãy noi gương cá nhân ông Hảo: “hành động có đạo đức”

Ông cùng với Đô trưởng Saigon đi khắp các chợ, những nơi có chứa hàng lậu thuế, thuốc lá, rượu tây, hàng ngoại , máy thu phát âm thanh cực chính xác …. ông cố thuyết phục người bán là nên chấm dứt chuyện mua bán bất hợp pháp nầy đi, điều làm cho người ta vừa kinh ngạc vừa tức cười. Trong sự ngây thơ nầy ít nhất ông cũng đã tỏ ra thành thật. Cả người mua và người bán ai cũng cười. Báo chí nghiêm khắc chỉ trích ông Phó Thủ Tướng. Tờ Điện Tín viết: những chuyến đi dạo chợ của ông Phó Thủ Tướng Hảo được chiếu trên vô tuyến truyền hình là hành động có tánh cách “cố tình khoa trương”.

Người dân đứng đắn ai cũng biết là nếu có tham nhũng, hối lộ, để được giấy phép nhập cảng hậu hĩ hay giấy phép xây cất bừa bải, hoặc chuyện mua bán ngoại tệ v..v.. thì những thứ toan tính đó không ai dại gì đem ra ngay giữa chợ đâu.

Ở “chợ trời” nơi các món hàng đánh cắp, hàng lậu thuế… được bày bán lẫn lộn với mọi thứ lặt vặt với giá hạ, người ta mua đi bán lại đủ mọi loại hàng từ chiếc máy thu thanh cực nhỏ đến bàn máy đánh chữ, đồ trận, và đồ lót bằng vải kaki, từ đồ hộp, thức ăn khô của binh sĩ đến những máy khoan điện cầm tay xuất xứ từ California đến những đôi giày da cá sấu của Đài Loan. Trên quầy hàng đủ loại xà phòng còn nguyên xi trong hộp nằm lẫn với các mũ lưỡi trai. “Thượng vàng hạ cám” thứ gì cũng có, tốt xấu gì cũng có….. nhưng từ khi 500.000 lính Mỹ hồi hương rồi thì ” chợ trời” mua bán hơi ế ẩm..

Về khách hàng thì ở chợ trời nầy, người ta nhận thấy đủ mọi tầng lớp người trong xã hội , giàu sang có, nghèo hèn có, dân quê từ các tỉnh Miền Tây lên có, từ các tỉnh miền Đông giáp giới Cam Bốt xuống có, công nhân và thợ thầy của hàng ngàn công ty ở Saigon có, quân nhân mặc quân phục có, sĩ quan và binh sĩ ngoại quốc thuộc Ủy Hội Quốc Tế có… Ngoài ra người ta còn nói nhiều về một số không ít “cao bồi”, quần ống túm, từng cặp từng cặp lượn qua lượn lại đèo nhau trên các xe Honda, để thừa cơ hội đông người chôm món nầy chỉa món nọ… đôi khi làm phiền khách du lịch. Một số người ngoại quốc thường nhìn bề ngoài hào nhoáng, thơ mộng, khó thấy những gì ẩn kín của thành phố. Ở Saigon phải trên 100 tiệm thương mãi mới có một tiệm hút thuốc phiện, trên 1000 tiệm ăn hay chạp phô mới có một quán nhảy. Đô thành Saigon rộng lớn với Gia Định, Chợ Lớn và các quận ngoại thành, ngoại ô, có khoản từ 3 triệu 500 ngàn đến 4 triệu dân, trong đó có một số từ các tỉnh đổ về, đến, ở một thời gian, rồi đi… không cố định.

Du khách thường hay chơi ở trung tâm thành phố, chung quanh dinh Độc Lập, nhà bưu điện trung ương, nhà thờ chánh tòa, đường Tự Do con đường chính đi thẳng từ nhà thờ Đức Bà đến Sông Saigon là nơi có những nhà hàng nổi. Du khách đi dạo chơi chung quanh chợ Saigon và các khách sạn, như Continental mà người chủ Philippe Franchini kín đáo ở ngay tại đó, Caravelle tối tân có máy điều hòa và ngang đó là Graham Greene…. Du khách thường ăn ở các nhà hàng do người Pháp hay người Corse làm chủ, và giao dịch với 18 chi nhánh ngân hàng Việt Nam hoặc 14 ngân hàng ngoại quốc..

Giới quốc tế sang trọng thì ở những khu đẹp hơn, ở quận 3 và quận 1, nơi đó đường sá sạch sẽ hơn với những hàng cây cao bóng mát hai bên đường, có những biệt thự tráng lệ kín cổng cao tường, với những hàng rào cây xanh ngắt, bông hoa cây kiểng. Đây cũng là khu gia cư của giới thượng lưu trí thức , công chức cao cấp, người Âu Châu, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Đường phố ở đây rất yên tĩnh như chìm trong giấc ngủ trưa vậy vì ít người qua lại. Trong cuộc chiến mà Bắc Việt gọi là “chống Mỹ cứu nước” hay là “cuộc kháng chiến thứ hai”, hàng trăm hàng ngàn người Mỹ cư trú ở Saigon. Ngoài các khách sạn hay trong doanh trại, họ còn thuê hay mua nhà ở những khu sang trọng và yên tĩnh nầy, một di sản kiến trúc rất đẹp của người Pháp đã để lại cho Việt Nam.

Người dân Saigon thì ở các nơi khác, như quận 5 quận 7 ồn ào đông đúc hơn, chen chúc nhau dài theo các con đường nhỏ hẹp hơn, có khi không được tráng nhựa, không được sạch sẽ lắm. Nhưng cũng không đến đỗi nghèo khổ như Calcuta hay Dacca đâu. Người dân Saigon nào mà không tìm được nhà 1, 2, hay 3 phòng ở nội thành, không có được nhà xây gạch thì họ sẽ ở những dãy nhà xây cất bằng vật liệu nhẹ, bằng cây, hay trên những nhà sàn hai bên bờ rạch, hoặc trên những nhà bè, nhà nổi, trên thuyền bè lưu động. Chỗ nào cũng ồn ào với tiếng động cơ máy móc của các xưởng thủ công nghệ, sản xuất ngay tại gia đình từ nồi niêu song chảo bằng nhôm đến mọi vật dụng bằng nhựa, một loại chất dẽo của thế giới thứ ba cũng còn được gọi là thế giới đang phát triển. Giới bình dân Saigon là thợ sửa chữa đủ loại, từ chiếc xe đạp đến mô tô, tủ lạnh.. họ hành nghề ngay trong căn nhà ọp ẹp trống trải của họ, dưới mái tôn nóng bức. Hai bên các con rạch nước đen ngòm lại còn có những căn nhà nhỏ như ổ chuột. Trẻ con trần truồng chơi đùa vui vẻ vô tư giữa các thùng cây, các bao lúa hay các vật liệu phế thải bẩn thỉu, vỏ đồ hộp, thùng giấy, ống cao su …của gia đình thu nhặt được.

Ở cái thế giới hỗn độn nầy trẻ con được ăn uống no đủ, nhưng các cơ quan y tế không chiến thắng được bịnh thiếu sinh tố và bịnh sốt rét. Cuộc chiến tranh và sự có mặt của người Mỹ đã tạo ra được một sự phồn thịnh bề ngoài hay tạm thời thì đúng hơn (mà bộ máy tuyên truyền Bắc Việt sau 1975 gọi là “phồn vinh giả tạo”). Hậu quả của sự phồn thịnh nhất thời ở đây sẽ rơi vào lớp người không được ưu đãi nầy. Ngoài một số ít trại tỵ nạn, không có một người dân Miền Nam nào đói hết. Năm 1975 người ta đọc được trên báo chí các nước rằng Miền Nam Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp (đến 80 %). Chưa đúng lắm, vì bị ảnh hưởng của chiến tranh, bị đồng lương hấp dẫn, nhiều nông dân chẳng những đã trở thành công nhân, mà còn đã biến thành thợ hồ, thợ máy, thợ tiện, thợ điện hay cả nhạc sĩ nữa . Các chuyên viên xã hội học của Hoa Kỳ đến Miền Nam Việt Nam không có thì giờ để thấy rõ được hiện tượng nầy, vì họ còn đang bận với kế hoạch bình định, và điều tra các tù binh việt cộng. Xã hội Miền Nam Việt Nam thay đổi, tiến lên lần lần với thế kỷ XX, có người nói là huy hoàng, có người cho là suy sụp. Chiến tranh làm cho gia đình ly tán, sanh ra đĩ điếm nhưng cũng tạo ra những công nhân giỏi và thợ khéo, những bác sĩ và dược sĩ lành nghề, nhiều chuyên viên cấp cao, nhưng cũng làm cho một số hàng chục ngàn thất nghiệp, phần lớn nhóm sau nầy vào quân đội để sống. Con số công nhân ở Saigon chắc chắn phải nhiều hơn ở Hà Nội.

Vì họ đoàn kết chặt chẽ với nhau nên trên 500.000 người Tàu sống ở Chợ Lớn ít có người thất nghiệp. Từ lâu rồi trên nguyên tắc Hoa Kiều bị cấm buôn bán cá, thịt, vải vóc, sắt thép, chạp phô và gạo. Họ cũng không có quyền có cửa hàng tạp hóa, buôn bán xăng dầu và chuyên chở công cộng. Nhưng ở Việt Nam luật lệ là một chuyện còn thi hành luật là một việc khác. Người Trung Hoa kiểm soát hết hệ thống các thương hội, trong đó tất cả những cơ quan an ninh mật vụ và trước hết là CIA, khó mà tuyển được người lắm. Trên thực tế người Trung Hoa như các thầu khoán, các người làm việc , đều núp kín dưới tên họ Việt Nam nên họ đều có ruộng , là chủ các hãng xưởng, sản xuất từ bột, dầu ăn, đồ hộp v.v.. đến cả nước mắm nữa, họ còn là chủ khách sạn, các tiêm ăn, nhà hàng sang trọng, các tiệm “lạc son” (bán đồ sắt đồ đồng), và các tiệm bán thực phẩm. Những người bán dạo, các tiệm bán thức ăn thức uống đầy rẫy khắp mọi nơi khắp các thành phố. Họ còn có chân hay làm chủ một số lớn công ty xuất nhập cảng, các hãng buôn sĩ bán lẻ. Tất cả những dàn xếp tính toán trong việc mua bán đều chắc chắn và khả tín vì trong chuyện làm ăn lớn nhỏ có dính dấp đến tiền bạc, thì một lời nói của người Tàu dù không có giao kèo khế ước đều chắc như đinh đóng cột, đều là vàng. Họ liên lạc chặt chẽ với mọi ngân hàng, mọi công ty tín dụng ngoại quốc, từ Bangkok đến Singapore, Hong Kong, Đài Bắc. Không gì qua được người Tàu khi muốn chuyển tiền ra ngoại quốc, hay muốn đổi tiền Việt Nam ra mỹ kim, đồng quan thụy sỉ, hay đồng mark của Đức v.v.. mà không cần phải đi qua sở Hối Đoái.

Ở Chợ Lớn, người ta không thấy một biểu ngữ nào của chánh phủ. Bây giờ thì ở thủ đô đang có treo một biểu ngữ mới: “Phước Long sẽ được tái chiếm”. Biểu ngữ mới toanh, được treo ở trước các công sở.

Còn rất ít người chú ý đến “Bốn Không” của ông Thiệu:

_ “Không thương thuyết với địch” còn có ý nghĩa gì nữa sau bao nhiêu thời gian dài ở bàn hội nghị để đi đến Hiệp Định Paris 1973.

_ “Không công nhận cộng sản ở Miền Nam Việt Nam”: điểm chánh trị căn bản của Tổng Thống Thiệu.

_ “Không có Chánh Phủ Liên Hiệp”, khi một điều khoản của Hiệp Định đã có dự trù một Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc.

_ “Không nhượng một tất đất cho cộng sản”, trở thành chua chát sau khi mất Phước Bình….và tỉnh Phước Long.

Cũng tương tự như ở Miền Bắc, ở Miền Nam các biểu ngữ được dán, treo hay vẽ lên tường. Như: “Đừng bán gạo cho cộng sản” hay “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”, hoặc “Hợp tác với cộng sản là tự mình uống một viên thuốc độc có bọc đường” v.v…

Ở Saigon nếu không có những hình thức tuyên truyền như vậy, không có các bản tin tức truyền thanh truyền hình, không có báo chí, tin đồn, chuyện nhãm nhí .. ở khắp các quận, không có binh sĩ mặc quân phục… thì người ta có thể không nhớ gì đến chiến tranh.

Đôi khi người ta nghe tiếng đại bác bắn ở xa xa, nhưng không còn có những vụ đặc công hay nổ mìn ở Saigon nữa, hàng rào kẽm gai đã rỉ sét, bao cát thì rách và lính gác trước quận hay doanh trại thì thờ ơ, thường ngồi nhiều hơn đứng. May mắn thay cho Saigon một thủ đô yên tĩnh lạ lùng trong cuộc chiến, Saigon có một vẻ đẹp duyên dáng, vui tươi, đầy nhựa sống.

Vào buổi sáng sớm tinh sương êm dịu, Saigon thức dậy như một đóa hoa vừa hé nở.. Giống như các đô thị lớn ở Á Châu, dân chúng từ ngoại ô đổ về trung tâm thành phố. Cảnh sát mặc đồng phục xám bắt đầu đi tuần rỏn.. giữa tiếng gáy rân trời của vô số bồ câu. Các bà bắt đầu nhóm lửa đốt lò. Mùi than, củi hòa lẫn với mùi nước lèo thơm ngát, mùi xăng, mùi nước mắm. Để đi làm việc, già trẻ gì các ông cũng mặc quần dài áo sơ mi đẹp, các bà thì đội nón lá, các cô thì mặc áo dài mượt mà.. Xe đạp và xe gắn máy chạy chật cả đường, Các quầy hàng bày đầy kẹo, thuốc lá, kính râm, nước hoa, kem đánh răng, ấm tích, bút máy, thau chậu, cả chim nữa..Tất cả hàng hóa bằng mũ nhựa màu sắc rực rở kiểu Á Đông làm cho người Phương Tây lóe mắt. Người ta mua bán, đổi chác, sửa chữa .. ở đây có mùi dầu bạc hà, chỗ kia mùi nước tiểu.. Chợ nào cũng đầy ngập hàng hóa, nhất là chợ trung ương. Dâu, cam, trái vải, bưởi, ớt, khoai, rau muống, hành, cà rốt không thiếu thứ gì cả, và nhiều nữa. Người mua trả giá không phải để cho vui mà thực sự để tìm giá hạ. Từ sáng tới chiều, lưu thông tấp nập, tất bật và vui nhộn. Người ta tôn trọng phụ nữ hơn là tín hiệu đèn lưu thông. Xe buýt và xe khách đầy người mặc dầu đã cũ. Xe đạp, xe gắn máy , mô tô, nổ rần trời chạy chen với tắc xi, những xe Renault 4 ngựa, cũ kỷ màu xanh mà đồng hồ tính tiền không bao giờ nhảy. Tài xế cứ vô số 2 rồi vọt… Saigon là thành phố của xe Honda, của xe Peugeot, của xe Renault. Khoản 8 giờ thì người ta thấy tài xế Việt Nam trên những xe Ford Pinto đen của Mỹ. Ai cũng biết rằng những người Mỹ ngồi cạnh tài xế Việt Nam là nhân viên của CIA. Xe Ford Pinto đen là loại xe ưa thích hay chánh thức của cơ quan nầy. Những người Tây Phương khác, nhất là người Pháp thì thường dùng xe La Dalat hay Méhari. Các xe ba bánh thì chuyên chở các thùng hàng mà họ ràng buộc cao ngất lên, nhưng thăng bằng như hát xiệc vậy. Người ta bị chận lại hoài, rồi người ta nhận kèn in ỏi, người ta vọt lên, càu nhàu lấy lệ. Một đứa trẻ, hai đứa bé, có khi ba.. được đèo phía sau xe, cười đùa tự nhiên. Ở trung tâm thành phố được ghi nhận là có nhiều người Ấn Độ, Có khoản từ 3000 đến 4000 dân Ấn ở Saigon. Họ đến đây từ Coromandel, từ Malabar, từ những chi nhánh thương mại của Pháp. Họ chuyên nghề mua bán ngoại tệ. Vì là dân cho vay chuyên nghiệp nên họ đổi tiền nặng lời kinh khủng. Dân Hindous thường có thông hành Pháp, và người ta thường mướn những người Hindous nầy, đôi khi cũng có vài người dân Sikh để gác đêm các cơ sở thương mại quan trọng như kho hàng hay các khách sạn lớn như Continental.

Có vài trẻ nhỏ khoảng 12 hay 13 tuổi đầu thường chạy quanh theo người ngoại quốc để gạ đổi tiền hay gạ tìm gái hay gạ bán ảnh khỏa thân.

Có những trẻ khác lớn hơn rủ rê đi tiệm hút. Những người sành điệu thì thường chọn khách sạn Hưng Đạo, Hưng Đạo 1 hay Hưng Đạo 2 , nơi đây có những cô gái mặc áo lót ra tiếp khách. Cuộc chiến thường vứt vào thành phố đủ hạng người , từ người quân nhân với bộ quân phục mà không có súng ống, tới những kẻ vô công rổi nghề, những người chạy áp phe. Các anh lính thường tản bộ tay nắm tay, giống như bộ đội ở Hà Nội. Sỹ quan thì có vẻ quan trọng hơn đi xe Jeep hay xe chỉ huy. Đến khoảng giữa trưa, hơi nóng phủ mặt đường , không khí dày đặc , nặng nề.. oi bức. Đâu đó có tiếng còi hụ của một xe cứu thương.

Ở tiệm cà phê Givral, “ba chàng ngự lâm pháo thủ” đang nhâm nhi ly cà phê đầu tiên trong ngày. Vượng và Cao Giao đang nghe Ẩn nói chuyện, có vẻ chăm chú và nể phục, đôi lúc kinh ngạc vì tầm nhìn quá rộng và quá chính xác của người bạn.

Quá trưa thì các rạp chiếu bóng đầy khách. Phim chiến tranh thì quá phổ thông, nhưng cách đây chừng ba bốn chục cây số người ta có thể nghe thấy tận mắt trận chiến thật sự, tại sao phải xem phim ? Có lẻ vì phim nó có hồi kết cuộc. Ở Saigon người ta sống bên lề cuộc chiến, nhưng không thể quên cuộc chiến được . Người nào cũng biết là cuộc chiến chưa chấm dứt và không một ai biết nó sẽ chấm dứt lúc nào và như thế nào.

Người ta ít đi xem những cuộc triển lãm do cơ quan văn hóa các Tòa Đại sứ tổ chức vì các cơ quan nầy cũng chiếu phim tài liệu hấp dẫn lắm. Như Học Viện Pháp sẽ chiếu “Bốn trăm phát” ngày 7 tháng giêng, “Jules và Jim” ngày 9, “Cesar và Rosalie” ngày 10. Trung tâm Saigon cũng như Hà Nội đều có lối kiến trúc của Pháp. Nhưng các sinh viên bây giờ không còn ai nói tiếng Pháp nữa. Trong những năm gần đây, tiếng Anh thông dụng hơn để bước vào các hệ thống hành chánh hay quân sự. Những người dân tị nạn đến từ Phước Long từng nhóm nhỏ, đi bộ có, đi xe cũng có, vài nhóm quá giang xe quân đội. Họ không làm rối loạn thành phố.

Không như các thành phố lớn khác như Đà Nẵng hay Huế, Saigon gần như đứng ngoài cuộc chiến vốn thường xảy ra xa thủ đô, trên vùng Cao Nguyên, trong đồng ruộng hay tận các làng mạc xa… Ở những nơi đó cũng có đầy đủ vật dụng bằng mủ, bằng nhựa nhưng không có đèn nê ông vì không có điện. Trẻ con giữ trâu thường đi bắt cua cá trên các bờ đê ruộng hay trong các ao. Ở Saigon một tiếng súng thôi cũng làm cho người ta bu lại. Nhưng ở trong đồng ruộng, phải là một tiếng bom nổ hay một đạn pháo nổ bên cạnh mới làm cho các chú bé này ngẩng đầu lên nhìn. Bọn chúng đánh giá sự nguy hiểm bằng thính giác. Dân làng cũng vậy, họ tìm cách sống bên lề cuộc chiến, để làm việc, để tìm nguồn nước mà trồng trọt, để mà sống và được sống còn. Với những đàn heo đen và đàn gà chen chúc dưới gầm giường, dân làng dù sống trong những căn nhà tranh hay nhà gạch, họ vẫn có đủ những máy thâu thanh nhỏ để nghe được tin tức đủ loại và âm nhạc. Ngay năm 1975 cũng như những năm trước, 1965, 1955. hình ảnh của làng mạc trong Miền Nam là như thế, không giống như làng mạc ngoài Bắc Việt. Ở Miền Bắc có được mấy miếng tôn dợn sóng trên mái nhà là điều hiếm có.

Dấu chân ngày xưa

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 21 Jan 2026

Google image

Bài 7.

Mẹ

Năm mười bảy tuổi Mẹ đã về với Cha. Mẹ ở Ðồng Xuân, Cha ở Núi Ðồi, cách nhau hơn hai cây số và một cây cầu, vậy mà mãi đến ngày lập gia đình Mẹ mới biết mặt Cha. 
Ngày đó Mẹ cũng ôm sách đến trường Lê Khiết cùng Cậu Út. Nhưng Mẹ là con gái nên có hôm Ngoại cho Mẹ đi học, có hôm Ngoại bảo Mẹ phải ra đồng coi mấy người thợ cấy, và đem nước cho thợ. Cho nên Mẹ chỉ theo Cậu đi học được mấy năm, rồi đi lấy chồng. Vậy mà bây giờ, 90 tuổi, Mẹ vẫn còn nhớ được năm ba tiếng Tây. Có những lúc ngồi kể chuyện đời xưa, lòng Mẹ dịu lại và ánh mắt Mẹ thật vui, Mẹ nói: “la table cái bàn, le banc cái ghế, le riz hột lúa.” Rồi Mẹ nở nụ cười, lộ hai cái lợi trơn lu, và mái tóc, bạc trắng như vôi. 
Ngày về làm dâu cho Nội, Dì Hai, Dì Ba đưa mẹ lên đường. Hành trang của Mẹ chỉ có cái va ly nhỏ, đựng năm ba bộ quần áo, cái gương, cái lược, và một nừng nước mắt. Mẹ kể lại. Thế là Mẹ về làm dâu ở Núi Ðồi. 
Những năm tháng sống nhà Ngoại, Mẹ được cưng chiều nên dường như không biết công chuyện đồng án là gì. Công việc của Mẹ chỉ lo cơm nước trong nhà, xách nước cho thợ, và cầm cây gậy theo Ngoại ra đồng. Ngoại bảo Mẹ ngồi canh chừng cái trúm cá bên bờ mương, lâu lâu cá chun vào trúm thì bắt bỏ vào đụt. Một hồi lâu Ngoại trở lại, hỏi được bao nhiêu cá. Ngoại dở trúm lên không thấy con cá nào hết! Ngoại bực mình. Thì ra Mẹ ngồi bên bờ mương, thọt gậy xuống nước quậy chơi, cá thấy sợ nên không con nào chun vào trúm. Mà Mẹ ghét nhất là làm cá. Và mãi sau này cũng vậy, Mẹ ghét làm cá. Cũng vì vậy mà ngày về làm dâu cho Nội, Mẹ lụm thụm nên hay bị Nội la. Có hôm Mẹ không làm vừa lòng Nội, Nội nặng lời với Mẹ. Mẹ bị đòn một trận nên Mẹ buồn, nằm vạ và nhịn ăn luôn mấy ngày. Rồi Cha phải năng nĩ Mẹ mới chịu ăn. Mấy ngày sau Mẹ đòi Cha dẫn Mẹ về trên Ngoại, Cha không dám dẫn Mẹ đi, nhưng rồi Mẹ cũng đi. Ngoại nhìn đôi bàn tay của Mẹ sần sùi, và người gầy ốm nhiều, Ngoại thương cho ở lại nhà. 
Mẹ là con dâu trưởng, Cha có một đàn em, nên Mẹ cực muôn chiều. Vừa phải lo cho Nội, lo cho em chồng, thức khuya, dậy sớm. Một ngày của Mẹ dài đăng đẳng. Vậy mà cũng không được yên. Sau lần Mẹ giận bỏ về nhà Ngoại, Nội lên xin lỗi và đưa Mẹ về. Rồi Mẹ có mang anh Hai. Ngày sinh nở Mẹ về bên Ngoại. 
Sau ngày sinh anh Hai, Mẹ đòi Cha về ở trên này. Vậy là Cha phải rời Núi Ðồi về Ðồng Xuân cùng Mẹ. Ngày xưa ông Nội quê ở Ba Bình nằm cạnh Ðồng Xuân, nhưng vì theo quê vợ nên ông Nội mới về sống ở Núi Ðồi. Bây giờ Cha trở về Ðồng Xuân với Mẹ, ông Nội cho Cha mảnh vườn ở Ba Bình làm nhà ở. Từ đó Cha Mẹ ra riêng, và lập nghiệp ở Ba Bình. 
Những năm đầu ra riêng Cha không có đủ ruộng đất để làm nuôi gia đình, nên Cha theo người ta vào Bình Ðịnh làm kiếm tiền. Vậy là Mẹ ở nhà một mình với anh Hai. Nhờ có Ngoại ở một bên, và Ngoại rất thương anh Hai, đi đâu Ngoại cũng đèo anh Hai trên lưng. Cho nên Mẹ đỡ một tay để lo công chuyện trong nhà. Sáu tháng trời Cha vẫn đi vắng, và sáu tháng trời đã huấn luyện cho Mẹ thành một người vợ, một người Mẹ đảm đang lo cho gia đình. Nhưng sáu tháng phòng không lẽ bóng, chắc Mẹ cũng buồn lắm! Còn Cha, phần thì làm không được bao nhiêu tiền, phần thì bệnh họan liên miêng, muốn trở về nhà mà không có tiền và phương tiện. Một hôm, tiếng đồn Cha bị bệnh nặng mà không có đủ tiền đi về đến tai Nội. Nội phải lặng lội đường xa để mang Cha về. Sau đó Nội cho Cha thêm đất để ở nhà làm ăn. Và cũng từ đó một tay quán xuyến của Mẹ đã giúp Cha gây dựng nên sự nghiệp. 
Rồi các anh, các chị nối tiếp nhau chào đời. 
Mẹ dành dụm có cái ăn cái để, rồi xây nhà, dựng chòi mía, làm đường, làm bờ xe nước. Ðâu có ai nghĩ rằng con gái út của Ngoại lại quán xuyến đến thế. Nhưng có ai biết đâu, Mẹ là hình ảnh của bao nhiêu người Mẹ Việt Nam. Cần kiệm lo cho gia đình, con cái, mà cả tấm thân của Mẹ suốt đời vẫn nhọc nhằn. Nhưng rồi chiến tranh đến, thiêu rụi bao nhiêu công lao mồ hôi nước mắt của Mẹ. Coi như công dã tràng, Mẹ lại cùng Cha mang con cái của Mẹ rời xa bom đạn để làm lại cuộc đời. Thế là Mẹ cũng như những người mẹ thân yêu khác, lên thành phố. Bỏ cái cuốc xuống, Mẹ đặt trên vai cây đòn gánh, và bước chân Mẹ dẫm đều trên đường phố đông người, làm người bán hàng rong. Một ngày của Mẹ lại bắt đầu như xưa, dài đăng đẳng. 
Trong một lần tai nạn nghề nghiệp Cha đã ra đi. Để lại một mình Mẹ thân cò lặng lội bờ ao, nhọc nhằn năm tháng chi chít nuôi con ăn học. Rồi những đứa con của Mẹ cũng đến ngày khôn lớn. Từng đứa dìu dắc nhau ra đi, để Mẹ ở lại trên mãnh đất quê hương. 
Một đời người Mẹ đi qua. Khi Cha qua đời Mẹ vẫn ở vậy nuôi con, bây giờ con khôn lớn, con đã ra đi. Những năm tháng mòn mõi trên quê hương, Mẹ vẫn mong ngón tin con, như ngày xưa con vẫn ngồi trên thềm trông Mẹ về chợ. 
Rồi một ngày con trở về mang Mẹ đi. Là ngày con đã thành nhân. Ơn sinh thành nuôi nấng bây giờ con mới được đền đáp. Mười lăm năm qua Mẹ về ở với các con bên đây, bây giờ Mẹ già rồi, Mẹ lại muốn về với quê hương, với chị, với anh của con. Chỉ vậy thôi, vậy là Mẹ sẽ về. Mười lăm năm trôi qua mau quá, con tham lam muốn có thêm mười lăm năm nữa, chắc được chứ, phải không Mẹ. 
Hôm nay là ngày của Mẹ. Cánh cửa phòng của Mẹ vẫn đóng kín, và tiếng nói của Mẹ cũng không còn đâu đây. Con xin cám ơn đời đã ban cho chúng con người Mẹ tuyệt vời, suốt đời tận tụy vì con. Không ngại nắng sớm mưa chiều, Mẹ đã quên đi nữa cuộc đời của Mẹ, để quảy gánh trên vai nuôi anh em chúng con ăn học thành tài. Công lao của Mẹ to quá, như nước trong nguồng lai láng. Mà con không biết dùng từ ngữ nào mới nói xiết, nên, con chỉ xin gởi về Mẹ nụ hôn và một bông hồng, cho Mẹ.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 20 Jan 2026

Bài 20.

Người bạn tốt nhất

Tôi có thể bị chê là quá lãng mạn, nhưng thú thật bao giờ tôi cũng vẫn coi bệnh-nhân như một người bạn đồng hành ở bên cạnh tôi trong cuộc chiến đấu chống niềm đau nỗi khổ và sự chết. Đó là một quan niệm mà theo ý tôi có thể suy ra từ những mệnh lệnh đạo đức, nhất là một sự chân thật tuyệt đối ở đôi bên, lòng tin tưởng tương đồng hoàn toàn, niềm thủy chung ngay bất cứ lúc nào, trên phương diện y học cũng như trên bình diện nhân bản. Mọi việc bắt đầu cách đây ba tuần lễ. Hôm đó sau hai cuộc giải phẫu lớn và một “cua” về quan niệm nhiễm trùng dưới khía cạnh thủ thuật, tôi đến văn phòng giải quyết vài chi tiết hành chánh. Cô thư ký, cộng sự viên quý báu cũng khắt khe, bắt tôi phải đọc bao nhiêu văn thư, ký không biết bao nhiêu văn kiện và định ngày khám bệnh. Tưởng đã xong hết công việc thì cô cho tôi biết có hai vợ chồng già chờ tôi đã hai giờ trong phòng đợi.

Tôi gắt:

– Thôi chứ. Cô không thể tìm một ông phụ tá để tiếp họ thay tôi hay sao?

Cô lắc đầu:

– Thưa giáo sư khó lắm ạ, họ chỉ muốn gặp có giáo sư. Rồi cô  lại nói thêm như để thoái từ, dạ, thưa họ đến vì ông con một, rồi giáo sư sẽ thấy, họ dễ thương lắm.

Khi tôi bước vào phòng đợi, một ông già đứng tuổi, tóc bạc phơ, mặc rất trịnh trọng trong bộ lễ phục đã quá thời, đứng dậy và nghiêng mình kính cẩn. Sau khi xưng tên, cụ giới thiệu bà vợ, một bà già nhỏ nhắn như một búp bê bằng sứ, mặt tàn phá bởi nước mắt. Đôi mắt cụ nhìn tôi vẻ van lơn. Và đôi môi run rẩy sẽ khoác lên một nụ cười. Cô thư ký tôi có lý: không thể nào chối từ tiếp đôi vợ chồng trong bộ lễ phục thường thấy trong “album” cũ kỹ này. Họ đang bị đau khổ giày vò, chỉ nhìn thoáng cũng cảm thấy điều ấy. Ông cụ nói rõ mục đính cuộc “thăm viếng” này. Đứa con một của đôi vợ chồng già này, trước là giáo viên, hồi hăm ba tuổi – năm nay đã hăm sáu – bị tê liệt tay phải, ít lâu sau cả chân phải. Vài tháng sau tới phiên tay và chân trái. Bây giờ, thằng bé khốn khổ bị tê liệt cả người đang sống vất vưởng tại một viện dưỡng bệnh. Vả lại chứng tê liệt không xuất hiện bất thình lình sau một tai nạn hay một cơn bệnh mà cứ phát hiện lần lần, không có lý do xác đáng và hiển hiện nào.

– Bây giờ, các bác sĩ bỏ nó. – Đến lượt bà cụ nói, tay cầm khăn che cố nén từng tiếng nức nở.

Ông cụ bèn chữa:

– Thưa, thật ra bỏ thì không đúng lắm. Họ không biết phải làm gì. Vì vậy chúng tôi khẩn khoản nhờ ông thầy giúp hộ thằng bé. Tôi nghĩ … có thể nhờ giáo sư đến đó và xem hộ bệnh tình của cháu ra sao …

Tôi phải nói rõ lại. Nếu tôi phải đến đó, dù trong một thời gian ngắn ngủi thôi, cũng không thể nào được. Chiến tranh hồi đó tiếp diễn tới năm thứ ba. Tôi còn phải, ngoài hơn ba trăm sáu mươi giường ở bệnh viện, trông coi một Quân Y viện gần năm trăm giường. Hơn nữa, thêm vào đó, tôi vừa được bổ nhiệm làm cố vấn giải phẫu trong quân đội cho vùng Mieder Schlesien nghĩa là phải coi sóc cho độ gần bốn mươi lăm ngàn thương binh. Tôi còn nói thêm là, trong trường hợp một bí ẩn như vậy, tôi không thể định đoạt một án chẩn chỉ dựa trên hồ sơ bệnh lý. Trong khi nói, tôi nhận thấy nét mặt họ sa sầm lại, vẻ tuyệt vọng. Thật tình thương hại, và tỏ vẻ an ủi họ một phần nào, tôi ngỏ ý nếu họ có thể xin cho cậu con trai thuyên chuyển đến bệnh viện tôi thì mới có thể tìm ra căn bệnh.

Họ cảm tạ tôi. Họ hết lòng cảm ơn rối rít. Hiển nhiên, họ bám víu vào mọi hy vọng dù mỏng manh. Thật dễ hiểu trong một tình trạng bi đát ấy. Nhưng, niềm hy vọng ấy, tôi có lý khi không đem lại cho họ? Hơi bực mình với chính tôi, tôi nghĩ lại những điều người cha vừa cho biết. Chứng tê liệt lần lần cả tứ chi như vậy có thể do một cái bướu ở phần trên tủy sống. Có khi, đem cắt bướu đi có thể khỏi hay đỡ một phần nào. Nhưng khi tủy và những chùm dây thần kinh đã bị dồn ép từ lâu rồi khó mà có thể phục hồi được. Khó lắm. Không một hy vọng mảy may nào. Mười lăm ngày sau, xe hồng thập tự đưa bệnh nhân đến. Một cậu trai dễ thương, nụ cười nở như hoa – và tứ chi bị tê liệt. Tôi cho cậu nằm phòng riêng và, để bắt đầu, để cậu tịnh dưỡng trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Đó là điều cẩn thận cần thiết sau một chuyến đi xa như vậy.

Lần đầu tiên khi tiếp xúc với bệnh nhân, tôi nhận thấy chàng trai rất thông minh và có kiến thức thật rộng. Anh có một thái độ thật vững chãi và lạc quan: không than vãn gì cả, chờ đợi mọi cuộc trị liệu mới với một sự tò mò gần như đam mê. Hai cụ thân sinh chắc đã nói với anh về tôi và chắc đã tâng bốc tôi nhiều lắm nên anh có vẻ vững tin là tôi sẽ chữa khỏi “bằng cách này hay cách khác”.

Về phần tôi, than ôi, tôi ít lạc quan hơn! Cuộc khám nghiệm chỉ càng xác nhận thêm mối lo ngại của tôi. Đôi chân bị tê liệt hoàn toàn cũng như cánh tay phải. Trái lại, tay trái còn vài bắp thịt ngón tay là còn cử động được. Niềm ngạc nhiên nay trở thành tư lự khi tôi nhận thấy hô hấp bệnh nhân vẫn đều. Như vậy có nghĩa là hoành cách mô vẫn tiếp tục điều hòa như thường. Vả lại, hoành cách mô do sự điều khiển bởi một dây thần kinh phát khởi giữa đoạn thứ tư và thứ năm của phần tủy cổ (moelle cervicale). Nói cách khác, những trung khu vận động phải bị mắc nghẽn dưới những đoạn này. Khi khám nghiệm phần cổ bệnh nhân tôi kinh hoàng như bị sét đánh. Đằng sau gáy, phía bên trái, ta thấy một cục lớn và cứng. Tôi cho chụp quang tuyến ngay vùng cổ. Tôi gởi gắm chuyên viên nên nương thật nhẹ và thật cẩn thận với bệnh nhân. Thật vậy, rất nguy hiểm, vùng xương sống này đã bị tàn phá rất nhiều bởi sự phát triển của bướu nay có thể bị vỡ vụn và gẫy ra. Tai nạn này chắc chắn sẽ làm bệnh nhân chết ngay.

Buổi chiều, anh y sĩ trưởng tận tay đem đến cho tôi những tấm phim. Không nói một lời, anh đặt ngay lý do sự im lặng của anh: chưa bao giờ chúng tôi được xem những hình ảnh ghê rợn đến thế. Những đốt xương sống cổ thứ năm và thứ sáu bị hoàn toàn tiêu hủy (và bị biến hình rất trầm trọng), rất có thể do tác động của bướu. Thật cũng rất ngạc nhiên khi bệnh nhân vẫn còn chịu đựng được sức nặng của đầu. Để xương sống đỡ bị mệt nhọc, tôi ra lệnh quấn đầu bệnh nhân bằng một “miếng lót Glisson”, một thứ khăn choàng quấn quanh cằm, đỉnh đầu và buộc vào thang giường có thể kéo chặt hay thắt làm sao để khỏi bị gẫy đốt xương sống.

Rồi sao đây? Tôi có phải mổ cái bướu không? Nếu phê phán và xét đoán qua phim quang tuyến, thật là liều lĩnh và điên cuồng gần như thách đố với định mệnh. Chỉ cần đem bệnh nhân đặt kê lên bàn mổ cũng nguy hiểm tới tính mạng bệnh nhân rồi. Tóm lại chúng tôi đều đồng ý ở điểm này: ý nghĩ mổ bướu này phải loại đi. Tuy thế, tôi vẫn chưa muốn từ bỏ vội. Càng nghiên cứu những phim quang tuyến, tôi càng tự hỏi phải chăng chúng tôi quá bi quan. Dĩ nhiên, ngay từ đầu chúng tôi cho đây là một bướu ác tính đang xâm chiếm và tiêu hủy tủy sống. Nhưng rất có thể đây là một sự dồn ép tủy sống bởi một bướu thuần tính và dễ lành thì sao? Trên những tấm phim quang tuyến, bướu này không phát triển trực tiếp đi từ tủy, nhưng từ vỏ xương ra, ở mực đốt xương sống cổ thứ năm và thứ sáu. Vậy, nếu chính ngay tủy không bị tiêu hủy thì phải giải phẫu may ra có cơ hội – thật ra phải nói là rất mỏng manh – giảm bớt hay ngay cả làm biến chứng tê liệt. Với điều kiện, dĩ nhiên, là bệnh nhân phải đủ sức và không chết trên bàn mổ. Thường thường, bệnh nhân một khi tự ý được nhập viện vào khu giải phẫu đều tin trước có thể bị mồ, nên sự thỏa thuận, theo luật định, chỉ là một hình thức thông thường. Nhưng trong trường hợp này tôi nhận thấy tình trạng khác hẳn. Những rủi ro của cuộc giải phẫu rất lớn nên tôi phải báo cho bệnh nhân và hai cụ thân sinh biết. Tôi bèn viết thư mời ông cụ tới càng sớm càng tốt. Hai hôm sau hai ông bà cụ đến. Tôi nói thật tất cả cho họ nghe:

– Với hiện tượng khoa học và theo sự xét đoán của tôi, cơ hội lành bệnh thật mỏng manh. Nhưng, thêm vào đó, mồ cũng rất nguy hiểm. Nguy hiểm đến nỗi mà tôi còn lưỡng lự có nên khuyên mổ hay không.

Bà cụ khóc nức nở. Còn ông cụ, mặt tái mét, đứng dậy và nhìn tôi vẻ tuyệt vọng.

– Chúng tôi tuyệt đối tin tưởng ở giáo sư. Nếu giáo sư nghĩ rằng mổ sẽ thành công, thì phải thử và cố xem, vậy …

Tin tưởng tuyệt đối – một lời nói cao quý làm sao, nhưng cũng là một trách nhiệm ghê sợ làm sao! Tôi không biết nói sao đây.

– Hai cụ đi trình bày tình trạng này cho cậu ấy. Nếu bệnh nhân, sau khi đã hiểu cặn kẽ, muốn mồ, lúc đó tôi sẽ nhận lời.

Thật ra, tôi mong ông giáo viên trẻ này sẽ lùi bước trước nguy hiểm và tôi sẽ thoát khỏi cái trách nhiệm nặng nề này. Nhưng tôi đã đánh thấp lòng can đảm của anh. Một giờ qua, khi cô thư ký báo tôi biết bệnh nhân muốn nói chuyện với tôi, tôi bèn bỏ bút máy xuống mặt bàn và chạy đến phòng anh. Khi tôi vào không khí im lặng căng thẳng. Hai cụ, đứng gần giường, có vẻ như sắp ngất xỉu. Cuối cùng, ông cụ nói:

– Thưa giáo sư, chúng tôi đã báo tình trạng này cho cháu biết. Chúng tôi cũng không giấu cháu một điều gì cả – cháu nó biết sẽ không biết sống, chết ra sao …

Bệnh nhân, đầu bất động trong tấm vải lót Glisson, không hề nhìn thẳng vào mặt tôi. Nhưng ông cụ vừa dứt là anh tuyên bố, giọng dõng dạc và bình tĩnh:

– Xin giáo sư mổ cho tôi.

Tôi phải cố gắng mãnh liệt mới che giấu cảm xúc đang siết chặt tôi. Sau cùng tôi trả lời:

– Được. Tốt lắm. Phần tôi, tôi đồng ý với quyết định của anh.

Vậy tôi sẽ mổ anh sáng mai, bảy giờ.

Buổi trưa hôm trước khi mổ. Chỉ một giờ sau, tin đã được loan đi khắp bệnh viện. Thật đúng như một cuộc nổi loạn. Ở khắp các nơi cô y tá và mấy anh phụ tá từng nhóm một lời to tiếng nhỏ bàn bạc. Khi tôi đi qua, câu chuyện ngưng hẳn lại nhưng tôi cảm thấy sau lưng tôi là những cái nhìn hoài nghi và có thể chống đối. Khi đi qua phòng chứa băng dự trữ, tôi được nghe cả lời tâm sự của một anh sinh viên tập sự nói với một nội trú:

– Thật điên rồ hết sức. Đánh liều với mạng sống của gã này vì một cuộc giải phẫu chẳng đi đâu đến đâu cả.

Trước khi rời khỏi bệnh viện, tôi còn tranh luận sôi nổi và chua chát với anh y sĩ trưởng. Anh phản đối kịch liệt cái mà anh gọi là “một quyết định không thể hình dung được”.

– Thưa giáo sư, giáo sư thừa biết là bệnh nhân sẽ chết trong tay ông. Thật là một toan tính vô vọng … Giáo sư không có quyền …

Tôi bước đi không trả lời anh. Bây giờ, sau một đêm trằn trọc, tôi tự hỏi đến lần thứ mười xem, khi quyết định mổ, tôi có tuân theo những động cơ ngoại y học không? Một sự bướng bỉnh gần như cứng đầu cứng cồ, một tham vọng không thú nhận, một sự hiềm kỵ không công nhận sự bất lực của tôi trước một căn bệnh nan y. Nhưng sau khi đã khảo sát lương tâm không biết bao nhiêu lần, tôi vẫn đi tới cùng một kết quả: không mồ, không những bệnh nhân vẫn bị tê liệt mà lại càng chóng chết; nếu mổ, – nếu tôi đạt được mục đích tốt đẹp ấy – chỉ có một cơ hội nhỏ, nhỏ lắm để có thể sử dụng lại được tứ chi. Vậy, phải cố thử xem. Đúng bảy giờ, bệnh nhân được đem vào phòng mồ, và đặt thật cẩn thận hết sức lên bàn mổ. Dưới sự kiểm soát của tôi, bắt đầu cho đánh thuốc mê thật nhẹ; như mọi khi tự tay tôi tiêm thuốc mê bổ túc. Khi bệnh nhân ngủ rồi, tôi cho xoay thật thận trọng bệnh nhân nằm ngửa lưng ra. Đầu gác lên rồi, giải khăn để giới hạn vùng giải phẫu rồi, áp huyết và nhịp thở thử lại rồi, phút quyết định đã tới. Sau khi kẻ một đường mổ đầu tiên dọc theo đường giữa gáy, xa những mấu gai (apophyse épineuse) của vùng cồ, tôi rạch sâu, ở hai bên, hầu tới đáy đốt xương sống. Hai anh phụ tá kéo khéo những bắp thịt, anh y sĩ trưởng thông máu. Ngoài tiếng vo vo của ống bơm điện và tiếng hút máu, không nghe thấy một tiếng gì nữa. Hơn bao giờ hết, toán giải phẫu làm việc trong im lặng. Bỗng nhiên, sau ba phút; tôi gặp những mấu gai mềm như bột, – một mô không thể nhận ra được bề mặt tròn và nhẵn. Không còn nghi ngờ gì nữa mô này đã thuộc vào phạm vi bướu rồi. Tôi cố ấn nó lên phía trên và xuống dưới hầu nhìn rõ hơn. Lúc sau tôi có thể lôi ra một lớp đặc gần như một cái vỏ. Dưới đáy vết mổ hiện ra một đống màu nâu.

Bây giờ tôi mới biết đây không phải là một bướu ung thư biểu mô (carcinome) mà là một “bướu nâu” gồm tủy phiến bào (myéloplaxes), không ác tính. Bướu này đã tiêu hủy và làm mủn ra khớp xương của đốt sống cổ thứ năm và thứ sáu. Nhận xét này đã trút hẳn gánh lo âu nặng lớn của chúng tôi. Bây giờ chúng tôi có thể lôi bỏ toàn phần hay một phần bướu này. Đi sâu hơn nữa, tôi cầm và kéo ra những u lớn mà không bị chảy máu nhiều. Nâng cả đống bướu lên, tôi thấy ở dưới là một bình diện trắng lờ – không còn nghi ngờ gì nữa, đây là màng cứng ngoài của tủy sống. Tôi báo cho mấy anh phụ tá biết:

– Nhìn đây này – ở dưới đáy đó – màng cứng não đấy. Chúng ta vào đến tủy sống rồi, – nó bị hoàn toàn bẹp dí!

Bây giờ tôi cảm thấy là tôi sẽ thành công. Thở hồn hển vì cảm động, tôi sang phía bên trái của bướu. Theo dõi từng phần một và nhận thấy bướu đã hoàn toàn tiêu hủy những vòng cung là đáy của những mấu gai và mấu ngang ở đốt sống cổ thứ năm và thứ sáu. Hơn nữa, nó lại lan về đằng trước. Sau khi biết như vậy, tôi quyết định bây giờ chỉ cắt bỏ có một phần vừa đủ để giải thoát toàn diện phần tủy bị ép, tôi sẽ cắt nốt lần giải phẫu sau. Hôm nay, cơ thể bệnh nhân đã chịu đựng quá đủ! Hơn nữa, chúng tôi có thể tự cho phép chia cuộc giải phẫu ra làm hai giai đoạn, vì đây không phải là một bướu ác tính – trong trường hợp này không được mở ra – mà là chứng bệnh xương, có tên là xương viêm sơ. Thường thường, bướu này có thể phát hiện ở chỗ khác trong thân thể; có lẽ tôi là thủ thuật gia đầu tiên nhận thấy trường hợp bướu nâu ở đốt sống cổ.

Cuộc giải phẫu, mặc dù rất trầm trọng, nhưng cũng diễn ra không một trở ngại nào: Không có một nhiễu loạn ở bộ máy hô hấp và không bị trụy mạch. Tóm lại, thật là phép lạ. Sau khi khâu vết mổ lại và băng cẩn thận tôi nhờ anh y sĩ trưởng trông coi cho y tá chuyển bệnh nhân về phòng, và đặt nằm lên giường. Chỉ cần một sơ suất vô ý nhỏ nào, bệnh nhân cũng có thể tắt thở, do sự gián đoạn của những dây thần kinh điều khiển hô hấp. Ông bạn cộng sự viên già lắc đầu. Hiển nhiên anh nghi ngờ. Mà tôi cũng vậy nữa. Cái tủy sống bị ép lại này trông có vẻ tiều tụy lắm. Tôi không dám hy vọng nó sẽ bình phục được.

Sau đó, tôi lại lao mình trong guồng máy công việc thường ngày với nhịp rộn rã; mổ, khám bệnh, diễn thuyết, khám nghiệm. Vào khoảng tám giờ, tôi đang bận nghiên cứu vài hồ sơ thì cánh cửa văn phòng tôi bỗng mở lớn. Anh y sĩ trưởng, thường ngày rất khoan thai, chạy vội đến tôi, vẻ hốt hoảng đến nỗi tôi tưởng có việc không lành đã xảy ra.

– Anh lại … lại ngay cho! Bệnh nhân đã ngọ nguậy được chân rồi! Thật mà … Anh ấy tỉnh rồi … Hắn ngọ nguậy được ngón chân rồi, cả bắp chân nữa!

Không nghi ngờ gì cả, tôi theo anh ra hành lang. Vừa chạy lại phòng bệnh, tôi vừa hỏi anh:

– Anh có chắc không? Thật không thể tin được …

– Rồi anh sẽ thấy … tôi cũng vậy, tôi không muốn tin là như vậy. Nhưng tuy thế …

Tôi chạy bổ đến giường bệnh nhân và gần như giật tấm chăn ra. Lúc đó, tôi thấy … Trời ơi … quả là thật: Hắn đang cử động thật nhẹ những ngón chân; ngay cả bàn chân và bắp vế trái nữa. Có điều thật lạ, là ngay chính bệnh nhân cũng chưa nhận ra mình đã cử động được. Khi tôi báo cho anh biết chứng tê liệt bắt đầu đỡ dần, ông giáo viên trẻ không tin. Vì anh không thể ngửng đầu được tôi bèn đưa một tấm gương để anh có thể xem được chân anh. Anh thử ngọ nguậy ngón chân, và, một lần nữa, chúng cử động gần như thường. Chưa bao giờ, tôi được chứng kiến một cảnh tượng thật dị kỳ như vậy. Một người đàn ông, đầu quấn trong một tấm vải vì cổ không thể chịu đựng được sức nặng của đầu, đang khóc vì sung sướng. Chỉ thiếu một chút nữa, cô y tá cũng khóc luôn.

Phần cuối câu chuyện có thể tóm tắt rất nhanh. Dần dà, bệnh nhân có nhiều tiến bộ nhỏ nhưng chắc chắn và đều đều. Bốn tuần lễ sau, tôi bắt đầu cuộc giải phẫu thứ hai. Lần này, tôi cắt bướu qua phía phải cổ. Lần mổ này, thật tinh tế hơn nhiều, mất gần ba tiếng đồng hồ. Thế mà cũng chưa đủ để có thể cắt bỏ từng rễ ngách của bướu. Nhưng vì không phải là một bướu nham rỗng, nên vài miếng vụn nhỏ không có nghĩa gì. Ngay sáng hôm sau, tôi cho làm một miếng đỡ đầu chống vào hai vai. Như vậy không cần phải quấn đầu nữa. Một tháng sau, chúng tôi có thể cho chuyển bệnh nhân đến dưỡng bệnh trong một bệnh viện khác. Một năm sau, khi anh giáo đến thăm, chúng tôi không tin những điều trông thấy. Anh đi bộ đến thăm: chứng tê liệt nay đã

lui vào dĩ vãng như một kỷ niệm không tốt, trừ cánh tay và bàn tay phải. Anh còn đeo miếng đỡ đầu nhưng anh không có cảm tưởng như một phế binh. Trái lại anh có vẻ tươi tỉnh và lạc quan. Dĩ nhiên, tôi cho chụp hình quang tuyến lại. Tôi nhận thấy trên những tấm phim hiện rõ sự biến dạng của nhiều đốt sống cổ, nhưng cũng thấy ló dạng những vệt xương dài đang hình thành để nay mai có thể chống đỡ một cách hữu hiệu sức nặng của đầu.

– Thưa giáo sư, tôi không biết làm thế nào để tạ ơn giáo sư. Dĩ nhiên, bao giờ tôi cũng phải cẩn thận từng cử động một, nhưng tôi đi đứng trở lại được rồi. Tôi làm việc lại được rồi, – làm sao có thể diễn tả được cùng giáo sư niềm hạnh phúc vô biên ấy.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 18-19, tháng 6-7, 1965]

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 20 Jan 2026

Bài 19.

Chuyện,

Tưởng như

Không ai nghĩ ra.

Khi đứng trước đám đông để nói những điều suy nghĩ, cảm xúc riêng tư hoặc trình bày những nội dung liên quan đến tập thể người đang lắng nghe, và cuối cùng, phải thế kẹt, khó khăn hơn, nếu buổi nói chuyện thật ra là mặt biểu hiện của lần tranh chấp về một quan điểm, mục tiêu “chính trị” mà  ngôn ngữ là phương tiện, vũ khí tấn công … Đối với anh, đấy là những lần thích thú, sinh động, hợp với thói quen, khả năng. Ngày cương cường tuổi trẻ, anh càng hăng hái, náo nức. Vì dầu gì, anh cũng đã lớn lên nơi vùng đất có tiếng ưa  tranh cải, biện luận; quê hương thứ hai của anh, miền Quảng Nam- Đà Nẵng. Đất dạy người như thế. Ngườicứ thế lớn lên. Không tranh luận uổng đi, người mòn dần, mất sắc bén. Tháng Hai, 1973, từ hai giờ chiều đến tối mịt, bên bờ sông Bắc Thạch Hãn, giữa một rừng bộ đội giăng lưỡi lê uy hiếp, anh đã khăn khăn giữ cho kỳ được tiêu đề “Tù Binh Bắc Việt Xâm Nhập” trên danh sách trao trả … Cải đến nỗi, anh Thiếu tá Nguyễn An Gang(?), bí thư tỉnh đội Quảng Trị từ ngoài Bắc mới xâm nhập vào, cuối cùng phải chịu nhượng bộ … một nửa!! Nghĩa là, “hồn ai nấy giữ, tên ai nấy mang”.

Danh sách của anh, anh đề “tù binh..”; danh sách tôi, tôi viết “chiến sĩ giải phóng..”. Việc cũ hơn hai mươi năm kể lại như một chuyện khôi hài … Làm gì còn giải phóng và xâm nhập ở đây, nói cho cố rồi có đi đến đâu?!! Thế nhưng, năm ngoái, 1995, một vòng thế giới qua hai mươi ba thủ đô và thành phố lớn, anh vẫn”thói nào tật ấy” … Nghĩa là vẫn sống hết mình với từng chữ, lời viết nên, nói ra. Nhưng lần nói mở đầu buổi sinh hoạt với những người Bạn Trẻ vào ngày 28 Tháng 12 sắp tới đây hẳn phải có điều khác lạ. Sự khác lạ bắt nguồn từ mối cảm động theo cùng nỗi hân hoan, tự hào khác với một lần bình thường. Hẳn nhiên có những nguyên cớ sâu xa, thoạt nhìn qua không thấy được, tìm ra. Ngồi yên, ngẫm lại, cảm xúc tràn ào ngờm ngợp như đang trong ngày trẻ tuổi. Sự thể là thế nầy.

Một,

… Vào một ngày Hè, mùa mưa rào Miền Nam, khoảng tháng Sáu, năm 1970. Anh đang trong cơn vô định dật dờ của đời sống nhà binh. Bị đuổi ra khỏi đơn vị, binh chủng mà anh hằng yêu mến, cung hiến hết tuổi trẻ không chút từ ngại. Thế giới sống động tự hào mà anh đã tự động chọn lựa từ ngày đầu tiên đời lính. Anh ra khỏi binh chủng với lời phê “sĩ quan kém khả năng, mất tư cách”, lột xuống một cấp bực, đổi về đơn vị địa phương, tiểu khu Phước Tuy hay tỉnh Bà Rịa, địa danh độc đáo chỉ có riêng với Miền Nam. Bà Rịa, thị xã sũng ướt trong mù mưa do tàng cây me xanh dầy rợp kín những khoảng đường hẹp bề ngang chỉ đủ để hai xe hơi tránh nhau một cách khó khăn. Đấy là nói phố chính, đường Thành Thái. Lúc ấy, anh không hiểu tại sao tên ông vua kia được đặt nên ở đường phố nầy; thật sự chỉ là một đoạn ngắn của Quốc Lộ 15 nối Sài Gòn – Vũng Tầu chạy ngang thị xã. Ở lâu, anh dần được biết. Sở dĩ, tên vua Thành Thái, loại hoàng đế lỡ thời của một xứ sở bị trị, được xử dụng đến, bởi ông vua chẳng tiếng tăm (nhưng nhiều tai tiếng) kia, sau khi bị ép thoái vị (1907), đã vào Bà Rịa ở một thời gian trước khi đày đi Châu Phi, 1916. Trong số mười sáu bà vợ, hình như có người gốc Bà Rịa nầy; (Phải chăng đấy là lý do để ông vua chọn nơi đây làm chốn gởi thân lúc sa cơ thất thế? Và cái “Bà”, vợ vua ấy là đầu mối của danh xưng “Bà Rịa”, kiểu như các “Bà Hom, Bà Quẹo” … của ông Lê Văn Duyệt hay chăng? Mà thôi, chuyện đời xưa nói lắm cũng nhàm. Huống gì lại chuyện xưa không mấy hay). Tên ông vua lưu xứ đặt cho một nơi chốn heo hút, bỏ quên kể ra cũng điều thích hợp ngẫu nhiên. Bà Rịa nằm lọt trõng, mất tiêu giữa Sài gòn, Vũng Tầu, hai thành phố quá lừng lẫy với hàng trăm ngàn lính Mỹ vào ra trú đóng, những đoàn xe GMC chở quân trang, quân dụng, khí giới và nhân công người Việt xếp hàng trước những căn cứ quân sự. Bà Rịa với Đường Thành Thái, chiều dài nửa cây số không đủ sức chứa quá năm mươi chiếc xe nhà binh, co quắp rúm ró sợ hãi đối với hai thành phố lớn kia như cô gái quê tội nghiệp ngồi giữa hai người đàn bà ăn chơi phấn son sành sõi. Ông vua mất ngai, gã lính bị lột lon, thành phố sũng nước chìm chìm trong màn mưa dầm, thêm đậm xanh bởi tàng cây sụp bóng tối . Bà Rịa, thật quá đủ cho một tổng hợp điêu tàn. Thuở ấy, thị xã quê mùa đến nỗi không một quán “bia ôm”, đừng nói gì Bar Mỹ. Rất nhiều người Sài Gòn khi đi qua phải bật lên lời tán thán … Cái chỗ giống gì buồn quá ta!!. Anh đến đấy sau những ngày hào hứng Sài Gòn, lòng cũng trống vốc hoang tàn như dãy phố chợ cuối chiều trơ trỏng sạp bụi nhếch nhác buồn hiu. Gió đi qua thổi bay mờ những hạt mưa ẩm lạnh sót dính lại trong tàng lá xuống mặt đường loang lỗ, hai bên lẫn khuất những nếp nhà kiểu cổ. Nhà mái ngói âm dương (miếng ngói cong hình ống, tờ úp xuống, tờ ngữa lên), nền cao, cửa gỗ dày luôn đóng kín. Cơ ngơi của những người Miền Nam đã một lần phú quý, có quốc tịch Pháp, nói tiếng Tây. Chỉ nghe thuật lại như thế. Buổi anh tới ở cùng, Bà Rịa hẳn hiện thực một lần tàn phai. Như cái tên thoạt nghe buồn cười, kỳ cục. Lâu dần, ngẫm ra âm tội nghiệp ngậm ngùi. Chiều chiều, sau cơn ngủ muộn, từ cửa sổ căn phòng trọ chỉ đủ chỗ trải chiếc túi ngủ nhà binh, nhìn ra khoảng không xám đục, trên những mái nhà rêu xanh loáng nước, anh thấy thật có khối chĩu nặng trong ngực. Cảm giác váng vất về một điều nguy khốn không gọi rõ nên tên đang chờ đợi, rình rập. Chịu không nỗi, anh theo xe đò đi Vũng Tầu. Dẫu sao, nơi ấy có biển. Bờ biển, cảnh sắc quen thuộc từ những ngày mới lớn. Hơn nữa, ở Vũng Tầu anh có bạn. Bạn rất thân.

Hai,

Nhìn ra khoảng sân, nước mưa ngấm xuống, mặt cát trở màu vàng đục, dẽo ướt, lá bàng khô nâu lốm đốm rời rã lăn lóc. Mắt người đàn bà loáng lên ánh ngắn vui. xong vụt tắt. Ất bởi những khắc khoải phiền bực sẵn có trong lòng, hiện rõ nên nét sắc. Anh không thể biết nguyên cớ, do từ năm, sáu năm nay không gặp mặt.” … Lâu quá mới thấy cậu … Mới ngày nào, hai chị em … “. Người bạn, cũng là người chị vì anh không có anh, chị lớn tuổi. Hơn nữa, cả hai vợ chồng đã chứng kiến những giờ phút ngặt nghèo nhất của đời anh. Đối lại, anh làm trung gian qua liên hệ với hai người. Trước kia hay bây giờ cũng vậy. Giữa họ có mặt anh. Anh không ngã theo phía nào khi hai bên có điều xung đột. Bởi, người chồng là người cung cấp cho anh chiếc áo tươm tất để anh lên đường; đưa anh ra ga xe lửa trong ngày đi lính; bỏ vào túi áo anh số tiền hai trăm đồng – Tài sản anh chưa hề nghĩ ra, dẫu rằng lúc ấy đang ở tuổi thành nhân. Anh thành người qua một cách thế khác, không do vật chất thủ đắc, cũng không do bất cứ kinh nghiệm xã hội, tình cảm nào. Anh sống cơ cực, khó khăn, nguy biến. Hai vợ chồng Bạn chứng kiến đủ.

Người Bạn. Người đàn bà bế con trong lòng ngồi Người vợ, người đàn bà, mến thương anh hơn tình cảm một người bạn. Chị tháo áo dài cắt cho anh chiếc áo sơ-mi thứ hai để anh có cái thay đổi khi nhập ngũ như vừa nói trên. Anh gọi người vợ bạn – “chị”, với tất cả hàm ẩn, cảm động, giản dị của tiếng nói. Rất nhiều lần, từ những ngày ấy cho đến nay, dẫu bao lâu không gặp, khi đề cập về người đàn bà ấy với một người thứ ba, anh thường dùng cụm từ “bà Mh, bà chị tôi.”: Biết anh thật lòng, bạn anh, người chồng coi như một điều vui. Người vợ đánh giá cao hơn với phần hãnh diện. Anh nhìn quanh, nhà mới nhưng có vẻ chấp nối, vá víu ..

– Tr đâu? Anh hỏi về người chồng không đầy đủ, bởi ánh mắt chị bạn loáng giận dỗi không che dấu.

– Ông ấy đổi về Sài Gòn!

Điều bực dọc đã hiện thực; anh xoay qua chuyện khác với đề tài, nơi chốn quen thuộc thân ái của ngày trước,

-Chị thấy trời mưa như thế nầy giống Đà Nẵng không?

Lời nói anh có ngay hiệu quả. Người đàn bà cười vui,

-… Có chiếc Honda, hai chị em mình đi ăn bún bò. Bún bò ở đây không ngon bằng Đà Nẵng, nhưng trời như thế nầy phải ăn bún bò mới đúng.

– Nói thế, chứ lúc ấy, tụi mình đâu đã dám la cà hàng quán. Phải đợi ngày lên Đà Lạt, năm chị đã có cháu

C … Anh ngồi xuống, thích thú như ngày nhỏ mỗi lần gặp mặt với những câu chuyện khi nào cũng tưởng ra quan trọng. Anh đưa tay bế đứa bé như đã từng với các chị, anh nó … Mắt con bé nầy lạ quá … Anh có ngay nhận xét. Thật tình điều nầy rất dễ tìm ra. Bởi như đã nói, anh đã sống cùng họ bao nhiêu lâu, biết đến phần sâu xa của nhau, như nốt ruồi nằm sâu trong tròng mắt người chồng mà chính chị bạn phải đợi đến lúc anh nói lên mới khám phá ra. Các anh chị nó đồng có cách linh động của bố mẹ. Chỉ riêng bé gái nầy với đôi mắt lạ lùng u uẩn. Anh nâng đứa cháu gái lên ngang tầm nhìn, lúc lắc tay, nheo mắt cười giỡn … Anh luôn tin vào khả năng “đồng cảm” đối với thú vật và trẻ nhỏ của mình. Vô ích. Đứa nhỏ nhìn anh bất động. Anh đặt lại đứa bé vào lòng mẹ … Mắt cháu nó lạ quá ... Anh thấp tiếng bùi ngùi bởi lòng cũng đang cơn não nề với khuynh hướng, cảm tính nhanh, chính xác sẵn có đối với điều thất bại, sự thua thiệt. Giờ trước đây, anh ở Bà Rịa cũng với loại mưa sũng nát cỏ cây nầy. Không gia đình, không đơn vị, anh như mưa bám trên tàng lá đợi gió thổi qua bay xuống. Những hạt mưa muộn chỉ vừa thấm ướt mặt cát ẩm. Quả thật, anh cũng không có gì vui hơn đứa bé lặng lẽ nầy. Hai cậu cháu nhìn nhau lần thứ hai. Trống không.

…. Nó giống ông nội đấy mà … Người bạn chen lời giải thích. Chị cũng không thể dự vào phần sâu ánh mắt đứa bé, cho đấy là con mình. Bé gái chỉ khoảng ba tuổi hoặc kém hơn. Anh rời nhà bạn với cảm giác nằng nặng khi từ Bà Rịa ra đi. Căn phòng trọ với chiếc túi ngủ nhà binh đang đợi kia, vài trăm bạc lẽ trong túi … Gần mười năm đi lính, bảy năm chiến trận sống, chết để hôm nay, chiều mưa buổi tháng Sáu, anh đứng giữa một nơi gọi là Bà Rịa, nhìn lên tàng me xanh tối … Nó giống ông nội …. Ông nội đứa bé, thân sinh bạn anh. Bao lâu và như thế nào anh mới có được sức chịu đựng lặng lẽ đáng kính phục của người đàn ông kia? Mẫu người dẫu trước cái chết, tiếng thở dài cũng nuốt xuống.

Ba,

Việc viết văn thông thường đòi hỏi một trí tưởng tượng khá phong phú và anh đã hành xử nó gần ba mươi năm qua với đôi phần thành công. Hơn thế nữa, cũng vì, từ tư thế của người viết nên chữ nghĩa ấy, anh đã chịu bao tai biến suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng kia. Thật sự chính là đoạn quan yếu, quyết định của phần đời anh. Mà qua đó, anh đã kiểm chứng được độ chính xác của lực tưởng tượng và mức tinh tế của khả năng trực giác. Luôn có tỷ lệ đúng đắn cao. Nhưng, với buổi sinh hoạt đêm 28, Tháng Mười Hai kia, trí tưởng tượng mà anh thường vận động và trực giác luôn được nêu đến, nại ra như những yếu tố chứng nhận độ chính xác về những lập luận đã hoàn toàn vô dụng. Bởi, đêm ấy, trong những người tuổi trẻ anh có nhiệm vụ đề cập đến, phải nêu lên những đặc thù độc đáo, những cá tính, phẩm chất khác biệt của riêng mỗi người qua văn phong, bút pháp, tư tưởng và xúc cảm … Những biểu hiện mang cá tính Lê Thị Huệ; của Vũ Quỳnh Hương nơi mỗi giòng chữ viết, của Trân Sa ở chiều sâu bí mật với thơ … Và Nguyễn Hà Ý Nhi với ngôn ngữ được xếp đặt, hoàn chỉnh theo cấu trúc, của tính nhạc. Anh ngừng ở đây- Thật rúng động đang đầy ắp – Hoa ra Con Người – Huyền Nhiệm đến thế ư: “Bé gái Ba Tuổi với Sắc Mắt U Uẩn – Buổi Chiều Mua Hai Mươi Sáu Năm Trước-Người Viết Nhạc Hôm Nay: Là MỘT”

Bốn,

Có điều gì nối kết một cô bé ba tuổi với đôi mắt u uẩn hai mươi sáu năm trước; người viết văn trung niên, mỗi giòng chữ bật nên lời tán thán im lặng về phận đàn bà đơn độc đương cự nơi cứ lạ; người đàn ông tuổi quá năm mươi đang gánh chịu phần đời không bình yên, với lão huynh thất thập nhìn mỗi ngày biến động đi qua nhẹ tênh như hơi trà sáng sớm … Những người khác nhau về giới tính cấu tạo, địa bàn sinh hoạt, đối tượng tranh sống và tình huống gắnh chịu. Những người không hề chung mẫu số khuynh hướng lẫn cảm tính cho dù cùng ở trong một lĩnh vực – Phạm trù Chữ Nghĩa – Nghệ Thuật. Nhưng những người của bốn, năm thế hệ cách biệt ấy – Họ đang đi cùng nhau – Như bầy chim di trú của nhiều chủng loại, khi nghe mùi nắng thì từ khắp nơi, cùng nhau hiệp đồng chuyển động đôi cánh … Hướng Mặt Trời, Hơi Am, Phương Nam. Hoặc bi thảm và khắc nghiệt hơn, họ giống như “loài chuột báo động” về một tai hoạ không thể nào trốn thoát, nên cùng nhau, hằng hằng, lớp lớp, dùng chính tự thân, lao mình xuống vực thẳm, báo cho người nỗi đe doạ đang hiện hình.

Tất cả đang cùng nhau dự phần vào một hành trình vô vàn nguy biến, rất mực khắc nghiệt. Bởi, vì “thiếu một chút thực tế “như lời Ngu Yên. Tôi Làm Thơ bởi vì không Thực Tế, nên đã bao nhiêu năm qua, do từ những chữ nghĩa trung hậu của” Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc … “, người Huynh Trưởng Doãn Quốc Sỹ hằng phải chịu một gánh nặng vô lường của cách miệt thị và bức hại từ những người cầm quyền tại Việt Nam – Án tù 13 năm trong những điều kiện giam nhốt tệ hại nhất của lịch sử con người thế giới. Nhiều hơn mức án dành cho tội nhân tử hình do đã phạm tội hình sự với trường hợp gia trọng, theo cách xét xử và thi hành án lệnh của toà án cộng sản Việt Nam. Công việc kia cũng gây nên những cái chết vô vàn đau đớn oan nghiệt đối với Từ Chung Vũ Nhất Huy, Chu Tử Chu Văn Bình, Hiếu Chân, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường …. Cùng nhiều niên trưởng, bằng hữu khác, Bắc lẫn Nam, bên nầy hay bên kia sông Bến Hải. Nó cũng là đầu mối, nguyên nhân lẫn kết thúc những đời sống của Quách Thoại, Tam Ích Lê Nguyên Tiệp trước đây ở nước ta, hoặc Nguyễn Tất Nhiên nơi hải ngoại nầy. Nhìn rộng ra cùng thế giới, chúng ta không thể chạnh lòng … Bởi chính tập thể đối tượng nầy là nạn nhân đầu tiên của bất kỳ thay đổi, tranh đoạt quyền lực giữa những tập đoàn thống trị. Bất kỳ ở đâu, bất cứ thời đại, theo những thể chế chính trị, xã hội nào … Đấy là Người của vùng đất Andalucia, Nhà Thơ Federico Garcia Lorca ngã gục trước họng súng đội  hành quyết của nhóm quân phiệt cầm quyền Granada,Tây Ban Nha. Người Làm Thơ chết ở tuổi 37 cùng lời vĩnh quyết bi tráng “.. Với Thơ, Điều Bất Khả nên thành Khả Thể- Poésie, L’Impossible devient Possible “. Đó là mối hẩm hút hiu quạnh trong tuổi già, trên nẽo mòn cùng quẫn tiến tới cái chết của người đã tiên tri sự suy đồi của “… Cái gọi là Cách Mạng Tháng Mười Nga: Những Ngày Cuối Cùng của Chúng Ta đã đến!! “. Lời Boris Pasternak, Người mang Lương Tâm trong sáng đích thực của giòng kiêu hãnh Bạch Nga. Phải, Chính Chúng Ta, chứ không ai khác là nạn nhân chính thống đối với tất cả những hệ thống cầm quyền, các đầu mối bạo lực, bởi chúng ta hoàn toàn không khả năng chống cự, bảo vệ mình khi lâm phải những tình huống bi thảm, tuyệt vọng nhất. Chúng ta chỉ có chữ, nghĩa, thanh, âm.

… Tuy nhiên, cung theo lời Ngu Yên … Vì Thực Tế Nên Tôi Vẫn Làm Thơ, nên công việc nguy nan nhưng nhiều quyến rũ nầy vẫn mãi vang vọng tiếng mời gọi mà hôm nay, ngày 28 tháng 12 kia là một dẫn chứng toàn diện, vô cùng cảm động … Những thế hệ người làm nghệ thuật, văn học hằng tiếp tục con đường miên viễn … Đã bắt đầu từ một thưở xa xưa, với những hình vẽ sơ khai chơn chất về cuộc sống tiền sử của Người Cro-Magon nơi những hang động vùng Avignon, Lascaux, Altamira, Tây-Nam nước Pháp đến tiểu luận sâu sắc  Cấu Trúc Thơ Hiện Đại đang trên lưới Internet. Từ nỗi ưu uất không hề ai nghe ra của Trần Tuấn Kiệt khi ngồi cùng Bùi Giáng …

..

Lòng ta quả thật đỗi xót thương

Cành hoa bụp cũ khóc bên đường

Bến khuya Sa-đéc trăng mười sáu

Mấy độ chìm theo sóng lớp lang

Và người “cuồng tâm thi sĩ “phải trở về lần tỉnh táo rất hiếm hoi để cùng kêu lên tiếng thất thanh …

Thuyền to, buồm lớn nghĩa gì?!!

Bằng hữu ở trên bờ,

Chỉ đành vẫy tay,

Mặc cho sóng xô đi ….

Trên đường xa không có dấu hiệu chấm dứt, nghỉ ngơi; giữa giòng sông bão tố không bờ bến giải cứu … “Trung Niên Thi Sĩ” (Tự hiệu của Bùi Giáng) năm nào nay đang đi đến hồi cuối cơn cuồng nộ giữa những đường phố bụi lấm, ầm vang xe máy, hơi người, màn khí đặc, mưa nhỏ hạt ẩm ướt, nực nồng nơi thành phố bị xoá tên Sài Gòn kia, không khác biệt với tâm cảnh xa xót, xé rách giữa đêm khuya, sâu bóng tối ở đất Mỹ, thúc dục người tuổi trẻ Ngô Tịnh Yên phải kêu lên tiếng

Hãy thổi tắt ngọn đèn

Bóng đêm sẽ dấu dùm em dòng lệ nóng

Hãy thổi tắt ngọn đền

Để cơn mơ đừng bao giờ bừng tỉnh

Con đường bất tận đồng đúc vóc đáng bằng hữu kia, đêm 28, tháng 12 ấy nên thêm lần hiện thực và “Người Lính Viết Văn” được nhận nhiệm vụ làm mối nối giữa những bước đi của khối người luôn phải gặp hiểm nghèo nhưng cũng rất mực tự hào. Cố gắng một đời người chỉ để làm nên mối bền chặt kia thôi.

Những xưa, nay …

Đỗ, Nguyễn …. Tâm, Tô

Và rất nhiều Bằng Hữu,

Những người nhận Nghiệp Khổ,

LÀM THƠ.

Thật Cám Ơn.

Vẫn Luôn Như,

8 tháng 6, Một năm,

em …

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 20 Jan 2026

6. Chương 1

Hà Nội – Sài Gòn: 1789 km

Ngày 1 tháng giêng 1975,

Vào khoảng 6 giờ, giờ Saigon, ngày 1/1/75 (theo âm lịch Việt Nam, năm Dần, tháng Sửu, giờ Mẹo) 19 quả đạn pháo sản xuất từ Liên Xô, được rót vào tỉnh Biên Hòa, một thành phố nằm về hướng Bắc của Saigon chừng 20 kms. Một quả pháo rơi trúng vào mái nhà tranh của anh Nguyễn văn Bé. Anh chết ngay tức khắc. Là một thanh niên mới 16 tuổi, anh Bé là một thường dân đầu tiên bị pháo kích chết trong năm 1975 ở Miền Nam Việt Nam. Anh Bé ước mơ sẽ là một kỹ sư hóa học….

Trên nguyên tắc, kể từ ngày 27 tháng giêng năm 1973, đúng 0 giờ GMT, thì “Hiệp Định Ba Lê về ngừng bắn và tái lập hòa bình ở Việt Nam ” bắt đầu có hiệu lực và Hai Bên phải ngừng bắn.

Theo thống kê đứng đắn của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ thì trong năm 1974, đã có 14.000 binh sĩ Miền Nam và 7000 thường dân tử thương vì các hoạt động quân sự. Về phía Bắc Việt người ta đếm được 57.000 chết trận và một số xác chết khác nữa trong thời gian ngừng bắn giả hiệu nầy.

Ngày hôm đó, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ (nằm sát vách Tòa Đại sứ Pháp), đã không nhận được một công điện nào quan trọng từ Nhà Trắng (Tổng Thống) cũng như từ Bộ Ngoại Giao. Ông bà Tổng Thống Gerald Ford thì đang nô đùa với tuyết chung quanh một lâu đài ở dảy núi Rocheuses. Còn ông Tổng Trưởng ngoại giao Kissenger thì cùng ông Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller đang nghỉ mát ở vùng nắng ấm Porto Rico.

Trên lầu một của Toà Đại sứ Mỹ ở Saigon các viên chức ngoại giao thuộc phòng chánh trị cũng như các nhân viên thuộc phòng tình báo (CIA) ở từng trên cùng, đang phân vân. Người thì đoán là năm nay có thể được yên tĩnh, người thì lo ngại. Hồi tháng chạp, phúc trình của phòng nhì đã ước tính tình hình rõ rệt lắm rồi: “lực lượng quân sự của cộng sản ở Miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Ước tính có thể cộng sản sẽ tung một phần của lực lượng trừ bị chiến lược của họ để thọc vào những yếu điểm chính trong hệ thống diện địa của Miền Nam . Và không biết chừng cộng sản cũng có thể sẽ chuyển qua thế tổng tấn công.” Dành cho những người có tư tưởng chủ bại!

Bản phúc trình giải thích tiếp : Cân nhắc kỹ lại thì chúng tôi nghĩ là họ sẽ không làm thế đâu. Hà Nội thích tìm mục tiêu trong mùa khô ráo để tấn công trên cả hai mặt chánh trị và quân sự để tránh nguy cơ có thể gây tổn thất cho cuộc tổng tấn công.” Dành cho những người lạc quan!

Những sự phân tách của nhóm tình báo nầy căn cứ trên nhiều yếu tố, nhất là yếu tố thời gian. Từ nhiều thế kỷ, ở Việt Nam những trận chiến có tính cách quyết định thường được tiến hành trước mùa mưa. Bắt đầu từ tháng 5 dương lịch. Lúc đó ở vùng Cao Nguyên nước chảy mạnh với những con suối đầy nước. Đất ở vùng rừng trở nên sốp, còn ruộng ở đồng bằng thì ngập nước, nên các xe vận tải, pháo binh, chiến xa đều bị lún sình khó di chuyển được . Trên trời thì mây đen dày đặc trực thăng thường khó bay và nhất là phi cơ. Đất, nước và không gian liên kết với nhau khiến cho con người khó mà di chuyển và chiến đấu. Mùa mưa thường giúp cho địch quân có thì giờ ngơi nghỉ lấy sức lại. Ba chục năm đánh nhau người anh em cộng sản không tôn trọng giờ ngủ nghỉ gì hết nhưng bên nào cũng cúi đầu trước mùa mưa.

Anh Patrick Hays người Bắc Phi (Algerie) cao 1m 86, tóc húi ngắn, mắt trong xanh là một thiếu úy xuất thân từ trường võ bị Saint Cyr (Pháp), thuộc binh chủng nhảy dù; Anh còn nhớ mãi thời anh còn phục vụ ở trung đoàn I nhảy dù. 12 năm trước anh là phụ tá cho một đồn điền cao su ở Việt Nam , bây giờ thì anh điều khiển cả hệ thống điều hành của hãng Michelin. Vợ anh là một người Việt Nam và là một ngôi sao của đài truyền hình. Anh nói thông thạo tiếng Việt, và thường đi công tác xuống các tỉnh, do vậy mà anh biết rất nhiều tin tức. Với số vốn hiểu biết và bản chất sáng suốt của nhà báo hay nhà ngoại giao, anh là một mật báo viên của tình báo Pháp (SDECC), một việc làm dễ dàng mà anh vừa làm vừa chơi ! Cách đây mấy hôm, Hays không liên lạc vô tuyến được với một đồn điền nhỏ nhất của Michelin ở tỉnh Phước Long, cách Sai Gòn trên 100 kms, một đồn điền cao su rộng 3000 mẫu tây với 1.400000 cây cao su và 500 nhân công. Hays nói là Việt Cộng đã chiếm được 2 đồn trên đường 311, phía Nam của đồn điền nầy và cũng ở về phía Nam của tỉnh lỵ Phước Bình.

Vào trung tuần tháng chạp, Hays đã gặp và trò chuyện rất lâu với quận trưởng sở tại và quản lý đồn điền nầy. Họ đều nói ở đó không có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà có sự chuyển quân quy mô của bộ đội Bắc Việt.

Tại văn phòng của anh gần Câu lạc Bộ thể thao Saigon (mà anh là tổng thơ ký),Anh nhận xét: ” Rất có thể là cộng sản tấn công vào các vị trí yếu nhất của quận Phước Bình để có được một đường bay cho vận tải cơ loại nặng. Một phần vì vướng 25.000 dân tại đó nên việc phòng thủ ở đây trở nên khó khăn, phần khác thì phương tiện của chánh phủ yếu kém hơn hồi 1972.”

Không phải lần đầu tiên mà một tiền đồn bị thất thủ. Đôi khi sự liên lạc với đồn điền cũng bị gián đoạn, nhưng quản lý người Việt lai Tàu ở đây khôn khéo lắm, rồi cũng nối lại được thôi!

Một phần của tỉnh Phước Long nằm sát biên giới Cam Bốt đã bị mất và về đêm thì cộng sản có mặt, ban ngày thì chánh phủ Saigon kiểm soát. Phải gan lì lắm ! Chúng ta hãy xếp loại biến cố nhỏ nầy vào một khung cảnh chung. Việt Nam dạy cho chúng tôi đừng bao giờ ngã lòng. Đối với anh Hays, sau khi Hiệp Định Paris 1973 được ký có nhiều hy vọng là đời sống ở Miền Nam Việt Nam có thể tốt hơn. Nếu Bắc Việt toan tính đi xa hơn thì Hoa Kỳ sẽ gởi cho họ pháo đài bay B.52. Hays thấy là từ năm 1970 Miền Nam coi như đã thắng rồi. Trước đó thì trong tỉnh còn “kháng chiến quân” nhiều lắm. Đến năm 1971 thì gần như không còn mống nào, người ta đi lại tự do hơn trên lộ. Nhưng từ đó lần lần tình hình xuống cấp trở lại. Bây giờ muốn đi về Saigon, Hays phải đưa đoàn xe chở mủ đi vòng lên hướng Bắc qua ngã Ban mê Thuột, một đoạn đường vòng 1000 kms. Vì đoàn xe nầy chỉ đi thẳng đến Saigon khi nào đường đã được mở rồi (thường thì hành quân cấp tiểu đoàn để “mở đường” ).

Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa thường tiếp khách tại Dinh Độc Lập, một dinh thự thường thôi nhưng đầy đủ tiện nghi và kiến trúc theo kiểu hiện đại. Ông Agustini Manglia, Đại Sứ Phi luật Tân, niên trưởng ngoại giao đoàn phát biểu:

-“Bây giờ thì thấy có vẻ lạc quan hơn. Một cuộc dàn xếp chấp nhận được, hướng tương lai… về một chân trời mới.”

Cử tọa gục gặt đầu đồng ý, tán thành.

Tháng nầy nhà ngoại giao Ba Tư chủ tọa “Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Theo Dõi” việc thi hành Hiệp Định Paris. (gọi tắt là CICS). Ông thấy không yên tâm lắm :

“- Tôi hy vọng Hiệp Định Paris sẽ được thực thi”

Cử tọa cũng gục gật đầu ra vẻ tin tưởng như vậy.

Những quân nhân Ba Tư, Nam Dương, Ba Lan và Hung gia Lợi trong Ủy Ban Quốc Tế CICS có nhiệm vụ kiểm tra các vụ vi phạm lệnh ngưng bắn. Họ thừa biết là bộ đội Miền Bắc cũng như quân lực Miền Nam đều ít thi hành điều 2 về ngừng bắn hơn hầu hết 23 điều khác của Hiệp Định Paris 1973. Hai Bên đều có ý hành động thăm dò nhau. Người ta “giành dân lấn đất” nhau, người ta mất đi , chiếm lại từng thôn ấp, từng thửa ruộng. Dầu sao thì các trận đánh nhau cũng còn ở mức độ “chấp nhận được”. Trước hết là từ phía Hoa Kỳ: họ không còn một người lính tác chiến nào ở Việt Nam nữa.

Tại Saigon cũng vậy, ngay trong ngày Hiệp Định có hiệu lực , đúng là yên tịnh. Không có một vụ ám sát nào, cũng không có pháo kích. Khách du lịch đến Việt Nam bằng các chuyến bay của hãng Air France, Thái International, hay Cathay Pacific. Airways … vì một tuần lể hạ giá của Hàng Không Việt Nam. Với 27.000 đồng Việt Nam người ta có thể bay đến Dalat, một thành phố đẹp với khí hậu mát mẻ. Trường đua ngựa ở Phú Thọ với chương trình 8 cuộc đua, ngựa được ưa thích nhất là con Phương Dung! Mười ngày trước đó người ta khánh thành một tiệm ăn sang trọng: tiệm New Carina. Saigon không có không khí chiến tranh!

Dân Saigon ăn nhậu, nhảy đầm, nhưng không vào hộp đêm “Quốc Tế” được vì đang đóng cửa để sửa chửa. Cáo lỗi của chủ nhân đã được đăng trên tờ “Saigon Post”, một nhật báo tiếng Anh, hình như có trợ cấp của CIA (Mỹ): “chúng tôi đang trang trí lại và đổi một số máy điều hòa không khí”. Có nhiều đầu tư trong thủ đô Sai Gòn. Tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, người ta bàn cải về địa điểm của một khách sạn hạng sang sấp được xây cất: khách sạn Hyatt.

Tại câu lạc bộ của CIA, ở khách sạn “Công Tước” (Đức), người ta ngồi ở các bàn nhỏ để dùng cơm tối. Trong số quan khách người ta thấy có ông Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ, và các vị đồng nghiệp của ông , ông Nara (Nhật Bản), và ông Aran (Do Thái) Lý thú thiệt ! gần như có một sự chơi chữ ở đây : A-R-A-N, N-A-R-A ! Người ta cũng thấy có ông Thomas Polgar, trưởng lưới CIA ở Việt Nam, một phòng tình báo lớn nhất trên thế giới, và ông Frank Snepp, một phân tích gia có hạng của Trung Ương Tình Báo ở đây. Người ta nói với nhau về kinh tế, về nền kinh tế vững mạnh của Miền Nam Việt Nam, không cần có sự tăng gíá dầu.

Trong mục “quan điểm” của tờ Sóng Thần, báo hằng ngày, tác giả viết: ” 1975, năm bầu cử Tổng Thống, bằng cách nầy hay cách khác, guồng máy lãnh đạo cần phải được cải tiến nhiều hơn…”

người ta bình luận một vài sự việc khác:

“đại úy Lê văn Ngà thuộc đơn vị công vụ, đã bắn vào đầu tự sát, để lại một bức thơ cho Tổng Thống Thiệu, để bênh vực cho mục tiêu đấu tranh của Phật Giáo. Theo lời của một phát nhôn viên quân đội thì đại úy nầy đã hành động hoàn toàn vì lý do tôn giáo. Vì Đại úy Phật Giáo vừa qua tỏ ý tiếc là

: – “người ta không cố gắng trong hành động hòa giải quốc gia, một điều mà Hiệp Định Paris đã có dự trù.”

Phần lớn dân chúng không ăn mừng ngày Tết dương lịch. Ngày Tết Việt Nam rơi vào tháng 2 dương lịch. Những người thuộc giới trung lưu trưởng giả thường theo người Tây Phương, Pháp hay Mỹ, ăn Tết dương lịch (1tháng giêng) nhưng không ầm ỉ linh đình như người Mỹ, người Pháp, Ba Lan, hay Hung gia Lợi đang có nhiệm vụ ở Việt Nam. Họ chỉ họp nhau và chuyện trò với nhau thôi, bọn trẻ thì nghe ca nhạc (dĩa), và phần đông giới trẻ thích nghe nhạc bình dân của Trịnh côn Sơn..

Đối diện với khách sạn Continental là quán cà phê Givral. Hôm nay có 3 người ngồi thưởng thức café, 3 người mà giới báo chí thường gọi họ là “3 chàng ngự lâm pháo thủ”. Đó là ông M. Vượng đẹp trai; ông Phạm xuân Ẩn một nhân viên toàn thời của báo Times, một nhà báo Việt Nam duy nhất lãnh lương Mỹ, rất thạo tin và đáng kính nể; ông thứ ba là ông Cao Giao, thỉnh thoảng viết cho tờ Newsweek, người có chòm râu càm giông giống hàm râu của Hồ chí Minh. Họ hỏi nhau. Cao Giao nói:

  • “Người anh họ của bạn tôi làm việc tại đồn điền Michelin, quả quyết là Bắc Việt có xe tăng, loại T.72 và T.54″

Ông Ẩn tỏ ý nghi ngờ:

  • ” Tôi tin là cộng sản chuẩn bị một cuộc tấn công vào Tây Ninh”

Tây Ninh là nơi có Thánh Thất của đạo Cao Đài . Họ thờ Victor Hugo và Tôn Dật Tiên chung với những ông Thánh khác trong một ngôi đền đủ màu sắc trang trí hết sức rực rỡ và rườm rà.

Cách Saigon 3000 cây số, trên đảo Okinawa (Nhật) nằm giữa Đài Loan và Nhật Bản, đại úy Cyril Moyer đang buồn bực. Là một sĩ quan Thủy quân lục chiến, 30 tuổi, đặc trách coi về tiếp vận, đại úy Moyer lo huấn luyện tân binh tại trại Lejeune. Vợ con anh ta đều ở tại Jacksonville (tiểu bang Bắc Carolina, Hoa Kỳ). Binh đoàn Thủy quân tiết kiệm ngân sách, nên gia đình sĩ quan không được theo chồng. 30 tháng trên đảo Okinawa không có gì vui. Chỉ có những trại lính, một căn cứ không quân và những cơ sở của hải cảng. Khi người lính sống xa gia đình thì hay sanh ra lắm tật, rượu chè, dại gái hoặc mê đạo, Moyer nghĩ như vậy. Để không cho mình rổi rảnh, Moyer theo một khóa đại học giống như các sĩ quan ở đây. Anh theo ngành phân tách, như nhiều người đã theo học ở đây. Nếu tiểu đoàn 7 Truyền tin của anh tham gia vào cuộc tập trận dự trù vào tháng 2 nầy ở vùng Phi luật Tân, thì anh sẽ nghỉ học. Việt Nam không nằm trong dự kiến của anh, bộ phận 150 thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Saigon anh cũng không thích.

Đại úy Moyer huấn luyện lính của anh, anh “gạo” bài học của anh. Ở phạn điếm người ta nói là cuộc tập trận có thể dời lại đến tháng 3.

Tại Hoa thạnh Đốn, cách Saigon 22.000 cây số, Nhà Trắng ban hành luật S.3418 nhằm bảo vệ đời sống riêng tư của người dân.

Ông Gerald Ford đã trở thành Tổng Thống sau khi Richard Nixon từ nhiệm vì vụ tai tiếng Water Gate năm tháng trước đó, (tháng 8/1974). Tổng Thống Ford thừa kế một di sản kinh tế èo uột, với lạm phát và mức lời quá cao, thị trường chứng khoán bấp bênh và đội quân thất nghiệp lên đến 5 triệu người .

Vấn đề Việt Nam nằm trong lãnh vực gần như riêng thuộc Tổng trưởng ngoại giao, Kissenger.

Vào đầu năm nay, người ta lo ngại về những hoạt động bất hợp pháp của cơ quan CIA. Cơ quan nầy đã có dự tính ám sát Fidel Castro, trong thập niên 60. Cơ quan nầy không có quyền hành sự trên đất Hoa Kỳ. Nhưng họ đã thành lập 10.000 hồ sơ của công dân Hoa Kỳ. Họ đã thực hiện sự “giám sát điện tử” để nghe lén đường dây điện thoại. Họ cũng đã lục lọi các thư từ cá nhân. Những sự việc đáng nghi ngờ, những “đồ quý giá của gia đình” CIA nầy các nhà báo thích lắm, nhưng các độc giả và thính giả truyền hình thì không. Trong văn phòng Bầu Dục, Tổng Thống thường tiếp ông William Colby, vị Giám đốc CIA, một người thông minh có bộ mặt của một mục sư, tốt nghiệp trường Princeton, anh hùng đệ nhị thế chiến. Ông Colby dùng thì giờ để giải thích về khuôn khổ làm việc của nhân viên CIA hơn là phân tích tình hình ở Việt Nam. Tổng Thống Ford thì chú ý nhiều về những gì thuộc về “hậu Watergate” hơn là tình hình Việt Nam. Ông ta có ý muốn tháo gỡ ngòi nổ của vụ tai tiếng Watergate để ân xá cho Nixon. Tuần nầy qua tuần khác, thủ đô Hoa Kỳ như bị dán chặt vào vụ Watergate tai tiếng nầy. Sau 15 giờ nghị án, một bồi thẩm đoàn đã tuyên bố là “3 cựu cộng sự viên của Nixon đều phạm pháp vì đã chung sức âm mưu ngăn trở sự tiến hành của tư pháp” . Đó là các ông John Ehrlichman, Bob Halderman, và John Mitchell”

Bị các nhà báo, các dân biểu và nghị sĩ của lưỡng viện quốc hội chất vấn, Tổng Thống Ford không bao giờ chú tâm đến những bài toán của nước Việt Nam xa xôi. Để điều tra về hành động của CIA, ông ta chỉ định một ủy ban làm việc với Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller. Ông Ronald Reagan, vừa mãn nhiệm thống đốc tiểu bang California tham gia vao ủy ban nầy.

Những phúc trình của các cơ quan tình báo thường được viết lại, cô động lại đến thường mất hết độ trung thực, rồi mới được đến tay Tổng Thống dưới dạng một bản phân tách.

Có rất nhiều phúc trình và nhiều cơ quan cạnh tranh nhau.

Cơ quan CIA (Trung Ương Tình Báo) thì báo cáo cho Nhà Trắng và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; cho Bộ Trưởng Quốc Phòng, không thuận lắm với Kissinger, và cho các Tham Mưu Trưởng ở Ngũ Giác Đài.

Mỗi quân chủng Không Quân, Hải Quân, Lục Quân và Thủy Quân Lục Chiến mỗi nơi đều có cơ qua sưu tầm tin tức riêng của mình.

Phía Ngoại Giao cũng có cơ quan tình báo nhưng chuyên về chánh trị. Công tác giải mã và đón nghe các đường thông tin liên lạc vô tuyến của địch hay của cả đồng minh đều tùy thuộc Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Tất cả các cơ quan nầy trên nguyên tắc đều trực thuộc vào vị Giám Đốc Trung Ương Tình Báo của Liên Bang, và tất cả đều gởi về đây bản phân tách tình hình. Bản phúc trình sau cùng mà Tổng Thống Ford đọc được , nó vừa mơ hồ vừa dè dặt. Không có gì có thể gọi là báo động hết: ” Cân nhắc kỹ”, thi không thấy Bắc Việt sẽ mở cuộc tấn công lớn.”

Tại Hoa Thạnh Đốn, không có một người nào chú ý đến công điện của ông Wolfgang Lehmann, cố vấn ngoại giao, nhân vật thứ nhì trong Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Saigon. Ông Lehmann nhấn mạnh đến sự hiện diện của tướng Viktor Kulikov ở Hà Nội vào tháng chạp. Tướng Kulikov là phụ tá tổng trưởng quốc phòng của Liên Xô.

Ông Lehmann không nghĩ rằng vị tướng Xô Viết nầy đi dạo chơi ở thủ đô Bắc Việt chỉ với nhiệm vụ đại diện cho Liên Xô nhơn dịp kỷ niệm 30 năm thành lập của Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt : “Cũng không phải tướng Kulikov dùng hết thì giờ của ông ta để hát nhạc Giáng Sinh. Tại Miền Nam lúc bấy giờ con số bộ đội chết và bị thương cao gần bằng con số trung bình hằng ngày trong thời gian trước và trong cuộc tấn công năm 1972 ..”

Ông Lehmann nhắc lại là ” Phó tổng trưởng quốc phòng Liên xô Pavel Patitsky là người trực tiếp điều khiển dàn cao xạ phòng không ở Hà Nội, một tuần lễ trước ngày Bắc Việt mở cuộc tấn công mùa xuân năm 1972. ” Lúc đó Bắc Việt thất bại trong cuộc tấn công quy mô nầy. ” Công điện của cố vấn ngoại giao Lehmann được xếp loại “Kín”, vì thế nó cứ nằm kín mãi trong tủ hồ sơ thôi!

Một nhân viên khác của Tòa Đại sứ không bằng lòng cái lối đánh giá tình hình Việt Nam của Hoa thạnh Đốn. Ông Thomas Polgar, trưởng cơ quan Tình Báo CIA tại Saigon đã đọc bản lượng giá trong phúc trình tháng chạp. Theo ông thì những phân tích gia ở Hoa thạnh Đốn không “nằm trong chăn” , nên họ cứ nghĩ là cuộc tấn công của Bắc Việt sẽ kéo dài theo “kiểu chiến cuộc hồi năm 1914” , tức là trước hết phải tiến quân xuyên qua vùng phi quân sự trên vĩ tuyến 17 : “chúng tôi thấy các phân tích gia vì muốn có một sự quân bình trong nhận xét, nên đánh giá thấp tiềm năng và từ đó khả năng thực sự của cộng sản về cường độ hoạt động của họ trong những tháng sắp tới.” Ông Polgar nhấn mạnh tiếp: không có một lý do nào để tin rằng cuộc tấn công quan trọng sắp tới của cộng sản sẽ giống như hồi năm 1972… Có nhiều chỉ dấu cho thấy là sẽ có một cuộc hành quân đại quy mô.” Polgar căn cứ trên những sự tập trung của bộ đội Bắc Việt trên đường mòn Hồ chí Minh và những lời khai của tù binh Bắc Việt.

Tại Hoa thạnh Đốn, người ta đặt giả thuyết là Bắc Việt sẽ mở các cuộc tấn công quan trọng trong năm 1975 vì năm 75 là năm bầu cử Tổng Thống ở Hoa Kỳ. Hai cuộc tấn công lớn của Hà Nội năm 1963 và 1972 hình như chứng minh được quy luật bất thành văn của chiến lược chánh trị quân sự của cộng sản.

Ý kiến nầy cũng là ý kiến của Bộ Ngoại Giao. Ở từng lầu thứ bảy của Kissinger, giống như các cố vấn của Tổng trưởng, ông Douglas Pike cũng nghĩ là trong những tháng sắp tới, Bắc Việt chỉ tung ra những cuộc tấn công có giới hạn. “Trận giặc cắm cờ” sẽ tiếp diễn : Miền Nam sẽ cắm cờ vàng sọc đỏ của họ trong đồng quê, còn cộng sản thì cắm cờ xanh đỏ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lên các xã, ấp. Trò chơi đổ máu độc ác nầy cứ kéo dài từ sau ngày ký kết Hiệp Định Paris.

Kissinger không lo ngại lắm. Còn nhiều bài toán nghiêm trọng hơn đang cần đến sự quan tâm của ông . Trong sáu tháng qua, ông thật sự bận rộn với Trung Đông và nền hòa bình quá bấp bênh ở đó từ sau cuộc chiến của Kippour. Người Á Rập đang chạy đua vũ trang. Đối với Do Thái thì phải có sự chấp thuận của Quốc Hội mới có được máy bay và hỏa tiễn. Kissinger còn phải làm trung gian hòa giải giữa người Hy lạp và người Thổ nhĩ Kỳ về chủ quyền của đảo Chypre. Ông còn phải lo giữ sự đoàn kết luôn luôn là mối đe dọa khối Bắc Đại Tây Dương (OTAN). Ông không tin là Miền Nam sẽ sụp đổ trong năm 1975.

Kissinger luôn luôn nhắc nhở cộng sự viên của ông là Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ mỗi ngày theo sát và đối phó với 4 việc ưu tiên : (1) là chiến tranh bất thần với Liên Xô. (2)các nguồn năng lượng, và các ống dẫn dầu (3) sự phát triển nguyên tử (4) các điểm nóng không dự kiến được

Việt Nam không nằm trong danh sách “ưu tiên”

Kissinger tin chắc rằng cả Liên Xô và Trung Cộng không ai có lợi gì để cho cuộc chiến tranh tiếp diễn khốc liệt hơn ở Việt Nam. Ở đây chỉ là chiến tranh loại gậm nhắm kiểu âm ỉ của đám lửa sấp tàn chớ không phải chiến tranh loại bộc phát kiểu lửa ngọn bùng cao… Theo tiếng lóng của các nhà chánh trị thì cuộc tranh chấp vẫn được giữ ở “cường độ thấp” . Liên Xô muốn có thư giản trước cuộc chiến nhỏ bé và khốn khổ nầy. Leonid Brejnev vừa hủy bỏ chuyến viếng thăm Ai Cập vì không được khỏe. Còn Trung Cộng thì không muốn có một nước Việt Nam thống nhất, hùng mạnh ở sát biên giới phía Nam của mình. Tổng kết cuối năm 1974, Tân Hoa xã cho thấy quan điểm của lãnh đạo Bắc Kinh là “quan tâm thực sự đến Âu Châu “miếng thịt béo bở ” mà hai siêu cường đang tranh nhau. Trong các chuyến viếng thăm Bắc Kinh, Kissenger không thấy Trung Quốc có một chút lợi lộc thật sự nào đối với người Việt Nam.

Kissinger nói “16 hay 18 giờ mỗi ngày là quá đủ để theo sát tất cả những gì liên quan đến 4 bài toán căn bản đó.” Đã có những cơ quan, và những nhóm nghiên cứu lo phần còn lại.

Ở vùng Đông Nam Á, lúc nầy là phải chú tâm lo cho tình hình Cam Bốt. Lực lượng Khmers đỏ đang tiến gần đến thủ đô Phnom Penh. Người ta không thể theo sông Mékong để đến Phnom Penh được . Chuyện đó mới đáng phải quan ngại. Không nên tự động gắn liền cuộc chiến ở Cam Bốt với Việt Nam. Mối giao hảo giữa cộng sản Bắc Việt và Khmers đỏ đã không được khắng khít lắm mà còn có vẻ khó khăn nữa, như Nguyen đưc Cuc đặc phái viên liên lạc với Khmers đỏ đã tiết lộ với giới ngoại giao ở Hà Nội. Trong tình hình quốc tế hiện tại, cộng sản Bắc Việt không có lợi gì để phiêu lưu trong những cuộc hành quân đại quy mô, mặc dầu mục tiêu cuối cùng của họ vẫn là thống nhất hai miền Nam Bắc. Kissinger không bao giờ tin như vậy.

Luận cứ của Hà Nội còn phức tạp hơn luận cứ của Kremlin hay của Bắc Kinh.

Ở vùng ngoại ô Hà Nội , bên lề quốc lộ 1, có một “cột cây số” cũ kỹ màu trắng và đỏ mà không một người Pháp nào có thể quên: “Sai Gòn 1789 kms”.

Tại Hà Nội khí hậu khắc nghiệt hơn Saigon . Ngày 1 tháng giêng nầy trời lạnh. Kiều xuân Tiến 22 tuổi đi xem chiếu bóng ở Hai Bà Trưng, bên cạnh bờ hồ. Vào hồi 8 giờ tối, người ta đang chiếu phần đầu của một cuốn phim Sô Viết, “Tháng Tám”: cuốn phim nói về đệ nhị thế chiến: người dân Liên Xô đã góp phần đem lại chiến thắng cho Đồng Minh hơn bất cứ sắc dân nào khác. Phim chiếu khó theo dõi : phim được trình chiếu từ bản gốc, đằng sau màn ảnh có một người thông dịch các mẩu đối thoại ..

Tiến là con của một Bác sĩ thuộc Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (GRP), anh đã đến Hà Nội cách đây 4 năm sau một chuyến đi bộ dài khổ nhọc vượt đường Trường Sơn. Mẹ anh còn ở lại trong Nam. Tại đây anh đã tìm được cha. Vì thích đóng phim, anh đang được cho theo học lớp đặc biệt mà nếu anh đạt kết quả tốt thì anh sẽ được gởi đi thực tập ở Đông Bá Linh hoặc ở Mạc tư Khoa. Anh đang có mộng sẽ trở thành một Eisenstein Việt Nam. Người ta cho anh một tem phiếu loại 1 đồng, mà nếu anh bán lại theo giá chợ đen thì anh sẽ được 15 đồng. Chán cái phim xô viết nầy quá nhưng mà anh phải học , phải tự trao dồi…

Như thường lệ hằng ngày, bắt buộc phải vào trường, anh đã đọc xong tờ báo Nhân Dân, và tờ Lao Động, của đảng Lao Động, đảng cộng sản Việt Nam. Bài bình luận dự đoán “thắng lợi lớn của cách mạng” trong vòng 12 tháng sắp tới. Khác với cha anh, người thanh niên nầy không phải là đảng viên cộng sản. Tuy nhiên anh tin tưởng vào báo chí và truyền thanh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong những ngày gần đây, báo chí nhấn mạnh đến “chiến dịch thi đua”. Ngoài phố, trên đường, các nhà máy của thủ đô, đâu đâu cũng có những tranh vẽ lớn, với màu sắc rực rỡ tả chân cảnh các công nhân màu “xanh lơ” đang thi nhau làm việc, các bộ đội màu “xanh ve” đang chiến đấu, phụ nữ và trẻ con màu hồng đang khuyến khích anh bộ đội trong “cuộc chiến chống đế quốc”.

Ở Hà Nội người ta ít gặp các nhà ngoại giao “nước ngoài” như ở Saigon, và đời sống xã hội ít có dịp vui chơi hội hè. Các nhà ngoại giao không được phép rời khỏi thủ đô mà không có phép. Ít có cơ hội tiếp xúc với người Việt, họ sống riêng biệt với nhau. Ông John Fawcett, Đại sứ Anh Quốc là một nhà ngoại giao sống cô đơn nhất. Đối với người dân Bắc Việt, Anh Quốc là một “con ngựa thành Troie” của Hoa Kỳ . Nhiệm kỳ một năm của ông tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được chấm dứt trong tháng nầy, và một xử lý thường vụ thường sẽ thay thế ông. Đó là ông John Steward. Vì từ 12 tháng nay chánh quyền Hà Nội từ chối ủy nhiệm thơ của ông đại sứ: Chánh Phủ Hoàng gia Anh không muốn nhìn nhận Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam . Vì đối với người Hoa Kỳ hay người Anh, chánh phủ đó (GRP) không được độc lập. Không cần phải liên lạc với cái chánh phủ bù nhìn nầy, sẽ làm mất lòng Hoa Kỳ. Chánh Phủ Hà Nội chấp nhận sự có mặt của nhà ngoại giao Anh mà không cần ủy nhiệm đầy đủ: Bắc Việt chỉ cần sự có mặt của đại diện Anh Quốc ở Hà Nội để có chiếu khán cho họ đi Luân Đôn và nhất là Hong Kong. Trong bản phúc trình mãn nhiệm, ông John Fawcett dành nguyên một đoạn dài cho “chiến dịch thi đua”:

– “Đây không phải lần đầu . Công nhân được kêu gọi thi đua sản xuất, và tránh lãng phí. Có thể chiến dịch nầy thành công đó. Nhưng, khi tôi nhờ thông dịch viên của tôi để nói chuyện với một nhóm công nhân đang làm việc thật chậm chạp trong một tuần lể dài chỉ để ráp những cánh cửa mới cho dãy nhà phụ của tôi – có phải các anh làm như thế là thi đua với nhau để tăng năng xuất phải không ? Có phải các anh làm như thế là để tăng trưởng kinh tế hầu xây dựng nhanh xã hội chủ nghĩa ? Có phải các anh làm như thế với hy vọng đạt được danh hiệu “công nhân danh dự xã hội chủ nghĩa” ?, Nghe vậy các anh thợ nầy còn tỏ vẻ vui thích hơn tôi nữa! Sau đó để bù lại thời gian vui đùa của chúng tôi, trong hai ngày kế tiếp, họ còn làm việc còn chậm chạp hơn lúc trước nữa.”

Phúc trình cho thấy là ý định quản lý nhân sự của Bắc Việt không có chút gì thực tế hết. Thận trọng, nhà ngoại giao Anh nghĩ rằng cách quản lý đó cũng phải …. thận trọng . Đối diện với cộng sản Bắc Việt các nhà ngoại giao thường vui thích muốn thấy “cái gì cũng thực tế”

Ở phía Bắc Hà Nội cách Lao Kay 30 cây số ngàn, cách biên giới Trung cộng 50 kms, là trại tù Phong Quang. Nơi đây một ngàn người tù đang qua một ngày làm việc bình thường. Tù chánh trị và tù hình sự, lẫn lộn.

Anh Nguyễn Ký, tù chánh trị, đã trốn khỏi chế độ Miền Nam để đến Miền Bắc năm 1958. Anh là một giáo sư trung học và là một người viết sách. Ở đây người ta đã buộc cho anh cái tội là “trưởng giả quốc gia” (hay “tư sản quốc gia”). Người ta trách anh là người có “khuynh hướng tự nhiên” do đó anh bị bắt giam nhiều lần, lần cuối cùng vào năm 1964. Anh vừa được chuyển từ dãy A qua dãy B. Hôm nay anh trồng khoai mì (sắn). Ngoài một chiếc áo sơ mi anh còn mặc thêm một áo lạnh bằng len, thế mà anh vẫn run.. Các bộ đội với súng trường, và các cai tù đeo súng lục, canh gác nhóm 30 người tù của anh. Anh Ký phải lao động mỗi ngày 8 tiếng. Cái đói cào ruột anh. Một người lao động xấu chỉ lãnh được 9 kí khoai lang tây, hay sắn, hay gạo gọi là lương thực cho một tháng. Ngày 1 tháng giêng dương lịch không phải là một ngày lể. Anh Ký ghét nhất các ngày chúa nhật và ngày lễ. Vì những ngày đó anh bị nhốt trong trại không ra ngoài được nên không “ăn cắp” được gì cả. Gọi là “ăn cắp” là tìm thêm chút rau cải hay vài loại cỏ khi lao động bên ngoài để ăn thêm.

Trong một dãy nhà khác của trại tù nầy, anh Nguyễn Chí Thiện, thường bị bắt giam nhiều lần hơn anh Ký. Hai người không biết nhau. Anh Thiện hay đọc thuộc lòng những bài thơ mà anh làm trong tù nhưng không sao chép ra được:

Bạn ơi, khi tôi gặp bạn

 Tôi sẽ nói

Đến khúc sắn, củ mài

 Lịch sử tôi? Bi lắm!

Chỉ có xích xiềng

Những loạt súng

Của tủi hổ

Của phản bội

 Lịch sử nầy

Bạn ơi,

Làm anh thêm đau khổ

Nhưng kẻ thù sẽ phải sợ

Vì nó trường cửu

Vì nó dài vô tận

Vì nó rất cảm động

Đó là lịch sử

Của khúc sắn củ mài

Trong tất cả các trại tù của Miền Bắc mà Phong Quang là một, cái đói theo đuổi người tù mãi mãi như một ác mộng!

Chanh , chuối, cam, đường

Lạc, đậu, cơm, khoai

Là ân huệ

Của đảng

Ân huệ vĩ đại

Thật sự vĩ đại!

Tại Sài Gòn các nhà ngoại giao ước tính là các nhà tù có thể chứa từ 5000 đến 30.000 tù binh và tù chánh trị. Nhưng ở Hà Nội những nhà ngoại giao dù là Đông Phương hay Tây Phương cũng không có một ý niệm nào về con số tù nhân chánh trị.

Ở Miền Nam, Hội Hồng Thập Tự và những phái đoàn điều tra quốc tế được phép viếng thăm các trại tù. Còn ở Bắc Việt thì không bao giờ!

Dấu chân ngày xưa

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 20 Jan 2026

Bài 6

Ðồng Sa Băng

Từ thuở khai thiên lập địa thì đồng Sa Băng đã có rồi! Nó được hun đúc, bồi đắp, và ấp ủ bởi năm cánh đồi bao bọc. Kể từ đó, đồng Sa Băng hằng ngày vẫn nằm im hít thở như lòng bàn tay đức phật Như Lai vậy. Nhưng năm ngón tay của Như Lai Phật Tổ bị cụt một ngón rồi! bởi vì gò Rú nó trụi lủi trụi lui! Và đồng Sa Băng có cái bụng phệ, bao nhiêu dòng nước thanh khiết (bia rượu) từ “Ngũ Hành Sơn” đổ xuống cũng không đủ, nên vào mùa Hè nó phải thò cái rún nó ra sông Vệ hút thêm nước vào mới đủ. Ngày đó bao nhiêu dân làng Ðồng Sa Băng tui sống, cũng nhờ vào cái đồng Sa Băng nầy! 
Khi lên sáu lên bảy cha tui bảo tui phải đi học. Rồi me tui sắm cho tui cái quần sọt màu xanh, có hai cái túi, và cái áo sơ mi trắng. Me tui lấy nước giếng vuốt lên tóc tui và chải tóc cho ngay thẳng. Tui thọt tay vào túi quần, đi qua đi lại ngắm nghía, rồi me tui nắm tay dắt đến trường. 
Hôm đó tui đi học. 
Nhưng sao đến trường tui thấy sách vở, bút mực nó không vui bằng bắn bi, bắt cá. Thế là nhiều khi thay vì ôm sách đến trường, tui lại ôm sách vào núi bắt chim, hái ổi. Có những hôm đi về mặt mày đỏ lưỡng, cha tui lật sách vở ra không thấy tập đồ, tập viết chi hết, ổng xách roi ổng quất. Vậy mà cũng không chừa, cuối cùng mấy ông anh tui ai cũng lên lớp hết, chỉ có mình tui giậm chân tại chỗ. 
Cha tui thấy tui ổng rầu lắm, ổng nói: “Mầy không đi học, lớn lên làm gì ăn? Chắc đi bắt chuột ăn hả.” 
Lúc nào lục trong túi, cha tui cũng thấy nào là ná bắn chim, đá, cao su. Riết rồi cái túi nào cũng lũng lỗ. Năm sau tui thi vào lớp năm (lớp một bây giờ), rớt nữa. Nhưng lạ lắm, rớt lớp năm mà tui lại được vào lớp tư học! Tui năn nỉ cha tui đan cho mấy cái bẩy gài chim. Muốn có cái bẩy, tui phải đi đến trường đàng hoàng thay vì leo núi, bẩy chim. Nhưng có cái bẩy rồi thì tui lại vô núi thay vì đến trường! 
Một hôm trên đường đến trường, tui ghé đám mía thăm cái bẩy; A! dính một con cút cụt đui. Tui bắt nó ra, không có gì cột nó lại, tui bèn tháo chỉ trên áo ra cột con cút, bỏ vào túi đi đến trường. Ðến nơi tui đem nó ra khoe với bạn bè, không ngờ mới vừa lấy ra, nó tung cánh bay mất tiêu! 
Một ngày kia trên đường ra chợ, tôi thấy chị Chín Đà con ông bác, ở sát cạnh vườn nhà tôi. Chị ấy năm đó khoảng mười lăm mười sáu tuổi. Chị Chín tay đang ôm một bó mía, rớt lên, rớt xuống. Tôi liền chạy đến, mặt mày nghiêm trang, không cười: 
– Chị Chín, mấy con gà nòi con của anh Sa bị con mèo nó ăn rồi. 
Thế là chị ấy như bị kiến cắn: 
– Hồi nào, hồi nào, em nói thiệt hông. 
– Thiệt. 
– Chết rồi, em đứng đây coi chừng dùm bó mía chị nghe. 
– Dạ, chị để đó. 
Bác Ba có mấy ông con trai mê đá gà lắm, ổng nuôi mấy con gà nòi để đi đá, ổng cưng mấy con gà còn hơn cưng trứng. Nay nghe nói mấy con gà cưng của anh chỉ bị con mèo nó xé phay, chỉ sợ lắm, sợ chiều nay sẽ nghe “Tao bảo mầy nhốt mấy con gà lại, và coi chừng con mèo mà sao để như vầy.” Rồi cốc, cốc, đầu lại nổi trứng gà, nên chỉ chạy như bay về nhà xem còn con nào không. 
Bây giờ chỉ còn mình tôi với bó mía. Ngồi nhìn mấy cây mía chỉ róc lá sạch trưng, tôi nghe nước mía nó chạy ừng ực trong ống quản. Tôi liền ngồi xuống xước một lèo hai cây. Ðể bả mía nằm chình ình đó không được, tôi liền thủ tiêu nó trong bụi cây. 
Một hồi chị Chín trở lại: 
– Ê, gà anh tao còn nguyên sao mầy nói bị mèo ăn hồi nào, báo tao chạy gần chết. Chỉ nhìn lên mặt tôi: 
– A! mầy qúa sức rồi, dám gạt chị mầy để ăn mía hả. 
Chỉ liền rút cây mía ra, để cho tui thêm một cây! Tui nghĩ sao bà nầy tinh mắt thiệt, một bó mía mới nhìn vào mà biết mất hai cây liền? Tôi sờ tay lên miệng mới biết phấn mía dính đầy hai bên mép. Tôi lật đật treo giò lên cổ chạy cho khỏi bị ăn khúc mía thứ ba; Ðùng một cái tôi đụng vào thằng Bi, ối thôi cái rỗ nó rớt xuống đất cái bẹt, nào là cá rô, cá giếc, cá tràu, vân vân và vân vân, nó bò, nó lươn đầy đường. 
Tôi mới vừa lui ngui ngồi dậy thì: 
– Ð.M, mầy không có mắt hạ mậy. 
Không thèm trả lời, cho nó ngồi nó lựơm, tôi cong đuôi chạy luôn. 
Mấy hôm sau tôi tự hỏi, sao thằng Bi nó có nhiều cá quá vậy? Thì ra nó là con ông Tòng, mà ông Tòng sống bằng nghề đánh cá, bắt cá trên đồng Sa Băng. 
Thuở đó, đồng Sa Băng rộng và nước sâu lắm. Khắp cả đồng chỉ có nước, rong rêu, lùng lác. Những mùa mưa, lụt lội, nước từ trên núi chảy vào và đọng lại trong cánh đồng nầy. Cho nên đồng Sa Băng quanh năm như một cái hồ lớn, không bao giờ cạn nước. 
Những ngày lụt lội, lúa ngập hư thối, cha me tôi rầu gần chết, nhưng tôi thích lắm. Nước lụt dâng vào đến làng, tôi chặt chuối đóng thành bè chèo ra đồng Sa Băng gài chim nắc nước. Nước ngập đầy đồng, chỉ còn thấy những đống rạ nổi lều bều, chim nắc nước bay về đậu kiếm ăn, tôi và anh Chín bắt mấy con dế qụa, móc vào lưởi câu, cắm trên đống rạ. Khi chim nắc nước bay về đậu, tôi đợi một hồi, xong đập vào nước, hô to đuổi nó bay, nó bay lên thì lưỡi đã dính câu rồi! Thế là tôi đến gỡ chim, rồi chèo bè đến đống rạ khác đập nước, hô to, bắt chim. Vui lắm. 
Rồi vào mùa khô thì đồng Sa Băng có lùng lác cao lớn, xanh um, là cái ổ cho chim về ở; Tôi lại theo anh Hai tôi ra đồng Sa Băng bắn chim. 
Anh Hai tôi ngày đó mần Dân Vệ, ảnh có cây súng Carbin và ảnh bắn giỏi lắm. Những hôm ông Ðại Diện muốn ăn thịt chim là giao cho anh tôi mấy viên đạn. Anh tôi dẫn tôi đi theo … lựơm chim. Ðồng Sa Băng có đủ loại chim, nào là vịt trời, cò trắng, cò ma, le le, nắc nước, vân vân và vân vân. Khi đến nơi, anh tôi ngồi đợi, bùm một cái, thế là thương cho con nhạn lạc đàn. 
Có những buổi sáng, khi mặt rời vẫn còn nằm sau đĩnh núi, đồng Sa Băng cũng vừa trở giấc ngủ; Những làn sương mai lúc ẩn, lúc hiện, lăn tròn trên ngọn cỏ, tôi lại theo chị ra đồng bắt ốc. Những con ốc bưu to, màu đen xám, đeo mình trên bờ ruộng để ăn sương, vừa chạm tay vào là nó thụt đầu trong võ. Khi ánh dương mới vừa ló dạng, những hạt sương mai bắt đầu tan vỡ, bầy ốc bưu cũng đến lúc trầm mình xuống đáy nước, và Ðồng Sa Băng cũng mang đụt ốc trở về. 
Cuộc đời tuổi thơ của tôi và đồng Sa Băng gắn liền với nhau rất khắn khít. 
Không phải vì tôi thích nước hay những con đĩa của đồng Sa Băng đâu, mà tại vì mấy con cá của đồng Sa Băng. Nhưng mà nói đến đĩa thì thôi, đồng Sa Băng tui có vô số kể, mà cái loài ký sinh trùng nầy sống rất dai, nên người ta mới nói dai như đĩa. Nhiều lần đĩa nó hút máu trâu, thân hình nó cương lên như cái bong bóng, ngay đơ, tui bắt nó xuống, tui lấy cây thọt vào người nó, lộn từ trong ra ngoài xong đem đi phơi nắng, vậy mà nó vẫn sống nhăn! Thậm chí tui chặt nó ra thành ba khúc, nó lại trở thành ba con đĩa. Thấy ngứa hông! 
Còn cá ở đồng Sa Băng thì khỏi nói, từ con cá nhỏ nhất như cá bạc đầu, cá lấn cấn đến những con cá giếc, cá thát lát, cá trê, cá tràu (cá lóc) to bằng đầu gối cũng đều có và có nhiều lắm. Mà đồng Sa Băng nầy rất sâu và có thể nói là nguy hiểm, nên chỉ những người có ghe, xuồng mới dám ra ngoài xa. 
Cái thời xa xưa đó, chỉ có ba gia đình ở làng tôi có đầy đủ ghe xuồng, và sinh sống bằng nghề đánh cá ở đồng Sa Băng. 
Nhưng mà cũng vì mấy con cá ở đồng Sa Băng nầy và mấy trái mít, trái thơm trong gò Ðồn mà tui có cái tên chết ngắc là: “Thằng con ông Hai.” 
Ngày đó tui được anh chị dẫn ra đồng Sa Băng, thấy cá nhiều quá, tui mê luôn, đến nổi tối nằm chiêm bao thấy tui nhảy ùm xuống ruộng chụp mấy con cá. Những ngày sau đó, tui trốn học, rũ mấy thằng nhỏ… như tui, ra đồng bắt cá lia thia về nuôi để đá. Riết rồi tui thấy bắt cá vui quá. Tui muốn được đi chăn trâu để tha hồ bắt cá, nhưng cha tui ổng chơi một cái cay nghiệt lắm, là ở nhà có một chuyện tui thích làm nhất, vậy mà ổng không cho anh em tui làm, mà đành đi mướn một người về vừa lo quần áo cho mặc, cơm cho ăn, rồi mỗi mùa còn đong cho nó mấy gánh lúa nữa – cho nó chăn trâu. 
Sau nầy thằng Lái nó không còn ở chăn trâu cho cha tui nữa, nó về lấy vợ sinh con. Vậy là cha tôi phải giao cho anh em tôi quản lý mấy con trâu. Những ngày đến lượt tôi coi trâu thì, đánh đi đâu xa cho mệt, tôi cứ đem trâu nhốt vào gò Ðồn cho nó ăn, mà gò Ðồn thì có gì đâu mà ăn, cỏ cháy khô như rừng Cali vậy! Ngày nào tôi coi trâu thì chiều về cái hông nó xẹp lép, cha tôi ổng lại rầu nữa! 
Cũng tại vì tui mê bắt cá, tui giao mấy con trâu cho cái gò đó rồi đi xuống bìa đồng Sa Băng bắt cá. Trâu không người coi, nó xuống ruộng luá người ta nó “gặt”, hết đám nầy đến đám khác. Ngày hôm sau chủ ruộng vào thấy luá bị trâu ăn thì chỉ có “thằng con ông Hai” chứ không ai hết. Vậy là chiều về có người vô nhà “thăm” cha tui, mắng vốn. Mấy trái mít, trái thơm trong gò Ðồn bị mất đâu hết cũng đi kiếm “thằng con ông Hai” mà rượt nó. Rồi mấy trái xoài, trái ổi trong xóm không giò mà biến mất cũng đi kiếm “thằng con ông Hai” mà đục nó. Riết rồi tôi đi đâu cũng bị người ta coi chừng “thằng con ông Hai”, nó phá như toi. 
Nếu mà không có đồng Sa Băng thì tui đâu có mang tiếng đến như vậy! 
Sau muà gặt luá thì những đám ruộng trên đồng Sa Băng có nhiều cỏ non, xanh mướt. 
Một hôm tôi cho trâu ra đồng Sa Băng ăn. Tôi đang ngồi trên bờ bức mấy gốc rạ làm kèn thổi chơi. Thì đùng một cái thằng Bi con ông Tòng nó mang ghe nó rượt trâu tui. Trời ơi! nó lấy cây sào chống ghe mà nó húynh lên lưng trâu bình bịch, trâu chạy đâu thì nó rượt ghe theo đó, nó húynh, nó “húynh” cho đến khi nào trâu chạy ra hỏi ruộng sâu, nó chèo ghe không được nó mới thôi. Tôi nói: 
– Tại sao mầy “huýnh” trâu tao? 
– Ai biểu mầy cho trâu giẫm lờ tao. 
Nó nói vậy đó. Thằng nầy nó không sợ trời cao đất rộng gì hết, mấy con trâu cưng của ông mà nó dám xách sào nó “húynh” như “húynh” chó vậy! 
– Tại sao mầy không đem lờ thả ngoài sâu kia mà thả trong nầy, ruộng nầy đâu phải của ông của cha gì mầy đâu, trâu tao cũng có quyền ăn vậy? 
– Tao muốn thả đâu tao thả, mà trâu mầy dẫm là tao “huýnh”. 
Thằng nầy nó cũng bướng thiệt. Thì ra mấy con cá mà hôm trước tui đụng nó là nó bắt từ mấy cái lờ ở đồng Sa Băng nầy. Tui không thèm cải lộn nó nữa, tui lừa trâu đi ăn chỗ khác. Nhưng nó không biết là nó đã khui cuộc chiến với tui trên cái đồng Sa Băng nầy rồi. 
Lúc nầy đồng Sa Băng vào ngày mùa, những bông lúa chín vàng, uốn mình trước gió, xa xa trông như những gợn sóng đang đùa giởn trên sông. Từng đoàn người kéo nhau ra đồng gặt lúa, người kéo bồ, người cắt lúa, rồi những khoanh lúa đập bình bịch trong bồ. Trên bờ, những ông nông dân gánh lúa về, kẻ chạy vô người chạy ra, nhộn nhịp không khác gì một đàn kiến tha mồi về tổ. 
Tôi lại cho trâu ăn trên những đám ruộng đã gặt, rồi rủ nhau một đám mục đồng đi mót lúa. Mà đi mót lúa từng bông còn sót biết chừng nào mới đủ lúa để đi đổi bánh chén bà Tài Phú đây! Vậy là tui xách nón đến những đám lúa đang gặt, người ta gặt đầu nầy, tui suốt đầu kia, suốt đầy nón đi đổi bánh chén! 
Khi những bông lúa cuối cùng đã gặt, thì đồng Sa Băng bây giờ trơ trụi như mùa Ðông bắc Mỹ. Từng đàn vịt trắng như bông, quặp quặp đầy đồng, chạy tung tăng lượm những hột lúa rụng, và những cánh diều mục đồng lại được no gió; Tôi lại theo cha ra đồng bắt chuột. Tôi tìm hang chuột trên những bờ ruộng, lấy rạ đốt trước miệng hang, quạt quạt khói vào hang, vậy là chuột mẹ, chuột con, chuột cha gì cũng tìm đường mà chạy, tui hẹn tụi nó ở ngách khác mà đập; Rồi bao nhiêu lá lốt, mít non hái xuống xào thịt chuột! 
Phải chi hồi đó tui biết nhậu thì thế nào cũng quéo cần câu luôn. Ăn thịt chuột xào mít non rồi mới biết tại sao mấy ông Nam Bộ miền Cữu Long bây giờ thi đua nhau đi bắt chuột đồng! 
Bấy giờ đồng trống thênh thang, những thửa ruộng đã khô nước, chỉ còn lại những gốc rạ trơ trụi, bầy trâu không còn gì ăn; Nó lại lần mò ra đồng Sa Băng kiếm ăn thì gặp thằng Bi con ông Tòng nó rượt nó đuổi. 
Tôi về năn nỉ cha tôi đan cho tôi mấy cái lờ thả cá và một mớ cần câu cắm, thế là tôi bắt đầu cạnh tranh với cha con ông Tòng trên đồng Sa Băng – bắt cá. Ban ngày tôi bỏ trâu đó, đi bắt nhái làm mồi, chiều lại tôi đi cắm câu, thả lờ. Sáng sớm ngày hôm sau tôi ra gở lờ, thăm câu; Mấy ngày đầu tôi mần ăn khắm khá lắm, sáng nào tôi cũng mang cá về khoe với cha, ổng vò đầu tôi: “Cái thằng nầy coi vậy mà giỏi hả.” Nhưng mấy ngày kế đó, tôi ra thăm lờ, thăm câu thì con bà nó, năm ba cái lờ tui không có chân mà trèo lên bờ nằm hết, rồi cần câu tui cũng vậy, treo lưỡi trên trời. Thằng Bi con ông Tòng chứ không ai hết! Nó chơi tui. Thế là mấy ngày hôm sau, khi nó không còn lẩn quẩn trên đồng, tui cho trâu ra dẫm lờ nó tan tành xí hoách; Những buổi sáng tui ra tui gỡ câu nó, bắt cá nó, xách lờ đạp xẹp lép cho nó biết. Như thế kéo dài mãi chiến tranh giữa tôi và thằng Bi trên đồng Sa Bằng – tui phá lờ, bắt cá nó, nó rượt nó “húynh” trâu tui. 
Một buổi chiều trời mưa, tôi lừa trâu về từ gò Ðồn đi ngang qua đồng Sa Băng. Tui để trâu tự nó về một mình, đi tìm lờ thằng Bi tui gỡ cá hết, xỏ một xâu cá lóc, lật đật chạy cho kịp bầy trâu về. Cha tôi hỏi: 
– Cá đâu mà mầy bắt nhiều quá vậy? 
– Dạ, hôm nay trơì mưa, nước xoang bờ, cá nó nhảy qua bờ con bắt. 
– À! giỏi, thôi đem đi rộng đi. 
Cá là vậy đó, mỗi lần trời mưa, nước mát nó thích nhảy từ đám ruộng nầy qua đám khác, và trời mưa lâm râm nó thích đi ăn nhiều hơn. Tôi đang vui mừng trong bụng, thì ông Tòng lại vào nhà kiếm cha tôi: “Thằng con ông nó bắt cá của tôi hết rồi, trả lại đây đi.” Vậy là mấy con cá lóc trong chậu phải đem trả lại khổ chủ! Cha tôi bảo: 
– Ðừng đi bắt cá của người ta nữa, của mình mình làm mình ăn, nghe hông. 
Trót, một cái! Tôi ôm đít. 
– Dạ con nghe. 
Từ đó tôi không còn bắt cá, gỡ lờ thằng Bi nữa, nhưng mỗi lần gặp thằng Bi tôi ứa gan lắm. 
Rồi một ngày nọ, chiến tranh về trên quê hương tôi. 
Ba cha con ông Tòng chết cùng một lúc trên cánh đồng Sa Băng. Mới đầu người ta không tin ba cha con chết cùng một lúc, người ta nói mầy nói ngoa, chứ làm gì có ba cha con chết một lúc! Người ta nghĩ ông Tòng và hai hòn bi của ổng là ba cha con. 
Nhưng không phải, ba cha con ổng chết thiệt rồi! Trên đĩnh gò Ðồn, mấy ổng đào một cái hố hình tròn, ở giữa chừa một u đất. Ông Tòng dạo chơi trên gò Ðồn thấy cái hố đó, về làng nói chuyện với người trong xóm chơi. Sau nầy mấy ổng đặt cây đại liên trên u đất cái hố đó, những người lính chạy ra đồng Sa Băng đều chết giống như nhau, một viên đạn đi ngay vào trán! 
Sau đó mấy ổng gặp ông Tòng trên đồng Sa Băng, bắn ổng chết vì cái tội đi nói cái hố đó. Hai đứa con đi bên cạnh thấy cha chết, gào thét và chửi bới, họ bắn chết luôn tại chỗ! Tội nghiệp cho thằng Bi, từ đó nó không còn bắt cá trên đồng Sa Băng nữa! 
Bây giờ mỗi lần ngồi thuyền câu cá, tôi lại nhớ cánh đồng Sa Băng và thằng Bi con ông Tòng!

Một ngày khó quên

dongsongcu.wordpress.com

Cali

Posted on January 16, 2026, by dongsongcu
Post by Sơn râu 19 Jan 2026

Hình minh hoạ

Mùa xuân năm 1972, để chuẩn bị cuộc tấn công mùa hè đỏ lửa, việt cộng đã gia tăng các cuộc tấn công và vây hãm tiền đồn của ta ở khắp các vùng chiến thuật. Riêng tại vùng 4, chúng thường áp dụng chiến thuật công đồn đả viện, khiến cho việc di chuyền bằng đường bộ rất khó thực hiện. Đối với lính đóng đồn miền xa, vấn đề tiếp tế là một vấn đề sinh tử. Chỉ có phương tiện duy nhất là phi cơ. Các vận tải cơ thả đồ tiếp tế, thường không mấy hiệu quả. Dù cho các phi hành đoàn đã can đảm bay thấp hết cỡ để hất hàng xuống ‘không dù’ khiến cho quân bạn rất cảm kích, nhiều khi còn lo sợ cho sự gan lỳ và lòng dũng cảm của các phi hành đoàn vận tải… Nhưng vì tốc độ khá nhanh, máy bay lại cồng kềnh, đồn lại quá nhỏ nên các kiện hàng phần nhiều bị rơi lạc ra ngoài vòng đai vào tay giặc! Trong lúc đó, tiếp tế bằng trực thăng tỏ ra hữu hiệu hơn vì nó bay chậm, đứng được một chỗ, xoay trở lanh lẹ…

Tờ mờ sáng, khi mặt trời chưa ló dạng, chúng tôi đã xách áo giáp, nón bay, súng đạn, bản đồ, ra bãi đậu phi cơ làm tiền phi, chuẩn bị cất cánh. Bắt đầu một ngày mới, một ngày bay trên chiến trận đầy những bất trắc, hiểm nguy đợi chờ… Chúng tôi, bốn chiếc trực thăng rời phi trường Sóc Trăng, họp thành đội hình «quả trám» trực chỉ Cà Mau để làm việc cho tỉnh này…

Vừa đáp xuống Cà Mau là được phân phối đi tiếp tế ngay cho các tiền đồn thuộc các quận Cái Nước, Đầm Dơi, U Minh, Thới Bình. Mấy anh lính Địa Phương Quân đã chất xong hàng lên phi cơ, chúng tôi sửa soạn cất cánh đến tiếp tế cho một đồn nhỏ nằm về phía Bắc của U Minh chừng ba cây số đường chim bay. Nơi mà những người lính trấn thủ lưu đồn đang chờ đợi từng viên đạn, từng gói gạo sấy, từng cuộn băng cứu thương…

Vừa đổi qua tần số Bộ Binh, đã nghe tiếng của trưởng đồn sốt ruột réo gọi.

«Ác điểu đây Sơn ca… Ác điểu đây Sơn ca»

«Ác điểu nghe Sơn ca 5/5 nói đi» tôi trả lời.

Gịong Sơn ca mừng rỡ.

«Ác điểu còn mấy phút nữa đến chổ Sơn ca… trả lời?»

«Ba phút nữa sẽ đến bạn, cho biết tình hình bãi đáp. Khi nào thấy, cho trái khói, nghe rõ trả lời?»

«Thẩm quyền yên chí, con cái tôi đã làm an ninh cho thẩm quyền rồi»

«Ác điểu đây Sơn ca, tôi đã thấy thẩm quyền rồi, tôi sẽ cho con cái ra bãi đáp nhận hàng» Tiếng ông đồn trưởng sang sảng trong máy chào đón người bạn KQ đem quà đến tặng…

Phi cơ đã đến gần đồn, chúng tôi tất cả đều căng mắt ra quan sát địa thế, tình hình địch, hướng gió để áp dụng cách đáp cho nhanh và an toàn. Từ cao độ 1500 bộ, nhìn xuống đồn vắng hoe không một bóng ngưòi, tất cả binh sĩ đều ở dưới giao thông hào. Chúng tôi dự đoán phía ngoài đồn là do địch kiểm soát, nên không ai dám nhởn nhơ ra bãi đáp để nhận hàng. Mọi người đang ngước nhìn trực thăng bay vòng vòng trên trời. Lá cờ vàng ba sọc đỏ rách bươm, bạc màu phần phật tung bay trong gió.

Nhận thấy tình hình không được an ninh như ông trưởng đồn đã nói, tôi cho phi cơ đáp theo vòng xoắn ốc xuống thật nhanh ngay trên sân đồn. (Với chiêu này có thể vô hiệu hóa hỏa lực nhỏ của địch ở đâu đó chung quanh khu rừng, còn ăn pháo hay không là do may rủi). Vừa chạm đất, tất cả thùng hàng được tuôn xuống thật nhanh. Phi cơ lại vội vã bốc lên.

Đáp trở lại U Minh, ông Quận trưởng cho biết là phải trả chúng tôi về lại Cà Mau vì có lệnh. Khi đến Cà Mau, ba chiếc kia cũng đã đáp rồi. Tại đây sĩ quan tiểu khu bảo chúng tôi liên lạc với Không Quân vùng 4 để nhận chỉ thị. Gọi phòng Hành Quân Chiến Cuộc KQ, chúng tôi được lịnh cấp tốc đến tăng cường cho Biệt Động Quân ở phi trường Tô Châu thuộc Hà Tiên.

Lấy thêm xăng để đi Hà Tiên, sau gần một giờ bay, chúng tôi vào đáp phi trường Tô Châu. Từ trên cao nhìn xuống thấy đã có sẵn mười chiếc trực thăng đậu ở hai bên phi đạo. Không hiểu tại sao ở đây lại tập trung nhiều trực thăng thế, chắc có cuộc hành quân quan trọng? Chúng tôi được biết một nửa phi cơ là của phi đoàn bạn do một thiếu tá VN chỉ huy, nửa kia thuộc đơn vị Hoa Kỳ do một thiếu tá Mỹ dẫn đầu. Ông đại úy liên lạc của BĐQ cho hay là BĐQ và Thiết kỵ đang bị VC vây hãm tại Kampong Trach cần được tiếp viện, giải tỏa áp lực gấp.

Kampong Trach là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh KamPot của Cambodia, về phía Bắc, Tây Bắc Hà Tiên, cách phi trường Tô Châu chừng mười lăm phút trực thăng. Trong vùng rừng núi khô cằn nằm trên đường đi từ thị trấn này tới biên giới Hà Tiên, liên đoàn 7 Biệt Động Quân (800 người) cùng thiết đoàn 12 (hơn 80 chiếc thiết vận xa M113+ 250 người) đã bị bao vây bởi sư đoàn Sao Vàng CSBV tăng viện một phần của sư đoàn Thép 320 và hai trung đoàn đặc công 51 và 52, tổng cộng quân số Cộng sản trên bảy ngàn người.

Với quân số chênh lệch 1 chọi 7, các chiến sĩ anh dũng mũ nâu và mũ đen của QL/VNCH đã kiên cường chống trả bao đợt xung phong, pháo kích của địch, ròng rã gần một tháng trời mà căn cứ vẫn đứng vững. Dù đêm đêm, chúng thường bắt loa kêu gào «hàng sống, chống chết» vẫn không làm sờn lòng các chiến sĩ BĐQ và Thiết kỵ. Để rồi về sau bị quân tiếp viện của BĐQ và Thiết kỵ từ Hà Tiên qua đánh lui, giải tỏa áp lực cho căn cứ. Tiếc thay, khi liên đoàn 7 rút lui đã để lại tiểu đoàn 94 BĐQ đóng ở phiá bắc Kampong Trach khiến tiểu đoàn này bị Việt Cộng tràn ngập. Chỉ có tiểu đoàn trưởng và 20 binh sĩ sống sót chạy về!

Tôi được đưa đến trình diện trung tướng Ngô quang Trưởng từ vùng 1 đổi về làm tư lệnh Quân đoàn 4 và Quân khu 4, đang đứng cùng với nhóm sĩ quan tham mưu bên cạnh phi đạo. Tướng Trưởng nói với tôi là ông chỉ cần một chiếc trực thăng để bay vào chổ quân ta đang bị bao vây và thi hành hai nhiệm vụ sau đây:

1. Đón phi hành đoàn trực thăng bốn người bị bắn rớt ngày trước, đang ở với BĐQ và Thiết Giáp trong căn cứ.

2. Chở vào một số thuốc men cần thiết và một số súng bắn xe thiết-vận-xa, cho quân ta dùng để triệt hạ 5 chiếc M113 đã bị địch chiếm được và đang xử dụng bắn lại quân ta.

Có lẽ vì giao cho chúng tôi một việc làm đơn độc, nguy hiểm, mà hy vọng thành công rất mong manh, nên tướng Trưởng dặn thêm: «phòng không địch được ghi nhận là mạnh chung quanh căn cứ, các em phải cẩn thận, nếu vào không được thì thôi, còn nếu vào được nhớ đừng quẹo rộng quá coi chừng bị bắn».

Tôi nhận lệnh và trở về tàu mình. Trong lòng đầy ưu tư, lo lắng và thắc mắc tại sao mười chiếc trực thăng vừa Mỹ vừa Việt, không một chiếc nào cất cánh mà bắt chúng tôi phải hủy bỏ phi vụ tiếp tế cho các đồn bót ở Cà Mau để về đây nhận lấy mission này?

Tôi tập họp bốn phi hành đoàn lại, thuyết trình cho họ biết ý định của tướng Trưởng và nói là tôi sẽ bay chuyến này. Tất cả có vẻ lo ngại cho chúng tôi nhưng không nói gì và trở về tàu của họ. Trải tấm bản đồ xuống bãi cỏ và ngồi bệt xuống cùng ông trung úy hoa tiêu phụ nghiên cứu xem đường bay nào có thể đánh lạc hướng địch, thế bay nào có thể cứu mạng chúng tôi khỏi những dàn phòng không đang chĩa lên trời chờ làm thịt con tàu chậm chạp, mong manh, không có khả năng tự vệ này!

Nếu bay trên đất liền, dù ở bất cứ cao độ nào, khi vào vùng kiểm soát của địch, mà đường ta ta cứ đi thì trước sau gì cũng bị phòng không chiếu cố. Phản lực bay nhanh mà còn bị te tua. Chúng tôi bay thấp, nằm trong tầm súng từ cá nhân AK47, phòng không 12ly7 đến hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Lại chậm chạp, đã không có vũ khí tự vệ mà còn đưa cái bụng phệ ra thì chỉ có nước chờ… chết. Bay sát ngọn cây, trên đầu địch bên đất Cam Bốt lại càng không được an toàn vì phần lớn là đồng trống, rừng cây thưa thớt không đều và khô cằn, ngoại trừ những vùng có sông rạch… Thật là tiến thối lưỡng nan!

Có một con sông nhỏ mà dài, chảy quanh co từ biển Hà Tiên vào tận Châu Đốc. Một con sông khác ngắn hơn nối với sông này chảy vào Kampong Trach, gần căn cứ của BĐQ và Thiết Kỵ.

Anh binh sĩ BĐQ có nhiệm vụ theo tàu để phụ hai anh cơ phi, xạ thủ xô đồ xuống cho nhanh khi tàu đáp, đã từ chối đi với chúng tôi vì quá sợ hãi. Ông đại úy BĐQ phải cự nự, chửi thề, xô anh này lên tàu và nói là «phi công người ta không sợ mà mày sợ cái gì?», anh ta mới miễn cưỡng leo lên.

Nếu ông đại úy tinh ý, chắc sẽ thấy chúng tôi cũng không hơn gì anh lính kia, nhưng vì kỷ luật, danh dự Quân chủng, danh dự cá nhân mà phải thi hành thôi… có ai bình thường mà không sợ chết?

Trước khi cất cánh, toàn thể phi hành đoàn chúng tôi đều cởi bỏ áo Nomex (một loại phi bào chống lửa mà pilot của US Army xài), chỉ bận áo thun, và quần Nomex mà thôi. Bỏ lại bóp tiền bạc, giấy tờ cho bạn giữ. Vì nếu bị bắn rơi, bị bắt làm tù binh thì nhất thời địch sẽ không biết chúng tôi là ai, mang cấp bậc gì. Còn nếu bị dẫn ra bờ sông sắp hàng… bắn bỏ thì hết chuyện! Trong đời bay bổng, tôi chưa hề thấy một hình ảnh vừa khôi hài vừa bi tráng và kém an phi như phi hành đoàn “áo thun” của chúng tôi như lúc này.

Cất cánh ra hướng biển, bay trên phi đạo để lấy cao độ, chúng tôi nhìn xuống thấy vài người cả Mỹ lẫn Việt dở nón phất chào. Không biết họ chúc thượng lộ bình an, vẫy chào tạm biệt hay vĩnh biệt?

Làm vài vòng trên không phận Tô Châu để đưa tàu lên đến một độ cao khả dĩ có thể quan sát chiến trường xa tít, đồng thời nhận diện địa thế… Chúng tôi quyết định bay bên hữu ngạn con sông trên địa phận Hà Tiên hướng về ngã ba sông để vào Kampong Trach. Tôi nhắc nhở mọi người phải ráng nhìn ở dưới những lùm cây, hễ phát hiện đốm lóe hay những cụm khói đen nhỏ thì la lên ngay.

Bốn cặp mắt lo lắng trừng trừng nhìn xuống những khoảng rừng thưa và đồng trống ở dưới để canh chừng phòng không địch. Từ giờ phút này, chúng tôi thật sự đang đánh đu với tử thần!… Sự may mắn của chúng tôi không kéo dài được bao lâu vì khi vừa vào không phận Cam Bốt, địch đã nghe tiếng trực thăng, đã phát hiện chúng tôi và đang sẵn sàng…

Bỗng anh trung sĩ xạ thủ hốt hoảng la lớn: «phòng không nó bắn mình đó ông ơi, tui thấy nhấp nháy… ». Như đã dự định, lập tức tôi cho phi cơ rơi tự do, đảo qua đảo lại, nghiêng ngã như sắp bị rớt. (Mẹo này có lẽ đã làm xạ thủ VC tưởng hạ được trực thăng nên ngưng bắn, hay vì bay không đường lối, lại rơi nhanh khiến chúng bắn không trúng?). Với độ rớt của phi cơ ở 3000 bộ một phút, con tàu rung bần bật mà chúng tôi vẫn cảm tưởng như đứng một chỗ. Những giây phút chờ đợi trúng đạn nổ tung, bốc cháy, hoặc một viên đạn ác nghiệt bắn vỡ mặt, thật là căng thẳng… Khi tàu xuống trên ngọn cây, tôi quẹo gắt để cắm vào giữa giòng sông, bay giữa hai hàng cây mọc bên sông, cứ thế lướt trên mặt nước và lượn theo những khúc ngoặc của sông, liếc nhanh qua bên trung úy hoa tiêu phụ, thấy anh đang gồng mình ngồi, nhìn thẳng về phía trước, tay cầm thánh giá, miệng lẩm nhẩm đọc kinh. Tự nhiên tôi trở nên bình tỉnh hơn, tin tưởng sẽ được các bề trên che chở bởi lời cầu nguyện và nét mặt thành khẩn của anh. (Anh Vân, nếu anh tình cờ đọc được bài này, một lần nữa xin cám ơn anh, người Trung Úy hoa tiêu phụ hiền lành, đã cầu nguyện bình an cho cả phi hành đoàn chúng ta ngày đó).

Sắp đến chỗ quân bạn bị vây rồi mà chúng tôi vẫn chưa thấy phản ứng của địch trên khúc sông này. Có lẽ chúng tôi đột nhập bất ngờ bằng đường sông nên địch không kịp trở tay. Hay là bộ đội VC quá ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy giặc lái của KLVNCH bay trên sông như tàu cao tốc mà còn nhấp nhô lã lướt uốn lượn quanh co, nên mải mê xem mà quên cả bắn?

Quẹo trái để tiến về căn cứ. Vừa lấy lại thăng bằng, tôi bổng giật nảy người. Trên một cành cây cao chắn lối, một tên VC đang đứng cheo leo núp sau thân cây, có lẽ đang quan sát hoạt động của quân bạn. Hắn ngạc nhiên nhìn xuống, tôi chới với nhìn lên. Việc thấy tên VC chần dần trước mặt xảy ra quá nhanh khiến tôi ú ớ, không kịp báo động và do phản ứng tự nhiên, tôi kéo tàu vọt lên, ngang qua đầu hắn, bụng phi cơ lướt sát trên ngọn cây, hy vọng hắn không có thì giờ phản ứng..

Tôi chờ đợi tiếng AK bắn đuổi theo nhưng hoàn toàn im lặng. Tàu ngóc lên cao, ngay phía dưới, trước mặt là căn cứ của BĐQ và Thiết Kỵ đã hiện ra.

Nhớ lời dặn của tướng Trưởng, tôi quẹo thật gắt đến độ sợ cánh quạt chém mấy cây antenna. liếc mắt xuống, chúng tôi thấy các thiết vận xa M113 làm thành môt vòng tròn bao quanh căn cứ, nằm sau những ụ đất, bên trong có nhiều luống đất đỏ như những nấm mồ vừa chôn vội vã?

Đã thấy tấm panneau đánh dấu bãi đáp đàng xa nhưng vì quẹo qúa gắt, tàu chở nặng trì xuống nên tôi không kịp đưa tàu đến đáp. Tôi quyết định đặt tàu xuống bên dãy ụ đất đỏ. Như vậy sẽ gần hơn cho phi hành đoàn trực thăng bị bắn rơi, khỏi phải mất công chạy ra tận bãi đáp và cũng tiện cho việc hất đồ tiếp tế xuống gần quân bạn hơn…

Trong chốc lát các thùng hàng đã được liệng xuống. Tôi nhìn lại phía sau, thấy lố nhố mấy người bận áo bay ngôì trên tàu. Anh trung sĩ cơ phi báo cáo là phi hành đoàn đã lên đủ. Một ông lính BĐQ khác râu ria lởm chởm, không biết từ đâu, nhảy vội lên tàu và la lớn với chúng tôi: «cất cánh nhanh lên, chúng nó đông lắm 6,7 nghìn tên chung quanh, nhanh lên, nhanh lên». Tôi nhìn lên bờ đất, thấy một số binh sĩ đang dìu đồng bạn vượt ụ đất chạy về phía tàu, dường như là thương binh? Cùng lúc đó có một tiếng nồ ầm, thì ra VC đang pháo vào từ những núi đá thấp gần đó, nhưng lại rơi ra xa…

Kể lể thì lâu nhưng mọi sự xảy ra trong nháy mắt. Không chậm trễ một giây, tôi nhấc bổng tàu lên vì sợ địch điều chỉnh tác xạ, sợ bị lính leo lên thêm vì trên tàu đã có sẵn mưòi người rồi sẽ không bay ra được vì quá nặng. Tôi chúi mũi lủi về phía trước, thoát đi thật nhanh để lại sau lưng một đám bụi mù…

Trên đường bay ra, vừa đưa tàu lên cao để né tên trinh sát, tôi lại thấy hắn nhưng không phải đứng trên cây mà đã té nằm thẳng cẳng dưới đất. Chắc đã…

Không còn bị ai cản trở, tôi cho tàu lạng xuống trên mặt nước, chổng đuôi bay thật nhanh. Sợ lần này bộ đội VC đã đề cao cảnh giác sẽ chận đường thối lui, tôi thay đổi lối bay liên tục. Khu nào dọc theo bờ sông có nhiều cây rậm rạp thì tôi bay trên ngọn cây, khu nào trống trãi thì tôi lại nhào xuống nước làm cao tốc đĩnh… Có nhiều khi đã tính bỏ giòng sông mà bay ngang rừng thì sẽ thâu ngắn đoạn đường về Tô Châu vài cây số, nhưng biết đâu chính đoạn đường này sẽ thâu ngắn tuổi thọ chúng tôi! Khi thấy ngã ba sông hiện ra trước mặt, tôi biết là mình sắp thoát vì bên kia sông là Hà Tiên xinh đẹp, an lành. Kéo tàu vọt lên cao, tôi trao cần lái cho Trung Úy hoa tiêu phụ.

Bình an trở lại Tô Châu. Các phi hành đoàn bị bắn rớt được chúng bạn đón mừng, chúng tôi được các anh em cùng phi đoàn ân cần thăm hỏi.

Phi vụ hoàn tất mỹ mãn. Tôi lại được đưa đến gặp Tướng Trưởng, vẫn còn đứng ngoài phi đạo theo dõi chuyến bay của chúng tôi. Tôi rất ngạc nhiên vì lần này lại có sự hiện diện cuả tướng Tư lệnh SĐ 4 KQ là tướng Nguyễn Huy Ánh. Tôi đứng nghiêm chào hai vị tướng đáng kính này. Mấy ông bắt tay khen ngợi, tướng Trưởng nói với một đại tá Bộ binh đứng bên lấy tên phi-hành-đoàn để cho huy chương. Ông nói với tướng Ánh KQ cũng nên cho chúng tôi huy chương tương xứng. Tướng Ánh hứa là sẽ cho.

Không lâu sau đó Tướng Trưỏng lại đổi ra vùng 1 CT. Tướng Ánh bị tử nạn trong một phi vụ câu máy bay quan sát. Sư Đoàn 4 nói riêng và KLVNCH nói chung đã mất một vị tướng văn võ song toàn, tài năng và đức độ hơn người.

Tờ báo Lý Tưởng KQ có viết một bài tường thuật phi vụ Kampong Trach của chúng tôi. Còn mấy cái “anh dũng bội tinh với nhành dương liễu” thì đã có người khác thay mặt… đeo giùm.

Cali

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 19 Jan 2026

Bài 18

Về người bạn trẻ

Nguồn mạch tương lai

Bạn Thân Mến,

Để bắt đầu lá thư, chúng ta có thể nêu lên nhận định tiên khởi, dẫu mỗi dân tộc có đường hướng phát triển cùng gánh phần tai họa riêng, nhưng những nền văn minh trên hành tinh nầy hằng nối tiếp nhau theo nhịp tiến hóa cùng chiều cao lẫn sâu, rộng với thế biện chứng mang tính quyết định, hoàn toàn không ngẫu nhiên. Và nhân tố kết cấu nên tiến trình đáng hãnh diện kia với những kỳ tích có được hôm nay, xây dựng nên hệ thống văn minh, văn hoa cao, vượt khỏi vòng đai phóng xạ Van Allen, đặt dấu ấn xuống mặt trăng, đang tiến tới Sao Hoả vào đầu thế kỷ, năm 2018, theo như dự trù cuả Trung Tâm NASA, hiện thực mơ ước sau hơn ba triệu năm kể từ khi những sinh vật đầu tiên mang tính, dạng người có mặt trên quả đất-Nhân tố quyết định ấy, không ai khác hơn những con người địa cầu nầy mà chúng ta là những thành viên luôn mới mẻ, đầy năng động. Chúng ta có nói quá lời chăng khi gán đến cho người những tính chất kia? Để trả lời câu hỏi, chúng ta có thể căn cứ trên những diễn tiến và tiến bộ trong lãnh vực khám phá, xử dụng không gian để nhắc nhở với mỗi người về hành trình kỳ vĩ mà nhân loại từ quá khứ xa xưa đến hôm nay đã, đang dự phần chứng hiện trong cuộc sống vô cùng ngắn ngủi chóng vánh trên mặt đất.

Nhớ lại để biết rằng, phải cần đến một khoảng thời gian hơn hai triệu năm, sinh vật gọi là “vượn-người” kia mới bào mòn được khối u đầu xương ống chân (chỗ tiếp giáp với xương đầu gối) để “người-vượn” mới có thể đứng được trên hai chân (Di chỉ “người-vượn” Australopithecus đào đựơc năm 1974 tại Ethiopia; 1978 Tanzania); và kể từ thời gian xa xôi đó, con người lại phải mất thêm hơn ba triệu năm nữa, để hôm nay mới tạo nên những kỳ công tưởng như chừng chuyện thần thoại: Ngày 4 tháng 10, 1957, Người Nga phóng vệ tinh đầu tiên ra khỏi vòng đai khí quyển quả đất; 21 tháng 7, 1969, Người Mỹ đỗ bộ lên mặt trăng. Chúng ta nên nhắc lại những thời điểm kia để biết rằng, chỉ khoảng một thời gian ngắn từ đầu thế kỷ, vào năm 1903, một người Nga Konstantine Tsiolkovsky, dùng giả thuyết (Như đã được Jules Verne viết nên trong thế kỷ trước), xử dụng nhiên liệu lỏng (xăng, dầu) làm chất nổ đẩy hoả tiển lên ngoại tầng không gian qua tác phẩm “The Exploration of Cosmic Space by Means of Reaction Devices”; để đến sau đó không lâu, qua tính toán thực tế, năng động hơn so với Tsiolkovsky (Chỉ bằng trí tưởng tượng và chữ nghĩa), người tuổi trẻ Robert H. Goddard ở Massachusetts, đang tuổi 17 tuổi, vào năm 1914, đã có lời khẳng định, (không là lý thuyết, giả tưởng của riêng tiểu thuyết): ” … I would make some device which have even the possibility of ascending to Mars”. Và người bạn trẻ nầy hiện thực lời nói quyết tâm kia tại 12 năm sau với chiếc hoả tiển bay lên cao 41 bộ, lướt qua 104 bộ trong vòng 2,5 giây. Song song với những thử nghiệm tương tự vừa kể, hai anh em nhà Wright đã cùng nhau chịu lời cam kết “có lẽ sẽ không còn sống thấy mặt nhau” trước khi cột mình vào chiếc máy nổ nặng hơn không khí với “Hoài bão ngàn đời – Cùng lần với thần thoại cổ đại: Bay cao khỏi mặt đất”.

Buổi sáng ngày 17 tháng 12, 1903 đã hiện thực khả năng siêu việt ấy cuả Con Người tại thế – Bay về trời- Phương Thượng Đế hiện hữu. Sở dĩ người viết phải nêu đến nhắc lại những yếu tố, diễn tiến, biến cố khoa học, kỹ thuật trên, vì đây là lãnh vực dễ giúp cho ta thấy ra điều cơ bản, ấy là:“Những người dựng tạo nên những thành quả xuất chúng kia, số đông (nếu không nói hầu hết), thật sự chỉ là những cá nhân bình thường, nhưng để đạt được những kỳ công rực rỡ kia, họ phải thực hiện hai điều cấp thiết: Thứ nhất, tập trung, tận dụng thành công lẫn thất bại cuả người đi trước, cùng toàn thể khả năng, tiềm lực cuả thời đại họ đang sống. Thứ đến, biết vận động những yếu tố tổng hợp quyết định kia vào quá trình thực hiện công việc quan yếu -Tìm Học. Đây là chủ đề cuả lần Thư Thứ Nhất, Tháng 9, 1995, Kỳ Trại Hè Về Nguồn VI, dịp chúng tôi đã nói cùng các bạn. Nhưng Học vẫn chỉ là một phương tiện, phương tiện tốt nhất và hữu hiệu nhất để phụng sự cùng đích duy nhất: Phát Triển-Bồi Dưỡng Con Người nên Người Hoàn Thiện – Người với Tính Nhân đạt đến mức độ cao nhất. Chủ điểm cuả Thư Thứ Hai mà chúng tôi đã gởi đến các bạn sau kỳ đi dài nối hai địa cực.

Đến đây, chúng ta có thể trở lại phần dẫn nhập cuả thư nầy để nêu lên một vấn đề tiềm ẩn. Ấy là, những cá nhân chủ thể và sở hữu những kỳ tích kể trên có chung một mẫu số: Họ chỉ đã, đang thực hiện được những thành quả ấy từ trong “Tuổi Trẻ”. Bởi chỉ tuổi trẻ mới cho họ khả năng bức thoát, vượt qua những trở ngại mà nếu thiếu sút lòng quả cảm, sức kiên trì (Những phẩm chất riêng cuả Tính Trẻ), họ khó có thể khắc phục, vượt qua được. Cũng với Tuổi Trẻ, con người mới có được sức mạnh đích thực của Tái Tạo và Sáng Tạo-Năng lực thúc đẩy người luôn phải mới mẻ, sống động qua từng giờ, ngày nỗ lực. “Nhật Tân. Nhật Tân. Hựu Nhật Tân” là châm ngôn đúng đắn chính xác mà Nho Giáo hằng thúc dục Kẻ Sĩ qua từng ngày tìm học; để đến cuối đời, bản thân Bậc Thầy cũng phải nói nên mỗi điều ao ước: “Tiếc rằng Khâu nầy không còn thời gian để học thêm Dịch chu đáo hơn!!. “. Nhưng sức mạnh tuổi trẻ thật ra không chỉ giới hạn nơi một thời lượng cuả tuổi thanh xuân, bởi lịch sử đã cho chúng ta so sánh, công việc trong khoảng thời gian mấy mươi năm (cuả thời đoạn gọi là hạn kỳ thanh niên theo quan niệm nhân sinh tương đối kia) hoàn toàn vô nghiã trước diễn tiến dài lâu cuả đời sống nhân loại. Thế nên, chúng ta có thể nại ra thêm một lần nữa, sự tiến triển phi thường cuả Thế Kỷ 20 (Trong tất cả mọi lãnh vực mà khoa học, kỹ thuật là yếu tố vượt trội và quyết định nhất) chỉ được thực hiện từ, với tinh thần tiến công cuả những người “trẻ tuổi”, không phân liệt quốc gia, giai tầng xã hội, chủng tộc xuất xứ, càng không hề nại đến cách biệt tuổi tác. Họ là tập hợp những người làm nên lịch sử và quyết định tương lai. Những người luôn ứng xử bằng tinh thần tuổi trẻ đối với mọi hoàn cảnh và ngày mai. Họ có trách nhiệm mang vác sinh mệnh toàn cầu nhân loại. Điển hình, thành quả trong lãnh vực nguyên tử ở thời đại chúng ta mang danh tính nhiều người, nhưng tên nhà bác học Albert Eisntein vẫn là tác nhân hàng đầu và quan trọng nhất. Tuy rằng, nếu theo Luật Di Dân áp dụng trong kỳ thanh lọc quy mô vào những năm 1890, cá nhân nầy quả khó lòng nhập cư vào đất Mỹ do cảm tính quá độ bi quan, khả năng kinh doanh kém cỏi đến độ vỡ nợ ngân hàng, phải đem thân ra nước người kiếm sống(!). Tương tự như thế, tư cách cá nhân nhà bác học hoàn toàn không ảnh hưởng, chịu tác động về thành quả cũng như tai hoạ bởi lần áp dụng, khai thác sức mạnh nguyên tử do văn minh loài người chủ trương, tác động. Đáng nói chăng là trí sáng khai phá, vận động mạnh mẽ cuả Con Người (Mà nhà bác học là một thành viên) vào lãnh vực vi cấu trúc để từ đó cho phép chúng ta hôm nay làm chủ được sức mạnh hạch tâm, giải thích thế giới kỳ diệu cuả nguyên tử. Khởi đầu diễn trình cực độ quan trọng nầy mang danh tính cao qúy- Albert Einstein-Người luôn băn khoăn ngạc nhiên trước cuộc sống. Người luôn trong tuổi trẻ sống động. Bởi đây là người nắm vững “luật tương đối “cuả yếu tố bất khả nghị về hiện tượng sống: “Thời Gian – Sự Không”- Cái Không luôn hiện thực, vĩnh cữu và hằng có. Từ phạm trù kỳ diệu nầy, người có bộ óc siêu việt nhất của thế kỷ đã một lần xác chứng, cái mà chúng ta phân biệt “sau, trước” kia quả thật chỉ là những mối nối vô cùng mong manh và tương đối-Chúng chỉ được định nghiã từ nơi chúng ta đang đứng nhìn, vận tốc ta đang chuyển dịch. Tôi có thể nhắc lại với các Bạn về kinh nghiệm thú vị nhận ra được trên chuyến bay trở về cảng Los, một buổi trưa thứ bảy, trời đang trong tiết Đông: “… Hóa ra tôi đã qua đoạn đường dài 14 giờ bay, cũng bắt đầu từ một buổi trưa thứ bảy nơi Nam Bán Cầu đầy nắng sáng muà Hạ”. Chúng ta tìm được gì nơi sự kiện nhỏ bé thinh lặng tưởng như tất nhiên nầy? Câu trả lời tuy đơn giản nhưng vô cùng hàm xúc: “Quả thật, chúng ta đang sống trong một môi trường tương đối, ngắn ngủi nhưng hằng hằng mới mẻ, sống động”. Thế nên, thái độ đứng đắn nhất của chúng ta vẫn là phải tận sống nơi mỗi giây phút đang trãi qua để không phải mang nặng nỗi thất vọng mà Người Xưa luôn nhắn nhủ: “Đừng để Ngày nầy không học; Giờ nầy chóng qua và Thân nầy lỡ hư”. Hãy Sống Hết Sức Với Tuổi Trẻ. Chúng tôi nồng nhiệt nói đến cùng Các Bạn kinh nghiệm sung mãn đáng tin cậy nầy. Phải, chúng ta chỉ có một lần tuổi trẻ nên chúng ta phải bảo vệ kỳ cùng tài sản rất mực quý giá ấy của riêng ta; nếu phải bị mất mát, không ai khác, chính ta là đầu mối gây nên lần thãm bại cuả bản thân mình. Nhưng chúng tôi cũng không hề mong mỏi Các Bạn sẽ hoàn tất những sự nghiệp gây phẫn nộ và đáng nguyền ruã do đã dựng nên từ bạo lực và huỷ diệt, (Như những “tai hoạ” mà E. Fromm đã não nề kể ra trong“Phân Giải Về Sự Tàn Phá Con Người – The Anatomy Of Human Destructiveness”; chỉ riêng Tây Âu ở Thế Kỷ 16 đã có 87 trận chiến; Thế Kỷ 17, 237 trận; TK18, 781 trận; TK19, 651 trận và đến thời đại chúng ta chỉ mới tính đến 1942, cũng đã có gần chín trăm trận. Nhà văn quên nại ra, hoặc đã quá đổi kinh hoàng với kết quả 35 triệu người chết của Thế Chiến Thứ Hai, trong đó riêng Liên Sô đã đóng góp nên số lượng 18 triệu, chưa kể 20 triệu người bị một tay Staline thanh trừng trong 29 năm cầm quyền; nước Đức mất 4 triệu 2, đổi lại đã thảm sát 6 triệu người Do Thái; ở Á Châu, nước Nhật thiệt mạng 1, 97 triệu người, riêng mỗi quả bom nguyên tử thả ngày 8 tháng 6, 1945 xuống Hiroshima đã giết ngay lập tức 80.000 người và di hoạ thêm 140.000 người do biến chứng phóng xạ vào những năm sau. Nhưng người Nhật cũng đã không nương tay, dù đấy là một chủng tộc da vàng nhỏ bé, vô hại đối với sinh mạng chính trị, an ninh quốc gia họ – Hai triệu Người Việt Nam chết đói từ một muà luá bị mất (Do người Nhật ra lệnh phá ruộng lúa để trồng đay phục vụ nhu cầu chiến tranh của họ), cũng năm 1945, đúng muà Hè họ nhận phải quả bom. Tóm lại, quả tình chúng ta không thể nói dân tộc nào bất hạnh hơn dân tộc nào. Chỉ biết nổi Khổ Đau Của Người cùng khắp và càng ngày càng tăng cường độ qua trò chơi tầm phào mạt hạng tầm phào, cực độ tàn nhẫn và quái đản vô ích gọi là, “chiến tranh”. Oan nghiệt thay Lịch Sử Nhân Loại luôn lập lại lầm lỡ ghê gớm đau thương nầy.

Tuy nhiên chúng ta vẫn luôn Hy Vọng- Đường tự cứu nầy do Tuổi Trẻ chiếm lĩnh và quyết định. Với chủ đề “Tuổi Trẻ Phù Đỗng”, Trại Hè Về Nguồn Kỳ VII nầy chúng ta hẳn có mục tiêu cụ thể, lần thụ lãnh Sứ Điệp “Nhận Trách Nhiệm Tuổi Trẻ” như Huyền Thoại Dân Tộc hằng nhắn gởi qua hình tượng Thánh Gióng. Trước khi nói đến phần chủ điểm cốt lõi, ta cần phải giải lược bớt những yếu tố không thuộc về huyền thoại, những khía cạnh đặc thù mà giới chuyên môn (Khảo cổ học, Dân tộc học, Xã hội học …)  Do yêu cầu của ngành học nên đã quá độ gán ép những giả hình thù, những phẩm tính vô nghĩa và vô dụng chung quanh hình tượng huyền thoại lịch sử, để từ đó dựng tạo nên những nhận định có tính chính trị lố bịch như: “Gióng là biễu trưng tổng hợp của sức mạnh Giải Phóng Dân Tộc, hiện thực nơi giai cấp nông dân, người bạn cách mạng hậu bị chiến lược của giai cấp công nhân, lực lượng trung tâm thời đại chúng ta hôm nay-Người sẽ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản dẫy chết !! “. Định nghĩa được thành hình rất lâu tại Miền Bắc Việt Nam và tiếp tục tồn tại trong bất cứ tài liệu học tập, giáo trình huấn luyện, sách giáo khoa tất cả các cấp, luận văn tốt nghiệp nào hiện nay ở nước ta?! Chúng ta cũng không cần nại đến những “di chỉ mũi tên đồng, ngọn giáo đồng … “ mà nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội luôn trưng lên như một bằng chứng khả tín về “truyền thống thuộc quá trình chống ngoại xâm” mà họ (Những người cộng sản Miền Bắc) là kẻ kế thừa thuần thành và đích thực của dân tộc …. Cũng thế, “Các Vua Hùng có công dựng nước; Bác cháu ta có công giữ nước” – Câu nói nầy từ lâu không là khẩu hiệu tuyên truyền mà đã là “tài liệu có tính cách quyết đoán của lịch sử”… Chúng ta hảy vất bỏ tất cả những rơm rác phù phiếm và tầm phào nầy để nhìn Gióng như là niềm Mơ Ứơc vĩnh cữu, nỗi Hy Vọng sắc son của giòng sống Dân Tộc- Một nhóm Việt Tộc đã đứng vững nơi đầu sóng ngọn gió Vùng Đông Nam Châu Á, qua hàng loạt biến cố lớn lao từ lịch sử cũng như thiên nhiên, để đến hôm nay, sau bốn ngàn năm, khi toàn bộ giống giòng Bách Việt mạn Nam song Dương Tử đã hoàn tất Hán Hoa; bị đẩy lùi, hoặc chôn chân nơi nội địa núi rừng Tây-Nam bán đảo Hoa-Ấn – Giống Việt Tộc ấy vẫn tồn tại và phát triển như một điều huyền nhiệm- Phải, Dân Tộc Việt Nam đã tồn tại như một nhiệm mầu. Chúng ta hãy sống với Gióng ngày bình minh lịch sử, buổi Người Việt thành hình. … Chúng ta thấy được gì trong câu chuyện cổ tích mang dấu ấn huyền sử nầy? Lẽ tất nhiên chúng ta không thể quá độ nại cớ “tính quốc gia dân tộc” để gán ép bất cứ sự kiện lịch sử nào cũng phải mang vác một cách vô lý mục tiêu chính trị từ ý niệm và nhu cầu cuả thời đại hôm nay; thái độ ngược ngạo cưỡng bức lịch sử thiếu chính trực và lương thiện trí thức là cung cách quen thuộc cuả người, giới cầm quyền cộng sản Đông, Tầy … Chúng ta không cần lập lại sai lầm lố bịch ấy vì Lịch Sử Việt Nam (Dù dưới dạng Huyền Sử) vẫn còn nguyên dấu ấn hùng vĩ về một dân tộc thâm sâu nội lực và thắm thiết tình người. Xét từ kết cấu, diễn tiến và kết thúc câu chuyện đến yếu tố tên người, địa danh, nơi xẩy ra “trận chiến giữa Gióng và giặc Ân” … Ta vẽ lại được bức tranh toàn bích về cấu t rúc đặc thù cuả Người Việt cổ đại, nối xong mạch liên tục hợp lý: Trời-Đất; Thần-Người; Đất Nước-Cá Nhân … Trong đó yếu tố chủ thể không phải là một vị Thần siêu việt hoặc một thứ Thế Quyền được tôn giáo hoa, thần linh hoa như những nền văn minh thái cổ thường tạo dựng nên-Yếu tố chủ đạo ở đây không ai khác: Con Người Trần Thế-Trong trường hợp nầy là đứa trẻ không biết đi, chưa biết nói, chỉ do “động tâm yêu nước” mà thoắt nên thành khổng lồ xông mình ra trận. Thật ra “giặc Ân” trong câu chuyện kia chỉ là yếu tố hư cấu, đời Hùng Vương Thứ Sáu cũng không thể xác định niên hiệu tại đâu bởi một sử liệu thành văn … Và những danh xưng, Gióng, Phù Đổng, Sóc Sơn hay Sài Sơn quả thật chỉ những tên chữ, xuất hiện cùng lần với “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca”, chúng cũng không thể có sớm hơn, trước ngày Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) làm văn tế cá sấu, Đời Trần Nhân Tôn (1279-1293). Nhưng những chi tiết kỹ thuật nầy không đáng kể; điều làm cho chúng ta xúc động chính là, tổ tiên ta, một giống Lạc Việt, chắc không khác ngoại hình so với Mân Việt, U Việt, Âu Việt … Cũng không thể vạm vỡ sức vóc hơn những tộc Mélanésien, Indonésien đã sẵn có mặt nơi lưu vực Sông Hồng, sông Mã, những người quen đầm lầy, sông nước, thờ thủy quái, giao long. Nhưng, Tộc Lạc Việt kia, ngày ấy, tổ tiên ta đã sống một đời kiệt liệt. Chúng ta tin chắc như thế. Và Sự Thật Sử Tính là như thế. Bởi buổi ấy, tất cả sinh hoạt đời sống hoàn toàn “trong núi”, nơi có những rừng tre bạt ngàn vứơng víu, chằng chịt (Gióng, Dóng: vật liệu đan bằng tre dùng để gánh; Sài: Cành tre gai; tre gai gài chặt lại thành cái cửa …). Và những tiền nhân được chúng ta tôn xưng là “Thánh Gióng”, vào thuở hồng hoang kia, đã chỉ dùng tay bạt trắng rừng xanh, bật những gốc tre luồng sâu đá núi; nhổ sạch đi tạo thành những ao con … Vào buổi ấy, tổ tiên chúng ta cũng đã là người “văn minh”; họ có sắt, đúc được đồng, nhưng phần kim loại dự trữ chiến lược nầy thuộc phần quản lý cuả nhà Vua. Và Vua luôn thuận theo ý dân, nên chỉ xử dụng phần kim loại quý giá hiếm hoi kia kia để đúc ngựa, roi sắt (Theo lời yêu cầu cuả Gióng), dùng vào công cuộc trọng đại, nỗ lực chung. Chú bé vụt lớn lên cũng như khối dân sơ khai, chưa có quốc hiệu, cương vực, chữ viết riêng (Văn Lang, Hùng Vương, chỉ là những sản phẩm khi chữ Hán Việt được thành hình và chính quy hoa ở những thế kỷ sau; bởi vùng đất Giao Châu thời cổ sử kia chỉ là một trong chín châu cuả Tàu; mà Tàu cũng bởi biến thái, thay danh tính từ “nước” Tần, một trong những liệt cường còn lại gồm Sở, Hán, Tần, Tề, Ngô, Việt … sau giai đoạn tranh phân chí mạng giữa các bộ tộc Bắc, Nam sông Dương Tử, chung quanh vùng sông Hoài, lãnh thổ kéo dài từ Tứ Xuyên ra tới biển, bắt đầu lúc Nhà Chu suy yếu. Nước “gọi là Tàu” kia cũng đang trong thời đoạn thành hình cho một nước Trung Hoa ngày nay vậy). Chúng ta nhắc chuỗi yếu tố, sự kiện kia không do một mặc cảm hơn thiệt nào khác ngoài lòng thiết tha ngưỡng vọng sức đề kháng bàng bạc nhưng thấm sâu; nhân hậu nhưng bền vững cuả Giòng Việt Tộc kiên cường, phẩm chất cao vợi. Chúng ta hãy cùng nhau làm nên bừng sáng ngọn lửa tự hào nầy … Phải – Chúng ta là con cháu Rồng-Tiên. Trên nền tảng Lưỡng Tính, Nhị Nguyên, Âm-Dương, Đất- Trời nầy, Tâm Linh Việt Tộc không những đã không phân hóa (Như những dân tộc chủ trương duy lý nhất nguyên), mà sau nầy khi va chạm với văn minh kỹ thuật Tây phương, tư bản lẫn cộng sản, nét chủ đạo thâm trầm cuả Tộc Việt lại càng nổi bật, và đã tạo nên một thế thống nhất tâm linh cân bằng kỳ diệu. Đây không là cách nói quá độ để cốt khoa trương về một điều không thực. Nhưng nếu so sánh với những khối văn minh, văn hoá khác, trong cùng một thời (hai ngàn năm sau Công Nguyên) hoặc cùng địa bàn (chung bán đảo Đông Dương) như của người Maya, Tộc Khmer … Chúng ta hẳn cảm động, hãnh diện bởi những tre, trúc mảnh mai đơn giản của Gióng đã tồn tại lâu dài, bền bĩ hơn những đền thờ đá tảng bề thế ở Teotihuacán, Đông-Bắc Mễ Tây-cơ, nơi thờ Thần Mặt Trời của Văn Hoa Azetec một thời chủ đạo vùng bao la Trung Mỹ, những kim tự tháp bằng đá cao đến 60 thước, thờ những vị thần đòi Vàng từ Đất và Máu từ Người với hình tượng biểu trung rực rỡ: Mặt Trời-Lửa- Hổ, Báo …. Những nguồn lực hung hản, hoang dã. Trái lại, chúng ta uyển chuyển (như Nước); biến dịch (như Rồng) để hiện thực nên với móng bền vững: Con Người Đơn Giản – Đứa trẻ chưa biết nói- Chỉ do tâm thức yêu nước hoa thành “anh hùng nhổ tre” chống giặc xong bay về trời. Hoặc chúng ta có thể nhắc thêm về những “Anh Hùng-Thần Linh đẫm máu” cuả các nền văn minh khác để thấy ra so sánh: Thượng Đế cuả vùng Điạ Trung Hải (Người HyLạp) là ông Trời Ouranos; Trời nầy từ ý lực độc tôn (Biểu trưng Con Số I), nên dù những người con vốn có trăm đầu, trăm tay (tên gọi chung là Titan với sức mạnh vật chất to lớn), vẫn bị bắt giam vào Địa Ngục Tartare, để riêng mình ông ta muôn năm trường thọ thống lĩnh vũ trụ. Thế nên chúng ta trăm năm trở lại đây, không đầy nửa thế kỷ, những hậu duệ cuả Titan, con cháu Ouranos kia đã cho thế giới món đòn thù qua hai trận thế chiến mà chỉ riêng nước Nga đã mất hơn 18 triệu như trên đã nói; giữa hai cuộc chiến tầm cỡ chết người kia, những người Phương Tây tài trí, chuyên sâu lý luận nọ cũng không quên chêm thêm những trận đánh bản lề chuyển tiếp để hiện thực mối thâm thù huyết thống giữa những huynh đệ không hề đứt đoạn. Ví dụ chiến tranh ba năm ngắn ngủi cuả những người gọi là CọngHoà và Quốc Gia Tây Ban Nha với kết quả khiêm nhượng, hai trăm ngàn người chết cho cả hai phe (Cộng Hoà chết 110.000; 90 ngàn còn lại chia cho phía Quốc Gia), chưa kể 500.000 người bị lưu đày ra khỏi nước, không hề trở lại cho dù thế kỷ đã gần xong. Nhưng tranh chấp giữa cha con Ouranos và Titan kia chưa phải là giải quyết xong, bà Mẹ (Đất) ra tay, bày kế cho đứa con chính yếu Kronos (Thời gian), nhân lúc cha mẹ đang gần gũi, làm thịt ông bố Trời, xé xác, phanh thây ném xuống biển … Biển trào sôi giận giữ, Thần Thịnh Nộ (Furies) từ đó ra đời, trong những bọt sóng cuả lòng thù hận kia đã nẩy sinh ra người Đẹp cuả vũ trụ lẫn thế gian, Aphrodite. Và chính người đẹp khai sinh từ vũng lửa tham tàn kia lại là nguyên nhân xúi dục con người trần thế lao đầu vào cuộc chém giết tận tình đẫm máu không thương xót. Do ghen tuông (bởi muốn tranh ngôi vị người đẹp nhất với một bà Thần khác, Athéna), người đẹp Aphrodite đã xúi anh chăn cừu Paris đánh cướp cô gái Helena vợ Vua Menelaus-Chiến tranh Thành Troy có nguyên cớ từ sự kiện tầm phào vô vị nầy … Cả Thần và Người cùng bị siết chặt chung một vòng nghiệt ngã thù hận tràn bờ không cơ hội hoà giải, không hy vọng kết thúc tương tranh. Bạn sẽ hỏi chúng tôi, nhưng đó chỉ là Tây Phương với mối tranh chấp muôn thuở cuả riêng họ, chúng ta có gì khác biệt nơi Đông Phương chăng? Tình hình cũng không mấy khả quan hơn với Ấn Độ qua Chí Tôn Ca, mà thật sự phải là Võ Công Ca bởi trận chiến chỉ phát sinh từ  khi chàng Ravana cướp nàng Sita thuộc dân Ayodhya vàngười cuả hai phe lâm chiến, những thủ lãnh (Tổng hợp Thần-Người) chỉ biết xử dụng những ngôn ngữ tàn nhẫn, máu me cùng nhau như lời vua Bhima nói với kẻ thù Dushasana “Tao sẽ bổ tim mầy ra mà uống máu mầy !”.

Gần gũi với chúng ta hơn, huyền sử Trung Hoa cũng không thiếu hiện tượng về tình cảnh không thể khoan nhượng giữa hai nguồn lực căn bản Trời-Người, dù rằng, Nho Giáo đã có định nghiã tổng hợp thuần hậu, chính xác về con người, “Nhân giả kỳ Thiên-Địa chị Đức, Âm-Dương chi giao, Ngũ Hành chi hội, Qủy Thần chi khí tú giả”. Nhưng hình như định nghĩa nầy chỉ giành riêng cho người có học, lớp kẻ sĩ; số đông dân chúng vẫn đành đoạn mong muốn cho Hậu Nghệ bắn rụng chín mặt trời; Bà Nữ Oa đội đá vá trời; Lý Ngươn Bá ném chuỳ đồng lên trời dự định đánh chết lão Thiên Lôi, tay sai tàn ác của cái gọi là ông Trời thiếu hẵn nhân tính, đầy nhẫn tâm kia, như kiểu gọi “Lão Tặc Thiên” của nhân vật Kim Dung, Tạ Tốn. Điểm qua một loạt các “nhân vật” huyền sử và cổ tích xưa nay kia, chúng ta thật vô vàn hân hoan vì, “Thần – Người cuả tâm thức Việt Tộc là Một”. Thần qua Người nên hiện hữu. Người tồn tại an toàn thân mật với Thần mà thật ra chỉ là chiếc bóng hùng tráng của người phóng chiếu nên thành hình tượng. Đuổi xong giặc, người tuổi trẻ Phù Đổng cởi ngựa về Trời. Người về trời qua ngã Mẹ Âu Cơ ngày xưa đã chia tay Bố Lạc Long Quân: Gióng về trời ở Núi (Núi có Tiên-Tượng hình chữ Hán-Việt: “Tiên là người ở trong Núi”). Vua Hùng, thủ lãnh người Việt được viết với bộ “Chuy, chỉ loài điểu thú”, tức là những người mang hình lông chim trên di chỉ Trống Đồng. Và hơn tất cả các thần linh Đông, Tây, Gióng không hề bị sa đọa bởi quyền lực và bạo lực: “Người về Trời cùng lúc hội nhập với Thần”. Hành vi của Gióng là hiện thực nghĩa vụ, “Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Nhân gian đáo thử thị Anh Hùng”. Anh Hùng Văn Langlà một trong muôn người đã dựng nước và giữ nước như một “nghĩa vụ thường hằng”- Đây là một “Dân Tộc Anh Hùng” nhưng không hề viết nên Anh Hùng Ca. (Việt Lý Tố Nguyên- Kim Định). Bởi đó cũng là Dân Tộc Thi Sĩ với tiếng hát vô vàn trung hậu thắm thiết Ca Dao.

Tôi cầu chúc Bạn,

Trở nên “anh hùng bình thường” như thế,

Như Gióng uy nghi lặng lẽ trở về Trời.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 19 Jan 2026

5. Lời tựa

Quyển sách này mô tả những tấn thảm kịch của loài người , những toan tính ngoại giao, những chiến lược quân sự và những vận dụng chánh trị từ Hà Nội đến Hoa thạnh Đốn xuyên qua Mạc tư Khoa, Balê.. và nhiều thành phố khác, để cuối cùng dẫn đến sự thất thủ của Sài Gòn ngày 30/4/1975, hai mươi mốt năm sau trận chiến Điện biên Phủ.

Quyển sách này tường thuật lại diễn tiến trong 4 tháng đầu của năm 1975 nghiệt ngã. Thông thường theo ký ức tình cảm của mỗi dân tộc, dưới con mắt lạnh nhạt của sử gia, thì đôi khi chuyện một thành phố bị mất đi hay được chiếm lại trong cuộc chiến .. chỉ là một bóng mờ của một thời gian nào đó thôi. Nhưng khi mà một thành phố được gọi là thủ đô, được xem là trung tâm đầu não cuả hệ thống hành chánh, tài chánh, văn hóa và quân sự mà bị địch chiếm, thì sự chiếm đó có nghĩa là địch đã chiếm được chánh quyền!

Năm 146 trước công nguyên thành phố Corinthe bị mất về tay người La Mã thì tức là nền độc lập của dân tộc Hy Lạp (Greece) không còn nữa…

Nã phá Luân rút quân khỏi Mạc tư Khoa năm 1812 cũng được coi như nước Pháp thất trận.

Nhiều thủ đô đã bị chiếm đóng, như Ba Lê năm 1914 và 1940 mà còn có được những cuộc chiến đấu anh dũng như trận La Marne mới được coi như thành phố đó chỉ bị mất về tay quân thù. Tại Âu Châu, khi người lính của Staline kéo lá cờ đỏ lên Trụ sở Quốc Hội Đức ở Bá Linh, là Tây Âu coi như phải thần phục Đông Âu, cũng như ở Á Châu khi Nhật Bản chiếm đóng Singapore vậy.

Hơn 10 năm sau khi bị thất thủ, Sài Gòn được xem là tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử chủ yếu hàng đầu: được sự yểm trợ của Liên Xô, Trung Cộng và các nước cộng sản chư hầu khác, một nước chuyên chính nhỏ bé như Bắc Việt đã buộc một quốc gia dân chủ hùng mạnh như Hoa Kỳ phải tháo chạy, đánh dấu cuộc chiến thắng của một xã hội độc tài khép kín đối với một xã hội tự do cởi mở, một cuộc chiến thắng đối với hệ thống Tự Do Dân Chủ…. Chiến thắng vĩnh viễn ư ? Người ta còn nghi ngờ, nhưng một dẫn chứng lịch sử rất giản dị làm cho người ta phân vân: cho tới giờ này khi đã bám trụ được rồi thì người cộng sản chính thống hình như không bao giờ muốn nhả ra nữa.

Đã có nhiều sự lưỡng lự rụt rè và hành động rời rạc từ chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến ở Việt Nam. Không có một bình luận nào vô tư hết, mà cũng không thể hoàn toàn thu ngắn từng chữ trong diễn tiến của sự việc được,. Ngay như căn cứ trên tài liệu, nhân chứng, phúc trình, công điện, hay những bản tường trình của phóng viên, các bài phóng sự truyền thanh, phim ảnh, thư từ, báo chí…, một nhà báo đang góp nhặt sự việc trong ngày hay một sử gia đang gom góp từng sự kiện trong năm cũng không ai có thể bỏ qua tính cách chủ quan được khi phải chọn lọc và sấp xếp các sự kiện lại để viết sử cho Lịch Sử. Điều này hoàn toàn không có nghĩa là không “vô tư hay chủ quan”.

Cuộc vận động trên báo chí và phương thức viết sử chính yếu không khác nhau mấy. Người viết sử có không gian và có thời gian rộng rãi , còn người làm báo thì có thể dựa trên những câu hỏi của người trong cuộc, cùng thời với mình. Cả hai người đều phải làm việc với sự nhạy bén của mình, một sự nhạy bén mà họ cần phải có, phải biết và phải kiểm soát được.

Tôi không hiểu tại sao tôi lại muốn thấy và nhìn lại hằng loạt biến cố hỗn tạp của năm 75 này?

Tôi đã theo sát cuộc chiến này từ năm 1965 cho đến năm 1973. Như các bạn tôi, hơn mọi cuộc chiến khác, cuộc chiến này đánh mạnh vào tâm tư của tôi, với tất cả ý nghĩa của nó. Mặc dầu có đặc quyền ưu đãi của một nhà báo, tôi xin chiếu khán vào Hà Nội rất khó khăn, trái lại với Sài Gòn thì rất dễ dàng và nhất là tôi và ông bạn Ron Moreau phóng viên của tờ Newsweek tại Sài Gòn, năm 1973 chúng tôi đã vào được vùng đất của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ở Cà Mau. Chúng tôi không thông báo trước , không được hướng dẫn viên đưa đi. Ron Moreau nói thạo tiếng Việt đến độ biết chơi chữ để làm vui các chiến binh Việt Cộng, phần tôi thì biết nói tiếng Miền Bắc: chúng tôi làm việc chung với nhau.

Quan điểm của tôi về cuộc chiến thay đổi tận gốc. Những sự bực bội của tôi từ những lần viếng thăm Miền Bắc năm trước đã bùng lên dữ dội như chất hóa học. Tôi rời khỏi Việt Nam, tin chắc là tôi đã bị gạt: với một vài dè dặt nào đó tôi đã bênh vực cho cái gọi là “phong trào giải phóng quốc gia” với mục tiêu giai đoạn gọi là chiến đấu chống đế quốc thực dân xâm lược. Sau đó tôi khám phá hơi trễ là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là cánh tay của chánh phủ cộng sản Miền Bắc được trang bị và nhồi nhét ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Có thể một phần nào đó tôi là một nạn nhân của cái mà Jean Francois Revel gọi là :sự cám dỗ của vấn đề” Để giải thích cho Edgae Morin, dù muốn dù không tôi đã tranh đấu để đến ở Sài Gòn, một thể chế mà chúng tôi đã từng có lần lên án tại Prague (Tiệp Khắc) và Budapest (Hung gia Lợi). Xuyên qua cảm tình của chúng tôi đối với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước kia và Hà Nội sau đó , chúng tôi đã gần như rơi vào cánh tả không cộng sản một cách dại dột và mù quáng. Sự nhận xét của chúng tôi về thể chế cộng sản mà trước tiên là Bắc Việt suýt chút nữa chúng tôi đã coi họ là thiên thần. Sự hoan nghênh của chúng tôi về các chế độ chống cộng, và trước hết là chế độ của chánh phủ Miền Nam Việt Nam xoay qua thành một điều quỉ quái. Chúng tôi không coi Hồ chí Minh là thiên thần mà cũng không coi Nguyễn văn Thiệu là Ác Quỉ. Chúng tôi chỉ mơ về một “chủ nghĩa xã hội có nhân tính” ở vùng Đông Nam Á.

Và còn không ít người đang mơ ước hão huyền như vậy .

Với hai chữ Việt Nam, có nhiều hình ảnh và nhiều khuôn mặt hiện trở lại trong trí tôi, hết sức lộn xộn.

– Đây là một sĩ quan Hoa Kỳ trên núi Bà Đen, chỉ huy một đơn vị lính đánh thuê người Cam Bốt; đây là anh Nguyễn Minh, thông dịch viên của tôi ở Hà Nội , lần đầu tiên tôi đến thủ đô khốn khổ của Miền Bắc, anh Minh giúp Gerard Chaliand và tôi qua khỏi khó khăn trên Quốc lộ 1, lúc các oanh tạc chiến đấu cơ Mỹ đang có mặt trên không phận; kia là ông Thiệu tươi cười sáng lạng đang dùng máy Polaroid chụp ảnh cho tôi tại Dinh Độc Lập… – – Rồi đây là những nỗi kinh hoàng của cuộc chiến, những thương binh của Nam Việt Nam ở Đà Nẵng, của Bắc Việt Nam ở Phát Diệm… Giáo sĩ tiến bộ bên này, giáo sĩ tạp giáo bên kia… chỗ nào cũng toàn là trẻ mồ côi, thiếu tình thương, lắc lư liên tục từ trái qua phải mà triệu chứng thì các nhi khoa Bắc sỉ đều biết rõ cả rồi; nọ là binh sĩ hai Bên, bụng thì lo sợ mà mặt thì vẫn thản nhiên, nhìn chung là gan lì…; đây là những bữa cơm nóng hổi chia xẻ với binh sỉ Hoa Kỳ hoặc Nam Việt Nam , với cán binh Bắc Việt hay Việt Cộng .. người này mời thuốc đầu lọc Winston, người kia mời thuốc lá Điện Biên Phủ và đây là Phạm văn Đồng, lãnh chúa “vĩ đại” mở miệng ra là gọi anh là “bạn thân” theo giọng điệu của chánh phủ Pháp… còn kia là những người dân quê và dân thành thị, tất cả đều mong chờ “hòa bình” nhưng không phải một nền “hòa bình” như lãnh đạo của họ thường quan niệm.

Ôi êm đẹp làm sao những buổi chiều, hay buổi sáng sớm êm ả ở Miền Bắc hay Miền Nam trong thời gian ngưng tiếng súng… Đây là chánh khách Tôn Thất Thiện với những bài bình luận trầm tĩnh và những con cá nhiệt đới của ông…, Kia là nhà lý luận Nguyễn Khắc Viện đang nhồi sọ các khách du lịch ở Hà Nội …,Cả hai ông, người nào cũng thông thạo tiếng Pháp…..

Độc giả sẽ gặp lại trong quyển sách này một số nhân vật mà tôi không quên được vì họ vốn là “con người” . Tôi không hạ thấp người Miền Bắc dù nhiệm vụ và tầm vóc của họ chỉ là thuộc những con rối không hồn và cũng không có nhân cách. Nhưng phải công nhận là họ có một ý chí cao độ, nhưng tự tôn tự đại, một loại anh hùng tính đến khó tả được và không cần biết gì đến thế giới bên ngoài, nhất là dư luận..

Một mặt, nguyên tắc “chỉ huy tập thể” của cộng sản Hà Nội trong mọi hoạt động, như một con quái vật lạnh lùng từ đầu đến chân, theo công thức của Clausewictz chế ngự ba mặt trận ngoại giao, chánh trị và quân sự.

Mặt khác, ở Sài Gòn, người ta nhận thấy sự hỗn tạp của một chế độ mất quân bình, mồ côi.. ở đó những nhân vật chủ chốt đôi khi cảm động vì vô ý thức, nên thường bị rơi vào vô số cạm bẫy của những mưu mô chánh trị hay xảo thuật hành văn trong các văn bản hành chánh của nền dân chủ Hoa Kỳ.

Người ta ngạc nhiên với những sự tiết lộ của một số phiên họp lúc nào cũng mật kín của hệ thống dân sự hay quân sự của Hà Nội. Những cuộc thảo luận, những quyết nghị, những bất đồng… đều do tác giả cộng sản tiết lộ, nhất là từ các tướng lãnh Bắc Việt như Văn tiến Dũng và Trần văn Trà. Khi họ gở được “cái lưỡi cây” ra khỏi miệng thì tha hồ mà họ ăn nói, đôi khi cũng rất thành thật và còn khôi hài nữa, ít nhất là trước quần chúng hay trong các tác phẩm được họ viết và xuất bản.

Những người cộng sản Việt Nam đang làm việc tại Hà Nội hoặc ở các tòa đại sứ, cũng giúp cho tôi tin tức. Tôi thường nói rõ các “nguồn tin” mà tôi có được. Một số “nguồn tin” muốn tôi dấu tên giùm họ, vì họ sợ gia đình của họ bị trả thù, trong số này có vài người Ba Lan, người Mỹ và người Pháp và những người khác cũng vậy: thận trọng, khiêm nhường, thích dấu tên vì an toàn nghề nghiệp ….

Về tên tuổi, dù muốn tránh bị đụng chạm theo phong tục của người Á Đông, tôi cũng cố gắng để không quá cứng ngắt. Chúng tôi nói Thiệu, Minh Dương, Phạm văn Đồng, Hồ chí Minh. Theo người Việt Nam nếu viết trọn thì tên là chữ sau cùng: Thiệu, Minh, Đồng đều là tên. Khi người ta nói Thiệu thì cũng như người ta viết Charles để nói về tướng De Gaulle, hoặc Margaret là để chỉ cho bà Margaret Thatcher.

Một khó khăn nữa cho mắt và tai của người Á Đông: ở Việt Nam Họ và Tên không có nhiều. Ở chỗ này người ta gặp ông Nguyễn cao Kỳ, tư lệnh không quân Miền Nam Việt Nam, ở chỗ khác một anh Nguyễn Kỳ, tù nhân chánh trị ở Miền Bắc . Do đó tôi chỉ dùng tên cho độc giả dễ xem. Khi một nhân vật xuất hiện lần đầu tiên tôi dùng nguyên tên họ như : Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, sau đó tôi chỉ dùng tên:Viên. Độc giả Việt Nam cũng hiểu là tôi không biết dùng 5 dấu trong tiếng Việt, nếu dùng thì chỉ làm trò cười thôi.

Một mong ước: xin độc giả của quyển sách này, dù đứng ở phía hữu hay phía tả, hay ở bất cứ phía nào khác, nếu được hỏi về thái độ, về quan điểm của ngày hôm qua hay của ngày hôm nay đối với Việt Nam, xin đừng có thái độ gần như muốn quên lãng. Trừ trường hợp khi một chiếc thuyền chở đầy người vượt biển tìm gặp được một hải cảng hay một chiếc tàu nào đó, chịu nhận cưu mang những người khách đáng khâm phục này. Ai có thể đánh giá trước một lương tâm hoàn toàn tốt ? Khi đọc lại một vài bài trong các báo bảo thủ năm 1975 chính tác giả cũng phải sửng sờ. Người ta gặp những người chống Mỹ khắp nơi.

Đối với cuộc chiến ở Tây ban Nha, Malraux đã viết là cộng sản ủng hộ người cộng sản và phát xít ủng hộ tướng phát xít Franco, nhưng những thể chế dân chủ không giúp gì cho những người dân chủ hết. Những người dân chủ ở châu Âu quên những người dân chủ ở Việt Nam. Người ta không bao giờ thấy có phát xít ở Nam Việt Nam. Người phương Tây không có gì khác hơn trong đầu họ ngoài những hình ảnh của người Âu Châu . không có hình ảnh nào về chánh phủ dân chủ nửa vời của Sài Gòn. Sự kiện Sài Gòn bị thất thủ không hẳn là một bài học mẫu nhưng vẫn là một tấm gương sáng cho mọi người!

Olivier Todd

Dấu chân ngày xưa

Đồng Sa Băng

Rút trong tuyển tập truyện ngắn “Dấu chân ngày xưa” 

Post by Sơn râu 19 Jan 2026

Bài 5

Mưa rừng
“Úi chu choa ơi, hôm nay trông lớn quá hả. Ời ời, còn đói hả, để con mẹ mầy đem đồ ăn về nó cho ăn nghen. Dể thương quá, hôm nào tao đem về tao nuôi, tao cho ăn đầy đủ khỏi sợ đói. Thôi nằm đó, tao phải đi đây.” 
Trời tháng Ba, nắng, nóng, như thiêu như đốt, những thửa ruộng khô nức nẽ, lộ ra những lằn ngang lằn dọc, như làn da con trâu già dưới ống kính hiển vi. Những con Chà Chiện, Manh Manh đi săn, lùng, những con bào cào, châu chấu bay về đậu gần ổ, nhìn trước nhìn sau như sợ ai thấy cái ổ của mình. Vèo một cái, nó bay lại, nhả con mồi cho đàn con nằm chi chít trong cái ổ chật hẹp, đang há mòm đỏ lỏm trên luống đất cày. Rồi vội vàng bay đi, như cố tình dấu dím, không cho ai biết cái ổ chim con. 
Dưới ánh nắng chói chang, mặt mày đỏ lưởng, nó dẫn đứa em trai đi hết đám đất cày nầy đến đám đất cày khác để xem chừng mấy ổ chim Chà Chiện. Nó đợi đến ngày chim con mọc đủ lông đủ cánh nó sẽ mang về nuôi. Nhìn đứa em, nó hỏi: 
– Em ưng con nào? 
– Con nầy nè. 
– À, được rồi, mà nhớ sau nầy đừng có đổi lại nhe. 
– Vậy thì tui lấy con kia. 
– Hứ, sao mầy nhiều chuyện quá vậy. Cũng được, để con nầy anh đem cho Mõ Làng. 
Rồi nó lấy lọ mực bôi lên đầu con chim vừa được chọn. 
Từ ngày 23 Tết, trâu đem cầm trên Gành Vườn. Me nó may cho thằng Lái một bộ đồ mới, đưa cho nó một thúng nếp, một ít đường mía và năm ba lon đậu đen. Những thứ nầy là quà Tết để nó về quê ăn Tết. Tội nghiệp thằng Lái, tuổi nó lớn mà thân hình nhỏ chút, người ta kêu là đất điết, nên đi đâu cũng bị mấy đám con nít chọc ghẹo. Nó xa gia đình cũng gần một năm nay rồi. Ừ, Tết nhứt rồi, ai cũng về quê ăn Tết, nó cũng về quê ăn Tết như ai vậy chứ. Nó cõng tè tè trên vai những món quà đi ra đường Cái Quan, rồi nó theo hướng Ðông mà đi. Chiều nay nó sẽ trở lại Cà Ðó, Nông Nông, nơi đó chỉ có mẹ nó và mấy đứa em, cha nó đã bỏ đi đâu rồi, đi hồi nó còn nhỏ hoẻn. Nhà nghèo nên nó phải đi chăn trâu. Cái xứ gì mà nghèo khô nghèo khan, nghèo cháy mồng tơi, nghèo rơi đom đóm, nghèo đến nỗi không còn lấy một giọt mồ hôi. Vậy đó, cho nên người ta mới nói: “Ai về Cà Ðó chịu khó xách ky, tay cầm đôi đủa, chân đi lòm khòm.” 
Thằng Lái nó đi một mạch về hướng mặt trời mọc, không thèm nhìn lại, chắc là nó nhớ mẹ và em lắm. Lâu lắm rồi nó mới được về thăm. 
Qua ba ngày xuân, anh em nó tha hồ đi chơi. Suốt ngày mặt quần áo mới, nó đi chặt tre làm ống thụt. Có khi nó vác rựa dẫn em vào hóc Tre tìm chặc mấy cây trảu, có khi lùng trong vườn sau, tìm những ngọn tre nho nhỏ, hai anh em nó hoèn xuống, chặt ngọn để làm ống thụt. 
Rồi suốt cả buổi anh em nó ngồi ngoài bụi tre cạnh nhà ông Sĩ, mà đẻo mà đục, khoét. Hể nghe tiếng cha nó réo lên là nó dẫn đứa em nó đi xuống lùm tre bên nhà ông Phước, rồi đục, đẽo, quên cả cơm nước luôn. Xong ống thụt bời lời thì nó lại đi làm ống thụt nước, không biết sức lực đâu mà sao thấy nó như con vụ suốt ngày. Vậy mà nó làm ống thụt cũng hay lắm, nó phải biết xem cây tre, cây trảu có cái ống vừa trái sưng hay trái bời lời, mắt dài, cắt ra. Nó chặt khúc đuôi, gần mắt cây khoảng một phần ba gang tay, gắn chiếc đủa con vào làm cán thụt, vậy là xong. Cuối cùng nó lấy lá dừa quấn trên đầu ống thụt cho loa ra, mỗi lần thụt kêu bốc bốc, nó thấy tê tê làm sao! 
Ống thụt trái sưng thì tiếng kêu thanh hơn, và mỗi lần thụt trúng ai là thôi, đau chết người. 
Nhưng nó khoái nhất là ống thụt liên thanh. Ống thụt liên thanh đốt tre phải dài hơn ống thụt chiếc. Ở gần cán nó khoét một cái lổ, rồi lấy một đốt tre khác lớn hơn gắn vào lỗ khoét làm băng đạn. Trên băng đạn nó cột một chiếc đủa con bằng giây thun, để giây thun rút chiếc đủa đẩy từng trái bời lời xuống. Nó làm cho em nó một cái giống như cái của nó. Nó nhét vào năm, sáu chục trái bời lời trong băng đạn. 
“Anh nạp bời lời chi nhiều vậy?” 
“Anh đi kiếm Anmota và Chị Hai Ba Lê anh bén!” 
Rồi nó dẫn em nó đi thụt điếc lỗ tai làng xóm! 
Ra giêng, Tết nhứt qua rồi, hương vị của bánh chưng, bánh tét, những buổi tiệc tùng, bánh trái, và những buổi cờ bạc mua vui cũng phai dần theo ngày tháng. Nhưng người ta nói: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”, nên cái hương vị của ba ngày Tết hình như vẫn còn lưu luyến, giống như cái buổi ban đầu. 
Nó theo Cha lên Gành Vườn lừa trâu về. Lúc nầy lối đi nhẳn hơn, đoàn người trong làng cũng bắt đầu từ dốc Mồng Công mà lên. Khi đến Gành Vườn, trâu ăn khắp nơi. Ðến trưa thì những người chủ trâu đều có mặt, họ chia nhau ai nấy đi tìm trâu của mình. Bầy trâu thấy chủ đến nó cũng mừng. Sau một hồi đi tìm kiếm, la hò, những con trâu được gom lại và chia ra thành từng bầy. May mắn là năm nay không con nào bị cọp chụp, nhưng nghe đâu bầy trâu Nghĩa Phú có một con thất lạc, nó đã theo trâu rừng. Làng nào lừa trâu về làng nấy. 
Trong chốc lát Gành Vườn bây giờ trở thành hoang vắng, cái hoang vắng của rừng núi. 
Rồi những ngày kế tiếp cánh đồng trở nên nhộn nhịp, những người nông dân vác cày đi trên bờ đê, lòng hớn hở: “Trâu ơi, ta bảo trâu nầy, trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta …” 
Trời sau Tết càng ngày càng nóng, cái nóng chói chang làm nức nẽ ruộng đồng, nắng như nắng tháng Ba. Những luống đất cày giờ cứng như đá. Cánh đồng vào tháng Ba như một bãi sa mạc, không một ngọn cỏ, và từ trên xuống dưới, ánh nắng hừng hực của ảo ảnh sa mạc cũng đủ làm con mắt nheo lại. Vậy mà anh em nó cũng đi lùng từng ổ chim Chà Chiện, vì, chỉ còn mấy tuần nữa thôi, là, nước từ những bờ xe ngoài sông Vệ sẽ đổ lên cánh đồng nầy. Mấy ổ Chà Chiện cũng sẽ lớn lên, và sẽ bay đi. 
Nắng, nóng quá, người ta chỉ trông một giọt mưa, một giọt mưa đầu mùa để cho ngọn cỏ đổi màu, và con mắt không còn nhíu lại. 
Hình như con nít lớn lên ở miền quê đứa nào cũng thích nuôi chim. Bắt con chim từ lúc còn nhỏ xíu, nhai gạo nát ra rồi cho chim ăn, nuôi từ lúc thật nhỏ con chim nó mới trung thành và không bỏ đi. Rồi đi đâu cũng để con chim đậu trên bờ vai, lâu lâu nó làm cái bẹt cũng phải ráng mà chịu! Nó để con chim đậu ở một cành cây rồi bước đi năm ba bước xong huýt sáo, đưa tay ra, thế là con chim bay về đậu, nó lấy làm thích thú. 
Nó hay táy máy và thích chơi với súng đạn. Mỗi lần nó lừa trâu vào gò Ðồn ăn, nó nghịch ngợm, hay nghịch ngợm lắm. 
Những năm đầu thập niên 60, Gò Ðồn có nhiều rẩy trồng khoai lan, khoai mì và đậu phụng. Khi chiều tối về heo rừng hay xuống ủi phá rẩy nên người ta làm bẩy để gài heo rừng. Ðúng ra là cái súng gài heo rừng. 
Người ta dùng một khúc gỗ cở bằng bắp chân và dài cở một thước, đẻo một đầu hình vuông và đầu kia nhọn để dể cắm xuống đất. Ở đầu vuông người ta khoét hai cái lỗ tròn. Một lổ lớn cở bằng đường kính của viên đạn ca- lip, xong gắn một ống sắt dài chừng vài gang tay làm nòng súng. Và một lổ nhỏ bằng đầu chiếc đủa con. Ðối diện với nòng súng người ta gắn cái bẩy đập sao cho cần đập đập ngay vào trung tâm ổ nòng súng. 
Chiều lại, khi mọi người đi làm trong núi đã ra về, người chủ súng lắp viên đạn ca- lip, loại có 9 đầu banh nhỏ vào nòng súng. Gài bẩy đập lên và giăng một sợi cước dọc theo chiều dài của đám rau lan, một đầu dây cước cột vào chốt bẩy đập qua lổ nhỏ trên súng. Khi heo rừng về phá phách, đi ngang vướn dây cước, giựt chốt bẩy đập và đập vào hột nổ viên đạn, đạn sẽ bắn ngay vào đầu heo. 
Khi trời sáng, trước khi mọi người vô núi, người chủ bẩy phải đi gở đạn ra. 
Mỗi lần vào gò Ðồn, lần nào nó cũng đến cái bẩy gài heo rừng mà phá. Nó gài dây lại, và làm con heo rừng ủi đám rau lan chun qua, mắt sợi dây giựt cái bẩy, cái bẩy đập cái cạch, nó cười khanh khách. 
Hôm đó nó cũng làm y chang, gài sợi dây lên. Nhưng nó không làm con heo rừng chun qua như mọi lần, mà nó đứng trước sợi dây, lấy cây roi kẹp giửa háng, búng sợi dây, một cái, không sập bẩy, hai cái, không sập bẩy, ba cái, RẦMMMM. Chết rồi … Cái bẩy đập vào hột nổ viên đạn ca- lip, nỗ …vang rền khu núi, xém một chút là lấy mạng con trâu nghé ăn bên đồi. Thì ra ông Sáu Hào sáng hôm đó chỉ gở cái chốt bẩy đập mà không lấy viên đạn ra. Thằng nhỏ sợ xanh mặt. Một lát anh nó vào thế coi trâu, nó không dám băng qua đồng Sa Băng mà vòng lên đường Cái Cát đi về. Ông Sáu Hào vô gặp anh nó lại quất cho mấy roi, nói là tội phá phách! Anh nó lảnh đạn cho nó một cách oan uổng! 
Trong làng nghe tiếng sung nỗ lớn, chắc là có chuyện gì rồi. Cha nó lật đật chạy vào gò Ðồn và xạc cho ông Sáu Hào một trận vì bất cẩn và vô trách nhiệm mà còn đánh đứa nhỏ nữa. 
Tháng Ba qua rồi, tháng Tư đến, những bờ xe nước bây giờ đang hoạt động. Suốt ngày đêm những bánh xe vẫn chạy không ngừng. 
Cái buổi ban đầu rất vui, nó dẫn đứa em ra tận đầu đường mương nước. Nơi mà những giọt nước được mang lên từ sông Vệ, đổ lên máng, chảy róc rách qua một cái máng thật dài qua bãi cát, rồi cuối cùng trút vào bờ mương. Anh em nó và một đám con nít nằm sẳn dưới bờ mương để chờ. Nước trên máng chảy xuống trắng xoá và đổ lên đầu những đứa trẻ, nó vui mừng, reo hò ầm ỷ. Xong rồi nó đứng lên chạy theo con nước, chạy mãi ra cánh đồng. 
Mương nước mấy tháng nay khô ráo, rác rến đầy dơ bẩn, bây giờ được tẩy sạch bởi dòng nước. Những gì dơ bẩn thì người ta lấy nước rửa cho sạch, nhưng nước dơ bẩn thì lấy gì rửa đây! Máu. Có người nói, nước dơ bẩn thì lấy máu để rữa sạch! 
Thế là cánh đồng lại trổi dậy sức sống. Những người nông dân lại mang trâu, bò, ra cày, bừa, xong rồi những đám mạ nỗi lên xanh rì. Người ta đi nhổ mạ mang ra ruộng để cấy, cánh đồng bây giờ là một rừng nón lá trắng phếu, nón lá của những người đi cấy lấy công. Màu cỏ khô, vàng cháy trên cánh đồng lại từ từ chuyển thành màu xanh tươi, đầy nhựa sống, như những cô gái xuân thì. 
Lúa đang lên, và gió mùa tháng Tư trở lại, từng cơn gió ướp lên ngọn lúa và cánh đồng như một dãy lụa phất phơi. 
Tháng Sáu tiển tháng Năm đi, rồi tháng Bảy đến. Cái tháng Bảy mà suốt đời anh em nó không bao giờ quên. 
Năm đó, Cha nó phải phá cái chuồng trâu để dời nhà anh Hai vào khu đất trong vườn. Chỉ vì miếng đất làng không hợp với tuổi vợ chồng anh Hai, tuổi Tuất, 1934, nên sinh ra đứa con nào mất đứa nấy. Vậy là trâu không có chuồng để ở. Cha nó phải mang trâu cầm trên Sân Ruộng, núi Ngang, đợi khi nào làm xong chuồng sẽ lùa về. 
Một hôm, nó dẫn em nó vào bìa cấm Ông Thi chơi. Ði đến ruộng Nhôm ở bìa cấm thì chị nó, người chị mới vừa lập gia đình cách đó không lâu, gọi anh em nó lại, hái dưa hấu, bẻ mía cho ăn, và bảo: 
– Hai đứa lên Sân Ruộng lùa trâu về dùm cho chị nhe. 
– Chi vẩy chị Năm? 
– Thì để cày chứ chi. 
– Chị mà cày cái gì, sao không nói anh Năm ảnh cày cho. 
– Cái thằng mắt dịch nầy nói lải nhải gì nữa đây! 
– Nhưng mà chuồng trâu làm chưa xong mà. 
– Cha nói xong rồi, hai đứa ăn xong rồi đi dùm cho tui đi. 
Hai anh em nó bổ dưa ra ăn, xong rồi ôm mấy cây mía ra đi, chị nó nói theo: 
“Nhớ nghe hông, lên lùa trâu về cho chị đó.” 
Nó không trả lời mà cũng không ngó lại mhìn khuôn mặt lo lắng của chị nó lúc đó như thế nào. Nó dẫn đứa em đi, vừa đi vừa xước mía, nó cũng định lên Sân Ruộng lừa trâu về để trả nợ mấy khúc mía và trái dưa hấu mà chị nó “hối lộ” cho hai anh em nó. 
Khi tới ngã ba con suối, một nhánh chảy xuống từ hố Trầu, một nhánh chảy xuống từ hóc Tre, và một nhánh chảy vào đập Làng. Nó lấy nón lá đến bên cái mạch, dòng nước trong veo đang nhoi lên từ trong lòng đất, nó múc lên cụm nước để uống. Nhìn lên, nó thấy con đường lên núi sao mà rậm rạp, âm u qúa. 
Trời sắp mưa, mà mỗi lần lên Sân Ruộng nó phải đi qua con đường âm u nầy, lần nào nó cũng sợ nhất là khúc đường núi ngắn ngũi nầy. Tự nhiên lòng nó sợ, nó bèn dẫn em đi thẳng vào hóc Tre chơi. 
Hóc Tre lúc nào cũng vậy, có con suối nước chảy róc rách, có những lùm tre già ngổn ngang, và xoài núi. Những cây xoài cơm thật lớn, vào mùa trái ra xum xê, nó thường leo lên hái ăn. Hóc Tre có hòn đá bạc bên cạnh cây xoài mà ngày nào đến đó nó cũng trèo lên hòn đá bạc to khổng lồ. Bên cạnh hóc Tre là một cánh đồng lúa gieo, với những hình người nộm dựng bên những cái mõ, gõ suốt ngày đuổi chim. Khi gió thổi, những chong chóng của cái mõ quay tít trên cái trục mõ, và cứ thế, hai cục gõ thay phiên nhau gõ trên mõ lóc cóc lóc cóc, đuỗi chim lúa bay đi. 
Nhưng nó thích đi vào hóc ông Thuần để nằm trên những tảng đá to, và bằng riếng dưới hàng cây cau xanh rì. Trời buổi trưa gió hiu hiu thổi, anh em nó nằm ngủ trên tảng đá bên cạnh cánh cánh rừng. 
Những người con ông Thuần lúc nào cũng có trong rẩy, thân hình họ bậm trợn với bắp tay cuồn cuộn, có lẽ lúc nào cũng lao động nên mới được như vậy. Có điều là mỗi lần cần nấu ăn, hay đốt cái gì là mấy người thanh niên lực lưỡng đó đi kéo lửa hay lắm. Họ chỉ dùng hai thanh tre khô, một thanh gắn chặt lên mặt đất hay cái bàn, thanh kia đặt nằm ngang với góc 90 độ. Rồi lấy hai tay kéo lên kéo xuống thật lẹ, một hồi thì hai thanh tre nóng lên vì cọ xát, lấy buì nhùi để vào là sẽ bật cháy ngay. 
Luồn mây đen lúc nảy kéo đến càng lúc lại càng đen hơn, rồi gió thổi, mây di chuyển, bầu trời đen tối. Giọt mưa bắt đầu rơi. 
Những giọt mưa đổ xuống, và gió mang đi tạt lên cánh rừng nghe rào rạt. Dường như tất cả sinh hoạt nơi đây đều dừng lại, chỉ trừ hạt mưa, vẫn rơi. 
Không biết từ đâu, nhưng mỗi lần mưa rừng về sao nó thấy buồn ơi là buồn. Ðối với nó chỉ có sự linh động, sự linh động của con người, của chim chóc và của những cái như thằng mõ mới tạo nên sự sống của những người sống miền sơn cước. Nhưng dưới cơn mưa những linh động đó coi như đã bị tê liệt, và cuộc sống nơi đây cũng trở thành buồn tẻ. 
Nó cùng đứa em đứng trú mưa trong một căn chòi lợp bằng lá, mưa không lớn hơn nhưng cũng không chịu ngừng lại, nó đành phải dẫn em ra về dưới cơn mưa. 
Hôm sau anh em nó trở lại ruộng Nhôm, lại gặp chị nó: 
– Trâu đâu? 
– Hôm qua trời mưa em không lên đó được. 
– Vậy thì hôm nay trời không mưa hai đứa đi cho chị nhe. Ðây nề, dưa hấu và mía chị cho hai đứa nề, ăn rồi đi lừa trâu về dùm chị. 
Nó lại ngồi xuống mổ dưa ra ăn, trái dưa hấu chín đỏ, ngọt lịm. Ăn xong nó lại xách mía dẫn đứa em ra đi. 
Hôm nay trời còn sớm, mới mười hai giờ trưa mà anh em nó đã đến ngã ba con suối. Nó nhìn em và hỏi: 
– Ði hông? 
– Ăn mía, ăn dưa hai ngày rồi, không đi sao được. Em nó nói. 
Vậy là anh em nó thui thủi bước vào con đường rậm rạp âm u bắt đầu lên núi. Nó đi trước và em nó lủi thủi theo sau. Khúc đường chưa được 500 thước mà nó sợ tái mặt, vì hai bên là những bụi sưng, bời lời cao lớn và đan nhau chằng chịt phủ đầu. Lên khỏi khúc đường nầy thì con đường trở nên quang đảng sáng sủa. Hai bên lối đi chỉ có những bụi chà là, sim, và những bụi cây rừng mọc lòi còi. Ít ra nó cũng nhìn thấy được ánh mặt trời. Nó dẫn em nó lại hòn đá bàn, bằng riếng như cái bàn, trèo lên ngồi chơi. Nó nhìn xuống tháy cấm Ông Thi và ruộng Nhôm bên cạnh. 
Lúc nầy em nó cũng ít nói. Hai anh em đi giữa rừng núi hoang vu, không một bóng người, chỉ có cây rừng và rừng. Nó vác cái rựa đi trước, một hồi em nó nói: 
– Thôi, đi xuống anh Long, tui sợ quá. 
Từ đây đến Sân Ruộng khỏang hơn một cây số nữa. Nó nói: 
– Ði tới đây rồi, xuống sao được, em ráng đi một chút nữa đi, sắp đến chỗ trâu ăn rồi, gì đâu mà sợ. 
Có lẽ cảnh rừng núi hoang vu làm em nó sợ. Và cái sợ trở thành giây chuyền, nhưng nó nghĩ làm lớn nó phải cứng rắn lên. Rồi hai anh em nó tiếp tục đi tới. Cảnh rừng núi bao la mà anh em nó lại nhỏ bé, vừa đi nó vừa nhìn láo liên chung quanh. 
Qua khỏi hòn đá bàn một khúc là tới đầu hố Gà. Con đường xuống hố thật là dốc, và càng vô sâu trong hố thì càng âm u. Ỏ đây thỉnh thoảng có những con nai, mang, đi ăn, vừa thoáng thấy bóng người là nó nhảy vọt qua bụi chà là, coi như biến mất. Cũng tại đầu hố nầy nó phải lựa chọn: nếu đi thẳng thì sẽ lên Sân Ruộng trong, nếu quẹo trái đi về hướng hố Sâu thì sẽ đến Sân Ruộng ngoaì. Sân Ruộng trong và ngoài chỉ cách nhau một cái gò nhỏ, gò ông Phụng, trâu có thể đi qua đi lại dể dàng. Sân Ruộng trong cỏ tốt hơn và có nhiều nước trâu lăn, nên nó quyết định đi thẳng. 
Nó dẫn em đi gần đến chân hố Sâu. Từ chân hố Sâu đến Sân Ruộng trong không qúa 400 thước, nhưng con đường đi rất rậm rạp. Những bước chân anh em nó bắt đầu chậm lại, cảnh vật chung quanh dường như bao trùm một bầu không khí khó thở. Nhìn lên trời nó thấy mây đen bay về, ánh nắng yếu ớt soi qua áng mây xám, in bóng cây lên nền đất về hướng Ðông, dường như mưa rừng sắp đổ. 
Nó nhìn lại sau lưng thấy bước chân em nó dừng lại, với khuôn mặt đầy cương quyết, em nó nói: 
“Thôi, anh muốn đi thì đi một mình đi, tui không đi nữa.” 
Nó cũng đứng lại, muốn nói em ráng đi một chút nữa là đến chỗ trâu ăn, nhưng tự nhiên sao nó cũng thấy sợ, sợ cái cảnh hoang vắng của rừng núi. 
Ngày xưa nó thường lên Sân Ruộng với anh chị lớn nên nó không sợ, nhưng hôm nay, hôm nay có cái gì là lạ! Rồi không ép buộc em nó nữa: 
“Thôi, xuống thì xuống.” 
Vậy là anh em nó quay đầu lại đi xuống núi một mạch không dám ngó lại. Em nó đi trước nó đi sau, hai đứa chạy lúp xúp. 
Khi vào khúc rừng rậm thì mưa cũng bắt đầu nhỏ hột. Những hột mưa rừng càng làm nó sợ thêm. Hai đứa lật đật chạy xuống cho lẹ. Khi đến ngã ba con suối nó mới hoàn hồn và hết sợ. 
Vậy là chuyến đi không thành, nó dẫn em nó trở về tay không. 
Chạn vạng hôm đó anh em nó ngồi ăn cơm với gia đình, cha nó hỏi: 
“Hai đứa có lên Sân ruộng lừa trâu về cho chị không?” 
Nó thuật lại câu chuyện đến nửa đường bỏ về, cha nó không tin: 
“Hai đứa đi vào hóc Tre bắt chim bắt chuột chơi phải không?” 
Ăn tối xong, cha nó ra bờ rào vi canh gác với những người dân làng. 
Khi trời chập choạng tối, những người trong chòi canh phát hiện những bóng đen chạy thình thịch trên cánh đồng và càng lúc những bóng đen đó càng gần bờ rào vi hơn. Những người canh gác đã mỡ chốt lựu đạn chờ sẳn. Những bóng đen càng lúc càng gần bìa làng, và chỉ còn vài chục thước nữa là sát bờ rào vi. 
Cha nó phát hiện những bóng đen đó là đàn trâu, và la lên, nên lựu đạn được cất vào! 
Những con trâu đem xám bây giờ đã đứng ngay cổng bờ rào vi, cha nó ra mở cổng nhưng cổng đã khóa chặt. Rồi anh Hai nó phải dùng búa đập bể ổ khóa, những con trâu lật đật chạy vào làng, nó vẫn còn sợ, rất sợ. Bầy trâu chạy một mạch về chuồng. Khi thấy chuồng mới, lạ nó không dám vào, nhưng rồi chúng nó cũng phải vào. Không biết đến bao giờ nó mới hoàn hồn. Cha nó đếm thì thấy mất hai con trâu nghé! 
Vậy là hai con trâu nghé kia bị làm mồi cho cọp! 
Bầy trâu bị cọp chận trên Sân Ruộng từ hồi chiều, chờ đến tối mới chụp. Những con lớn khoẻ mạnh, chạy lẹ nên mới khỏi nanh móng của cọp. Hai con trâu con chạy không khỏi nên đành bỏ mạng! 
Cha nó vào nhà ôm hai đứa con mà lòng thổn thức, không nói một lời. 
Sáng ngày hôm sau một đoàn người lên núi tìm xác hai con trâu. Khi đến Sân Ruộng ngoài thì thấy xác một con trâu vẫn cò nguyên, con kia chỉ còn lại hai cái sừng. Rồi anh nó đem hai quả lựu đạn, dùng thịt trâu còn lại để giữa hai bụi cây cách nhau vài thước, mở chấu lựu đạn, đặt trong hai cái ống tre trong bụi rồi mắc vào sợi dây, cột vào đống thịt. 
Tối đêm hôm đó, khi mặt trời vừa lặn khỏi chân núi thì người dân trong làng nghe một tiếng nổ rền trời. Một tiếng nổ của hai trái lựu đạn. 
Ngày hôm sau đoàn người lại lên Sân Ruộng để tìm xác cọp! Hai quả lượu đạn nổ dội con cọp ra xa mười thước, mười thước mới thấy vết máu. Vậy mà không thấy xác con cọp! Rồi từ đó nó đi lên dông núi qua phía Nghiã Phú, nó vòng lên Gành Vườn, qua Mễ Sơn. Và một tháng sau, những người đi cắt tranh bên Mễ Sơn lượm được xác con cọp! 
Những năm 63, 64 núi rừng bị động, cọp nó về nhiều hơn, và quấy nhiểu dân làng. 
Ngày hôm sau anh em nó ra đường Cái Quan, nhìn vào khu rừng trước mặt, nó vẫn còn sợ. Rồi cơn mưa lại đổ, mưa trên đồng và mưa trong rừng. Giọt mưa nào buồn, và, giọt mưa nào cứu mạng anh em nó! 
Mưa rừng ơi! Mưa rừng!