Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Erich Maria Remarque được mưởi sảu tuổi khi thế chiến thứ nhất bùng nổ. Bị động viên, bị thương năm lần, ngay từ trong chiến lũy ông đã mang tư tưởng hiếu hòa. Chính tâm trạng này đã là nguồn cảm hứng cho cuốn tiều thuyết trử danh hoàn vũ của ông là cuốn MẶT TRẬN MIỄN TÂY VĂN YỀN TĨNH được in ra tám triệu bản trước khi bị bọn quốc xã ra lệnh thiêu hủy còng khai. Trong thời thế chiến thứ hai ông cư ngụ tại Hoa Kỳ. Các tác phẩm khác của ông như ĐẢO HY VỌNG, TIA LỬA SỐNG và KHẢI HOÀN MÔN đều nói đến các tai họa của chiến tranh củng sự suy sụp của văn minh tại Âu Châu hiện đại.

Kinh Thi in lần thứ nhất 1973

Cuốn sách này không phải là một lời buộc tội cũng chẳng phải là một lời thú tội, lại càng chẳng phải là một chuyện phiêu lưu, vì cái chết đâu còn là một chuyện phiêu lưu đối với những kẻ đã đứng đối diện với nó. Nó chỉ nói đến một thế hệ của những con người mặc dầu đã may mắn tránh khỏi các bom đạn của chiến tranh vẫn bị chiến tranh tiêu diệt.

Chúng tôi nghĩ xã hơi năm đặm thay phiên và giờ đây bụng ních đầy thịt bò nấu đậu, Thế là đã đời và thoải mái. Mỗi thằng lại được thẻm một hộp thức ăn đầy ắp cho bữa tối; và hơn nữa lại được cả một khầu phần đúp xúc xích bánh mì. Thế bảo sao không khoái. Đã lâu lắm mới được tổ đãi như thể. Thằng hỏa đầu quân tóc đỏ như cà-rốt mời mọc mấy thắngăn; dơ muôi chào mỗi tên đi qua và múc cho mỗi tên một muôi tương. Hắn không biết phải làm sao sau tiền tuyến. Hôm qua chúng tôi được để kịp đun nước pha cà – phê. Tjaden và Muller hai thằng còn đưa chậu rửa mặt ra múc đầy đến miệng để dành. Thằng Tjaden vốn ăn như vàm, còn thằng Muller vốn tính hay phòng xa. Không hiều thằng Tjaden nó ngốn sao cho hết là cả một sự lạ, vì nó hiện giờ và lúc nào cũng cứ gầy như que tăm. Điều đáng kể hơn nữa là lại còn được hai khẩu phần thuốc hút. Mười điếu xì-gà, hai-mươi điểu thuốc lá và hai mồi thuốc nhai mỗi thằng; thế mới là biết điều chứ. Tôi đỗi thuốc nhai cho thắng Katezinsky lấy thuốc lá, thế là tôi có bốn chục điếu cả thảy. Một ngày mà được thế kể cũng đầy đủ. Đúng ra thi chúng tôi đâu được hưởng của trời cho này. Dân Phổ có bao giờ mà rộng rãi. Chẳng qua cũng là nhờ một sự tính lầm. Hai tuần trước kia chúng tôi phải ra thay phiên ngoài tiền tuyến. Khu vực chúng tôi khá yên tĩnh, nên cái nhà ông quân nhu ở hậu phương mới biện ra số khẩu phần thông dụng cho một đại đội đầy đủ một trăm rưởi tên. Nhưng vào ngày cuối chả hiểu tụi Anh lôi đầu ra đến lắm đại bác nã vào vị trí chúng tôi liên hồi, khiến chúng tôi tồn thất nặng nề nên khi trở về còn vỏn vẹn tám chục tên. Hôm qua chúng tỏi rút lui tìm chỗ đánh một giấc cho khỏe xác, thằng Katczinsky nói đúng khi nó bảo rằng cuộc chiến này cũng không đến nỗi tệ nếu như được ngủ thêm đôi chút. Ngoài tiền tuyến chúng tôi hầu như không được ngủ tí nào, và một hơi mười bốn ngày không ngủ kể cũng lâu đấy chứ. Thằng đầu tiên bò ra khỏi giường thì cũng vừa trưa. Nửa giờ sau mỗi thằng một hộp thức ăn tụ tập dười bếp sặc mùi mỡ bổ béo. Đứng đầu hàng dĩ nhiên là thằng háu đói nhất – thằng choắt Albert Kropp, thằng có đầu óc nhất trong bọn tôi và do đó là thằng đầu tiên được vinh thăng hạ sĩ ; Muller, vẫn na theo mình các sách giáo khoa, mơ tưởng thi cử, và trong lúc bom dội xuống vẫn lầm nhầm các mệnh đề vật lý; Leer, để râu xồm xoàm chỉ khoái mấy ả điểm dành cho các sĩ quan. Thứ tư là thằng tôi, Paul Baumer. Cả bốn  thằng đều mười chín tuổi, cả bốn thằng đồng lứa tình nguyện nhập ngũ chiến đấu. Nối đuôi chúng tôi là mấy thằng bạn: Tjaden, thợ chữa khoá, đồng tuổi chúng tôi. gầy như que tăm, ăn khoẻ nhất đại đội. Ngồi xuống ăn nó gầy như con châu chấu, ăn xong đứng lên nó cũng chỉ vừa to bằng con rệp cái có chửa; Haie Westhus, cũng đồng cảnh, phụ đào than bùn có thể một tay nắm gọn cả khẩu phần và nói: Đố biết trong tay tôi có gì; rồi Detering, một anh dân quê, chả nghĩ đến gì khác là vườn tược mình với con vợ mình: và sau hết là Stanislaus Katczinsky, tay cầm đầu nhóm chúng tôi, khôn ngoan, ranh mãnh tháo vát, bốn chục tuổi, mặt màu đất, mắt xanh, vai khom khom và tài đánh hơi trời mưa trời gió, thức ăn ngon và công việc khỏe. Găng chúng tôi dứng đầu hàng trước nhà bếp. Chúng tôi bực mình vì thằng cha đầu bếp không đếm xỉa gì đến chúng tội cả. Mãi rồi Katczinsky mởi gọi hắn ta, «Này, Heinrich, khai nồi súp đi thỏi chứ. Ai mà chả thấy dậu nhữ rồi.» Hắn ta lắc đầu ngái ngủ: «Đợi chúng đến đông đủ cái đã. » Tjaden nhe răng: «Chúng em đã đến đủ mặt rồi ạ.»

Bác trung sĩ hỏa đầu vẫn không thèm để ý. «Mấy chú đã đành,» hắn ta nói, «Nhưng còn mấy tụi kia đâu? »

«Hôm nay trung sĩ khỏi lo nuôi chúng. Chúng không ở trạm cứu thương thì cũng đi bón hoa rồi. »

Bác đầu bếp chưng hửng khi nhớ ra. Bác trố mắt lảo đảo. «Thế mà tao nấu cho trăm rưởi thằng ăn. »

Kropp thọc sườn bác. «Có thế chúng em mới được nhen vào bụng. Trung sĩ cho khai trương thôi chứ! »

Bỗng một viễn ảnh đến với Tjaden. Khuôn mặt chuột nhắt của nó sáng hẳn lên, hai mắt híp lại khoải trá, hai hàm đã nhai trèo trẹo và se sẽ hỏi giọng khàn khàn: «Ái dà! thế Trung sĩ cũng có bánh đủ cho trăm rưởi thằng chứ?»

Bác trung sĩ hỏa đầu gật, chưa hết bang hoàng.

Tjaden nắm áo hắn ta. «Cả xúc xích chứ? »

Hắn ta lại gật.

Tjaden rung rung đôi mả. «Cả thuốc lá? »

«Ử, cả mọi thứ. »

Tjaden hớn hở; «Tha hồ mà ăn đậu!

Chúng mình được hưởng trọn 1 Mỗi thằng được-để tao tính xem u,-gần hai khẩu phần».

Lúc đó Ginger mởi chợt tỉnh và nói:

«Đâu được? »

Chúng tôi sướng quá quay cả lại.

«Sao mà không được, hử lão cà-rốt?

Katczinsky hỏi.

«Tám chục thằng mà đòi ăn của trăm rưởi thằng. »

«Để rồi xem.» Muller gầm gừ.

«Món hầm thì đã đành, còn thì tao chỉ phát tám chục khẩu phần, thế thôi, »Katczinsky nổi cáu. “Mày xài lớn một lần thử coi. Mày đâu có xin khẩu phần cho tám chục thằng. Mày xin cho Đại đội Hai cơ mà, Phải không? Thì để cho chúng tao. Chúng tao là Đại đội Hai. »

Chúng tôi thúc hắn. Chả ai ưa hắn ta, vì chinh tại hắn ta mà hai lần ở ngoài tiền tuyến chúng tôi bị tiếp tế chậm đã thế lại nguội tanh, Hễ có đại bác nã là hắn không chịu chuyền bếp núc lên cho gần, làm xe súp phải đi xa đường hơn là các đại đội kia. Chả bù với lão Bulcke của Đại đội Một bảnh hơn nhiều. Tuy béo ủn ỉn như con đại thử mùa dông, mỗi lần tiền tuyến chuyển là lão chuyển nồi niêu theo đúng mức. Chúng tôi đã cáu sườn, may có ông đại đội trưởng đến, bằng không thế nào cũng có tên än bụi. Ông nghe thủng chuyện rồi chỉ nói vỏn vẹn, «Ừ, hôm qua mình tồn thất nặng. »

Ông nhìn vào nồi, «Đậu trông ngon đấy chứ. »

Ginger gật. «Chuyện, hầm với thịt bò và mỡ mà lại. »

Trung úy nhìn chúng tôi. Ông biết chúng tỏi nghĩ gì. Òng còn rành nhiều cải nữa kia, vì xuất thân vào đại đội từ cấp hạ sĩ lên. Ông nhắc vung hít hà. Đoạn ông nói: «Có bao nhiêu phát tuốt. Chả sao. Và cho tôi một đĩa đấy nghe. »

Ginger trong tiu nghỉu trong khi Tjaden nhảy múa quanh hắn.

«Trung sĩ có mất mát gì! Cứ làm như thể quân tiếp vụ là của riêng minh không bằng!

Thôi giờ thì khai trương đi chứ, ông thần giữ của. Và nhớ đừng đếm lộn đấy. »

«Thằng chết tiệt! » Ginger rủa. Hắn được cái hễ không chịu nổi là giơ tay hàng liền, trông hắn đến tang thương. Và làm ra vẻ muốn sao cũng được cần quái gì, hắn tự ý mang nửa ki mật nhân tạo ra phân phát đều cho chúng tôi. Ngày hôm nay thật là tuyệt. Thư từ lại đến, và hầu như tên nào cũng có đến hai lá thư.

Kropp mở một lá. «Ông Kantorek có lời hỏi thăm cả bọn. »

Chúng tôi cười xòa. Muller vứt điểu thuốc nói: «Phải chi có ông ta ở đây. »

Ông Kantorek vốn là thày dạy học chúng tôi. Người nhỏ bé, hiếu động, hay mặc chiếc áo đuôi tôm màu xám, mặt như mặt chuột nước. Tác người cỡ lão Hạ sĩ Himmelston, «Hung thần Klosterberg». Kể cũng lạ thường thì những con người nhỏ thỏ lại là những kẻ làm thế giới đau khổ. Họ cương nghị và cố chấp hơn những  người to xác. Tôi lúc nào cũng tránh những đội lại có những ông đội trưởng nhỏ con. Phần lớn là những kẻ khắc nghiệt đếch chịu được. Trong giờ thực tập Kantorek không ngớt tràng giang đại hải thuyết phục chúng tôi kỳ cho đến khi cả lớp theo ông đến ông Tổng trấn tình nguyện nhập ngũ. Tôi nhớ lại cái hình ảnh lão la trừng mắt nhin từng thằng chúng tòi qua đôi mục kỉnh rồi hỏi với một giọng xúc động: «Thế nào các chiến hữu, ta nhập ngũ chứ?»

Mấy lão thầy này lúc nào cũng thủ sẵn quan niệm họ trong túi áo họ và moi ra bất cứ giờ nào. Nhưng lúc ấy chúng tôi đâu nghĩ thế. Thật vày, trong bọn chúng tôi có thằng do dự khòng chịu đầu quân. Đó là thằng Josef Behm mập mạp, xấu xí. Nhưng mà rồi cũng phải theo, bằng không cũng chẳng sống yên. Có lẽ chúng tôi cũng nhiều thằng nghĩ như nó, nbưng chả thằng nào dám ra mặt, vì ngay lúc ấy đến cha mẹ mình cũng còn mở miệng là chê “hèn nhát’; chả ai hiểu chút mô tê gì là tại sao mình lại đâm đầu vào. Kẻ nghèo khở khạo lại là kẻ khôn ngoan nhất. Họ biết chiến tranh chỉ là tai hoa, trong khi những người có của ăn của đề lại hân hoan ra mặt, mặc dầu lẽ ra họ phải là những người cỏ đủ khả năng hơn đề nhận định được các hậu quả ra sao.

Katczinsky cho đó là lại vì nền giáo dục của họ. Nó làm họ ngu xuẩn. Và Kat đã nói gì là bác ta đã suy nghĩ chín. Kể cũng lạ, Behm lại là thẳng ngã gục đầu tiên. Nó bị bắn trúng mắt trong cuộc chạm súng, và chúng tòi đành bỏ nó lại coi như là đã chết. Chúng tỏi không thể vác nó theo, vì đã phải tháo lui trong hổn loạn. Chiều đến chúng tôi bỗng nghe tiếng nó gọi và thấy nó ở bên ngoài bò về pbía chúng tôi. Nó chỉ ngất đi. Vì nó không thấy, và đau như điên, nên không biết đường ẩn, nên nó bị bắn hạ trước khi chúng tỏi kịp ra dìu nó.

Dĩ nhiên chúng tòi không thể đổ lỗi tại Kantorek. Đời làm sao mà sống nổi nếu cứ mỗi chút lại trách móc người này người kia? Có hàng ngàn hàng vạn Kantorek, kẻ nào cũng tin rằng chỉ có độc một con đường đúng là con đường của mình. Và chính vì thế họ làm khổ ta. Đối với chúng tói những thẳng mới mười tám tuổi đầu, lẽ ra họ phải là những người hòa giải hướng dần đến cái thể giới trưởng thành, cái thế giới công tác, nhiệm vụ, văn hóa, tiến bộ – đến tướng lai. Chúng tôi thường chế riễu họ, đùa nghịch họ, nhưng trong lòng vẫn tin tưởng họ. Trong đầu óc chúng tôi, quan niệm uy quyền, mà họ đại diện, tắt đi đôi với một sự nhận xét sâu rộng hơn và một sự khôn ngoan chín chắn hơn. Nhưng cái chết đầu tiên mà chúng tôi chứng kiến đã lám tiêu tan sự tin tưởng này. Chúng tôi phải công nhận rằng cái thế hệ chúng tôi đáng tin hơn là thế hệ họ. Họ chỉ hơn chúng tôi về môn ăn nói về cách khéo xử. Cuộc oanh tạc đầu tiên cho thấy là chúng tôi lầm và dưới bom đạn cái thế giới mà họ dạy chúng tôi xưa nay cũng tan vụn. Trong khi họ viết họ nói thì chúng tôi nhìn những kẻ bị thương những kẻ hấp hối. Trong khi họ dạy rằng nhiệm vụ đối với đất nước là nhiệm vụ cao quí nhất thì chúng tôi đã biết rằng những cái quằn quại đau đớn khi chết còn mạnh hơn. Nhưng bất chấp mọi sự ấy chúng tôi không làm loạn, không đào ngũ, không hèn nhát-họ tha hồ lạm dụng các danh từ này. Chúng tôi yêu đất nước không kém gì họ, chúng tôi can đảm đi hành quân, nhưng chúng tôi phân biệt dược thế nào là nguy thế nào là chán, bỗng nhiên chúng tỏi đã học được cách thấy. Và chúng tôi thấy rằng cái thế giới của họ còn lại được gì. Thế là chúng tôi bỗng cảm thấy cô đơn kinh khủng và chúng tôi phải cô đơn nhìn đến tận cùng.

Trưởc khi đi thăm Kemmerich chúng tôi gói ghém các đồ của nó lại, khi về nó sẽ cần đến. Trạm cứu thương thật là nhộn nhịp, khi nào cũng sặc mùi thạch thán toan, ê-te và mồ hôi. Phần đông chúng tôi đã quen với các mùi này ngay ở nhà trọ, nhưng ở đây sặc đến muốn ngất. Chúng tôi hỏi tên Kemmerich. Nó nằm trong một căn phòng lớn và đón chúng tôi với một niềm vui yếu ởt và dây dưa bất lực. Khi nó bất tỉnh kẻ nào đã nâng mất của nó chiếc đồng hồ. Muller lắc đầu: «Tao đã dặn mày nhiều lần là không ai lại mang theo một chiếc đồng hồ tốt như thế.» Muller vốn sổ sàng bạ đâu nói đấy, bằng không nỏ đã không nói, vì không ai không thấy rằng Kemmerich sẽ không bao giờ còn ra khỏi nơi đây. Thấy đồng hồ hay không cũng vậy thôi. Giỏi lắm thị cũng chỉ gửi trả cho nhà nó là cùng.

«Sao đỡ không, Franz? » Kropp hỏi. Kemmerich ngoẹo đầu.

«Cũng đã đỡ … nhưng chân tao đau muốn chết. »

Chúng tôi nhìn vải giường. Chân nó nằm dưới một cái rổ lưới thép. Vải giường trùm lên rổ. Tôi đưa chân đá cẳng thằng Muller vì nó đã toan nói thẳng Kemmerich nghe những gì bọn y tá ở ngoài kia cho chúng tôi hay rằng Kemmerich đã mất chân, Chân đã bị cưa. Trông nó nhợt nhạt, vàng vọt và yếu lả. Trên mặt đã hiện ra những đường căng thẳng mà chúng tôi quá biết, giờ đây chúng tôi đã thấy hàng trăm lần. Đúng ra là những dấu vết hơn là đường. Dưới lớp da, mạch sống không còn, mà đã dồn cả ra ngoời ranh giới của thân thể. Cái chết từ trong ăn ra. Nó đã hiển hiện trên đôi mắt. Nằm đây là thằng Kemmerich, thằng bạn chúng tôi, vừa mới đây còn nướng thịt ngựa với chúng tôi và ngồi xồm trong các hố đạn. Nó còn đây tuy nhiên không còn là nó nữa. Nét mặt của nó đã trở thành mờ ảo nhợt nhạt, như một kính ảnh chụp hai lần. Ngay cả giọng nữa nghe như tro. Tôi nhớ cái lúc chúng tôi ra đi. Mẹ nó, một bà mập mạp phúc hậu, đưa nó ra ga. Bà khóc không ngớt, mắt bà sưng hẳn. Kemmerich cảm thấy ngượng nghịu vì trông bà thiểu não hơn hết mọi người, bà chỉ còn là mỡ vởi nước, Bà chợt nhìn thấy tôi, bà niu lấy tôi. Níu đi níu lại, khẩn khoản tôi ra đó hãy trông nom thằng Franz hộ bà. Quả thật, mặt nó trông non choẹt và xương cốt yếu đến nỗi sau bốn tuần vác ba-lô chân nó bước còn chưa vững. Nhưng ở ngoài chiến địa ai mà tròng nom được ai kìa!

«Giờ thì bồ sắp về nhà rồi, » Kropp nói.

«Bằng không ít ra cũng phải ba bốn tháng mới được nghỉ phép. »

Kenimerich gật. Nhìn hai bàn tay nó tôi không chịu nổi, giống như sáp. Dưới móng tay còn dính đất chiến  hào, trông xanh đen như thuốc độc. Tôi lấy làm lạ là các móng tay này vẫn tiếp tục mọc như các cây kỷ lạ mọc trong các hầm rượu, mọc dài sau khi Kemmárich đã hết thở từ lâu và cùng vời các móng nay là tóc trên cái sọ dừa đã mủn, giống như cỏ mọc trên đất tốt, giống như cỏ vậy, không hiểu tại sao.

Muller củi xuống. «Chúng tớ mang theo các đồ của bồ đây này, Franz. »

Kemmerich đưa tay ra hiệu. Nhét xuống dưới gầm giường. »

Muller làm theo. Kemmerich lại nhắc đến chiếc đồng hồ. Nhưng làm sao dỗ được nó mà đừng làm nó nghi ngờ? để lại đây cũng không ổn, chết là tụi y tá chớp liền.

Muller lại xuất hiện với một đôi bốt phi công. Bốt Anh thật đẹp bằng da mềm mầu vàng lên đến đần gối và dây buộc – trông ai cũng phải mê. Muller ngắm có chiều thích thú. Hắn cầm để đôi bốt so vởi đôi bốt tang thương của hắn và nói: «Bồ mang chúng theo chứ, Franz? »

Cả ba thẳng chúng tôi đều chung một ý nghĩ, dủ cho nó khỏi nó cũng chỉ dung được một chiếc – thế có ích gì. Tuy nhiên di nhiên nó nói:

«Đề chúng tở giữ hộ bồ nhé? » Muller nói.

Kemmerich không bằng lòng. Đôi bốt là của nó quí nhất.

«Vậy thì ta đánh đổi vậy, » Muller lại đề nghị. «Ngoài kia dùng thì tốt. » Kemmerich vẫn không khứng. Tôi dẫm chân Muller; hậm hực nó đút đỏi bốt xuống gằm giường lại. Chúng tôi trò chuyện thêm một lúc rồi cáo từ.

«Can đảm lên, Franz. »

Tôi hứa sáng tôi lại đến. Muller cũng nói thế. Hắn nghĩ đến đỏi bốt buộc dây và muốn đến kịp thời. Kemmerich rên rỉ. Nó sốt. Chúng tôi túm được một anh y tá ở ngoài phòng và nhờ hắn tiêm cho Kemmerich một mũi mọc-phin. Anh ta không chịu, «Ai cũng đòi tiêm mọc phin thì rồi đào đâu ra … »

« Anh chỉ có chu đáo với sĩ quan thôi nhỉ, » Kropp nói kháy.

Tôi vội can thiệp và mời anh ta một điếu thuốc. Anh ta cầm lấy.

« Vậy thường anh được phép tiêm chứ? » tôi hỏi anh ta.

Anh bực mình. « Nếu anh không cho là thế thì anh hỏi làm gì? »

Tôi nhét thêm hai điếu vào tay anh.

« Chỗ anh em với nhau cả mà. »

« Được rồi không sao, » anh ta nói,

Kropp đi theo anh vào. Nó không tin anh la và muốn mắt thấy kia. Chúng tôi đợi bên ngoài.

Muller trở lại câu chuyện đôi bốt. « Chân tao đi vừa lắm. Đi đôi này hết phỏng lại phỏng. Mày liệu nó có qua nổi đến ngày mai sau giờ tập không? Nếu nó lại tịch đêm nay thì mình biết đôi bốt ở đâu rồi. »

Kropp trở lại. « Mày liệu? » nó hỏi.

« Lúa rồi, » Muller nói ra vẻ.

Chúng tôi trở về lều. Tòi nghĩ đến bức thư phải viết cho mẹ Kemmerich. Tôi lạnh người. Phải uống chút rum mởi xong. Muller bứt cổ nhai. Bỗng thẳng choắt Kropp quăng điểu thuốc, lấy chân dí dí giận dữ, và nhìn quanh với vẻ mặt bực bội thẫn thờ, lầm bầm:

« Đồ chó đẻ, đồ chó đẻ! »

Chúng tôi đi bộ một hồi lâu. Kropp đã nguôi cơn giận; chúng tôi hiểu: hắn nổi đóa, ngoài này ai cũng có lúc như vậy.

«Lão Kantorek viết gì cho mày? »

Muller hỏi.

Nó cười. a Chúng mình là Thanh niên Sắt»

Cả ba thằng chúng tôi mỉa mai cười chua chát. Kropp gằn giọng: nó hả hê mình dược nói ra.

Phải, họ nghĩ thế đấy, hàng vạn hàng ứe Kantorek! Thanh niên Sắt. Thanh niên. Chúng mình chưa thầng nào ngoài hai mươi. Nhưng trẻ? Thanh niên? Xưa rồi. Chúng mình là dân cũ rồi.

Viễn Thám

Lâm Chương

Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Bảy thằng Viễn Thám chúng tôi được trực thăng vận vào vùng hành quân. Theo kế hoạch, giữa trưa sẽ nhảy xuống khu rừng giáp ranh đồn điền cao su Choup, thuộc lãnh thổ Kampuchia. Nhưng mấy thằng phi công ôn dịch cứ bay tít ở trên cao, và lượn tới lượn lui mãi. Chắc nó muốn ăn đạn phòng không? Nó không biết phía dưới có hàng vạn quân Bắc Việt đang giương mắt ngó lên sao? Bay lượn cái kiểu trêu người này, chẳng khác nào báo cho địch biết rằng, tao sắp thả mấy thằng Viễn Thám xuống đây, hãy chuẩn bị bắt nó. Nhưng làm sao nói với thằng phi công? Lỗ tai nó đã bịt kín lại bằng cái máy nghe. Gió tạt mạnh và tiếng cánh quạt phần phật làm át đi mọi tiếng nói. Không những thế, nó còn làm sai bét cả nguyên tắc nghi binh của Viễn Thám. Một chiếc trực thăng đổ quân, hai chiếc Cobra yểm trợ có trang bị đại liên và rocket, sà xuống bắn xối xả, ít nhất là vài ba cái trảng trống trong rừng. Trong những lần sà xuống ấy, chúng tôi nhảy ở một nơi đã được chọn lựa trước, để địch không biết chắc chúng tôi xuống điểm nào. Đằng này, sau khi quần cho đã, bỗng chiếc đổ quân hạ ngay xuống điểm chính. Hai chiếc Cobra kè hai bên, bắn qua loa vài phát. Xong, cất đầu lên, bay về luôn.
Thằng Sử trợn mắt nhìn theo, chửi thề: “Đù má! Nó làm ăn cái kiểu gì kỳ cục vậy?”
Không ai có thì giờ ở đó mà chửi phụ hoạ theo thằng Sử. Chúng tôi lủi nhanh vào lùm rậm. Kiểm lại quân số. Rồi tức tốc rời khu vực vừa đổ quân, càng xa càng tốt. Chậm trễ, địch kéo tới bao vây thì bỏ mạng.

Vào đất Kampuchia lần này, chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi tình hình và ghi nhận những nơi tập trung quân của địch. Đây không phải lần đầu tôi nhảy toán. Nhưng chuyến đi này, tôi lo lắng rất nhiều, nếu không nói rằng sợ. Theo tin phòng nhì, Công Trường 7 và Công Trường 9 của Bắc Việt, hiện đang có mặt trong vùng rừng rậm Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, trải quân chiếm cả hai đồn điền cao su Choup và Mimot. Mấy tháng trước, chiến đoàn phối hợp nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp, vào Choup và đã bị đánh bật ra ngoài, gây tổn thất khá lớn về nhân mạng. Sau đó, người ta không muốn dùng lực lượng bộ binh để tấn công vào đồn điền nữa, vừa tốn kém nhiều, lại không nắm chắc được phần thắng. Vì thế, Không Quân và Pháo Binh được nghĩ đến. Và Viễn Thám được điều động vào vùng, để đưa những mục tiêu lên “lưới”. 
Liên tiếp trong hai tuần lễ vừa qua, có hai toán Viễn Thám được thả vào đồn điền Choup. Nhưng  tất cả đều mất tích một cách khó hiểu. Những chàng Kinh Kha thời đại, chẳng ai tiễn qua sông mà cũng một đi không trở lại. Toán chúng tôi là toán thứ ba. Kế hoạch có thay đổi chút ít. Xuống ở vùng rừng rậm, để từ đó, mò vào Choup. Lấy hướng Đông, xuyên qua đồn điền, về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Trên đường đi, sẽ chấm toạ độ đóng quân của địch, đưa lên “lưới viễn thám” cho phi pháo oanh kích. Nhiệm vụ đơn giản chỉ có thế, nhưng thi hành thì tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. 
Từ nửa tháng nay, tinh thần chúng tôi hơi căng. Lúc những đơn vị lớn nằm án binh bất động, là lúc bọn Viễn Thám lao vào vùng địch. Thời gian hạn định cho một chuyến công tác là ba ngày hai đêm. Đã hơn mười ngày rồi, hai toán trước vẫn biệt tăm. Máy siêu tần số của trung tâm vẫn trực 24/24. Không một tín hiệu gọi về. Đứt liên lạc. Tình hình địch ra sao, không nắm vững. Trong chiến tranh, mạng người như những đồng bạc lẻ, tiêu pha không tiếc. Mất mười bốn thằng Viễn Thám, chẳng nghĩa lý gì so với với những thiệt hại vừa qua ở Dambert, Soul, Mimot, Choup. Thí mạng thêm bảy thằng Viễn Thám nữa, để thăm dò tình hình địch, không phải là một cái giá quá đắt. 
Tôi được gọi lên phòng thuyết trình, nhận lệnh hành quân. Sáu thằng trong toán lảng vảng bên ngoài, lo lắng. Khi tôi bước ra, không thằng nào lên tiếng hỏi, nhưng những cặp mắt ái ngại nhìn tôi, chờ đợi một câu trả lời. 
Tôi nói ngắn gọn: “Chuẩn bị.” 
Có mấy tiếng lảm nhảm chửi thề. Đó là dấu hiệu của sự bất mãn. Trong cái đầu của những thằng lính trận, hình như luôn luôn có sự bất mãn. Và miệng sẵn sàng tuôn ra những câu chửi thề vô tội vạ. Bất mãn, chửi thề là cái bệnh chung của anh em. Không cần chữa trị, căn bệnh này cũng biến mất lúc đứng trước thượng cấp. Vì thế mà kỷ luật được duy trì, mệnh lệnh được thi hành một cách triệt để. 
Trong lúc anh em lo kiểm lại cấp số đạn dược, và sơn mặt ngụy trang, tôi bảo trung sĩ Năng lên kho tiếp liệu, lãnh khẩu phần cho cả toán. 
Khi vác khẩu phần về, Năng nói: “Kèo nài mãi, mới xin dư được một túi mưu sinh.” 
Thằng Nhiêu hỏi: “Để làm gì?” 
“Bán cho mấy thằng trực thăng. Cũng được chầu nhậu linh đình.” 
“Chưa biết còn mạng trở về hay không. Nói chi đến chuyện nhậu.” 
Năng sừng sộ: “Đù má! Sắp hành quân. Miệng ăn mắm ăn muối, đừng nói bậy nhe.” 
“Mày là thằng sợ chết nhất. Mới cưới con vợ ngon lành. Sáu tháng chưa về phép. Đêm ngủ mộng tinh. Bỏ vợ nhà lâu quá, hôi ê.” 
Anh em cười rộ. 
Năng nhìn tôi: “Xong chuyến đi này, trung úy đề nghị cho tôi về phép?” 
Tôi trợn mắt: “Mày giỡn? Tình hình đang căng thẳng, cấm trại trăm phần trăm. Ai dám cấp giấy phép cho mày?” 
“Lúc nào cũng nghe nói tình hình căng thẳng, và cấm trại. Đánh giặc lâu dài, chứ đâu phải đôi ba bữa là xong. Không thể trấn con người ta vô rừng mãi được. Phải liệu cách giải quyết chứ?” 
“Mày có gan thì lên gặp Đại Bàng Già mà khiếu nại. Trên ổng còn có Mặt Trăng, Mặt Trời, Bắc Đẩu…, cứ theo hệ thống quân giai mà khiếu nại dài dài lên Tổng Thống. May ra trường hợp của mày được giải quyết.” 
“Những thằng lính văn phòng, chẳng cần phép tắc mà vẫn tà tà ở thành phố, ôm đít vợ hằng đêm. Còn mình trông cái phép gần chảy máu mắt, không được. Bất công!” Năng càm ràm. 
Tôi nói: “Bất công là lẽ thường. Trên cõi đời chó má này, làm gì có sự công bình?” 
“Nghĩ tức. Nhiều khi muốn đào ngũ.” 
“Cứ đào ngũ đi. Bọn Quân Cảnh ngồi ngáp gió, không có việc gì làm. Nó đang chờ mày đấy. Còn ở đây, không có mày thì có thằng khác thế vào.” 
Thượng sĩ nhất Sử, nói: “Năng ơi, trước khi hành quân, mày đừng lải nhải ba cái chuyện đó nữa, được không? Nhìn bộ mặt nhăn như cái bánh bao của mày, tao nản!” 
Thằng Sử là toán phó Viễn Thám. Nó ra trường Đồng Đế năm mười chín tuổi. Liều mạng và háu đá. Năm năm chiến trường, chưa một lần bị thương. Nó khoe, thầy của nó tu luyện ở Thất Sơn, chuyên môn uống máu dơi và ăn gan rắn hổ. Ngày vẽ bùa trấn ma. Đêm ngậm ngải mà ngủ. Cái nanh heo rừng, nó đeo lủng lẳng trước ngực, thầy nó đã tươm bùa vào rồi. Nó coi cái nanh này là một thứ bùa hộ mạng, bom đạn không thể xâm phạm được nó. Từ tiểu đoàn Biệt Động Quân, nó xin qua Viễn Thám. Mới đầu, tôi không chịu nhận nó vào làm toán phó. Tôi chỉ cần thằng nào dè dặt và cẩn trọng, chứ không cần liều mạng và háu đá. Bởi nhiệm vụ của chúng tôi là theo dõi địch tình, và né tránh tối đa những đụng độ. Nhưng nó nói, ông thầy yên tâm đi, thằng Sử này cũng biết tùy hoàn cảnh, không phải lúc nào cũng làm ẩu đâu. Tôi nhận, và đề nghị cho nó đi thụ huấn một khoá Viễn Thám ở Dục Mỹ. Học xong, nó về với tôi, đã hơn năm. Sau những lần vào ra hang hùm, tôi thấy nó đã biết… sợ. 
Từ lúc đổ quân cho đến chiều, chúng tôi luồn lách trong khu rừng rậm. Phát hiện nhiều dấu vết di chuyển của địch qua cây cỏ bị rạp. Phần lớn rạp xuôi về hướng đồn điền. Chiều gần chạng vạng, chúng tôi dừng lại bên ven rừng, giáp ranh đồn điền. Dự định “lót ổ” qua đêm. Tôi mở máy siêu tần số, báo về trung tâm hành quân những gì đã nhìn thấy, và ước đoán tình hình địch đang dồn thêm quân về Choup. 
Có tiếng của Đại Bàng Già: “Dấu vết mới hay cũ?” 
Tôi trả lời: “Có mới, có cũ.” 
Lệnh Đại Bàng Già: “Ngày mưa phùn. Chồn Đầu Bạc lần theo dấu mới. Hết.” 
Trong đặc lệnh truyền tin, “ngày mưa phùn” là ngày mai. Ám danh của trưởng toán 3 Viễn Thám là Chồn Đầu Bạc. Chẳng biết tại sao, khi làm đặc lệnh truyền tin, người ta lại lấy tên của con thú đặt cho tôi? Đã là chồn, thì có chồn hôi, chồn mướp, chồn đèn. Làm gì có chồn đầu bạc? 
Có lần, đang ngồi chơi trước Bộ Chỉ Huy, trông thấy vị sĩ quan truyền tin đi qua, tôi gọi: “Ê! Thuận Phong Nhĩ. Sao đặt tôi là Chồn Đầu Bạc? 
Hắn cười: “Chồn già.” 

“Trai ba mươi tuổi còn son. Gái ba mươi tuổi đã toan về già. Tôi ba mươi, sao gọi rằng già?” 
“Già mưu mô, như con chồn của La Fontaine dụ con gà trống gáy. Còn bạn, sao gọi tôi là Thuận Phong Nhĩ?” 
“Trong Tây Du Ký, Thuận Phong Nhĩ là thằng truyền tin của Ngọc Hoàng, có cái lỗ tai nghe xa ngoài ngàn dặm.” 
Hắn gục gật cái đầu: “À, ra thế.” 
Rồi bỏ đi. Cái tướng phục phịch như con gấu đực, nhưng vô cùng chung thủy. Không bao giờ hắn chơi đĩ. Hắn sợ mắc tiêm la, rồi sang mầm bệnh cho vợ. Nhiều thằng lén rỉ tai, hắn bị vợ khoá cu, không cho chơi bậy. 
Tôi chọn chỗ ngủ có nhiều gai góc, và lùm bụi che khuất. Ban đêm, nếu địch di chuyển qua đây, cũng phải né tránh những nơi vướng mắc khó đi. Thế là chúng tôi được an toàn. Bóng tối đổ xuống rừng già rất nhanh. Đêm mù. Khí ẩm hơi sương. Thỉnh thoảng, có những trận gió cuốn qua, rào rào trên đọt cây. Tiếng hú của cú mèo, như tiếng ma kêu. Tiếng “cốc cốc” của con chim gì không biết, như tiếng gõ nhịp song lang. Chúng tôi nằm im, nhưng không thằng nào ngủ được. Nghĩ đến mai đây, lần theo dấu địch vào đồn điền cao su, ai cũng ớn xương sống. Địch đông như kiến cỏ. Chúng tôi chỉ bảy thằng. Nếu bị lộ tung tích, biết chạy đàng nào? 
Thằng Năng, nằm kế bên tôi, thì thầm: “Xong chuyến này, thế nào trung úy cũng ráng tìm cách cho tôi về thăm vợ vài ngày?” 
Thì ra, thằng Năng không ngủ vì nhớ vợ. Chẳng phải như chúng tôi, không ngủ vì lo một ngày mai. 
Tôi nói nhỏ: “Lúc này, cầm giấy phép về phố, Quân Cảnh cũng nắm đầu. Tao sẽ năn nĩ, xin Đại Bàng Già cấp sự vụ lệnh cho mày đi công tác. Lợi dụng chuyến đi này, mày ghé về thăm vợ.” 
“Trung úy hứa thì giữ lời nhe.” 
“Tao giữ lời. Còn cấp trên chịu cho hay không, là chuyện khác.” 
“Tôi nghĩ, trung úy nói là ổng thông cảm liền.” 

Tôi nằm xích lại gần Năng hơn: “Tao hỏi thiệt. Đêm động phòng, vợ mày còn nguyên không?” 
“Làm sao biết còn hay không?” 
“Rách màng trinh, chảy máu.” 
“Tối quá. Không nhìn thấy.” 
“Có tỏ vẻ đau đớn không.” 
“Không biết. Chỉ nằm im như khúc gỗ. Có thể đau, nhưng mắc cở nên cắn răng chịu đựng.” 
“Có “bót” không?” 
“Bình thường.” 
Tôi vặn: “Bình thường là sao?” 
Năng lí nhí: “Hỏi khó nói quá.”
“Mày như con bò rừng. Chỉ biết hùng hục, chẳng nhận xét gì cả.” 
Năng nói, nghe rất tội nghiệp như tự nói với chính mình: “Người ta thương mình. Chịu làm vợ mình, đủ rồi. Mất hay còn trinh, không quan trọng. Miễn sau này, đừng bậy bạ với thằng nào. Trước khi lấy người ta, mình cũng… tơi bời hoa lá, chứ tốt lành gì, mà đòi hỏi người ta còn nguyên xi.” 
Nằm một lúc lâu, Năng khều vai tôi: “Hồi còn bên Trinh Sát, nghe trung úy sắp cưới vợ?” 
Tôi nói: “Xù rồi.” 
“Ai xù?” 
“Đàng gái.” 
“Tại sao?” 
“Ông bố của cô ta bảo, khi nào tao xin được về văn phòng, mới chịu cho đám cưới. Mà gia đình tao nghèo, không quen “gốc lớn”. Làm sao xin?” 
“Thương thì lấy. Văn phòng hay tác chiến, đâu quan trọng?” 
“Ổng sợ con ổng sớm thành goá phụ.” 
Năng chửi thề: “Đù má! Đi tác chiến, đều là những thằng gia đình nghèo nàn, không thân thế. Sống hùng sống mạnh, nhưng không không sống lâu.” 
“Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.” 
Tôi lan man nghĩ về cô sinh viên Sư Phạm. Tưởng mối tình sẽ tốt đẹp, sau khi cô ra trường. Nào ngờ, bố cô như một bóng đen trùm xuống với một điều kiện, mà tôi biết rằng tôi không đủ khả năng thực hiện. Thế là cô ta đi lấy chồng. Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đó. Cô vẫn bình thường, như chưa từng trải qua một lần thề sống chết với tôi. Khi tôi tình nguyện qua Viễn Thám, có thằng bảo tôi thất tình, lao vào chỗ chết. Tôi chỉ cười. Thật ra, tôi có buồn buồn một thời gian. Nhưng không quằn quại đau thương bỏ ăn mất ngủ, đến nỗi điên khùng muốn tự tử, như mấy thằng bạn nói. 
Rọ rạy một hồi, Năng lại hỏi: “Không cưới được vợ, có thất tình không?” 
Tôi nói có. Năng bảo nhiều thằng vì thất tình mà trở thành thi sĩ. Và hỏi tôi có làm thơ thất tình không? 
Tôi trả lời bằng cách đọc ẩu: 

Em như cục cứt trôi sông 
Anh như con chó đứng trông trên bờ 
Em như cục cứt dật dờ 
Anh như con chó trên bờ đứng trông. 
Năng cười rúc trong cổ: “Thơ thất tình gì mà chỉ thấy chó với cứt. Con vợ tôi nghe được bài thơ này, chắc cười chết bỏ.” 
Tôi nhắc lại lần nữa: “Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.” 
Trời hừng sáng. Đủ loại chim rừng hót rộ trên cây. Chúng tôi nhìn nhau, thấy lạ. Màu chàm ngụy trang trên mặt cho tiệp với màu xanh cây lá, đã đã làm mặt người đổi khác. Tôi trải tấm bản đồ, chỉ cho cả toán biết điểm tập trung trong ngày, nếu chẳng may thất lạc. 
Lại dặn dò hạ sĩ Nhiêu: “Mày đi đầu, không cần phải theo đúng phương giác địa bàn. Tùy theo địa thế mà đi. Phải hết sức cẩn thận.” 
Theo đội hình hàng dọc, Nhiêu là khinh binh đi đầu, kế là tôi…, và thằng Sử toán phó, đi sau cùng. 
Đồn điền Choup. Những cây cao su được trồng ngay hàng thẳng lối. Thân cây già cỗi, to đến cả người ôm. Tàn lá rợp, che bóng mặt trời. Thời kỳ chiến tranh, đồn điền bị bỏ hoang nhiều năm. Gai mắc cở là đà ngang đầu gối. Cỏ dại gần lút đầu người. Những loài cây tạp cũng chen nhau, vươn lên cùng với cao su. Lợi dụng địa hình che khuất, quân Bắc Việt đã vào đây trú ẩn. 
Gần đứng trưa. Thằng Nhiêu dừng lại, nép vào gốc cao su, ngắc tay gọi tôi lên. 
Nó nói nhỏ: “Lắng nghe.” 
Trên trời có tiếng rì rì như tiếng của con ong bay qua. 
Tôi nói: “Con đầm già L19, bay quan sát.” 
Nó lắc đầu, chỉ tay về phía trước. Có tiếng nói văng vẳng, vọng lại từ xa. Thỉnh thoảng có tiếng động, hình như tiếng chặt cây. 
Tôi ngó về phía sau, làm thủ hiệu cho anh em bố trí tại chỗ. Tôi và thằng Nhiêu len lỏi mò lên. Không dám tới quá gần vì sợ bị lộ, nhưng tôi cũng ghi nhận được những dữ kiện cần thiết để ước đoán tình hình. Khi quay lại chỗ cũ, tôi mở máy báo về trung tâm hành quân. Thuận Phong Nhĩ tức tốc gọi Đại Bàng Già đến ngay đầu máy. 
Tiếng Đại Bàng Già: “Tao đưa mục tiêu lên “lưới”. Chồn Đầu Bạc xáp lại gần, quan sát, điều khiển “thiên lôi” làm việc, và cho biết kết quả. Hết.” 
Trời đất! Phi pháo dội xuống mục tiêu. Quân địch như ổ kiến lửa, bị động sẽ bung tràn lan ra ngoài. Đại Bàng Già bảo xáp lại gần. Ông tưởng bọn tôi có thể tàng hình trước con mắt địch quân hay sao? 
Tôi bảo mấy thằng trong toán: “Lệnh là thế. Nhưng tụi mình phải “dọt” khỏi chỗ này cho xa.” 
Chúng tôi đổi phương giác. Né tránh mục tiêu. Chừng mười lăm phút sau, pháo nổ ầm ầm dữ dội. Dứt đợt pháo, phản lực cơ bắt đầu gầm thét và thả bom Napalm, đốt cháy một khu vực đồn điền. 
Đang di chuyển, tôi nghe tiếng Đại Bàng Già hỏi, tốt không, có cần điều chỉnh gì không? 
Nhìn về phía mục tiêu, tôi nói tốt rồi. Đâu biết phi pháo dội có chính xác hay không. Tôi nghĩ, dù sao cũng phải lo cho mạng sống của bảy thằng chúng tôi trước. Bỗng có tiếng súng AK nổ dòn, bên hông trái đội hình. Tiếp theo, nhiều loạt súng khác nổ ran. 
Trời ơi! Né tránh chỗ đóng quân, lại đâm đầu vào “chốt” tiền đồn của địch. Tôi la lên trong máy: “Đụng rồi.” Và bấm cái nút báo động đỏ. Máy siêu tần số trang bị đặc biệt cho Viễn Thám, khi bấm nút đỏ, sẽ tự động báo nguy về máy trung tâm bằng những tiếng “cạp… cạp… cạp…” liên tục, như tiếng vịt kêu hoảng hốt. 
Chúng tôi vừa bắn trả, vừa tạt về bên phải. Chạy! Tiếng súng đuổi nà theo sau lưng. Phi pháo vẫn hoành hành ngút khói tại mục tiêu chính. 
Chạy trối chết ra khỏi đồn điền, chúng tôi lủi nhanh vào rừng rậm, nơi đã dặn dò điểm tập trung. Kiểm lại quân số. Không thấy thằng Nhiêu. Những cặp mắt tởn thần mở lớn, chưa hết nỗi kinh hoàng. Địch quân đang truy lùng khắp khu vực. Tôi liên lạc về trung tâm, báo tổn thất của ta, và ước đoán thiệt hại của địch. 
Lệnh của Đại Bàng Già: “Tung tích đã bị lộ. Lo dọn bãi đáp. Trực thăng bốc về.” 
Trong khi ẩn trốn, chờ thằng Nhiêu, tôi mệt mỏi nằm gối đầu trên chiếc ba lô. Đến chiều vẫn không thấy tăm hơi. Có thể nó đã gục ngả ngay đợt nổ súng đầu tiên. Nếu tính cái giá hơn thua bằng xác chết, thì mất một thằng Nhiêu, đổi lại bao nhiêu sinh mạng địch quân trong trận oanh kích vừa qua. Nhưng tình cảm con người, không đơn giản như đơn vị đo lường. Chúng tôi buồn thảm nhìn nhau. Tự dối lòng, biết đâu thằng Nhiêu vẫn còn thất lạc đâu đó. 
Ngày thứ ba, kể từ khi vào đất Kampu chia. Không thể xuyên qua đồn điền để về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Chúng tôi đi ngược về phía rừng già, tìm bãi bốc trực thăng. Nhưng trực thăng không xuống được. Những con chuồn chuồn vừa lảng vảng vào khu vực, đã bị phòng không từ dưới đất bắn lên. Đành phải bay về. Địch quyết phong toả vùng trời, để chận bắt cho được chúng tôi. Liên tiếp hai ngày sau, vẫn thế. 
Lương thực mang theo đã cạn. Chúng tôi bắt đầu mở túi mưu sinh. Túi này chỉ trang bị đặc biệt cho Viễn Thám. Những chàng phi công phải mang dù khi cất cánh, đề phòng bất trắc. Còn chúng tôi được trang bị túi mưu sinh, phòng khi gặp khó khăn không trở về đúng thời hạn. Trong túi chứa đủ thứ lỉnh kỉnh. Thuốc tăng sức, dùng khi có biến phải chạy thoát thân. Chẳng biết đây có phải là thứ thuốc chích cho ngựa chạy trường đua hay không. Dẫu sao điều này cũng không thực tế. Vì khi gấp rút chạy bán mạng, thì giờ đâu mà mở túi mưu sinh để lấy thuốc? Thuốc chống buồn ngủ, dùng ban đêm, lúc cần phải tỉnh thức canh chừng. Thuốc muỗi thoa ngoài da. Thuốc lọc nước, có công hiệu sát trùng rất mạnh. Sáu cái bánh mặn, theo chỉ dẫn, mỗi ngày chỉ dùng hai cái. Những viên thịt bò khô màu nâu, mỗi viên làm ngọt nước một tô canh. Một chùm lưỡi câu, lớn bé đủ loại. Một cuộn dây cước màu xanh nhạt, làm dây câu cá. Và sau cùng là quyển sách nhỏ, in hình một số cây lá trong rừng, cùng những lời giải thích để phân biệt loại nào có thể, và không thể ăn. 
Có túi mưu sinh, chúng tôi vẫn bị đói. Không tìm được cây, lá, củ, trái nào giống như trong sách chỉ dẫn. Có lần, moi được củ khoai, như một loại khoai mỡ, ruột màu vàng nhạt. Thằng Năng bảo khoai nần. Muốn ăn phải xắt lát, ngâm nước vài ngày cho ra hết chất độc, sau đó phơi cho thật khô, rồi mới luộc. Nhưng thằng Sử cắn một miếng nếm thử. Nó khẳng quyết đây là một trong những loại khoai mỡ, và muốn lên lửa để nấu. 
Tôi nói: “Muốn chết hả? Nếu địch quân nhìn thấy khói, dù bọn mình có mọc cánh cũng bay không thoát.”
Sau chừng mười phút, bàn ra tán vào về cái củ khoai lạ, môi miệng thằng Sử bị ngứa và sưng vều lên. Mọi người đều hoảng. Cũng may, nó chỉ nếm thử, chứ chưa nuốt. 
Chúng tôi xuống sức vì đói. Đêm nằm trong vùng đất ẩm, lại bị vắt hút máu. Mặt người phờ phạc. Tinh thần khủng hoảng. Tôi thường xuyên kêu cứu về trung tâm. Nhưng mỗi lần trực thăng vào vùng lại bị phòng không. Địch biết chúng tôi chưa ra khỏi vùng, báo động khắp nơi. Chúng tôi lẩn vô rừng già. Đi về hướng Bắc, nơi có lữ đoàn Dù đang hoạt động ở Dambert. Hy vọng đi gần về phía quân bạn, sẽ bớt được áp lực của địch. 
Tiết trời nóng nực, mà rừng rú vẫn xanh um cây lá. Tiếng ve buồn râm ran mùa hạ. Như những con thú hốt hoảng, chúng tôi sợ hãi bất cứ tiếng động nào. Sợ nhất là những con chim “tắc cọ”. Loài chim quái ác! Mỗi khi thấy có người đi, nó sẽ lượn theo mãi ở trên đầu, và la “tắc cọ… tắc cọ…” vang cả rừng. Gặp trường hợp này, phải dừng lại ngồi im trong lùm, không dám động. Kêu một hồi không thấy ai, nó sẽ chán, và bay nơi khác. Ngược lại, cũng nhờ chim “tắc cọ” báo động, mà chúng tôi biết địch đang di chuyển từ xa, để kịp thời tránh né. Lính hành quân trong rừng, gọi loài chim này theo cái tên nhà binh: “chim tiền sát”. 
Chúng tôi lại chạm địch lần thứ hai. Hoả lực địch rất hùng hậu. Tôi biết ngay đây là một đơn vị lớn, không phải “chốt” tiền đồn. Chúng tôi thối lui, đồng thời ném những trái mini lựu đạn về phía sau, nhưng không cản được bước địch. Súng nổ rát bên mang tai. Địch đuổi theo, truy bức. Tôi thấy thằng Năng chạy cà nhắc. Một chân nó đã bị đạn. Tôi lướt tới, kè thằng Năng bằng cách nắm cánh tay của nó choàng qua vai mình, lôi bừa. 
Năng lắc đầu tuyệt vọng: “Thôi, chạy đi.” 
Tôi hét: “Ráng!” 

Nó xô tôi ra: “Không được.” Và sà xuống một gốc cây, xả súng bắn ngược về phía sau cản địch, cho những thằng còn lại thoát thân. 
Từ hai ngày trước, tôi yếu sức vì đói. Nhưng bây giờ, tôi chạy rất khoẻ. Đôi chân nhanh nhẹn lạ thường. Tuôn qua những gai góc, phóng qua những lùm bụi dễ dàng. Thân thể tôi dường nhẹ tênh, lướt như bay qua những chướng ngại. Những thằng kia cũng nhanh không kém. Nó chạy mà không cần biết anh em có theo kịp hay không. Nhờ thằng Năng cản địch, chúng tôi bỏ tiếng súng xa dần. Lúc dừng lại, tôi hấp tấp báo về trung tâm hành quân. Tiếng nói đứt quảng. Vừa nói vừa thở hổn hển như sắp đứt hơi. Bây giờ, tôi mới để ý đến tôi, và thấy mệt như chưa bao giờ mệt đến thế. 
Bom và trọng pháo lại dội tan tành xuống mục tiêu. Đại Bàng già quyết định, bằng mọi cách phải mang chúng tôi về. Trong khi địch đang bị sấm sét, lợi dụng cơ hội này, trực thăng lao vào vùng, thả dây cấp cứu. Năm thằng chúng tôi ôm nhau thành một khối, treo tòn ten phía dưới trực thăng. Gió ù ù rát mặt. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy một vùng khói mù. Oanh tạc cơ vẫn còn tiếp tục thả bom. Giữa ngàn xanh mênh mông u uất dưới kia, có thằng Nhiêu, thằng Năng vĩnh viễn nằm lại đất Kampuchia. 
Tôi xin ra khỏi Viễn Thám từ dạo ấy. Đời lính vẫn thường chứng kiến nhiều thương đau mất mát của anh em đồng đội. Thế nhưng, những đêm nằm rừng, nghe tiếng súng xa xa, tôi lại nghĩ đến hai thằng em trong toán của tôi, nhất là thằng Năng. Tội nghiệp, sau cái đêm động phòng với vợ, nó đi luôn không bao giờ về nữa.



Quyền tối thiểu

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Không, không thể có chuyện đó được”, nét mặt Toàn biến đổi thật nhanh, lúc hân hoan, lúc đau khổ, “Tao khỏng tin được … “

Thành cười bóm hĩnh:

“Kinh thưa mày, lúc gánh tranh về trại, chính mắt bố thấy vợ mảy vào văn phòng ‘khung’, dù nhìn từ xa, dù vợ mày thay đối khá nhiều, nhưng bố mày lầm thế chó nào được.”

“Tao không hảo mảy lầm hay không lầm, tao chỉ không tin là vợ tao bị kẹt lại và bây giờ mò ra tận đây thăm tao. Làm sao nó biết được là tao ở đây.”

“Bố mày chỉ trình với mày như vậy. Còn tin hay không là việc của mày và mày được ra gặp hay không là việc của *khung’. Bố mày đếch có trách nhiệm.”

Toàn trầm ngâm:

“Phải chi lúc nảy tao gánh tranh về … “

“Mày vẫn không tin? Mặc xác mày, Thôi, cất tranh đi con trai. Bố mày đếch nói chuyện với mày nữa.”

Toàn thắc mắc:

“Mày biết quá rõ gia dình tao. Vợ tao vượt biên đã gần cả năm nay. Tại sao lại có chuyện ra thăm nuôi … “

“Vấn dể không ở chỗ vợ mày bị kẹt lại hay không bị kẹt lại, mà vấn để ở chỗ, một chút nữa, mày có được thăm nuôi hay không.”

Mặt Toàn ngẩn ra:

“Chắc là phải được thăm nuôi chứ. Tuy không bao giờ được biểu dương, nhưng tao chưa bao giờ bị *bêu dương’, chưa bị phạt, bị kỹ luật. Nhưng mà … Có chắc là vợ tao không đã … Hay mày nhìn gà hóa cuốc … “

“”Một trăm em ơi’ là vợ mày … “

“Vậy thi chắc chắn tao phải được thăm nuôi … vì tao chưa phạm phải điều gì mà trại gọi là sai trái.”

“Ừ, thì cứ hy vọng đi con. Nhưng, mày nhớ một điều, hôm nay không phải là ngày thăm nuôi.” Thành nhìn ra vạt tranh, “cắt hết vạt nảy chắc là đủ một gánh nữa. Bố bó lại cho mày gánh về.”

“Giờ này mới gánh về thì còn nước mẹ gì nữa.”

Trời lạnh công tay, gió thổi buốt mặi, tranh ướt sương nhớp nháp, bẩn. Khó chịu. Toàn cúi xuống tiếp tục cắt tranh, lưỡi liềm cắt vào tay, máu lẫn vào sương ướt đỏ cả nạm tranh. Toàn đưa ngón tay chảy máu vào miệng. Máu mặn. Anh tưởng anh đang uống những giọt nước mắt của em, người đàn bà đã chia sẻ với anh những tháng ngày hạnh phúc và khổ đau, Anh tưởng như đang ôm em vào lòng, đang ôm tấm thân bé bòng nồng cháy, đang ngừi lại mùi thơm của mái tớc dài mà anh say mê ngay tử phút đầu gặp gỡ. Anh tưởng như đôi môi nứt nẻ vì lạnh, vì đói của anh đang ấp lên đôi môi cm. Anh tưởng như anh đang hóa nhập vào em, tan ra trong thân thể vợ anh, nghe lại những lới nói địu dàng của người đàn bà mãi mãi là của anh.

Toàn ngồi phệt xuống, ngã lưng trên đống tranh chưa bó. Không, anh và em sẽ không thể nói một lời nào, bởi vì vợ chồng mình có quá nhiều điều để nói. Khi người ta có quá nhiều điều để nói, người ta sẽ không nói được gì. Người vợ yêu quý của anh, em có biết anh nhớ em đến là chừng nào, anh yêu cm biết là chừng nào … Em yêu của anh, chỉ vài tiếng đồng hồ nữa thôi, không lâu lắm đâu phải không em, không lâu đâu phải không em. Anh đang như điên lên đây em biết không?

Cùng với những tưởng tượng miên man, Toàn ngạc nhiên thấy những cảm xúc nôn nao, hào hức tưởng từ lâu không còn, đang cuồn cuộn như sóng dâng lên trong lòng. Người chàng hừng hực như làm tan biến cả cái lạnh buốt của mùa đông.

Tiếng Thành oang oang mắng nhiếc:

“Tiên sư nhà anh, bao nhiêu thẳng mơ được ngủ ở nhà khách với vợ, anh lại vác mặt vào đây, Chắc là vợ anh có thằng khác, đếch cho anh ngủ chứ gì. Hay là anh dã liệt dương mẹ nó rồi, không còn làm ăn gì được nữa, sợ vợ nó chê, nó về kiếm thằng khác … Tiên sư nhả anh … “

Toàn nhíu mày, nói nhỏ:

“Nói thật với mày, không phải tao không thèm, cũng không phải tao không đủ sức, mà vợ tao cũng chẳng có gì thay đổi cả, tuy có xấu di một chút, già thêm một chút. Nhưng, không được … tao không .._ thích, thế thôi.”

“Đồ ngu. Mày là thằng đàn ông ngu nhì trên thế gian này, mảy hiểu không?”

Toàn ngớ ra:

“Sao lại ngu nhỉ?”

“Vì tao luôn luôn là thằng nhân đạo, Nhân đạo thật chứ không phải nhân đạo vẹt như mình vẫn nghe ra rả hằng ngày đâu. Không bao giờ tao cho ai điểm nhất và cũng không bao giờ cho ai điểm bét. Hạng nhì để còn chừa chỗ cho thằng khác hy vọng sẽ lên hạng nhất và tao cho mày ngu nhì là để an ủi mày, để mày hy vọng may ra còn có thằng ngu hơn. Nhưng cái ngữ mày, tao thấy khó có hy vọng lắm.”

“Đồ đểu,”

“Chứ không à? Bao nhiêu thằng bon chen, nịnh hót, kiếm điểm, làm ‘ăng ten’, bôi mặt hại anh cm đồng đội, chỉ để mơ ước một ân huệ là được ngủ đêm với vợ trong ngày thăm nuôi. Mày ‘bất chiến tự nhiên thành’, vậy mà mảy lại bò cơn vợ trẻ ngon lành của mày nằm trơ ra với muỗi mà mày chịu được à?”

“Mày tưởng tao không dau khi quyết định bỏ vào trại à?”

Thành dịu giọng:

“Mày nói thật di, có gì trục trặc giữa vợ chồng mày không?”

“Không trục trặc mẹ gi cả. Tao không thích, thế thôi. Và dĩ nhiên là vợ tao không biết lả tao dược ngũ lại nhà khách.”

“Gàn, ngày trước mày là lính chứ có phải là thày giáo chó đâu mà giờ thói đổ gàn ra dây. Mẹ kiếp, con không ăn muối con ươn, con không ngủ với vợ, trăm đường … vợ con hư, nghe không con.”

“Nếu chỉ vì không ngủ với chồng một đêm mà vợ tao hư, thì tao cũng đành chịu thôi.”

“Tiên sư cha nhà anh, vậy thì anh là thằng ngu nhất rồi, chứ không còn được hưởng ân huệ hạng nhì nữa. Không phải đêm nay chỉ có nghĩa đơn thuần là một đêm, hiểu không con trai. Bao nhiêu năm chờ đợi trước đây và sau hôm nay, bao nhiêu năm sau này nữa, vợ anh không hiết có còn được gặp cái mặt mẹt của anh hay không. Bố anh muốn nói lỡ một dêm là lỡ cả một quãng đời dài, nghe thủng ra không con trai? Sao anh dại thế? Anh hãy giài thích cho bố anh nghe đi.”

“Thì tao cũng đành chịu thôi, Thành ạ!”

“Chịu thôi?” Thành ngạc nhiên. “Như vậy là nghĩa làm sao?”

Pinterest photo

Toàn gằn giọng:

“Nghĩa là làm sao? Nghĩa là làm sao hả? Các anh được hưởng chinh sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng. Cách mạng đã tha tội chết cho các anh, giáo dục các anh trở thành người tốt cho xã hội, lại còn cho gia đình đến thăm, lại còn được hưởng đặc ăn ngũ lại đêm với vợ nữa … “

Thành cười:

“Chứ còn gì nữa. Mẹ kiếp, mày đừng lập lại như một con vẹt những câu thằng nào cũng thuộc chứ.”

“Tao tưởng mày khá hơn một chút. Mày hãy nghĩ xem. Ừ, hãy động não thử xem. Vợ chồng ngủ với nhau mà lả một đặc ân à? Ngủ với vợ cũng phải có thằng cho phép à? Thú vật ngủ với nhau cũng không phải là đặc ân của ai hết cả. Hừ, thái độ ngạo nghễ thi ân. Tao hèn, tao không dám chống đối, nhưng ít nhất, tao cũng cỏn có cái quyền tối thiểu là không thèm nhận sự ban phát ấy chứ.”

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Ngày xưa khi còn nhỏ, lúc trông thấy những người mang kính trắng, tôi hỏi bố tôi vì sao họ lại mang kính như thế, bố giải thích rằng vì họ là những người có học, họ phải mang kính để đọc sách. Bố tôi còn giải thích thêm, những nông dân mù chữ, suốt đời chẳng bao giờ phải mang kính. Tôi nghiệm ra điều này có lẽ đúng, vì tôi chưa bao giờ trông thấy một người phu xe (ngày xưa) hay một ông đạp xích lô (ngày nay) mang kính trắng cả.

Hiện nay trẻ em Đài Loan so với thế giới là những người mang kính cận sớm nhất, vì đây là một nước tân tiến, trẻ em đã bắt đầu làm quen với computer từ bậc tiểu học nên rất dễ hư mắt. Phải chăng đây là một đất nước tiến bộ và trí thức? Tôi nhớ ông Mao Trạch Đông có tuyên bố một câu đại khái “Trí thức không bằng cục cứt” và không hiểu vì sao người cộng sản lại ghét trí thức đến thế, mà đại diện là những người mang kính trắng. Bằng chứng là Polpot của Kampuchea đã giết sạch những ai mang kính trắng, vì “bọn trí thức là kẻ thù của nhân dân.”

Với người cộng sản Việt Nam, ngoài ông Hồ ra không thấy ai mang kính trắng, nhưng cán bộ nhà tù tập trung sau năm 1975 lại hình như không ưa mấy anh tù miền Nam mang kính. Nhiều người tù đã bị lột kính đạp nát dưới chân trong những ngày đầu trình diện như trong một câu chuyện tôi đã kể hầu độc giả trước đây. Trí thức hay tiểu tư sản đều là những kẻ phản động. Có người thắc mắc sau ngày 30 tháng 4, khi Việt Cộng vào “giải phóng” miền Nam không thấy ai đeo kính trắng cả! Có lẽ cũng không cần giải thích.  Người cộng sản cần “hồng” hơn “chuyên,” cần lòng trung thành tuyệt đối với đảng hơn là cần trí thức chuyên môn. Ở trong các trại tù dành cho dân miền Nam trước đây, hầu như những “cán bộ giáo dục” là những tên dốt đặc nhưng có tuổi đảng lâu đời. Ngoài đời các bộ trưởng chuyên ngành cần bằng cấp nhưng những người lãnh đạo đảng chỉ cần lòng tin cậy của đảng và dễ sai bảo. Nhưng gần đây, trước thế giới mở rộng, không thể ngu dốt sống như người rừng  và để theo kịp đà văn minh, con người phải có trình độ hiểubiết, phải có học, nói một cách khác là phải có bằng cấp để điều hành việc nước. Chức vụ nào phải có bằng cấp chuyên môn tương xứng. Bộ Trưởng Giáo Dục ít ra phải có văn bằng Tiến Sĩ Giáo Dục, Công Chánh phải có Kỹ sư Cầu Đường. Nhưng từ lòng trung thành, mê muội từ đảng bước ra vội vã, cán bộ cộng sản đã phải “đốt giai đoạn” để có bằng cấp trong tay, hợp thức hóa cho tương xứng với các chức vụ hiện tại do quyền lực đảng đã ban cho. Cộng Sản Việt Nam lấy lý do trong chiến tranh phải dở dang việc học tập. Khi cuộc chiến kết thúc, nhiều người trong số họ phải theo học hệ tại chức, vừa đi làm hay giữ chức vụ điều khiển vừa đi học. Đại học tại chức nào dám đánh hỏng một ông Bí Thư Tỉnh Ủy hay con một ông trong Bộ Chính trị đã ghi danh, nên đại học tại chức trở thành nơi “nấp bóng” của một số cấp lãnh đạo, kể cả sinh viên thuộc dạng “con cháu”, theo học hệ này cốt kiếm tấm bằng đại học để hợp thức hóa và làm “bùa ngãi” tiến thân. Từ đó, có các đại học tại chức lan tràn mà theo các nhà chuyên môn, 10 người ghi danh chưa có được một người sau 4 năm học đạt được chuẩn tối thiểu của bậc đại học, theo như Giáo sư Phạm Minh Hạc trong một cuộc phỏng vấn của đài VOA, trong khi đó, bằng cấp giả cũng là một tệ nạn lan tràn ở Việt Nam trong giới có chức quyền.Việt Nam hứa sẽ đào tạo một năm 2,000 tiến sĩ ở trong và ngoài nước. Một Trưởng Ty Văn Hóa Thể thao tỉnh lẻ có bằng Tiến Sĩ sau khi chỉ có mặt tại Mỹ ba tháng và chưa qua một lớp ESL nào. Chưa lúc nào Việt Nam cần bằng cấp và “yêu trí thức” đến thế.

Nếu tổng hợp các nhân vật trí thức do ba ông trùm Cộng Sản là Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh hạ sát để củng cố quyền lực, con số này có thể lên đến vài chục triệu người, sao bây giờ những người CSVN khát trí thức và mê bằng cấp đến thế. Theo tài liệu của VNTTX, chúng ta thử điểm qua “bằng cấp” của 14 ông trong Bộ Chính Trị qua Đại Hội XI (2011):

1.Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, sinh năm 1969, Cử Nhân Luật Khoa.

2. Phùng Quang Thanh, Đại Tướng Bộ Trưởng Quốc Phòng, sinh năm 1949, Đại học Khoa học Quân sự.

3. Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ, sinh năm 1949, Cử nhân Luật.

4. Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng, sinh năm 1946, Tiến sĩ Kinh Tế.

5. Lê Hồng Anh, Đại tướng Bộ trưởng Bộ Công An, sinh năm 1949, Cử Nhân Luật.

6. Lê Thanh Hải, Bí thư Thành Ủy HCM, sinh năm 1950, Cử Nhân Kinh Tế.

7. Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương, sinh năm 1947, Tiến Sĩ Triết học.

8. Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc Hội, sinh năm 1944, Cử nhân Văn ĐH Tổng Hợp, Tiến sĩ Ngành Xây Dựng Đảng (?)

9. Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành Ủy Hà Nội, sinh năm 1949, Tiến Sĩ Triết học.

10. Trần Đại Quang, Trung tướng Thứ trưởng Bộ Công An, sinh năm 1956, Tiến Sĩ Luật Khoa.

11. Tòng thị Phóng, Phó Chủ Tịch Quốc Hội, sinh năm 1954, Cử Nhân Luật.

12. Nguyễn Văn Dụ, CVP Trung Ương Đảng, sinh năm 1947, Đại Học Kinh Tế.

13. Đinh Thế Huynh, Tổng Biên tập Nhân Dân, sinh năm 1953, Tiến sĩ Báo Chí.

14. Nguyễn Xuân Phủc, Chủ nhiệm Văn Phòng Chính Phủ, Đại học Kinh Tế.

Trong danh sách này, ông Nguyễn Phú Trọng là người “trí thức” nhất. Tiểu sử ghi ông có ba năm đi học ở Đại học Tổng Hợp Hà Nội, ba năm ở trường đảng cao cấp, một năm học Nga văn, hai năm đi Liên Xô học ở Hàn Lâm Viện Khoa học Xã Hội. Còn các ông khác không nghe những bằng cấp Tiến Sĩ Triết học, Tiến Sĩ Luật Khoa, Tiến Sĩ Báo Chí, Tiến Sĩ Kinh Tế, Cử nhân Luật … này tốt nghiệp ở đâu, năm nào, thời gian đi học bao lâu, vì tiểu sử của các Ủy Viên này kín đặc, từ những chức vụ trong rừng ra đến “vùng giải phóng,” lên đến Ủy Viên Bộ Chính Trị không có một thời gian nào dành cho việc cắp sách đến trường. Không có lẽ những bằng cấp này chỉ cần lấy trong vài ngày, ít nhất thì cũng cho quần chúng biết họ tốt nghiệp vào thời gian nào, tại đâu và thời gian học là bao lâu.

Tôi xin lấy tiểu sử của Ông Hoàng Xuân Hãn để làm ví dụ, khi nói ông có văn bằng Thạc Sĩ Toán, thì trong tiểu sử của ông có ghi rõ, “nói có sách, mách có chứng:”

Ông sinh năm 1908. Năm 1926, đậu bằng Thành Chung, ra Hà Nội học trung học ở trường Bưởi.

Năm 1927, chuyển sang học chuyên Toán ở Lycée Albert Sarraut.

Năm 1928, đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài toàn phần và được nhận học bổng của chính phủ Đông Dương sang Pháp học dự bị để thi vào các trường lớn.

Năm 1930, học Trường Bách khoa Paris.

Năm 1932-1934, vào học École Nationale des Ponts et Chaussées.

Năm 1935 đậu cử nhân toán.

Năm 1936 đậu thạc sĩ toán tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.

Vì vậy tôi đâm ra nghi ngờ bằng cấp của các Ủy Viên trong Bộ Chính Trị CSVN là bằng cấp giả hay bằng đại học tại chức, hoặc là bằng cấp “học đại,” cho rằng ta đây cũng trí thức, khoa bảng, ghi vào tiểu sử để “giật le,” như cách nói của người bình dân Nam Bộ. Bố thằng nào dám chất vấn, trong đại hội đảng, là bằng cấp của quý ông là bằng tại chức, bằng mua hay bằng giả! Ai chẳng biết chuyện “dốt chuyên tu, ngu tại chức!”Theo tôi, quý ông trong Bộ Chính trị không cần thiết phải nêu bằng cấp như bọn bần dân chúng tôi.

Nguyễn Tấn Dũng từ một anh liên lạc cứu thương, y tá, lên đến Thủ Tướng, Lê Hồng Anh là cán bộ văn nghệ xã, bây giờ mang cấp Đại Tướng, Bộ trưởng Công An, hay dù là một anh xuất thân bẻ “ghi” đường sắt, thợ mộc … đi nữa mà có đảng dẫn đường cũng lên đến cấp lãnh đạo tối cao, đâu cần đến ba cái loại bằng cấp “tư sản” tiến sĩ, cử nhân “chạy đầy đường” Hà Nội như thế.

Bây giờ những người cộng sản không còn ghét trí thức khoa bảng nữa, nói chung là không còn ghét loại người mang kính trắng như bọn Polpot. Nhưng tôi thật nghi ngờ những cặp kính trắng này không có độ, là những cặp kính cửa sổ (window glasses.) Cô giáo Hà Thủy tốt nghiệp Đại học Văn, Sư phạm Hà Nội chính quy, thuộc loại giỏi, hiện là thạc sĩ mà còn hiểu “canh gà Thọ Xương” là một món ăn như “bánh cuốn Thanh Trì” thì liệu các thứ bằng cấp ma, bằng cấp giả này đi tới đâu?

Ngày Xuân ở Biển Hồ-Pleiku

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Kỳ 2

Dàn quân xong, chờ cho anh Trung úy Pháo Binh Mỹ đã đeo đôi mắt kính sẵn sàng, tôi mới nhờ anh ta gửi đơn xin không yểm. Vào lúc hai chiếc máy bay Phantom F4 C bắt đầu oanh kích mục tiêu, tôi dẫn một trung đội, dò dẫm tiến lên. Chưa tới bìa rừng, chúng tôi lại bị đủ loại súng cộng đồng chận lại.

Tuyến phòng thủ của Cộng quân có lẽ còn kéo dài xa về hướng Tây, dọc theo triền đồi. Lúc này đã là bốn giờ chiều, tôi quyết định ngừng quân, không tiến thêm. Ðại úy tiểu đoàn trưởng cho tôi hay, ông đã điều động thêm Ðại Ðội 3/11 tăng cường cho tôi. Xưa nay đi hành quân nếu tiểu đoàn chia hai cánh thì tôi đương nhiên là người chỉ huy Cánh A gồm hai Ðại Ðội 1 và 3.

Tôi chạm trận thì Ðại Ðội 3/11 sẽ là đơn vị ưu tiên tiếp cứu. Sau chiến dịch Chư Pa, Ðại Ðội 3/11 đã thiệt mất ông Trung úy đại đội trưởng và ông Thiếu úy đại đội phó tử trận.

Ðại đội này vừa có ông tân đại đội trưởng là một đại úy mới thuyên chuyển từ nơi khác về. Ông đại úy này là người Bắc, tôi không nhớ họ ông ta, còn tên ông ta thì chỉ nghe qua một lần ai cũng không thể quên: “Ái Tình Nhớ”.

Ðại úy Ái mà hát “Tình Nhớ” của Trịnh Công Sơn thì hay hết chỗ chê! Có lẽ các ca sĩ chuyên nghiệp trình bày nhạc phẩm này đều thua xa “Ái Tình Nhớ” của Biệt Ðộng Quân chúng tôi.

Ngày Mùng Ba Tết tôi đã nghe ông Ái hát ở Câu Lạc Bộ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân trong bữa tiệc đầu năm của đơn vị. Bữa tiệc này có mặt gần hai chục cô em gái hậu phương, nữ sinh Trung Học Pleime.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân năm 1968 Từ trái: Thiếu úy Lũy, Trung Úy Lạn, Trung Sĩ Attaya, Trung Úy Long, Đại Úy Hester, Đại Úy Đàm, Trung Úy Đa, Thiếu Úy Quý

Trong tiếng nhạc xập xình, dưới ánh đèn mờ ảo, với cái nón nâu giắt vai, vị thế chân sau chân trước, nửa tiến, nửa lùi, cánh tay trái buông xuôi, cánh tay phải giơ về phía trước như cố níu kéo một bóng hồng vừa bay đi mất, tiếng hát của Ái cất lên, nghẹn ngào:

“Tình ngỡ đã quên đi. Như lòng cố lạnh lùng …” (Nhạc TCS)

Hiện thời ông Ái là đại đội trưởng Ðại Ðội 3, ông ta đeo lon đại úy thì chắc chắn từ nay Liên Ðội Trưởng Liên Ðội A phải là ông Ái.

Một giờ sau, Ðại Ðội 3/11 theo con đường xe be từ ngoài Tỉnh lộ 509 từ từ tiến vào.

Người chỉ huy Ðại Ðội 3/11 là Thiếu úy Thung, tôi không nhớ họ của ông Thung. Thiếu úy Thung là sĩ quan độc nhất của Ðại Ðội 3/11 sống sót sau trận Chư Pa.

Tôi hỏi Thung,

– “Tình Nhớ” đâu Thung?

–  Trình Thái Sơn, Hoàng Mai giữ ông ấy lại bộ chỉ huy tiểu đoàn làm Ban 3 thay Trung úy Bé đi phép.

(Hoàng Mai = Ðại úy Hồ Khắc Ðàm Tiểu Ðoàn Trưởng)

Nghe Thiếu úy Thung nói, tôi biết ngay thâm ý của ông tiểu đoàn trưởng là tôi sẽ giữ vai trò chỉ huy Cánh A trong trận này.

Khi Ðại Ðội 3/11 bắt tay được hậu quân của tôi, tôi yêu cầu anh Thung tiến thật chậm vào vùng bên phải trảng trống để thăm dò địch. Tôi sẽ giữ an ninh bên trái cho đơn vị bạn.

Chỉ vài phút sau đó, súng cộng đồng lại nổ.

Trong máy truyền tin, xen lẫn tiếng đạn bay “Chiu chíu! Ðoàng! Ðoàng! …” là tiếng kêu thất thanh của Thiếu úy Thung:

“Chết hết rồi! Thái Sơn ơi!…”

Thấy phòng tuyến địch đầy vũ khí cộng đồng, tôi không dám mạo hiểm xua quân lên cứu bạn. Tôi ra lệnh cho Ðại Ðội 3/11 rút lui cấp kỳ, sau khi để lại trận địa bốn năm người chết.

Sau đó, lợi dụng lúc trời nhá nhem, Thiếu úy Thung dẫn quân núp theo bìa rừng hướng Bắc của con đường rút về phòng thủ chung tuyến với tôi.

Kịp khi người lính cuối cùng của Ðại Ðội 3/11 nhập vào phòng tuyến của Ðại Ðội 1/11 thì súng địch “Ðùng! Ðùng!” từ bìa rừng bắt đầu bắn như mưa.

Tiếp đó là tiếng “Xung phong!”

Thì ra địch tưởng Ðại Ðội 3/11 còn nằm trên mặt đường, chúng tác xạ ào ào rồi ôm súng tràn qua trảng trống, xung phong chiếm con đường!

Tới khi thấy mặt đường không có ai, địch bèn quay đầu chạy ngược trở lại.

Tôi cho hai khẩu đại liên bắn chéo nhau, cản đường quân địch đang hối hả rút.

Ðâu ngờ súng của ta vừa bắn chưa được nửa dây đạn, thì nghe “Ðùng! Ðùng! Toác! Toác!”

Ðịch đáp trả đòn rất nhanh. Lần này là phòng không 12.7 ly.

Ðạn địch như mưa bão, tới tấp trút trên khu rừng quân bạn đang bố phòng.

Xưa nay đi hành quân tùng thiết, chúng tôi chỉ nghe quen tiếng 12.7 ly và Ðại liên 30 trên xe tank của ta tưới đạn trên đầu địch. Nghe tiếng súng 12.7 ly của quân mình bắn đi mà không thấy cảm giác gì lạ, cứ như nghe M 16 thôi!

Nay bị hai khẩu phòng không của Việt-Cộng bắn với khoảng cách rất gần, quét tới tấp trên đầu mình, tôi mới thấy ớn da gà.

Những tiếng “Toác! Toác!’ nổ chát chúa chói tai. Cây, cành đua nhau đổ gãy, liên tiếp đè lên đầu, lên lưng. Chỉ cần ngửng đầu cao cách mặt đất cỡ hai gang tay là vỡ óc ngay!

Biết mình không phải là địch thủ của lực lượng địch trước mặt, tôi đành phải tìm đường lui.

Trời đã tối, nếu đem quân ra Tỉnh lộ 509 thì thế nào cũng chạm mìn bẫy hay các toán phục kích của Dân Vệ Xã Plei Blang 3, mà nằm tại chỗ càng nguy hiểm hơn.

Nhân lúc địch ngưng bắn, tôi cho tất cả anh em mau mau theo nhau trườn về hướng Bắc con đường.

Tới triền dốc, chúng tôi chui vào rừng, lập một vòng tròn, đào hầm hố phòng thủ.

Tôi gọi Pháo binh Hoa-Kỳ liên tục bắn phủ trùm một diện tích rộng gần hai cây số vuông trên khu rừng thưa lá thấp kéo dài về Tây Bắc.

Ðúng 9 giờ tối, tuyến phòng thủ ngoài cùng, sát mặt lộ của Trung đội 3 phát giác địch từng toán nhỏ đi tuần tra mặt đường.

Rồi, bất ngờ, vài tên địch đâm sầm vào tuyến phòng thủ của ta, súng nổ.

Ta có hố chiến đấu để ẩn nấp, địch thì đi ngời ngời, địch trở thành những cái bia.

Hình như toán tuần tra của địch đã bị quân ta tiêu diệt hết, tiếng súng im…

Tiếng súng đã im, nhưng vị trí bố quân của ta lại bị lộ!

Không lâu sau, quân ta phải ngồi thu mình dưới hố để tránh đạn 12.7 ly.

Ðại liên địch dứt vài phút thì Việt-Cộng lại xông lên,

“Xung phong! Xung phong!”

Ta và địch lại bắn nhau, hai bên đánh nhau được chừng mười phút thì Hạ sĩ Trần Ðợi bị thương vào tay, Thiếu úy Ðinh Quang Biện trung đội trưởng Trung đội 3 xin tôi cho người thay.

Tôi chưa biết sẽ chỉ định ai đảm đương vai trò xạ thủ đại liên, thì Ngô Sanh nắm áo tôi,

– Thái Sơn cho em thay thằng Ðợi!

Tôi đồng ý,

– Ừ! Nhớ cẩn thận!

Tôi chưa dứt lời thì Ngô Sanh đã phóng đi rồi.

Ngay lập tức, khẩu M60 nổ giòn hơn, nhanh hơn.

Tôi vừa nhận ra, Ngô Sanh quả là một xạ thủ đại liên vô cùng xuất sắc! Vậy mà bao lâu nay tôi không biết!

Khẩu M60 của Ngô Sanh thật là lợi hại. Ðịch hết còn hô “Xung phong!” được nữa!

Mặt trận tạm yên, chúng tôi ngồi trong hố cá nhân, phập phồng chờ đợi…

Chừng nửa đêm, tôi nghe liên tiếp hai tiếng “Oành! Oành!” của B 40 pha lẫn nhiều tràng AK 47.

Sau đó, trên máy truyền tin, Thiếu úy Biện hốt hoảng gọi,

– Thái Sơn ơi! Nguy rồi! Thằng Ngô Sanh bị thương rồi!

Tôi vội kéo tay Binh 1 Nguyễn Thiên, hiệu thính viên PRC 25 cùng chạy ra tuyến ngoài, miệng tôi la,

– Thằng Bổng đem Thu Bình 2 sang tăng cường cho Thiếu úy Biện! Mau lên!

Khẩu M 60 của Ngô Sanh đã gãy làm đôi. Ngô Sanh nằm sõng soài trên miệng hố, bên cạnh đó, người tải đạn cho Ngô Sanh là Binh nhì Trần Vở cũng đang ôm cánh tay, miệng rên hừ hừ vì đau.

Ðợi cho khẩu M 60 (Thu Bình 2) của Hạ sĩ Bổng vào vị trí, tôi và chú Thiên hè nhau đỡ Ngô Sanh lên rồi chạy về ban chỉ huy dưới bờ suối.

Ngô Sanh yếu lắm rồi. Ngô Sanh bị cả chục viên AK xuyên vào ngực.

Dưới ánh đèn pin, tôi thấy môi Ngô Sanh mấp máy.

Ghé sát tai vào miệng Ngô Sanh, tôi nghe tiếng Ngô Sanh thì thào,

– Trung úy ơi! Em đi!

Vừa nghe xong lời vĩnh biệt của thằng em, tôi lại vội vàng nhào xuống hố vì đạn 12.7 ly bắt đầu giòn giã đốn gãy cây cành.

Ðạn địch ào ào như mưa đá vãi trên lá. Ðầu đạn khi ghim vào thân cây thì phát nổ lần thứ hai, những thân gỗ rừng to như bắp đùi người ta mà trúng một viên 12.7 ly thì lập tức bị đốn gục xuống liền.

Trước cảnh này, muốn ngăn địch, tôi phải gọi pháo binh đánh tiếp cận vì ta và địch cách nhau chừng hơn hai trăm mét thôi.

Sau hai hỏa tập tưới gần một trăm trái đạn nổ trên mục tiêu thì anh Trung úy Mỹ cho tôi hay, Pháo binh Hoa Kỳ đòi tôi phải thám sát trận địa, báo cáo kết quả đánh phá cho họ, sau đó họ mới thỏa mãn những nhu cầu kế đó.

Tôi nhờ anh cố vấn Mỹ giải thích với đơn vị yểm trợ rằng địch quá mạnh, tôi không thể tiến lên được. Tôi yêu cầu họ phải yểm trợ thêm nữa, rồi tôi sẽ cho quân tiến lên.

Thế là pháo yểm lại tiếp tục. Sau khi bắn vài tràng nữa thì pháo binh Mỹ ngừng luôn. Tôi cố nài nỉ, nhưng họ không chịu cho thêm.

Tôi nghĩ lại thì thấy, mình tiêu thụ hàng trăm viên đại bác mà không thông báo cho họ biết kết quả thì họ ngưng yểm trợ là phải rồi.

Tôi đành gọi về bộ chỉ huy tiểu đoàn, xin Pháo Binh Việt-Nam.

Lập tức, tôi có ngay hai mươi tràng 155 ly trên tọa độ yêu cầu. Nhưng sau đó Tiểu Ðoàn 37 Pháo Binh cũng ngưng bắn.

Lý do họ ngưng bắn là vì chúng tôi không ở trong tình trạng đang giao tranh, chúng tôi cũng không kiểm soát được mục tiêu, nếu họ bắn tiếp, hóa ra chỉ bắn vu vơ phí đạn!

Không còn pháo yểm, tôi quay qua xin Hỏa Long.

Máy bay lên vùng nhưng thấy khoảng cách giữa tôi và địch quá gần, địch lại nằm giữa tôi và hàng rào của xã Plei Bang 3 nên phi cơ AC 47 không dám tác xạ, lý do là không an toàn cho đơn vị bạn và cho dân chúng cư ngụ trong làng Plei Bang 3.

Chiếc Hỏa Long chỉ bay vòng vòng trên trời, thả vài trái hỏa châu, rồi bay đi yểm trợ cho mặt trận khác đang nóng bỏng hơn.

Sáng nay xuất quân, chúng tôi nhận lệnh đi, về trong ngày, do đó tôi chỉ cho anh em đem theo một ngày cơm vắt với hai cấp số đạn. Chúng tôi không đem theo đồ ngủ.

Sau một ngày giao chiến, đạn dược đã hao hụt, nếu phải đánh nhau tiếp, chúng tôi sẽ bị thiếu đạn.

Mới chạm địch, bắn nhau vài ba lần mà tôi đã bị thiệt mất hai người chết và sáu bị thương. Ðại Ðội 3/11 cũng đã có năm người chết và gần chục người bị thương.

Biết chắc chắn rằng nếu chấp nhận ra mặt đánh nhau tiếp thì thế nào mình cũng thua, nên tôi quyết định tránh đụng độ và tìm đường lánh xa vùng nguy hiểm.

Tôi phải để lại cái xác của Ngô Sanh nằm trên mặt cỏ, dự trù hôm sau tình hình thay đổi, sẽ lo tiếp.

Tôi sang vị trí đóng quân của Thiếu úy Thung, cho lệnh anh em cấp tốc rời vị trí.

Chúng tôi theo đuôi nhau đi thẳng về hướng Bắc.

Qua cái triền dốc, hai đại đội tụt xuống một con suối khá lớn.

Ðến bờ suối, tôi cho Ðại Ðội 3/11 vượt sang bờ bên kia, làm đầu cầu, quân tôi theo sau.

Qua hết cái thung lũng hẹp và dốc của suối Ia Thong chúng tôi leo lên một ngọn đồi trọc.

Từ đây tôi có thể nhìn thấy ánh đèn rực lên từ Phi Trường Cù-Hanh và từ phố xá Pleiku.

Tôi cho quân dừng lại, quây thành một vòng tròn.

Tôi báo cáo tổng kết tình hình cho đại úy tiểu đoàn trưởng. Ông tiểu đoàn trưởng cho tôi toàn quyền quyết định đánh hay lui tùy theo tình hình.

Khoảng 2 giờ sáng tôi đang ngồi dựa lưng một gốc cây thiu thiu ngủ thì giật mình bởi một loạt tiếng nổ xé màng tai, “Chang! Chang! Chang!”

Thì ra đó là tiếng hỏa tiễn 122 ly vừa khởi động. Vị trí địch đặt giàn phóng nằm ngay bên kia suối, hướng chính Bắc của ngọn đồi mà tôi đang đóng quân.

Không lâu sau đó là sáu tiếng nổ vọng lại. Tôi không rõ hỏa tiễn rơi trên phi trường Cù Hanh hay trên Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn.

Trên máy truyền tin của anh tiền sát viên có tiếng nói léo nhéo. Tiếp đó, anh Trung úy Mỹ mở ba lô lấy cái đèn phát tín hiệu chớp chớp lóa lóa lên trời đánh dấu vị trí quân bạn.

Rồi có tiếng trực thăng võ trang “Bạch! Bạch! Bạch!” tiến lại gần.

Mấy phút sau thì, “Oành! Oành! Oành! Ồ! Ồ! Ồ!…” Hai chiếc trực thăng võ trang Cobras lượn vòng vòng, chiếu đèn pha sáng rực, rồi chúc xuống, ngóc lên, ào ào tưới đạn đại liên và rocket lên ngọn đồi bên kia.

Tôi nghĩ máy bay Mỹ bắn phá chỉ phí đạn thôi! Lâu nay địch thường dùng những giàn phóng tự động, đúng giờ thì hỏa tiễn bay đi, còn những tên Việt-Cộng gài hỏa tiễn đã chạy mất dạng từ lâu rồi.

Chừng 4 giờ sáng, súng địch lại nổ ran. Lần này Việt-Cộng sử dụng tất cả mọi loại vũ khí bắn thẳng, có cả tiếng không giựt 75 ly! Khu rừng mà tôi mới rời bỏ đêm qua là mục tiêu.

Cũng có nhiều tràng 12.7 ly bắn cao, đạn bay sát ngọn cây bông gòn đơn độc mọc giữa đỉnh đồi mà chúng tôi đang phòng thủ.

Tôi nghĩ, có lẽ Việt-Cộng sắp khai triển một cuộc tấn công rạng đông trên vị trí đóng quân cũ của tôi?

Nhưng không phải vậy! Cỡ nửa giờ sau thì địch không bắn nữa. Tôi chờ mãi vẫn không nghe thấy tiếng hô “Xung phong!” của địch.

Từ lúc đó tôi ngồi hút thuốc chờ đêm qua.

Trời mờ mờ hừng đông, tôi xin Pháo Binh Hoa-Kỳ và Pháo Binh Việt-Nam đánh T.O.T trên mục tiêu để mở đường. (TOT = Time on Target = Bắn từ nhiều vị trí súng cho đạn nổ cùng lúc trên một mục tiêu định trước)

Cùng lúc, tôi cũng xin phòng hờ bốn chiếc Cobras sẵn sàng cất cánh từ Căn cứ Oasis và từ Phi Trường Holloway.

Sương mù tan, quân của tôi vượt suối, dàn hàng ngang, thận trọng tiến lên.

Ðại đội 3/11 nằm lại bên bờ Nam của Ia Thong để làm thành phần trừ bị, sẵn sàng tiếp cứu chúng tôi khi cần.

Vào tới bìa rừng, tôi sợ toát mồ hôi. Ðịch đã rút đi rồi nhưng dấu vết còn để lại.

Cả một vùng rộng lớn nằm dưới rừng cây um tùm là một vị trí đóng quân của một đại đơn vị, cỡ hai tiểu đoàn.

Có ít nhất bốn vị trí phòng không 12.7 ly và hai vị trí DKZ 75 ly!

Mặt đất phủ đầy vỏ đạn đại liên 12.7 ly và 75 ly.

Thì ra trước lúc rút, địch đã giải tỏa gánh nặng đạn súng cộng đồng bằng cách bắn tự do gần nửa giờ đồng hồ!

Vậy mà tôi cứ tưởng, địch bắn để dọn đường cho một cuộc tấn công!

Rõ ràng là địch rất đông, nhưng chúng không cố ý giao tranh.

Chúng chỉ phản ứng khi chúng tôi bén mảng vào khu rừng mà chúng trú ẩn.

Nếu trưa hôm qua địch cố tình chạm mặt, thì đại đội tôi khó tránh một tổn thất nặng nề.

Bao quanh vòng đai phòng thủ là một hệ thống dẫn nước, chứng tỏ rằng đơn vị Cộng-Sản này đã đóng quân ở đây ít nhứt là một tuần lễ.

Giữa khu rừng có một mái tranh nhà bếp với bốn cái lò và bốn cái chảo gang thật lớn. Ðịch rút lui gấp gáp quá nên đã bỏ lại tất cả dụng cụ nhà bếp.

Sát nách nhà bếp là bốn năm ụ đất mới cao nghệu, đó là mồ chôn tập thể các cán binh Cộng-Sản vừa tử trận.

Trên mặt đất loang lổ vết đạn đại bác và hố bom, đầy máu và bông băng cứu thương. Có nhiều mảnh da thịt, cùng nhiều đoạn xương tay, chân người chết văng vãi trên nền đất và trên bờ, bụi.

Em tôi

phannguyenartist.blogspot.com

Phan Nhật Nam

Lang Lê

Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Tranh Donal Zolan

Viết dựa theo cuộc đời và bài thơ “Bé” trong tập thơ “Đêm Tận Thất Thanh” của Phan Nhật Nam.

Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết. Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẵm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngồi ăn cơm bên ngọn đèn dầu, tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn.

Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu Trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết quả là tôi đã đổ được bằng tiểu học năm đó.

Vào lớp đệ thất trường Phan Châu Trinh, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm đệ ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung học. Đến niên học đệ tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên đệ nhị cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cafe, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ thua tôi vài tuổi.

Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi.

Hết năm đệ tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trầm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở…

Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào “tuổi ngọc”, nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi “quyền huynh thế phụ”. Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.

Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi và ra Huế học Đại học Văn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà Nẵng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm được, tôi phụ mẹ nuôi em.

Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

Lật đật trở vào Đà Nẵng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khóe mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt.

Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và òa lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tĩnh mạch ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa.

Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc …. nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai dòng nước mắt chảy nhạt nhòa trên má.

Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giã từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi… Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẫm cả vạt áo me bạc màu. Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi …

Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nửa. Nhưng em thì phải trở lại trường.

Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôi . Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi , cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều. Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời.

Tôi vào trường Võ Bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao giờ dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.

Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khóa của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đổ vào trường Sư Phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người.

Ra trường, tôi chọn binh chủng nhảy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn… Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhỡ có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ.

Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng. Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ quan Hải quân đồn trú ở Phan rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già.

Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lễ nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những “kỳ tích “ của bạn tôi, của Mễ, của Lô ….

Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm. Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lễ ở Phan rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cafe, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim củ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh …

Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Saigòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo.

Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vị. Nhìn em xúng xính trong bộ đồ cưới, tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em.

Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nửa ở vùng giới tuyến, thì “tai nạn” xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết qủa là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng nhảy dù.

Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng, những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long. An Lộc … đã làm vinh danh binh chủng củ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan rang, gần trường em dạy.

Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rảnh rỗi, tôi lại ra Phan rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lảnh giòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao ước mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này.

Biến cố tháng 4 /75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã quá già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em …

Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng lớn, qua Suối máu, đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá …

Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em. Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhòa. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được, bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn người đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.

Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc dến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy.

Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mũi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết.

Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi.

Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy trưởng trại tiết lộ về địa vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ.

Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng, bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dửng dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình.

Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây giờ tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.

Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạo. Em than là dạo này mất ngủ, sức khỏe yếu lắm, em sợ nhỡ có mệnh hệ nào …

Tôi thẫn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi, khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nửa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn?

Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi . Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Người chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, hải quân trung úy Trần nguyên Tuấn.

Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng người nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hóa đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhòa, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi …

Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du …

Bé

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Tranh Doal Zolan

Năm em tôi lên ba

Ðã chịu đời xa bố

Mẹ tất tả thân mòn

Nuôi con bao vất vả

Ðời thiếu nữ lớn lên

Ðắng cay thêm tủi hổ

Áo vá bạc vai gầy

Tuổi thơ sôi cuồng nộ.

Mẹ mất năm mười-ba

Thảm thiết sao kể xiết

Cố nuôi em từng ngày

Khốn khó dài biền biệt.

Bạn học những tỵ hiềm

Thầy, cô nặng trì siết

Em vây chặt buồn phiền

Tuổi học trò thua thiệt

……

Tôi đi làm lính chiến

Trôi nổi chốn trận tiền

Em một mình côi cút

Ðâu được ngày đoàn viên.

Mong em sau lớn lên

Tình duyên nên mãn nguyện

Cầu em đời bình yên

Quên xóa ngày uất nghẹn.

Nào đâu buổi sụp vỡ

Cảnh nước mất tan nhà

Lâm thân sơ, thất sở

Vây quanh khốn mù sa.

Long Thành, chồng tập trung

Anh ngục tù lấm nhục

Trên quê hương lưu đầy

Rừng rực lửa địa ngục.

Bốn con thơ khốn cùng

Sức người căng vượt sống

Tư trang bán sạch dần

Cây rừng khô lá rụng.

……

Tôi đi lên miền Bắc

Thân kiệt cùng thậm ngặt

Nhớ thương em dãi dầu

Nơi quê nhà bằn bặt

Rừng núi trời vào thu

Tù leo đồi đốn nứa

Bên đường đèo nghỉ đỡ

Nghe chuyện buồn thương tâm

“..Người chồng đi tập trung

Vợ ở nhà chết thảm

Bốn con nhỏ khốn cùng

Quay quắt bên thây cứng!!”

Những tưởng nghe nhầm tai

Giật mình gào hỏi lại

Ôi xiết bao kinh hãi

Ðúng tên chồng em gái?!

Chuyện những Ðồi Hoa Sim

Nay một lần lập lại

Không chết người ngục tù

Một mình em oan trái!

Tôi bật khóc trên đồi

Nhìn khoảng không vần vũ

Có còn không.. Ðất, trời!!

Mây mang mang kéo lũ

Rừng chập chùng lá đổ

Sương dầy vây khói xanh

Thật hay không đấy hở?!

Tạo Hóa nghiệt cùng đành!

Cháu tôi ai nuôi đây?

Bé nhất chưa biết nói

Chịu sao nổi đọa đày

Giữa trùng vây khổ đói

……

Năm năm ngày giỗ em

Cấm phòng ngồi gục mặt

Nhói đau trũng ngực nặng

Em chết thật sao Khanh?

18/03/1983

Ngục tối Trại Lam Sơn, Thanh Hóa

Không biết ngày chết. Nhớ ngày em tôi đã có trong đời

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Lời bạt

Chỉ là câu chuyện giản dị của những người lính trong một thời gian dồn dập… Chuyện bình thường, phẳng phiu, không là bản anh hùng ca rực rỡ uy dũng, cũng không đậm nét bi thương làm đọng cứng linh hồn – Chỉ là phản ứng cấp thời của người lính cố tìm lối sống trong cái chết trùng điệp… Phản ứng cấp thời nên ngắn hạn và chóng vánh nhưng mang nỗi thụ động tội nghiệp, đến đỗi ngậm ngùi… 
Mỗi chiến tranh khai sinh ra một lớp anh hùng, mỗi thời đại, biến cố cần thiết một loại người tổng hợp… Chiến tranh Việt Nam kéo quá dài, dài hơn biến cố khởi đầu, dài hơn ước tính chiến lược của những kẻ chủ tâm khởi xướng, chiến tranh Việt Nam dài bất tận, dài miên man được chuyển đi miệt mài trên lưng của hàng triệu con người, những người kinh sợ chiến tranh hơn bất cứ chủng tộc nào của nhân loại… Thế nên chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến không có anh hùng. 
Cuộc chiến chúng ta không có những André, anh hùng trí thức của Chiến tranh và hoà bình, không có Robert Jordan, người chiến sĩ tự nguyện tìm chân lý đời sống qua nỗi chết của Hemingway, chúng ta cũng không có những người thấm mệt của Irwin Shaw… Đây là chiến tranh của người bình thường, người vì đã sống nên phải chiến đấu, người biết yêu đời, yêu người, người thương thân và tự nhiên phải dự phần vào chốn đao binh với linh hồn không chút bạo ngược. Nhưng những người lính đó đã chiến đấu đúng cỡ. Chiến đấu đúng “tiêu chuẩn” chiến trường. Hai mươi năm dài hay hơn nữa, người Việt Nam vẫn đứng vững được trước mọi sức tấn công vì cuộc sống đã đồng nghĩa cùng đời chiến đấu. Lẽ tất nhiên người lính đối phương, phía Cộng sản, lại là một chuyện khác. 
Tuy tràn ngập với đời sống, thế nhưng người lính Việt Nam vẫn là hình ảnh lạ lùng với người… với chính bản thân. Yếu tính lính, tuy chỉ là yếu tố ngoại nhập nhưng không thể cưỡng chế, không ngăn chận nổi. Qua tấm áo, người lính là một sinh vật dị kỳ. Thế giới riêng rẽ dần được tạo dựng. Sinh vật lính tội nghiệp quay cuồng lổng chổng hỗn loạn vào cùng nhau trong khói súng, máu và sự chết… Bản chất con người muôn thuở vẫn còn đấy nhưng qua tháng năm dài tanh mùi máu, qua phút giây đằng đẵng dằng dặc khói bom, người lính biến dạng thành người lạ, biến dạng thành thiên thần, lắc mình thoát nên quỹ dữ… Bản năng được khai phá tận cùng, tội lỗi bốc đầy phủ phê. Lính-sống-cùng-đời-lính không kẽ hở, không phân ly… Yếu tính tạm thời trở thành căn bản, tưởng như gió thoảng ngoài xa nào ngờ bão tố dậy sấm trong lòng. Sinh vật lính vùng vẫy tung hoành trong lòng thế giới ầm vang cô quạnh riêng tư. 
Đang sống trong đời không ai có thể biết hết cuộc đời. Chưa chết không thể hiểu về cái chết. Nhưng có những cuộc sống dựa vào nỗi chết, đặt căn bản trên nỗi chết. Chết không phải là biến dạng, nối tiếp cuộc sống… Nhưng chết ở bên cạnh, ở sau lưng, trước mặt, trùng trùng kín mít giăng giăng bao lấy sự sống… Sống và chết là trạng thái hỗn hợp không kẽ hở. Chết là một cách thế thường trực của sống. Trong “cuộc sống” quái dị kinh hoàng bình thường lặng lẽ đó, người lính Việt Nam đã sống như thế nào?… Quá nhiều dòng chữ đã nói về lối sống nọ. Nhưng chỉ nói được lúc người-lính-sống. Qua khỏi biên giới không xác định giữa khi quả đại bác ra khỏi nòng và tiếng nổ, qua khỏi lúc quả mìn nổ ở khinh binh đi đầu, khói bụi tung cao, âm thanh còn lồng lộn trong óc, mắt rực một màu đỏ mịt mù… Trí não giãn ra chớp nhoáng, lại vẫn còn nghe tiếng “tách” khô ngắn của kim hoả đập vào khối nổ… Trong toàn thể âm – dương, tiếng động mịt mùng và im lặng lạnh lẽo. Người lính “nghe” được cùng một lúc: mình bị mìn… mình còn sống. Phút giây rùng rợn bi thảm độc địa đó là cuộc sống thường hằng của riêng mỗi người lính – Không ai có thể viết ra thành lời được. Không thể một ai viết được vì không ai có thể sống cùng. 
Là một người lính nên có được hoàn cảnh qua chặng đường độc địa ghê gớm trên, cầm bút cố gắng biểu hiện qua dòng chữ nguồn gốc lối sống gây quá nhiều ngộ nhận. Và cũng là để biện hộ giải thích cho chính bản thân. Nơi địa chấn từ lâu đang âm ỉ… 
Vấn đề vừa được đặt ra vấp ngay hố lớn ngỡ ngàng. Khi cầm bút chỉ còn là người viết-văn-bình-yên ghi lại biến cố mà dù hắn ta có dự phần trong giờ phút này cũng đã xa lìa mất hút. Viết có nghĩa không phải là viết riêng cho một cõi-trong-ta, viết ở tinh tuý là nói-cùng-người về ta hay một người nào khác, một đời nào khác… Nhưng viết gì trong chiến tranh? Lại thêm điều khó nói. Nếu bảo rằng chỉ cần kể đến cảnh đời gian khổ và hành động can trường của đời lính thì quá giản lược. Gian khổ quả là một tính chất, nhưng không là tính chất độc nhất, chính yếu, càng không là không khí tổng quát của chiến tranh… Đói, khát, đau đớn, sợ hãi, gian nguy là những góc cạnh đa diện của đời binh lửa, người lính đắm chìm và miệt mài trong đó. Họ hãnh diện với cơ khổ tân toan của mỗi ngày chiến trận, dạ dày quen một ngày một bữa ăn – Gian khổ, trong khía cạnh tích cực là phẩm chất đẹp riêng tư của đời lính chiến – Không phải là yếu tố gây nên tan vỡ, tuyệt vọng. Vậy yếu tính cuộc chiến ở đâu? Lại phải tập trung, gạn lọc, định lượng dần với một nỗ lực lớn để khám phá ra những động tác, lời nói rất thường bề ngoài, bao phủ thêm bởi hệ thống sự kiện rất sôi nổi, bắt mắt, lôi cuốn… Đời sống vốn đã phức tạp và đa diện, đời binh đao lại thêm phần sôi nổi, đa đoan. Viết với sự ôm đồm quá mức, bản văn lần trở thành tập tài liệu ghi đủ các sự kiện, sự cảm xúc vắng bóng không tránh khỏi… Viết ôm đồm quá nhiều, đời lính quá vô cùng mang thêm vẻ ồn ào kệch cỡm đầy âm động bề mặt rất bình dân hạ dần xuống bọt bèo rẻ rúng… 
Viết về cuộc chiến, ắt phải đề cập đến nhân vật chính – Người lính. Nói rõ thêm tính chất của nhân vật chính đó. Thời đại chinh chiến này chỉ có người lính, kẻ mang nghiệp nhà binh, vắng bóng toàn thể anh hùng, vắng và mất hẳn. Anh hùng chỉ là một phản ứng cấp thời – Phút giây ngắn mà kẻ “hào kiệt” bộc phát đó không bao giờ nghĩ đến và suy diễn thành hệ thống luận lý. Chiến tranh này là chiến tranh khoảng cách, khoảng cách từ hai khinh binh mỗi bên, khoảng cách từ nòng đại bác đến mục tiêu, khoảng cách từ phi cơ xuống đất… Khoảng cách đó co giãn tuỳ theo khả năng viễn xạ của vũ khí người lính sử dụng. Anh hùng không còn giữa khoảng trống thật rỗng này. Người lính sống, chết và làm anh hùng do một tình cờ không kiểm soát. 
Viên đạn đi đến, xoáy một lỗ hổng đỏ tươi trên da thịt, người lính đứng tròng, da xanh xám, cúi xuống nhìn máu từ thân thể chảy ra từng dòng ngấm xuống đất, đọng thành vết nâu sẫm trên nên cát xám… Chết! Chữ khô nhỏ vang động trong một khoảng giây rất ngắn. Người lính “cảm” thấy nhanh như tia chớp toàn thể cuộc đời – Đau thương, hoan lạc, khốn khổ, u uất chen lẫn xô bồ hiển hiện trong một chớp mắt – Viết được hết cái “chớp mắt” này không? Chắc là không, không thể được, vì chỉ có người lính đó mới cảm nhận được một lần – Lần độc nhất – Giây phút thiên thu bí nhiệm bão bùng đó. Chỉ có mỗi anh ta qua lằn ranh của sống chết, anh ta đi một mình. Thế nên, viết được gì? Viết làm sao được “sát na” đau đớn linh diệu ấy… Và viết cho ai? Làm gì? Người lính đã chết… 
Thấy hết vẻ tang thương vô ích của hàng chữ viết, nhưng trên tờ giấy ngòi bút vẫn chạy đều… Trong tuyệt vọng im lặng người viết vẫn muốn khai triển, muốn “nói” một điều gì canh cánh – Sự diễn tiến thành hình của đoàn thể hắn tích cực tham dự. Ngày 13.4.1949, lực lượng quân sự Quốc gia đầu tiên được thành hình – Vệ binh Quốc gia – Tập họp của Bảo chính Đoàn, Vệ binh Nam Việt, Vệ binh sơn cước… Những người lính bị cưỡng ép nằm ở trong tay một khẩu Mat 36 hoặc Mousqueton bắn từng viên một, nòng súng không đường khương tuyến và “Quốc gia”, danh hiệu mù mờ với ông vua được gọi là Quốc Trưởng nằm ngoài hệ thống thể chế lập pháp của toàn thế giới. 
Năm 1951, lực lượng vệ binh dần được chính quy hoá không phải do nhu cầu căn bản của Quốc gia nhưng để làm mạnh lập luận “chống Cộng” của ông Tây De Lattre muốn nguỵ trang bàn tay thực dân bởi máu đỏ của đám Phụ lực quân được đóng khung trong những “ổ” bê-tông bao bọc châu thổ sông Hồng… Xong rồi, tôi đã thuyết phục được anh vua ù lì để hắn ta chấp thuận “chính quy hoá” quân đội Annamite!! (Trích Lucien Bordart). Quân đội Quốc gia đã được đẻ non sau một cơn hiếp dâm tàn bạo, đẹp mặt hơn, nó lại được chỉ huy bởi một vị Tổng tham mưu trưởng lừng danh – Thiếu tướng Hinh. Gã Tây con local mang thực dân tính nhiều hơn bất cứ một anh Tây chính gốc, gã tay chơi lái tàu bay Spitfire, Junker, ý niệm quốc phòng không thoát khỏi buồng lái chiếc bà già Morane Saulnier và thành công cụ thể của võ nghiệp sau thời gian dài phục vụ cho nước mẹ – Một chị đầm bán cà phê ở Bắc Phi được mang về Việt Nam, chị đầm có bộ ngực lớn nhất Đông Dương!! 
Được khai sinh trong hoàn cảnh ngất ngư, được nuôi dưỡng bởi bàn tay ghê tởm của những người chỉ huy mà ý niệm Quốc gia chỉ là tiếng nói phảng phất mơ hồ được đọc lên một cách kỳ lạ sau những cơn thử lửa với cường độ tiêu huỷ hàng ngàn sức mạnh to lớn hơn… Năm 1954, chiến tranh tạm ngừng để nhận thấy rằng, bất kỳ dưới danh nghĩa nào, tổng số người chết mang chủng tộc Việt Nam của Quân đoàn Viễn chinh… Chiến dịch Castor hay trận Điện Biên Phủ hạ màn với 13.050 chết và bị thương có một phần ba quân nhân Việt Nam (theo B. Fall). Bắt buộc người ta phải chấp nhận sự có mặt của người lính Việt Nam – Những người lính chết trước khi được xác nhận vì Tổ quốc!! Và người lính “siêu vô danh” đó đã được tôi luyện đẽo gọt trong một thứ lửa ma quái dần dần biến thể không ý thức, không chỉ đạo, thành người lính Quân lực Việt Nam Cộng hoà… Quân lực đối đầu với cộng sản, đạo quân Thập tự không Thiên Chúa – Sự kiện đã xảy ra như một mầu nhiệm không giải thích được. 
Thời gian từ năm 1955 đến 1960 chỉ vừa đủ để tập cho những cá nhân rời rạc, chiến đấu trong lòng đơn vị mới, chưa đủ lượng thời gian để tạo truyền thống, thói quen cho mỗi đơn vị. Chiến tranh lại trở nên tàn khốc và những đơn vị tân lập, những Tiểu đoàn Bộ binh, Biệt động quân chưa kịp sốt vỡ da, chưa đủ lượng huấn luyện, vội vã rời hậu cứ chìm dần trong cuộc chiến quái đản lạ lùng, tàn khốc, chiến tranh số một của chiến sử nhân loại. Thêm một lần nữa người lính Việt Nam chứng tỏ sức đề kháng ngấm ngầm tuyệt diệu. 
Đại chiến mùa hè 72, nối tiếp cao điểm Mậu Thân dựng nên thành tích mới – Ba mặt trận chính, Quảng Trị, Kontum và An Lộc đều bị rơi vào bất ngờ chiến thuật và lúng túng chiến lược… Cộng sản đã chuẩn bị chiến trường quá độ tinh vi, chiếc xe tăng lãnh năm 1966, thực tập nổ máy, tập chạy, tập điều động, tu bổ từng đinh ốc, từng giọt nhớt… Một năm có bao nhiêu giờ nổ máy tại chỗ, bao nhiêu giờ di chuyển trên đường bằng phẳng, bao lâu trên đường núi, suốt sáu năm trời “tổ xe tăng” không chểnh mảng, không ngừng nghỉ ôn luyện, thực tập để tháng 2.1972 có mặt tại Đông Bắc An Lộc, nòng súng ở cao độ nhất định … Giờ G của chiếc xe tăng đã được sửa soạn từ sáu năm về trước. Ở Quảng Trị, Kontum, các yếu tố tác xạ của giàn 130 đã được tính sẵn, con đường chuyển quân bằng molotova đã dọn dẹp quang đãng… Giờ G của chiến trường mùa hè 72 là giọt nước cuối đầy chiếc ly chuẩn bị. Hội nghị Ba lê cũng đi đến bước chót, bản hiệp định ngưng bắn quái đản hàm hồ đã được tu chỉnh từng chữ một trong căn phòng mật đàm giữa Kissinger và Thọ… Không một chữ nhắc đến Quân đội Nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà!! Sự chuẩn bị tinh vi đến độ độc địa chấm dứt – Trận chiến bắt đầu … Lại thêm một lần nữa như mùa xuân xưa, Tân Cảnh, Lộc Ninh, Đông Hà lần lượt bị giặc xâm chiếm, dãy cao độ phía Tây đường 14 do Nhảy dù chiếm lĩnh bị cả một Sư đoàn Cộng sản luận chiến dồn dập tấn công không ngắt quãng… Charlie, Delta những đỉnh núi chỉ do một trăm tay súng chiếm giữ, dần dần bị bóc hẳn dưới những đợt tấn công cấp Trung đoàn với pháo yểm vượt khỏi sức ước tính của những đầu óc nhiều tiên liệu. Và cao điểm cuối cùng ở miền cực Bắc quê hương, Đông Hà, Quảng Trị, hai thị trấn bốc lửa ngọn, tung lớp khói dày che khuất mặt trời hạ chí… Năm trăm chiếc tăng được pháo binh yểm trợ tiếp cận đồng theo hướng Bắc Nam ùa xuống như cơn nước lũ… 
Và cũng như Mậu Thân, dựa lưng vào nỗi chết, người lính Việt Nam đã chiến đấu trong một trạng huống không ngờ – Chiến đấu đồng nghĩa như đang sống. Thiếu hẳn ưu thế kỹ thuật chiến trường, lòng trống vắng tinh thần của hệ thống chủ nghĩa, chỉ với quả tim người và lòng ham sống, tình cảm không được suy nghiệm, luận lý, giải thích một lần trong đời, người lính Việt Nam đã chiến đấu để bảo vệ con người và đời sống – Hành vi cao cả bình thường chưa bao giờ được ý niệm như là bổn phận!! 
Tập thể xao xác của hai mươi năm trước nay như viên ngọc trong suốt đã chứng nghiệm giá trị qua trùng điệp bão lửa. Hai mươi năm, chặng đường dài cơ cực ngút ngàn, núi cao khổ đau chất ngất, thế nhưng sinh vật lính lặng lẽ đó dù chưa ý thức được phẩm chất cao quý của mình, dù bị bủa vây bởi muôn ngàn miệt thị và ngộ nhận – Không phải vì bát cơm, cũng không phải vì lá cờ – Đã chiến đấu và tồn tại như một thực thể tràn đầy bi tráng. Tĩnh từ này vẫn chưa đủ, phải gợi đến hình ảnh một thứ Thánh chịu nạn, gánh cơn đau yếu Tổ quốc để bước lên con đường gai lửa – Hình ảnh “thánh nhân” bình lặng này quá gần gũi với phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng – Hiệp sĩ mới của thời đại tan vỡ đang trên đường xây dựng lại con người… 

1969–1973

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Chương 9

Ba Trung đội trưởng từ ba góc phi đạo đi đến, Thiếu uý Chí Trung đội trưởng Trung đội 3, tướng người vốn to lớn, thứ xương to, mập thịt nặng nề bề thế nhưng chỉ qua hai ngày không ngủ, Chí hốc hác trông thấy, râu mọc loạn xạ vàng úa trên khuôn mặt ố bẩn, Thuấn hỏi đùa Chí: 
“Sao ông to con mà yếu vậy?” 
“Đâu biết, tôi không ngủ là không đứng nổi”. 
Thuấn nhìn các Trung đội trưởng một vòng trước khi nói, sáu cặp mắt mệt mỏi cố chú ý vào lời Thuấn, những sợi gân máu ửng đỏ nổi bật trên tròng mắt màu trắng. 
“Đây, Tiểu đoàn bắt mình chiếm cái cửa An Hoà…” 
“C… Chiếm làm gì mấy cái cửa, giữ Bộ Tư lệnh và mấy chỗ trọng yếu đủ chết rồi, còn bày đặt tấn công”, Trung đội trưởng Trung đội 1 rú lên. 
“Biết vậy, nhưng không hiểu lệnh từ đâu xuống, Tiểu đoàn bắt phải thế”. 
“Đánh thì không ngán nhưng cho tôi ngủ một giấc rồi muốn gì cũng được”. Thiếu uý Chí nói sau cái ngáp. 
Thuấn nhún vai không nói, có một cái gì bất toàn trước khi ra lệnh. Thuấn phân vân. Chiếm cửa thành làm gì? Thuấn cũng muốn hỏi như thế, một đống súng lấy được hôm qua đã bị vất lại trên đường tiến quân, đánh giặc không lấy súng thì đánh làm gì? Thói quen quân đội dạy cho Thuấn: Muốn được gọi là thắng phải lấy được súng của địch, cây súng làm nên anh hùng, xác định khả năng chỉ huy, sự can đảm giúp người sĩ quan bước lên đầy đủ với lời khen, huy chương và cấp bậc. Bây giờ đánh giặc không để lấy súng, Thuấn lạ, lạ hơn nữa trước khi ra lệnh Thuấn vẫn thấy bên cạnh nỗi bâng khuâng có niềm nôn nao thúc giục… 
“Ông 1 (Trung đội 1) đi theo con đường này tiến trước, ông 2 và 3 rút ra sau theo hình nấc thang, có gì để mình rút về đây lại… Tụi nó không đông nhưng bị bắt buộc ở lại đó nên mình phải cẩn thận, con cháu cụ Hồ “tapi” chuyến này, phe ta còn đánh dài dài nên các ông phải giữ vốn”. 
“Có gì yểm trợ không?” 
“Không”. Thuấn xếp bản đồ cho vào túi quần. Thôi các ông đi, tôi theo thằng 3…” Trung đội 1 báo cáo đến cổng thành hai mươi thước, Thuấn ra lệnh bố trí lại xong dẫn hai gã hiệu thính viên len lỏi theo các khu vườn lên đến cuối Trung đội 1. Thuấn bảo viên Trung đội trưởng: 
“Bây giờ cho hai thằng khinh binh chạy lên thử, nhớ bảo tụi nó tránh xa cái cổng, lỡ có gì còn chạy về”. 
Hai gã khinh binh bỏ sắc xuống cúi mình đi ra khỏi khu vườn, sửa soạn chạy qua con đường để vào chân thành. Vừa đến được nửa đường thì súng nổ dài dài dọc trên thượng thành, AK, thượng liên, B40, đồng loạt như một bánh pháo được châm ngòi một lúc. Hai khinh binh thoáng khựng lại, xong lủi hẳn vào chân thành… Thuấn phóng người xuống sau một luống đất, hai gã hiệu thính viên chậm chạp theo sau. 
“ĐM… Nằm đâu cũng được, gì mà phải theo sát sau”. 
“Không theo Đại uý lỡ máy gọi làm răng…” Gã hiệu thính viên người Quảng cằn nhằn. 
“Đến nước này mà mày còn lý luận. Theo tao để chết … Tụi nó nổ dữ quá”. Gã mang máy cười, nụ cười trống rỗng lạ lùng làm Thuấn muốn cười theo. 
“Đưa máy tao nói chuyện với Tiểu đoàn”. 
Vẫn nằm yên sau luống đất, Thuấn báo cáo tình hình với Tiểu đoàn trưởng: 
“Trình Đích Thân (danh hiệu truyền tin) lên không được, tụi nó đầy ở trên đó, thành dày cả thước, M79 bắn vào chỉ trầy được mỗi viên đá. Tụi tôi thử cả trái phải nhưng vô hiệu”. 
“Thôi được, nằm đấy, nhớ nằm ra xa một chút để tôi hỏi lệnh Lima Delta (Lữ đoàn)”. 
Thuấn bỏ máy xuống, nói với một binh sĩ nằm gần nhất: 
“Mày bò lên kêu ông Thiếu uý xuống gặp tao”. 
Viên Thiếu uý lụp xụp chạy đến. 
“Gì Đại uý?” 
“De, lui phía sau khoảng hai cái vườn cho chắc, tụi nó trên cao thấy mình dưới này, nằm một lát nữa ăn súng cối bây giờ”. 
“Vâng, nhưng để tôi kéo hai thằng em về đã”. 
“Sao?” 
“Thằng Hồng với thằng Toàn “đi” rồi!!” 
“ĐM… Mới thấy nó tới được dưới chân thành có can gì đâu?” 
“Dạ, khi Đại uý ra sau này, tôi ra dấu tụi nó trở về, chưa kịp bắn che, thằng Hồng đã dọt lui, thằng Toàn nhảy ra đỡ bị luôn…” 
“Có chắc chết hay bị thương?” 
“Chết, thằng Trung đội phó chạy lên xem rồi…” 
“Sao ông cho nó chạy lên làm gì, thằng cha này gan lắm, chết đi nữa thì tức hộc máu ra đây, Trung sĩ Thái phải không?” 
“Dạ, Trung sĩ Thái”. 
Thuấn nhỏm người dậy chạy lại đầu khu vườn, bên kia đường sát chân thành Trung sĩ Thái đang đứng sát vách vào tường, mũi súng hướng lên cao, hàm râu quai nón lâu ngày không cạo làm mặt Thái trở nên xanh xao, xác hai khinh binh nằm cong trên mặt đường cách chân thành khoảng ngắn. 
“Bắn hết cỡ lên nóc thành”. Thuấn bảo với viên Trung đội trưởng. Súng nổ, vụn gạch và đất trên nóc thành bay mờ mịt. 
“Thái, Thái”. Thuấn đứng dậy hét lớn, vung tay ngoắc liên hồi. Trung sĩ Thái hiểu ý, rời khỏi bực thành, nhảy đến hai xác chết. Thái kéo hai cái xác về thật nhanh, chân của người chết nảy lên mặt đường từng nhịp. Trung sĩ Thái chạy hết con đường bỗng đảo người một vòng, hai xác chết ở hai tay rơi xuống. Thái gượng dậy chạy vào khu vườn Trung đội 1 đang bố trí. 
“Kêu thằng 2 lên”. Thuấn đá vào một người lính nằm kế. “Mày chạy xuống báo ông Trung đội trưởng Trung đội 2 đem cả Trung đội lên trên này, ông Chuẩn uý đến gặp tao. Máy, máy…” Không có tiếng trả lời. “Toản đâu?” Gã mang máy tên Toản lật đật từ dưới chạy lên. 
“Em đây Đại uý”. 
“Sao mày trốn mất tiêu vậy? Sợ chết hả?” 
“Đâu có, Đại uý bảo em nằm lại đừng đi theo”. 
“C… Lý luận nữa”. Thuấn cầm máy liên lạc với Tiểu đoàn xin cho lệnh tấn công. 
“Ông điên hả? Vừa rồi ông bảo đánh không được, giờ này ông xin đánh lên. Lima Delta bảo nằm đó tránh xa xa. Thằng Tiểu đoàn 9 có đến chỗ Thượng Tứ mà không được, cũng kẹt rồi…” Giọng Tiểu đoàn trưởng vang vang trong máy đầy ngạc nhiên và mệt mỏi… 
Thuấn trả chiếc ống nghe lại cho Toản, ngẩng đầu lên. 
“Đại uý gọi tôi?” Chuẩn uý Trung đội trưởng Trung đội 2 vừa đến, giọng thoáng chút lo lắng. 
“Thôi, không cần nữa, lui hết, về sân bay lại, ông dẫn đi trước”. Khi Đại đội về đến sân bay,Thuấn đi tưởng vào trạm hàng không… Trời vừa chiều sương dày, mưa phùn mù mịt, gió rét… Đưa tay lên xoa xoa ở mặt đất, theo nước mưa dính nhớp ở tay, Thuấn đi qua xác người phi công. “Như vậy ông chết được ba ngày rồi đó hả? Gia đình ông có ai biết không? Cha mẹ, vợ hay người yêu đang ở Sài Gòn, Nha Trang hay Đà Nẵng, họ có nhớ đến ông hay đang tìm đường sống dưới cơn mưa đạn trong một thành phố khác?” Thuấn đứng ở cửa phòng đợi nhìn xác người chết ngửa mặt lên trời lất phất mưa phùn. 

“Đại uý cho em mượn hộp quẹt nấu cơm”. Binh nhất Thiên rụt rè hỏi Thuấn. 
“Mày thì khi nào cũng chỉ lo nấu ăn”. Giọng Thuấn pha chút giễu cợt, Thiên không nói, bóp hai tay vào nhau, hai chân run run vì lạnh, nửa vì bối rối. Thuấn nhìn gã lính thân tín chợt thấy lòng trầm xuống, hai ngày hai đêm sát cận kề cái chết và tột cùng khốn khổ, đêm giao thừa chạy bộ từ cây số 17 về đến An Hoà, ngoại ô xứ Huế, gần 20 cây số dồn lên trên đôi chân không cảm giác, không phải chân người đang sai khiến bước tới nhưng chỉ có những bắp thịt chuyển động đẩy đưa thân thể về phía trước, trận đánh ác liệt ở làng Đốc sơ… Hai ngày Thuấn men dọc theo sợi dây vô hình giữa cái sống và cái chết, không thức ăn, nước uống ở trên sông đào, nước tanh mùi máu và hơi người chết. Thuấn nhai vội mấy trái chuối lấy từ bàn thờ bị trúng đạn, nải chuối đã bị cháy sém nám khói đen, người chủ nhà chết trong động tác sửa soạn cho thế quỳ trước bàn thờ… Thuấn sống trong cảnh chết, ăn thức ăn có mùi vị ma quái và thiêng liêng, thức ăn để dành cho tổ tiên trong những ngày Tết. Thuấn không để ý, tất cả năng lực dồn lại để luôn luôn tỉnh táo, để lắng nghe súng cối địch, dặn dò các Trung đội trưởng nhớ phân tán binh sĩ tránh B40, Thuấn nhắn nhủ mình phải sống để ra lệnh rõ ràng, nếu cần la hét chưởi bới các Trung đội trưởng, bảy mươi hai binh sĩ còn lại đang trông chờ Thuấn, họ chỉ có thể đứng và bắn thật chính xác vào một bóng đen đang di chuyển, khôn khéo tránh né một tràng đạn AK, nếu còn nghe giọng ra lệnh, hay chiếc bóng của Thuấn chạy len lỏi qua những thân cây phủ sương dày đặc. Hai ngày nay Thuấn đã sống quên bản thân mình, tất cả giác quan, sức mạnh và phản ứng dựng đứng trên độ căng tối đa của năng lực… Binh nhất Thiên luôn luôn theo Thuấn trong mọi giờ khắc của hai ngày qua. Thuấn ngồi, Thiên khép nép ngồi cách một khoảng, đang ở Trung đội 2 Thuấn chạy vọt lên Trung đội 1, bao giờ cũng vậy, sau hai gã mang truyền tin có bóng dáng lềnh khềnh chậm chạp của Thiên với chiếc ba lô căng cứng vật dụng. 
“Mấy hôm nay Đại uý không ăn cơm”. Thiên đánh hai tay vào nhau để giảm bớt vẻ ân cần của câu nói. 
Thuấn nhìn chiếc má hóp của Thiên nôn nao như trước một ân huệ không trả được. Binh nhất Thiên vốn người cao lớn, ăn khoẻ, có thể ăn không cần thức ăn một hơi mười chén cơm lớn… Mấy hôm nay Thuấn không ăn cơm, Thiên không dám nấu, Thiên sợ phải ăn một mình trong khi ông thầy bận la hét chỉ huy. Thiên nhịn ăn người hốc hác thấy rõ… “Đại uý ăn trái chuối, Đại uý ăn bánh tét”. Thiên lần mò tìm kiếm trong ngõ ngách của những nơi đi qua để tìm thức ăn cho Thuấn, quên hẳn nhu cầu cho chính thân mình, một cơ thể yên lành, khoẻ mạnh và bình thường. Thuấn thấy nét trũng trên má Thiên, vòng thâm quanh đôi mắt… ” ĐM…” mày ốm nhóm, Thiên ơi”. 
“Dạ”. Binh nhất Thiên cười, Thuấn cười theo. Hai thầy trò cười thật vô nghĩa, có một niềm hoan lạc thật ấm áp len lỏi trong hơi lạnh của buổi tối đang nặng nề vây bủa. 
“Mày định nấu cơm, nhưng có gì để nấu?” 

“Em còn giữ gạo và đồ nấu ăn”. 
“Tối hôm kia mày không ném đi?” 
“Không, có ăn cơm vẫn hơn Đại uý, hơn nữa cái soong này còn mới, em mua trong tháng rồi…” 
“Mày vác nguyên ba lô chạy từ ngoài Quảng Điền vào?!” 
“Dạ… Đại uý cho em mượn hộp quẹt”. 
“Tao không có, mày kiếm đâu đó, ra chỗ thằng người chết biết đâu kiếm được cái Zippo”. 
Thiên bước đến chỗ gã phi công, lưng người lính rộng phẳng, cong xuống di động chậm chạp, tưởng thấy được một khối nặng của chiếc sắc đựng quần áo, soong chảo và thức ăn… Hơn hai mươi cây số chạy bộ với khối nặng ba mươi ký trên lưng. Thuấn thấy cay ở mắt, trong nguy nan và cái chết, binh nhất Thiên vẫn không quên bổn phận, một bổn phận tầm thường để luôn luôn sửa soạn nồi nấu cơm. Thế giới của Thiên bề bộn với bốn hộp thiếc được dán nhãn: mỡ, đường, cà phê và tiêu ớt. Chung quanh dây lưng đạn có những túi nhỏ đựng kim chỉ, dăm hột nút, thuốc lọc nước. Thiên quanh quẩn đề phòng mỗi một động tác của Thuấn, nghĩa vụ và bổn phận của Thiên khép cứng chặt chẽ xung quanh người chỉ huy… Bao nhiêu lâu Thuấn chỉ cảm thấy lờ mờ công việc săn sóc chu đáo đó, giữa Thuấn và người lính không còn phân cách, Thuấn coi Thiên như một phần của thân thể, một cái bóng khít khao… “Hết cả thuốc rồi”, Thuấn lẩm bẩm trong miệng trong khi vò bao thuốc … “Dạ, thuốc đây Đại uý”. Thiên chìa một gói thuốc mới… “Chán quá Thiên ơi”. “Dạ”. “Thầy trò mình chuyến này cực quá”. “Dạ, dạ…” “Mày lên trước kéo tao lên sau”. “Dạ…” binh nhất Thiên dạ suốt ngày, trong rừng sâu, trong chái bếp, trên đoạn đường Tam Quan – Bồng Sơn. Quốc lộ số 1 bị đời xáo nát bấy, đường xe lửa lật sang một bên. Thuấn nhặt từng viên đá cuội ném hai bên vệ đường. “Thuở nhỏ tao hay đứng ở đường rầy xe lửa nhìn về phương Nam và tưởng đi miết sẽ đến Sài Gòn”. “Dạ”. “Mày đi xe lửa chưa?” “Dạ, chưa thấy xe lửa chạy, chỉ thấy nó ở nhà ga”. “Vậy thì làm sao mày biết cái thú vị của đi xe lửa được”. “Dạ…” 
Thiên sát Thuấn mỗi bước nhỏ, dưới lằn đạn trong mưa dày của xứ Huế, trong hơi nóng bốc lên hừng hực từ núi đá ở Pleiku. Bao nhiêu năm như thế đã trôi qua, tối nay Thuấn thấy chiếc lưng của người lạ ở ngoài mình, một người khác thật lạ, thật xa, một người không chút tương quan tinh thần hay thể xác, người đó bao nhiêu năm gần gũi đến độ nhập vào cùng Thuấn qua một thứ nghĩa vụ do nhà binh xác định… Không có nó chắc mình đói cả trăm lần, nó mắc nợ gì với mình rồi, hình như nó chỉ xa mình một lần khi đọc kinh vào buổi tối trong một ngày… Thuấn đưa tay lên xoa mặt, những sớ thịt rung động trước luồng nước mắt xúc động vô hình như đang đầm đìa trên má. “Có hộp quẹt không Thiên?” 
“Dạ có, cái bật lửa bằng vàng, mình có nên lấy cái ví của cha này không, Đại uý?” 
“Mai mình chôn nó, đem cái ví vào đây xem ở đâu báo cho nhà nó biết”. 
Bên bếp lửa đỏ, Thuấn ngồi lật từng tấm ảnh trong ví của viên sĩ quan phi công, tấm ảnh lớn nhất chụp ở Nha Trang, gã sĩ quan mang quần áo trắng của quân trường chụp chung với một cô gái mặc quần jean, áo pull, gió biển thổi tóc cô gái bay bồng bềnh che nửa mặt. Thuấn nghiêng bức ảnh vào lửa… À, ca sĩ Kiều Ly, cô ca sĩ nổi tiếng chịu chơi của hai tỉnh Đà Lạt và Nha Trang. Một vài người trong khoá Thuấn cũng đã lăng nhăng với cô này. “Chủ nhật vừa rồi con Kiều Ly đi chơi với tao suốt cả ngày, nó cho de tụi dưới Nha Trang để lên đây với tao”. Gã tên Thông oang oang khoe với bọn Thuấn trong phạn điếm, trong khi gã khoá đàn anh đang lườm lườm rình rập. “Nói nhỏ mày, tụi niên trưởng phạt chết cha. C… ĐM… đếch ngán, tụi nó ghen với tao…” Thông cười thật khoái trá. Thuấn đưa bức ảnh cho Thiên trong lúc gã lính mở nắp xem nồi cơm đang chín tới. 
“Mày thấy cô này đẹp không Thiên?” 
“Không, lùn với chân to dị hợm”. Thiên phê bình sau khi chớp chớp đôi mắt để quan sát. 
“Vậy chứ cô ta nổi tiếng lắm đấy. Ở Đà Lạt thằng nào cũng giành nhau để làm quen cô ta, không phải sinh viên sĩ quan mà mấy cha cấp lớn cũng vậy nữa”. 
“Đại uý có quen cô ta không?” 
“Không, chỉ biết thôi, cô này bồ thằng bạn tao… Ở Đà Lạt tao chỉ mê cỡi ngựa, cỡi ngựa khoái hơn cỡi đàn bà nhiều… cỡi lâu hơn, oai hơn, cỡi đàn bà cao lắm nửa giờ là ngất ngư, mày biết thượng mã phong không Thiên?” 
“Dạ không”. Thiên tắt bớt lửa, đứng dậy sau tiếng cười hì hì, che giấu sự không biết của mình về điều Thuấn hỏi. 
Thuấn nhìn lại vào tấm ảnh, cô gái choàng tay qua lưng gã tuổi trẻ, dựa đầu vào ngực, nụ cười say đắm và sung sướng. Em cười và chụp hình như thế này bao nhiêu lần rồi? Em nằm ngửa ngất ngư bao nhiêu đứa? Từ tên sinh viên sĩ quan mới lớn đến gã Trung uý, Đại uý sành sỏi, sành sỏi ở bộ râu mép lún phún, điếu thuốc cắn chặt giữa hai hàm răng, kể một lô vũ nữ hạng sang với những chi tiết về mông, vú, thói quen khi làm tình, em cũng đã nằm dưới bao anh Tá đầu hói, bụng bự, em chống hai chân, lắc lư chiếc mông, mông em lớn, chân em lớn, tựa vào thật chắc chắn, xoay xở vững chãi dễ dàng… Em bây giờ ở đâu? Sài Gòn, Đà Lạt hay Nha Trang? Em có nhớ đến gã phi công đã cùng em chụp chung một tấm ảnh hạnh phúc, em có nhớ nụ cười mãn nguyện và vòng tay âu yếm vòng quanh một thân thể chắc nịch mà giờ đây đang nám đen nằm ngửa trên chiếc Jeep bốc khói. Em có nhớ khuôn mặt gã trẻ tuổi đã cùng em qua một đoạn đời hoan lạc, khuôn mặt đó đã tím bầm, thủng lỗ, chảy máu tanh tao bốc mùi trong cơn mưa buốt cóng của xứ Huế. 
“Đại uý, ăn cơm, Đại uý?” 
“Ừ”. Thuấn ném tấm ảnh vào lửa. “Mày có biết đường Âm Hồn không Thiên?” 
“Dạ nó ở phía trên kia, gần hồ Tĩnh Tâm… Đại uý có ai quen ở đó?” 
“Không, tao quen làm gì!” Thuấn nghĩ đến Quỳnh Như như một kỷ niệm đã khuất. Chỉ mới hai ngày hai đêm. Thuấn gõ gõ chiếc đũa vào miệng chén… Hoả châu từ Mang Cá bắn lên váng đục trong sương mù. 
“Khi chiều sao Đại uý đòi tấn công lên cái thành làm gì?” 
“Thấy thương Hồng và thằng Toàn của Trung đội 1 chết tao nổi sùng, thêm Trung sĩ Thái ở đâu chạy lên lãnh một phát trúng luôn”. 
“Tiểu đoàn không cho Đại đội mình lên”. 
“Tao điên thôi chứ ông Tiểu đoàn trưởng điên nữa sao? Lên lúc ấy giờ này đâu ngồi đây được, lên là kẹt luôn, về hết nổi”. 
“May quá, Tiểu đoàn cho phép Đại uý thì giờ này khổ rồi, lần sau đời đời đừng xin như vậy nữa”. 
Lần sau, Thuấn mỉm cười, lần sau đâu có nữa. Đúng như thế, Thuấn cũng lạ với thái độ của mình lúc ban chiều. Hai người chết nằm cong queo, hàm râu đỏ úa bụi của Trung sĩ Thái, hai tay hai người chết, bước chân xiêu vẹo trống trải, loạt đạn cày trên mặt nhựa, người hạ sĩ quan lảo đảo. Tất cả sự kiện gợi nên cảm giác bị săn đuổi thua kém. Không phải vì hai binh sĩ chết, Thuấn đã mất thật nhiều thuộc hạ, Thuấn mất những người rực rỡ, thân ái hơn binh Toàn, binh Hồng như khi mất Thiếu uý Phương trên tay… Trái mìn nổ Phương ngã vào Thuấn áo quần bị xé nát, máu chảy ra từ những lỗ thủng đẫm ướt lồng ngực khoẻ mạnh phơn phớt lông tơ. Phương hai mươi tuổi vừa ra trường được sáu tháng, Phương gọi Thuấn bằng anh thay vì cấp bậc, Phương để râu để trở nên người lớn, Phương tập uống rượu đế ngâm nước đá… Phương sống hồn nhiên và chết tức tưởi. Thuấn mang Phương trên tay chạy bay xuống đồi, cỏ gai cắt đứt mặt, máu và nước mắt Thuấn đẫm ướt vành môi. “Anh Thuấn, Thuấn…” Phương thều thào chỉ vào ngực nơi dòng máu đang chảy, mặt thất sắc, mắt đứng tròng và Phương chết tội nghiệp. Nhưng lúc ấy chỉ có phẫn nộ bề mặt để hét lớn qua máy thúc giục Đại đội tiến lên, tên Việt Cộng bị bắt trói giật hai khuỷu tay được đẩy tới trước mặt chỉ gây cho Thuấn cảm giác chán ngán. Tên Việt Cộng khoảng 15 tuổi, xanh mét, run rẩy dưới cơn sợ không gợi cho Thuấn cảm giác về vóc dáng kẻ thù đúng cỡ. Nhưng chiều hôm nay, khi nhìn hàm răng của trung sĩ Thái trong cơn lao đao, bộ râu mệt mỏi ngang tàng của người hạ sĩ quan xoáy trước mặt Thuấn như tấm bia trụt khỏi tầm đạn đạo… Thuấn nổi giận vì mất hai người lính, nổi giận vì người hạ sĩ quan đã làm một hành động dũng cảm, nhưng tất cả thất bại chỉ vì Thuấn, tình cảm hỗn độn này thúc giục Thuấn nôn nao… Mình vẫn còn háo thắng. Thuấn có cảm giác như vừa trông thấy đàng sau lưng binh nhất Thiên, có những lạ lùng bỗng từ đâu hiển hiện như ánh sáng đột chiếu trong bóng đêm. 
“Bây giờ ông tính sao, mình kẹt ở đây đã hai ngày”. 
“Đợi, kiếm dịp trốn vào Mang Cá”. 
“Dân chúng đi hết”. 
“Họ đi ra ngã Thượng Tứ để qua phía bên kia sông, mình qua bên ấy làm gì? Đây cách Mang Cá chỉ khoảng vài trăm thước, mục tiêu của ông và tôi ở đó, mục tiêu độc nhất”. Minh đưa một ngón tay làm ra vẻ quan trọng như đang thuyết trình hành quân. 
“Đồng ý, tôi chỉ hỏi ông vậy thôi, ở đây chỉ ngán nỗi đánh nhau lớn đến lúc xài bom thì tụi mình hết đất, ngoài ra tôi cũng không có ý định gì khác, tôi còn ngại bà dì ông với cô con gái, vợ chồng tôi, hai đứa con làm phiền họ, đàn bà khó xử thật”. 
“Ôi, loạn mà ông, ông với tôi tới đây coi như giữ nhà cho bà ấy, phải cám ơn ông đàng khác”. 
“Nhưng tôi vẫn thấy không ổn tí nào”. 
Minh và Lạc cùng im lặng khi Quỳnh Như đi đến. Quỳnh Như không còn vẻ tươi mát của hai ngày trước. Quỳnh Như của cuộc tình mới nở đầy ắp thiết tha, làn tóc nay phải cột chặt, quần đen, áo len ngắn, chiếc manteau đỏm dáng thường ngày được nâng niu gìn giữ nay ố bẩn, Quỳnh Như khó khăn và bực bội. 
“Em định đi hở Minh?” 
“Ừ, ở đây có ngày Việt Cộng nhào tới là em mất chỗ đội nón, hơn nữa nhà cũng sắp hết gạo”. Minh giận dữ gằn mạnh từng chữ, sự ghét bỏ họ hàng bên ngoại, vẻ lúng túng tội nghiệp của Lạc làm Minh nổi giận nhanh chóng. Lạc vội vã đứng dậy: “Chào cô Như”. 
“Dạ vâng, có gì mà Minh giận với tôi thế?” 
“Vâng…” Lạc chùi chùi hai tay vào ống quần, gã Trung uý Nhảy dù của 18 năm chiến đấu dọc nước Việt Nam không tìm được câu trả lời. 
“Chẳng có gì hết, ông Lạc về đàng hầm chỗ ông, để tôi nói chuyện với bà chị tôi”. 
Lạc thở phào dễ chịu bước đi. “Chào cô Như”. Minh nhớ lại cảnh Lạc giả vờ say rượu ở Darkto đòi hiếp mụ chủ quán… Trung uý Lạc tay súng, tay cầm chai bia. 
“Thế nào, em út đâu hết?” 
“Dạ, dạ… Thưa ông Trung uý em nó chạy hết”. 
“Không có em thì phải thế người khác…” Lạc tu một hơi hết phần bia trong chai, choảng, vỏ bia được ném vào một góc nhà. Lạc đút súng vào lưng quẩn cởi nút áo… “ĐM… để lính commando biểu diễn xay cà phê cho anh em coi”. 
“Dạ… thế?”! Mụ chủ quán chắp hai tay trước ngực. 
“Bà…” Lạc tiến tới một bước. 
Mụ chủ quán kiêm luôn nghề tú bà co rúm người lại khi Lạc vừa chạm phải. Nét mặt trân tráo hỗn hào của mụ chứa biển hẳn, người đàn bà lùi lại lùi lại, hai tay che ngực…” Ông Trung uý, ông Trung uý, ở đây không được”. 
“OK, hà hà không được thì vào trong kia…” Lạc tiến tới, xoay thân hình ngắn ngủn phì nộn về lối hành lang giữa hai dãy phòng kín cửa… Chen trong tiếng đều đặn của chiếc giường Minh nghe tiếng xuýt xoa: “Trung uý, Trung uý…” Bây giờ gã Trung uý cựu cai commando lén lút đi từng bước thật nhẹ ra khỏi căn phòng, sau khi lí nhí … “Chào cô Như!!” 
“Bây giờ em nói chị hay, em và vợ chồng ông Lạc kẹt lắm mới vào đây, mai mốt hay chút nữa nếu thuận tiện thì tụi này chạy về Mang Cá, thế thì có gì để chị và mợ phải phiền nhiễu cau có, thời loạn giặc giã người ta chết mỗi giờ, mỗi phút, đây này chị nghe 105 nổ trên thượng thành đó, bây giờ chỉ cần ở đài tác xạ ra lệnh bắn qua trái thêm vài trăm ly giác thì cái nhà này sập, mợ và chị có cau có được nữa không?” 
“Minh, chị van em, người ta là bạn em, ở đây một vài bữa đến nỗi gì mà chị phải cau có, ngoài ra không có em và ông Lạc, chị và mợ dâu dám ở đây… Em hiểu giùm chị, chị không có bần tiện đến như thế, chị xin lỗi em, xin lỗi ông Lạc, chị không phải như em nghĩ”. 
“Thế thì sao?” Minh hầm hầm đứng dậy. “Mặc chị, em đi coi tình hình, có gì em về Mang Cá”. Minh vụt nhanh ra cửa, ngoài đường ở nơi xa có tiếng súng nổ chen nhau. 
“Đừng Minh! Minh!” Quỳnh Như chạy theo ra đến cửa ngõ. Một trái đạn rơi vào vườn bên cạnh, Quỳnh Như ngồi thụp xuống, chạy lại vào nhà, ngã người xuống chiếc nệm đặt dưới đất khóc tức tưởi. Sợ, lần đầu tiên nàng tiếp xúc với chiến tranh và tiếng nổ, một tiếp xúc gần và tàn bạo. Chiến tranh bao nhiêu lâu chỉ thấy được qua báo chí, radio, ở trái sáng lửng lơ thần bí đỏ màu máu hay vàng vọt trên nền đêm đen thẫm phía ngoại ô. Quả sáng lửng lơ chao động không gây ý niệm kinh hoàng đầy đủ, không vẽ đủ không khí tai ương khốn khó của bụi cây, rạch nước xôn xao bước chân người, không dọi đủ nòng súng đen lạnh giá. Quỳnh Như chỉ thấy ở xa một vùng trời đêm rực màu đỏ… Đẹp, có thể là như thế! Chiến tranh ở ngoại ô, ngoài thành phố, sau luỹ tre âm u xa cách với trang sách kín chữ. Chiến tranh, Quỳnh Như chỉ thấy được gần nhất ở chiếc quan tài phủ lá cờ vàng di chuyển trên lòng một chiếc GMC, chiếc xe vút qua vội vã, quan tài hơi chuyển động, mùi ngai ngái được đọng lại chốc lát trong không khí. Người chết được chuyển đi nhanh và lặng lẽ như một món hàng khó chịu. Người chết không nói được, nắp quan tài đóng, lá cờ vàng mệt mỏi, chút hơi thối phảng phất. Người sống nhìn chiến tranh qua một hình ảnh xám đặc phiền muộn. 
Nhưng bây giờ Quỳnh Như đã được thấy chiến tranh thật sự. Chiến tranh ở trái đạn, không biết đạn gì, súng cối hay đại bác nổ đốn sập một cây thông hai người ôm. Tiếng nổ không phải chỉ bùng tai, nhưng vang dội trong ngực, luồn theo mạch máu chảy gây thành dãy nổ dây chuyền trong thịt da. Tiếng nổ làm nẩy quả tim, làm ngu si hôn ám trí óc. Nổ ở chỗ này? Bên kia? Bây giờ hay giờ tới. Quỳnh Như nhìn ở đâu cũng thấy tiếng nổ, nàng tưởng toàn thể bầu trời đang nứt thành những mảnh nhức nhối đầy âm vang. Chiến tranh đến gần giúp Quỳnh Như nhìn được thêm người chết. Không phải chết yên lành, đẹp đẽ như ông ngoại, chết từ từ, chết đến từ tốn nhẹ nhàng từ chân, lên ngực, ông được tắm bằng nước có mùi thơm, ông được mang áo mới, đội mũ vàng, tay chân bóp rượu vuốt lại nghiêm chỉnh thẳng thắn. Ông chết trong sự lơ mơ thấy được một Niết Bàn hạnh phúc, vây bọc như tiếng tụng kinh của khuôn hội Phật tử… “Nam mô thiếp dẫn đạo sư… Nam mô thiếp dẫn đạo sư…” Ông chết từ từ, thiếp vào nơi yên ổn. Người chết ở đây thì khác, người chết khi chạy, đang há mồm như van xin, đang đưa tay lên trời tuyệt vọng. Như hai mẹ con người hàng xóm chiều hôm qua đang đứng trên bờ rào để xin phép Quỳnh Như qua gánh nước. Ngày thường người mẹ nổi tiếng là hung dữ hỗn hào, bao nhiêu lần Quỳnh Như nghe bà ta đay nghiến người con gái về một lỗi không đâu. Giọng người Huế the thé rả rích nhức nhối từng chữ. “Con ơi là con ơi, thằng cha mi lúc xưa đã làm tao khổ điêu khổ đứng, chừ đến phiên mi, mi mới nứt con mắt mà đòi rượng đực… Mả cha tiên sư, cái thứ máu lăng loàn của thằng cha mi đó…” Quỳnh Như đóng cửa sổ, máu lăng loàn, hình như có chút ám chỉ nào đó. Quỳnh Như tưởng như mụ ta thấy được cảnh nàng oằn người tha thiết dưới cơn chuyển động dục tình. Tiếng hét của người đàn bà len lỏi qua hai khu vườn, qua lớp cửa sổ chọc vào tai Quỳnh Như buốt nhức như khi siết lưỡi dao cạo trên mặt mụn bóng sáng. Nhưng chiều hôm qua người mẹ xuất hiện dưới một vóc dáng khác. 
“Thưa cô, cô cho mạ con tui qua xin mấy đôi nước, nước ngoài phông tên không còn nữa… Dạ, dạ cám ơn cô…” Bà tay xoay qua cô con gái. “Con vô lấy đôi thùng cho mạ đi gánh”. 
“Để con gánh, mạ gánh làm chi”. 
“Con đang có… Nghỉ đi…” Bà mẹ xây qua phía Quỳnh Như. “Hắn đang có mà đòi đi gánh, hắn làm như tui già lắm đó cô… Hắn sợ tui cực đó mà”. 
Và bà mẹ cười, nụ cười ngây ngô sung sướng đang được thương yêu. Ầm! Quả đạn nổ bên bờ dậu, hai mẹ con được nâng lên một khoảng xong ngã ra hai phía. Quỳnh Như chạy vào bếp chui xuống hầm. Cửa nhà bếp bỏ trống, nàng nhìn được phía bên kia vườn. Bà mẹ bò bằng hai tay và đầu gối, đầu tóc đen rũ xuống kín mặt. Bà ta bò đến nơi người con, cúi xuống như chó mẹ hít hơi chó con. Bà mẹ ngồi dậy, cởi chiếc áo đắp lên mặt cô con gái, xong run rẩy nằm xuống trên thân hình người con… Một thứ ánh sáng vàng vọt giá rét chiếu lên tấm lưng trần nhăn nhúm bất động. Quỳnh Như mở to mắt, nàng nghe được tiếng khóc im lặng của người mẹ trong hơi gió xào xạc thổi lớp lá chuối đưa đẩy phiền muộn. Cái chết bắt đầu và chấm dứt dưới mắt Quỳnh Như thản nhiên như chiếc lá vừa rơi. 
Hai ngày sống với chờ đợi trái nổ, Quỳnh Như thấy trong lòng những biến đổi lạ lùng. Trong bóng tối của căn hầm dưới bộ ván gõ, như một người ngồi trầm tư với chiếc bóng mình trên vách, nàng thấy rõ được hết quá khứ mộng ảo phù du. Tình yêu cay đắng, xót xa, lần khám phá ra mình qua mối tình say đắm nổ bùng như dòng điện luồn theo mạch máu, Quỳnh Như cảm được sự hững hờ khi nghĩ đến nỗi ham mê nồng nhiệt cuống quít cách đây hai ngày. Trong bước chân vội vã chạy vào hầm, Quỳnh Như chỉ thấy cơn thúc giục nồng nhiệt để tồn tại, bản thân thực sự thân yêu của mười ngón tay luôn được tỉa gọt cẩn thận. Bây giờ Quỳnh Như chợt nhớ, tại sao có giọt nước mắt thật chân thật khi nhìn đống tóc rụng trong buổi sáng ngã bệnh, khi móng tay dài trắng hồng bị gãy, Quỳnh Như đã khóc say sưa đau đớn trong những trường hợp như thế! Tiếng nổ làm Quỳnh Như chạy thật nhanh để không nghĩ đến được Bằng với căn phòng đầy bóng tối, mái tóc đau đớn dằn vặt và phút giây ngã xuống hầm hập mê mải. Quỳnh Như cũng hết sức để nghĩ được đến Thuấn, tình yêu vội vàng mà của ba ngày trước đã đốt cháy hết sinh lực của mỗi tế bào da thịt, trí não. Quỳnh Như tưởng mình có thể chết đi để mối tình tồn tại. Nhưng đến bây giờ, sau bốn mươi chín giờ gần gũi với cái chết trong căn hầm tối Quỳnh Như chỉ nhớ được có một người – Người thân yêu gần gũi độc nhất, xác thân có góc cạnh và hình khối – Chính nàng. 
Minh nép người vào hàng rào chè xanh lần lên đến ngã tư. Hướng về Mang Cá đường vắng, nhà kín cửa, vài con chó cụp đuôi chạy len lén qua mặt đường trống trải. Lũ thú vật chống chỏi tai ương bằng chiếc đuôi quặp vào che bộ phận quý giá, bí mật. Minh cho tay vào bụng sờ báng súng, cây súng quá nhỏ so với nguy biến đang bao quanh. Lạnh. Minh rùng mình. Nỗi sợ bốc hơi tăng thêm cường độ rét buốt của thời tiết. Có xác chết nằm cạnh một gốc cây, xác chết mặc veston mà xám, phần ở bụng căng cứng, tay người chết mở ra. Minh đứng nép vào gốc cây, liếc nhìn xuống cổ tay người chết, kim đồng hồ chỉ 10 giờ. Chắc giờ thằng cha này chết. Ít nhất nó cũng được mặc áo mới khi chết. Đột nhiên Minh cảm thấy vui trong lòng với ý nghĩ vừa đến. Nỗi vui vẻ bình yên thấy mình được bình an, lạc thú hơn kẻ khác. À ra mình chưa chết, chết nằm lăn như thằng cha này quả thật không sung sướng chút nào. Mặt trời hơi le lói, nắng ấm dọi xuống từng đường vàng sẫm trong sương mờ. Minh cảm thấy hăng hái và tự tin. Ít nhất mình cũng chưa chết, gắng qua thêm một ngã tư nữa, đến gần hồ Tịnh Tâm thì cách Mang Cá không bao xa, xong kiếm lại Đại đội kéo lên chỗ nhà bà mẹ, đem Lạc và gia đình về. Đại đội mấy hôm nay ai chỉ huy, lính có bao nhiêu người chết hay bị thương? Trong yên ổn bất chợt Minh nghĩ đến đơn vị, công việc như đang ở trong hoàn cảnh thông thường. Có gì đâu tai ương của hai ngày qua, súng bắn trước mặt hướng vào chính bản thân chưa sợ, huống gì thứ tai hoạ tổng quát này… Thật ra chỉ vì vụ nổ trong khách sạn làm mình hoảng hồn, bây giờ thoát xa nó rồi, có gì đâu phải xao động. Đây rồi, gắng đến cuối bờ thành kia sẽ thấy hồ Tĩnh Tâm; hồ Tĩnh Tâm – Mang Cá chỉ vài trăm thước, mình có Đại đội trong tay, chuyến này phải mang một cây M16, súng colt không đủ gì cả… Minh cúi người thấp ẩn dưới hàng rào chè tàu chạy như bay. Minh ngửi thấy trong không khí mùi trà ẩm và hương sen tàn bốc lên trên mặt hồ yên lặng. 
“Đứng lại! Đưa tay lên!” Một tiếng hét từ bụi rậm vang ra làm Minh hốt hoảng, bước chân bị giật ngược. Minh lăn xuống chiếc rãnh lớn bên vệ đường. “Đi lên! Làm gì chạy ghê vậy!” Một gã lính Bắc Việt mặt non choẹt đứng trên vệ đường hươi mũi súng ra dấu bảo Minh đứng dậy. Minh chống tay rướn người lên, bùn non ngập đến cổ tay, bùn dơ dáy và tanh mùi cống rãnh. Minh ngước mắt, tên lính chợt phì cười: “Sợ hả, lính nguỵ hay chi mà sợ? Lên đưa giấy coi”. Minh ấn chiếc gối xuống mặt bùn nặng nề đứng dậy, lấy sống cánh tay áo lau ngang mặt, mắt vẫn không rời khuôn mặt nhởn nhơ đùa cợt, cong người bò lên bờ rãnh, tay lần mò tìm đám cỏ gà trên mặt đường. Bực! Luống cỏ bị bật gốc, không đề phòng, Minh ngã lộn người xuống lại. Gã lính Bắc Việt vùng cười khan, người đã gập đôi, khuôn mặt tái xanh căng ra vì nụ cười quá khổ… “Ha! Ha! Răng mà yếu quá rứa, bị bệnh phải không, còn đi học hay làm việc cho nguỵ… Ha! Ha!” Giọng Quảng Bình nheo nhéo trêu chọc, lủng củng ngắt đoạn giữa tiếng cười khoái trá. 
“Nè, nắm chân tôi đây để leo lên, rồi cho coi giấy tờ”. Gã lính đứng sát vào vệ đường, chân phải đặt ngang bờ kênh, chắc nịch. 
“Nắm vào đây, leo lên!” Minh nằm dưới lòng cống nhìn lên. Đôi mắt vàng bệch lấp lánh ánh sáng rõ ràng dưới vành mũ quê mùa làm Minh muốn nghẹt thở. Bùn như nồng nặc và đặc cứng lại. Minh thấy mình lún xuống, chìm dần dưới những tảng bùn đen tối nhơ bẩn. “Leo lên, đợi chi nữa, nắm vào chân đây này”. Gã lính choàng súng ra trước ngực cúi thấp người trên mặt đường thòng chân xuống lòng rãnh. Trời tối sẫm, mưa nặng hạt, bùn sệt đặc, mùi tanh tưởi, giọng cười chế nhạo, đôi mắt khinh thường và nỗi bình yên tự tin của năm phút trước tan biến như tia chớp đắm chìm vào trong bầu trời ủ giông đen. Lòng tự tin biến đi nhường lại cho cảm giác sợ hãi đến tê liệt, sự sợ hãi có hình khối như bùn hôi đang đeo cứng và tiếng cười, đôi mắt của kẻ thắng thế ở mặt đường. Minh rút hai chân khỏi bùn tựa vào sườn đất cứng trên mặt rãnh, hai tay nắm cổ chân của gã lính, cổ chân gầy guộc khẽ rung rinh… “Leo lên đi!” Giọng nói trên mặt đường đầy uy quyền thúc giục Minh như bị đốt cháy bởi ngàn bó đuốc lớn, nỗi sợ hãi bất chợt bị khám phá cùng với toàn thể hèn mọn của thân thể chìm đắm dưới lớp bùn hôi. Minh giật mạnh! “A!” Người gã lính trụt xuống độ dốc. Minh bước lên một bước, xong quay mặt xuống, ngửa người trên sườn dốc, cong chân phải đạp mạnh vào vai gã lính Bắc Việt. Thân hình nhỏ thó lăn nhanh xuống lòng rãnh, chiếc mũ có ngôi sao vàng lăn qua một bên. Minh nhảy xuống. Đánh! Minh đánh bằng hai bàn tay dùng hết lực, Minh móc khẩu súng colt ở bụng ra, báng súng giáng xuống mặt gã lính chính xác tàn bạo… Gã lính quơ tay chống đỡ tuyệt vọng. Minh đè xuống bằng hai đầu gối, tay trái khép lấy chiếc cổ gầy gò, ngón cái lọt vào lỗ hổng dưới yết hầu như muốn đâm thủng lớp da nhăn nheo. Máu trong mắt gã lính chảy đầm đìa ngấm xuống bùn thành từng vũng nhỏ nâu sậm. Minh trút xuống gương mặt xấu xí nhăn nhó và thất thần hết cả nỗi lo sợ khiếp đảm cùng cảm giác tủi hổ khi từ dưới lòng cống nhìn lên đôi mắt khinh khi. Minh tháo khẩu AK ra khỏi người gã lính, kéo cơ bẩm nhìn vào buồng súng. Có đạn lên nòng rồi, tốt. Minh nhắm nòng súng vào mặt gã lính. Bóp cò. Cò cứng ngắc, không chuyển động. Minh quên mở an toàn. Minh đưa ngón trỏ lên đụng chốt an toàn, lòng không thoáng chút xao động… Xác tên lính nẩy lên trên mặt bùn nghe bành bạch như con lươn trăn trở. Cuối cùng, nhát dao đâm xuống… Minh chạy trở lại hướng nhà Quỳnh Như, nét mặt lạnh tanh dưới vẻ khôn ngoan cay độc. 
Bằng nói với Đại đức Trí Không: 
“Bây giờ thầy vào trong thành nội với tôi, sau khi mình họp với Uỷ ban Khu trong đó, tôi sẽ ghé thăm nhà Quỳnh Như, thầy biết Quỳnh Như?” 
Đại đức gật đầu không nói, đi lần đến chiếc xe gắn máy của Bằng đứng đợi, không chút phản kháng trong cử động. Người đi tu giấu hết phong ba của bốn ngày qua dưới nét mặt trầm lặng u buồn. Bốn ngày xảy ra như giấc mộng, giấc mộng dài đầy sự chết, máu và lửa đỏ. Địa ngục không phải là ý niệm siêu hình. Địa ngục cũng không phải là hình ảnh tưởng tượng có tác dụng luân lý để khơi động ý hướng tốt trong lòng người. Nhưng bốn ngày qua, sự kiện xảy đến chung quanh đã tạo dựng nên một địa ngục cụ thể âm vang tiếng khóc và sũng ướt bi ai. Đại đức được Uỷ ban Lâm thời của chính quyền cách mạng uỷ nhiệm vụ điều hành đoàn sinh viên học sinh Phật tử. Nhưng đoàn thể này đã vượt hẳn ra khỏi sự kiểm soát của người tu hành, những đoàn viên và huynh trưởng mới xuất hiện. Họ được phát súng AK và đeo băng đỏ. Ngôn ngữ hung bạo hiếu sát. Họ lý luận chặt chẽ và kết luận nhanh chóng, kết luận nhanh chóng trong công việc chấm dứt đời sống người khác. Biến cố mới xếp hạng và quyết định mạng người trong khoảng thời gian tối thiểu. Mỗi người biến thành kẻ thù của người khác mau chóng không ngờ tới. 
“Ông có thằng con đi lính Biệt động quân trong Đà Nẵng”. 
“Con tôi đi chứ đâu phải tôi”. 
“Ông phải chịu trách nhiệm việc làm của con ông”. 
“Nhưng con tôi đến tuổi phải vào Thủ Đức”. 
“Tại sao không trốn lính, tại sao không đi lính văn phòng lại đi Biệt động?” 
“Cái đó tôi không biết. Nhưng trốn lính thì ở đâu? Làm gì để ăn?” 
“Con ông ra trường chưa đầy ba năm đã lên Trung uý. Hắn đã giết người để lên lon. Hắn phụng sự bọn Mỹ xâm lược để lấy tiền”. 
“Giết người để lấy tiền Mỹ. Không phải vậy, tháng Tết ni tôi còn cho hắn thêm ba ngàn. Hắn không có đủ tiền tiêu…” 
“Nguỵ biện. Ông còn yểm trợ kinh tế cho bọn ác ôn côn đồ…” 
Người đàn ông bị trói tay sau lưng. Chiếc khăn đóng rơi xuống, những sợi tóc muối tiêu phủ tung trên trán. Dòng nước mắt chảy xuống gò má nhăn nheo, qua dòngg nước mắt người đàn ông hướng về phía Đại đức Trí Không… 
“Thầy nói giúp, thầy nói giúp giùm… Tôi không có tội gì hết. Tôi lên chùa của ôn luôn, thầy không nhớ tôi sao? Tôi là Khuôn trưởng ở đường Gia Hội đây. Tôi ăn chay mười mấy năm rồi, tôi có tội chi? Tôi có tội chi? Thầy nói giúp, tôi sống được, tôi cạo đầu lên chùa ở với ôn với thầy luôn…” 
Người đàn ông muốn đưa tay về trước, nhưng cánh tay đã bị trôi ngược, chỉ có đôi mắt sũng ướt, đỏ rực như đẫm máu hướng về phía người đi tu. Đại đức Trí Không niệm nhỏ câu kinh trong lòng, giọt nước mắt bi phẫn được nhét xuống cuối đáy linh hồn phong ba đang cuồn cuộn. 
Khi Bằng rồ máy, Đại đức khẽ giật mình như vừa tỉnh cơn mê. Yên lặng, người đi tu chậm rãi leo lên đằng sau. 
“Những hôm này thầy không được vui”. 
“Người tu hành như tôi không thích hợp với biến động”. 
“Nhưng cách mạng lại đòi hỏi những thay đổi căn bản trong giờ phút chuyển tiếp”. “Cách mạng phải dựa trên con người. Huỷ con người thì cách mạng làm gì và để cho ai”. Trong bình thản của giọng nói, nỗi bi phẫn cố giấu vẫn không tròn. 
“Phải huỷ diệt một số nhỏ phản động, thoái hoá và nguy hiểm cho cách mạng”. 
“Thiểu số vẫn là con người. Người tội nghiệp và đáng quý của một nhân phẩm. Và tiêu chuẩn nào kết án để không nhầm lẫn”. Đại đức đã đến cuối chịu đựng, nói không dè dặt. 
“Nếu cần thấy nên phát biểu ý kiến trước Uỷ ban”. Giọng Bằng thoáng chút đe doạ…” 
“Tôi không từ chối nếu có người chấp nhận phần đúng của tôi. Uỷ ban là ai? Tôi chỉ thấy một khối cá nhân quá khích, ngay cả anh, người bạn của tôi, anh có chấp nhận lời tôi không?” “Hiểu ý của thầy là một chuyện, nhưng biến đổi thành hành động thì quá khó. Ít ra cũng không thể chấp nhận trong hoàn cảnh này”. 
“Bây giờ chúng ta đi ngả nào”, Đại đức lái câu chuyện qua hướng khác. 
“Mình qua ngã cầu Đông Ba, quân giải phóng giữ an toàn lộ trình này”. 
Bằng chợt thấy lạ ở ngôn ngữ. Chỉ mới mấy ngày, toàn thể con người, ý nghĩ và ngôn ngữ của Bằng biến đổi hẳn. Bằng như mũi tên trên đường bay, khác hẳn với giờ khắc trước chỉ là thớ gỗ nằm yên trong túi lên ám khói. Con người mới hay con người thật, không có biên giới rõ rệt cho sự phân định. Bằng chỉ biết mình đang trong cơn ngây ngất như kẻ chán đời lần đầu tiên khám phá ra nỗi quên lãng hân hoan của men rượu. 
Bằng không thể ngờ được khuôn mặt sau cánh cửa là Quỳnh Như. Vẻ tươi trẻ của người thiếu nữ bốn ngày trước đã biến mất. Quỳnh Như tóc rối, da xanh xám, đôi môi khô se và hai trũng mắt sâu xuống mệt mỏi. Đôi mắt cố nhướng lên nhìn Bằng, tia nhìn không xúc động. 
“Em không mừng được thấy anh?” 
Quỳnh Như không nói, hơi hé cửa cho Bằng bước vào, Đại đức Trí Không bước theo sau thoáng tần ngần. Căn nhà đen ẩm và lạnh buốt. Quỳnh Như khêu to ngọn đèn dầu dẫn Bằng và nhà sư đi xuống nhà ngang, đứng lại cạnh chiếc hầm. 
“Đứng ở đây lỡ có pháo kích chạy vào kịp”. 
“Ai bắn?” Bằng hỏi dồn… 
“Không biết, hai bên bắn lẫn nhau”. Quỳnh Như nhìn nhà sư gật đầu chào. “Có nghe anh Bằng nói chuyện thầy hoài… Lần đầu tiên con biết thầy”, Quỳnh Như ngại ngùng rõ rệt trước chữ con…” 
“Đây là thầy Trí Không. Bây giờ là Uỷ viên của…” 
“Không, tôi không làm gì hết. Ở đây anh khỏi ép tôi mang những chức vụ mà quả tình tôi không muốn. Xin phép cho tôi ra nhà sau, hình như nhà sau có người”. 
“Dạ, có vợ chồng người bạn cậu em và mẹ tôi sau đó…” 
“Ai vậy?” Bằng hỏi dồn… 
“Minh và gia đình người bạn của nó…” 
“Sao Minh lại ở đây?” 
“Em không biết”. 
“Sao em lại không biết?” 
“Anh muốn em biết gì bây giờ?” 
“Em có vẻ giận anh?” 
“Không, chẳng có gì… em mệt”. Quỳnh Như dựa người vào cột nhà, mắt nhắm lại… “Mệt, đu ngôi sao vậy, em mệt thật sự”. 
“Thấy anh, em không mừng?” 
Quỳnh Như không trả lời, nàng hé mắt nhìn Bằng, xong khép mi lại. 
“Em có vẻ biến đổi…” 
Quỳnh Như gật đầu. “Em biến đổi, biến đổi hết”. 
“Em biến đổi vì anh, vì câu chuyện hôm 29 Tết?” Bằng nói qua hai hàm răng rít chặt, sự phẫn nộ cố gắng kìm lại… 
“Không”. Quỳnh Như ngồi xuống nóc hầm lưng dựa vào chiếc cột. 
“Em có can đảm không?” Bằng trở lại giọng bình tĩnh sau một hơi thở dài. 
“Có, em đủ can đảm để sống bình thản ít nhất cho đến ngày hôm nay…” 
“Tốt, vậy thì em nói thật với anh, em biến đổi vì người bạn của Minh?” 
Quỳnh Như khẽ cười và lắc đầu. Mi nàng mở ra, ánh mắt vụt sáng tinh quái. 
“Anh nghĩ sai, không phải vậy…” 
Bằng chồm người tới trước, giảm bớt chiều cao, dán sát mặt vào Quỳnh Như, tiếng nói đứt khúc tắc nghẹn của cơn giận bị ép xuống. 
“Anh không nghĩ lầm, chỉ có em gian dối và hèn nhát…” 
“Không phải, em chắc chắn như thế, trước thì em cũng không nghĩ thế nhưng bây giờ em rõ em hơn ai hết”. 
“Anh rõ em hơn cả, anh đã gần em từ tinh thần đến vật chất, tất cả biến động nào trong em dù mới phát hiện nên phản ứng mù mờ anh cũng đã nhận thấy. Hơn nữa đứa con trong em là của anh…” 
Quỳnh Như cười thành tiếng. Âm thanh rạn nứt như khối đá tan vỡ dưới vòi nước ấm. 
“Anh hiểu được em, nhưng chỉ được một phần, phần phía ngoài, và phần khác nơi sâu xa nhất chính em em cũng không hiểu… Em mang đời sống của anh trong người, nhưng tất cả đã tan vỡ…” 
“Em muốn nói gì?” 
“Không còn gì hết, hết thông cảm, hết thương yêu, hết anh, hết em, đứa con, bào thai, tất cả vỡ tan và trôi đi hết. Em có kinh nguyệt lại”. 
“Bao giờ và tại sao?” 
“Em không nói gì khác, vì mọi chuyện đã xong, em vẫn là vợ anh, vợ chính thức, vợ có đám hỏi, đám cưới. Em không chống đối gì điều này. Nhưng em bây giờ khác hẳn em trước Tết, em không còn của anh, của em nữa, em lạ với mình rồi… Mệt, em mệt”. 
Bằng ôm lấy người Quỳnh Như. Thân thể người con gái bạc nhược lạnh lẽo. Bằng không nghe được tiếng tim đập rộn rã của tình yêu. Tình yêu đã chết. Bằng muốn bóp nát Quỳnh Như trong vòng tay tuyệt vọng. 
Bằng và Đại đức Trí Không qua cầu lúc trời nhá nhem tối, trời lạnh, sương dày kín, nhịp cầu màu đen đậm nét trong sương mù. Xe lên dốc không nổi, Bằng phải bước xuống đẩy, Đại đức lầm lũi đi theo yên lặng, như màu nâu trầm tĩnh đậm nét nhạt nhoà trong bóng tối ẩm ướt. 
“Mấy năm trước những đêm mưa tôi thường hay đến đây, đứng trên cầu nhìn xuống dòng sông, mưa bay chập chờn trôi dạt theo cơn gió, ánh đèn từ chân cầu dội từng vòng ánh sáng xuống mặt nước xôn xao sóng nhỏ…” 
“Chắc thú vị lắm. Ở trên chùa khi trời mưa tôi đứng trên đồi cao nhìn về thành phố, chỉ thấy từng khối nâu đỏ trong màn mưa… Tôi cũng thích nhìn mưa bay, mưa ở núi ủ dột héo hắt…” 
“Nhìn hoài cây cầu trong màn mưa, dần dần tôi xem nơi này như chốn quen thuộc, đêm mưa gió thế nào tôi cũng đến đây. Khuya khoảng một, hai giờ sáng, thành phố yên lặng, chỉ còn mỗi hành động thê lương là tiếng mưa và màn mưa chuyển động trên ngọn sóng. Trong bóng đèn vàng, tôi thấy như vũ trụ vô tri có linh hồn đang đau đớn dằn vặt. Và tôi cứ đắm chìm hoài trong nỗi dằn vặt vô duyên cớ đó. Và sau một thời gian nỗi dằn vặt vô hình biến thành khổ đau nặng nề cụ thể đè mãi xuống. Tôi cứ có cảm giác bị bóp cổ, bị kìm kẹp, đè nén, nói không được, đi không được… Bao nhiêu ý chí phấn đấu tan rữa dần. Có những đêm mưa tôi đứng ở thành cầu nhìn xuống khoảng sông xao động tưởng như bị cuốn hút lập lòe, có lời mời mọc im lặng êm dịu mê đắm nào dưới lớp nước trôi nỗi vàng đục đó… Trời sáng, mưa hết hạt, ánh đèn nặng nề u ám hơn, trời trong vắt thênh thang, mưa bay đi, tôi tỉnh dần dần trong không khí mới mẻ của ngày vừa bắt đầu. Bao nhiêu lâu như thế tôi cứ tự hỏi mình có phải nghiêng quá độ về sự chết? Nhưng thật ra không phải thế, tôi yêu đời sống, yêu quá nữa là khác, nhưng đêm mưa và mặt nước sông sao cứ quyến rũ tôi tan biến vào đấy…” 
“Bây giờ chuyện ấy vẫn còn”. 
“Hết, hết từ hồi tôi bắt đầu đi dạy”. 
“Có tiền coi như một thành công”. Đại đức cười nhỏ sau câu nói. 
“Không phải vậy, đi dạy có tiền, có thêm những nhu cầu mới, mỗi ngày các nhu cầu vật chất càng chất đầy hơn, siết mạnh vào. Thế là hết băn khoăn vô duyên cớ, hết đau đớn siêu hình, chỉ còn lại những tính toán bẩn chật, ước muốn nhỏ nhặt… Tôi như cây bị khô lá dần dần, lá khô từ ngọn lần xuống gốc, khô khan gãy vụn từng phiến mỏng… Và thế là hết tiệt mưa gió, bão tố, mặt nước sông, sương mù, ánh đèn chao động, tất cả trôi dạt vào cuối ký ức. Mỗi khi qua cầu, tôi hững hờ xa lạ như qua nhà lạ, qua nơi không quen. Xúc động ba năm trước như một tình cảm giả hình”. 
“Như vậy là tốt. Thực tế làm chân thật với lòng hơn”. 
“Một thứ chân thật khốn nạn, chân thật hèn hạ hết thời”. 
“Tôi không nghĩ như thế, sự thật đâu phải tầm thường, sống trong đời thì phải chịu đựng nỗi tầm thường đó. Giữ tâm mình vững và trầm tĩnh không để bị lôi kéo ràng buộc quá nhiều…” 
“Tại vì thầy đi tu. Tôi thì khác, có những khó khăn người đi tu không có như người thường, hoặc nếu có thì cách giải quyết cũng khác… Như tình yêu chẳng hạn”. 
“Tình yêu?” 
“Tình yêu trai gái, giữa đàn ông và đàn bà, giống đực và giống cái… Các thầy đâu phải chịu hệ luỵ bởi vấn đề này…” 
“Tôi nghĩ đó đâu phải là khó khăn, đau đớn cho anh, nhất là anh toại nguyện với tình yêu, nghe nói anh đã có làm lễ hỏi với cô Như”. 
“Vâng”. Bằng lặng lẽ tiếp tục đẩy chiếc xe. Thành phố Huế chìm hẳn vào bóng tối. Đạn bay vạch từng đường đỏ dài trong nền trời. 
“Có điều gì làm anh không vừa ý?” 
“Thầy có gặp sau nhà Quỳnh Như mấy người lính Nhảy dù?” 
“Có anh Minh em cô Như và vợ chồng người sĩ quan bạn anh Minh. Anh có quen với Minh?” 
“Như vậy là hai người, họ mặc đồ lính?” 
“Không, áo quần dân sự, nhưng anh để ý làm gì?” 
“Tôi không thích lính”. 
Đại đức Trí Không dừng lại nhìn Bằng. Giọng nói lạnh lẽo khô cứng, rờn rợn như lưỡi dao chậm rãi xiết trên đá nhám. 
“Anh có ý định gì với những người lính đó? Những người lính không súng. Anh thấy người bạn của anh Minh gần bốn mươi tuổi, hai đứa con và người vợ vây chặt. Tôi gặp ông này vài lần ở trên chùa, đó là người đàn ông bị lôi kéo bởi cảnh sống, tôi chẳng thấy tàn bạo, thù hằn ở nơi người đàn ông cằn cỗi đó. Họ chỉ được gọi là lính qua bộ áo quần và khẩu súng, người của Mặt trận, người của Uỷ ban gọi họ là kẻ thù khi họ có những vật dụng kia trên người. Riêng anh và tôi lấy tiêu chuẩn gì để xem họ là kẻ thù … Tôi là người đi tu, bị kẹt vào hoạt động này trong khoảng thời gian trầm luân giới hạn. Tôi không có kẻ thù, tôi nhìn người đúng vị trí và giá trị của mỗi cá nhân, anh cũng thế… Anh chẳng có kẻ thù nào hết ngoài con người ngang ngược biến đổi trong anh…” 
“Thầy có lý của thầy. Riêng tôi nếu có làm một điều gì khác với tâm tính mình thì đó chỉ là thái độ bồi đắp cho tập thể đã nuôi dưỡng mình. Tôi được sung sướng và yên ổn trong đoàn thể, cái lý của tôi do đoàn thể tạo thành”. 
“Thế anh định làm gì? Anh đi tố cáo cho tiểu ban thanh trừng và hành động? Cái hố đằng sau trường học đã đầy rồi, người chết quá đủ, toàn người Huế, người của xóm anh ở… Có điều gì biến đổi anh thành tàn bạo?” 
Bằng im lặng đạp nổ máy. “Thôi thầy leo lên ngồi, thầy cẩn thận nghe tiếng départ của súng đại bác thì nhảy xuống hố. Uỷ ban Lâm thời tối nay họp lúc 8 giờ tại chùa D. Có thể có những quyết định liên quan đến tình hình quân sự, mặt trận ở khu hữu ngạn có vẻ bất lợi cho phe ta”. 
Phe ta. Đại đức Trí Không mỉm cười. Trên tấm áo nâu này, Đại đức đã mang thêm một nhãn hiệu. Xe chạy, gió lạnh nhưng tai Bằng nóng đỏ. Lý của đoàn thể, Bằng có thấy có điều gì bất toàn không thật trong luận lý vừa nói. Thân thể lạnh giá và tia nhìn trống rỗng của Quỳnh Như như luồng gió sắc buốt xuyên qua da thịt. Nỗi hờn giận mất máu ngùn ngụt cháy lên làm hoa mắt. Bằng phóng xe chạy như điên trong bóng tối, con đường nhỏ gập ghềnh. “Thầy giữ hộ tôi cây súng, xe chạy nhanh nó rơi mất”. Đại đức Trí Không vòng tay rút khẩu súng ở bụng Bằng. 
“Anh Bằng cho tôi xuống đây”. 
Xe chạy chậm. Bằng hỏi dứt tiếng. “Thầy xuống đây làm gì, mình về chùa gặp anh em, đúc kết ý kiến trước khi vào hội để khỏi có trở ngại…” 
“Anh cứ để tôi xuống, tôi có việc nói ngay bây giờ”. 
Xe ngừng, Bằng chống chân xuống đất. “Thầy muốn nói điều gì?” 
“Anh có ý định tố cáo anh Minh và vợ chồng người bạn với Tiểu ban Thanh trừng?” 
“Thầy có quyết định gì?” 
“Tôi không có quyết định gì hết, tất cả chỉ do anh”. 
“Nếu tôi tố cáo”. 
“Tôi… bắn anh”. 
Bằng cố nhìn đôi mắt của Đại đức, nhưng chỉ có đêm đen và mưa phùn trước mặt. Trong bóng đen mờ mịt nổi lên một bóng dáng đậm đà. 
Bằng chống càng xe: 
“Thầy không nói điều gì quá lòng thầy?” 
“Tôi đang tự hỏi. Tôi có can đảm bóp cò súng không?” 
“Thầy đã quyết định?” 
“Những người lính đó với anh không thù oán, anh nên trở lại với bản tính của tháng năm trước, có điều gì làm anh hung bạo?” 
“Có điều gì biến đổi tôi thành hung bạo?”. Đêm chung quanh như thắp sáng bởi ngàn cây đuốc, có tiếng reo hò chế nhạo, giọng cười ùn ùn như bão lớn, ba mươi năm sống, bao nhiêu ăn học, mối tình tuyệt vời cay đắng, tình yêu tinh thể quý giá của linh hồn… Còn gì nữa sau khi cơn bão đã thổi qua, cơn bão mặn đắng nước mắt và tanh nồng tủi hổ. Có gì lạ nữa trong Bằng ba mươi tuổi ngày ngày với viên phấn đứng trước mấy mươi tia nhìn soi mói và Quỳnh Như đôi mắt trống rỗng, xa vắng… “Đúng là hết”. Bằng cười nhỏ. Tiếng cười lớn dần, lớn dần. 
“Này thầy, thầy có đủ bình tĩnh để bắn tôi không?” 
“Anh nên giữ bình tĩnh để đừng phạm vào tội ác vô lý. Không có quyền lực nào bắt mình phải từ bỏ tâm linh sáng suốt của mình”. 
“Đúng, thầy nói đúng, chẳng có quyền lực nào hết, chỉ có tâm tư bềnh bồng, chỉ có tim ta lao đao biến đổi. Nhưng thầy là người đi tu, thầy đâu biết được những ô trọc phiền hà của đời sống, cây đời thầy vững vàng tươi tốt, còn cành lá tôi mục nát khô héo, không ai đốn tôi ngã, ruột tôi nung nóng, vỏ tôi khô và chết lần. Chính tôi làm tôi chết, không phải, phải nói tôi chết dần từ phần bên trong chết ra, chết chắc chắn, chết đến như cổ bị nghẹt từ từ. Chết vì mang con trùng độc trong người, con trùng đời sống. Thầy đi tu, con trùng của thầy được ăn chay, nghe kinh kệ chuông mõ nên nó sống tịch mịch, đứng ngồi êm ả, riêng con trùng của tôi cựa quậy, trăn trở, cào cấu cắn xé không ngừng. Con trùng thầy hiền lành, dễ bảo, sống không đòi hỏi, không nhu cầu. Trái lại con trùng của tôi có nhiều dục vọng, nó được dạy dỗ nuôi nấng bởi thói xấu, những thói xấu đẹp đẽ thiết tha, nó ăn thức ăn khát vọng và uống rượu tình yêu, thứ rượu mạnh hừng hực, nhưng men rượu cũng có khi tàn, khi tỉnh cơn thì buồn lắm thầy biết không … Khi tỉnh rượu lúc tàn canh… Cụ Nguyễn Du tuyệt tác thật, cả hệ thống buồn chán đầy cứng cụ chỉ viết lại vừa hai câu thơ đúng mười bốn chữ, mười bốn chữ giản dị lăn lóc đây đó được cụ ghép lại thành một trường sầu hận… Nhưng tôi giải thích với thầy làm gì? Tôi mệt. Em… mệt. Quỳnh Như dùng chữ thật hay, đúng ra có sống qua giây phút đó mới biết cách diễn tả sâu sắc cô đọng như thế. Đúng, tôi mệt lắm, tôi không có lý luận quanh co nữa. Tôi sống giản dị như mọi người. Tôi ghen ghét, ước mơ, mê đắm một cách tủn mủn nhỏ nhặt. Tôi như vậy đó, thầy muốn gì ở tôi. Tôi đi tố cáo. Tôi ghét lính. Lính làm tôi xấu hổ. Tôi đứng trong lớp học làm điệu làm bộ, giả vờ nghiêm trang, đóng kịch trí thức phản chiến, ghét bạo động, thấy sáng tỏ được nỗi phi lý của đời sống nhưng tựu trung tôi là thằng trốn lính, tôi sợ đi Thủ Đức. Khổ lắm, thầy đâu biết thế nào là lối sống của lính. Thầy ở góc núi, ăn cơm nhạt, nhưng như thế đâu đã khổ, thầy có an vui tự tại, thầy có tự do, thầy được sung sướng … Đi lính, mang cây súng, đội nón sắt, đi hoài, cả đời sống được đặt trên đôi chân, đôi chân được một lớp da giày che phủ, xong cứ bước bừa tới trước. Chân mang thân, thân sụp xuống dưới gánh nặng của súng đạn ba lô và thế là đi… đi hoài, vì “đi lính” mà thầy … Trong nguyên nghĩa đã có động từ đi, thầy thấy không? Đi lính, thế là đo cho hết chiều dài, chiều rộng của quê hương, đo cho hết nỗi điêu linh, đo cho cùng thống khổ… Tôi không có ước vọng cao đẹp khốn nạn đó, tôi sợ nó. Tôi kinh khiếp đến nổi da gà, đến lạnh sống lưng, tôi không chịu nổi cảnh khổ thê lương của người lính, tôi sợ nên tôi trốn, sợ nên tôi ghét, sợ nên tôi nói láo. Với chính tôi, tôi biện luận bào chữa để được yên ổn. Nhưng khi nhìn thấy một người lính tác chiến trong bộ áo quần nhàu nát tạt qua thành phố, đám tang quạnh quẽ với quan tài phủ quốc kỳ run rẩy trên sàn xe GMC, người thương binh vừa ở bệnh viện ra, da trắng xanh vì mất máu, máu khô của hôm bị thương còn đọng ở chân tóc, ở vành móng tay … Họ đã mê thiếp kiệt lực trong cô quạnh tủi cực từ lúc ngã xuống ở chiến trường cho đến ngày xuất viện. Chắc chắn không có sự săn sóc nào nên trong vành đôi mắt còn lớp bùn khô của cuộc hành quân lần cuối. Thầy thấy người lính cụt chân chống nạng đứng chờ xe lam chưa. Đó, tôi hổ thẹn và sợ hãi với hình ảnh đó, tôi từ chối cái vinh quang nhức buốt thê thảm được làm lính… Và như thế, tôi dối được tôi thật lâu, nhưng bây giờ thì hết. Tôi căm thù sợ hãi người lính một cách công khai. Họ làm tôi tủi nhục và sợ hãi. Họ làm tôi tủi nhục và đau đớn, họ làm tôi hết dối trá với tôi được. Tôi ghen ghét, rủa nát và kinh sợ những người lính… nên, tôi nói là tôi làm, tôi đi tố cáo. Họ không cho tôi yên ổn nên tôi báo thù. Thầy nghe rõ chưa, tôi đi báo thù, thầy nghe chưa, tôi đi tố cáo… hai thằng lính Nhảy dù đó…” 

* 

Tháng Tư, năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám, hai tháng sau biến cố Mậu Thân tại Sài Gòn trong một căn phòng hai giường của bệnh viện, Thuấn ngồi vắt vẻo trên giường dưới chân Minh nhìn qua giường Lạc, vài người sĩ quan khác ngồi đứng đối diện với hai người bệnh. 
“Em trai xui rồi, tụi tao đánh như điên lòng vòng hết cả thành phố Huế không sao, đến lúc mày với ông Lạc tìm về được Tiểu đoàn thì ăn ngay một trái B.40, chắc phải xin thuyên chuyển mày về với Việt Cộng”. Thuấn nhìn nhìn chiếc giường khi nói, đầu gật gù. Ấy ông nhún thế mảnh B.40 trong người nó chạm vào nhau nghe lạo xạo kinh quá”. Lạc đứng lên chêm thêm câu pha trò, cả bọn khúc khích cười. Minh cố gắng nhếch mép để nói nhưng không nổi… 
“Đau quá, đừng chọc tôi nữa, cười không được, cười đau bụng, bụng mới mổ lắc lư quá chịu không nổi”. 
“Tụi tôi cũng muốn đến thăm hai Trung uý …” Một anh Thiếu uý nhỏ nhẹ nói… “Ấy mà hình như Trung uý có giấy lên Đại uý rồi”. 
“Khi nào có thì gọi, gọi trước chỉ lúc vừa chết mới đúng, đằng này nó chưa chết được thì gấp gì”. Thuấn cắt ngang câu nói của viên sĩ quan. 
“Dạ vâng, nhưng vì vừa về đến Sài Gòn Tiểu đoàn mình phải đi ngay về Hốc Môn, đến bữa nay chúng tôi mới rảnh nên đi theo Đại uý Thuấn và đến đây thăm hai Trung uý”. 
“Xong rồi, nói vậy là đủ, bây giờ đến phiên tôi hỏi các ông mấy chuyện, vì lúc các ông về lại Tiểu đoàn thì tôi đang kẹt ở trong sân bay thành nội Huế, không gặp ông với ông Lạc được, tiếp theo là ông bị thương, ông Lạc ngã bệnh, đau gan đau phổi gì đó nó hành… Tiên sư lính Nhảy dù Tây để lại, vì sợ quá mà gan ruột teo vào nên phát ốm…” 
“Ấy không phải, lúc ấy hoạ may có chó mới đi khai bệnh, tôi đâu có hèn như thế, nhưng quả tình tôi không kiểm soát nổi. Mười mấy năm lính tôi đâu có ngán thứ gì, cú rút lui khỏi Cao Bằng vừa đánh vừa chạy suốt mấy trăm cây số tôi còn chịu nỗi, rồi ở Điện Biên Phủ nội cái cứ điểm Béatrice mà phải đánh lui đánh tới mấy lần, tôi thuộc về 6 ème BPC, Tiểu đoàn trừ bị, sau khi cha Tiểu đoàn trưởng năn nỉ bộ chỉ huy mới cho lệnh đánh Béatrice. Chính Đại đội tôi là nỗ lực chính, tôi là Thượng sĩ làm Trung đội trưởng đi đầu. Tiên sư tôi đá đít Tây chạy có cờ… Nhưng cú ở Huế, kẹt có vợ con bên cạnh tôi lúng túng như bị cột hết tay chân và cứ có cảm giác đạn lúc nào cũng bay về phía mình, 105 của mình bắn cách chỗ trốn cả trăm thước mà tôi cứ nghĩ nó nổ bên cạnh… Suốt từ khi trốn ra khỏi khách sạn, ông Minh bảo gì tôi làm theo đó, tôi không tự chủ, quyết định một việc gì, khi về đến Tiểu đoàn là tôi sụm luôn, chẳng biết trong người có cái gì, nhưng tôi đứng không được, thở không nổi… Hình như sau những ngày quá căng thẳng, thần kinh tôi không co lại được về vị trí cũ, vì trước đó cứ nhắm mắt là tôi tưởng đến cảnh hai ông con bị đạn banh ngực chết, liên tiếp một tuần tôi không ngủ, người khô khan như nướng chín… Về đến Tiểu đoàn tôi ngã xuống không gượng nổi”. 
“Được rồi, như vậy chuyện ông đã xong, còn ông Minh…” 
“Tôi có gì?” 
“Cây súng?” 
“Cây súng nào?” 
“Khẩu colt Trung Cộng. Ông bị thương thì ngất ngư liền, thằng lạc đà của ông nó đem qua gởi tôi, ông lấy được bao giờ? Vì tôi nhớ khi ông về đến Tiểu đoàn là 4 giờ chiều, 5 giờ ông bị thương ngay, gần hồ… hồ Tĩnh Tâm. Tĩnh Tâm là gì mà nổ như sấm… “Tĩnh Tâm, mặt hồ yên lặng, bùn non và hương sen, nụ hôn người con gái Huế. Thuấn chợt chùng lòng, tưởng như đang nhớ lại một quãng đời đã xa khuất từ lâu. “Tôi nhớ rồi, hồ Tĩnh Tâm, ông bị thương lúc ấy thì cây súng ở đâu ra?” 
“Của ông thầy chùa!” 
“Ông thầy nào?” 
“Các ông nhớ cái chùa sau núi Ngự Bình dưới lăng ông Ngô Đình Cẩn?” 
Những tiếng lao xao: “Nhớ… Nhớ…” 
“Ông thầy chùa cho tôi”. 
“Cho ông từ lúc Tiểu đoàn mình đóng ở đấy hả?” 
Thuấn chăm chú hỏi. 
“Không, sau này, lúc tôi và ông Lạc trốn ở nhà bà chị tôi. Ông ta đến một lần với cha anh rể, có nói chuyện với tôi và ông Lạc một chút, rất vui vẻ và dễ chịu, mặc dù trong đạn lửa chết chóc ông vẫn bình thản hoà nhã, khuyến khích tôi với ông Lạc sớm về đến Tiểu đoàn. Nhớ đến chuyện ngày đó tôi cứ ngượng đến chóng mặt, ai đời mình là lính lại được một ông thầy chùa khuyên bảo giữ bình tĩnh khi nghe 105 nổ. Phần ông Lạc thì hiểu được, vì chuyện vợ con nên ông ta tê liệt phản ứng, riêng tôi chẳng bị ràng buộc vào chuyện gì mà cũng cứng ngắc người vì lo sợ, hèn thật…” 
“Rồi ông ta cho ông khẩu súng trong buổi nói chuyện đó?” 
“Không, lúc ấy là buổi chiều, đến tối ông ta trở lại”. 
“Sao lại buổi tối?” 
“Tôi không rõ, chỉ biết khi ông ta và anh chàng lấy chị Như ra khỏi nhà lúc 5 giờ chiều, khoảng 8 giờ tối chúng tôi nghe tiếng gõ cửa. Cả nhà lạnh cứng vì sợ, ai cũng tưởng Việt Cộng đến bắt chúng tôi. Ông Lạc chạy quanh hai con như gà mắc đẻ, tôi lên đạn khẩu AK”. 
“Khẩu AK nào nữa?” 
“Chuyện ấy để sau kể, sau cùng là chị tôi đánh bạo ra mở, vì tiếng gõ cửa không hấp tấp đe doạ…” 
“Rồi ông ấy nói với ông những gì?” 
“Không, ông chỉ nói mấy câu nhỏ: Tôi đưa anh và vợ chồng anh Lạc qua khỏi hàng rào bố quân của lính bên kia, và ông đưa tôi cây súng để làm kỷ vật”. 
“Ông không hỏi xuất xứ của cây súng?” 
“Lúc đó nửa mừng nửa lo, tôi không để ý, ông ta đưa thì nhận. Bây giờ tôi cũng không rõ tại sao ông ta làm vậy, và cây súng ở đâu ra? Cây súng có gì lạ không?” 
“Không, như những cây súng khác, nhưng hình như vừa bị bắn xong, kẹp đạn bị mất đi 3 viên, ông có bắn viên nào không?” 
“Làm gì có thời giờ, tối đó trốn theo ông thầy, cả ngày sau ngồi đợi Tiểu đoàn, sáu giờ chiều bị thương, tôi chưa nhìn kỹ nó một lần”. 
“Ông thấy ông thầy chùa có gì lạ không?” 
“Làm sao thấy được gì, lo sống không nổi làm gì để ý đến người khác, nhưng tôi nhớ một điều: tối hôm đó ông ta có vẻ buồn nản dằn vặt kinh khiếp lắm, khác vẻ bình lặng trầm mặc của ngày thường…” 
Khi bước xuống cầu thang bệnh viện, Thuấn nhớ hình ảnh người tu hành ngồi yên lặng nhìn khói thuốc bay lãng đãng trong nắng chiều vàng đục của một ngày cuối năm. Hình ảnh lặng lẽ bình yên này phút chốc như cơn giông lớn bùng lên ngùn ngụt che khuất một thoáng nhớ nhung mơ hồ về người con gái đã yêu Thuấn trong một chớp ngắn ngủi giữa nỗi triền miên dằng dặc của cuộc đời. Hình ảnh lặng lẽ bão bùng phảng phất nỗi đau đớn không nói được cùng người.

Người Muôn Năm Cũ

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Photo by Sơn râu 18/5/2014

Năm nay đào lại nở

Cô Hiền,

Tất cả vẫn cứ lập lại như mỗi năm vào mùa Xuân hoa mai, hoa đào nở.

Vẫn lại những náo nức đợi chờ. Vẫn lại những xôn xao nhộn nhịp. Vẫn lại những chợ Tết. Vẫn lại những tiệc tùng. Vẫn lại những đón tiếp bạn bè, họ hàng phương xa, vẫn phố Bolsa mấy năm trước ngăn đường làm chợ Tết, bị dân bán xử phản đổi. Năm nay làm thụt sâu vào bãi đậu xe của khu thương mại. Cũng vẫn những hàng thịt mướng, cũng vẫn những trò chơi, những nơi cờ bạc. Có lẽ mỗi năm một lớn hơn, ngày càng to lớn, đông đúc vui vẻ như Disneyland, Knott Berry Farm. Năm nay chợ Tết của cộng đồng có lẽ lời to. Trường Golden Wedt vẫn là khu làm chợ Tết của sinh viên. Tổ chức xuất sắc hơn, mang ý nghĩa Tết dân tộc hơn, cũng vẫn những gian hàng trưng bày hình ảnh sinh hoạt ngày xưa, cũng vẫn những trò chơi cổ truyền. Mọi người đến thường “bị” nhắc nhở về những ngày Tết cũ trên quê hương. Nhưng chắc không lời bao nhiêu vì đám trẻ không có khả năng làm thương mại. Cũng vẫn lại lời, lỗ. Đêm mùng hai Tết hộp mặt tại nhà một ông bạn, ông “nhả thơ vạm võ”. Vẫn lại những mớn ăn quen thuộc của bất cứ một cuộc họp mặt nảo: vẫn lại bò, vẫn lại heo, vẫn lại gà, vẫn lại rượu, vẫn lại chè … có khác chăng là thêm mứt, hạt dưa, cành đào cho có vẻ Tết.

Vẫn lại có các bạn từ phương xa từ DC, tử San Jose, từ San Dicgo tụ tập ăn uống, văn nghệ văn gừng. Tất cà cũng vẫn đều lập lại, chỉ khác nhau chút đỉnh tùy theo tình trạng từng năm.

Cô Hiền,

“Cũng vẫn” trong cái không khi “vẫn lại” ấm cúng quẹn thuộc này, khi Quỳnh Giao vừa đàn vừa hát, tôi chợt nhớ đến những chương trình nhạc những năm trước 1975. Nghe Quỳnh Giao hát, hình ảnh những buổi tối nằm trong hầm ở căn cứ Barbara những đêm mưa thối đất của miền Trung, hoặc những đêm trăng sáng vằng vặc của bãi cát vùng bờ biển Mỹ Thúy chợt đến, chợt đi. Những ngày tháng chiến tranh, những giây phút thư thả … Nhưng kỷ niệm sau cùng là một buổi cũng vào những ngày có hoa đào nở. Quỳnh Giao dã gợi lại cho tôi một câu chuyện có liên quan đến chương trình của cô.

Cô Hiền,

Đại đội tôi nằm dài theo hàng rào phân chia ranh giới giữa Thủy Quân Lục Chiến và Việt Cộng suốt bề ngang đông tây của làng Phù Liêu và thôn Bích La khoảng hơn một cây số, kéo dài ra bờ ruộng về phía biển cho dến sảt chợ Cạn. Liệt kê những địa danh này chắc cô cũng chẳng biết mô tê ất giáp gì. Tôi xin tóm gọn là những nơi tôi vừa kể thuộc tỉnh Quảng Trị, nơi mà chiến tranh đã để lại mỗi thước đất là một xác người. Khoảng cách giữa hai người linh gác của hai bên đối nghịch có thể đo được bằng gang tay. Ngồi đối diện nhau qua hàng dây kêm gai, mổi bên chỉ cách hàng rào chừng độ một thước. Vui thì chia nhau điếu thuốc cái bánh, mà không vui thì vác súng … bắn nhau. Đã có nhiều chuyện vui và nhiều chuyện không vui. Người anh em bên kia chơi rất bạo, cứ cách khoảng hơn một trăm thước đặt một cải loa điện đường kính có đến hơn nữa thước chõ sang phía chúng tôi. Những cái loa nùy cứ ra rã, ông ổng suốt ngày từ sáng đến tối những điều tuyên truyền ngô nghê nhàm chán, những điều tưởng tượng ấu trỉ và nực cười. Mấy cải loa đã làm chúng tôi điên đầu. Và để đối lại với nguyên một hệ thống cả chục cái loa vĩ đại đó, đại đội tôi cũng có một cái loa, to không hơn một gang tay đưởng kính, chạy bằng pin, một thứ pin mà tôi chưa bao giờ được trông thấy, vì có bao giờ được cấp phát đâu. Những trận đấu võ mồm mà cán cân lệch hẳn về phía người anh em. Từ tài năng cho đến phương tiện. Nói như Vẹm, lúc này tôi mới hiểu rõ nghĩa của câu này. Trái bẻ cong thành phải, phải bẻ quặt thành trái. Còn tôi, vì là đại đội phó, tự động theo cấp số, kiêm luôn cái chức sĩ quan chiến tranh chính trị của đại đội. Một thằng chỉ biết đánh giặc, chưa qua một khóa chiến tranh chính trị nào, kể cả những buổi học chính trị trong quân trường chi là những “giờ ngũ”, chẳng biết huấn luyện viên nói những gì, vậy mà bây giờ phải hành sử một việc không phải chuyên môn của mình – một công việc tôi rất ghét và đối đầu với cả một hệ thống tuyên truyền có bài bản, có phương tiện. Không có chó nên lôi đành phải ăn, tôi bỗng dưng trở thành sĩ quan chiến tranh chính trị một cách ngon ơ. Tôi có biểt gì đâu dể mà đấu khẩu, đấu lý với cái đám người anh em ấy. Hở một tí là diều này, chương nọ của hiệp định Ba-lê, mà nói cho cùng, tôi nào có biết cái hiệp định khỉ gió ấy có bao nhiêu điều, bao nhiêu chương, bao nhiêu khoản đâu. Nội dung của nó tôi chỉ biết một điều là thôi không đánh nhau nữa, ai ở đâu ở yên đấy. Mà cho dù có biết, có thuộc nội dung của hiệp định, tôi cũng không đủ mồm loa mép giải dể mà cãi nhau, bằng cái loa to hơn lỗ mũi ấy được. Vì mọi tiếng nói đều “nghe ngoài rõ hơn trong”. Hai bên muốn giải quyết với nhau những xung đột, những bất đồng về bất cứ điều gì, hoặc muốn nói chuyện trên trời đưới biển gì, cũng dều hẹn nhau ra cái “nhà” nằm ngay giữa hàng rào, gọi là “nhà hòa hợp”, nhà này do phía người anh em dựng lên. Bên ta có lệnh là không cho bất cứ một người nào vì bất cứ lý do gì được tiếp xúc với phe bên kia, sợ bị tuyên truyền. Lính tráng phe ta rất ư là ngây thơ về chính trị – có một người lính rất ngạc nhiên nói với tôi “Ông Thầy, tụi đó dám tự nhận là Việt Cộng” – nên dù người anh em có mời mọc thế nào đi nữa, tôi cũng không cho bất cứ người lính nào ra nhà hòa hợp để gặp họ, nếu không có gì thật cần thiết theo tình hình từng lúc. Cho nên mỗi lần phe ta thông báo sẽ ra tiếp xúc là người anh em đón tiếp một cách rất ư là long trọng. Nào kẹo bánh, nào thuốc lá, thuốc lào, trà … và một vài cán bộ, dĩ nhiên là thứ “dữ” từ tận xa đằng sau đến tiếp xúc và cũng dĩ nhiên là ra trước giờ hẹn rất lâu đế … chờ đợi. Tôi đã ra nhà hòa hợp mấy lần để yêu cầu người anh em  ngưng phát thanh qua hướng bên mình, bằng ngọt có, bằng nhạt có, bằng cáu kỉnh, nhưng những lần đi “sứ” đó đều chẳng ăn thua gì.

Đấu mồm thì tôi thua, nhưng đấu súng thì tôi chấp. Găng nhau với người anh em đến độ phải choảng nhau bằng súng tôi đâu có chịu thua. Nhưng người anh em biết rõ mười mươi là người anh em chiếm thế thượng phong ở mặt trận võ mồm. Người anh em triệt để khai thác cái ưu thế này. Hệ thống loa của người anh em mở thật lớn vả thật lâu, từ mờ sảng đến cận chiều tối. Người anh em bắt chúng tôi nghe hết chuyện này đến chuyện nọ, nghe đến nỗi không còn thế nào chịu nổi. Đã nhiều lần tôi yêu cầu người anh em ngưng ngay hành động gây hấn bằng mồm này, nhưng người anh em cười vào mũi tôi mà bảo: “Chúng tôi không có quyền vì loa này là của nhân dân, chúng tôi chỉ làm theo lệnh của nhân dân. Các anh muốn chúng tôi ngưng phát thanh thì qua đây, tìm nhân dân mà yêu cầu.”

Loa của người anh em cứ thế ché suốt ngày. Lời lẽ tuyên truyền ngớ ngấn nhưng sắt máu, Nhạc eo éo kiểu Tầu phù chọc vào tai. Tin tức địa phương lại càng không ngữi nỗi. Lại còn thêm trực tiếp truyền thanh phiên tòa án nhân dẫn xử khiếm diện một thiếu úy – dù chàng thiếu úy này vẫn đứng ngờ ngờ ra đó – bên tiếu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, nằm sát với đại dội tôi, về tội đã dám bắt một con trâu của người anh em để xẻ thịt. Vậy mà không lẽ chúng tôi cứ phải nghe. Báo cho đại đội đề xin yếm trợ phương tiện của tiểu đoàn, chỉ nghe toàn những câu “ráng chịu”, ban 5 tâm lý chiến tiểu đoàn nào có hơn gì đại đội phó chiến tranh chỉnh trị về cái khoản “chiến tranh chính trị” dị hợm như thế này đâu.

Suy nghĩ nắt óc mà tõi không thể tìm nổi một đòn trả hận. Bàn tính liên miên với mấy trung đội trưởng. Vô ích, không thể vô cớ mà chơi súng đạn được, mà cũng không thể chơi bằng võ lực vì chắc chắn tiểu đoàn sẽ không chấp thuận, mà cho dù tiểu đoàn có đồng ý thì mấy anh cao hơn cũng chẳng anh nào dám nói ừ.

Nhưng cuối củng, một buổi tối khi đang nghe chương trình nhạc Quỳnh Giao, người anh em thò mồm sang đề nghị mở âm thanh lớn hơn để dược nghe ké.

Cô Hiền,

Tỏi đã bắt dược đầu mối để trả đòn từ chỗ này rồi. Ngày hôm sau, tôi mượn của lính một cải radio để nghiên cứu. Đài phát thanh Sài Gòn không được, đài phát thanh Quân Đội cũng không xong, đài phát thanh Huế lại càng không được. Giọng điệu, lời lẽ hiền quá, không thể chửi nhau kiểu hàng tôm hàng cá với người anh em được, “nhạc vàng” kiểu Quỳnh Giao tối hôm trước lại cảng không thể cho mấy người anh em nghe “cọp” được. Đây rồi, đài Gươm Thiêng Ái Quốc, giọng điệu cũng hàng tôm hàng cả, tin tức cũng ba xạo y như của người anh em, Nhưng cũng không được, chẳng lẽ mình bỏ tiền tửi ra mua pin để phố biển, để phát thanh không công cho cái đài phát thanh chuyên môn chống Mỹ Ngụy y hệt như mấy người anh em mà lại chẳng có gì hay hơn mấy người anh em, chí là một trò trí trá mà đứa con nít nào cũng biết, hơn nữa, giờ phát thanh lại khó nhớ, khó bắt đài. Nhưng còn một đải nữa, đó là đài mả cô làm xướng ngôn viên, đài Mẹ Việt Nam, cũng tin những tin thuộc loại cà chớn chẳng khác gì đài của người anh cm. Cũng giọng điệu giễu dỡ của ông Thầy Bói, giọng nũng nịu của cô. Nhưng có một cái khác hẳn, đó là chương trình “Sinh Bắc Tử Nam”.

Cô Hiển,

Đêm đêm, khi những cải loa to tổ bố của người anh em ngưng ông ổng, bắt buộc cải đám khỉ gió đó phải nghĩ ngơi vào ban đêm, vì chẳng có nhân đân nào yêu cầu mở loa suốt đêm dược. Đêm miền quê, nhất là nơi đã xảy ra những trận đánh kinh hồn, vào những đêm trăng nhờ nhợ, mưa lất phất, lạnh gai người, tiếng côn trùng kêu nghe thê lương sầu thảm, nếu tôi mà có cái giọng mùi một chút, chắc chắn là tôi đã đi một dường “tứ đại oán” theo kiểu Ngũ Viên Thiệu khóc vợ hay bắt chước ông Sáu Lầu ngồi trong chòi coi ruộng, đêm hỏm khuya khoắt, sương sa gió lạnh bốn bề, kéo đờn cò mà ca một hài “Dạ Cổ Hoài Lang” não nuột để cho bớt nỗi cô quạnh suốt đêm trường năm canh thao thức “xa quê hương nhớ … chị dâu” liền. Nhưng tôi không có cái giợng Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường trời cho, nên tôi đành phải cho mấy người anh em nghe cái giọng nũng nịu của cô trong đài Mẹ Việt Nam vậy.

Tôi buộc micro vào cái radio rồi quay loa qua phía người anh cm. Loa tuy nhỏ, pin yếu, nhưng chỉ có mỗi cải loa của tôi dự thi tuyển lựa ca sĩ cùng cóc nhái ễnh ương thì chắc chắn cái loa phải to mồm hơn. Bảo đảm cái chương trình Sinh Bắc Tử Nam có giá trị không thua kém gì tiếng sáo dã làm “rã ngũ từng mảng” những người lính của Hạng Võ ngày xưa bên Tàu. Lính gát ca đêm, cứ mỗi đầu giờ, khi chương trình của cộ bắt đầu là mở radio.

Mẹ Việt Nam rất đau buồn khi có những đứa con Sinh inh inh … Bắc ắc ắc … Tử ử ử … Nam am am …

Anh Nguyễn Văn Trổi, sinh tại Ba Ra Đô Lương Nghệ Tĩnh, con ông Nguyễn Văn Sướng và bà Nguyễn Thị Hát, cấp bậc hạ sĩ, thuộc sư đoàn Ba Lẽ Tư bảng Đỏ đã chết tại chiến trường Trung Tâm Tiếp Huyết ngày 23 tháng Giêng năm Mậu Thân …

Anh Trần Văn …

Cứ hết chương trình của cô buồn nẫu người như vậy là đển chương trỉnh của ông Thầy Bói ma quái, những tiếng mõ tiểng chuông lóc cóc lúc cóc kính coong kinh coong, như kêu gọi bao nhiên hồn ma vất vường trên bụi cỏ lùm cây, nghc đến rợn người.

Cô Hiền,

Cô cứ tường tượng, đêm âm u, mưa lất phất gai gai lành lạnh như vậy, hồn ma đồng đội còn lãng vãng chung quanh, những xác người, những kinh hoàng còn chưa thôi ám ảnh mà phải nghe cái trò quải ác đó, đến chúng tôi còn thấy rờn rợn, nổi gai ốc, huống gì mấy người anh em. Trời nhập nhoạng tổi là chương trình bắt dầu và kéo cho đến khi trởi hừng sảng mới chấm dứt. Đêm đầu tiên hình như chẳng ép phê gì cả, vì tôi không thấy phản ứng của người anh cm vào sáng hôm sau. Hy vọng đêm thứ hai, nhưng sáng ra vẫn chẳng thấy phản ứng gì. Chờ đợi vào dêm thứ ba, sáng ra vẫn vô ích, không thấy bóng dáng một “con chuột” nào xuất hiện. Cố gắng vào đêm thứ tư, Cố gắng tuyệt vọng vào dêm thứ năm, qua hết đêm thứ sáu, sắp chấm dứt “hãy ngày đợi mong”, thì vỡ lẽ. Hóa ra không phải chỉ có mình cổ gắng, mà người anh em còn cố gắng bạo hơn. Suốt sáu đêm liền như vậy, người anh em đã cổ gắng một cách phi thường. “Khó khăn nào cũng vượt qua” mả, nhưng khó khăn này coi bộ vượt qua không nổi, sức của người anh em cũng chỉ có giới hạn. Người anh em không thể chịu dựng hơn được nữa, mấy cải giọng cà chớn ma quái ấy cứ xoáy vào tai mấy người anh em, bất kể là người anh cm có “bông Bạch Tuyết” để nhét vào tai hay không, bất kể người anh em có “mũ ni” để che tai hay không. Phải vậy chứ, cái chương trình tạp lục này chính chúng tôi còn rợn người, nếu còn kéo dài thêm nữa, chưa chắc chúng tôi đã có đủ can đảm nghe tiếp. Người anh em nếu chịu được thêm vài ngày nữa thì chính chúng tôi là kẻ thua cuộc. Nhưng, người anh em thua trước. Và người anh em phản ứng. Và tội nghiệp người anh em, phản ứng duy nhất về cái chương trình tạp lục mà không vui này của cô, người anh em chỉ có mỗi một cách là mời tôi ra nhà hòa hợp để thương lượng. Á à, bảy giờ thì thằng thượng phong là chúng ông chứ không phải là chúng mày đâu nhá. Nghĩa là từ bây giờ, trên mặt trận võ mồm, chúng ông đang thắng thế và chúng ông “khai thác triệt để” để trả thủ chúng mày dã bắt chúng ông nghe những cải loa ông ổng của chúng mày bao lâu nay. Sau thêm cả tuần lễ để người anh em nghe cho nó “đã”, tôi mới chịu ra nhà hòa hợp nói chuyện, Tôi cười ởm ờ lập lại nguyên văn lời của người anh em lúc trước; “Chúng tôi không có quyền vì loa này là của nhân dân, chúng tôi chỉ làm theo lệnh của nhân dân. Các anh muốn chúng tôi ngưng phát thanh thì qua đây, tìm nhân dân mà yêu cầu.”

Người anh em biết rõ chẳng có nhân dân ma nào ở đây cả. Nhưng ăn nói làm sao bây giờ trong khi chính người anh em đã lôi nhân dân ra lâm bình phong trước. Nói lý không xong, mà choảng nhau bằng súng bằng đạn thi mấy người anh em không dám đụng đến đám lính “con bà phước” này.

Cô Hiền,

Từ hôm đỏ về sau, ban ngày người ta chỉ còn nghe văng vẳng những âm thanh thật nhỏ phát ra từ những cải loa thật to. Và ban đêm, vẫn có những lời nũng nịu của cô, vẫn những lời rờn rợn, vẫn những tiếng chuông tiếng mõ kính coong lóc cóc của ông Thầy Bói, nhưng thỉnh thoảng điểm thêm vào đó là âm điệu của những bản nhạc vàng.

Cô Hiền,

Bây giở cô ở đâu. Ông Thầy Bói ở dâu. Còn trong một trại “cài tạo” hay ở một “vùng kinh tế mới” nào đó trên đất nước đầy ngập những người anh em Sinh Bắc Tử Nam. Đang lang thang ở một vùng đất tự do nào đó đầy ngập những đồng nghiệp cũ hày đang âm thầm thiết lập một đài Mẹ Việt Nam khác. Chung quanh tôi trong đệm mùng hai Tết này, tại nhà ông “nhà thơ vạm vữ”, có thừa lực lượng cho một chương trình tương tự mà chỉ thiếu có mỗi cái giọng nũng nịu của cô. Chúng ta có nên làm lại một đài Mẹ Việt Nam mà giọng nũng nịu của cô chỉ cần thay đổi thành giọng “nghiêm và buồn, đượm một chút xa vắng” như những hoạt cảnh “cũng vẫn”, “vẫn lại” thường xuyên ở đây chăng?

Mẹ Việt Nam rất đau buồn khi có những người con Sinh inh inh … Việt iệt iệt … Tử tử … Mỹ ỹ ỹ…