vietmessenger.com
Erich Maria Rematque
Bản dịch Tâm Nguyễn
Post by Sơn râu 25 Mar 2026



Erich Maria Remarque được mưởi sảu tuổi khi thế chiến thứ nhất bùng nổ. Bị động viên, bị thương năm lần, ngay từ trong chiến lũy ông đã mang tư tưởng hiếu hòa. Chính tâm trạng này đã là nguồn cảm hứng cho cuốn tiều thuyết trử danh hoàn vũ của ông là cuốn MẶT TRẬN MIỄN TÂY VĂN YỀN TĨNH được in ra tám triệu bản trước khi bị bọn quốc xã ra lệnh thiêu hủy còng khai. Trong thời thế chiến thứ hai ông cư ngụ tại Hoa Kỳ. Các tác phẩm khác của ông như ĐẢO HY VỌNG, TIA LỬA SỐNG và KHẢI HOÀN MÔN đều nói đến các tai họa của chiến tranh củng sự suy sụp của văn minh tại Âu Châu hiện đại.
Kinh Thi in lần thứ nhất 1973
Cuốn sách này không phải là một lời buộc tội cũng chẳng phải là một lời thú tội, lại càng chẳng phải là một chuyện phiêu lưu, vì cái chết đâu còn là một chuyện phiêu lưu đối với những kẻ đã đứng đối diện với nó. Nó chỉ nói đến một thế hệ của những con người mặc dầu đã may mắn tránh khỏi các bom đạn của chiến tranh vẫn bị chiến tranh tiêu diệt.

Chúng tôi nghĩ xã hơi năm đặm thay phiên và giờ đây bụng ních đầy thịt bò nấu đậu, Thế là đã đời và thoải mái. Mỗi thằng lại được thẻm một hộp thức ăn đầy ắp cho bữa tối; và hơn nữa lại được cả một khầu phần đúp xúc xích bánh mì. Thế bảo sao không khoái. Đã lâu lắm mới được tổ đãi như thể. Thằng hỏa đầu quân tóc đỏ như cà-rốt mời mọc mấy thắngăn; dơ muôi chào mỗi tên đi qua và múc cho mỗi tên một muôi tương. Hắn không biết phải làm sao sau tiền tuyến. Hôm qua chúng tôi được để kịp đun nước pha cà – phê. Tjaden và Muller hai thằng còn đưa chậu rửa mặt ra múc đầy đến miệng để dành. Thằng Tjaden vốn ăn như vàm, còn thằng Muller vốn tính hay phòng xa. Không hiều thằng Tjaden nó ngốn sao cho hết là cả một sự lạ, vì nó hiện giờ và lúc nào cũng cứ gầy như que tăm. Điều đáng kể hơn nữa là lại còn được hai khẩu phần thuốc hút. Mười điếu xì-gà, hai-mươi điểu thuốc lá và hai mồi thuốc nhai mỗi thằng; thế mới là biết điều chứ. Tôi đỗi thuốc nhai cho thắng Katezinsky lấy thuốc lá, thế là tôi có bốn chục điếu cả thảy. Một ngày mà được thế kể cũng đầy đủ. Đúng ra thi chúng tôi đâu được hưởng của trời cho này. Dân Phổ có bao giờ mà rộng rãi. Chẳng qua cũng là nhờ một sự tính lầm. Hai tuần trước kia chúng tôi phải ra thay phiên ngoài tiền tuyến. Khu vực chúng tôi khá yên tĩnh, nên cái nhà ông quân nhu ở hậu phương mới biện ra số khẩu phần thông dụng cho một đại đội đầy đủ một trăm rưởi tên. Nhưng vào ngày cuối chả hiểu tụi Anh lôi đầu ra đến lắm đại bác nã vào vị trí chúng tôi liên hồi, khiến chúng tôi tồn thất nặng nề nên khi trở về còn vỏn vẹn tám chục tên. Hôm qua chúng tỏi rút lui tìm chỗ đánh một giấc cho khỏe xác, thằng Katczinsky nói đúng khi nó bảo rằng cuộc chiến này cũng không đến nỗi tệ nếu như được ngủ thêm đôi chút. Ngoài tiền tuyến chúng tôi hầu như không được ngủ tí nào, và một hơi mười bốn ngày không ngủ kể cũng lâu đấy chứ. Thằng đầu tiên bò ra khỏi giường thì cũng vừa trưa. Nửa giờ sau mỗi thằng một hộp thức ăn tụ tập dười bếp sặc mùi mỡ bổ béo. Đứng đầu hàng dĩ nhiên là thằng háu đói nhất – thằng choắt Albert Kropp, thằng có đầu óc nhất trong bọn tôi và do đó là thằng đầu tiên được vinh thăng hạ sĩ ; Muller, vẫn na theo mình các sách giáo khoa, mơ tưởng thi cử, và trong lúc bom dội xuống vẫn lầm nhầm các mệnh đề vật lý; Leer, để râu xồm xoàm chỉ khoái mấy ả điểm dành cho các sĩ quan. Thứ tư là thằng tôi, Paul Baumer. Cả bốn thằng đều mười chín tuổi, cả bốn thằng đồng lứa tình nguyện nhập ngũ chiến đấu. Nối đuôi chúng tôi là mấy thằng bạn: Tjaden, thợ chữa khoá, đồng tuổi chúng tôi. gầy như que tăm, ăn khoẻ nhất đại đội. Ngồi xuống ăn nó gầy như con châu chấu, ăn xong đứng lên nó cũng chỉ vừa to bằng con rệp cái có chửa; Haie Westhus, cũng đồng cảnh, phụ đào than bùn có thể một tay nắm gọn cả khẩu phần và nói: Đố biết trong tay tôi có gì; rồi Detering, một anh dân quê, chả nghĩ đến gì khác là vườn tược mình với con vợ mình: và sau hết là Stanislaus Katczinsky, tay cầm đầu nhóm chúng tôi, khôn ngoan, ranh mãnh tháo vát, bốn chục tuổi, mặt màu đất, mắt xanh, vai khom khom và tài đánh hơi trời mưa trời gió, thức ăn ngon và công việc khỏe. Găng chúng tôi dứng đầu hàng trước nhà bếp. Chúng tôi bực mình vì thằng cha đầu bếp không đếm xỉa gì đến chúng tội cả. Mãi rồi Katczinsky mởi gọi hắn ta, «Này, Heinrich, khai nồi súp đi thỏi chứ. Ai mà chả thấy dậu nhữ rồi.» Hắn ta lắc đầu ngái ngủ: «Đợi chúng đến đông đủ cái đã. » Tjaden nhe răng: «Chúng em đã đến đủ mặt rồi ạ.»
Bác trung sĩ hỏa đầu vẫn không thèm để ý. «Mấy chú đã đành,» hắn ta nói, «Nhưng còn mấy tụi kia đâu? »
«Hôm nay trung sĩ khỏi lo nuôi chúng. Chúng không ở trạm cứu thương thì cũng đi bón hoa rồi. »
Bác đầu bếp chưng hửng khi nhớ ra. Bác trố mắt lảo đảo. «Thế mà tao nấu cho trăm rưởi thằng ăn. »
Kropp thọc sườn bác. «Có thế chúng em mới được nhen vào bụng. Trung sĩ cho khai trương thôi chứ! »
Bỗng một viễn ảnh đến với Tjaden. Khuôn mặt chuột nhắt của nó sáng hẳn lên, hai mắt híp lại khoải trá, hai hàm đã nhai trèo trẹo và se sẽ hỏi giọng khàn khàn: «Ái dà! thế Trung sĩ cũng có bánh đủ cho trăm rưởi thằng chứ?»
Bác trung sĩ hỏa đầu gật, chưa hết bang hoàng.
Tjaden nắm áo hắn ta. «Cả xúc xích chứ? »
Hắn ta lại gật.
Tjaden rung rung đôi mả. «Cả thuốc lá? »
«Ử, cả mọi thứ. »
Tjaden hớn hở; «Tha hồ mà ăn đậu!
Chúng mình được hưởng trọn 1 Mỗi thằng được-để tao tính xem u,-gần hai khẩu phần».
Lúc đó Ginger mởi chợt tỉnh và nói:
«Đâu được? »
Chúng tôi sướng quá quay cả lại.
«Sao mà không được, hử lão cà-rốt?
Katczinsky hỏi.
«Tám chục thằng mà đòi ăn của trăm rưởi thằng. »
«Để rồi xem.» Muller gầm gừ.
«Món hầm thì đã đành, còn thì tao chỉ phát tám chục khẩu phần, thế thôi, »Katczinsky nổi cáu. “Mày xài lớn một lần thử coi. Mày đâu có xin khẩu phần cho tám chục thằng. Mày xin cho Đại đội Hai cơ mà, Phải không? Thì để cho chúng tao. Chúng tao là Đại đội Hai. »
Chúng tôi thúc hắn. Chả ai ưa hắn ta, vì chinh tại hắn ta mà hai lần ở ngoài tiền tuyến chúng tôi bị tiếp tế chậm đã thế lại nguội tanh, Hễ có đại bác nã là hắn không chịu chuyền bếp núc lên cho gần, làm xe súp phải đi xa đường hơn là các đại đội kia. Chả bù với lão Bulcke của Đại đội Một bảnh hơn nhiều. Tuy béo ủn ỉn như con đại thử mùa dông, mỗi lần tiền tuyến chuyển là lão chuyển nồi niêu theo đúng mức. Chúng tôi đã cáu sườn, may có ông đại đội trưởng đến, bằng không thế nào cũng có tên än bụi. Ông nghe thủng chuyện rồi chỉ nói vỏn vẹn, «Ừ, hôm qua mình tồn thất nặng. »
Ông nhìn vào nồi, «Đậu trông ngon đấy chứ. »
Ginger gật. «Chuyện, hầm với thịt bò và mỡ mà lại. »
Trung úy nhìn chúng tôi. Ông biết chúng tỏi nghĩ gì. Òng còn rành nhiều cải nữa kia, vì xuất thân vào đại đội từ cấp hạ sĩ lên. Ông nhắc vung hít hà. Đoạn ông nói: «Có bao nhiêu phát tuốt. Chả sao. Và cho tôi một đĩa đấy nghe. »
Ginger trong tiu nghỉu trong khi Tjaden nhảy múa quanh hắn.
«Trung sĩ có mất mát gì! Cứ làm như thể quân tiếp vụ là của riêng minh không bằng!
Thôi giờ thì khai trương đi chứ, ông thần giữ của. Và nhớ đừng đếm lộn đấy. »
«Thằng chết tiệt! » Ginger rủa. Hắn được cái hễ không chịu nổi là giơ tay hàng liền, trông hắn đến tang thương. Và làm ra vẻ muốn sao cũng được cần quái gì, hắn tự ý mang nửa ki mật nhân tạo ra phân phát đều cho chúng tôi. Ngày hôm nay thật là tuyệt. Thư từ lại đến, và hầu như tên nào cũng có đến hai lá thư.
Kropp mở một lá. «Ông Kantorek có lời hỏi thăm cả bọn. »
Chúng tôi cười xòa. Muller vứt điểu thuốc nói: «Phải chi có ông ta ở đây. »
Ông Kantorek vốn là thày dạy học chúng tôi. Người nhỏ bé, hiếu động, hay mặc chiếc áo đuôi tôm màu xám, mặt như mặt chuột nước. Tác người cỡ lão Hạ sĩ Himmelston, «Hung thần Klosterberg». Kể cũng lạ thường thì những con người nhỏ thỏ lại là những kẻ làm thế giới đau khổ. Họ cương nghị và cố chấp hơn những người to xác. Tôi lúc nào cũng tránh những đội lại có những ông đội trưởng nhỏ con. Phần lớn là những kẻ khắc nghiệt đếch chịu được. Trong giờ thực tập Kantorek không ngớt tràng giang đại hải thuyết phục chúng tôi kỳ cho đến khi cả lớp theo ông đến ông Tổng trấn tình nguyện nhập ngũ. Tôi nhớ lại cái hình ảnh lão la trừng mắt nhin từng thằng chúng tòi qua đôi mục kỉnh rồi hỏi với một giọng xúc động: «Thế nào các chiến hữu, ta nhập ngũ chứ?»
Mấy lão thầy này lúc nào cũng thủ sẵn quan niệm họ trong túi áo họ và moi ra bất cứ giờ nào. Nhưng lúc ấy chúng tôi đâu nghĩ thế. Thật vày, trong bọn chúng tôi có thằng do dự khòng chịu đầu quân. Đó là thằng Josef Behm mập mạp, xấu xí. Nhưng mà rồi cũng phải theo, bằng không cũng chẳng sống yên. Có lẽ chúng tôi cũng nhiều thằng nghĩ như nó, nbưng chả thằng nào dám ra mặt, vì ngay lúc ấy đến cha mẹ mình cũng còn mở miệng là chê “hèn nhát’; chả ai hiểu chút mô tê gì là tại sao mình lại đâm đầu vào. Kẻ nghèo khở khạo lại là kẻ khôn ngoan nhất. Họ biết chiến tranh chỉ là tai hoa, trong khi những người có của ăn của đề lại hân hoan ra mặt, mặc dầu lẽ ra họ phải là những người cỏ đủ khả năng hơn đề nhận định được các hậu quả ra sao.
Katczinsky cho đó là lại vì nền giáo dục của họ. Nó làm họ ngu xuẩn. Và Kat đã nói gì là bác ta đã suy nghĩ chín. Kể cũng lạ, Behm lại là thẳng ngã gục đầu tiên. Nó bị bắn trúng mắt trong cuộc chạm súng, và chúng tòi đành bỏ nó lại coi như là đã chết. Chúng tỏi không thể vác nó theo, vì đã phải tháo lui trong hổn loạn. Chiều đến chúng tôi bỗng nghe tiếng nó gọi và thấy nó ở bên ngoài bò về pbía chúng tôi. Nó chỉ ngất đi. Vì nó không thấy, và đau như điên, nên không biết đường ẩn, nên nó bị bắn hạ trước khi chúng tỏi kịp ra dìu nó.
Dĩ nhiên chúng tòi không thể đổ lỗi tại Kantorek. Đời làm sao mà sống nổi nếu cứ mỗi chút lại trách móc người này người kia? Có hàng ngàn hàng vạn Kantorek, kẻ nào cũng tin rằng chỉ có độc một con đường đúng là con đường của mình. Và chính vì thế họ làm khổ ta. Đối với chúng tói những thẳng mới mười tám tuổi đầu, lẽ ra họ phải là những người hòa giải hướng dần đến cái thể giới trưởng thành, cái thế giới công tác, nhiệm vụ, văn hóa, tiến bộ – đến tướng lai. Chúng tôi thường chế riễu họ, đùa nghịch họ, nhưng trong lòng vẫn tin tưởng họ. Trong đầu óc chúng tôi, quan niệm uy quyền, mà họ đại diện, tắt đi đôi với một sự nhận xét sâu rộng hơn và một sự khôn ngoan chín chắn hơn. Nhưng cái chết đầu tiên mà chúng tôi chứng kiến đã lám tiêu tan sự tin tưởng này. Chúng tôi phải công nhận rằng cái thế hệ chúng tôi đáng tin hơn là thế hệ họ. Họ chỉ hơn chúng tôi về môn ăn nói về cách khéo xử. Cuộc oanh tạc đầu tiên cho thấy là chúng tôi lầm và dưới bom đạn cái thế giới mà họ dạy chúng tôi xưa nay cũng tan vụn. Trong khi họ viết họ nói thì chúng tôi nhìn những kẻ bị thương những kẻ hấp hối. Trong khi họ dạy rằng nhiệm vụ đối với đất nước là nhiệm vụ cao quí nhất thì chúng tôi đã biết rằng những cái quằn quại đau đớn khi chết còn mạnh hơn. Nhưng bất chấp mọi sự ấy chúng tôi không làm loạn, không đào ngũ, không hèn nhát-họ tha hồ lạm dụng các danh từ này. Chúng tôi yêu đất nước không kém gì họ, chúng tôi can đảm đi hành quân, nhưng chúng tôi phân biệt dược thế nào là nguy thế nào là chán, bỗng nhiên chúng tỏi đã học được cách thấy. Và chúng tôi thấy rằng cái thế giới của họ còn lại được gì. Thế là chúng tôi bỗng cảm thấy cô đơn kinh khủng và chúng tôi phải cô đơn nhìn đến tận cùng.
Trưởc khi đi thăm Kemmerich chúng tôi gói ghém các đồ của nó lại, khi về nó sẽ cần đến. Trạm cứu thương thật là nhộn nhịp, khi nào cũng sặc mùi thạch thán toan, ê-te và mồ hôi. Phần đông chúng tôi đã quen với các mùi này ngay ở nhà trọ, nhưng ở đây sặc đến muốn ngất. Chúng tôi hỏi tên Kemmerich. Nó nằm trong một căn phòng lớn và đón chúng tôi với một niềm vui yếu ởt và dây dưa bất lực. Khi nó bất tỉnh kẻ nào đã nâng mất của nó chiếc đồng hồ. Muller lắc đầu: «Tao đã dặn mày nhiều lần là không ai lại mang theo một chiếc đồng hồ tốt như thế.» Muller vốn sổ sàng bạ đâu nói đấy, bằng không nỏ đã không nói, vì không ai không thấy rằng Kemmerich sẽ không bao giờ còn ra khỏi nơi đây. Thấy đồng hồ hay không cũng vậy thôi. Giỏi lắm thị cũng chỉ gửi trả cho nhà nó là cùng.
«Sao đỡ không, Franz? » Kropp hỏi. Kemmerich ngoẹo đầu.
«Cũng đã đỡ … nhưng chân tao đau muốn chết. »
Chúng tôi nhìn vải giường. Chân nó nằm dưới một cái rổ lưới thép. Vải giường trùm lên rổ. Tôi đưa chân đá cẳng thằng Muller vì nó đã toan nói thẳng Kemmerich nghe những gì bọn y tá ở ngoài kia cho chúng tôi hay rằng Kemmerich đã mất chân, Chân đã bị cưa. Trông nó nhợt nhạt, vàng vọt và yếu lả. Trên mặt đã hiện ra những đường căng thẳng mà chúng tôi quá biết, giờ đây chúng tôi đã thấy hàng trăm lần. Đúng ra là những dấu vết hơn là đường. Dưới lớp da, mạch sống không còn, mà đã dồn cả ra ngoời ranh giới của thân thể. Cái chết từ trong ăn ra. Nó đã hiển hiện trên đôi mắt. Nằm đây là thằng Kemmerich, thằng bạn chúng tôi, vừa mới đây còn nướng thịt ngựa với chúng tôi và ngồi xồm trong các hố đạn. Nó còn đây tuy nhiên không còn là nó nữa. Nét mặt của nó đã trở thành mờ ảo nhợt nhạt, như một kính ảnh chụp hai lần. Ngay cả giọng nữa nghe như tro. Tôi nhớ cái lúc chúng tôi ra đi. Mẹ nó, một bà mập mạp phúc hậu, đưa nó ra ga. Bà khóc không ngớt, mắt bà sưng hẳn. Kemmerich cảm thấy ngượng nghịu vì trông bà thiểu não hơn hết mọi người, bà chỉ còn là mỡ vởi nước, Bà chợt nhìn thấy tôi, bà niu lấy tôi. Níu đi níu lại, khẩn khoản tôi ra đó hãy trông nom thằng Franz hộ bà. Quả thật, mặt nó trông non choẹt và xương cốt yếu đến nỗi sau bốn tuần vác ba-lô chân nó bước còn chưa vững. Nhưng ở ngoài chiến địa ai mà tròng nom được ai kìa!
«Giờ thì bồ sắp về nhà rồi, » Kropp nói.
«Bằng không ít ra cũng phải ba bốn tháng mới được nghỉ phép. »
Kenimerich gật. Nhìn hai bàn tay nó tôi không chịu nổi, giống như sáp. Dưới móng tay còn dính đất chiến hào, trông xanh đen như thuốc độc. Tôi lấy làm lạ là các móng tay này vẫn tiếp tục mọc như các cây kỷ lạ mọc trong các hầm rượu, mọc dài sau khi Kemmárich đã hết thở từ lâu và cùng vời các móng nay là tóc trên cái sọ dừa đã mủn, giống như cỏ mọc trên đất tốt, giống như cỏ vậy, không hiểu tại sao.
Muller củi xuống. «Chúng tớ mang theo các đồ của bồ đây này, Franz. »
Kemmerich đưa tay ra hiệu. Nhét xuống dưới gầm giường. »
Muller làm theo. Kemmerich lại nhắc đến chiếc đồng hồ. Nhưng làm sao dỗ được nó mà đừng làm nó nghi ngờ? để lại đây cũng không ổn, chết là tụi y tá chớp liền.
Muller lại xuất hiện với một đôi bốt phi công. Bốt Anh thật đẹp bằng da mềm mầu vàng lên đến đần gối và dây buộc – trông ai cũng phải mê. Muller ngắm có chiều thích thú. Hắn cầm để đôi bốt so vởi đôi bốt tang thương của hắn và nói: «Bồ mang chúng theo chứ, Franz? »
Cả ba thẳng chúng tôi đều chung một ý nghĩ, dủ cho nó khỏi nó cũng chỉ dung được một chiếc – thế có ích gì. Tuy nhiên di nhiên nó nói:
«Đề chúng tở giữ hộ bồ nhé? » Muller nói.
Kemmerich không bằng lòng. Đôi bốt là của nó quí nhất.
«Vậy thì ta đánh đổi vậy, » Muller lại đề nghị. «Ngoài kia dùng thì tốt. » Kemmerich vẫn không khứng. Tôi dẫm chân Muller; hậm hực nó đút đỏi bốt xuống gằm giường lại. Chúng tôi trò chuyện thêm một lúc rồi cáo từ.
«Can đảm lên, Franz. »
Tôi hứa sáng tôi lại đến. Muller cũng nói thế. Hắn nghĩ đến đỏi bốt buộc dây và muốn đến kịp thời. Kemmerich rên rỉ. Nó sốt. Chúng tôi túm được một anh y tá ở ngoài phòng và nhờ hắn tiêm cho Kemmerich một mũi mọc-phin. Anh ta không chịu, «Ai cũng đòi tiêm mọc phin thì rồi đào đâu ra … »
« Anh chỉ có chu đáo với sĩ quan thôi nhỉ, » Kropp nói kháy.
Tôi vội can thiệp và mời anh ta một điếu thuốc. Anh ta cầm lấy.
« Vậy thường anh được phép tiêm chứ? » tôi hỏi anh ta.
Anh bực mình. « Nếu anh không cho là thế thì anh hỏi làm gì? »
Tôi nhét thêm hai điếu vào tay anh.
« Chỗ anh em với nhau cả mà. »
« Được rồi không sao, » anh ta nói,
Kropp đi theo anh vào. Nó không tin anh la và muốn mắt thấy kia. Chúng tôi đợi bên ngoài.
Muller trở lại câu chuyện đôi bốt. « Chân tao đi vừa lắm. Đi đôi này hết phỏng lại phỏng. Mày liệu nó có qua nổi đến ngày mai sau giờ tập không? Nếu nó lại tịch đêm nay thì mình biết đôi bốt ở đâu rồi. »
Kropp trở lại. « Mày liệu? » nó hỏi.
« Lúa rồi, » Muller nói ra vẻ.
Chúng tôi trở về lều. Tòi nghĩ đến bức thư phải viết cho mẹ Kemmerich. Tôi lạnh người. Phải uống chút rum mởi xong. Muller bứt cổ nhai. Bỗng thẳng choắt Kropp quăng điểu thuốc, lấy chân dí dí giận dữ, và nhìn quanh với vẻ mặt bực bội thẫn thờ, lầm bầm:
« Đồ chó đẻ, đồ chó đẻ! »
Chúng tôi đi bộ một hồi lâu. Kropp đã nguôi cơn giận; chúng tôi hiểu: hắn nổi đóa, ngoài này ai cũng có lúc như vậy.
«Lão Kantorek viết gì cho mày? »
Muller hỏi.
Nó cười. a Chúng mình là Thanh niên Sắt»
Cả ba thằng chúng tôi mỉa mai cười chua chát. Kropp gằn giọng: nó hả hê mình dược nói ra.
Phải, họ nghĩ thế đấy, hàng vạn hàng ứe Kantorek! Thanh niên Sắt. Thanh niên. Chúng mình chưa thầng nào ngoài hai mươi. Nhưng trẻ? Thanh niên? Xưa rồi. Chúng mình là dân cũ rồi.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.