Lâm Chương

Thơ Luân Hoán

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Google photo edit by Sơn râu

thời niên thiếu ông trội

hơn tôi nhiều bực rồi

cả gan rời mái ngói

đi gom bụi vào đời

tuyệt vời những vốn sống

từ bến xe sân ga

nơi bờ sông bãi biển…

nuôi mạch máu đậm đà

khoái chơi vẫn ham học

mê luôn cỏ lá hoa

sớm hành nghề kèm trẻ

bén hương phấn lụa là

khởi từ một ánh mắt

của cô bé mê thơ

ông thả chữ tán gái

lên báo lớn, bất ngờ

chẳng có chi là lạ

nhờ khá sớm thành nhân

ông thành danh gọn nhẹ

như ơn đời trả công

địa linh Cồn Dầu Hạ

Tây Ninh hẳn thơm lòng

sinh gã không nhân kiệt

nhưng giàu có tang bồng

hách nhất là tên lính

rất ngon lành Việt Nam

dám sống bên cái chết

giữ màu xanh xóm làng

tôi thật tình hãnh diện

được quen, làm bạn ông

tuy rằng mỏng thân thiết

vẫn như máu trong gân

thời Bộ Binh, hâm bốn

tôi lười, ông lè phè

cùng “sinh viên báo chí”

chẳng mấy khi màu mè

gặp nhau đôi ba bận

mỉm cười thay bắt tay

không mày tao cởi mở

cứ như trời với mây

một lần ban báo chí

đấu rượu khóa hâm ba

ông đi đâu, tôi gánh

thắng, tái cả màu da

từ “gia binh Thiết Giáp”

chuí về phòng còn nghe

tên Lâm Chương được nhắc

một tay rượu mấy ghè

ra trường, tôi chung thủy

với phương danh Bộ Binh

Biệt Động Quân, ông chọn

rốt cuộc lành thân mình

và vẫn giữ được đủ

ba cái thú Vị Xuyên (1)

tôi cu cu giữ một

cái hạng chót… lỡ ghiền!

chừ mỗi lần gặp mặt

nhìn ông uống mà thèm

không phải là thèm rượu

thèm phong cách thần tiên

ông sống thật thoải mái

rong chơi cùng tháng ngày

thành ra những con chữ

giống cha nó lượn bay

giảm gần hết thơ thẩn

dồn hơi thơm trang văn

những mảnh đời sống thật

lấp lánh nắng cùng trăng

xa Loài Cây Nhớ Gió (2)

Truyện Và Những Đoản Văn

rũ ông đi tới đích

của sứ mệnh nhà văn

Đoạn Đường Hốt Tất Liệt

đầy gai thơm ngát hương

Đi Giữa Bầy Thú Dữ

lòng ngậm ngùi xót thương

chúng ta đã là bạn

khen nhau khó vô cùng

cần chi phải làm vậy

cho người đời sửa lưng

vẽ ông muốn đủ bộ

đâm ra thành lung tung

ngừng tay, đọc ông viết

rõ từng nét chân dung

gần đây ông đi biệt

theo rượu hay theo tình

chắc ngoài hai bạn ấy

đâu còn gì hiển linh

hôm qua ông xẹt lại

hộp thư tôi vài dòng

trong khoảnh khắc tôi sống

chập chùng chuỗi thăng trầm

tháng năm cùng năm tháng

đi về đâu hỡi Chương?

vứt gần hết gánh nặng

lưng vẫn oằn đau buồn

Luân Hoán

1/ “…ba cái lăng nhăng nó quấy ta…” (TTX)

2/ chữ nghiêng tên một số tác phẩm cua LC đã xuất bản

Photo edit by Sơn râu

tiểu sử Lâm Chương

Lâm Chương

Nhà văn. Tên  thật Lâm Chương, sinh  năm 1942 (khai sinh ghi ngày 28 tháng 10 năm 1945) tại Gò Dầu Hạ Tây Ninh. Ði  học  muộn. Sau trung học, một mình ra miền Trung, vừa học vừa làm nhiều nghề. Nhập  ngủ  khóa 24 Thủ Ðức. Ra  trường, phục vụ trong binh chủng Biệt Ðộng Quân.

Sau 1975 tiêu phí 10 năm trong các trại ‘cải tạo’. Vượt biển năm 1987. Hiện định cư tại Boston, Massachusetts Hoa Kỳ. Khởi viết trong những năm cuối bậc trung học vì một chuyện ngẫu nhiên quen một cô bạn sính thơ. Bài  thơ  tán  gái  đầu  tay được ‘đi’ trên số Xuân báo Văn tại Sài Gòn, đã  trải ra một cuộc chơi dài trên các tạp chí ở miền Nam Việt Nam, và nối  tiếp  với những Văn,Văn Học,Thế Kỷ 21, Sóng Văn, Họp Lưu, Phố Văn tại hải ngoại

 Tác phẩm đã xuất bản:

Loài Cây Nhớ Gíó (thơ,Khai Phá 1971), Ðoạn Ðường Hốt Tất Liệt (tập truyện Văn Mới 1998), Lò Cừ (tập truyện, Văn Học, 1999), Ði Giữa Bầy Thú Dữ (Văn Mới 2001), Truyện Và Những Ðoản Văn (Văn Mới, 2004)

Có bài trên các tuyển tập:

Thơ Thái Tú Hạp (Sông Thu-1999), Thơ Văn Hải Ngoại Năm 2000 (Việt Thường Montréal -nxb Văn Mới 2000), Luân Hoán – Một Ðời Thơ (nhiều tác giả Lê Hân thực hiện, Sông Thu 2005)

(Tác Giả Việt Nam- Lê Bảo Hoàng)

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục 
Là một dân tộc tương đối nhỏ yếu, tuy chúng ta vẫn giữ được một nền văn hóa riêng, giữ được độc lập và những bản chất đặc biệt của dòng giống, nhưng trong lịch sử, dân tộc chúng ta đã quá nhiều lần phải chịu đựng nạn ngoại xâm. Vì vậy, chúng ta quen thuộc nhiều với nền văn chương ngoại quốc. 
Trước đây, chúng ta quen thuộc văn chương Trung Hoa, ông cha chúng ta học chữ Hán, viết chữ Hán, làm thơ Đường luật. Sử sách của chúng ta ngày xưa cũng được ghi bằng chữ Hán. Rồi trước đây năm mươi năm, chúng ta học chữ Pháp, kiếm ăn bằng tiếng Pháp, dân tộc ta đã sản xuất ra được vài nhà văn viết tiểu thuyết hoặc khảo luận bằng tiếng Pháp. 
Gần đây, chúng ta quen biết, gần gụi với văn chương Hoa Kỳ, qua sách báo, phim ảnh, Tivi, nhất là trong những năm nửa triệu người lính Mỹ lên đất ta giúp chúng ta đánh lại Cộng sản. 
Ngoài văn chương Pháp và Hoa Kỳ, chúng ta cũng được biết khá nhiều về văn chương Anh. 
Chúng ta chỉ được biết rất ít về văn chương Nga. 
Sự kiện này không có gì khó hiểu. Nước Nga, từ một nửa thế kỷ này, nói rõ hơn, từ ngày chế độ Cộng sản được thiết lập trên nước Nga, đã trở thành một quốc gia thù hằn với tất cả những quốc gia không Cộng sản trên thế giới. Những người Cộng sản cầm quyền ở Nga thực hiện một chính sách bất thân thiện với toàn thể thế giới. Họ chỉ gây hận thù và chỉ nghĩ đến chuyện phá hoại để rồi nhuộm đỏ cả thế giới. Họ bao vây đất nước họ, đồng bào họ trong một bức màn sắt. Người thế giới tất nhiên là không thể liên lạc được với người dân Nga trong khi người dân Nga sống như những tù nhân trong lãnh thổ bị bưng bít của họ. 
Văn chương Nga, từ trước thời Cộng sản vẫn là một thứ văn chương đứng hàng đầu ở Âu châu. Những văn hào Nga như Tolstoy, Dostoyevsky, Gogol, Tchekov nổi tiếng khắp thế giới. Tác phẩm của họ được kể là những sản phẩm tinh thần quý báu của toàn thể nhất là. 
Nhưng từ khi chế độ Cộng sản được thiết lập trên đất Nga, nửa thế kỷ qua, văn chương Nga Cộng sản không còn đóng góp được gì đáng kể cho nhân loại. Số nhà văn Nga được thế giới biết đến có thể được đếm trên một ngón tay. Đó là những Ilya Ehrenbourg, Vladimir Dutdinsev… Và mới đây Boris Pasternak, Cholokov, rồi nhà văn Nga mới nhất: Aleksandr I. Solzhenitsyn. 
Đáng kể nhất là điều mỉa mai nhất là Boris Pasternak và Aleksandr I. Solzhenitsyn, cả hai cùng đoạt giải Văn chương Nobel, lại nổi tiếng ở ngoại quốc hơn là nổi tiếng ở trong nước Nga, tác phẩm của cả hai nhà văn này đều được ấn hành, xuất bản ở Âu châu và Mỹ châu trước khi được ấn hành, xuất bản ở ngay trong nước Nga cho người Nga đọc. Tại sao có sự lạ lùng như vậy? Hai nhà văn lớn này có muốn thấy những đứa con tinh thần của họ có cuộc sống trái ngược với tự nhiên như vậy không: sách của văn sĩ Nga hiện sống trong đất Nga được đưa từ ngoại quốc vào đất Nga cho người Nga đọc lén? Họ có lén gửi tác phẩm của họ ra ngoại quốc để được dịch và xuất bản ở ngoại quốc hay không? Và nếu có, vì sao họ phải làm như thế? 
Trường hợp đặc biệt của Aleksandr I. Solzhenitsyn và tác phẩm Tầng đầu địa ngục của ông đặt trước mặt nhân loại một vấn đề lớn – ta có thể gọi đây là vấn đề nan giải nhất của thế kỷ XX – đó là vấn đề tự do của con người bị giới hạn vì những quyền lợi chủ nghĩa, quốc gia, con người bị tan vỡ, bị tiêu diệt khi con người đụng chạm với những quyền lực lớn ở ngay trong đất nước của mình. Aleksandr I. Solzhenitsyn, với tác phẩm Tầng đầu địa ngục, kêu lên tiếng kêu xé trời của những người bị áp bức, tù đày trong Liên bang Xô Viết, nơi từng được tất cả những đảng viên Cộng sản trên khắp thế giới thành kính hướng về như những tín đồ hướng về đất thánh. Aleksandr I. Solzhenitsyn cũng là nhà văn Nga duy nhất hiện còn sống được ví cùng một lúc với Tolstoy và Dostoyevsky. Ông được coi giống với Tolstoy về văn pháp, về cách sử dụng văn Nga tài tình và phong phú, ông được coi giống với Dostoyevsky về tư tưởng, về sự đề cao giá trị con người trước những bất công của xã hội, những đè nén của bạo lực, và nhất là vì việc đưa tiểu thuyết những kinh nghiệm tù đày của chính bản thân. Cũng như Dostoyevsky từng bị tù đày nhiều năm ở Tây Bá Lợi Á, bị kết án tử hình, Aleksandr I. Solzhenitsyn đã phải ở tù mười một năm trong các trại tập trung và cưỡng bách lao động của chế độ Nga Xô Viết. Và cũng như Dostoyevsky, tù đày và những hành hạ về thể xác không thể làm mất được ý chí tinh thần của Aleksandr I. Solzhenitsyn, con người trong ông vẫn đứng thẳng và người văn sĩ trong ông vẫn tiếp tục ghi nhận sự thật, vẫn can đảm viết ra những sự thật ấy. 
Chúng ta không thể hiểu được Aleksandr I. Solzhenitsyn và Tầng đầu địa ngục nếu chúng ta không được hiểu biết khá đủ về tình trạng “chế độ cai trị bằng công an, mật vụ ở các nước Cộng sản, điển hình nhất là ở Nga Xô Viết. Nhân viên mật vụ là bọn nắm quyền và được tả kỹ nhất trong những trang Tầng đầu địa ngục. Bọn Yakanov, Klimentiev, rồi cao hơn là Oskolupov, Sevastyanov, Abakumov chiếm nhiều trang ngang với những tù nhân vai chính như Gleb Nerzhin, Lev Rubin, Pryanchikov. Vì vậy, trước khi đi sâu vào đời tư nhà văn và tác phẩm, chúng tôi thấy sự cần thiết phải trình bày với bạn đọc về lịch sử những cơ quan Mật vụ của Nga Xô kể từ ngày chế độ Cộng sản được thiết lập ở đó.°

Trước hết, chúng ta thấy rằng trong Tầng đầu địa ngục, nhà tù như Viện Khoa học Mavrino không phải là một nhà tù thường. Trên khắp trái đất này, có lẽ chỉ có ở Nga Xô mới có loại nhà tù đặc biệt ấy. Tiếng lóng của tù nhân Nga gọi nhà tù này là “Sharaska”, theo tiếng Nga, sharaska có nghĩa là “một nơi bịp bợm và giả dối”. Người tù trong những sharaska này được gọi bằng tiếng lóng là Zek. Những tiếng này không thể dịch đúng sang được các thứ tiếng khác tiếng Nga. Trong bản dịch The First Circle của Thomas P. Whitney (bản tiếng Mỹ này được bạn Hải Triều dùng để chuyển ngữ tiếng Việt) – chúng tôi thấy hai danh từ sharaska và zek được giữ nguyên. 
Năm 1917, trước năm Aleksandr I. Solzhenitsyn ra đời được một năm, Cơ quan Mật vụ Nga Cộng được thành hình. Kể từ ngày đó, cơ quan này đã nhiều lần đổi tên, nhưng dù nó có mang bất cứ tên gì, công việc chính của nó là việc tìm tòi, bắt bớ, tra tấn và thủ tiêu những người mà những đảng viên Cộng sản coi là có hại, bất lợi cho họ, bất kể những người này có làm hại nhân dân hay không. Trong số những nạn nhân của Mật vụ Nga có cả những đảng viên Cộng sản Nga, như trường hợp anh chàng Lev Rubin chẳng hạn. 
Từ tháng 12 năm 1917 cho tới năm 1922, Cơ quan Mật vụ Nga Cộng được gọi là Cheka, bọn nhân viên của Cheka được gọi là Chekist. Cái tên Chekist này cho tới bây giờ vẫn còn được dùng mặc dù cái tên Cheka đã bị đổi. Từ năm 1922, Cheka trở thành GPU – đọc là GuéPéOu – cũng trong năm 1922, GPU được đổi lại là OGPU. Hai cái tên GPU và OGPU được dùng lẫn lộn mãi cho đến năm 1934. 
Tới năm 1934, OGPU được sáp nhập vào Cơ quan NKVD: Ủy ban Nội vụ Nhân dân, Ủy ban này này dưới quyền chỉ huy của Tổng Ủy viên Yezhov. Trong khoảng ba năm trời từ 1935 cho tới 1939, theo lệnh của Stalin, Tổng ủy Yezhov, với Cơ quan NKVD đã phát động một chiến dịch thanh trừng nội bộ lớn lao, khủng khiếp, đẫm máu. Hàng triệu người Nga bị giết trong chiến dịch này, hàng trăm ngàn đảng viên Cộng sản Nga, trong số đó cả những đảng viên cao cấp, kỳ cựu trung kiên nhưng chỉ vì không tán thành chủ trương của Stalin, không chịu phục Stalin, đã bị đưa ra tòa, bôi lọ, bắt nhận tội phản quốc, bị xử tử hoặc bị giết chết trong ngục tù. 
Để rồi sau đó, đến 1939, ít ngày trước khi trận Thế chiến thứ hai bùng nổ, Tổng Ủy viên Yezhov bị Stalin ra lệnh tước quyền, bắt giam, đổ cho tội đã làm bậy, đã giết oan nhiều người, đi sai đường lối của đảng (?) và bị… xử tử. Stalin cho Lavrenty Beria nắm quyền chỉ huy Mật vụ Nga. Qua suốt thời kỳ chiến tranh, mãi tới năm 1946, Mật vụ Nga mới có cái tên mới là MGB, thuộc quyền Bộ Nội vụ Nga. Cũng năm 1946, Victor S. Abakumov được trao quyền Tổng Bộ trưởng Bộ An ninh và chỉ huy Cơ quan MGB. Như vậy là chúng ta thấy Tổng trưởng Abakumov được Aleksandr I. Solzhenitsyn tả trong Tầng đầu địa ngục là người thật, là Tổng trưởng thật. Abakumov tuy rất trung thành với Stalin nhưng vẫn không được Ông chúa đỏ tin dùng lâu. Vào khoảng giữa hai năm 1951-1952, Abakumov bị Stalin cất chức và bỏ tù vì tội… làm bậy. Stalin đã quyết định giết Abakumov nhưng chưa kịp ra lệnh thì Stalin chết. Vào tháng 12 năm 1954, khoảng một năm rưỡi sau ngày Stalin chết, tên tù Abakumov bị Kruschev, người hạ bệ Stalin, lôi từ nhà tù ra tòa vì tội đã vu cáo một số lãnh tụ Xô Viết và thủ tiêu những ông này trong vụ án bôi lọ gọi là “Vụ Leningrad” năm 1950. Abakumov bị tòa xử bắn. 
Do đó, ta có quyền tin rằng Viện Khoa học Mavrino tả trong Tầng đầu địa ngục là có thật, tất cả những nhân vật trong Tầng đầu địa ngục cũng đều có thật. Toàn truyện Tầng đầu địa ngục là có thật. Vì là sự thật, nên ngoài giá trị văn chương Tầng đầu địa ngục còn có giá trị như một bản cáo trạng kết án nặng nề cuộc đời phi nhân của những người Cộng sản.°

Trong Tầng đầu địa ngục, nhân vật Gleb Vikentyevich Nerzhin chính là hình ảnh của Aleksandr I. Solzhenitsyn. 
Gleb Nerzhin là một giáo sư toán học, gia nhập quân đội trong những năm đầu của trận Thế chiến thứ hai, sau khi quân Đức Quốc Xã ồ ạt tiến vào đất Nga như vào chỗ không người. Chàng trở thành một sĩ quan pháo binh, mang cấp bậc Đại úy, chỉ huy một pháo đội ở mặt trận biên giới. Chàng bị bọn Mật vụ bắt khi còn đang ở trên mặt trận. 
Aleksandr I. Solzhenitsyn cũng là giáo sư toán học, ông cũng gia nhập quân đội với chức vụ sĩ quan pháo binh. Và ông cũng bị bọn Mật vụ bắt khi còn đang ở trên mặt trận. 
Theo chính lời kể chuyện của Solzhenitsyn, ông gia nhập quân đội với đơn tình nguyện nhập ngũ ghi rõ ông có khiếu viết văn – trước đó ông đã hoàn thành vài cuốn tiểu thuyết nhưng chưa được xuất bản – và xin làm phóng viên báo chí chiến trường. Nhưng người ta không xét đơn ông, họ cho ông vào ngành Yểm trợ Tiếp vận và ông phải phục vụ trong một đơn vị dùng toàn xe ba bánh đẩy đồ tiếp tế ra chiến trường. Trong những năm đầu của cuộc chiến, vì Stalin ngu xuẩn tin chắc là Hitler sẽ không xua quân đánh Nga nên không cho chuẩn bị gì cả, khi bị tấn công, quân Nga thiếu thốn đủ thứ. Nhập ngũ từ 1940 mãi 1942, Solzhenitsyn mới được đưa vào học ở Trường Huấn luyện Sĩ quan Pháo binh. Tới năm 1945, khi trận chiến sắp kết liễu, quân Đức Quốc Xã đã thua và đang rút về Đức, Solzhenitsyn mang cấp bậc Đại úy Pháo binh. Ông dự trận đánh dữ dội ở vùng Orel Kursk. Thắng trận này, Hồng quân Nga vượt qua được Ba Lan để đi vào biên giới Đức Quốc, trực chỉ Bá Linh đổ nát, chấm dứt chiến tranh ở Âu Châu. 
Tháng Giêng năm 1945, Đại úy Solzhenitsyn nhận được lệnh của Tướng Travkine, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Pháo của ông, gọi về ngay Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Đại úy Solzhenitsyn về trình diện Tướng Travkine và được ông này, với một vẻ bất đắc dĩ, khổ sở khó hiểu, yêu cầu cởi khẩu súng lục võ khí tùy thân. Đại úy Solzhenitsyn vừa cởi bao súng đặt lên bàn theo lệnh vị chỉ huy của mình thì hai tên Mật vụ áp vào còng tay lột ngay cấp hiệu cùng những huy chương tưởng thưởng trên ngực ông. 
Tướng Travkine đứng lặng im nhìn cuộc bắt bớ này. Nhưng khi Đại úy Solzhenitsyn, bây giờ đã thành một tù nhân của Mật vụ Nga, sắp bị đưa ra khỏi phòng, Tướng Travkine đi tới lặng lẽ xiết chặt tay ông trước cái nhìn của hai tên Mật vụ. Nhiều năm sau, khi viết lại chuyện này, văn sĩ Solzhenitsyn cho rằng hành động bắt tay tù nhân của Tướng Travkine là hành động dũng cảm hào hùng nhất ông được chứng kiến ở cấp tướng lãnh trong suốt 5 năm trời đánh nhau với Đức. 
Ngay cả khi chưa chiến thắng hẳn, chưa đánh quỵ hẳn Đức Quốc Xã, Stalin đã nghĩ đến chuyện cho mật vụ đi bắt các sĩ quan, tướng lãnh nào mà y biết là không phục y. Stalin sợ rằng khi những chiến sĩ anh hùng này trở về, họ sẽ hạch tội những tên cầm quyền ngu ngốc làm cho chiến hữu của họ phải chết quá nhiều và vô ích. Trong số tội phạm này, tội của Stalin là lớn nhất. Về sau, Kruchev, trong chiến dịch hạ bệ Thần tượng Stalin, đã công bố hết những tội ngu đần, tàn ác, mù quáng của Stalin, trong số này có những tội Stalin ngu ngốc không chuẩn bị chiến tranh với Đức Quốc Xã vì tin rằng Hitler sẽ không bao giờ xua quân đánh Nga, ra những mệnh lệnh xuẩn ngốc làm chết oan không biết bao nhiêu binh sĩ Nga v.v. 
Đại úy Pháo binh Solzhenitsyn đã phạm tội gì để bị bắt? Chính Solzhenitsyn đã nói ra nguyên do: chỉ vì ông đã dám viết thư cho một người bạn chỉ trích những sai lầm của Stalin, ông quên rằng những thư từ gửi từ mặt trận về đều bị kiểm duyệt kỹ, thư của ông rơi vào tay bọn mật vụ và ông bị bắt chỉ vì thế. 
Từ mặt trận, Solzhenitsyn bị đưa về khám đường Lubyanka, khám đường lớn nhất Mạc Tư Khoa, nơi ông tả tỉ mỉ trong Tầng đầu địa ngục đoạn nhân vật Innokenty Volodin bị bắt. Khi ấy ông ta có vợ nhưng chưa có con – tình trạng y hệt tình trạng của Gleb Vikentich Nerzhin trong truyện – vợ ông đột nhiên mất tin tức của ông. Không cho tù nhân gửi thư về nhà, bọn Mật vụ Nga còn tàn ác hơn nữa ở điểm không nhận là chúng đã bắt người đó với thân nhân của người bị bắt. Người vợ thứ nhất của Solzhenitsyn không trung thành với chồng bằng nàng Nadya, vợ của Nerzhin trong truyện: chừng vài năm sau Solzhenitsyn bị tù, bà vợ này của ông bỏ đi lấy chồng khác. 
Đúng ra, Aleksandr I. Solzhenitsyn bị tù 8 năm và 3 năm biệt xứ. Ông ở tù không ra tòa, không có án, ở tù vì một lệnh đặc biệt do bọn Abakumov quyết định. Số tù của ông là số 232. 
Sau hai năm tù ở Khám đường Lubyanka, Solzhenitsyn được đưa về một Sharaska gần Mạc Tư Khoa vì người ta biết ông là toán học gia. Sống ở đây bốn năm, Solzhenitsyn thâu thập tài liệu để viết cuốn Tầng đầu địa ngục. Đúng như lời nhân vật Gleb Nerzhin nói ở đoạn cuối của tác phẩm, so với những nhà tù khác, đời sống trong Sharaska Mavrino là sung sướng nhất, ở đó người tù đỡ khổ nhất, tuy cũng vẫn là bị tù. 
Sau bốn năm sống tương đối đỡ khổ ở Sharaska, Solzhenitsyn bị đổi đến những trại tập trung ở miền hoang vu Krasnoyarsk. Nơi đây tù nhân phải làm việc trong một mỏ đồng, sự ăn uống khổ cực và khí hậu rét lạnh khủng khiếp làm cho tù nhân chết dễ như ruồi. 
Việc tù chết quá nhiều không làm cho bọn Mật vụ Nga xúc động mảy may, bởi vì chúng nó quá nhiều tù. Người ta ước lượng rằng diện tích những nhà tù, trại tập trung đủ thứ, đủ kiểu trong lãnh thổ Liên bang Xô Viết còn lớn rộng hơn cả toàn thể diện tích lãnh thổ một quốc gia hạng trung ở Âu châu, như Thụy Sĩ chẳng hạn, và số tù nhân trên đất Nga còn đông hơn cả tổng số dân Thụy Sĩ. Tháng 2 năm 1953, Solzhenitsyn được trả tự do. Lúc này Stalin đã chết và Kruschev, người kế vị Stalin, vì chủ trương hạ bệ Stalin nên ra lệnh tha một số người chỉ vì chống Stalin mà bị tù. Tuy vậy, Solzhenitsyn cũng vẫn phải đi lưu đày ở vùng hoang vu tuyết trắng mênh mông xứ Balkan. Tới đây ông sống trong một làng quê, làng Koh-Teren của người Tartare, một giống dân thiểu số sống trong lãnh thổ của họ nhưng bị sáp nhập vào Liên bang Nga Xô Viết. 
Đây là thời gian Solzhenitsyn bị án biệt xứ. Ông sống ở Koh-Teren ba năm. Ở đây nhờ không có ai giỏi Toán, ông xin được chân giáo viên dạy Toán, và nhờ vậy đời ông đỡ khổ vì số tiền lương giáo viên này. 
Nhưng cũng ở đây, ông phát giác ông bị đau ung thư. Thực ra, trong thời gian bị tù 8 năm, ông đã bị ung thư rồi và đã được giải phẫu một lần, nhưng các y sĩ giấu không cho biết ông đau ung thư. 
Tù biệt xứ, không tiền, ở một nơi hoang vắng, lạc hậu, không bệnh viện, không thuốc men điều trị, nhà văn nắm chắc cái chết. Sau nhiều ngày nằm liệt giường, ông gắng lần ra Tashkent xin điều trị ở bệnh viện công. Tuy vẫn không có thuốc nhưng có lẽ vì số chưa đến ngày tận, Solzhenitsyn vẫn không chết. Những ngày sống vất vưởng ở bệnh viện với bệnh ung thư thập tử nhất sinh ấy cho nhà văn tài liệu sống để viết thành tiểu thuyết Viện ung thư (Cancer Ward) sau này.

°Năm 1955, trong khi còn ở Koh-Teren, Aleksandr I. Solzhenitsyn đã bắt đầu viết tác phẩm tiểu thuyết dài và giá trị nhất của ông: Tầng đầu địa ngục. 
Tác phẩm lớn này được ông hoàn thành vào 9 năm sau – năm 1964 – ở Mạc Tư Khoa. 
Tình yêu đến với ông. Một nữ kỹ sư hóa học trẻ đẹp yêu ông và chung sống với ông mặc dù nàng biết rằng ông chỉ là một nhà văn bị chế độ ghét bỏ, bị tù đày và có thể lại bị tù đày bất cứ lúc nào. 
Cho đến năm 1964, chỉ có mới có một cuốn tiểu thuyết của Aleksandr I. Solzhenitsyn được xuất bản ở Nga. Đó là quyển Một ngày trong đời Ivan Denisovich. Các truyện khác của ông, trong số có nhiều truyện ngắn, kịch bản, đều bị Sở Kiểm duyệt ngầm ra lệnh cho các báo không được đăng. Khi biết chắc rằng ông nhất định không chịu khuất phục chế độ, những người cầm quyền lại mở chiến dịch khủng bố, vu cáo, bôi lọ ông. Nhân viên Mật vụ đến xét nhà ông ban đêm, tịch thu những bản thảo của ông, xét hỏi, làm khó những người bạn đến thăm vợ chồng ông. Những tờ báo của Đảng Cộng sản Nga đăng những bài mạ lỵ Aleksandr I. Solzhenitsyn: Họ vu cho ông bị tù vì tội phản quốc, tư thông với địch quân, những bài báo họ viết về ông có những đoạn nửa kín, nửa hở cố ý làm cho người đọc nghĩ rằng ông chỉ là một tên bất lương, một phần tử lưu manh của xã hội không đáng được để ý đến. Họ còn ngụy tạo cả những bằng chứng kết tội ông bị tù vì tội phản quốc. 
Mật vụ Nga và những người Cộng sản cầm quyền ở Nga có cả ngàn thủ đoạn ác độc để hãm hại những người họ muốn hãm hại. Ngoài việc vu khống Aleksandr I. Solzhenitsyn, họ cô lập vợ chồng ông. Nhà văn không kiếm được tiền vì những truyện ông viết không được đăng báo, không sao có thể xuất bản, ông phải sống nhờ vợ ông, nhưng vợ ông bỗng dưng vô cớ bị sở cho nghỉ việc, rồi đi xin việc ở đâu cũng không được. Nhà văn lại còn bị pháp luật làm khó vì một chuyện cũ: bà vợ thứ nhất của ông bỏ đi lấy chồng khác trong lúc ông bị tù nhưng vẫn chưa ly dị chính thức với ông – có lẽ bà này chưa ly dị vì thời ấy, bà không sao liên lạc được với chồng để làm việc này – thành ra bây giờ nhà văn sống với bà vợ thứ hai này trong tình trạng … bất hợp pháp, phạm luật v.v. 
Boris Pasternak đã gửi tác phẩm Doctor Zivago sang Ý quốc để dịch và xuất bản khi thấy bọn “đồ tể văn chương” ở Nga không chịu cho xuất bản, trường hợp của Aleksandr I. Solzhenitsyn hoàn toàn khác. Solzhenitsyn cũng muốn thấy tác phẩm của ông được xuất bản, tất nhiên, nhưng ông muốn tác phẩm của ông được xuất bản ở Nga trước ở ngoại quốc. Từ năm 1967, Solzhenitsyn đã nhiều lần viết thư cho Hiệp hội Những nhà văn Nga Xô yêu cầu can thiệp để tác phẩm của ông có thể được xuất bản trên đất Nga, trong những bức thư này, ông có đề cập đến tình trạng tác phẩm của ông có thể bị lọt ra ngoại quốc và xuất bản trước ở ngoại quốc. Ông nói rõ đó là tình trạng ông không muốn. 
Nhưng nếu nhà văn không gửi tác phẩm đi, làm sao tác phẩm của nhà văn lại có thể lọt ra ngoại quốc? Solzhenitsyn giải thích sự kiện này như sau: có những người bạn mượn bản thảo tác phẩm của ông về đọc, những người này đánh máy tác phẩm đó để giữ lại hoặc truyền cho người khác, dưới hình thức bản đánh máy, tác phẩm cứ thế phổ biến, để rồi sau cùng, một bản đánh máy đó được mang ra ngoại quốc mà chính tác giả không hề hay biết. 
Chính phủ Nga Xô lại không gia nhập Tổ chức Bảo vệ Quyền tác giả Quốc tế nên các nhà văn Nga không thể thưa kiện gì được khi tác phẩm của họ bị những nhà xuất bản Âu Mỹ xuất bản không có sự đồng ý của họ. 
Năm 1970, Viện Hàn Lâm Nobel đã mặc nhiên trở thành giải thưởng quan trọng nhất, giá trị nhất thế giới. Được giải này là sự vinh hạnh nhất cho những người làm văn học, nghệ thuật, khoa học. 
Chính quyền và Đảng Cộng sản Nga không muốn thấy Aleksandr I. Solzhenitsyn được giải Nobel vì lẽ dễ hiểu là tác phẩm của nhà văn này tố cáo chế độ cai trị bằng mật vụ, nhà tù tàn ác trên đất Nga. Nhưng nhà văn đã được giải Nobel văn chương, cả thế giới đã biết, giá trị và tài năng của nhà văn đã được quốc tế công nhận. Như vậy cũng có nghĩa là quốc tế công nhận những gì Aleksandr I. Solzhenitsyn viết trong tiểu thuyết là đúng. Đó là điều đau đớn thâm gan, tím ruột cho những người Cộng sản Nga. Họ mất mặt nhưng họ chẳng thể làm gì được. 
Họ phản ứng bằng cách trả thù tẹp nhẹp là cấm không cho Aleksandr I. Solzhenitsyn sang Thụy Điển để lãnh giải Nobel. Họ sợ sang đó, nhà văn đã trở thành nhà văn quốc tế, sẽ tuyên bố sự thật về họ và những lời này sẽ được công bố cho toàn thế giới biết, họ sẽ còn tai hại nhiều nữa. 
Không mời được Aleksandr I. Solzhenitsyn sang Stockholm, Viện Hàn Lâm Nobel đề nghị mời nhà văn tới Tòa Đại sứ Thụy Điển ở Mạc Tư Khoa để trao giải – một đại diện của Viện sẽ tới Mạc Tư Khoa để thực hiện việc này – nhưng chính phủ Nga cũng không chịu. Họ đòi đưa giải đó cho họ để họ trao lại cho người được giải. Viện Hàn Lâm Nobel không chịu, vì việc đó trái với tinh thần của Viện, Viện không nhờ đến bất cứ một thứ chính quyền nào trong việc chọn lựa trao giải. Vì vậy được giải Nobel văn chương từ năm 1970 cho tới nay – 1973 – nhà văn Aleksandr I. Solzhenitsyn vẫn chưa được chính thức lãnh giải. 
Tất nhiên là các báo xuất bản ở nước Nga – tất cả đều là báo Đảng, do Đảng chỉ huy – đều không loan tin Aleksandr I. Solzhenitsyn được giải Nobel văn chương cho dân Nga biết. 
Thực ra, theo sự tiết lộ của chính Solzhenitsyn với những nhà báo Tây phương đã lén gặp được ông và phỏng vấn ông ở Mạc Tư Khoa, chính quyền Cộng sản Nga không phản đối việc ông đi ra ngoại quốc, nhưng họ muốn ông… đi luôn không trở về nữa. Nếu ông chịu đi luôn, họ sẽ để mặc cho ông đi cùng vợ con. Ông đi luôn không về nữa, họ sẽ nhổ được cái gai trước mắt họ, và họ sẽ có lý do để tuyên truyền với dân Nga: tên văn sĩ bất lương sa đọa đó đã bỏ nước trốn sang Tây phương, tên đó chỉ là tên thèm khát bơ sữa Tây phương, một tên lưu manh trốn tránh trách nhiệm với tổ quốc. Và rồi dân Nga sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn được nghe nói đến cái tên Aleksandr I. Solzhenitsyn nữa. 
Và mặc dù bị chính quyền bạc đãi, bị tù đày, bị cô lập, bị đói khổ và rất có thể là lại bị tù bất cứ lúc nào, Aleksandr I. Solzhenitsyn vẫn nhất định ở lại trên quê hương ông. Ông coi việc bỏ nước đi sống ở ngoại quốc để được yên thân, được no ấm là việc làm hèn nhát. Ông ở lại để tiếp tục tranh đấu chống những bất công, đàn áp ở Nga Xô – không phải ông ở lại vì yêu mến chế độ Cộng sản – và ông chấp nhận tất cả những hậu quả của việc ông làm. 
Trong một bức thư gửi cho Hiệp hội Những nhà văn Liên Xô, Aleksandr I. Solzhenitsyn viết: 
“… Hiện nay, việc sáng tác của tôi bị bóp chết cứng, cá nhân tôi bị bao vây, cô lập và bôi lọ đủ điều… 
Nhưng tôi hoàn toàn yên tâm, vì tôi biết tôi đã và sẽ làm trọn sứ mạng nhà văn trong mọi hoàn cảnh … 
Không ai có thể ngăn cản được sự thực xuất hiện. Riêng tôi, tôi sẵn sàng chấp nhận cái chết để cho sự thực được sống và cho sự tiến bộ của nhân loại..”°

Viết về Aleksandr I. Solzhenitsyn và The First Circle khi tác phẩm này được ấn hành ở Hoa Kỳ, phê bình gia Harrison E. Salisbury đã viết trên tờ The New York Times Book Review: 
“Đây là tác phẩm tiếp tục tập Hồi ký của Dostoyevsky. Trong thời kỳ Xô Viết cầm quyền ở Nga, người ta đã có rất nhiều những tiểu thuyết viết về đời sống trong lao tù trên đất Nga. Và giờ đây, vóc dáng to lớn của Aleksandr I. Solzhenitsyn nổi bật lên. Cũng như Dostoyevsky, Solzhenitsyn là một kẻ sống sót. Ông cũng đã sống nhiều năm trời trong lao tù và lưu đày”. 
Những nhân vật đàn ông, đàn bà trong tác phẩm của ông đều là những người bằng xương bằng thịt, họ yêu, họ ghét, họ cười, họ khóc, họ trò chuyện, họ ước mơ và đột nhiên ta hiểu rằng thúc đẩy, khủng bố, sa đọa và tàn ác chỉ làm trong sạch thêm tinh thần con người. Cuối cùng, không phải tù nhân là những kẻ bị tiêu diệt dù rằng họ có thể bị mất đời sống. Bọn bị tiêu diệt chính là bọn cai ngục. Bọn đàn áp chính là bọn thất bại
Harrison E. Salisbury là người hiểu biết tận tường về đời sống ở Nga Xô Viết, ông đã từng sống nhiều năm trên đất Nga và chính ông tiên đoán từ năm 1956 rằng Nga Xô và Trung Cộng thế nào cũng đi đến tranh chấp, trở thành tử thù và vì việc này, cả Nga Xô lẫn Trung Cộng đều bắt buộc phải hòa hoãn với Hoa Kỳ. 
Đọc Tầng đầu địa ngục, ta thấy tình trạng xảy ra đúng như Harrison E. Salisbury nhận xét: những tù nhân như Gleb Nerzhin, Pryanchikov, Khorobrov, những người tù vì không chịu khuất phục nên bị bọn mật vụ đẩy ra khỏi Sharashka vẫn là những con người còn nguyên vẹn những đức tính của con người, tình yêu thương và họ vẫn có thể ngẩng đầu cao nhìn trời. Chúng ta chỉ có thể kính phục họ chứ không thể khinh họ. Trong lúc bọn cai ngục như Abakumov, Yakanov chỉ là những tên hèn nhát, quỵ lụy, nịnh bợ, chúng còn chết sớm và chết nhục nhã hơn ai hết. 
Aleksandr I. Solzhenitsyn bị tù dưới thời Tổng trưởng Abakumov, ông ra khỏi tù và trở thành nhà văn lớn trong khi Abakumov bị thất sủng và bị bắt nhốt, bị giết như một con quái vật. Theo tôi, những chương tả cuộc gặp gỡ ban đêm giữa hai tù nhân Pryanchikov và Bobyer với Tổng trưởng Abakumov, những chương viết về Stalin trong Tầng đầu địa ngục là những chương hay nhất, những chương tả cảnh Innokenty Volodin bị bắt vào khám đường Lubyanka là những chương rùng rợn nhất. 
Và lời tù nhân Bobyer nói với Tổng trưởng An ninh Abakumov là một bài học giá trị cho những kẻ cầm quyền ở cõi đời này: 
“Công dân Tổng trưởng… Ông có thể quát tháo dọa nạt bọn tướng tá dưới quyền ông. Họ có quá nhiều thứ ở đời nên họ sợ ông vì họ sợ mất những cái đó. 
Còn tôi, tôi không có gì cả, tôi không còn gì cả. Ông không thể hại vợ con tôi, vì một trái bom đã hại vợ con tôi từ lâu rồi. Cha mẹ tôi đều đã chết. Những gì tôi có trên thế gian này chỉ là cái khăn tay này, bộ quần áo mất nút tôi đang bận đây. Tất cả đều là của chính phủ phát. Ông đã lấy mất tự do của tôi từ lâu rồi, và ông không có khả năng trả lại tự do cho tôi bởi vì chính ông, ông cũng không có tự do. Năm nay tôi đã bốn mươi hai tuổi và ông bắt tôi tù hai mươi nhăm năm. Tôi đã sống ở trại khổ sai, bị còng tay, bị chó săn canh gác, tôi đã chết đi sống lại nhiều lần. Ông còn có gì để có thể đe dọa tôi nữa? Ông còn có thể làm tôi mất những gì nữa? Ông không cho tôi làm công việc kỹ sư của tôi ư? Cấm tôi làm việc, ông sẽ thiệt nhiều hơn là tôi thiệt. 
Ông nên hiểu một điều và ông nên chuyển lại điều này cho những kẻ có quyền như ông hoặc cao hơn ông, những kẻ không biết rằng các ông chỉ có thể mạnh khi nào các ông không làm cho người ta mất hết tất cả mọi thứ. Một người bị các ông tước đoạt hết tất cả mọi thứ sẽ không còn nằm trong quyền hạn của các ông nữa. Người đó lại hoàn toàn tự do”.°

Vì sao người tù Gleb Nerzhin thản nhiên đi khỏi Viện Mavrino mặc dù chàng biết rằng đi là khổ hơn, đi là có thể chết, mặc dù chàng có thể xin ở lại? Bởi vì Nerzhin đã mất tất cả và chàng đã chấp nhận mất hết để được sống thảnh thơi như một con người còn có lương tâm, còn cá tính, còn tự trọng. 
Câu nói trên đây của Bobyer có thể coi là chủ đề của Tầng đầu địa ngục. 

1.6.1973 
Hoàng Hải Thủy

Đừng chụp hình chung với lá cờ vàng!

Gioan Lê Quang Vinh

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Biểu tình chống giàn khoan Trung Quốc – Melbourne photo by Sơn râu 24/5/2014

Lời người post bài: Nhân bài viết của Huy Phương vừa post qua có liên quan đến chuyện lá cờ, râu tôi xin post bài tiếp theo cũng có lá cờ trong đó, xin mời bạn đọc theo dõi.

Đức cha Hoàng Đức Oanh, Giám Mục Kontum, có việc đi nước ngoài. Khi đến cơ quan nhà nước nhận hộ chiếu. Cán bộ Cộng sản nói với ngài:

“Ông đi nước ngoài nhớ đừng chụp hình với lá cờ vàng ba sọc đỏ, nếu không là toi đời ông!”

Ngài đáp ngay: “Vậy tôi trả hộ chiếu lại cho các ông, tôi không đi nữa”.

Họ ngạc nhiên hỏi ngài: “Sao vậy?”

Ngài cười: “Chứ nếu đi nước ngoài mà toi đời thì đi làm gì?”.

Rồi ngài nói với các ông ấy: “Này nhé, tôi vào nhà ông, thấy ông để tượng Hồ chí Minh với lá cờ đỏ, tôi có bảo ông đem đặt chỗ khác không? Đến nhà người ta ai mà làm thế. Ở nước ngoài, nơi tôi đến có lá cờ vàng, chẳng lẽ tôi bảo họ đem đi chỗ khác cho tôi ngồi và chụp hình à?”

Ngài nói tiếp, lý luận sắc bén: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, vậy các ông có ghét Tàu và Tây lắm không? Tôi thấy mấy ông lãnh đạo vẫn đứng chào cờ Trung quốc, chào cờ Pháp, Mỹ đó thôi. Vậy tại sao lá cờ vàng của anh em người Việt mình mà các ông căm ghét đến thế?”

“Còn nữa, hàng năm chúng ta đón bao nhiêu Việt kiều, nhận bao nhiêu tiền họ gửi về, sao lại phải lúc nào cũng căm ghét cờ của họ?”

Ngài nói thêm, như lời tâm sự, nghe rất xúc động: “Năm 1954 gia đình tôi di cư vào Nam. Gia đình tôi sống được và tôi lớn lên, ăn học là dưới lá cờ vàng. Nếu các ông di cư năm ấy thì các ông cũng thế thôi.”

Nghe những lời vô cùng hợp lý như thế, chắc họ bất ngờ và ngượng ngùng lắm nên cuối cùng họ bảo: “Thôi ông cứ đi…”

(Trích từ bài viết “Chuyện kể của một Đức Giám Mục” của Gioan Lê Quang Vinh.)

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Một nhóm nữ tu từ Việt Nam sang Little Saigon tổ  chức gây quỹ giúp người nghèo ở Little Saigon, cho đến giờ khai mạc, những người tham dự thấy trên sân khấu vẫn không có lá cờ VNCH và quốc kỳ Mỹ. Một vài cựu quân nhân trong đó có nhiều người vợ lính đã đặt mua một bàn ăn để giúp đỡ cho hội này, đặt vấn đề với ban tổ chức thì ban tổ chức trả lời không biết. Nhiều người đã lên tiếng rằng, nếu buổi gây quỹ này không treo quốc kỳ VNCH hay làm lễ chào cờ thì họ sẽ ra về. Cuối cùng chính những người phản đối đã đi mượn quốc kỳ luôn luôn có sẵn tại nhà hàng mang lên sân khấu để cho ban tổ chức làm lễ chào cờ.

Nhớ lại câu chuyện năm năm trước, trong thời gian từ 2007-2008, Tim Aline Rebeau, một cô gái Thụy Điển, người sáng lập “Nhà May Mắn” ở Saigon đã đến Mỹ để gây quỹ trong cộng đồng người tị nạn Việt Nam. Cô đã đến Washington DC, Philadelphia, Houston, Orange County, San Fernando, San Jose và Seattle. Ở những nơi khác, chúng tôi không rõ sự việc, nhưng tại Cộng đồng Việt Nam ở San Fernando Valley, dư luận đã lên án ban tổ chức, vì đã theo lời yêu cầu của cô Tim, cất bỏ lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà đã được bày trí sẵn trên sân khấu, cạnh bục thuyết trình.

Cô Tim đã bỏ ra ngoài khi lễ chào Quốc Kỳ bắt đầu, sau đó cô công khai tuyên bố, theo tường thuật của một đài phát thanh, là: “Tôi không muốn những vấn đề chính trị ảnh hưởng đến công việc từ thiện của tôi. Nếu Ban Tổ Chức muốn treo cờ hay làm gì đó tùy ý, nhưng trong chương trình của tôi không thể có cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Điều nầy qúy vị biết hơn ai hết, tôi không thể đứng dưới bất kỳ một lá cờ nào cả.” Phải chăng trừ cờ đỏ sao vàng?

Nhiều chức sắc tôn giáo từ Việt Nam ra nước ngoài, lẽ cố nhiên là cậy nhờ các cộng đồng ty nạn ở đây để xin tiền về xây nhà thờ, chùa, hay giúp người nghèo khó, nhưng không chịu đứng dưới lá cờ vàng hay nghe hát quốc ca VNCH. Chúng ta cũng thấu hiểu sự khó khăn những vị này khi trở về nước chính quyền thấy những bức ảnh hay đoạn phim có liên quan đến màu sắc VNCH. Nhưng chắc chắn là khi ký giấy xuất cảnh cho quý vị ra đi, chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã biết quý vị đi đâu? – đến những cộng đồng người Việt tị nạn tại Mỹ, Úc, Canada hay Pháp; và với mục đích gì? -xin tiền đem về Việt Nam. Không lẽ những nhà từ thiện, những người lãnh đạo tôn giáo này đến một hang động không có sinh hoạt của con người và quý vị chỉ mang về nước những đất, đá hay sỏi, hay củi mục, mà quý vị đến một nhân quần, nơi con người có ý thức chính trị, và quý vị mang về toàn những đồng đô la quý giá, những đồng đô la do sự lao động vất vả, dè xẻn và do tấm lòng rộng lượng của những người tha phương mà trong nước đã mỉa mai là bọn “tha phương cầu thực.”

Chào quốc kỳ và cử hành một phút mặc niệm từ lâu đã thành một phong tục, một nghi thức khai mạc của cộng đồng tị nạn người Việt trên khắp thế giới trong những sinh hoạt dù là chính trị hay xã hội, văn hóa vì người Việt tại hải ngoại luôn luôn muốn khẳng định căn cước của mình, “tôi là ai, tôi từ đâu đến đây và vì sao tôi có mặt ở đây?” Người khách đến nhà thăm viếng xã giao không phê phán cách bài trí trong nhà của chủ nhân, không chê lối tiếp đón của gia chủ, thậm chí theo giáo dục đông phương, người khách còn đến nghiêng mình hay thắp nén nhang trước bàn thờ tổ tiên trong ngôi nhà mình đến nữa. Khổ nỗi, ai cũng biết rõ, mục đích của quý vị khi bước vào căn nhà này, không phải với tư cách một người ban ơn, mà là để ngửa tay xin tiền, dù với danh nghĩa “từ thiện”, “lá lành đùm lá rách”, “máu chảy ruột mềm” hay “bố thí” gì gì đi nữa!

Đây không phải là chuyện “bầu phải thương bí vì chung một giàn,” đây là chuyện bầu phải thương bầu, tuy khác giàn với nhau, nhưng mà, chúng lại cùng một giống!

Chuyện trong nước ra hải ngoại xin tiền quá nhiều, nhưng cũng không ít người đem tiền về cho trong nước. Không những cho tiền để nuôi trẻ, nuôi người tàn tật, xây cầu, cho dụng cụ cùng sự săn sóc y tế mà hải ngoại còn cho họ kiến thức về khoa học, kỹ thuật, giáo dục … Một số nhỏ kiếm danh để tìm nơi trú ẩn cuối đời, nhưng hầu hết người hải ngoại vì lòng nhân đạo, thương yêu, muốn cải tạo xã hội, xây dựng đất nước. Những người trong nước ra ngoài xin bố thí thì không biết điều, không tôn trọng tập quán, phong tục của những ân nhân đã giúp mình, trái lại trong nước được giúp thì lại có thái độ trịch thượng, khó thương chỉ vì bất nhân và sợ hãi. Họ sợ vì những  người làm thiện nguyện này sẽ mang những thôngđiệp dân chủ, nhân quyền về trong nước.

Mới đây thôi, hội từ thiện Măng Non (Association Avenir) thành lập tại Pháp hoạt động từ năm 1994 với mục đích giúp đỡ các sinh viên và học sinh nghèo trong nước có phương tiện đến trường, một cách đều đặn từ 18 năm qua cứ hai năm một lần hội tổ chức những chuyến du lịch Việt Nam để tặng quà cho các trường học, đã bị đối xử thô bạo. Có lẽ chỉ vì bà Chủ tịch hội từ thiện này lại là vợ ông Nguyễn Gia Kiểng nên hội đã bị sách nhiễu và bà Hồ Quỳ đã bị buộc rời Việt Nam ngay, nếu không công an sẽ “không bảo đảm an ninh” cho bà, như một lời hăm dọa của bọn  côn đồ đối với người đã đem công sức, tiền bạc và thiện chí về giúp đồng bào trong nước. Nhà phê bình Nguyễn Hưng quốc đã hai lần bị đuổi ra khỏi Việt Nam lúc mới đặt chân đến phi trường Tân Sơn Nhất trong khi ông về Việt Nam để tham dự một cuộc hội nghị quốc tế do hai trường đại học ở Úc và ở Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội. Ông cũng như những người khác đã trả giá khá đắt khi muốn “đem ánh sáng vào nơi tăm tối”, “chở lòng người trở về quê hường, chở hồn người vào dòng suối mát, chở thật thà vào lòng dối trá … “, phải chăng vì Cộng Sản không bằng lòng với những bài viết của ông về thực trạng Việt Nam và sợ hết thảy những gì mà chúng nghi ngờ là “diễn tiến hòa bình.” Chúng cần “hồng” hơn cần “chuyên.”

Về cứu trợ Việt Nam thì phải có thái độ Ngoan ngoãn như bầy cừu, tiêu biểu là những khuôn mặt có tên trong bảng phong thần “Việt Kiều Yêu Nước” hí hửng, mỗi năm được tuyên dương tại hội trường Mỹ Đình, Hà Nội. Ra hải ngoại quyên tiền, xin ăn thì phải dẹp hết cờ vàng, không hát quốc ca mặc dầu chúng “hồ hởi” nhặt về những đồng đô la của những người tị nạn còn nghe mùi mồ hôi và cả mùi muối mặn chát trong những chuyến vượt biển.

Hiện tình ở trong nước hiện nay, Việt Cộng giàu có gấp bội Việt Kiều, vẫn còn vơ vét của cải cho gia đình bản thân, cứ nhìn vào gia cảnh của Bộ Chính trị Cộng Sản Việt Nam thì rõ. Trong khi đó các hội đoàn, tổ chức và cả cá nhân trong nước vẫn ào ạt ra nước ngoài để quyên góp từng đồng bạc lẻ, và chúng ta thì lại tự nguyện vắt sữa từ cái vú, tưởng chừng đã khốn đốn, nợ nần, khô cạn của nước Mỹ để làm việc từ thiện, nuôi dân thay cho bọn cầm quyền.

Rút cuộc, chỉ có “khúc ruột nghìn dặm” ở đây là “dại dài dài,” chỉ vì chút hư danh, được xướng tên, “hùn phước” hay bác ái mà ngây thơ dẹp bỏ bàn thờ, cũng như làm thiện nguyện trong nước, bị dối trá, lừa bịp, ăn chặn mà vẫn bị đuổi ra khỏi nước như  những kẻ tội đồ, mà vẫn chưa thấm nỗi nhục của bầy cừu giao du với lũ sài lang.

Ngày Xuân ở Biển Hồ-Pleiku

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 9 Jan 2020

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Kỳ 1

Năm 1968 Ðại đội 1 Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có hai người tên là Sanh đó là Hạ sĩ Lưu Sanh và Binh nhứt Ngô Sanh. Lưu Sanh, vốn người xứ Sịa, Thừa -Thiên, là xạ thủ đại liên xuất sắc số một của tiểu đoàn. Lưu Sanh có dáng dấp một tay anh chị, đô con, tháo vát, nhanh nhẹn, liến thoắng. Anh vác khẩu đại liên 30 trông nhẹ nhàng như người ta vác khẩu carbine M2. Lưu Sanh rất kỷ luật, nhưng cũng rất cứng đầu. Anh này còn có biệt danh là “Sanh Bi Ðông” vì lúc nào bên hông anh cũng kè kè một bi đông rượu đế.

Người tải đạn cho Hạ sĩ Lưu Sanh là Binh nhứt Ngô Sanh. Ngô Sanh quê quán Vĩnh-Ðiện, Quảng Nam. Ngô Sanh nhỏ con, mặt chuột, răng hô. Thêm vào đó, miệng anh có ba bốn cái răng bịt vàng sáng chóa. Khi cười, miệng anh như có lửa. Anh em trong đại đội gọi đùa anh là “Kim-Thành Công Tử” ý nói anh là công tử con chủ tiệm vàng Kim-Thành nổi tiếng khắp nước Việt-Nam. Ngô Sanh cũng đoạt danh hiệu “Người Nhẹ Cân Nhứt” của Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân thời bấy giờ.

Lạ một điều, trọng lượng của “Kim-Thành Công Tử” cân chưa tới bốn chục ký lô, vậy mà “Công Tử” có thể mang theo trên mình đầy đủ, súng đạn cá nhân, đồ ngủ, mười ngày gạo, cùng với hai thùng đạn đại liên, lội rừng hết ngày này qua ngày khác, không than mỏi.

Mặc dù rất xấu trai, nhưng ai cũng thương mến Ngô Sanh. Nếu ai đã sống chung với anh ít lâu, sẽ cảm ra rằng, có lẽ trên đời này, không ai lại hiền lành, tốt bụng như anh.

Chàng “Công Tử” này hiền như cục đất. Trong doanh trại, ngoài hành quân, hai anh Sanh lúc nào cũng như bóng với hình, sát cánh bên nhau. Tôi và Thiếu úy Ðặng Hữu Duyên đại đội phó sẽ mãi mãi không thể quên một kỷ niệm khôi hài giữa hai ông Sanh này. Một đêm, bên đống lửa, trong rừng Núi Voi, Liên-Khương, Ðà-Lạt, cạnh hố đại liên, Lưu Sanh nói với Ngô Sanh,

– Này Sanh ơi! Tau mắc cỡ vì trùng tên với mi. Mi đần độn quá mi ơi! Tau dạy hoài, mi chẳng khá. Ông già mi đẻ ra mi thiệt uổng công. Nếu ổng ỉa ra một cục cứt, cho chó nó “lủm” chắc còn có ích hơn!

Ngô Sanh ngây thơ nhìn Lưu Sanh,

– Anh nói chi lạ rứa? Nếu tui là cục cứt thì ai tải đạn cho anh? Lấy mô ra đạn cho anh bắn? Anh không cám ơn tui phụ giúp anh, anh còn chê bai này nọ. Ngày nào anh cũng la mắng, chửi bới tui. Tui chịu hết nổi rồi! 

Sau đó, Ngô Sanh quay mặt đi, đưa tay quệt nước mắt, nghẹn ngào,

– Thôi! Sáng mai tui trình với Thái Sơn cho tui ra trung đội. Tui không phụ tải đạn cho anh nữa! Anh kiếm người khác tải đạn cho anh đi…Hu! Hu! Hu!…

Ngô Sanh bật khóc. Tiếng thổn thức càng lúc càng lớn. Tiếng khóc não nuột rừng đêm.

Tôi thấy Lưu Sanh cuống quýt, vứt vội ca cà phê đang uống xuống đất,

– Ấy! Tau xin lỗi mi! Tau giỡn mi đó thôi! Vì hai đứa mình là anh em, tau mới dám giỡn. Nín đi! Ðừng khóc nữa! Mi ở lại tải đạn cho tau, giúp tau tiếp đạn lúc đánh nhau. Mi mà không tải đạn cho tau, tau cũng bỏ cây đại liên này cho đứa khác giữ. Chúng nó sẽ không bắn hay như hai đứa mình. Nếu gặp lúc Việt Cộng xung phong, đại liên không cản được Việt Cộng, Việt Cộng sẽ xông vào vị trí. Tụi nó sẽ bắt Thái Sơn, bắt tau, bắt mi!

Trung Úy Vương Mộng Long và Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân – 1968

Rồi vừa vuốt lưng Ngô Sanh, Lưu Sanh vừa nhẹ giọng dỗ dành,

– Tau xin lỗi mi! Thôi! Nín đi nhé! Cười lên đi! Cười lên … cho ánh …răng vàng…sáng chói…

Ngô Sanh đang thút thít cũng phải phì cười khi bạn nó xuống giọng pha trò.

Nó nhìn bạn, ánh mắt đầy tình mến thương, nó nhoẻn miệng cười (răng vàng sáng chói)

– Ừ! Thì thôi! Nhưng anh phải hứa, từ nay không gọi em là cục cứt nữa nhé!

– Tau hứa mà! Tau hứa từ nay sẽ không gọi mi là cục cứt nữa. Tau sẽ gọi mi là “Cưng của Liên” Chịu chưa?

Ngô Sanh gục gục đầu, tay nó cầm một khúc củi dài, cời cời những cục than hồng trong bếp, than hồng bắn ra những tia sáng “tí tách!”

Trong ánh lửa bập bùng, tôi nhìn thấy đôi mắt nó long lanh, đôi mắt nó đang cười long lanh…

“Cưng của Liên” là tên anh em trong đại đội đặt cho Ngô Sanh.

Trong khu gia binh đại đội, khi đi ngang nhà vợ chồng Ngô Sanh, người ta thường nghe vợ anh gọi anh,

– Cưng của Liên ơi! Cưng của Liên đâu rồi? Cưng của Liên xách dùm em thau nước…Cưng của Liên nhóm bếp dùm em chút coi…Cưng của Liên…

Người ta gọi căn gia binh của vợ chồng Ngô Sanh là “Lâu Ðài Tình Ái”

Chị Liên là cư dân Biển Hồ từ lâu. Chị là con gái của ông Thượng sĩ Thường Vụ Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân.

Chị Liên còn có tên là “Liên Mắt Biếc” vì đôi mắt của chị ta lúc nào cũng xanh và lóng lánh sắc như dao cau.

Mười lăm tuổi, chị đã lấy chồng và chị đã hai lần lãnh tiền tử tuất của chồng.

Người chồng đầu tiên của chị là lính ở Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân và tử trận từ thời Thiếu tá Sách làm tiểu đoàn trưởng. Vài tháng sau, chị tái giá.

Người chồng thứ nhì của chị là anh lính nấu cơm của Ðại úy Ðoàn Ngân Bài, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân. Anh này cũng đền nợ nước trong trận Phù-Củ năm 1965.

Biến cố Phật Giáo Miền Trung năm 1966 đã đưa Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân ra Ðà-Nẵng. Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân từ Ðà-Nẵng chuyển vào Biển Hồ, và Ngô Sanh khù khờ đã tới Pleiku.

Như có duyên có nợ, nhân một ngày dưỡng quân, trong chợ Biển Hồ, “Kim-Thành Công Tử” và “Liên Mắt Biếc” gặp nhau. Người góa phụ trẻ, chưa tiêu hết tiền tử của người chồng thứ nhì, thấy anh tân binh này hiền như cục bột, bèn thương.

Ngày tôi tới Ðại đội 1/11 thì cặp vợ chồng này đã dọn về ở khu gia binh Biển Hồ từ lâu.

Trong thời gian làm đại đội trưởng Ðại đội 1/11, tôi hay ghé trại gia binh, thăm viếng thân nhân binh sĩ dưới quyền, vào những ngày lễ Tết, hay sau những chuyến hành quân có tổn thất.

Tôi cũng nhiều lần tham dự những đám cưới nhà binh. Những đám cưới mà cô dâu chỉ có một bộ bà ba mới, không dây chuyền, không bông tai, không nhẫn vàng. Chú rể gọn gàng trong bộ rằn ri, không nơ, không cà vạt.

Tiệc cưới là một mâm hoa quả, một mâm xôi gấc, xôi đậu xanh, một rổ bún tươi, một chậu rau sống, một mâm thịt heo xắt lát, một đầu heo, một chồng bánh tráng sống, một chồng bánh tráng nướng, một tô mắm nêm rắc mè, một can nhựa hai mươi lít rượu đế, và một tô ớt tươi đỏ ối…

Ờ Biển Hồ, có những đám cưới giản dị nhứt trần gian…

Thuở đó, tôi còn độc thân, vậy mà cũng dám hai lần, đứng ra làm chủ hôn cho hai đứa đàn em, là chú Hạ sĩ Nguyễn Phượng Hoàng và chú Binh 1 Phạm Công Cường.

Có lẽ tôi cũng mát tay. Nhờ có tôi làm chủ hôn, mà hai gia đình này cứ “đầu năm sinh con giai, cuối năm sinh con gái” đều đều … chạy gạo bắt khờ luôn!

Năm tháng trôi qua, khẩu đại liên của hai ông Sanh luôn luôn là linh hồn của đại đội qua các cuộc hành quân.

Sau Tết Mậu-Thân ít lâu, khẩu đại liên 30 bị thu hồi. Hai ông Sanh được trang bị một khẩu M60 nhẹ nhàng hơn. “Con gà cồ” này lúc nào cũng đi bên tôi, để tôi có thể dễ dàng ban khẩu lệnh cho nó.

Trong lần đại đội tôi dừng quân ở Ðức-Trọng, khẩu đội đại liên này được mang cái tên “Thu Bình 1”, Thu Bình là tên cô cháu gái của ông chủ một xưởng cưa, nơi chúng tôi tá túc trong thời gian dài hành quân tăng phái cho Task Force South.

o O o

Cuối năm Mậu Thân, tháng 2 năm 1969, Thiếu úy Ðặng Hữu Duyên thuyên chuyển về giữ chức Trưởng Ban 4 của liên đoàn, Thiếu úy Trần Dân Chủ được đề cử làm tân đại đội phó.

Sau chiến dịch Chư Pa, nhân dịp đơn vị ghé hậu cứ dưỡng quân, tôi xin Trung tá liên đoàn trưởng cho tôi năm ngày phép bằng Sự Vụ Lệnh để về Hội-An thăm mẹ.

Tôi mãn phép, trở về thì đại đội tôi đã hụt mất hai người vì Trung sĩ nhứt Tánh, Hạ sĩ quan thường vụ đại đội, đã bị Hạ sĩ Lưu Sanh bắn chết, sau một vụ cãi lộn. Lưu Sanh lãnh án, đi tù.

Không còn Lưu Sanh, Ngô Sanh trở nên u sầu ủ dột. Anh xin tôi cho anh về làm khinh binh dưới quyền Thiếu úy Vy Trung đội 1.

Trong trận Chư Pa, người mang đồ ngủ, lều võng cho tôi là Binh nhứt Trung đã bị thương nặng phải giải ngũ, tôi bèn giữ Ngô Sanh ở ban chỉ huy đại đội làm công việc của Binh nhứt Trung.

Từ khi về ban chỉ huy đại đội, nhận việc lều võng cho tôi, hình như Ngô Sanh không được vui. Nó thường luẩn quẩn, loanh quanh bên khẩu súng đại liên M60 của Hạ sĩ Trần Ðợi. Trần Ðợi là người thay thế Lưu Sanh, chỉ huy một trong hai khẩu súng chủ lực của đơn vị.

Khi rảnh rỗi, Ngô Sanh hay rã khẩu M60 ra thành nhiều mảnh, ngâm các bộ phận trong một thau dầu, rồi chùi khô, thoa nhớt, khẩu súng bóng loáng như vừa xuất kho.

Có một lần Ngô Sanh trình diện tôi; nó gãi đầu, gãi tai, lí nhí câu gì đó tôi nghe không rõ. Tôi bực mình nên to tiếng,

– Nói lí nhí trong miệng! Nghe không được thì ai biết mi muốn cái gì! Muốn chi thì gặp Thượng sĩ Thống thường vụ, nói với ông ấy, ông ấy giải quyết cho!

Thấy tôi có vẻ bực mình, Ngô Sanh bỗng cuống quýt, vừa run, vừa lắp bắp,

– Dạ! Không có chi! Không có chi Thái Sơn!

Sau đó, nó gãi đầu rồi lủi đi.

Mấy giờ sau Thượng sĩ Thống vừa cười, vừa nói với tôi,

-Thằng Sanh muốn xin Trung úy cho nó ra tải đạn cho thằng Ðợi. Nó sợ Trung úy la nên cứ ấp a ấp úng không dám nói. Nó nhờ tôi giúp nó, xin với Trung úy cho nó đi!

– Ừ! Hôm nào ông kiếm coi có đứa nào thay nó, rồi cho nó ra với thằng Ðợi.

Rồi ông Thống cười tủm tỉm,

– Trung úy có biết tại sao thằng Sanh mê khẩu súng đại liên không?

– Ai mà biết?

– Nó mê súng đại liên chỉ vì tên con vợ nó là “Ðại Liên” đó Trung úy ơi!

– ?????

Tiếp đó ông Thống giải thích,

– Bố vợ nó cùng thời với tôi. Ông ấy có ba đứa con gái đặt tên là Hoàng Thị Ðại Liên, Hoàng Thị Trung Liên và Hoàng Thị Tiểu Liên. Vợ nó là chị lớn trong nhà, tên Ðại Liên. Sau khi bố vợ nó bị thương và giải ngũ thì đưa gia đình về Qui Nhơn, đem theo hai con Trung Liên và Tiểu Liên. Nay chỉ còn mình con Ðại Liên ở Biển Hồ.

Nghe hết chuyện, tôi cũng bật cười,

– À ra thế!

o O o

Sáng Mồng Năm Tết năm Kỷ Dậu,1969, Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân làm lễ xuất quân.

Nghe đâu người vẽ phóng đồ hành quân của Phòng 3 Quân đoàn đã vẽ cho chúng tôi đi về hướng Tây Pleiku vì lịch chỉ hướng chính Tây là hướng Cát Thần.

Mục tiêu của Ðại đội 1/11 là một buôn Thượng tên là Plei Blo O’dung 3 bỏ hoang, cách Ðồi 37 Pháo Binh, Pleiku chừng bốn cây số.

Tôi đã dùng con lộ chính để làm trục tiến quân. Mười giờ sáng, chúng tôi tới mục tiêu, vô sự.

Tới trưa, cơm nước xong, có lệnh cho chúng tôi thu quân rút ra làng Plei Blang 3 để lên xe về hậu cứ.

Khi đi hành quân, tôi là một người rất cẩn trọng. Sợ bị địch phục kích, tôi cho đơn vị rút ra điểm tập trung bằng con đường khác.
Từ làng Plei Blo O’dung 3 tới làng Plei Blang 3 đường dài gần năm cây số. Vùng này là rừng cây thưa với những đường xe be đan nhau. Chúng tôi đi theo đội hình hàng dọc hai bên đường. Chỉ nửa giờ sau tôi đã nhìn thấy làng Plei Blang 3 bên kia một thung lũng đầy cỏ dại, chạy dọc theo Tỉnh lộ 509. Nơi đây chỉ còn cách làng Plei Blang 3 chừng hai cây số.

Bất thình lình“Choác! Choác!” súng nổ ran! Súng bắn từ hướng trước mặt, từ bụi cây ở giữa lòng đường!  Nơi này con đường chẻ làm hai, ở giữa đường có một cụm rừng như hòn đảo nhỏ. Vì địch nằm ở giữa, nên quân đi bên phải sợ bắn nhầm quân đi bên trái, quân đi bên trái lại sợ bắn nhầm quân đi bên phải, chúng tôi lâm vào thế vô cùng lúng túng!

Ðã có vài người đi trước mặt tôi bị trúng đạn rồi. Trong số này hình như Trung sĩ 1 Nguyễn Khôi, trung đội phó Trung đội 2 bị địch bắn vỡ đầu. Tôi cùng hai cố vấn Hoa Kỳ đi với hai anh lính truyền tin và một anh lính hộ tống bị kẹt giữa hai lằn đạn phải vội vàng nằm sát mặt lộ tránh đạn.

Tôi la to:

“Một nằm xuống! Hai bắn về bên phải! Xung phong bên phải!”

Lập tức mọi người hô theo:

“Một nằm xuống! Hai xung phong bên phải!”

Cũng may vì đã có nhiều lần quen tập luyện “Phản ứng cấp thời” nên vừa nghe tiếng la của tôi, các trung đội đã phản ứng rất nhanh và ăn khớp.

Ông Chuẩn úy Ðàm Quang Hạ Long, Khóa 27 Thủ Ðức, trung đội trưởng Trung đội 2, là một tân sĩ quan của đơn vị này nhưng cũng tỏ ra là một tay “Can trường khí phách”

Chuẩn úy Hạ Long một tay ôm khẩu M 16, tay kia giơ cao khoát lia lịa, miệng la oang oang:

“Xung phong! Xung phong bên này!’’

Sáu tên Việt-Cộng nằm trong bụi thì bốn tên bị giết, còn lại hai tên đã nhanh chân thoát chạy về bên kia đường rồi biến mất trong bụi rậm. Bên kia bãi đất trống là rừng cỏ tranh cây thấp. Bãi đất trống này là một nương rẫy cũ, nằm song song với con đường xe be. Cái nương này có chiều dài cỡ hai trăm mét, chiều ngang chừng một trăm mét.

Tôi lồm cồm ngồi dậy, anh Trung úy Mỹ cũng lồm cồm ngồi dậy. Anh ta là một Trung úy Pháo Binh Hoa-Kỳ, có nhiệm vụ làm tiền sát viên yểm trợ hỏa lực cho đại đội tôi. Tôi được thông báo rằng, đơn vị Pháo Binh Hoa-Kỳ yểm trợ hỏa lực cho tôi hôm đó là một pháo đội 105 ly dã chiến, nhưng tôi không rõ súng đặt ở đâu. Anh sĩ quan Mỹ đánh rơi cặp kính cận, hai tay anh ta đang quờ quạng trên mặt đường để tìm cặp kính. Trung đội 1 nằm bên phải con đường lúc này vừa chuyển thành đội ngũ hàng ngang. Họ cố bắn với theo hướng hai thằng địch vừa thoát chạy. Bất ngờ từ bên kia trảng trống, những tràng súng liên thanh tới tấp bắn sang. Chúng tôi lại vội nằm sát mặt lộ để tránh.

Vì xe be chạy qua chạy lại nhiều năm, nên mặt con lộ bị lún xuống thấp hơn lề đường chừng ba tấc, do đó mà bìa đường trở thành bờ đất ngăn đạn, giúp đơn vị tôi không bị thiệt hại. Thấy hỏa lực địch quá dữ dội, tôi không dám cho quân xung phong. Vì xung phong qua vạt ruộng trống trải này dưới những làn đạn đại liên thì chẳng khác gì tự sát. Kỳ lạ một điều là, hỏa lực súng cộng đồng của Việt-Cộng rất hùng hậu, nhưng hình như địch không có ý nghênh chiến. Chúng chỉ bắn thị uy chừng mười phút rồi im. Lợi dụng thời gian tiếng súng vừa ngừng, tôi chuyển toàn quân về bố trí nơi hướng Ðông trảng trống.

Ở vị trí này, nếu thấy địch mạnh quá, không đương cự nổi, tôi còn đường chạy thẳng ra làng Plei Blang 3.

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Chương 8

Giang hai tay, áo saut trông rộng thùng thình che hết nửa người khép tay lại, Minh nhảy nhảy, chai rượu trong túi chuyển động lục cục… Cái áo rộng thế này hèn gì hồi xưa lính Tây không bắt gà cũng uổng. Minh nhét cây súng vào thắt lưng, đi xuống bếp lấy hai mươi chiếc nem lá bỏ vào túi dưới của chiếc áo còn rộng chỗ. Kiếm cái gì nữa bây giờ. Minh cắt một khoanh giò thật lớn gói vào túi nylon, mình như một ụ thức ăn di động. Ra khỏi nhà Minh hướng về phía khách sạn, lạnh, hai tay đút vào túi áo, lạnh không kém gì Đà Lạt. Tết này như vậy là mình đi lính được sáu năm. Minh nhớ đến Tết đầu tiên ở trường, doanh trại vắng hoe, các khoá đàn anh đi phép, nắng đầu xuân vàng rực gây gây lạnh. Minh vừa được gắn alfa, đầu húi cao trắng xoá, mặt loang lổ từng mảnh da bị tróc vì rám nắng… Những người cùng phòng đi vắng, Minh trùm chăn ngủ bù sau hai tháng tân khoá sinh, chiếc máy do sinh viên khoá đàn anh cho mượn chạy hoài bản nhạc độc nhất… “Greenfield… You never know what make you run away… How can I keep searching when the cloud hide the day…” bài hát của một người bị tình phụ, thê thiết khắc khoải vang vang trong căn phòng lạnh vắng. Minh chưa có một mối tình nào, Minh chỉ có một cuộc đời mới khởi đầu, nhưng Minh linh cảm được có một điều gì bất toàn, ngón tay dò kẽ nứt đầu tiên bắt đầu có dạng trên mặt da trắng bóng trơn láng. Dĩa hát chạy hết được đặt lại…” home… to the greenfield that we are once again…” Home, nhà, chốn hạnh phúc của những người yêu dấu, nhà, chốn Minh vừa xa rời chắc lâu lắm mới có ngày trở lại… Khóc, giọt nước mắt vô tình nào đã làm ướt mắt gã trai mười tám tuổi, Minh đứng dậy nhìn qua cửa kính, khu sân cỏ trước doanh trại lác đác vài người, trời đột nhiên âm u, phía rừng ùn ùn sương phủ, Minh khóc cho một duyên cớ vô hình… 
Thối thật, Minh đá một cái vào khoảng không gian trống. Tiên sư, tự nhiên lại khóc… Minh nhìn quanh xem thử có người nào trông thấy, ừ lúc đó mình con nít thật, Minh rút ra một cái nem, lột lá, bỏ tọt vào mồm, kéo chai rượu Johny Walker. Nhãn đó là sang rồi đòi gì nữa… Minh đứng dưới cột đèn, rót rượu ra nắp nhôm… Ực, không đá uống cũng được, trời lạnh rượu thêm ngon. Minh rót thêm một lần nữa… Có bóng người đi qua mặt, khẽ liếc Minh. 
“Uống không?” 
Người kia lắc đầu, bước chân tránh đi xa xa… 
“Không thì thôi, sĩ quan Nhảy dù mới nhận chức… à”. Minh bỏ chai rượu trong túi, bước đi thật vui vẻ và nhanh nhẹn, Minh chợt nghe một thoáng u buồn phiền muộn nào nằm sẵn trong tim. 
Cửa phòng Lạc hé mở sau tiếng gõ cửa đầu tiên. Minh cho chai rượu vào trước lắc mấy cái. Có tiếng hét lớn: “Vô đây! Vô đây! Tôi chưa đợi ai bằng đợi ông tối nay”. Lạc chạy ào ra cửa, cuống quít kéo Minh vào. 
“Thủng thẳng bể bố chai rượu ra bây giờ…” 
“Tiên sư, ngồi đợi ông muốn dài cả cổ, tôi mua mấy chai bia uống tạm, đêm giao thừa lạnh như cắt, ngồi uống bia một mình chi bằng uống thuốc độc chết sướng hơn”. 
“Thôi đừng than van nữa ông già, chị với hai con đâu?” 
“Phòng bên cạnh, tội nghiệp Tết nhất lại phải mò đi xa kiếm chồng, chồng lại cỡ tôi nữa thật là xứng đáng tuyên dương công trạng, mươi tám năm lấy chồng chỉ được thấy mặt chồng năm cái Tết, tiên sư đúng là bà ấy trúng số độc đắc hạng bét… Thôi mở rượu, ấy, sao ai uống trước rồi, ông thổi ở đâu?” 
“Đừng nói bậy, tôi xin ông già tôi đấy, đi dọc đường tôi nhậu trước hai nắp”. 

“À, vậy thì được, lần sau bảo ông già cho chai tốt hơn cỡ Courvoisier Martell…” 
“Ừ, cái này phải nói qua bà già vì ông già về ở với Chúa rồi…” 
“C… ông lúc này lại nhiễm tính ông Thuấn rồi…” 
“Tính tốt thì phải học, học thầy không tày học bạn, ông Thuấn là bạn tốt, không học cũng phí. Bà chị tôi mới thấy Thuấn xạo mê ngay…” 
“Chết, chị ông điên rồi, chị gì mới được chứ”. 
“Chị họ, muốn gì cứ nói, chết quái gì mà rào đón…” 
“Vậy khỏi giữ, sợ chị ruột ông thì không được… Từ trước đến nay tôi vẫn nghĩ bà nào điên mới mê ông Thuấn, nhớ vụ ở Dakto có con đĩ nhất định theo nó về Sài Gòn, vui thật, nghe ông Thuấn ba hoa một hồi thế là con bé nghệt mặt ra… Tiên sư, mình nghe nó láo đến sốt cả ruột, thế mà vẫn có kẻ tin đến ngẩn người”. 
“Ừ, cũng như mấy thằng nhà báo, toàn là những tay nói dóc thượng thặng thế mà khi nghe ông Thuấn nói chuyện tượng đồng ngồi ở nghĩa trang hoá thành ma đón xe xin quá giang, xin thuốc lá, một tụi ngồi đực mặt ra ghi chép phỏng vấn. ĐM… Tôi ngồi bên cạnh cười đến vãi đái… Ông thấy cảnh ông Thuấn diễn tả cảnh thằng tượng đồng đối thoại với ông ấy chắc ông cười đến chết, thế mà không hiểu sao mấy cha nhà báo tin được, cứ một điều Đại uý ghi rõ cảnh bức tượng đón xe… Đại uý cho biết cảm giác khi nghe bức tượng nói… Hà… hà… Ông có nghĩ cảnh ông Thuấn phịa không? Ông ta nói như thế này: Bức tượng đó tạc theo mẫu của hạ sĩ Côn đại đội tôi, nên khi nghe tiếng nói Quảng Trị của nó tôi lạnh người, tôi hỏi “Có phải em là Côn không?”. “Dạ thưa Đại uý, em là Côn đây, thấy Đại uý lái xe qua nên em đón xe thăm Đại uý…”. 
“ĐM… Láo thế là nhất rồi. Thuấn ơi là Thuấn ơi, vong linh ông ở đâu về uống với tôi chén rượu…” Lạc hớp ly rượu cười rung cả người… “Ấy thế mà ông Thuấn lại nói với tôi khác…” 
“Khác làm sao?” 
“Khác là thằng tượng đồng ngồi trên bệ đá tay ngoắt ngoắt. ĐM… cả sếp mình là Đại tá Lữ đoàn trưởng cũng tin luôn”.
“Rồi bây giờ đi qua chỗ bức tượng ông ấy có chào không?” 
“Có, thì hôm đó ông Thuấn lái xe, sếp ngồi một bên, tôi ngồi sau, gần đến chỗ bức tượng là ông bắt đầu gỡ mũ, tháo kính, lái chậm và chào thật nghiêm… Bây giờ mới biết Thuấn xạo…” 
“Cái trò chào bức tượng cả Sư đoàn này đều bị lây ông Thuấn hết đấy”. 
“Thuấn xạo thực, nhất ông ấy rồi…” “Uống tiếp, chuyện Thuấn xạo biết đến bao giờ cho hết, uổng thật tối hôm nay nếu có ông Thuấn sẽ vui biết mấy, cũng như hôm ở Bồng Sơn ông Trung tá Khoa, chiến đoàn 3 sắp sửa lên trực thăng cũng phải nán lại để nghe ông Thuấn luận về gà Bình Định và vợ Quảng Ngãi. Tôi không hiểu thằng cha ấy nhặt những chuyện khỉ gió kia ở đâu, chuyện gì hắn cũng luận đều đều dài dài… Thiên hạ lần đầu tiên nghe Thuấn nói cứ tưởng thằng cha thông kim bác cổ…” 
“Thì cũng phải có tài chứ, tài dựng chuyện và tưởng tượng rồi ráp những sự kiện rời rạc nhưng có thực xung quanh một cái trục bịa đặt, thế là thiên hạ tin như chết. Không kể người lạ, ngay cả ông với tôi khi nghe ông Thuấn nếu không được báo trước cũng vẫn tin, như hôm ông ấy ngồi phịa chuyện tướng ông Diệm và bà Nhu, cả bộ chỉ huy Tiên tri nghệt mặt ra nghe xong cứ chặc lưỡi khen ông Thuấn giỏi cho đến khi nó bị ông Ba phó vặn lại, cả làng mới biết bị xạo…” 
“Chuyện thế nào?” Minh nhai một miếng nem, chất thịt vừa chín được ngấm thêm men rượu nồng tan trong cổ, nhắm mắt lại, một chút nước mắt ướt rèm mi… Rượu uống sao ngon nhưng mạnh quá, lúc đi ngoài trời lạnh uống thấy ngon hơn ở trong phòng. 
“Uống đi, để tôi kể chuyện ông Thuấn luận ông Diệm. Ông ấy bảo: ông Diệm là tướng đại quý vì ông ấy thuộc loại ngũ đoản bát đại, cho nên mới bị cái chết bất đắc kỳ tử, nửa đường đi toong… Ôi chao, ông ta dẫn chứng cả cổ kim để làm bằng cớ, nào là ông Chu Văn An là tướng hầu, ông Án anh Án em gì đó ở bên Tàu… rồi ông ta luận luôn chuyện ông Nguyễn Khánh… ĐM… nói sướng cái miệng nhưng ông ta kể vung vít quá mới bị ông phó kê, hắn ta cứng họng nên mới thú nhận đang nói xạo…” 
“Vậy là mấy ông thua rồi, tôi chỉ bị một lần là biết ngay…” Minh hớp thêm ngụm rượu. “Sao đắng quá, tôi phải đi kiếm cục nước đá”. 
“Để tôi”. 
“Đâu được, tôi sẵn áo quần tiện hơn ông. Minh đứng dậy bước ra khỏi phòng. Đợi tôi năm phút thôi…” 
Lạc gật đầu, nhìn thẳng vào chai rượu màu vàng lóng lánh ánh đèn, Lạc cười nhẹ, đưa tay lên sờ cằm, những chiếc râu ngắn nhám nhám ở tay, Lạc liếc về phía cửa phòng vợ, có tiếng thở dài rất nhẹ, Lạc lắc đầu. 
Thuấn dặn tên lính thân tín: 
“Tao đi chơi loanh quanh đây, có gì mày chạy đi gọi”. 
“Dạ”. Binh nhất Thiên nhỏ nhẹ trả lời. Ra khỏi chỗ đóng quân, bước lên mặt đường, đường số 1 đêm ba mươi Tết vắng lặng như một thỏi đá màu đen đắm chìm trong sóng trắng đục. 
“9 giờ, còn ba tiếng nữa giao thừa”, Thuấn cho tay vào trong túi áo, bước theo bề ngang của con đường… 
Một hai ba, hai mươi bốn bước, xương sống mẹ Việt Nam rộng hai mươi bốn bước, đi ra phía này là tới Hà Nội, đi vô phía này tới Sài Gòn. Thuấn xoay mặt về hướng Nam, xung quanh sương trắng lớp lớp. Những ánh đèn le lói hai bên đường trông ốm yếu như sắp tắt. Mình đâu có nghĩ cảnh giao thừa đứng trên quốc lộ như thế này… Buồn thật… Làm cái gì bây giờ… Điên à? Ông nói với ai hở ông? Thuấn ép tay vào người cúi đầu đi về phía Nam. 
“Ai đó? Đứng lại”. 
“Lính Nhảy dù đi du xuân”. 
“Đi mô tối rứa?” “Giao thừa đi chơi”. Trong bóng tối xám đặc lập lòe ánh lửa, Thuấn biết mình đã gần tới cầu, sương dày quá không thấy được thành cầu, dòng sông ở dưới xa chìm hẳn trong khói sương lạnh giá. Thuấn bước tới, đốt điếu thuốc. 
“Có dây kẽm gai không?” 
“Có, ép về phía trái… Coi chừng, thôi để tui mở cho mà đi”. 
Thuấn đứng lại, lạnh quá, gió dưới sông thổi lên mang theo hơi nước ẩm ướt, sợi dây kẽm chắn ngang lối đi, ánh đèn bấm di dần về phía Thuấn. “A, Đại uý đi mô mà khuya khoắt ri? Mới chín giờ đã đi du xuân…” Thuấn tự nhiên thấy lòng vui vẻ. Người lính gặp hồi sáng không giấu vẻ mừng rỡ trong khi luống cuống mở dây kẽm gai. 
“Đại uý thiệt là lạ, trời lạnh như cắt mà lại đi chơi, mà chơi chi ở đây… Tôi đứng chờ giờ đổi gác để chui vào mền làm một giấc đã… Bây giờ Đại uý định đi đâu?” 
“Chẳng biết… Đi mỗi vòng rồi về, lạnh quá hả?” Thuấn chìa cho người lính điếu thuốc. “Trời lạnh hút thuốc ngon thiệt”, người lính xuýt xoa. Thuấn nhớ điếu thuốc đầu đời, một góc rừng Đà Lạt lạnh buốt, trời tối đen Thuấn với tên bạn cùng phiên gác chia nhau điếu thuốc có mùi bạc hà. Khu rừng đen thẫm trống trải, điếu thuốc lòe lên thấy rõ đường chỉ tay hồng. 
“Thuốc này là thuốc gì?” 
“Oakland menthe, một bao hai chục đồng”. 
“Mày hút một ngày mấy gói?” 
“Hai, tao người Đà Lạt mà mày, ở đây không có thuốc chịu không nổi, tao hút Bastos nhưng mấy hôm nay ho nên xài tạm thứ này”. 
“Bastos là thuốc lá đen”. 
“Ừ”, tên bạn trầm giọng nghiêm trọng. 
Thuấn cảm thấy thua sút, hít một hơi thật mạnh, khói bay đầy mồm muốn sặc… 
“Thuốc này nhẹ quá”, Thuấn phê bình ra vẻ thành thạo. 
“Nhẹ đối với tao, nhưng mày mới tập hút nên hút nó”. 
Thuấn muốn cãi lại, thấy khó khăn, trong bóng đêm Thuấn có cảm giác như thằng bạn đang đưa mắt nhìn bàn tay vụng về của mình cầm điếu thuốc. Ngày hôm sau Thuấn bắt đầu hút thuốc, thuốc Mélia vàng… Vậy là bảy năm rồi, mau thật, mình chỉ có nước giỏi bắt chước. Thuấn tì tay vào thành cầu, thanh sắt đẫm sương lạnh cóng. Mặt sông dưới xa lóng lánh theo ánh đèn dưới chân cầu toả ra một ánh sáng vàng rực xôn xao, người lính đi đến gần Thuấn, gót giày nhà binh gõ từng tiếng động lạnh buốt trên sàn cầu. Chiếc bóng lầm lì nín lặng. 
“Ông gác đến mấy giờ?” 
“Dạ mười một giờ”. 
“Có buồn không?” 
Người lính không trả lời, cười tiếng nhỏ, đốm lửa từ điếu thuốc và đèn ở thành cầu chiếu rõ một chiếc cằm lởm chởm râu… 
“Hết gác về cạo râu ăn Tết nghe ông…” 
“Dạ, mà tui không có dao cạo, già rồi làm đẹp chi nữa Đại uý?” Già, Thuấn chợt hỏi, mình đã già chưa nhỉ? Thuấn miết cái cằm lên mu bàn tay, những sợi râu cứng, ngắn, chuyển động gây nên một cảm giác thú vị… “Ấy, nhột em!” Quỳnh Như ưỡn người lên vùng vẫy dưới nụ hôn trên phần ngực. Thuấn luồn tay dưới nách Quỳnh Như kéo hai vai nàng xuống, chiếc cằm miết nhẹ từ cổ theo luống thủng giữa đôi vú… Tiếng thở ngắt khoảng mê đắm, có giọng cười nhỏ dưới nụ hôn. Thuấn đứng thẳng người, nhìn mãi xuống dòng sông bốc khói tưởng như thấy rõ được chiếc bóng mình nở rộng theo cùng mênh mang của lớp sương mù. “Quỳnh Như”, Thuấn gọi một tiếng nhỏ, đột nhiên nỗi nhớ thương như quả đạn bùng nổ trong cơ thể… Tại sao mình rung động? Tại sao mình đứng ngồi phiền muộn, sao hơi thuốc hít vào miệng nặng nề hiu hắt, trong giá rét trống vắng của một đêm trừ tịch trên quốc lộ tối đen, Thuấn thấy nỗi thê lương có hình khối nặng nề hơn bóng đêm, lạnh lẽo hơn gió chạy xôn xao trên mặt sông, luồn qua khối sương mù xoay chuyển ánh đèn vàng giá lạnh. 
“Anh có xe gì không?” 
“Dạ, tui có cái xe gắn máy”. 
“Lát nữa hết gác anh về đâu?” 
“Nhà tui ở dưới trường học, tui về đó…” 
“Anh cho tôi mượn cái xe, mười một giờ trả lại, nếu không kịp thì tôi mang đến nhà trả cho anh”. 
“Đại uý định đi mô?” 
“Đi dọc dọc theo đây… Tự nhiên tôi muốn chạy một vòng”. 
“Dạ, Đại uý lấy, nếu chút nữa không có tui Đại uý đem xuống chỗ trường học, nhà tui bên trái”. 
“Xong, cám ơn anh trước, lát nữa tôi đem trả xông đất nhà anh luôn, số tôi hên ghê lắm, anh sẽ lên hạ sĩ nhất trong năm nay”. 
Người lính cười không nói đứng nhìn Thuấn đang nổ máy xe. 
Thuấn rú hết gaz, chiếc xe lồng lên, xốc mạnh trên đoạn đường lồi lõm, ánh sáng không đủ rọi xa. Thuấn ghì chặt tay lái, không bớt tốc độ… Gió thổi lạnh hai bên tai, răng nghiến chặt… Thuấn thấy thấp thoáng dưới ánh đèn khối không khí mù mờ chuyển động, xoắn lượn… Trước mặt Thuấn rừng cây thông chập chờn, con đường đỏ ướt sương, những ngọn đồi cỏ chuyển động ào ạt. Chỉ mới năm năm qua. Đêm một giờ sáng từ tỉnh B Thuấn theo xe đò lên Sài Gòn, chiếc xe bật đèn chạy qua Dĩ An, Thủ Đức, Bình Lợi, Bình Hoà… Cô bác cho tiền, cô bác cho tiền… Thuấn xuống xe ở Đakao đi bộ về Tân Định, đồng hồ chỉ hai giờ mười lăm, thành phố Sài Gòn ngủ kỹ, lũ chó hoang chạy vật vờ trên những đống rác, thành phố mệt mỏi như giấc ngủ trưa của con điếm miệt mài. Nhưng Thuấn thì không vậy, Thuấn nhảy chân chim trên lề đường loang nước, Thuấn chạy hân hoan trên Sài Gòn tàn tạ úa bẩn, Thuấn chạy vào đường Trần Quang Khải, rẽ tay mặt, chạy nhanh hơn nữa… Đây rồi, căn nhà Bích Trân kín cửa im lặng. Thuấn nhìn lên, một, hai, ba… Cửa sổ thứ hai là phòng khách, sau phòng khách là phòng ngủ của Bích Trân, có thể nàng ngủ ở phòng khách, trên canapé hay dưới sàn nhà, cuốn truyện úp trên mặt… Bích Trân khi lặng lẽ đau đớn như tuổi già, Bích Trân khi nói em, kể chuyện, khi coi sách, ngây thơ mãi mãi như trẻ con… Thuấn đứng trong bóng tối nhìn lên khung cửa im lặng, nghe đâu từ căn phòng tiếng thở nhẹ nhàng của người thiếu nữ mê thiếp, Bích Trân chuyển mạnh cánh tay ép sát vào ngực, thế nằm co quắp tội nghiệp, thế nằm sửa soạn chống đỡ cơn phong ba. Một giờ, hai giờ, Sài Gòn tỉnh giấc, động cơ xích lô máy vang động từng nhịp rồi tản dần trong không khí ấm mát của đêm còn vướng vất, ngọn đèn vọng úa nhợt nhạt, bầu trời chuyển thành màu xanh thẫm. Cánh cửa cuối cùng chợt mở, người u già bước ra… 
“Kìa cậu Thuấn, làm gì sớm thế?” 
“U kêu cô Trân hộ tôi…” 
“Cậu lên từ bao giờ?” 
Thuấn mỉm cười không nói vò vò bao thuốc trong tay… Bích Trân chạy xuống, bước chân cuống quít nhảy vội, làn tóc rối, đôi mắt hốt hoảng… 
“Có gì vậy Thuấn? Có gì xảy đến cho anh?” 
“Không, anh nhớ em…” 
“Anh đến lúc nào?” 
“Lâu lắm. Cho anh hôn em, trời chưa sáng, không ai thấy”. 
“Coi chừng u già”. 
“U già đã vào nhà… Ôm anh…” 
Cửa đóng, mái hiên rộng bóng tối đầy khoảng sâu. Thuấn khép chặt hai tay, đầu người thiếu nữ ép vào vai… “Anh đến từ lúc hai giờ, ngồi ở ngưỡng cửa này…” 
“Anh kỳ quá!” 
“Không, chỉ vì yêu em…” 
Bao nhiêu lần như thế, bao nhiêu đêm trong cơn say, Thuấn sờ vào lớp tường đá lạnh tưởng như vuốt ve một bóng hình thân yêu. Năm năm, gã trẻ tuổi nồng nàn ngày xưa đã mất. Tối nay, Thuấn đang sống lại, chiếc xe chạy như một nỗi hân hoan tìm kiếm được hạnh phúc sau thời gian chết cứng. Quỳnh Như, giọng Huế thánh thót trong vắt, tiếng cá đớp mồi dưới bờ sen, cánh sen tàn trên mặt hồ đặc bèo, chiếc giường nệm nồng mùi thiếu nữ, Thuấn duỗi thẳng hai chân, hai ngón chân cái đan chặt vào trong cơn bão ngầm cảm giác thổi lướt qua. Quỳnh Như, giờ tỉnh giấc sau cơn mê phiền muộn. Anh đến cùng em… Thuấn qua một khúc quẹo, đèn lướt một đường vàng trên luỹ tre vệ đường. Sắp đến cầu An Hoà, Thuấn nghĩ, tăng thêm một chút tốc độ để đi được lượng khoảng cách tối đa… Có bóng người chạy thấp thoáng trước mặt… Thuấn thắng thật mạnh, chiếc xe chao bên trái lạng thêm một đường bên phải, bánh xe xiết trên đường ngã nghiêng. Thuấn nhảy vào vệ đường, kéo khẩu súng nhanh ra khỏi thắt lưng, lăn xuống đất nằm lên đống lá tre, họng súng hướng về phía hai bóng người đang đứng trong vùng ánh sáng. 
“Ai? Đứng lại, nhúc nhích tôi bắn”. Thuấn hét thật lớn, át hẳn tiếng gió và động cơ chiếc xe đang giòn giã nổ… 
“Dạ, tui tui…” 
“Tiến tới, đưa tay lên khỏi đầu”. 
Hai bóng người tiến tới lần lần, Thuấn kéo cơ bẩm khẩu súng, tiếng động lạnh vang như tiếng nổ, hai người giật nẩy, co rút lại… 
“Hai anh ở đâu?” 
“Dạ tụi em gác cầu, Việt Cộng về, tụi em chạy thoát”. 
“Việt Cộng?” 
“Dạ tụi nó lấy cầu và đóng đầy trong làng Dốc Sơ, chắc ở Huế cũng có tụi nó… Em còn nghe súng nổ thiệt loạn ở chỗ cửa Chánh Tây…” 
“Chắc không?” 
“Dạ có, tụi đánh vô cầu nói toàn tiếng Quảng Bình”. 
Thuấn nhảy vội lên chiếc xe, gài khẩu súng vào thắt lưng. 
“Hai anh chạy về cây số mười bảy đi, ở đó có nhiều lính mình”. 
“Dạ, tụi em cũng tính thế”. 
Thuấn quay xe về hướng An Lỗ, nhìn lại thành phố Huế, hình như có tiếng nổ khô của lựu đạn chen lẫn trong tiếng pháo… Quỳnh Như, Thuấn rú hết gaz, chiếc xe lao vút đi… 


* 

Minh đạp cửa ào vào như cơn lốc… 
“Gì vậy?” Lạc nhổm dậy, tay còn cầm hộp bia. 
“Xong rồi, Việt Cộng đứng đầy đường. Phải kêu bà chị với mấy ông nhỏ dậy…” 
“Chạy đi đâu?” 
“Vào trong tiền trạm của mình”. 
“Ông biết đường?” 
“Kêu bà chị dậy đi, nhớ mang theo thức ăn”. Minh nói như ra lệnh, rút khẩu súng colt, lên đạn đặt khoá an toàn dắt vào thắt lưng ở vị thế dễ kéo ra nhất. Minh mở cửa bước ra hành lang, cong người trên lan can nhìn xuống đường, bên kia vườn hoa Nguyễn Hoàng leo lét ánh đèn thấp thoáng đầy những bóng người sau các gốc cây, phố chính người đi vội, hình như họ đang dồn thành từng nhóm. Minh liếc về phía phải, từng tổ tam tam di chuyển yểm trợ nhau dọc theo bờ tường. Minh chạy vào, vợ chồng Lạc và hai đứa con đã sẵn sàng, vợ Lạc tay xách chiếc valy nhỏ… 
“Chị bỏ valy lại, mặc thêm áo vào mang chút thức ăn thôi, dưới đường đi không được nữa…” 
“Tụi nó?” Lạc hỏi nhỏ. Minh gật đầu, tầng dưới vang tiếng nổ, đạn AK từng nhịp ba viên gọn gàng, tiếng nổ vang dội dọc theo hành lang, có tiếng người van lạy và bước chạy lên cầu thang. 
“Chết, làm gì bây giờ mình?” Vợ Lạc bấu chặt tay chồng. 
Lạc rút khẩu súng ra khỏi lưng, mũi súng hướng về cửa phòng, đưa mắt nhìn Minh dò hỏi, Minh lắc đầu bước đến khoá cửa phòng… 
“Ông kéo cái bàn đến đây cho tôi, chận cứng lại, nhớ khoá chặt hơn”. Lạc làm như cái máy, sự sáng suốt bình thản thường ngày mất hẳn, người vợ cùng hai đứa con như sợi dây trói chặt tay chân cùng phản ứng. Lạc nghe lời Minh không chút phản ứng ngần ngại. 
“Ông đứng sát tường, giúp tôi trèo lên cái lỗ này”. 
Lạc đứng dạng chân, hai bàn tay bám vào thành cửa sổ. Minh trèo lên hai vai, lần tay theo thành tường. 
“Ông nâng tôi lên chút nữa”. 
Lạc nhón chân lên, Minh bám được khung cửa trần nhà trổ lên mái, rán đu ngược người lên. 
“Bây giờ ông đưa hai cháu lên”. Hai thằng nhỏ được kéo lên trước, xong đến vợ Lạc, khi tất cả ở trong buồng tối, Lạc lấy lại bình tĩnh. 
“Bây giờ mình phá mái nhà?” 
“Phá nhẹ tay, đừng để ngói rơi xuống, để tôi lên trước định hướng, ông coi chừng cửa phòng mình, đừng để nó biết mình núp trên này”. Lạc gật đầu tỏ vẻ hiểu, khi Minh bắt đầu gỡ từng tấm ngói Lạc thở nhẹ liếc mắt nhìn xuống lỗ hổng, căn phòng vắng, ngọn đèn mờ, chai rượu lăn lóc trên sàn nhà, ngoài hành lang có tiếng chân người chạy, những giọng hét ra lệnh chêm vào những âm thanh của cổ họng bị chặn lại. Tiếng nổ từng phát một gọn ghẽ, khô khan, khi viên đạn đi từ nòng súng xuyên qua mục tiêu, mục tiêu bằng xương bằng thịt ép sát vòng kim loại lạnh băng. Cửa phòng bị tống mạnh, chiếc ghế lung lay, chìa khoá rơi xuống. “Mở cửa, mở cửa”, giọng miền Trung nặng tai, Quảng Bình hay Đồng Hới, tấm cửa bị rung dưới sức ép, một loạt đạn nổ giòn, ống khoá bị bắn tung từng mảnh nhỏ. Lạc nhắm vào bóng đèn, đoàng, bóng tối dày đặc, vừa lúc cửa phòng bị xô tung, chiếc bàn lật ngược đổ sầm trên nền nhà. Loạt đạn từ ngưỡng cửa sáng từng chập, Lạc bắn vào ngưỡng cửa hai viên. “Lùi, lùi, tui bị rồi đồng chí…” Căn phòng tối thâm. Lạc ngửng đầu lên, một luồng gió lạnh băng theo lỗ hổng thổi vào nhà, bầu trời lóng lánh sao. Trèo lên, Minh thò đầu vào lỗ hổng. Minh bò trước, hai đứa bé, Lạc bò sau cùng, thành phố Huế rộn rã tiếng pháo nổ, nhưng tai Lạc nghe rõ tiếng súng, không có viên nào rít trong không khí, viên đạn đã nằm trong một mục tiêu xương thịt nào đó. Trái với sự dự đoán, Lạc bình tĩnh trở lại, cảm giác như sắp sửa xua quân vào khi nghe mục tiêu đã bị phi pháo cày nát. Minh khôn ngoan thận trọng như đang dự trò chơi trốn bắt trong tuổi nhỏ. Chàng nhấn bàn tay trên mỗi khoảng gạch ngói trước khi trườn tới, dãy trường thành trước mặt đen thẫm bề thế gần tới từng tấc một. 
“Bây giờ mình phải tìm cách vượt cái hào này”. 
“Lội qua?” Lạc hỏi với giọng e dè. 
“Chuyện đó thì dễ cho ông với tôi, chỉ lo bà chị với hai thằng nhỏ”. 
“Ừ nhỉ”. Lạc đưa tay lên gãi gãi trên mặt. 
“Em biết lội, mình và anh Minh đừng ngại”. Vợ Lạc e dè cất tiếng, sự sợ hãi trên đoạn đường mái nhà đầy tiếng súng đã làm người đàn bà cứng lưỡi, bây giờ hạt đất dưới chân làm tĩnh trí. Có luôn mấy đứa nhỏ kia ở đây thì chắc dạ biết mấy, người đàn bà muốn nói với chồng câu nói cùng ý nghĩ. 
“Ở Sài Gòn có đánh nhau không mình?” Không ai trả lời câu hỏi. 
“Không cần, để tôi đi tìm chiếc xuồng, mấy người hái sen thường hay cột chùm ở đây, hơn nữa trời lạnh lắm”. 
“Vậy thì tốt, ông có cần tôi đi cùng không?” 
“Không, ông coi chừng đừng động đậy, tránh hết mọi thứ”. 
Lạc gật đầu, kéo vợ con thụp xuống, hơi bùn và nước xông lên ẩm ướt. Minh rón rén dò từng bước chân, hào nước mắm nằm sau đám nhà dân chúng, những cột sàn nhà chông chênh đóng rêu trơn, mùi bùn non cống rãnh rác rưởi bốc lên nôn nao. Minh kéo cao cổ áo saut, rút khẩu súng cầm tay, bước chân hẳn xuống bờ hào. Đi thế này tránh người ta trông thấy, nếu bị bắt gặp? Minh nhủ thầm, phải áp đảo ngay, Việt cộng chắc tràn khắp thành phố chắc không thoát được, nhưng mình là người Huế, cởi áo saut này thì ai biết mình là ai? Minh yên dạ, bước tới vững vàng trong bóng đêm…”Đây nhá, cái thành này chạy quanh khu nội thành, bên trái kia là cửa Thượng Tứ”. Minh chỉ tay về hướng một khối đen nhô cao ở đàng trước xa xa… 
“Tôi biết, chắc tụi nó ở đó rồi, ông tính đường nào về tiền trạm mình”. 
“Tiền trạm mình ở trong Mang Cá”. 
“Mang Cá là gì?” 
“Nơi Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1, bây giờ nếu chạy thẳng đường từ cổng thành này là đến, nhưng chắc không nổi… Tụi nó thế nào cũng giữ con đường này”. 
“Có thể tụi nó muốn nhào vô Sư đoàn 1”. 
“Suya, nên mình phải tìm con đường xa con đường này, cứ men theo mấy con đường nhỏ nhỏ là lọt, ông đi sau có gì thì dọt, chạy mẹ vào nhà dân chúng, thằng dân nào láng cháng là phơ”. 
“Sao kinh vậy ông? Toàn người Huế của ông cả đấy”. 
“Khỏi bàn, ông thấy tụi trong khách sạn không là người Huế sao?… Chuyện đó tính sau, bây giờ cốt yếu là vào trong tiền trạm, có ăn, có sống, leo tàu bay về Sài Gòn là tốt”. 
“Còn gia đình ông nữa”. 
Minh không nói. Có một cái gì tàn bạo lạnh cứng trong lòng, trong cơn nguy biến Minh đã khôn khéo phát triển đến tối đa phản ứng tìm sống. Minh đã ích kỷ một cách thản nhiên cứng ngắc. Gia đình? Minh nghĩ đến mẹ và gia đình bên ngoại trong một thoáng hối hận, mẹ và gia đình bên ngoại không có gì với Việt Cộng, họ đứng ngoài cuộc biến động nguy hiểm này, cả nhà ngoại sẽ nấu những nồi cơm thật lớn và các dì mợ trổ tài chế biến những món ăn khô dè xẻn cho đám đông, thịt khô, cá chấy, muối sả, họ sẽ ăn những thức ăn khó khăn đó để đợi chờ biến cố đi qua trong bình yên. Trong khi Minh vượt từng thước đất trên sự sống chết đi về Tiểu đoàn, theo sau một người bạn, bạn lớn tuổi, bạn lính, bạn uống rượu… Minh cùng họ cố về tiền trạm nơi có những người lính thuộc Ban 4 Tiểu đoàn, những người lính không mang súng để vác gạo, bắp su, xách nước mắm từ trực thăng xuống vùng hành quân. Cơn nguy biến ném Minh vào trong một cuộc đấu tranh lạ lùng, cuộc chiến đấu không chiến hữu và không vinh quang. Nhưng Minh phải tới được tiền trạm, Minh phải thắng vì cả cuộc đời cụ thể của Thân Trọng Minh đặt trên cuộc đấu tranh này, nếu Minh thua, một nòng súng AK sẽ dí trước trán. “Lính Dù nguỵ hả?” Việt Cộng sẽ hỏi Minh bằng giọng Quảng Bình, Quảng Trị và có thể là giọng Huế… “ĐM, lính Dù nguỵ mà… hì hì…” Ngón tay của tên Việt Cộng sẽ co lại, cò súng sẽ co lại, Minh nghe được tiếng chuyển động của lò so hoàn lực chuyển để kéo cho búa đập vào chậu cơ bẩm, bốp, kim hoả sẽ đâm vào hạt nổ và đoành… Thân Trọng Minh giải thể thao của học sinh miền Trung niên khoá 1957-1958, cây toán học của Trường Võ Bị sẽ bị bắn ngược người ra đàng sau, một phần chất óc phọt ra ngoài, Minh ngã xuống, chân tay giãy giãy, sự sống cuối cùng giãy giụa vùng vẫy trước khi tắt ngúm. Chết, một sự chết toàn thể có kích thước ở tay chân lạnh giá cứng đơ, dòng máu chảy ra đẫm ướt thấm sâu trong đất, chết có mùi hôi ngai ngái… Chết thụ động và vĩnh viễn… Phải sống, phải về tiền trạm. Minh dự phần vào cuộc chiến không huy chương với hết sức mạnh con người. 
“Này Minh, tụi mình phải kiếm cái áo quần gì để thay mới nói chuyện thoát”. 
“Tôi cũng nghĩ vậy, hơn nữa cái quần tôi ướt nhẹp lạnh không chịu nổi… Mặc cái áo saut này chi bằng kêu Việt Cộng đến túm còn hơn”. 
“Lấy áo quần civil ở đâu bây giờ?” 
“Vào đại nhà nào vắng người, để tôi đi kiếm”. Minh len lỏi trong khu vườn chuối ở trên mặt thành nên thấy được khu phố chính mờ mờ ánh đèn trong sương. Dưới kia chắc bắt đầu loạn, đã có những anh chết trong khi đang xỏ tay vào áo veston để đợi giao thừa xuất hành… Không hiểu đã giao thừa chưa. Minh thoáng cười với ý nghĩ rời rạc của mình. Khu vườn hết, Minh bắt đầu vào một khoảng sân đất nện cứng, có người đàn bà đang cúi đầu lạy trước mặt một bàn thờ nhỏ. 
“Này, bà ngừng cho tôi hỏi một chút”. 
Người đàn bà nhìn lên hốt hoảng, những cây hương đang cầm ở tay lã chã rơi xuống. Có nhánh hương rơi trên chân nhưng người đàn bà không để ý, một động tác thật thuần thục, hai bàn tay xòe rông chắp vào nhau, người đàn bà xá hai ba cái liên tiếp, đôi môi nhăn nheo kéo xuống sửa soạn cho tiếng khóc… Ầm, ầm, tiếng nổ ở xa, miệt Gia Hội hay Đông Ba, không biết 105 của ta hay Việt Cộng vừa giật sập mất cái gì? Minh liếc thấy ngọn lửa lóe lên sáng rực trước tiếng nổ. Người đàn bà giật nẩy mình không kìm hãm nổi tiếng khóc đang ứ. “Lạy cậu tha cho tôi”, bà xá thêm mấy cái, đôi mắt không rời khẩu súng. Giữa tiếng nổ và khẩu súng của Minh có liên hệ với nhau… Những căn nhà bên cạnh xôn xao, người ta chạy vội ra sân đứng hướng mặt về phía có tiếng nổ. Minh đẩy người đàn bà vào trong nhà. “Bà vào trong này tôi có chuyện nói”. Bà ta bước líu díu, những cây hương còn hững hờ trên tay xoay từng vòng sáng đỏ theo mỗi bước đi. 
“Bà không phải sợ gì hết, ở nhà còn người đàn ông nào không?” 
“Dạ có, thằng con trai tôi đi lính ngoài Quảng Trị, cậu thương tình tôi không làm gì nên tội”. 
“Nói hoài, tôi bảo bà đừng sợ, bà cho tôi hai bộ đồ civil, áo quần thế nào cũng được, có áo len thì tốt, còn bà cũng nên gói sẵn một gói đi, có gì chạy cho lẹ…” 
“Chạy đi mô, vì cái chi mà chạy?” 
“Đạn, súng, đánh nhau lớn, ở đây không yên mô”. 
“Nhưng có lính tráng đồn trại chi ở đây?” Người đàn bà nhìn lên bàn thờ, ánh nến chiếu vào giấy vàng mã trở nên lóng lánh, rực rỡ khói cây nhang bay là đà quyện vào nhành mai trước khi tan, người đàn bà quay lại nhìn Minh, đôi mắt bớt vẻ sợ hãi phảng phất buồn. 
“Tui không đi, ông Việt Minh hay Quốc gia tui không biết, bàn thờ tui dọn rồi, đầu năm không ai bỏ nhà mà đi”. 
“Cậu định trốn đi mô?” Người đàn bà run run hỏi Minh. 
“Đi trốn?” Minh khó chịu. Minh không muốn mang tâm trạng này. Minh thấy mình đang làm một công việc to lớn và quan trọng dù trong bóng tối. 
“Tôi không trốn đâu hết, tôi đi Mang Cá”. Minh hơi bối rối trước câu nói của mình, ôm bộ áo quần, nương theo bóng tối đi về cuối khu vườn. 
Người đàn bà ngồi lại nhìn lên bàn thờ, khói hương bình thản lặng lẽ bay, ánh nến chập chờn ấm áp. Thế giới của người đàn bà trong tối giao thừa là đây… Ngồi im trên chiếc ghế nhìn tàn hương rũ xuống dính vào đốm lửa một cách mong manh, chờ cơn gió yên lặng rơi xuống. Tàn hương lay động yếu ớt như thời gian vô hình chuyển đi giữa hai năm. Người đàn bà đợi hết tàn hương sẽ cúng đến phần đồ ngọt, chè đậu ngự nước trong vắt, hạt đậu vàng xanh nở một đường sung mãn như cành lộc mới… Giặc giã ở đâu cũng mặc, ba bốn lần chạy loạn rồi, loạn lần nào cũng quá lâu, trận Cùa, trận Nam Đông năm 63, 64 gì đó, thằng con thứ nhì bị gãy chân bó bột. Năm nay là Mậu Thân, hai thằng con lại đi biệt mặt không về? Giặc đã phá nhà nhiều lần, giặc đã vào trong nhà, đã làm mẹ con cách xa, đã đẩy tình thương về những chỗ tối tăm vô ích, thương con biết để trong lòng, người đàn bà ngồi như đã ngồi suốt hai mươi năm. Giặc kia chờ chồng, giặc này chờ con, còn tai ương nào để xảy ra? Người đàn bà ngồi chờ tàn nén hương. 
“Xong rồi, bây giờ mình cứ tà tà mà đi, dân chúng hình như cũng vừa biết được có biến động, mình kiếm nơi nào đông nhập vào. Ông và bà chị đừng nói gì cả, xứ Huế ít người Bắc, có gì cứ để tôi. Bây giờ mình xuống đường”. Minh chỉ tay xuống con đường nhựa nằm dưới chân thành, ánh đèn vàng ấm soi rõ những lá cây khẽ rung động. Năm người bước chân xuống mặt nhựa. 
“Đi ngã nào?” Lạc khẽ hỏi, liếc nhìn những con đường chằng chịt trước mặt. 
“Phía này, cứ đi như người thường chạy loạn, đừng trốn tránh gì cả”. Minh cho tay vào trong túi, cúi đầu rảo bước đi trước. 
Một loạt đạn vang lên từ đầu đường, những ngọn đèn bị bắn vỡ nổ nghe gọn ghẽ, bóng tối đè lên một phần đường. Minh kéo hai đứa bé, Lạc kéo người vợ nhảy vào vệ đường, ẩn sau một gốc cây. Ba bóng người tiến đến … 
“Ai, đi ra”. 
“Đi ra”. Minh khẽ nói. Ném mấy gói áo quần dưới cống. 
Minh đứng dậy tự nhiên, dẫn hai đứa bé bước ra. 
“Các anh là ai? Làm gì?” Giọng Quảng Bình chát chúa, tên Việt Cộng thủ cây AK trước ngực ở thế sẵn sàng, hai tên kia bố trí về hướng chúng vừa đi đến. 
“Dạ anh em tôi dạy học, mới đi chùa về”. 
“Dạy học lớp mấy?” Tên Việt Cộng nhíu mày ra vẻ suy nghĩ. 
“Dạy nhiều lớp, tôi dạy vẽ, tôi là giáo sư hội hoạ của trường”. Minh chọn thật nhanh một môn học vô thưởng vô phạt, anh tôi là thợ sửa đồng hồ… 
Tên Việt Cộng im lặng, mắt vẫn nhìn vào Minh… 
“Anh là lính gì mà có súng, súng này lạ quá, lần đầu tiên tôi thấy”. Minh hỏi, giọng hoà hoãn vô tư. Tên Việt Cộng khẽ cười: 
“Anh không biết gì cả, bây giờ mấy người tới đằng chỗ trường học để sinh hoạt”. Y chỉ tay về hướng trường Bồ Đề… 
“Anh biết đường đi không?” 
“Dạ biết”. Minh lễ phép. 
“Biết thì đi tới đó liền”. Gã đưa nòng súng lên trời bắn ngọn đèn đường kế tiếp. 
Minh giả vờ kêu “Trời ơi!” sau tiếng nổ. 
“Dạ thưa ông chúng tôi đi”. Minh dẫn hai đứa con, Lạc rẽ vào con đường trước Pháp đình. Hai tên Việt Cộng tiếp tục đi dọc đường dưới chân thành, họ đi đâu bóng tối đầy đến đó. 
“Mình tới trường học đó sao?” Lạc hỏi. 
“Đâu được, nhưng như vậy không những tụi nó đóng dọc từ đây đến Mang Cá, tụi nó còn bố trí cả chiều ngang thành nội rồi…” 
“Để tôi kiếm xem có đường nào lọt được, thôi mình đi theo đường này thử”. Minh dẫn bốn người đi vào con đường dọc theo hông toà án. 
Một tràng tiếng nổ khô vang lên đều đặn. Minh và Lạc cùng nhìn lên trời, những khối lửa bay song song về phía Mang Cá. 
“Tụi nó pháo kích, ít nhất cũng có 4 cây 82”. 
“Tao nghe cả hoả tiễn 122 ly nữa, có thấy khối lửa đỏ rực bay cao nhất không?” 
Minh gật đầu đưa mắt nhìn Lạc hỏi ý kiến. 
“Như vậy là hơn tiểu đoàn rồi, pháo bốn cây là phải tiểu đoàn trở lên”. 
“Có thể là bộ chỉ huy Trung đoàn của tụi nó”. 
Một tràng tiếng nổ khác, vợ Lạc xoắn xuýt ngồi bẹp xuống ôm lấy hai đứa con. “Mình! Mình! Làm sao bây giờ?” 
“Không gì chị, đó là súng của Việt Cộng ở đây bắn đi”. Minh chợt mỉm cười vì câu nói của mình. Ở đây bắn đi, Minh cùng một phía với Việt Cộng. Một phía, Minh thấy lạ, một chút yên ổn ở vị trí sau súng địch, phân chia bạn thù hoá ra chỉ một giai đoạn, một giai đoạn ngắn và trống, qua khỏi khoảng trống vô hình đó con người được biến dạng như cây gậy lệch đi khi được nhìn qua màn nước. Súng cối và hoả tiễn Việt Cộng bắn đi tất nhiên có súng cối hoặc 105 của ta phản pháo lại, Minh mong muốn cuộc phản pháo chậm để tìm đường trốn. 
“Không xong rồi Minh, tìm phía nào ra khỏi mấy cái ống nhổ này đã, ở gần không được”. 
Minh gật đầu, rẽ về phía tay mặt. Ổ súng cối địch chắc đặt ở đường Hàm Nghi phía tay trái. 
Người chạy hỗn loạn, người chạy ra khỏi nhà mang những vật dụng thật vô ích trong cơn hốt hoảng. Áo quần tạp nhạp được gói vào trong chăn cũ: ôm trước ngực bằng hai tay chéo lại, một chiếc ly được mang theo. Chiếc ly vô dụng, khôi hài lúng túng chuyển từ tay trái sang tay phải, cuối cùng được ném đi trong la hét thúc giục. “Trời ơi là trời. Súng của ai? Súng của ai? Chạy ngả mô đây?” Người nhào ra từ đường, đường trống trải lạnh cóng, nhìn lên trời đạn bay đỏ lưới. Tiếng nổ nghe thật gần do đạn súng cối départ hay hoả tiễn được phóng đi. Tiếng nổ, khối dân co rúm người như dưới một dịch động kinh. Dân chúng không phân biệt được tiếng nổ của kích hoả đập vào hạt nổ để đẩy viên đạn đi xa hay tiếng nổ của đầu nổ khi chạm phải mục tiêu. Người dân sợ bất cứ mọi tiếng nổ và ánh sáng, sợ mảnh gang nứt ra từ quả đạn, sợ viên đạn nhỏ bằng đồng bay vút trong không khí. Tai ương có hình dáng màu đỏ vạch trong trời đêm, tai ương có khoảng cách và tiếng nổ. Dân chúng chạy vào trong nhà, cảm thấy nhà mênh mông và mỏng manh họ nhìn hết vật dụng thân yêu… Chiếc giường vậy cũng được ba mươi năm khi ông nội còn làm Biện ở ngoài Hà Tĩnh, cái đồng hồ quả lắc vàng chóe úa màu đen chậm chạp đưa đẩy trong khối vỏ màu nâu khắc hình trái nho, đồng hồ mua từ năm 1949 sau khi lính rappel đầu tiên kể từ lúc hồi cư cuối năm 1946. Người gia chủ treo lên định mang xuống. 
“Ba con Uyên muốn mang cái đồng hồ phải không?” 
Người chồng nhìn vợ dò hỏi không trả lời. 
“Trời ơi! Cái đồng hồ! Khai sinh giá thú giấy tờ đất cát mình không mang đi định mang gì của nợ đó”. 
Người vợ chạy xuống bếp xếp chén dĩa kiểu vào tay nải… “Uyên, Uyên, giúp mẹ mang cái này”. Người mẹ lắc lắc tay nải. Nặng quá không mang nổi. Cô gái chạy quanh chiếc bàn học, cuốn album, nhật ký, tập lưu niệm. Biết mang cái gì, Uyên xé vụn đống thư cột bởi sợi cao su, những lá thư của tình yêu thần thoại, khởi đầu tuổi thanh xuân, bị xé nát, vứt bỏ, nhoà tan trên sàn nhà. Lá thư tình cách đây hai ngày đã làm Uyên bấn loạn, Uyên đã đọc từng chữ, đã cắt từng câu, nghiến ngấu, ve vuốt từng dấu chấm tân kỳ hình ông sao, Uyên nhớ vạch chéo ngang tàng dũng mãnh. “Người ấy” như vậy đã yêu mình lâu lắm? Người ấy theo dõi mình với mối tình cay đắng trong bao ngày tháng qua… Uyên vung tay ném mạnh những cuốn sách ra khỏi chiếc valy con, xếp tấm áo len trắng vừa đan xong để mặc trong Tết này… Cả gia đình náo loạn một cách khó khăn, họ xoay quanh các đồ vật, nằm bẹp xuống sàn nhà sau mỗi tiếng nổ và nhổm dậy tiếp tục cào cấu la hét trên đống vật dụng bỗng chốc trở thành quá thân yêu và cần thiết… 
“Chạy không nổi về Mang Cá được, trước mặt bên trái toàn người anh em, tay phải mình lại đụng cái thành, thôi chạy vào nhà bà chị tôi rồi tính sau”. Vợ chồng Lạc cùng gật đầu một lượt theo Minh không ý kiến. 
Ngày mồng Hai Tết, Thuấn dẫn đại đội chạy băng qua phi trường Tây Lộc, sắt PSP nhún nhún dưới chân, xóm nhà dân ở xa bốc khói, phòng đợi khách bị trúng đạn B.40 xám đen, cánh cửa bị thổi tung, đại đội bố trí trông về cửa An Hoà đợi lịnh, Thuấn đi vào phòng, có chiếc xe Jeep cháy ở ngưỡng cửa, hai người chết gục ở tay lái, Thuấn đi đến. À pilot L 19, Thuấn đứng sát gần xác chết để nhìn rõ mặt. Có thể là mấy cha pilot hay bay với red marker(), mình có thể biết nó, Thuấn đưa báng súng lật gã phi công chết trên tay lái. 
“Thằng cha này lạ, mình không biết”. 
Gã phi công bị bốn năm viên đạn ở ngực, một viên vào đầu, hai con mắt mở cứng ngắc, màu từ vết thương trên đầu chảy xuống dính một bên mặt, đóng khô những sợi râu mép. 
“Người anh em có bao giờ nghĩ rằng mình chết trên tay lái ô tô không nhỉ?” Thuấn mỉm cười với ý nghĩ mình. Ai làm sao biết được mình chết lúc nào và ở đâu như gã phi công đã ngồi chết trên tay lái. Một anh chàng người Huế cuối năm về quê hương? Không phải, mũi xe hướng về phi cơ chắc anh ta nghe súng nổ nên lái xe Jeep vào đây định vọt đi bằng máy bay, anh ta chết khi còn mặc đồ bay màu xám, huy hiệu con rồng bị một vết cháy, có thể thằng Việt Cộng dí súng thật sát để bắn… Thuấn muốn nghĩ tiếp thêm vài chi tiết về người chết, nhưng trí óc làm việc chỉ đến chừng đó. Thuấn bước vào phòng đợi, gạt máy điện thoại xuống đất. Giờ nay còn có ai gọi, chỉ gọi được Nước Chúa. Thuấn leo lên chiếc bàn gối đầu vào mũ sắt, nhắm mắt lại. 
“Khi nào Tiểu đoàn gọi mày đưa máy tao, còn đụng hay không ở đâu cũng mặc, tao ngủ”. Gã lính truyền tin gật đầu không nói, ngồi dựa lưng vào tường sát dưới chân Thuấn. Gã không cởi chiếc máy trước khi nhắm mắt. “Tôi cũng buồn ngủ quá Đại uý…” Thuấn nghe từng tiếng động lịch kịch của chiếc nón sắt mỗi khi gã lính cong chân chạm phải cùng tiếng máy chạy sè sè. Thuấn không ngủ được, nhưng hai mí mắt sưng mọng chụp xuống mở không ra, cảm giác như đôi mắt khô cứng không thuộc về phần điều kiện của mình nữa. Bên trong mí mắt đã dậy, đôi mắt vẫn còn thức, nghe ngóng chờ đợi. Thuấn muốn ngủ, hai đêm, hai ngày căng thẳng và di chuyển tác chiến liên tiếp làm vỡ nát những khóm xương, trùng hết mọi đường gân nhưng đôi mắt vẫn tỉnh táo một cách khó chịu. Trong bóng tối của văn phòng, sau rèm mi Thuấn nghe đôi mắt mình chuyển động ngang dọc. Thuấn xoay người ra phía cửa, ánh nắng làm Thuấn mở mắt, sân bay vắng ngắt rải rác toán lính nằm dài bên kia phi đạo… Gã phi công chết vẫn mở mắt nhìn bầu trời xám đục. Thuấn ngồi nhỏm dậy. “Tốt, sống đến bữa này là tốt”. Hình như Thuấn nói như thế. 
“Dậy mày”. Thuấn đá vào chân gã lính truyền tin. Dậy để xin lệnh kéo vào trong kia bố trí, ở đây trống quá, tao lại đói nữa, suốt giao thừa đến bây giờ không có một bữa ăn. Thuấn cầm máy truyền tin liên lạc với Tiểu đoàn trưởng. Gã lính truyền tin vẫn gục đầu ngủ kỹ, Thuấn ném ông liên hợp xuống đất sau tiếng chửi thề… 
“Gì Đại uý?” Gã lính giật mình lồm cồm bò dậy. 
“Trên Tiểu đoàn bắt mình chiếm cửa An Hoà! 
“Lệnh đâu kỳ vậy? Cửa đó tụi Tiểu đoàn hơn 2 giữ rồi mà”. 
“Mất lại rồi, mày kêu mấy ông Trung đội trưởng lại đây”.

Tháng Ba – Lần trở về với biển…

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Phan Nhật Nam

Lời Người Viết: Sau đây là câu chuyện (bình thường rất thật, chẳng cần bày đặt, vẽ vời thêm) của hơn 60, 70 năm trước. Chuyện xẩy ra Tháng Ba, 1975 – Nay lập lại trong Tháng Ba, 2026 với cảnh bom đạn rung rinh địa cầu – Hóa ra Nỗi Đau/Cảnh Khổ không riêng của ai. Luôn lập lại – Nhưng cảnh Khổ của Người Việt/Người Việt Miền Nam lúc ấy (Tháng 3, 4 năm 1975) không ai muốn nói đến, viết lại (kể đến hôm nay). Hình như Con Người/Người Miền Nam VN xem Khổ Đau phải gánh chịu là một điều tất nhiên.   

Dẫn Nhập:

Khi đã ngồi yên chỗ ngồi trên Xe Đò Hoàng (chạy đường Nam-Bắc Tiểu Bang Cali), hai người đàn ông lớn tuổi bắt đầu câu chuyện.

– Xin lỗi, tôi trông ông có vẻ quen quen…

– Có lẻ ông thuộc giới đi nhiều nơi, làm nhiều việc, tiếp xúc nhiều người, nên tôi với ông có thể đã một lần gặp nhau ở đâu đó, nơi Orange County nầy, người Việt đụng nhau liền liền. Và sau vài câu xã giao, thấy đã đủ độ gần gũi, một người lên tiếng thân mật theo cách “phe ta” với nhau…

– Kỳ “Bảy- lăm”, khoảng tháng Ba nầy ông ở đâu?

– Tôi ở Pleiku,

– Ông có phải lính tráng gì không mà lên tới Pleiku?

– Bộ phải đi lính mới ở Pleiku sao, tôi là dân Nha Trang tới Pleiku, Ban Mê Thuộc từ những năm còn nhỏ sau 1954… Ông cậu tôi có nhà máy nước đá đầu tiên vùng Nha Trang – Khánh Hòa nên đưa nước đá đến tận Đèo M’Track, ra Tu Bông, Vạn Giả… Xong theo Đường 19 mở thấu Peiku. Năm 1964, ra trường sư phạm là tôi “xin lên” Pleiku, ở miết tới tháng Ba, 1975. Pleiku thành quê hương thứ hai…

– Trời đất, tôi là lính tác chiến kẹt quá mới chịu đi Pleiku, Ban Mê Thuộc, Kontum. Ông dạy học mắc mớ gì phải xin đổi lên đó. Bất cứ anh nhà binh nào nghe sắp bị đẩy đi Pleiku là rét liền, Bộ Tổng Tham Mưu Sàigòn dùng Vùng II để dọa mấy cha ba-gai, phải cứng cựa lắm mới chịu được vùng nầy. Thường thường, nếu lỡ phải lọt vào Quân Khu II thì cố gắng xoay xở trụ dưới Quy Nhơn, Nha Trang, đường cùng đối đế lắm thì cũng phải nhận Bồng Sơn, Tam Quan. Đổi đi Pleiku, Kontum kể như thua.

– Nhưng tôi lại chịu xứ bụi mù trời, mưa xô núi đó. Vào mùa xuân, dọc Đường 14 lên Kontum, bông hướng dương nở vàng đẹp như tranh…

– Đấy là nói với ông cho có chuyện, chứ thật ra tôi cũng đầy duyên nợ với Vùng II, Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột suốt một đời tuổi trẻ, từ ngày ra Trường Thủ Đức,

– Ông lên trên đó năm nào?

– Đúng ngày vi-xi pháo kích Phi Trường Holloway, 2 Tháng 8, 1964.

Một.

1955 – Biển loáng sáng như mặt kính rộng lớn hắt ánh nắng buổi sớm lên vùng trời biên biếc không gợn mây. Trời, biển, đường phố với những dãy nhà lầu, biệt thự dài theo bãi tắm đồng thinh lặng nên có thể nghe rõ tiếng sóng nhỏ thiêm thiếp đùa vào, thấm lên bờ cát những vòng màu vàng sậm ẩm ướt, tiếp liền khô khi triều sâm sấp rút ra. Toàn khối không gian trong vắt vừa được lọc sạch qua đêm làm gã thiếu niên đang ngồi ở bờ có cảm giác những hòn núi ngoài khơi như gần lại và lớn hơn. Nó tưởng thấy rõ đến cả những gốc cây ở chân núi, gần bên hốc đất vỡ lớn, mà ngày mới đến đây, được Bác Hai đưa ca-nô ra đến. Biển hôm nay sớm quá, chưa ai tắm… Đứa bé không kìm giữ phản ứng, tự nhiên buột miệng nói ra lời về cảm giác trong lòng đang trào dâng rộn rã. Nó nhìn dọc theo những ô nhà hàng cửa đóng vắng vẻ, chỉ một quán nước trước Dòng Chúa Cứu Thế đã sẵn bày ra vài chiếc ghế nằm hóng mát, xếp ngổn ngang trên mặt cát. Biển buổi sáng sớm quá mà chưa ai tắm hết. Đứa nhỏ lập lại nhận xét, bởi muốn có người cùng chia sẻ cảnh tượng đất, trời, mặt biển mới mẻ tinh khôi. Gió đầu xuân hây hây gây ấm theo lượng nắng mỗi lúc mỗi thêm vàng tươi óng ả, nó ngước lên nhìn trời, xong đảo mắt vòng vịnh biển, bồi hồi xúc động do tìm thấy điều bí mật cho riêng mình.

Người thanh niên tuổi còn rất trẻ, khoảng hai mươi, da mặt trắng, hai má gầy lõm, ổ mắt sâu, tròng mắt đen ẩn dưới vòng chân mày đậm xanh. Khuôn mặt anh đầy bóng tối, nổi lộ tương phản dưới màu nắng sáng rỡ, lưng cúi xuống che dấu như đang phải chịu đựng cơn lạnh tiềm ẩn từ bên trong. Nghiêm trang, kín đáo từ dáng đi, cử động, anh đến dựng một chiếc ghế xếp, mở những càng chống bằng gỗ, rũ tấm nằm vải ny-lông, trãi dài thân ghế dưới gốc cây dừa, sau một lùm bụi rậm rạp, thân lá lớn bảng màu lục đậm, ngã bóng xuống mặt tấm nằm tạo thành những vùng lốm đốm sáng, tối xao động.

Người thanh niên cởi áo sơ-mi máng vào lưng ghế trước khi tụt xuống chiếc quần màu xanh đen. Đứa bé suýt kêu tiếng ngạc nhiên – Người thanh niên mặc quần lót dài vải trắng bó sát đùi như của phụ nữ. Và đứa bé tiếp suy đoán, tìm hiểu, tại sao người thanh niên có dáng vẻ nghiêm chỉnh, kín đáo, chọn nơi vắng người để thay áo quần trước khi tắm – Anh ta phải là con nhà giàu, đẹp trai, lớn đến hai mươi tuổi mới có bộ đồ lót trắng khác lạ như thế. Đứa nhỏ bỗng nhiên có nỗi thích thú do vô tình khám phá ra điều bí mật riêng tư của một người – Một người thanh niên không muốn kẻ khác thấy tình trạng trần trụi yếu đuối của mình tại thời khắc đơn lẽ trước biển, trời thăm thẳm bằng bặt. Anh ngần ngại nhìn quanh.. Bãi tắm vắng vẻ, trên mặt cát ướt hiện rõ những vệt lằn của lũ dã tràng im lìm, lầm lũi làm công việc vô hồi bất tận. Sóng ùa vào, cuốn phăng những dấu vết của dã tràng và đám còng gió cũng vụt biến mất liền theo sau với âm động rì rào khi nước triều kéo xuống, rút vào những hang ổ dày đặt của đám côn trùng. Anh trút chiếc quần lót dài, vươn vai, thân hình cao gầy bày ra mong manh giữa tầng tầng không gian bao la, đi dần xuống mé nước, bụng hơi thóp lại bởi chớm lạnh khi bàn chân bị bọt sóng trùm lấp. Người thanh niên bước lùi lại lên bờ, hơi mĩm cười như tự chế nhạo vì tình cảnh rụt rè của mình, nhìn quanh quất, ngó mông… Khi bắt gặp ánh mắt dò hỏi của đứa bé, anh quay mặt ra lại hướng biển, tự nhủ… Nó chỉ là đứa nhỏ để ý làm gì, cũng chẳng biết ở đâu đến, sao sáng sớm ra biển ngồi một mình. Và như để tránh xa gã thiếu niên mà anh biết đang theo dõi mình, người thanh niên đi dài theo bãi biển hướng Cầu Đá, nhìn xuống những dấu bàn chân lún sâu nền cát ướt. Trước khi buông thả ý nghĩ chập chờn duỗi theo lượn sóng xô đuổi, anh trở lại liên tưởng về đứa nhỏ để nhận ra điều ấm áp – Ít nhất mình cũng có một người bạn chung cảnh ngộ sáng nay.

Sau nầy, khi khôn lớn, gã thiếu niên rời thành phố với hồi ức rõ nét: “Ở Nha Trang, có người mặc quần lót dài đi tắm biển. Đấy là “người thanh niên đẹp trai, hai mươi tuổi ra đến biển kín đáo, một mình”- Sỡ dĩ trong trí não của gã có nhóm từ ngữ “người thanh niên hai mươi tuổi, đẹp trai…” vì do từ thuở nhỏ đã nghe ra đâu một lần: ”Người thanh niên hai mươi tuổi”, nên hắn giữ chắc ý nghĩ: “Thanh niên khi đến hai mươi tuổi thì đã tốt đẹp, hoàn hảo, trưởng thành”. Hắn cũng luôn nhớ cảm xúc rạo rực gợi nên từ buổi sáng xuân sớm, trước vùng trời, nước bừng bừng nắng sáng xôn xao mùi biển mới, so với vịnh biển bình an bốn bề núi bao bọc, nơi hắn đã sống qua kỳ thơ ấu ở Đà Nẵng. Ngày sống với mẹ và em.

Hai.

1964 – Chuyến xe đò chạy từ sáng sớm rời Nha Trang, đến Quy Nhơn dọc theo những xóm làng miền biển, nơi anh sinh sống, lớn lên qua nhiều năm dài, không gây nên phản ứng cụ thể. Bởi cảnh sắc, môi trường với hàng dừa cao ngọn vây quanh những khu làng nằm cạnh cửa sông, bên vịnh biển đẫm mùi muối đã kết cấu cùng anh nên một khối vật chất liền lạc, là phần biểu hiện chung về đời sống giác quan, tâm hồn anh với một không gian thân thuộc, tự nhiên như hơi thở, giọng nói, mùi người tự xác thân. Là chính anh. Nhưng khi chiếc xe hàng bỏ Quốc Lộ I, rẽ vào Đường 19, qua đèo An Khê, núi dựng trường thành lớp lớp xanh hướng phía Tây ngăn cách hẳn với đồng bằng báo hiệu cho anh lần khởi sự cách lìa, đổi thay thâm sâu toàn diện. Một đời sống, cảnh sống khác đang đợi anh nơi xa kia, trong vùng núi trầm trầm bí ẩn. Khi xe qua khoảng đường đèo cuối cùng trời đã sập tối, gió gây rét mang ẩm ướt của rừng thổi đùa trãng tranh trôi nổi cuồng cuộn, tăng thêm vẻ hung hản của đồng hoang dưới ánh đèn loang loáng dọi ra từ đầu xe. Và thành phố Pleiku lắt lay đóm sáng mờ đục dưới vũng sương mù gây trong anh mối xúc động đột ngột… Chốn của mình là đây? Nơi của mình là đây chăng? Quả thật, anh không hề nghĩ ra trên cùng một quê hương, chỉ sau một buổi di chuyển, sẽ tới một vùng đất lạ lùng, ẩn mật đến ngần nầy – Nơi cách miền biển một đoạn đường hai trăm cây số, qua những đỉnh đèo lẫn trong mây. Dẫu rằng trước đây anh cũng đã vài lần đi tới. Nhưng những lúc ấy anh đang trong độ tuổi thiếu niên, lòng chưa đủ hiểu hết nghĩa buồn phiền.

Pleiku đang trong hồi báo động. Quân cộng sản pháo kích toàn vùng, khu quân sự lẫn thị xã. Tiếng nỗ ầm vang mọi hướng, lưỡi lửa loé rộ, chớp sáng, nháng đỏ đường phố, soi rọi, xô đẩy những thân cây cao chập chờn chuyển động giữa vũng đen nguy biến. Đám hàng khách dồn vào phòng đợi, ngồi chen chúc giữa những bao gói, thì thào than vãn… Tại răng… Tại răng, ông không… không để tui ở lại dưới Quy Nhơn cho yên thân, mà đem.. đem tui lên chi đây.. chịu súng đạn, khổ như ri hở trời? Người đàn bà trì siết đứt khoảng bởi sợ hãi làm tê liệt, rung rẩy âm nói. Giọng đàn ông (ý hẳn là người chồng) gầm gừ, bực tức lẫn cay đắng: Bà nói rứa nghe được không… Hữ nghe được không! Bà con, bà con… Cho tui xin, còn chi mà cãi nhau trong cảnh nầy! Tiếng xầm xì chìm xuống, lời cầu kinh, niệm Phật rầm rì. Bỗng tất cả đột nhiên im bặt khi tiếng rít trái phá bay ngang trên tầng trời, và nỗ bùng nơi khoảng sân đoàn xe đậu. Đám cháy tiếp liền tiếng nổ dâng cột lửa lên cao, dọi loáng thoáng xuống đám người ngồi hoá thân nên thành những hình khối loang lỗ.

Anh ngồi im lặng trên một chiếc xắc tay, chiếc thứ hai ôm sát ngực như một vật cản che chắn, nhìn lên vùng trời tối đen rúng động bởi tiếng nổ và lửa ngọn, lòng trống rỗng, không cảm giác. Mình rời Nha Trang mới được một ngày mà sao như đã quá lâu! Anh muốn kìm giữ sự so sánh nầy để có một ý niệm cụ thể trong đầu, nhưng cuối cùng, ý nghĩ nầy cũng như ngọn nến nhỏ bị gió bão thổi tắt đi. Khoảng gần nửa đêm, đợt pháo kích im dần, chỉ còn những tiếng đạn bắn đi xa, từ trời cao. Một người trong đám giải thích: Đó là tàu bay và súng của bên mình phản pháo Việt cộng đó. Có thể một số đông trong đám người không rõ “bên mình” và “Việt cộng” gồm những ai, khác nhau ra sao, nhưng tiếng đạn nổ nơi xa gây điều yên ổn, bắt đầu rầm rì trò chuyện, đợi tai họa đi qua.

Theo lời chỉ dẫn của người ở bến xe, anh lần theo con phố chính. Khi qua khỏi chiếc cầu, con đường trở nên dốc ngược và trên cao, trước mặt anh, thị xã Pleiku mở ra như một lời kêu than chịu đựng với những bóng người lướt thướt di động dưới những hàng hiên, thấp thoáng trên nền lửa đỏ nhừ nghi ngút khói từ những căn nhà vừa bị trúng đạn pháo. Anh đi theo cạnh một xe phở gánh, ngọn đèn khí đá treo đong đưa rọi sáng một phần khuôn mặt hốc hác, lấm chấm hàm râu thưa, người bán phở chống tay lên càng xe, cong lưng nặng nhọc đẩy, chốc chốc ngước nhìn khoảng tối bay mù tàn lửa. Bác cho tôi hỏi: Đường Hoàng Diệu nối dài có phải là đường nầy? Đường ni là Hoàng Diệu, đi hết mới tới Hoàng Diệu nối dài, cứ đi thẳng một mạch. Bao xa hở bác? Tui không rõ, hết dốc thì tới, nếu cậu muốn thì cứ theo tui, tui về trên Trần Khánh Dư, cũng đi ngã nầy, chết chóc như ri thì ai còn lòng dạ mô mà nuốt cho vô, cho vàng cũng khôn thiết đừng nói chi tới phở. Giọng người thôn quê miền Trung bình thản, chịu đựng, trống không. Anh đi theo người bán phở, nhìn vào khối lửa lò đỏ rực. Ở đây hay bị bắn như thế nầy sao bác. Mới bắt đầu đâu khoảng tháng ni, khi có Mỹ tới, nghe đồn Mỹ dội bom mô ngoài Bắc, thằng con tui đi lính về cũng nói rứa. Mà cậu ở mô tới chỗ chó ăn đá, gà ăn muối ni? Dạ tôi lên đây dạy học, tôi người dưới Nha Trang. Bộ hết chỗ rồi răng mà lên thấu đây, mưa thì thúi đất, mà nắng thì bụi đỏ cả tóc, đóng vô hai lỗ mũi. Ở trên bộ họ chỉ đâu thì đi đó, nhưng người khác sống được thì mình cũng sống được mà bác. Anh nói thật lòng vì vốn quen cảnh đơn độc, lẽ loi từ tuổi nhỏ với nơi u uẩn tịch mịch. Bây giờ cũng thế, Pleiku hoá thân thiết ngay từ buổi đầu, đang cùng anh chia sẻ nỗi se thắt nguy nan, như màn sương ẩm lạnh dầy bóng tối rung rẩy bởi loạt đạn pháo dội đâu từ núi sâu. Anh thấy như đã thật sự đứt lìa với vùng biển dưới bình nguyên.

Ba

Viên chuẩn úy quá trẻ trong bộ đồ tác chiến nhàu nát khá rộng so với vóc người, nón sắt úp xuống sát mí mắt, và chiếc ba-lô xộc xệch trên vai với những giây quai quăn queo rủ xuống từ những nắp túi không gài kín – Tất cả còn nguyên nếp gảy góc do cất giữ lâu ngày nay mới được phát ra. Người lính cởi ba-lô xuống, máng lên một bên vai, gở nón sắt cầm tay, xong đội lên lại theo một vị thế thật ra cũng không khác với vị thế ban đầu. Anh ta thật sự bối rối với những vật dụng lần đầu tiên phải mang vác trên thân giữa đám đông và nơi chốn xa lạ; anh cố ý mĩm cười, gật đầu chào với bất cứ ai nhìn đến, như để chứng tỏ cũng đã quen người, quen cảnh nơi đường phố rối rắm xao động nầy với từng luồng bụi đỏ dậy nên từng chập mỗi khi cơn gió gây rét thổi qua. Không thấy ai trả lời cách chào hỏi của mình, người lính đi lần theo con dốc, nón sắc kẹp bên hông, lẫm bẩm những câu hỗn độn với chính mình. Đến nơi ngã ba, anh nhìn lên bảng tên đường, chăm chú đọc như muốn tìm kiếm một điều gì quan trọng… Đường Hoàng Diệu, ở đây cũng có đường Hoàng Diệu như ở Đà Nẵng, cùng tên trường mình học lúc nhỏ ở ngoài đó, trước khi vô Nha Trang. Anh nói nên lời và thật sự cười thành tiếng vì nhận ra được một đầu mối quen thuộc thân thiết. Ánh mắt thoáng chốc bừng lên sống động – Cách vui vẻ tự nhiên, dễ dàng của tuổi trẻ để giải quyết lúc khó khăn, mối phiền bực. Nhưng cách thức giải quyết tạm thời nầy không thể kéo dài.. Chéo góc nơi anh đứng, đối diện bên kia đường, căn nhà sụp mặt tiền với những cột gỗ cháy dỡ, nám đen do trận pháo kích từ đêm trước, hai chiếc quan tài gỗ tạp chưa kịp sơn đặt song song, chông chênh trên những chân đòn thấp. Trước hai bát nhang nghi ngút tỏa khói, người đàn ông ngồi ôm đứa bé, gục đầu xuống gối không rõ mặt, cả hai đồng quấn dối vành khăn tang lấm vết đất đỏ như dấu máu. Đám tang không tiếng khóc. Lạnh tanh. Trước hai quan tài, có tấm bảng giấy viết nguệch ngoạt hai chữ cách khoảng: “mẹ, vợ”, ý chừng để phân biệt hai người chết gồm những ai và nằm ở vị trí nào.

Viên chuẩn úy cau mặt, anh ta không lường trước cảnh tượng thảm thiết đột ngột nầy nên băng nhanh qua đường, đi vào ngã rẽ thẳng góc với đường Hoàng Diệu, cố ý tránh xa căn nhà có đám tang. Bây giờ đi đâu ta? Anh (tự) nói tiếng rõ như thể đang hỏi một người bạn đứng cạnh, và cuối cùng, đến trước một quán ăn bảng hiệu kẻ chữ Trung Hoa, mặt tiền giăng cửa lưới ám khói, trần thấp, nhìn vào đầy khoảng tối. Viên chuẩn úy bước vào, lẫm bẩm… Kệ, vô kiếm gì ăn, chứ biết đi đâu bây giờ đây. Thật sự anh không hề nghĩ đến chuyện ăn uống, chỉ cốt quên đi nơi đáng sợ vừa thấy qua.

Người thanh niên ngồi ở sâu góc quán, im lặng nhìn xuống phin cà-phê nhỏ giọt. Tròng mắt anh xanh đen long lanh sáng hơn màn bóng tối của căn phòng. Khi gã lính trẻ ngồi xuống, anh khẽ liếc qua… Hai tia nhìn chạm trợt. Anh liền lãng tránh, nhìn xuống lại phin cà-phê, nhưng lòng đột nhiên có niềm an ủi vui vui, bởi vừa thoáng nghĩ… Ít nhất cũng có kẻ chia với mình buổi trưa ủ dột nặng nề nầy. Vệt nắng vàng úa yếu ớt dọi chéo qua ngạch cửa. Trời bắt đầu vào chiều, gió thổi bụi mù hanh hanh lạnh.

Bốn.

1975- Căn phòng thấp, không điện, người chủ quán đốt hai ngọn đèn bát thắp dầu cặn, khói đen bốc cao từ những tim khêu to, bám dày vòng muội đèn đen xỉn. Cuộc rượu im lặng một cách bất thường. Những người lính ngồi quanh chiếc bàn gỗ, trên bàn vỏ chai bia để đứng, nằm ngỗn ngang, những bàn tay đưa ra nắm lấy cổ chai, dốc ngược miệng chai lên môi, xong chậm rãi bỏ xuống. Không ly, cốc và cũng không một dĩa thức ăn. Người ngồi giữa bàn, đối diện với bát đèn, đưa cao ngón tay làm hiệu. Viên chủ quán bước đến… Ông chủ còn bao nhiêu bia đem hết ra đây cho anh em tôi, và tính tiền trước để tôi trả. Hai két bia được kéo đến, người vừa gọi bia cho tay vào túi trong áo field jacket rút ra nắm giấy bạc màu xanh nhạt, đưa cho người ngồi cạnh… Cậu tính giùm, trả cho ông ấy. Tiếng giấy bạc đếm xào xạc. Còn hơn năm ngàn thiếu tá. Người ngồi cạnh đưa lại số tiền thừa cho viên chỉ huy. Giữ luôn đi. Người vừa gọi là “thiếu tá” nói nhỏ lơ đãng, anh đưa cao một chai bia mới vừa mở lên môi sau khi lau qua trên thân áo. Người ngồi chung quanh cùng làm một động tác tương tự, tiếng rời rạc khẽ động khi những đáy chai để xuống mặt bàn.

Viên thiếu tá gõ gõ ngón tay lên huy hiệu màu đỏ trên vai áo trái… Các ông biết dấu hiệu nầy có ý gì không? Thì như mọi người thường hay nói… Là núi, sông mà sư đoàn mình phải cày cho đủ!! Một người nào đấy nói nhỏ, giọng phẳng lỳ, miễn cưởng. Nếu vậy thì tôi hỏi làm gì. Viên thiếu tá cười ngắn, lạnh lẽo… Nó chỉ số “mười một“. Mười một gì thiếu tá? Người hỏi có vẻ để ý, theo dõi. Nghĩa là hai vạch màu trắng chỉ số ”11 năm”- Nó báo cho biết – Tôi phải ở đây “mười-một năm”. Tôi đến đây từ “Sáu-tư”, bằng tuổi mấy cậu trung đội trưởng của ông Minh bây giờ. Viên thiếu tá chỉ tay vào người đối diện, mặt lẫn khuất bóng tối vì chiếc mũ vải vành nhỏ đội sụp. Người nầy hỏi tiếp, chỉ nhích miệng chai khỏi môi: Thiếu tá biết từ lúc ấy, hay sau nầy mới suy ra? Tôi mới biết ngay bây giờ. Đêm nay. Mười–một năm sau. Thôi mình uống hết “tua” nầy thì về. Mai còn có việc. Người chỉ huy dốc ngược chai bia vào miệng. Những bóng người chập chờn, dãy dụa trên vách tường, ngọn khói đen cuộn bốc mùi khét đặc. 

Từ đường Hai BàTrưng anh đi qua khu chợ, những dẫy nhà im lặng, đen sẫm hơn bóng tối nằm khuất lấp dưới tàng cây thấp, hiện hình những khối đen xao động mỗi khi có gió thổi qua rung cành lá. Anh thận trọng dò dẫm bước chân trên mặt nhựa phủ lớp đất đóng khô thành những mô, ụ nhỏ.. Chẳng lẽ ai cũng đi hết hay sao mà không có chút đèn đóm gì cả thế nầy… Hỏi vậy coi như không hỏi còn hơn, cứ trông thì biết thôi. Anh đặt câu hỏi, và trả lời để tự trấn an, nhưng chỉ sau khi đi một quảng ngắn, anh đã nhận ra việc rời nhà trong đêm giữa đường phố không người, không đèn là một điều nguy nan, thiếu tính toán. Việc làm vô nghĩa, vô ích. Thôi đã lỡ thì đi một vòng ngắn rồi về… Biết bao giờ mới trở lại. Anh thúc dục với mình khi chân tiếp tục lần về phiá trước. Khối trường học to lớn quen thuộc cùng ánh đèn dọi ra từ đồn Quân Cảnh nơi khúc quanh đầu đường Hoàng Diệu làm anh phấn khởi trở lại. Anh tự chế diễu: Chỉ bị thần hồn nhát thần tính, có gì đâu phải sợ, chắc vẫn còn nhiều người ở lại, nhưng do không ra khỏi nhà đấy thôi. Nhưng mối tự tin ngắn ngủi mong manh nầy phút chốc tan biến khi anh tới trước chiếc cổng khoá chặt của ngôi trường và nhìn dọc theo Đường Hoàng Diệu âm u không tiếng động quen thuộc của một khu phố chợ luôn sầm uất, sống động, dẫu trước đây luôn gánh chịu tình trạng chiến tranh nặng độ. Đường Hoàng Diệu đêm nay thăm thẳm lặng im với sự chết dần mòn tức tưởi. Tiếng chó tru thảm trước căn nhà kín cửa dài theo dẫy phố tối, gờn gợn bóng đen những thân cây thông sừng sững như những người khổng lồ bị xiềng đang cố chuyển động, xê dịch. Anh rung chiếc xích khoá cổng. Âm động cọc cạch, khẽ vang khô lạnh. Chẳng biết học trò và mấy anh, chị ấy ở đâu?! Anh không thể nghĩ tiếp như người kiệt lực gục ngã cuối một đoạn đường dài vừa chạy quá sức. Anh nhìn qua cánh cổng, tưởng như bóng tối có tầng lớp, lớp đen của khối nhà đậm hơn khoảng đen của khu sân. Họ ở đâu hết nhỉ… Trong một thoáng rất ngắn, anh thấy rõ lại khuôn mặt mỗi học sinh của tất cả các lớp, và cử chỉ, lời nói của từng thầy, cô giáo, buổi chào cờ khai trường đầu tiên – Tháng Chín, năm 1964 – Ngày anh đến đây, hai-mươi sáu tuổi. Cũng hôm ấy, anh mặc chiếc áo len cụt tay màu xanh, thắt cà-vạt đầu đời đồng màu với áo, có những hoa trắng nhỏ thêu chìm – Chiếc cà-vạt của M, mừng ngày anh ra trường sư phạm. Không thể chịu đựng thêm phần thấm đau của nhịp liên tưởng, anh rủ mạnh chiếc khoá cổng và bước đi. Theo thói quen, dẫu bóng tối dày, anh cũng đi đến cuối con dốc Đường Hoàng Diệu, rẽ trái, lên ngã rạp hát Diệp Kính, rạp chiếu bóng lôi thôi một cách thân mật, mà vào những đêm đi chơi khuya trước đây, anh luôn có ý định “vào xem trong đó có gì”. Ý định ấy đêm nay hóa thành niềm hối hận, như anh đã vô tình xem rẻ một cảnh trí nghèo nàn của nơi chốn trú ngụ thiết thân. Chẳng phải sau mỗi lần đi xa, anh đã luôn dùng cụm từ “về Pleiku” thay vì “lên Pleiku” một cách tự nhiên hay sao, cho dù anh về thăm nhà ở Nha Trang, nơi đã một lần với M.

Từ rạp Diệp Kính, anh đi tiếp đến hang đá Đức Mẹ với bước chân hối hả nôn nao. Cửa sắt rào trước hang hé mở, dãy đèn nến luôn thường trực thắp sáng đêm nay hình như nhiều và sáng hơn giữa vũng tối thoi thóp của Pleiku. Anh quỳ xuống bệ đá, nhìn lên pho tượng với đường nét tà áo, dáng đứng uy nghi, ánh sáng từ dãy nến hắt lên, soi rọi thấp thoáng khuôn mặt đau buồn muôn thuở. Lạy Mẹ! Anh kêu lên tiếng rõ, thấy hiện thật – Người Mẹ hằng xót thương – Hiện hữu với anh nơi giờ phút không chuyễn dịch, giữa vô hồi cùng tận thời – không. Khi vòng qua con đường nhỏ đổ xuống lại đường Hoàng Diệu, anh đi ngang quán ăn người Tàu mà đến bây giờ anh vẫn chưa hiểu nghĩa những chữ Hán viết trên tấm bảng hiệu, anh nhìn vào… Đám lính đang lục tục đứng dậy, ánh đèn dầu sau lưng họ làm cho căn phòng trở nên đông đúc. Anh bước vào với nỗi hân hoan vớt vát… Đấy, còn bao nhiêu là người. Vẫn còn nhiều người ở lại. Còn người. Còn người mà… Anh lớn tiếng chào những người lính… Chào các anh. Chào các bạn. Anh nói lớn, nhấn mạnh nồng nhiệt chữ “bạn” một cách cố ý. Mời các bạn ngồi lại thêm một lát, tôi xin được mời các bạn uống với tôi một chai bia. Người đứng trước đám lính trả lời khi đội chiếc mũ lưỡi trai lên đầu… Cám ơn ông, cám ơn, chúng tôi vừa uống xong, mà cũng hết ráo cả bia, bọt, và…Xin lỗi, ông làm gì mà giờ nầy còn đây?! Người chủ quán ý chừng muốn nhanh chóng đóng cửa, vội chen vào: Ông thầy giáo đó mà, ông thầy dạy học ở trường con trai, con gái. Trời đất, giờ phút nầy còn dạy ai nữa đây hỡ ông giáo, ông ở đâu, chúng tôi đưa về, rồi lo chuẫn bị mà đi đi. Người lính kêu lên, vỗ vai anh ái ngại, thúc dục. Cơn vui vẻ sống động chợt mất hẳn. Đường thở anh nghẹn thắt. Và như để chấm dứt níu kéo vô vọng trong lòng anh… Toàn thị xã bỗng dưng đỗ dồn cơn thác lũ ầm vang tiếng nỗ, và hồi còi báo động rên siết luồng sâu, chập choạng với bóng tối bắt đầu biến dạng nên thành vũng lửa đỏ hồng hừng hực. Dọt! Ông thầy giáo ở đâu chúng tôi đưa về! Anh được người lính đẩy lên xe mau chóng.

Năm.

Viên Tướng Tư Lệnh vùng, nét mặt khắc khổ, nói cùng người chỉ huy đoàn quân với giọng xúc động: Toàn bộ lực lượng trong vùng chỉ còn một mình tiểu đoàn anh. Tôi biết, một tiểu đoàn khó xoay chuyển gì được với tình hình nầy, nhưng chúng ta không còn chọn lựa nào khác. Trong Ban Mê Thuột, họ trông mình từng phút, ở đó cũng là gia đình của các anh. Anh có thể cho tôi phần hy vọng nào không? Viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng thật sự tuổi chỉ khoảng vừa quá ba mươi, nhưng bởi lo toan chiến trận và trách nhiệm chỉ huy nên đã biến dạng thành cằn cỗi, khô khan. Anh trả lời rung động, nhưng không kém phần quyết tâm: Trại gia binh tiểu đoàn tôi đang bị Việt cộng chiếm đóng, nếu thiếu tướng không ra lệnh, chính binh sĩ, họ sẽ yêu cầu cho nhảy vào trong đó. Riêng tôi, tuy không phải là người ở đây, nhưng cũng đã cùng sống, chết hơn mười năm với đơn vị, nên Pleiku, Ban Mê Thuộc, Komtum nầy đã là “nhà” chung của chúng tôi, vậy chỉ xin thiếu tướng nói vài lời với anh em.. Riêng cá nhân tôi, xin hứa tuân lệnh tuyệt đối của một người chỉ huy.

Viên thiếu tá hô lớn: Chào tay.. Chào!! Toàn bộ ban tham mưu, và sĩ quan Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 45, Sư Đoàn 22 Bộ Binh đồng đứng thế nghiêm, chào tay chạm vành nón sắt. Gió buổi sớm vùng Tây Nguyên se sắc lạnh làm sớ thịt ở hàm họ siết cứng lại, tăng thêm vẻ chịu đựng bi tráng quả quyết của những người biết chắc sau những giờ phút ngắn ngủi nầy, phần thãm họa ắt sẽ đến mà chính họ, và những người lính dưới quyền phải hứng chịu toàn diện.

Viên thiếu tướng đứng lên trên chiếc xe jeep mui trần của tiểu đội quân cảnh hộ tống, gỡ nón sắt cầm tay, như để tựa vào một điều chắc chắn trong giây phút nguy nan, cảm khích. Các anh em… Tiếng nói khàn đục chợt tắt.. Các anh em, trong đó, trong Ban Mê Thuột, Việt cộng đang tấn công, chiếm giữ trại gia binh. Các anh em phải về lại trong đó, tôi có mặt với binh sĩ, tôi có mặt với anh em ở bãi đỗ quân quận Phước An, tôi cũng sẽ có mặt với anh em nơi Ban Mê Thuộc, ngày mình chiếm lại. Anh em hãy quyết chí với tôi…

Quyết chiến! Quyết chiến! Hàng quân đồng đưa cao vũ khí, nhưng có những người lính khác thường, không nón sắt, không súng đạn, đưa lên những vật phẩm kỳ lạ – Những đứa bé còn ẵm bế trên tay. Đấy là những người vợ lính theo chồng ra nơi tiền trạm hành quân, nay cùng chuyến đổ quân trở về trại gia binh. Lời thề quyết chiến của những người đàn bà nầy được nghe rõ do thanh sắc trong trẻo, nhỏ bé, theo gió bay lan xa trên sân bay trực thăng núi Hàm Rồng trước giờ trực thăng cất cánh đỗ quân giải tỏa Ban Mê Thuột. Khi bay trên không phận bãi đáp Phước An, từ trực thăng chỉ huy, viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng nhận được lệnh mới: Thay vì từ bãi đáp Phước An, theo như lệnh hành quân đã phổ biến, đơn vị tiến theo hướng Tây-Tây-Bắc, cố gắng liên lạc với Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân đang cố thủ những vị trí còn lại trong thị xã, nay tiểu đoàn chuyển hướng hành quân, băng rừng về Đèo Khánh Dương, giữ đường xuống Nha Trang. Viên thiếu tá gào to uất hận: Xin cho biết giới chức nào ở đầu máy? Tôi là thẫm quyền mới của anh, dứt. Dưới tàu của viên tiểu đoàn trưởng, từ đuôi một trực thăng đỗ quân bốc đường khói đen dài, thân chiếc tàu bị nạn xoay tròn như con vụ, những thân người rơi ra vương vãi… Những chấm đen tơi tả, phần phật cháy như đốm lửa pháo bông.

Sáu.

Anh cột hai chiếc bình ny-lông đựng xăng và nước uống vòng qua nắp xăng chiếc honda, bỏ những gói mì ăn liền vào chiếc túi xắc cột túm miệng, xong đeo vòng sau lưng như một bịch tượng gạo, đội chiếc nón lưỡi trai, đeo chiếc kính dâm to bảng, quấn chiếc khăn lớn quanh cổ. Anh nhất nhất làm theo lời nhắc nhở như ra lệnh của ông chủ nhà chỗ ở trọ… Thầy nhớ mang theo chai dầu gió, cái áo bờ-lu-dông lỡ trời mưa, phần để ngủ đêm khỏi lạnh. Nhưng làm sao tôi trả được chiếc xe nầy cho bác, nếu tôi không về lại đây? Thầy không về đây thì thầy đi đâu, trường ni là của thầy mà, thầy đã không nói với tui như rứa à, thôi, thầy cứ đi đi, đừng thắc mắc. Ông lão chắc giọng. Nhưng nếu tôi không trở lại được? Anh vẫn chưa muốn rời bỏ căn nhà đã hơn mười năm cùng chung sống với những con người trung hậu, tốt lành như một điều tự nhiên. Tiếng nổ đầu đường Hai Bà Trưng, nơi con dốc đỗ xuống Ty An Ninh Quân Đội chấm dứt nhanh câu chuyện, ông lão chạy vào nhà sau khi chỉ kịp hối thúc, khẩn cầu lần cuối. Trời đất ơi là trời.. Tui xin thầy, chạy đi thầy ơi! Anh lên xe, thân hình hơi chao đão vì gói đồ lệch về một bên, hít hơi dài trước khi rồ máy. Anh nhận thấy trong không khí có mùi khét lạ nhưng không kịp tìm hiểu, vì gió thổi thốc đám khói dày nhầy đục mùi dầu cặn từ khu canh nông bị đốt cháy đang bừng bừng cuồng cuộn bốc cao. Anh có ý định ghé qua hang đá, nhưng khoảng dốc bị chắn lối bởi dãy cây thông lề đường gãy đổ do đợt pháo kích từ đầu đêm, và hai xác chết nằm kẹt dưới những cành lá. Họ là ai, và chết từ lúc nào… Chẳng lẽ là mấy người lính hoặc là ông Tàu chủ quán?! Nhưng mối băn khoăn nầy đồng tan mất, khi anh nhập vào đoàn người, xe nhốn nháo, đông đúc dồn ứ nơi ngã ba Thanh An, theo Quốc Lộ 14, xuôi xuống quận Phú Bổn. Những người nầy tối hôm qua họ ở đâu?! Anh chợt nhói cơn đau vì ý nghĩ: Hóa ra học trò mình và bao nhiêu người đã chịu khổ nạn từ rất lâu – Tai họa gắn chặt với từng ngày họ cố vượt sống – Khoảng đường dài bất tận mà giờ đây, anh mới chạm bước đầu.

Anh không biết mình đang đi đến đâu, với những phương tiện gì, hôm nay là ngày thứ mấy? Chiếc xe honda đã bị bỏ lại từ ngã Ba Mỹ Thạch, chỗ Quốc Lộ 7 và Đường 14 do mắc lầy dưới một vũng ruộng cạnh đường, và bị đoàn xe thiết giáp chạy đè lên, anh chỉ kịp tháo bình nước uống và chạy vụt đi với túi đựng thức ăn. Kính đeo mắt, khăn choàng cổ lần lượt bị rơi mất khi anh cố trèo lên chiếc xe hàng, chỉ với một chân gác được vào bục lên xuống, chân kia phải thòng ra ngoài hứng chịu cành cây đập dập liên hồi trong suốt chặng đường di tản vào ngày thứ nhất – Chỉ một ngày kể từ từ khi rời Pleiku. Nhưng chiếc xe hàng không chạy được bao xa, bởi khi đang qua một đồi thấp, thân xe bỗng nhiên bị xô hẳn về phía vực sau một loạt tiếng nổ bên cạnh sườn phải, và chiếc xe chao đão nghiêng dần xuống vực bên trái đường đi. Anh bị ném lên bãi đất cỏ, và ngất đi trong một khoảng khắc ngắn, trước khi đầu máy xe cắm ngược xuống gềnh đá. Khi gượng đứng dậy được, anh nghe trong xe âm âm lời kêu gào tắt nghẹn của những người bị ngộp thở do bụi mù và cột khói bốc lên từ đầu máy, anh bật chạy xuống đáy vực với một nhanh nhẹn không lường trước. Cứu giùm, cứu giùm họ, bà con ơi, bà con ơi… Anh cố sức kéo búi cỏ, bụi lùm bịt kín cửa sổ bị lèn chặt giữa khối nặng của thân xe và sườn đá núi nhưng không thành, cuối cùng, anh nắm một bàn tay thâm tím đang thò với ra, những ngón tay rẩy rẩy, day day. Anh tuyệt vọng nhìn chung quanh để tìm cách cứu người bị nạn đang kẹt trong xe. Từ vực đá lên đường đi, thây người nằm vươn vãi, lầy lềnh, bê bết máu.

Những sự kiện đau thương trên diễn ra suốt từng phút giây của mỗi ngày, trên mỗi thước đường anh đi qua. Và khi đêm đến… Đêm anh vào đến một phố chợ, hay một quân lỵ nào đó với hai dãy nhà gạch nằm theo con đường chính mà phần mặt phẳng bị lấp đầy, dồn ứ bởi xác tất cả các loại xe, các loại súng và chồng chồng thây người bầm dập chen chúc giữa đống vật chất tan nát. Tất cả đang nghi ngút bốc cháy. Lửa chập choạng, rùng rùng, ngập ngập. Và đêm được nối dài tiếp chiều tối bởi ngọn lửa nhân tạo nầy, thế nên, anh chỉ biết được trời đang vào đêm khi vô tình nhìn lên khoảng không, lúc màn khói bị gió tạt loãng, và bất chợt nhận ra mầu trăng lưỡi liềm mỏng vàng đục đã xuống chênh chếch trên đầu rặng núi. Trăng xuống thấp như kia chắc mới vào đêm, vậy mà mình cứ tưởng mới vừa hết buổi chiều. Cũng là lần cuối cùng anh nhìn lên bầu trời trong suốt chặng đường chạy loạn. Thật sự, anh không còn khả năng suy xét, phân tích, phân biệt giữa xác thân còn sống của chính mình và sự chết tầng tầng, vây quanh theo từng thước đường anh đi qua, dầy đặc lượng khí trời anh hít thở. Và tiếp lần anh qua dòng sông. Câu chuyện những tầng điạ ngục từ các chuyện hoang đường là đây – Trên chiếc cầu gồm những tấm vĩ sắt ghép vội – Những tấm vĩ sắt được đặt trên những phao cao su lớn, cột chặt bởi những giây cáp bằng thép để tránh dòng nước xô đẩy. Thoạt đầu, thân cầu hơi bị lệch lạc, chồng chềnh khi giây xích chiếc chiến xa hạng nặng đầu tiên chạm vào đầu mé cầu phao, nhưng một quả đạn pháo đã nổ bùng chính xác trên bờ sông bắn tung đám người đang chờ đợi qua cầu, đồng thời hất nghiêng chiếc xe xuống dòng nước. Những người lính vùng vẫy, cố thoát khỏi lòng xe, nhưng khối nặng chìm nhanh hơn, kéo theo những cánh tay cố vẫy vùng trên thành pháo tháp chiến xa. Chiếc xe bị nạn vô tình biến thành điểm tựa cho những người lính công binh thay thế chiếc phao cao su bị phá vỡ, và những xác người trong chiến xa đồng thời cũng biến thành vật cản ngăn dòng chảy. Qua thêm một giờ, qua thêm một buổi, có thêm nhiều xe và người bị nạn, dòng nước trở nên trì chậm và người sống sót tìm đường vượt chết trên thây xác đồng bào mình. Không ai còn có thể nghĩ  dưới đáy nước đỏ nhừ máu có lớp lớp người chết dập.

Hậu Từ.

Anh có tâm trạng sống – trong- cảnh- chết nầy khi về đến Đèo Rù Rì vào một ngày cuối tháng Ba, với tiếng biển biền biệt mà anh nghe rõ tận sâu trong từng âm sóng hờn oan. Lần đầu tiên từ rất lâu, anh mong một lần được bật lên tiếng khóc. Từ đèo Khánh Dương, tuyến phòng thủ của đơn vị nhảy dù, viên Thiếu Tá Tiểu Đoàn Bộ Binh Sư Đoàn 22 giải tỏa Phước An được trực thăng đưa về tổng hành dinh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, nay đặt tại Đại Khách Sạn Nha Trang, để trình diện viên tư lệnh. Anh không thể nghĩ rằng người ngồi gục trước mặt anh là vị tư lệnh cơ trí, can trường mà anh đã từng tiếp xúc, nghe tiếng đồn ngợi khen từ bao năm nay, vị tướng lãnh độc nhất của quân đội miền Nam, các cấp bậc từ thiếu úy đến thiếu tướng chỉ được thăng cấp tại mặt trận. Người chỉ huy toàn chiến trường vùng duyên hải, cao nguyên, nay đã là hiện thân của suy sụp và tuyệt vọng. Ông im lặng bắt tay viên tiểu đoàn trưởng và thều thào tiếng nhỏ, ngắn, hụt hơi… Cám ơn, cám ơn. Và ra hiệu anh đi ra. Viên thiếu tá ra bãi biển bởi anh không biết mình phải đến trình diện ai, làm những gì?! Đơn vị còn lại đúng ba người, anh và hai người lính mang máy truyền tin, nay đang ngồi dựa vào thân cây dừa ngủ mê mệt. Anh đến sát mé biển, đặt bàn tay xuống nước, nhìn ra khơi xa. Trên khoảng tối xao động, sóng biển long lanh sáng hơn màn đêm đen có những chấm vàng rơi rớt. Anh nhìn lên trời, trăng qua đêm rằm méo mó, vàng đục, lệch lạc như trái bưởi khô héo treo trên cành cây nám cháy. Gió thổi có hơi nóng của khí trời đang ủ giông. Anh nhìn dài theo bãi biển, những nhóm người ngồi, nằm ngỗn ngang im lặng bên cạnh những khối lớn xiêu vẹo – Đoàn chạy loạn sống sót từ vùng cao, đêm nay, dừng lại với lều trại tạm trú cột vội bên cạnh thân những chiếc xe đã đưa họ về đến bãi biển nầy. Có người đứng nơi mé nước, thân hình như thể xao động, muốn ngã xô vào lớp sóng, bởi khối đen nhập nhòe pha lẫn mầu trăng và thủy triều thiêm thiếp vào ra, nhưng thật ra người chỉ đứng yên nhìn xuống nước. Đột nhiên anh nhói sắc cảm giác nôn nao của sớm xuân mới, Tháng Ba hai-mươi năm trước, một mình ngồi trên bãi biển nầy, nhìn sóng nhỏ rì rào xô dạt trên bãi cát tươi ướt, và câu nói bất chợt nhưng luôn được nhớ lại hằng bao năm qua, mỗi khi anh có liên tưởng về biển: “Ở Nha Trang, biển hôm nay sớm quá chưa ai tắm” Và hình ảnh người thanh niên lẻ loi trước biển trong buổi sáng lắng im. Đêm nay, trên bãi biển tuy có nhiều người nhưng chập chùng nỗi hoang vắng thê lương của cảnh tận diệt. Không còn người mà chỉ là hình hài mờ nhạt, tan vỡ của họ sau lần căng thân hứng chịu tận sâu nỗi chết – Con người đã hoàn toàn hũy hoại, chỉ còn lại âm vọng thương tâm trên triều sóng nước với tiếng biển gào động thăm thẳm nỗi đau.

Một mình. Người với biển.

Tháng Ba,

Viết lại, Nha Trang-Pleiku/ VN- Cali/Nước Mỹ Sau 71 năm (1955-1975-2026)         

Câu gì em nói nhỏ

Thơ Lâm Chương

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Em hẹn tôi về thăm quê cũ
Sau mấy năm lây lất xứ người
Tôi cũng muốn (một lần thôi cũng đủ)
Về gặp em nhắc lại chuyện lâu rồi.

Chuyện lâu rồi mà như mới hôm qua
Tôi còn nhớ bàn tay em run nhẹ
Trong tay tôi lạnh buốt. Không ngờ
Em lí nhí nói câu gì rất nhỏ
Như nói thầm với cái rét se da
Của một chiều cuối đông năm ấy.

Rồi tôi đi. Sáu năm trời chưa trở lại
Dòng sông xưa vẫn chảy trong hồn
Bông mía trắng cả một vùng thương nhớ
Gió nồm Nam thổi suốt dọc quê mình
Nhà em ở cheo leo cuối xóm
Hàng rào thưa cây trái rợp sau vườn
Che bóng mát cho em ngày nắng.

Tôi ở đây những mùa đông trắng
Lấy gì che đời vắng em xa
Em đâu biết bao lần tôi muốn hỏi
Ngày chia tay em nói nhỏ câu gì
Trong cái rét một chiều đông năm ấy?

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Sau một giờ mặc niệm

Xin một phút bồi hồi

Cho triệu anh em mất còn trong cuộc chiến,

Cho người dại khờ và kẻ tính khôn

Xin cúi đầu thật thấp trước oan hồn

Ở hai phía quân thù và bè bạn.

Ngày dâng nến rưng rưng hàng mộ trắng

Chiều ngùi ngùi sương khói chiến trường xưa,

Mỗi nấm mồ xin phủ một lá cờ

Và khấn nguyện chung một lời vĩnh biệt:

“Thôi, lần cuối xin Người tha thứ hết

Tha thứ cho nhau – tha thứ cho đời»

Bởi, dù sao mình vẫn một giống nòi

Cùng kiêu hãnh và chưng tủi hồ

Chung một kiếp đọa đầy và khổn khổ

Sau hơn hai-mươi năm xâu xé tan hoang

Giữa triệu anh em cùng tên gọi Việt Nam

Kèn u uất lay ngọn cờ buồn rủ

Xin thắp lên nhang nến hai hàng,

Sau một giờ mặc niệm

Xin một phút bàng hoàng …

Miếng ăn

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Hình minh họa

Tôi đã giữ được bao nhiêu năm, nhưng rồi cuối cùng, vẫn bị vướng vào một điều nhục nhã: miếng ăn. Tôi là một thằng vô sản chuyên chính, vì cả ba bốn năm nay tôi luôn luôn là con bà phước, không bao giờ tôi có quà cáp, đồ ăn thức uống gì được gửi đến hoặc được dem đến tiếp tế từ những người thân ở ngoài đời, Ngoài tiêu chuẩn ăn uống hằng ngày của trại cấp phát, tôi phải tự “mưu sinh” để được bồi dưỡng bằng những con cóc, con nhái, con rắn, con chuột ở ngoài ruộng, ngoài rừng trong những lúc di lao động, chi có những con vật nào không nhúc nhích hoặc nằm ngữa mới thoát khỏi cái mồm của tôi, huặc tôi đã tự “cải thiện” bằng rau má, rau tàu bay, cây và bắp chuối rừng … Tóm lại, vừa tiêu chuẩn của trại, vừa kiếm chác thêm, tôi đã cầm cự được với cái đói trong nhiều năm nay. Nhưng, nếu sự đói khổ, thiếu thốn dược chia sẻ, phân phối đồng đều cho mọi người trong cùng một hoàn cảnh, tức là mọi thằng tù đều vô sản như nhau, không có cách biệt nào của kè thiếu người thừa, thì sự thiếu thốn được cám thấy nhẹ hơn, ít hơn. Đằng này, tuy củng một hoàn cảnh tù tội như nhau nhưng có những thằng vô sản như tôi, mà cũng lại có những thằng tư bản, lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm luôn luôn đầy đủ, đầy đủ đến độ thửa thãi, thì sự thiếu thốn của những thằng vô sản không thể nào cảm thấy nhẹ nhàng, dễ khắc phục được. Hằng ngày nhìn người khác ăn uống thoải mải, mức dộ thèm thuồng của tôi được tăng lên theo cấp số nhân, quay quắt hơn, bất ổn hơn.

Vào những ngày cuối năm, trời lạnh, thưởng thì vào buối tối, sau khi học tập chính trị bằng cách nghe đọc báo, sau khi kiểm điểm công tác lao động trong ngày và sau khi điểm đanh tối là đến giờ ngũ, giờ sung sướng, thoải mái nhất trong sinh hoạt mỗi ngày của chúng tôi, giờ mả mọi người chờ đợi trong ngày để nghỉ ngơi, để dưỡng sức, thì chính lúc này mới lại là lúc tôi bị hành hạ nhiều nhất. Trước khi ngủ, những tay bạn tù nằm cạnh, nằm quanh ít ra cũng có miếng đường, thìa bột cho vào mồm làm ấm dạ dày, có điếu thuốc “thẳng”, có “bi” thuốc lào làm đê mê đầu óc trước khi sống lại những cảnh no đủ, ấm cúng và hạnh phúc trong giấc mơ. Còn tôi, vì là thảnh phần bần cố nông cốt cán nên thay vì có miếng gi đó nhét vào mồm giống như người ta, tôi chỉ có đủ khả năng “làm” luôn một lơn gô đầy nước lạnh để đánh lừa dạ dày. Vì đánh lừa dạ dày bằng nước, cộng với trời lạnh bên ngoài nên nước trong người tôi được thải ra thật nhanh qua ngã tiểu tiện. Vì phải ra ngoài trời lạnh đi đái nên nhiệt độ trong người giảm xuống cũng thật nhanh, đắp một cái chăn cũ không đủ ấm nên lạnh. Vì lạnh không ngủ được nên cái đói kéo đến hành hạ. Vì đói mà không có gi ăn nên lại phải uống nước để đánh lừa dạ dày. Vì làm đầy dạ dày bằng nước nên đi đái. Vì đi đái ngài trời nên lạnh. Vì lạnh nên ngủ không được. Vì ngủ không được nên đói. Vì đói nên phải uống nước … Cái vòng luẩn quẩn đói, uống, đái, lạnh, mất ngủ, đói, uống, đái, lanh, mất ngủ, đói … cứ như vậy quần tôi cho hết dêm. Cái đói và cái rét là một “đôi bạn chân tình”, vậy mà tôi còn bị cái đói hành hạ trong mùa rét nơi rừng núi miền Trung thì quả là đến nơi đến chốn. Để chống lại cái vòng luân hồi quái ác diễn ra hằng dêm như vậy, những thằng bạn tù bần cố nông như tôi đã tổ chức “đi bay”. Những chuyến “bay đêm” thật hấp dẫn, vừa kích thích lòng mạo hiểm, vừa có những chiến lợi phẩm có giá trị thiết thực cho dạ dày. Những củ khoai, củ sắn sống nhai nghe ròn tan trong những cái chăn trùm kín mít, những tiếng cười khúc khích hả hê cũng “ròn tan” thỏa mãn cho dạ dày cứ xoáy mãi, xoáy mãi vành tai tôi từng đêm, từng đêm. Trong hàng ngũ những kẻ “bay dêm”, có loại lương thiện và ít mạo hiểm là những người khoanh vùng mục tiêu ở những nơi “oanh kích tự do” là những vạt sắn, vồng khoai quanh trại. Tuy là vùng “oanh kích lự do” nhưng đôi khi những tay “phi công” loại này cũng có người “gãy cánh đại bằng”, bị đem ra “vặt lông” trước “tòa án nhân dân” hoặc “cắt tiết” ngay tại chỗ tùy theo mức độ buồn vui của cán bộ trại nằm phục kích. Có loại rất “sịn” là những tay chỉ chấm một vài mục tiêu cố dịnh nằm sâu trong lòng địch, những “cứ diểm trọng yếu”, những “căn cứ chiến lược” của địch là nhà kho, nhà bếp của cán bộ trại. Loại “phi công” này dễ bị “bắn rơi” hơn nhưng oai hùng hơn và được sự thán phục của đám bạn tù. Còn một loại hèn nhát và vô liêm sĩ, không cần biết một điều gi khác ngoài cải dạ dày của mình, chuyến “bay” loanh quanh những mục tiêu gần như an toàn tuyệt đối trong vùng đất của minh, là những ba lô, túi, sắc, của đám bạn tù tư bản nằm chung trong lán.

Theo nội quy và những diều quy định của trại là ai làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, không làm thì không ăn … Tôi có một quan niệm và thái độ rất đứng đắn và sòng phẳng với nội quy, tuy tôi có đổi vế của điều lệ, tôi chỉ lao động ở mức độ tương ứng với số lượng calories tôi nhận được hằng ngày theo tiêu chuẩn của trại cấp phát – dĩ nhiên không kể số lượng thực phẩm mà tôi đã “cải thiện linh tinh” được – cho nên tôi luôn luôn bị phê bình mỗi tối khi kiểm điểm công tác trong ngày,và luôn luôn dược “bêu dương” trong mọi lần bình bầu những người lao động tốt vào mỗi cuối tuần. Được “bêu dương” là một thành tích mả lôi vẫn ngầm hãnh điện vì nó thuộc vào tội “hộ” chứ không phải là tội “hình” như những chàng “phi công” bị gãy cảnh. Cho nên đói thì đái, tôi không gia nhập vào một “phi đoàn” nào, tức là tôi không thuộc vào một nhóm “phi công” nào hết.

“Miếng ăn là miếng nhục, dủ có thiếu thốn đến đâu đi chăng nữa, dù có thèm thuồng đến đâu đi chăng nữa, miếng ăn vẫn không thể nào làm nhục con người của mình được. Đừng bao giờ đễ cho người ta khinh mình, chửi mắng mình vì miếng ăn”. Tôi đã tự ra lệnh như vậy và tôi dã thi hành lệnh nảy một cách triệt để và nghiêm túc trong suốt mấy năm trời nay. Lệnh này được tôi đặt ra tử những ngày Sải Gòn chưa mất, những thằng tủ chúng tôi vẫn còn trong tư thế hiên ngang của những thẳng tù binh, tiêu chuẩn lương thực 7 lạng gạo mỗi ngày – của đồng đội, thời gian ở nhà binh, tiêu chuẩn 700 gram gạo mỗi ngày bị ăn xén ăn bớt chúng tôi ăn vẫn côn không hết, vậy mà 7 lạng gạo trong tù dù có bị cân thiếu, có bị mối mọt, chúng tôi cũng không thế nào bị đới đến độ … Trong một buổi sảng tập thể dục, cán bộ trại đã thông báo một chuyện vừa xày đêm hôm trước, “thau cơm của chó đã bị ăn cắp hết sạch”. Ai ăn cắp? Có thể là đám tù chúng tôi – dĩ nhiên là nếu thau cơm của chó bị đánh cắp chỉ còn ai ngoài đám tù – cũng có thể là thau cơm của chó đã không bị mất cắp. Ai mà biết chuyện này có thật hay không, ngoại trừ mấy người cán bộ đưa tin và người ăn cắp nếu có. Tuy nhiên, dù có hay không, dủ dúng hay sai, vấn dề miếng ăn phải được cảnh giác và bắt buộc phải được đặt vào vị trí đi song song với danh dự của con người, nhất là danh dự của những thằng vừa bị ngã ngựa như chúng tôi, tuy là tù binh nhưng lại nhìn bọn cai tù chỉ là một lũ người bị khinh miệt một cách đáng thương. Vật chất không phải là cứu cánh của đời người. Ít ra, lúc này, ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn. Nhưng, giữ không cho bị nhục vì miếng ăn không phải là một chuyện dễ làm trong một chế độ trại tù mà cán bộ luôn luôn bỏp chặt dạ dày, luôn luôn dùng miếng ăn để chi phối tinh thần, để bắt đám tủ lúc nào đầu óc cũng chỉ nghĩ đến làm cách nào để kiếm chác một thứ gì hầu nhét cho dầy đạ dày. Nếu bị đói một ngày, hai ngày, một tuần, hai tuần, người ta có thể cưỡng chống nối một cách dễ dảng sự cám dỗ của miếng ăn, nhưng nếu, cái dói, cải thèm đeo đẳng hành hạ con người hết ngày này tháng nọ, năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào cái đói cũng bám chặt lấy dạ dày, cái thèm lúc nào cũng bám chặt lấy đầu óc, đến nỗi một cục muối bỏ vào miệng ngậm cũng còn thấy ngọt, thì chuyện giữ nổi cho mình không bị nhục vi miếng ăn thì quả là một vấn đề lớn.

Lòng cương quyết của tôi về miếng ăn đã nhiều lần bị chao đảo. Tôi đã cố gắng tránh nó tất cả mọi bữa ăn “hàm thụ” của bạn tù trong những lúc rảnh rỗi. Tôi cũng đã cố gắng từ chối lời mời tham dự vào những “chuyến bay” của đám bạn bẻ “phi công”. Đôi khi tôi cũng được mời ăn “liên hoan” trong chăn, nhưmg vì quan niệm phải sòng phẳng, có làm mới có ăn, nên tôi đã không cho phép được tham dự những bữa “liên hoan” và thực tế cũng không ai muốn mời một thằng chỉ “liên hoan” mà không bao giờ chịu “đi bay”, nên cuối củng, những tiếng nhai, những tiếng cười “ròn tan” trong chăn lại cử xoáy mãi, xoáy mãi vào tai tôi từng đêm, từng đêm. Nhưng tất cả chỉ có vậy thôi thì tôi dã không có gì để kể. Ngày thăm nuôi vừa rồi là ngày giáp Tết. Ai cũng háo hức ra gặp thân nhân, rồi sau đó là gồng, là gánh, là ôm, là vác những túi, những xách,  những bao bố đựng đầy những thứ mà đã mấy năm rồi tôi chưa được một lần nếm lại, nào là bánh chưng, nào là bánh tét, nào là đường là đậu, nào là thịt là cá, nào là gà ram, nào là lạp xưởng, nào là thuốc lào, thuốc rê, thuốc thẳng, nào là kço, bánh, mứt – tình cảm gia đình dược đánh giá, được cân đo bằng sức nặng của những túi quà thăm nuôi mà – và vì là ngày Tết nên số lượng quà cáp không bị giới hạn, Ngày thăm nuôi giáp Tết này được coi như một ngày hội lớn, một ngày nhộn nhịp thật là nhộn nhịp, một ngày ăn uống ê hể thật là ê hề. Chỗ này ngong ngóng nghe loa gọi tên ra thăm nuôi, chỗ kia ơi ới gọi nhau mời mọc.

Tôi biết thân tôi, một thằng không bao giờ nhận được thư nhà chứ đừng nói là quà cáp hay thăm nuôi, nên tội đã phải trốn lên phòng đọc sách để ngồi chổ vắng, để tránh xa cái ê hề, cái nhộn nhịp của một ngày thăm nuôi gần Tết. Tội không ngong ngóng vì biết chắc chẳng có ai thăm nuội. Tôi không lượn qua lượn lại để người la thấy mặt người ta thương hại người ta bố thí cho một lời mời, vì không bao giờ tôi có gì để mời lại họ, có qua có lại mới toại lòng nhau chứ. Và chắc chắn cũng chẳng có ai thèm mời tôi vì tôi thường xuyên từ chối lời mời của họ, mất công mang ơn, mất công nghe kể lể. Nhưng nếu đàn nhà ai nấy sáng thì cái đói dã không quay quắt tôi bao nhiêu, đằng này, thể theo lời đề nghị của đa số trại viên – dĩ nhiên là những tay có thăm nuôi – tiêu chuẩn ăn của những ngày thăm nuôi giảm xuống còn một nữa, nữa còn lại để dành để thêm thắt cho những ngày sau, mà mỗi mâm ăn vẫn phải chia đều cho đủ phần sáu người. Với đủ tiêu chuẩn lương thực trong ngày đã không thể làm đầy dạ dày, vậy mà tôi chỉ có được một nữa tiêu chuẩn trong bụng ngồi bên cạnh những kệ sách thu hoạch năm tấn, mười tấn mỗi héc ta, chủ nghĩa bách chiến bách thắng, sỏi đá cũng thành cơm …để trốn cái thèm thuồng, cái đói khát. Tôi ngồi mặc đói, mặc lạnh để tránh phải nhìn cảnh những thằng bạn lù lăng xăng nấu nướng, phủ phê ăn uống. Tôi không muốn ai thương hại tôi, tôi không muốn phải thấy những cặp mắt “thương xót”, Tôi không muốn nhận của bố thí – nếu có – từ lòng thương hại của những kẻ đã thừa mứa. Tôi cử ngồi một mình chịu đói, chịu lạnh như vậy cho đến khi kiểng điểm danh đêm tôi mới trở về lán. Đêm này, dêm của ngày thăm nuôi nên chỉ có diểm danh mà không có kiểm điểm công tác, không có đọc báo để học tập, nên từ lúc điểm đanh đến lúc ngủ thời gian còn lại kể cũng khá dài. Mọi người lại quây quần ăn uống. Tôi không thể ra ngoài vì trời đã quá lạnh, đành phải về chỗ nằm. Cứ hai cái chiếu rộng một thước là ba người nằm. Khốn khổ cho tôi là tôi lại nằm giữa hai tay tư bản gộc. Hai tay tư bản này nấu một nồi chẻ lớn, mời bạn bè cùng giai cấp đến ăn. Tôi phải nằm co chân lên cho họ có chỗ ngồi. Chăn trùm kín đầu, mắt nhắm nghiền nhưng nào tôi có ngủ được, tất cả mọi tiếng động chui vào tai tôi rõ mồn một, kể cả những tiếng động nhỏ nhất. Tiếng khoắng môi múc chè, tiếng húp chè xùm xụp, tiếng kéo thuốc lào xòng xọc, tiếng nói cười tràn đầy thỏa mãn.

Tiệc tan, mọi người giải tán, hai tay tư bản cạnh tôi vừa dọn dẹp vừa nói với nhau:

“Còn một tô, mày ăn nốt đi,”

“No thấy mẹ rồi còn ăn gì nổi nữa. Mày ăn đi”

“Tao cũng ăn hết nổi rồi, mà đổ đi thì uổng, Hay mình chia đôi.”

“Đổ đi, Chiỉcần húp thêm một miếng nữa là tao ọc ra hết.”

Người tôi run lên bần bật, tôi mím mội, banh hàm, nghiến chặt răng, nuốt liên tục mà sao nước dãi cứ ứa ra, đầy mồm rồi trào ra mép. Với một sự cố gắng vượt bực, tôi vẫn không thể kềm giữ nổi nước dãi, nước mắt tôi cũng tự động ứa ra, không hiều tại sao. Đưa tay quẹt mồm và dụi mắt liên tục vẫn không ăn thua gi. Trời ơi, tôi bất lực rồi, tôi không còn kiểm soát được tôi nữa rồi. Tôi thua cuộc rồi. Tôi lẩm nhẩm, cầu xin trong đầu: “Mời tao đi, mời tao một tiếng, một tiếng thôi. Hãy mời tao một tiếng để cho tao từ chối. Có dược mời và tiếng tử chối dược phát ra thành tiếng, nước dãi tao mới hết chảy. Mời tao di, mời đi, một tiếng thôi”. Nhưng chẳng ai mời tôi tiếng nào. Hai người cứ chỉ mời qua mời lại, rồi cuối cùng đem đổ.

Tai tôi nóng bừng lên, đầu tôi như vỡ tung ra hàng trăm nghìn mành. Tôi hét to lên một tiếng và tôi không còn biết mình là ai, tội không còn biết mình đã làm những gì nữa. Cho đến tận bây giờ, mọi người có mặt trong lán, kể cả hai nạn nhân vẫn không biết lý do tại sao lại bị một trận đòn thù đến nỗi phải đi nằm trạm xá và tôi, bị cùm để được ăn một cái Tết trong xà lim.