Kẻ săn vàng

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 21 Apr 2026

Hồi Ký của Vương Mộng Long

BĐQ Vương Mộng Long tốt nghiệp khóa 20/TVBQGVN. Anh phục vụ tại LĐ2/BĐQ từ khi ra trường cho đến đầu tháng 4-75. Cấp bậc, chức vụ sau cùng: Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, TĐ82/BĐQ – Anh đã bị CS giam giữ 13 năm, qua các trại tù từ Nam ra Bắc.

        Anh chị được 4 cháu, gia đình hiện đang sinh sống tại Seattle, WA – Ngoài những chiến công thời trai trẻ, điều đáng khâm phục nơi anh là tuy định cư muộn, anh vẫn theo đuổi việc học và đã tốt nghiệp B.A. Social Science & Communication tại University of Washington năm 2003. (Hình chụp tháng 10-74)

Một chiều đầu mùa hè 1989, bên bờ hồ đập thủy điện Trị-An, gió nhẹ và mây quang, mặt hồ gợn sóng, tôi ngồi hàn huyên cùng một ông bạn già cựu hạ sĩ quan QLVNCH. Chúng tôi ngồi nhâm nhi đôi ba chung. Rượu vào lời ra, ông ta biết tôi đã từng đơn thương độc mã vào rừng đào vàng, đào thiếc kiếm cơm trên mỏ vàng Suối-Nho, Gia-Kiệm, mỏ vàng K3, Đơn-Dương và mỏ thiếc Nắp-Bắc (Lap Bé Nord) Đà-Lạt. Thế là tối hôm ấy thằng Hai Thanh, con trai lớn của ông bạn tôi, bái tôi làm thầy, nó đề nghị tôi qui tụ và chỉ huy một “mũi” (tổ làm việc) đi kiếm “xái” (quặng mỏ) trong rừng Hiếu-Liêm. Tôi đang lúc thất nghiệp, nên nhận lời làm đầu lãnh một mũi gồm hai anh thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự là Thanh và Hòa (bạn Thanh) và một cậu bé mười lăm tuổi, thằng Út, em của Thanh. Vì tình trạng trộm cắp nơi mỏ vàng, với sự hiện diện của hàng trăm tay chơi anh chị tứ chiếng đủ loại, tôi phải gởi cái bóp giấy tờ tùy thân tại nhà ông bạn già. Lý lịch của tôi được dấu. Trong chuyến đi này bọn bộ hạ gọi tôi là Bác Hai, đôi khi chúng gọi tôi là Bác Hai Bắc-Kỳ. Thằng Ba Chiến, em của thằng Hai Thanh, đang chạy xe thồ và bạn thồ của nó sẽ lo việc chuyển vận chúng tôi vào vùng mỏ.

       Chúng tôi trang bị hai chỉ vàng rồi lên đường vào Hiếu- Liêm một sớm mai rực rỡ nắng hè. Trong những lần “ra quân” trước đây ở Suối-Nho, Đơn-Dương, Nắp-Bắc, tôi thấy những khu vực khai mỏ đều được xem như “vùng oanh kích tự do” của dân kiếm xái. Chúng tôi đến, đi, chặt rừng, đào núi, lọc quặng, khai mương, ngăn suối, chẳng ai đòi hỏi giấy tờ khai báo phép tắc rườm rà. Lần này chúng tôi cũng được tự do đi về không ai cấm cản, duy có việc chặt rừng, phá núi phải cần một cái giấy phép khai thác rừng của Ủy Ban Nhân Dân xã Hiếu-Liêm (Đồng Nai). Lệ phí chính thức cho một tờ giấy phép chỉ có năm ngàn. Nhưng phải chờ hai, ba tháng sau đơn xin mới được chấp thuận. Trong khi đó giấy phép tuôn ra bên cửa hông thì chỉ một buổi hay một ngày là có kết quả, giá “chui” hơi đắt một chút, hai phân vàng! Tờ giấy phép của UBND xã chỉ có mấy dòng: Cấp cho đương sự quyền khai thác diện tích 10 mét x 10 mét trong rừng Hiếu-Liêm trong thời hạn 30 ngày.

       Mỏ vàng Hiếu-Liêm cách đập Trị-An (Biên-Hoà) khoảng hai giờ xe thồ, nằm trong một khu rừng nhiệt đới đất đỏ, cây cao, tàn rộng. Nơi này ngày xưa là phần địa đầu chiến khu D của Việt Cộng. Đường lên dốc, xuống đồi quanh co. Ngày chúng tôi lên đường trời trong, gió nhẹ. Trên không có những cánh diều hâu bay lượn vòng vòng. Những con ve sầu đã bắt đầu rả rích bài ca mùa Hạ. Tiếng ve rên rỉ được giữ nhịp bằng tiếng lốc cốc của chim gõ mõ từ trên thân cây bằng lăng mốc thếch. Đàn sẻ rừng ríu rít trong đám cỏ non. Bọn chích choè, chèo bẻo đang xòe đuôi, chí choé chuyền cành đuổi nhau. Trong rừng sâu âm u, vẳng lại tiếng róc rách suối rừng ngọt ngào. Tiết tháng Năm, hai bên đường hoa khoe sắc. Bướm đủ màu bay lượn chập chờn trên hoa. Đường càng lên dốc càng hẹp dần, hương rừng càng ngất ngây. Chỉ cần đưa tay, tôi đã vớt được một cành hoa rực rỡ bên vách núi. Tôi cảm thấy mình đang lạc vào nơi thiên đường bừng bừng sức sống. Ngồi sau lưng thằng Chiến trên yên xe thồ, lòng tôi phơi phới. Miền Nam đang trong mùa hoa nở. Quê hương yêu kiều rực rỡ. Quê hương ta đẹp quá! Lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác về vẻ đẹp của quê hương. Tôi hát nho nhỏ một mình nghe, câu ca cũ, “Hoa vẫn nở trên đường quê hương. Ôi! quê hương ta đó!…”

       Trước khi tới khu khai thác, chúng tôi phải xuống xe vượt bộ qua một cái dốc khá cao. Trời chợt đổ mưa, đường dốc, trơn trượt, phải mất cả nửa giờ chúng tôi mới lên tới đỉnh dốc. Nơi đỉnh dốc, thằng Thanh chỉ cho tôi thấy một nấm đất to như cái lô cốt và gọi đó là mả cậu Linh. Có vài người đang thì thụp khấn vái trước mả ra chiều thành khẩn lắm. Hoa quả, vàng mã, chất đầy mặt đất, mà đèn nhang thì nghi ngút mịt mù. Thanh giải thích rằng hiện tượng này mới có cách đây chừng một tháng thôi. Số là một hôm có cậu bé 16 tuổi trúng mạch được cả chục cây. Bạn cùng mũi với cậu ra về ngay sau khi chia chác. Cậu còn nấn ná đãi đằng bạn bè vài ngày sau mới dứt áo ra đi. Giầu rồi, cậu không hẹn trở lại. Cậu ôm vàng trước bụng và thuê riêng một chuyến thồ về Biên-Hòa vào buổi chiều mưa to gió lớn. Mấy ngày sau, đội xe thồ không thấy anh bạn thồ trở lại. Trên đỉnh dốc có mùi thối bay xa. Người ta tìm thấy xác cậu bé chết rữa trong rừng, ruột gan bị heo rừng moi ra ăn lê lết trên mặt đất, mùi thịt thối nồng nặc cả một khu. Cậu bé bị trấn lột, hạ sát, thủ phạm là anh bạn thồ. Dân kiếm xái thương tình đồng nghiệp nên đã lấp lớp đất mỏng che tấm thân lạnh lẽo của cậu bé đào vàng vắn số. Vài ngày sau mối đất ùn lên khiến cho mộ cậu bé thành một núi đất khổng lồ trong rừng. Khách qua đường ghé thắp nén nhang cầu cho hương hồn cậu sớm phiêu diêu…

       Người ta đồn với nhau rằng cậu linh thiêng lắm! Ai có thắp nhang, cúng quảy, khấn vái cậu, đều được cậu phù hộ mau trúng mạch, khấm khá ra về. Rồi người ta gọi cậu là cậu Linh. Vì thế cái mả ấy có cái tên là Mả Cậu Linh. Từ dạo ấy, con đường qua dốc đổi hướng, tạt sang bên trái đỉnh dốc vài chục mét để người qua đường tiện ghé thắp nhang vái cậu Linh xin phù hộ độ trì. Một chị bán quán ngoài xã, đã bỏ xã, bỏ quán, vào đây bán nhang đèn, hương hoa, ngay dưới dốc. Chẳng mấy chốc chị phất to, cổ có kiềng vàng, chuyền vàng, tay có nhẫn vàng, vòng vàng.

       Ở cái mỏ vàng Hiếu-Liêm này mỗi ngày tôi khám phá thêm một điều mới lạ. Mới dẫn “quân” vào vùng được một vài giờ, ăn xong bữa cơm, uống xong bát nước chè tươi, tôi đã thấy ruột mình sôi lên rột rột… rồi thì bụng quặn đau, đi cầu. Đi cầu xong vừa về tới lều, bụng lại lâm râm, lâm râm đau. Thằng cu Hòa dẫn tôi đi gặp ông bác sĩ An để xin thuốc. Ông bác sĩ đóng đô bên bờ suối. Cái chòi của ông chia làm hai ngăn, ngăn ngoài là nơi hành nghề y khoa vỏn vẹn chỉ có một cái chõng tre trên để một cái rương gỗ chứa thuốc men, bông, băng, alcohol, thuốc tím thuốc đỏ. Ngăn trong là tư thất với một cái giường tre, một cái bàn tre đặt cạnh cái bếp làm bằng ba cục đá suối xếp châu đầu thành ông táo. Bếp nhà bác sĩ An lúc nào cũng khói lửa nghi ngút, nồi nước nấu kim chích sôi o…o… suốt ngày. Trước chòi treo một cái biển gỗ cỡ 20 x 40 cm, nền xanh, chữ trắng, “Phòng Mạch Bác Sĩ An”. Tụi nhỏ truyền khẩu với nhau, nào là bác sĩ rất giỏi, bệnh gì ổng cũng rành, cũng trị được dứt nọc. Thêm vào đó, nếu bệnh nhân là dân đào xái bị ngã bịnh trước khi chạm xái, bác sĩ cho nợ tiền công và tiền thuốc cho đến khi xái đã lọc xong thành vàng. Bịnh nhân con nợ có thể trả công bác sĩ An bằng vàng hay tiền cũng đựơc. Nếu anh nào “mo” thì ông chữa thuốc thí công (mort, tiếng Pháp có nghĩa là chết, ý nói thất bại). Ông bác sĩ An là người sinh ra ở quê hương của Bác nên giọng ông nói nặng lắm. Năm tôi có cơ duyên gặp ông nơi rừng thiêng nước độc này thì ông đã ở tuổi trên năm mươi. Bà vợ của bác sĩ lại là người miền Nam, còn rất trẻ và trông thật hiền hậu.

       Sau vài câu xã giao, bác sĩ An nhận ra tôi là người Bắc, ông liền vồn vã hỏi han huyên thuyên: “Này đằng ý ơi! Nhìn cái phong thái của đằng ý, tớ đoán chắc rằng đằng ý không phải tay xoàng. Bộ “bảng đỏ” hả? (bảng đỏ nói lái thành bỏ Đảng) – Vô Nam lâu chưa? Gia đình vợ con ra răng? Bởi lý do chi mà đằng ý phải đày đọa như ri? Tớ cũng là dân “bảng đỏ” (bỏ Đảng) đây! Anh hùng mấy khi gặp gỡ. Ngồi đây tâm sự với nhau chơi, đừng ngại!” Ông bác sĩ bỏ Đảng đâu có biết rằng người đứng trước mặt ông lại là một cựu sĩ quan Tiểu đoàn trưởng Biệt Động Quân của QLVNCH, vừa mới được tha ra từ trại tù cải tạo. Phần thì đang bị đau bụng tháo dạ, phần thì e ngại buổi sơ giao, tôi chỉ ậm ừ cho qua câu chuyện. Sau khi cặp nhiệt, bác sĩ An hỏi tôi rất kỹ về dạng phân, triệu chứng lâm sàng. Anh nói rằng tôi là một trong số ít người có cơ thể nhạy cảm với đồ ăn thức uống có hàm lượng kiềm cao. Tại các mỏ vàng, nước giếng, nước suối có chứa hàm lượng kiềm rất cao (?) Nước suối ở đây uống hơi chát. Nếu pha trà thì nước trà cũng có màu xám xịt. Nước uống chính là nguyên nhân gây ra cái bệnh đường ruột của tôi. Muốn tránh, tôi chỉ cần ngưng uống nước trong khu này thôi, không phải dùng thuốc thang gì cả bệnh sẽ tự nó chấm dứt. Nghe theo lời chỉ dẫn của ông bác sĩ, đêm đó tôi uống nước ngọt loại chứa trong bình hai lít thay cho nước trà. Sáng hôm sau tôi hết bị Tào Tháo rượt. Thế là, cứ vài ngày thằng Chiến lại thồ vào cho Bác Hai một bình nhựa 20 lít nước suối lấy từ ngoài xã.

       Tuy xa thành phố, nhưng trong khu mỏ vàng Hiếu-Liêm này không thiếu thứ gì, từ nước ngọt, bia, rượu, thuốc lá, bánh kẹo, tới rau cỏ, thịt cá, kể cả dụng cụ đào vàng như xẻng, khiên, xà beng, cuốc chim, thuốc nổ C4 dùng phá đá, và thủy ngân (để tách vàng khỏi các kim loại khác). Có cả chục cái quán cóc cung ứng đủ mọi mặt hàng nhu yếu cho dân đào vàng. Thậm chí khi bạn trúng lớn, cần có vũ khí để áp tải số vàng kiếm được về nơi an toàn, bạn cần thuê vài khẩu K54, AK 47, bạn cứ hỏi quán cô Nghĩa là có ngay.

       Bất cứ “mũi” nào có “bãi” đều có thể mở một trang trong sổ nợ của cô Nghĩa. “Mũi” là một tổ thi công (tổ làm việc), quân số tùy nghi. Có mũi quân số đông cả chục người, khai thác hai ba giếng. Có mũi chỉ có hai cha con của một gia đình. “Bãi” là một khoảnh đất vuông mỗi chiều mười mét không hơn không kém. Muốn có bãi thì dân lùng xái phải đăng ký với xã. Thủ tục đăng ký thì như tôi đã tả ở phần trên: hai phân vàng. Thời buổi này cái gì cũng chi bằng phân, bằng chỉ. Vào tới vùng hành sự, tôi mới phát giác ra rằng chẳng cần ghé văn phòng xã xin giấy đăng ký cho phí thời giờ, mua trao tay tại hiện trường một cái giấy phép với con mộc đỏ chói cũng chỉ ba, bốn phân là cao. Ngay khi chúng tôi vừa hoàn tất công việc phát quang cái bãi mà tôi đã chọn thì một người đàn bà trung niên, giọng nói rặt Bắc-Kỳ 75 tới tìm tôi để ký giao kèo tiếp tế. Từ gạo, thịt, mắm, muối, kem đánh răng, khăn mặt, xà bông cho tới cái lều vải tiểu đội cho bốn thày trò tôi đều được thím Xuân cung cấp. Phí khoản đều ghi vào sổ nợ tên Bác Hai có đóng ngoặc (Bác Hai Bắc- Kỳ). Thím Xuân đồng ý cho chúng tôi thanh toán sau khi cạn giếng, nghĩa là sau khi đã bán xong số vàng dưới lòng đất của cái diện tích mà tôi đang căng lều hạ trại. Mười bốn năm sau chiến tranh, tôi đã sống như một tay săn vàng chuyên nghiệp trong những phim Cao-Bồi Viễn-Tây của Mỹ. Đây là chuyến trở về chiến trường xưa lần thứ tư của tôi. Oái oăm là chuyến đi nào cũng có chuyện buồn, chuyện vui để nhớ.

* * *

       Quả thực, chuyện đào vàng chẳng có gì nên thơ, mơ mộng. Ngoài nỗi khổ vì muỗi mòng, lo sợ sập hầm, lo “xái rỗng” (quặng chứa ít vàng quá) không thu hoạch được chút bụi vàng nào, phí công. Ngoài ra còn cái nguy cơ bị sang đoạt bởi những tay hảo hán thương phế binh VC có vũ khí. Khác với đất Đà-Lạt và Đơn-Dương, những nơi tôi đã kinh qua trong các lần đi khai mỏ trước đây. Cấu trúc các tầng đất ở Hiếu-Liêm làm cho dân đào vàng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, vất vả hơn nhiều so với đất vùng cao. Sau bốn, năm thước đất mùn đen thì tới đất đỏ pha đá cuội, đá tổ ong. Hết đá cuội và đá tổ ong lại tới đất pha đá giăm. Xuống sâu gần hai chục thước mới thấy đất chuyển sang màu trắng nhờ nhờ. Lúc này cũng là lúc “hi vọng vươn lên. “Đất sét mầu xám pha lẫn từng cục quặng sắt rỉ là dấu hiệu phần vỏ của lớp đất trộn quặng vàng. Đoạn đường từ miệng giếng tới lớp đất xám là đoạn đường đứt ruột, rã rời hai tay. Tôi là trưởng mũi nên không phải thay phiên “mõi” đất (đào sâu xuống lòng đất, chuyền đất lên miệng giếng). Tôi chỉ phải tản số đất đã moi lên cho gọn ghẽ. Công việc này cũng không nhẹ nhàng mà rất tốn sức, tốn công. Lớp đất đào lên trong những ngày đầu phải gánh ra đổ nơi bờ suối, cách lều cả trăm mét dưới dốc. Những ngày cận xái thì tôi chỉ việc đổ đất mới moi lên ngay nơi chúng tôi ăn ngủ. Chúng tôi làm việc gần như suốt đêm ngày. Chỉ nghỉ, ngủ vài giờ rồi lại tiếp tục công việc. Tôi phải bấm giờ để ba đứa nhỏ thay nhau mõi cho công bằng. Hai thằng đào dưới giếng, một thằng ngồi trên miệng giếng kéo gầu đất xái. Cứ hai tiếng đồng hồ chúng lại nghỉ giải lao. Thằng Thanh làm một điếu 555 thì hai đứa kia cũng gắng rít mỗi đứa một điếu. Thằng Hòa chơi một chai bia Chương Dương thì hai đứa kia cũng chơi theo ngay, mỗi đứa một chai. Chẳng đứa nào chịu phần thua lỗ cả. Tóm lại tinh thần đồng đội của dân đào vàng rất cao. Tinh thần tranh đấu cũng rất cao. Bắt tay vào việc là ăn hút cái đã! Ăn hút đồng đều, không ai ganh tị. Chỉ có cô Nghĩa và thím Xuân là lời thôi! Tôi nghĩ thầm không biết tới ngày cân lọc xong xuôi, số vàng thu được có đủ để thanh toán tiền ăn hút cho bốn người chúng tôi hay không?

       Công việc đãi xái cũng rất là vất vả. Người đãi phải cúi khom lưng cả buổi trên dòng suối, tay lắc cái khiên chao qua chao lại, giữ làm sao cho nước mới vào khiên thay nước cũ, nhả đất xuống dòng mà đừng để bột quặng trôi đi. Tụi nhỏ gọi công việc này là “múa nước”. Tôi thì tuyệt đối không có đủ cái khéo tay để làm công việc này. Tôi đành làm nghề chuyển vận và bốc xái trong bao đổ vào khiên để đồng bạn làm công việc còn lại. Khi công tác múa nước hoàn tất, thì bọn nhỏ vác bao bột quặng đi tới chòi ông Lâm Thầu người Tàu Chợ-Lớn nơi cuối dốc để mua thủy ngân và làm công tác lọc tinh vàng. Tôi lo thu dẹp rửa ráy đồ nghề, khiên, chảo, bao bì, cuốc xẻng rồi chuyển vận chúng về lều. May thay, sau khi thanh toán sòng phẳng sổ nợ cho cô Nghĩa và thím Xuân, giếng vàng đầu tiên cũng đem lại cho chúng tôi đủ số vốn hai chỉ lúc đầu tới bãi.

        Hôm sau tôi cho quân nghỉ mệt ba ngày trước khi khởi công một giếng mới. Trong ba ngày nghỉ dưỡng quân này, thằng Hòa và thằng Út thay nhau nấu cơm. Ăn sáng xong, đứa thì đi phụ đãi ngoài suối lấy công, đứa thì đi nhập sòng. Cờ bạc ở đây chỉ có món xóc dĩa. Những con bạc đặt cược bằng tiền, vàng, đồng hồ, dụng cụ khai thác mỏ. Thẻ chứng minh nhân dân đôi khi cũng có thể dùng làm vật cầm cố. Có vài ổ bán dâm dọc bên bờ suối. Trong những cái lều che bằng vải nhựa, những người con gái trẻ bán dâm trên những cái chiếu trải dưới đất. Những cô gái hành nghề ở đây không phấn son lòe loẹt. Họ cũng là những người đào xái một thời, đã “mo” nên không thèm đào nữa, đành đem thân xác cho đàn ông “đào” để kiếm cơm sống qua ngày. Họ đi la cà các bãi. Móc ngoặc được khách thì dẫn về lều. Tiền trả trước, trôn trao sau. Ra khỏi lều, người bán dâm và kẻ mua dâm lại trở thành đôi người không quen.

       Buổi trưa, tôi thả bộ lang thang dọc bờ con suối đục ngầu đất đãi xái. Dân đãi vàng làm việc cần cù, bất kể đêm, ngày. Ban ngày chúng tôi đãi xái dưới đèn mặt trời. Ban đêm, dọc hai bên bờ suối có hàng chục ngọn măng sông và đèn khí đá. Đôi khi, đêm vui hơn ngày. Nhạc từ những cái máy thu băng oang oang, bốn hướng tám phương. Nhạc vàng, nhạc kháng chiến, nhạc disco, bi kịck, hài kịch, vọng cổ xen lẫn nhau. Cùng lúc người nghe có thể thưởng thức cả giọng ca nữ đang lên Cẩm Vân, cùng giọng ca nam đang xuống Quốc Hương, xen lẫn điệu ngân xàng xê bất hủ của Thành Được và Bạch Tuyết. Lúc này khúc Lambada Nam-Mỹ đang thịnh hành. Khúc ca này đã lần mò vào tới tận rừng xanh. Mỏ Hiếu-Liêm đang ở vào thời kỳ đông đảo nhất. Lều trại đó đây, ước lượng dân số đào vàng nơi này cũng cỡ bốn, năm nghìn người là ít. Họ đến từ Phát-Diệm, họ gọi con trâu trắng là “con tâu tắng”. Họ đến từ Móng-Cái, từ Tuyên-Quang, họ nói tiếng Nùng, tiếng Tày. Họ đến từ miền Trung, giọng Quảng, giọng Huế. Họ đến từ Cà-Mau, họ chuyện trò với nhau bằng tiếng Miên…

       Mặt trời hừng hực tháng Năm. Dòng nước đầu nguồn trôi xuôi, càng về cuối nguồn càng đục. Dòng nước thành mầu cà phê sữa đặc. Người ta lội tới mắt cá, bắp chân, đầu gối. Tay khiên chao nhanh, mắt không rời những hạt vàng óng ánh trong đáy khiên. Lượng cát óng ánh nhiều hay ít là niềm vui, là nỗi thất vọng. Đủ loại người tìm sống nơi chiến trường xưa, trên con suối đục ngầu đất đỏ. Những tiếng hát cất cao, ngây ngô, giọng Bắc, Trung, Nam chen lẫn nhau. Những giọt mồ hôi đọng trên trán, trên má những khuôn mặt cháy nắng xạm khô. Những tiếng cười vô tư bên những tiếng thở dài chán chường…

       Tới cuối đồi, tôi ngừng bên những giếng vàng cũ. Dăm em bé gái trai, tuổi cỡ lên chín, lên mười, thân mình gầy guộc đang chuyền từng gàu đất xái chúng mót được lên mặt đất. Tôi tò mò hỏi, “Có khá không các em?” Một bé gái trả lời, “Tụi con mót cả ngày không đủ ăn chú ơi! Họ ‘cạo’ láng quá! ‘bợn’ còn ít lắm chú à!” Tôi xoa đầu bé cảm thông. Thương cho bé, mới tí tuổi đầu đã vất vả vì đời.

Tôi theo cái thang dây xuống thám hiểm vùng đất thế giới của Diêm-Vương. Sâu hai, ba chục thước dưới lòng đất, ở tầng quặng mỏ, vách ngăn giữa các giếng được đánh thông để lấy xái. Lớp đất sét có quặng chỉ dày chừng ba, bốn thước. Tôi đứng giữa một căn hầm rộng mênh mông. Mặt đất dưới chân tôi bị cạo sạch sành sanh. Trên trần là lớp đất sét trộn đá giăm, dưới nền cũng là đất sét pha đá giăm. Không khí dưới đáy giếng lạnh lẽo vô cùng. Ánh sáng mặt trời từ trên cao theo những lỗ giếng chiếu xuống đáy như những ngọn đèn pin trắng. Ngửa mặt nhìn lên, chỉ thấy một khoanh trời xanh xa tít, lâu lâu bay qua vài sợi mây trắng.

       Những em bé đang mót xái cách tôi không xa, vậy mà tôi không nghe được tiếng chúng nói chuyện. Xái dưới chân không còn. Chúng dùng xẻng đâm ngược lên tầng vách đất trên đầu, hi vọng tìm được những cục quặng vàng lẫn trong đất đá trên trần hầm. Những bé con đang tìm miếng cơm dưới chân Thần Chết! Có lúc đất đá sụp từng khối trên đầu chúng khiến bọn nhỏ hoảng sợ chạy dang vội ra xa. Chờ vài giây, chúng trở lại bới vét đống đá tìm những cục xái còn sót, gom thành từng cụm rồi chuyển vận lên mặt đất. Khi bọn nhỏ đi khỏi, căn hầm im lặng như tờ, không cả tiếng côn trùng. Tôi chợt nghĩ, chỉ cần một chấn động nhỏ trên mặt đất là cả khu rừng nặng hàng triệu tấn trên kia sẽ đổ xụp xuống lấp kín căn phòng khổng lồ này trong giây phút. Tôi đảo người quan sát một vòng, tôi có cảm tưởng như đang đứng dưới một bầu trời đầy mây đen kịt mênh mông. Đất dưới chân tôi bốc hơi lành lạnh. Tôi thấy hai ống chân mình có vẻ như muốn mềm nhũn từ từ. Quanh tôi không có ai. Quanh tôi im lặng quá. Tôi chợt rùng mình. Tôi tìm sợi dây thang, vội vàng leo nhanh lên miệng giếng.

       Mặt trời xế bóng, có ba người đàn ông đeo mỗi người một cái túi đựng đầy hàng hóa bên hông. Họ đang đứng trước lều của ông bác sĩ An hỏi han điều gì đó. Tôi thấy bác sĩ An và họ nói chuyện với nhau bằng tay, miệng bốn người xí xô om xòm. Khi tới gần tôi nhận ra ba người lạ là người Thái-Lan. Họ nói chuyện bằng Anh Ngữ, họ hỏi xem có ai biết tiếng Anh thì giúp việc họ bán những cái poncho line hoa hòe. Họ sẽ trả công mười lăm nghìn một ngày. Thấy không có ai lãnh việc này, tôi tình nguyện làm việc với họ. Giao kèo chỉ có một ngày thôi vì ngày kia tôi đã bắt đầu một giếng mới không thể đi theo họ được. Sáng hôm sau tôi nhận tiền thù lao trước, làm việc thông ngôn sau. Ngày hôm ấy chúng tôi đã đi qua hết cái diện tích của mỏ vàng Hiếu-Liêm, từ đầu dốc Cậu Linh cho tới triền đồi hướng tây, nơi những cây nọc phân khu mới đóng ranh. Giấy phép khai thác khu đất này chưa được phổ biến. Chúng tôi la cà từ giếng này sang giếng khác. Tôi thông dịch chuyện mua bán thì ít, mà thông dịch những câu hỏi về thời thế, gia cảnh của dân mõi xái thì nhiều. Những người Thái có vẻ thích nghe chuyện lạ bốn phương hơn là việc mời chào khách hàng. Người Thái-Lan lớn tuổi nhất cẩn thận ghi chép những điều ông ta nghe được vào quyển sổ tay dày. Lâu lâu ông lại dở ba lô lấy cái máy ảnh nhỏ chụp hình hoạt cảnh đang diễn ra trên khu khai thác mỏ. Đi từ sáng tới chiều chúng tôi chỉ bán được vài cái mền. Ban đêm ở đây cũng lạnh lắm, nhưng những kẻ đào vàng khốn khổ như chúng tôi thì đâu có thời giờ để ngủ mà cần tới mền? Trước khi chia tay chiều hôm ấy, tôi chỉ dẫn cho những người Thái thương buôn con đường lên cao nguyên để bán chăn nylon. Họ có vẻ không thiết tha lắm với việc lên Đà-Lạt rao hàng.

       Hỏi ra, tôi được biết người cao niên nhất trong bọn họ là một cựu chiến binh thuộc Sư đoàn Mãng-Xà-Vương của Quân đội Hoàng-gia Thái-Lan, một đơn vị đồng minh đã có lần hiện diện ở Long-Thành thời chiến tranh. Chuyến đi này của ông không có chủ đích buôn bán, mà chỉ mượn cớ về thăm nơi chiến trường xưa thời tuổi trẻ. Ông ta đang trên đường tìm hứng để viết lại hồi ký đời ông. Ông ta hi vọng thiên hồi ký này có thể đem về một số tiền nhuận bút lớn lao, đủ cho ông sống dưỡng già. Tôi không thiết tha lắm với đám người này, vì tôi vào lại chiến trường xưa chỉ với mục đích tìm gạo sống qua ngày, tôi không có gì hứng thú với việc trở về rừng tìm ý viết văn như họ. Chiều ấy chúng tôi chia tay.

       Tôi về tới lều thì thằng Út kể cho tôi nghe chuyện chị bán nhang đèn bị cướp. Chiều qua trên đường về nhà chị bị phục kích giữa rừng. Lúc chiếc Honda hai bánh của chị đổ dốc thì kẻ gian đã giựt một sợi dây dù căng ngang con đường xe be vừa hẹp vừa rậm rạp. Chiếc xe bổ nhào. Từ bìa rừng, hai người đàn ông bịt mặt bằng áo thun đen ào ra lôi chị và chiếc xe vào sâu trong bụi lau. Chúng trói chị lại, nhét giẻ vào miệng chị, lột hết nhẫn, vòng, kiềng, cà rá và cả đôi bông tai vàng của chị. Chúng vứt chị nằm trên đám cỏ lác cho kiến tha, rồi leo lên xe Honda của chị nổ máy chạy đi mất tiêu. Chị hì hục suốt đêm mới tự cởi trói được. Chị lết ra tới giữa đường nằm chờ người đến cứu. Gần sáng, có mấy tay bảo tiêu có súng, sau khi chuyển xái về nhà thân chủ, trên đường trở lại rừng, họ thấy chị nằm giữa đường bèn cứu chị về bãi. Chuyện chị nhang đèn bị cướp chắc cũng được truyền khẩu trong dân gian vùng mỏ này được vài ngày. Ngày sau, tuần sau người ta lại quên chuyện ấy thôi. Ở đây, mỗi ngày xảy ra cả trăm vụ lộn xộn. Đủ thứ chuyện tào lao.Tôi nghe tụi nhỏ kể lại, tôi cũng chỉ ậm ừ cho qua! Chẳng hứng thú tìm hiểu thêm làm gì. Đụng độ trong cái chợ trời này là chuyện thường ngày. Qua đường, vô ý chạm vai một yêng hùng, nếu không có lời xin lỗi kịp thời có thể gây nên cảnh sứt đầu lỗ trán. Vô tình ném cái tàn thuốc lá trước mặt một tay chơi cũng là hành động châm ngòi cho một cuộc chiến tranh. Ngoài ra, còn cả ngàn nguyên nhân gây ra ẩu đả. Đánh nhau vì gái, vì cờ bạc, vì chia chác phần hùn, vì mõi xái lấn lằn ranh, và vì vân vân… Cái khó bó cái khôn, cái khổ làm con người dễ dàng nổi khùng, rồi trút cái khùng ấy lên đầu đồng loại.

       Một hôm, tôi vừa đổ gầu đất xuống bờ suối, quay lưng định trở về giếng làm chuyến kế tiếp thì nghe có tiếng đàn ông quát tháo,”Mày không nộp hết túi vàng cục đó cho tao thì tao vặn họng mày!” Tò mò tôi dừng lại quan sát. Bên bờ suối, một hảo hán to lớn đang kẹp cổ một cô gái cỡ mười bốn mười lăm tuổi. Tay anh ta lần mò trước ngực cô giành giựt cái gì đó. Cô gái vừa cố ôm chặt cái túi áo vừa khóc lóc, “Em lạy anh, vốn liếng đào đãi cả tháng nay, em chỉ có ba chỉ. Mẹ em đang bịnh nặng chờ ở nhà. Anh mà lấy hết thì em không còn tiền thuốc thang cho mẹ em. Mẹ em chết mất! Em lạy anh ngàn lạy. Em làm đứt dây lều của anh, em đã thay bằng dây dù loại xịn đền cho anh rồi. Anh tha cho em, anh ơi! hu..hu…hu…” Người đàn ông nắm tóc cô gái mà quay, hắn nghiến răng,”Tổ mẹ mày! Dây lều của tao, mày phải đền bằng thứ dây ‘gin’. Tao không chịu cái thứ dây dù đó. Ở đây cái gì cũng tính bằng vàng. Không đền tao giết!” Vừa nói hắn vừa đấm đá túi bụi vào ngực, vào mình cô gái đáng thương.

       Cuối cùng, hắn chộp được cái túi nylon dấu trong áo ngực của cô gái. Người thanh niên bỏ bao vàng vào túi rồi buông cô bé ra. Cô bé mặt mũi đầy máu, ôm lấy chân anh thanh niên, nắm chặt vạt áo hắn, cô cố gắng giựt lại cái túi nylon. Người đàn ông liên tiếp đấm đá cô gái. Hắn tìm đủ mọi cách thoát khỏi bàn tay cô gái. Cuối cùng hắn quật cô bé lăn quay ra đất rồi nhổm mình định chạy đi. Cô gái vội nhào vào ôm chặt chân chàng hảo hán, miệng cô la bải hoải,” Bà con cô bác ơi! Cứu con! Người ta ăn cướp vàng của con. Ăn cướp! bà con ơi!” Thấy tôi đứng nhìn, cô bé cầu cứu, “Chú ơi! cứu con với! anh này cướp vàng của con chú ơi!” Tôi chưa biết tính sao, thì tay hảo hán đã hăm he, “Này! Đừng có dính vào nghe cha! Coi chừng lỗ mũi ăn trầu đó!” Tôi xua tay, nhẹ giọng,”Chuyện đâu còn đó. Anh cứ thủng thẳng mà giải quyết. Sao lại nặng tay với phụ nữ như thế, ngó sao được.” Nghe vậy, người thanh niên nộ khí xung thiên,”Đ.M! Mày có phải ông nội tao không mà lên mặt dạy khôn tao? Tao uýnh chết mẹ mày bây giờ!” Đúng là cái ách giữa đàng! Tôi phân bua với những người đồng cảnh đang đãi xái dưới suối,”Bà con nghe có được không? Tôi thấy đàn ông ăn hiếp đàn bà thì tôi có ý kiến. Anh này hàm hồ, hỗn hào như vậy thì bà con tính sao?” Bà con chưa nói gì thì anh hảo hán đã dấn cho tôi một bạt tai khiến mắt tôi nổ đom đóm. Anh co cẳng bồi thêm một cái đạp ngay hông tôi; tôi té bò càng bên bờ suối. Tôi vừa lồm cồm bò dậy lại bị thêm một cái tát ngay má phải. Thế là, tôi chẳng còn nghĩ hơn thiệt, phải trái gì nữa. Tai tôi đã ù, mắt tôi đã đổ lửa. Tôi không kìm được tiếng rú man rợ thoát ra từ miệng mình, “A! …A!…A!…!!!”.

       Tôi hất đôi quang gióng xuống đất. Cái đòn gánh trở thành cây côn. Cái đầu côn thốc lên một đòn rất nhuyễn và thuần thục. Bài côn Bình-Định do một võ sư xuất thân từ quê quán của vua Quang-Trung truyền dạy cho tôi ở Pleiku thời 1966-67 đã bị bỏ quên nhiều năm, nay được đem ra thi thố giữa rừng xanh. Mũi côn vừa thọc trúng hàm đối phương thì tôi tự động tạ người xuống thấp, tay tôi xoay cây côn một vòng trên đầu lấy đà. “Vèo!” cây côn chúc xuống quét sát mặt đất, cắt ngang ống quyển tên thảo khấu. Bị liên tiếp hai đòn chí tử, chàng hảo hán qụy gối xuống. Phát côn thứ ba, bổ xuống từ trên cao trúng vai anh ta, kết thúc bài học vỡ lòng “Tam Côn Khai Môn”- Đó là bài đầu trong ba mươi sáu bài “Đoạt Mệnh Côn” Bình-Định, bài nào cũng kết thúc bằng một thế sát thủ. Theo đúng bài bản, thì phát bổ xuống phải nhắm ngay đỉnh đầu địch thủ, nhưng tôi chợt hồi tâm, nhích tay cho nó chệch sang bên, dù sao thì anh ta cũng không phải là một tên lính Mãn-Thanh! Lúc này vị hung tinh rũ người xuống như cọng bún. Tôi bước lên một bước, tay phải vặn ngược tay trái anh ta ra đàng sau. Anh đang cố gượng đứng lên, nhưng đành tự động quỳ xuống, khi tôi xoay tay anh một vòng chín chục độ theo chiều kim đồng hồ. Mặt anh nhăn nhúm vì đau. Mồ hôi anh chảy ròng xuống má. Tôi nghe anh ta rên, “ư! ư! ư!…” trong họng. Bà con tụ tập kín xung quanh la ó như cái chợ, “Đánh chết mẹ nó đi! Đồ ăn cướp!” Tôi móc túi anh lấy cái túi nylon đựng mấy cục vàng ròng đưa cho cô bé. Cô bé vội vã bỏ vàng vào túi, miệng lúng búng “Cám ơn chú!” rồi cô ta cắm đầu vụt chạy về hướng dốc cậu Linh khuất bóng. Đợi cho cô bé chạy đã xa, tôi mới buông tay anh thanh niên ra. Tôi đẩy nhẹ, anh ta ngã chúi về phía trước. Tôi chống một đầu đòn gánh sát mũi chân phải. Bàn chân phải sẵn sàng hất cái đòn gánh lên cao phòng hờ một đòn phản ứng cấp thời. Nhưng anh thanh niên không còn hung hăng nữa. Anh lết mình trên cát như con chó đánh hơi thấy mùi cọp. Anh ta gắng lết cho xa đầu ngọn côn. Anh nhìn tôi với đôi mắt lạc thần. Anh lượm vội đôi dép râu Trường-Sơn rồi ù té chạy về phía con dốc hướng tây, nơi đầu nguồn con suối. Tôi đứng nhìn theo bóng anh ta, lòng chùng xuống, man mác buồn. Tôi tự cảm thương cho cái thân tôi! Cạn ao, bèo xuống đất, tôi đang tranh sống trong một thế giới không luật pháp, không cả tình người. Đâu có ngờ, cuộc đời tôi lại có ngày bị đẩy đưa đến cái khúc quanh thê thảm này!

       Đấy! Cuộc sống của dân Gold-seeker miền Nam vào thời 88-90 đại để là như thế đấy! Muốn nghĩ rằng nó nên thơ, thì nó nên thơ. Nếu cho rằng nó thảm sầu, thì quả thực nó quá thảm sầu. Thời gian thì cứ trôi. Mặt trời lặn rồi lại mọc. Ngày nào cũng là quá dài, đối với những kiếp người sống đọa đày trầm luân trong tăm tối, không tương lai. Tôi nghĩ đến thân phận mình và đồng bào mình. Chỉ vì cái ngày ba mươi tháng Tư năm ấy, chúng tôi đã đánh mất đất nước, mà cả đất nước tôi thành một trại tù khổng lồ. Năm 1988 ra khỏi cái nhà tù con, tôi lại cùng những người khốn khổ nhất của đất nước này tranh sống trong một nhà tù lớn.

* * *

       Chúng tôi khởi công đào giếng vàng thứ nhì vào một buổi sáng trời u ám lất phất mưa rơi. Mặt trời bị mây che kín mà rừng già thì tối om. Tôi gắng chuyền nhanh từng gầu đất, nặng như những gầu bùn khi đi tát ruộng đào ao thời còn lao động khổ sai trong trại cải tạo Nam-Hà A, Z30C, hay Z30D. Mồ hôi che mờ con mắt. Mồ hôi chảy ròng ròng xuống má, qua cằm, xuống ngực. Mồ hôi làm nóng lớp da bụng. Mồ hôi chảy xuống ướt cả cạp quần. Đúng Ngọ, gió chợt ngừng, tôi nghe như có ai đó vãi từng đợt đá sỏi trên tàng cây cao. Mưa đá! Những cục nước đá nhỏ bằng hạt ngô nhảy tưng tưng từ đọt lá này xuống đọt lá khác, rơi vãi trên nền đất mới. Thoáng chốc, mặt đất đã trắng xóa vì mưa đá. Hạt mưa đá lớn dần, bằng hạt đậu, bằng trứng cút, rồi bằng trứng gà. Trời tối thui, và nhiệt độ hạ rất nhanh. Da bàn tay tôi săn lại vì lạnh. Những vết vân tay nổi rõ lên màu bạc nhợt nhạt. Tôi thấy gai ốc nổi cùng người. Tôi cảm như bầu trời là một tảng băng khổng lồ đen kịt đang phà khí lạnh xuống những tàn cây trên đầu. Ôi! Sao trời lạnh thế! Giữa trưa, tháng Năm…

       Trên đồi, những dòng nước bắt đầu len lách quanh gốc cây. Những dòng nước đỏ ngầu tìm đường xuống dốc. Nước bắt đầu đổ ào ào vào miệng giếng đang đào. Tôi cho quân tạm nghỉ. Chúng tôi dùng một tấm vải nhựa che trên miệng giếng. Khi ba đứa nhỏ đã leo lên khỏi miệng giếng chui vào lều, tôi mới theo chân chúng ngồi bó gối nơi cửa ra vô. Tôi mồi một điếu thuốc Cửu-Long, nhìn những hạt mưa đá lăn trên mặt đất, nghĩ ngợi mông lung…

       Nhớ chuyện cũ, ở chân núi hướng đông của ngọn Lap Bé Nord, Đà-Lạt, một ngày đầu hạ năm 1965, cũng có trận mưa đá bất chợt như hôm nay. Những viên nước đá to như quả trứng gà vãi trên tàn thông năm lá, rồi lăn tưng tưng trên nền cỏ, bên miếu Thần-Hổ, trời lạnh quá, giữa trưa, tháng Năm…

       Một thằng bạn sinh viên sĩ quan cùng đại đội còn điếu Oakland cuối cùng, chuyền tay nhau năm đứa. Khói thuốc ngọt như mật. Điếu thuốc được chuyền nhanh qua những ngón tay ướt và trắng bệch vì lạnh. Hình như hôm ấy không một sợi khói nào kịp bay thoát trong không trung. Khói thuốc chui vào buồng phổi tuổi trẻ. Những lá phổi còn trẻ khỏe đầy sức sống. Những lá phổi hút từng ngụm khói thuốc gọn gàng dứt khoát, như tấm giấy thấm loại thượng hạng ép trên giọt mực tím rơi trên giấy trắng học trò ngày thơ ngây tiểu học. Điếu Oakland qua tay năm chàng tuổi trẻ, sinh viên sĩ quan khóa 20 Đà-Lạt. Trời lạnh quá! Khói thuốc chưa kịp bay thì điếu thuốc đã tàn…

       Ngày ấy, sau cơn mưa, chúng tôi tiếp tục bài chiến thuật “Tiểu Đoàn Phản Phục Kích” trên đoạn cua chữ “U” bên đồi 1441 đất đỏ, thông xanh. Con đường uốn khúc quanh co. Những anh lính “Kà” giả địch dấu mình dưới bụi sim hoa tím, lúc nào cũng chuẩn bị câu, “Tôi đầu hàng rồi! Đừng bắn nữa ông Thiếu úy ơi!” khi chúng tôi oai dũng tiến về phía họ ẩn nấp, sau một pha xung phong phản phục kích tuyệt vời qua màn khói đỏ, khói vàng, khói trắng, khói tím, khói xanh, và khói đạn mã tử!

       Rồi Đại úy Mỹ phê bình trận đánh một cách tổng quát. Rồi Trung úy Đức rút ưu khuyết điểm. Cứ thế, hai năm dài, lặp đi, lặp lại . Những bài lý thuyết với những trường hợp xử lý, những câu giải đáp a, b, c khoanh. Những buổi thực hành trên đồi thông Đà-Lạt, đương đầu với địch giả, trong màn khói đạn mã tử. Những buổi dạ hành, xuyên đêm. Những chuyến di chuyển địa hình tìm cọc mốc dưới trăng. Những phiên gác đêm đông sương mù lạnh lẽo trên đồi Bắc. Tất cả những kinh nghiệm tự tin đó đã gom góp lại làm vốn liếng hành trang cho những người trẻ tuổi lớn dần, rồi trưởng thành, vững tâm đi vào chiến trường. Ôi thời gian qua như tên bay! Đã có biết bao nhiêu lần mưa đá kinh qua trong đời. Năm thằng tuổi trẻ chuyền tay điếu Orland ngày nào, thì một thằng thành phế binh, ba thằng đền nợ nước. Hai mươi bốn năm sau lần mưa đá ấy, còn lại mình tôi, một Kẻ Săn Vàng…

       Trời gầm trên ngọn cây. Chớp giật liên hồi. Mưa như cầm chĩnh đổ. Cứ như vậy suốt đêm và kéo dài cho tới chiều hôm sau, mưa mới nhẹ hạt dần. Nước đã tràn qua bờ be miệng giếng. Nước cuốn trôi xuống chân đồi những gì cản đường. Dòng suối hiền hòa hôm qua, nay trở thành con sông nhỏ chở đầy củi cành rác rến, nước đỏ ngầu. Tôi cứ ngồi bó gối nhìn ra ngoài trời. Điếu thuốc này tiếp nối điếu thuốc khác trên môi, tôi ngồi nghĩ vẩn vơ toàn những chuyện ngày xưa. Trời càng về chiều càng lạnh hơn. Đêm đó tôi bị cảm lạnh. Trong lúc cơn sốt rét rừng hành hạ tôi, thì ngoài kia mưa vẫn rơi. Nhưng rồi chuyện gì cũng qua. Mấy hôm sau mặt trời lại trở về soi những tia nắng ấm trên cuộc đời những kẻ bất hạnh nhất trần gian. Chúng tôi bắt đầu trở lại. Những giọt mồ hôi lại đổ xuống mảnh đất chiến trường xưa. Những gầu đất tiếp tục khơi sâu lòng giếng. Từ quán cô Nghĩa vang vọng lại giọng hát ngọt ngào thuở nào, Khánh Ly,”Trời ươm nắng cho mây hồng… Mây qua mau, em nghiêng sầu…Ngoài kia lá như vẫn xanh …” Tôi chợt thấy một niềm vui nhỏ nhen nhúm trong lòng, nơi rừng thiêng nước độc này, chợt phút giây, tìm lại được cái gì đó gần gũi, ấm cúng ngày cũ. Giếng đã cạn đá sỏi, bắt đầu vào lớp đá giăm, chúng tôi mừng vui vì sắp tới ngày “hi vọng vươn lên” của giếng vàng thứ nhì.

       Đã đến ngày chúng tôi bắt đầu công việc gom xái. Xái chuyển tới mặt đất thì được đóng thành bao, chất quanh lều. Sau đó chúng tôi mới từ từ chuyển xái xuống suối để đãi lấy tinh. Với dân đào vàng thì ngày này là ngày hạnh phúc nhất. Tôi cầu mong đợt thu hoạch kỳ này sẽ khấm khá hơn lần trước. Giếng bên cạnh của hai cha con ông người Quảng mới trúng bảy cây. Giếng của chúng tôi sát nách giếng cha con nhà ấy, có rẻ cũng được năm cây! Tôi nhẩm tính trong đầu, chi phí đâu đó xong xuôi, mỗi người chắc mẩm có cả cây bỏ bọc! Tôi nghĩ đến đàn con đang ở Sài-Gòn chờ tin tôi, như những con chim non đang trông chờ con chim mẹ kiếm mồi… Tôi mơ màng hình dung trước mắt, một mâm cơm gia đình có canh, có cá. Tôi nghĩ tới tuần sau, khi tôi mang vàng về, các con tôi sẽ có tiền trả tiền học. Tôi sẽ mua thêm vài tấm tôle nhựa để che những lỗ dột trên lầu cho lũ con đỡ ướt lúc gió mưa. Tôi sẽ mua dự trữ một số chỉ thêu để con gái tôi có sẵn chỉ mà thêu hàng cho khách đặt hàng thêu. Tôi sẽ mua một cái máy thu thanh cho bọn nhỏ học Anh Văn. Vợ tôi sẽ mua để dự trữ sẵn trong nhà một tạ gạo, vài chai nước mắm, phòng đói cho con…

       Trời hừng đông, người ta bàn tán với nhau rằng, ngày mười chín tháng năm, ngày sinh của “Bác”, Huyện đội sẽ cho cán bộ bất thần vào kiểm tra an ninh khu vực khai thác vàng này. Tin tình báo nhân dân nhanh thật! Hèn nào mới gà gáy sáng, tôi thấy đã có mấy anh thanh niên hì hục chuyển hai thùng súng đạn từ cái quán của cô Nghĩa đem phân tán đi đâu đó không ai rõ.

       Sáng sớm, thím Xuân đem lên một con gà trống đã luộc chín và một nồi xôi đậu xanh. Chúng tôi lần lượt thắp nhang khấn vái cám ơn Thổ địa đã phù hộ. Sau khi ăn sáng, chúng tôi chuẩn bị đánh giây đai những bao xái để dễ dàng chuyển vận. Khoảng mười giờ sáng, nơi đầu dốc cậu Linh có tiếng súng bắn chỉ thiên, một cái loa cầm tay oang oang ra lệnh, “A lô! A lô! Ai ở đâu ở tại chỗ! Có đoàn kiểm tra an ninh kinh tế của huyện thi hành nhiệm vụ thanh lọc. Yêu cầu bà con sẵn sàng xuất trình giấy phép khai thác củi cho nhân viên chính quyền. Đây là công việc bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con. Xin bà con cứ yên tâm sinh hoạt bình thường, đừng gây lộn xộn. Hãy tiếp tay với chính quyền củng cố an ninh huyện nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ-Tịch! A lô! A lô!” Thằng Thanh ghé tai tôi nói nhỏ, “Con với thằng Hòa phải tránh mặt, vì tụi con trốn nghĩa vụ. Bác Hai và thằng Út ở lại trông coi bãi xái. Hết động, tụi con trở lại.” Sau đó nó và thằng Hòa lủi vào rừng mất hút. Tiếng loa oang oang tiến lại gần. Nhạc vàng vụt tắt. Trên đồi, vài dân mõi vàng dấu vội những bao xái trong lùm bụi. Có người ném các bao xái xuống giếng rồi ném cành lá lên trên che đi. Tôi chưa biết phải làm gì thì những cái nón cối xanh đã nhấp nhô đó đây. Dẫn đầu đoàn bộ đội là một sĩ quan cấp lớn của quân đội nhân dân. Đầu hắn đội cái nón cối rất mới, sao vàng sáng chói, bên hông có K 54, tay có đổng (đồng hồ), vai có đài (radio), có cặp, mắt có kiếng râm. Miệng hắn toe toét cười khi đi ngang qua các quán lều. Cái quân hàm màu đỏ trên cổ áo hắn với một ngôi sao và hai gạch vàng (Thiếu tá) cho tôi biết lực lượng kiểm tra hiện diện trong vùng này cũng phải cỡ trên dưới một tiểu đoàn. Như vậy là vòng ngoài, vòng trong đều có bộ đội, không rõ tụi thằng Hoà, thằng Thanh có lọt thoát không?

       Hai hàng quân triển khai dọc hai bên bờ nam bắc của con suối. Những tên lính Cộng sản, AK cầm tay, lưỡi lê đầu súng, mặt lạnh như tiền. Chúng đóng trụ, từng tổ hai đứa. Tổ này cách tổ kia khoảng hai chục thước, trải dài theo con đường mòn bên bờ chờ lệnh. Công việc kiểm tra bắt đầu với việc trình giấy phép khai thác rừng. Từng toán ba người đến mỗi bãi hỏi giấy phép. Sau đó họ làm biên bản, bắt người trưởng mũi ký tên. Có vài người bị đưa đến tập trung hướng bên kia đồi, nơi cuối dốc, ở đó có một khoảng đất bằng phẳng với những súc gỗ cũ mục. Mỗi toán kiểm tra gồm ba bộ đội thì có một tên là sĩ quan, từ một sao một gạch, tới bốn sao một gạch, tức là từ Thiếu úy tới Đại úy. Tôi nhủ thầm, “Gớm! Sao mà quân đội nhân dân có nhiều sĩ quan dữ vậy!” Một Thượng úy Cộng Sản và hai tên bộ đội tiến tới lều tôi. Mắt chúng sáng lên khi thấy hai dãy gần ba chục bao xái đã đóng bì gọn ghẽ. Với giọng Miền Trung tên Thượng úy trưởng toán hỏi tôi, “Giấy phép khai thác rừng của anh mô? Đưa tui coi!” Tôi trình cái giấy phép mới mua lại tại bãi tuần trước với cái giá ba phân vàng. “Chứng minh nhân dân của anh mô?” Tôi nhỏ nhẹ, “Vì ở đây không an toàn nên tôi để chứng minh nhân dân ở nhà.” Người sĩ quan Cộng-Sản nhăn mặt, “Anh nói năng chi lạ rứa? Anh ở ngoài Bắc mới nhập phải không?” Tôi chống chế, “Không, tôi ở trong Nam lâu rồi, nhà tôi ngoài bến phà mà! ” Hắn không để ý gì tới lời tôi nói. Quay qua một tên tùy tùng, hắn ra lệnh,”Dẫn anh này ra bãi tập trung, giao cho đồng chí Quang.” Tôi quay qua định dặn dò thằng Út đôi điều thì thằng nhỏ đã trốn mất tự lúc nào! Tôi đi trước, khẩu AK và cái lưỡi lê đi theo sau lưng. Trên đoạn đường tới bãi, tôi còn gặp cả chục người cùng hoàn cảnh nên lòng cũng không lo lắng lắm.

       Khoảng gần hai trăm người chúng tôi bị tập trung nơi bãi cây. Nơi đây có một cái lều vải dã chiến vừa được dựng lên vội vã. Có một cái bàn gỗ đặt trước cửa lều. Một Đại úy Cộng-Sản đang ngồi trên ghế nhâm nhi ly cà phê đen. Tên bộ đội đẩy tôi về phía bàn giấy và ra lệnh, “Anh trình diện Thủ trưởng Quang đi! ” Tôi chưa kịp bước lên thì tên sĩ quan Cộng-Sản đã xua tay, “Thoải mái! Thoải mái! Anh cứ thoải mái ra nghỉ ngoài kia, chờ chúng tôi nghiên cứu vấn đề rồi sẽ giải quyết sau. Nhớ đừng tìm cách thoát ly đó nhé! ” Sau đó hắn to giọng để những người khác cùng nghe, “Các anh chỉ được di chuyển trong vòng đai đánh mốc bằng dây thừng này thôi! Ai tìm cách thoát ly thì chúng tôi không chịu trách nhiệm bảo toàn tính mạng đấy nghe không!” Đám người bị câu lưu nghe lời hăm dọa mà xanh mặt. Những tên lính Cộng Sản canh gác bốn góc bãi thì vẻ mặt khó đăm đăm. Những họng AK lúc nào cũng lăm lăm chĩa vào đám đông như sẵn sàng nhả đạn. Gần hai trăm người chúng tôi ngồi trên cát, trên cỏ, nhịn đói, nhịn khát trong thời gian năm, sáu tiếng đồng hồ. Tới xế chiều thì viên Thiếu tá trưởng đoàn kiểm tra xuất hiện. Hắn vẫn toe toét cười, “Thế nào? Bà con có khoẻ không? Chờ đợi lâu thế này chắc là bà con đói bụng rồi đấy! Thôi nhé! Mình tranh thủ làm nhanh nhanh công tác kiểm điểm để bà con về nghỉ mệt. Thì giờ là vàng ngọc mà! hì! hì! hì!…” Mọi người thở ra nhẹ nhõm. Tình hình có vẻ không đến nỗi căng lắm! Vài người trong bọn tôi bạo gan giở thuốc lá ra hút trong khi chờ đợi viên Thủ trưởng đoàn kiểm tra giải quyết vấn đề. Viên Thiếu tá Cộng-Sản đưa từng xấp giấy có in sẵn mẫu cho bốn tên đàn em đem phân phát cho mỗi người chúng tôi một bản. Đó là mẫu tự khai và kiểm điểm, trong đó chúng tôi phải ghi rõ họ tên, quê quán, nghề nghiệp, ngày sinh, tháng đẻ. Về mục kiểm điểm thì tùy từng người; người không có chứng minh nhân dân thì hứa lần sau sẽ đem theo giấy tờ theo mình khi đi xa nhà; người không có giấy khai thác củi thì hứa lần sau sẽ xin giấy phép trước khi vào rừng. Nhiều ông trưởng mũi không biết đọc, biết viết, phải nhờ người khác giúp đỡ. Tôi khai tên mình là Nguyễn văn Hai, sinh quán Hà-Đông, nghề nghiệp thợ mộc. Tôi nộp tờ tự kiểm của anh chàng Nguyễn văn Hai, Hà-Đông, thợ mộc trên bàn rồi lui ra đứng lẫn vào đám đông. Những tên bộ đội canh gác an ninh lúc đó đang tháo gỡ căn lều dã chiến. Chúng nó chuẩn bị thu quân.

       Sau khi dồn đống giấy kiểm điểm của chúng tôi vào ba lô, tên Đại úy phụ tá xách cái ba lô đó đi về hướng dốc Cậu Linh. Hắn vừa nhún nhảy đi, vừa huýt sáo miệng điệu nhạc Lambada Nam-Mỹ. Viên Thiếu tá Cộng-Sản trưởng đoàn trịnh trọng hắng giọng lấy hơi rồi tuyên bố, “Nhân danh trưởng đoàn kiểm tra nhân dân, tôi khen ngợi các anh đã thành khẩn nhận lỗi và hối lỗi. Nhân ngày kỷ niệm sinh nhật của Bác Hồ, tôi châm chước cho các anh ra về. Nhớ lần sau chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định khai thác rừng của huyện và không được vi phạm nữa nghe không!” Mọi người vỗ tay cảm động. Đôi người còn đến mời thuốc lá và xin bắt tay tên sĩ quan trưởng đoàn. Tôi cũng thở phào nhẹ nhõm. Tôi nói với một người đồng cảnh trên đường trở về bãi, “Chắc lệnh trên ban xuống, bắt tụi nó kiểm tra, thì tụi nó cũng làm cho có lệ vậy thôi, chứ ăn cái giải gì mà khó dễ tụi khố rách áo ôm như mình!” Ông đồng cảnh của tôi cười khẩy, “Chắc tụi nó có nhận trà nước chia chác của xã, nên mới dễ dãi với mình. Lần trước tụi nó dọn sạch cả đồ nghề, khiên, bao, xẻng, cuốc, chẳng còn gì. Để về bãi mới biết kết quả ra sao anh ơi!”

       Tôi về tới bãi cũng là lúc tụi thằng Thanh chạy bát nháo đi tìm tôi. Thằng Thanh và thằng Hòa cùng vài trăm người không giấy tờ khác trốn trong khu hầm mỏ cũ suốt bốn, năm tiếng đồng hồ. Chẳng có ma nào thèm tìm đến vây bắt bọn họ. Khi bộ đội đã rút đi, có người thông báo, tụi nó mới về lều. Nghe thằng Út nói Bác Hai bị điệu ra bãi tập trung thì tụi nó lo lắng cuống quýt chạy đi tìm. Thằng Út nói lúc bộ đội dí súng bắt tôi đi thì nó chạy sang lều bác sĩ An, giả đò đau bụng để theo dõi diễn tiến ra sao. Chờ yên việc nó mới dám mon men về lều. Rồi nó mếu máo,”Bác Hai ơi! Xái của mình bị tịch thu hết rồi! Bộ đội đã khiêng đi hết rồi!” Tôi nhớ lại, khi lên nộp tờ kiểm điểm trên bàn của tên Thiếu tá Cộng sản trưởng đoàn, tôi tình cờ nghe y dặn dò tên Đại úy phụ tá, “Đồng chí nhớ cho người khẩn trương đãi xái ngay tối nay, bên huyện ủy chia cho cánh mình nột nửa số thu hoạch kỳ này đó!” Thì ra cuộc càn quét này, mục đích của huyện là lấy vàng. Trong thời gian chúng tôi bị giữ ngoài bãi súc sau đồi thì lực lượng vũ trang huyện đã lùng sục khắp các bãi. Tất cả xái đã khai quật đều bị tịch thu đóng bao khiêng đi hết. Có cả chục cái xe tải chờ sẵn ngoài dốc cậu Linh để chở đi những tấn hàng béo bở. Cán bộ giải thích với dân đào vàng rằng, huyện cho giấy phép “khai thác rừng” chứ không phải để khai thác quặng mỏ. Quặng mỏ là tài sản của nhân dân, đào vàng là xâm phạm tài sản của nhân dân. Những người trưởng mũi đều bị gán tội xâm phạm tài sản nhân dân. Họ bị làm biên bản và phải làm tờ tự kiểm điểm. Tất cả xái vàng họ đã khai thác được đều bị tịch thu giao nộp về văn phòng huyện. Mẹ kiếp! Cái giấy phép, giá chính thức là hai phân, giá chui là ba, bốn phân. Trên thực tế, khai thác một diện tích vuông, mỗi chiều mười mét, cho dù là rừng cẩm lai cũng không được một phân! Thêm tiền công, tiền di chuyển xe cộ, ăn uống, thuốc men. Lại một trò “chơi chữ”! Cái đồ ăn cướp cạn! Tôi chợt bật cười, nhớ lại cái thông cáo tháng Năm 1975 của Ủy Ban Quân Quản Sài-Gòn Chợ-Lớn ra lệnh cho Quân Cán Chính của chế độ Sài-Gòn phải “đem theo 30 ngày tiền ăn khi trình diện học tập cải tạo”- Rồi một tháng sau,”Nhà nước ra lệnh cho các anh mang theo 30 ngày tiền ăn, chứ nhà nước có hứa sẽ thả các anh về sau một tháng đâu?”-

       Thế rồi từng tờ lịch lật qua, theo nhau, mười ba tập lịch được bóc đi, tôi về. Tôi về, vợ tôi đã sắp đuối, bốn đứa con tôi còn nhỏ dại. Tôi bắt đầu lại cuộc đời với hai bàn tay trắng. Mới đó mà đã mười bốn năm trôi qua. Thời gian trôi, nhưng chính sách của Đảng và nhà nước thì lúc nào cũng tàn ác, dã man, “trước sau như một”- Tôi tự trách, “Mình đúng là thằng tối dạ! Kinh nghiệm đau thương mười mấy năm rồi mà chưa sáng mắt ra. “Thế là công cốc! Cái lều của thày trò tôi vẫn còn nguyên, nhưng những bao xái vàng chất xung quanh lều đã biến mất. Giờ này xái trong những bao bì ấy đã được những “đầy tớ trung thành của nhân dân” đem đi đãi, vàng sẽ được chia cho những người có công chỉ huy công tác “bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con” trong cuộc hành quân kiểm tra sáng nay. Đúng như tên Thiếu tá Cộng-Sản đã tuyên bố, “bộ đội không tơ hào đến tài sản của nhân dân!”- Chứng cớ là bao, bì, khiên, cuốc, xẻng, đòn, đồ nghề khai mỏ vẫn nằm yên chỗ cũ, có ai đụng tới đâu? Chúng chỉ hớt tay trên miếng ăn của những kẻ đói khổ nhất trần đời. Trong rừng chiều, tôi nghe đây đó vang vọng tiếng khóc than, tiếng nguyền rủa của những nạn nhân vừa bị cướp.

       Chiều đầu hạ 1989, nắng vàng lóng lánh trên những đọt lá giữa rừng già. Trời quang và mây tạnh, nhưng trong lòng tôi cảm thấy lạnh lẽo vô cùng, lạnh hơn là khi trời đang mưa đá trên miếu Thần Hổ, Đà-Lạt ngày nào. Quán cô Nghĩa lại vang lên một bài ca xưa, nhưng giọng ca rất lạ, cuộn cassette được lén gởi về từ bên kia nửa vòng trái đất:

“Một ngày tàn chinh chiến ấy, 
 chim đã xa bầy… 
 Một ngày tả tơi hoa lá, 
 ngóng trông về xa, 
 nhớ thương hình bóng qua…”

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Apr 2026

Thời mạt pháp, không phải là vì chùa càng ngày càng ít, xiêu dột, thiện nam tín nữ càng ngày càng hiếm, mà do hành động càng ngày càng rời xa giáo lý của Đức Phật. Cuộc thi hoa hậu đầu tiên của thế giới được tổ chức vào năm 1854 có thể bắt nguồn từ chuyện chọn Kings va Queens trong lễ hội May Day thời xưa ở Âu Châu, nhưng cuộc thi này bị phản đối phải dẹp bỏ. Mãi đến năm 1880, mới có cuộc thi hoa hậu áo tắm trên bãi biển Rehoboth (Delaware), rồi Atlantic City (New Jersy), Galveston (Texas.) Năm 1921, cuộc thi hoa hậu Miss American Pageant đầu tiên được tổ chức tại Atlantic City, trong thời gian này các hoa hậu không được coi trọng bao nhiêu, cho đến lúc có Đệ II Thế Chiến, khi các hoa hậu được tuyển dụng để cổ động bán trái phiếu cho chính phủ hoặc tham gia các chuyến đi giải trí cho các đơn vị quân đội ngoài mặt trận.

Cuộc thi hoa hậu được căn cứ trên vẻ đẹp hình thể, tài năng, cá tính và sự ứng đối với những câu hỏi tổng thể của ban giám khảo. Tuy vậy người ta than phiền là các cuộc thi hoa hậu thường thiên về sắc đẹp thể xác hơn là thiên về tài năng, trí thông minh, học thức, ứng xử hay các mối quan tâm về xã hội.

Càng ngày đàn bà càng xuất hiện nhiều ngoài xã hội và trước công chúng, được chú ý và ngưỡng mộ hơn, các cuộc thi hoa hậu càng ngày càng nhiều và có tầm vóc như Miss USA, Miss World, Miss Universe, Miss Teenage America Pageant, Miss National Teen Ager, Miss Teen All America Pageant. Trong thời đại mới của trang phục, mỹ phẩm, kiểu tóc và giải phẩu thẫm mỹ, cuộc thi hoa hậu là cơ hội bằng vàng cho các dịch vụ quảng cáo. Năm 1951, cuộc thi hoa hậu thế giới được tổ chức đầu tiên tại Luân Đôn và sau này lần lượt được tổ chức khắp nơi trên thế giới như Hoa kỳ, Nam Phi, Ấn Độ, kể cả Việt Nam hồi năm ngoái. Các cuộc thi hoa hậu thế giới được chuyền đi qua màn ảnh truyền hình đến hơn 70 quốc gia và có hai tỷ người theo dõi.

Quần chúng, tuy vậy không phải ai cũng tán thưởng việc đưa nhan sắc phụ nữ lên sân khấu để thi tài, cho đây là chuyện thấp hèn, dung tục. Cũng nhiều quan điểm cho rằng cuộc thi hoa hậu là hạ nhân phẩm của phụ nữ, xem đây là những món hàng phơi bày để giải trí cho đàn ông tương tự như nhà văn Lâm Ngữ Đường của Trung Hoa đã nhận xét: “Đàn bà trên sân khấu thì hở hang, gần như khoả thân, còn đàn ông ngồi dưới ngó lên thì ăn mặc đàng hoàng, thắt cà vạt. Hiện tượng đó quả là một hiện tượng đặc biệt của một xã hội tạo ra vì đàn ông, do đàn ông chỉ huy, một xã hội trong đó đàn bà khoả thân bị đem trưng ra công chúng vì mục đích thương mãi … ” (Một quan niệm về sống đẹp Nguyễn Hiến Lê dịch).

Tại một cuộc thi hoa hậu ở Luân Đôn, giám khảo và ứng viên hoa hậu đã bị biểu tình, ném mực hay bột mì. Năm 2000, cuộc thi hoa hậu thế giới đã được dời từ Nigieria về Luân Đôn vì giới Hồi giáo lên án cuộc thi hoa hậu là vô đạo đức, xúc phạm đến tinh thần Hồi Giáo. Trong khi đàn bà Hồi Giáo còn che mặt, áo quần phủ kín từ đầu đến gót thì các cô mặc hai mảnh, phơi bày da thịt ra trước công chúng, coi sao được. Ngày xưa nhan sắc được giữ kỹ và sở hữu của đàn ông, không phô trương ra ngoài. Mặc dầu vẻ đẹp của đàn bà nghìn đời vẫn được ca tụng, nhưng ngày nay thân xác đàn bà được phô bày, trình diễn mà muốn chiêm ngưỡng phải mua vé vào xem, trong lúc bao nhiêu công ty kỹ nghệ thời nay phục vụ cho phụ nữ đổ xô vào để kiếm ăn, đã gây nên nhiều nguồn dư luận phản đối.

Giải thi hoa hậu cho đến ngày nay, vẫn còn bị các nhà đạo đức chỉ trích. Bà Leesa Bellesi, vợ của một vị mục sư tại thành phố Carlsbad, California, đã lên tiếng kêu gọi mọi người hãy tẩy chay chương trình thi hoa hậu sẽ được trực tiếp truyền hình từ thành phố Las Vegas vào tối Chủ Nhật 8 tháng 5-2010 trên đài truyền hình NBC. Trang website chính thức của ban tổ chức Giải Hoa Hậu Hoa Kỳ đã trưng ra những tấm hình của các thiếu nữ này với những quần áo lót quá gợi tình hoặc mặc những áo sơ-mi không cài nút, mà không mặc áo lót ngực và chụp trong những tư thế khích dục.

Để quân bình sắc đẹp thể xác và vẻ đẹp tâm hồn, ngày nay các thí sinh thi hoa hậu thế giới trước khi mặc áo dạ hội hay áo tắm xếp hàng lên sân khấu đã được tổ chức đi thăm viếng, bệnh viện, nhà dưỡng lão hay viện mồ côi. Nhưng cảnh tương phản giữa tuổi trẻ, sắc đẹp, giàu sang, thơm tho của những thiếu nữ trong cuộc thi hoa hậu này với cảnh già nua, bệnh tật, đói rách chưa hắn đã an ủi được những người bất hạnh.

Ngày nay, nhiều cuộc thi hoa hậu có tính cách nhân bản, an ủi những phụ nữ đang ở trong hoàn cảnh kém may mắn, người ta đã tổ chức những cuộc thi hoa hậu trong nhà tù dành cho phụ nữ phạm nhân như ở Mễ Tây Cơ hay cuộc thi hoa hậu tại Luanda, thủ đô của Angola dành cho những phụ nữ mất tay, mất chân, mù mắt, sống sót sau khi dẫm phải mìn bẫy trong cuộc nội chiến tại đất nước này (Miss Landmine Survivor). Đặc biệt, nhiều nhất ở Thái Lan, hằng năm đều có cuộc thi hoa hậu dành cho các thí sinh đổi giới tính, nghĩa là các cô gái xinh đẹp này, trước kia đều là những “đực rựa” vừa qua các cuộc giải phẩu để trở thành phái nữ.

“Hoa hậu” thú vật cũng được tổ chức nhiều nơi trên thế giới như Hoa Hậu Lạc Đả tại Abu Dhabi, Ả Rập Thống nhất hay Hoa Hậu Dê ở Riyadh, Saudi Arabia, nhưng không nghe nói cuộc thi này dành cho lạc đà và dê đực hay cái, vì trông con dê đực đẹp đẽ hơn con dê cái nhiều. Cũng đừng nghe nói thi hoa hậu thú vật mà coi thường, tại xứ dầu hoả này, cuộc thi lạc đà đã tốn phí 8 triệu đô la dành làm giải thưởng cho các chủ nhân ông lạc đà trúng giải được đội vương miện.

Đối với người Việt Nam, ngay vào thập niên 50 của thế kỷ 20, việc mặc đồ tắm lên sân khấu trình diễn cho công chúng xem còn là một điều hiếm hoi. Một cuộc thi hoa hậu đã được tổ chức vào dịp Tết và ca sĩ Tuý Phượng đã đoạt giải Hoa Hậu Hội Chợ Quang Trung và hình ảnh cô được đăng trên nhiều bìa báo ở Saigon thời ấy. Ở miền Bắc, thắt lưng, buộc bụng theo đảng chống Mỹ, cơm không có ăn, tìm không ra một chiếc áo dài, nói chi đến trò chơi “tư bản, đồi truy” đó. Thế nhưng sau năm 1975, đất nước Việt Nam, sau chiến tranh hơn hai triệu đàn ông chết trong chiến tranh, “đặc sản” đàn bà dư dả, nên nền “văn hóa hoa hậu” được phát triển tối đa. Trong lúc chờ tiếp cận với thế giới bên ngoài và rút kinh nghiệm, đào tạo hoa hậu, Việt Nam đã có những cuộc thi hoa hậu địa phương, bắt đầu với những thí sinh đi chân hay mang dép Lào ở các quận ly, tiến đến Hoa Hậu Đền Hùng, Hoa Hậu Duyên Hải, Hoa Hậu Mường (Hoà Bình), Hoa Hậu Đồng Bằng Sông Cửu Long, Hoa Hậu Tây Đô, Hoa Hậu Các Dân Tộc, Hoa Hậu Du Lịch Việt Nam, Hoa Hậu Quý Bà và Thành Đạt. Lần lượt nhan sắc Việt Nam được đem đi “đấm” ở xứ người qua các cuộc thi Miss World, Miss Universe, Miss International, Miss Earth, tuy chưa được vào chung kết lần nào nhưng mục đích chính là để thế giới chú ý đến đàn bà mang nhãn hiệu Việt Nam.

Uỷ Ban Người Việt Nước Ngoài còn tổ chức các cuộc thi Hoa Hậu Thế Giới Người Việt ở nhiều khu vực trên thế giới như đã tổ chức tại Đức Quốc vào tháng 1-2010, gọi là để tạo đoàn kết giữa người Việt, do báo Tiền Phong, ông chủ của Duyên Dáng Việt Nam và Toà Đại Sứ Việt Cộng tại địa phương phụ trách. Rõ ràng là Uỷ Ban Người Việt Nước Ngoài đã thành công phần nào trong trò chiêu dụ quốc ngoại bằng trò nhan sắc.

Nguyễn Trọng Hiền, giới chức cao cấp của bộ Văn Hoa-Thể Thao-Du Lịch đã ca tụng những cuộc thi “Hoa Hậu Thế Giới Người Việt” này là “được dư luận đánh giá cao, cộng đồng người Việt trên thế giới hưởng ứng và nó thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc rất tốt.” Thì ra cho đến giờ này, sau 35 năm, Việt Cộng chỉ mới nghĩ ra một phương thức đại đoàn kết dân tộc “rất tốt” là tổ chức những cuộc thi hoa hậu trong những cộng đồng người Việt trên thế giới. Bộ đỉnh cao trí tuệ của quý vị chỉ có ngần ấy và vũ khí duy nhất để thể hiện “tinh thần đại đoàn kết dân tộc” sau 35 năm nghiền ngẫm chỉ còn độc có mỗi “cái ấy” thôi sao?

Ngày xưa Cộng Sản tuyên truyền ra ngõ là gặp anh hùng vì anh hùng lạm phát, ngày nay chắc chắn ra ngõ là gặp hoa hậu, vì hoa hậu được mùa. Mỗi năm Việt Nam sản xuất bao nhiêu là hoa hậu. Nội cái thị xã Nha Trang năm nay đã giành phần tổ chức luôn ba cuộc thi hoa hậu: Hoa Hậu Trái Đất (Miss Earth), Hoa Hậu Việt Nam và Hoa Hậu Việt Nam Thế Giới, đảng và nhà nước ở thành phố biển này còn thì giờ đâu mà lo việc cứu đói dân, nhất là cho ngư dân, lo cho việc nước, nhất là việc mất nước.

Phải nói là hiện nay trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng đã có nhiều cuộc thi hoa hậu như Hoa Hậu Áo Dài, Hoa Hậu Sinh Viên Liên Trường, Hoa Hậu Phu Nhân, Hoa Hậu Thế Giới. Trong các chương trình văn nghệ, ngay cả ở các sòng bài, luôn luôn có các hoa hậu, áo dài hay áo tắm trình diễn qua lại, mục đích làm mát mắt quý vị chư quân tử. Thí sinh hoa hậu còn tổ chức thăm viếng, chụp hình quảng cáo tại các tiệm phở, chợ búa, làm cho vẻ đẹp đàn bà trở thành món hàng rẻ tiền.

Bây giờ thi hoa hậu lại đi vào các lễ hội tôn giáo. Khi ban giám khảo chấm điểm một thí sinh mặc áo dài trong các cuộc thi hoa hậu áo dài, họ chấm vẻ đẹp của khuôn mặt, thân hình của người đàn bà hay là chấm vẻ đẹp của chiếc áo? Cũng như trong cuộc thi hoa hậu áo tắm, giám khảo chấm cái áo tắm xanh đỏ hay chấm thân hình đầy nhục tính của người đàn bà. Nếu có một cuộc thi Hoa Hậu Áo Lam, chiếc áo nào cũng giống nhau một màu lam thanh khiết thì Thầy căn cứ vào cái gì để chấm điểm hơn thua? Khi ca nhạc nặng mùi trần tục, đầy ái dục, ca sĩ y trang hở hang, lời nhạc rên siết như lối gọi “mình ơi!” vào sân chùa thì Thầy phải quét nó ra như chú tiểu chùa Long Giáng ngày xưa quét lá đa, vì đó là sắc dục, là ma quỷ. Tôi là đời, sống với ma quỷ đã quen, nhưng Thầy là đạo, Thầy nên lánh xa. Thời mạt pháp, không phải là vì chùa càng ngày càng ít, xiêu dột, thiện nam tín nữ càng ngày càng hiếm, mà do hành động càng ngày càng rời xa giáo lý của Đức Phật. Hoa hậu đang được mùa, như lúa thì gặt lấy, là cỏ thì phải nhổ đi, có đâu lại tưới phân thêm cho cỏ.

Cựu Đại tá Tom T. Đoan (gốc Việt), Chuyên viên kế hoạch quản lý phân phối, Bộ Tư lệnh vận chuyển Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on April 17, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 21 Apr 2026

Đại tá Tom T. Đoàn (hình của linkedin.com).

Cựu Đại tá Tom T. Đoan được bổ nhiệm chức Chuyên viên kế hoạch quản lý phân phối thuộc Bộ Tư lệnh vận chuyển Hoa Kỳ (USTRANSCOM) tại căn cứ Không quân Scott, Illinois vào tháng 8 năm 2024. Nhiệm kỳ trước, ông nguyên là Đại tá Trưởng phòng vận chuyển Hàng không Quân sự thuộc Bộ Tư lệnh cơ động Không vận Không quân Hoa Kỳ (HQ.AMC/A4T). Ông về hưu vào tháng 4 năm 2025, sau 28 năm phục vụ Không quân. Bộ Tư lệnh vận chuyển Hoa Kỳ được thành lập năm 1987, là một trong mười một Bộ Tư lệnh chiến đấu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong cả thời bình và thời chiến. Vai trò của Bộ Tư lệnh vận chuyển Hoa Kỳ là cung cấp cho Bộ Quốc phòng các phương tiện vận tải hàng không, hàng hải và đường bộ, đặt trụ sở tại căn cứ Không quân Scott ở Illinois, do Đại tướng Không quân Randall Reed làm Tư lệnh. Các thành phần vận chuyển Hải, Lục và Không quân thuộc Bộ Tư lệnh vận chuyển điều phối các nhiệm vụ trên toàn thế giới bằng cách sử dụng cả nguồn lực vận tải quân sự và thương mại, bao gồm ba Bộ tư lệnh vận chuyển của các Quân chủng: Bộ Tư lệnh vận tải hàng không của Không quân (Air Force’s Air Mobility Command), Bộ Tư lệnh vận tải của Hải quân (Navy’s Military Sealift Command) và Bộ Tư lệnh vận tải của Lục quân (Army’s Transportation Command); Bộ Tư lệnh năng lực hỗ trợ Liên hợp( Joint Enabling Capabilities Command), vốn là một phần của Bộ Tư lệnh Lực lượng Liên hợp Hoa Kỳ (U.S. Joint Forces Command) trước đây, hiện là một phần của Bộ Tư lệnh Vận tải Hoa Kỳ.

Cựu Đại tá Tom Đoan gia nhập Không quân qua chương trình huấn luyện Sĩ quan Không quân trừ bị (Air Force Reserve Officer Training Corps program) tại Đại học Arizona State University, sau thời gian thụ huấn ông tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân khoa học địa lý và mang cấp bậc Thiếu úy năm 1996. Ông từng đảm nhận nhiều chức vụ trong các đơn vị Không quân như: Sĩ quan vận chuyển và tiếp liệu của Không lực Thái Bình Dương; Sĩ quan Bộ chỉ huy không vận của Bộ tư lệnh vùng Trung Đông; Sĩ quan Bộ tư lệnh Không quân; Sĩ quan Bộ chỉ huy huấn luyện và đào tạo Không quân; Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ tại Châu Âu; Sĩ quan Bộ chỉ huy vận chuyển và Bộ tư lệnh hành quân đặc biệt Không quân; Chỉ huy trưởng Liên đoàn 18 yểm cứ, đồn trú tại căn cứ Không quân Kadena Nhật Bản; Chỉ huy trưởng phòng chiến lược Bộ tư lệnh không vận; Chỉ huy trưởng phòng vận chuyển hàng Không quân sự, Bộ tư lệnh cơ động không vận Không quân Hoa Kỳ. Ông về hưu sau 28 năm phục vụ Không quân; Và hiện nay là Chuyên viên kế hoạch quản lý phân phối thuộc Bộ Tư lệnh vận chuyển Hoa Kỳ (USTRANSCOM) tại căn cứ Không quân Scott, Illinois.

Đại tá Tom Đoan (hình của Asian American & Pacific Islander in the Military).

Cựu Đại tá Tom Đoan đã tốt nghiệp các khoá học và các văn bằng: Văn bằng Cử nhân khoa học địa lý, Đại học Arizona State University năm 1996; Thụ huấn khóa học Sĩ quan không vận năm 1997; Thụ huấn khóa học không vận trong chiến trận năm 2001; Thụ huấn trường Sĩ quan Phi đoàn năm 2002; Văn bằng Cao học khoa học nhân văn, Đại học University of Oklahoma năm 2003; Văn bằng Cao học hoạt động nghệ thuật và khoa học quân sự, trưởng Cao đẳng Chỉ huy và tham mưu Không quân năm 2010; Tốt nghiệp khóa học quản lý cung cấp, Đại học Pennsylvania State University 2011; Văn bằng hàm thụ trường Cao đẳng Không quân (Air War College) năm 2013. Ông được thăng cấp Thiếu uý năm 1996; Trung uý năm 1998; Đại uý năm 2000; Thiếu tá năm 2007; Trung tá năm 2011; Đại tá năm 2017.

Trong suốt 30 năm phục vụ Không quân, ông được ân thưởng các loại huy chương cao quý và bằng khen của Không quân Hoa Kỳ. Là một chuyên gia tiếp liệu, chiến lược giàu kinh nghiệm, với kiến ​​thức sâu rộng về các hoạt động phối hợp hỗ trợ trực tiếp các nhiệm vụ chiến đấu, nhân đạo và sơ tán y tế. Có giấy phép an ninh tối mật với 30 năm phục vụ trong Không quân Hoa Kỳ. Ông từng phục vụ trong hai bộ phận tham mưu của Bộ Tư lệnh Chiến đấu và có thành tích đã được chứng minh trong việc xây dựng các đội, nhóm với kỹ năng và kinh nghiệm đa dạng để giải quyết các vấn đề khó khăn. Đam mê lãnh đạo chỉ huy và cố vấn các đội nhóm đa chức năng, thực hiện các hoạt động một cách an toàn, hướng dẫn cải tiến quy trình, đơn giản hóa các vấn đề phức tạp và đạt được các mục tiêu chung để hoàn thành nhiệm vụ.

Cựu Đại tá Tom T. Đoan là 1 trong 33 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt, 15 vị hồi hưu và 1 vị đã qua đời**, danh sách 17 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm được ghi nhận sau đây: Đại tá Bui S Jeffrey; Đại tá Duong T An; Đại tá Tina H Nguyen; Đại tá Van T Thai; Đại tá Tam T Dinh; Đại tá Vinh Q. Tran; Đại tá Lawrence Vu Nguyen; Đại tá Cuong M. Nguyen; Đại tá Anthony LeMinh Truong; Đại tá Nga T. Do; Đại tá Cang Quoc Bui; Đại tá Asan Q Bui; Đại tá QuocNam T. Nguyen; Đại tá Lim Dinh Vu; Đại tá Diep H. Le; Đại tá Loc H. Nguyen; Đại tá Peter T. Tran.

Chú thích: *Ghi theo họ và tên từ tài liệu,Tom Doan và Thang T Doan, họ và tên Việt, Doàn T Thắng; **Số Đại tá Không quân gốc Việt hồi hưu có thể hơn 15.

Nguồn: kadena.af.mil; Air Force’s Personnel Center; Congress.gov; linkedin.com; Asian American & Pacific Islander in the Military; Airplanes and Coffee; bienxua- Đại tá Tom T. Đoàn (gốc Việt), Chỉ huy trưởng phòng vận chuyển hàng Không quân sự, Bộ Tư lệnh cơ động Không vận Không quân Hoa Kỳ.

Oan Hồn

vvnm.vietbao.com

08/12/2016

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 20 Apr 2026

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, “phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế.” Sau đây, thêm một truyện ngắn của tác giả.

* * *

Đây là một chuyện ma, gần như thật, nhưng tôi phải viết sao cho vui, cho bớt rùng rợn, để quí bà khỏi mất ngủ vì sợ hồn ma mấy cô bồ quá cố của chồng mình về lôi chân, đuổi ra khỏi giường.

Vợ chồng tôi có hai cô con gái. Chúng tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm rồi lập gia đình. Tuy nhà hai đứa nó không xa chúng tôi lắm, nhưng chỉ chủ nhật, ngày lễ, chúng mới bồng cháu về thăm ông bà ngoại. Vợ tôi cứ than nhớ cháu, rồi bực mình gây gổ với tôi. Ngày nào cũng đem hình các cháu ra ngắm. Hình nào “dễ thương hết sức” thì bắt tôi đi mua khung hình về, bỏ vô, treo lên tường. Rồi đi lòng vòng ngắm cháu trên tường như người ta xem triển lãm tranh, miệng nở nụ cười hạnh phúc, miệng lầu bầu chửi “Tổ cha cái thằng… dễ ghét!” rồi bấm điện thoại gọi con, hỏi thăm các cháu.

Các con tôi bị quấy rầy mà không dám than phiền. Tôi biết thế mới gợi ý vợ tôi, tìm một cô, cho mướn phòng, buồn tình thì cứ nói chuyện với cô ta. Con gái tôi giới thiệu một cô bạn học. Cô nầy lớn tuổi hơn các con tôi, vừa đi học vừa đi làm, kiếm tiền giúp gia đình bên Việt Nam, nên cứ ạch đụi mãi mà chưa tốt nghiệp. Nhà tôi, phía sau có một phòng rộng, có lối đi riêng nên cô ta rất thích. Nhờ có cô sinh viên nầy mà tôi đỡ bị bà vợ bắt nghe chuyện nhớ cháu. Khi cô sinh viên đến trọ, bà nấu nướng món ngon vật lạ tặng cô ta, coi như trả công đã tốn thì giờ lắng nghe chuyện cháu ngoại của bà.

Khoảng vài năm sau, cô sinh viên tốt nghiệp đại học, đã nộp đơn đến các công ty để xin việc làm. Vợ tôi, xem cô sinh viên như con, nên nấu mấy món làm tiệc mừng tốt nghiệp cho cô ta rồi gọi vợ chồng hai cô con gái đem cháu về tham dự. Trong không khí gia đình vui vẻ, vợ tôi lại lên chương trình kiếm chồng cho cô sinh viên “Theo như ngày xưa, “Đại đăng khoa” rồi phải “Tiểu đăng khoa”, nghĩa là thi đậu xong là phải lập gia đình”. Cô sinh viên đỏ mặt vì mắc cỡ nhưng cũng nói “Ai mà thèm lấy cháu, cô ơi!”. Hai cô con gái tôi cũng hăng hái tham dự vào một trong bốn cái ngu của thiên hạ (Làm mai, lãnh nợ, gát cu, cầm chầu). Mấy mẹ con hùa nhau khuyên bảo “Khi đi làm, hàng ngày đến sở, chỉ gặp toàn các ông có gia đình cả, ít có dịp hội hè, họp mặt để gặp các bạn trai độc thân. Chi bằng ráng kiếm trước một ông chồng cho chắc ăn. Để lâu thành gái già!” Bữa đó, ai cũng bị ép uống chút rượu, ngà ngà say, nên cô sinh viên cũng bạo dạn nói “Nhờ cô với hai chị kiếm giùm.”

Vợ tôi chợt nhớ ra là tôi có một cậu “bạn cà phê” vong niên. Anh ta gần bốn mươi tuổi, đã tốt nghiệp đại học, có việc làm đàng hoàng. Sáng chủ nhật nào cũng lái xe đến đón tôi đi ăn điểm tâm rồi ra tiệm cà phê Starbucks ngồi trò chuyện. Tính tôi ham vui, đôi khi anh ta đưa tôi đến các tiệm cà phê của bọn trẻ, tiếng nhạc với tiếng cãi cọ, cười đùa nghe điếc tai mà tôi vẫn chịu đựng được. Có điều lạ là, bọn thanh niên thích bàn chuyện đàn bà, con gái nhưng anh bạn trẻ của tôi chỉ ngồi nghe chứ không quan tâm. Ngay cả khi cô bưng cà phê, vừa đẹp vừa hấp dẫn, mặc áo quần “xuyên bang” (mỏng) đứng gần, mà anh ta cũng chẳng thèm nhìn. Đôi khi, cô ta như tựa cái bụng vào vai anh ta, anh ta né tránh.

Tôi đưa ra nhận xét đó với vợ tôi và lưu ý rằng, nếu giới thiệu anh chàng bất bình thường nầy cho cô sinh viên, sau nầy rủi có chuyện gì không hay, cô ta ắt sẽ phiền trách gia đình tôi. Vợ tôi vẫn khăng khăng “Ông không thích thì để mẹ con tôi lo. Bữa nào ông mời hắn đến đây ăn cơm, tôi đứng ra giới thiệu cho hai đứa làm quen. Con nhỏ đẹp đẽ, nết na, thằng nào không ưng?”

Vậy là tôi phải mời anh chàng dị ứng với phái nữ đó đến dự bữa cơm gia đình. Được sắp xếp ngồi bên cạnh người đẹp mà không thấy anh ta hăng hái trong việc chinh phục cô gái, tuy có hỏi chuyện, có bỏ thức ăn vào chén cho cô ta, nhưng rõ ràng chỉ làm bổn phận bình thường. Cô gái thì vẫn giữ kẽ, không tỏ vẻ gì đặc biệt. Xong bữa ăn, chờ cho cô sinh viên về phòng, vợ tôi và hai cô con gái giữ anh chàng kia lại và bắt đầu đặt những câu hỏi.

Anh ta và gia đình tôi cũng ở chỗ thân tình, vợ tôi chẳng khách sáo gì nên câu hỏi có hơi sỗ sàng “Anh thấy người đẹp lúc nãy ra sao mà coi bộ lơ là?” Anh chàng chỉ cười “Dạ, cô Mai cũng đẹp lại hiền lành.” Vợ tôi bắt đầu ca tụng cô sinh viên đủ điều “Nó ở đây với chúng tôi mấy năm nay mà không hề thấy bạn trai, không hề chưng diện. Đi học, đi làm về là phụ với tôi nấu nướng, dọn dẹp như gia đình của nó. Nó mà trang điểm vô thì phải biết. Đẹp lắm! Ai mà được nó làm vợ thì sướng như tiên. Bây giờ nó lại tốt nghiệp đại học, sắp sửa đi làm, lương hướng đâu có thua ai… Ủa! Sao anh lại cười? Bộ tôi nói không đúng sao? Hay anh chê nó?” “Dạ, cháu đâu có chê cô ta, nhưng cháu có lý do riêng. Cháu không có ý định lập gia đình nên không dám nghĩ đến cô Mai”.

Vợ tôi khựng lại, vợ chồng hai đứa con gái tôi, tuy ngồi xa, đang dõng tai lên nghe lén, cũng thở dài thất vọng. Mọi người nghĩ, có lẽ anh ta không bình thường về sinh lý. Chuyện đó không nên đề cập đến vì kỳ cục, đáng mắc cỡ. Tuy thế, vợ tôi cũng kể lại cho cô Mai nghe chuyện làm mai thất bại, nhưng lại kết luận “Nó khen con đẹp, hiền giỏi giang đủ thứ, nhưng có lẽ nó “lại cái” hay sao đó nên coi bộ lơ là. Để cô điều tra thêm mới biết tại sao” Cô gái giẫy nẩy lên “Cô làm vậy kỳ lắm! Làm như con mê anh ta, bắt cô phải dụ dỗ anh ta cho con.”

Thế là bao nhiêu hăng hái, thiện chí của vợ tôi xẹp xuống như bong bóng xì hơi. Tôi nói với vợ tôi “Bọn nhỏ bây giờ chịu nhau thì tự động tìm đến, bàn tính, giao hẹn với nhau như người ta mua bán hàng hóa vậy, không như thời xưa đâu. Bà làm nghề mai mối, lỗi thời rồi.” Vợ tôi vẫn còn tức “Ông biết gì về thằng đó không? Mấy năm đi uống cà phê với nó, có nghe nó nói gì về bịnh hoạn, hay dị tật gì trong thân thể nó không?” Tôi cự ngay “Tôi có phải bác sĩ đâu mà đi hỏi chuyện sinh lý của người ta! Tôi chỉ biết là nó không hề để ý đến đàn bà, con gái nên tôi lưu ý bà, đừng làm chuyện tào lao mà thêm phiền.” Vợ tôi vùng vằng “Để đó, tôi phải điều tra cho ra, tại sao con Mai đẹp như vậy mà không chịu? Tôi thấy, hình như nó có nhìn con Mai, nhưng nhìn trộm, kiểu như ông nhìn gái mà sợ tôi bắt gặp.” Tôi tức cười “Bà đừng đem tôi ra mà suy luận. Bà phải phân biệt cái nhìn của tôi với người khác. Tôi nhìn người đẹp vì nghệ thuật, vì vẻ đẹp nhưng không ham muốn. Thằng đó mà nhìn con Mai giống như tôi thì coi như bỏ đi rồi, đừng bao giờ nghĩ tới chuyện mai mối mà bị con Mai trách móc sau nay.” Vợ tôi tự nhiên nổi xùng “Xí! Ông mà nghệ thuật. Nghệ thuật gì ở chỗ ngực, chỗ đùi người ta? Không có tôi, ông đi tới trời.” Hễ thình lình nổi ghen, vợ tôi thường lôi những chuyện “xưa rích” ra đay nghiến. Tôi không thèm cãi lại, chỉ hỏi “Bây giờ nói chuyện tôi nhìn gái hay chuyện làm mai?” Bả không thèm nhìn tôi “Ông muốn nói chuyện gì tôi cũng nói được. Đừng làm bộ vô tội… Tôi muốn hỏi ông. Thằng đó có thích con trai không? Nó có cập kè với thằng “bê đê” (lại cái) nào không?” “Tôi thấy nó cũng bình thường chứ chẳng cập với thằng “bê đê” nào cả.” “Vậy thì tuần tới lại mời nó đến nhà mình ăn cơm, để tôi biết chắc nó có nhìn trộm con Mai thật không?” “Bà muốn thì tự làm lấy, coi như tôi không tham dự vào chuyện mai mối của bà.” Đàn bà tinh mắt hơn đàn ông, tôi để ý mới thấy.

Bữa cơm sau đó, anh ta quả có nhìn trộm con nhỏ Mai. Cái nhìn đầy nam tính nhưng lại có vẻ lén lút, như sợ ai bắt gặp. Cả đến việc anh ta chuyện trò hay bỏ thức ăn cho con nhỏ cũng lấm lét, như vụng trộm, mặc dù anh ta biết, gia đình tôi mời đến ăn cơm là để anh ta tán tỉnh con nhỏ Mai. Lẽ ra, nếu anh ta thích thì cứ mạnh dạn, công khai tỏ tình với người đẹp. Tại sao phải lén lút? Có uẩn khúc gì đây? Tuy nghĩ vậy nhưng vợ chồng tôi làm như không biết, cuối tuần vẫn mời cơm và sắp xếp cho hai cô cậu ngồi gần nhau. Ít lâu sau vợ tôi quyết hỏi anh ta cho ra lẽ.

Một buổi chiều thứ bảy, trong nhà chỉ có vợ chồng tôi và anh chàng dị ứng với đàn bà đó. Vợ tôi tính nóng lại xem anh ta như em cháu nên hỏi ngay “Anh thấy con nhỏ Mai ra sao? Có ưng không? Tôi làm mai cho.” Anh ta có vẻ lúng túng “Thú thật, cháu để ý cô Mai từ lâu, nhưng cháu đã lỡ hứa là sẽ không bao giờ lấy vợ, nên cháu không dám tiến xa hơn. Ngay đến chuyện nhìn đàn bà con gái cháu cũng không dám”. Vợ tôi kinh ngạc và nổi xùng “Ai cấm anh lấy vợ? Ai cấm anh nhìn đàn bà con gái? Người nào có quyền gì mà cấm chuyện lạ đời đó? Đến ông tổng thống Mỹ cũng không có quyền đó. Anh nói tôi nghe. Ai cấm? Hay anh có bịnh gì nên bác sĩ cấm anh? Hay anh lại cái?” Tưởng mắc cỡ vì bị nói là “lại cái”, nhưng anh ta chỉ cười “Đúng ra không phải là người nào cấm mà là lời nguyền của cháu với vong linh một cô gái. Cháu đã hứa với vong linh cô ta là, suốt đời, cháu sẽ không lấy vợ.”

Tôi không muốn rây vô chuyện mai mối phiền phức nên ngồi uống trà ở bàn ăn. Khi nghe hai tiếng “vong linh”, vợ tôi biết là chuyện ma nên hơi ngán, bèn bảo tôi “Ông qua đây tiếp chuyện, tôi đi nấu miếng nước”. Đàn bà, trẻ con, càng sợ chuyện ma, càng muốn nghe. Biết vậy nên tôi bưng tách trà qua xa lông và nói với anh ta “Khi hứa với người đã khuất thì phải giữ lời, vì với người còn sống mình có thể giải thích được chứ với ma thì nói ai nghe?!” Vợ tôi cự ngay “Ông phải để cho anh ta kể hết sự việc xem sao, chưa chi đã bàn ra”.

Anh ta cúi xuống, dùng tay vạch mái tóc để lộ một vết sẹo dài cỡ nửa tấc. Vết sẹo như một cái rãnh nhỏ, một lớp da mỏng che xương sọ trắng xám giữa đám tóc đen và cứng như rễ tre. Vợ tôi đến nhìn, rồi ngồi xuống, hóng chuyện.

“Cháu bị chúng chém. Tưởng chết rồi, không ngờ vẫn còn sống được.” Vợ tôi sốt ruột “Ai chém anh? Vì sao chúng chém?” Anh ta uống chén trà rồi mới thong thả nói “Sau bảy lăm (1975), cháu học xong trung học nhưng không được vào đại học vì lý lịch. Ba cháu, là sĩ quan Cộng Hòa, đi tù cải tạo. Vợ cháu cũng có cha đi tù. Hai gia đình quen thân nhau từ trước, đều ở trong trại gia binh. Năm bảy lăm, mọi người đều bị đuổi ra khỏi trại gia binh. Gia đình cháu phải về quê ngoại ở Mỹ Tho. Hai gia đình gom góp tiền vàng cho hai đứa cháu vượt biên. Bữa đó tổ chức tiệc cưới, mời chính quyền xã, ấp, nhất là công an địa phương đến nhậu nhẹt say mềm. Chúng cháu làm như đi rước dâu, đến khuya, đám rước thay vì về nhà trai lại chạy thẳng ra cửa biển. Như vậy, chúng cháu chưa gần gũi nhau bao giờ. Thuyền lênh đênh trên biển được năm ngày thì gặp hải tặc Thái Lan. Chúng chém đàn ông, con nít rồi bắt đàn bà con gái qua thuyền chúng. Cháu nhào đến cứu vợ cháu thì bị chém vào đầu, ngã gục. Hôm sau tỉnh dậy, trong thuyền chỉ còn xác chết với mấy người bị thương nặng. Theo lời kể lại thì vợ cháu thấy cháu bị chúng chém chết, bèn vùng vẫy và nhảy xuống biển tự tử. Lúc đó, cháu tin rằng mình cũng sắp chết vì thuyền bị bọn hải tặc húc, tràn nước, sắp chìm, nên cháu khấn với vong hồn vợ cháu “Em sống khôn thác thiêng, xin chờ anh. Anh bị thương nặng, thuyền sẽ chìm, anh sẽ chết. Hai linh hồn mình sẽ được bên nhau mãi mãi. Nếu còn sống, anh thề không lấy vợ, sẽ ở vậy thờ em cho đến ngày anh chết, sẽ được gặp em”. Không ngờ, vừa lúc có một thương thuyền đi ngang qua, nhìn thấy, bèn cứu lên tàu. Không ai hiểu sao, với vết thương nặng như vậy mà cháu sống sót được? Cháu qua Mỹ, cố gắng học, kiếm việc làm để gửi tiền về Việt Nam cứu giúp hai gia đình.” Vợ tôi hỏi “Từ đó đến nay, anh có bao giờ thấy vợ anh hiện hồn về không?” “Dạ không! Nhưng cháu tin rằng, vong linh vợ cháu lúc nào cũng ở bên cháu. Cháu lập một cái trang nhỏ làm bàn thờ, để di ảnh vợ cháu lên, mỗi ngày đều thắp nhang. Đi làm về, cháu ghé tiệm cơm, mua thức ăn về, đặt lên trang thờ, cúng vợ cháu, sau đó, dọn xuống, mời vợ cháu cùng ăn. Đi đâu, làm gì, cháu cũng kể cho hồn vợ cháu nghe.”

Vợ tôi tưởng như hồn cô gái cũng ngồi trong phòng, nên ngồi sát vào tôi, coi bộ cũng ngán nhưng vẫn hỏi “Có bao giờ anh thử làm quen, chuyện trò thân mật với một cô gái nào đó chưa? Nếu hồn vợ anh còn ở bên anh, sẽ tìm cách để anh hiểu là cô ta không bằng lòng. Cô ta sẽ hiện hồn cho anh thấy chẳng hạn. Anh thử lần nào chưa?” “Thực tâm, cháu không muốn làm vong linh vợ cháu buồn tội nghiệp. Cái chết của vợ cháu quá đau thương nên dù có cảm tình với cô nào cháu cũng ngại. Cứ tưởng tượng, cháu đang thân mật với cô nào đó, linh hồn vợ cháu đứng bên cạnh, mặt buồn xo vì bất lực, không có cách nào cho cháu hiểu là cô ấy buồn lắm…” Tôi lên tiếng “Anh nên nghĩ rằng, linh hồn vợ anh buồn vì thương yêu anh mà không có cách nào phục vụ, săn sóc, an ủi anh, nhất là những khi anh đau ốm. Cô ấy biết rõ, anh cần một người thay cho cô ấy lo cho anh. Anh không thể sống độc thân mãi được. Theo tôi, chết là hết, nếu còn thì đã siêu thoát hoặc đi đầu thai kiếp khác rồi. Anh phải lấy vợ, sinh con, thương yêu gia đình nhưng vẫn tưởng nhớ, thờ phụng, giỗ quải chu đáo cô vợ trước là đủ bổn phận với người quá cố rồi.”

Vợ tôi tưởng có chuyện ma hiện hình nên sợ, đến khi nghe kể thì chẳng có ma quái gì, lại nghe tôi bàn tính hợp ý, nên thúc hối “Chết là hết. Anh để ý con Mai thì nên tiến tới, đừng để nó xin được việc làm, đi xa thì “xôi hỏng bỏng không”. Không có cô nào hoàn hảo như con Mai. Tôi bảo đảm với anh, sau nầy cưới về, có gì không bằng lòng nó thì cứ lôi tôi ra mà mắng vốn.” Anh ta có vẻ xiêu lòng.

Chúng tôi bàn tính, đưa ra một chương trình giúp anh ta tiến đến với cô sinh viên Mai. Trước hết, anh ta về khấn với linh hồn cô vợ, nếu không bằng lòng thì cho biết, hoặc trong giấc mơ hoặc một hiện tượng nào đó, ngược lại thì sẽ không có chuyện gì xảy ra, rồi thì hai người, anh ta với cô Mai sẽ gặp nhau, tìm hiểu, nếu hợp ý thì tiến hành lễ cưới. Trước khi ra về, anh ta dặn chúng tôi là đừng cho cô Mai biết gì về chuyện riêng (ma) đó của anh ta.

Tối đó, chờ cô Mai về, vợ tôi lò dò vô phòng cô ta, tỉ tê, to nhỏ cả buổi rồi lên bảo tôi “Xong rồi! Để hai anh chị làm thân với nhau, mình khỏi phải làm phiền chúng nó nữa.” Tuy nói vậy chứ vợ tôi vẫn cứ tò mò hỏi chừng cô sinh viên, tình hình ra sao? Thì ra họ đã hẹn nhau đi ăn tiệm, đi shopping, xem phim… Cô gái đã có việc làm, anh chàng kia thì đã mua nhà từ lâu nên chuyện sống chung của hai người không thấy trở ngại nào.

Khoảng ba tháng sau, cả hai báo cho chúng tôi biết, họ sẽ làm đám cưới và nhờ chúng tôi việc thực hiện các nghi lễ truyền thống như lễ hỏi, lễ cưới. Về tiệc cưới thì có nhiều bạn học giúp tổ chức, sắp xếp. Mọi việc, chúng lo hết… Vì cha mẹ của cô dâu, chú rể đều còn ở bên Việt Nam nên phải nhờ tôi thay mặt cho nhà gái, một gia đình khác đại diện nhà trai.

Tối đó, tiệc cưới chấm dứt lúc mười hai giờ khuya, chúng tôi không quen thức khuya nên về đến nhà là lăn ra ngủ vùi. Khoảng hai giờ sáng, chuông điện thoại reo, vợ tôi bắt lên nghe “Cô đây! Sao? Muốn về đây hả? Bây giờ con đang ở đâu? Để cô nói chú mở cửa đón con. Năm phút nữa hả? Được. Bye con!” Vợ tôi bảo “Ra mở cửa đón con Mai. Không hiểu có chuyện gì mà nó bỏ chồng về đây?” Tôi lầu bầu “Làm mai thì phải ráng mà lãnh!”

Tôi vừa mở cửa thì xe cô Mai cũng vừa ngừng trước sân. Cô ta chạy ào vô nhà, không kịp tắt máy xe. Tôi ra tắt máy xe, vào nghe xem chuyện gì đã xảy ra? Thấy cô ta ôm vợ tôi cứng ngắc, không nói tiếng nào, người run cầm cập. Vợ tôi cũng đâm hoảng, hỏi dồn dập “Có chuyện gì vậy?” Hỏi hoài mà chỉ nghe cô ta vừa thở vừa lí nhí trong miệng, chẳng hiểu gì cả!

Một lúc sau cô mới nói rõ “Ảnh nuôi ma trong nhà!” Vợ tôi nghe thế co rúm người lại “Ma nào? Ông ra đóng cửa lại mau. Coi chừng nó theo vô nhà. Con thấy con ma như thế nào?” “Con không biết! Con ma đàn bà. Ghê quá! Nó nắm chân con lôi ra khỏi giường.”

Hai người đàn bà tự mình làm cho mình khiếp sợ thêm, cứ vơ tay tìm cái mền. Tôi thấy buồn cười nhưng cũng giúp đắp kín mít hai người trong mền, chỉ để lộ hai cái đầu để tiện nghe họ đối đáp. Vợ tôi thì thào “Ông ra thắp nhang trên bàn thờ, khấn vái cho con ma đi ra.” Tôi dọa “Thắp nhang, chúng ngửi mùi thơm, kéo vào thêm đông vui. Muốn thắp thì thắp!” Vợ tôi nạt “Người ta đã sợ muốn chết còn nhát nữa! Ông đi nấu miếng nước, pha trà cho nó uống tỉnh trí.”

Tôi đi pha trà, thêm cho mỗi người một viên thuốc chống dị ứng (làm cho buồn ngủ). Một lúc sau, cả hai đã chìm vào giấc ngủ. Tôi ra xa lông nằm, gọi điện thoại đến chàng rể “Có chuyện gì mà cô dâu bỏ về đây vậy?” “Cháu không rõ. Vừa tắt đèn thì cô ấy bắt mở đèn vì cô bảo thấy có người trong phòng. Mở đèn một lát, cô vừa thiu thiu ngủ thì bỗng vùng dậy bảo “Anh nuôi ma trong nhà!” rồi chộp lấy chìa khóa xe, tung cửa chạy ra ngoài, lái xe đi. Nhưng cháu có thấy ma quái gì đâu?” “Anh có dẹp cái trang thờ vợ trước của anh chưa?” “Cháu đem di ảnh vợ cháu cùng với lư hương, chân đèn vào closet (ngăn treo áo quần). Trang thờ trống trơn.” “Tôi nghĩ, anh nên thiết lâp lại trang thờ. để di ảnh người đã khuất cùng với đồ thờ lên cùng với lễ vật, sau đó anh thử khấn xin vong hồn người quá cố thông cảm cho anh mà bớt giận hờn, đừng phá cô Mai nữa.” “Cháu định bán ngôi nhà nầy, nhưng chưa biết thờ di ảnh vợ cháu ở đâu? Vì nếu thờ nơi tụi cháu ở thì cô ta sẽ quấy phá Mai, không yên đâu!” “Chỉ còn cách là đến chùa xin mấy lễ cầu siêu rồi thờ luôn cô ta trong chùa để vong hồn được nghe kinh kệ, sớm siêu thoát. Tạm thời, đừng liên lạc với cô Mai, coi như chấm dứt để vong hồn cô ta khỏi ghen tương mà có thể làm hại cô Mai”.

Sáng hôm sau, tôi trấn an cô Mai “Có lẽ cô nghe người ta kể chuyện ma nên bị ám ảnh chứ thời nầy làm gì có ma.” Cô Mai vẫn chưa hết sợ “Tối hôm qua, cháu thấy rõ ràng một người đàn bà từ trong “closet” đi ra, đến cạnh giường chỗ chồng cháu nằm. Cháu tưởng ăn trộm, bắt chồng cháu mở đèn, thì chẳng thấy gì cả. Cháu nghi là nhà có ma nên sợ quá, trùm mền kín mít, ôm chồng cháu ngủ. Mới thiu thiu thì cháu thấy lạnh ở cổ chân. Cháu nghĩ mình để chân ngoài mền, nên co chân lại, không ngờ, chân cháu như có ai giữ lại bằng hai bàn tay lạnh ngắt, không co lại được. Cháu nhìn xuống thì thấy lờ mờ người đàn bà lúc nãy đang cúi xuống như cố lôi cháu ra khỏi giường. Cháu co chân kia, đạp cho bà ta một đạp rồi vùng dậy, lái xe về đây.” Lúc đó là ban ngày mà vợ tôi cũng rút chân lên ghế. Đã sợ mà còn hỏi thêm “Con thấy con ma ra sao?” “Nó chỉ lờ mờ, nhưng cháu biết đó là một người đàn bà, tóc rủ trước trán, che không thấy mặt, hai cánh tay với mấy ngón tay chỉ còn xương, giống như hình chụp quang tuyến (X ray). Trước giờ cháu chưa hề thấy ma, cháu cũng không sợ ma, nhưng bây giờ cháu biết chắc là nhà đó có ma.” Tôi đề nghị, cô Mai đừng liên lạc với chồng cho đến khi nào chuyện ma đó giải quyết xong. Mấy hôm sau tôi gọi cho chàng rể thì được anh ta kể lại như sau “Cháu theo lời chú, thiết lập lại trang thờ cùng với lễ vật, rồi cháu lên nhang, đèn và khấn rằng, tuy cháu vẫn thương yêu cô ta (người vợ quá cố), nhưng âm dương cách trở, chỉ có thể gặp nhau sau khi cháu giả từ cuộc sống trên thế gian nầy để về với cô ta. Hiện tại, cháu không thể sống một mình mãi vì sau nầy, khi lớn tuổi, bịnh hoạn, già yếu không ai săn sóc, mong cô ta thông cảm để cháu có một người bạn gái bên cạnh. Cháu nghĩ rằng, vợ cháu, thân xác đã tan rã nơi đáy biển, trong cõi u minh lạnh lẽo, chỉ còn cháu là nơi để linh hồn vợ cháu nương tựa tìm hơi ấm của tình vợ chồng. Nay có một người thứ ba chen vào, vợ cháu sẽ đau đớn, buồn rầu lắm. Cháu ôm di ảnh vợ cháu mà khóc, và khấn rằng. Nếu không muốn cháu lấy vợ thì báo mộng cho cháu biết. Nếu không báo mộng thì coi như bằng lòng…” Tôi bảo “Dù cô ta có cho anh lấy vợ nhưng không có nghĩa là cô ta không ghen, không thù hận người chiếm đoạt tình cảm của chồng mình.” “Cháu nghĩ, khi một người đã chết rồi, linh hồn không thể ghen tương được nữa.” “Tôi nghe người ta nói. Những người chết oan, chết thình lình, tức là bất đắc kỳ tử, thần thức không chịu rằng mình đã chết, không chịu đi đầu thai, lúc nào cũng tìm về với người thân. Cô vợ quá cố của anh, càng yêu anh khi còn sinh tiền thì lúc chết, linh hồn càng quấn quit bên anh, càng đau khổ, càng ghen tương, thù hận. Nó không để yên cho con nhỏ Mai sống với anh đâu. Nó chỉ cần nhác ma vài lần là con nhỏ Mai bỏ chạy ngay.” “Chú nói có lẽ đúng. Khi cháu khấn đến đấy thì bỗng nhiên mấy cây nhang cháy bùng lên. Cháu thắp đợt nhang khác, nó cũng cháy bùng đến tận gốc. Cháu nghĩ nhang không được tốt, nên không thắp nhang nữa. Rồi thì đến lượt cây đèn cầy. Cháu vừa quay lưng là một cây đèn cầy bị tắt. Cháu thay cây khác, cũng vừa quay đi thì đèn tắt. Lần sau, cháu thắp đèn lên, vờ quay đi nhưng nhìn vào chiếc gương soi treo trên vách, thì thấy ngọn đèn như bị hai ngón tay vô hình bóp cái tim đèn, khiến nó dẹp lại, tắt ngấm chứ không như bị gió thổi, ngọn lửa phải nằm rạp xuống trước khi tắt. Hôm sau, cháu đến chùa, kể hết mọi sự cho vị sư trụ trì, thầy dạy rằng “Nhang cháy bùng, cháy cả chân nhang, thì gọi là “hóa hình nhang”, là có sự giao cảm giữa hai giới âm dương. Một ngọn đèn bị tắt thì cứ nam tả, nữ hữu, theo đó mà biết người nam hay nữ sẽ bị hồn ma theo ám hại. Cái vong nầy là trinh nữ, là oan hồn uổng tử, đã thành quỷ, nên lộng hành, phải nhờ oai linh Phật Tổ, khuyến dụ nó chịu về chùa, rồi phải cúng giải oan cho nó trong bốn mươi chín ngày sau đó nó mới chịu qui phục Tam Bảo, nghe kinh kệ mà chuyển nghiệp lành, vãng sanh tịnh độ. Hồn ma thường rất sợ ánh sáng và tiếng động mạnh như tiếng pháo nổ, súng nổ. Vậy nên, khi đem di ảnh của cái vong nầy từ nhà về chùa phải đốt một trái pháo, giống như ở Việt Nam, khi di quan (khiêng quan tài ra khỏi nhà), người mình thường đốt pháo hoặc đập mạnh một cái nồi, niêu gì đó cho hồn bạch (hồn người chết) ra khỏi nhà cùng với quan tài. Hôm lễ đưa vong, thầy và các Phật tử hộ niệm sẽ đến giúp. Nhớ đem theo di ảnh của nó. Di ảnh thay cho thần chủ (bài vị) là nơi vong linh nó ẩn náu”. Tôi khuyên anh ta không nên liên lạc với cô Mai trong một thời gian, khi nào xong lễ giải oan, yên ổn, hãy tính sau.

*

Chúng tôi ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ, gần thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington DC). Mỗi năm, đến lễ quốc khánh Hoa Kỳ (July 4), buổi tối có đốt pháo bông, gia đình chúng tôi, gồm con, cháu, sau nầy có cô Mai, sinh viên ở trọ, kéo nhau lên thủ đô, gần cây bút chì để xem đốt pháo.

Quốc khánh năm nay, vợ tôi gõ cửa, rủ cô Mai cùng đi, thì cô không có trong phòng. Gọi điện thoại cầm tay, điện thoại đã đóng, gọi cho chồng cô, điện thoại cũng đóng. Khi mở phòng cô Mai, mới biết, tất cả những gì của cô đã dọn sạch, chỉ thấy một mãnh giấy nhỏ có giòng chữ “Vợ chồng cháu sẽ gửi thư cho cô sau.” Cả hai đã bí mật, lặng lẽ dọn đi nơi khác, có lẽ sợ hồn ma cô gái kia đi theo.

Hai tháng sau, chúng tôi nhận được một lá thư, không ghi tên, không địa chỉ người gửi, dấu nhật ấn bưu điện cho thấy thư được gửi từ một thành phố rất xa. Chỉ vỏn vẹn mấy giòng:

“Tụi cháu không dùng tên cũ trong giao tiếp với bạn bè, không gọi nhau tên thật. Hôm quốc khánh, hai đứa cháu đi hai chiếc xe riêng, lấy bột màu bôi khắp mặt mũi, chân tay, đến chỗ cây bút chì trên Washington DC, ngồi hai nơi cách xa nhau, chờ đốt pháo bông. Khi ánh chớp và tiếng pháo nổ rộ lên (thầy trụ trì nói. “Nó” có theo chồng cháu đến đó mà nghe pháo nổ, ánh sáng xanh đỏ khắp nơi, ắt phải hoảng kinh bỏ chạy), nhân dịp đó chồng cháu lái xe chạy trước, cháu chạy sau. Tụi cháu đi suốt đêm. Xa lắm… Vì đã xin việc từ trước nên cuộc sống tụi cháu không có gì trở ngại. Từ hôm đó đến nay cháu không còn bị quấy rầy nữa. Cầu mong Phật tổ từ bi, cứu độ cho “chị ấy” hiểu thấu lẽ vô thường, không còn đau khổ, lưu luyến cõi trần mà siêu thoát vào cõi hư vô. Vợ chồng cháu rất cám ơn cô chú. Chúc cô chú sức khỏe”.

Đọc xong thư, tôi đưa cho vợ tôi đọc. Bả đọc mấy giòng đầu đã co chân lên ghế, đến cuối thư thì mặt mày xanh lét, vội vất lá thư đi. Tôi dọa “Con ma đó không theo được với thằng kia nên “tạm trú” ở đây. Nó đang đọc chung thư với bà đó. Để tôi đến chùa, mời thầy trụ trì đến “tiếp dẫn” nó về chùa.”

Tôi đi lấy chìa khóa xe để đi chùa. Mọi khi đi đâu, tôi phải chờ nửa tiếng để vợ tôi trang điểm. Nay thì chả phải trang điểm, ăn diện, vừa nghe tôi nói, bả đã phóc ra xe trước tôi, ngồi chờ mà mắt láo liêng, dòm chừng sau xe, tìm xem “nó” có “quá giang” ở ghế sau không? Tôi cười thầm, hỏi với giọng khiêu khích “Từ nay có còn đòi ngủ riêng hay vẫn tiếp tục ngủ chung với tôi?”.

Nói xong tôi mới biết mình hớ! Nguyên nhân như thế nầy. Mỗi khi gây lộn với tôi, vợ tôi đòi ngủ riêng, tôi mừng trong bụng, chỉ cầu cho bả “nói là làm”, nhưng tôi phải giả bộ đau khổ, lo lắng. Bả khoái lắm, thỉnh thoảng lại đem vụ “ngủ riêng” ra để đàn áp tôi. Bây giờ tôi trót dọa, trong nhà có con ma đó thì, tối vô giường, thay vì xô tôi ra như mọi khi, bả sẽ ôm tôi cứng ngắc, như thời mới cưới nhau. Con là nợ, vợ là oan gia. Tôi già rồi, gần chết rồi mà vẫn bị cái oan gia đó “ôm cứng ngắc!”.

Khổ sở thế đó, nên, xin quí độc giả thân mến, nếu thương tôi thì xin cho tôi một thời kinh “Cầu Siêu” cho tôi sớm được phiêu diêu miền cực lạc. A Di Đà Phật!

Phạm Thành Châu

Bến đậu bình yên

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 20 Apr 2026

Bình Dương Việt Nam 1991 Photo by Sơn râu

Từ ngày nghỉ hưu, tôi trở về sống ở Dronten, thuộc miệt đồng bằng Flevoland, phẳng lặng với kinh rạch chằng chịt, một mảnh đất nổi tiếng thế giới được bàn tay của người Hòa Lan lấy lên từ dưới biển.

Sáng nay, tôi mới nhận ra một điều tuy rất nhỏ nhưng nó lại mở ra một ý niệm sống mới: ban mai không còn đánh thức tôi bằng tiếng chuông báo thức khô khốc, chát tai phát ra từ chiếc điện thoại thông minh nữa. Thay vào đó là luồng ánh sáng dịu dàng xuyên qua kẽ hở của màn cửa, cùng tiếng chim ríu rít ngoài vườn. Một sự trái ngược hoàn toàn với nhịp sống căng thẳng, đều đặn suốt quãng đời thủy thủ lênh đênh sông nước của tôi trước kia.

Tôi xuống bếp pha một tách cà phê rồi mang lên phòng. Nhẹ tay kéo tấm màn che, bên kia con đường, mặt trời vừa nhô khỏi mái nhà, ánh sáng tràn ngập căn phòng. Tiếng chim càng thêm rộn rã. Dưới đường, một chiếc xe đạp điện lướt nhẹ trên con đường sỏi trộn xi măng màu đỏ, sắc màu quen thuộc trải đường, vốn đã trở thành một nét đặc trưng dành riêng cho xe đạp phẳng phiu trên khắp đất nước này.

Tôi là một người Việt tị nạn, đã định cư tại Hòa Lan gần nửa thế kỷ. Những ngày đầu đặt chân đến đây, tôi lao vào làm đủ mọi nghề để kiếm sống, cuối cùng chọn gắn bó với nghề thủy thủ. Những chuyến hải hành viễn dương đưa tôi đi khắp thế giới, hòa mình vào đủ nền văn hóa xứ người, đến mức đôi khi tôi không còn nhớ rõ về nền văn hóa mình đã rời bỏ năm xưa và lại càng xa lạ với những biến động quê nhà dưới chế độ mới. Cứ mải mê làm việc, tôi cũng không để ý nhiều đến văn hóa xứ sở hoa tulip, chỉ mơ hồ cảm nhận: ở đây, người ta đặc biệt quý trọng thời gian và giá trị con người.

Tôi vẫn nhớ những năm đầu, chân ướt chân ráo tới đây, khi còn bỡ ngỡ nhưng đã cảm thấy nhẹ lòng trước bộ máy hành chánh gọn nhẹ của Hòa Lan. Những việc mà ở Việt Nam có khi phải chờ đợi ngày này qua tháng nọ, thì ở đây chỉ mất vài phút hoặc cao lắm một tiếng đồng hồ là xong. Những người bản xứ thấy ngôn ngữ tôi bập bẹ, ngơ ngác nhiều cái hổng hiểu, họ vẫn vui vẻ chỉ dẫn tận tình, tuyệt nhiên không hề bắt nạt hay gợi ý đòi tiền như lúc tôi còn ở quê hương. Cái cảm giác được đối xử công bằng như một con người bình thường, không bị khinh rẻ, đối với một người tị nạn như tôi là một sự ấm áp rất người và vô cùng quý giá.

Tình người ở Hoà Lan thật âm thầm mà sâu sắc. Nhà nào cũng đóng cửa suốt ngày, hàng xóm tưởng chừng khép kín “nhà nào biết nhà nấy”, vậy mà khi hay gia đình tôi có chuyện buồn, họ lại rất quan tâm. Hôm bà xã tôi nằm viện, sáng sớm Marja, người phụ nữ sống cạnh nhà, tới bấm chuông cửa và trao tận tay tôi bó bông tươi rói: “Gởi tặng vợ ông, và nói với bà ấy rằng tôi sẽ sắp xếp thời gian tới thăm.” Câu nói đơn giản ấy như một lời xác nhận rằng tôi không hề lạc lõng giữa xứ lạ quê người.

Có một sáng, tôi vội vã đạp xe ra bến cho kịp giờ xe buýt đi thăm bịnh, thì xe đạp bị bể bánh giữa đường. Đang lúng túng, chưa biết phải làm gì thì một người đàn bà dắt chó đi ngang qua dừng lại hỏi han. Nghe tôi lo lắng vì sợ trễ chuyến xe, bà nói chắc nịch: “Ông cứ để xe đạp lại đây cho tôi, đi nhanh ra bến vẫn còn kịp!” Bà biểu tôi đưa điện thoại để bà lưu lại địa chỉ và số liên lạc. Hôm sau theo địa chỉ, tôi tìm đến nhà thì ngạc nhiên khi thấy chiếc xe cũ kỹ của mình đã được chồng bà thay vỏ mới và sửa sang lại ngon lành. Khi tôi hỏi tiền ông, tiền thay vỏ, bà xua tay cười nói: “Ông nhà tôi sửa dùm thôi, không tiền bạc gì đâu, ông cứ đạp về đi!” Suốt gần cả đời người trên mảnh đất xinh đẹp này, tôi đã gặp rất nhiều những tấm lòng nhân hậu như vậy đó.

Mỗi tuần tôi dành ra hai buổi sáng, vô thư viện sinh hoạt. Ở đó hội tụ những con người từ bốn phương trời, dù mỗi người mang một nỗi buồn riêng về quê hương tan tác, buộc phải rời xa, nhưng không khí luôn nhẹ nhàng vui vẻ, không có chỗ cho sự hơn thua hay thị phi. Chúng tôi ngồi uống trà, nhâm nhi bánh ngọt, tập nói tiếng Hòa Lan, chỗ nào bí từ thì chêm tiếng Anh. Câu chuyện xoay quanh từ chuyện nuôi và cư sử với chó, mèo của mỗi nước, đến chuyện thời tiết, hoặc chuyện siêu thị nào đang giảm giá, nơi nào có thức ăn ngon giá rẻ. Những mẩu chuyện vụn vặt ấy trở nên một đời sống chung mà tôi thấy mình thật sự tham dự vào một cách sâu đậm.

Thiệt tình mà nói, tôi đã tìm thấy cách sống mới, một cách sống biết trân trọng những niềm vui đơn giản: một bữa sáng kéo dài, một tách cà phê uống chậm, hay sự ấm lòng khi bước ra đường được hàng xóm gọi đúng tên mình. Nỗi mặc cảm là “người nước ngoài” đè nặng bao năm giờ đã tan biến, nhường cho cảm giác thân tình hơn.

Bây giờ tôi không còn là một du khách đứng bên ngoài nhìn vào châu Âu nữa. Tôi là một phần của nhịp sống nhân văn nơi vùng đồng bằng ngàn kinh rạch này. Sau một đời hải hành vượt trùng dương, có lẽ đây chính là bến đậu bình yên nhất mà tôi không cần phải tìm kiếm đâu xa.

Dronten 18/7/2026

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Lò Cừ

Lâm Chương
Post by Sơn râu 20 Apr 2026

Xã Phước Trạch nằm kề quốc lộ 19, lưng áp sát bởi sông Vàm Cỏ Đông. Xe cộ, thuyền ghe qua lại hằng ngày, nhưng chẳng mấy ai quan tâm. Bởi đây là cái xã nhỏ, không có gì đặc biệt đáng chú ý. Trong thời chiến tranh, thỉnh thoảng xảy ra vài vụ bắn giết, do súng đạn của phe này hay phe kia, cũng là chuyện thường. Vì thế, Phước Trạch bị chìm khuất giữa bao nhiêu địa danh nổi tiếng có trận dánh lớn. Sau đây, chuyện rất bình thường nơi một xã nhỏ. Ông xã trưởng, tên Cây. Thường gọi Xã Cây. Kẻ ghét ông, gọi sau lưng Xã Cầy. Ý muốn ám chỉ là chó. Cây hay Cầy, chẳng làm ông sứt mẻ. Nhưng thằng nào dám gọi Xã Cầy trước mặt ông, ông đánh bỏ mẹ. Xã Cây là khắc tinh của những tay cờ bạc và trộm vặt trong vùng. Không những thế, mấy gã thanh niên tới tuổi quân dịch, còn lừng khừng chưa chịu đi, đều bị ông chiếu cố rất tận tình. Các bợm nhậu trong xã, rượu vào hay ồn ào lộn xộn, nhiều khi xảy ra đánh lộn. Ông nắm đầu lên xã, nhốt và bỏ đói vài ngày, thân nhân lãnh mới cho ra. Quốc Gia có hiến pháp đàng hoàng, Xã Cây chơi kiểu đó, là chơi luật rừng. Ông thách, tao chơi vậy, ai giỏi làm gì thì làm đi.

Chẳng có ma nào đụng vào ông. Tiếng hờn, có lẽ cũng thấu tai quận trưởng, nhưng ông quận làm ngơ. Dung túng lổi nhỏ, để đạt mục đích lớn: diệt Cộng. Mang cái nhãn hiệu này mà hành sử, dễ làm thiên hạ khiếp vía. Ban đêm, ông có thể đột nhập vào bất cứ nhà nào trong xã để lục soát, chẳng cần pháp lênh. Ông lý luận: “Chạy lên tới tỉnh, xin được cái lệnh xét nhà, thì thằng Việt Cộng trước khi chuồn êm, còn đủ thì giờ ăn một bữa cơm, và gieo cho vợ nó một hạt mầm Việt Cộng con. Mỗi năm, từ tháng Chạp đến tháng Giêng, Xã Cây làm ăn khấm khá. Nhất là trong ba ngày Tết, được nhiều vố. Thời gian rổi việc vui chơi, những tay cờ bạc, thường gầy sòng ăn thua đủ. Sòng nào cũng có đặt người báo động từ ngoài đầu ngõ, để kịp thời thu dọn khi có hiến. Nhưng Xã Cây đâu phải tay vừa. Ông tậu được một số điệp viên tí hon đắc lực, bằng cách dụ con nít, cho nó tiền ăn kẹo. Nhiệm vụ duy nhất là đi chơi vòng vòng lối xóm, thấy nhà nào có sòng bạc, lập tức bí mật báo cho ông biết ngay. Ông dẫn theo năm ba anh Nghĩa Quân, bất ngờ đột nhập vào ngõ sau. Lúc ông hô lớn “đâu ngồi yên đó, ai chạy, bắn gãy giò”, thì tất cả đã bị bao vây. Không tên nào dám chạy. Ai cũng biết Xã Cây không doạ. Nếu bị bắn gãy giò thật, chì cần báo cáo lên thượng cấp rằng, nghi ngờ Việt Cộng chạy, nên phải bắn. Cũng có lý. Nếu chẳng gian, sao phải chạy? Trước tiên, ông hốt cả tiền trên chiếu, thồn vào túi. Sau đó, nắm bộ bài làm tang vật. Ghi tên từng người xơng, ông trở lại văn phòng xã. Ai muốn gì, lên xã khiếu nại. Tên nào mất nhiều tiền, mon men lên gặp Xã Cây. Ông bảo đợi đó, rồi đi làm việc khác. Đợi nửa ngày, chưa chắc được gặp. Chán năn bỏ về, đừng mong dịp sau. Nếu kiên trì chờ mãi, cũng gặp Xã Cây. Ông sẽ rất lịch sự, chỉ ghế mời ngồi. Bây giờ, nói chuyện với nhau bằng luật. Ông bảo, điều luật số mấy nói thế này, điều luật số mấy nói thế kia. Chẳng biết những điều luật ấy có ghi trong hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa thật hay không. Nhưng người nghe toát mồ hôi. Có thể tù như chơi. Sau khi nói luật, Xã Cây chìa miếng giấy, bảo ký tên nhận có tội đánh bài, số tiền sẽ dược trả. Không anh nào dám ký. Nếu xót của, thò bút ký tên, tiền cũng chẳng được hoàn. Đâu có cái biên bản nào xác nhận Xã Cây gom tiền sòng hạc? Chỉ có bộ bài làm tang vật mà thôi. Nhiều tay chơi bất mãn, muốn kiện. Nhưng nghĩ lại, quận binh xã, nên thôi. Ngoài cách hốt bạc sòng bài, Xã Cây còn kiểm tiền cách khác. Cách này có vẻ chính nghĩa quốc gia đại sự hơn. Ông đưa Nghĩa Quân luồn sâu vào những vùng mất an ninh. Nằm phục thco những con đường thường hay tiếp tế cho Việt Cộng, Xã Cây gọi là huyết mạch của dịch. Dân nghèo, buôn bán cò con. Họ mua thuốc tây, đồ dùng, nhu yếu phẩm, lén lút mang vào mật khu. Trót lọt, được món lợi to. Không lọt, nhiều khi nguy đến tính mạng. Nhẹ hơn, có thể đi tù. Làm ăn kiểu này, thường là phụ nữ. Gặp phụ nữ, Xã Cây chỉ tịch thu liền bạc và vật dụng, rồi cảnh cáo đuối về. Đuổi về là may. Nếu thẳng thừng, đi tù là cái chắc. Ông nói với anh em Nghĩa Quân: “Bắt tù người này, lại có người khác nổi lên thay thế. Không lẽ giết hết? Đừng nói chi đân nghèo, các bà tướng bà tá còn bán cho Việt Cộng cả xe GMC thuốc tây, cả ghe bầu súng đạn. Ai dám bắt họ? Cái gốc lớn nằm ở Sài Gòn. Cái rể ăn sâu vào tận phủ thủ tướng, dinh tổng thống. Thằng nào giỏi đụng đi? Không tán mạng, cũng thân bại danh liệt!” Xã Cây không nói ngoa. Điển hình là vụ “Long An còi hụ”. Chẳng ai ra mặt chủ chốt. Nhưng những thằng cắc ké đụng vào, đều trôi giạt điêu đứng, dở sống dở chết. Vỏ quít dày, móng tay nhọn. Trên đời có lắm Xã Cây, Nhưng Việt Cộng cũng không vừa. Họ đâu ôm bụng chịu đói, bị thương nằm bệnh chờ chết? Họ hóa giải hằng cách bung tiền ra cho dân nghèo mượn làm vốn. Mua hàng tiếp tế cho họ. Tiền lời bỏ túi. Tiền vốn giữ lại. Tiếp tục làm chuyến sau. Nếu chẳng may bị bắt, mất cả vốn lẫn lời. Họ cho mượn vốn khác. Số tiền cũ, coi như thiếu nợ. Ngày nào còn làm ăn với họ, họ không đòi nợ. Nếu ngưng, phải trả hết nợ cũ lẫn mới. Không ai dám quịt. Sợ họ chơi đòn giang hồ: ám sát. Vì thế, những ai đã mượn nợ, là chấp nhận gắn bó với họ bằng một chất keo bền bĩ lâu dài. Số tiền hốt được, Xã Cây không nuốt trọn.

Ông nói nửa đùa nửa thật: “Con gì ăn không ỉa?”

Vì thế, ông chia cho anh em Nghĩa Quân mỗi người một ít, gọi là tiền cà phê hủ tiếu. Ngược lại, anh em  Nghĩa Quân, vì lợi cũng hết lòng với ông. Chống Cộng là nhiệm vụ chung. Những đơn vị quân chính quy được trang bị vũ khi tối tân, đạn dược đầy đủ. Trung đội Nghĩa Quân của xã Phước Trạch, cũng như bao nhiều xã khác trên toàn quốc, chỉ được cấp phát những loại súng lỗi thời. Xã Cây bảo: “Trong khi địch xài AK, B40. Mình dùng Garant, Carbine. Chống sao lại?” Và, ông ngoại giao bằng tiền để Nghĩa Quân xã ông có được đại liên 30, súng cối 60, phóng lựu M79. Ngoại giao được súng lớn là một chuyện. Những thứ này đều ngoài cấp số đơn vị, lấy ai cấp phát đạn dược? Xã Cây lại phải bỏ tiền ra mua, từ những đơn vị chính quy hành quân ngang đây. Lính này bán vũ khí, đạn được cho lính kia, để chống kẻ thù chung. Mới nghe tưởng chuyện khôi hài. Trọng thời nhiễu nhương rối loạn, chuyện gì mà không thể xảy ra? Vô lý đến mức ông to bà lớn còn dám bán vũ khí cho kè thù nữa kìa! Tinh hình Phuớc Trạch tưong đối an ninh về mặt quân sự, nhờ vào hoạt động ráo riết của Nghĩa Quân. Nhưng tệ nạn cờ bạc trong xã, vẫn không sao trừ tuyệt, dù Xã Cây có nhiều mánh lới “hốt ổ”. Có sàng đánh lớn, là có thua đậm. Thua bạc, thường sinh trộm cắp. Kẻ trộm hay rình mò trong đêm. Việt Cộng đi về xã ấp, cũng hày rình mò trong đêm. Trời tối làm sao phân biệt ai là ai? Nghĩa Quân kích đêm, thấy bóng đen là nổ súng. Tên trộm nào xui, mất mạng rang chịu. Phước Trạch có Ba Rong, Sáu Cù nổi tiếng trộm vặt, còn phải ngán Xã Cây. Hai tay này làm thành cặp bài trùng, chơi bời lêu lỏng, quậy từ làng trên tới xóm dưới. Thời Xã Cây làm xã trưởng, cặp bài trùng không dám lộng hành, kéo nhau đi Sài Gòn móc túi cướp giật. Lâu lâu, về Phước Trạch, tạm nghỉ xà hơi. Xã Cây diểm mặt: “Tụi mày làm gì ở đâu thì làm. Về đây ngứa ngáy tay chân làm bậy, coi chừng lãnh thẹo, nghe con!”

Chúng ghét Xã Cây hơn ghét cứt. Có lần, Ba Rong, Sáu Cù trở về bằng chiếc xe Honda mới toanh. Chúng vênh váo, lượn tới lượn lui trong xã. Xã Cây nghi xe bất hợp pháp, chận lại xét thẻ chủ quyền. Hóa ra xe ăn cắp. Ông lôi cổ chúng lên xã, dần cho một trận mập mình, trước khi giao Cảnh Sát. Tù tội đầy khám rồi, người ta không muốn giam giữ lâu những tên ăn cắp vặt. Phải tống ra ngoài, lấy chỗ nhốt người khác. Cặp bài trùng tái xuất hiện ở Phước Trạch. Xã Cây hãm he: “Bắt tụi mầy như bắt cóc bỏ dĩa. Lần sau, khỏi bỏ dĩa, con ạ. Tao bẻ giò luôn.”

Ba Rong, Sáu Cù cười khinh khỉnh. Rồi chúng lại vắng mặt. Tưởng chúng đi Sài Gòn, giở ngón nghề cũ, Thời gian sau, bổng có cái thư gửi đích danh Xã Cây. Thư của Ba Rong, Sáu Cù báo cho biết, chúng đã giác ngộ theo quân Giải Phóng làm cách mạng. Khép ông vào thành phần ác ôn, có nhiều nợ máu với nhân dân. Và hửa hẹn sẽ lấy mạng Xã Cây trong một ngày rất gần. Xã Cây cười: “Bây giờ thì dễ xử trí rồi. Gặp hai con quỷ

đó, tao lia một tràng tiểu liên, gọn hơ.”

Con em xã Phước Trạch, kẻ đi lính Quốc Gia, người đi theo Việt Cộng. Biết dâu là chính nghĩa, khi bàn tay của cả hai phe đều đổ máu. Chọn phe này hay phe kia, không có nghĩa là chọn lựa một lý tưởng, hay theo một chính nghĩa. Tất cả đều vì hoàn cảnh mà thôi. Những năm gần đây, chiến trường sôi dộng dữ. Thỉnh thoảng, có người trở về trong chiếc hòm, phủ cờ vàng ba sọc đỏ. Bà con thân nhân khóc ầm lên. Réo Xã Cây mà chửi.Trong đớn đau mất mát, còn biết sợ gì ai. Người ta kêu cả tên tổng thống mà nguyền rủa. Khi người lính Quốc Gia chết là thế. Kẻ theo Việt Cộng chết, thân nhân của họ âm thầm bưng bít. Chẳng nghe ai nói năng la khóc và đòi đào mã cha Hồ Chí Minh. Không phải tự dưng mà thân nhân người chết, chửi Xã Cây. Trong xã, những thanh niên tới tuổi thi hành nhiệtn vụ quân dịch, còn lừng khừng chưa muốn đi, ông tới tận nhà nhắc nhở. Nhắc nhở không nghe, ông dùng biện pháp mạnh. Bắt giao cho quận. Quận giao cho tỉnh. Giao qua nhiều hệ thống. Cuối cùng giao ra tới chiến trường. Và chiến trường là con quái vật lạ lùng. Nó nuốt sinh mạng của cả hai phe lâm chiến. Nuốt hoài không no. Cung ứng bao nhiêu cũng không đủ. Dân tộc nào nuôi con quái vật này, không lo bị nạn nhân mãn. Ông quận trường nhiều lần xuống thăm Phước Trạch. Ngõ lời khen tặng Xã Cây và anh em Nghĩa Quân về thành tích dẹp giặc, giữ gìn an ninh trong xã. Nhưng người dân vẫn không ngớt than phiền. Họ cảm thấy bị kiểm soát gắt gao, cùng những biện pháp quá cứng rắn mà Xã Cây áp đặt lên

mọi người. Nghc những lời này, Xã Cây nói: “Nếu không kiểm soát gắt, thì nơi đây trở thành cái ổ chứa Việt Cộng. Nếu không dùng biện pháp mạnh, thì du côn trộm cướp lộng hành. Việt Cộng dùng máu để khuất phục, sao không ai lộ hé nói gì? Minh cứ xìu xìu ển ển, thì thôi, buông súng dầu hàng cho rồi!”

Xã Cây vẫn giữ nguyên thái độ và đường lối làm việc của mình. Để chứng tỏ vì dân trừ bạo, Việt Cộng áp dụng sở trường khủng bố, ra tay bằng thủ đoạn. Xã Cây có thằng con trai, mười bốn tuổi, thường đi câu cá theo những mương rạch, bờ ao. Một chiều, không thấy về. Nghi nó bị chết đuối, Xã Cây cho người tìm kiểm. Ba ngày không thấy xác nổi lên. Tuần sau, ông được lá thư, cho biết quân du kích đang giữ con ông. Nếu muốn nhận lại con, ông phải một mình đi vào vùng hẻo lánh. Xã Cây gầy rạc người. Ai chẳng hiết, đi là chết.

Có người bàn: “Không dại gì đem thân nạp mạng. Rồi họ cũng phải thả thằng bé vô tội mà thôi.”

Người khác lý luận: “Trong xã này, cũng có vợ con Việt Cộng. Ai làm khó dễ gì đâu? Người nào có phần người đó chứ.”

“Nếu Xã Cây cũng bắt vợ con của họ, đòi họ ra đây nhận lãnh thì sao?”

“Đó là hành động tiểu nhân.”

Bàn lui tính tới, Xã Cây quyết định không đi. Chờ du kích thả con ông vô điều kiện.

Mười ngày trôi qua, thằng bé không về. Xã Cây như ngồi trên than đỏ. Nửa tháng sau, nó bị vất xác ngoài bờ

sông Vàm Cỏ Đông. Khi được tin báo, nhiều người trong xã chạy ra xem. Xác thằng bé bị đâm nhiều nhát. Trên ngực còn cấm thẳng đứng một lưỡi dao găm. Chuôi dao buộc mảnh giấy, đề bốn chữ đậm nét “Cảnh Cáo Xã Cây”.

Nhìn cách sát hại quá dữ, mọi người thất sắc. Không ai dám lời ra tiếng vào bình phẩm. Tai vách mạch rừng. Biết đâu trong số người đi xem, có người là tai mắt Việt Cộng? Xã Cây nghiến răng, vồng bắp thịt hai hên quai hàm, mắt long lên dường bốc lửa. Khó mà diễn tả thế nào cho đúng ngọn lửa trong mắt Xã Cây. Ngọn lữa lạnh sắc của hận thù và đau thương! Ông rút cái lưỡi lê oan nghiệt trên ngực đứa con, cho vào túi dết bên hông. Rồi bọc tử thi trong tấm poncho, ôm về. Không hề nói năng.

Sau khi chôn cất thằng con, Xã Cây dắt vợ và mấy đứa con còn lại, vào ngủ trong đồn Nghĩa Quân. Ông dặn những người thân tín, ban dêm không nên tới nhà ông, Người ta nghi, ông gài mìn hoặc lựu đạn, để phòng kẻ gian đột nhập. Từ ngày ấy trở đi, Xã Cây lầm lì. Thái độ của ông, làm những tay trộm vặt gà ngoé trong vùng, cảm thấy lạnh cẳng. Thỉnh thoảng, Xã Cây biến mất một cách khó hiểu, đôi ba ngày. Giao công việc giấy tờ hành chánh cho xã phó giải quyết. Mãi sau, có người tiết lộ bí mật. Xã Cây, cùng vài anh Nghĩa Quân mang theo com sấy nước uống, âm thầm xâm nhập vô sâu trong vùng hẻo lánh. Họ nằm ẩn nấp ngày đêm trong lùm bụi. Vô phước, tên du kích nào đi qua một mình. Họ lôi vào, bịt miệng, trói tay chân. Xã Cây cứa cổ bằng cái lưỡi lê đã từng cắm trên ngực con mình. Tên nào giãy giụa, ông bảo: “Mày giãy, tao cắt trầy trật, lâu chết, đau lắm. Ngữa cổ nằm yên, tao làm nhanh, ít đau.”

Chuyện khuất lấp của Xã Cây, không mấy người chứng kiến. Nhưng, từ vùng hẻo lánh, du kích bắn tiếng ra, thề đòi nợ máu Xã Cây. Nghe thế, các cụ giả lắc đầu, chép miệng: “Oan oan tương báo!”

Một ngày, Xã Cây dụng phải mìn du kích. Miếng mìn xẹt ngang cổ, làm ông bứt cuống họng. Trực thăng tải thương cấp thời. Nhờ thế mà ông còn giữ mạng. Khốn thay! Dù cuống họng được nối lại, nhưng mất tính đàn hồi. Ông không nuốt dược. Khi ăn, phải thọc cái vòi vào cổ họng, đổ thức ăn vàn phễu, đẩy thức ăn trôi qua khỏi cuống họng. Các cụ già lại nới: “Quả báo nhãn tiền!”Xã Cây rời chức vụ xã trưởng. Sống hẩm hiu đời dân giả. Bấy giờ, kẻ ghét ông, gọi trước mặt là Cựu Xã Cầy.

Một mùa Xuân. Những kẻ chui rúc trong rừng sâu núi thẩm, trở về nghênh ngang giữa làng mạc thành phố, phất cờ tự xưng cách mạng. Đó là ngày đất nước thay ngôi đổi chủ. Người hiểu rõ bản chất cách mạng, khuyên Cựu Xã Cây nên trốn đi địa phương khác, man khai lý lịch mà ẩn danh. Cựu Xã Cây nói: “Cuộc tranh chấp đã ngã ngũ rồi. Ai tiểu tâm bươi móc chuyện cũ?”

Người ấy nói: “Sau khi Gia Long diệt Tây Sơn, còn đào mồ Nguyễn Huệ, lấy sọ làm máng đựng nước tiểu.”

“Trong lịch sử, không có nhiều Gia Long.”

“Thế thì ông không hiểu rõ đặc tính thù dai của dân tộc mình rồi!”

Nửa tháng, sau khi cách mạng tràn về. Ba Rong, Sáu Cù cùng với hai người nữa, đến nhà Cựu Xã Cây. Một người lạ mặt, có vẽ là cấp chỉ huy. Còn người kia, không ai khác hơn là cái gã đã hiếp dâm một chị đàn bà trong xã, nhiều năm về trước. Bị tố cáo, gã sợ tội, trốn mất. Không ngờ, gã đi làm cách mạng. Cựu Xã Cây đang ngồi trong nhà. Thấy những người mới đến. Tái mặt. Vụt đứng dậy. Sáu Cù cười: “Trước kia, mày hăm bẻ giò tụi tao. Nhớ không?”

Cựu Xã Cây nín thinh.

Ba Rong: “Thôi. Đừng phí lời với thằng mang nhiều nợ máu nhân dân.”

Hấn kćo cơ bẩm, đẩy viên đạn lên nòng.

Người lạ mặt đưa tay ngăn: “Không … ” Nhưng đã muộn. Cựu Xã Cây phóng chạy, ra tới sân thì bị nguyên một lọat đạn AK vào lưng. Té sấp. Thi hành xong, bốn người đi về phía xã. Trên đường đi, người chỉ huy nói giọng Bắc, trách: “Chú làm sai đường lối cách mạng.”

Ba Rong sợ: “Có phải ý anh muốn tha cho Cựu Xã Cầy?”

Người chỉ huy lắc đầu: “Không tha. Nhưng hành động phải tính toán và có kế hoạch. Làm gấp quá. Uổng. Phải lôi nó ra sân vận động. Bắt đứng trên cái bàn cao. Gọi nhân nhân chứng kiến. Mình hài tội nó trước khi xử tử. Dằn mặt luôn bọn phản động .. Một công hai chuyện.”

Ba Rong tiếc: “Thấy con mồi ngon quá. Ngứa tay, không chịu được. Lỡ rồi!

Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 7 Jan 2020

Post by Sơn râu 20 Apr 2026

Kỳ trước:

Cuối cùng thì đơn vị tiếp viện đã tới, ông Tiểu đoàn trưởng của Trung Đoàn 45 BB đã vào đến cổng trại để bắt tay với Thiếu Tá Vương Mộng Long, trong khi đó toàn bộ các đơn vị bộ binh, xe tăng, phòng không của địch đã rút sạch sau hơn một tháng ê càng mà không gặm nổi trại Pleime. Nói đúng hơn, họ không thắng nổi ý chí của những người lính VNCH bằng lòng chiến đấu cho đến chết.

Kỳ cuối

Tôi làm như quay mặt nhìn hướng khác khi thấy ông Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cầm cái can chỉ huy gõ nhè nhẹ vài cái lên nón sắt của Ðại tá Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, ra dấu cho ông Ðại tá Liên Ðoàn Trưởng đừng phát ngôn lung tung nữa.

Ngày 14 tháng 9 một đoàn xe chuyển vận Tiểu Ðoàn 90 của Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân vào trại thay thế cho chúng tôi để trấn giữ trại Pleime.

Toàn bộ quân nhân còn sống sót của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thở dài nhẹ nhõm. Ðoàn xe lăn bánh vượt con dốc vườn rau của trại, để lại sau lưng chúng tôi cái địa ngục trần gian của hơn một tháng trời, ngày đêm đội mưa, đội pháo, ghìm súng chống quân thù.

Theo như ghi chép trên Nhật Ký Hành Quân của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân thì trong thời gian bao vây Pleime, Cộng Quân đã triển khai 20 đợt tấn công biển người nhắm vào hệ thống phòng ngự của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Nhưng theo tổng kết của Trung úy Trần Dân Chủ sĩ quan Ban 3 của đơn vị tôi thì địch đã mở ra gần 30 đợt xung phong trong thời gian vây hãm này.

Chúng tôi vẫy tay giã từ nơi đây mà không biết đó cũng là lần ra đi vĩnh biệt.

Có một xe GMC được trưng dụng chở chiến lợi phẩm. Ðáng lý ra còn nhiều súng ống của địch nằm trong hàng rào, nhưng tôi không cho người bò vào bãi mìn để lấy thêm, vì đã có hai Biệt Ðộng Quân chết oan khi vướng mìn và lựu đạn trong lúc chui vào rào thu nhặt chiến lợi phẩm.

Chúng tôi được lệnh trú quân trong một khu rừng thưa cách ngã ba Quốc lộ 14 nửa cây số để tắm giặt, thay quân phục, chờ hôm sau sẽ về Pleiku làm lễ khao quân.

Sáng 15 tháng 9 khi tôi kéo quân lội bộ ra tới Quốc lộ 14 thì đã có gần hai chục chiếc GMC mười bánh đậu nối đuôi nhau chờ sẵn.

Sau khi trình diện, ông Ðại úy chỉ huy đoàn quân xa, siết chặt tay tôi,

– Kỳ này các ông mà không giữ được Pleime thì chắc Pleiku bị di tản rồi!

Nghe vậy, tôi vội ngắt lời ông ta,

– Có gì đâu! Nhiệm vụ của Biệt Ðộng Quân mà!

Ông Ðại úy cười hóm hỉnh,

– Tôi ở Pleiku từ thời Trung tướng Vĩnh Lộc, tôi biết Thiếu tá từ khi ông còn là một thiếu úy, mỗi khi hành quân về ông đều ghé Quán Kim Liên!

Nghe vậy tôi cười lớn,

– Mình là dân Pleiku, phải bảo vệ Pleiku cũng là lẽ đương nhiên thôi!

Chiếc xe Jeep của tôi vừa leo dốc qua cầu Hội Thương Hội Phú thì đã thấy dân chúng hai bên đường vẫy tay reo hò, “Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!…”

Dân chúng đứng chật ních hai bên đường từ dốc Diệp Kính tới Hội Quán Phượng Hoàng cao tay phất những lá cờ nho nhỏ bằng giấy nền vàng ba sọc đỏ. Trong khi đó thì những cái loa trên một chiếc xe của Ty Thông Tin Pleiku chạy vòng vòng phát đi những điệu hát quân hành, “Kìa đoàn quân chiến thắng trở về dưới nắng hồng….”

Quân nhân của tiểu đoàn tôi phải xuống xe nơi đầu dốc Diệp Kính, Hoàng Diệu rồi đi bộ hàng một tiến về sân vận động.

Ði đầu đoàn quân, ngợp trong rừng cờ và biển ngữ, tôi tưởng mình bị hoa mắt trông lầm khi thấy trên hai cái băng vải trắng treo trên hàng rào nhà thờ và căng ngang đường phố trước tư dinh của Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn II có hàng chữ viết bằng sơn đỏ:

“Toàn dân Pleiku ghi ơn Thiếu tá Vương Mộng Long và các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt động quân”

Nơi sân vận động Pleiku này, tôi đã từng có vài lần đứng chung hàng ngũ những quân nhân được tiếp đón sau hành quân để nhận huy chương. Tôi chưa thấy có lần nào người chỉ huy đơn vị được nêu đích danh tên họ để “Ghi ơn”.

Ðây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử thành phố, một đơn vị nhỏ, cấp tiểu đoàn vinh dự được dân chúng đón tiếp trọng thể như thế. Ngày hôm đó toàn dân thành phố đã đình công, bãi thị. Các trường học thì đóng cửa để ăn mừng chiến thắng.

Dọc đường, người dân tươi cười hớn hở ào ra dúi cho các anh lính chiến những bao thuốc lá. Thuốc lá mà đồng bào đem ra cho các anh lính có khi hút cả tháng sau mà chưa hết! Ngực ông lính nào cũng căng phồng vì áo lót chứa toàn là thuốc lá!

Trong số đàn bà con nít đứng chờ đoàn chiến binh đang từ dưới dốc Diệp Kính đi lên có nhiều người là vợ con lính của tiểu đoàn. Tôi không nỡ ngăn cản những bé con đang hớn hở, tíu tít vui mừng chạy ra giữa đường níu chân bố chúng nó:

“Ba ơi! Ba ơi! Ba về rồi! Con nhớ Ba lắm! Ba ơi!”

Cũng có những đôi mắt đỏ hoe, những giòng lệ tuôn, cùng tiếng khóc nấc trong đám đông, khi ai đó vừa hay tin chồng con của họ sẽ không về.

Vào tới sân vận động tôi thấy ở đây quả là một rừng người.

Trên sân, sau hàng quân của tôi là đội ngũ thầy giáo và học trò, kế đó là đội ngũ dân chúng. Hội đoàn dân chính do ông Ngô Xuân Thu và bà Hồ Thị Thơm đại diện.

Tôi đứng một mình trước đoàn quân đội ngũ chỉnh tề.

Anh em còn lại của đơn vị đứng xếp hàng thành một khối 20 hàng dọc và khoảng trên 20 hàng ngang.

Trên khán đài là hai vị đại tá, Ðại tá Nguyễn Ðức Dung Tỉnh Trưởng Pleiku, ngồi bên là Ðại tá Phạm Duy Tất Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, cùng nhiều thân hào nhân sĩ của Pleiku.

Dàn nhạc của Quân Ðoàn II bắt đầu bản nhạc “Bài ca chiến thắng” cùng lúc các nữ sinh đại diện các trường trung học tiến lên, trên tay mỗi cô là một vòng hoa tươi nhiều màu sặc sỡ.

Kể cả tôi, có 21 người đại diện đơn vị được choàng hoa.

Cô nữ sinh dẫn đầu đoàn người đẹp đi qua trước mặt tôi sẽ là người choàng hoa cho anh lính thứ 21. Người đi sau cùng mới là người sẽ đứng lại trước mặt tôi.

Trong số nữ sinh đi trong đoàn người ủy lạo đơn vị tôi hôm đó có một người tôi quen, cô ấy là người yêu của cố Thiếu úy Biệt Ðộng Quân Ðinh Quang Biện.Thiếu úy Biện là người anh lớn nhứt của vợ tôi. Anh Biện đã tử nạn năm 1971.

Ði ngang qua mặt tôi, cô ấy nói,

– Cám ơn Tiểu Ðoàn 82! Cám ơn anh Long! Chị Long và mấy cháu có khỏe không?

Tôi mỉm cười,

– Cám ơn chị, gia đình tôi vẫn bình an.

Thế rồi mấy phút kế đó, sau lưng tôi, cô nữ sinh này đã bật khóc giữa hàng quân, ngay khi vừa choàng xong vòng hoa cho một sĩ quan. Có lẽ người con gái Pleiku ấy vừa nhớ đến hình bóng một người lính Biệt Ðộng Quân đã đi qua đời mình.

Tình đầu không thể ví như một giọt sương đọng trên cánh hoa sớm mai, nắng lên thì hạt sương bay. Tình đầu là những gì chứa đầy chua xót, đắng cay, ngọt ngào, nếu đã đánh mất nó rồi, thì sẽ không bao giờ tìm lại được. Nó cứ mãi sống trong tim người. Vì thế mà một thi sĩ thời tiền chiến đã viết:

“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Nghìn năm hồ dễ mấy ai quên?” (Thơ Thế Lữ)

Hôm đó người lính nào đứng trong hàng ngũ Tiểu Ðoàn 82 cũng được các em học sinh và đồng bào trao cho một gói quà, kể cả các anh vừa mới được bổ sung quân số mười ngày trước đây.

Cái hình Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được cô hoa khôi trung học choàng vòng hoa chiến thắng đã chiếm hết một trang đầu của Nhật Báo Tiền Tuyến phát hành vài ngày sau đó.

Ðại tá Nguyễn Ðức Dung Tỉnh Trưởng Pleiku mở đầu buổi lễ bằng một bài diễn văn dài. Ông Tỉnh Trưởng không tiếc lời ca tụng chiến công mà chúng tôi vừa lập được.

Kế tiếp là một bài phát biểu dài thật là hùng hồn và sống động của ông Ngô Xuân Thu, Dân Biểu đơn vị Pleiku.

Ông Ngô Xuân Thu cho chúng tôi những lời khen khiến chúng tôi cảm thấy mình đang bay lên tới tận mây xanh.

Cứ sau vài câu ca tụng “những chàng trai Việt kiêu hùng” ông dân biểu lại lớn tiếng hô to “Hoan hô!” thấy thế dân chúng trong sân cũng lớn tiếng “Hoan hô!” theo.

Ngay sau khi Dân Biểu Ngô Xuân Thu dứt lời thì cả sân vận động bỗng trở thành một cái chợ với những tiếng gọi nhau “Ơi ới!” của các bà, các cô tranh nhau đem quà phân phát cho chiến sĩ. Phái đoàn ủy lạo của bà Hồ Thị Thơm và các bà trong đội ngũ phụ nữ đã chuẩn bị sẵn 500 ổ bánh mì thịt và hai con heo sống thật bự dành cho những đứa con vừa trở về từ chiến trường.

Con rể của bà Thơm cũng là một Trung sĩ Biệt Ðộng Quân, nhưng anh Trung sĩ Ðốc làm việc ở văn phòng, nên không có mặt trong hàng quân đang đứng trên sân.

Cuối cùng tôi bị gọi tên lên bục phát biểu cảm tưởng.

Vì không được thông báo trước chuyện này, nên đứng trước máy vi âm tôi không có tờ giấy đánh máy sẵn như ông Ngô Xuân Thu, tôi cứ nghĩ gì thì nói vậy.

Khi tôi dứt câu,

“Thưa đồng bào Pleiku! Chúng tôi là những đứa con của đồng bào! Chúng tôi sẵn sàng hy sinh thân xác mình để canh từng thước đất, giữ từng đoạn giao thông hào chống quân xâm lăng, cũng chỉ vì sự an nguy của đồng bào! Hôm nay những đứa con của đồng bào đã bình an trở về rồi! Ðồng bào có thể yên tâm, không còn lo sợ nữa!”

thì trong đám dân chúng đứng bên trái khán đài có nhiều tiếng khóc sụt sùi.

Mấy chục năm sau, tôi không quên hình ảnh những cụ già vừa lau nước mắt vừa nghẹn ngào,

– Các con vất vả quá! Thương các con quá, các con ơi!

Những phóng viên nhà báo Việt-Nam và ngoại quốc tranh nhau chụp hình quay phim.

Có một phóng viên người Mỹ hỏi tôi,

– Xin anh cho biết vì sao trong tình trạng thiếu thốn và tuyệt vọng như thế mà các anh vẫn kiên trì chiến đấu rồi chiến thắng?

Tôi cười, đáp gọn,

– Chúng tôi chiến đấu tới cùng là vì an nguy của đất nước Việt-Nam!

Người quay phim của Tiểu Ðoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị cũng phỏng vấn tôi một câu tương tự,

– Ðộng cơ nào thúc đẩy Thiếu tá đã liều mình tử thủ Pleime?

Tôi cũng cười,

– Vì đồng bào Pleiku, và vì đồng bào cả nước!

Các ký giả săn tin còn tìm thêm được vài Biệt Ðộng Quân khác để phỏng vấn, trong số những người hùng được lên màn ảnh truyền hình kỳ này có Trung úy Nguyễn Công Minh, Thiếu úy Phạm Văn Thủy, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước và Trung sĩ viễn thám Nguyễn Chi.

Chiều 15 tháng 9 trên 400 quân nhân của tiểu đoàn được chia thành từng tốp từ 5 tới 8 người để dự tiệc do các cửa tiệm tư nhân, hay hội đoàn tiếp đón.

Tôi cùng Thiếu úy Trần Văn Phước và toán Viễn Thám của Mom Sol được “Nghiệp Ðoàn Tài Xế xe Lamb” và “Hội xưởng cưa” tiếp đãi. Bữa tiệc này có Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 tham dự.

Sau này những cửa tiệm như Giò Chả Bắc Hương, Hủ Tiếu Hiệp Thành, Cà Phê Kim Liên, Nước Mắm Nguyễn Quý, Phở Kim Phượng, Cơm Ba Cò, Quán Kim, Quán Nhớ… vân vân, nếu thấy anh lính Biệt Ðộng Quân nào mang trên vai cái huy hiệu đầu cọp có số “82” thì không tính tiền, hoặc tính theo giá rẻ.

Trong nhiều ngày sau đó, hình ảnh buổi lễ khao quân ngày 15 tháng 9 năm 1974 trên sân vận động Pleiku đã trở thành một trong những sự kiện nổi bật trên màn ảnh truyền hình quốc gia.

Thời gian nghỉ dưỡng quân ở Pleiku tôi có dịp gặp và nói lời cám ơn tới những đồng ngũ đã có mặt trong các đoàn quân vào tiếp viện cho tôi, đặc biệt là các bạn ở Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh và các bạn ở Trung Ðoàn 53, Trung Ðoàn 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Tôi nói với họ rằng, nhờ có những đóng góp máu xương của họ mà chúng tôi mới tạo được chiến thắng vẻ vang này.

Anh em trong đơn vị tôi có ba ngày nghỉ tự do, nhưng chỉ được đi loanh quanh trong phố Pleiku thôi, không ai được phép đi sang thành phố khác.

Là con chim đầu đàn, tôi phải nêu gương, giữ gìn quân kỷ. Dù nhớ vợ con vô cùng, tôi cũng không dám bỏ đơn vị để “dù” về Ban Mê Thuột thăm nhà.

Chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chứng tỏ cho thế giới biết rằng dù phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, Quân-Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa vẫn có thể chu toàn nhiệm vụ bảo quốc an dân.

Với thượng cấp chúng tôi đã hoàn thành sứ mạng được giao phó. Với đồng bào Pleiku, chúng tôi đã xứng đáng là những người con tin yêu của thành phố. Với cá nhân tôi thì trận đánh 33 ngày đêm này chính là cơ hội để tôi thi thố hết khả năng của một người cầm quân.

Những chiến binh “Tử thủ” Pleime năm 1974 đã vì đất nước mà quên cả mạng sống của chính mình, nên nhiều chục năm sau họ vẫn cảm thấy tự hào:

“Tôi rất hãnh diện đã là một người lính của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân”

Theo thời gian, những người từng hiện diện trong chiến dịch Pleime 1974 đã và sẽ theo chân nhau thành người thiên cổ. Nhưng trong quân sử, chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng sẽ mãi mãi được lưu truyền như một huyền thoại của chiến tranh Việt-Nam trong thế kỷ thứ 20.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 20 Apr 2026

Mỗi lần “Xuân đã về, xuân đã về! Ngàn hoa hé môi cười … ,” thì người bị dị ứng lại bắt đầu thấy ngứa mắt, chảy mũi, hắt hơi. Người ta có nhiều thứ dị ứng, có thứ có thể đưa đến chuyện chết người nhưng cũng có thứ khiến người ta khó chịu phải tránh xa. Nhiều thứ dị ứng thông thường chúng ta vẫn thường gặp, nhưng cũng có nhiều thứ rất lạ lùng. Thông thường như phấn hoa, bụi bặm, lông thú vật, thức ăn, trái cây, cỏ hay rơm rạ, gỗ, thuốc trụ sinh, nhưng cũng có người dị ứng cả với sữa, chocolate, trà, cà phê, rượu và cả máy điện thoại di động. Ông Darren Young, một người Anh 45 tuổi cứ mỗi lúc gần vợ là da nổi mẫn đỏ và ngộp thở, vì bà này hay dùng một loại kem dưỡng da có chất polyethylene glycol. Không phải gần bà, cảm động ngây ngất mà tim ông tăng nhịp, mà chỉ vì loại kem của bà khi hít phải, có thể làm tim ông ngừng đập. Cậu Jamie Steward, 17 tuổi thì té ngữa sau cú hôn với cô bồ, vì cậu dị ứng với đậu phụng mà cô Liza thì mới ăn hết một túi đậu phụng xong. Một cô bé người Úc thì từ lúc sinh ra đã dị ứng với nước, nên đời cô không biết tắm là gì, một cậu bé khác thì dị ứng với mặt trời và cả với ánh sáng nên chỉ sống trong căn nhà mà những căn phòng đều được che kín. Những chuyện dị ứng này tuy lạ lùng nhưng ai cũng biết, nhưng thật ra chuyện dị ứng chưa hết, vì đời chúng ta còn nhiều chuyện rất … dị ứng khác.

Trong thời đại và hoàn cảnh hiện nay, bệnh dị ứng được xem như khá trầm trọng, tuy không đến nổi phải vào bệnh viện hay nằm liệt giường, nhưng thật là khó chịu. Có người dị ứng với màu sắc, nói rõ là màu đỏ, từ cái áo dài màu đỏ, cho đến cái cà vạt đỏ. Thấy màu đỏ là áp huyết lên cao, đôi khi làm xây xẩm mặt mày. Chúng ta rất thông cảm mà không dám trách cứ điều gì vì màu đỏ này khiến cho người ta liên tưởng loại cờ “in máu chiến thắng”, “thề phanh thây, uống máu quân thù” đã để lại trong lòng những người này bao nỗi hãi hùng khó quên. Từ hồng quân, hồng kỳ, đông phương hồng, công trường đỏ, khăn quàng đỏ cho đến cơ quan “lưỡi liềm đỏ”, thứ nào cũng mang sự dị  ứng tối đa cho những người đã từng là nạn nhân của chế độ Cộng Sản ..

Cũng có người dị ứng với những ngôi sao, dù là sao Macy’ hay sao McDonald’s, thấy sao là đã ghét rồi. Ngôi sao dù ở trên giây nịt một ca sĩ cũng đã thấy ghét, huống gì ở Dallas, tiểu bang Texas, có một cây cầu xa lộ mang tên Hight Five, ở những chân cầu người ta trang trí hình những ngôi sao “lone star”, biểu tượng của tiểu bang. Những ngôi sao này làm cho người Việt tỵ nạn ngứa mắt, nên ông chủ tịch một đoàn thể tại thành phố này đã làm văn thư lên Hội Đồng Thành Phố xin đập bỏ đi. Lẽ cố nhiên đây là một yêu cầu rất vô lý, nhưng để cho mọi người thấy những ngôi sao đơn độc như ngôi sao màu vàng trên ngọn cờ máu đã dị ứng như thế nào đối với một người đã chán ghét chế độ Cộng sản Việt Nam. Lại cũng có người dị ứng với khăn rằn. Khăn rằn là thứ khăn phổ biến của phụ nữ Nam phần để choàng cổ, trùm đầu, lau nước trầu đâu có gì mới lạ, nhưng từ hồi có “nữ tướng” Nguyễn Thị Định đi đâu cũng choàng cái khăn rằn, rồi khăn rằn đi theo nón cối, dép râu, ghét Việt Cộng, người ta đâm ghét luôn thứ khăn này. Bây giờ ở hải ngoại, các cô thử mặc áo bà ba đen,  choàng khăn rằn lên sân khấu múa men, xem sao! Chuyện này cũng dễ hiểu thôi. Hiện nay, mỗi ngày chúng ta bỏ rất nhiều thì giờ để truy cập internet. Trong đống thư từ bất đắc dĩ chúng ta phải nhận hằng ngày ngoài ý muốn, có những lá thư mà vừa đọc thấy tên, chúng ta đã muốn hắt hơi sổ mũi vì dị ứng. Đó chính là những gói phân, mà nếu chúng ta vô tình click vào, gói phân mở ra sẽ tung mùi xú uế nồng nặc. Nội dung không có gì khác hơn là những thứ rác rưởi dơ bẩn mà người viết đã chịu khó, có khi nhiều lần trong ngày, với những đề tài khác nhau, đưa lên lưới, để chửi bới bất cứ ai bằng những lời lẽ thô tục, hạ tiện nhất. Những nhân vật được nêu ra có thể là một nhân vật hoạt động cộng đồng, kể cả một người có khuynh hướng chống Cộng hay thân Cộng, hoặc một ông anh, bà chị nào đó lỡ có thù oán, xích mích với tác giả, nghĩa là chửi tuốt luốt.

Khổ một nỗi, là những lá thư này không đi thẳng đến địa chỉ duy nhất của đối thủ mà lan tràn trên tất cả địa chỉ của những người cần xử dụng đến hộp thư internet của mình. Chúng ta cũng biết rằng mỗi lần đổi địa chỉ e-mail là mỗi lần chúng ta mất đi bao nhiêu bạn bè, tin tức hay những điều mới lạ, có khi là những bông hoa trong đống rác internet mà chúng ta phải nhận hằng ngày. Chuyện dị ứng này làm cho chúng ta mất nhiều công sức thời giờ để quăng trở lại vào những thùng rác, gọi cho lịch sự, chữ nghĩa là “recycle bin”.

Trong cuộc giao tiếp hằng ngày, chúng ta thỉnh thoảng cũng phải dị ứng với những người và việc mà chúng ta không ưa. Thưa, có một quý phu nhân, được phúc nhà, có ba đứa con tốt nghiệp bác sĩ y khoa, nói cho đúng là đứa thứ ba đang là sinh viên chưa ra trường. Bạn bè của bà ai cũng biết, nhưng thỉnh thoảng sợ người ta quên, nên đến đâu bà cũng nói xa nói gần đến chuyện này, kể cả đối với những người chưa hề quen biết. Chúng ta có thể không dị ứng với nghề bác sĩ, nó chỉ là một nghề khó học, kiếm được nhiều tiền, nhưng thật dị ứng với những bà mẹ, ông bố khoe khoang như kiểu trên.

Nếu có dị ứng với nghề bác sĩ là như thế này: tôi bị một ông “lương y” ăn gian, bills cho tôi một dịch vụ mà tôi không hề bước đến văn phòng của ông. Từ năm năm nay, mỗi lần nghe giọng nói “tử tê”, rao giảng nhân nghĩa, “phục vụ” cộng đồng của ông qua một chương trình quảng cáo trên đài phát thanh là tôi tắt máy. Đang lái xe mà tiếp tục nghe ông, thế nào cũng có ngày gây ra tai nạn. Chúng ta thường không để ý, chứ thật ra nhiều người mang bệnh dị ứng rất nặng. Có người dị ứng với ông MC này hay cô ca sĩ kia, nên vừa thấy mặt trên TV là vội chuyển sang băng tần khác. Có người dị ứng với bà dân biểu này hay ông nghị viên nọ, câu trước câu sau đã nói những lời ghét bỏ, khinh miệt. Trong thời gian gần đây, vì nhu cầu của các bài viết, tôi có trích mấy câu: “Sức mấy mà buồn, buồn chi, bỏ đi Tám!”(PD), “Tôi là ai mà yêu quá cuộc đời này.”(TCS), và “Rồi sẽ có một ngày.”(NCT), không ngờ những câu văn của các tác giả này đã làm cho một độc giả của tôi nổi giận. Trong một bức thư gởi từ tiểu bang Hawai, tự xưng là một người “lính già”, người này không những đã thoá mạ hết lời các tác giả mà tôi đã trích dẫn, mà đã kết án tôi đã “không tôn trọng khối người Việt quốc gia và đồng đội”, “lấy một xô nước lạnh tạt vào mặt đồng đội”. Cuối thư, ông này kết luận: “tôi cũng xin tạ từ một người tên Huy Phương trước đây là đồng đội của tôi dưới cờ vàng ba sọc đỏ nhưng bây giờ đã lột xác trở thành nằm vùng và đứng bên kia chiến tuyến.”

Thì ra vị này dị ứng với các nhân vật PD, TCS, NCT nên đã nặng lời với tôi, một người viết tạp ghi có tiếng “hiền lành” (!) lâu nay, trở thành nạn nhân của một thứ đại hoạ dị ứng, bổng dưng bị đẩy qua chiến tuyến khác, bị chụp một cái nón cối “nằm vùng”. Có ông bác sĩ nào chữa được bệnh dị ứng này, xin lên tiếng giúp.

Người không bao giờ biết dị ứng cũng như người vào chợ cá mà không nghe mùi tanh, nhưng người mắc bệnh dị ứng nặng cũng như con nhím xù lông bắn hết bộ lông mình vào những kẻ thù tưởng tượng.

Hải Quân Trung tá Brian Truong (gốc Việt) sẽ được thăng cấp Đại tá ngày 1 tháng 5 năm 2026 và sẽ được bổ nhiệm chức Hạm phó, chỉ huy một Hàng không mẩu hạm nguyên tử Hải Quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on April 19, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 20 Apr 2026

Hải Quân Đại tá Brian Truong (hình của linkedin.com).

Hải Quân Trung tá* Brian Truong sẽ được chính thức thăng cấp Đại tá ngày 1 tháng 5 năm 2026, theo thông báo từ mynavyhr.navy.mil, ngày 13 tháng 4 năm 2026. Ông được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Active-Duty Officer Promotion Boards) đề cử thăng cấp HQ Đại tá* ngày 25 tháng 4 năm 2025, và đã được Uỷ ban quân vụ thượng viện bầu chọn ngày 29 tháng 6 năm 2025. Hiện ông đang thực tập vị trí Hạm phó (Executive Officer) trên một Hàng không mẩu hạm nguyên tử (Nuclear-Powered Aircraft Carrier (CVN)), và sẽ được chính thức bổ nhiệm giữ chức vụ này sau khi ông được chính thức thăng cấp.

HQ Đại tá Hạm trưởng (commanding officer) và HQ Đại tá Hạm phó (Executive Officer) chỉ huy một Hàng không mẩu hạm nguyên tử lực của Hải quân Hoa Kỳ, thường là Phi công Hải quân (Naval Aviator) hoặc Sĩ quan phi hành Hải quân (Naval flight Officer). Đây là yêu cầu quy định nhằm bảo đảm sự phát triển của ngành Hàng không Hải quân. Quy định này đặt họ dưới sự quản lý của các Bộ Tư lệnh Không quân Hải quân (U.S. Naval Air Forces). Trong bối cảnh lịch sử: Yêu cầu này được Quốc hội quy định vào năm 1920. Ngày nay, tất cã Sĩ quan chỉ huy Hàng không mẩu hạm của Hải quân Hoa Kỳ đều là Phi công Hải quân. Hải quân Hoa Kỳ hiện có 11 Hàng không mẩu hạm nguyên tử (CVN) và 9 Chiến hạm tấn công đổ bộ/Hàng không mẩu hạm trực thăng (Amphibious assault ships/Helicopter carriers), tất cả Hạm trưởng và Hạm phó của 2 loại Hàng không mẩu hạm trên đều mang cấp bậc HQ Đại tá ngành phi hành Hải quân.

HQ Trung tá Brian Trương lớn lên tại Portland, Oregon, ông tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy) năm 2004. Tháng 5 năm 2006, ông được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công Hải quân tại NAS Whiting Field, và hoàn tất khóa huấn luyện Phi công trực thăng H-60F/H tại Phi đoàn 10 trực thăng chống tiềm thủy đĩnh vào năm 2007.

Nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp của HQ Trung tá Brian Trương, ông phục vụ tại Phi đoàn 11 trực thăng chống tiềm thủy đĩnh tại Jacksonville, Florida. Ông được điều động phục vụ trên Hàng không mẫu hạm USS ENTERPRISE (CVN 65) để yểm trợ cho chiến dịch IRAQI FREEDOM và chiến dịch ENDURING FREEDOM. Tháng 1 năm 2010, ông bay các phi vụ yểm trợ nhân đạo tại Haiti trong lúc phục vụ trên Hàng không mẫu hạm USS CARL VINSON (CVN 70) trong Chiến dịch UNIFIED RESPONSE.

Trong nhiệm kỳ phục vụ đơn vị trực thăng trên bộ từ năm 2010 đến năm 2013, ông là Phi công huấn luyện của Phi đoàn 3 trực thăng chiến đấu biển và là Sĩ quan bảo mật Truyền tin đơn vị. Năm 2013, ông được chọn làm Sĩ quan tùy viên cho Tư lệnh, Lực lượng Không quân của Bộ Tư lệnh Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ (United States Atlantic Fleet), nay là Bộ Tư lệnh các Lực lượng Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ (United States Fleet Forces Command).

Tháng 2 năm 2016, với chức vụ là Trưởng phòng hành quân, HQ Trung tá Brian Trương tường trình cho Chỉ huy trưởng phi đoàn 23 trực thăng chiến đấu biển. Vào mùa thu năm 2017, ông chỉ huy một hơp đoàn trực thăng hỗ trợ các nỗ lực cấp cứu bão Harvey ở Texas. Năm 2018, ông làm Phi đội trưởng, Phi đôi Ba, kiêm Sĩ quan an phi đơn vị, ông đã bay hướng dẫn hai máy bay trực thăng đáp xuống bệnh viện hạm USNS MERCY để yểm trợ cho công tác PACIFIC PARTNERSHIP 2018.

Trong nhiệm kỳ một năm làm Trưởng phân bộ đơn vị Hải quân, ông là Thư ký cùng đồng nghiệp trong ngành, nơi ông phục vụ trong vai trò Tham mưu trưởng cho Giám đốc cao cấp về lãnh vực đào tạo nhân tài, và làm Giám đốc chương trình của nhóm phân tích nhân lực. Tháng 9 năm 2020, HQ trung tá Brian Truong được bổ nhiệm làm Chỉ huy phó, Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển, đến tháng 12 năm 2021, ông chính thức trở thành Chỉ huy trưởng phi đoàn 14 và chỉ huy đơn vị đến tháng 3 năm 2023.

HQ Trung tá Brian Truong “phải”, được trao tặng huy chương Meritorious Service Medal do công trạng chỉ huy Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển (HSC-14) trong buổi lễ chuyển giao quyền chỉ huy tại căn cứ Không quân Hải quân North Island, ngày 9 tháng 3 năm 2023 (hình của Trung sĩ Hải quân Elisha Smith, dvidshub.net).

Sau nhiệm kỳ Chỉ huy Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển, HQ Trung tá Brian Truong được chỉ định phục vụ tại Bộ Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff), Washington DC-Baltimore Area, từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 4 năm 2025 qua các nhiệm vụ: Sĩ quan Phó phụ tá cho Trung tướng, Giám đốc Tham mưu liên quân; Sĩ quan kế hoạch chính trị-quân sự, Ban Đông Bắc Á, Phòng 5 (J5); Phó phòng 5 (J5), Ban Đông Bắc Á. Sau nhiệm kỳ 2 năm phục vụ tại Bộ Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff), Washington DC-Baltimore Area, HQ Trung tá Brian Truong được chỉ định trở về phục vụ Hải quân. Ông được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Active-Duty Officer Promotion Boards) đề cử thăng cấp HQ Đại tá ngày 24 tháng 4 năm 2025, và đã được Uỷ ban quân vụ xác nhận, bầu chọn ngày 29 tháng 6 năm 2025. Ông được chỉ định thực tập vai trò Hạm phó Hàng không mẩu hạm trong thời gian chờ chính thức thăng cấp HQ Đại tá để đảm nhận chức vụ này.

HQ Trung tá Brian Truong tốt nghiệp các Văn bằng: Hoàn tất xuất sắc Văn bằng Cao học an ninh Quốc gia và nghiên cứu chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương, Trường Đại học Hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College), năm 2015; Văn bằng Cao học điều hành quản trị kinh doanh, Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), năm 2013; Văn bằng Cử nhân khoa học kinh tế, Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy), năm 2004.

HQ Đại tá Brian Truong là một Phi công Hải quân với trên 21 năm kinh nghiệm và đã bay hơn 2.600 giờ, điều khiển những phi cơ quân sự tối tân nhất thế giới. Ông đã đã lãnh đạo, chỉ huy hàng trăm Thủy thủ và quản lý hàng chục phi cơ trị giá hàng trăm triệu đô la trong suốt binh nghiệp của mình, đồng thời ông chỉ huy các nhiệm vụ tác chiến để đạt được các mục tiêu quân sự. Ông mong muốn tận dụng kinh nghiệm chỉ huy và quản lý sâu rộng của mình để chỉ huy các tổ chức hoạt động hiệu quả cao và làm cho các đội, nhóm hoạt động hiệu quả hơn bằng cách chỉ đạo các sáng kiến ​​thúc đẩy sự xuất sắc trong hoạt động. Ông được trao tặng nhiều loại huy chương và bằng khen cao quý của Hải quân Hoa Kỳ.

HQ Đại tá Brian Truong là 1 trong 38 HQ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt. 23 vị đương nhiệm, 14 vị hồi hưu và 1 vị đã qua đời. Danh sách 23 Đại tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong quân chủng Hải quân Hoa Kỳ được ghi nhận sau đây: HQ Đại tá Trinh Hien; HQ Đại tá Bui Han Quan; HQ Đại tá TuAnh C. Halquist; HQ Đại tá Nguyen Trung D; HQ Đại tá Ly Nam Thanh; HQ Đại tá Doan Vinh Dang; HQ Đại tá Luu Thu Nhuan; HQ Đại tá Choate Paul L (Long Mỹ); HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van; HQ Đại tá Nguyen Mark Minh Duy; HQ Đại tá Mai Vinh Q; HQ Đại tá Do Tai Anh; HQ Đại tá Hoang Thanh Duc; HQ Đại tá Nguyen William B; HQ Đại tá Vu Phong Loi; HQ Đại tá Quach Hoai Linh; HQ Đại tá Nghiem Hoan Boi; HQ Đại tá Tran T Tin; HQ Đại tá Nguyen Long Tuong; HQ Đại tá Nguyen Chuong Thieu; HQ Đại tá Brian Truong; HQ Đại tá Dennis La và HQ Đại tá Anvy Nguyen. Hải Quân Đại tá Brian Truong là Sĩ quan Phi công cao cấp Không quân của Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt duy nhất sẽ làm Hạm phó Hàng không mẩu hạm Hải quân Hoa Kỳ. Riêng ngành Sĩ quan phi hành Không quân của Hải quân, ngoài HQ Đại tá Brian Trương, còn có nhiều Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt khác bay các loại phi cơ: P-3 Orion; P-8 Poseidon; T-6B Texan II; T-44C Pegasus; KC-130T; MH-60R Seahawk; F/A-18 Hornet; T-44 Pegasus; T-44 Pegasus; E-2C Hawkeye và EA-6 v.v…

Chú thích: *HQ Trung tá=Navy Commander. HQ Đại tá=Navy Captain.

Chúc Tân HQ Đại tá Brian Truong thăng tiến hải nghiệp.

Nguyễn Quân

Nguồn: airpac.navy.mil; mynavyhr.navy; linkedin.com; bienxua-Hải Quân Trung tá Brian Truong (gốc Việt), Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Đại tá; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt; bienxua-11 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2025

Anh Ba râu

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Apr 2026

Anh Ba Râu là bạn cố cựu thuở ly hương rồi tha phương của tui ở cái đất Footscray, Melbourne, Úc Châu nầy đây. Dẫu là dân Nam Kỳ rặt ri, ảnh lại đi bán phở, món ruột của người Bắc để kiếm cơm. Anh phải bán cơm tấm, hủ tiếu mì hay bò vò viên mới đúng chớ?! Sao tréo cẳng ngỗng vậy anh?Thì ảnh cười hè hè, trả lời: À! Bán phở là nghề cha truyền con nối của con vợ tui. Ông bà nhạc của tui bế nó từ Hải Phòng theo tàu há mồm vào Nam, năm 54. Mới đầu ở Ngã Ba Ông Tạ. Nhưng khu đó toàn là Bắc Kỳ di cư không hè! Ai cũng biết nấu phở. Có người nấu còn ngon hơn mình. Mở tiệm phở ở Ngã Ba ông Tạ ai thèm ăn? Vậy là nhà em mở tiệm phở ở vùng Tân Ðịnh. Dân Tân Ðịnh đa phần làm công chức. Ðời sống trung lưu, có tiền. Sáng ăn hủ tiếu, mì riết ngán; họ đổi qua ăn phở nên mình sống được và sống khỏe!Còn ông Ngoại tui là điền chủ miệt Cái Bè, Mỹ Tho. Hồi 9 năm (1945-1954), Việt Minh dậy, tụi nó lấy đất điền. Lại còn giết ông Ngoại của tui. Nên Tía Má tui sợ quá phải bỏ nhà cửa; bồng bế anh em tui chạy tuốt lên cái đất Sài Gòn mà tị nạn CS.Chạy cũng không thoát! Sau 75, CS Bắc Việt vào. Tiệm phở nhà tui nhỏ! Lính của Ðỗ Mười không bắt vô công tư hợp doanh. Nhưng khổ cái là: bữa nay thằng Bí thơ, mai thằng Chủ tịch, mốt thì tới thằng Công an Khu vực tới ăn chực. Rồi đóng góp quỹ bồi dưỡng an ninh tổ quốc, tức bọn Công an. Quỹ dân phòng của bọn Phường đội..Dân thì mạt. Khách ăn Phở không nhiều như xưa nữa. Bán ế riết. Chịu hết xiết! Tui bàn với con vợ tui sang tiệm phở. Bán nhà luôn cho đám bà con của nó từ ngoài Bắc tràn vô đất Sài Gòn đông như ruồi. Vợ chồng gom đâu được hơn chục cây vàng; bèn bồng bế thằng Tèo, thằng Tí, hai đứa con tui, vượt biển. Qua tới đây, thằng Tèo, thông minh giống tui, siêng học! Nó học tới Tiến sĩ rồi đi dạy Ðại học Melbourne.Còn bà xã anh, chuyện chữ nghĩa bả hổng có ham. Bả ham phim tập Hàn quốc! Thằng Tí giống hịt Mẹ, nó nói: “Anh Tèo học đến mặt mày xanh xao vàng võ. Học đến kiếng cận thị dày cui, cả chục độ. Nặng trịch, đeo thiếu điều gãy sóng mũi. Cuối cùng có tiếng mà không có miếng. Lương Giáo sư Ðại học nghe oách thiệt nhưng năm kiếm được 200 ngàn đô Úc là đụng la phông. Chi bằng con theo nghề của Mẹ. Con đi bán phở. Năm con kiếm nửa triệu đô là chuyện nhỏ! Con cần miếng hơn cần tiếng!” (Thiệt cái thằng ở Úc mà nó thực dụng như Mỹ!)

“Cái còn vướng mắc là phải có người coi tủ tiền. Không thể giao trứng cho ác được. Nó ăn cắp ngày vài chục đô thôi là Tía mình cũng chết. Cốc mò cò xơi! Tía ở không đi nhậu làm gì? Mẹ cằn nhằn, cửi nhửi mãi! Nhà như cái địa ngục. Tía cứ bắt Mẹ làm chúa ngục hoài đâu có được! Ra ngồi thu tiền cho con! Con trả cho Tía ngày 100 đô. 9 giờ tối đóng cửa tiệm, nồi súp còn xí quách. Tía rủ bạn già, ai chơi được, đến nhậu thoải mái!”

“Nhưng Tía mầy chỉ biết tiếng Em! Tía đâu biết tiếng Anh.” “Ngồi thâu tiền cần gì biết tiếng Anh! Biết hai tiếng là đủ. Một là ‘ten đô la’ (ten dollars), giá tô phở. Hai là: ‘Thánh kiu’ (thank you). Phẻ re như con bò kéo xe thì Tía còn lo gì?”

Vậy là dòng đời của anh Ba Râu êm đềm trôi chảy như dòng kinh Nhiêu Lộc, Thị Nghè của quê nhà năm cũ. Mỗi tuần một lần, lúc 9 giờ tối, tiệm đóng cửa, có chuyện gì vui, ảnh hú tui đem hai cái lỗ tai ra để nghe ảnh chia vui. Có chuyện gì buồn, anh cũng hú tui đến để trải lòng tâm sự. Tui được nhậu chùa, không tốn tiền nhà! Nên con vợ tui cũng không có càm ràm gì ráo trọi.

Tất cả những ngày vàng son đó đột nhiên rã bèn như vàng mã mắc mưa. Cũng tại con ‘virus’ COVID-19 xuất phát từ Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc bên Tàu mà ra.

o O o

Nửa đêm tối thứ Ba, ngày 27, tháng Bảy vừa qua, sau hai tuần cô lập, nội bất xuất ngoại bất nhập, chánh phủ cho tiểu bang Victoria he hé mở cửa ra.

Tối thứ Tư, anh Ba Râu gọi tui ra quán nhậu chơi. Vì hai tuần lễ nằm nhà, ảnh cũng nhớ bạn hiền.

Lúc tui vác cái miệng tới, ảnh đóng cửa quán, tắt bớt đèn, cho đỡ tốn điện. Ảnh bưng ra một thau xí quách bự chà bá. Tui khui chai rượu đỏ giá 10 đô .

Mừng ngày tương ngộ, tui không thấy ảnh cười vui giựt giựt hai hàm râu cá chốt như xưa! Chỉ nghe tiếng ảnh thở than như cọng nhang tàn thắp khuya.

“Cô lập 5 lần rồi và lần nầy không phải là lần cuối đâu!” Nghe ảnh nói, tui cũng buồn trong tấc dạ.

“Tình hình dịch bịnh COVID-19 do biến thể Delta lây lan rất nhanh nầy làm thủ phủ Sydney và Sài Gòn găng lắm! Từ hải ngoại, nghe tiếng kêu cứu khẩn thiết của bà con ở quê nhà đang chông chênh trên bờ vực, đang rơi vào nạn đói như năm 1945! “Anh ráng cứu em!”.

Sức mình thì có hạn! Dẫu là sỏi đá nghe tiếng khóc bi ai như vậy hỏi lòng ai mà không tan chảy?”

“Anh sẽ thấy Sài Gòn sẽ xảy ra biến loạn vào những ngày sắp tới y chang như ngày 30 tháng Tư lúc CS Bắc Việt chiếm được Sài Gòn!”

o O o

Tui bèn hỏi anh Ba Râu nghĩ sao khi hơn cả chục ngàn người Úc biểu tình ở Sydney và Melbourne hôm thứ Bảy rồi để chống lịnh cô lập của chánh phủ tiểu bang.

Anh Ba Râu từ tốn trả lời: “Dân Úc xưa giờ hiền hòa, tuân theo luật pháp. Mấy lần bị cô lập trước, họ đâu có quậy quạng gì đâu? Nhưng cứ cô lập hoài! Chịu hết nổi! Tức nước phải vỡ bờ!”

“Một mặt, tui không ủng hộ việc tụ tập đông người! Vì cả trăm người Úc bị nhiễm ‘virus’ mỗi ngày. Mặt khác, tui cũng hiểu tại sao họ lại tức giận đến thế!

Nếu anh làm ăn cò con như: bán phở, bán hủ tiếu, bán bánh tiêu, bánh bò… bán lắt nhắt, hầm bà lằng xắng cấu làm cần câu cơm thì anh sẽ thông cảm cho họ! Nào là tiền mướn ‘shop’, tiền điện, tiền nước, tiền ga, tiền cáo sồ (Council rate). Tất cả phải chi ra. Mà không thu vô được cắc nào!

Melbourne cứ mở vài tháng lại đóng sập! Rồi mở rồi đóng! Làm nền kinh tế như bị mắc kinh phong. Làm riết, họ bị lâm vào vòng cùng quẫn, sát bên bờ khánh tận. Nghe tin tiểu bang Victoria lại bị cô lập lần thứ 5, những người Mẹ, người Chị đi làm kiếm sữa về cho con, kiếm cơm về cho Má, khóc nức nở trước ống kính truyền hình! Những người Mẹ, người Chị sớm hôm tần tảo đó, họ không có IQ thấp; họ không có ngu như bị một số người chửi bới họ đâu anh! Họ dám tụ tập biểu tình trong lúc dịch bịnh tràn lan là vì họ đã bị ví vào bước đường cùng. Nhìn nét bi thương đó, lòng tui đau xót lắm!

“Còn tiền trợ cấp của chánh phủ cho anh nghỉ ở nhà chơi chi anh?” Tui hỏi. Anh trả lời hơi lớn giọng làm tui giựt mình, thiếu điều té ghế: “Tiền chánh phủ Liên bang trợ cấp chỉ đủ ăn KFC, Hungry Jack’s hay McDonald’s…”

Tui vuốt đuôi cho anh hạ hỏa: “Thế giới sửng sốt nhìn mà không biết Úc đang làm cái giống gì?!” “Tại sao chánh phủ tiểu bang cứ hết đóng rồi mở! Mở rồi đóng! Như mắc bịnh cà lăm vậy?”

“Giờ làm sao mình ra khỏi cánh rừng nầy?”

Anh Ba Râu như một chuyên gia thứ thiệt dù không có bằng cấp gì ráo trả lời như đinh đóng cột: “Chích ngừa! Chích ngừa! Và chích ngừa!” Bằng chích ngừa cứ ầu ơ ví dầu như vầy nước Úc đóng mở cà lăm tới tận sang năm. Các nước Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha… đã từng bị cô lập như Úc nhưng nhờ dân chích ngừa nhiều nên họ  đã từ từ mở cửa. Xin quý ông bà Thủ tướng, Thủ hiến của nước Úc nầy đây đừng ngủ mê, ngủ say, ke chảy tùm lum khoé miệng nữa!

Vòng nguyệt quế của giới truyền thông quốc tế trao cho vì thành công trong việc kiểm dịch COVID-19 hồi năm ngoái đã héo rũ hết rồi mấy Cha, mấy Má!