Chuyện Trên Đường Phố

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng
Post by Sơn râu 15 Apr 2026

Chiều về trên bến cảng Hamburg đã bớt ồn ào náo động, nhiều chiếc tàu buôn  đã nằm yên bên kè đá và những chiếc đò dọc chạy dưới dòng sông cũng thưa thớt khách du hành. Một gã đàn ông trạc năm mươi tuổi bước thong thả từ dưới bến cảng lên con đường lót gạch hướng về đường hầm sông Elbe. Một người đàn bà đứng ở đầu đường hầm, tóc chấm vai,  mặt không phấn,  môi không son,  thân hình tròn trịa, dốc dáng thấp và gọn gàng trong chiếc áo lạnh màu tro, thấy gã đàn ông đi tới,  bà ta ra dáng lắc lư làm chiếc bóp da đeo vai đu đưa qua lại.  Mắt bà mở to nhìn gã từ đầu tới chân, gật gật đầu, miệng mĩm cười.  Gã đàn ông không tỏ vẻ mừng rở cũng không một cử chỉ xã giao,  gã cất tiếng hỏi trỏng:

–  Khoẻ hông?

–  Được thôi.  Còn anh?

–  Vẫn vậy.

Người đàn bà đưa tay lên đầu gã tha tha mái tóc:

–  Vậy gì mà vậy, tóc bạc trắng, già tới nơi rồi. 

–  Ngót nghét năm mươi rồi, còn trẻ trung gì nữa. Chờ có lâu lắm hông?

 Người đàn bà chỉ tay thẳng về hướng con lộ:

–   Ba mươi phút mới thấy anh thấp thoáng ở đằng kia.

–   Biết tới sớm tui đi tắc-xi cho lẹ.

Bà lắc lắc cái đầu dịu giọng:

–   Không sao, lâu lắm rồi tui không có dịp đợi ai,  hôm nay đứng đợi anh tui thấy cũng  thin thích.

–  Biết vậy tui lên trễ cho cô đợi thoả thích.

–  Lối nói chuyện của anh tới già vẫn vậy.

     Người đàn bà câu tay gã, hai người sánh vai nhau đi vô thang máy, bấm nút cho thang chạy xuống đường hầm. Trong đường hầm không một bóng người. Họ trò chuyện vừa đủ nghe nhưng âm thanh vẫn vội vô vách đá rền rền.

–  Cuối cùng rồi tui cũng gặp lại cô, nhưng cô thay đổi nhiều quá,  nếu gặp nhau chỗ khác thì chắc nhìn hổng ra.-  Anh đen hơn xưa nên trông già dặn chớ không thay đổi gì cho lắm.

–  Đàn bà dễ thay đổi hơn đàn ông.-  Nhưng họ nhớ dai lắm, hơn hai mươi năm qua, đây là lần thứ hai tui băng ngang đường hầm nầy, mà cả hai lần đều đi với anh.

–  Nghĩa là cách đây hơn hai mươi năm. Lạ thật, lần nào tàu ghé Hamburg tui cũng qua đây ít nhứt một bận. Nhưng mỗi bận đi ngang đây là nhớ tới cô. Cô còn nhớ không, lần đó đi tới giữa đường cô sợ tường bể nước ngoài sông tràn vô chết ngộp cô câu tay tôi cứng ngắt, đi trong hầm mà cô làm như đi ngang mấy chiếc cầu ván long đinh ở quê mình.

Người đàn bà nép sát vô người đàn ông như muốn tìm hơi ấm:

–  Bây giờ không sợ chết ngộp nữa, nhưng mà lạnh quá.

–  Mình ở dưới lòng sông mà, trong nầy chỉ có mùa hè mát mẻ, còn lại thì lạnh ngắt lạnh tanh.

–  Mà nè, anh nói nhớ tui mà sao hổng ghé nhà thăm?.

–  Sống bên nầy ai cũng bận rộn chuyện sở làm,  còn dư thời giờ lo cho gia đình. Tui thì đến, đi bất thường sợ tới nhà sẽ làm sai lệt thời khóa biểu của gia đình cô.  Hơn nữa còn chồng cô, tui hổng biết tánh tình ông ấy ra sao.

–  Hồi nghe tui nói xuống thăm anh, ảnh có nhắn, nếu rộng thời giờ mời anh ghé nhà chơi.

–  Được đức ông chồng như vậy là hết xẩy rồi.

–  Xạo nữa đi.

   Vài bóng người xuất hiện phía trước, ai ai cũng thông thả đi không có vẻ vội vàng. Hai người đi tà tà một lát đã lên tới bên kia bờ. Nắng vàng trãi trên mặt nước, đò dọc chở du khách ngược xuôi giữa dòng,  chim nhàn bay theo sau lái từng bầy. Trên bờ sông người ta bận áo ấm dầy đi dạo rất đông. Hai người dừng lại dưới thềm đá phân vân.  Người đàn bà hỏi: 

–  Đi đâu đây?

–  Trước kia cô thích ngắm sông lắm mà.

–  Gió chiều lạnh quá, hổng ấy lênh Reeperbahn chơi đi.

Gã đàn ông chỉ tay qua mấy bực thang bắt lên con đường dẫn vô Reeperbahn, nói:

–  Vậy mình leo lên đường nầy.

Họ vừa đi vừa tiếp tục trò chuyện:

–  Nghe Hùng nói, hồi tết Tây nó thấy anh trong casino.

–  Nhờ gặp Hùng mới có số điện thoại của cô,  hông thôi biết đâu mà tìm.

–  Anh biết đánh bài hồi nào vậy?

–  Đâu phải ai vô casino cũng để đánh bài.

–  Ăn tết trên nầy vui hông?

–  Cũng vui.

–  Vui ra sao kể nghe đi.

     Gã đàn ông khoa tay chỉ dọc theo con đường:

– Trước tới giờ tui cứ nghĩ những ngày Tết ai ai cũng quây quần bên nhau trong căn nhà ấm cúng. Chỉ có những người vô gia cư như tui mới lang thang ngoài trới. Nào ngờ ở trên nầy người ta ăn Tết nhộn nhịp vô cùng, ngay giờ giao thừa trên trời pháo bông sáng tua tủa, dưới đất pháo nổ như trận đánh tết Mậu Thân.  Người ta tràn ra đường đông như ong vỡ tổ,  tiếng ca hát vang rân hoà trong khói pháo mịt mù…

–   Vui hén.

–   Nhờ vậy mà mình thấy đỡ lẻ loi trong ngày Tết.

–   Lẻ loi thì vô ngắm Tiên Nữ.

–  Tiên tục gì,  mấy ngày đó họ đóng cửa ăn Tết, có đâu ngồi cho mình ngắm.

–  Sao nữa kể tiếp đi.

–  Sau khi chen chút đã rồi tui chui vô Casino ngồi vừa uống bia vừa coi người ta đánh bạc, thì gặp Hùng nó đương chơi rulex. Sau khi thua sạch túi nó mới dẫn tui đi ra chỗ người Việt mình tổ chức.

–  Vui hông?

–  Bia, rượu, Karaoke, Disco, nhảy nhót, cuối cùng người ta lấy vỏ chai bia, bẻ chưn ghế đập nhau loạn xịa máu chảy lênh láng,  cả hội trường náo loạn.  Tui vội vã từ biệt Hùng rồi ba chưn bốn cẳng chạy ra lộ đón tắc-xi về tàu.

–  Ghê vậy.

–  Còn cô,  cuộc sống có vui vẻ lắm không?

–  Thì như anh biết đó, một ông chồng và hai đứa con, ở một nơi lúc nào cũng canh đồng hồ, vô sở làm trông cho mau hết giờ , về nhà sắp xếp giờ giấc cho chồng, con, đi ngủ cũng phải bấm đồng hồ báo thức. Nhứt nhứt chuyện gì cũng phải tính giờ tính giấc, sống đơn điệu đôi khi buồn chán lắm.

–  Gia đình, hạnh phúc chớ?

 Người đàn bà ậm ờ rồi yên lặng.  Gã đàn ông ái náy nhìn trời. Mặt trời lặng từ hồi nào mà nền trời vẫn còn hưng hửng sáng. Đèn phố hiện lên nhiều màu sắc. Gió đêm lùa hơi lạnh trên đường, khách bộ hành kẻ ngược người xuôi.  Người đàn ông cất tiếng: 

– Tui nhớ trước kia mỗi lần đi ngang đường nầy, cô nhắm mắt lại hoặc cúi mặt ngó thẳng phía trước, bước đi như ma đuổi.  Hôm nay cô rủ tui lên đây ngắm người xem cảnh.

– Còn con gái thì khác, bây giờ già rồi, mặt dầy xà beng đâm hổng lủng, sợ gì. Vã lại lâu lắm rồi tui không có dịp ra đây. Hôm nay anh trở lại, tui muốn đi với anh.

– Ôn kỷ niệm đó hả

– Coi là vậy đi.

– Dù sao con đường nầy cũng thanh lịch hơn Amsterdam, những ai chưa quen sinh hoạt khu nầy đi ngang không thấy khó chịu. Nhớ có lần qua thăm cô, mấy người bạn rủ đi DOM chơi, ai dè chúng nó đem bỏ tui ở đây, rồi dông mất biệt. Tui phải tự mò đường về, bị lạc hết mấy bận mới về tới nhà. Sau nầy tui mới biết  DOM nằm ở đầu đường kia, đi chưa đầy mười phút đã tới.

– Anh còn giận mấy người đó hông?

– Hông,  đôi khi mình nhớ họ cũng như nhớ một kỹ niệm vui, mấy người đó bây giờ ra sao?

– Cũng cày ngày cày đêm, nhà mới, xe mới. Anh còn nhớ Toàn không?

– Sao quên được, hồi đó nghe anh ta cưới Hồng, mở nhà hàng. Bây giờ hai người làm ăn ra sao?

– Toàn bịnh bán thân ngồi xe lăn, Hồng thì làm trong hảng Phi Líp.

– Tội nghiệp Hồng quá vậy.

– Tội gì,  tụi nó khá lắm, mới mua đất cất một căn nhà riêng rất lớn. Có anh kìa, hổng lo ở đó lo cho người khác. A, mà anh có bồ bịt gì chưa?

– Trước kia có nhì nhằng vài nơi nhưng rốt cuộc rồi chẳng ra cơm ra canh gì hết.

– Sao anh hổng dìa bển cưới vợ?

– Chi vậy?

– Cho anh hết lẻ loi, cho cuộc sống có ý nghĩa.

– Ý nghĩa cuộc sống! Nghe hấp dẫn quá hén, cô đã sống trong gia đình gần hết cuộc đời rồi, ý nghĩa ra sao cô kể tui nghe?

Người đàn bà ỡm ờ một lát rồi ngó qua hỏi:

– Ủa, sao tui hỏi anh anh không trả lời mà cứ hỏi vặn hỏi vẹo chi vậy?

Gã đàn ông nhìn mông lung trong đám người đông như kiến:

– Khắp thế giới, nơi nào cũng đông nghẹt đàn bà, nhưng tìm không ra một người vợ thì cũng thuộc loại vở hơi, nhưng hình như trên mặt đất nầy không một người đàn bà nào chịu làm vợ tui hết cô à.

– Tui hiểu anh, nhưng anh cũng hiểu cho tui chớ, lúc đó chưn ướt chưn ráo mới sang, anh thì đi biền biệt, tui sống mình ên, xứ lạ quê người…

 Giọng người đàn bà nghèn nghẹn. Gã đàn ông hấp tấp chận ngang:

– Í chết! tui đâu bắt cô phải chịu trách nhiệm về  chuyện tui ở vá đâu mà cô nói vậy.

Người đàn bà mở bóp lấy giấy chậm chậm mí mắt:

– Nhưng thấy anh cà nhỏng hoài tui hổng yên tâm.

– Chuyện qua rồi cô nghĩ tới làm gì. Phần tui, tui đã cố hết sức mình rồi nhưng nó như vậy là như vậy, coi như trời định đi.  Cô yên tâm, hiện giờ tui rất hài lòng với cuộc sống lẻ loi của mình. Gặp lại, thấy cô khoẻ mạnh ú na ú nầng như vầy là tui vui rồi, bây giờ mình kiếm chổ nào chơi chớ chẳng lẻ cứ long nhong ngoài phố như vầy.

–  Ừa, phải đó, hổng ấy mình ghé vô DOM dạo một lát, sau đó anh đưa tui xuống bến xe điện về là vừa.

–  Ừa, đi chơi bao nhiêu đó cũng đủ rồi.  thêm nửa ông xả ở nhà nôn ruột.

–  Đừng có mỉa mai như vậy, người ta dám để vợ đi chơi với anh thì không phải tầm thường đâu nhé.

– Đàn ông bây giờ ở nhà giữ con cho vợ đi chơi là văn minh chớ đâu phải tầm thường.

–  Anh bỏ lối nói móc nói nghéo ấy được hông vậy.

Nghe người đàn bà nói gã giựt mình ái ngái trong lòng, trong thâm tâm gã thấy có một điều gì đó hổng ổn cho cuộc gặp gở hôm nay. Gã miễn cưỡng nói:

– Xin lổi, mình đi chơi vui vẻ đi.  

 DOM tức là hội chợ lớn ở Hamburg, mở cửa mỗi đầu mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bây giờ là đầu mùa xuân.  Từ nãy giờ tự dưng gã đàn ông trầm ngâm len lỏi đi theo người đàn bà trong tiếng nhạc xình xập hoà cùng tiếng ồn ào của rừng người lố nhố. Đi ngang quày bắn súng, người đàn bà hỏi:

–  Anh bắng súng còn giỏi hông?

–  Lâu lắm rồi tui hổng bắn.

–  Thử bắn lại coi.

   Họ vô quày mướn súng.  Gã đàn ông bồng súng lên bắn ba phát trật hết ba. Trả súng lại, gã day qua cười nói:

–  Hết thời rồi.

Người đàn bà gật gật cái đầu và mĩm cười, nắm tay gã trì nhẹ và hai người chen chút vô đám đông. Tới vòng đu quay, người đàn bà chỉ tay lên những chiếc đu:

–  Mình lên vòng quay kia chơi đi.

–  Ừ được đó.

Họ lên ngồi trong chiếc lồng cùng với cặp trai gái rất trẻ, hình như cô, cậu mua vé lên đây không phải để ngắm cảnh, hay tìm cảm giác bồng bềnh trên không. Từ khi vòng quay cất lên, bốn cánh tay như trói chặt hai thân hình, hai cái miệng và hai cái lưỡi bấu riết với nhau, chưn cẳng quíu lại, co cúm, đê mê không biết chung quanh còn có trời, trăng, mây, gió và có mặt hai người.

Để tôn trọng giây phút tuyệt vời của tuổi trẻ, họ yên lặng và hướng mặt nhìn ra phía ngoài. Vòng quay bây giờ đã dừng lại ở đỉnh cao nhứt. Không gian bao la, mây trắng,  trăng lưỡi liềm và những vì sao lấp lững ngang nền trời.  Bên dưới lập loè đèn lu, đèn tỏ theo các cao ốc và những khu nhà ở. Những hàng cây trong thành phố chỉ là chiếc bóng mờ. Sinh hoạt trong hội chợ là nhóm đèn nhiều màu sắc, dòng người loi nhoi lóc nhóc. Tiếng nhạc xập xình nghe văng vẳng phía dưới …

                                                                         *  

Dưới bến xe điện ngầm, tấm bảng báo giờ hiện lên còn bảy phút nữa xe tới. Họ đứng chung với đám đông chờ xe, người đàn bà hỏi:

–  Có gặp nữa hông

–  Hơn hai mươi năm qua nếu muốn gặp nhau thì tui với cô được gặp nhau nhiều lắm. Điều quan trọng mình gặp nhau để làm gì? Hổng lẻ mỗi lần gặp nhau cô bỏ chồng, bỏ con ở nhà theo đi tui lang thang trên đường phố như vầy.

–  Nãy giờ nghĩ ra được bao nhiêu đó hả?

–  Bao nhiêu đó cũng đủ thấy mình bất lương lắm rồi?

–  Anh muốn lương thiện thì lần sau ghé nhà chơi đi.

Gã lắc đầu:

–  Khỏi.

–  Vậy thi đừng gặp nữa.

Gã đưa ngón tay cái lên gặt gặt:

–  Thà vậy còn hơn.

Xe tới,  ngưới đàn bà chồm qua hôn lên má gã đàn ông, bà nói nhỏ:

–  Thôi đi bình an nha.

–  Giữ gìn sức khoẻ, chúc cô nhiều hạnh phúc.

Người đàn bà theo dòng người lên xe. Gã nhìn người ta chen chút lên, xuống giống như bầy chuột đồng bị nước ngập hang.  Khi hành khách lên hết, cánh cửa xe từ từ đóng lại và tiếng còi rích dài âm thanh bén soi thẳng vô lỗ tai người ta.  Liền theo đó tiếng máy rú mạnh và thân xe lao vút vô đường hầm tăm tối. Chiếc thang máy cuốn dòng người trả lên mặt đất.  Bến xe chỉ còn mình ên gã.  Gã móc túi quần ra gói thuốc xẹp lép.  Lạ thật, hơn hai mươi năm qua mỗi khi buồn gã đã đốt thuốc liền tay, vậy mà từ lúc gặp người đàn bà ấy tới giờ không hiểu sao gã không nghe thèm hút thuốc. Gã rút điếu thuốc nhăn nheo đưa lên môi, bật quẹt châm lửa, điếu thuốc rách, rít thốn lòng ngực vẫn không ra hơi. Gã xăm soi điếu thuốc, bất chợt gã gộp điếu thuốc rách cùng gói thuốc xẹp liệng vô thùng rác, chà chà hai bàn tay vô quần. Gã thầm nghĩ, bắt đầu từ hôm nay gã tập bỏ tật hút thuốc mỗi khi buồn, nhớ và quên hết mọi chuyện trong quá khứ cũng được lắm rồi.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 15 Apr 2026

Tôi theo bọn thợ rừng, giạt về Tầm Lanh. Đi kiếm sống mà chui vào xó xỉnh nơi góc rừng này, không mong gì ngóc đầu lên nổi. Cái xóm đìu hiu hẻo lánh đến não lòng. Thế nhưng tôi ở lại đã ba năm. Đời yên mà quạnh lắm. Nơi đây có chừng vài mươi mái nhà nằm đơn độc xa nhau, im lìm vắng vẻ. Nghe nói, ngày trước Tầm Lanh cũng không đến nỗi tiêu điều đến thế, nhưng chiến tranh cứ đẩy con người bỏ xóm đi xa dần. Sau chiến tranh, chẳng ai còn nghĩ đến chuyện quay về chốn cũ, để chiều chiều ngồi bó gối, ngó lên ngọn rừng, nghe vượn hú.

Hồi tôi mới tới đây, Ba Canh nói: “Chú em đừng ngại, chuyện gì rồi cũng sẽ quen đi. Việc đo đạc, tính giá cả, chỉ cần biết bốn phép toán cộng trừ nhân chia là đủ. Còn công việc sau đó, hơi vất vả một chút. Tôi sẽ chỉ cách cho chú em làm. Đóng cọc, vác củi sắp vào từng thước khối… Tiền bạc không có dư, nhưng cũng sống được qua ngày.”

Thế đấy. Tiền bạc không có dư, nhưng cũng sống được qua ngày. Tôi phụ việc với Ba Canh, làm nơi bãi đất ở cuối xóm, giáp với bìa rừng. Gỗ súc và củi từ trong rừng đem ra chất đống nơi đây, chờ chuyển đi các nơi xa. Dân xe be, và bọn thợ rừng gọi bãi này là Bến Củi. Bến Củi nằm trong địa phận Tầm Lanh, nhưng trong những giao tiếp làm ăn, người ta quen nói Bến Củi. Càng về sau, nhắc đến Tầm Lanh không còn mấy người biết nữa. Mọi sinh hoat rộn rịp của Tầm Lanh, chỉ diễn ra nơi Bến Củi, chừng vài tiếng đồng hồ vào giữa trưa, khi bọn thợ từ rừng ra, lái gỗ từ các nơi tới. Lăng xăng đo đạc, trả giá. Xuống củi từ những xe bò xe trâu, hoặc cẩu những thanh gỗ súc lên xe be. Xong, họ chia tay. Bọn thợ xách cưa trở vô rừng. Và lái gỗ cùng những chiếc xe be rời Bến Củi bằng con đường đất ngoằn nghèo dài hun hun hút, dưới những tán lá rậm hai bên đường.

Tôi là kẻ thất cơ lỡ vận phải vào Tầm Lanh kiếm sống đã đành. Có một thành phần khác, không ai ngờ, cũng vào đây. Đó là những cô đã một thời đem thân xác mình phục vụ cho khách mua hoa nơi các phố thị đông người. Nay nhan sắc đã tàn phai, không còn đủ sức bon chen với đám đàn em mới vô nghề. Họ quay ra đón khách dọc đường, lưu động theo các chuyến xe chạy đường xa, có khi còn vào tận chốn rừng sâu với bọn thợ rừng. Mỗi lần nhìn thấy các cô em tóc tai rối bời gió bụi trên chuyến xe đi đến, hoặc mặt mũi bơ phờ từ rừng trở ta, lòng tôi trắc ẩn. Có lẽ họ cũng nhìn thấy tôi là kẻ hết thời, không hơn gì “con vạc ăn sương” như họ. Cùng một nòi lưu lạc, dễ thông cảm nhau, và từ đó sinh ra cảm tình. Buổi trưa. Tôi ngồi trốn nắng dưới bóng cây. Một cô sà đến, ngồi kế bên, nói rất tự nhiên như đã quen thân tự kiếp nào: “Em đi lưu diễn nhiều nơi, Chưa thấy nơi nào buồn như nơi này.”

Tôi cười vì hai tiếng “lưu diễn”, và lắc đầu nhẹ, tỏ ý chán đời, đồng cảm.

Tôi hỏi: “Em tên gì?”

“Kiều.”

“Tên thật của em hả?”

“Không. Hồi em mới bước chân vô nghề, có thằng cha tự xưng thi sĩ, gọi em là Thúy Kiều. Nghe cái tên cũng hay hay, em xưng Thúy Kiều luôn. Không biết tại sao, khi em nói tên em là Thúy Kiều, có nhiều người cười. Chắc họ biết tên giả. Em bỏ bớt chữ Thúy, chỉ còn Kiều. Em xài tên Kiều cho đến bây giờ.”

“Sau này, nếu có ai còn cười nữa, em thêm chữ Giáng, thành Giáng Kiều. Người ta sẽ hết cười.”

“Ừ, Giáng Kiều. Tên cũng đẹp.”

Cô thò tay vào xú chiêng móc ra một gói thuốc Hoa Mai. Bao thuốc bèo nhèo, điếu thuốc cong queo. Cô châm lửa hút vài hơi rồi trao cho tôi

“Hút đi. Nhìn chi mà nhìn dữ vậy?”

Tôi nói: “Xú chiêng chứ đâu phải túi đựng đồ mà cho gói thuốc vào trong ấy.”

“Em còn nhét cả tiền nữa. Thời quỷ vương, bọn cướp giựt đầy đường. Mang bóp đầm, đi õng eọ, dễ làm mồi cho tụi nó lắm.”

Tôi ngó vơ vẩn ra bìa rừng.

Cô nhìn tôi một lúc, lại nói: “Năm bảy năm về trước, cặp vú em no tròn đầy đặn. Bao nhiêu thằng mê em, chỉ muốn vục mặt vào đó. Còn bây giờ thì…” Cô bỏ lửng câu nói.

Tôi hỏi: “Bây giờ thì sao?”

“Hỏi mỉa em hả?”

“Không. Anh đang nghĩ đến luật đào thải phũ phàng khắc nghiệt của tạo hoá.”

Cô khoát tay: “Ối. Hơi đâu mà nghĩ luật này luật kia cho mệt. Em chỉ hận lũ đàn ông. Đàn ông là thứ mới chuộng cũ vong, là thứ phản bội, trời đánh thánh đâm.”

Tôi kêu lên: “Trời đất! Có phải vì nóng nực, làm em nổi giận bất thường? Em hận thằng nào thì chửi thằng đó. Sao bỗng dưng lại trút căm hờn vào anh?”

“Em không nói anh.”

“Anh không phải đàn ông sao?”

“Đàn ông, nhưng em trừ anh ra.” Cô cười. “Thôi, mình lại quán uống nước đá đi anh. Em bao.” Và đứng dậy, nắm tay tôi kéo đi.

Đang đi, cô hỏi: “Anh mấy tuổi?”

“Bốn mươi ba.”

“Vợ con ra sao?” Cô liếc mắt, dí ngón tay vào trán tôi. “Đừng nói với em rằng anh còn độc thân nhe.”

“Em điều tra giống như công an phòng thẩm vấn.”

“A a…, nhắc đến công an, em lại nổi sùng. Bọn nó ruồng bắt tụi em, đưa vào trại Phục Hồi Nhân Phẩm. Phục cái mả cha nó, chứ phục hồi gì. Đứa nào “thâm niên công vụ” như em, nó đẩy đi lao động, phơi nắng cháy da. Đứa nào còn trẻ đẹp, nó giữ lại, chơi ngày chơi đêm muốn ngất xỉu, kêu trời không thấu. Những thằng công an của trại Phục Hồi Nhân Phẩm, bản mặt thằng nào cũng tái mét xanh xao, mắt quầng thâm vì chơi bời trác táng quá độ. Có thằng ghẻ lác đầy mình, con vi trùng giang mai đã rúc vô tận xương tủy của nó rồi.”

“Em hay bắt quàng, từ chuyện nọ xọ chuyện kia.”

“Thôi, trở lại chuyện của anh. Vợ anh đâu?”

“Gửi cho bà già vợ nuôi. Còn anh lo nuôi thân anh.”

Cô ngó tôi, cười cười: “Hỏi thiệt nhe. Có thích em không?”

“Đừng hỏi tầm phào.”

“Cái mặt làm bộ sầu đời, cách nói chuyện cà tững của anh, nhiều em gái ngây thơ chịu lắm. Tụi mình kết duyên thành chồng vợ được đấy.”

“Để ôm nhau chết đói hả?”

“Em tình nguyện đi làm nuôi anh.”

“Đi khách đem tiền về nuôi anh?”

“Không. Em chán cái nghề này lắm rồi.”

Chúng tôi ngồi dưới chái hiên quán Ba Canh. Chị Ba chủ quán mang nước đến, rồi bỏ đi ngay như muốn tránh mặt.

Cô Kiều nhìn theo sau lưng chị Ba, kề tai tôi, nói nhỏ: “Em còn lạ gì con đĩ ngựa này. Nó đỏng đảnh với mấy thằng xe be ngoài chợ, Ai chẳng biết,”

“Thôi. Chuyện người ta. Mắc mớ gì em.”

“Hứ! Cái thứ rượn đực, còn làm ra vẻ khinh người. Khó ưa.”

Cô nguýt dài. Đuôi mắt đã có dấu hiệu xếp nếp thời gian.

Tầm Lanh chỉ có một quán tạp hoá duy nhất của Ba Canh, nằm kế Bến Củi. Bên hông quán, che thêm cái chái dùng làm nơi bán thịt rừng, và nước đá giải khát buổi trưa cho những người sinh hoạt nơi Bến Củi. Ba Canh giao quán cho vợ con trông coi. Còn anh, lo chạy vòng ngoài. Vào rừng mua lại thịt tươi từ các tay săn bẫy thú, hoặc theo xe be ra chợ bổ thêm hàng hóa về cho vợ. Nhiều khi công việc bề bộn, vợ anh phải thay thế ra chợ bổ hàng. Việc này cũng mất khá nhiều thời gian, phải ở lại qua đêm, hôm sau mới có chuyến xe vào lại Tầm Lanh. Vì phải ở lại qua đêm, nên chị Ba mang nhiều tai tiếng lăng nhăng với dân xe be và lái gổ. Người ta xầm xì về chuyện này, nhưng Ba Canh không hề hay biết. Trời sanh ra anh để nhìn đời theo con đường thẳng, chứ không phải để nghi ngờ dò xét ở những khúc quanh.

Trời nắng loá. Trông ra Bến Củi, mặt đất dường bốc hơi thành gợn sóng. Những xe be đã bắt đầu rục rịch, chuẩn bị rời bãi.

Cô Kiều nói: “Em phải về. Anh có muốn em ở lại không?”

“Anh không có tiền.”

“Miễn phí cho anh.”

“Anh trú miễu ở đình. Làm bậy Quỷ Thần vật chết. Thôi, em về đi.”

“Về lần này, có lẽ em không trở vô nữa. Em muốn đổi nghề, kiếm chuyện khác làm ăn.”

“Ừ, được đấy. Em cũng lớn tuồi rồi. Phải nghĩ tới tương lai.”

Cô than thở: “Em muốn về quê cũ, làm lại cuộc đời. Nhưng em hư quá, vô phương quay về.”

“Thì đi nơi khác. Buôn gánh bán bưng gì cũng được.”

“Phải có một căn bản gia đình, mà em thì cô đơn, anh ạ.” Cô thở dài.

Tôi an ủi: “Từ từ, em cũng sẽ kiếm được người thương em.”

Ngoài bãi, có tiếng kêu ơi ới. Xe sắp rời Bến Củi.

Cô đứng dậy: “Em đi nhe. Chắc mình không gặp nhau nữa đâu.”

Cô bước đi xa, còn ngoảnh đầu ngó lại. Bỗng cô trở gót, quay vào cầm tay tôi: “Coi… kìa…, cái mặt buồn buồn, dễ ghét. Bộ thương em hả?”

“Thôi mà, đừng có đùa. Bao nhiêu người dòm ngó.”

“Dòm, kệ họ. Mai mốt có ra chợ, nhớ tìm em nhe?”

Tôi hối: “Được rồi. Em đi đi. Trễ chuyến xe bây giờ.”

Cô lầm lũi đi nhanh ra Bến Củi, lên xe, đưa tay vẫy vẫy. Tôi trông theo, cảm thấy nao nao. Không biết lòng mình ra sao nữa.

Tôi ngồi lại với nỗi trống không, buồn vô cớ.

Chị Ba bước ra hiên, dọn những ly tách trên bàn, nói: “Cặp kè với loại người ấy, chỉ mất mặt.”

“Nói chuyện thôi. Đã có gì đâu?”

“Còn muốn có gì nữa hả? Anh Ba Canh giúp anh có cơm để sống, chứ không phải để anh đem tiền bao gái.”

“Chị thấy tôi có lạng quạng với ai không?”

“Chuyện khuất lấp ban đêm, chỉ có trời biết. Còn chuyện ban ngày, đã rõ trắng đen. Bạ ai cũng tán tỉnh, thượng vàng hạ cám không chừa thứ nào.”

Thái độ và lời lẽ của chị Ba làm tôi ngạc nhiên. Chị đâu có quyền nói những lời gay gắt như thế với tôi. Nghĩ tới tình nghĩa anh Ba Canh lâu nay, tôi không nỡ phản ứng làm mất lòng người vợ của anh.

Tôi nói: “Chị hơi nặng lời đấy.” Và bỏ đi ra bãi.

Bến Củi không còn ai. Tôi một mình vác củi chất vào từng thước khối theo những cây cọc, Ba Canh đã đóng sẵn từ trước. Hôm nay, anh theo xe ra chợ lấy hàng.

Tôi làm mãi đến xế chiều. Khô cổ, khát nước, mồ hôi đầm lưng áo. Trời đứng gió, oi nồng. Muốn vào quán để uống ly nước đá, nhưng nghĩ lại thái độ khó chịu của chị Ba, tôi ngại. Tôi đi chếch về phía tây Bến Củi, nơi có ngôi đình, lâu ngày không được trùng tu.

Hồi mới tới đây, trông thấy một bên hiên đình quằn xuống sắp đổ. Hình ảnh hư hao tàn tạ cuốn hút lòng tôi. Tìm ở đâu cho xa. Một nơi chốn mà người đời quên lãng, sẽ là nơi trú ngụ an toàn cho con chim tơi tả trước cơn dông thời cuộc. Mái đình xưa, lợp ngói âm dương, phủ màu rêu xám. Cuối nóc đình, chỗ giáp với đầu hồi, có gắn con hạc bằng đồng thau, xoãi cánh như đang cố sức một cách tuyệt vọng, chấp chới bay lên để thoát khỏi sự sụp đổ của thời gian, nhưng đôi chân tội nghiệp cứ dính chặc với ngôi đình. Phía sau con hạc, cỏ dại và những cây con mọc đầy trên mái. Lớp lớp rêu cỏ, âm thầm nói lên biết bao điều ý nghĩa. Những ai hăm hỡ xẻ gỗ dựng đình từ thế kỷ trước, đều khuất bóng cả rồi. Thần linh phiêu hốt nơi đâu, mà tượng gỗ xiêu xó nơi này. Dù không được trùng tu, nhưng số phận ngôi đình vẫn còn may mắn. Nhờ vào vị thế địa dư hẻo lánh, và không có tiếng tăm linh hiển vang xa, nên ngôi đình thoát được cái hoạ san bằng, bởi chiến dịch triệt hạ những đình chùa lăng miếu, quét sạch nền văn hoá cũ của bao đời cha ông để lại.

Đã bao nhiêu đêm, tôi nằm trăn trở dưới mái hậu liêu, sau đình. Nghe chim đớp muỗi vỗ cánh chạm xạc xào trong khóm lá ngoài kia. Nghe tiếng dơi chí choé cắn nhau giành chỗ đậu, dưới mái ngói bên hàng hiên sắp đổ. Thấm thía nhứt là tiếng vạc kêu sương, rớt xuống tự trên lưng chừng trời. Dường như trong tịch mịch lặng im, tiếng vạc lẻ loi, làm tôi thấy rõ hơn về nỗi quạnh hiu của lòng mình. Những đêm trăng tỏ, tôi thường đứng trông ra Bến Củi. Những khối củi mập mờ nhìn từ xa, giống như những chiếc xe tăng đang lổn nhổn tiến về phía bìa rừng. Bồi hồi nhớ lại thời còn chiến tranh. Một binh lực hùng mạnh là thế, bỗng một ngày tán loạn rã tan. Chuyện vô lý, tưởng chừng như cơn mơ. Đến khi lủ khủ dắt nhau vào tù, mới bừng ra sự thật. Từ ấy trở đi, lý lịch tôi mang một dấu ấn lớn, không mong gì xoá được để làm lại cuộc đời. Tôi về Tầm Lanh như người xưa bất đắc chí, quay về sằn dã. Ẩn nhẫn mà sống. Nhưng, sao bất cứ nơi nào, tôi cũng thấy bi đát. Hoàn cảnh một cô Kiều trưa nay, cũng làm tôi suy nghĩ. Tôi có hơn gì cô đâu. Đời đã lâm vào thế bí. Trở lui không được, tiến tới không xong…

Đêm đã khuya. Sương xuống lạnh màu trăng. Hình như có tiếng chân ai dẵm lên những phiến lá khô ngoài sân đình. Tôi nhỏm dậy. Một người vừa bước đến bên thềm hậu liêu.

Tôi ngạc nhiên: “Chị Ba. Có gì gấp mà giờ này ra đây?”

“Cũng có chút việc.” Chị nói nhỏ giọng.

“Tôi có thể giúp chị không?” Vừa hỏi, tôi vừa vén tấm mùng, vắt lên nóc.

Chị e dè ngồi xuống mép giường: “Anh có giận tôi không?”

“Giận chuyện gì?”

“Hồi trưa, tôi lỡ lời.”

“Không đâu. Chị nói cũng đúng. Tôi hay rà rê với mấy cô ấy.”

“Tôi biết anh làm thế, vì buồn.”

“Vâng. Tán gẫu cho qua ngày.”

“Nhưng anh phải lựa người chứ.”

“Có tính chuyện lâu dài đâu mà chọn lựa?”

“Giữa ban ngày, kề vai bá cổ với gái điếm, không sợ người ta cười sao?”

“Cái thân cùng đinh mạt kiếp như tôi, còn sợ ai cười nữa?”

“Thấy chướng quá, tôi có nói nặng lời. Anh buồn không?”

“Tôi buồn, nhưng không phải buồn chị”

Chị ngó tôi, cười cười: “Buồn ai?”

“Buồn vì… buồn. Thế thôi.” Tôi ngập ngừng lúng túng. Cảm giác có điều gì bất thường.

“Buồn vì cô đơn hả?” Con mắt chị liếc nhẹ, gợi tình thì thôi.

Dưới ánh trăng khuya nghiêng rọi vào hậu liêu, nét mặt chị Ba có sức quyến rũ lạ lùng. Mùi xà bông chanh trên tóc, mùi đàn bà quyện vào nhau thoang thoảng. Những đêm nằm một mình dười mái hậu liêu, tôi thèm được ôm một người đàn bà. Nhưng, chưa bao giờ tôi nghĩ người ấy là chị Ba.

“”Nói đi. Có phải buồn vì cô đơn?” Chị lẵng lơ nhìn tôi, và đưa tay vén mớ tóc giạt qua một bên cổ. Bộ ngực vun đầy của chị phập phồng dưới lớp áo mỏng.

Tôi chống đỡ sự quyến rũ một cách yếu ớt: “Chị Ba ơi…, còn anh Ba Canh.”

Nói thế, nhưng hình ảnh Ba Canh đã mờ nhạt trong trí tôi rồi.

Chị nói: “Ảnh đi ra chợ. Anh cũng biết mà.”

Hơi hướm từ cổ chị Ba phả vào mũi tôi, cám dỗ. Và tôi cũng nghe rõ cả hơi thở hồi hộp của mình nữa.

Có tiếng dơi kêu chí choé bên kia hàng hiên. Bỗng dưng, tôi cảm tưởng như tất cả những bức tượng ngả nghiêng đóng bụi trong đình, đều chỗi dậy. Quỷ Thần kéo nhau ra hậu liêu, đứng nhìn chị Ba và tôi. Tôi chợt nhớ lại ngày còn bé, đọc chuyện Một Vị Quan Thanh Liêm đời xưa, trong sách Giáo Khoa Thư: Có người mang của hối lộ đến. Vị quan từ chối. Người ấy nói: “Xin quan cứ nhận. Chuyện này không ai biết.” Vị quan nói: “Sao lại không? Ông biết. Tôi biết. Quỷ Thần Trời Đất biết.” Chuyện của Chị Ba và tôi đêm nay, dù anh Ba Canh không biết, nhưng chị Ba biết, tôi biết, và Quỷ Thần Trời Đất biết.

Ngọn đèn lương tâm leo lét sắp tắt rồi. Tôi cố lấy lại bình tĩnh, bước xuống giường, ra đứng ngoài hiên, lơ lãng nhìn trăng.

Tôi gọi, vừa tha thiết, vừa khước từ: “Chị Ba ơi… Về đi. Lỡ có người trông thấy thì… chết.”

Chị ngỡ ngàng, ngồi sững lâu lắm. Tội nghiệp chị. Tôi muốn quay lại ôm lấy cái thân thể chín muồi dục vọng, ngả trên mặt giường, âu yếm. Đời có ra sao thì ra.

Bất ngờ chị nói: “Thôi, tôi về. Đã theo tán tỉnh mấy con đĩ, còn lên mặt đạo đức làm cao.”

Câu nói như một gáo nước lạnh dội xối vào mặt tôi, bừng tĩnh.

Chị thay đổi nhanh vô cùng. Mặt lạnh băng, vùng vằng bỏ đi. Không biết nghĩ sao, chị dừng lại, ngập ngừng: “Anh hứa không nói với ai?”

“Vâng. Tôi hứa.”

Chị quay lưng. Thấp thoáng dưới trăng, bóng chị Ba mờ khuất ngoài Bến Củi.

Tôi nằm thức suốt đêm. Thầm tiếc dịp may, nhưng cảm thấy yên lòng. Ngày mai, nhìn lại anh Ba Canh mà không hề thấy ngượng.

Bình minh lên. Quạ kêu trên đầu cây sao già. Tiếng quạ kêu nghe thảm. Trong tiếng quạ sáng nay, dường như có thêm một điều gì thảng thốt. Có lẽ, hồn tôi bắt đầu nhuốm bệnh?

Mọi sinh hoạt của Tầm Lanh, Bến Củi vẫn bình thường. Chị Ba đối với tôi, cũng bình thường. Nhiều khi tôi tự hỏi, chị có còn nhớ gì trong đêm ấy không? Khó mà biết được ý nghĩ của chị. Trong cái đầu của mỗi người đàn bà, có cả một kho tàng bí mật.

Anh Ba Canh bao giờ cũng tử tế. Lòng anh đơn giản. Anh tưởng lòng người cũng đơn giản như anh. Anh thường khuyên tôi, nên tìm một người đàn bà goá, để gán ghép hai cuộc đời cô đơn làm một. Vì quá thật thà, anh đâu biết rằng có những cặp vợ chồng đang sống trên lưỡi dao cạo. Đến một ngày nào đó, hiểu ra thì con tim đã bị cứa nát rồi. Chừng nào anh Ba Canh mới thấu được lòng dạ chị Ba? Lúc ấy, liệu anh làm sao với con tim chảy máu của mình?

Ba năm tôi ở Tầm Lanh. Kẻ lạ chợt đến chợt đi. Tình người dưng nước lã. Tôi nương tựa vào gia đình Ba Canh, và coi đây là chỗ thân tình duy nhất. Đứa con gái lớn của anh, tên Mận, học hành dang dở. Tôi đến chơi, thường vẫn dạy thêm cho Mận về văn học, sử ký, địa dư, khoa học thường thức. Năm mười lăm tuổi, Mận nghĩ chuyện gì ở trên đời, tôi cũng thông suốt.

Có lần, Mận hỏi: “Chú ơi, muối lấy từ đâu?”

Tôi nói: “Từ trong nước biển.”

“Tại sao nước biển có muối nhỉ?”

“Vì nước biển mặn.”

“Tại sao nước biển mặn?”

“Vì nước biển có muối.”

Cái kiểu trả lời theo chu kỳ vòng tròn của tôi, làm hai chú cháu cười ngất.

Năm mười sáu tuổi, Mận nói: “Chú ngon hơn ông Nguyễn Công Trứ.”

Tôi hỏi: “Tại sao?”

“Ông Nguyễn Công Trứ đang làm quan, bị hất xuống làm lính, vẫn chạy theo sau chiếc xe công danh réo gọi ơi ới, để leo lên nữa. Còn chú, nghe ba cháu nói, cũng đang làm quan gì đó, rồi bị đi tù, trở về đi vác củi, chứ không thèm chạy theo cách mạng.”

“Hoàn cảnh mỗi thời mỗi khác. Không so sánh thế được đâu. Cháu đừng nhắc chuyện cũ, để chú được yên thân làm nghề vác củi.”

Năm mười bảy tuổi, Mận nói: “Chú ơi, chú giống ông Trần Tế Xương.”

Tôi hỏi: “Ổng là thi sĩ. Chú là tiều phu. Sao lại giống nhau được?”

Mận lật quyển sách, đọc:

Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta

Chừa được thứ nào hay thứ ấy

Có chăng, chừa rượu với chừa trà.

Rồi ngước lên nhìn tôi: “Chú cũng vậy. Không chừa được đàn bà.”

“Đàn bà đâu? Chú đang sống một mình mà.”

“Hừm… Cháu thấy mấy cô làm… điếm, bu vào chú nói chuyện hoài.”

“Ừ, thì nói chuyện cho… vui.”

“Không được. Chú phải chừa cái thứ ba luôn.”

Tôi kêu: “Trời ơi. Chú đâu phải thầy tu mà chịu đủ thứ điều răn, giới luật?”

Mận khẳng định: “Người tốt không giao thiệp với người xấu.”

Trong mắt Mận, tôi là người tốt. Mận không muốn tôi lân la gần gũi những người mà Mận cho rằng xấu. Mận đâu biết trên cõi đời ô trọc này, không thể nhìn bề ngoài con người mà tỏ được vàng thau. Mận thừa hưởng tấm nhan sắc tương đối mặn mà của mẹ, còn tính nết ra sao, chỉ có trời biết.

Một chiều, nghỉ việc sớm. Tôi thơ thẩn trên sân đình.

Mận đến, nói: “Má cháu bảo đem biếu chú trái dưa hấu đầu mùa.” Và đặt trái dưa xuống bậc thềm.

Tôi nói: “Tránh chỗ đó. Coi chừng mái hiên sập xuống bất cứ lúc nào.”

Chúng tôi vòng ra đứng trước tiền đình, cửa chính.

Mận nhìn cánh cửa, mối mọt hư hao: “Cái đình này, ghê quá.”

“Cháu có vào bên trong bao giờ chưa?”

“Hồi nhỏ, cháu thường vào mỗi khi có dịp cúng đình. Nghe nói Thần đình được sắc phong của vua. Sắc đựng trong cái hộp gỗ, để bên cạnh bức tượng.”

“Mình vào coi thử đi.”

Tôi mở cửa chính điện. Bụi thời gian lả tả, rơi đầy trên tóc trên vai. Mùi cứt dơi xông nồng lên mũi. Nền đình lót gạch Tàu, bản lớn. Dấu chân chúng tôi in trên màu bụi xám. Ánh sáng bên ngoài hắt qua cửa chính mờ mờ, đủ nhìn thấy bàn thờ, và bức tượng. Hai tấm liễn màu đỏ rủ xuống hai bên, viết bằng Hán tự. Bụi phủ, nhện giăng. Tượng Thần không lớn mà uy nghiêm. Hộp đựng sắc vua phong làm bằng gỗ mun, được che bởi miếng vải lụa điều. Tôi giở miếng vải lụa. Trên nắp hộp có khắc hình một con rồng khảm xa cừ.

Tôi toan mở, Mận ngăn: “Không được.”

Tôi quay lại nhìn: “Sao không?.”

“Chẳng phải ai cũng có thể mở hộp ra coi được đâu.”

“Vậy, ai có thể mở?”

“Cháu nghe nói, chỉ những vị chức sắc phải làm lễ xin phép Thần, trước khi mở hộp.”

“Những vị chức sắc, bây giờ ở đâu?”

“Không biết.” Mận đứng nép vào tôi, ngó dáo dác chung quanh. “Mình đi ra, chú. Vào đây, cháu thấy sờ sợ.”

Vì tôn trọng tín ngưỡng và tập tục lễ nghi của ngưới đời trước, tôi không mở hộp để coi sắc phong thần vua ban,

Tôi nói: “Mai cháu đem cây chổi cho chú mượn. Chú muốn quét dọn bên trong ngôi đình.”

“Không. Đừng động đến mọi vật bên trong.”

Chúng tôi ra tới cửa chính. Bất ngờ, thấy chị Ba đứng sẵn nơi tiền đình.

Tôi gọi: “Chị Ba.” Như thay thế một lời chào.

Mặt chị có vẻ khác thường: “Các người làm gì trong ấy?”

Mận nói: “Chú định coi sắc vua.”

“Hừ… Sắc vua?” Chị nắm tay Mận lôi về. Không thèm ngó đến tôi.

Tôi gặp lại Ba Canh ngoài bãi, hôm sau. Anh không nói gì. Thái độ rất lạnh.

Không chịu nổi sự im lặng của anh, tôi lên tiếng hỏi: “Chị Ba có nói với anh điều gì về tôi?”

Anh ngừng tay làm việc, rút thuốc ra hút, và đứng suy nghĩ. Mãi lâu sau, anh nói: “Tôi quý chú em, coi như người nhà. Không ngờ, chú tệ quá.” Anh thở dài.

“Nhưng chị nói những gì?”

“Những gì, chú cũng biết rồi. Con Mận còn khờ. Chú là người hiểu biết. Miếu đình là chốn linh thiêng. Sao lại đem nhau vào trong ấy làm… bậy? Không sợ Quỷ Thần quở phạt?”

“Có phải chị Ba thêu dệt chuyện này?”

“Ai dám thêu dệt chuyện động trời như thế.”

“Anh chị đã hỏi kỹ lại con Mận chưa?”

“Nó chối. Khóc kêu oan. Làm sao nó có thể nhận một hành động tồi bại?”

Tôi gắt: “Anh cũng tin lời chị sao?”

“Không tin vợ thì tin ai?” Nếu vợ tôi không bắt gặp tại trận, chỉ nghe lời đồn, thì cũng khó tin được.”

“Bắt gặp tại trận thế nào?”

“Chú là người trong cuộc, chú biết rõ hơn ai hết. Tôi không nói là vì còn nể mặt nhau.”

Tôi muốn đấm ngực, than trời. Mận khóc, kêu oan. Còn tôi, kêu với ai? Đính chính thế nào?

“Bây giờ anh tính sao?” Tôi hỏi.

“Chuyện xảy ra quá đột ngột, tôi chưa biết đường nào giải quyết. Đàn bà nhiều khi sáng suốt hơn mình. Vợ tôi nói, không nên làm ồn lên vụ này, vì danh dự của chú và con Mận. Nó phải giữ danh giá để mai kia còn lấy chồng nữa. Chú nên rời khỏi Tầm Lanh, cắt đứt ngay mối tình vụng trộm này.”

Cái câu, chú nên rời khỏi Tầm Lanh, làm tôi hiểu rõ ý định của chị Ba. Chị không hiểu lầm. Chỉ vì không muốn tôi còn lảng vảng quanh đây, sợ một lúc nào đó, tôi sẽ tiết lộ cái đêm trăng cũ, có lần chị đến mái lậu liêu. Nếu lần ấy, tôi đồng tình với chị, thì hai người cùng giữ bí mật. Và chị cũng không cần phải dựng đứng lên một điều không có thật giữa tôi và Mận. Bây giờ, dù tôi có vạch rõ âm mưu của chị Ba, thì anh Ba Canh cũng sẽ cho rằng tôi đặt điều bêu xấu vợ anh, để chạy tội cho mình.

Tôi nói: “Anh Ba, mai tôi rời Tầm Lanh theo ý của chị. Xin anh nhắn với chị rằng, vì muốn bảo vệ danh giá của mình, chị đã vu oan cho tôi và con Mận.”

“Vu oan? Tôi không nghĩ thế. Và cũng không hiểu chú muốn nói cái gì?”

“Hiểu sao được, khi anh đang sống ngọt ngào trên lưỡi dao cạo? Tôi và con Mận đã bị đứt tay rồi. Không biết chừng nào tới anh?”

Trên chuyến xe rời Bến Củi, tôi thấy Mận đứng dưới mái hiên, ngùi trông theo. Chẳng biết Mận có khóc hay không. Bóng xế hắt hiu trên đầu cây sao già. Ngôi đình vẫn im lìm như ngày tôi mới đến. Ba năm. Cây rừng Tầm Lanh mọc rễ trong tôi. Tôi nhổ gốc ra đi. Không có ai vẫy tay làm đưa tiễn.

Lâm Chương

2002-08-01

Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3 Jan 2020

Post by Sơn râu 15 Apr 2026

Kỳ trước: Các trung đoàn của Sư Đoàn 320A Việt cộng đang dồn toàn lực để san bằng căn cứ Pleime. Các đợt tiền pháo hậu xung tới tấp của địch không làm hao mòn ý chí chiến đấu của người lính TĐ 82 BĐQ, những tay súng đã chấp nhận cái chết. Trung Đoàn 45 của Sư Đoàn 23 Bộ binh VNCH đang trên đường cứu viện.

Kỳ 10

Ðể đánh lừa địch, tôi cho đặt một quả mìn chống chiến xa dưới một cục đá mỏng, trên cục đá là một lưỡi xẻng rỉ sét. Máy rà mìn sẽ reo lên khi rà sát mặt đất có lưỡi xẻng và quả mìn. Ðịch thấy cái lưỡi xẻng nhưng không ngờ dưới đó có một cục đá đè trên quả mìn!  Chúng sẽ ơ hờ bỏ qua, rồi tiếp tục đi tới, lại thấy một mảnh kim loại đè trên cục đá, chúng không nghĩ dưới cục đá còn có quả mìn…Tôi leo lên chòi canh, mắt tôi nhìn không chớp: Một cột khói đen kịt cuồn cuộn dâng lên, cùng lúc những tiếng “Bùng! Bùng! Lách! Cách!…” do đạn cháy nổ trong chiếc xe tank mới cán mìn! Tôi đứng lặng người lo lắng:

“Vậy là K16 Tank tham chiến! Chắc phen này mình tiêu tùng rồi!”

K16 Tank là tiểu đoàn xe tank T54 trực thuộc Trung Ðoàn E 40 Pháo của Mặt Trận B3.

Trung Ðoàn E 40 Pháo là đơn vị yểm trợ hỏa lực trực tiếp của địch trong các chiến dịch lớn trên toàn lãnh thổ Vùng 2. Thời gian này Trung Ðoàn E 40 Pháo đang trú quân trong thung lũng Ia Drang. Nếu Tiểu Ðoàn K16 Tank này nhập trận thì chúng tôi nguy to. Tôi có hai Box 1×1 kilomet dự trù sẵn sàng cho pháo binh chiến lược 175 ly đánh bất cứ lúc nào. Hỏa tập thứ nhất nằm cách chân tiền đồn Bắc, hai cây số, phủ trùm cả cái cống mà chiếc tank địch bị vướng mìn hồi chiều. Hỏa tập thứ nhì nằm trên con đường xe be hướng Tây. Nay là lúc tôi dùng tới hai hỏa tập dự trù này.

Lần đầu được nghe đại bác 175 ly yểm trợ, tôi có cảm tưởng như thời kỳ tháng 8 năm 1972, đứng trong giao thông hào ở trại Ðức Cơ chứng kiến pháo đài bay B 52 của Mỹ đánh những Box 1×3 kilomet cách rào trại chỉ hơn ba cây số.

Hai bên cổng Bắc đã có mười mấy cây M72 hờm sẵn; nòng súng đã được kéo thành ống phóng, bấm nút là đạn bay đi. Khẩu 105 ly cổng Bắc không dùng để bắn những mũi tên sắt nữa, mà thay vào là những viên đạn chống tank với đầu nổ sơn đen. Tôi có một khẩu súng SKZ 57 ly chống chiến xa, nhưng từ ngày đầu chiến dịch, khẩu súng này đã gãy nòng vì bị pháo kích.

Khuya 29 tháng 8 tôi ra mật lệnh cho một toán viễn thám sẵn sàng ở cổng Nam Pleime. Nếu chiến xa Việt-Cộng đè sập hết hàng rào, vào càn quét trên căn cứ thì toán sẽ mở toang cổng sau, quân ta sẽ vừa đánh vừa lui ra hướng sân bay. Riêng tôi, chú Minh và chú Phước sẽ cố thủ trong lô cốt chứa thương binh. Minh và Phước đã hứa sẽ cùng tôi chết bên nhau trên đất Pleime, sẽ không chạy, sẽ không đầu hàng. Tôi lo lắng từng giờ, chờ những chiếc tank T54 xuất hiện nơi cổng Bắc. Ðịa thế của Trại Pleime đóng một vai trò rất quan trọng trong công việc phòng thủ.

Doanh trại của đơn vị trú phòng nằm gọn lỏn trong vị thế lõm của cái lòng chảo giữa ngọn đồi có cao độ 403 mét. Các pháo đài chỉ cao hơn mặt đất chừng hai gang tay, thấp hơn chiều cao của cỏ tranh, do đó Việt-Cộng không phân biệt được đâu là pháo đài, đâu là tường đất để dùng đại bác mà trực xạ. Hai mặt Nam và Ðông của Trại Pleime chưa hứng chịu lần tấn công nào, có lẽ do địa thế không thuận lợi. Mặt Ðông thì đất dốc đứng, không thể xung phong nhanh được, còn mặt Nam lại quá trống trải, bộ binh và tank rất dễ bị bắn hạ trước khi áp sát hàng rào phòng thủ.

Trận Pleime 1974 giai đoạn cuối

Nếu tank địch mà tiến vào từ hướng Nam thì họ sẽ chết chắc! Sân bay Pleime chứa hàng trăm quả mìn, bộ binh dò đường vừa ló dạng đã chết bởi đạn Beehive của Trung úy Như. Tôi còn cầu trời xui khiến cho chúng đưa tank vào hướng Nam để tôi tiễn đưa chúng về trình diện Diêm Vương. Ðêm xuống, trong máy truyền tin của tôi có tiếng người Miền Bắc chỉ vỏn vẹn một câu chứa đầy sự đe dọa:

“Thằng cứng đầu! Tao sẽ san bằng cái đồn của mày!”

Tôi đã nhận ra giọng nói quen của người phía bên kia, nên từ tốn trả lời,

– Tôi nghĩ rằng, người cầm quân tất nhiên phải cân nhắc thiệt, hơn. Chắc anh đã biết, muốn giết bốn trăm người dưới quyền tôi thì ít ra anh cũng phải chết một hai nghìn người! Lùa hai nghìn người vào chỗ chết để đánh đổi một cái đồn bé tí teo có phải là hành động khôn ngoan không? Chúng ta có ân oán với nhau, nhưng không thể vì thế mà coi rẻ hàng nghìn sinh mạng của những người dưới quyền mình.

Chờ khoảng năm phút sau không thấy người kia nói gì thêm, tôi bèn cúp máy. Bốn tháng trước tôi và người này đã chửi nhau một lần vào ngày 14 tháng Tư năm 1974. Ngày đó ở Căn cứ 711, Trung Ðoàn 64/320A của ông ta bị tôi đánh tan hoang, còn tôi cũng bị cháy 12 chiếc chiến xa. Tới tối thì ông ta vào máy kêu gọi tôi đầu hàng. Tôi lớn tiếng réo tổ tiên, ông nội, bà ngoại ông ta ra mà chửi. Rồi tôi thách thức ông ta có giỏi thì cứ xông lên, lên bao nhiêu người tôi sẽ giết chết bấy nhiêu! Thế là ông ta dốc toàn lực thành phần còn lại của sư đoàn dưới tay ông để đánh tôi. Ðêm 14 rạng 15 tháng 4 ông ta nướng hết Tiểu Ðoàn D20 Trinh sát; sáng hôm sau ông ta điều động toàn bộ Trung Ðoàn 48/320A vào trận.

Tới khi Trung Ðoàn 48/320A dùng tới thủ pháo chứa hơi độc hóa học thì tôi bị thua. Căn cứ 711 bị tràn ngập. Quân của ông ta đã ôm vật tôi xuống đất định bắt sống thì bị Thiếu úy Trần Văn Phước bắn loạn cào cào, mấy tên bu quanh tôi đều trúng đạn. Sau đó Trung úy Nguyễn Công Minh kịp thời tiếp cứu, rồi ba thầy trò tôi chạy bán mạng, thoát chết. Sau trận đó Ðại tá Tất khuyên tôi nếu phải đánh nhau với ông ta lần nữa thì chịu khó nói năng dịu dàng hơn, đừng chọc giận ông ta nữa, ông ta mạnh hơn mình nhiều, tránh voi chẳng xấu mặt nào!

Ông ta là Ðại tá Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 320A Cộng Sản.

Mấy năm sau, khi đang bị giam giữ trong trại tù cải tạo Nam-Hà A ở ngoài Bắc, tôi nghe tin Thiếu tướng Kim Tuấn Tư lệnh Quân Ðoàn 3 của Cộng-Sản đã tử trận trên chiến trường Campuchia. Chạm trán lần này tôi đã có kinh nghiệm, nên theo cách Ðại tá Tất mách nước, tôi dùng giọng điệu ôn hòa để đáp lại lời hăm dọa của ông ta. Không biết qua lần đối thoại vừa qua, thái độ của tôi có ảnh hưởng gì tới quyết định rút quân của Ðại tá Kim Tuấn hay không?

Cũng có thể vì quả mìn chống chiến xa của tôi đã làm sập cái cống bắc ngang con suối khiến cho chiếc T54 mở đường cắm đầu xuống nước, nên những chiếc tank khác không tiến được. Mặt khác, không loại trừ lý do mà Ðại tá Kim Tuấn ngừng tiến công Pleime chỉ vì ông ta e sợ bị sập bẫy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Toàn đang có trong tay một thiết đoàn kỵ binh và một trung đoàn bộ chiến chưa sứt mẻ, dư sức chặn đường lui, và tiêu diệt gọn cái Tiểu Ðoàn K16 Tank của Bắc quân nếu họ bị lún càng vào một trận đánh xáp lá cà với những người tử thủ Pleime.

Hai ngày kế tiếp chúng tôi không thấy pháo cối, và không còn đợt xung phong nào nữa. Ðêm 31 tháng 8 tôi cho hai toán trinh sát đi vòng quanh rào trại do thám tình hình, một toán xuất phát từ cổng Nam kiểm soát hướng Tây rồi về cổng Bắc. Một toán đi từ cổng Bắc vòng về hướng Ðông rồi vào cổng Nam. Hai toán thám thính vòng đai về báo cáo rằng địch đã rút đi rồi! Toán trinh sát hướng Ðông báo cáo rằng nơi bờ đất dốc đứng cách hàng rào ngoài chừng hai trăm thước là hàng trăm hầm hàm ếch của địch. Có lẽ đây là nơi trú ẩn của Trung Ðoàn 48/320A? Trong thời gian một tháng qua, tôi chỉ dùng pháo 106 ly và 81 ly đánh sát hàng rào hướng Tây, chưa từng có viên đạn cối hạng nặng nào rơi sát rào Ðông. Ðạn cối 60 ly của tôi không có đầu nổ xuyên phá (delay) nên những lần đánh cận phòng hướng Ðông của tôi chẳng khác gì bắn “gãi ngứa” cho địch quân trên mục tiêu này.

Tối 1 tháng 9 tôi ra lệnh cho Chuẩn úy Bảo và Thượng sĩ Sơn dẫn đầu một trung đội của Ðại đội 1/82 leo lên Chư Gô tái chiếm cao điểm 509. Trung đội này tới mục tiêu thì địch đã rút đi rồi. Cùng giờ, một trung đội của Ðại Ðội 4/82 do Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước và Thượng sĩ Phong cũng lên đường nhắm hướng Chư Hô. Trên Chư Hô, đơn vị phòng không của địch đã di chuyển, còn lại cỡ một tiểu đội đoạn hậu. Gần 10 giờ đêm trung đội của Chuẩn úy Phước chạm trán với tiểu đội Việt-Cộng này. Hai bên bắn nhau chừng mười phút thì địch bỏ chạy xuống núi. Lá quốc kỳ Việt-Nam Cộng-Hòa được kéo lên ngọn cột cao giữa đỉnh Chư Hô vào đúng KHÔNG (0) giờ ngày 2 tháng 9 năm 1974.

Từ đỉnh núi Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước gọi cho tôi rồi báo cáo,

– Trình Thái Sơn, vùng hướng Tây dưới chân núi Chư Hô, xe của địch đang chạy thành đoàn, đèn chiếu sáng choang.

Thì ra, cơ giới địch đang rút đi!

Mấy ngày sau tôi đem theo Ðại đội 4/82 và một toán cận vệ vào thám sát khu vực mà chú Phước nói có đèn xe của Việt-Cộng thì phát giác ra nơi ấy là một vị trí đóng quân của cơ giới địch. Tiếc rằng thời gian qua, quân ta quá chú ý tới mặt trận hướng Bắc nên không có cuộc không tập nào trên mục tiêu lộ thiên này.

Vùng này nằm cách Pleime gần 5 cây số về hướng Tây Nam. Chắc chắn trận địa này đã được thiết trí sau ngày tiền đồn Chư Hô của ta rút chạy.

Thoạt nhìn ta có cảm tưởng như đang đứng trước vị trí trú quân dã ngoại của một đơn vị của Hoa-Kỳ thời 1968-1970.

Trên diện tích cỡ một sân bóng tròn, xe ủi đất đã tạo thành những ụ đất dành cho loại súng có bánh xe, có lẽ là phòng không 37 ly hoặc 100 ly. Những chùm đạn 37 ly và 100 ly mà Việt-Cộng bắn lên trời để thị uy trong thời gian vừa qua có thể đã xuất phát từ đây.

Mặt đất in đầy vết xích dấu chữ “V” chứng tỏ rằng bãi đậu xe này đã là nơi tập trung của một đơn vị chiến xa Việt-Cộng.

Nhìn dấu tích địch còn để lại, tôi nghĩ người chỉ huy Bắc Quân đã lên phương án sử dụng Tiểu Ðoàn K16 Tank T54 vào một trận đánh một mất, một còn với chúng tôi.

Nhưng có lẽ họ đã ước tính được sự tổn hại to lớn nếu thi hành phương án này, nên đã rút lui.

Chắc chắn họ đã thấy, với một mặt trận có chiều ngang chưa đầy hai trăm mét, làm sao đủ rộng để cho một tiểu đoàn cơ giới T54 tận dụng hỏa lực, hàng ngang tiến lên?

Ðó là chưa kể đến những trái mìn chống chiến xa nằm lền khên trong rừng trên cái dốc cổng Bắc, và dày đặc trên sân bay cổng Nam.

Tôi đã chuẩn bị sẵn, mỗi người thủ một trái lựu đạn M26 là phương tiện cuối cùng để tự đưa mình sang thế giới bên kia.

Tôi tin chắc rằng nếu phải chết, anh lính mù trong bệnh xá cũng rủ được vài cán binh Bắc Việt chết theo chứ đừng nói chi tới những chiến binh còn lành lặn.

Chỉ vì, “Một thằng liều mạng bằng mười thằng sợ chết!”  nếu phải đánh nhau trận cuối, chúng tôi bị bắt buộc trở thành “những thằng liều mạng” chúng tôi bị đưa vào thế cùng chết với quân thù, thì dù cho đánh nhau với hai chục chiếc T54 của Mặt trận B3 hay hai trăm chiếc T54 chúng tôi cũng coi như pha!

Người chỉ huy Bắc Quân đã không đánh trận cuối cùng thì coi như chiến dịch Pleime 1974 chấm dứt.

Trong chiến dịch này, ban tham mưu của Sư Ðoàn 320A Bắc-Việt đã đánh giá sai khả năng chiến đấu của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Chắc họ tưởng đánh Pleime cũng dễ như chiếm Lệ Minh, nên cứ tiền pháo hậu xung, rồi lừng lững vác cờ tiến vào đồn? Không ngờ họ đã đối diện một cổng đồn đóng kín và những hàng kẽm gai dày đặc, để rồi vừa hô được hai tiếng “Xung phong!” tiền quân của họ đã chết như rạ vì những quả đạn Beehive.

Ðánh nhau kỳ này các đơn vị tiến công của địch đã bị dụ vào một cái bẫy, họ cứ tưởng lầm Pleime chỉ có 6 lớp hàng rào, như trên cái sơ đồ phòng thủ mà họ tịch thu được 4 tháng về trước, cứ cho Bangalore đánh thủng kẽm gai mở đường rồi chạy ào lên là có thể chiếm lĩnh mục tiêu, nhưng thực tế Pleime đã có tới 12 lớp rào, giữa hai hệ thống hàng rào lại là một vạt đất rộng hai chục thước đầy mìn bẫy!

Trận Pleime năm 1974 là một cuộc đấu trí và đọ sức trường kỳ không cân sức.

Nhưng với tinh thần chiến đấu quyết tử vì dân, vì nước của toàn thể chiến sĩ trong đơn vị, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến thắng.

oOo

Đồng bào ơi! Chúng con về đây!

Khoảng 9 giờ sáng ngày 2 tháng 9 có một ông tiểu đoàn trưởng của Trung Ðoàn 45 Bộ Binh vào tần số chúc mừng tôi đã bình yên. Tiểu đoàn của ông ta và một chi đoàn của Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh đã tiến tới cách Pleime một cây số nhưng không chạm địch.

Ông ta dẫn theo một tiểu đội theo Tỉnh lộ 6C đi bộ vào thăm tôi.

Sau khi cho tháo gỡ ngòi nổ những quả mìn trên đường, tôi ra cổng Bắc bắt tay cám ơn người bạn đã vào cứu mình.

Ông này là một Ðại úy người Bắc, vì thời gian qua lâu quá rồi, nên tôi chỉ nhớ mang máng tên ông ta là Hiền hay Hiển gì đó. Tôi không biết sau này qua bao biến cố, ông bạn ấy có còn sống hay không?

Trưa 2 tháng 9 năm 1974 chiếc trực thăng đầu tiên đáp xuống Pleime mang theo Trung tá Hoàng Kim Thanh Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, anh Thanh không quên đem theo một két bia cổ cao và một cây nước đá để tưởng thưởng cho tôi.

Sau đó là một hợp đoàn của Phi Ðoàn 229 mang thực phẩm tiếp tế và vài chục tân binh bổ sung. Hợp đoàn trực thăng này cũng chuyển đi hết số thương binh còn tồn đọng.

Ngày 3 tháng 9 hai vị Ðại tá Biệt Ðộng Quân xuống thăm chúng tôi cùng một phái đoàn chuyên viên tiếp liệu tới kiểm tra thiệt hại vật chất của đơn vị tham chiến.

Tôi chưa cho gỡ những lớp rào dích dắc, nên đoàn người dài ngoằng phải nối đuôi rồng rắn theo nhau từ sân bay vào trại. Ðại tá Từ Vấn đi trước, Ðại tá Phạm Duy Tất đi kế, tôi là người thứ ba.

Không có phóng viên nhật báo nào được tháp tùng phái đoàn của Ðại tá Tất, nhưng có những bức ảnh ghi cảnh hoang tàn đổ nát của Pleime 1974 đã xuất hiện trên báo Sài-Gòn. Một nhân vật nào đó trong toán chuyên viên thanh tra tiếp liệu đã lén chụp và trao cho báo chí những bức hình này.

Ðứng bên khẩu súng đại bác đã xẹp bánh ở cổng Bắc, Ðại tá Vấn cho tôi hay ý định của ông,

– Kỳ này ưu tiên cho thằng Tám Mốt (Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân) đi hấp ở Dục Mỹ. Còn Tám Hai (Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân) có Thiếu tá Long là chuyên viên huấn luyện tại chỗ thì không cần phải gửi đi Dục Mỹ nữa!

Tôi không có ý kiến gì khi nghe ông liên đoàn trưởng quyết định đưa một đơn vị đánh nhau chưa đầy một ngày đi tái huấn luyện, thay vì cho đơn vị đánh nhau 33 đêm ngày đi Dục Mỹ bồi dưỡng ít lâu.

Về Việt Nam cưới vợ – Bài học chưa thuộc

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 15 Apr 2026

Theo báo chí trong nước, ngày 24 tháng 5-2011, tại Trà Vinh, Việt kiều Luân Quyền Đạt 46 tuổi, đã nổi  cơn điên dại và được đưa vào bệnh viện tâm thần ở Biên Hòa, lý do là ông về Việt Nam cưới vợ, và bị gia đình vợ đưa vào bẫy lừa để lấy số tiền trên 20,000 Mỹ kim. Chuyện ông Việt kiều này bị lừa như thế nào, báo chí bên nhà không nói rõ, nhưng cũng chẳng ai nghe chuyện này mà ngạc nhiên. Về Việt Nam lấy vợ là chuyện dài, là những bài học đắt giá nhưng lại là những bài học rất khó thuộc. Khó thuộc là vì những bài học này không giống nhau và những người đàn ông ở xứ văn minh, tử tế này thường lấy cái tâm địa ngay thắng hiền lành để về kết hôn với những người đàn bà lớn lên trong một xã hội, đất nước đã tha hóa, những con người đã đổi thay từ gốc rễ mà lối hành xử của họ khó có thể lường được, nó đã vượt qua ranh giới của đạo đức, luân lý, và lòng chân thật của một con người bình thường.

Tôi có một người cháu họ là một người thợ máy sửa xe hơi, 40 tuổi, ở Mỹ trên 20 năm, đã ly dị vợ, có dịp về Việt Nam, được người quen giới thiệu với một gia đình có cô con gái mới 18 tuổi. Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên, anh chàng đã ngây ngất vì nhan sắc của cô này, nhất là sự trẻ trung hiếm có, mà ở Mỹ, với địa vị của anh, nằm mơ cũng không thấy. Tuy tuổi tác hai bên có đôi chút chênh lệch, nhưng một bên thì có vợ trẻ. một bên thì được lấy chồng Việt kiều, được sang Mỹ, nên một lễ hỏi được cấp tốc cử hành và anh chàng lên đường về Mỹ với tấm lòng thơ thới, hân hoan, đợi ngày có visa để “rước nàng về dinh”. Tuần trăng mật qua mau, và để cho vợ dễ hòa nhập với đời sống mới, anh chàng sắp xếp cho vợ đi học ESL. Chính trong những ngày này, cô vợ đã thường xuyên liên lạc với một nhân vật giấu mặt nào đó bên kia đường giây điện thoại, để cho đến một ngày kia “cánh hồng bay bổng tuyệt vời, đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”, nàng ra đi, không một lời từ giã và không để lại một dấu vết nào. Ba năm sau, cơn hận tình nguôi ngoai,  chàng nghĩ là đã nhầm lẫn vì đã lấy một cô vợ còn quátrẻ, nên lần này quyết tâm làm lại cuộc đời, đi tìm một cô 22 tuổi. Ba năm sau gặp lại cậu cháu, mới biết rằng số anh chàng Việt kiều này quá hẩm hiu, hai lần cưới vợ Việt nam thì hai lần làm tò vò nuôi nhện, bây giờ chỉ còn biết “ngồi khóc tỉ ti”, vì hai cô vợ chẳng biết đi đường nào!

Nhiều ông bạn già góa hay bỏ vợ, nghĩ mình với sức mạnh của đồng đô la trong tay, có thể hưởng thụ với thời gian cuối đời cho bõ những ngày gian khổ, tù đày hay bị vật vã bởi gông cùm hôn nhân, đã về Việt Nam cưới những cô vợ trẻ hơn mình bốn, năm mươi tuổi, để con cháu xa lánh, người đời cười chê (hay ganh ghét mà đàm tiếu!) Nhưng những cuộc hôn nhân này thường sớm gãy đổ, vì bạn tôi thì sức tàn lực kiệt, đồng đô la giới hạn, cô em thì chỉ mượn đường ra đi, tương lai phơi phới trước mặt. Trước năm 1990, chỉ có những người vượt biển đến Mỹ, phần lớn là phái nam, nên xẩy ra tình trạng trai thừa gái thiếu. Từ năm 1990 trở về sau, phong trào HO đem nhiều gia đình cựu tù nhân đến Mỹ làm cho tình trạng nam nữ trở nên quân bình. Thông thường người ta cho rằng những người đàn ông về Việt Nam lấy vợ thường là “có vấn để”, vì khó lòng kiếm vợ ở Mỹ. Thực tế là ở xứ này, thanh niên không bằng cấp, thu nhập thấp, share phòng, đi xe cũ “đời năm Dậu” có dễ lấy vợ không? Đàn bà ở Mỹ có chút nhan sắc, có học, nhất là có bằng cấp, có việc làm ổn định thường không chịu kết hôn với người ngang tầm hay thua mình. Cô công nhân lương $10.00 thì phải có ông chồng lương $16.00, nha sĩ mà kết hôn với kỹ sư chắc khó bền, nữ bác sĩ thực ra khó lập gia đình nếu không gặp bác sĩ. Ở Mỹ, đàn ông được xếp sau cả chó mèo. Ở Mỹ, đàn bà không lệ thuộc vào chồng chứ đừng nói chịu cảnh chồng chúa vợ tôi, cơm bưng nước rót, chỉ một cái tát tai là đủ cho cảnh sát hụ còi đến nhà còng tay. Vợ chồng bình đẳng, có nghĩa là chồng thua vợ một bậc. Vậy thì để khỏi bị khinh rẻ, được chiều chuộng, được ngon ngọt và khỏi mặc cảm về thân phận mình, chỉ có cách là … hiên ngang về Việt Nam lấy vợ. Đàn ông định cư Mỹ đã lâu quan niệm đàn bà con gái ở bên nhà nhu mì, hiền hậu, đảm đang chăm lo việc nhà, không lấn lướt, ăn hiếp chồng như phụ nữ ở Mỹ, cộng với nhan sắc và sự trẻ trung, và món hàng không hề khan hiếm, tha hồ lựa chọn. Còn chuyện gì xẩy ra khi đem vợ về Mỹ là chuyện khác. Người Việt kiều Mỹ về lấy vợ Việt Nam, trong câu chuyện này xin tạm gọi anh là Mike Nguyễn, một người có địa vị xã hội, học vấn, tài sản trung bình. Anh có vợ và một con, có một dịch vụ làm ăn tạm đủ sống và anh cũng tự cho mình làm đầy đủ bổn phận với gia đình, không hề lăng nhăng, trăng hoa với ai. Anh chỉ có một nỗi khổ vợ chống “khắc khẩu”, chỉ nói chuyện ba câu là đã cãi nhau như chó với mèo. Anh chồng nói đen thì vợ nói trắng, chồng nói có thì vợ nói không. Kẻ thù gây chuyện trong gia đình chính là cái máy truyền hình và con chó chihuahua, vì những lúc ở nhà thì bà vợ mê phim bộ, hết Hồng Kong đến Đại Hàn và chăm sóc con chó nhỏ hơn là bày tỏ một cử chỉ dịu dàng với anh. Buồn chán, anh chàng đi Việt Nam một chuyến, thăm mồ mả ông bà và du lịch vài nơi. Tại đây anh gặp cô gái bạn của người em ngày xưa làm người hướng dẫn và họ đã có những ngày thân mật bên nhau. Một bên là người có gia đình rồi nhưng thiếu hạnh phúc. Một bên độc thân và gợi ý, ao ước có được một tấm chồng “lý tưởng” như anh. Trong khi vợ anh nói những lời nặng nề, ngang bướng, thì mỗi lần điện thoại về Việt Nam, anh được nghe những lời dịu ngọt: “Dạ! Em nghe anh đây!”với bao nhiêu lời âu yếm hứa hẹn, tưởng như không thể sống không có nhau. Về lại Mỹ, trong một cơn cãi vã kịch liệt, bị những lời nói khinh miệt, anh chàng tự ái “ta cũng đàn ông”, “không có vợ này thì có vợ khác”, giao nhà cửa, con cái cho vợ để về quê … cưới vợ. Mike Nguyễn đi Việt Nam, tổ chức cưới vợ rồi chờ đợi trong hạnh phúc. Nhưng chỉ sau 8 tháng khi đem cô này qua Mỹ, Mike Nguyễn đã biết cô ta chẳng yêu mình, chỉ mượn đường ra khỏi nước. Cô có công ăn việc làm nhưng thu vén gửi về cho gia đình và ra điều kiện phải nuôi cô trọn đời vì anh đã về Việt Nam cưới cô sang đây. Thất vọng, chán ngán và muốn ly dị, Mike Nguyễn được cô vợ mới đưa hai điều kiện: – mua xe, bảo hiểm và thuê người dạy lái xe cho cô, hoặc là phải, – giữ nguyên tình trạng này (sống riêng) trong hai năm, mới cho ly dị (để chờ thẻ xanh?). Bỏ của chạy lấy người, Mike chấp nhận điều kiện thứ nhất, nhưng chỉ trong vòng hai tuần sau, khi đưa dơn ly dị, được sự cố vấn của ai đó, cô vợ tố cáo với cảnh sát là bị bạo hành và bị hiếp dâm. Lên xuống tòa án, cảnh sát, lo sợ, điên đầu theo vụ án, từ một thanh niên có sự nghiệp, năng nổ làm việc, thương yêu vợ con, thanh niên trong câu chuyện này trở thành một kẻ không nhà, bỏ công việc và phải rời đi tiểu bang khác.

Đau khổ, hối hận và nghĩ mình có lỗi với vợ, nhất là với đứa con trai duy nhất còn nhỏ tuổi, anh trở về xin tha thứ, nhưng bát nước đã đổ đi không vớt lại được. Tiền bạc đã cạn, danh dự cũng không còn, tương lai thì đen tối. Hiện nay người đàn bà Việt Nam không còn là người đàn bà ngày hai ba mươi năm về trước, ngày mà chúng ta phải bỏ nước ra đi. Họ lớn lên trong một xã hội gian trá, lọc lừa, sống chỉ biết đồng tiền, chua như trái cam trồng ở Giang Bắc. Hãy cứ nhìn các quan chức hay những đứa trẻ lớn lên trong xã hội ấy thì biết.

Mike Nguyễn đã nhờ một chương trình truyền hình để đưa câu chuyện của mình lên, hy vọng là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai, già hay trẻ đang hăm hở về Việt Nam … cưới vợ và đặt nhan đề cho câu chuyện là “Ai ngu hơn tôi?”

Tôi không dám nói là hiện nay có nhiều người “ngu” hơn anh, nhưng câu chuyện của anh Việt kiều hóa điên phải vào nhà thương Biên Hòa ở đầu câu chuyện này, quả là một bài học đắt giá, bài học mà nhiều người chưa chịu thuộc. Anh Luân Quyền Đạt mất một số tiền, đã hóa điên, nhưng còn may mắn hơn anh chàng Mike Nguyễn trong chuyện này, là vì chưa đưa người vợ mới cưới sang Mỹ, để rồi như một lời hát của Lam Phương: “Anh đã lầm đưa em sang đây!”

Tôi có một người anh tử trận.

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on April 16, 2025

Post by Sơn râu 14 Apr 2026

Má về với Ba khi còn rất trẻ. Ba, hai mươi tuổi. Má, mười tám tuổi. Má dứt sữa anh Nhiên không lâu thì có mang tôi. Tôi cách anh Nhiên hai tuổi. Người khác thường gọi anh mình bằng thứ: chẳng hạn anh hai, anh ba. Riêng tôi, tôi gọi anh mình bằng tên: anh Nhiên. Anh Nhiên là con đầu lòng, sức khỏe kém, quặt què quặt quẹo, nay đau, mai yếu, nay ấm đầu, mai sổ mũi. Bịnh hoạn rề rề làm anh nhỏ con, ốm nhom ốm nhách, nên đi chơi hoặc đi học thường hay bị những thằng, không biết thế nào là phải trái, xúm lại hiếp đáp.

Một tối anh dẫn tôi đi xem truyền hình công cộng trong xóm, có thằng lớn con hơn giành chỗ, lấn tôi té xuống đất. Anh Nhiên tôi binh em, nhào vô ăn thua đủ. Tội nghiệp! Anh Nhiên tôi nhỏ con, ốm yếu bị nó bự con, khỏe mạnh, đè gần chết. Tôi nóng mũi, binh anh mình, hốt một bụm cát vụt vô mặt nó. Thằng mắc dịch đó hét lên vì không thấy đường, lo lấy hai tay dụi mắt. Tôi thừa cơ nhảy vô đấm, đá tưng bừng, rồi hai anh em chạy tuốt về nhà. Bữa sau Ba nó đến mắng vốn. Ba nó nói: hai anh em tôi ỷ đông đánh con ổng. Ba tôi chỉ giả lả cho qua chuyện. Sau đó Ba tôi hỏi đầu đuôi gốc ngọn.

Anh chỉ nói:

“Con hổng muốn quánh nhau với nó. Con chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được!”

Lớn lên, hai anh em cùng học chung trường Petrus Trương Vĩnh Ký. Anh học trước tôi hai lớp. Không biết bao nhiêu lần anh bị buộc phải đánh nhau với mấy thằng bạn học hay ăn hiếp anh, tôi đều nhào vô ăn thua đủ, đến nỗi phải bị gọi lên văn phòng, thầy Tổng giám thị hỏi:

“Sao hai anh em tụi bây quánh nó?”

Tôi trả lời: “Tại nó ăn hiếp anh con”.

Còn anh Nhiên tôi thì lại nói: “Con hổng muốn quánh nhau với nó. Con chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.”

Một chiều, tan học, từ trong lớp tôi tà tà ra nhà giữ xe đạp bên hông trường để anh Nhiên chở tôi về. Trận đánh lộn mới vừa tan. Cái thằng học cùng lớp với anh, cái thằng vừa mới đánh anh, đã chạy mất tiêu. Mấy thằng khác chỉ bàng quan thản nhiên đứng nhìn, không nói, không can ngăn gì hết; có đứa còn nhẫn tâm hò reo inh ỏi trong khi anh Nhiên tôi bị đánh chảy máu mũi và bị bầm tím một bên mắt.

Tôi tức mình quá, vừa giận vừa thương anh, nên cự nự: “Sao anh không đợi tui ra rồi hãy quánh?” Tôi xé một tờ giấy tập, vò cho nhầu, mềm, chậm máu mũi cho anh. Tôi giận mình sao lại tà tà ra trễ. Tôi giận mấy thằng kia chỉ khoanh tay đứng nhìn, không làm gì hết, mà còn khoái chí đứng xem một đứa hung hăng, mạnh bạo bức hiếp một người thế cô yếu đuối. Tôi giận luôn cả anh nên suốt đường về, tôi không thèm nói với anh lấy một câu.

Về nhà má tôi nấu nước sôi, pha muối, thấm vào hai miếng bông gòn, miếng thì lau máu mũi cho anh, miếng thì chậm lên con mắt bị bầm.

Tôi thì đi tới, đi lui, hậm hực nói: “Lần sau anh đợi tui ra tới rồi hãy quánh. Anh với tui cho nó một trận để cho nó bỏ cái tật cà khịa.”

Anh nằm trên chiếc đi–văng, nhìn lên trần nhà bằng một con mắt, có vẻ suy nghĩ lung lắm, rồi lẩm bẩm:

“Mình hổng muốn quánh nhau với nó. Mình chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được!”

Năm 1968, khi anh đang học Đệ nhứt, thì Tổng công kích Tết Mậu Thân bùng nổ. Hình ảnh con nít, bà già chết cong queo trong lửa đạn, nhà cửa tan hoang cháy làm anh xúc động.

“Mình hổng muốn quánh nhau với nó. Mình chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được!”

Anh trầm ngâm, ít nói hẳn đi; suy nghĩ gì lung lắm: phải làm một cái gì đó. Phải làm một cái gì đó là: bỏ học giữa chừng năm Đệ nhứt, không thi Tú tài hai và đăng lính.

Ba năm sau, năm 1971, anh Nhiên tôi tử trận ở Quảng Trị. Xác anh được mang về Huế, bỏ vô hòm kẽm, cò chì, đưa lên máy bay chở về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.

Ba Má tôi nhận tin báo tử. Chỉ một đêm chờ sáng, lên nhận xác anh Nhiên mà tôi thấy Ba, Má tôi già háp, gầy sọm hẳn đi. Anh Nhiên tôi chết trẻ, hai mươi hai tuổi, chưa lập gia đình, chưa vợ, chưa con. Vì không có vợ, con nên không có ai để chít cho anh một vành khăn tang trắng. Ngược lại, theo phong tục mà ông Ngoại tôi biểu: trên đầu chiếc quan tài của anh Nhiên tôi có một vành khăn tang trắng dành cho anh để tang cho Ba Má.

Trước giờ di quan, ông ngoại tôi cầm cây roi bằng nhánh cây dâu giá giá lên đầu chiếc quan tài của anh giả bộ làm như đánh, để trị anh tội bất hiếu: chết trước khi Ba Má mình qua đời.

Ba tôi đang đứng kế bên, đột nhiên đôi mắt hằn lên tia lửa cuồng nộ, giằng lấy cây roi dâu trong tay ông Ngoại, bẻ làm hai quăng xuống đất, rồi giận dữ nói:

“Thằng Nhiên, nó chết trận, nó đền nợ nước. Nó có tội gì đâu? Sao Ba lại đánh nó?”

Tôi có một người anh tử trận.

Anh là:

Cố Trung uý Đoàn Xuân Nhiên

Đại đội 1 – Tiểu đoàn 6 TQLC – “Thần ưng cảm tử”

Đoàn Xuân Thu,

Melbourne

Em phải sống

Chu Lynh

April 8th, 2021

Post by Sơn râu 14 Apr 2026

Kỳ 2

Lời Giới Thiệu: Chu Lynh, sinh năm 1945 tại miền Bắc. Di cư: 1954; Sĩ quan QLVNCH. Định cư tại Mỹ: 1995. Đồng sáng lập Vietnam Film Club với Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích tháng 9 năm 2010. Sở thích: Làm phim tài liệu về những biến cố khúc quanh của lịch sử từ 1945 đến nay. Không phải là nhà văn nhưng thích viết truyện ngắn về quê hương.

“Em phải sống” là truyện  mới nhất của anh, lần đầu tiên góp mặt với Trẻ.

Tôi đoán anh đã ngồi nhìn tôi lâu lắm. Chuyến về phép nào của anh cũng ngắn ngủi và không khi nào tôi được báo trước. Trước khi tôi đưa hai tay quàng lên cổ anh, thì anh cúi xuống. Tôi nhắm mắt chờ đợi, nhưng anh chỉ nhìn tôi một lúc rồi đưa tay luồn vào mái tóc rối tung của tôi. Anh thường làm cử chỉ này với tôi trước khi nói điều gì đó. Hai đứa nhìn nhau thật lâu, mắt tôi ươn ướt.

Một lúc sau anh mới nói:

– Anh có ba ngày phép dành cho em.

Tin vui bất ngờ làm tôi bật dậy, bắt anh dìu ra phòng khách. Cơn sốt bỗng biến mất. Tôi không nói một lời, vùi đầu vào lòng anh, im lặng nghe anh nói, cảm giác được che chở khi năm ngón tay anh tiếp tục lùa vào mái tóc tôi.

Hôm đó anh cứ lẩn quẩn bên cạnh tôi. Không như những lần về phép trước đây, anh thường dẫn tôi đến cây số 14 đi bộ dọc con suối, lên thác nhà đèn chụp hình, đến Buôn Hô quen thuộc uống rượu cần, nói tiếng Pháp với mấy người Thượng lớn tuổi, hay thỉnh thoảng vào Châu Sơn thăm ba mẹ tôi.

Sáng hôm sau, anh liên lạc với một người bạn trong phi trường L19 xin quá giang hai chỗ về Nha Trang. Tôi thấy anh khó hiểu, nhưng vẫn ngoan ngoãn theo anh. Ði đâu cũng được, chỉ cần có anh bên cạnh, người đàn ông thâm trầm, lắm bạn bè mà lại cô độc, gắn bó với gia đình mà vẫn lẻ loi, nhiều gian truân nhưng lại thích khôi hài. Thật bất ngờ, anh Hai không phản đối chuyến đi của tôi. Tại anh muốn chiều tôi hay anh và anh Lân đều là những người lính quý cái hiện tại hiếm có này?

Trước khi đến Khánh Dương, chiếc trực thăng bay vào một thung lũng hẹp giữa hai dãy núi. Tôi sợ hãi vì phi công lượn quanh co theo sườn núi đến chóng mặt. Anh Lân cho biết đó là chuyến bay cuối ngày về Bộ Chỉ Huy sau một ngày quần thảo trên rừng Quảng Ðức. Anh nói tụi Mỹ ngán phi công Việt Nam gan lì. Họ thường liều lĩnh cứu phi công Mỹ, trong khi tụi Mỹ cần tới cả phi đội. Lần đầu tiên tôi phiêu lưu vào thế giới người lính trận. Liếc nhìn phi công rồi nhìn anh Lân, tôi thực sự thấy mình quá bé nhỏ trước những người lính ngang tàng coi thường sinh tử.

Ðến Nha Trang thì trời đã về chiều. Nha Trang không có không khí chiến tranh như Ban Mê Thuột. Màn đêm đã phủ lên thành phố, nhưng đằng sau cái bình yên này, có gì đó đang âm thầm chuyển dịch. Tình yêu của chúng tôi đang nằm giữa chiến tranh và bất ổn, nhưng tình yêu vẫn cứ lớn dần.

Hôm nay với tôi, giây phút bên anh lớn hơn bất cứ điều gì chung quanh. Lần đầu tiên tôi đi xa với một người đàn ông. Ngồi trên chiếc cyclo chầm chậm trong buổi chiều êm ái của thành phố biển, tôi nói chậm rãi bên tai anh là tôi không thể sống xa anh được. Anh nhìn thật lâu vào mắt tôi rồi hôn lên môi tôi nóng bỏng. Người tôi mềm đi trong vòng tay rắn chắc của anh. Bác xích lô dường như đạp xe chậm lại. Tôi nói nhỏ:

– Chút nữa cho ông nhiều nhiều tiền nghe anh!

– Nhất quỷ nhì ma thứ ba là… em.

Thay vì nhéo anh, tôi lại rúc đầu vào lòng anh hưởng hạnh phúc đầu đời của đứa con gái hư hỏng, thật sự muốn hư hỏng bên người lính đang bảo vệ đất nước và bảo vệ đời tôi.

Hai đứa tắm biển một lúc rồi về khách sạn.

Nằm bên anh trong căn phòng nhìn ra biển là một thế giới riêng tư tôi chưa bao giờ nghĩ đến, một hạnh phúc trọn vẹn chưa bao giờ gặp. Hai thân xác quyện vào nhau, truyền cho nhau giòng nước tình yêu chầm chậm chảy vào từng đường gân thớ thịt. Tôi bằng lòng thay đổi cuộc đời cô nữ sinh ngơ ngác để bước qua tận hưởng một thế giới tình yêu lạ lùng khiến tôi có thể chết đi trong vòng tay bảo bọc của anh.

Lúc này tôi không muốn nghe anh kể chuyện chiến trường, chỉ muốn nghe anh kể về tuổi thơ của anh. Những ngày thơ ấu của anh ở trường nội trú, những năm lang thang nhiều nơi tìm kế mưu sinh để tiếp tục học hành, hay quãng đời quân ngũ lăn lộn theo chiến tranh.

Anh nói anh không có giấc mơ nào, cũng không thể làm gì cho riêng anh trong những ngày chiến trận sôi bỏng này. Tôi nhận ra tình yêu của chúng tôi giá trị như thế nào khi gạt ra những giấc mơ hay dự tính, để yêu nhau thật trọn vẹn và chấp nhận những gì xảy đến. Không biết tôi đang lãng mạn hay đang thách thức cuộc đời khi cho anh tất cả, thân xác này và cả sự lo lắng mạng sống của anh ngoài mặt trận.

Chiến tranh như bóng ma lởn vởn ngày đêm làm chùng lại mọi toan tính. Chúng tôi không có chuẩn bị nào cho ngôi nhà tương lai. Chúng tôi chỉ biết yêu nhau và yêu nhau. Anh cũng chưa có dịp đưa tôi về giới thiệu gia đình anh tại Sài Gòn. Cũng nhờ anh chị Hai mà cha mẹ tôi không hối thúc chuyện hôn nhân.

Một buổi sáng Chủ Nhật anh Lân về phép rồi cùng tôi đi lễ nhà thờ Châu Sơn. Sau thánh lễ, quỳ dưới tượng Chúa, chúng tôi có một ý nguyện chung là giao phó tình yêu cho đấng Tối Cao định đoạt. Tôi có những cảm giác khác nhau sau lời cầu nguyện. Lòng tin vào sự che chở của Chúa, hạnh phúc về tình yêu anh dành cho tôi, nhưng vẫn lo âu cho những ngày sắp tới về số phận người lính trận giữa bom đạn gầm thét không biết ngày nào chấm dứt.

oOo

Anh Hai lấy chiếc Honda 67 chở tôi chạy như bay khi nghe nhân viên hậu cứ báo trực thăng đang đưa thương binh về Trung đoàn.

Anh Lân có tên trong danh sách thương binh. Tôi không khóc nhưng nước mắt cứ trào ra.

– Nhanh lên anh Hai, em nóng ruột lắm! Anh Lân bị thương ở đâu? Sao không đưa vào bệnh viện quân y mà đưa về hậu cứ?

Anh Hai phóng xe vù vù mà tôi cứ hối thúc anh chạy nhanh hơn nữa.

Ðến doanh trại, đã thấy một chiếc trực thăng trên bầu trời đang giảm tốc độ. Trực thăng quạt mạnh vào những mái tôn, thổi tung bụi mù trong lúc đáp xuống. Tôi nhìn thấy hai người lính nhanh chóng lôi từng chiếc băng ca ra khỏi trực thăng. Máy bay vụt lên không, lao đi về phía phi trường Phụng Dực.

Năm chiếc băng ca được đưa vào một nhà kho trống. Hai anh em tìm anh Lân giữa năm bao đựng xác. Tôi hiểu tại sao máy bay không đáp xuống quân y viện. Anh Hai kéo tôi đến một bao xác, rồi kéo dây mở ra. Hai vũng máu khô trên thân thể người lính. Không phải anh Lân. Nhưng khi thấy bảng tên Lân trên túi áo lem luốc máu, tôi nhìn vào đôi mắt dường như còn hé mở của anh, tôi thét lên. Anh Lân!

Mắt tôi mờ đi. Tôi gục xuống ngực anh như một cái xác rồi không biết gì nữa.

Tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm giữa những thương binh trong Quân y viện Ban Mê Thuột. Chỗ này không phải dành cho tôi, là chỗ dành cho anh Lân. Anh phải được sống. Anh Hai đang nói chuyện với bác sĩ. Thấy tôi tỉnh lại, anh mừng rỡ, nhưng nỗi buồn thật nặng nề trên khuôn mặt.

– Em cần nghỉ ngơi cho khoẻ lại.

– Không. Em sẽ không bất tỉnh nữa. Em sẽ ở bên cạnh anh Lân, em sẽ làm bất cứ điều gì một goá phụ phải làm. Em muốn về lại hậu cứ.

Anh Lân được liệm vào quan tài đặt trong doanh trại Trung đoàn, nhưng nắp vẫn để hở chờ gia đình anh ở Sài Gòn ra. Trên đầu anh là cây thánh giá, bức ảnh của anh lấy từ album của tôi phóng lớn ra. Hai bên quan tài có hai sĩ quan gác xác đứng nghiêm như pho tượng. Sĩ quan và binh sĩ lần lượt đến thắp nhang, có người nước mắt giàn giụa.

Tôi, cô học trò Thụy Vi, người vợ chưa bao giờ cưới của anh Lân, không khăn tang trên đầu, lễ phép cúi chào đáp lễ từng người đến thắp nhang. Trong căn phòng nghi ngút khói nhang, tất cả đang là những nhân chứng cuối cùng tiếc thương, đau đớn, uất nghẹn về người lính trận Nguyễn Tường Lân đã ngã xuống chiến trường Ðức Lập.

Tôi phải tỉnh táo ở bên anh, thu vào mắt những khoảnh khắc cuối cùng trước khi đưa anh vào lòng đất. Hơn ai hết, tôi hiểu sự hy sinh của anh quá lớn lao như những giòng chữ anh đã viết cho tôi: “Trước khi ngã xuống, người lính phải hiểu rằng họ hy sinh không phải cho một chế độ, cho một số người, mà cho mảnh đất đã sinh ra mình, đã nuôi nấng mình thành người Việt Nam”.

oOo

Ðại uý Nguyễn Tường Lân mất ngày 25 tháng 9 năm 1971, cùng ngày anh nhập ngũ.

“Chiến trường Ðức Lập, ai sẽ sống sót” bài anh viết như một lời báo trước về số phận của chính anh, hơn là viết cho độc giả.

Ước vọng một mái nhà cho hai kẻ yêu nhau đã tan thành mây khói. Không có hình ảnh hai đứa quỳ bên hang đá cầu nguyện, không còn những lá thư, không có hẹn hò, không bao giờ tay trong tay cho cuộc đời.

Trước khi nằm xuống, anh Lân đã không biết một điều quan trọng. Tôi mang thai trong chuyến về phép cuối cùng của anh. Anh không biết mặt con. Bé Thụy Vân chỉ biết cha mình qua khung hình trên bàn thờ hay qua những chuyện tôi kể.

Anh mất đi, ba mẹ tôi mang vào lòng nỗi buồn đứa con bất hạnh. Khi biết tôi có thai, mọi người có những phản ứng khác nhau. Anh chị Hai là những người nâng đỡ tôi khỏi rơi xuống hố tuyệt vọng. Tôi quyết định nghỉ học tìm việc làm. Với tôi, đứa con sắp chào đời quan trọng hơn mọi thứ. Không có anh để đặt tên cho con, tôi đã ghép tên tôi và bút hiệu của anh thành Thụy Vân để nó mang hình ảnh của ba mẹ nó suốt đời.

Tuổi thanh xuân của anh dành cho chiến tranh, anh chết cho quê hương nơi chiến trường. Nhưng may mắn, anh đã ra đi trước ngày miền Nam mất. Anh thoát khỏi những trại giam tàn độc của quân thù. Anh khỏi nhìn thấy quê hương tan tác sau 75. Anh không phải lênh đênh trên biển cả tìm đường sống.

Anh Hai trong trại tập trung, chị Hai khốn đốn tìm đường mưu sinh vì nhà cửa bị cướp mất. Cũng may cha mẹ tôi còn đất để cày cuốc. Nhưng hai mẹ con tôi phải rời khỏi mảnh đất này.  Tôi tin anh Lân muốn mẹ con tôi ra đi. Tôi bất chấp mọi can ngăn của gia đình, bất chấp mọi rủi ro trên đường đi. Tôi nói thầm với anh Lân suốt cuộc hành trình bằng đường bộ: “Hãy bảo vệ mẹ con em đến nơi an toàn”.

Cuộc hành trình đầy rủi ro, nhưng tôi tin anh Lân là tấm thẻ hộ mệnh cho hai mẹ con. Sau bảy ngày lẩn trốn trên đất Miên, rồi cuộc băng rừng gian nan qua biên giới Thái Lan, mẹ con tôi đến được trại Panatnikhom.

oOo

Tôi đứng lên đặt tờ báo trở lại trên bàn thờ, bước đến bên cửa sổ, vén màn nhìn ra vườn. Cánh rừng sau khu vườn bây giờ trần trụi chờ bàn giao cho mùa Ðông đang đến gần. Tôi cố tìm bóng anh ẩn hiện đâu đó giữa những thân cây, ước gì thấy anh bước trên khu vườn phủ đầy lá khô tiến về phía tôi.

Hôm nay ngày giỗ thứ hai mươi của anh, cộng với ba năm yêu nhau, tôi vẫn là người vợ không có ngày cưới. Tôi không được là góa phụ chít khăn tang cho chồng. Tôi không có khăn tang may bằng vải trắng. Khăn tang của tôi kết bằng nước mắt và đau đớn. Tôi không ngờ mình đã để tang anh trong lòng đến tận hôm nay, như một goá phụ thủ tiết thờ chồng.

Có tiếng chân bước vào phòng, tôi quay lại. Vân và Quý đã về nhà. Hai đứa vừa đi tham dự buổi hội thảo của AEI tổ chức bên Washington D.C.

– Tụi con về hơi trễ, vì ghé tiệm mua hoa cho ba.

– Hoa đẹp quá. Thắp nhang cho ba đi.

Vân và Quý cùng bước lên cắm hoa vào bình rồi thắp nhang. Nhìn hai đứa đứng yên một lúc trước khi vái lạy, tôi nghĩ đến căn nhà sắp có thêm một đứa con.

Tôi không có gì lo lắng về bạn trai của con gái. Quý là du học sinh, con của một sĩ quan bị kẹt lại Việt Nam vì không đủ điều kiện định cư theo chương trình HO. Học xong là xin ở lại. Quý đang học về Political science. Nó quen con bé trong một thư viện. Chuyện tôi vượt biên suôn sẻ, cuộc sống của hai mẹ con bình yên nơi đất khách quê người, chuyện hai đứa đến với nhau, dường như mọi thứ xảy ra theo một trình tự ai đó đã sắp đặt.

– Mẹ đã nấu cơm rồi. Hai đứa đói chưa?

– Tụi con chưa đói. Quý lên tiếng.

– Qua D.C. có gì vui kể cho mẹ nghe.

Vân nở nụ cười thật tươi. Con bé luôn luôn cười với bất cứ ai trò chuyện với nó.

– Sau hội thảo, tụi con ở lại nói chuyện với một giáo sư người Mỹ. Ông này nói tiếng Việt rất giỏi. Ông còn rành lịch sử Việt Nam nữa. Ông còn mời tụi con qua Oregon chơi khi có dịp. Mẹ cũng nên đi xa một chuyến với tụi con.

– Ðể qua mùa tuyết rồi tính. Hôm nay mẹ cho tụi con xem một bài viết của ba cách đây hơn hai chục năm.

Tôi đứng dậy định lấy cuốn đặc san trên bàn thờ thì Quý đưa tay bảo tôi ngồi xuống.

– Con biết mẹ muốn nói bài viết của ba trong tờ báo Cảm Thông phải không? Tụi con đã đọc mấy lần rồi.

Thật ngạc nhiên vì tôi để cuốn báo trên bàn thờ chỉ mấy tuần nay, sau bao nhiêu năm cất kỹ trong tủ.

– Hai đứa đọc hồi nào?

– Tụi con đánh được hơi của ba mà.

– Hay lắm. Tụi con nghĩ gì sau khi đọc bài của ba?

Vân nghiêm mặt lại, cặp mắt hơi buồn:

– Con đọc xong là khóc quá chừng. Không ngờ mẹ giữ được bài viết của ba. Anh Quý rất xúc động cho rằng không có bài viết nào hay hơn được. Con nghĩ đó là di sản ba để lại. Tụi con hiểu được tình yêu của mẹ dành cho ba và sự hy sinh của ba cho đất nước.

Quý tiếp lời:

– Vân và con đã nói chuyện với nhau rất nhiều về bài viết của ba. Con nhận ra ba đã gián tiếp để lại bài học cho tụi con về xây dựng gia đình và có trách nhiệm với đất nước mình.

– Con nói rõ hơn.

– Con đã nghĩ nhiều đến tựa đề “Chiến trường Ðức Lập, ai sẽ sống sót”. Con không hiểu được ý ba khi đặt tựa đề. Có thể hiểu rằng sau khi chiến trường chấm dứt, bên nào sống sót sẽ làm chủ chiến trường. Riêng con thì rất thích bốn chữ “ai sẽ sống sót”. Con nghĩ điều gì sống sót sau trận địa, đó là sự hy sinh chứ không phải thân xác của người lính. Con đã hiểu được điều đó. Bạn bè của con trong nước vẫn tìm đọc tài liệu của những tác giả hải ngoại, không những về chính trị mà còn về hệ thống giáo dục và văn hoá của miền Nam trước năm 1975. Con muốn nói là chúng con phải tìm về nguồn.

– Những gì con nói là do ba mẹ con dạy dỗ hay do nhận thức của con?

– Con nói một cách thành thật, có lẽ do kết quả của những lần trao đổi với Vân, những kiến thức từ môn học, và một phần từ gia đình con. Tuy nhiên một điều gì đó tiềm tàng khó hiểu từ sự hy sinh của ba, từ cuộc sống yên lặng của mẹ đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của con. Chính Vân cũng thừa nhận, mẹ ít nói khi dạy dỗ, nhưng Vân học được nhiều điều từ mẹ. Con biết mình may mắn khi có Vân trong đời con, và may mắn được làm con trong gia đình này.

Ðến đây tôi thực sự xúc động, nhưng lại muốn che giấu niềm hạnh phúc của mình.

– Mẹ đói lắm rồi. Mình ăn cơm đi.

Vân chần chừ như muốn nói điều gì.

– Mẹ. Con muốn cả nhà mình thắp nhang cho ba thêm một lần nữa.

– Ðể làm gì?

– Ðể cám ơn ba lúc nào cũng ở bên hai mẹ con mình.

Quý nhìn tôi rồi nhìn Vân.

– Mẹ. Vân quên một người nữa cũng phải cám ơn ba.

Vân thắp ba cây nhang mới. Hai đứa thì thầm gì đó tôi không biết. Nhưng nhìn vào đôi mắt anh Lân, tôi tin anh đang nghe rõ tụi nó nói gì. Hai mươi năm rồi, mẹ con tôi trải qua biết bao thay đổi, nhưng có một thứ không hề lay chuyển: tình yêu của tôi dành cho anh.

“Ngày ấy hai đứa bên nhau trên mọi nẻo đường cao nguyên, yêu nhau mà không lo lắng về một căn nhà. Chuyến về phép ngập tràn hạnh phúc cuối cùng của anh. Rồi những buổi chiều bên mộ anh bên cạnh mấy cây bông sứ anh thích. Những ngày mò mẫm từng bước trong cánh rừng Miên tối om, để vượt qua biên giới Thái Lan. Và bây giờ mỗi năm trong ngày giỗ của anh, em luôn tin anh vẫn sống với mẹ con em.

Anh có nhớ ngày em đến hậu cứ Trung đoàn nói chuyện với anh qua máy vô tuyến? Anh nhớ không? Nếu không nhớ, em nhắc lại câu nói trong nước mắt của cô nữ sinh lãng mạn với người lính chiến: “Anh Lân, em yêu anh”.

8. Trước khi lên đường

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 14 Apr 2026

Chuyến bay qua Marid, thủ đô Tây Ban Nha lúc bảy giờ sáng, mà chỗ ở của tôi xa phi trường quá, đi xe nhà, xe lửa thì không kịp. Hơn nữa phi trường Schiphol – Amsterdam dạo này thiếu nhân viên làm việc nên hành khách chen chúc, chờ đợi cũng khá lâu, sợ trễ chuyến bay nên công ty đặt khách sạn cho tôi ngủ gần phi trường cho tiện. Tôi đi xe lửa tới phi trường lúc năm giờ chiều. Theo điện thư của công ty cho tôi biết, họ có đặt cho tôi phần ăn chiều và sáng, nếu sáng không ăn tại khách sạn thì có thể nói nhân viên phục vụ gói cho tôi mang theo. Thiệt ra thì từ trước tới giờ phần ăn do công ty đặt ít khi tôi quan tâm. Những lúc bình thường, lỡ đường qua đêm trong thành phố lạ, tôi hay xuống phố đi dạo đã rồi thì tìm ăn chút ít đặc sản miền đó và uống ly rượu hoặc ly bia địa của nơi đó cho thoả mãn tánh hiếu kỳ. Hôm nào không ra phố được mà đói bụng, tôi mới xuống búp phê ăn bánh mì, uống vài ly bia hay ly nước gì đó cho hết đói rồi đi ngủ. Dạo nầy trong phi trường Schiphol người ta đông như kiến cỏ, xe bus chở người ra vô khách sạn chuyến nào người cũng chật cứng như nêm. Năm nay Hoà Lan mới mùa xuân mà trời nắng chang chang, nóng nực đổ mồ hôi ướt áo mà phải đứng chờ cả hơn hai giờ đồng mới lên được xe. Khi ra tới khách sạn thì đã hơn bảy giờ chiều rồi, sau khi làm thủ tục nhận phòng xong, tôi kéo vali và mang túi xách lên phòng ở từng hai để đó. Tôi trở xuống từng đưới đi một vòng búp phê coi có gì ăn không? Quả thiệt như tôi nghĩ, chỉ có bánh mì và vài thứ xúc xít, thịt nguội cũng bình thường thôi, không có món nào trông bắt mắt hết. Tôi đi ra quày chào và hỏi anh nhân viên khách sạn:

– Ở gần đây có nhà hàng nào không?

Anh ta chỉ ngón tay trỏ ra trước cửa, bên kia đường, nơi có toà nhà cao, nói:

– Ở bên đó kìa.

Tôi đi theo ngón tay chỉ đường của anh ta. Vô tới phía từng trệt của toà nhà là một cửa tiệm treo lủng lẳng những món đồ kỷ niệm và bên hong góc là một sneckbar. Tôi tới chào và hỏi cô gái đứng trong quày bar:

– Xin lỗi, nhà hàng ở đâu?

Cô gái chỉ tay qua chiếc thang máy cuốn và nói:

– Ông lên từng ba.

Theo lời cô gái, tôi đi tới chiếc thang đang chạy, có vài người đứng ở mấy bậc thang trên, tôi cũng bước lên đứng cho thang cuốn lên. Đi hết hai cầu thang cuốn mới tới nơi, nhà hàng thuộc loại búp phê, không sang trọng lắm. Tôi hỏi cô gái đứng trước quày về giá cả. Cô ta cho biết, trả tiền vô cửa ba chục euro được ăn, uống cà phê, trà, nước lạnh; bia, rượu thì phải trả tiền riêng. Tôi trả tiền xong, vô đứng nối đuôi theo hàng người lấy dĩa, dao, nĩa. Thức ăn trong búp phê trưng bày rất sạch sẽ, sang trọng nhưng vì thực đơn của Hoà Lan nên trông không hấp dẫn lắm. Mấy chục năm qua tôi làm đầu bếp cho tàu buôn của Hoà Lan, chế biến những món ăn của nước này rất thành thạo và biết mùi vị ngon hoặc dở, nhưng ăn cho đỡ đói thì được chớ nhìn thì hổng thấy thèm cho lắm. Theo tôi những món ăn càng về các nước Bắc Âu thì nó càng nhạt nhẽo, thua xa thức ăn của vùng Địa Trung Hải. Thức ăn ở Địa Trung Hải rất phong phú, đa dạng, nhiều rau, củ và hương vị đậm đà, trưng bày trông bắt mắt. Suy nghĩ vu vơ đi tới cuối cùng búp phê hồi nào không hay, nhìn xuống cái dĩa cầm trên tay còn trống trơn, chưa có món nào ăn được hết. Tôi lưỡng lự một chút, bèn quay trở lại chỗ để đồ nguội, gắp mấy miếng phó mát, vài lát cá hồi hun khói và dưa chua bỏ vô dĩa rồi đi qua quày rượu mua một ly bia đem ra chiếc bàn lớn. Tới nơi tôi thấy chỉ có một cô gái vừa bưng đồ ăn để trên bàn và ngồi xuống chiếc ghế đầu bàn. Thấy vậy tôi đi lại đầu bàn kia, để bia và dĩa đồ ăn lên bàn rồi ngồi xuống chiếc ghế đầu bàn này, vậy là tôi với cô gái ngồi đối diện xéo mặt nhau, tôi nhâm nhi bia và nhìn người ta ăn uống.

Uống được mấy hớp bia thì có hai người Tàu, người con trai bận áo quần màu đen, người con gái bận áo đầm bông màu đỏ, hai người còn đeo khẩu trang, trông có vẻ khác người. Hồi chiều ngoài bến xe bus ở phi trường tôi thấy hai người này tay xách, vai mang và còn đẩy hai cái vali bự tổ chảng, không biết hai người làm gì mà đem đồ nhiều quá, làm tôi có cảm tưởng như hai người dọn nhà sang nước nào đó. Tôi đoán hai người hổng phải là hai vợ chồng thì cũng là cặp tình nhân. Bây giờ vô nhà hàng mỗi người bưng một dĩa lớn đầy nhóc khoai tây chiên, xà lách và croquettes đi lại đứng trước chỗ tôi ngồi. Cô gái cất tiếng hỏi tôi bằng tiếng Tàu, tuy hổng hiểu gì ráo, nhưng cũng đoán được cô ta hỏi chỗ ngồi. Tôi chỉ tay xuống chiếc ghế và nói bằng tiếng Anh:

– Tự nhiên.

Hai người lại ngồi đối diện với tôi rồi kéo khẩu trang xệ xuống càm và bắt đầu ăn. Tôi day lại uống cạn phần bia của mình và đứng lên lấy nĩa ghim miếng phó mát đút vô miệng rồi bưng ly đi lại quày bar mua thêm bia. Mua bia xong, tôi bưng ly bia trở lại vừa để ly bia xuống bàn thì người con trai day qua nói gì đó với người con gái, người con gái bèn day qua chỉ ly bia hỏi tôi bằng tiếng Anh:

– Cái này lấy ở đâu vậy?

Tôi chỉ tay qua quày bar:

– Ở chỗ kia kìa.

Người con gái dợm đứng lên. Thấy vậy tôi liền hỏi:

– Muốn uống bia hả?

– Yes yes.

Tôi đưa tay ra dấu cho cô gái ngồi xuống và nói:

– Ngồi ăn đi, tui đi lấy cho.

Tôi trở lại quày ba thấy có năm sáu người tới trước đứng sắp hàng, tôi cũng bước vô đứng sắp hàng chờ mua bia. Khi mua được hai ly bia, đem trở lại bàn thì thấy hai người đã đớp sạch hai dĩa thức ăn. Hai tay bưng hai ly bia chìa ra trước mặt cho mỗi người một ly, hai người bưng bia lên, sẵn trớn chìa qua mời tôi cụng. Tôi bưng ly bia của mình lên cụng, hớp xong hớp bia tôi để bia lên bàn và ngồi xuống. Cô gái đứng dậy đi lại chỗ để tô, dĩa lấy một cái dĩa lớn nhứt, rồi mới đi tới chỗ để đồ ăn. Trong lòng tôi có hơi thắc mắc, tướng tá cô nhỏ thó mà thân hình thì không được mập lắm, phải nói là ốm tong teo vậy mà mới vừa đớp sạch dĩa thức ăn tổ chảng, giờ lại lấy thêm đồ ăn nữa?! Nhìn chiếc bàn dài và rộng có thể ngồi thoải mái cho mười mấy con người ta. Tôi chợt nhớ ra, hồi nãy có cô gái người da trắng ngồi nơi đầu bàn kia, còn tôi thì ngồi đầu bàn bên này, nhưng cô gái đã đi qua bàn bên góc ngồi chung với mấy người khác rồi. Trong khi các bàn khác người da trắng ngồi chen chúc nhau, còn bàn này chỉ có tôi và cặp người Tàu ngồi, cho nên trông chiếc bàn trống trơn và thấy nó dài ra. Tuy cả Âu Châu đã gỡ bỏ luật phòng chống dịch corona và mọi người đi lại trong những quốc gia Âu Châu không cần phải xét nghiệm cô vít và điền giấy tờ khai báo y tế rườm rà như trước kia nữa. Ngoại trừ khi lên xe lửa và máy bay thì vẫn phải đeo khẩu trang, còn những nơi công cộng thì không bắt buộc đeo khẩu trang, nhưng ai muốn đeo thì đeo hổng đeo cũng không sao. Đã vậy mà con người ta vẫn còn chia cách, nhứt là những người dân da trắng họ còn ngại gần gũi với những người Tàu và người Châu Á. Trước kia, gặp trường hợp như vầy, tôi cảm thấy mình bị phân biệt đối xử, trong lòng có hơi khó chịu, nhưng sau thời gian đại dịch, những chuyện như vầy hổng khiến cho tôi bực tức nữa. Thật ra thì sự kỳ thị chủng tộc là bản tánh của loài người, bình thường thì không sao, bất kể người nước nào, hể có biến cố về sắc tộc thì sự kỳ thị nó lộ liễu rõ ràng hơn. Tôi day qua hỏi gã thanh niên bằng tiếng Anh:

– Hai người đi đâu vậy?

Gã lắc đầu đưa tay khoát khoát, miệng nói tiếng Tàu, có ý nói với tôi là gã không biết tiếng Anh. Lúc đó người con gái bưng một dĩa thức ăn đầy nhóc với những món y chang trong dĩa của tôi, chỉ khác chút là cô ta lấy thêm mấy trái ô liu, múc thêm chén nhỏ nước tương và một muỗng nhỏ wasabi. Nhìn bộ dạng hai người tôi đoán họ là người Trung Hoa lục địa, chớ hổng phải là người Hồng Kông hay Đài Loan. Cô gái chìa dĩa đồ ăn trước mặt tôi nói:

– Ăn đi.

Giờ tôi mới hiểu cô ta lấy mấy món nhậu để làm mồi uống bia chớ hổng phải để ăn cho no. Tôi cảm ơn và lấy nĩa ghim miếng phó mát và trái ô liu đưa lên ăn. Cô gái đưa qua cho gã thanh niên, gã ghim một miếng cá hồi hun khói, xong cô gái mới chịu để dĩa đồ ăn xuống bàn. Gã thanh niên day qua nói nhỏ với người con gái gì đó. Cô ta day lại tôi hỏi:

– Hồi nãy ông hỏi gì?

– Oh, tui hỏi hai người đi đâu?

– Ngày mai chúng tôi qua Anh, rồi sang máy bay qua Mỹ. Còn ông, ông đi đâu?

– Tôi đi Las Palmas.

– Las Palmas là nước nào?

– Tây Ban Nha, sáng mai tôi qua Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha, từ đó sang máy bay ra Las Palmas ở trong quần đảo Canary nằm cạnh Châu Phi.

– Oh, vậy hả?

Nói vậy rồi cô gái bưng bia lên mời. Giọng nói tiếng Anh của cô gái chậm nhưng rất rõ ràng. Trông bộ dạng nhỏ thó, quê mùa của cô gái, nhưng sự hoạt bát của cô ta làm cho tôi suy đoán; có lẽ cô là người thường đi đây, đi đó ra nước ngoài nên cô ta lanh lợi hơn gã thanh niên. Nhìn sự nhút nhát rụt rè của gã thanh niên, chuyện gì cũng day qua hỏi của cô gái, tôi đoán anh ta mới ra xuất ngoại lần đầu. Có điều tôi thấy hơi thắc mắc là Trung Quốc trai thừa gái thiếu mà sao cô gái nầy lại cặp bồ với một anh chàng coi bộ ngu ngơ như vậy, nhưng ý nghĩ nầy chỉ thoáng qua trong đầu thôi. Cô gái rất tự tin không dè dặt gì hết và ăn, uống cũng rất tự nhiên, gặp tôi chưa đầy một giờ đồng hồ mà làm như quen thân từ lâu lắm, cô cứ vồn vã đưa bia lên cụng, bưng thức ăn chìa qua mời, uống hết bia cô đứng dậy đi mua bia. Cô ta hay thắc mắc và trò chuyện hơi nhiều. Cô ta hỏi tôi sao không đeo khẩu trang. Tôi nói:

– Âu Châu giờ không bắt buộc nữa.

Cô ta moi trong túi xách ra một cái khẩu trang đưa cho tôi và chỉ qua đám đông nói:

– Người da trắng dễ bị nhiễm virus hơn người Tàu, họ nguy hiểm lắm, một lát đi ra ngoài ông nhớ đeo khẩu trang đó.

Tôi làm bộ ra vẻ hổng biết gì, cầm chiếc khẩu trang đưa lên hỏi:

– Ở nước Tàu còn có cô vít nhiều không?

– Còn nhưng không nhiều. Bên Mỹ và Âu Châu mới nhiều, vì corona có từ bên Mỹ mà.

Không còn nghi ngờ gì nữa, hai người này chắc chắn tới từ Trung Cộng rồi. Chánh quyền Trung Cộng hay thiệt, họ tuyên truyền làm sao mà được dân của họ tin tưởng và sẵn sàng làm “ dư luận viên” có tầm dốc quốc tế, bất kể gặp người quen hay lạ, họ cũng tuyên truyền được hết. Vừa qua tôi và các bạn có vô ăn một nhà hàng của Trung Cộng, chủ nhà hàng cũng nói với chúng tôi y chang như vậy đó. Ông ta nói qua đây làm kiếm được mớ tiền làm vốn rồi trở về nước mần ăn sanh sống, chớ ở Âu-Mỹ không an toàn, người da trắng rất dễ nhiễm cô vít. Tôi có thói quen trên đường đi, gặp gỡ chốc lát, hỏi nhau vừa đủ để chuyện trò vui vẻ, chớ không nên tra hỏi nhiều quá làm tốn thời gian vô ích.

Đã từ lâu rồi tôi tránh những cuộc tranh cãi về chánh trị, nhưng qua hồi trò chuyện với cô gái, cô làm cho tôi suy nghĩ. Không biết những người Trung Hoa họ hổng hiểu về đất nước, con người bên Âu Châu hay vì sợ hãi mà nói sai sự thật một cách trơn tru như vầy. Tôi không biết cô gái có biết cô ta đang góp phần lên tiếng cho sự dối trá của chánh quyền ở nước cô không? Làm sao con người ta được mở mang trí óc và đừng sợ hãi để cất lên tiếng nói trung thực và vì lòng trắc ẩn mà vạch ra những sự bất công, dối trá, tham lam, dã man và tàn bạo của một nhóm người được gọi là lãnh tụ! Nếu mọi người trên một đất nước, nói riêng và toàn thế giới, nói chung biết suy nghĩ kỷ càng và biết nói thói thiệt, làm được điều này thì cả trái đất sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt và đẹp đẽ biết bao.

Dronten 28-8-2022

Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 14 Apr 2026

Sơn Ca và mèo ngủ chung, mèo nằm trong lòng, gối đầu lên cánh tay nó như một dứa em cưng. Nó thường vuốt ve nhiền lúc còn hôn lên cái mũi đỏ hồng của mèo nữa.

Ông Lâm nói:

-Con không nên hôn mèo.”

“Why?” Nó hỏi.

Ông Lâm không thích lối hỏi cộc lốc theo kiểu người Mỹ. Ông dặn các con, ngnài thì giờ ở trường, về nhà phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Tập cái lễ độ của người Đông Phương, gọi dạ bảo vâng. Ông sợ con ông quên nguồn

gốc giống nòi và kể với nó về chuyện Lạc Long – Âu Cơ, trăm trứng trăm con.

Nó hỏi lại: “Chuyện ấy có thật không?”

“Đã bảo rằng truyền thuyết, thì đừng hỏi thật hay giả. Hỏi thế chẳng khác nào con móc họng ba.”

“Móc họng là gì vậy ba?”

“Là kê tủ đứng chận họng, không cho người ta nói.”

“Nhưng con hỏi để tìm hiểu.”

“Tìm hiểu thì phải biết lắng nghe, chứ không phải hỏi có tính cách bắt bí.”

Trong gia đinh, ông Lâm cảm thấy có điều gì không ổn đối với các con. Chẳng hạn, khi ông nhắc về một xứ sở xa xôi. có một nền văn hiến bốn ngàn năm đầy tự hào của ông. Nghe xong, đứa con gái lớn ngồi trầm ngâm. Tưởng nó đã thấm nhuần tư tưởng do ông truyền đạt. Ông đặt câu hỏi để rà lại sự hiểu biết của nó.

“Con nghĩ thế nào?”

“Con nghĩ, Mỹ chỉ có hai trăm năm lập quốc, mà tiến bộ văn minh kinh khủng. Còn bốn ngàn năm văn hiến, sao mà èo uột quá.”

“So sánh thế là bất công với tổ tiên mình. Nhìn tới nhưng phải biết ngó lui, con ạ!”

Và ông nêu những sự kiện trong quá khứ dân tộc, để con ông ngó lui.

Nó nhận xét: “Cả một pho lịch sử thấm đầy máu và nước mắt”

“Chỉ có thế thôi sao?”

“Thế thôi!”

“Con không thấy tiền nhân của mình rất anh hùng sao?”

Đứa con gái e dè hỏi lại: “Ba cho phép con nói thật không?”

“Nói đi. Thành thật là đức tính đáng quý.”

“Anh hùng, nhưng hiếu chiến quá.”

“Tổ cha bây! Chưa chỉ đã phản lại giống nòi. Đạp cứt ngọai lai: Chống lại thằng ăn cướp, đánh đuổi ngoại xâm, là ý chí quật cường mà gọi rằng hiếu chiến à?”

Thấy ông Lâm nổi sùng, đúa con gái không dám mở miệng. Nó đã có kinh nghiệm, khi ba nó trừng mắt lớn tiếng, nó nên im lặng, cút đi nơi khác. Cũng vì nguồn gốc dân tộc và bảo tồn văn hóa, đôi khi ông Lâm làm người khác phải ngỡ ngàng. Có lần, ông đến thăm người bạn, gặp lúc nhà đang dông khách. Con của bạn và các bạn của nó, chào ông bằng cách đưa tay vẫy vẫy, miệng nói: “Hi! Hi!”

Ông Lâm khó chịn với kiểu chào có vẻ đồng dắng này. Ông cho thế là trịch thượng.

Ông miễn cưỡng chào lại, và hỏi cho có chuyên để hỏi:

“Các cháu còn đi học hay đã đi làm?”

Chúng cứ ngớ ra, không hiểu.

Vợ người bạn vội đỡ lời: “Tụi nó không biết tiếng Việt đâu. Tất cả đã ra trường, đã đi làm. Toàn là bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư cả đấy.”

Cách giới thiệu của bà, ông Lâm thấy có hàm ý hãnh diện khoe khoang.

Ông nói: “Tụi nó là những con dơi.”

“What’s koan giơi?” Chúng trố mắt nhìn nhau.

Có đứa thông dịch: “The bats.”

“Why? Why?”

Lại cũng kiểu hỏi cộc lốc.

Ông Lâm cười khinh khỉnh: “Con dơi nhập bầy với chim. Chim nói, mày không phải chim, mày có mỏ chuột lông mao, hãy về chơi với chuột. Dơi về nhập bầy với chột. Chuột nói, mày không phải chuột, mày có cánh biết bay như chim, hãy về chơi với chim. Cuối cùng, dơi chẳng nhập được với loài nào. Các cháu cũng thế. Mỹ không nhận mũi tẹt da vàng là người đồng chủng. Quay về với Việt, thì không hiết nói tiếng Việt, làm sao hội nhập?

Sau khi nghe thông dịch. chúng kêu lên: “Koan giơi. Koan giơi.” Và nhún vai cười hô hố.

Bà vợ ông chủ nhà hơi ngượng, vì ông Lâm chẳng những đã không tâng bốc vị nể bác sĩ ,kỹ sư, lại còn giỡ giọng châm biểm mỉa mai một cách kỳ quặc. Ngày ấy trở đi, hai bên ít khi lui tới.

Đối với Sơn Ca, ông đã dặn rồi nhưng một lúc bất chợt nào đó, nó vẫn “why” với ông. Lần này, ông chỉ thoáng nhíu mày.

“Lông mèo vào phổi sẽ bị ho lao.”

“Cổ giáo của con không dạy như thế.”

“Nhưng ngày ba còn nhỏ, bà nội của con đã dạy ba như thế »

Con bé có vẽ suy nghĩ: “Ho lao là do vi trùng. Lông mèo đâu phải vi trùng. Sao bà nội dạy ba kỳ vậy cà?”

“Không kỳ cà gì cả. Hít lông mèo vào mũi, nếu không ho lau thì cũng bị hen suyển.”

“Con phải hỏi lại cô giáo.”

Sơn Ca coi cô giáo của nó là nhất. Trong gia đinh, ông Lâm đã giảm uy tín từ ngày tiểu bang và nhà trường phát động chương trình kêu gọi mọi người bỏ hút thuốc. Cô giáo dạy rằng, hút thuốc có hại cho sức khỏe và làm ảnh hưởng luôn những người chung quanh. Về nhà, nó năn nĩ ông bỏ hút. Ông hứa và bỏ được hai ngày. Sau đó, ông hút lại còn dữ hơn khi chưa bỏ. Nó mách với cộ giáo về chuyện ông thất hứa. Cô khuyên hãy “kiên trì tranh đấu cho đến thắng lợi sau cùng: bãi bỏ hút thuốc.” Ở nhà, con bé có mẹ và chị em nó đồng lòng sát cánh, đấu tranh không mệt mỏi. Bên ngoài, nó có cô giáo hậu thuẫn làm đồng minh, không bao giờ phản

bội. Ông Lâm bị cô lập, đối nội đối ngoại đều thất thế. Nhưng ông hút đã mấy mươi năm rồi, không dễ gì một sớm một chiều, ai lung lay được cái nền tảng vững chắc của nicotine thấm nhuần trong máu và thới quen phì phà khói thuốc. Cuộc chiến, hút và chống hút còn đang dằn co chưa biết ngà ngũ ra sao,

Một hôm, con bé đi học về, nhảy cà tưng mừng rở: “Ba ơi. Ba di. Con được honeroll rồi.”

“Được honeroll thì tốt thôi. Con giỏi lắm. ” Ông Lâm xoa đầu tán dương nó.

“Ba có hứa, nếu con học giỏi thì ba thưởng. Con đã nói trước phần thường gì, ba nhớ không?”

“Một con mèo.”

“Mai ba dẫn con ra Pet Shop mua mèo đi ba.”

“Pet Shop chỉ bán chó con.”

“Có cả mèo nữa. Con đã vào coi một lần rồi.”

Để lấy lại uy tín, hòng lèo lái các con ông đi vào con đường bảo tồn văn hóa dân lộc, ông Lâm giữ lời và đưa Sơn Ca ra tiệm chô mèo. Nó chọn một con mèo con, lông trắng như cục tuyết, cái mũi hồng hồng. Có con mèo, nó không thích chơi với những con “sea monkey”, một loại sinh vật có nhiều chân như con rít, nhỏ như con lăn quăn, bơi trong lọ nước. Sơn Ca nuôi “sea monkey” chẳng làm phiền gì ai. Nó đặt lọ nước lên bàn, soi thêm cái kính lúp và chúi mũi vào ngắm nhìn những cơn vật li ti bơi qua bơi lại. Thế thôi.

Nhưng, nuôi mèo thì phiền. Nhà thuê ở tầng cao, mèo không có nơi phóng uế bên ngoài. Thỉnh thoảng, nghe cái mùi thum thủm chua chua nhức óc. Ông Lâm rà mũi đánh hơi khắp các góc kẹt trong nhà, tìm cho ra nơi phát xuất. Chỉ vài thỏi cứt nhỏ bằng ngón tay út, nhưng sức công phá khứu giác thật dữ dội. Nước đái mèo cũng không dễ ngừi. Đó là mùi khai của nước đái trẻ con, có pha thêm chút giấm. Nếu không phát hiệnớ, để lâu bốc mùi nồng gắt còn hơn nước đái quỷ. Ông Lâm đề nghị trục xuất con mèo ra khỏi nhà. Đề nghị cùng là một trò chơi dân chủ. Sang tới xứ này rồi, chế độ quân chủ đã lỗi thời. Người cha không phải là một ông vua

nhỏ, có quyền áp đặt mọi thứ trong gia đình. Tất cả đều được hợp bàn để lấy biểu quyết chung, nhưng quyền quyết định tối hậu vẫn là ông. Vì muốn thu phục nhân tâm, nên ít khi ông Lâm dùng quyền phù quyết. Một buổi tối, cả nhà ngồi lại thảo luận với nhau. Mười người mười ý. Cuối cùng. Đi đến thỏa thuận chung. Sơn Ca được tiếp tục muôi con mèo. nhưng nó phải đảm trách công việc lau nhà. Mục đích chính là lau nước đái và hốt cứt mèo. Vì Sơn Ca sẽ hỏi lại cô giáo về tác hại của lông mèo, nên ông Lâm điện thoại đến nhà cô giáo trước, kể chuyện Sơn Ca hôn mèo, và nhờ cô nói giúp là lông mèo làm ho lao hoặc hen suyển.

Cô giáo phản đối: “Tôi không thể nói điều trái y học.”

“Thế cô cũng tán đồng cho nó hôn mèo?”

“Không phải. Tôi chỉ nói không nên hôn mèo vì vấn đề vệ sinh.”

“Nếu đặt vấn đề vệ sinh, thì mèo đâu phải con vật dơ bẩn?”

“Thưa ông, không nên đi quá xa mục đích yêu cầu của ông. Cứ hãy nhìn lên TV, người Mỹ họ Ôm ẳm chó mèo trong lòng và hôn hít, đã có sao đâu? ông không muốn thế, tôi sẽ khuyên Sơn Ca đừng hôn mèo. Đơn giản chỉ có thế.”

“Cô cũng nên cho nó biết thêm, rằng chó mèo có thể gây ra dị ứng về đường hô hấp, như một số người dị ứng với phấn hoa thảo mộc.”

“Lại nữa! Điều này có lẽ ông phải nhờ một bác sĩ giải thích cho con ông. Tôi là một cô giáo, không có khả năng ôm đồm nhiều thứ.”

“Nhưng con tôi nó tin cộ”

“Chính vì thế mà tôi không thể nói những gì ngoài lãnh vực hiểu biết chuyên môn. Đối với trẻ em, một lần nói sai hoặc thất hứa, những lần sau nó không tin nữa.”

Sơn Ca đặt tên con mèo là Snowball. Nó réo Snowball cả ngày, nhưng con mèo cứ trơ ra như không phải gọi nó, ông Lâm nói: “Nó đã có tên rồi. Nó không thích ai gọi nó là Snowball.”

“Tên gì?”

“Meo.”

“Ai đặt cho nó vậy?”

“Má nó đặt từ khi mới sinh rạ”

“Meo. Tên xấu tệ.”

“Nhưng nó thích. Con thử gọi Meo đị”

Sơn Ca giả giọng mèo kêu meo meo. Con mèo liền đến ngay.

“Còn tên của con, ai đặt vậy?”

“Má mày.”

“Tại sao đặt Sơn Cả”

“Ở Việt Nam ngày trước, có cô ca sĩ tên Sơn Ca, hát rất haỵ Má con thích giọng hát của cô ấy, và lấy tên cô đặt cho con. Sơn Ca cũng là tên của một loài chim có tiếng hót líu lo vui tai lắm. Con có thích tên của con không?”

“Thích. Nhưng người Mỹ gọi con là Sơn Khê”

“Họ gọi là gì, kệ họ. Con cứ giữ tên con. Ba rất ghét những mũi tẹt da vàng mà gọi là Mai Cồ, là Biu, là Bóp, là Hé Lìn, là Xí Nì… “

“Người Mỹ gọi tên ba thế nào?”

“Lâm nhưng họ phát âm thành Lem.”

“Lamb là con cừu nhỏ, hiền lành dễ thương lắm. Nhưng ba dữ quá à!”

Ông Lâm cười, trìu mến ôm đứa con gái nhỏ vào lòng. Ông hi vọng rằng với đứa con này, ông sẽ dạy nó theo ý của ông. Uốn măng từ lúc còn non. Dạy con từ thuở còn thơ… Mấy đứa con lớn, ông coi như sắp vuột ra khỏi tầm tay rồi.

Con Meo Snowball gợi nhớ về một quãng đời cũ, có con Miêu Nữ, con nuôi của Biên Khuỳnh. Trong trại có hai Biên. Để phân biệt, Biên thuộc đội đi rừng kéo gỗ, anh em đặt là Biên Xe Be Còn Biên tay cán vá của đội Xây Dựng là Biên Khuỳnh.

Miêu Nữ được Biên Khuỳnh đem về nuôi từ ngày còn tấm bé. Trưa, anh nằm nghỉ ngơi trên chiếc võng, Miêu Nữ nằm trên mình anh. Cũng có lúc, anh đặt Miêu Nữ một mình trên võng, ngồi một bên đưa qua đưa lại như người mẹ dỗ giấc con thợ Tôm khô, lạp xưởng là loại thực phẩm cao cấp của tù, anh nhịn ăn, dành cho Miêu Nữ. Phải nhìn những lúc Biên Khuỳnh nằm nghiêng trên lán sạp, cầm từng con tôm khô đút cho Miêu Nữ ăn, mới thấy hết cái tình của Biên Khuỳnh đối với Miêu Nữ. Cũng có khi anh vuốt ve Miêu Nữ, mà đôi mắt buồn xa vắng như đang nhìn về một cõi đâu đâu. Anh em trong đội rất cảm thông giờ phút “sầu đứt ruột” ấy của Biên Khuỳnh.

Những năm tù cải tạo ngoài miền Bắc, Biên Khuỳnh không ai thăm nuôi. Lâu lâu, nhận được thư mẹ già, cũng chỉ những lời hỏi thăm và căn dặn yên tâm học tập tốt để sớm về đoàn tụ với gia đình. Nếu không viết như thế, khi qua tay kiểm duyệt, bức thư sẽ đi thẳng vào sọt rác. Đó là những câu phải viết theo “thủ tục hiện hành”. Nhưng bà còn phải đáp ứng cho Biên Khuỳnh biết gia đình vợ con ra sao chứ? Không, bức thư không cho anh biết thêm điều gì, ngoài hai câu trích dẫn trong truyện Kiều:

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Xã hội nào mà không có những điều đau đớn lòng. Nhưng điều đau đớn lòng, mẹ anh trông thấy là điều gì? Biên Khuỳnh mù tịt! Năm 1983, Biên Khuỳnh được chuyển về Long Khánh, ở trại Xuân Lộc. Theo lời cán bộ, đưa đợt tù này về Nam, tạo điều kiện thuận lợi tiếp tục cải tạo tốt. Nghe tin, mẹ anh từ Nha Trang, đáp tàu đi Long Khánh, lên xe đò đi Xuân Lộc, ngồi xe Lam vào Gia Rai, lội bộ thêm một khoảng đường giữa hai hàng cây so đủa, dẫn tới nhà khách thăm nuôi. Lần đầu tiên sau bao năm đi tù, Biên Khuỳnh được thăm nuôi. Gặp nhau, hai mẹ con đều rớt nước mắt, vì thấy tình trạng sa sút đến thảm hại của người thân. Không biết mẹ già đã nói những gì, Biên Khuỳnh buồn hiu, tịnh khẩu mấy ngày. Dần dần rồi anh em đội Xây Dựng cũng hiểu ra nỗi niềm của anh. Người đàn bà hết dạ yêu anh một thưở, tưởng “sông có cạn, núi có mòn, tình vẫn không thay đổi”, đã đành đoạn cuốn gói đi theo người khác. Mà người khác lại đang thời hãnh tiến, thuộc phía đối nghịch cùng anh. Hai đứa con anh như cụm lục bình trôi theo mẹ, bềnh bồng vất vưởng, bữa đói bữa nọ “Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, mẹ Biên Khùynh viết trong thư là thế.

Trong trại, không chỉ Biên Khuỳnh bị vợ bỏ. Nhiều người cũng ở vào trường hợp tương tự như anh, nhưng mỗi người hành sử mỗi khác. Ở tù là một bất hạnh. Gia đình vợ con tan nát là thêm một bất hạnh nữa. Nỗi đau khổ chồng chất quá lớn đã xô con người vào đường cùng. Có người cắt động mạch, hoặc thắt cổ tự vận. Có người lao đầu vào lò lửa đang cháy rực, tự nướng mình. Có người nhảy vô chảo nước sôi, tự luộc mình. Anh em bằng hữu sợ một lúc quẩn trí nào đó, Biên Khuỳnh liều mạng. Nhưng anh không làm thế.

Anh nói: “Đàn bà trắc nết mê trai, bạc tình là chuyện thường. Chỉ tội cho con cái khổ lụy vì người mẹ tội lỗi.”

Để khuây khoa? nỗi buồn, Biên Khuỳnh xin một con mèo nhỏ đem về nuôi. Ngoài những giờ đi lao động, anh và mèo quấn quít bên nhau. Tình thương hai đứa con trôi giạt, anh phả hết vào con mèo. Anh em đội Xây Dựng đặt tên cho mèo là Miêu Nữ, con nuôi của Biên Khuỳnh.

Miêu Nữ dễ thương hết sức. Hai tròng mắt xanh lục màu ve chai. Bộ lông trắng mịn, vá thêm mảng lông màu vàng nhạt, như một thiếu nữ quàng tấm khăn san trên cổ. Nó bước đi nhẹ nhàng, ăn uống nhỏ nhẻ. Lật ngửa nó ra, lấy ngón tay cù vào nách. Nó uốn éo thân hình, quơ bốn chân bấu lấy bàn tay, kề miệng ngoạm nhẹ ngón tay rồi nhả ra ngaỵ Khi đùa, Miêu Nữ không bao giờ cắn mạnh, và cũng không vươn móng vuốt. Biên Khuỳnh bày trò chơi, cột miếng vải vào một đầu sợi dây, nhữ cho Miêu Nữ nhào tới chụp. Anh liền kéo miếng vải đi nơi khác, và Miêu Nữ chụp hụt. Anh nói, để tập cho nó lanh lẹ khi bắt chuột. Anh lại cầm sợi dây, thòng miếng vải xuống giật giật như câu ếch, Miêu Nữ phóng lên chụp. Đôi lúc phóng quá đà, Miêu Nữ té ngửa. Anh nói, để tập cho nó nhảy cao.

Thời gian rồi cũng làm cho nỗi đau buồn của Biên Khuỳnh nguôi ngoai dần, vết thương thành sẹo. Miêu nữ lớn lên trong tình thương của anh. Đến kỳ Miêu Nữ “biết yêu”, anh em đội Xây Dựng có rất nhiều đề tài để nói.

Ở tù không biết ngày nào ra, hơi đâu mà buồn hoài. Yếu tố tinh thần rất quan trọng. Nếu cảm thấy ngột ngạt là nhà tù, thoải mái là nhà mình. Có khi mình đóng cửa nằm nhà cả ngày, đã có sao đâu. Nhưng nếu ở trong phòng giam, mình cảm thấy khó chịu. Tất cả đều do cảm ứng tinh thần mà ra. Hãy bỏ qua hết mọi thứ phiền não để mà sống, và cũng đừng tự hỏi sống như thế có ý nghĩa gì không. Ở tù, hãy lo mạng sống trước, còn sống thế nào cho ý nghĩa, dành cho những người đang được tự dọ Cứ coi như đây là nhà của mình, thì thời gian năm năm, mười năm sẽ qua vèo như giấc ngủ trưa. Chàng Moritz trong “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” sống qua được hai mươi năm trong tù, nhờ cái đầu anh ta ít suy nghĩ. Triết gia Tristan tự tử sau một thời gian ngắn bị giam cầm, chính vì cái đầu nhiều khúc mắc của anh đã hại anh. Có người lý luận như thế, dù chỉ để an ủi mình. Nhưng nhiều đêm nằm trăn trở trên sạp gỗ, bị lũ rệp tấn công không ngủ được, nghĩ lại cái triết lý sống trong tù ấy, không phải là không đúng. Và Miêu Nữ là một yếu tố quan trọng làm anh em đội Xây Dựng quên thời gian dài khủng khiếp của trại tù.

Thời kỳ cơ thể Miêu Nữ bắt đầu rạo rực. Một dấu mốc quan trọng đầu đời. Nhiều anh ý kiến, phải tuyển cho Miêu Nữ một tấm chồng thật xứng đôi vừa lứa. Già hết xí quách, không được! Đen đủi xấu xí, không được! Ốm o gầy mòn hoặc mập phệ, cũng không được! Tiêu chuẩn làm mẫu được đưa ra: mạnh khoẻ, trẻ trung, và nhất là bộ áo lông khoác bên ngoài phải đẹp là yếu tố hàng đầu. Con đực xấu hình sẽ di truyền một đàn con xấu mã.

Cả trại chỉ có Miêu Nữ là con mèo duy nhất, nhưng khi tới tuổi động tình, không biết loài vật thông tin với nhau bằng cách nào, liền có ngay một chàng mèo mướp xa lạ, từ đâu đến ve vãn làm quen.

Một anh ra vẻ hiểu biết: “Loài vật rượn đực có mùa. Trong thời kỳ rượn đực, âm hộ của con cái nở lớn và tiết ra một mùi rất đặc biệt. Đó là dấu hiệu báo cho con đực.”

“Nhưng con Miêu Nữ nhà mình, âm hộ vẫn nhỏ xíu.”

“Nhỏ là vì nó còn trinh, cái hoa của nó đã ửng đỏ lên rồi đấy.”

“Còn cái mùi, có ai ngửi được mùi gì đặc biệt không?”

“Chỉ con vật nó đánh hơi được mùi của nhau thôi. Con người làm sao ngửi được mùi của con vật?”

Có anh lái vấn đề sang hướng khác: “Thế, đàn bà khi động tình, âm hộ có tiết ra mùi gì không?”

Nhiều tiếng cười hô hố sau câu hỏi.

“Đàn bà, bốn mùa thời tiết nắng mưa, bất kể ngày đêm sáng tối, lúc nào cũng có thể làm tình được. Cần chi phải tiết ra mùi này mùi nọ!”

Biên Khuỳnh lên tiếng: “Tôi xin các ông. Đừng nhắc đến cái loài động vật xương sống thẳng đứng, nhưng không có tình cảm ấy nữa.”

“Loài gì xương sống thẳng đứng, không tình cảm nhỉ?”

“Anh ta ám chỉ đàn bà đấy. Cay cú con vợ nhà phản trắc, rồi ghét lây những người đàn bà khác. Thế là bất công!”

“Thôi, bấy nhiêu đủ rồi. Đừng xé vết thương rách ra thêm.”

Sau lời can thiệp, mọi người trở lại đề tài mèo.

“Các anh đồng ý chọn chàng Mướp cho Miêu Nữ không?”

“Mướp là ứng phu duy nhất, không chọn nó thì chọn ai?”

Thế là chàng Mướp đương nhiên trúng tuyển. Nhiều người nói, mèo chỉ giao hợp ban đêm, chưa ai thấy được cái pha cụp lạc ấy bao giờ. Và kế hoạch chương trình được đề ra cho cái đêm động phòng của Miêu Nữ, làm sao để mọi người có thể quan sát rõ ràng.

“Đừng tránh né sự thật. Cứ nói thẳng là thị dâm đị”

Buổi tối, trong phòng giam, Miêu Nữ bị cột dưới sàn bằng sợi dây dài. Mục đích dụ chàng Mướp vào phòng. Miêu Nữ kêu meo meo, có vẻ xốn xang. Mướp lượn vòng bên ngoài, cũng kêu meo meo. Kêu hoài không thấy tình nhân, Mướp chồm lên cửa sổ nhìn vào. Cuối cùng, do tiếng gọi tình yêu thôi thúc, chàng phóng qua cửa sổ, vào với nàng.

Mọi người tránh gây tiếng động, sợ làm Mướp mất bình tỉnh. Một số nằm trên sạp, thòng đầu nhìn xuống sàn. Một số lót tấm nylon, nằm dưới nền đất nhìn cho rõ.

Lúc đầu, Mướp ta chưa dám xáp gần. Chàng lượn quanh Miêu Nữ, nhìn tới nhìn lui, quan sát động tịnh. Mướp lượn tới đâu, Miêu Nữ quay nhìn theo đó, chứng tỏ nàng đang thèm muốn lắm. Thấy tình hình có vẻ khả quan, Mướp khép vòng lượn, xáp lại gần, cọ mình vào Miêu Nữ. Nàng ngước đầu, vươn cổ đợi chờ. Chàng âu yếm vuốt ve cần cổ êm mướt như nhung của nàng bằng cái đầu của mình. Miêu Nữ đê mê làm cái đuôi xù lông, dựng đứng lên. Mướp tưởng đã có thể tiến thêm một bước nữa, bèn đặt chân trước lên lưng Miêu Nữ, đè xuống, định leo lên. Bất ngờ nàng kêu “méo” và cào vào mặt chàng. Mướp giật mình phóng ra xa.

Có người la lên: “Gái còn trinh mà bị tấn công sỗ sàng quá, nó mắc cỡ. Phải từ từ!”

“Mắc cỡ mẹ gì! Nàng muốn treo giá ngọc đấy. Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người.”

“Suỵt! Suỵt! Làm ơn câm bớt mấy cái mồm giùm tôi đi!”

Sau một phút ngỡ ngàng, Mướp lấy lại bình tĩnh, đến gần ve vãn nữa, làm lại cái màn mơn trớn từ đầu. Vài lần như thế, và lần nào khi tới giai đoạn leo lên, Mướp cũng bị Miêu Nữ cào cho rách mặt. Trên tình trường, có lẽ Mướp đã từng nhiều lần xông trận, cho nên có thừa bản lảnh và kinh nghiệm. Gặp trường hợp quá khó, phải dùng biệp pháp mạnh: cưỡng dâm. Mướp cắn cổ, đè Miêu Nữ xuống. Nàng la lớn, vùng vẫy dữ dội. Kẻ bạo dâm chưa làm ăn gì được, đã bị nàng cào cắn tơi bời. Chàng nhảy ra, đứng trơ tráo nhìn nàng và thở. Nàng gồng mình, xù lông, nhe nanh trong tư thế sẵn sàng xé xác con quỷ râu xanh.

a, ha, hạ Miêu Nữ nhà mình gìn giữ tiết trinh quyết liệt hơn Kiều Nữ của Nguyễn Du.”

Biết gặp phải chằn tinh nữ quái, chàng thất vọng quay mình phóng qua cửa sổ, ra ngoài.

Mất dịp thị dâm, có anh chưởi thề: “Đù mạ, ép duyên cũng không xong.”

“Thế mới biết, trên đời này làm gì có cảnh hiếp dâm. Nếu nó không chịu, cứ giãy giụa hoài, đố thằng nào đút vô cho lọt!” Một anh nói như vừa phát giác ra chân lý.

Mọi người đi ngủ để lấy sức ngày mai lao động. Biên Khuỳnh tháo dây, thả Miêu Nữ.

Không biết Miêu Nữ lẻn ra hồi nào. Giữa khuya, nghe tiếng mèo tru tréo kêu la đau đớn, ngoài hàng rào trại.

Vài anh choàng dậy.

“Xong rồi! Miêu Nữ đã bị phá trinh.”

” Mất trinh làm gì mà la dữ dội thế. Đúng là con Miêu Nữ nhà mình bị bệnh khổ dâm.”

Nhớ lại thời kỳ Miêu Nữ động đực, ông Lâm cất tiếng gọi: “Sơn Ca ơi, con nuôi Meo Snowball được bao lâu?”

“Con không nhớ rõ. Có lẽ cũng năm hay bảy tháng rồi.”

“Con đem nó ra đây cho ba coi.”

“Ba cũng thích Meo Snowball của con hả?”

Sơn ca ẳm con mèo đặt vào lòng ông Lâm. Ông nâng nó lên, giở cái đuôi, nhìn vào đít.

“Ba nhìn gì kỳ vậy?” Con bé hỏi.

ông trả lời tránh né: “Nó ỉa không chùi đít. Ba coi có sạch không.”

“Cứt mèo khô queo, không dính đít đâu. Ba đừng lọ”

ông Lâm không phân biệt được cái âm hộ nở lớn, ửng đỏ, có mùi của mèo cái động đực và bình thường ra sao. Nhưng ông tính đã đến kỳ rạo rực của con Meo Snowball.

“Từ nay, ban đêm con thả nó ra hành lang. Đừng giữ nó ở trong phòng.”

“Tại sao?”

“Lại nữa, hết “why” rồi tới “tại sao”. Lúc nào con cũng hỏi, cũng thắc mắc.”

“Cô giáo dạy muốn hiểu biết rõ ràng thì phải hỏi.”

“Này nhé, con có bạn để nói chuyện cho vui, thì Meo Snowball cũng cần phải có bạn chứ?”

“Con là bạn của nó.”

“Nhưng nó cũng cần thêm vài đứa bạn đồng loại.”

“OK.”

“Hãy nói “vâng”, đừng “OK.” với bạ”

Con bé cười, vâng dạ.

Miêu Nữ có mang. Chàng Mướp quất ngựa truy phong biến dạng. Trên cõi đời nhiều gian trá này, tên Sở Khanh nào cũng giống nhau. Nói năng đường mật. Chìu chuộng vuốt vẹ Thề thốt đủ điều. Không có em, anh sống không còn ý nghĩa, cho nên anh có thủ sẵn một chai thuốc rầy. Nếu em lắc đầu từ chối, thì anh sẽ nốc cạn chai thuốc này, tự tử trước mặt em. Nàng sợ gây án mạng, xiêu lòng để cho chàng tháo sợi dây lưng quần. Thế là xong! Nhưng khi nàng bắt đầu đặt vấn đề trách nhiệm, là lúc chàng tìm đường tháo lui. Chàng Mướp thuộc loại cao thủ trong các cao thủ Sở Khanh. Cặp bồ với Miêu Nữ một thời gian rất ngắn, Mướp trốn đi không lời từ giả, để lại cho Miêu Nữ một bầu tâm sự.

Biên Khuỳnh trách nhiệm săn sóc “bà bầu”, theo dõi thai nhị Anh em đội Xây Dựng tiếp tay trong vấn đề thực phẩm, có được món ngon cũng chia phần cho Miêu Nữ bồi dưỡng.

Một hôm, Biên Khuỳnh kêu lên: “Tôi nghe nó máy rồi!”

Anh em bu lại, người nào cũng muốn thăm thai Miêu Nữ. Đặt bàn tay lên cái bụng bầu, vuốt nhẹ, để yên, nghe ngóng.

“A ha… Nó chòi cộm cả tay tôi.”

“Nó đạp dữ quá!”

“Ấy! Đừng bóp mạnh, coi chừng sẩy thai.”

“Tôi nghe lúc nhúc cả một bụng. Lứa này dễ chừng cũng được mười con.”

“Làm gì có. Mèo chứ đâu phải heo mà đẻ nhiều thế?”

“Anh nghĩ bao nhiêu?”

“Từ ba đến năm là cùng.”

“Theo kinh nghiệm, tôi biết mèo cũng như cọp, chỉ đẻ tối đa hai con.”

“Bố khỉ! Chả có thằng nào kinh nghiệm hết. Chỉ nói phét!”

“Xin can các ngài. Miêu Nữ mang thai mệt mỏi, nó cần nghỉ ngơi. Các ngài cứ rờ mò, nắn bóp hoài. Sẩy thai mất!”

Đội Xây Dựng trông chờ ngày Miêu Nữ lâm bồn. Chưa chi mà nhiều anh đã đặt cọc trước. Anh nào cũng muốn có một con mèo để nuôi. iên Khuỳnh kiếm đâu được cái thùng carton, bỏ vào đấy một manh bố, vài miếng giẻ rách, lót ổ cho Miêu Nữ nằm cử. Và ngày ấy thật vô cùng đặc biệt. Miêu Nữ nằm trong thùng kêu meo meo, bức rức không yên. Biên Khuỳnh ngồi một bên, thỉnh thoảng đưa tay vuốt đầu Miêu Nữ để an ủi. Nhiều người đứng chung quanh, hai tay chống đầu gối, chổng khu nhìn vào. Đây mới là giờ phút “đàn bà đi biển một mình”. Miêu Nữ rướn mình. Rặn. Một cái đầu bé tí thò ra. Lại thụt vào. Rặn nữa. Lại thò ra. Rồi nguyên cái đầu lòi ra luôn, tới cổ bị mắc kẹt, khựng lại. Miêu Nữ hết hơi, ngưng rặn, thở lấy sức.

“Phải giúp Miêu Nữ, lôi hài nhi rạ” Một bàn tay thò vào.

Biên Khuỳnh cầm chiếc đủa gõ mạnh bàn tay: “Đừng! Để tự nó đẻ.”

Có anh sớn sát kêu lên kinh ngạc: “Sao nó đẻ bằng lỗ đít nhỉ?”

“Điên! Chỉ có chị của ông đẻ bằng lỗ đít. Chứ mèo phải đẻ bằng âm hộ.”

Hiệp thứ hai. Miêu Nữ lấy hết sức. Rặn nữa. Phọt ra nguyên một sinh vật bằng ngón chân cái, động đậy trong cái bọc nhờn đục. Nhiều người thở phào. Hình như trong lúc Miêu Nữ rặn, nhiều người cũng rặn theo.

Có tiếng reo: “Mèo đẻ bọc điều. Con này đúng là quý tử.”

“Con nào mới ra cũng nằm trong bọc như nhau. Chả có gì lạ.”

Miêu Nữ quay lại liếm sạch cái bọc nhờn. Sinh vật hiện nguyên hình, hai mí mắt còn dính liền không mở được. Nếu không tận mắt nhìn thấy mèo đẻ, chưa chắc ai đã đoán được sinh vật đang ngo ngoe này là một con mèo con.

Miêu Nữ đẻ chưa xong. Tiếng kẻng từ ngoài cổng vang lên, báo hiệu giờ xuất trại lao động buổi chiều. Mọi người dãn ra, chuẩn bị đi làm. Mấy lần Biên Khuỳnh rời thùng carton, nhưng Miêu Nữ chồm lên, kêu meo meo réo gọi. Anh quay lại, ngồi kế bên. Miêu Nữ lại nằm xuống, chuẩn bị đẻ tiếp. Miêu Nữ cần sự có mặt của Biên Khuỳnh, và anh cũng không nỡ rời xa con vật trong cơn đau đẻ. Lần đầu tiên, anh em đội Xây Dựng thấy được chân tình thiết tha gắn bó giữa người và vật, ai cũng cảm động. Anh em đề nghị Biên Khuỳnh khai bệnh nghỉ lao động, ở lại lán để đỡ đẻ và săn sóc cho Miêu Nữ.

Trước khi rời trại, có anh dặn: “Nhớ giữ cái nhau mèo. Qúy lắm đấy.”

“Giữ lại làm gì? Các ông định ăn sao? Nghe nói, ăn nhau người để tẩm bổ hay trị bệnh gì đó, nhưng phải là nhau của đàn bà con so mới tốt. Còn nhau mèo, chưa nghe nói có ai ăn. Các ông định tẩm bổ hay trị bệnh?”

“Không phải ăn. Ai làm chủ cái nhau mèo, sẽ gặp nhiều điều hên.”

“Nhảm! Thế mà cũng có người tin được.”

“Không tin thì để cho người khác tin. Việc gì phải phê bình chỉ trích?”

Một anh lên giọng dạy đời: “Trong cơn tuyệt vọng, đôi khi niềm tin là chiếc phao cứu mạng. Trên đường đời, lấy niềm tin để xoa dịu những bất trắc đớn đau, làm hành trang đi tới. Kẻ nào không có niềm tin, thấy tương lai chỉ là một hố huyệt bi thảm sau cùng.”

“Ha, ha, ha… Từ một cái nhau mèo, sinh ra lắm câu triết lý cải lương!”

Suốt khoảng đường từ trại đến hiện trường lao động, cái nhau mèo và niềm tin là đề tài bàn luận của anh em đội Xây Dựng.

Miêu Nữ sinh tự một thằng Cu, lông mướp giống bố như in. Ba cái Bướm, lông trắng vá vàng như mẹ. Miêu Nữ đúng là mẹ đảm, vừa lo bắt chuột nuôi mình, vừa cho con bú mớm chu đáo. Bầy con lớn nhanh như thổi. Sau một thời gian ngắn, thằng Cu Mướp vượt trội và bộc lộ cái tính hung hăng giành giật. Khổng Tử viết: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”, e rằng không đúng với trường hợp Cu Mướp. Mỗi lần bú, nó đạp con này, hất con kia. Và khi cái vú nó đang bú hết sữa, nó sẵn sàng dùng đầu ủi văng những con khác để chiếm lấy cái vú nào còn mọng sữa. Nhìn bản chất mà đặt tên, anh em đội Xây Dựng đặt cho nó cái tên rất ư là phá hoại xã hội: Thằng Ăn Cướp.

Ban ngày là thời gian Miêu Nữ cho con bú và nghỉ ngơi. Đêm, nó ra ngoài, lẫn vào bóng tối, dầm trong sương đêm, rình rập săn mồi, tha chuột về cho con. Chuột lớn, nó xé ra từng mảnh cho con dễ ăn. Chuột nhỏ, nó không cắn chết, chỉ làm con vật mất đi sự lanh lẹ, để con nó tập vờn, chụp, bắt cho quen việc săn mồi. Lần nào, Thằng Ăn Cướp cũng giành lấy để tập, và ăn một mình. Anh em đội Xây Dựng thường gõ đầu, dạy cho nó biết thế nào là luật công bằng. Nhưng Thằng Ăn Cướp vẫn tính nào tật ấy, không thay đổi.

Chăm chỉ nuôi con được ba tháng, Miêu Nữ bắt đầu ruồng rẫy đàn con. Nó lại động đực và đi tìm tình nhân mới. Khi nó nằm, đứa con nào còn quyến luyến mẹ, mon men tới gần cọ dựa, bị nó vả vào mặt, nhe nanh làm dữ, rồi đứng dậy lạnh lùng bỏ đi.

Dù biết đấy là bản năng thiên tính của loài vật, nhưng có anh cũng mượn cớ chửi xéo: “Đồ hư đốn mê trai, nhẫn tâm dứt tình mẫu tử.”

Anh khác thêm vào: “Thế cũng còn khá. Miêu Nữ nhà mình nuôi dạy con cho đến ngày biết tự lập. Nhiều bà vừa đẻ con ra, liền thả trôi sông, hoặc bóp mũi ném vào thùng rác, như ném một món nợ đời. Hạng ấy, còn thua xa Miêu Nữ.”

Biên Khuỳnh bực dọc: “Tại sao, chuyện gì các anh cũng bắt quàng sang loài động vật có xương sống thẳng đứng?”

“Đừng cay cú bạn ạ! Trong đội Xây Dựng, bạn không phải là người duy nhất bị vợ bỏ. Và nếu tính cả trại, khối thằng khác còn đau hơn bạn nữa. Hãy chịu khó động não một chút đi. Ở tù, có vợ hay không, đều như nhau cả. Mai kia được thả ra ngoài. Thằng nào còn vợ, thì cứ thế mà tiếp tục cuộc chơi. Thằng nào mất vợ, thì bỏ thời gian đi quơ quào đâu đó, cũng kiếm được một con đàn bà điền vào khoảng trống. Trên quả đất lúc nhúc đầy người ta này, không thiếu giống cái.”

“Nói nghe dễ! Người chứ đâu phải vật mà bạ đâu xâu đó.”

“Hừm! Cứ suy tận cùng bằng số, mọi sự gán ghép giữa nam và nữ, đều vì cái ấy của nhau thôi!”

Một anh lên giọng mô phạm, phê bình: “Đúng là lý luận của bọn háo dâm, tôn thờ dục lạc!”

Một ngày, Biên Khuỳnh cùng nhiều người khác, được lệnh tha khỏi trại cải tạo. Trong thời gian chờ làm thủ tục phóng thích tù nhân, Biên Khuỳnh đan một cái lồng trúc, dự định sẽ đem Miêu Nữ về cùng anh. Bằng hữu nói, trong giới xe đò thường tin dị đoan, không chịu chở mèo, sợ bị điềm xui gây ra tai nạn dọc đường. Và khuyên anh nên để Miêu Nữ lại cho đội Xây Dựng nuôi, để chuyến đi về của anh khỏi gặp trắc trở.

Cuộc chia tay nào cũng buồn. Nhưng cuộc chia tay giữa Biên Khuỳnh và Miêu Nữ, có pha thêm nước mắt. Anh ôm Miêu Nữ: “Con ơi, bố không muốn bỏ con, nhưng bố con mình đành phải xa nhau thôi. Một phần máu thịt của con, không biết có hên hay không, nhưng bố giữ nó và luôn mang theo mình như một kỷ vật.”

Biên Khuỳnh móc trong đãy nhỏ bằng vải, một cái nhau mèo đã phơi khô, đưa cho Miêu Nữ ngửi như chứng minh lời nói của mình, rồi cẩn thận cất vào trong đãy. Anh bắt tay anh em đội Xây Dựng. Ôm Miêu Nữ lần chót, hai mắt anh đỏ hoe, và cúi mặt xuống sát Miêu Nữ như hôn từ biệt. Mang túi xách lên vai, anh đi thẳng ra cổng trại, không dám quay đầu nhìn lại.

Miêu Nữ không biết đó là lần chia tay cuối cùng với bố nuôi của nó. Nhưng đến tối, nơi chỗ nằm hằng đêm, không thấy Biên Khuỳnh, nó kêu meo meo, và quanh quẩn đi tìm đến tội nghiệp. Những ngày sau, nó vẫn còn thơ thẩn đi tìm. Gặp ai nó cũng ngước lên, kêu meo meo, như hỏi: “Bố tôi đâu rồi?”

Sau đợt thả tù, các trại thưa người. Ban chỉ huy dồn tù nhân lại để dễ bề quản lý. Trại cũ bỏ trống. Anh em đội Xây Dựng đem Miêu Nữ và đám con của nó theo. Nhưng chỉ một đêm, Miêu Nữ bỏ đi đâu mất. Mãi sau này, có người ngang qua trại cũ, ghé vào tìm vài thứ vật dụng còn sót, thấy Miêu Nữ đã về lại nơi đây, lảng vảng nơi chỗ nằm có hơi hướm bố nuôi của nó. Lán trại chỉ còn những đồ đạc phế thải vất ngổn ngang. Và trên sạp gỗ, vẫn còn cái thùng carton lật nghiêng với manh bố rách. Thời gian phủ lên mọi vật một lớp bụi mờ mờ. Biên Khuỳnh đã đi rồi, Miêu Nữ ở với ai?

dòng đời trôi,

Biên Khuỳnh về đâu?

Miêu Nữ bây giờ ra sao, giữa những điêu tàn hoang phế?

“ông đang nói gì thế? Vợ Ông Lâm hỏi.

ông giật mình: “Không! Chẳng nói gì.”

Quay qua các con, bà nói: “Má thấy nhiều khi ba của tụi bây ngồi lặng hàng giờ, thỉnh thoảng cười vu vơ, hoặc lảm nhảm một mình. Đó là dấu hiệu của tuổi già, lẫn rồi đấy.”

Đứa con gái lớn: “Con nghe nói những người bị tù cải tạo ở Việt Nam, tinh thần bị khủng hoảng, tâm trí mất bình thường. Hay là con đưa ba đến bác sĩ tâm thần, khám thử xem sao?”

ông Lâm cười lớn: “Chỉ có mẹ con tụi bây điên thôi. Con có bao giờ nghe nói, tuổi trẻ nhìn tới tương lai, người già nhìn về quá khứ?” Mấy đứa con vỗ tay: “A… Ba của tụi mình đang nhìn về cái thời còn làm quan, mang hia đội mão”

Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 31/12/2019

Post by Sơn râu 14 Apr 2026

Kỳ trước: Lương thực và đạn dược cạn kiệt, nhưng những người lính vẫn tiếp tục chiến đấu, không phải vì muốn thăng quan tiến chức, không phải vì vinh quang, mà chỉ vì những chiến sĩ còn lại muốn sống chết cùng nhau cho trọn nghĩa thầy trò. Người lính bị thương mù cả đôi mắt cũng đã khóc với Thái Sơn vì không còn thấy đường để bắn.

Kỳ 9

Màn đọ sức sau cùng…

Trong lúc tôi đang lo thiếu cơm gạo, thiếu thuốc men thì tin tức A 2 lại cho biết một đơn vị phiên hiệu là Trung Ðoàn E 26 (?) của Việt-Cộng đã được điều động vào vùng. Tôi nhớ nằm lòng tên các đơn vị từ cấp tiểu đoàn trở lên của Cộng-Sản hiện diện trong lãnh thổ Cao Nguyên Vùng 2, kể cả sở trường, sở đoản của chúng.

Thời gian này ở Tây Nguyên, Mặt Trận B3 vừa nâng cấp cho Trung Ðoàn 470 Vận Tải thành Sư Ðoàn 470 Vận Tải, đồng thời thành lập thêm hai trung đoàn mới mang tên E 20 và E 26. Thực tế, cho tới ngày hết chiến tranh, hai trung đoàn mang tên E 20 và E 26 vẫn chưa thành hình. Theo tôi thì đơn vị địch được đưa vào trận phải là Trung Ðoàn E 25 trực thuộc Mặt Trận B3. Trung Ðoàn E 25 của Mặt Trận B3 này được thành lập cuối năm 1972 với cán bộ khung là Ðoàn 25 Xâm Nhập. Ðịa bàn hoạt động của E 25 là vùng Nam Pleime trong khu vực Tiều Teo lãnh thổ của quận lỵ Buôn Hô tỉnh Dắk Lắk Việt-Nam Cộng-Hòa. Chính trung đoàn Cộng-Sản này đã đánh chiếm Căn cứ An Tân (Tiêu Atar) và đồn Ðịa Phương Quân Ea Súp thời gian trước đây. Các Trung Ðoàn E 64 và E 48 của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã bị tổn thất quá nặng sau nhiều ngày quần thảo với “Thằng Hai Nâu” (Việt Cộng gọi Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là Thằng Hai Nâu)

Lúc này, cả Thằng Hai Nâu và những trung đoàn trực thuộc Sư Ðoàn 320A đều ở vào tình trạng của các võ sĩ đã ngất ngư, chỉ muốn nằm xuống sàn đài mà nghỉ, mà thở. Nhưng ai cũng biết, trên võ đài thì kẻ đứng vững sau cùng mới là người chiến thắng. Vì thế mà, Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản phải cầu viện tới E 25 của Mặt Trận B3.

Ngày xảy ra cuộc chạm trán lần đầu với E 25, tôi xin được hai phi tuần yểm trợ tiếp cận. Trước khi A 37 vào vùng, tôi sử dụng tối đa hỏa lực cối 60 và 81 ly bao trùm triền đồi hướng Tây. Kế đó, tôi tập trung toàn bộ vũ khí bắn thẳng tưới đạn theo hai hướng Tây Bắc và Tây Nam đan nhau như rẻ quạt trong một thời gian suốt hai giờ đồng hồ. Tới trưa hôm đó mới thấy bóng dáng chiếc thám thính cơ O2 trên vùng trời Ðông Bắc.

Tôi nghe trong máy không lục,

– Thái Sơn đây Bắc Ðẩu! Cho mục tiêu đi!

– Hướng bốn ngàn tám trăm ly giác!  Ðánh theo chiều Bắc Nam cách hàng rào hai trăm mét!

– Okay!

Chiếc trinh sát cơ chúc xuống, “Bục! Bùng!” một trái khói trắng được đánh dấu trong khu rừng hướng Tây. Khói lên, hai cánh chim sắt sà xuống, “Ùm! Ùm! Ùm!”  bom nổ!

Sức bom làm đất đá văng lên cao, phủ kín một vùng rừng cây xanh đàng xa. Bất ngờ, ngay sau đó, mắt tôi hoa lên, vì thấy trên không bỗng choáng ngợp, chớp nhóa như hoa đăng thăng thiên do đạn phòng không của địch. Ðạn 37 ly và 100 ly “Bùng! Bùng! Bục! Bục!” giòn giã đua nhau nở kín một góc trời! Hai cánh chim sắt A 37 và cánh diều O2 biến nhanh về hướng Bắc. Tôi vừa được yểm trợ một phi tuần, còn phi tuần thứ nhì thì bị đình chỉ.

Thiếu úy Nguyễn Công Minh-Pleime 1973

Trận chiến dằng dai chừng hai giờ sau thì địch rút chạy. May mắn là quân ta không có ai bị thương. Ðịch chết phơi thây trên hàng rào nhiều lắm, nhưng tôi không màng tới chuyện thu nhặt chiến lợi phẩm. Mạng người là quý, bắt anh em chui vào hàng rào đầy mìn và lựu đạn thu gom mấy cây súng gãy để làm gì?

Hai ngày sau E 25 lại dẫn thân vào con đường tự vẫn bằng cách theo vết cũ của E 64/320A, cứ lừng lững hàng ngang chạy lên đồi bằng con dốc Bangalore đã mở sẵn cách đây gần nửa tháng. Kỳ này vũ khí công phá pháo đài và nhà cửa loại B40, B41 được địch sử dụng tối đa, mục tiêu của chúng là chiếm cho được hai Pháo đài số 4 hướng Tây Nam và số 5 hướng chính Tây.

Súng vừa nổ thì hai khẩu 105 ly đã bắn liên tục, chặn địch quân từ hướng Bắc và hướng Tây. Với quyết tâm đánh cho địch một trận phải tởn tới già, nên từ sáng sớm, tôi đã cho Thiếu úy Phạm Văn Thủy đem quân bố trí ngoài rào, nơi cuối phi đạo hướng Tây Nam của trại. Ðợi khi địch chạy theo nhau ào lên Pháo đài số 4 thì quân ta nổ súng. Ðây có lẽ là trận đánh đẹp nhất đời chinh chiến của chàng thư sinh Phạm Văn Thủy. Mũi dùi hướng Nam của E 25 bị cầm chân suốt hai giờ đồng hồ trong một khu vực có thế đất lòng chảo, muốn tiến không được, muốn lui cũng không xong!

Thời gian này Pháo đài số 5 hứng chịu không biết bao nhiêu là đạn B40, B41 của địch. Hình như khẩu đại liên 30 trên Pháo đài số 5 đã không còn hoạt động, nên tôi không nghe tiếng súng liên thanh tràng dài, chỉ thấy tiếng M16 của súng cá nhân từng đợt phát ra từ đây. Những tiếng “Xèo! Xèo! Oành! Oành!” rộ lên từng đợt như những cơn gió giật trong trận bão.

Ðạn cứ vèo vèo, theo nhau bay vòng cầu xuống sân cờ. Dây treo lá quốc kỳ bị đứt, lá cờ chao qua chao lại trong bụi mù. Hầm trú của tôi bị B40 bắn bay một góc, khẩu đại liên M60 của chú Yang bị gãy càng. Trong lúc tình hình lộn xộn, tôi sợ địch dùng Bangalore mở khẩu chiếm Pháo đài số 5 thì chúng có thể tràn vào sân cờ.

Tôi leo lên hố cá nhân, rồi dùng hết sức mình ném liên tiếp năm, sáu trái lựu đạn cay ra hàng rào, hy vọng khói cay sẽ gây khó dễ cho bọn điên rồ đang ào lên. Ðồng thời tôi kêu toán viễn thám của chú Nguyễn Chi đem một khẩu M60 theo giao thông hào lên tiếp cứu cho Pháo đài số 5. Quả nhiên khói cay đã khiến cho quân xung phong của địch bị dội ngược. Ngoài rào im tiếng súng!

Chờ một hồi, không thấy B40, B41 bay vào nữa, tôi đi một vòng kiểm soát trận địa thì thấy khẩu đại liên 30 trên nóc Pháo đài 5 ngã chỏng gọng, anh xạ thủ bị gãy tay trái, anh phụ xạ thủ bị một mảnh B40 ghim vào trán, mặt đầy máu me. Hai chú lính này tay ôm lựu đạn ngồi dưới giao thông hào. Trong pháo đài có bốn anh lính vẫn còn bình tĩnh trấn giữ hai lỗ châu mai. Trận xung phong này địch nhắm ngay tuyến phòng thủ ngoài cùng của Ðại đội 2/81. May mắn là không có ai chết. Trong số gần chục người bị thương của Ðại đội 2/81 có ông đại đội trưởng là Trung úy Nguyễn Văn Song.

Khói súng vừa tan, chú Song đã bò tới hầm trú của tôi cười hì hì,

– Chút xíu nữa là em bỏ mạng sa trường rồi ông thầy ơi!

Thấy cái đầu chú Song quấn ba bốn lớp băng trắng mà máu đỏ còn chảy ròng ròng, tôi ái ngại,

– Sao không nằm nghỉ mà bò sang đây làm gì?

– Thì em sang thăm coi ông thầy có bình an không. Em thấy hầm của ông thầy trúng năm sáu trái B40, em lo quá!

Lúc đó lá quốc kỳ chỉ còn treo trên một đoạn dây dài chừng hai mét, quay quay trong gió. Tôi định gọi Hạ sĩ Ba thay sợi dây mới cho lá cờ thì Trung úy Song đề nghị,

– Mình hạ cái cột cờ xuống đi Thái Sơn! Lá cờ cao quá, trở thành mục tiêu cho tụi nó pháo. Hầm của tui và của Thái Sơn nằm sát trụ cờ, dễ chết quá!

Tôi cười trấn an chú Song,

– Mình sống chết là vì lá cờ này, không thể hạ nó xuống được! Lá cờ còn bay chứng tỏ chúng ta còn hiện diện, còn chiến đấu. Với lại, tụi Việt-Cộng dư biết, xưa nay xung quanh sân cờ là khu trống trải không có công sự phòng thủ nào. Chỗ này hóa ra là nơi an toàn nhất!

Sau khi nghe tôi giải thích, anh sĩ quan đàn em của tôi bèn gọi Thiếu úy Phước giúp sức hạ cái cột cờ xuống, thay sợi dây mới, rồi hè nhau dựng cờ lên.

Lá cờ vàng ba sọc đỏ lại tiếp tục phần phật bay trong gió một cách ngạo nghễ và đầy thách thức.

Lúc này quân của Thiếu úy Phạm Văn Thủy cũng vừa trở về tuyến phòng thủ nơi cổng Nam. Thấy mặt ông đại đội trưởng 4/82 đỏ gay tôi thắc mắc,

– Làm gì mà nước mắt nước mũi tèm lem vậy?

– Úi cha! Tụi nó đánh tui bằng hơi cay Thái Sơn ơi!

Tôi bật cười,

– Lựu đạn cay của mình đó!

Nghe tôi nói, chú Thủy mới ngẩn người,

– Hèn chi tui thấy tụi nó cắm đầu chạy rồi tui mới thấy mắt mũi cay cay!

Mỗi ngày, cứ cách ba tiếng đồng hồ, tôi lại gửi một toán quân bí mật tuần tra mặt Tây Pleime. Từ Pháo đài 4 nơi góc trại hướng Tây Nam tới Pháo đài 6 ở góc trại Tây Bắc, tôi đánh dấu 4 hỏa tập T1, T2, T3, T4 dự trù cho súng cối 60 ly.

Toán tuần tra chỉ cần báo cáo địch đang ở vị trí nào, vài phút sau tôi đã có mười trái cối cho hỏa tập đó ngay.

Một hôm toán tuần tra của Binh 1 Yang báo cáo:

-Tango 4! Ðông lắm! (Tango 4 = Target 4 = Mục tiêu T4)

Hỏa tập T4 nằm về hướng Pháo đài 6, trách nhiệm của Thiếu úy Hổ.

Tôi điện thoại cho chú Hổ,

-T4 mười quả!

Khẩu 60 ly của Ðại đội 3/82 chưa phóng đi được quả đạn nào thì tôi đã nghe tiếng B 40 nổ “Oành! Oành! Oành!”

Pháo đài số 6 là nơi yếu nhất của Pleime. Pháo đài này nằm về hướng Tây của cổng chính, ngay góc của trại, sát vườn rau. Bên kia vườn rau là bìa rừng có những tảng đá lớn. Từ bìa rừng, địch có thể núp sau tường đá, bắn ta mà không sợ đạn bắn thẳng của ta. Thời gian Thiếu úy Việt còn sống, Việt đã chuẩn bị sẵn 3 chuyên viên M79 bắn vòng cầu để chế ngự khu rừng này. Không rõ Thiếu úy Hổ có khả năng đó hay không? Tôi lủi xuống giao thông hào rồi “rẽ nước” phóng về Pháo đài số 6, theo sát sau lưng tôi là Thiếu úy Trần Văn Phước và toán viễn thám của Mom Sol.

Tôi chui vào pháo đài đúng lúc cái chòi gác có mái tôn trên nóc lô cốt bị B 40 đánh sập. Khẩu đại liên 30 bắn đã đỏ nòng, mà B40 vẫn còn bay “Xèo! Xèo! Xèo! Oành! Oành! Oành!” bên vách xi măng. Ông Chuẩn úy (tôi không nhớ là ông Bảo hay ông Thiều) luồn tay ra khỏi lỗ châu mai thảy liên tiếp hai trái lựu đạn khói cay. Mùa này gió thổi liên tục từ Ðông sang Tây, các pháo đài ở hướng Tây đều thủ sẵn một thùng lựu đạn loại này.

Dưới giao thông hào, tôi thấy ba ông lính đang ôm M79 núp trong hàm ếch. Tôi hét lên,

– Không bắn mà ngồi đây chờ chết sao? 

Ba ông xạ thủ nghe tiếng tôi quát mới hết run, chui ra khỏi hầm, leo lên hố cá nhân.

“Binh! Binh! Binh!”

Ba viên M79 bắn lên trời, hai viên rơi trên đầu địch, nổ “Ùm! Ùm!” bên kia suối, còn viên thứ ba thì rơi ngay trên đầu… quân ta, nổ một tiếng “Oành!” bụi đất mù mịt! Hai ông lính Thượng bắn giỏi hơn ông lính Kinh; góc bắn của hai ông Thượng chếch về hướng Bắc, còn ông lính Kinh thì bắn thẳng lên trời, đạn rơi ngay đỉnh pháo đài!

Chú Phước vung tay bợp tai ông lính Kinh hai cái rồi nẹt,

– Ð! M! Cái đồ chết nhát!

Ông xạ thủ người Kinh sợ quá quay súng về hướng Bắc bóp cò, bắn đại một viên.

Thấy thế Thiếu úy Phước cũng phải phì cười. Phước chụp tay ông lính Kinh giơ lên cỡ 60 độ cao rồi nói,

– Ông nội ơi! Ông bắn cao cỡ này là được rồi! Ông nội ơi!

Ðợt tấn công bằng B40 chợt ngừng. Tình hình yên trong khoảng thời gian cỡ nửa giờ thì trong hầm, qua lỗ châu mai, tôi thấy những vật tròn tròn như những trái túc cầu màu trắng di động lẫn trong đám cỏ lau. Tới khi đại liên đốn gãy những thân lau sậy thì lòi ra vài cái xác te tua vì trúng quá nhiều đạn. Hóa ra bọn này đang đội những cái túi nylon phòng hơi ngạt để tiến lên. Kỳ này chúng tôi không nghe những tiếng hô “Xung phong!” chỉ vì tất cả bọn cán binh này đều bịt kín đầu bằng bao nhựa, mũi thì nhét bông gòn tẩm thuốc giải độc, không nói năng, la hét được.

Những cái đầu bịt bao nylon tiếp tục bị bắn hạ. Ðịch lại chết đè lên nhau trên vạt đất đầy cỏ tranh và lau sậy. Ngoài rào là một vòng cung đạn cối 60 ly tiếp tục nổ đều đều. Thấy những cán binh Việt-Cộng đầu trùm bao nylon, tôi nhớ lại ngày Căn cứ 711 bị địch tấn công bằng hơi ngạt hóa học cách nay bốn tháng, tôi vội vàng ra lệnh cho toàn thể anh em chuẩn bị mặt nạ sẵn sàng, khi nào thấy thủ pháo địch bốc khói màu vàng thì lập tức đội mặt nạ ngay.

Khổ một điều là nếu đứng dưới mưa, mang mặt nạ thì chẳng khác chi một người mù, nước mưa làm cho hai mắt kính của mặt nạ nhoè nhoẹt, không thấy cảnh vật trước mặt, làm sao mà bắn nhau? Cũng may suốt thời gian bị vây hãm, tôi không thấy hai thứ vũ khí mà tôi e ngại nhất là hỏa tiễn AT3 và thủ pháo chứa hơi hóa học giết người màu vàng. Chừng một giờ sau kẻng báo động khua vang, quân trú phòng lại rời hố cá nhân, ào xuống giao thông hào, chui vào hàm ếch vì đạn 120 ly, 105 ly, 82 ly của địch bắt đầu rơi. Trận pháo này là dấu hiệu chấm dứt đợt xung phong.

Gần một tháng trời cứ trèo lên, nhảy xuống theo nhịp đạn pháo cối nổ, chúng tôi có cảm tưởng như mình còn khéo hơn những ông lính đảm nhận công tác diễn tập trong các quân trường. Thời gian này hình như Trung Ðoàn 64/320A được điều động về hướng ngã ba làng Plei Xome, vùng Nam Căn cứ 711 để ngăn chặn quân tăng viện. Tôi cũng không nghe thêm tin tức gì của Trung Ðoàn 48/320A; không biết đơn vị này còn chốt giữ vùng Ðông Pleime hay đã di chuyển đi nơi khác rồi. Tình hình tạm yên vài ngày, cho tới một buổi trưa, Trung tá Hoàng Kim Thanh gọi tôi vào đầu máy,

– Báo cho chú biết có đại ca Anh Ðào dẫn Con Ó 45 và mấy chục con cua sắt vào tiếp viện cho chú đó!

(Con Ó 45 =Trung Ðoàn 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh)

Tôi buột miệng,

– Thằng nào láo xược dám dùng danh hiệu “Anh Ðào” vậy?

Sở dĩ tôi phản ứng một cách lỗ mãng và phẫn nộ như vậy chỉ vì cái tên “Anh Ðào” chính là ám danh đàm thoại của Cố Thiếu tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, nay ai đó ở Sư Ðoàn 23 mà lấy tên “Anh Ðào” làm danh hiệu thì quả là quá vô lễ, hỗn hào. Ðầu dây bên kia, người xưng là “Anh Ðào” đã nghe tiếng tôi, nên ông ta vội phân bua,

– Chắc chú em biết danh hiệu “Anh Ðào” là của ai rồi. Tôi cũng là một thuộc cấp của Anh Ðào, tôi lấy ám danh đàm thoại là “Anh Ðào” cũng là để tưởng nhớ người chỉ huy đáng kính của chúng ta mà thôi! Chú em đừng hiểu lầm!

Tôi bỏ ra khỏi hầm hành quân, không thèm nói thêm câu nào nữa với ông đại tá bộ binh, người chỉ huy đoàn quân đang vào tiếp viện cho tôi. Sau này, anh Thanh có cho tôi biết ông “Anh Ðào” Phùng Văn Quang, Ðại tá Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 45 Bộ Binh còn giận tôi lắm. Mặt trận hướng Bắc có vẻ bùng nổ trở lại, súng nổ suốt ngày. Pháo binh từ Phú Nhơn dành ưu tiên cho các cánh quân bộ binh đang chạm địch, nên yêu cầu đánh chặn thường nhật của tôi bị từ chối. Chiều 29 tháng 8 một tiếng nổ “Ùm!” âm vang rừng núi. Trên bờ Tây của con suối cắt ngang đường xe be dưới chân tiền đồn Bắc có 4 quả mìn chống chiến xa.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương
Post by Sơn râu 14 Apr 2026

Tôi thật tình không muốn chọn những đề tài kiểu “năm Dần nói chuyện Cọp” nhưng hình như mỗi mốc thời gian thường để lại trong lòng chúng ta những cảm xúc, có khi thoáng qua, nhưng cũng có khi dai dẳng. Ngày Memorial giờ đây thực đã qua rồi, những nén nhang trên những nấm mồ đã tắt, còn lại những chân hương lạnh lẽo, những bó hoa thắm sắc trong nghĩa trang đã héo tàn dưới cơn nắng và gió của Santa Ana. Mọi người đã trở lại với đời sống hằng ngày, chạy theo những bánh xe quay và hình ảnh những người chết không còn để lại gì trong ý nghĩ của chúng ta, lẽ cố nhiên chúng ta không thể đắm mình trong tưởng nhớ mà bỏ quên đời sống thực tại hiện hữu mỗi ngày.

Bản tin mới nhất, loan báo trong tuần qua, người lính Mỹ thứ 1,000 đã nằm xuống trong trận chiến tại Afghanistan. Ôi, con số 1,000! Một nghìn đồng bạc, không nhỏ tuy nhiên không là một số tiền lớn. Một nghìn đoá hoa, đã nhiều, nhưng chưa đủ để kết một cái xe hoa trong ngày Rose Parade. Một nghìn người trong một cuộc biểu tình, di chuyển, đi lại, đã là đông. Chúng ta chưa tưởng tượng ra được một nghìn người chết vì bom đạn, “chết thật tình cờ, thịt da nát tan”. Họ nằm xuống ở xa, trước khi lìa đời không nắm được bàn tay người thân. Một nghìn cái quan tài bọc kẽm được đưa về quê hương trên những chuyến bay dài qua những đại dương. Một nghìn ngôi mộ “đều như nấm” có cắm cây thánh giá trong nghĩa trang quốc gia Arlington. Một nghìn gia đình buồn khổ vấn khăn tang.

Thế mà trong cuộc chiến Việt Nam, nước Mỹ đã mất 58,000 người. Trong số người tử trận có đến 61% là những thanh niên dưới 21 tuổi, người trẻ nhất chỉ mới 17. Cũng trong ngày 6 tháng 6 cách đây 66 năm, trong cuộc đổ bộ tại bờ biển Normadie, nước Mỹ đã mất 2499 quân nhân mà xương cốt của họ đã nằm lại trong lòng đất nước Pháp, nhiều người không còn tên tuổi, họ chết như những người lính vô danh, không có đến một cái tên khắc trên bia mộ. Tuổi của họ cũng còn rất trẻ. Người ta ghi nhận ngay phút đầu tiên đổ bộ lên bờ biển Omaha Beach, 19 thanh niên của một thành phố nhỏ của tiểu bang Virginia là Bedford đã ngã xuống vì hỏa lực và mìn bẫy của địch. Những người này còn quá trẻ để người ta gọi họ là “boys” trong tác phẩm “The Bedford Boys” của Alex Kershaw. Những người lính này là những chàng trai trẻ, vừa rời khỏi ghế nhà trường, chưa hề hưởng được chút thú vui của cuộc đời đã hiến tuổi xuân xanh theo tiếng gọi của tổ quốc.

Để bảo vệ miền Nam, 220,357 người lính VNCH đã tử trận mà không phải ai cũng được trở về “trên chiếc băng ca” hay “trên chiếc trực thăng sơn màu tang trắng”. Máu họ đã thấm vào lòng đất trên những địa danh vẫn nghe trong những bài hát chinh chiến xót xa của một thời. Cũng có những người lính lấy con tàu và đại dương ôm ấp hình hài như 58 chiến sĩ hải quân đã chết cho vùng biển máu thịt của quê hương. Để quyết xâm chiếm miền Nam 1,176,000 người lính Bắc quân Cộng Sản “sinh Bắc tử Nam” đã không còn cơ hội sống còn. Một vài trăm cái nghĩa trang sơn xanh quét đỏ trên khắp đất nước, từ tỉnh lỵ đến xã ấp xa xôi không đủ chỗ cho con số hơn triệu xương cốt, hầu hết đã tan nát theo cỏ cây trên núi rừng, lạch suối trên cả hai miền Nam Bắc cho tham vọng của chủ nghĩa của một số người.

Người chết thường bị chóng lãng quên. Người chết là lá vàng ủ mục cho những hạt nẩy mầm nhú lên mặt đất, làm phân bón cho những cây con chóng lớn. Đã nhiều người lính chết cho chiến công của một người. Đã nhiều người lính chết cho những người sau lưng họ được sống. Đã nhiều người lính chết chỉ là phương tiện cho cứu cánh của một thiểu số cầm quyền. Chỉ với một cái gật đầu trên bàn hội nghị, một nét bút chì mỡ trên bản đồ hành quân, bao nhiêu xương máu phải đổ ra ngoài trận địa. Thế giới đã trải qua nhiều thế kỷ dài và triệu triệu người lính đã chết, họ chết trong hy vọng tạo nên một tương lai tốt đẹp hơn, hòa bình, hạnh phúc hơn nhưng cuối cùng thế giới lại đắm mình trong những cơn xâu xé tàn nhẫn, với bom đạn tối tân hơn, kỹ thuật giết người tinh vi hơn và với những lý do nghe qua có nhiều sức thuyết phục hơn. Chiến tranh máu lửa chưa hề có một ngày ngơi nghỉ, lụi tàn trên trái đất này và cái chết của những người lính chỉ là những con số vô hồn, ở nơi này hay ở nơi khác, trên một góc nhỏ khiêm nhường của một tờ nhật báo hay trên môi người xướng ngôn viên xinh đẹp của màn ảnh nhỏ vào tối hôm nay, trong lúc gia đình đang quây quần với nhau trong bữa cơm chiều.

Chúng ta có thể nào hiểu nỗi tâm trạng của những gia đình có chồng, có cha, có con đang đi “vào nơi gió cát”. Những bản tin làm nhói nỗi đau, gây muộn phiền và lo sợ cho những người thân của mình, đêm nay không biết ở đâu trên những vùng đất xa lạ, ngút lửa tranh chấp, hận thù. Trong thời đại với kỹ thuật thông tin ngày nay, tin xấu về còn nhanh hơn những tia chớp ngoài kia, nhưng đã có một thời, người mẹ Việt Nam, nuôi đứa con lớn lên trong nghèo khó, nhọc nhằn, đã gởi đứa con đi theo tiếng gọi, nhân danh cho những điều cao đẹp trên đời, để cuối cùng thay vì nhận lại đứa con rắn rỏi, tự tin, trưởng thành, tươi cười rạng rỡ bên mẹ sau những ngày xa cách, là những tờ “biên lai” ghi công vô hồn. Trên mặt địa cầu này đã có bao nhiêu tượng đài ghi công, bao nhiêu vòng hoa tưởng niệm, bao nhiêu bài diễn văn vinh danh, ca ngợi nhưng không có gì bền bĩ, trung kiên bằng tấm lòng người mẹ nghĩ đến đứa con mất. Tôi biết chuyện một người mẹ, từ ngày  đứa con ra đi chiến trường và không bao giờ trở lại,mỗi đêm đi ngủ bà vẫn để lại ngọn đèn chong. Trong ý nghĩ của người mẹ, đứa con về trong đêm sẽ biết hướng trở lại nhà. Sẽ không bao giờ có tiếng đập cửa và tiếng kêu: “Mẹ ơi, con về đây!” nhưng ngọn đèn khuya mỗi đêm vẫn còn đó.

Trên những xóm làng mà bạn đã đi qua, bạn đã có dịp nhìn thấy những ngọn đèn khuya hiu hắt trong đêm, bạn đã thấy những đốm lửa thấp thoáng bên kia sông như những nỗi buồn xa. Hãy hình dung đó là những ngọn đèn của những người mẹ thắp lên mỗi đêm để chờ đứa con về, những đứa con chết ngoài chiến trường trong lúc còn rất trẻ.