Tủi nhục ca

Nhạc Hà Thúc Sinh

Ca sỹ Khánh Ly

Post by Sơn râu 24 Apr 2026

Hà Thúc Sinh

Đêm thế giới đang dồn một lần

Trên đất nước tôi gọi Việt Nam

Đêm bát ngát những khu trại giam

Đời thênh thang thu hẹp dần dần

Đêm em bé lên mười cũng gần

Anh chiến sĩ gốc biệt động quân

Đêm thiếu nữ áo đơn tạm thu

Ngồi kề vai gái giang hồ lo

Đêm đấu tố, và thủ tiêu

Đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu

Người chết nhanh, người phát điên

Đêm cáo chung tự do nhân quyền

Đêm nhức buốt phang bằng chầy vồ

Vang tiếng thét sau cùng “Tự do”

Đêm có tiếng súng sau trại giam

Người tù binh chết bên bìa rừng

Đêm thế giới đang dồn một lần

Trên miếng đất đã thừa lầm than

Đêm trút xuống hố sâu diệt vong

Là Việt Nam nước tôi buồn tênh

Hà Thúc Sinh

Chàng ngồi như thế
Từng chiều bóng xế
Mộ hầm ô uế
Chàng lắng tai nghe, chàng lắng tai nghe
Tưởng chừng đầu thai
Vào một thế giới
Làm bằng thịt hôi
Và máu xương tơi tả, máu xương ơi
Người cùi rên xiết
Người điên la hét
Mặc người gục chết
Ngực vỡ cơn hen, cùm vẫn đeo chân
Còn thì lặng câm
Người là bộ xương
Chỉ còn hàm răng
Là sống hung hăng giữa mùa khát thèm
Dù chàng đã biết
Đường tơ sương khói
Là lằn ranh giới
Người với heo treo một miếng ăn thôi
Và chàng cũng biết
Giặc kia không giết
Bằng dao bén ngót
Mà giết lâu năm bằng nỗi bi thương
Chẳng còn chi nữa
Dù một vần thơ
Dù một người nữ
Được thấy trong mơ, chàng sĩ quan xưa
Một lần thức giấc
Một người bật khóc
Vì chàng nằm mơ
Mình giết anh em, cướp phần khoai hà

Hà Thúc Sinh

Đừng chết nhé thơ ơi khi mình cần thơ lắm
Dù thơ đã lao lung tả tơi
Hãy như dao nhọn để mình còn vũ khí chơi quân thù
Mớ khoai hư này cầm hơi với nhau để nhớ
Đừng chết nhé chim ơi khi mình cần chim lắm
Dù chim đã lao lung tả tơi
Hỡi chim trong lồng vì mình làm ơn hót cho bi hùng
Trái tim xin tặng mà nuôi lấy thân giam cầm
Đi trên dây đời nuôi nụ cười vẫn tươi
Chết cũng do trời nuôi thù ta hát thôi
Hát cho tan mối sầu đời như muông thú
Đừng chết nhé ta ơi, gánh nặng cười đi tới
Dù gông xích lao lung tả tơi
Hỡi tim trong ngực vì ta làm ơn giữ cho máu hồng
Giữ cho căm hờn một mai phá tan cơn buồn

Hà Thúc Sinh

Đêm hôm qua, có một người tuổi ba mươi
Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè
Nằm xếp lớp như đống củi khô
Chàng nằm nghe đất reo gọi
Thịt xương máu đã có mùi hôi
Chàng nằm nghe kiếp con người
Tựa hoa trái ung thối mà thôi
Một quyền uy điên cuồng
Một tội danh hoang đường
Thành vực sâu giữa hồn lồng lộng gió cuốn
Đêm hôm qua, có một người tuổi ba mươi
Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè
Nằm xếp lớp như đống củi khô
Chàng nằm nghe những nhân tài
Chợt thu bé trong những hạt cơm
Chàng nằm nghe giấc mộng người
Thèm miếng sắn hơn những mùa Xuân
Thời bình minh lay động
Thời hoàng hôn lan dần
Người hùng xưa khoanh tròn ngủ giấc rêu rong
Ở nơi đây thế giới hẹp dần
Cho mây ngập ngừng chim cũng cùng đường
Nền văn minh đang đi vào hoàng hôn quên lãng
Ở nơi đây Chúa cũng ngậm ngùi
Khi xưa đặt người lên trên mọi loài
Lửa Xô đôm đã nghe chừng vừa bén đâu đây
Đêm hôm qua, có một người tuổi ba mươi
Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè
Bật tiếng khóc không giống một ai
Chàng nằm nghe trên môi người
Vừa nhen nhúm tiếng nói lạ tai
Chàng nằm nghe trên thân người
Làn da mới ai đó vừa thay
Một vầng trăng chiếu vào
Một bầy hoang thú nằm
Chẳng còn ai thấy chàng ngoài mớ lông xanh

Đoạn đường núi sọ, thế chiến quốc xuân thu,
Anh nghe lệnh truyền buông súng trước kẻ thù.
Đoạn đường núi sọ, bao mái ấm tan hoang,
Thương con thù chồng dao cắt trong lòng em.

Đường cha ông biết khóc cơn đầu tiên,
Đời anh em mấp mé cơn loạn điên,
Đời tan danh, đời quên tên,
Ngựa hồng đau buốt ngày lết qua lộ Thiên.

Đoạn đường núi sọ hoang vu phía tương lai,
Mơ xa mộng gần bỗng hóa ra huyền thoại,
Đoạn đường núi sọ trên xứ lúa năm xưa,
Em thơ mẹ già đem bát cơm vào mơ

Đoạn đường núi sọ, cơn suy thoái quê hương,
Khuôn viên nhà trường cũng biến ra trại tù.
Đoạn đường núi sọ mưa lất phất mưa bay,
Trên vuông cờ người no máu xương ngủ saỵ

Đường gai xưa Chúa bước cho mộng sâụ
Đời thênh thang những lối đi tình yêu
Việt nam tôi, người dân tôi,
Vì đâu đi mãi về phía núi sọ thôi?!

Đoạn đường núi sọ, thế giới bỗng xa xôi,
Như quên thật rồi đất nước tôi đời đờị
Đoạn đường núi sọ ôi khi mất quê hương,
Chung thân vị mật đắng nhất trên trần gian.

Hà Thúc Sinh

Chàng tuổi trẻ tù binh chiến tranh
Nghe nghìn cân đá đeo trong hồn
Chiều từng chiều ngồi sau chấn song
Lắng xa vời tiếng súng nhớ thương
Nhìn bạn hữu nằm phơi xác khô
Thương bao nhiêu linh hồn đã khuất
Dòng lịch sử trầm luân nắng mưa
Thương quê hương máu lệ từng giờ
Chàng tuổi trẻ ngồi sau chấn song
Khi hoàng hôn nhá nhem buông màn
Chàng lại nằm mộng thấy nắng lên
Thấy ngựa hồng, thấy núi, thấy sông

Hà Thúc Sinh

Cô gái trần truồng ngồi giữa sân..phơi ghẻ
Trước mặt mọi người cô cứ thấy như không
Âu Cơ mẹ hỡi sao nên nỗi..đau thương
Cô gái Việt Nam mà lại hết thẹn thùng

Con chó tưởng chừng còn chán chê..không ngửi
Kiếp người tù đày bố vác với con khuân
Ôi vua Hùng hỡi sao nên nỗi..thương ôi
Đâm chết thằng con chỉ vì bát cơm vơi

Điệp Khúc

Khoan lên mặt trăng khoan khoan lên trời
khoan sâu vào trái đất khoan moi biển khơi
Xin quay nhìn miếng đất như đang bỏ rơi
Việt Nam còn có biết bao nhiêu chuyện lạ đời

Tôi bỗng một ngày chợt thấy vu vơ nghĩa
Thú vật và người ai nói khác xa nhau
Khi biên thuỳ đã phôi phai giữa..đôi mi
Không biết trần gian hoặc là đáy.. âm ty

Hà Thúc Sinh

Một ngày Đông mưa bay
Đoàn tù đi khiêng cây
Ngậm lời không ta thán
Như những kiếp trâu đọa đày
Đường rừng đi quanh co
Hồn Phạm Công bơ vơ
Một chàng trai trong mưa
Bỗng nhớ Cúc Hoa ngày xưa
Ngục tù không tha em
Ngày oằn vai dân công
Dòng đời như sóng lớn
Xô lấp trên em mặn nồng
Vợ chồng năm năm xa
Gặp lại như trong mơ
Ngậm ngùi cho thiên cơ
Nước mắt chia nơi bụi bờ
Phút ấy hồn chim quên
Ý thức về cung tên
Bỗng chốc nàng nghe như
Có đóa huyết hoa nở ra
Chàng gục bên bờ suối
Đạn xuyên ngọt tơi
Như xác bướm hoa rụng tơi
Rồi người ta đem chôn
Đề mộ đôi uyên ương
Bọn người vô văn hóa
Giữ chứng nô vong thực dân
Người Việt Nam hôm nay
Cần phải sinh trăm tay
Chỉ thừa dư nơi đây
Những trái tim trong ngực gầy

Hà Thúc Sinh

Mỗi đêm chàng thức dậy

Uống bát nước vào lòng

Sau chấn song mịt mùng

Ôn cuốn phim buồn tênh

Ngày rền bánh xe lăn

Một guồng máy vô luân

Lùa từng kiếp chung thân

Xuống vực đời tối ám

Hình người đã xa xôi

Chỉ còn chốn đây thôi

Bầy người máy im hơi

Chết trong mùa suy đồi

Gánh đá đôi vai người

Ngày đi rồi ngày tới

Chất mãi cho thêm dày

Ngục thất nhốt ta thôi

Một ngày như mấy kiếp

Đốt cháy tim gan người

Một ngày trong máy ép

Kiếp trái chanh tả tơi

Sớm mai chàng thức dậy

Uống bát nước dằn lòng

Tiếng núi như gọi hồn

Nghe chán chê vừng Đông

Hà Thúc Sinh

Rừng trút màu âm u trên vai
Nắng xa xôi để màu da tái
Đời úa dần cho cao su tươi
Uất căm em giam cầm trong người
Giọt lệ nồng ơi nhớ rớt trong đêm
Nụ cười gượng ơi hãy cố tươi lên súng kề đôi bên
Ngày gánh nặng cho em tiêu sơ
Sắn nuôi thân mù mờ trí nhớ
Hạt muối thèm nên xương da ôi
Máu xanh xao trong đường gân người
Ngày tựa hồ như núi đá trên vai
Bầm dập từng đêm lũ kiến sinh sôi bu đầy kiếp người
Ôi dòng suối tóc của đời
Từng cơn rét rừng tới
Còn trơ lũ bình vôi
Và nghìn cân tả tơi trong vuông bao cát che thân
Hồn ngượng ngùng hồ như khô theo những nếp da nhăn
Dòng suối lười phơi lưng trong xanh
Ngó không ra những người ghẻ tắm
Đời đói lạnh đi như thây ma
Bước chân lên thêm gần nấm mồ
Chỉ còn nhạt phai chút tiếng âm quen
Rừng già lặng im dẫu xót thương em gái đẹp kinh thành

Hà Thúc Sinh

Nếu tôi còn sống mà trở về
Thực lòng muốn sống nơi đây
Cũng không còn chỗ cho một người
Một người còn giống như tôi
Tự do thơm tho trong dòng máu
Hồn tôi không yêu ai lừa dối
Làm sao gai đâm trong thịt tôi
Mà không cất tiếng nói
Nếu tôi còn sống mà trở về
Hẳn là tôi sẽ ra đi
Dẫu cho què đui cũng xin làm
Một đời thằng mõ không công
Vợ con xin cam như bụi tan
Hành trang tôi không mang nhiều hơn
Quả tim tôi nung đã thành than
Và câu hát rất buồn
Đêm sau cùng theo lối có miếng trăng phai
Sẽ đi thăm một nước đã chết hết người
May ra còn ở trong những lăng miếu đổ
Tiếng tiền thân giận loài quỷ ám khóc than
Nếu tôi còn sống mà trở về
Hẳn là tôi sẽ ra đi
Rất xa để sống như con người
Được cười được khóc như ai
Rồi tôi ca lên những lời ca
Để cho anh em tôi được nghe
Việt Nam quê hương tôi là thế
Là tan nát não nề

Paris để tang

Trần Đình Thục

Post by Sơn râu 24 Apr 2026

Đây là một tấm ảnh rất cảm động ghi lại cuộc biểu tình của sinh viên Việt Nam tại Paris ngày 27/4/75, ba ngày trước khi Saigon sụp đổ. Lúc đó trong nước chúng ta vẫn chưa biết đất nước sẽ đi về đâu, nhưng tại Âu châu, nhất là tại Pháp mọi người đã biết số phận của VNCH. Các bạn sinh viên Việt Nam đều đã để tang cho một Dân Tộc, một Đất Nước, lá Đại Kỳ VNCH đã được rước đi khắp quận 13, thành phố Paris.

oOo

Viết về một tấm hình

…Tôi cũng không ngờ, khi chụp tấm hình anh chị em Sinh Viên Paris vào một ngày cuối Tháng Tư năm 75, ngày mà họ cấp bách làm một cuộc xuống đường qua các dẫy phố thành phố Paris, để ủng hộ Miền Nam Việt Nam và tưởng nhớ tới những chiến sĩ thân yêu đang hy sinh trong giai đoạn mịt mù khói lửa này, lại là một tấm hình lịch sử, đánh dấu sớm ngày tang thương của đất nước.. Chỉ sớm trước có 3 ngày.

Phải, trước đó, ròng rã suốt tháng Ba, hình ảnh trên Tivi cho thấy người dân Đà Nẵng chạy loạn, hình ảnh các chiến trận hoang tàn, rồi cuộc rút lui chiến thuật bỏ đứt vùng Cao Nguyên, rồi việc tổng thong Thiệu từ chức v v… đã dồn dập chiếm trọn giờ tin tức trên đài truyền hình, khiến cho người SV Việt, sống xa quê nhà có cảm tưởng như đang ngồi trên lửa bỏng…

Tổng Hội SV tại Paris do anh Trần Văn Bá làm chủ tịch lúc đó , đã quyết định phải làm một cái gì để nâng đỡ tinh thần bên quê nhà , mong ước chuyển về bên ấy chút tâm hiệp với các chiến sĩ đang khốn đốn vì bom lửa đạn. Họ, những người sinh viên thuộc vùng Paris và những vùng lân cận Orsay-Antony, Nanterre đã kêu gọi nhau cùng tổ chức “Một Ngày cho Quê Hương“ .

Trước tiên, phải là một cuộc xuống đường để ủng hộ Miền Nam .

Ngày 27 tháng Tư, mọi người hẹn nhau tại Cư Xá SV Quôc Gia trên đường Bertholet. Cư xá là một Hotel 7 tầng, Hotel Lutèce, được SV âu yếm gọi là Nhà Lý Toét, nằm ngay trong khu La Tinh, trung tâm của các ngôi trường đại học lớn của thủ đô Paris. 

Hotel Lutèce được Chính Phủ VNCH thuê dài hạn từ nhiều năm, để tá túc những SV trong những năm đầu khi họ từ Việt Nam qua Paris du học, giống như một ký túc xá .

Sinh Viên đồng lòng thúc đẩy anh em xuống đường trong tinh thần tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh tại quê nhà để bản thân mọi người được tiếp tục trao dồi việc học nơi xứ người .

Từng thước vải đen được trải ra, những dòng chữ “Vinh Danh Các Chiến Sĩ Đã Nằm Xuống Cho Tự Do“, “Miền Nam Tự Do Bất Diệt“, “Ngày Đại Tang“ vv… được viết bằng tiếng Pháp, chữ trắng trên nền vải đen. 

Mỗi người tự chít cho mình vành khăn trắng trên trán, phần để nói lên tâm nguyện của mình, phần để nhận diện nhau, tránh sự trà trộn trong lúc diễn hành của những phần tử “ không Quốc Gia“, muốn phá hoại.

Đúng 3 giờ trưa, anh em SV bắt đầu cuộc tuần hành trong thầm lặng qua các dãy phố của Quận 5, khu Đại Học: Biểu ngữ được dương cao, bát nhang, Lá Quốc Kỳ mầu Vàng 3 Sọc Đỏ đươc căng rộng 4 góc, dẫn đầu cuộc tuần hành dài cả trăm người.

Hoàn toàn trong im lặng: không hoan hô, đả đảo. Một sự chịu đựng đầy tôn nghiêm và trật tự…Khởi đầu đoàn người bắt đầu đi từ đường Gay Lussac, một đại lộ sát nách với Điện Panthéon, nơi chôn cất những vĩ nhân của nước Pháp như Voltaire, Victor Hugo ,Marie Curie vv…

Cũng trên trục lộ chính này, Tháng 5 năm 1968 ( Mai 68 ) các sinh viên Pháp đã rầm rộ xuống đường đòi chình quyền De Gaulle phải từ chức, dẫn tới một cuộc Trưng Cầu Dân Ý và sự rút lui của nhân vật lịch sử De Gaulle.

Tấm hình “Sinh Viên Paris xuống đường” đã được bấm ngay trên Đại Lộ Gay-Lussac này.

Đoàn tuần hành đi dọc xuống tới vườn Luxembourg, rồi quẹo mặt ra đường Boulevard St Michel, đi ngang trước cửa trường La Sorbonne ,ngôi trường Văn Khoa và Luật Khoa nổi tiếng của Paris . Qua chiếc cầu Pont St Michel, sau đó đổ ra Đại Lộ Rivoli rồi trực chỉ nhắm Công Trường La Concorde đi tới .

Chữ La Concorde có nghĩa là “Đồng Tâm”. Anh em Sinh Viên, những đứa con của Miền Nam, đang thực sự hướng về quê nhà, đang thực sự đồng tâm chia sẻ nỗi điêu đứng của đất nước trong giai đoạn tàn tạ khốn đốn này.

Bên đường, tiếng la khinh bỉ “Fantoches” (Bọn bù nhìn) từ những người Pháp trẻ thiên tả cũng nhiều, tiếng khích lệ từ những người lớn lái xe qua “Sao không làm sớm hơn” cũng không ít.

Anh chị em SV vẫn âm thầm tiến bước. Ban Báo Chí của Tổng Hội trao tay cho những người qua đường những tờ bươm bướm in bằng máy Ronéo nói lên tình trạng của một nước tự do nhỏ bé đang bị cả khối Cộng Sản phụ nhau lấn chiếm.

Cuộc tuần hành , không có giấy phép của Tòa Đô Chính . Tình trạng đất nước đang ở giai đoạn khẩn trương , không còn thì giờ để xin phép Tòa Đô Chính qua thủ tục hành chánh rườm rà. Vả lại đơn xin chắc chắn cũng sẽ bị tòa Đại Sứ Bắc Việt và cánh Tả Pháp thiên Cộng phản đối , ngăn chặn.

Bởi vậy phải tính chuyện liều mạng tổ chức một cuộc tuần hành chớp nhoáng , trong trường hợp bị chặn lại, cũng sẽ có tiếng vang trong giới báo chí, vẫn sẽ có những phản ứng thuận lợi về hình ảnh hiền hòa của một Miền Nam đang bị xâm chiếm, trái ngược với những thỏa hiệp trong Hiệp Định Paris đã được ký kết ngay tại thành phố này.

Cuộc tuần hành tuy không hợp lệ, nhưng lại là một thành công. Thành công ở chỗ đã không bị giản tán trong suốt lộ trình: Cơ quan công lực thành phố Paris thấy những khuôn mặt SV trẻ Việt Nam tuần hành đông đảo, nhưng nghiêm túc, trong trật tự, không la hét, đập phá nên họ lẳng lặng theo sát, cuối cùng Cấp Trên của họ đã tiếp xúc thẳng tại chỗ với người đại diện của Tổng Hội Sinh Viên là anh chủ tịch Trần Văn Bá. Sau khi đã biết rõ chủ đích ôn hòa và lộ trình của đoàn người, chính họ lại đích thân hộ tống đoàn tuần hành , giúp giải tỏa những khúc kẹt xe do cuộc xuống đường gây nên để giao thông có thể tránh và rẽ qua những hướng khác, một cách nhã nhặn , êm thắm .

Tôn chỉ của xã hội Pháp “Liberté -Égalité – Fraternité“ (Tự Do – Bình Đẳng – Nhân Ái) quả thật đã được tôn trọng một cách dân chủ.

Riêng đối với niềm tin của những con dân Đất Việt, Hồn thiêng sông núi, Vong Linh các chiền sĩ, của Tiền Nhân hình như đã chứng giám và hổ trợ cho lòng thiện tâm của lớp trẻ, nên màn đầu của chương trình “Một Ngày Cho Quê Hương“ đã có được một cuộc tuần hành êm ả, thành công.

Màn sau của cuộc biểu tình đã được dự trù là sau khi đã tới được Công Trường La Concorde rồi, Sinh Viên sẽ tới ngay trước cổng tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, nằm tại một góc của Công Trường La Concorde (cuối đường Rivoli) để phản đối chính sách Mỹ đã dồn miền Nam vào hoàn cảnh tang thương hiện tại.

Nhưng khi đoàn SV tới sát khu Tòa Đại Sứ Mỹ, thì nhân viên công lực Pháp, có Sĩ Quan Cao Cấp hiện diện đã chặn đoàn biểu tình lại. Họ nhã nhặn nói: “Chúng tôi không thể để các bạn tới gần hơn nữa”.

Tôn trọng luật lệ xứ người, anh chị em SV đã dàn ngang tại một góc Công Trường La Concorde, chênh chếch đối diện với Tòa Đại Sứ Mỹ, trang nghiêm làm nghi thức tưởng niệm các Chiến Sĩ và cất cao bài Quốc Ca miền Nam để kết thúc cuộc biểu dương tấm lòng chia sẻ nỗi đau thương với đất nước.

Tiếng hát của 300 người trẻ tuy đông đảo nhưng nghe vẫn như mất hút, lạc lõng bơ vơ giữa cái không gian bao la của một công trường rộng lớn. Lạc lõng bơ vơ như thân phận côi cút của một mảnh đất nhỏ bé đang bị bỏ rơi, nằm bên kia quá nửa vòng trái đất.

Đoàn biểu tình sau đó kéo nhau từng nhóm nhỏ về tụ tập tại Trường Chính Trị Kinh Doanh của Trường Đại Học Assas, nằm bên hông Vườn Lục Xâm Bảo. Giảng đường to lớn của trường Đại Học có khuynh hướng thân Hữu này luôn luôn rộng mở cho những người con của Miền Nam Tự Do.

Tại đây anh chị em Sinh Viên của cả 3 Khu Đại Học đã làm 1 đêm không ngủ: Có hội thảo, có ca hát. Những bài hát quê hương, tranh đấu được anh em SV tự hát an ủi nhau trong giờ phút khốn đốn của Miền Nam Nước Việt.

3 ngày sau, đâu ngờ, Saigon thất thủ.

Thôi rồi, thế là mất hết, mất Sài Gòn, mất Quê Hương, mất luôn ngày về của lớp trẻ vẫn hằng mơ ước một ngày có thể đóng góp phần trí tuệ của mình cho quê hương thân yêu Miền Nam…

TDT

(viết cho ngày 27 tháng Tư…39 năm về trước)

Với Tháng Tư

Thơ Phan Nhật Nam

#1.

Tòa Thánh dụng từ tâm

Kết án thuật sát nhân

Sao bằng bặt nín lặng

Chôn người năm Mậu Thân (1)

(1) Tết Âm Lịch, Mậu Thân ở Huế (31/1-24/2/1968), hơn 5000 người bị giết, chôn sống.

#2.

Thầy trí sáng quyết liệt

Bắt ấn chống đế quốc

Cuối cuộc về Huế chết

Mặt trận kết huân chương

#3.

Thiền giả thật thông tuệ

Dứt khoát bỏ bến mê

Vợ, con rõ đùm đề

Chân sư chùng khóc kể!

#4.

Kiếm Đạo cao hiệp sĩ

Vung đao chém tuyệt kỹ

Chớp mắt giết mấy người

Chết mắt không kịp nhắm!

#5.

Tướng soái Đức Quốc Xã

Buổi giàn trận tiến quân  

Quân phục phải ủi thẳng  

Móng tay cắt sạch bong.

#6.

Hổ chúa tể sơn lâm

Gầm rú động núi rừng

No mồi ngủ im lặng

Thịt máu không muốn ăn

#7.

Từ linh trưởng tiến lên 

Dần nên loài siêu việt

Trên biên đoạn sống/chết

Ăn Thịt và Giết Người.

#8.

Ôi Tội sống trên đời

Tổ tiên hằng mang nặng

Từ thiên thu truyền lại

Dài thân phận làm Người!

Chịu thôi!

#9.

Nghĩ quấy những chuyện nhỏ

Diễn biến từng hằng hà

Cuộc sống hóa ra vậy

Nào kêu với AI đây?

Phan Phi Danh,

Ngày mất/bỏ Long Khánh,

21/4/1975-2026.

Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 23 Apr 2026

Lúa đã bén rễ, lá xanh vượt khỏi mặt nước hơn gang. Cỏ dại mọc chen với lúa. Không nhổ tận gốc, cỏ sẽ mọc nhanh hợn lúa. Cái thứ mà người ta muốn diệt đi, nhổ hết đợt này, lại thấy ngoi lên đợt khác. Có người nói đùa, cỏ cũng biết làm cách mạng. Dù là câu nói đùa, nhưng cách mạng nghe được, thì đời của kẻ phát ngôn linh tinh bị khốn ngay. Bao nhiêu phân xanh, dìm xuống mộng trước khi làm mùa, cỏ dại ngốn hết. Nếu không cổ sức người bảo vệ cây lúa, đến mùa thu hoạch, chỉ gặt toàn rơm và lúa lép. Dưới ruộng, một đám đàn ông tiều tụy, lom khom nhổ cỏ. Công việc xem ra không lấy gì làm nặng nề, nhưng sau một buổi làm việc, không ai có thể đứng thẳng lưng được. Xương sống dã quen với thế uốn cong. Muốn lấy lại thế đứng bình thường, phải choàng tay ra phía sau, chà xát và dần ngang thắt lưng một lúc cho máu lưu thông, rồi từ từ ểnh xương sống lên cho thẳng. Họ là tù khổ sai. Tù khổ sai ở đâu cùng có những quy luật khác nghiệt của nó. Quy luật của chế độ xã hội chủ nghĩa, còn tiến xa hơn một bước. Tù nhân bị tước mất nhân phẩm. Giá trị con người của họ, đơn thuần chỉ còn là những sinh vật biết cử động. Đề giảm bớt ý nghĩa của sự khốn nạn, người ta đặt tên mới cho tù nhân là cải tạo viên. Và trại tù được đổi thành trại tập trung lao động cải tạo. Trời rét dữ. Sương muối nặng như có mưa phùn. Nước ruộng ngập nửa ống chân, tê cóng. Thỉnh thoảng, có người nhấc chân lên, kẹp con đỉa trong nắm cỏ, rứt ra. Cái lạ ở việc đã mất máu vì chế dộ, nhưng vẫn còn thừa để nuôi loài đĩa đói.

Trên bờ. Hai chị công an phụ trách về nông nghiệp, đốt một đống lữa nhỏ, nhàn rỗi ngổi hơ tay, tán gẫu. Chị bụng bầu, mặt tai tái, mất quầng thâm mệt mỏi. Chị kia trẻ hơn, mặt căng da mỡn, đầy sinh lực. Chị bụng bầu ngó lên màu trời trắng đục: “Chán! Làm đơn xin về tỉnh, lại bị tống vào nơi tối tăm.”

Chị trẻ: “To đầu mà đại. Giao tế tiền bạc, tạo điểu kiện trước. Khi nào được trên chấp thuận, thì làm đơn để hợp thức hoá.”

“Tiền, tiền. Gi cũng tiền. Muốn có tiền, phải đưa con người ta về chỗ nào còn quơ quào kiếm chác được. Đưa về với bọn chết đói này, đến cọng rau cũng không còn, lấy gì giao tế? Có lột quần ra mà ăn.”

“Không tiền thì dùng sắc. Nhưng đừng cho hưởng vội. Phải nhữ mồi trước. Khi nào có kết quả, chị xơi.”

“Ranh thế, sao mày còn bị đày về đây?”

“Chưa gặp thằng trên có đủ quyền quyết dđịnh. Cho mấy thằng dưới hưởng, chỉ nghc khoác lác nhảm, chứ được gì!”

Cơn gió nhẹ quét qua. Ngọn lúa lao xao. Chi bụng bầu im lặng một lúc, nhìn lúa, chừng như suy nghĩ. Rồi mở túi sắc, rút quyển sổ nhỏ ra xem. Xong, chị ngẫng đầu lên, gọi: “Này! Các anh kia đi!”

Những người đàn ông đang nhổ cỏ lúa dưới ruộng, ngừng tay, ngó lên bở.

“Anh nào có trình độ đại học, lên đây tôi bảo.”

Mọi người nhìn nhau. Không ai lên tiếng.

Chị bụng bầu hởi: “Chả ai có trình độ đại học à?”

Một người dưới ruộng, hỏi lại: “Có chuyện chi không, cán bộ?”

“Tôi cần một anh có trình độ. Anh là tổ trưởng? Thôi, chính anh cũng được. Lại đây. Còn những anh kia, tiếp tục làm việc đi.”

Anh tổ trưởng bước lên bở, co ro đứng chở.

Chị bụng bầu nói: “Anh đếm bước theo chiều dài chiều ngang của mỗi thửa ruộng. Cứ bảy mươi bước đôi là trăm mét. Dài nhân ngang là ra diện tích mặt bằng. Anh biết công thức tính diện tích chứ?”

“Vâng. Tôi biết.”

“Tốt! Cứ theo chỉ dẫn của tôi mà làm. Giấy viết đây này. Ghi vào, Tính toán xong, cho tôi kết quả.”

Anh tổ trưởng cầm giấy viết, đi dọc theo bờ ruộng và dếm bước.

Hai chị công an lại tán gẫu.

Gió bấc hiu hiu. Sương muối nhoà đồi cọ trung du.

Chị trẻ kẹp hai bàn tay vào nách, rúm người; “Trời lạnh, làm gì thích nhỉ?”

Chị bụng bầu, vừa nói vừa cười: “Đéo là thích.”

“Khẽ! Không ngại bọn chúng nghe?”

“Mặc chúng!”

“Bụng to thế, mà đêm thằng Nọc thủ kho vẫn đến à?”

“Quan hệ thể xác, để trao đổi những thứ hắn bòn rút được trong kho.”

“Tướng hắn như voi. Coi chừng sấẩ thai đấy.”

“To xác bé chầy. Thằng quản giáo Cậy mới kinh.”

Chị trẻ rút vai: “Ừ Thằng Cậy kinh thật.”

Chị bụng bẩu: “Chỉ có nó trị nổi mày. Đêm nó quất cho vài cú là ngất ngư. “

Chị trẻ cười rúc trong cổ: “Thế, vẫn thích hơn cái lão thủ trưởng, nhấp nha nhấp nhứ, chả ra làm sao cả. Này, tao thấy lão thủ trưởng hay để ý chăm sóc mày. Có phải lão là tác giả của cái bầu này không?”

“Tao máng ách cho lão. Chứ thật ra, cũng chả xác định được thằng nào. Nhưng tao vẫn nghĩ của thằng Cậy.”

“Chơi với thằng Cậy dễ bị nó gico bùa, như mày dấy. Lần nào gặp nó, tao cũng bã người.”

Cuộc tán gẫu ngừng, khi anh tổ trưởng đi lại báo cáo diện tich đã đo đạc tính toán xong.

Chị bụng bầu cầm mành giấy, nói: “Đi làm việc đi.”

Anh tổ trưởng đứng xoa tay: “Xin cán bộ cho anh em nghỉ giải lao.”

“Đã đến giờ đâu mà đòi giải lao?”

“Trời lạnh, Xin cán bộ thông cảm.”

“Lạnh, thì làm việc vào cho nó ấm.”

“Ngâm dưới nước lâu. Anh em tê cả tay chân rồi.”

“Luôn luôn đòi hỏi. Thôi được. Cho nghỉ. Mười nhăm phút nhé.”

Anh tồ trưởng gọi lớn: “Anh em giải lao!”

Mọi người lên bờ, kéo nhau về phia chân đồi, ngồi nghỉ. Từng cụm năm ba người, hút thuốc lào, và nói chuyện. Chẳng ai than phiền gì về tình trạng khốn khổ phải làm việc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Nhiều năm tháng chịu đựng đã quen rồi. Một anh công an bảo vệ, mang súng lại gần đống lửa cùa hai chị cán bộ, đốt thuốc, hơ tay, mặt nghinh ngó xoi mói.

Chị trẻ: “Này, ngồi xích ra. Đừng có lạm dụng nhé.”

Anh bảo vệ: “Ổi giời! Tưởng quý lắm đấy?”

Chi bụng bầu: “Lấn mãi, tôi ngã xuống ruộng mất. “

Anh bảo vệ nhìn chị bụng bầu, cười nhăn nhỡ: “Bụng to phình thế kia, lúc xổ lòng, cả đội tù làm vệ sinh, hốt cũng không xuể.”

“Ranh con! Ăn nói chết duyên. Tù hốt không xuể, mày ăn đi.

“Ngủ với thằng nào, thì bảo thắng ấy ăn. Tao vô can.

Chị bụng bầu mắng: “Mặt lồn, mốm thối. Chả trách theo ve vãn mấy đứa con gái ngoài lùng, nó cũng chê.”

Anh bảo vệ đứng dậy đi lên đồi, còn ném lại phía sau:

“Mấy con heo nái, động đực cả đêm. Ai lạ gì!”

Chị trẻ ngó theo, rủa: “Đồ thối tha, ma chê chó gặm.”

Chếch về phía tây đổi cọ, là ruộng của hợp tác xã. Năm chị người Tày, đang nhổ cỏ lúa. Nhiều lúc họ cầm nắm cỏ, vẫy nước vào nhau cười đùa. Hình như họ không sợ thời tiết mùa đông trung du. Ba thằng bé Tày trên đồi, lùa trâu xuống, đẩm dưới cái vũng chân đồi. Rồi chúng đi lại chỗ nấu nước, nơi có những người đàn ông gầy héo, đang co ro hơ lửa.

Một người hỏi: “Áo quần phong phanh như vậy, cháu không lạnh sao?”

Thằng bé đáp: “Chỉ nghe mát,”

“Mấy chị đng kia, là chị của cháu hả?”

“Là vợ.”

“Cái gì?”

“Vợ.”

“Vợ ai?”

“Vợ cháu.”

Người đàn ông ngạc nhiên: “Cháu mấy tuổi mà có vợ?”

“Mười hai,”

“Vợ mấy tuổi?”

“Hai mươi ba.”

Người đàn ông nhìn vào thằng bé bên cạnh: “Còn chú nhỏ này thì sao?”

“Thằng này thì chưa. Nhưng thằng kia cũng có vợ.”

Thằng bé chỉ tay về hướng ruộng hợp tác xã. “Đấy. Đấy. Người vừa bước lên bờ là vợ nó đấy.”

Người phụ nữ từ xa, vẫy tay réo gọi: “Thằng ôn dịch kia. Hãy lùa trâu lên ngay.”

Thằng bé chạy đi lùa trâu.

Người đàn ộng hỏi: “Cháu có nới giỡn không?”

“Gỡn là đùa đấy hả? Cháu không đùa”

“Sao vợ lại mắng chồng là thằng ôn dịch?”

“Vợ nó hỗn. Vợ cháu cũng hỗn. Lắm khi vợ còn đánh cháu nữa.”

“Ba má cháu không can thiệp à?”

“Can thiệp gì? Bố mẹ nói cháu hư. Bảo vợ phải đánh.”

Người đàn ông lắc đầu: “Vợ chồng kỳ cục!”

Thằng bé ngồi gần thùng nước, hỏi vọng về thằng bé lùa trâu: ‘Có không?”

Thằng bé lùa trâu: “Có.”

“Căng không?”

“Tạm.”

Thằng hé lùa trâu, cầm túi nylon đi lại. Nó giơ cái túi lên, khoe, Bên trong lúc nhúc mấy con đĩa trâu, căng phồng no máu, chúng hút những cuống bông cỏ, cẩn thận buộc chặt hai đầu con đĩa.

Người dàn ông hải: “Bắt đĩa làm trò chơi à?”

“Không chơi. Nướng ăn.”

Người đàn ông trợn mắt: “Trời đất! Ăn đĩa?”

“Không ăn đĩa. Chỉ an tiết trâu. Như người ta vẫn ăn tiết lợn, tiết gà đấy.”

“Nhưng cháu ăn tiết trâu bằng cách nào?”

“Cho con đĩa hút máu con trâu. Xong, cho đĩa vào lò nướng.”

“Sao phải buộc hai đầu?”

“Nếu không, khi cho vào lửa nó phọt tiết ra hết.”

Thấy chuyện la, những người đàn ông bu lại xem. Thằng bé quẳng mấy con đĩa vào đống lửa. Con đĩa quằn quại vài cái rồi nằm im. Nó dùng cái que khều qua khều lại, nướng đến khét. Gắp ra, cạo lớp vỏ bên ngoài. Còn lại thỏi tiết tròn, dài bằng ngón tay, màu đen. Chúng chia nhau, ăn.

“Ngon không?”

“Ngon. Tiết nướng thơm hơn tiết luộc.”

Người đàn ông lắc đầu: “Một kiểu ăn tiết trâu lạ đời.”

Một người khác, hỏi thằng bé có vợ: “Đêm cháu ngủ với ai?”

Nó nói: “Với vợ.”

“Cháu có làm gì vợ không?”

“Đi ngũ thì ngũ, chứ làm gì.”

“Vợ có ôm cháu không’!”

“Trời lạnh, vẫn ôm.”

“Cháu có ôm lại không?”

“Có chứ.”

“Chỉ ôm nhau ngủ, mà không làm gì?”

“Đắp chăn, hoặc gác chân lên nhau nữa.”

Những người đàn ông nói nhỏ với nhau: “Chờ đến khi nó hiểu biết, đời con gái xuân thì, cũng tàn phai.”

“Tục lệ tảo hôn, tưởng đã di vào quá khứ lâu rồi. Ai ngờ, ở đây vẫn còn tồn tại.”

Anh công an mang súng đã tới. nói với những thằng bé:

“Này! Oắt con, không được quan hệ.”

Thầng hé nói: “Tôi chỉ ngồi chơi.”

Công an nạt: “Không được, cút ngay. Vợ mày gọi đấy.”

Thằng bé vênh mặt, trề môi: “Làm kiệu. Mai mốt ra nhà, đừng hòng xin xỏ thứ gì.”

Nói xong, nó đứng dậy, đi về phía những con trâu.

Công an: “Lũ ranh. Lắm trò đáo để. Có vợ rồi đấy.”

Người dàn ông hỏi: “Sao các cô chịu làm vợ những đứa bé con?”

“Dễ thôi. Gái núi chỉ đáng giá con trâu. Có trâu là cưới được vợ. Người nhiều của, cưới vợ sớm cho con để có người làm lụng việc nhà, việc đồng. Khi thằng oắt đến tuổi trưởng

thành, thì vợ đã già. Nó bỏ vợ già, cưới con vợ đồng lứa với nó. Những thằng trai nghèo, cưới lại con vợ già của thằng vừa bỏ ra, không phải nạp con trâu.

Xế chiều. Những chị người Tày nhổ cỏ lúa bên phần ruộng hợp tác xã, lên bờ. Họ gọi mấy ông chồng nho nhỏ lùa trâu ra về, ngang qua hai chị công an.

Chị trẻ lên tiếng: “Về sớm thế!”

Chị người Tày giơ lay chàc: “Xong rổi. Em về nhé. Về làm việc khác.”

Khi những chị người Tày đi khỏi, chị bụng bầu nói: “Ban ngày làm quần quật. Ban đêm ngũ với thằng oắt con đái dầm. Chán chết.”

Chị trẻ: “Tao nghĩ nó cũng phải dạy cho thằng oắt chứ.”

“Ừ, thì có dạy. Nhưng cái đuôi thằng oắt như cái đuôi chuột ngo ngoe. Chỉ làm điên tiết.”

-Giới thiệu thằng Cậy cho nó một lần thôi. Dù có cho ăn vàng, nó cũng bỏ thằng oắt.”

“Dâm như mày, còn phai chết ngất vì thằng Cậy, Huống chi ai?*

Chị trẻ cười, vỗ vào đùi chị bụng hầu: “Thế mày không ngất hả?”

Hai chị cười sùng sục.

“Này, Tao thấy hình như vợ của lão thủ trưởng cũng có gì với thằng Cậy đấy,”

“Hình như gì nữa? Tháng trước, mụ ra đội rau xanh của nó xin rau quả gì đấy. Nó tấn mụ vào nhà lô cả buổi. Khi ra về, tóc tai mặt mũi mụ bơ phờ. Chuyện này, bọn tù cũng biết.”

“Thấu tai lảo thủ trưởng. thì đời thằng Cậy bị khốn ngay.”

Chị trẻ nhìn đồng hồ đeo tay: “Hôm nay cho tù về sớm. Thằng tổ trưỡng có xin cho bọn chúng đi tắm suối.”

Chị bụng bầu: “Ngâm nước cả ngày, còn tắm gì nữa?”

“Nước ruộng bùn sình. Cứ cho chúng tắm. Lạnh thế này, chúng cũng chỉ rửa chân tay thôi. Thiệt thòi gì mày?”

“Chưa đủ chỉ tiêu.”

“Mai làm tiếp. Trông chúng đuối rồi. Sức chịu dựng của bọn tà cũng gớm thật. Đói ăn, lại ngâm nước lạnh cả ngày.

Thế mà chưa thằng nào bị ngã. Làm thêm nữa, có thằng nằm vạ ra đấy.”

Chị bụng bầu phân vân: “Về sớm, nhỡ kiểm tra bắt gặp?”

“Lúc đó sẽ viện lý do, đổ thừa cho cái bụng bầu của mày có vấn để không ổn.”

“Ừ. Về thì vệ,”

Chị trẻ gọi. “Này, anh tổ trưởng ơi, bảo thu dụng cụ.”

Anlı tổ trưởng che tay làm loa gọi lớn: “Thu dụng cụ!”

Những người đàn ông uề oải kéo nhau lên bờ. Xong một ngày làm việc, mùa đông.

Trên đường ra suối. Hai chị công an nói với nhau về dự định tối nay ấp ủ với ai cho ấm và cười khúc khích. Những người dàn ông thì thắc mắc, không biết bữa ăn chiều nay có thay đổi, hay cũng vẫn sắn kho nước muối thường ngày?

Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 23 Apr 2026

Nhân vật xưng “tôi” trong các truyện không phải là tác giả. Mọi truyện đều là hư cấu, nếu có sự trùng hợp chỉ là ngẫu nhiên.

Tính tôi không thích khoe khoang, nhưng quả thật vợ tôi là một nhà thông thái, đúng hơn là một đại trí thức, bởi vì gì cô ta cũng biết cả. Xin đừng nghĩ rằng trí thức phải có bằng cấp, ở Mỹ có ông Edgar Brower Burcher, chuyên chùi nhà mà có chân trong viện Hàn Lâm, lại được các trường đại học ở khắp năm châu mời đến giảng dạy. Vợ tôi cũng thế, tuy có khá hơn một chút là có cái bằng tốt nghiệp khóa hớt tóc, nhưng những hiểu biết của cô, chắc gì mấy ông tiến sĩ, thạc sĩ biết được. Ví dụ, khi nhảy mũi, tốc độ vi khuẩn từ lỗ mũi văng ra là bao nhiêu ki lô mét giờ? Các ông thiên văn có giỏi bằng trời cũng không biết sao Thiên Phủ nằm chỗ nào! Chuyện nầy tôi sẽ kể sau.

Điều đặc biệt là những gì cô biết được chỉ nhờ một thứ duy nhất là báo chí, loại báo mà người Việt xứ Mỹ gọi là báo biếu, báo chợ. Thực ra từ lúc cô ta lên xe hoa để trở thành cái của nợ của tôi, cô chẳng hề đọc sách báo bao giờ, đó là thuốc ngủ của cô ta. Hể quyển sách được mở ra thì hai mắt cô ta tự động nhắm lại. Nhiều lần, buổi tối khi vô giường ngủ, cô thường lèng èng tôi đủ thứ chuyện, tôi bực mình đưa cô tờ báo

– Em làm ơn đọc giùm anh hai dòng đầu của mục nầy, xong rồi anh sẽ nghe em, muốn nói gì cũng được

Quả nhiên, chỉ mới một dòng, cô đã ngủ khò rồi. Ấy vậy mà sau nầy cô lại là người thâm cứu về báo chí mới là lạ. Cô bảo:

– Em không ngờ báo chí là một thế giới huyền bí mở ra những chân trời bao la, sâu thẩm. Là một món ăn tinh thần lành mạnh, phong phú … mà không tốn tiền. Đúng là nhà thông thái, nói ra nghe rất huyền bí!

Thường Thứ Sáu đã có báo ở các tiệm chạp phô rồi. Cô có cái mánh là đi từng tiệm, mua một ít vật thực gì đó, lúc trả tiền, cô xin một tờ báo. Chỉ đi một vòng là cô có đủ các mặt báo để nghiên cứu. Cũng may cô ở tiểu bang Virginia, ít báo tiếng Việt, chứ cô mà ở Texas hay Cali, thì những hiểu biết của cô … ai mà chịu thấu! Buổi tối thứ sáu, cơm nước xong trời vừa tối, cô tự pha cho mình một ly cà phê, rồi vừa thưởng thức cà phê vừa đọc báo. Có hôm, ngủ được một giấc, tỉnh dậy, tôi vẫn thấy cô ngồi ở phòng khách giở báo sột soạt. Tôi bảo:

– Đi ngủ đi, sáng mai đọc tiếp.

Cô mang báo vào giường, lại sột soạt suốt đêm, cho đến khi thanh toán xong chồng báo cô bắt đầu ngủ, đến mười một giờ sáng thứ bảy cô mới dậy, khiến cha con tôi nhịn đói buổi sáng, có lầu bầu thì cô bảo:

– Báo có nói, buổi sáng nhịn đói, chỉ cần uống hai lít nước ấm, rất tốt cho sức khỏe.

Nói thì thế mà sáng nào phần điểm tâm của cô cũng gấp đôi của cha con tôi gộp lại!

Tôi xin thưa rõ là vợ tôi nói có sách mách có báo. Vì khi nghe cô nói gì mà tôi có vẻ nghi ngờ là lập tức cô đem tờ báo ra chứng minh, có tên báo, số báo đàng hoàng. Cô thường cắt ra những mục mà cô cho rằng quan trọng và dán khắp nơi. Ở tủ lạnh có mục nấu nướng, cách bảo quản thức ăn, cách đi chợ, cách diệt từ gián, ruồi … Tủ thuốc gia đình có mục bảo vệ sức khỏe, cách phòng ngừa các thứ bịnh. Ở bàn phấn của cô lại càng nhiều hơn, gồm các cách trang điểm dạ hội, đám cưới, đám ma, có cả cách võ trang, vẽ mặt sao cho dữ dần khi đi bắt ghen nữa! Rồi áo quần thời trang Xuân, Hạ, Thu, Đông; các kiểu tóc, các kiểu mắt, các loại giày. Đặc biệt còn có các cách cười. Cười với người mới quen, với bạn thân, với gia đình bên chồng và cả cách cười với bồ nữa. Tính tôi hay ghen nên tôi chú ý nhất là cách cười với bồ, để đi đâu tôi để ý xem cô ta dùng nụ cười đó với ai thì tôi biết ngay “Chúng nó đã tình ý nhau” và tôi bắt gặp cô dùng nụ cười đó nhiều lần, nhưng chỉ để thực tập trước gương soi thôi. Và dù nghiên cứu, áp dụng đúng như báo chỉ dẫn tôi cũng chẳng thấy dung nhan cô ta được cải tiến bao nhiêu. Ấy vậy mà khi nào trang điểm xong cô hỏi ý kiến tôi

– Xem có được không?

Tôi phải trợn mắt lên kinh ngạc:

– Oh, my God! Chưa bao giờ em đẹp như thế nầy, đẹp ác liệt, đẹp toàn diện. Anh không xứng đi cạnh em!

Cô sướng mê nhưng làm bộ nghi ngờ:

– Anh xạo em.

– Đứa nào xạo làm con chó

Tôi biết thề cho cô vui lòng chứ chẳng thần thánh nào chứng giám, nếu không tôi đã thành con chó từ ngày đầu “Em tan trường về, anh lon ton chạy theo sau” lâu rồi. Nhưng sau nầy, một lần, trước khi đi dự đám cưới, cô hỏi tôi:

– Anh thấy em nên mặc áo quần nào?

Tôi ngạc nhiên:

– Mọi khi em nghiên cứu trên báo để ăn mặc, sao bữa nay lại hỏi anh?

Cô chỉ cho tôi mảnh báo dán ở trên vách: Lịch Sự Trong Đời Sống Vợ Chồng (Báo Việt DC số 21) “Chọn trang phục hợp với sở thích của chồng, chứ không chỉ hợp với sở thích của những người quen của mình”. Tôi đọc xong, cô ta hỏi:

– Anh thích em mặc áo nào, màu nào?

– Anh thích em chẳng mặc gì cả!

Dĩ nhiên cô có ngắt véo tôi mỗi khi nổi xùng, tôi coi như ba chuyện lẻ tẻ, chẳng cần quan tâm. Trong mảnh báo đó còn có nhiều mục cô bắt tôi phải học thuộc lòng để nhớ rõ nhiệm vụ người chồng đối xử với vợ cho lịch sự. Tôi áp dụng ngay buổi tối dự đám cưới đó. Ở xứ Mỹ, các bà gặp nhau như lân gặp pháo, cứ tíu tít hỏi han nhau. Khi ngồi vào bàn, cô ta trách tôi

– Sao thấy bạn em mà anh không thèm chào hỏi một tiếng, cứ làm như người mù.

– Để anh đọc cho em nghe lịch sự của người chồng

“Khi có mặt vơ, không ngoái nhìn những phụ nữ khác”

Cô tức sôi gan:

– Họ là bạn em, người ta đứng sờ sờ trước mặt, có bắt anh ngoái nhìn gì đâu. Rồi cô thò tay xuống gầm bàn ngắt đùi tôi đau điếng.

– Thế lúc không có em thì anh ngoái nhìn chứ gì. Có không?

Tôi lễ phép trả lời: Dạ không!

Cô cũng theo trong bài báo đó bắt tôi “Khi ra khỏi nhà (chồng) phải nói cho vợ biết mình đi đâu” Tôi áp dụng ngay “Thưa vợ, chồng đi tưới cây, thưa vợ, chồng đem thùng rác ra đường”. Tôi đi làm sớm, mới năm giờ sáng đã dậy đi cày, trong lúc cô còn ngủ say. Tôi đánh thức cô dậy:

– Này, này dậy nghe anh nói, anh đi làm nghe em!

Hôm sau cô lấy bút gạch bỏ mục thưa gửi đó. Cũng nhờ nghiên cứu trong báo mà môn nữ công gia chánh cô rất giỏi. Mỗi khi muốn nấu món gì, cô giở bộ sưu tập gia chánh ra, ghi chép những gì cần đi chợ mua về, rồi đọc tiếp phần “Cách Nấu”, quan trọng nhất là phải canh đồng hồ cho đúng giờ phút, dùng nhiệt kế để đo nhiệt độ nước ngâm vật liệu, có khi phải dung quạt máy cho thoáng khí, dùng khăn ướt lấy độ ẩm … Tôi sợ nhất là lúc cô thiếu món gì đó, sai tôi đi mua, mua không đúng phải đi đổi, vất vả trăm bề. Một lần tôi đề nghị cô đi mua còn tôi canh bếp. Tính cô cẩn thận, ghi vào mảnh giấy nồi nào, giờ nào mở nắp, đậy nắp, nhắc xuống hay để lửa lai rai, thêm nước hay vớt món nào ra. Tôi làm đúng chỉ thị nhưng lẫn lộn nồi nầy qua nồi kia, nên nồi thì khét nồi thì sình lên. Cô về thấy thế, bưng trút hết cả vô thùng rác rồi ngồi khóc ròng khiến cha con tôi phải dỗ cả buổi. Dĩ nhiên bữa đó chúng tôi dùng món chủ lực, thường xuyên là mì ăn liền. Cô cũng rành về món ăn tàu nữa. Một lần dự đám cưới ở nhà hàng, có món chân gà nhậu rất thích, cô bảo:

– Món chân vịt bắc kinh nầy nấu đâu có khó, tuần sau em làm cho anh ăn, ngon hơn ở đây nhiều.

Tôi bảo nhỏ: Đây là chân gà, là con kêu cục tác cục tác chứ không phải chân con vịt là con kêu cạp cạp đâu.

Cô trề môi: Làm như người ta không biết! Em có cả chục cách nấu chân gà, toàn những món cho vua chúa bên Tàu ăn chứ không phải món bình dân tầm thường. Và cô làm thật, đúng như báo đã chỉ, thơm phức, nghe mùi đã chảy nước miếng, có điều gặm hoài không ra chút da, gân nào cả, cô bảo: Báo không ghi nấu trong bao lâu.

Tôi an ủi:

– Không sao, ăn thua là mút chút nước dính ở ngoài mới ngon, chứ cẳng gà, chỉ xương với gân ..

Có những nghiên cứu, phát minh chỉ mới công bố trên báo chí mà cô đã áp dụng rồi. Một buổi chiều, cơm nước xong, thằng con đòi ăn cam, tôi định đi cắt cam thì cô ta ngăn lại “Để em” rồi cô đi bắt một nồi nước lên bếp, mở lò. Tôi tò mò hỏi, cô chỉ một mảnh giấy báo gắn trên tủ lạnh “Bạn muốn lột vỏ một trái cam một cách dễ dàng? Đây là mẹo vặt do MP sưu tầm được. Bạn hãy bỏ nguyên trái cam còn nguyên vỏ vào trong một nồi nước nóng đang sôi sùng sục trên bếp. Để vài phút cho nước sôi, rồi lấy nguyên cái nồi nước ra khỏi lò và để ra ngoài khoảng ba phút. Đổ nước ra và để cho nguội, lúc đó bạn chỉ cần búng tay là vỏ cam tuột ra hết trơn!” (Phố Nhỏ 412 July 12. 96) Tôi suýt soa khen phương pháp bóc vỏ cam đầy khoa học kỹ thuật đó.

Trong lúc chờ đợi, cha con tôi ra sau vườn đá banh, đến gần tối, vô, thì thấy cô đang dùng tay búng vỏ trái cam, nhưng vỏ vẫn không tuột ra hết trơn chi cả. Lần khác, nhân tôi kể chuyện tôi đi tù cải tạo, bị rệp cắn sinh ghẻ, cô thở dài:

– Xứ Việt Nam chậm tiến là phải, có phương pháp giản dị mà cũng không biết.

Rồi cô lấy cho tôi xem bài báo Một Cách Giết Rệp Trong Nhà “Hãy lấy một tô nước, đổ vào đó một ít xà bông rửa chén rồi để dưới một ngọn đèn. Rệp sẽ bu vào ngọn đèn để tìm hơi ấm, rồi sẽ té vào tô nước xà bông mà … tự vận” (Phố Nhỏ 419 August 30-96) Tôi lại suýt soa:

– Thật đơn giản nhưng đầy tính thuyết phục, để anh chép, gửi vào các trại cải tạo ở Việt Nam. Ở trong tù tụi anh cũng có phương pháp nhưng phiền phức hơn của báo Phố Nhỏ, là khi bắt được con rệp, trói chân tay để đấy rồi kì ghét đất trong người, vò thành viên, banh miệng rệp ra, nhét vào, rệp sẽ nghẹt họng chết ngay.

Người ta bảo con hư tại mẹ, vì mẹ thường chìu con. Vợ tôi thì khác, cô cứ theo như báo chỉ dẫn thì chắc chắn con cái sẽ … ra sao? Thú thật tôi chưa rõ. Một hôm Đã hơn hai mươi năm, một lần tôi trót dại khen cô cô gọi cha con tôi ra phòng khách, giở tờ báo Phố Nhỏ ra và đọc rõ ràng từng chữ cho cha con tôi dễ lãnh hội

“Theo các thống kê về an ninh xã hội tại các nước nông nghiệp tiến bộ (nguyên văn) vào những ngày cuối năm, số trẻ thơ là nạn nhân của các tiện nghi cá nhân, gia đình rất cao” Xong cô đọc khoảng 30 cách để giữ an toàn trong gia đình. Cô nhấn mạnh điều tám “Không cho trẻ con rượt đuổi nhau trong nhà, trên thang lầu, ngoài sân … bắt chúng phải đi thật khoan thai” Thằng con tôi thắc mắc liền:

– Vậy chớ ba là người lớn, ba rượt con, con là trẻ con, không được chạy hả mẹ?

– Lớn nhỏ gì cũng không được rượt đuổi trong nhà, ngoài sân.

– Sao hôm trước mẹ lấy chổi lông gà rượt đuổi ba chạy quá trời?

– Mẹ rượt đuổi ai cũng được nhưng ba con và con không được chạy. Đuổi theo mệt quá!

– Không chạy thì phải làm sao mẹ?

– Thì phải khoan thai, báo đã nói rồi.

– Khoan thai là sao mẹ?

– Là phải đi uyển chuyển dịu dàng. Bây giờ con đi từ đây lại chỗ TV, xong quay lại … Đi như vậy không khoan thai, xem mẹ đi đây rồi bắt chước. Ngày xưa ba con chỉ thấy dáng đi sau lưng của mẹ mà đã mê tít thò lò. Đã hơn hai mươi năm một lần tôi trót dại khen cô đi uyển chuyển, dịu dàng, cô nhớ mãi đến bây giờ, nhưng mỗi cuối tuần cho tiền tôi đi uống cà phê với bạn, cô chẳng hề nhớ! Thế rồi cô bắt thằng bé đi tới đi lui sao cho đúng ý cô, trông như tân binh trong trung tâm huấn luyện. Có điều chú lính bé tí nầy đi chẳng khác gì một tên lại cái đang đi đưa đám ma. Dù sao cũng đỡ hơn điều sáu “TV, quạt bàn … cần để cao, vượt ngoài tầm tay trẻ thơ, coi chừng chúng gây nổ hoặc thò tay vào” Cô bắt tôi phải đưa cái TV lên nóc tủ buffet. Tôi rụt rè bảo:

– Cao thế thì thằng Cu Lì có đến chín chục tuổi cũng không thể với tới được. Chỉ sợ nó chạy đụng nhằm cái tủ, TV rớt xuống đầu.

Cô nạt ngay:

– Đã có điều tám, phải đi khoan thai, ai cho chạy mà đụng được.

Tôi phải xun xoe:

– Đúng rồi, điều tám, không chạy thì làm sao đụng được. Hay!

Thế rồi cái TV được để trên nóc tủ ở phòng ăn. Không thể ngồi ở phòng khách dòm qua phòng ăn để xem TV được, mà phòng ăn lại quá hẹp, cha con tôi cứ nghếch mõm lên mà nhìn, chỉ một lát mỏi cổ phải cúi gập đầu xuống cho thư giãn, rồi lại ngước lên giống như mình ra sân xem sao chổi vậy. Có than thở thì cô bảo:

– Xem TV ít thôi, xem nhiều mắc bịnh tâm thần. Ngoài việc giữ an toàn trong gia đình, cô còn biết cách tạo hạnh phúc gia đình nữa. Cô đem tờ Thời Mới Phụ Nữ Mới số 324 trang 24b ra và bắt tôi cùng cô nghiên cứu 22 cách mang lại hạnh phúc gia đình, trong đó khó nhất phải kể điều một “Ôm chặt nhau, bỏ ra năm phút trước khi ngủ để ôm nhau hoặc âu yếm, vuốt ve.

Nếu việc nầy dẫn đến việc khác thì càng tốt” Cô coi bộ thắc mắc:

– Sao lại chỉ năm phút thôi, mà lại trước khi ngủ, ôm chặt nhau thì làm sao âu yếm vuốt ve?

Chẳng phải cô kém thông minh, nhưng cô phải biết tường tận, tỉ mỉ để mang lại hạnh phúc gia đình. Tôi suy luận như thế nầy:

– Có lẽ đây là nhiệm vụ của anh chứ không phải của em. Anh phải chờ khi nào em vừa thiu thiu mắt là anh ôm chặt em một tay, còn tay kia thì âu yếm vuốt ve; em cũng làm như thế. Đúng năm phút thì ngưng, rồi lại chờ cho em sắp ngủ, lại ôm chặt em … Cứ thế suốt đêm.

– Còn việc khác là việc gì?

– Là mình đọc báo, xem TV, cái nầy dễ.

Bỗng cô ngước nhìn tôi một cách ngây thơ, e thẹn:

– Còn điều bốn: Ân ái tại nơi mà bạn tin là không thể làm được …

– Việc nầy càng dễ hơn, mình leo lên nóc tủ, chỗ cái TV.

– Không được đâu, nằm một mình đừng cục cựa thì được, chứ hai người, còn thêm vụ kia nữa, cái TV cũng rớt theo.

– Hay là mình leo lên chạc ba cái cây trước nhà mình, cơn bão vừa rồi cây đó còn không ngã, huống gì hai đứa mình, chắc gì nó lúc lắc …

Cô lại lắc đầu, tôi phải động viên:

– Mình không tin có thể làm được, mà làm được, thế mới hạnh phúc chứ!

Cô lại lắc đầu và triết lý:

– Đây là chuyện của thiên nhiên, bày đặt kiểu cọ, rủi rớt xuống, què tay gãy chân, tới bịnh viện họ hỏi tại sao, khó nói quá!

Chiều Thứ Bảy nào cô cũng bắt cha con tôi tổng vệ sinh trong nhà. Hút bụi dưới gầm giường, xếp tất cả các báo mà cô đã đọc và vứt khắp phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp … vào một chỗ. Cần nhớ tờ nào cô đã đánh dấu bằng mực đỏ phải để riêng cho cô nghiên cứu lại. Vì mũi tội dị ứng với bụi nên vừa cúi xuống góc phòng nào là nhảy mũi liên tục, cô cau mày bảo:

– Khi nhảy mũi phải che mũi lại, vi trùng văng qua người khác, lây bịnh.

– Nhưng nếu tìm được cái khăn thì trễ rồi. Vả lại em ở dưới bếp, anh ở trong phòng, vi trùng làm sao tìm ra em để mà lây bịnh!

Cô lắc đầu nhìn tôi thương hại:

– Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe. Báo Thủ Đô Thời Báo ngày 12-7-97 cho biết rằng: Cứ mỗi cái hắt hơi mạnh là phát ra 100 nghìn phân tử mang theo những vi khuẩn, tung bay trong không khí lâu trên một phút đồng hồ. Sau nửa giờ cũng còn 4000 vi khuẩn bay trong không khí. Sau cái hắt hơi, các vi khuẩn bị hắt hơi ra từ lỗ mũi có thể di chuyển với tốc độ 160 km giờ.

Tôi làm bộ ngơ ngẩn để cô dịp trổ tài thông thái:

– Thế em biết vì sao anh bị hắt hơi không?

– Thì bị dị ứng, cứ mười người có một người dị ứng với chất nào đó.

Tôi định chọc quê cô:

– Vậy chứ bịnh dị ứng có ảnh hưởng gì đến chuyện đó đó không?

– Ở Mexico có cặp vợ chồng dị ứng nhau. Cứ mỗi lần hai người gần gũi thì bà vợ bị nổi mề đay khắp người, còn ông chồng hắt hơi liên tục, ầm ĩ khắp nhà cửa.

– Thế họ có làm ăn gì được không?

– Em nghĩ, hắt hơi ở lỗ mũi … đâu có sao. Nhưng nghe nói họ phải li dị.

– Thật tội nghiệp, nhưng lỗi là ở ông chồng không có sáng kiến giải quyết trở ngại. Anh biết một chuyện. Có hai vợ chồng ông xếp ga, mỗi khi gần gũi nhau bà vợ lại đánh rắm, cứ bộp bộp như ếch kêu đêm. Hành khách không biết con gì kêu nhưng nhân viên thì biết rõ.

– Thế thì kỳ cục quá, phải làm sao cho người ta không biết mình đang làm gì trong phòng chứ!

– Thì mới cần sáng kiến, ông xếp ga bèn nhét nút hậu môn bà xếp ga thì làm sao nghe bộp bộp được. Có điều, nhân viên làm việc trong ga lại xì xầm rằng ông  xếp đã bị bịnh bất lực.

Cô gật gù:

– Họ xì xầm mặc họ, miễn đừng nghe tiếng bộp bộp là tốt rồi.

– Nhưng cũng có một lần vì bà xếp ga thúc hối quá, ông xếp ga quýnh quíu lấy đại cái tu huýt nhét vào hậu môn bà ta. Thế là cứ nghe huýt huýt loạn cả nhà ga. Ai cũng tưởng đó là lệnh của xếp ga. Nhân viên thì chạy ngược chạy xuôi. Xe lửa vừa ngừng lại phải chạy. Xe đang chạy phải ngừng lại. Hành khách nhốn nháo … Cả tiếng đồng hồ sau mới hết tiếng huýt còi.

Cô cười ngay vào mũi tôi: Anh xạo!

Tôi bực mình: Lạ! Em nói thì anh tin ngay, còn anh kể, em bảo anh xạo!?

– Làm gì đến cả tiếng đồng hồ!

Mục đó, cô cực kỳ thông minh, nhưng tôi lại đau khổ, khác gì cô chê tôi: Anh dỡ ẹt, thua người ta xa, chỉ bằng một phần ba mươi của ông xếp ga! Dù sao các bà có lẩn quẩn trong chuyện bếp núc, gia đình, thời trang thì cũng chấp nhận đươc. Đằng nầy vợ tôi còn nghiên cứu đến chính trị, kinh tế, xã hội trên toàn cầu nữa mới ghê. Một lần, đang đọc báo, cô có vẻ suy nghĩ: Hình như ý niệm về một lãnh tụ tốt của người Âu Mỹ khác xa với người Á Đông.

Tôi vội hỏi: Chuyện gì vậy?

– Tổng thống gì, thiếu đạo đức mà cũng bầu cho nhiệm kỳ hai. Em ghét đàn ông lăng nhăng. Đụng em là

vợ, em cho sát gốc luôn. Người khác chắc chẳng hiểu gì, nhưng tôi hiểu ngay cô muốn nói đến bản tin của báo Đời Nay số 283 đã đăng tin bà Phương ở Vancouver vì ghen nên cắt chim chồng bỏ vào cầu tiêu, giật nước cho trôi mất tiêu. Bài báo nầy cô cắt dán ở cửa phòng như một lời cảnh cáo.

Tôi biết vợ tôi, dữ hơn bà Phương đó rất nhiều nên vội trả lời:

– Anh cũng không ưa người lăng nhăng, dù là tổng thống hay người bán xăng như anh cũng phải giữ gìn trinh tiết của người chồng. Giả dụ như có cô công chúa giàu đẹp hay cô hoa hậu thế giới đem cho anh, thử anh có chịu không? Không bao giờ! Đã có vợ thì chỉ nên biết một mình vợ thôi …

Cô chận ngang: Vậy chứ lúc chưa có vợ, anh biết mấy cô rồi?

– Ơ, anh đâu biết ai ngoài em đâu!

Tôi sợ cô hỏi tiếp, truy tôi về dĩ vãng và hiện tại thì nguy to nên vội đánh trống lãng: Vậy chứ em biết vì sao bà Phương cắt chim chồng không?

Cô không thèm nhìn tôi:

– Hỏi tức là trả lời rồi đó, chồng bà Phương cũng lăng nhăng như anh vậy. Nhưng em không đối xử tệ bạc như bà Phương đâu, dù sao cũng là chồng mình, kéo dài sự đau đớn, tội nghiệp. Em sẽ dùng cái liềm gặt lúa, nhẹ nhàng, nhanh chóng, ít đau …

Tôi nghe mà dựng tóc gáy, nhưng cũng mừng vì cô là người Xã Hội Chủ Nghĩa, nên chỉ dùng cái liềm. Cô mà “Quá độ tiến lên Cộng Sản Chủ Nghĩa” dùng vừa búa vừa liềm thì nguy. Tưởng tượng cô lấy búa đập cho dập rồi mới dùng cái liềm thanh toán thì … thà chết sướng hơn. Lúc nhỏ ở thôn quê, tôi đã thấy có người gặt lúa vô ý kéo nhẹ, ngón tay đứt lìa lúc nào không rõ, nên nhớ, ngón tay có cả xương nữa chứ không phải toàn gân cả đâu.

Một lần, nhân đọc mục chính trị thế giới, cô phàn nàn rằng ở Miến Điện bọn quân nhân lên cầm quyền đàn áp đối lập, như thế là không dân chủ. Tôi hỏi:

– Vậy chứ chế độ mà quân đội cầm quyền gọi là gì?

– Là chế độ quân chủ.

– Thế nước có vua thì gọi là chế độ gì?

Thấy tôi cười, cô nạt ngay: Cười gì? Không biết người ta giảng cho. Là chế độ vương quyền!

Tôi chỉ sợ bài nầy đến tay quí vị ở Harvard chắc sẽ mời cô ta đến dạy môn tân chính trị học quá! Ngoài chuyện chính trị, về thể thao cô cũng có nghiên cứu tuy cô chỉ rành môn bép đít thằng con tôi, lấy chổi lông gà rượt tôi hoặc ngắt véo tôi mỗi khi nổi xùng. Trong một buổi họp mặt bạn bè, chi hội phụ nữ của các bà được dành cho một bàn riêng. Các bà gặp nhau thì khỏi nói. Người Tàu bảo “Hai người đàn bà đã thành cái chợ” Đây cả chục bà nên thành cái tổ ong. Tôi nghe vợ tôi nói:

– Lúc còn ở bên Việt Nam, mỗi lần TV chiếu tranh bóng đá thế giới, hai ba giờ sáng, em với ông xã em dậy xem, thích lắm, nhất là lúc Madonna dẫn banh xuống thì tuyệt.

Tôi vội chạy đến thì thầm: Madonna là ca sĩ nổi tiếng.

– Cô cự ngay: Anh biết gì! Ca sĩ nổi tiếng là Mai Cồn Gion Sơn (Micheal Johnson).

Cũng may các bà nói chuyện tức là mạnh ai nấy nói chứ chẳng thèm nghe ai cả (Maradona: Cầu thủ đá bóng. Madonna: Nữ ca sĩ Mỹ. Micheal Johnson: Lực sĩ chạy bộ. Micheal Jackson: Nam ca sĩ Mỹ)

Có một bộ môn mà chúng ta ít khi để ý nhưng vợ tôi lại quan tâm đặc biệt, đó là môn thiên văn. Một buổi tối cô kéo tôi ra sân, chỉ tay lên trời: “Anh nhìn cho kỹ nghe!” Tôi đoán cô lại bắt tôi thề non hẹn biển gì đây nên nhanh miệng đọc ngay một câu trong phần mở đầu của những lá thư tình tôi gửi cho cô -thuở nào-

– Em ơi, hãy đếm trên trời được bao nhiêu vì sao thì anh yêu em còn hơn thế nữa!

– Biết rồi khổ lắm, nói mãi! Em muốn anh chỉ cho em xem những ngôi sao nào mà anh biết được.

– À, ngôi sao sáng nhất đằng kia là sao Hôm, ngôi sao mầu đỏ nằm trên ngọn cây nầy là sao Hỏa, ngôi sao nhỏ chút xíu ngoài xa tít kia là sao Bắc Đẩu …

– Sao Thiên Phủ nằm chỗ nào?

-Anh chỉ nghe người ta bảo hồn du địa phủ chứ chưa nghe sao Thiên Phủ bao giờ. Nhưng em hỏi để làm gì?

– Đó là sao bổn mạng của em.

– Đó là sao trong tử vi, khác với sao trong thiên văn.

– Khác cái gì, trong tử vi cũng có sao Bắc Đẩu, sao Hỏa, Thái Dương đầy đủ mà. Em đọc trong báo, chuyện Tam Quốc có ông Khổng Minh thấy sao bổn mạng mình sắp sa xuống, ông lập đàn cúng sao, nên ngôi sao bay về chỗ cũ, ông ta thoát chết. – Chuyện Tam Quốc xưa rồi em ơi, bây giờ khoa học tiến bộ người ta đi từ sao nầy qua sao kia như đi chợ, em chờ ít lâu, có dịp đi, cứ đem theo đinh với búa, tìm cái sao Thiên Phủ của em, đóng nó dính chặt vào bầu trời, thế là em sống mãi. OK!

Tưởng nói chơi không ngờ cô đi Home Depot mua đinh với búa thật! Nếu kể những gì vợ tôi nghiên cứu trên báo chí thì chẳng biết bao giờ mới hết được. Thật may mắn, hiện nay cô nghiên cứu về chỉ tay, tướng số, chữ ký … Bây giờ, mỗi khi giận chồng con điều gì, cô ra phòng khách ngồi rung chân và nhìn ra cửa. Tôi hỏi, cô bảo:

– Trong tướng mệnh học có nói, người đàn bà ngồi rung chân sẽ có hai đời chồng. Em có anh là một đời chồng rồi, em ngồi rung chân để có ông chồng khác, em chán anh rồi.

– Nhưng nhìn ra đường để làm gì?

– Thì ông chồng kế anh đến đón đi, em chờ mà …

Tính ra mỗi khi giận tôi, cô rung chân khoảng nửa giờ, cả năm nay rồi mà chẳng thấy ai đến đón, coi bộ cô nản chí, tôi động viên cô: “Em cố gắng ít lâu nữa xem sao, có chí thì nên”.

Sáng Thứ Sáu, Thứ Bảy nào cũng thấy ngoài chợ Eden, Virginia, mấy ông sồn sồn, nách kẹp mấy tờ báo, lơn tơn đến các tiệm kiếm báo về nghiên cứu. Ông nào muốn có một người ý hiệp tâm đầu, chuyên môn đọc báo, từ tin quốc tế cho đến bán nhà, sang tiệm nail … xin cho tôi số điện thoại. Hễ vợ tôi ngồi rung chân thì tôi gọi đến đón về, cùng nhau trao đổi kiến thức, chắc chắn sẽ thành bác học. Có điều tôi xin báo trước, không được đem trả lại. Nếu còn kẹt bà xã thì đem bả đến đây. Tôi chịu bù lỗ.

Task Force South và Niên Trưởng của Tôi

Vương Mộng Long, K20

Post by Sơn râu 23 Apr 2026

Là lực lượng trừ bị cơ hữu của Vùng 2 nên Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân, cứ sáng có mặt ở Kontum, chiều đã về Phú Bổn, nay Lâm-Đồng, mai Quảng-Đức. Tháng trước chúng tôi bị đặt dưới quyền chỉ huy của Task Force South, tháng sau chúng tôi đã nằm dưới quyền chỉ huy của Biệt Khu 24, cứ xoay vần như thế suốt năm 1968.

Đà-Lạt tháng Năm…

Một buổi trưa, đại đội tôi đang giữ nhiệm vụ bảo vệ pháo binh tại phi trường Cam-Ly thì được lệnh cấp tốc lên đường cứu viện cho cánh quân của đại úy tiểu đoàn trưởng. Cánh quân này, gồm Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân cùng hai Đại Đội 2/11 và 3/11, đang bị một tiểu đoàn Việt-Cộng bao vây tấn công rất dữ dội trong vùng rừng rậm cách Đà-Lạt năm cây số về hướng Tây Nam. Đại Úy Hồ Khắc Đàm, Khóa 16 Võ Bị, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 đã bị thương. Chúng tôi đi như chạy, chỉ mấy phút sau đã đứng trên đỉnh 1632. Qua một yên ngựa, tôi chuyển đội hình thành tam giác mũi trước, khẩu đại liên 30 làm mũi, Trung Đội 1 của Thượng Sĩ Ngọ bên phải, Trung Đội 3 của Chuẩn Úy Biện bên trái. Tiền quân vừa di chuyển tới con dốc cuối yên ngựa thì súng nổ. Đề lô của tôi hôm đó là hai người Mỹ. Hai anh này là người của đơn vị pháo binh Hoa-Kỳ mà tôi đang bảo vệ. Mười sáu khẩu 105 ly chỉ nằm cách chúng tôi chừng hai cây số phía sau lưng. “Hai chục tràng hiệu quả!” Đạn vừa nổ xong, lại tiếp, “Hai chục tràng hiệu quả!” Cứ thế, tôi dùng đạn đại bác mở đường, rồi thận trọng tiến lên. Thời buổi đó đạn dược quá dồi dào, bắn không hạn chế. Trước mặt tôi, địch trải quân rất thưa, chủ đích của chúng là cầm chân chúng tôi, trong khi lực lượng chính của chúng đang nỗ lực dứt điểm cánh quân của Đại Úy Đàm. Rừng thông không rậm lắm, nhưng có rất nhiều ổ mối. Mỗi ổ mối có thể là một ụ súng của địch. Khi nghe được những tiếng súng bắn tay từ vùng giao tranh phiá trước, tôi bắt đầu xử dụng không quân đánh tiếp cận ngay trước mặt để tiến lên. Tôi đã xử dụng hai phi xuất Sky Raider thả liên tiếp bốn trái Napalm xuống cái khe núi ngăn cách chúng tôi và ngọn đồi cao nhìn xuống trận địa của Đại Úy Đàm. Trong lúc tôi đang phân vân không biết sẽ tiến chiếm ngọn đồi bên kia bằng cách đâm thẳng xuống suối, hay bằng cách đi vòng về bên phải, theo hướng Tây. Con đường vòng thì hơi xa, mà tình trạng của anh Đàm thì đang nguy khốn lắm. Cuối cùng tôi chọn con đường ngắn. Tôi dàn quân hàng ngang, vừa đi vừa bắn. Tới nửa dốc, anh đề lô Mỹ nói L.19 trên trời bị phòng không bắn, phi công bị thương. Chiếc L.19 mới lên thay đòi chúng tôi đánh dấu vị trí quân bạn bằng khói vàng. Tôi cho đánh hai trái khói vàng, một bên phải, một bên trái trục tiến. Một phút sau, L.19 cự nự rằng tại sao họ thấy ở dưới đất có tới bốn, năm vị trí khói vàng, trong khi chúng tôi báo cáo rằng chỉ có hai! Họ yêu cầu chúng tôi đánh dấu lại bằng khói đỏ. Tôi vội thỏa mãn yêu cầu của không quân ngay lập tức. Cũng chỉ một phút sau, phi công lại khiếu nại khi thấy dưới đất xuất hiện bốn, năm cột khói đỏ! Như vậy là địch đã nghe được những lời đàm thoại của quân ta, và chúng đã làm cho L.19 không biết đâu là bạn đâu là địch. Tôi chưa biết phải xử trí ra làm sao trước tình trạng éo le này thì, “Xoẹt!” một trái rocket từ L.19 phóng xuống cách tôi chừng mười mét. Anh đề lô Mỹ vừa kéo tay tôi chạy về bên trái vừa hét vào ống nói truyền tin: “Check air! Check air!” Cách tôi chừng hai chục mét, dưới khe, có nhiều họng súng của Việt-Cộng, cá nhân có, cộng đồng có, đua nhau bắn lên trời. Chiếc Sky Raider chúc xuống theo trục Đông Tây. Tôi và anh đề lô Mỹ nắm tay nhau dẫn đầu đoàn quân chạy thục mạng theo hướng ngược lại. “Ùm!” một quả bom nổ dưới khe, sau lưng. Anh Mỹ mang máy truyền tin té sấp mặt xuống đất. Tôi đỡ anh ta dậy, may quá! Không sao! Nhưng một mảnh bom bay sượt qua, đã bứng đi mất một nửa cái máy PRC 25 của anh. Chiếc Sky Raider thứ nhì lao xuống, ngóc lên: “Ùm!” Chúng tôi theo nhau cắm đầu chạy về hướng Đông. Hai chiếc máy bay tiếp tục chúc đầu xuống, ngóc đầu lên,” Cạch! Cạch!… Cạch! Cạch!…” đại liên trên cánh chim sắt bắt đầu khạc đạn. Chạy được một đoạn đường khá xa, tôi kéo quân lên một bình nguyên cỏ tranh, lập lại đội hình. Anh đề lô mượn tôi một cái máy truyền tin. Anh ta đang loay hoay chưa vào được tần số không lục thì chiếc L.19 quái quỷ đã theo kịp. Thiếu Úy Duyên leo lên một mô mối, dơ cái bản đồ vẫy vẫy anh phi công. Đâu ngờ, lại “Xoẹt!” Phi công đáp lại bằng một quả khói cắm ngay giữa đội hình của Đại Đội 1/11! Ông Duyên vứt cả bản đồ, co giò tẩu thoát. Cứ cái trò chạy nước rút từng chặng như thế này, chắc chẳng bao lâu tụi tôi đứt ruột mà chết! Tôi không có cách nào bắt không quân ngừng truy đuổi được. Nếu tôi ngừng lại để thanh toán tụi Việt-Cộng đang bám đuôi thì chết với bom của Mỹ ngay. Khóc dở, mếu dở, vừa chạy, vừa thở, chợt nhớ ra một điều, tôi níu vai thằng Ty vặn cái chốt đổi tần số truyền tin sang địa chỉ của liên đoàn. Trung Tá Hồ Hữu Dõng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân đang theo dõi tình hình trên máy, nên chỉ vài phút sau, chiếc quan sát cơ quẹo ngược về hướng Tây. Trung Tá Dõng ra lệnh cho tôi giữ liên lạc với liên đoàn để ông có thể trực tiếp yểm trợ cho tôi trong thời gian này. Ông nói, vì phải chia quân ra ngăn cản đoàn viện binh của tôi, nên áp lực của Việt-Cộng trên cánh quân của Đại Úy Đàm cũng giảm bớt, nhờ vậy, lực lượng bạn đã giữ vững được vị trí. Ông cho tôi hay, cũng nhờ không quân Hoa-Kỳ can thiệp hữu hiệu, chứ không thì hai đại đội bạn đã bị địch tràn ngập rồi. Tới lúc này, tần số của tiểu đoàn đã hết nhiễu loạn, các cánh quân đã gọi được nhau. Tôi ngóng cổ gióng hướng. Hóa ra tôi chỉ còn cách Quốc Lộ 20 chừng hơn cây số! Từ đỉnh đồi bên này, tôi nhìn thấy xa xa, trên sườn một ngọn đồi hướng Nam, có một đoàn quân đang di chuyển về hướng Tây, nhiều người trong đoàn quân đó che mưa bằng những tấm nhựa trắng dùng để bọc đầu đạn pháo binh. Thì ra đó là Đại Đội 4/11! Đại Đội 4/11 cứ phoong phoong theo đường xe be, chẳng đụng chạm gì cả, nên họ bắt tay được Đại Úy Đàm lúc xế chiều. Còn tôi, phải băng qua hai cái khe và một ngọn đồi, nên tối mịt mới tới được ngọn đồi xảy ra giao tranh. Tiếng súng đã im từ lâu. Sau lần hành quân này mỗi quân nhân tham chiến của đại đội tôi đều được bồi hoàn đặc biệt một đôi giày mới, và một bộ rằn ri mới. Ngày hôm đó tiếng máy bay và tiếng đại bác vang dội núi đồi suốt từ trưa cho tới tối mịt, khiến dân chúng Đà-Lạt phải trải qua một bữa hoảng hồn.

Lâm-Đồng tháng Tám…

Đại Đội 1/11 bị tách riêng ra khỏi tiểu đoàn, đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn. Lúc này Trung Tá Bùi Văn Sâm đã thay thế Trung Tá Hồ Hữu Dõng giữ chức Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân.

Chúng tôi được trực thăng vận vào Gia-Bắc, một bản Thượng bỏ hoang, nằm trên Liên Tỉnh Lộ 8B nối liền Di-Linh (LâmĐồng) với Thiện-Giáo (Phan-Thiết). Nhiệm vụ của tôi là thiết lập một căn cứ hỏa lực dã chiến cho một pháo đội Hoa-Kỳ. Pháo đội này sẽ yểm trợ hỏa lực cho các cánh quân đang truy lùng địch vùng liên ranh Cao Nguyên và Duyên Hải. Đây cũng là nơi Trung Tá Sâm đặt bản doanh bộ chỉ huy hành quân của ông. Sau khi lập xong vòng đai an ninh căn cứ, tôi tung các toán tuần tiễu xa, rồi ngồi chờ pháo binh Hoa-Kỳ chuyển vận súng vào vị trí. Chinook rầm rộ theo nhau đáp. Chưa đầy hai giờ sau, mười sáu khẩu đại bác 105 ly đã sẵn sàng tác xạ.

Tới chiều, ông thượng sĩ trưởng toán liên lạc truyền tin của Sư Đoàn 23 Bộ Binh chạy ra tìm tôi, báo tin: – “Anh Đào” đang trên đường đến thăm. “Anh Đào” là danh hiệu truyền tin của Chuẩn Tướng Trương Quang Ân (Khóa 7 Võ-Bị), Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, kiêm Tư Lệnh Task Force South. Tôi đã đón Tư Lệnh tại bãi trực thăng, thuyết trình cho ông về quân số lực lượng phòng vệ, về các toán tuần tra dã ngoại, và kế hoạch phản ứng khi bị địch tấn công hay pháo kích. Tôi dẫn Tư Lệnh duyệt một vòng vị trí phòng thủ của đơn vị trước khi đưa ông vào hầm chỉ huy của liên đoàn để nghe trung tá liên đoàn trưởng tường trình diễn tiến hoạt động của Biệt Động Quân trong lần hành quân này. Vài tháng trước, sau khi đại đội tôi tịch thu được một kho gạo của địch trong Mật Khu Tứ-Quý, tôi đã giáp mặt Chuẩn Tướng Tư Lệnh Task Force South một lần, và đã được ông gắn cho một Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc. Dịp đó, trong hàng quân, tôi chỉ được ông Tướng bắt tay một cái, nghe ông khen một câu “Tốt lắm!” rồi thôi. Lần này tôi có cơ hội tiếp xúc với ông lâu hơn, nghe ông nói nhiều hơn và nhìn mặt ông rõ hơn. Sau khi đưa Tư Lệnh tới bộ chỉ huy nhẹ liên đoàn, tôi trở về lều của mình, leo lên võng nằm nghỉ. Rồi tôi chợp mắt ngủ quên. Ngoài lều, đám “tà lọt” của tôi ngồi đấu láo. Tôi đang mơ màng thì giật mình vì tiếng ông Thượng Sĩ Nguyễn Lược, Trung Đội phó, Trung đội 3, – Vào hàng! Phắc! Tôi ngồi dậy, nhoài người, thò đầu ra khỏi lều quan sát. Chuẩn Tướng Tư Lệnh đang bắt tay từng quân nhân đang hiện diện trên bãi cỏ gần lều của tôi. Ông ân cần hỏi han từng người, về tình trạng ẩm thực, về việc uống thuốc ngừa bệnh sốt rét rừng, về vấn đề thư từ liên lạc với gia đình, về chuyện bồi hoàn quân trang sau mỗi đợt hành quân dài ngày… Tuyệt đối, tôi không nghe vị Tư Lệnh này “quay” thuộc cấp với những câu hỏi liên quan đến xẻng, cuốc, bi đông, nón sắt, giây ba chạc, tiêu lệnh khi gác giặc, hay cấp số đạn mang trên lưng… Trò truyện cùng thuộc cấp một hồi, Tư Lệnh mới thong thả quay lưng, đi về hướng chiếc trực thăng đang chờ trên bãi. Ông dừng lại giữa đường, dơ tay ra dấu cho đoàn tùy tùng. Đoàn tùy tùng của ông Tư Lệnh đang ghé thăm toán Liên Lạc Truyền Tin của Sư Đoàn 23. Có một nữ quân nhân trong đoàn tùy tùng. Người nữ quân nhân này chính là phu nhân của ông Tướng. Bà đang cùng ông Thiếu Tá Thịnh, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn 23 thăm hỏi những người lính bộ binh. Tôi nghe tiếng Trung Sĩ Nguyên, cựu Thiếu Sinh Quân, đang vòi vĩnh bà vợ ông Tư Lệnh: – Chị cho em vài trăm đi chị! Em cạn túi rồi, thèm thuốc lá quá, mà chưa tới ngày lãnh lương… Bà “Chị Dâu của Thiếu Sinh Quân” lục túi xách tìm tòi một phút, rồi nhỏ nhẹ, như phân bua, – Chị vét túi, chỉ còn năm chục, em cầm tiêu đỡ. Anh chị cũng… chưa tới ngày lãnh lương. Sương trắng từ khe núi bắt đầu dâng lên. Chiếc trực thăng cất cánh, rồi chui vào tầng mây thấp. Tiếng động cơ “Bạch! Bạch! Bạch! …” loãng trong gió, xa dần. “Niên trưởng” và “Chị” đi rồi. Nhưng hình như, tình huynh đệ chi binh còn vương đâu đây, trong tim chúng tôi… Đêm xuống, trời trở gió, rồi mưa to. Nửa đêm, xảy ra một chuyện bất thường. Từ thung lũng đen ngòm dưới kia, bỗng vang lên những âm thanh ầm ầm như động đất. Chấn động tràn lên đồi, khiến căn lều của tôi cũng rung rinh như muốn sập. “Động đất! Động đất! Bà con ơi!” Thượng Sĩ Lạc, Thường Vụ Đại Đội vừa gõ kẻng báo động vừa lớn tiếng la liên tục. Thế rồi, nhanh như cơn lốc, hàng trăm con voi rừng ào ào vượt dốc xông lên. Cây rừng bị voi đè gãy đổ kêu răng rắc. Khi đàn voi tới cách lều của tôi chừng hai chục thước thì con đầu đàn dẫm phải đống lửa còn nghi ngút khói sau cơn mưa của ông Lạc. Than củi bay lên tung tóe làm nó hoảng hồn, vội quẹo sang bên phải. Thế là cả đàn voi ùn ùn theo nhau dạt về hướng Tây, khu đặt pháo của Hoa Kỳ. Quân Mỹ la chí choé. Đợi đàn voi đi qua, tôi cho quân báo động, dàn quanh khu pháo binh để những xạ thủ Mỹ kiểm tra tình trạng súng ống xem có thiệt hại gì không? Dưới ánh đèn pha, tôi thấy năm, sáu khẩu đại bác 105 ly bị voi ủi gãy gọng, chổng càng. Chừng nửa giờ sau, công việc kiểm tra tình trạng khả dụng của pháo binh chấm dứt, tôi cho lệnh thu quân, người nào về vị trí của người nấy. Tôi cùng Thượng Sĩ Lạc đi một vòng tuần tra các vọng gác, rồi quay về lều. Tôi vừa ngồi trên võng, chưa kịp cởi giầy thì, một đại úy Hoa Kỳ có hai binh sĩ Mỹ hộ tống đã hăm hở tiến tới đòi gặp mặt. Ông đại úy này là sĩ quan an ninh phòng thủ của pháo đội Mỹ. Ông ta nghi rằng Việt Cộng lùa voi đi trước, sau đó chúng sẽ theo chân voi, tấn công ta. Ông ta đã tới từng lều ra lệnh cho binh sĩ dưới quyền tôi trở lại tuyến phòng thủ ngoài rào kẽm gai của pháo đội. Chưa có lệnh của tôi, anh em Biệt Động Quân chưa nhúc nhích. Do đó, ông ta phải đi tìm tôi để điều đình. Ông ta yêu cầu tôi cho quân ra vị trí phòng thủ, và duy trì tình trạng báo động cho tới khi trời sáng. Tôi từ chối yêu cầu này. Thấy vậy, ông ta liền nổi giận la hét om xòm và dọa sẽ tường trình việc này lên Bộ Tư Lệnh Task Force South để thượng cấp khiển phạt tôi. Tôi ôn tồn giải thích cho ông Mỹ này biết rằng, đường đàn voi vừa đi qua là một con dốc trơn trượt sau cơn mưa. Ngay đầu dốc tôi cũng vừa đặt thêm một vọng gác. Nếu Việt-Cộng tiến quân theo đường đó sẽ bị lính gác phát hiện ngay, và chúng ta có dư thời gian để vào vị trí chống trả. Vả lại, đêm nay thời tiết quá lạnh, nếu bắt binh sĩ dưới quyền phải ngâm mình dưới hố cá nhân đầy nước từ nửa đêm tới khi trời sáng sẽ khiến họ nhiễm bịnh. Ngoài ra, có dấu hiệu gì báo cho ta biết chắc chắn rằng địch sẽ tới đâu? Tôi quả quyết với ông đại úy Mỹ rằng, chẳng có thằng Việt-Cộng nào đi theo đàn voi này. Vì đây là một đàn voi rừng, voi dại, không phải voi nhà. Tôi móc túi lấy gói Lucky, mời ông đại úy; ông ta gạt tay từ chối. Sau khi tự mồi cho mình một điếu, tôi thân mật vỗ vai ông sĩ quan Đồng Minh, nhỏ nhẹ, – Này ông bạn ơi! Nhiệm kỳ phục vụ tại Việt-Nam của bạn chỉ kéo dài sáu tháng là cùng. Nếu bạn có thức trắng vài ba đêm cũng chẳng ảnh hưởng gì. Còn chúng tôi thì khác. Chúng tôi đã chiến đấu mười năm, và sẽ còn phải chiến đấu thêm mười, hai mươi năm nữa.Vì thế, tôi phải tiết kiệm mồ hôi, xương máu, sức khỏe của binh sĩ dưới quyền tôi.Thôi bạn về ngủ đi! Chúc bạn ngủ ngon! Hẹn gặp lại. Nào ngờ, cử chỉ thân thiện của tôi chỉ làm ông sĩ quan Mỹ giận dữ thêm, ông ta quát vào mặt tôi: – Người Mỹ đang ngâm mình trong hố nước, các anh cũng phải làm như vậy! Tôi muốn các anh phải ra vị trí ngay bây giờ! Trước thái độ hống hách xấc xược của ông bạn Đồng Minh, tôi không thể dằn nổi cơn thịnh nộ. Tôi đưa ngón tay trỏ chỉ ngay mặt anh ta rồi hét lớn:

– Câm mồm! Tôi là người chỉ huy phòng thủ căn cứ hỏa lực này. Còn anh chỉ là người được tôi bảo vệ! Tuyệt đối anh không có quyền hành gì đối với đơn vị tôi cả! Anh muốn báo cáo việc này với ai thì báo! Tôi không bận tâm! Cút khỏi đây ngay! Sau đó, không thèm nhìn anh ta, tôi quay gót vào lều. Không biết làm gì hơn, ông sĩ quan an ninh Mỹ đành hậm hực dẫn lính bỏ đi. Có lẽ do yêu cầu của bên pháo đội Mỹ, nên hai trực thăng vũ trang đã bay vòng vòng, rọi đèn pha quanh căn cứ từ nửa đêm cho tới sáng. Rồi cũng qua một đêm ồn ào, mất ngủ vì tiếng động cơ máy bay. Trưa hôm sau Tướng Ân và một đại tá Hoa-Kỳ xuống kiểm tra tình hình tổn thất của pháo binh, đồng thời nghe tường trình chi tiết vụ việc lủng củng giữa tôi và ông sĩ quan an ninh của pháo đội. Một phái đoàn báo chí Việt Mỹ cũng chiếm một trực thăng tháp tùng ông Tư Lệnh. Trong căn lều vải, chỉ có hai chiếc ghế dành cho Tư Lệnh và Đại Tá Cố Vấn Sư Đoàn. Những người khác kể cả trung tá liên đoàn trưởng Biệt Động Quân và sĩ quan pháo đội trưởng Mỹ đều phải đứng chen vai nhau. Các phóng viên bấm máy ảnh “tí tách!” liên tục. Ông pháo đội trưởng tổng kết tình hình cho biết, bốn khẩu đại bác 105 ly bị hư hại cần thay thế, hai binh sĩ bị voi dẫm gãy xương đã được tản thương trong đêm.

Sau đó, viên đại úy an ninh Mỹ lên bục trình bày. Anh ta khiếu nại rằng, sau khi đàn voi đi qua, Biệt Động Quân Việt-Nam đã không chịu duy trì tình trạng báo động cho tới sáng, pháo đội Mỹ đã không được bộ binh bảo vệ nếu địch theo chân voi, ào lên tấn công… Rồi tới phiên tôi, – Thưa Chuẩn Tướng, xin Chuẩn Tướng cho lệnh, tôi sẽ trình bày sự việc bằng tiếng Anh hay tiếng Việt? – Trung úy xuất thân từ quân trường nào? – Thưa Chuẩn Tướng tôi tốt nghiệp Khóa 20 Võ Bị. – Nếu trung úy không nói được tiếng Anh thì trung úy nhờ ông trung sĩ thông dịch viên của sư đoàn giúp đỡ cho. Tôi nóng mặt, – Như vậy thì tôi sẽ trình bày sự việc bằng tiếng Anh. Nhờ trung sĩ thông dịch viên dịch lại bằng tiếng Việt cho các phóng viên báo Việt. Cái sơ đồ phòng thủ không tỷ lệ được hai Biệt Động Quân cầm giữ để tôi thuyết trình. Tôi sơ lược sự kiện xảy ra đêm qua. Tôi lý giải quyết định không duy trì báo động của tôi vì đàn voi di chuyển đêm qua là voi rừng, không phải voi nhà. Tôi tin chắc địch không đủ khả năng bắt ép một đàn voi rừng làm theo lệnh được. Với tôi, việc bắt binh sĩ ngâm mình trong hố cá nhân đầy nước dưới thời tiết lạnh giá, trong thời gian năm sáu tiếng đồng hồ là một hành động ngu ngốc. Tôi là một cấp chỉ huy không ngu ngốc, nên tôi không nghe theo yêu cầu ngu ngốc của bất cứ ai. Nghe tôi nhấn mạnh tiếng “stupid” (ngu ngốc) tới hai lần, ông đại tá Mỹ hơi cau mặt, liếc nhìn anh sĩ quan an ninh Hoa Kỳ. Anh ta cúi mặt, dí dí hai mũi giày trên đất. Buổi họp chấm dứt, Tướng Ân đứng lên, vỗ vai tôi, ôn tồn, – Khá lắm! Anh khen chú! Khá lắm!

Ông đại tá Mỹ cũng vồn vã, – You’re excellent! Ông xiết tay tôi thật chặt trước lúc từ giã. Hai ngày sau cuộc hành quân chấm dứt. Hôm đó lại có chuyện bất thường xảy ra! Đại bác đã được năm chiếc Chinook bốc đi hết. Chiếc trực thăng chuyển quân cuối cùng cũng vừa cất cánh sau khi hốt toán đề lô pháo binh của tôi. Trên bãi còn lại một toán sáu người. Tôi lấy làm lạ về cách làm việc cứng ngắc của người Mỹ. Người Mỹ đánh giặc bằng sách vở, việc ai nấy làm, nhiều lúc thấy mắc cười. Hai chiếc tàu cứu cấp và chỉ huy cứ khơi khơi trên trời, cùng hai gunships, bay vào, bay ra, theo đuôi đoàn trực thăng chở quân. Nếu họ xử dụng một trong hai chiếc tàu trống đó mà bốc chúng tôi thì đâu cần điều động hai gunships và một slick quay trở lại đây lần nữa? Bây giờ trên bãi chỉ còn lại sáu người gồm có tôi, Binh Nhứt Trần Ty mang máy PRC 25, cùng hai hộ tống viên là Binh Nhứt Phạm Công Cường, và Hạ Sĩ Nguyễn Phượng Hoàng. Phía Mỹ có một đại úy da đen, nhưng trên bảng tên thì họ của ông ta lại là White (Trắng) cùng một anh binh nhì da trắng mang máy truyền tin cho ông. Hai người Mỹ này là toán liên lạc điều không của ngày hôm đó. Bỗng đâu, sương mù dâng lên cuồn cuộn. Sương đêm như từ dưới đất phun lên, từ gốc cây tuôn ra, từ tàn lá trên cao tỏa xuống, quánh lại như mây, và trắng như sữa. Phút chốc cả vùng đồng cỏ ngập chìm trong biển sương dày dặc. Ông đại úy da đen đứng cách tôi chưa tới sải tay mà tôi cũng không nhìn rõ mặt ông ta. Nguy rồi! Cứ cái đà này thì tối nay chúng tôi phải ngủ lại đây mất thôi! Rõ ràng là chiếc H.U.1D đang bay ngay trên đầu, nhưng tôi không trông thấy đèn pha của tàu. Anh phi công nói, dưới bụng anh ta chỉ là mây trắng, anh ta không dám sà xuống tìm chúng tôi, vì sợ cánh quạt chặt phải tàn cây thì chết! Trực thăng tiếp tục vòng vòng bao vùng cả giờ, nhưng vô vọng. Trời tối dần, trực thăng hết xăng, phải về Blao tiếp nhiên liệu. Rồi trời tối hẳn. Sau khi liên lạc với ban chỉ huy không vận, Đại Úy White báo cho tôi biết rằng, ngày mai, nếu thời tiết tốt, chúng tôi mới được bốc ra khỏi đây. Ông ta đề nghị tôi qua đêm ngay trên bãi đáp. Tôi không đồng ý với White về việc này. Kinh nghiệm cho tôi biết, mỗi khi quân ta rời vị trí một căn cứ hỏa lực, thì không lâu sau đó, du kích địa phương sẽ tới dò la, nhặt nhạnh những vật dụng chúng ta vô tình bỏ lại. Nếu đêm nay ở lại chỗ này, chúng tôi có thể sẽ chạm mặt với du kích, phần bất lợi chắc chắn nghiêng về phía ta. Thế là hai bên giằng co, người đòi ở lại, kẻ đòi di chuyển. Cuối cùng, khi nghe tôi dọa sẽ kéo nhau đi, bỏ thây kệ thày trò anh ta ở lại, anh ta mới đành hậm hực vác ba lô lên vai. Tôi ra lệnh cho chú Cường gài lại hai trái M26 ở hai đầu đường dẫn tới nơi đống lửa cao nghệu mà chúng tôi vừa đốt. Sau đó chúng tôi nối đuôi nhau tụt thẳng xuống dốc núi bên lề Bắc của Tỉnh Lộ 8 B. Chúng tôi vuợt qua con suối nhỏ dưới dốc, rồi leo lên lưng chừng vách đá, ngừng lại nhóm lửa, ngả lưng. Cây cối rậm rạp, sương mù dày dặc, rừng tối thui, cho dù ai đó có đứng cách chúng tôi năm ba mét chưa chắc đã nhìn thấy bếp lửa của chúng tôi. Chỉ cần một người ngồi canh và tiếp củi cho đống lửa cháy đều, năm người còn lại yên chí ngủ. Chừng một giờ sau, bên hướng căn cứ hỏa lực có tiếng lựu đạn nổ “Ùm!” Đại Úy White ghé tai tôi hỏi nhỏ, – Cái gì thế? Tôi trả lời bừa, – Không biết, có thể là du kích, có thể là một con nai… Anh đại úy Mỹ móc túi lấy ra gói thuốc lá, – Ông hút một điếu đi! Lạnh quá! Tôi ngăn tay anh ta lại, – Đừng làm điều này! Nguy hiểm lắm! Tai và mắt của du kích không biết chúng ta đang ở đâu. Nhưng mũi của chúng có thể tìm được chúng ta đó! Bây giờ đang gió Bắc. Người nào đứng bên Tỉnh Lộ 8B chắc chắn sẽ ngửi được khói thuốc của chúng ta ngay. Gắng đợi tới sáng mai, lên tàu rồi, thì tha hồ mà hút. White gật đầu tỏ ý hiểu chuyện. Vừa lúc đó bên kia bờ nổ thêm một tiếng “Ùm!” thứ hai, theo sau là một tràng AK bắn bâng quơ. White giựt tay tôi, lắc mấy cái thật mạnh, rồi bất ngờ dang hai tay ôm tôi vào ngực anh, xiết tôi một cái thật chặt, rồi buông nhanh ra, – My commander! You’re a great commander! Đêm ấy anh chàng da đen còn ôm máy nói chuyện với cấp chỉ huy của anh ta khá lâu. Trước khi thiếp đi, tôi còn loáng thoáng nghe anh ta nhắc đi, nhắc lại vài lần tiếng “Vietnamese Ranger…” gì đó. Hừng đông, sương mù tan nhanh dưới nắng. Chưa tới mười giờ sáng, một slick với hai gunships hộ tống đã có mặt trên vùng. Không lâu sau, chúng tôi đạp chân trên Sân Vận Động Di-Linh. Tại đây, Thiếu Úy Duyên và Tướng Ân đang đứng chờ. Tướng Ân bắt tay tôi và Đại Úy White, – Mission completed! You’re the best! Khi White và người mang máy truyền tin của ông ta đã quay lại trực thăng để trở về đơn vị của họ, Tướng Ân mới vỗ vai tôi, ôn tồn, – Anh rất hài lòng! Tuần tới anh sẽ giao cho chú một nhiệm vụ. Tôi đứng nghiêm, – Vâng, bất cứ nhiệm vụ gì Chuẩn Tướng giao phó, tôi sẽ cố gắng hoàn thành. Thiếu Úy Duyên cũng xen vào: – Tối qua, khi nghe nói trực thăng không vào đón anh nữa, tôi bực quá, gọi máy lên Sư Đoàn cự nự lung tung. Ai đời, dư máy bay lại dùng để hộ tống, trong khi người thì bỏ lại. Nếu ảnh (Duyên dơ tay chỉ vào ngực ông Tướng) mà không vào máy “stop” tôi lại, tôi còn làm tùm lum. Muốn phạt thì cứ phạt, cóc có ngán! Quay qua Tướng Ân, Duyên nói, – Anh thấy chưa? Họ dùng một slick trống, bay theo đoàn tầu chuyển quân để làm gì? Trong khi đại đội trưởng của em bị bỏ lại giữa rừng. Làm ăn gì mà bê bối quá vậy? Tướng Ân xua tay, – Thôi chuyện qua rồi! Anh sẽ bàn lại với họ về sự việc này để rút kinh nghiệm. Thiếu Úy Duyên là một Cựu Thiếu Sinh Quân, Chuẩn Tướng Ân cũng là một Cựu Thiếu Sinh Quân lớp đàn anh của Duyên. Họ là anh em, nên cách cư xử, xưng hô, có khác so với người ngoài.

Tướng Ân nắm tay tôi tản bộ quanh sân vận động. Vừa đi, ông vừa nói, – Trong quân đội, hôm nay anh là chuẩn tướng, chú là trung úy, cấp bậc tuy có cách biệt nhau đấy, nhưng biết đâu? Có một ngày nào đó chú đuổi kịp anh, không chừng chú còn qua mặt anh nữa! Duy chỉ có cấp bậc “NiênTrưởng” là suốt đời, chú đuổi anh không kịp. Có một điều anh muốn nhắc nhở chú là, phải sống sao cho không hổ danh Võ- Bị. Đối với anh em cùng trường, phải thương yêu, nâng đỡ, che chở, đùm bọc lẫn nhau. Phải sống thế nào cho anh ra anh, em ra em. Từ nay, anh cho phép chú, nếu gặp anh, không phải là giữa hàng quân, chú cứ gọi anh là niên trưởng. – Vâng! Tôi tuân lệnh của niên trưởng! Trong thời gian tăng phái cho Task Force South, tôi còn nhiều dịp giáp mặt Anh Đào. Tôi không biết vì lý do riêng tư nào mà vị niên trưởng này lại đặc biệt lưu ý tới tôi. Mỗi khi đơn vị tôi về đóng quân tại Cam-Ly hay Liên-Khương, ông đều tạt xuống thăm tôi vài phút. Ông thường nhắc nhở tôi rằng: “Sự tồn vong của một đơn vị bộ binh không nằm ở trang bị tối tân, hỏa lực hùng hậu, mà nằm ở sự gắn bó giữa thượng cấp và thuộc cấp. Cấp chỉ huy phải lưu ý chăm sóc tới cuộc sống của từng người lính. Vì họ là lớp người được hưởng ít quyền lợi nhất. Nhưng nhiệm vụ của họ lại nặng nề nhất. Mạng sống của họ thật là mong manh. Hãy thương yêu thuộc cấp như thương yêu em út trong gia đình. Có như thế, thuộc cấp mới hết lòng với mình. Khi hữu sự, họ sẽ không bỏ mình.” Tôi rất cảm kích trước những lời chỉ dạy chân tình và quý báu của người đàn anh đáng kính này. Vài ngày sau, tôi nhận một công điện trao tay, từ Văn Phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 23 gởi theo trực thăng xuống Di Linh. Tư Lệnh chỉ thị cho tôi phải giám sát một đại úy thuộc Sư Đoàn 23 được gửi tới, theo chân Đại Đội 1/11/BĐQ hành quân trong thời gian một tháng. Ông đại úy sẽ tháp tùng tôi để quan sát, học hỏi kỹ thuật chỉ huy tác chiến của tôi trong suốt thời gian quy định. Chiều hôm đó trực thăng Hoa-Kỳ thả ông đại úy xuống chỗ đóng quân của tôi. Ông đại úy đi một mình, không tùy tùng. Ông đội nón đi rừng, mặc áo “Sô Dù” và trang bị một Colt 45. Trong ba lô của ông có mười ca gạo, và một cái võng, chẳng có poncho, chăn mền, nồi niêu, xoong chảo, chén bát, muỗng nĩa gì cả. Tôi không hỏi ông đại úy lý do tại sao ông ta bị đưa tới đây, nhưng ông ta tự ý tâm sự với tôi rằng, ông ta đang bị phạt. Đúng lý ra, tôi không bận tâm về việc ẩm thực của ông đại úy, nhưng thấy hoàn cảnh của một sĩ quan gặp lúc khó khăn, tôi ra lệnh cho Chuẩn Úy Đinh Quang Biện, Trung Đội Trưởng Trung Đội 3 cấp cho ông ta một người lính lo việc cơm nước. Binh Nhì Triệu Cheng, anh lính nấu cơm của ông Biện được giao nhiệm vụ này. Trong thời gian một tháng, chúng tôi liên tục nhảy diều hâu vào vùng Đa-Dung, La-Ngà, Ma- Nôi… không có vụ đụng độ nào đáng kể. Rồi ông đại úy đáo hạn thọ phạt, từ giã, ra đi. Triệu Cheng cũng bị trả lại Trung Đội 3, tiếp tục nấu cơm cho Chuẩn Úy Biện. Chuyện tưởng chừng như đã quên. Cho tới một chiều nắng phai… Bốn sĩ quan Đại Đội 1/11 ngồi trên xe Jeep lượn quanh hồ Bảo-Lộc. Một bóng hồng dơ tay chận xe tôi. Người đẹp nhoẻn miệng cười tươi, hàm răng tuyệt đẹp,

– Xin lỗi trung úy, em muốn hỏi thăm Thiếu Úy Chân ở Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 11.Bốn chàng sĩ quan nhìn nhau, – Cô có lầm không? Tất cả bốn đứa sĩ quan Đại Đội 1 đều ngồi trên xe này. Không có đứa nào tên là Chân cả. Cô gái tần ngần, – Anh Chân, cao cao, trăng trắng, tóc bồng bềnh, mang kiếng mát Ray-Ban, thường đi cùng ông đại úy mặc áo “Sô Dù” đại đội trưởng. Hai anh ấy hay ghé nhà em mỗi khi về phố… Ngồi trên ghế tài xế, Thiếu Úy Duyên bỗng nhảy nhổm, vỗ đùi, – Đúng rồi! Thiếu Úy Chân Đại Đội 1. Đúng rồi! Để chúng tôi đi kiếm dùm cho cô ngay bây giờ. Chào cô, chúng tôi đi nghe! Cô bé lại nhoẻn miệng cười, lí nhí tiếng cám ơn, rồi lui lên lề, nhường đường cho xe chúng tôi đi. Tôi chẳng hiểu nếp, tẻ, mô, tê gì cả, nhưng không tiện hỏi. Khi đã ngồi yên chỗ bên bàn ăn trong Quán Ngọc-Lan, Duyên mới nói nhỏ cho tụi tôi vừa đủ nghe, – Có mấy lần về phố nhận tiếp tế, tui bắt gặp thằng Cheng và “cha nội đại úy học nghề” thậm thụt khu xóm Chùa. Hình như nhà cô bé này cũng ở gần đâu đó. Để chiều nay về, tôi khảo thằng Cheng là rõ ngay. Sáng ngày kế đó, lúc xách nước cho tôi rửa mặt, Hạ Sĩ Nguyễn Lác cười hì hì,

– Thằng Cheng nó đổi tên là Chân, lên làm Thiếu Úy Đại Đội Phó cho ông Đại Úy Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 cả tháng nay. Tất cả bà con trong xóm Bàn Đèn Thuốc Phiện sau chùa Phật Giáo, ai cũng biết. Chỉ có các ông thầy Đại Đội 1 là không rõ đó thôi. Tôi chợt vỡ lẽ ra, hiểu chuyện, bật cười. Binh Nhì Triệu Cheng, anh em thường gọi đùa là “Triệu Đại Gia” vốn là cháu đích tôn của ông chủ hãng nhôm Triệu-Đà trong Chợ-Lớn. Vào một đêm mưa buồn giăng giăng, sau Tết MậuThân, điếu thuốc gắn trên môi, “Triệu Công Tử” đang lang thang trên phố vắng không đèn thì bị Tuần Cảnh Biệt-Khu Thủ-Đô chận đường. Cheng bị tóm cổ, thảy lên xe, đưa về Trung-Tâm Quản-Trị Trung-Ương. Binh Nhì Triệu Cheng có mặt ở Đại Đội 1/11 trước ngày tôi xuất viện trở về chỉ huy đơn vị. Mấy ngày sau, đại đội phải di chuyển bộ từ cầu Trắng lên sân vận động, chờ trực thăng vào vùng. Vì có lệnh di chuyển gấp, Triệu Cheng không kịp đút cái nồi nấu cơm của anh vào trong bao cát. Cái nồi nấu cơm của thày trò anh được móc vội trên ba lô. Cái nồi đen đong đưa theo bưóc chân Cheng… Đoàn quân đi qua xóm Chùa, dân chúng túa ra đường vẫy tay. Xe Jeep của đại đội dừng lại trước Cà Phê Duyên. Tôi bước xuống đứng bên đường, chờ tài xế Châu Minh Đạt chạy đi mua mấy ổ bánh mì. Tôi nghe nhiều tiếng gọi, – Anh Chân ơi! Anh Chân ơi! – Thiếu Úy Chân! Thiếu Úy Chân! Vào nhà bác nghỉ mệt một lúc rồi đi tiếp. Đi trong hàng quân, Triệu Cheng nhe răng cười. Anh đưa tay khoát khoát, chối từ những lời mời chào.

Anh giở nón sắt ra, cầm tay. Cặp kiếng mát Ray-Ban thật xứng với khuôn mặt thư sinh trắng trẻo hồng hào. Trong bộ tác chiến rằn ri, trông anh như một nam siêu sao trong phim cao bồi màn bạc Mỹ. Những em bé đứng bên đường, có lẽ quen anh, trầm trồ kháo nhau, – Ông thiếu úy mà cũng vác nồi đi hành quân. Ông thiếu úy bình dân quá, chịu chơi quá tụi mày ơi! Khẩu M16 đeo vai, ba lô trên vai, Triệu Cheng vẫn bước khoan thai. Cái nồi nhôm đen, đeo bên hông ba lô, đung đưa theo nhịp bước anh đi. Tôi nghĩ, trong số những bàn tay vẫy vẫy tiễn đưa đoàn hùng binh ra trận ngày hôm ấy, thế nào cũng có bàn tay của cô bé xóm Chùa, cô bé có hàm răng tuyệt đẹp. Cũng từ hôm ấy, gia tài đại đội tôi có thêm giai thoại “Ông Thiếu Úy Bình Dân”.

Mùa Thu trên Cao Nguyên…

Mỗi lần Đại Đội 1/11 về Liên-Khương thì cái lều vải của tôi lại được căng trước sân tư gia của ông chủ xưởng cưa ĐứcTrọng. Lần nào cũng vậy, vừa thấy mặt tôi, cô cháu gái của ông chủ đã mừng rỡ, – Chào trung úy mới “dìa”! Bác Ba ơi! Ông trung úy Bắc Kỳ “dìa gồi” nè! Giọng nói đặc sệt Hậu-Giang của cô bé, tôi không nghe quen, nên thấy ngộ. Bà vợ ông chủ xưởng cưa kể truyện lai lịch cái tên Thu Bình của cháu bà cũng hàm ý lịch sử. Mùa thu năm 1954 hiệp định Genève được ký kết, chiến tranh Pháp Việt chấm dứt, Việt Nam hòa bình. Cháu bà sinh ra vào cuối mùa Thu đất nước thanh bình, nên được đặt tên là Thu Bình. Như vậy, phải hai, ba tháng nữa Thu Bình mới đủ mười bốn tuổi. Ấy thế mà anh thiếu úy đại đội phó cứ cắp đôi cô bé này cho tôi. Cái anh Đặng Hữu Duyên này thực là vô duyên hết chỗ nói! Anh ta còn lấy tên “Thu Bình” làm danh hiệu cho khẩu đội đại liên M60 của đại đội. Trước đó, khẩu đội súng cối 60 ly của Binh Nhứt Lê Văn Ngẫu đã bị anh Duyên khoác cho cái tên “Kim Cương”, vì ở Pleiku có một cô nữ sinh diễm kiều nhảy đầm rất giỏi tên là Kim Cương. Kim Cương và hai chị gái của cô đều thích Biệt Động Quân. Sau này Kim Cương kết duyên với anh Hoàng Kinh Ngữ, Biệt Động Quân thuộc Tiểu Đoàn 23. “Tình báo gia binh” sao mà thính tai đến thế! Chúng tôi chưa tổ chức hầm hố xong, bầu đoàn thê tử của Đại Đội 1/11 đã từ Đà-Lạt ào xuống một xe cam nhông, đầy đàn bà và con nít. Các bà vợ lính đem con từ Pleiku xuống chờ chồng lĩnh lương. Tôi nói với các ông trung đội trưởng tìm cách “du di” cho những quân nhân có gia đình đôi chút thời giờ để họ có thể chăm sóc vợ con. Ông chủ xưởng cưa cho phép thân nhân của đơn vị tôi được xử dụng dãy nhà chứa ván vỏ làm nơi tạm trú. Đời Biệt Động, sống nay, chết mai. Hạnh phúc của những gia đình Biệt Động là cái hạnh phúc “được phút nào, hay phút nấy!” Có lẽ vì thế mà bất cứ hành quân nơi nào, dù xa hậu cứ Pleiku cách mấy, chỉ cần dừng lại đôi ngày gần nơi thị tứ, có đường xe đò, là vợ con binh sĩ tìm tới ngay. Thân nhân binh sĩ trong đơn vị nhìn ông đại đội trưởng như người anh cả. Khi gia đình gặp cảnh khó khăn, họ không ngại ngùng đến nhờ tôi giúp đỡ. Anh chàng nào lạng quạng, có bồ, có bịch, hay cờ bạc, bê tha, bỏ thí vợ con là biết tay tôi ngay.

Các chị cũng hay áy náy về chuyện vợ con của ông đại đội trưởng. Mỗi lần thấy bóng tôi đi ngang qua khu gia binh, các chị thường ân cần: “Trung úy cưới vợ cho có người tiếp tế lúc đi hành quân xa đi trung úy ơi! Trung úy cứ kén chọn hoài! Tụi em chờ mãi chưa thấy trung úy mời ăn xôi gấc!” Những lúc đó, tôi chỉ cười trừ. Chẳng biết trả lời các chị ấy sao cả. Vì lấy vợ đâu phải là chuyện dễ? Lấy vợ mà giản dị như xung phong chiếm một ngọn đồi thì tôi đâu có còn độc thân cho tới hôm nay? Nhà ông chủ xưởng cưa có cái máy lạnh chạy bằng đèn dầu lửa. Binh Nhứt Trung thường gửi bia lạnh của tôi trong tủ lạnh này. Tôi và ông chủ xưởng cưa thường ngồi đối ẩm nói chuyện đời vào những chiều sương rơi. Bãi cỏ bên kia Quốc Lộ 20 là sân bốc của trực thăng. Chúng tôi tập trung bên này đường, đội ngũ chỉnh tề. Càng trực thăng vừa chạm đất, chúng tôi đã ào sang, sẵn sàng leo lên. Cứ tám người một con tàu. Cứ bốn mươi người, một cánh quân. Có khi cánh quân của tôi bị thảy xuống cách cánh quân của Thiếu Úy Duyên hàng chục cây số. Chúng tôi vào vùng, rồi chuyển vùng xoành xoạch. Mưa theo chân chúng tôi từ bãi đáp này, sang bãi đáp khác. Rừng già Cao Nguyên lạnh quanh năm. Đi rừng vào mùa mưa còn thêm nhiều nỗi khổ. Đường trơn như tráng mỡ. Muỗi vắt đông vô kể. Một sáng, đơn vị đang di chuyển trên đường voi thồ trên núi Voi thì tao ngộ chiến. Hai bên mới bắn nhau vài băng AK, và M16, lính Trung Đội 1 của Thượng Sĩ Ngọ đã đè lên nhau, chạy thục mạng về phiá sau. Thiếu Úy Duyên đi đầu cùng Trung Đội 1 cũng chạy bán sống bán chết. Tới chỗ tôi, anh hổn hển,

– Thái Sơn! Chạy mau! Chạy mau! Tôi dang hai tay, chặn đường, níu áo Duyên, – Dừng lại! Dừng lại! Làm gì kỳ vậy? Duyên giựt áo khỏi tay tôi, mặt tái mét, lắp bắp, – O…o… ong!… Ong vò vẽ! Chạy mau! Chạy mau! Duyên xô tôi một cái, rồi phóng đi, nhanh như bay. Tôi và hai anh cố vấn Mỹ tụt lại sau cùng. “Vo!… o…o… Vo!… o…o…Vo!..o…o…” Cha mẹ ơi! Đàn ong như một đám mây đen đặc đang ào ào kéo tới. Những con ong hung hãn lao “vèo!… vèo!” như mưa rào xuống đầu ba đứa chúng tôi. – Run! run! run!… Vừa la lên bằng tiếng Anh, tôi vừa co giò. Hai tay tôi có găng da đi rừng, tôi xòe hai tay che cổ và mặt. Những tiếng “đốp!… đốp!… đốp!” “độp!… độp!… độp!” liên tiếp nổ trên cái mũ đi rừng, làm tôi thót tim từng chặp. Tụi ong vò vẽ này đánh tàn bạo thiệt! Tôi chợt nhớ ra hai quả khói đeo trên dây ba chạc, ngay ngực. Tôi cúi người xuống, dùng răng rút đại một cái chốt an toàn. Quả khói vàng bung mỏ vịt. Tôi chạy tới đâu khói vàng mịt mù tới đó. Tôi phải nín thở, nếu không, tôi có thể chết ngộp chứ không phải chơi. Tôi chạy tới khi quả lựu đạn khói vàng hết xịt khói thì dừng lại. Đàn ong cũng không còn truy kích nữa. Tôi la lớn, – Anh Duyên ơi! Bác Ngọ ơi! Cho đại đội dừng lại. Bố trí kiểm quân!

Đại đội nhanh chóng vào đội hình. Trong đội hình đó, tôi nổi bật lên, sáng choang. Từ đầu chí chân, toàn thân tôi nhuộm khói vàng. Đi trong rừng mà ngụy trang kiểu này thì thằng địch, dù bị thong manh, cũng tác xạ trúng mình cái tróc! Kiểm quân xong, chỉ thiếu có một anh trung sĩ cố vấn Mỹ da đen. Chuyến hành quân này, toán cố vấn Mỹ chỉ có một hạ sĩ quan và một binh sĩ truyền tin, không có sĩ quan đi theo đơn vị tôi. Có ba anh lính của đại đội chậm chân, bị ong đánh cho khờ khạo, phải đi cà lết. Anh Mỹ trắng chạy sau lưng tôi cũng bị ong chơi năm bẩy mũi. Cũng may, anh ta có cặp chân dài, vừa phóng lên, anh ta đã bỏ tôi lại đằng sau. Cái ba lô của anh, đựng chiếc PRC 25 bị ghim đầy xác ong. Ong chích xong, là chết bỏ xác. Loài ong này thiệt là anh hùng! Tôi cũng bị ong đánh một phát trúng gáy. Chỉ một phát thôi cũng đủ làm cho tôi cảm thấy xương sống gây gây như muốn lên cơn sốt. Tôi ra lệnh cho đại đội dò dẫm trở lại trận địa. Lựu đạn khói đi trước, quân ta tiến theo sau. Anh trung sĩ cố vấn Mỹ da đen, to như một con bò, nằm một đống giữa đường. Anh chàng vừa rên hừ hừ vừa co giựt chân tay. Anh cố vấn đang lên cơn sốt. Anh đau đớn, lăn lộn, vật vã. Tôi gọi y tá đại đội lên lụi cho anh ta một mũi Peniciline. Chúng tôi tiến tới vị trí chạm súng. Một cái nón cối vỡ nằm trỏng trơ trong vũng máu giữa đường. Những con ong đen đang chui rúc trong bãi óc và máu trên thi thể tên Việt-Cộng. Hắn bị trúng nhiều vết đạn trên người. Trên mặt đường voi đi, hai khẩu AK nằm cách nhau không xa, có vài vỏ đạn AK vương vãi đây đó. Hạ Sĩ Nghết, người khinh binh đi đầu đơn vị nói,

– Vừa tới khúc quanh, tui nghe tiếng người nói chuyện phiá trước, tui đưa súng lên, bóp cò liền. Tụi nó có bắn lại. Tụi nó bắn lên trời. Ông Nghết hạ được một tên tại trận. Tên thứ nhì vứt súng, nhào vào bụi. Nó đạp sập một ổ ong vò vẽ. Vò vẽ phản công, đuổi Đại Đội 1/11 chạy vắt giò lên cổ. Tôi cho một trung đội lục soát quanh triền đồi. Tên Việt Cộng thứ nhì nằm chết cách ổ ong chừng hai chục mét về hướng suối. Hắn bị thương ở ngực và đã chết trên đường thoát thân. Tôi cho người võng anh trung sĩ Mỹ đen đi theo đại đội. Chúng tôi tìm hướng chui ra một bãi cỏ tranh. Tôi gọi tiểu đoàn cho trực thăng tản thương. Ba anh lính Biệt Động Quân Việt-Nam và hai anh cố vấn Mỹ mặt mày sưng vù, miệng rên ư ử, run lập cập, theo nhau leo lên tàu về Đà-Lạt. Sau lần hành quân này, tiểu đoàn được cho nghỉ dưỡng quân vài ngày trong thị xã Đà-Lạt. Đại đội tôi đóng quân trên ngọn đồi đầu đường dẫn vào thành phố. Chỉ cần một buổi là xong việc tái tiếp tế, tái trang bị. Bốn chàng sĩ quan của Đại Đội 1/11 lại leo lên lưng con tuấn mã mang số 103472, rồ ga. Chiếc Jeep mui trần nhong nhong khắp nơi, từ Phở Đắc Tín, qua Cà Phê Tùng, tới Phở Bằng, lên Rạp NgọcLan, xuống Rạp Diên-Hồng, vào cư xá sinh viên đại học, rồi cuối cùng, về “diễn binh” quanh khu Chợ Hòa-Bình. Những cánh phượng vỹ cuối mùa phủ đầy con đường thơ mộng bên bờ hồ Xuân Hương. Đó đây, từng cặp, dập dìu, nam thanh, nữ tú. Những bước chân vô tình đạp trên xác hoa. Tôi thấy trong số những anh kép đang cặp tay người đẹp, đi loanh quanh, hết lên đồi, xuống dốc, lại xuống dốc, lên đồi, có vài ba anh rằn ri, nón nâu… Hình như sau Tết Mậu-Thân, dân chúng Đà-Lạt hết ghét bỏ Biệt Động Quân rồi? Xe qua phố nào, tôi cũng thấy những bàn tay vẫy, những nụ cười. Xe tấp vào lề, đậu bên tam cấp dẫn xuống chợ. Thiếu Úy Duyên trao tay lái cho tài xế. Bốn chúng tôi tà tà lượn một vòng quanh bùng binh, ngắm những bóng hồng từ Sài Gòn lên. Chợ hoa rực rỡ muôn mầu. Bên đường, nhiều xe du lịch đậu nối đuôi nhau. Tôi vừa định kéo ba ông bạn chui vào Cà Phê Tùng, thì một ông rằn ri già đứng bên đường la oang oang, – Các cha nội về đơn vị đi hành quân gấp! Các cha nội ơi! Người vừa kêu réo chúng tôi bỏ thành phố để vào rừng là ông Đại Úy Voòng Lập Dzếnh, Tiểu Đoàn Phó. Hôm ấy là Chủ Nhựt, Chủ Nhựt mà cũng không được nghỉ. Đời Biệt Động, suốt tuần lễ, ngày nào cũng là… Thứ Hai. Chúng tôi trở lại chỗ đậu xe. Xe đi đâu mất rồi? Bà già bán chuối chiên bên đường nói với tôi, – Xe của trung úy bị Quân Cảnh kéo về Quân Trấn rồi! – Bà có thấy chú tài xế đâu không? – Cậu ấy bỏ xe đi mua cái gì đó, lúc quay trở lại thì xe đã bị kéo mất. Cậu ta sợ quá nhờ một anh đi xe gắn máy chở đi tìm xe rồi. Một chiếc Jeep Biệt Động Quân xuất hiện; tôi nhờ quá giang lên Văn Phòng Quân Trấn. Quân Trấn Đà -Lạt nằm trong một khách sạn nhìn ra Hồ Xuân Hương. Chuẩn Tướng Tư Lệnh Task Force South hiện nay kiêm nhiệm luôn chức vụ Quân Trấn Trưởng Đà-Lạt. Một ông trung úy Quân Cảnh đã tiếp tôi tại phòng trực nơi tầng dưới cùng.

Tôi hỏi ông trung úy rằng, Quân Cảnh có giam chiếc Jeep 103472 Biệt Động Quân của tôi không? Ông ta chỉ tay về phía bãi đậu xe, cả chục chiếc Jeep đậu sát nhau. Chiếc 103472 mui trần của tôi nằm phía ngoài cùng. Trên xe còn khẩu M 16 của tài xế cùng cái máy PRC25. – Xe của trung úy chở máy móc, vũ khí mà đậu khơi khơi giữa chợ, không có người canh gác, nên chúng tôi kéo về giam ở đây.

– Trung úy cho tôi biết thủ tục nhận lại xe ra làm sao được không? – Thường thì những xe bị kéo về đây chỉ được trả về đơn vị sau một tuần lễ. Chủ xe bị ký củ, tài xế bị nhốt trong phòng kỷ luật, chỉ được tha vào ngày xe được thả ra. Thiếu Tướng Quân Trấn Trưởng ra lệnh, cứ xe nào đậu trong phố không có tài xế, hoặc xe chở đàn bà trên ghế trưởng xa là tóm ngay. Chiếc Jeep đậu kế xe của trung úy là xe của Trung Tá Ry, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu Tuyên Đức đó! Xe của Trung Tá Ry bị bắt lúc đang chở bà Ry đi chợ; bà Ry ngồi trên ghế trưởng xa. Ông Ry thì tôi biết, vì ông ấy là thầy tôi. Năm tôi còn học trong trường thì ông Ry là Thiếu Tá Trưởng Khoa Công Binh. Thiếu Tá Ry đã dạy Khóa 20 chúng tôi kỹ thuật bắc cầu phao, lái xuồng đổ bộ, cách gài bẫy, gài mìn, tháo mìn, phá cống, phá cầu, chế tạo liều thuốc lõm chống chiến xa, phá lô cốt, hạ cây rừng, phá nòng đại bác… Tôi nhủ lòng, để hôm nào rảnh, hành quân về nghỉ, tôi sẽ ghé thăm ông. Tôi hỏi, – Thằng tài xế của tôi đã tới đây, nó có gặp trung úy không vậy? – Anh ta đang bị nhốt trong phòng kỷ luật. – Tôi muốn gặp nó. Anh cho tôi gặp nó đi. Viên trung úy dẫn tôi sang phòng bên. Khoảng mười cậu tài xế đang bị cấm túc ở đây. Giày của họ bị rút hết dây. Quân Cảnh sợ họ quẫn trí, dùng dây giày thắt cổ tự tử, nên bắt họ đi giày không dây. Thằng đồ đệ ruột Châu Minh Đạt của tôi đang ngồi trò chuyện vui vẻ cùng những anh bạn “giày không dây” mới quen của nó. – Ông thày ơi! Em vừa vào tiệm mua được hai bao Lucky cho ông thày, quay ra thì xe đã bị tụi nó kéo đi mất rồi. Tụi nó tống em vào đây để chờ ông thày tới lãnh mới thả ra. Mấy thằng Quân Cảnh Đà-Lạt này phách lối quá, để hôm nào tụi em lừa lừa, lụi cho tụi nó vài dao, cho biết đời. Tôi nạt, – Im đi! Rồi quay sang anh trung úy Quân Cảnh tôi nói, – Anh trả dây giày cho nó. Tôi lãnh nó ra. – Không có lệnh của Thiếu Tướng, tôi không thả anh ta ra được. – Anh dẫn tôi lên gặp Chuẩn Tướng.

Hình như lúc đó mặt tôi “ngầu” lắm hay sao mà khiến anh Quân Cảnh cuống quít, – Để tôi lên trình. Anh ta chạy nhanh lên lầu rồi xuống ngay, – Thiếu Tướng nói, lính gì thì lính, vi phạm kỷ luật thì thọ phạt đủ ngày mới thả. – Vậy thì anh lên trình với Chuẩn Tướng rằng nếu không thả xe, thả người, ngày mai tôi sẽ không đi hành quân nữa. Tôi sẽ dẫn đại đội tới đây, vào phòng kỷ luật ngồi cho đủ một tuần lễ mới ra. Trên lầu có tiếng người vọng xuống, – Dưới đó có chuyện gì mà ồn ào thế? – Thưa Thiếu Tướng! Có một anh trung úy Biệt Động Quân đang làm loạn ở dưới này. Anh ta cứ đòi gặp mặt Thiếu Tướng, cứ đòi lãnh tài xế và xe ra. – Cho nó lên đây! Tôi vừa dợm chân định chạy lên gác, thì anh Quân Cảnh níu tay, – Anh để lại khẩu Colt trên giá súng kia, đi lên người không. Có lệnh cấm mang vũ khí vào phòng Tư Lệnh. Tôi vứt cái dây ba chạc xuống đầu cầu thang rồi phóng lên lầu. Vừa ló đầu vào phòng tôi đã nghe “Niên Trưởng” cười hì hì, – Pháp bất vị thân! Ngày mai chú mi tới Quân Trấn thọ phạt một tuần. Hết một tuần mới được tha. Tôi tưởng niên trưởng nói thật, nên cũng lễ phép trả lời, – Tuân lệnh! Rồi tôi nhìn ông, thắc mắc,

– Mai đến phiên tôi nhảy đầu. Nếu không có tôi thì ai thay tôi chỉ huy hai Đại Đội 1 và 3? – Ngồi xuống đi! Tôi ngồi xuống cái ghế đặt trước bàn của niên trưởng Ân. Niên trưởng của tôi chìa cho tôi xem một tờ giấy đánh máy, một bản viết bằng Anh Ngữ. Đó là danh sách đề nghị ân thưởng huy chương Hoa-Kỳ cho những chiến sĩ hữu công trong chiến dịch, trên đó, tên tôi đứng đầu. Niên trưởng của tôi gõ gõ cán bút xuống mặt bàn, rồi nhìn tôi, thật ôn tồn, – Sĩ Quan Võ-Bị, cũng như Thiếu Sinh Quân, là những người đã chấp nhận một đời theo nghề lính. Đã là một người lính nhà nghề, thì trước hết phải yêu nghề. Đã là một sĩ quan thì đương nhiên là một cấp chỉ huy. Một cấp chỉ huy hoàn hảo phải hội đủ những đức tính cần thiết của một người chỉ huy đó là: Can trường, thao lược, liêm khiết, và nhân ái. Những đức tính can trường, thao lược, và liêm khiết là tự mình, do mình. Còn đức nhân ái lại liên hệ tới người khác, nhất là với thuộc cấp. Nhớ đừng bao giờ bỏ rơi thuộc cấp. Đừng bao giờ bỏ rơi anh em. Nếu thuộc cấp phạm lỗi, hãy tha thứ cho họ, một lần, hai lần, thế nào họ cũng đổi thay. Quân đội là một tập thể qui tụ hàng trăm thành phần. Do đó, có lúc mình phải duy trì kỷ cương bằng kỷ luật và mệnh lệnh. Nhưng cũng có lúc chúng ta phải chỉ huy bằng tình thương từ trái tim. Cái khó là làm sao biết được, lúc nào nên chỉ huy bằng khối óc, lúc nào nên chỉ huy bằng trái tim. Ông liên đoàn trưởng của chú đã kể cho anh nghe đầy đủ về lý lịch và thành tích của chú. Rồi qua những lần tiếp xúc, anh cũng biết tính khí và khả năng của chú rồi. Đừng nản lòng, hãy cố gắng lên, vàng ròng không ngại lửa. Chú có hiểu ý anh không?

– Vâng! Tôi hiểu ý niên trưởng rồi. Cám ơn niên trưởng về những lời khuyên vừa rồi. Thì ra ông niên trưởng này đã được báo biết chuyện tôi bị lao đao như thế nào sau Vụ Phật Giáo Miền Trung năm 1966, chuyện tôi bị bóc lon, bị treo lon vì theo Tướng Nguyễn Chánh Thi… Hôm đó tôi còn được ngồi nghe ông kể vài chuyện liên quan tới đời lính của ông. Kỷ niệm thời Thiếu Sinh Quân, kỷ niệm thời Nhảy Dù. Mỗi chuyện ông kể, là một bài học cho tôi nhớ mà áp dụng sau này. Chiều đó, anh trung úy Quân Cảnh trố mắt, ngạc nhiên khi thấy ông Tướng Quân Trấn Trưởng đích thân tiễn chân một trung úy cắc ké của Biệt Động Quân ra tận xe. Rồi ông Tướng còn đứng lặng nhìn theo bóng chiếc xe mang số 103472 càng lúc càng xa dần. Ngày hôm sau… Chúng tôi chạm địch trong rừng thông cách thác Prenn tám cây số về hướng Tây. Địch hai chết, ta một bị thương là Binh Nhứt Nguyễn Văn Phong thuộc Trung Đội 3. Sương mù dày quá, trực thăng không tìm ra đám khói vàng đánh dấu bãi đáp để bốc thương binh. Chúng tôi đành leo lên một cao điểm để qua đêm. Người lính bị thương nằm trên võng, bên đống lửa. Viên đạn súng trường trúng đùi, chạm xương, nằm trong bắp thịt. Một ống quần của anh đã bị quân y xẻ dọc để tiện băng bó. Y tá đại đội đã làm “ga-rô” nơi phía trên của vết thương. Tôi thấy đùi anh như đang sưng tấy lên. Tôi nhẹ lay đầu võng của Phong, – Chú thấy trong người ra sao? – Em khoẻ mà! Thái Sơn đừng lo. – Chú cố gắng chịu đau qua đêm. Sáng mai anh xin trực thăng đưa chú về Đà-Lạt. – Khuya rồi! Ông thầy đi ngủ đi! Lấy sức. Mai ông thầy còn phải lội nữa mà! Tôi đưa ca cà phê nóng cho Phong, – Chú uống cho khỏe. – Cám ơn Thái Sơn! Sau một hớp cà phê, Phong bắt đầu tâm sự, – Ngày Mùng Một Tết, trung úy bị thương nặng, tụi em lo quá! Tụi em chưa kịp vào nhà thương thăm trung úy, thì đại đội đã bị đưa lên Đà-Lạt đánh nhau. Tụi em chờ mãi không thấy trung úy trở về. Có người còn đưa tin rằng trung úy đã ra loại hai, không trở lại đơn vị tác chiến nữa. Tới khi ông Trung Úy Lương về chỉ huy đại đội thì tụi em tin chắc là trung úy đã đi luôn rồi. Tụi em buồn quá, bàn nhau sẽ leo xe đò về Sài Gòn đào ngũ. Hôm tiểu đoàn chấm dứt hành quân vùng Đơn Dương rút về nghỉ trong đồn điền Michelin, em với thằng Đạt đã thay “civil”, chui lên núp dưới sàn xe be chở cây. Dự trù tới Phương-Lâm thì nhảy xuống, chuyển sang xe Lamb về Hố Nai. Nhà bác em ở Hố-Nai. Đâu ngờ, lúc xe be đi ngang cổng trường Nông Lâm Súc, Blao, em thấy trung úy đang đứng nói chuyện với đại úy tiểu đoàn trưởng, em nghĩ trung úy đã xuất viện, về lại đại đội, nên em và Đạt nhảy xuống xe, bỏ ý đào ngũ. Phong chợt cười khì, – Nếu hôm đó em không nhìn thấy trung úy thì bây giờ em đã ở nhà, lấy tên cũ, khai sinh cũ, đi học lại lâu rồi, đâu có bị thương gãy chân nằm đây! Phong bóp bóp bàn tay tôi mấy cái, rồi nghẹn ngào, – Trung úy có nhớ ngày đại đội mình leo Ngô-Sơn không? Ngày đó trung úy giúp em, vác thùng đạn đại liên 30 và khẩu Garant lên núi… – Ừ! Nhớ!… Ngày đó… Có một chú bé mặc rằn ri ngồi khóc bên tảng đá lớn nơi triền núi. Ngọn núi vừa cao, vừa dốc. Ông đại đội trưởng leo tới chỗ cậu bé, – Sao ngồi khóc đây? – Trình trung úy em mệt lắm “gồi”! Thùng đạn nặng quá, em vác “hổng” nổi. – Rồi! Đưa cây Garant đây! Đưa thùng đạn đây! Chút nữa lên tới đỉnh, nhớ đến ban chỉ huy đại đội để nhận lại. Khẩu Garant cao gần bằng thằng bé. Còn thùng đạn này là một trong bốn thùng đạn tăng cường cho khẩu đội đại liên, được giao cho trung đội trực, đang di chuyển cùng ban chỉ huy đại đội. Tôi đã quàng vai khẩu Garant M1, xách thêm thùng đạn đại liên leo lên núi. Chú bé giờ đó chỉ còn cái ba lô nhẹ tênh trên vai. Nhưng chú vẫn vừa đi, vừa khóc rấm rứt không thôi. Khi cậu bé tới nhận lại súng đạn, tôi hỏi, – Này nhỏ! Tên gì? Mấy tuổi rồi? – Trình trung úy, em là Nguyễn Đăng Phong, em mười sáu. Em lấy khai sanh giả, mang tên Nguyễn Văn Phong, tăng hai tuổi, tình nguyện đăng lính Biệt Động Quân. Tôi biết và nhớ tên của nhỏ này từ ngày đó. Bây giờ nó đã cao lớn, mập mạnh hơn nhiều, so với ngày nó mới về đơn vị. Nó đã lên Binh Nhứt và có vẻ chững chạc lắm. Khi nói chuyện, nó cũng bỏ bớt những tiềng “gồi”, “hổng”, mà thay vào đó là “rồi”, “không”… Tôi vỗ nhẹ lên vai Phong, mồi cho anh một điếu thuốc, rồi lên võng. Nửa đêm, nghe tiếng rên, tôi lại chui vào lều y tá Đức, – Gì đó Đức? – Trình trung úy. Vết thương làm độc. Thằng Phong đang lên cơn. Nó bị sốt mê man, ngất đi hoài. Nghe tiếng tôi, Phong giơ tay, – Trung úy cho em nhờ chút! Tôi nhích lại đầu võng của Phong. Phong đưa cho tôi cái bóp của anh, – Đây là giấy tờ và lá thư em mới viết hôm qua. Nếu em chết trước khi trực thăng tới. Em nhờ trung úy gửi giùm cho tía má em . – Đừng nói gở! Gắng chút nữa trời sáng, có máy bay, vài phút là về tới Đà-Lạt. Phong ngước mặt nhìn tôi, dưới ánh lửa, tôi thấy nước mắt nó dàn dụa, – Trung úy! Em thấy ngực nặng như chì, khó thở lắm rồi. Em không biết nói gì để tỏ lòng yêu quý của em đối với trung úy. Trung úy… đừng quên em nhé! – Ừ! Không quên! Anh không quên chú đâu… Bên bếp lửa chập chùng, tôi ngồi bó gối nơi đầu võng của người thương binh đàn em. Đêm dài như không muốn sáng. Lúc tỉnh, lúc mê, khi gà rừng eo óc gáy, Binh Nhứt Nguyễn Văn Phong không tỉnh lại nữa. Tôi cầm tay thằng em, tay nó đã lạnh giá. Tôi vuốt mái tóc cho thằng em, – Ừ! Không quên! Anh không quên chú đâu…


Tháng Chín ngậm ngùi…

Lại một cuộc hành quân chấm dứt, chúng tôi rời Buôn Ma Nôi vào buổi chiều. Pháo binh Hoa-Kỳ được cơ giới vận chuyển, còn đại đội tôi phải đi bằng chân. Tối mò chúng tôi mới tới làng Klong A bên Quốc Lộ 20. Vì sân nhà nào cũng đầy phân trâu, phân bò, nên tôi đành đóng quân qua đêm trên một gò đất bên đường. Mười giờ sáng hôm sau bốn chiếc GMC tới đón chúng tôi về phi trường Liên-Khương, nằm ứng chiến. Chiều hôm ấy Trung Tá Sâm ghé thăm và báo cho tôi một tin không vui: “Anh Đào vừa tử nạn trực thăng ở Đức-Lập!” Nghe tin này, tôi lặng người đi vài phút. Tôi thấy hình như đôi mắt ông Sâm ướt lệ. “Tội nghiệp anh Ân!” giọng ông hơi run. Tôi biết ông Sâm và ông Ân có mối quan hệ gì đó với nhau. Bề ngoài họ là thượng cấp, thuộc cấp. Nhưng bên trong, họ là bạn cùng trang lứa, thân thiết lắm. Trung Tá Sâm là một cấp chỉ huy rất đặc biệt, mười người dưới quyền thì chín người sợ ông và ghét ông. Tôi là người ngoại lệ, lúc nào cũng được ông mến thương và thân thiết, chẳng biết vì sao? Bốn mươi năm sau chiến tranh, có lần trò truyện bằng điện thoại với anh Chung Thanh Tòng, người từng làm phụ tá cho Trung Tá Sâm một thời, tôi nghe anh Tòng cười hì hì, – Ông Sâm khó thấy mồ! Làm phó cho ông ấy mà tôi cũng sợ ổng chết luôn. Ông Sâm chỉ nể có mình chú, thương có mình chú. Có lẽ tại chú vừa giỏi, vừa đứng đắn. Có lẽ Trung Tá Sâm đã giới thiệu tôi với Tướng Ân, nên tôi được ông Tướng này để ý tới cũng nên? Thời gian hành quân dưới quyền Task Force South, vài anh bạn cùng khóa của tôi vừa thấy bóng dáng Anh Đào đàng xa đã lo tìm đường lủi. Có anh đang lái xe lạng lạng quanh Hồ Xuân Hương, ngửng mặt lên, phát giác ra có cái đầu húi cua trên hiên lầu 2 của Quân Trấn Đà-Lạt thì lo mau mau vặn tay lái quẹo lên hướng Nha Địa Dư ngay. Có bạn đang hiên ngang, mũ dắt cầu vai, khoác tay đào dạo phố, bỗng thấy xe Quân Cảnh Sư Đoàn 23 chạy trước, theo sau là chiếc Jeep với cái bảng đỏ một sao trắng, bèn giả đò cúi xuống cột lại dây giầy để dấu mặt. Với Tướng Ân, có lẽ tôi là một ngoại lệ. Có lẽ vì thế mà ngày đó, khi nghe tin Anh Đào tử nạn đã có hai người khóc, đó là Trung Tá Sâm và tôi.

Vương Mộng Long, K20

Seattle tháng Tư năm 2017

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 23 Apr 2026

Ở Mỹ mỗi tiểu bang đều có một loài hoa tượng  trương cho vùng đất đó, như Alabama thì có CameliaJaponica, Alaska thì Forget-me-not, Illinois có Violet và California là California poppie. Ở Việt Nam xưa nay mỗi thành phố đều có những loại hoa đặc biệt như Đà Lạt có mimosa, Huế có hoa phượng và Hà Nội có hoa đào. Vậy mà bây giờ, nói đến Hà Nội, người ta lại nhắc đến hoa sữa? Hỏi những người Hà Nội cũ, thì người ta nói hoa sữa không là đặc trưng của Hà Nội trong trí nhớ, mà niềm nhớ Hà Nội gắn liền với cây sấu, cây bàng. Nhưng ngày nay, cứ nói đến Hà Nội là mọi người đều nói đến hoa sữa. Trịnh Công Sơn trong “Nhớ Mùa Thu Hà Nội” đã nói mùa thu Hà Nội là mùa hoa sữa: “mùa thu Hà Nội, mùa hoa sữa về, thơm từng cơn gió … ” Rồi các nghệ sĩ, nhất định thi nhau phải đem mùi hoa sữa vào tác phẩm mỗi khi nói đến Hà Nội: -“Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm. Có lẽ nào anh lại quên em, có lẽ nào anh lại quên em?” -“Hương hoa sữa lan xa mềm như một lời ru, như một lời tha thiết … “

-” Nhớ phố Khâm Thiên, đường Nguyễn Du những đêm hoa sữa thơm nồng .. “-

” Chỉ còn mùi hoa sữa nồng nàn trong căn phòng nhỏ, đêm cuối thu trăng lạnh mờ sương .. “

-“Hoa sữa thôi rơi, ta bên nhau một chiều tan lớp .. “

-“Em ơi Hà Nội phố, ta còn em mùi hoàng lan, ta còn em mùi hoa  sữa” …

Cây hoa sữa có nguồn gốc từ các khu vực QuảngTây, Vân Nam (Tàu), Ấn Độ; Nepal; Sri Lanka, Campuchia; Myanma, Thái Lan, Indonesia, Malaysia; Papua New Guinea, Philippines … là một loài thực vật nhiệt đới, thuộc chi hoa sữa, họ Apocynaceae, có hoa nhỏ, màu vàng nhạt, mùi thơm hắc khó chịu. Không biết ai đã đem giống cây này vào Hà nội và vào thời điểm nào? Mùi hoa sữa rất nồng nặc khi trồng đày đặc để lấy bóng mát như ở nhiều thành phố hiện nay. Sau năm 1975, các tỉnh thành ở miền Nam, khi được “thống nhất” và coi Hà Nội là thủ đô của “đinh cao trí tuệ”, nơi có Bộ Chính Trị của đảng Cộng Sản đóng đô, các tỉnh ủy và viên chức đảng tại miền Nam, theo tinh thần “cái gì của Hà Nội cũng thơm”, muốn lấy điểm với trung ương, lấy điểm với “Hà Nội, trái tim của cả nước”, đua nhau xin giống hoa sữa, nhập từ Hà Nội về trồng tại tỉnh mình. Học tập chuyện “bác Hồ” đem cây vú sữa miền Nam ra Hà Nội trồng để “nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà”, bây giờ các đảng viên cũng đem cây hoa sữa về gây giống tại miền Nam để nhớ công ơn của đảng. Cây vú sữa của miền Nam năm xưa không chịu nỗi đất miền Bắc khắc nghiệt đã chết queo từ hồi nào, nhưng cho đến nay, nước nhà thống nhất rồi cũng chưa có giấy báo tử. Cây vú sữa chết rồi, không ai chết theo cả, nhưng hoa sữa đem về miền Nam, cũng như chế độ Cộng Sản vậy, làm cho thiên hạ điêu đứng.

Trước hết là tỉnh ly Đồng Hới (Quảng Bình), nằm trong lòng miền Bắc. Trong chiến tranh có lẽ chưa ai rảnh việc để “trồng cây nhớ bác”, nhưng bây giờ Đồng Hới bắt đầu ngạt thở vì hoa sữa được trồng dày đặc cả hai bên vỉa hè trên tuyến đường chính, san sát cứ 2-3m một cây, trên con đường dài 2 cây số. Vào mùa hoa sữa nở rộ, nhiều gia đình sống ở hai bên đường phải đóng cửa cả ngày vì mùi hoa nồng nặc, một số quán cà phê vỉa hè cũng phải dẹp. Một bà bán hàng rong than là đã bị viêm xoang mũi, nhức đầu vì ngửi phải mùi hoa sữa, muốn đi bán hết hàng phải bịt mũi, buộc đầu thật kín, nhưng như vậy lại bị ngạt thở .. Cây hoa sữa gây dị ứng cho người nhậy cảm với phấn và hương hoa, và làm khó thở. Với những người mắc các bệnh như hen suyễn, viêm phổi thì càng khó chịu hơn, ngoài ra phấn hoa còn làm nổi mẫn đỏ do dị ứng da, khi ăn uống phải phấn hoa cũng bị tiêu chảy. Một lãnh thổ địa đầu sát với miền Bắc nhất, là quận ly Đông Hà (Quảng Trị), nhờ ơn mưa móc, bây giờ dân chúng bắt đầu lén chặt cây hoa sữa, vì chịu không nỗi mùi thối nồng nặc của loại cây quý này. Phản nghĩa của thơm chỉ có nghĩa là thối thôi. Đã thơm thì ai mà đem chặt đi cho uổng công trồng. Tại Đông Hà trên 100 đường phố, cây hoa sữa tập trung chủ yếu ở thị xã và nhiều nhất là quốc lộ 9B. Cây hoa sữa ở Đông Hà trồng rất dày, cứ 5m lại có một cây. Mùa hoa nở, mùi hoa lan tỏa trên nhiều đường phố, là một cực hình cho người qua đường, dù trời nóng, ở trong nhà cũng phải đóng kín cửa. Để biểu diễn lập trường, rồi những con đường xứ Huế cũng bắt đầu trồng hoa sữa. Vào năm 2008, người dân miền Trung đã gửi đơn “kiện” chính quyền về “thủ phạm” hoa sữa vì gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Hoa sữa bây giờ là một vấn nạn, nhưng khó có thể thay đổi trong một thời gian ngắn, vì rất tốn kém, đôi khi lại mất điểm với trung ương. Quận ly Tam Kỳ nói rằng nghe hay thì đem về trồng, thế nhưng giờ đây hoa sữa đã trở thành nỗi phiền toái của nhiều người. Ở Đà Nẵng thì Công ty Cây Xanh đang tìm cách chặt cây, tỉa bớt cành để hạn chế bớt ảnh hưởng của hoa sữa cho sức khỏe của người dân. Tội nghiệp cho các tỉnh xa xôi ở miền Nam như Trà Vinh cũng với tay đến Hà Nội, lặn lội đường xa, kiếm cho được giống hoa sữa Hà Nội về trồng để bây giờ phải gặp cảnh dở khóc dở cười. Theo tin báo chí trong nước thì đông đảo người dân cư ngụ hai bên đường đã đòi kiện chính quyền nếu nhà nước không chịu đốn hạ hàng trăm cây hoa sữa đã ngày đêm làm khốn khổ cho con người. Mỗi năm từ tháng 5 cho đến tháng 9, hoa sữa nở rộ, tỏa mùi hương gây không khí ngột ngạt chết người, những ngày nóng nực, đứng gió thì mùi hoa tỏa ra càng nặng. Từ nhiều năm nay, dân chúng đã đòi chính quyền phải đốn hạ những cây hoa sữa này, vì ngu dốt, lập công lấy điểm, chính quyền ở các địa phương đã đưa một số cây từ xa xôi, hàng nghìn cây số về, để người dân phải chịu đựng sự đau khổ hôm nay, trong khi ở miền Nam xưa nay, đâu có thiếu những loại cây xanh đem lại bóng mát. Còn gì là sắc thái đặc biệt của mỗi tỉnh nhà, mỗi mảnh đất quê hương.

Một loài cây có một thứ hoa như hoa sữa, đã làm cho không những ở miền Nam khó chịu, than vãn mà cả miền Bắc cũng không chịu nỗi mùi hương của nó, gây bệnh tật, khó chịu mà người dân bắt đầu muốn cắt, chặt, đốn, đốt nó đi, hay nói văn vẻ như những người Cộng Sản, là mơ một buổi sáng thức dậy, thấy ngoài đường không còn cây hoa sữa nào, nghĩa là mong nó chết tiệt đi! (Phỏng theo câu nói của một ông Cộng Sản quốc tế nào đó: mơ một buổi sáng thức dậy, thấy mình là người Việt Nam – CS!) Trong khi đó, những ông văn nghệ sĩ cứ nhắm mắt ca tụng hoa sữa như là một thứ vương hoa, Trịnh Công Sơn thì nghe “thơm-từng cơn gió … “, một ông khác thì “hoa sữa vẫn ngọt ngào”, một dì nọ thì kêu lên “hương hoa sữa mềm như một lời ru” hay”thơm nồng”. Có một cậu lại hãnh diện: “ta còn em mùi hoa sữa”. Nếu thật thơm tho như vậy sao toàn dân bịt mũi lánh xa. Chỉ còn một điều có thể giải thích được là các ca nhạc sĩ này “nghẹt mũi” không ngửi được mùi thối, hoặc là “nhắm mắt” khen bừa mà không cần phải đến Hà Nội, chẳng biết cây hoa sữa thế nào, hay chưa biết đến nỗi khổ đau, chịu đựng của thiên hạ về hoa sữa. Chuyện này làm cho chúng ta nhớ lại một ý thơ của Phùng Quán: “thơm thì cứ bảo rằng thơm, thối thì cứ bảo rằng thối!”

Hoa sữa làm tôi liên tưởng đến chế độ Cộng Sản.

Cũng vậy thôi!

Quân nhân Gốc Việt phục vụ 3 Quân chủng Hải, Lục và Không quân Hoa Kỳ, Đại uý Luan Truong, Phi công phi cơ KC-10 Extenders

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on January 29, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 23 Apr 2026

Thiếu uý* Luan Truong**, vợ và con trai trong ngày Lễ tốt nghiệp phi công Khoá 17-15, ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại căn cứ Không quân Vance Air Force Base (ảnh của Hạ sĩ Taylor Crul, Không quân Hoa Kỳ).

Đại uý Phi công Luan Truong** nguyên là Thuỷ thủ ngành chiến hạm trên mặt biển, ông đã phục vụ trên 4 Hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk, USS George Washington, USS Abraham Lincoln và USS John C. Stennis Hải quân Hoa Kỳ. Ông cũng từng phục vụ bảo trì xe cơ giới Humvee trong Lục quân Hoa Kỳ 2 năm, trước khi tốt nghiệp Trường Đại học hàng không Embry Riddle Aeronautical University và được tuyển chọn thụ huấn Trường Sĩ quan Không quân và Trường huấn luyện Phi công trở thành Sĩ quan Phi công.

Sau khi mang cánh bay, Thiếu uý Luan Truong được chỉ định bay loại phi cơ KC-10 Extenders, tiếp nhiên liệu trên không và vận chuyển quân dụng thuộc Phi đoàn 9 tiếp nhiên liệu trên không, đồn trú tại Căn cứ Không quân Travis, California.

Con đường trở thành phi công Không quân Hoa Kỳ của Luan Truong rất khác biệt so với những người bạn cùng khoá. Con đường đó bắt đầu từ Quốc Gia Việt Nam Cộng hòa. Luan Truong là cháu nội của ông Vinh Truong, một Phi công trực thăng của Không quân VNCH, người đã trải qua 13 năm trong trại tù cải tạo tại miền Bắc Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Được thả ra, ông Vinh Truong sau nhiều lần vượt biên, đã thoát khỏi Việt Nam trên một chiếc ghe đánh cá nhỏ, ông đã đến Phi Luật Tân với tư cách là một người Việt tị nạn. Sau đó ông Vinh Truong đã được đinh cư tại Hoa Kỳ.

Năm 2001, Luan Truong được gia đình ông nội bảo lãnh sang Hoa Kỳ định cư, lúc đó Luan được 13 tuổi và không nói được tiếng Anh. Luan học trường Trung học ở Gresham, Oregon. nhờ sự chăm chỉ và cố gắng đã giúp Luan tiếp tục học hết lớp 12, và học thêm các lớp học tại trường Cao đẳng cộng đồng địa phương. Sau khi tốt nghiệp trung học, Luan Trương gia nhập Hải quân Hoa Kỳ để có cơ hội biêt thêm thế giời bên ngoài, tham quan thắng cảnh, tự lập và quan trong nhất là để vinh danh ông nội Vinh Trương và đất nước Hoa Kỳ đã đón nhận Luân. Hải quân đã huấn luyện Luan làm việc với chiến đấu F/A-18 Hornet trong nhiệm vụ Nhân viên cơ khí phi Cơ và cơ trưởng phi cơ. Trong 5 năm tiếp theo, Luan đã phục vụ trên 4 Hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk, USS George Washington, USS Abraham Lincoln và USS John C. Stennis. Trong thời gian phục vụ Hải quân, Luan đã sử dụng tài chánh hỗ trợ học phí từ Chính phủ và tiền tiết kiệm riêng để hoàn thành Văn bằng Cử nhân hàng không tại Đại học Hàng không Embry Riddle.

Phi cơ KC-10 Extenders (ảnh của images03.military.com).

Sau thời gian phục vụ Hải quân, Luan Truong gia nhập Lục quân Hoa Kỳ, và được huấn luyện bảo trì các loại xe cơ giới đa dụng Humvee có bánh xe cơ động cao. Để giữ cho mình tiếp tục hoạt động học hỏi, Luan học thêm về kiểm soát không lưu. Trong hai năm phục vụ Lục Quân đội, Luân đã hoàn thành Văn bằng cao học hoạt động hàng không vũ trụ của Trường Đại học hàng không Embry Riddle. Ngoài ra, Luân còn lấy thêm bằng phi công trực thăng Robinson R22 và trực thăng Schweizer 300.

Luan Truong lập gia đình năm 2013, và việc vinh danh ông nội luôn nằm trong suy nghĩ. Vì vậy, Luan quyết định trở thành phi công Không quân. Ông đã nộp đơn ghi danh vào các Trường huấn luyện sĩ quan của Lục quân, Hải quân, Không quân và cả Tuần duyên (United States Coast Guard). Và Luan đã đã toại nguyện trúng tuyển thụ huấn Trường huấn luyện Sĩ quan Không quân. Luan có ý đình biến Không quân thành sự nghiệp. Luan muốn làm điều gì đó lớn lao hơn bản thân mình để khi về già Luan muốn nhìn lại và nói rằng mình đã làm được điều gì đó tuyệt vời trong cuộc sống. Luan thích thử thách, giống như cân bằng giữa việc Phi công đi bay và cuộc sống gia đình. Luan hy vọng được bay chiến đấu cơ sau khi tốt nghiệp khóa huân luyện phi công, nhưng địa điểm vẫn quan trọng hơn loại phi cơ Luan sẽ bay. Và Luan rất vui khi được chỉ định bay loại phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-10 tại căn cứ Không quân Travis.

Hơn 7 năm phục vụ ngành phi hành Không quân, Luan Truong lần lược được thăng cấp Trung uý và Đại uý, ông dự định sẽ bay cho đến khi về hưu. Sau đó ông sẽ đi khắp thế giới, giúp đỡ người nghèo khổ, sự giúp đỡ đó bao gồm từ những công việc chân tay, cung cấp thực phẩm và tài chánh với các tổ chức địa phương. Một điểm đến sẽ là Việt Nam, vì ông nói được ngôn ngữ và hiểu văn hóa nơi đây. điều đó sẽ đưa cuộc đời anh ta trở lại vòng tròn trọn vẹn. Một hành trình bắt đầu như một cách để vinh danh ông nội Vinh Truong của Luan và đất nước Hoa Kỳ. Một hành trình đi qua từ boong tàu Hàng không mẩu hạm Hải quân, bãi bảo trì xe cơ giới Humvee của Lục quân và căn cứ, phi trường quân sự của Không quân. Một hành trình như được định sẵn để Đại uý Phi công Luan Truong thực hiện.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo cấp bậc ngày tốt nghiệp Phi công; Họ và tên Việt Trương Luân.

Nguồn: vance.af.mil; Vance Air Force Base facebook.com; dvidshub.net.

51 năm nhìn lại một thời giày “saut” áo trận!

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on April 21, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 23 Apr 2026

Hình minh hoạ của nhayduwdc.org

Chuẩn bị anh vào cuộc tử sinh!

Đoàn Xuân Thu

Năm 1972, tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức! Khóa 4/72 (khăn tím), thuộc trung đội 242. Số 2 đầu là tiểu đoàn 2, nằm gần trại gia binh khu Thiết giáp, Đại úy Trác (vốn thuộc LLĐB, chồng cũ của ca sĩ Khánh Ly), Tiểu đoàn trưởng SVSQ. Số 4 kế là đại đội 4, Trung Úy Mẫn làm Đại đội trưởng. Còn 2 chót là trung đội 2 Thiếu úy Bùi Thanh Tân, Trung đội trưởng cán bộ.

Có rất nhiều chuyện vui về Thiếu Úy Tân, cán bộ trung đội nầy. Ổng gốc Chà và, Ấn Độ, đen thùi lùi, biệt danh là ‘dế than’… Trên nắp túi áo có gắn huy hiệu của Fort Benning với lưỡi gươm, phía trên có dòng chữ Follow Me, tức là đã được huấn luyện ở trường Lục Quân, tiểu bang Georgia bên Mỹ đó nha!

Hồi mới là tân khóa sinh, ra Vũ đình trường làm vài vòng sân cho dãn gân dãn cốt, còn ‘thơ sinh bạch diện’ thấy ổng, Fort Benning về, sải… như ngựa… mình cũng hơi khớp! Nhưng hết thời tân khóa sinh, gắn alpha, vai u, thịt bắp, chân đã cứng như thép rồi thì cán bộ đua không lại tụi tui đâu!

Mỗi tối đúng 9 giờ là tùng sự đại đội trưởng khóa sinh, đội nón sắt màu đỏ, thổi tu huýt hoét hoét, cho tập họp điểm danh rồi đi ngủ. Mấy đứa ra hàng quân mà còn chộn rộn, um sùm như cái chợ Cầu Muối, nên tui cảnh cáo tụi nó rằng:

“Ê! Nói chuyện um sùm coi chừng con dế than nó tới là cha tụi bây cũng thác!”

Ai dè tui nghe tiếng: “Có mặt!” Úy trời đất ơi! Quay lại, thấy cái mặt đen thui như lọ nồi của ổng, thiếu điều tui chết giấc!

Vào cuộc tử sinh: 12 giờ đêm, vác súng có gắn ‘bayonet’ (lưỡi lê), dây ba chạc 7 băng đạn đầy đủ, vai đeo ba lô lên trình diện dã chiến cùng với một thằng nữa. Thằng nầy, tối hôm qua, nửa khuya làm biếng, nó ‘tè’ đại ở giao thông hào, đâu biết ông Thiếu úy trực ban đại đội, bị suyễn, tối ngủ không được, nên đi rỏn bắt ngay tại trận! Cán bộ ra lịnh cho nó chạy vòng vòng đại đội vừa chạy vừa la: “Các bạn ơi! Tui không bao giờ đái bậy nữa!” Cứ các bạn ơi hoài…

Cả đại đội 4 tiểu đoàn 2, gần 200 thằng, đang say sưa, chìm trong giấc điệp, bỗng thức dậy, lắng nghe rồi ôm bụng cười “khặc khặc!”

Phạt dã chiến, cán bộ chơi ác: “Cho hai anh 30 mươi giây, cởi cái quần ra còn đôi giày.”

Quân trường phát quân phục sao tui mặc vậy nên khi thi hành lịnh phạt là chạy vô ‘chambre’ ngồi trên giường sắt, chỏng cẳng ra… lấy hai tay kéo cái quần ra cái rẹt chưa tới 30 giây! Lại vác súng chạy ra trình diện Thiếu úy. Trên vẫn còn là áo lính mà dưới lại là… cái quần xà lỏn! Thiếu Úy, cán bộ trực ban, thấy mắc cười sao đó nên cho tui đi nghỉ sớm!

Còn cái thằng ‘tè’ bậy ở giao thông hào tối qua, quần áo nó sửa vừa khít nên loay hoay hoài, quần cởi không ra, nên vẫn còn tiếp tục bị phạt, hít đất, nhảy xổm một, hai hoài! Thấy cũng tội nghiệp cho chiến hữu hơi ‘bị’ xui!

Thằng nầy còn nhiều chuyện vui lắm! Học bài trung đội phòng thủ là phải đào hố cá nhân! Mấy đứa ‘ma le’ chọn hố mấy khóa trước huynh trưởng đã đào, rồi lấp lại, nên cát mềm, mình chỉ xúc lên thôi cho đỡ cực. Đào xong, nằm dưới hố, nó chỏng cẳng quánh một giấc. Tối về, điểm danh đại đội sao thiếu mất một thằng. Cán bộ phải đích thân chạy Honda ra bãi kiếm, lôi chú lên để chở nó về!

Chiều áp lễ Giáng sinh, ngày 24 tháng 12 năm 1972, trường có tổ chức một buổi trình diễn văn nghệ cho các tiểu đoàn Sinh Viên Sĩ Quan xem. Thằng bạn cùng trung đội 242, Đặng Hữu Hiếu, giờ ở Sydney, làm trưởng ban văn nghệ! (kiêm quản ca, bắt nhịp mấy bài hành khúc, đường trường xa con chó nó tha con mèo, khi đại đội di chuyển trong khuôn viên nhà trường).

Chị của Hiếu là ca sĩ Đăng Lan, lúc đó cũng đang nổi như cồn trên radio, truyền hình với bài ‘Thương quá Việt Nam của Phạm Thế Mỹ’ Em nghe gì chăng hỡi em!

Đặng Hữu Hiếu và Chung Văn Quảng được đi phép 48 tiếng, (cái nầy ngon vì quân trường phép tối đa chỉ có 24 tiếng mà thôi) về Sài Gòn chở trống, đàn lên và mời được mấy ca sĩ như: Đăng Lan, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín lên hát giúp vui.

Chị Đăng Lan kêu đứa nào đi kiếm bột mì tinh rắc lên sân khấu cho trơn trơn, để một chút khi hát chị đòng đưa qua lại theo điệu nhạc mà không bị vấp. Tui là Tổ trưởng Vui sống của tiểu đoàn, xếp luôn của ban Văn nghệ và ban Báo chí nên đóng vai trò sắp xếp chương trình, ai hát trước, ai hát sau, hát bài gì cho ban nhạc nó biết mà chuẩn bị dạo đờn. Bây giờ gọi là MC đó!

Mở đầu chương trình là lính hát lính nghe. Thằng Chung, gốc Bắc 54, cây nhà lá vườn của đại đội nhưng giọng hát của nó thôi thì lâm li bi đát… lúc thầm thì kể chuyện: Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi. Nàng có đôi người em có em chưa biết nói. Tóc nàng hãy còn xanh. Tôi là người chiến binh xa gia đình đi chiến đấu. Tôi yêu nàng như yêu người em gái tôi yêu…

Rồi vui tươi, cửng cửng khi cưới vợ! Cưới vợ mà cưới được người mình yêu là vừa vui mà vừa sướng nữa! Nhạc chuyển qua hành khúc. Quảng, bass; Hiếu, lead guitar, giựt giựt…

Ngày hợp hôn tôi mặc đồ hành quân. Bùn đồng quê bết đôi giầy chiến sĩ. Tôi mới từ xa nơi đơn vị về. Tôi mới từ xa nơi đơn vị về. Nàng cười vui bên anh chồng kỳ khôi. Thời loạn ly có ai cần áo cưới. Cưới vừa xong là tôi đi.

Đồi tím hoa sim… Đồi tím hoa sim…trong ‘Áo anh sứt chỉ đường tà!’ Phạm Duy phổ thơ bài ‘Màu tím hoa sim’ của Hữu Loan và câu ca dao, mở đầu chương trình. Thằng Chung hát thì khỏi chê rồi nên khi dứt bài nó giơ tay lên chào kiểu nhà binh! Dẫu gì cũng là sinh viên sĩ quan trường bộ binh Thủ Đức chớ bộ nên chào kiểu gặc gặc đâu có được!

Liên đoàn trưởng sinh viên: Đại tá Lộ Công Danh vỗ tay. Còn khán giả, mấy tiểu đoàn khóa sinh đàn em (lúc đó khóa 4/72 đã là siêu huynh trưởng rồi! Nghĩa là hổng ngán thằng nào hết! Trừ cán bộ! He he!) hoan hô huýt sáo rầm rĩ. Vui như Tết ‘ta’ tới!

Đến phiên Nguyễn Chánh Tín! ‘Chú Tín’ mặc đồ vía, mang đôi giày cao cổ, có hai cái bánh xe nho nhỏ, làm đồ trang sức trên gáy đôi giày như cao bồi của Mỹ vậy! Hát bài: ‘Vết thù trên lưng ngựa hoang” của Phạm Duy và Ngọc Chánh thì phải mặc đồ như cỡi ngựa là đúng quá xá rồi!

Tuy sân khấu có bậc tam cấp bằng gỗ để bước lên, cao chưa tới một mét. Đang ngồi hàng ghế đầu, dành cho ca sĩ và quan lớn… nghe giới thiệu tên mình, ‘chú em’ bèn phóng lên một cái rẹt. Xui cái là nền sân khấu có rắc bột mì tinh rồi nên trơn, ‘chú’ té xoạc cẳng, thiếu điều rách cái quần ‘chiến’, nằm một đống! Trong cánh gà tui vội chạy ra đỡ dậy. Coi ‘chú’ có sao không?!

Đám sinh viên sĩ quan ngồi ở dưới cười ồ! Cũng như tui, đám bạn sinh viên sĩ quan nầy sẽ tốt nghiệp, sắp sửa lên đường ra mặt trận thì không ‘mặn mà’ cái đám trốn lính, hoãn dịch vì lý do gia cảnh hay học vấn gì ráo, để bám riết ở cái đất Sài Gòn. Đất nước lâm nguy thất phu hữu trách! Đi lính là đi hết ráo, đứa nào như đứa nấy mới thiệt công bình! Tụi mình sắp ra trận, sống chết tới nơi mà ‘y’ chơi: ‘Ngựa hoang nào giẫm nát tơi bời!’ Thì e hổng có hợp thời… ‘trang’?!

Té đau thì ít nhưng quê hơi ‘bị’ nhiều, ‘chú Tín’ cầm cái micro, rống luôn cho mầy một hơi ba, bốn bản! Chuyện hồi xưa, 42 năm rồi còn gì! Lúc đó đi lính sao mà vui quá xá!

Sau 75, hết hát mà là bi đát! Tù cải tạo về, tụi tui lại gặp ‘chú Tín’ trên truyền hình với loạt phim tuyên truyền: ‘Ván bài lật ngửa!’. Thấy ‘chú’ móc súng ra, bắn bể hai cái bong bóng và nhảy đầm cùng ‘em’ Thanh Lan. ‘Cha’ nầy hồi xưa trốn lính, làm sao biết cây Colt 45 mặt tròn méo ra sao nên giỏi lắm bắn bể hai cái bong bóng là cùng!

Nhưng thôi! Tui có kể chuyện xưa, khều nhè nhẹ một chút, chớ không nhào vô phe tụi nó ‘quánh hội đồng’ khi nghe tin ‘chú Tín’ mới vừa khánh kiệt! Phải làm cái bang, ông đi qua bà đi lại đâu nhe! Đời mà! Xưa nó nhờ cái mã đẹp trai của ‘chú’ để tuyên truyền. Giờ ‘chú’ chỉ còn đẹp lão! Xài đâu có vô được chỗ nào. Vắt chanh là phải bỏ vỏ! Chớ hổng lẽ tụi nó bỏ vô mồm… mà nhai luôn! The lắm!

Rồi ra trường, mỗi thằng đi mỗi ngả. Vũ Đình Trường! Chí tang bồng hồ thỉ anh quỳ xuống! Đứng lên! Thành chuẩn uý! Xa Thủ Đức! Anh lên đường ra chiến lũy! Từ biệt em rồi! Anh vẫn nhớ Tuyến B!

Thảng hoặc có gặp vài thằng bạn cũ chung tiểu đoàn 2. Có đứa được qua cảnh sát, mang lon thiếu úy; vì cảnh sát không có lon chuẩn úy như Thiếu úy Nguyễn Văn Khanh, trưởng cuộc xã Bằng Tăng, Ô Môn, Cần Thơ… sau về Giám Sát Viện Vùng 4, nhà ở Cầu Hàn, Tân Thuận. Lên Web tìm thì thấy thằng Đặng Văn Đời, thằng Đa, thằng Hồ Tấn Lạc. Lạc ơi! Mầy có nhớ những ngày tao với mầy và thằng Hồ Tuấn Kiệt đi chiến dịch hiệp định Paris ở Tân Phú Trung, Bình Đại, Kiến Hòa năm 73 không? Tối mầy binh xập xám ăn ‘cha’ Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã luôn cây Colt 45. Sáng ‘chả’ về ăn cắp tiền vợ chung cho mầy để chuộc lại cây súng làm vật hộ thân và đeo lấy le chơi! Giờ biết bạn hiền xưa phiêu bạt tận phương nào?

Còn trường Bộ Binh Thủ Đức cũ của chúng tôi đã kiên cường chiến đấu cho tới 10 giờ 20 phút ngày định mệnh 30 tháng 4 năm 75, khi Tổng Thống Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng mới đành buông súng. Đại Úy Trác, tiểu đoàn trưởng xưa, nghe lịnh bàn giao… đầu hàng… mà khóc nức nở!

Nhà thơ Thanh Nam từng viết: “Một năm người có mười hai tháng. Ta trọn năm dài một tháng tư!”

Tháng 4 lần nữa lại về trên quê người viễn xứ! Đốt lò hương cũ đọc thơ xưa!

Ơi hỡi quê hương bè bạn cũ. Những ai còn mất giữa sa mù. Mất nhau từ buổi tàn xuân đó…, hồi ức nầy để tưởng nhớ những người bạn trường Bộ Binh năm ấy có nhiều đứa đã ngã xuống ở chiến trường. Và cũng để thăm hỏi những anh em mình, đã gần tuổi 70 rồi, mà vẫn còn làm thân lưu lạc!

Nhưng: “Mưa nào mà không tạnh phải không? Hỡi mấy thằng bạn cũ của ta!”

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

4/72 SQTBTĐ.

Anh Ba ‘Phi-lê’

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 21 Apr 2026

Tranh Bảo Huân

Gần cả tháng nay, em yêu đi chợ về, mặt nhăn mày nhó. Ðồ ăn cái nào cũng đắt, cũng mắc. Tiền già bị nó ngắt te tua như tàu lá chuối trong cơn gió loạn.

Nghe em yêu rên rỉ như vậy, mấy giáo sư Kinh tế nghe cũng kinh đến thế; bèn chạy u ra siêu thị để xem sự thể ra sao?

Thì y như kinh, chớ em yêu của tui không có phao tin giả. Khoảng 7000 mặt hàng chưng trên kệ tại Woolworths và Coles cái nào cũng lên giá như pháo thăng thiên. Từ dầu, bơ, sữa, trứng, mì ống, trái cây, rau cải… tăng 15-20% hay hơn nữa. Thực phẩm tăng, tất nhiên đi nhậu ở nhà hàng tốn nhiều tiền hơn. Tốn thêm thứ một chút là tốn khẳm địa.

Mà đâu chỉ nước Úc Kangaroo nầy bị lạm phát đâu. Chú Sam Hoa Kỳ và 38 nước trong khối OECD, (Tổ chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế Thế Giới) giá cả đều tăng hết ráo.

Nhưng tại sao giá cả lại tăng? Nếu không biết câu trả lời, cứ bắt chước các chánh trị gia đổ thừa cho COVID-19 là xong ngay.

Vì đại dịch, nhà máy phải đóng cửa. Sản xuất ít hàng hóa, giá tất phải lên. Thiên hạ bu lại giành nhau mua; ngu sao mà không bán mắc chớ?

o O o

Anh Ba Hợi hồi còn trong nước có cái sạp thịt heo trong chợ Tân Ðịnh, đường Hai Bà Trưng, quận Nhứt Sài Gòn. Qua Úc, thấy thiên hạ ít ăn thịt heo, (vì một số theo đạo Hồi nó cữ). Ngon nhứt hạng trên thế giới (chỉ thua thịt bò Kobe của Nhựt) vì Bò Úc được nuôi bằng cỏ với hèm bia. Nên Úc gốc Anh, gốc Ý, gốc Hy Lạp, gốc Trung Ðông… gốc cây, đứa nào cũng đớp. Chỉ có mấy đứa Chà Và cà ri, theo đạo Hindu là nó cữ. Nhưng số thờ bò nầy ít, không đáng kể.

Vì vậy, dù Úc nói tiếng Anh, anh Ba Hợi đổi qua tên Tây Phi Lê (Fillet) cho nó oách để đi bán thịt bò.

Mấy em ‘Mít’ đi chợ Footscray cười nhạo ảnh! Một chữ tiếng Tây không biết mà còn lấy le, lấy tên là ‘Phi Lê’. Mấy em tẩy chay cái tên Phi Lê, gọi là anh Ba Bò (ám chỉ ảnh ngu như bò). Sở dĩ mấy em không thích anh Ba Phi Lê vì anh có tật dê. Thấy em nào đẹp đẹp, sạch nước cản, đi chợ một mình không có chồng tò tò theo xách giỏ là ảnh bán rẻ. Lúc giao thịt, còn tranh thủ cọ quẹt tay của người ta. Thiệt là thằng cha già mất nết!

Làm nghề đồ tể gần hết cả đời, kinh nghiệm cùng mình, anh Ba Phi Lê cho tui biết: “Thịt bò hiện giờ mắc hơn tới 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 31 năm bên Úc làm nghề bán thịt bò, tao chưa từng thấy điều gì như vậy. Tao nghĩ có thể sẽ tăng từ 10 đến 15% trước cuối năm nay. Và nó vẫn chưa kết thúc”

Tui hỏi sao anh biết? Mặc dù nhỏ bú sữa bò, lớn lên bán thịt bò, nhậu cũng ‘bít tết’ bò, ‘phi lê’ bò nhưng thằng chả không ngu như bò đâu. (Chỉ ngu như con lừa thôi). Anh Ba Phi Lê cắt nghĩa tại sao thịt bò Úc nó mắc nghe rất là thông thái như vầy nè: “Nước Úc hạn hán khốc liệt gần 10 năm liên tục. Trời không mưa. Ðất không nước. Cỏ không mọc. Bò lấy gì nhơi? Hậu quả tất nhiên đàn bò thịt khắp nước bị giảm xuống. Nuôi bò ít, ắt thịt bò cũng ít. Thịt ít mà dân Úc ăn cũng vậy tất giá ắt phải lên, phải mắc hơn! Giàu có tiền, cứ ăn, mắc rẻ đâu là chuyện lớn! Nghèo thì treo mỏ, nhịn thèm nhểu nước miếng, dòm miệng thiên hạ ăn!”

Anh tiếp tục lên giọng làm cha: “Bấy lâu nay anh thấy chú mầy đem bụng ở đời. Giờ ăn ít thịt để giảm cân, giảm mỡ máu. Ðỡ tốn.

Anh cũng nói y hịt như vậy với con vợ anh ở nhà. Nó kính cẩn nghe lời (hiếm khi lắm nhe) nên cái vòng số hai của em yêu thon gọn hơn. Anh chú mầy đã ở nhà mỗi tối nhiều hơn. Tuần chỉ trốn đi nhậu có một lần; chớ hổng phải tối nào cũng đi như lúc trước”

“Tuy nhiên, may một cái là gần đây nước Úc mưa nhiều hơn, đồng cỏ xanh tốt hơn. Ðàn bò nuôi lấy thịt đang hồi phục. Chú mầy chỉ cần thắt lưng buộc bụng ít ăn thịt bò chừng một năm rưỡi nữa thôi.

Còn ngay lúc nầy, nguồn thịt bò có hạn mà người ăn vẫn nhiều thì giá thịt bò vẫn vọt lên như hoả tiễn. Giá thịt cừu cũng tăng nhưng ít hơn thịt bò”.

Và vẫn còn may mắn cho túi tiền em yêu của tui là: dăm bông, xúc xích, thịt băm, thịt gà tây và thịt heo giá vẫn còn suýt soát như hồi năm ngoái.

Tranh Bảo Huân

Tui hỏi anh Ba Phi Lê: “Có phải anh cắt nghĩa vòng vo để biện hộ cho chuyện bán thịt bò cho con vợ tui mắc quá phải không? Tui nghỉ ăn thịt bò. Tui ăn tôm hùm?”
Anh Ba Hợi nghe vậy thất kinh hồn vía, tưởng tui mới vừa trúng số, nên nhìn tui lom lom, rồi hỏi: “Cu li! Tiền đâu chú mầy ăn tôm hùm?”

Bị chê là cu li, nghèo, ăn tôm hùm? Sức mấy? Tui tự ái, quạt lại: “Bán thịt bò, anh chỉ biết con bò. Anh không nhìn xa hơn cái ‘ngầu pín’. Anh không biết gì ráo mà còn ba xạo”

Tui lên giọng thầy đời: “Úc và Trung Cộng đang chơi nhau trận chiến tôm hùm đó!”

Ngửa cổ làm một hơi, hết chai VB (Victoria Bitter) cho thấm giọng, tui lên lớp anh Ba Phi Lê một bài về con tôm hùm thời mắc dịch như vầy nè: “Tôm hùm là món hẩu xực trong ẩm thực Trung Quốc.  Tàu Cộng nhập 90% số tôm hùm Úc xuất cảng. Nghĩa là có 10 con tôm hùm, Úc đem đi bán thì chú, thím ba giành ăn hết 9 con. Nên dân ngu khu đen như tui với anh bấy nay chỉ được ăn tôm hùm xào tỏi trong mơ thôi… vì nó mắc quá!”

“Nhưng giờ gió đã đổi chiều! Tôm hùm một ký chỉ còn 70 đô, bằng nửa giá năm ngoái!” “Trong khi giá thứ nào cũng leo lên giá tôm hùm lại tuột xuống? Tại sao vậy?”

“Chẳng qua Úc kêu Trung Quốc điều tra con ‘coronavirus’ ở đâu ra để thế giới biết để phòng ngừa cơn đại dịch mới có thể lại sẽ xảy ra. Yêu cầu vậy là đúng. Ðâu có gì là quá đáng?”

Nhưng nghe vậy, Tàu Cộng như đỉa phải vôi, ngúng nguẩy và giận lẫy. Chú ba bèn cấm nhập lúa mạch, bông, rượu vang và ngay cả tôm hùm… Ngay cả than đá chú ba cũng cấm. Mùa Ðông, nhà máy nhiệt điện không có than đá đốt lò. Thiếu điện lạnh quéo. Làm ‘bu-gi’ của mấy chú ba teo héo bằng trái ớt hiểm.

Úc tức quá đi thưa WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) chuyện Trung Quốc bán buôn cà chớn, bất chấp luật lệ quốc tế. Chơi đểu! Không công bằng! Thấy cơ hội làm ăn, mấy chú ba Hong Kong chớp thời cơ nhập tôm hùm và hải sâm của Úc lên gấp đôi. Rồi chờ khuya khuya, lấy xuồng cao tốc chở qua đại lục bán kiếm tiền. Bọn Hải quan Hong Kong đánh hơi được. Chúng muốn ăn tôm hùm và hải sâm miễn phí bèn tổ chức vây bắt. Tôm hùm, hải sâm lên tới hàng tấn bị tịch thu. Cụt vốn mà còn nhốt người ta nữa. Cục trưởng Hải quan Hồng Kông tuyên bố tôm hùm, hải sâm của Úc nhập lậu vào Trung Quốc đại lục là mối đe dọa an ninh quốc gia.

Úc bèn lên tiếng hỏi: “Tôm hùm nhập cảng là để hẩu xực mà đe dọa an ninh quốc gia cái giống gì?”. Úc yêu cầu Tàu giải thích nhưng mấy chú ba nầy nín khe.

Cái thói của CS, (dầu bên Tàu, bên Ta) đều một giuộc. Muốn bắt ai thì chụp cho nạn nhân cái mũ ‘đe dọa đến an ninh quốc gia’

Chính vì những chuyện tào lao của mấy chú ba Tàu như vậy nên tôm hùm Victoria giá đang rẻ nhứt trong 6 năm tính từ năm 2015.

Thôi thì vì cái nghĩa đồng bào, giúp ngư dân Úc đang dội chợ, chúng ta ăn tôm hùm. Vừa ngon lại rẻ.

Tui tin chắc như bắp là trên hầu hết các bàn tiệc Giáng Sinh của người dân Úc năm nay chắc sẽ có: Tôm hùm nướng bơ tỏi, nướng phô mai, rang muối, hấp bia. Tôm hùm xào mì, xào miến.

Càng kể nước miếng của tui càng nhểu ra, chảy dài tới rún hè!

Đoàn Xuân Thu