This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Hồi mới qua, tui được mấy thằng Úc dạy nghề an ninh (security) một tháng. Ðược Cảnh sát tiểu bang Victoria cấp ‘lái sần’ (licence), tui đi làm bảo vệ. Làm con ‘ki ki’ giữ nhà cho chủ nghĩa tư bản. Làm mọi cho tài phiệt Do Thái. Nói thiệt ra đó là một khu thương mại có nhiều nhà hàng, quán rượu, khu ẩm thực (food court), lẫn tiệm bán quần áo thời trang… sát bờ sông Yarra, trung tâm thành phố Melbourne. ‘Job’ làm không cực nhọc như làm hãng Ford, phải rượt theo cái băng chuyền tự động chạy ào ào, mệt lắm! Cũng không khiêng vác gì nặng. Chỉ cần mặc đồng phục na ná quần áo của mấy thầy đội Úc để nhát ăn trộm. Thằng ‘boss’ nó dặn: “Nhát thôi nhe! Ðừng có ngu làm anh hùng, đương đầu với tội phạm. Mấy thằng ‘xì ke’ đó nó đang đói thuốc; nó móc dao ra là cha chú mầy cũng chết. Có gì cứ kêu phú lít. Ðó là chuyện của Cảnh sát. Nhớ chưa?”Như vậy cái ‘job’ bảo vệ nầy không bảo vệ ai cả, thấy tội phạm thì la làng. Chỉ cực cái là đêm thức, ngày ngủ. Cả năm không thấy ánh mặt trời nên thiếu Vitamin D! Da mặt xanh lè, xanh lét, xanh mét! Người rút lại còn chút éc như đang làm bạn với ả phù dung.Mấy thằng Úc đồng nghiệp nó chỉ tui là mỗi giờ đi tuần cứ dợt qua, dợt lại trước máy thu hình chừng 5 phút thôi. Khoảng thời gian còn lại muốn làm gì thì làm. Ðừng có ngủ là được. Vì sáng ra, coi lại màn hình, thằng ‘boss’ nó không thấy mình đi lên đi xuống mấy tầng lầu siêu thị canh chừng ăn trộm là thôi rồi Lượm ơi! Nắm đầu mình nó đuổi là mình móc bọc.
Nhờ cái bí kiếp ‘ma lanh’ đó, nên thằng ‘boss’ của tui, luôn miệng khen: “Vietnamese! Good! Good”. Nó nói ngắn gọn thôi. Vì nói nhiều tui đâu có hiểu. Nó nói tiếng Anh của tui nghèo (poor) nhưng được cái là tui siêng. Thằng nầy xạo, nói cho tui khoái để tui làm đêm cho nó ròng rã từ năm nầy qua năm khác. Vì cái vụ ca đêm nầy, đâu thằng Úc nào chịu làm. Nó sợ con vợ nó đêm ở nhà một mình hay làm sảng.
Vậy là tui cứ an tâm cày. Ước mơ quê người trở lại trường đại học đành hẹn kiếp lai sinh! Vì phận làm chồng, mình phải nuôi vợ. Như ông nội nuôi bà nội. Như tía nuôi má vậy thôi!
Làm được chừng 4 năm, dành dụm được một mớ. Em yêu ra nhà băng hỏi vay tiền để mua một căn nhà. Trong tài khoản của tui được 20 ngàn đô, bằng 10% tiền cọc. Bốn năm nay, tui chỉ làm cho một công ty; chớ không cóc nhảy tùm lum như mấy thằng Úc. Tiền lương mỗi hai tuần của tui ổn định. Tui có thể trả tiền nợ nên nhà băng đồng ý cho vợ chồng tui mượn. Ðời mà! Có thóc nó mới cho mượn gạo. Có tóc nó mới nắm được đầu mình. Vậy là vợ chồng và hai thằng cu con dời về cái nhà do nhà băng làm chủ. Phải cày trả cho nó suốt 25 năm râu dài tới rún. Em yêu bèn kêu thợ lại sửa cái nhà xe để cho mướn. Vì tiền nhà hết phân nửa tiền lương rồi! Ðâu còn bao nhiêu để đi chợ, trả ‘bill’ và nuôi con ăn học chớ?
Ðăng báo rao vặt được mấy hôm thì anh Ba Tèo gọi điện thoại cho tui xin mướn. Ảnh đến coi cái nhà xe. Còn tui coi cặp giò của ảnh. Có phải là phường Lương Sơn Bạc, đầu trộm, đuôi cướp, xì ke, ma túy hay không? Chớ hớp tớp mình rước cọp vào nhà coi chừng có ngày nó ăn thịt em yêu của mình.
Té ra tui đa nghi như Tào Tháo. Nhìn người dưới cặp mắt kiếng màu đen. Ai cũng xấu hết ráo. Ảnh đến coi chỗ mướn mà còn vác theo một thùng Budweiser, bia Mỹ làm lễ ra mắt chủ nhà. Anh Ba Tèo cười he he nói: “Mình sống ở Úc, phải uống bia ngoại, bia Mỹ mới đúng điệu dân chơi Cầu Ba Cẳng. Hành động tế nhị đó làm tui rất lấy làm đẹp dạ. Tui cũng làm bộ biết điều. Bánh ít đi; bánh quy lại. Anh tốn tiền bia. Tui tốn tiền mồi. Vậy là tui xào một dĩa trẹt đầy ú thịt bò Úc bún tàu và đậu phộng. Dĩa thịt bò còn bốc khói thơm phức! “Gắp đi anh!” Một bữa nhậu thấm đậm tình quốc tế đảng Ve Chai! Bò Úc, bia Mỹ và hai thằng Mít.Làm cạn vài chai. Trao đổi nhau vài chiêu, bốc phét qua lại để biết trình độ võ công của nhau thâm hậu đến dường nào?
Ảnh thấy trên vách, tui có lộng kiếng hình hai trái bưởi ế kinh. Ðể khỏi làm tét nhánh, chủ vườn dùng một cái nịt ngực để bợ hai trái bưởi lên.
Anh Ba Tèo nhìn hình, nuốt nước miếng nghe cái ực. Ảnh nói: “Bây giờ mới hiểu sơ sơ hai câu thơ của Phạm Thiên Thư trong bài Ðộng Hoa Vàng:
“Thôi thì em chẳng yêu tôi!
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng”
Tui cãi lại! Cựu nhà sư kiêm nhà thơ Phạm Thiên Thư làm hai câu nầy không phải nói trái bưởi ế kinh như anh nghĩ đâu. Nếu có, là hai câu nầy nè: “Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền. Ðôi gò đào nở trên miền tuyết thơm”. Diễn Nôm ‘Ðôi gò đào’ là hai trái bưởi đó cha nội!
Còn cái vụ hứng bất tử ‘Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng’ là ổng chôm cái ý của câu ca dao: “Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!” Ý ổng tiếc con ghệ, xưa là của ổng, sau vì ổng đi tu để trốn quân dịch; mà đạo lại không cho cái vụ đó; nên em bèn ngồi sau yên xe cho thằng khác chở… đi chơi!
Chớ làm chủ Ðộng… Hoa vàng thì ổng làm gì còn xí quách mà mơ tới hai trái bưởi như tui?
Cạn gần hết thùng bia, đôi bên cũng tình thương hơi mến thương nên tui đi đại ‘bốt đờ sô’ vô đời tư của ảnh. “Trước anh Ba ở đâu?” “Thì ở với con vợ tui!” “Sao không ở nữa?” “Tại nó đuổi tui” “Lý do?” “Ðâu có lý do gì! Chẳng qua tui có óc hài hước mà con vợ tui thì không! Chuyện tui cười thì nó lại quạu”.
Mới tháng rồi nè! Vợ tui không chịu đầu hàng trước vẻ ngày càng già nua. “Em yêu của tui ra tiệm thuốc Tây, mua một đống mỹ phẩm đắt tiền với hy vọng mình dối già, sẽ trẻ hơn nhiều so với tuổi thiệt.
Sau một hồi ngồi trước gương bôi các sản phẩm ‘thần kỳ’, em hỏi: “Anh Tèo, hãy nói một cách thành thật! Nếu anh chưa hề biết em, anh sẽ nói em đang ở độ tuổi nào?”
Nhìn em một cách cẩn thận, tui trả lời: “Làn da của em, 20; tóc của em, 18; và dáng của em, 25.”
“Quỷ nè! Ðồ nịnh đầm!” Vợ tui bĩu môi. Ngay khi em định nói phần thưởng đêm nay, thì tui ngăn lại
“ Khoan khoan! Hãy để anh cộng mấy con số đó lại đã”
Vậy là em vụt cái bịch rác đựng quần áo của tui ngay trước cửa. Mặt hầm hầm như ai ăn hết của. Em không nói một lời nào. Vốn là một con người lịch sự, tôn trọng sự tự do của con vợ tui; em đuổi, tui lẳng lặng lái xe đi ra bãi đậu xe để làm ‘homeless.
Ðược vài bữa, con vợ tui dán bố cáo ngoài chợ Footscray là: “Nếu bạn đã nhìn thấy anh Tèo, hình đính kèm trên đây ở đâu? Vui lòng cho tui biết theo số mobile…Xin hậu tạ 50 đô! Lòng tui đang rất lấy làm lo lắng!”
Nhưng anh ơi! Chữ rằng tức nước ắt vỡ bờ. Sức chịu đựng ai cũng có hạn phải không nè? Lòng tự ái của tui đã tổn thương quá nặng. Chén nước em đang tâm đổ xuống thì hốt lại có được đâu? Vì nó chảy mẹ hết trơn rồi! Giận vợ dứt áo ra đi; vợ theo năn nỉ; hổng có cái vụ tù ti trở về đâu mà ham.
Nghe anh thề như dao chém đá, nháng lửa, tui òa lên khóc. Anh ngạc nhiên “Yểm bi lụy! Yểm bi lụy! Chớ ai bi! Chớ ai bi. Sao khóc vậy cha?”
Tui mếu máo trả lời: “Tình cảnh của tui cũng y hịt như anh! Tui cũng tính bỏ con vợ tui để đi về chân trời tím. Nhưng chân trời tím xa quá. Ði mỏi cẳng. Nên tui tính dọn xuống nhà xe cho khuất mắt em yêu. Giờ nhà xe, em đã cho anh mướn rồi thì tui biết phải về đâu? Hu hu!”
Từ ngày nghỉ hưu, tôi trở về sống ở Dronten, thuộc miệt đồng bằng Flevoland, phẳng lặng với kinh rạch chằng chịt, một mảnh đất nổi tiếng thế giới được bàn tay của người Hòa Lan lấy lên từ dưới biển.
Sáng nay, tôi mới nhận ra một điều tuy rất nhỏ nhưng nó lại mở ra một ý niệm sống mới: ban mai không còn đánh thức tôi bằng tiếng chuông báo thức khô khốc, chát tai phát ra từ chiếc điện thoại thông minh nữa. Thay vào đó là luồng ánh sáng dịu dàng xuyên qua kẽ hở của màn cửa, cùng tiếng chim ríu rít ngoài vườn. Một sự trái ngược hoàn toàn với nhịp sống căng thẳng, đều đặn suốt quãng đời thủy thủ lênh đênh sông nước của tôi trước kia.
Tôi xuống bếp pha một tách cà phê rồi mang lên phòng. Nhẹ tay kéo tấm màn che, bên kia con đường, mặt trời vừa nhô khỏi mái nhà, ánh sáng tràn ngập căn phòng. Tiếng chim càng thêm rộn rã. Dưới đường, một chiếc xe đạp điện lướt nhẹ trên con đường sỏi trộn xi măng màu đỏ, sắc màu quen thuộc trải đường, vốn đã trở thành một nét đặc trưng dành riêng cho xe đạp phẳng phiu trên khắp đất nước này.
Tôi là một người Việt tị nạn, đã định cư tại Hòa Lan gần nửa thế kỷ. Những ngày đầu đặt chân đến đây, tôi lao vào làm đủ mọi nghề để kiếm sống, cuối cùng chọn gắn bó với nghề thủy thủ. Những chuyến hải hành viễn dương đưa tôi đi khắp thế giới, hòa mình vào đủ nền văn hóa xứ người, đến mức đôi khi tôi không còn nhớ rõ về nền văn hóa mình đã rời bỏ năm xưa và lại càng xa lạ với những biến động quê nhà dưới chế độ mới. Cứ mải mê làm việc, tôi cũng không để ý nhiều đến văn hóa xứ sở hoa tulip, chỉ mơ hồ cảm nhận: ở đây, người ta đặc biệt quý trọng thời gian và giá trị con người.
Tôi vẫn nhớ những năm đầu, chân ướt chân ráo tới đây, khi còn bỡ ngỡ nhưng đã cảm thấy nhẹ lòng trước bộ máy hành chánh gọn nhẹ của Hòa Lan. Những việc mà ở Việt Nam có khi phải chờ đợi ngày này qua tháng nọ, thì ở đây chỉ mất vài phút hoặc cao lắm một tiếng đồng hồ là xong. Những người bản xứ thấy ngôn ngữ tôi bập bẹ, ngơ ngác nhiều cái hổng hiểu, họ vẫn vui vẻ chỉ dẫn tận tình, tuyệt nhiên không hề bắt nạt hay gợi ý đòi tiền như lúc tôi còn ở quê hương. Cái cảm giác được đối xử công bằng như một con người bình thường, không bị khinh rẻ, đối với một người tị nạn như tôi là một sự ấm áp rất người và vô cùng quý giá.
Tình người ở Hoà Lan thật âm thầm mà sâu sắc. Nhà nào cũng đóng cửa suốt ngày, hàng xóm tưởng chừng khép kín “nhà nào biết nhà nấy”, vậy mà khi hay gia đình tôi có chuyện buồn, họ lại rất quan tâm. Hôm bà xã tôi nằm viện, sáng sớm Marja, người phụ nữ sống cạnh nhà, tới bấm chuông cửa và trao tận tay tôi bó bông tươi rói: “Gởi tặng vợ ông, và nói với bà ấy rằng tôi sẽ sắp xếp thời gian tới thăm.” Câu nói đơn giản ấy như một lời xác nhận rằng tôi không hề lạc lõng giữa xứ lạ quê người.
Có một sáng, tôi vội vã đạp xe ra bến cho kịp giờ xe buýt đi thăm bịnh, thì xe đạp bị bể bánh giữa đường. Đang lúng túng, chưa biết phải làm gì thì một người đàn bà dắt chó đi ngang qua dừng lại hỏi han. Nghe tôi lo lắng vì sợ trễ chuyến xe, bà nói chắc nịch: “Ông cứ để xe đạp lại đây cho tôi, đi nhanh ra bến vẫn còn kịp!” Bà biểu tôi đưa điện thoại để bà lưu lại địa chỉ và số liên lạc. Hôm sau theo địa chỉ, tôi tìm đến nhà thì ngạc nhiên khi thấy chiếc xe cũ kỹ của mình đã được chồng bà thay vỏ mới và sửa sang lại ngon lành. Khi tôi hỏi tiền ông, tiền thay vỏ, bà xua tay cười nói: “Ông nhà tôi sửa dùm thôi, không tiền bạc gì đâu, ông cứ đạp về đi!” Suốt gần cả đời người trên mảnh đất xinh đẹp này, tôi đã gặp rất nhiều những tấm lòng nhân hậu như vậy đó.
Mỗi tuần tôi dành ra hai buổi sáng, vô thư viện sinh hoạt. Ở đó hội tụ những con người từ bốn phương trời, dù mỗi người mang một nỗi buồn riêng về quê hương tan tác, buộc phải rời xa, nhưng không khí luôn nhẹ nhàng vui vẻ, không có chỗ cho sự hơn thua hay thị phi. Chúng tôi ngồi uống trà, nhâm nhi bánh ngọt, tập nói tiếng Hòa Lan, chỗ nào bí từ thì chêm tiếng Anh. Câu chuyện xoay quanh từ chuyện nuôi và cư sử với chó, mèo của mỗi nước, đến chuyện thời tiết, hoặc chuyện siêu thị nào đang giảm giá, nơi nào có thức ăn ngon giá rẻ. Những mẩu chuyện vụn vặt ấy trở nên một đời sống chung mà tôi thấy mình thật sự tham dự vào một cách sâu đậm.
Thiệt tình mà nói, tôi đã tìm thấy cách sống mới, một cách sống biết trân trọng những niềm vui đơn giản: một bữa sáng kéo dài, một tách cà phê uống chậm, hay sự ấm lòng khi bước ra đường được hàng xóm gọi đúng tên mình. Nỗi mặc cảm là “người nước ngoài” đè nặng bao năm giờ đã tan biến, nhường cho cảm giác thân tình hơn.
Bây giờ tôi không còn là một du khách đứng bên ngoài nhìn vào châu Âu nữa. Tôi là một phần của nhịp sống nhân văn nơi vùng đồng bằng ngàn kinh rạch này. Sau một đời hải hành vượt trùng dương, có lẽ đây chính là bến đậu bình yên nhất mà tôi không cần phải tìm kiếm đâu xa.
Thằng con trai út của tôi tên Lâm Bình, ngoại hiệu Cu Đen, vừa tròn mười tuổi. Sau khi cắt bánh mừng sinh nhật và hát bài Happy Birthday, nó tuyên bố rằng, từ đây không còn muốn nghe ai gọi tiếng Cu kèm theo tên Đen nữa. Mấy thằng bạn nhỏ của nó, ngoài những đứa Việt Nam, còn có Mỹ, Tàu, Đại Hàn, Thái Lan và Phi luật Tân. Những thằng này không biết tiếng Việt. Cu Đen phải làm thêm một màn thông dịch bằng tiếng Anh.
Nghe xong, chúng trố mắt nhìn nhau, không hiểu lý do.
Một thằng nhỏ Việt Nam, chỉ tay xuống háng: “Cu là cái này.”
“Thế còn Đen?”
“Black.”
Chừng như chúng hiểu ra cái nghĩa Cu Đen, nên phá lên cười muốn vỡ nhà.
Cu Đen trừng mắt: “Tụi mày cười, tao không chơi với tụi mày nữa.”
Một thằng Mỹ con, đề nghị: “Bỏ chữ Cu, thêm chữ Ny sau tên Đen, thành Dannỵ”
Một ý kiến hay, được Cu Đen chấp nhận và cả bọn vỗ tay tán thành. Từ đó, thằng con tôi trở thành Danny, một cái tên ngoài giấy tờ khai sinh. Kỷ niệm sinh nhật năm thứ mười, cũng là kỷ niệm ngày đổi tên. Nhưng cái tên mới này, cũng chỉ có giá trị với những thằng bạn của nó thôi. Còn cả nhà đã quen với tên cũ, không ai chịu gọi nó bằng Dannỵ Mỗi bên nhượng bộ một chút. Thằng nhỏ hết thấy khó chịu. Và người nhà cũng không ngượng miệng phải gọi một tên mũi tẹt da vàng bằng tên Mỹ. Chỉ gọi là Đen. Tiếng Cu đã lỗi thời, đi vào quá khứ. Thật ra, cu còn có nghĩa khác, chứ không phải đơn thuần hàm chỉ bộ phận sinh dục của giống đực. Trong trường hợp con tôi, cu có nghĩa là đứa bé trai. Nhưng khi nhạo báng nhau, người ta không chịu hiểu theo cái nghĩa này.
Không phải tùy hứng mà đặt tên con là Cu Đen, một biệt hiệu ngoài giấy tờ khai sinh. Tất cả đều có nguyên nhân của nó.
Tôi có đứa con gái đầu lòng, đặt tên Khuê. Loay hoay tìm chữ lót. Thị Khuê, thường quá. Ngọc Khuê, có vẻ cải lương. Sao Khuê, tên nghe được, không trùng với ai. Nhưng nếu có người hỏi nghĩa là gì, thì trả lời làm sao? Trên trời có vì sao nào là sao Khuê không? Tôi mở từ điển Hán Việt ra, tra chữ khuê, thì thấy khuê là một vì sao trong nhị thập bát tú. Thế là yên chí, đặt tên con gái là Lâm Sao Khuê.
Năm Sao Khuê chập chững tập đi, thế nước đổi thaỵ Tôi gặp hồi mạt vận, sa chân xuống hầm tai vạ. Thế mà trước đó một năm, lão thầy bói lừng danh ở Sài Gòn, dám đoan chắc rằng sang năm Ất Mão, đời tôi sẽ lên như diều gặp gió.
Lão lý luận nghe rất phấn khởi: “Cậu đang đi lính, lại thuộc tuổi Ngọ. Vậy cậu là con ngựa thứ dữ. Ngựa chiến, chứ không phải ngựa kéo xe tầm thường. Gặp năm Mão là năm con mèo. Mèo là con vật quanh quẩn xó bếp, dám đâu cự lại ngựa nòi? Ngựa cứ thênh thang đường ngựa, mèo chỉ trơ mắt ngó mà thôi.”
Thấy tôi còn đang bồi hồi vì một tương lai rực rỡ, lão bồi thêm cú chót để giữ vững niềm tin. Lão chồm về phía tôi, nói nhỏ như sợ có người nghe thấy: ” Nói thật với cậu, ai thuộc tuổi Tí, mà bước sang năm Mão, thì đời thê thảm lắm. Mèo là khắc tinh của chuột. Chuột gặp mèo, nếu không vong mạng, cũng lắm tai ương.”
” Người tuổi Tí đến đây coi quẻ, thầy có cho họ biết điều đó không?” Tôi hỏi.
Lão ra vẻ hốt hoảng: “Ấy chết! Mình đâu nỡ báo tin buồn quá sớm. Để cho con người ta vui được ngày nào hay ngày ấy.”
Trời xui đất khiến, trong tù, tôi gặp lại lão thầy bói. Lão ở tù vì cái tội bày trò mê tín dị đoan.
Tôi nhắc lại chuyện cũ, và nói: “Con ngựa chiến sút móng, không “dzọt” được. Gặp con mèo, đành phải hoán đổi vị trí. Ngựa lui vào nằm co xó bếp, nhìn mèo diệu võ dương oai.”
Suy ngẫm một hồi, lão thầy bói nói: “Ngày ấy, cậu không cho tôi biết một chi tiết hệ trọng trong gia đình. Đứa con gái của cậu tuổi Sửu. Nó ra đời thì cậu thất thế. Con trâu là khắc tinh của con ngựa. Trâu ngựa không thể cùng chuồng. Trâu vào, ngựa phải ra đi. Nếu ngựa ở lại, sớm muộn gì cũng bị trâu chém đổ ruột. Cậu đi tù là xui, nhưng xa con trâu thì tính mạng được bảo toàn, khỏi bị triệt”
Một lần khác, ông lại thủ thỉ với tôi: “Sau nhiều đêm chiêm nghiệm, tôi mới thấu được lẽ thiên cợ Nói để cậu yên tâm. Tụi nó không làm gì mình được đâu.”
Tôi chán: “Ở tù, bị hành xác, đói gần chết. Óng bảo tụi nó không làm gì được mình?”
“Ối…, chỉ là chuyện nhỏ, không đáng kể. Đời người, ai lại không có lúc hoạn nạn. Cậu có nghe câu sấm truyền “Mã đề, dương cước, anh hùng tận” không?”
“Có nghe, nhưng mỗi người giải đoán một kiểu. Chẳng đâu vào đâu.”
“Này nhé. Nhiều người giải thích, mã đề là chân ngựa, hoặc móng ngựa, đều không hợp với câu sấm. Nói theo Hán tự đàng hoàng, mã đề là ngựa cất lên. Nguyên câu có nghĩa thế này, ngựa cất lên, dê bước tới, anh hùng tận số. Chỉ còn ba năm nữa là tới năm Ngọ, tụi mình sẽ vùng lên. Nhất là tuổi Ngọ của cậu mà lại gặp năm Ngọ, sẽ phất rồng gặp mây. Khởi sự sang năm Mùi, tụi nó sẽ chết không đủ đất chôn.”
Tôi ngồi im lặng. Biết những gì lão thầy bói nói là chuyện hão huyền, nhưng vẫn muốn nghe như một an ủi trong những ngày buồn thảm.
“Tụi nó khoác lác huênh hoang tự xưng anh hùng. Ứng với điềm trời, anh hùng tận. Mình mất Miền Nam, nhữngngười không thông đạt ý trời, bỏ chạy ra nước ngoài. Những người còn lại bị tù, nhưng tướng tinh vững như bàn thạch. Chờ vài năm nữa thôi. Để rồi cậu coi, tụi nó chạy đâu cho thoát? Ngày quật khởi thành công, những anh tướng anh tá từ ngoại quốc sẽ lục tục quay về, nhưng chỉ được đứng chầu rìa, không cho tham gia vào chức vụ gì cả. Lúc đó, vàng thau đã tỏ rồi.”
Bám lấy hy vọng mà sống. Ba năm không thấy gì. Gọng kềm siết mạnh hơn. Bốn năm trôi quạ Đời càng thê thảm. Lão thầy bói bỏ xác trong tù. Mười năm sau, tôi về quê cũ, lao đao khốn khó. Đứa con gái đầu lòng, Lâm Sao Khuê mười hai tuổi, xạm mốc, ốm o, gầy mòn. Dù nghèo nàn cơ cực, nhưng tôi vẫn muốn có thêm thằng con trai nối dõi.
Vợ nói: “Khổ quá, còn đẻ làm chỉ”
Tôi nói: “Phải đẻ.”
“Nếu không được con trai?”
“Tiếp tục đẻ nữa. Chừng nào ra thằng con trai thì thôi.”
Năm sau, vợ sinh con trai. Có người bảo tôi tù rạc nhiều năm, tinh lực bị vắt cạn, tưởng không còn đủ sức có con. Tôi nói, hạt giống của tôi rất tốt, chỉ cần gieo xuống mảnh đất mầu mỡ là nẩy mầm ngaỵ Được dịp tán dóc, tôi còn bày cho mọi người cái phương pháp sinh con trai, con gái theo ý muốn. Với điều kiện, khi làm tình phải theo đúng bài bản chỉ dẫn. Kết quả, nhiều đứa bé ra đời. Có người được như ý, có người không như ý. Cũng may, ai sinh con, hễ thấy mặt thì thương. Dù không như ý, nhưng không có đứa bé nào bị bóp mũi, hoặc thả trôi sông.
Thằng con trai nối dõi tông đường, tôi đặt tên Lâm Khang. Xui cho thằng này. Gặp thời tai kiếp, tôi nghèo quá, phải bồng con đi ở đậu dưới chái hiên, bên hông nhà của một người quen. Chái hiên lợp tôn. Chung quanh chắn gió bằng những mảnh bìa carton. Chỉ chừa cái cửa ra vô, nhỏ như lỗ tò vò. Bên trong, đặt vừa vặn một chiếc giường. Trưa mùa hè, chui vào gian phòng nhỏ này, nóng hừng hực như lò lửa thiêu người. Thằng con tôi khóc hoài, không chịu ngủ. Tôi phải treo chiếc võng cho nó nằm, dưới bóng mát cây xoài. Trưa trưa, vợ ngồi đưa võng, hát những câu ru con buồn não nuột:
Má ơi, đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?
Chim xa cành còn thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm, ngưới ơi.
Nghe thảm quá, tôi kêu lên: “Em ơi, đừng rên rĩ những câu đứt ruột ấy nữa. Hãy hát nhạc vàng cho nó nghẹ”
Vợ nói: “Hát nhạc vàng, bị Công An còng đầu.”
“Thì hát nhạc đỏ, nhạc cách mạng.”
“Anh nghĩ con mình có chịu được với loại nhạc thế này không? Ai nhanh tay vót bằng tay em. Bao mũi chông nhọn hoắt căm hờn… “
Tôi xua tay: “Thôi, thôi. Thằng nhỏ mà nghe nhạc này, lớn lên nó sẽ mọc nanh thành quỷ, hút máu người.”
Tôi xin được cái radio cũ, ngày ngày cho nó nghe đờn ca vọng cổ.
Lâm Khang được hai tháng tuổi, bi tướt. Mỗi ngày, năm ba lần chảy té re chất nước lợn cợn màu vàng nhạt. Mấy bà già láng giềng bảo nó bị đẹn ỉa, phải lể đẹn mới xong. Thằng nhỏ bị căng họng, kéo lưỡi, lể bằng kim maỵ Nó giãy giụa, khóc gần đứt hơi tím mặt. Tôi nóng ruột, không cho điều trị theo phương pháp cổ truyền nữa. Hai tháng rưởi. Nó tiếp tục lên cân, nhưng vẫn còn tướt. Tôi quyết định đem con đi khám ở bệnh viện Nhi Đồng Ị Sau khi nghe tôi nói nó bị ỉa, bác sĩ cho nhập viện ngay, khỏi cần khám.
Chẳng biết khoa con tôi nằm, là khoa gì. Khi nói chuyện với nhau, mọi người gọi là Khoa Ỉa. Cũng có lý. Đã có Xưởng Đẻ, thì có Khoa Ỉa là chuyện bình thường. Vào đây, tôi mới thấy hết được cái tính “khó khăn khắc phục” của nền y khoa xứ mình. Phòng lớn, chứa hai mươi giường. Mỗi giường, có hai em bé nằm thoi thóp. Một đứa nằm đầu trên, một đứa nằm đầu dưới. Chưa kể một số khác, trải những manh chiếu nhỏ, nằm dưới sàn. Con tôi may mắn, được nằm trên giường, chỗ của một bé gái vừa “đi đứt”. Mặt giường trải nylon, để các em tiểu tiện không bị thấm xuống nệm. Cái ghê tởm là đứa này ỉa, chảy tràn ướt lưng đứa kia. Khiếp! Sau hai ngày, tôi đem con xuống nằm dưới sàn. Nhường chỗ trên giường cho một người vừa mới ẳm con đến. Người ấy cám ơn tôi. Trong một nơi chốn, người ta bon chen tranh giành từng chút, chịu nhường nhau một tiện nghi nào đó, lòng tốt ắt phải có lý do.
Mỗi buổi sáng. Mọi người phải ẳm con ngồi sắp hàng trước phòng bác sĩ, chờ khám theo thứ tự. Bác sĩ Khoa Ỉa, không bao giờ bước chân vào phòng bệnh nhân. Dụng cụ hành nghề của bác sĩ, võn vẹn một quyển sổ ghi toa thuốc, và một cái ống nghe. Mang ống nghe như một dấu hiệu biểu trưng cho cương vị bác sĩ, chứ không phải để sử dụng. Vì thế, đi vào phòng ăn, hoặc vào quán tạp hoá trong khu vực bệnh viện, bác sĩ cũng đeo ống nghe, để phân biệt với người thường. Và một điều đáng nễ khác, khi khám bệnh, bác sĩ không hề đụng tay vào người các em bị ỉa. Có lẽ, am tường môn vi trùng học, nên tuyệt đối giữ vệ sinh. Ông chỉ liếc sơ qua cái mặt đờ đẫn, là biết được bệnh trạng ra sao. Tay viết lia lịa lên mảnh giấy, rồi xé cái rẹt, trao cho thân nhân người bệnh. Đây là cái toa thuốc, nhưng tôi không đọc được chữ gì cả. Giống những ký hiệu về âm nhạc. Nếu gộp chung nhiều cái toa, trao cho một nhạc sĩ, có thể đàn được bản nhạc hay.
Mọi người kháo với nhau: “ông này là bác sĩ ngụy của mình hồi trước, được cách mạng lưu dụng.”
“Sao biết?”
“Nhìn cách viết thì biết ngaỵ Bác sĩ cách mạng, viết chậm như rùa. Bác sĩ mình, viết nhanh như gió.”
Tôi tin tưởng “bác sĩ mình”. Cầm toa thuốc lên Phòng Y Dược. Chắc cô phát thuốc cũng là “dược sĩ mình” đã quen đọc ký hiệu, nên liếc qua cái toa, biết ngay thuốc gì. Cô mở lọ này, trút chai kia, trao tôi một bụm thuốc.
Thằng con tôi mới hai tháng rưởi, làm sao nuốt nổi một bụm thuốc thế này? Hình như thuốc nội hoá cần lượng hơn phẩm.
Một số người xấu miệng nói, đôi khi chỉ là bột mì, tinh chế thành viên. Dù mỉa mai chế độ, nhưng không phải không có lý. Câu nói hàm chỉ được một phương cách trị bệnh bằng tinh thần. Từ lâu rồi, ngành y khoa đã thừa nhận rằng, kết hợp yếu tố tinh thần, trong việc điều trị bằng thuốc men, cũng đem lại kết quả rất khả quan. Người xưa còn biết, cái tâm ảnh hưởng rất lớn đến cái thân, nên chủ trương lấy tâm làm gốc. Thân tâm không lìa nhau. Hễ tâm bệnh thì thân bệnh. Tâm vừa máy động, họa phúc liền sinh Điềm đạm hư vô, bệnh nào phát khởi. Quỷ vương lộng hành thời mạt pháp. Trật tự xã hội xô bồ rối loạn. Người người lao đao, cái tâm vọng động không yên, nên sinh lắm bệnh tật. Ra đường, thấy thiên hạ tất tả ngược xuôi, mặt mày lo âu hoảng hốt. Những khuôn mặt ấy, trước sau gì cũng vào bệnh viện. Và vào đây, mới biết thế nào là ý nghĩa của những viên thuốc trị về tâm. Tôi nhớ lúc còn trong tù, mọi thứ bệnh: nóng lạnh, nhức đầu, đau bụng, ỉa chảy, yếu tim, nám phổi, ho hen…, tất cả đều được cấp phát cùng một loại thuốc Xuyên Tâm Liên. Vậy, Xuyên Tâm Liên là thuốc về tâm, trị bá bệnh. Ai chịu, thì tiếp tục sống. Ai không chịu, thì chết. Chết vì tâm bệnh, chứ đâu phải vì thuốc? Hiện nay, chưa có một nước văn minh hiện đại nào trên thế giới, chế được loại thuốc trị bá bệnh, như Xuyên Tâm Liên của nước Việt Nam ta.
Đã nói đến tài ứng biến, và sáng tạo thần sầu của cách mạng, phải nói cho hết, Trong thời gian đi tù, có lần tôi bị chứng bệnh kỳ lạ. Đầu gối sưng nhức, và đái gắt. Dùng Xuyên Tâm Liên cả tháng trời không khỏi. Có lẽ, tâm bệnh quá trầm trọng. Tôi năn nỉ y tá của trại, cho tôi lên nằm bệnh xá để điều trị.
Y tá nói: “Muốn chuyển lên bệnh xá, phải ghi rõ bệnh gì? Nhưng anh khai lung tung, tôi không đoán ra, làm sao chuyển?”
Tôi cố nài: “Xin cứ ghi bừa vào một chứng gì cũng được, lên đó rồi tính sau.”
Suy nghĩ một lúc, y tá hỏi: “Khi còn làm lính ngụy, anh có bị bệnh xã hội không?”
“Bệnh xã hội là bệnh gì?”
“Chẳng hạn như tiêm la, lậu mủ, giang mai, mồng gà… “
“Có bị vài lần.” Tôi nói.
Y tá gục gật đầu: “Anh đái gắt. Tôi ghi là bệnh tiêm la tái phát nhé?”
“Nhưng phải cho tôi biết tiêm la có hiện tượng ra sao, để tôi khai với bệnh xá.”
“Cái bệnh này gây đau nhức dương vật, nếu không điều trị kịp thời, con vi trùng sẽ ăn mất cụ”
Tôi cầm mảnh giấy lên nộp cho bệnh xá. Rồi sắp hàng, ngồi cùng với những anh em các trại khác quy tụ về đây. Chờ kêu tên. Bác sĩ xướng danh từng người, kèm theo chứng bệnh.
Tới phiên tôi, bác sĩ gọi: “Nâm Chương. Bệnh tiêm nạ”
Tôi đứng lên. Bao nhiêu con mắt kinh ngạc mở lớn, đổ dồn về phía tôi như dò hỏi. Vào tù cả năm rồi, làm sao thằng này chui ra ngoài được, chơi đĩ đến nỗi mắc bệnh “tiêm na”? Tôi nóng ran cả người vì ngượng.
Bác sĩ hỏi: “Có đau nhiều không?”
Tôi nói: “Chỉ đái gắt, và đầu gối sưng nhức.”
“Bậy! Từ dương vật, sao lại chạy xuống đầu gối?” ông đưa ngón tay chỉ: “Vào phòng tiêm thuốc cho khoẻ.”
Đúng là lương y như từ mẫu. Ông không hạch hỏi lôi thôi, cũng không hề tỏ ra khó chịu vì căn bệnh xã hội của tôi. Ông chỉ lo cho sức khoẻ bệnh nhân.
Vào phòng tiêm. Tôi thấy nhiều chai nước ngọt hiệu con cọp, và xá xị hiệu con nai, sắp đầy trên những ngăn kệ. Có chai chứa nước màu xanh, có chai chứa nước màu đỏ. Miệng chai được bịt kín bằng miếng nhựa nylon, có quấn dây thun.
Anh y tá hòa hai thứ nước xanh đỏ vào chung trong một cái ly. Đưa cây kim vô ly, bơm đầy ống tiêm. Mỗi người bệnh, được tiêm một ống như thế. Không biết chất gì, khi tiêm vào da thịt, nghe đau thấu trời.
Tôi hỏi: “Thuốc này trị bệnh gì?”
Y tá đáp gọn: “Bê một, Bê Mười Hai. Tăng cường sinh lực.”
Buổi sáng nào, chúng tôi cũng được tiêm một ống B1, B12. Có điểm danh từng người, trốn tiêm cũng không khỏi. Đặc biệt những người bệnh nặng, còn được truyền nước biển. Y tá túc trực cả ngày, săn sóc và theo dõi bệnh trạng. Lương tâm nghề nghiệp có thừa, nhưng tôi e rằng phần lớn thuốc men ở đây, chỉ có giá trị về mặt tinh thần.
Một hôm mưa tọ Anh y tá dầm mưa, đem tấm poncho (loại áo đi mưa của quân đội ngày trước) ra căng giữa trời. Phía dưới, anh đặt cái thau hứng nước. Cái thau lại đặt cao lên, trên một chiếc ghế đẩu, tránh nước dưới đất bắn vào thau. Tôi phụ anh làm công việc này, đồng thời có cớ tắm mưa luôn.
Anh dặn: “Những thau nước hiệp đầu, bỏ đi. Chỉ lấy nước tinh khiết hiệp sau thôi.”
Tôi hỏi: “Anh lấy nước uống?”
“Không. Dùng vào việc khác.”
“Việc gì?”
Anh nói: “Làm nước truyền. Tiếng Tây, gọi là sê rum. Miền Nam các anh, gọi là nước biển. Chúng tôi, gọi là nước cất.” Và anh giải thích. “Muốn điều chế nước cất. Cho nước lả vào nồi, nấu sôi lên. Nước bốc thành hơi. Hơi chạy qua một cái ống thông hơi, ngâm trong hồ nước lạnh. Gặp lạnh, hơi tụ lại thành nước. Nước này gọi là nước cất, rất tinh khiết, dùng truyền cho người bệnh. Nước mưa cũng qua một quá trình như nước cất thôi. Anh có học về sự hình thành của mưa chứ?”
“Vâng. Hồi nhỏ có học.”
“Đấy. Nước ao hồ sông biển, gặp nắng bốc thành hơi. Bay lên thành mây, gặp lạnh thành mưa. Thế thôi.”
Do hàng ngày lân la trò chuyện với anh y tá, mà chúng tôi cảm tình nhau. Anh là người hiền lành, chơn chất đáng mến. Tôi nói với anh về hoàn cảnh đất nước phân tranh, về tình trạng gia đình ly tán. Anh thông cảm và thích tôi, dành cho tôi nhiều tiện lợi. Anh nói, bất cứ lúc nào tôi thấy mệt, anh cũng sẵn sàng vô cho tôi một chai nước cất. Tôi ghi nhận lòng tốt của anh, nhưng không bao giờ dám mệt.
Lúc mới vào Khoa Ỉa, con tôi còn lanh lợi tỉnh táo. Mỗi ngày tôi nghiền một bụm thuốc viên, đổ vào họng thằng nhỏ. Bốn ngày sau, nó nằm im thiêm thiếp, ỉa nhiều lần hơn.
Khi ẳm con lên cho bác sĩ “liếc qua” tình trạng bi quan của nó, tôi nói: ” Thưa bác sĩ. Bên ngoài bệnh viện có bán thuốc ngoại. Xin làm ơn cho toa thuốc ngoại, để tôi đi mua… “
Giữa chốn đông người, “bác sĩ mình” trừng mắt, điểm ngón tay vào mặt tôi: “A… a…, đầu óc vọng ngoại, luôn luôn tôn sùng nước ngoài. Cái gì của nước ngoài thì ca tụng, cho rằng tốt đẹp. Cái gì của nước ta, thì chê bai rẻ rúng. Anh không muốn dùng thuốc bào chế của nước ta, thì đem con vào đây làm gì?”
“Thưa bác sĩ. Thằng nhỏ không bớt bệnh, tôi xin đổi thuốc, chứ không có ý gì khác.”
“Tôi là bác sĩ, tôi biết cách giải quyết. Không cần anh phải chỉ dẫn. Uống thuốc, phải chờ thuốc thấm, từ từ bớt bệnh. Trị bệnh tiêu chảy, không như đóng một cái vòi nước mà ngừng được ngaỵ Anh hiểu chứ?”
Thế là tôi lại tiếp tục lảnh một cái toa thuốc, viết toàn bằng ký hiệu âm nhạc. Và tôi cũng biết rằng, giữa tôi và “bác sĩ mình” không còn đứng cùng về một phía nữa. Ông đã giác ngộ tư tưởng cách mạng rồi.
Tôi bàn với vợ, đem con ra khỏi bệnh viện, tìm phương khác chữa trị. Không thể để thằng nhỏ nằm lây lất ở một nơi thiếu điều kiện vệ sinh của Khoa Ỉa. Nhưng ngay đêm đó, nó lên cơn sốt. Thôi, muộn rồi! Nó đã nhiễm trùng. Tôi đau đớn vì đã đem con dìm vào cái ổ vi trùng. Bây giờ, chết sống gì cũng phải nằm lại đây. Tôi vội chạy đi tìm y tá, xin cô báo cho bác sĩ trực hay.
Giữa khuya. Cô đang đọc tiểu thuyết, ngẩng đầu lên, nói: “Trẻ em bị nóng sốt là chuyện thường. Có gì mà ông hốt hoảng thế? ông tưởng lúc nào cũng có thể làm phiền bác sĩ trực được sao?”
“Mấy hôm trước, nó không sốt. Bây giờ bị nhiễm trùng.”
“Mới bị sốt lần đầu, lại càng không đáng lọ Còn chuyện bị nhiễm trùng hả? ông có nhìn thấy con vi trùng bu vào con ông không?”
Tôi năn nĩ: “Nó bị sốt cao độ cô à. Xin cô làm ơn xuống nhìn một chút, coi có cách nào giải nhiệt được không?”
“Sao ông biết sốt cao độ? Bộ Ông là cái nhiệt lượng kế hả? Tôi có xuống nhìn cũng vậy thôi. Tạm thời, ông lấy cái khăn ướt đắp lên trán đứa bé. Chờ sáng mai, trình với bác sĩ để ổng quyết định.”
Tôi còn đang chần chừ chưa đi. Nát lòng không biết tính lẽ nào.
Cô y tá bồi thêm: “Coi kìa. Điệu bộ Ông giống con gà mắc đẻ. Mười mấy năm trong nghề, tôi gặp quá nhiều người như ông. Chuyện một chút xíu thôi, cũng quýnh quáng la làng, kêu réo giật ngược y tá bác sĩ. Làm như y tá bác sĩ thiếu nợ các người vậy.”
Nhìn cái miệng chót chét của cô, tôi nộ khí xung thiên. Trong một lúc bốc đồng, tôi muốn có cây súng đại liên, bắn chết mẹ hết cả lũ y tá bác sĩ của bệnh viện này. Tôi nghiến răng, quay trở lại phòng bệnh, thấy vợ đang ngồi cúi đầu ủ rủ dưới chân con. Tôi hằn học nói với vợ về sự tức giận của mình.
Vợ van: “Tôi lạy anh. Hãy ráng giữ bình tĩnh. Biết được thái độ bất mãn của anh, người ta ghét, người ta sẽ giết con mình.”
Sáng naỵ Lại bồng con sắp hàng ngồi chờ khám bệnh bệnh. Mỗi ngày, bác sĩ chỉ xuất hiện, ngồi sau bàn làm việc trong vòng một giờ đồng hồ. Còn hai mươi ba giờ khác, đố ai tìm thấy mặt ông. Tất cả, ông đều giao cho y ta, và vài ba sinh viên y khoa thực tập. Mà y tá, thì dữ hơn nhân viên phòng thẩm vấn, chua hơn giấm.
Trong khi chờ đợi, tôi lan man hồi tưởng lại những ngày ở bệnh xá của trại tù. Bác sĩ y tá ở đây, thuộc đơn vị của bộ đội Miền Bắc. Họ đã thực hiện một ca mổ đặc biệt đến nỗi, nếu không chứng kiến tận mắt, người nghe tưởng như bịa chuyện, khôi hài cho vui. Người bạn tù tên Sang, nằm chung phòng với tôi. Anh đang mạnh khoẻ, bỗng một đêm, ôm bụng kêu đau ầm ĩ. Cơn đau càng lúc càng dữ dội, phải đưa anh lên bệnh xá. Nửa đêm, bác sĩ y tá mở cuộc họp khẩn cấp, và quyết định mổ bụng anh Sang. Cơ sở còn nghèo nàn thiếu thốn, lấy căn phòng học cũ, làm phòng mổ. Không có điện, phải đốt đèn cầy soi sáng. Không có thuốc gây mê, phải dùng tạm thuốc tê, tiêm vào da bụng. Anh Sang trần truồng nằm ngửa trên chiếc giường, được kê cao lên ngang thắt lưng. Phần hạ bộ, che bằng chiếc khăn lông màu cứt ngựa. Thấy chuyện lạ, những người bệnh chúng tôi bỏ ngủ, lóng ngóng bên ngoài của sổ, nhìn vào. Bác sĩ y tá đứng vây chung quanh giường bệnh. Sau khi lấy bút nguyên tử kẽ một lằn trên bụng bệnh nhân, bác sĩ kẹp lưỡi dao trong hai ngón tay, rạch dài theo nét kẽ. Dao giải phẫu là cái lưỡi lam cạo râu, trời ạ! ông cẩn thận rạch đi rạch lại nhiều lần, mới banh được cái bụng ra. Bên ngoài, có anh khiếp quá, không dám đứng coi. Hai người y tá đứng hai bên giường, kéo chằng vết mổ mở lớn. Bác sĩ, với bàn tay không đeo găng nhựa, thò vào trong bụng anh Sang, sờ mò tìm kiếm một thứ gì đó.
“Trời ơi!” Anh kêu.
Bác sĩ nói: “Im! Để bác sĩ làm tốt.”
Trong khi bác sĩ tiếp tục mò tìm, thỉnh thoảng anh Sang đưa tay gãi chỗ này chỗ nọ.
Bác sĩ nói: “Nằm yên! Để bác sĩ làm tốt.”
“Muỗi cắn.”
“Cắn chỗ nào, bảo y tá gãi cho anh.”
Anh Sang ngóc đầu lên, nhìn bụng mình. Y tá đè đầu xuống.
Bác sĩ nói: “Đừng nhìn. Để bác sĩ làm tốt.”
“Bác sĩ mò cái gì mà đau quá vậy?” Anh hỏi.
Bác sĩ nói: “Đừng hỏi. Để bác sĩ khám phá.”
Thỉnh thoảng, anh Sang nói: “Muỗi cắn chân phải.”
Y tá gãi chân phải
Anh Sang lại nói: “Muỗi cắn gò má.”
Y tá gãi gò má.
Anh Sang cứ nói muỗi cắn hoài. Không biết muỗi ở đâu kéo đến nhiều thế. Có lẽ nó đánh hơi được mùi máu.
Bác sĩ ngó ra cửa sổ, nói: “Có anh nào đấy, chạy xuống phòng vệ binh, xin hộ cây nhang muỗi.”
Một người trong chúng tôi chạy đi. Lúc sau đem đến một bó nhang hơn mười cây. Y tá thắp nhang, đặt dưới gầm giường mổ. Từ đó trở đi, anh Sang hết kêu muỗi cắn.
Nửa giờ đồng hồ trôi quạ Bác sĩ ngẩng lên, nhè nhẹ lắc đầu thất vọng, trán lấm tấm mồ hôi.
“Chả thấy gì!”
Anh Sang lại ngóc đầu, nhìn bụng. Y tá đè đầu xuống.
“Không thấy gì thì may lại giùm tôi.” Anh lo lắng.
Bác sĩ an ủi: “Yên chí. Chúng tôi cố gắng làm tốt cho anh.”
Rồi tất cả bác sĩ y tá kéo đến một chiếc bàn cuối góc phòng, ngồi thì thầm thảo luận. Để lại một người y tá bên giường với anh Sang. Bụng anh được đậy lại bằng một chiếc khăn lông màu trắng, dính đầy máu đỏ. Anh nằm im lặng. Không biết ngủ hay thức.
Trời đã khuya lắm. Ngoài cửa sổ, vài người lặng lẽ trở về chỗ ngủ. Đôi ba anh em còn lại, ngồi xuống thềm hiên. Ngó lên khoảng trời mênh mông. Con trăng xế về bên kia mái trường học cũ. Mùa trăng tháng Chạp, lạnh đục màu sương.
Trong phòng. Thảo luận một lúc lâu, Bác sĩ y tá quay lại giường mổ. Loay hoay bơm thuốc vào ống tiêm.
Anh Sang hỏi: “Bây giờ làm gì nữa?”
Bác sĩ nói: “Tiêm thêm thuốc tệ Thuốc cũ sắp hết công hiệu rồi.”
Tiêm thuốc xong. Lại cầm lưỡi dao lam.
Anh Sang: “Mổ nữa hả, bác sĩ?”
“Thêm tí nữa thôi. Đừng sợ.” Bác sĩ trả lời.
ông rạch vết mổ dài ra. Thò tay bụng mò tìm.
“Nhè nhẹ. Đau quá, bác sĩ ơi.” Anh rên lên, và ngóc đầu nhìn.
Bác sĩ nói: “Không được nhìn. Tôi phải che mắt anh.”
Một người y tá cầm chiếc khăn nhỏ vắt ngang qua mắt anh Sang.
Mọi người im lặng theo dõi bác sĩ. Ông làm việc chăm chú và tận tâm. Có lúc, ông nghiêng đầu, lim dim đôi mắt như lắng nghe một âm thanh vo ve nào đó, có thể tiếng muỗi, hoặc một tín hiệu khác thường từ những ngón tay truyền đạt. Dù không nhìn thấy bàn tay, nhưng ai cũng biết rằng, những ngón tay của ông đang động đậy, rà mò tìm kiếm trong bụng anh Sang.
Bỗng ông reo lên mừng rỡ: “Đây rồi. Đây rồi.”
“Cái gì vậy, bác sĩ?” Anh Sang hỏi.
“Khám phá ra rồi. Chính nó.”
“Nó là cái gì?”
“Sau này sẽ biết. Mọi chuyện sẽ xong ngaỵ Yên chí đị”
Bác sĩ ngẩng lên, thở phào, mặt rạng rỡ. Dường như cơn mệt mỏi từ đầu hôm đến giờ, bỗng chốc tiêu tan.
Thấy chúng tôi đang đứng lố nhố ngoài cửa sổ, ông nói: “Các anh không được thức khuya quá. Hãy về chỗ ngủ, để giữ sức khoẻ.”
Chúng tôi trở về phòng. Đồng hồ chỉ đúng ba giờ khuya. Không biết chuyện gì xảy ra sau đó.
Sáng ra. Vài người muốn vào phòng mổ thăm anh Sang.
Y tá không cho: “Anh ấy còn mệt lắm. Phải để anh ấy nghỉ ngơi. Mai thăm cũng không muộn.”
Chúng tôi đứng ngoài nhìn vào. Mặt anh Sang tái mét. Hai mắt nhắm nghiền. Anh được đắp bằng chiếc Poncho Light của anh, mang theo từ ngày đầu đi cải tạo.
Hai ngày sau, anh Sang được đưa về nằm chung phòng với chúng tôi. Cả tháng trời, anh chưa ngồi dậy được. Mọi sự đại tiện của anh đều do y tá trực giúp đỡ. Nâng anh lên, đặt anh đặt ngồi vào cái bô kế bên giường. Đổ và rửa bô cũng do y tá đảm trách. Nhiều lần, chúng tôi ngõ ý muốn phụ với anh y tá trong việc đỡ đần chăm sóc anh Sang, hoặc thay anh làm công việc vệ sinh, đổ cứt rửa bộ Nhưng anh từ chối.
“Các anh đang bệnh, không nên làm việc này. Đây là nhiệm vụ của tôi.”
Hàng ngày, bác sĩ xuống phòng thăm bệnh. Ông ngồi cả buổi bên giường, nói chuyện và an ủi anh Sang. Ông cho biết, anh ăn phải một mảnh kim khí nhỏ, phải mổ dạ dày để lấy ra. Chúng tôi biết mảnh kim khí này từ đâu. Anh em nhà bếp thường dùng bùi nhùi bằng kim khí của một xưởng tiện sắt thép nào đó, để lau chùi chảo nấu ăn. Vì sơ ý, làm sót lại một mảnh vụn lẩn trong cơm. Một sơ ý nhỏ, nhưng đã để lại một tai hoa. lớn cho đời anh Sang.
Trong khi ngồi nói chuyện với chúng tôi, ông thường kể về những ngày gian khổ trên đường Trường Sơn, làm việc trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Từ đó, ông sang qua vấn đề anh em trong bệnh xá.
ông nói: “Đứng trên quan điểm cách mạng, các anh là kẻ thù. Nhưng dưới mắt một người thầy thuốc, các anh là những bệnh nhân. Chúng tôi phục vụ bệnh nhân theo lương tâm của người thầy thuốc.”
Cái quan điểm và lương tâm của ông, làm chúng tôi ngạc nhiên thực sự.
Còn ở đây, các bác sĩ y tá đều là người của chế độ cũ, được lưu dụng làm việc cho bệnh viện. Không biết họ đứng trên quan điểm nào, và lương tâm gì đối với bệnh nhân?
Thấy tôi cứ mãi đặt những vấn đề vớ vẫn, không thực tế chút nào, vợ nói: “Anh phải đứng ngoài. Bác sĩ mà nhìn thấy cái mặt nhăn nhó của anh, thì con mình sẽ lâm nguỵ”
Tôi dặn:” Em phải cho ổng biết, thằng nhỏ bị sốt.”
“Đừng xía vô chuyện này, để em lọ”
Tới phiên, vợ tôi ẳm con vào gặp bác sĩ. Tôi đứng ngoài. Nhìn.
“Hôm nay thế nào?” Bác sĩ hỏi.
Vợ nói: “Dạ thưa. Nó lên cơn sốt trong đêm.”
“Sao biết?”
“Dạ, sờ thấy nóng.”
“Y tá sẽ đo nhiệt độ. Nếu nóng thật, phải truyền nước biển.”
ông liếc nhìn thằng nhỏ trước khi cúi xuống ghi những nốt nhạc.
Vợ ẳm con ra, trao mảnh giấy cho tôi, hỏi: “Anh coi thử, bác sĩ có thay đổi thuốc không?”
Tôi nói: “Có đọc được chữ gì đâu, mà biết hôm qua khác với hôm này?”
Gần trưa, cô y tá (không phải y tá trực trong đêm) vào phòng. Cô cho cái nhiệt lượng kế vô miệng con tôi, rồi đi kiểm soát từng giường bệnh. Cô vừa hướng dẫn cách săn sóc em bé, vừa la lối mọi người về sự ăn ở thiếu vệ sinh. Muốn thực hiện vệ sinh, phải có điều kiện tiện nghị Nhưng chúng tôi thiếu thốn mọi bề. Chẳng hạn, trong nhà cầu chỉ có duy nhất một vòi nước giặt giũ, mà người giặt thì quá đông. Mỗi người đem đến một đống tã lót. Nhiều người chen nhau. Người trước, kê tấm tã vào sát vòi nước mà vò. Người sau, cũng đang vò một tấm tã phía dưới, hứng nước từ tấm tã phía trên đổ xuống. Con vi trùng ỉa được dịp luân lưu từ em này sang em khác qua những tấm tã.
Đi giáp một vòng thăm bệnh, cô y tá quay lại rút cái nhiệt lượng kế từ miệng thằng nhỏ, đưa lên ánh sáng.
“Nhiệt độ trung bình. Sao ông bảo bị sốt?” Cô trừng mắt nhìn tôi.
Tôi nói: “Hồi hôm, nó sốt. Bây giờ, hạ rồi.”
“Hứ! Đừng có báo cáo ẩu nghen.”
Tôi vớt vát: “Thật mà. Hồi hôm, nó sốt.”
“Nói lung tung, làm rối điên cái đầu. Ai biết đường nào trị cho con ông? Nó có thế nào, lỗi cũng tại ông đấy!” Cô ngoe nguẩy bước ra khỏi phòng.
Trời ơi! Nếu không vì sự an nguy của đứa con, chắc tôi bóp cổ chết con y tá này.
Cho đến một ngày, tính mệnh thằng con tôi, hắt hiu như ngọn đèn trước gió. Dù không yêu cầu, nhưng bác sĩ cũng cho một cái toa riêng mua thuốc ngoại. Lúc này, trước mặt ông, tôi không dám vọng ngoại, nhưng ông lại bày vẽ cho tôi thực hiện tinh thần vọng ngoại. Ông bảo phải mua thuốc ngoại ở hiệu thuốc này…, địa chỉ này…, để tránh mua lầm thuốc giả. Chao ôi! Thuốc trị bệnh mà cũng có kẻ dám làm giả mạo. Tội này, tương đương với tội sát nhân. Tôi cầm cái toa hớt hãi chạy ra đường. Nhiều con buôn thuốc dạo, chận lại thăm hỏi mời chào. Chẳng biết tôi còn tỉnh hay điên? Sao nhìn mặt người nào, tôi cũng thấy phảng phất cái vẻ tàn ác của quân bất lương cướp của giết người.
Con tôi được đưa vào phòng cấp cứu, có máy điều hoà không khí. Có lẽ vì muốn chứng tỏ đây là căn phòng đặc biệt, nên người ta điều chỉnh nhiệt độ Ở mức khá thấp. Vào phòng, tôi có cảm tưởng vào một mùa đông lạnh giá.
Tôi nói: “Lạnh quá. Làm sao con nít chịu nổi?”
Cô y tá, chứng tỏ là người thành thị, từng quen sử dụng những tiện nghi tân tiến: “Điều hoà không khí là phải như vậy. Nếu không lạnh, thì gắn máy lạnh làm gì? Hứ!”
Hình như, khi muốn tỏ thái độ khinh bỉ chê bai, người đàn bà nào cũng dùng tiếng “hứ”. Và tôi thấy tôi hiện nguyên hình một gã nhà quê chậm tiến.
Tóc trên đầu thằng con tôi, bị cạo một mảng, để đâm cây kim truyền nước biển. Lỗ mũi nó, thọt vào một cái ống tiếp dưỡng khí. Miệng nó, cũng thọt vào một cái ống để cho sửa và thuốc vô bao tử. Nhìn những trang bị trên người nó, tôi liên tưởng đến một đứa bé từ hành tinh khác lạc xuống địa cầu, phải ăn và thở bằng những dụng cụ đặc biệt, trong một phim dành cho nhi đồng. Trong phòng cấp cứu, đã có sẵn ba đứa khác, đang chờ giờ hiễn linh về nước Chúa, hoặc theo Phật về chốn tiêu diêu miền Cực Lạc.
Tôi đuối sức, sau những ngày thay phiên cùng vợ, thức theo dõi thằng con. Tôi ra ngoài hành lang, nằm ngủ. Nhưng vừa chợp mắt lại thấy ác mộng. Tôi vùng ngồi dậy, lúc lắc cái đầu cho tỉnh.
Vợ bảo: “Ngủ đị”
Tôi nói: “Ở đây, vất vưởng nhiều oan hồn con trẻ. Nó phá tôi.”
Vợ chắp tay: “Nam Mô A Di Đà Phật. Anh đừng nói những điều ghê khiếp.”
“Thật đấy. Tôi nghe tiếng con trẻ cười đùa.”
“Anh ơi. Anh ơi. Anh sắp điên rồi.”
“Không đâu!”
Đầu tôi váng vất lùng bùng. Tôi thấy chung quanh toàn những gút mắc chông gai. ác cảm nặng với bác sĩ y tá, vi vu ý tưởng giết người.
Vợ nói: “Trông anh như người bệnh. Mắt lờ đờ nhướng hết lên. Ráng ngủ lấy sức. Anh ngã bệnh lúc này, mình em làm sao lo nổi cho chồng, cho con?”
Buổi chiều. Phòng cấp cứu nhận thêm thằng bé mười hai tuổi, tên Cu Đen. Nghe hai tiếng Cu Đen, tự dưng tôi thấy êm đềm gần gũi. Tôi như sống lại một quãng đời tuổi nhỏ làng quê, với bạn bè có những cái tên hết sức thân yêu, Cu Nồi, Cu Lọ, Cu Đẹt, Cu Đực, Cu Tèo, Cu Tý… Lòng tôi dịu lại. Dựa lưng vào bức tường hành lang, tôi mơ màng quay về những mương rạch, bờ ao, con trâu, cái cày… thuở trước. Thiếp đi lúc nào không haỵ Khi bừng dậy, tôi nghe tiếng khóc.
Thằng Cu Đen còn rất tỉnh táo, nhưng sau những thử nghiệm và chẩn đoán, bác sĩ cho biết nó sẽ chết trong vài ngày tới. Má nó gục đầu lên đứa con, nức nở. Nó ôm đầu má, kêu thảm thiết: “Má ơi, đem con về. Con muốn ở với má. Đừng bỏ con, má ơi.”
Đang rầu vì con, nhìn qua giường bên, lại thấy cảnh mũi lòng, vợ tôi cũng khóc rống theo.
Y tá nạt: “Bà này lạ chưa? Mắc mớ gì đến bà mà khóc? Làm như đưa đám ma không bằng. Tôi yêu cầu, bà đi ra ngoài kia mà khóc, để yên cho tôi làm việc.”
Má Cu Đen kể trong nước mắt. Rằng vợ chồng chị đi làm làm ngoài đồng xạ Cu Đen ở nhà giữ em. Vô ý để em té xuống ao. Người láng giềng vớt em nó lên, doạ: “Mày ham chơi, bỏ em té ao. Ba má mày về đánh chết.” Nó sợ đòn, vào buồng lấy chai thuốc rầy, uống. Người láng giềng biềt được, chạy ra đồng gọi vợ chồng chị về. Khi đưa nó vào bệnh viện, thì đã muộn.
Người ta nói “còn nước còn tát”, cái câu châm ngôn ấy không áp dụng ở đây. Không ai bỏ công cứu chữa cho một sinh vật, mà người ta nghĩ rằng phí công vô ích. Cu Đen chỉ được truyền nước biển, như một biểu thị nó còn được sự tận tâm chiếu cố của người thầy thuốc. Nó đâu biết, người ta đã dành sẵn cho nó một mảnh giấy khai tử rồi, chỉ còn chờ giờ điền tên vào, là xong.
Thằng bé thao thức, khóc cả đêm. Nó nói nhớ em, và năn nĩ má nó đưa về nhà. Người mẹ cũng biết, ngoài cái chai nước biển, con chị không còn thêm được một ân huệ nào khác nữa. Mà cái chai nước biển, có tác dụng gì với thằng bé uống thuốc rầy? Sáng hôm sau, người mẹ xin cho con xuất viện.
Thương Cu Đen quá, tôi cầm tay nó: “Thôi, Cu Đen về nhà với em nhé.”
Nó nói: “Dạ. Mai mốt em bé của chú khỏi bệnh, chú ẳm xuống nhà con chơi.”
Nó còn nói được một câu như thế, mà sắp chết thật sao? Nó đâu có hiện tượng của kẻ sắp lìa đời? Tôi đưa Cu Đen ra sân bệnh viện, nơi có chiếc xe Lam đang chờ sẵn. Má nó không còn khóc như lúc mới nghe tin dữ. Trong nỗi đau đớn đến cùng cực, lòng người sẽ trơ ra, mọi sự cảm xúc đều bị tắc nghẽn. Xe lam chuyển bánh. Tôi ngó theo. Vĩnh biệt Cu Đen.
Từ đó, cái tên thằng bé cứ ám ảnh tôi hoài. Hai tiếng Cu Đen êm đềm thân thiết biết bao, gợi cho tôi những ngày xưa cũ, cùng những kỷ niệm thời gian mất mát đớn đau. Tôi thầm nghĩ, nếu thằng Khang, con tôi tai qua nạn khỏi, tôi sẽ đặt cho nó một cái tên riêng, tên ngoài giấy tờ: Cu Đen.
Thằng con tôi lặng lẽ ra đi, rất êm. Từ lúc bác sĩ chấp nhận cái tinh thần vọng ngoại, chịu cho toa mua thuốc ngoại, và đưa nó vào phòng lạnh, tôi biết mọi sự thay đổi của bác sĩ đã trễ tràng. Vợ chồng tôi âm thầm nuốt nước mắt từ mấy ngày trước. Lúc nó ra đi, chúng tôi không còn nước mắt.
Trong đêm khuya. Bệnh viện im lặng đến rợn người. Tôi kề tai sát mũi thằng bé. Không nghe thấy gì.
Vợ thì thầm: “Nó còn thở không?”
Tôi nín thinh.
Vợ luồn tay vào chăn: “Ngực nó còn ấm.”
Tôi ngoảnh mặt, ngó ra những ngọn đèn vàng hành lang.
Vợ hỏi: “Bây giờ làm sao?”
Tôi không trả lời.
Vợ rên nhỏ: “Trời ơi! Anh cứ trơ ra, dễ sợ quá.” Chừng như vợ muốn khóc ré lên, nhưng ngại làm kinh động những người chung quanh.
Tôi uể oải đứng dậy. Lên phòng y tá trực.
Tôi báo: “Lâm Khang, giường số ba, không còn thở.”
Y tá: “Vậy hả? Để tôi gọi bác sĩ.”
“Không cần thiết nữa.”
“Tại sao không? Chỉ có bác sĩ mới có đủ thẩm quyền xác nhận nó chết.”
Thì ra tôi đã hiểu lầm. Gọi bác sĩ không phải để cứu chữa, mà là để chứng nhận một người đã chết thật sự.
Cô y tá cầm mảnh giấy, dẫn theo một bác sĩ trẻ vào phòng bệnh. Trên cổ bác sĩ có đeo cái ống nghe. Lần này thì cái ống nghe được sử dụng, chứ không phải chỉ làm một biểu tượng đặc trưng của người thầy thuốc. Ông đặt cái chụp lên ngực thằng nhỏ. Nghe ngóng… Xong. Thu đồ nghề, và chìa tay ra. Cô ta tá trao cho ông mảnh giấy. Ông viết vội những gì đó, và ký tên. Từ lúc bước vào phòng, cho đến lúc đi ra, ông không hề mở miệng nói một tiếng gì. Cái câu “Im lặng là vàng”, được ông thể hiện một cách triệt đê?
Y tá nói: “Tôi điện thoại cho người đem xuống nhà xác.”
Tôi ngăn: “Khoan! Chờ sáng mai.”
“Không được. Quy định, sau khi bác sĩ xác nhận chết, phải đem đi ngaỵ”
Nửa giờ sau. Một người đàn ông, lù lù xuất hiện trong bộ quần áo công nhân màu xanh đậm. Mặt sần sùi, xạm đen. Đôi mắt trơ tráo, không có hồn. Đôi mắt từ cõi âm phủ trở về. Ông ta lăn tròn cái xác thằng nhỏ, cuốn gọn gàng trong tấm nylon. Như loài kên kên quắp cái xác chết, ông nách thằng nhỏ ngang hông, đi ra cửa. Tôi thoáng thấy, miệng ông vừa ló ra hai cái nanh. Tôi có quáng mắt không? Nhìn kỷ lại, thì không thấy nữa. Vợ tôi ngồi bệt xuống sàn, ôm mặt rấm rức. Tôi lặng lẽ theo ông, đưa con tôi đi. Từ lầu ba, đi qua những hành lang, đèn vàng lạnh. Đi xuống những bậc cầu thang hun hút âm u, khuya vắng đến rợn người. Đi xuống, đi xuống, đi xuống hoài rồi cũng tới âm ty.
Người đàn ông mở cánh cửa sắt. Hơi lạnh và mùi tử khí phả ùa vào mặt. Cái mùi thum thủm chuột chết. Tôi dợm bước theo vào phòng chứa xác, nhưng ông ngăn lại. Ông vào, và quay ra thật nhanh. Tôi có cảm tưởng, ông vất thằng con tôi vào đống tử thi, chứ không phải đặt nhẹ nhàng. Rồi ông đưa tôi vào một gian phòng nhỏ, chìa mảnh giấy bảo ký tên. Tôi ký tên mà không biết trong ấy viết những gì. Giọng ông trầm trầm, ra giá với tôi về việc tống táng, sau khi tổng cộng những tiền hòm, tiền đất, tiền chuyên chở… Tôi còn lòng dạ nào mà tính tới tính lui. Bao nhiêu cũng được.
Bận đi lên, chỉ một mình tôi. Trong ánh sáng chập choạng, tôi nhìn thấy rất nhiều đứa bé bám theo hai bên vách thang lầu. Chúng di chuyển như những con thằn lằn hút sát vào tường. Tôi mơ hay tỉnh? Dừng lại, dụi mắt định thần. Hình ảnh ma quái biến mất, nhưng rồi nó dần dần hiện lại từ mờ đến tỏ. Tôi hoảng hồn, chạy ngược về phía nhà xác. Nơi đây chẳng còn ai. Người đàn ông nhà xác đâu rồi? Đành phải đi lên trở lại. Vừa đi, tôi vừa kêu lớn: “Ai ơi… Ai ơi… Ai ơi… ” Tiếng kêu vang rền một khu bệnh viện. âm thanh làm tôi đỡ sợ.
Một người đàn ông mặc blouse trắng, chạy ra đầu cầu thang: “Có chuyện gì vậy?”
Tôi hớt hãi: “Có ma”
Ông ta quay lưng, lầm bầm ném ra hai tiếng: “Thằng điên!”
Sáng hôm sau. Tôi lên phòng y tá xin giấy khai tử để hoàn tất thủ tục hồ sơ trước khi chôn cất. Trong giấy khai tử ghi, nguyên nhân chết: suy dinh dưỡng. Khốn nạn! Như thế, thằng con tôi chết vì bị tôi bỏ đói. Chứ đâu phải chết vì ỉa chảy. Cuối thế kỷ hai mươi, giữa trái tim Sài Gòn của đất nước, giữa cái nôi của lương tâm thời đại, bác sĩ nào dám xác nhận chết vì bệnh ỉa chảy, người ta sẽ cười thúi đầu!
Ai nói thời gian sẽ làm lành những vết thương? Bao nhiêu năm qua rồi, vết thương tôi vẫn còn nguyên đau nhức. Thời gian chỉ làm cho nỗi đau nhức sắc lại, như sắc thuốc Bắc, ba chén nấu còn tám phân. ém xuống tận đáy lòng mà sống. Lâu lâu gợi nhớ, bỗng muốn cầm dao đi giữa bầy thú dữ.
Thua keo này, gầy keo khác.
Tôi nói với vợ: “Đẻ nữa em ơi.”
Vợ cự: “Khổ lắm rồi. Không muốn đẻ.”
Tôi lý luận: “Về nhà chồng. Không tạo con trai nối dõi cho dòng họ nhà chồng . Người xưa cho thế là lỗi đạo làm dâu.”
“Em có đẻ con trai đấy chứ. Tại không giữ được thôi.”
“Thì tiếp tục đẻ nữa.”
Chìu chồng, vợ tôi lại đẻ. Nhưng đẻ con gái. Tôi để vợ toàn quyền đặt tên đứa con này. Vợ đặt: Sơn Cạ Có người hỏi móc tôi rằng, sao không áp dụng cái phương pháp sinh con trai, con gái theo ý muốn, như tôi đã từng bày vẽ cho nhiều người khác? Tôi chỉ cười trừ. Chứ biết nói sao?
Tôi sang Mỹ, không theo cái nghĩa bi quan của đời người trôi giạt. Tôi đi có định hướng. Năm lần bảy lượt vượt biên. Cuối cùng, tôi đã tới đích. Sống ở đây, tương đối dễ thở. Tiền bạc, có chính phủ cấp. Quần áo, có nhà thờ lọ Con nít được thương yêu chìu chuộng, cưng như trứng mỏng. Mỗi ngày, chịu khó bỏ vài giờ tới trường, học ú a ú ớ vài câu tiếng Mỹ. Thế là xong nhiệm vụ. Thì giờ còn lại, chẳng biết làm gì. Coi TV, không hiểu tiếng nói, nhìn hình hoài cũng chán. Không có bạn bè đấu láo, cũng buồn. Buồn chán dễ làm cho con người mau già cỗi, chết sớm. Những bạn lính của tôi ngày xưa, hay xâm mình cái câu “khi tôi chết, ai là người xây nấm mộ?”. Tôi bây giờ, lẩn thẩn tự hỏi, khi tôi chết ai là người thờ phượng? Con gái lớn lên, theo chồng, nó thờ cha chồng của nó. Còn tôi, không ai khói nhang, linh hồn sẽ bơ vơ lạnh lẽo. Vì thế, tôi muốn có thằng con nối dõi.
Tôi tỏ ý cùng vợ: “Đẻ nữa. Kiếm thằng con trai, em ơi.”
Lần này, vợ phản bác dữ dội: “Cái quan niệm con trai vốn quý, đã lỗi thời rồi. Đây là xứ trọng nữ khinh nam. Đàn bà là mẹ thiên hạ, chiếm đặc quyền ưu tiên. Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc. Anh cứ khư khư níu giữ cái quan niệm nối dõi tông đường, là bơi ngược dòng về nơi có bốn ngàn năm văn hiến.”
Tôi đấu dịu: “Thôi, không đặt vấn đề nối dõi nữa. Tôi chỉ muốn nhà có đủ con trai con gái, để âm dương được cân bằng trong gia đình.”
“Anh định áp dụng cái thuyết, thái cực sinh lưỡng nghi, lưõng nghi sinh tứ tượng… gì ấy hả? Hãy thực tế một chút đi. Nhà nào âm thịnh là có phước.”
Mới sang Mỹ, vợ tôi đã chụp bắt ngay được cái quan niệm cường quyền nữ phái của xứ này. Tôi bị lép vế. Khi người đàn ông không còn là rường cột gia đình, thì cũng mất luôn cái quyền chỉ huỵ Tôi đành chắc lưỡi buông xuôi, mặc tình nữ kê tác quái.
Vợ tôi uống thuốc ngừa thai. Nhất định không chịu đẻ.
Một hôm, vợ thắc mắc: “Không biết tại sao, trễ kinh cả tháng rồi.”
Tôi nói: “Có một trong hai vấn đề xảy ra. Em sắp biến thái thành đàn ông. Hoặc bước vào giai đoạn mãn kinh của tuổi già.”
Cả hai vần đề, vợ tôi đều sợ.
Vợ dỗi: “Từ ngày sang Mỹ, anh nói lời gì nghe cũng mỉa mai cay đắng.”
“Đó là tinh túy của ngôn ngữ, kết quả của trầm tự”
Chẳng thèm lời qua tiếng lại, vợ đi bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ cho biết có thai.
Về nhà, tôi la lớn: “Tuyệt nhiên định phận tại thiên thự”
Vợ hỏi: “Nghĩa là sao?”
“Ông Đặng Dung nói rằng, sách trời đã định như thế rồi. Nó là thằng con trai.”
“Sao biết con trai?”
“Náy nhé. Uống thuốc ngừa thai, cũng giống như người ta bật đèn đỏ, treo bảng “Stop”, và đặt hàng rào chắn. Nhưng nó vượt đèn đỏ, bất chấp bảng “Stop”, xô ngả hàng rào chắn, chui ra khỏi cửa mình, để góp mặt làm người với đời. Anh hùng gan dạ, “khó khăn nào cũng vượt qua” như thế, chỉ có thằng con trai mới làm được.”
Tưởng lý luận bò càng cho vui, không ngờ vợ sinh con trai thật. Nó hấp tấp ra đời đến nỗi bất chấp cả định luật thiên nhiên chín tháng mười ngày. Chẳng biết ở trong bụng, nó chòi đạp thôi thúc thế nào, mà vợ tôi phải tống nó ra, trước mấy bữa. Một thằng con trai quá ngon lành!
Khi nó còn nằm trong đống tã lót, bà y tá hỏi tôi, có muốn cắt da qui đầu cho nó hay không?
Tôi lắc đầu, nói tiếng Mỹ: “No No”
Bà giải thích rằng, theo phương pháp vệ sinh ở Mỹ, nên cắt da qui đầu, để con cu được sạch sẽ. Dĩ nhiên, những lời này phải qua cô thông dịch.
Tôi lại lắc đầu: “I don t likẹ” Biết được tiếng nào, xổ ngay tiếng đó.
Dù đã “I don t like”, nhưng tôi vẫn sợ người ta sẽ rình cắt mất da qui đầu con tôi. Tôi nói với cô thông dịch, nếu điều này xảy ra, tôi sẽ kiện. Doa. thế thôi. Mới qua Mỹ, ngôn ngữ không rành, biết gì mà kiện thưa ai chứ?
Trước khi quyết định cho con một cái tên chính thức trong giấy tờ, vợ hỏi: “Đặt tên gì?”
Tôi nói: “Lâm Khang.”
Vợ giật mình: “Trời đất! Đó là tên thằng con đã chết, sao lại đem gán cho thằng này?”
“Tôi nghĩ, thằng Khang bị chết oan. Nó đầu thai lại.”
“Thôi. em sợ có huông lắm. Đặt tên khác đi”
“Vậy thì đặt nó là Lâm Bình.”
“Sống ở Mỹ, sao không đặt tên Mỹ?”
Điều gì tôi có thể nhượng bộ, nhưng đặt tên Mỹ cho con, tôi phản đối tới cùng.
Cái máu độc tài của người đàn ông Việt Nam nổi lên, tôi cảnh cáo vợ: “Đừng bao giờ đưa ra ý kiến đó với tôi lần nữa nhé!”
Nhắc lại thằng con bỏ mạng trong Khoa Ỉa, bệnh viện Nhi Đồng I, tôi liên tưởng đến thằng Cu Đen uống thuốc rầy năm nọ. Tôi thương thằng bé. Cái tên của nó gợi lại biết bao kỷ niệm êm đền ngày cũ quê tôi. Tôi quyết định, đặt cho thằng út Lâm Bình, thêm một cái tên ngoài giấy tờ khai sinh: Cu Đen. Dĩ nhiên, vợ tôi không biết lý do thầm kín của cái tên này.
Tháng Mười lại tới rồi! Nếu ở Huế, thời tiết đã bắt đầu chuyển mùa vào Đông. Huế tháng Mười, trời mờ sương. Gió nhẹ và se lạnh. Những hàng cây sấu, cây bông sứ, cây phượng, dọc hai bên đường Lê-Lợi, từ chân cầu Tràng-Tiền tới Ga đã trụi lá. Liễu vẫn rũ bên sông, đò vẫn đưa, nước vẫn xuôi dòng, nhưng người qua lại đông hẳn lên vì trên con đường này có Viện Đại-Học, có Quốc-Học, có Đồng-Khánh. Bướm vàng đã hiếm bay, nhưng áo len màu, choàng ngoài áo dài trắng, thì nhiều lắm. Mấy hôm rày, (tháng Mười 2006) bạn bè tôi đưa tin Huế đang bị lụt, tôi nhớ lại chuyện xưa; nhớ lại một ngày trong đời mình. Ngày 1 tháng Mười, cách nay đúng 40 năm (1966) có một người lính, áo hoa rừng, bước thấp, bước cao, đi qua, rồi đi lại, nhiều lần, đoạn đường từ Ga Huế, về tới chân cầu. Người lính tửng tửng đó là tôi, Biệt Động Quân Vương mộng Long. Trên đường, tôi đã gặp vài người quen ngày xưa, hồi còn ở Hội-An. Nói chuyện đôi lời, bạn vào trường, tôi tiếp tục bách bộ. Chẳng nhớ tôi đã đánh mấy vòng qua đoạn đường này trong thời gian từ trưa tới chiều. Tôi đã làm cái màn bách bộ tửng tửng này để giã từ Huế. Hôm ấy, trong túi tôi có cái sự vụ lệnh về trình diện Chiến đoàn 1 Biệt Động Quân đóng tại bãi cát Phú-Lộc, Hoà-Khánh, Đà-Nẵng. Tôi vừa được phóng thích từ Quân-Lao Mang-Cá. Tôi bị giam ở đây 30 ngày vì tội tham gia vào vụ “Phản Loạn Miền Trung”. Sáng hôm sau, tôi rời Huế, rồi từ đấy tôi chưa một lần về lại nơi đây. Chiều ngày 2 tháng Mười năm 1966, tại hậu cứ Phú- Lộc (Đà-Nẵng) của Chiến đoàn 1/BĐQ, một người to lớn, ngồi trên bàn, hai tay chống trên mặt bàn, đôi chân đánh đung đưa, hai vai nhún nhún, đàng trước, đàng sau. Người đó đang nhìn ra cửa. Ông ta đeo kiếng đen, mặc quân phục đen, giầy sault đen, Trung tá Sơn Thương, chiến đoàn trưởng, bắt tay tôi, rồi rất ôn tồn, “Trước ngày đi tù, cậu đã làm đại đội trưởng ở TĐ11/BĐQ phải không?” “Thưa trung tá, tôi coi đại đội 3/11” Ông bỏ cặp kiếng đen ra, nghiêng đầu ngó tôi một lúc, rồi ra lệnh cho ban 1, “Làm sự vụ lệnh cho Thiếu úy Vương mộng Long về TĐ 39 thay thế Trung úy Phan thọ Hạnh thuyên chuyển.” Hôm sau, tôi vào lấy sự vụ lệnh. Sự vụ lệnh không ghi cho tôi đi Miếu-Bông, Đà-Nẵng để thay thế Trung úy Phan thọ Hạnh. Nơi tôi sẽ tới ghi trên cái sự vụ lệnh này xa xôi lắm, vùng 2! Quyết định của Tư lệnh quân khu 1 thật rõ ràng: Hoàn trả sĩ quan đương sự về TĐ11/BĐQ (đang ở Biển-Hồ, Pleiku). Lý do: Sĩ quan đương sự không được phép phục vụ tại vùng 1 Chiến Thuật. Tôi đành lếch thếch balô mang vai, “tìm đường lên núi”. Ngày ấy ở Pleiku, Tiểu đoàn trưởng 11/BĐQ là Đại úy Biên, TĐT/TĐ22/BĐQ là Đại úy Luận, và TĐT /TĐ23/BĐQ là Đại úy Chữ. Vì hồ sơ quân bạ của tôi lạc đi xứ nào không ai biết; nếu cho tôi ra trận, rủi tôi đền nợ nước, thì không biết báo cáo ra làm sao? báo cáo cho ai? nên chẳng ông tiểu đoàn trưởng nào nhận tôi về đơn vị. Trung tá Nguyễn đức Ninh, Chiến đoàn trưởng, Chiến đoàn 2/ BĐQ đành gửi tôi cho Thiếu tá Phạm văn Toán, Chiến đoàn Phó, để ông già Toán, “canh chừng cái Anh Chàng Thiếu úy Phản Loạn Miền Trung này.” (nguyên văn). Ban quân lương chiến đoàn, Thượng sĩ Phong và Thượng sĩ Đăng, cảm thông hoàn cảnh của tôi. Hai ông trình với Đại úy Kính, ĐĐT/ĐĐ/YTCV ứng bừa cho tôi cái lương trung sĩ, “cứ làm sổ lương trung sĩ, cho ông có tiền ăn, hồi sau phân giải.” Tôi được chỉ định tạm phụ tá ban 3 Chiến đoàn 2/BĐQ ở Biển-Hồ, Pleiku (nằm sát với hàng rào TĐ11/BĐQ). Hàng ngày tôi vào trại, giúp đỡ Đại úy Huân, ban 3, vẽ “nửa” cái phóng đồ, thảo “nửa” cái công điện, rồi leo lên xe Lamb ra phố. Bạn BĐQ vùng 2 cùng khóa 20 VB của tôi lúc đó chưa có ai leo lên tới chức chỉ huy đại đội. Chưa chàng nào có Jeep. Về phố, rủ tôi đi chơi, các bạn tôi phải dựa hơi các ông già đại đội trưởng, để mượn Jeep. Có Jeep thì mai vàng mới oai. Chúng tôi lang thang đầu con dốc này, tới cuối con dốc khác, phiêu du từ quán này, tới quán khác. Lúc nào đói bụng, chúng tôi chui vào Quán cơm Bình-Dân Ba Cò nơi bến xe cũ. Bà chủ quán cơm Ba Cò biết tên tôi từ dạo đó. Lúc này Hội-Quán Phượng-Hoàng vui nhộn vô cùng. Khi mới đặt chân tới Pleiku, tôi cũng thường tới đây. Nhưng nhớ lời mẹ dặn,”xướng ca…” tôi dang xa dần nơi này. Nhứt là, khi thấy cô Trang ca-ve đập bầu, rồi cột cổ anh bạn Thiếu úy Hữu của tôi, bắt làm cha khai sinh đứa bé mới ra đời, tôi không dám bén mảng tới đây nữa. Ông Tướng vùng hào hoa và bình dị Vĩnh-Lộc không có vẻ gì là ghét bỏ BĐQ. Đã có lần, chúng tôi 4 đứa, Bửu, Long, Hùng, Ngọ, súng xệ ngang hông, giăng một hàng ngang, đi bộ từ từ trước cái xe Falcon đen của ông Tư lệnh đang tới, trên đường Phan bội Châu, Pleiku. Quân Cảnh bóp còi inh ỏi. Bốn chàng BĐQ rút súng bắn chỉ thiên tám phát lên trời. Đạn nổ đoàng, đoàng, cành phượng gãy, hoa phượng rơi. Bắn xong, bốn đứa chúng tôi quay súng một vòng trên ngón trỏ (như cao bồi thứ thiệt), rồi đút súng vào bao, chia đôi hai bên đường, trái, phải quay, miệng hô “hai! ba!” dơ tay chào, thế đứng nghiêm. Xe Tư lệnh ngừng, kiếng cửa xe hạ xuống. “Mấy thằng nhỏ điên hả?” Rồi kiếng xe lại nâng lên. Xe tiếp tục lăn bánh. Xe Tư lệnh quân đoàn rẽ phải, lên Hội Trường nằm sát ban Biệt Cảnh. Tư lệnh đi tham dự ngày lễ gì đó. Ông Tướng không thèm trách cứ cái hành vi ngông nghênh càn quấy vừa qua của “mấy thằng nhỏ”. Chính cái “phong cách Ngô-Khởi” của ông đã khiến những sĩ quan trẻ BĐQ chúng tôi xả thân quên mình nơi tuyến đầu. Một ngày, khi tôi đang đọc “cọp” tờ nhựt trình ở sạp báo bé Hạnh, trước tiệm phở Kim-Phượng, thì một giọng nói Bình-Định đàn ông sau lưng hỏi, “Ông thiếu úy có biết tên Dương ở Tiểu đoàn 23/BĐQ không?” Một vị đứng tuổi, có lẽ trên 50, đang đứng sau lưng. “Dạ không! Thưa bác, tôi không quen ai tên Dương ở TĐ23 cả bác ạ.” “Tôi là chú của thằng Dương, nó ở Tiểu đoàn 23/ Biệt Động Quân, tôi tưởng thiếu úy quen nó. Nhà tôi gần đây, mời thiếu úy ghé chơi” “Cám ơn bác! Thôi! để khi khác, lúc nào rảnh, tôi ghé nhà bác chơi.” Tuần sau, “khi khác”, tôi tình cờ gặp bác Ba trên Chợ-Mới, gần nhà thờ Tin-Lành, tôi vào nhà bác chơi. Bác dạy côn, dạy quyền Bình-Định cho tôi. Nhiều thế côn Bình- Định đã giúp tôi thoát chết trong những cú xáp-lá-cà năm 1969. Tối, tối, tôi học võ ở sân nhà bác, ăn cơm nhà bác, rồi cuốc bộ về cái nhà tranh ở thuê của vợ chồng anh bạn Lê đình Vụ (k20), ngủ nhờ qua đêm. Bác Ba có cô cháu gái mười tám tuổi, tên Dung. Cô Dung mặt như trăng rằm. Cô Dung má lúm đồng tiền, da ngăm ngăm đen. Cô làm nghề khuân vác gạo ngoài bến xe. Cô rất giỏi võ. Cô đánh roi, đi quờn vèo, vèo. Cô túm bao gạo trăm ký từ sàn xe, kê vai, vác đi nhẹ nhàng. Tới sạp, cô nghiêng vai, ném bao gạo trăm ký xuống đất, nhẹ nhàng. Từng hàng gạo xếp ngay ngắn, thẳng hàng. Thuở đó, bao gạo nặng bằng hai trọng lượng của tôi. Láng giềng nhà cô Dung có một người cùng xứ Phú-Phong với bác Ba là anh Nhơn. Anh Nhơn lái xe Lamb ba bánh. Anh là học trò ruột của bác Ba. Anh rất có cảm tình với tôi. Anh thường chỉ vẽ cho tôi những ngón nghề khi thực tập côn, quyền. Hình như anh Nhơn thương cô Dung. Một ngày không hành quân, chú Dương, Binh nhứt thuộc TĐ23/ BĐQ gặp tôi ở nhà bác Ba. Bác mổ gà đãi chúng tôi một bữa nhậu. Cuối tiệc, Dương kề vai tôi nói nhỏ, “Em Dung nó nói với tôi rằng, nó thương thiếu úy.” Tôi cười cười lắc đầu. Tôi mến cô Dung lắm, nhưng không dám có ý nghĩ sẽ nhờ vị nữ hào kiệt này nâng khăn sửa túi. Chẳng rõ anh Nhơn có biết “ý riêng” của cô Dung đối với tôi không, mà từ đó, mỗi khi thực tập, anh Nhơn ra đòn không nương tay, tôi chống đỡ trối chết, anh vẫn truy kích không tha. Cũng hên là, dịp này, tôi có lệnh đòi của Toà, phải rời Pleiku. Nhờ thế, tôi thoát được những cú đá chết người của anh Nhơn. Tôi ra đi trong danh dự. Hú hồn! Ngày tôi trở lại Pleiku, thì cô Dung đã thành bà Nhơn, bà chủ xe Lamb chạy đường Lệ-Trung, Trà-Bá. Sau gần ba tháng ở Pleiku, không có quân sĩ dưới quyền, không hồ sơ quân bạ, không chức vụ rõ rệt, tôi được lệnh gọi ra Toà án Quân Sự Nha-Trang vì “tội phản loạn”. Tới Nha-Trang, tôi không bị ra tòa án, mà ra Hội Đồng Kỷ-Luật của Đại tá Cách. Kết quả tôi bị nhốt thêm 60 ngày trong quân lao. Rồi tôi bị giáng xuống trung sĩ. Tôi về Đơn Vị 2 /Quản-Trị Địa-Phương; doanh trại đặt ở đầu đường đi Thành, dưới chân núi. Trên đỉnh núi có tượng Phật Bà màu trắng. Ngày ngày, Phật Bà cúi nhìn tôi với con mắt rầu rầu, xót thương. Ngày ngày, tôi lủi thủi trong sân trại, cô đơn. Trong gần 4 tháng đầu năm 1967, tôi làm việc dưới quyền một ông chuẩn úy mới ra trường. Vị chuẩn úy này lại là cựu trung sĩ BĐQ, thuộc cấp cũ của tôi. Tháng 2/1966, khi tôi vừa lên làm đại đội trưởng đại đội 3/11/BĐQ ở Điện-Bàn, Quảng-Nam, tôi đã ký giấy cho phép 2 hạ sĩ quan dưới quyền là Trung sĩ Thành và Trung sĩ 1 Khê theo học khóa Sĩ-Quan Đặc-Biệt Thủ-Đức. Mỗi tối, tôi theo Chuẩn úy Thành đi kiểm soát vài yếu điểm trong quân trấn Nha-Trang. Công việc của tôi khỏe re. Tôi chỉ ngồi bên ông chuẩn úy, theo xe đi kiểm soát một số yếu điểm. Ông chuẩn úy làm hết mọi việc, từ ghi chép tình hình, kiểm điểm quân số, đến ký sổ bàn giao. Mỗi khi tôi nhấp nhổm định xuống các trạm để làm công việc của mình, thì ông ta cản tôi lại,”Ông thày ngồi chơi. Để em lo!” Một hôm, có chiếc xe tang chạy ngang doanh trại tôi ở. Tới cổng Trường Bồ-Đề Nha-Trang, xe ngừng lại để bốc thân nhân. Thân nhân người chết đầu quấn khăn tang, nước mắt dầm dề. Hỏi ra, người vừa tử trận lại là bạn tôi. Người tử trận là Thiếu úy BĐQ Lê văn Hai khóa 20 Đà-Lạt. Nước mắt tuôn rơi. Tôi cảm thương bạn tôi. Tôi xa chiến trường đã mấy tháng rồi… Tháng Năm 1967 có toán tuyển mộ Biệt Động Quân tới Đơn Vị 2/ QTĐP tuyển quân nhân về bổ sung cho binh chủng. Tôi tình nguyện về lại Biệt Động Quân. Ông Thượng sĩ trưởng toán không dám ghi tên tôi vào danh sách. Ông ta nói trường hợp tôi, phải chờ quyết định của Đại tá CHT/BĐQ/QLVNCH. Tôi viết một cái thư riêng, đưa cho ông thượng sĩ, để trình cho Đại tá Trần văn Hai, trong đó có câu, “Tháng Năm năm ngoái, tôi là đại đội trưởng ĐĐ3/TĐ11/BĐQ, trấn giữ chùa Phổ- Đà, Đà-Nẵng. Chính tôi đã ra lệnh bắn 2 quả SKZ 57 ly chận đầu xe của Trung Tá Trần văn Hai, CHT/BĐQ/QLVNCH, ngăn không cho đoàn xe của ông tiến vào khu TĐ11/BĐQ kiểm soát. Một đơn vị Thiết giáp Hoa-Kỳ cũng bị chúng tôi bắn chặn khi xâm nhập vùng này. Sau khi tình hình yên ổn trở lại, tôi đã bị thi hành kỷ luật nặng nề. Từ một Thiếu úy tốt nghiệp khóa 20/TVBQGVN, tôi đã bị giáng cấp xuống trung sĩ. Tôi không khiếu nại, không than van. Tôi lúc nào cũng tự hào mình là một sĩ quan có kỷ luật trong vụ chính biến đó. Tôi chỉ là một sĩ quan thuộc cấp, tôi thi hành nghiêm chỉnh tất cả mệnh lệnh cấp trên giao phó. Nay, dù chỉ là một trung sĩ, tôi vẫn vui vẻ tình nguyện về phục vụ binh chủng mà tôi đã chọn lúc ra trường. Tôi nghĩ rằng Đại tá không nỡ từ chối ý nguyện của tôi.” Tuần sau, toán tuyển mộ lại xuất hiện, ông Thượng sĩ trưởng toán cười nói với tôi, “Đại tá nhận Trung sĩ về lại BĐQ rồi đó!” Tôi được chỉ định làm trưởng toán 4 người, gồm có tôi và 3 anh trung sĩ mới từ quân lao được tha. Bốn anh trung sĩ trẻ măng, có tên trong một sự vụ lệnh do tôi làm trưởng toán:TS Vương mộng Long, TS Huỳnh văn Nghệ, TS Trần văn Sơn, và TS Nguyễn mạnh Hà. Chúng tôi được nghỉ ba ngày để chuẩn bị. Sau ba ngày lang thang tắm biển, uống bia, nhậu rượu, giã từ bạn bè “đồng cảnh”, chúng tôi vào lấy sự vụ lệnh và chứng chỉ ngưng lương để lên đường. Cái sự vụ lệnh đã đổi lại, lạ lùng! Trên đó, Thiếu úy HD Vương mộng Long làm trưởng toán, dẫn 3 Trung sĩ Nghệ, Sơn, Hà về trình diện TTHL/BĐQ/Dục Mỹ để hoàn tất thủ tục đáo nhậm đơn vị. Sau này, tôi nhận được một bản thông báo của Nha Quân Pháp về Quyết Định phục hồi cấp bậc thiếu úy của tôi, trong đó có bản sao phiếu góp ý của Đại tá Trần văn Hai, CHT/BĐQ/QLVNCH, tôi mới rõ nguyên ủy sự việc. Thì ra, khi nhận thư của tôi, Đại tá CHT/BĐQ/QLVNCH đã đọc lại hồ sơ quân bạ của tôi. Đại tá đã gửi gấp cho Nha Quân Pháp một phiếu đề nghị xét lại trường hợp của Vương Mộng Long. Ông viết, “Thiếu úy Vương Mộng Long là một sĩ quan đại đội trưởng có kỷ luật. Mọi chuyện sĩ quan này làm, hoàn toàn là thi hành lệnh trên.” Ông Đại tá CHT/BĐQ/QLVNCH yêu cầu Hội đồng Kỷ Luật trả lại lon Thiếu úy cho tôi vì, “Trường VBQGVN đã gắn lon này cho nó! Tướng Thi không gắn lon này cho nó!” Ngày tôi đi, Chuẩn úy Thành theo chân tôi tới tận phòng ngủ của Thiếu úy Ngô Văn Niếu, trong trung tâm huấn luyện BĐQ/Dục-Mỹ. Thiếu úy Niếu và 9 người nữa, bạn cùng khoá VB của tôi, đã tình nguyện ở lại Dục-Mỹ làm huấn luyện viên từ ngày học xong khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy, sau khi mãn khóa 20 VB. Trước lúc lên xe về lại Nha-Trang, Thành còn đưa cho tôi 500 đồng, chú nghẹn ngào, “Suốt đời em không quên ông thày đâu!” Tôi với Chuẩn úy Thành bịn rịn mãi mới rời tay nhau. Tháng 12/1969 tôi có dịp tháp tùng Trung Tá Bùi văn Sâm, LĐT/LĐ2/BĐQ ghé TTHL/BĐQ/Dục-Mỹ. Tôi mượn xe của Trung tá Phú, CHT/TTHL/BĐQ/Dục-Mỹ chạy về Trung Tâm 2/QTĐP kiếm chú Thành. Bà chủ quán cơm đầu ngõ, nơi tôi và Thành ăn cơm tháng, cho tôi hay rằng, sau khi tôi đi, Chuẩn úy Thành được lệnh lên đường bổ sung quân số cho Sư đoàn 22/BB. Ông chuẩn úy đã chết trận ngoài Bồng-Sơn. Bốn thày trò tôi, Long, Hà, Sơn, Nghệ, sau khi trình diện Trung tá Hồ Hữu Dõng, Liên đoàn trưởng, đã chia tay nhau đi các đơn vị trực thuộc liên đoàn, nhập trận. Trung sĩ Nguyễn mạnh Hà (TĐ23/BĐQ) đứt ruột sáng Mồng Một Tết Mậu Thân, giải ngũ. Trung sĩ Trần văn Sơn (Đại đội 1/11BĐQ) gãy tay trận Chư-Pa tháng 1/1969, giải ngũ. Chiến tranh chấm dứt, còn lại Thiếu tá Vương mộng Long (TĐ82/BĐQ/BP) và Thượng sĩ Huỳnh văn Nghệ (TĐ23/BĐQ). Tháng Mười 2006. Mây trời Bắc-Mỹ âm u. Gió hiu hiu. Lá rụng đầy mặt lộ. Một người Biệt Động già, tửng tửng đi qua, đi lại, trên một đoạn đường Highway 99 trước Home Depot thành phố Everett, WA, USA lòng ngậm ngùi nhớ lại chuyện đời mình, ngày xưa…
Seattle, ngày 07 tháng Mười năm 2006 Vương mộng Long
Mỗi người miền Nam đều có một quê hương, một thành phố, dù đó là Ðà Lạt, Nha Trang, Cần Thơ hay Sóc Trăng… nhưng tôi nghĩ rằng mỗi người dân miền Nam từ ngày rời bỏ quê hương ra hải ngoại đều có một chút Saigon mang theo.
Ðó là kỷ niệm của những ngày trọ học, chỗ sinh sống làm ăn, hay nơi một lần ghé qua để chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Chúng ta không nhớ Saigon với phong cảnh hữu tình, tiếng thông reo hay câu hò trên bến nước, mà nhớ nhiều đến âm thanh của một Saigon rộn rịp không bao giờ ngủ, với tiếng động cơ xích lô máy nổ giòn giã buổi sáng ra chợ, tiếng chuông xe thổ mộ leng keng, tiếng rao hàng lanh lảnh mà ngọt ngào hay tiếng “sực tắc” của xe mì qua xóm… Saigon với âm thanh tiếng chuông sáng của Vương Cung Thánh Ðường, tiếng chim sẻ rộn ràng trên tàng cây xanh quãng đường Hồng Thập Tự hay tiếng còi tàu rời bến Khánh Hội. Saigon còn cho chúng ta mùi vị khó quên, dù ngay đó là hương cà phê bốc lên từ cái quán cóc đầu ngõ, mùi xăng khét lẹt trên đường hay cả mùi cống rãnh của con kinh ở xóm ngoại ô.
Tôi biết Saigon từ năm mười bảy tuổi. Bà bác họ giới thiệu cháu bà với lối xóm: “Nó ngoài nước Huế mới dô!”, thì ra chỉ có những người như bác mới là “người Diệt”. Ðối với tôi, Saigon thuở ấy đúng là một “nước khác”, có nhiều điều lạ lùng mà tôi chưa hề thấy, hề nghe. Từ những xe taxi Renault 4 sơn màu xanh nhỏ nhắn, chiếc xích lô máy nổ phành phạch, những rạp “ciné permanent” (thường trực), tờ bạc giấy một đồng được xé đôi, xe nước mía Viễn Ðông quay tay và khay “phá lấu” của chú Chệt trước chùa Chà, góc Pasteur và Bonard. Thuở ấy, lần đầu tiên trong đời tôi được ăn miếng phá lấu chấm tương ớt do người bạn mời, mà ăn ngoài đường phố đông người qua lại, tôi ngượng chín người, cứ nhìn quanh, xem có ai quen biết với mình không, mới rụt rè đưa miếng gan gà lên miệng. Từ đó, tôi học cách sống của Saigon, nghĩa là thói quen và cả phong tục, thảo nào mấy năm sau khi trở lại Huế, cha tôi đã nói với tôi: “Ði Saigon về, mi thay đổi quá nhiều!”
Phần tôi không bao giờ quên Saigon với những cơn mưa mau, những chiều nghỉ học trong rạp thường trực Bonard (Vĩnh Lợi), mùi vị của bát phở “Bắc di cư” Hợp Lợi, Kim Long ở đầu đường Lý Thái Tổ hay trong con hẻm Pasteur. Về sau khi dọn về Xóm Cỏ, Dakao, rồi Thị Nghè, tôi biết thêm “cái bình dân” của những quán cà phê thâu đêm, nhưng sinh hoạt buôn bán lúc về sáng, con kinh nước đen và những cái cầu cá, nơi gặp gỡ của bà con lối xóm.
Ai lại không có một chút Saigon trong trí nhớ, đây Duy Tân với “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt”, đó Tân Ðịnh với “em tan trường về, đường mưa nho nhỏ”.
Saigon vẫn tượng trưng cho một vùng đất quê hương, tỏa sáng như ngọn hải đăng cho bao nhiêu đợi chờ và hy vọng, cũng là tiếng gọi thầm kín của một thời của miền Nam. Mất Huế chỉ là mới bỏ Huế mà đi, mất Phan Rang cũng còn hy vọng, nhưng mất Saigon là mất cả nước. Ta bỏ Huế ngậm ngùi ra đi nhưng mắt còn khô lệ, ta nhìn lại Phan Rang, lòng tan nát, mắt đã đỏ hoe, nhưng khi phải bỏ Saigon, Saigon mờ trong màn nước mắt. Như Cao Xuân Huy, đóm lửa thuốc lào cháy đến đầu tay không thấy nóng, như những người tù binh từng vào sinh ra tử, trong đất địch ngồi nín lặng mất hồn. Saigon mất rồi, đất trời sụp đổ, niềm hy vọng cuối cùng đã tắt lịm.
Saigon từ ngày ấy đổi tên, nhà nhà đóng cửa tắt đèn, những dòng nước mắt nghẹn ngào nuốt ngược vào lòng. Bạn bè đã bỏ Saigon ra đi trong cơn hối hả, anh em tôi rời Saigon trong chuyến xe bịt bùng đi vào nơi tù đày thâm sơn cùng cốc, và chị, tay xách tay bồng trên chuyến xe lam giã từ Saigon đi vùng “kinh tế mới”. Hôm nay đầu ngõ, tiếng loa trấn áp, dọa nạt thay cho tiếng nhạc vàng. Nhiều tượng đài lịch sử bị phá đổ, những khẩu hiệu biểu ngữ kéo đỏ mặt đường.
“Từ thành phố này người đã ra đi” tha phương cầu thực, để mười mấy năm sau mang đại họa về cho đất nước. Từ đó như Trần Dần: “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ!”
Saigon bây giờ còn chăng chỉ còn trong trí nhớ. Những người trở lại Saigon hôm nay như trở lại căn nhà ngày xưa yêu dấu một thời, nhưng căn nhà đã đổi chủ, trên những con đường đã đổi tên, với số nhà đã xóa vết. Con chó giữ nhà sủa dai người khách lạ đang tìm về ngôi nhà của chính mình thuở trước, bùi ngùi trước “dẫy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?” Anh em chúng tôi mỗi người một ngả, kẻ đã nằm dưới biển sâu, người nắm xương rừng thẳm, oan khuất chưa tan. Chúng tôi, những người cầm súng một thời, canh cánh bên lòng, xót xa đã để mất Saigon.
Chúng ta nhớ nắng Saigon “em đi mà chợt mát” nhưng cũng không quên mưa Saigon “rồi chiều mưa ai đón đưa em”. Ngày đã đau nỗi mất Saigon “ta mất người như người đã mất tên”, nhưng đêm lại nhớ Saigon trong từng kỷ niệm “tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa, ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa”.
Chúng ta đã bỏ Saigon ra đi, nhưng từng con đường, từng góc phố vẫn còn như hiển hiện trong tâm trí chúng ta. Từng tiếng chim, từng tiếng guốc, từng tiếng chân ngựa của chuyến xe thổ mộ buổi sớm mai, cả từng tiếng còi xe vội vã… Saigon vẫn như sống dậy mỗi ngày trong nỗi nhớ khôn cùng.
Một câu nói thoạt nghe rất đơn giản nhưng là một danh ngôn: “Mất đất nước là mất tất cả.” Ðòi lại sông núi có khi phải dùng súng dùng gươm, đòi lại một cái tên thành phố không thể nói bằng lời. Khi chế độ Cộng Sản đi vào quá khứ, thành phố này lại là của ta.
Năm 1924, suy tôn các lãnh tụ Cộng Sản, Liên Xô đổi tên thành phố Saint Petersburg thành Leningrad. Năm 1925, Volvograd trở thành Stalingrad. Tháng 5 năm 1975, Cộng Sản Việt Nam quen thói học đòi, xóa tên Saigon đổi ra “thành phố HCM.” Trên văn bản, báo chí, có năm chữ, nhưng khổ nỗi người Việt không ưa nói dông dài, cắt bớt ba chữ chỉ còn lại hai, bỏ tên Hồ Chí Minh mà gọi gọn là “thành phố”. Do đó người dân Cần Thơ nói lên “thành phố” thì phải hiểu là đi Saigon, dân Hà Nội nói “vào thành phố” là vô “Saigon”. Nhưng rồi HCM City sẽ còn tồn tại được bao lâu?
Năm 1961, tên Stalin phải chịu số phận đào thải để trả lại tên cho Volvograd. Năm 1991, tên Lenin bị xóa bỏ cho thành phố St. Petersburg hồi phục tên mình. Volvograd mang tên Stalin được 36 năm, St. Petersburg tròng vào cổ tên Lenin lâu lắm cũng chỉ được 66 năm. Saigon sẽ về lại với chúng ta, cũng như chúng ta sẽ về lại với Saigon, tên Hồ Chí Minh sẽ bị chôn vùi theo số phận của các “sư tổ” Lenin, Staline theo những cơn sóng thần lịch sử. Chúng ta về để xây lại phần mộ anh em trong nghĩa trang điêu tàn, thắp nén hương trên mồ mả ông cha, cúi đầu gửi một lời tạ lỗi vì chúng ta đã để mất Saigon.
Bây giờ ngày tháng qua mau, đất khách tuổi già, quê người tóc bạc… Saigon vẫn còn là một nỗi nhớ.
LTS: Bao năm đã trôi qua như một thoáng mây bay, với tuổi đời chồng chất và mái tóc đã ngã mầu sương khói. Ký ức của một thời chinh chiến giờ đây lập loè như những ánh mắt hoả châu. Mơ ước thật nhiều tưởng chừng như vô hạn nhưng cuối đời ngậm ngùi tìm lại chẳng có là bao. Đây là một câu chuyện có thật nhưng chẳng may ngày tháng, danh xưng, địa danh và tên người cũng phai mờ theo năm tháng. Nếu có điều chi sơ sót, kính mong quý độc giả niệm tình tha thứ cho.
Thành thật cám ơn NT Lê Văn Sùng và Phi Vân 5, Nguyễn Văn Bé đã cho biết thêm chi tiết về ngày tháng cũng như tên của Phi Hành Đoàn đã vị quốc vong thân tại phía Nam Sầm Giang. Hoa Tiêu là Th/U Liêu Văn Điều, Quan Sát Viên là Đ/U Nguyễn Ngọc Đạm, thuộc PĐ 116. Cả hai đang làm việc với Sư Đoàn 7 Bộ Binh, trong lúc xuống thấp để quan sát công sự và hầm hố của địch đã bị trúng đạn đại liên, phi cơ rớt liền tại chỗ.
Firebird24
Phi đoàn tôi có bốn phi đội nhưng lúc nào cũng có một phi đội được đi phép nên chỉ có ba phi đội túc trực để tham dự những cuộc hành quân ở vùng IV chiến thuật mà thôi. Mỗi phi đội sau khi về phép, ngày đầu tiên đi bay lại sẽ đảm nhiệm những phi vụ có ưu tiên 1, ngày hôm sau sẽ là 2, và rồi là 3, 4 và 5. Có nghĩa là đi bay 5 ngày, gồm cả trực bay đêm sẽ đuợc nghỉ 2 ngày. Nếu chọn nghỉ ở Saigon, sẽ có trực thăng đưa đón, những phi hành đoàn mà quê quán ở vùng IV thì phải tự túc hoặc xin đi quá giang những phi cơ trực thăng khác có phi vụ bay ngang quê nhà mình. Nếu quê nhà ở vùng ngoài thì nghỉ ngơi tại chỗ.. Hình như đây là sự sắp xếp có từ thời cố Chuẩn Tướng Ánh để các phi hành đoàn Trực Thăng có đủ thời gian nghỉ dưỡng sức sau những ngày bay hành quân dài đăng đẳng. Bay trực thăng thời chinh chiến là phải làm cho hết việc chứ không có giờ giấc ấn định gì cả. Thường thì những đơn vị Bộ Binh xử dụng trực thăng ít khi nào cho về sớm. Sáu giờ sáng, Sĩ Quan Trực đánh thức dậy đi bay, chiều về đến phi trường lúc 7, 8 giờ tối là chuyện bình thường .Ưu tiên từ 1 tới 4 là bay hành quân với hợp đoàn, mỗi hợp đoàn thường có ít nhất 1 trực thăng C&C (Control and Command), 3 trực thăng võ trang và 6 trực thăng để chở quân, tiếp tế v.v… Ưu tiên 5 thường là những phi vụ bay một mình, có thể là bay biệt phái cho tiểu khu, chi khu, trực bay Rescue v.v… ngày hôm sau xuống ca sẽ được nghỉ 2 ngày. Hôm ấy là ngày 26 tháng 1 năm 1973, hôm sau là ngày ký Hiệp Định Paris. Tôi được cắt bay làm hoa tiêu phụ cùng trực phi vụ Rescue với Tr/U Các từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Phi vụ Rescue tương đối nhàn hạ vì chỉ khi nào có phi cơ bị rớt ở vùng IV thì Phi Hành Đoàn (PHĐ) Rescue mới phải cất cánh lên vùng và bằng bất cứ giá nào cũng phải bốc PHĐ lâm nạn (còn sống hay đã tử trận) về căn cứ theo truyền thống “KQ không bỏ anh em, không bỏ bạn bè . Có một vài trường hợp đã xảy ra khi chiếc Rescue vào vùng cũng bị bắn rớt luôn …Bộ Binh Hoa Kỳ vừa chuyển giao cho căn cứ tôi một chiếc Rescue sơn mầu trắng tinh, trang bị đầy đủ dụng cụ cho những phi vụ rescue, nhất là hai dấu Hồng Thập Tự thật lớn mầu đỏ tươi sơn hai bên cửa. Lúc đầu, những phi công mới về nước được vài tháng đến khoảng 1 năm như tôi đều dành nhau đi bay để lấy giờ và học hỏi kinh nghiệm chiến trường của những phi công đàn anh trong phi đoàn . Chúng tôi là thành phần “điếc không sợ súng” vì khi hợp đoàn vào bãi đáp để đổ quân bị bắn tả tơi, chúng tôi có nghe gì đâu vẻ mặt vẫn bình thản, đôi khi lại nở một nụ cười ngớ ngẩn trong lúc mặt của trưởng phi cơ thì tái mét. Có độ vài trăm giờ bay, “điếc bắt đầu nghe được tiếng súng”, nhất là khi đạn trúng vào thân tầu nghe “lụp bụp” . Thời điểm đó SA7 (hoả tiễn tầm nhiệt) được biết đến nhiều hơn trên khắp các chiến trường ở miền Nam Việt Nam, tất cả trực thăng của Bộ Binh Hoa Kỳ đều được gắn thêm “ống vố” (loa che hoặc giảm nhiệt) vào ống thoát nhiệt.
Dù biết “Nhân sinh từ cổ thuỳ vô tử” nhưng phàm là con người ai cũng sợ chết . Bản thân tôi, hai cảm nghĩ “sợ” và “không sợ” đối đầu nhau từng ngày, từng giờ. “Sợ” thì làm được gì, mỗi sáng cũng vẫn phải thức dậy sớm đi bay, làm sao mình có thể né tránh được “hòn tên mũi đạn”, mà lỡ có trúng đạn chưa chắc đã bị thương, mà bị thương chưa chắc đã chết …thôi thì phó mặc cho Trời, từ nay “không sợ” nữa … Cả ngày PHD trực Rescue cứ “ngồi chơi xơi nước”, hết ra lại vào, đọc sách, đánh cờ v.v…chỉ mong cho xuống ca là về tắm rửa, ra phố du dương … Khoảng 4:30 chiều, chuông điện thoại reng dồn dập, PHĐ Rescue sợ xanh mặt (lại “sợ” nữa) . Hành Quân Chiến Cuộc báo: “Có một chiếc L-19 vừa bị bắn rớt ở Sầm Giang, PHĐ cất cánh lên vùng gấp, liên lạc Paddy (danh hiệu của đài Kiểm Báo Không Lưu vùng IV Chiến Thuật) để lấy thêm chi tiết và toạ độ”. Năm phút sau, chúng tôi đã cất cánh và bay thẳng về hướng Chi Khu Sầm Giang (Ba Dừa). Những địa danh nổi tiếng nguy hiểm như Sầm Giang, Kinh Bà Bèo, Mỹ phước Tây, Cai Lậy, Cái Bè, Ấp Bắc v.v… chúng tôi đều biết nên phải rất cẩn thận . Tôi đổi sang tần số Paddy:
“Mekong đây 31, ETA(estimated time of arrival) 10 phút, bạn cho biết chi tiết về target, địch và bạn ra sao để gunship có thể escort bạn ra vào một cách an toàn, Trời đã tối rồi – over”. Giọng Tr/u Huy đầy vẻ lo lắng. Sau khi Tr/U Các báo cáo cặn kẽ mọi chi tiết về địa hình, vị trí của địch và vị trí xác của PHĐ tử nạn. Chúng tôi quyết định là hai chiếc gunship sẽ xuống trước giữ khoảng 500 bộ, giữ vòng tròn nhỏ để bảo vệ cho nhau, dùng minigun bắn vào những rặng cây bao quanh chỗ phi cơ lâm nạn. Trong lúc đó chiếc Rescue sẽ bay sát mặt ruộng từ Đông Nam lên Tây Bắc, đáp càng gần vị trí PHĐ tử nạn càng tốt, quay ngang hoặc quay 180 độ để khi lấy được xác sẽ chúi đầu lấy vận tốc tối đa (speed-over-attitude) rồi múc ngược bay ra phía bờ sông Tiền Giang. Hai chiếc gunship sẽ bay theo chiếc Rescue và tiếp tục bắn vào những hàng cây rậm rạp ở hai bên.
“Paddy, đây Mekong, cất cánh 5 phút đi Sầm Giang, xin bạn cho biết chi tiết và toạ độ””Mekong, đây Paddy, Bộ Binh báo L-19 down phía Nam Sầm Giang, không có toạ độ chính xác – sẽ báo khi có thêm chi tiết””Paddy, đây Mekong, khi đến sẽ làm holding về hướng Nam của Sầm Giang trên sông Tiền Giang, sẽ liên lạc với bạn sau” Trời đã về chiều, những tia nắng le lói còn lại trong ngày như đang giãy chết trên những mảnh ruộng xanh mướt đến tận chân trời, khói lam chiều bốc lên từ những mái tranh xa tít tạo thành một bức hoạ đồng quê tuyệt đẹp làm thổn thức lòng kẻ thi nhân . Con sông Tiền vẫn ngàn đời lặng lẽ trôi ra biển, con trâu già vẫn cặm cụi bên bờ ruộng, không một lời than oán. Chẳng ai biết hoặc để ý gì đến tính mạng của PHĐ lâm nạn ngoại trừ những người đồng đội giờ đang cố gắng tìm kiếm họ.”Paddy, đây Mekong, holding phía Nam Sam Giang chờ lệnh. Không có dấu vết gì của PHĐ lâm nạn”. Tr/u Các báo cáo với Paddy.“Mekong, đây Paddy, cố gắng quan sát đi bạn – lệnh của Chuẩn Tướng Tần là bằng mọi giá phải cứu PHĐ lâm nạn về – sống hay chết – over”.“Paddy, đây Mekong, 5/5 – sẽ liên lạc sau”. Mười phút sau, vòng holding của chiếc Rescue lớn dần vào sâu trong bờ Nam của Sầm Giang. Bốn cặp mắt của chúng tôi như muốn xuyên thủng cảnh vật chung quanh một địa điểm tưởng tượng nào đó về phía Nam của Chi Khu Sầm Giang. Mặt Trời xuống thấp dần …thấp dần, làm sao chúng tôi có thể xuống cứu PHĐ lâm nạn trong đêm tối?
“Ồ! ồ! Hình như có ánh sáng từ dưới chiếu lên hướng 4 giờ”. Tiếng người Cơ Phi mừng rỡ vang lên trong intercome. Làm thêm một vòng nữa sâu hơn vào bờ Nam với cao độ khoảng 1500 bộ. Và lần này quả thực chúng tôi đều thấy có ánh sáng ở dưới chiếu lên. Tr/u Các mừng rỡ gọi Paddy: -“Paddy, đây Mekong, chúng tôi thấy có ánh sáng ở dưới chiếu lên – có lẽ là kiếng trong Survival Kit của PHĐ còn sống sót ở dưới đất – báo cáo chờ lệnh – over” Độ khoảng 5 phút sau …Paddy gọi lại: -“Mekong, đây Paddy …Trời gần tối rồi bạn có cần Gunship không? Lệnh Chuẩn Tướng Tần là bằng mọi giá phải cứu PHĐ lâm nạn, trưởng phi cơ quyết định – over” Tr/U Các đăm chiêu hỏi tôi:
“Ông nghĩ sao? Trời tối rồi, chờ Gunship lên sợ không kịp, thôi chắc mình xuống đại cho rồi”
“Tôi cũng nghĩ như anh, chắc không sao đâu”. Tôi trả lời thật nhanh vì nóng lòng muốn cứu những người bạn đồng đội. “Paddy, đây Mekong, tôi sẽ xuống thử xem sao, bạn request gunship chuẩn bị sẵn sàng khi cần”. Tr/u Các dặn dò Paddy.
“Ông cầm hờ cần lái với tôi, lỡ có chuyện gì ông còn đỡ kịp. Tôi sẽ xuống low-level từ Đông Nam lên Tây Bắc. Lúc ra 180 độ, low-level cho tới gần bờ sông sẽ múc lên hết cỡ “. Tr/U Các cho tôi biết chi tiết về đường vào và ra. Từ trên cao nhìn xuống, từ Nam lên Bắc, địa hình này giống như một chữ “U” ngược mà chỗ chúng tôi thấy ánh sáng của kiếng chiếu là gần đáy chữ “U”. Ba mặt của chữ “U” ngược là ba hàng cây tuy không cao lắm nhưng có vẻ rậm rạp, đáy của chữ “U” ngược này độ khoảng ba trăm thước bề ngang và hai cạnh kia khá dài khoảng ba cây số. Hướng trống trải duy nhất là trục Nam/Bắc từ bờ sông Tiền Giang. -“Paddy, đây Mekong, bây giờ tôi bắt đầu xuống …”. Tr/U Các thông báo với Paddy lần cuối … Từ 1500 bộ , chiếc trực thăng sơn mầu tang trắng nhào xuống như một con ó đang chuẩn bị vồ mồi, chỉ trong tíc tắc tôi đã thấy những mảng cỏ xanh mướt vùn vụt biến mất sát dưới chân mình. Tr/U Các cố gắng bay giống hình chữ “chi” để tránh đạn nhưng vẫn dán mắt về hướng có ánh sáng của kiếng chiếu lúc nãy. Bất chợt trước mắt chúng tôi cách khoảng 300 thước, phần đuôi của chiếc L-19 nhô lên rõ ràng giữa ruộng. Vừa mừng, vừa lo nhưng tại sao không thấy PHĐ đâu cả? Vậy thì ai chiếu kiếng? Có lẽ chúng tôi đã bị địch lừa? Chỉ trong tíc tắc với bao nhiêu câu hỏi xoay vòng mà không có câu trả lời… Không ai bảo ai nhưng nhìn đầu chiếc phi cơ cắm sâu xuống ruộng như vậy, PHĐ có lẽ khó mà sống sót. Còn khoảng 200 … rồi 100 thước… khoảng cách vừa đủ để chúng tôi có thể nhìn thấy một người mặc đồ bay mầu xám nằm úp mặt xuống ruộng…dường như bất động…có lẽ đã chết… Và đúng giây phút đó… đạn AK nổ vang rền như pháo Tết từ ba mặt của chữ “U” ngược định mệnh này . Tôi nghe những tiếng lụp bụp khô khan, chắc chắn là tầu đã bị trúng đạn nhưng không biết chắc ở đâu thôi, có lẽ ở đằng sau đuôi.
“Chết mẹ”. Tiếng Tr/U Các hét trong intercom. Tôi tưởng Tr/U Các bị trúng đạn nên ghì cần lái chặt hơn nhưng anh đã nhanh nhẹn quẹo gắt 180 độ để bay ra hướng bờ sông. Chiếc tầu vẫn lướt nhanh sát đất, tất cả đồng hồ phi cụ ở phần xanh an toàn, không nghe tiếng báo động trong helmet. Khi lấy đủ cao độ an toàn khoảng 1500 bộ trên bờ sông Tiền Giang, chúng tôi kiểm soát lại tất cả các phi kế, may mắn thay chúng vẫn ở mức an toàn.
“Mọi người an toàn hết? Có ai bị gì không?” Tr/U Các lo lắng hỏi. Sau khi biết tình trạng của PHĐ và phi cơ, Tr/U Các liên lạc Paddy: -“Paddy đây Mekong, chúng tôi bị heavy ground fire từ ba phía khi cách địa điểm phi cơ lâm nạn khoảng 100 thước – over”
“Mekong đây Paddy, PHĐ của Mekong ra sao? Tình trạng phi cơ vẫn còn bay được? – over” Paddy hỏi.
“Paddy đây Mekong, có lẽ trúng vài viên ở sau đuôi, PHĐ OK, mọi phi kế vẫn ở mức an toàn – over”. Tr/u Các trả lời.
“Mekong đây Paddy, tình trạng của PHĐ lâm nạn ra sao? – over” Paddy hỏi.
“Paddy đây Mekong, theo như chúng tôi nhìn thấy PHĐ lâm nạn chắc không còn ai sống sót. Thấy một người mặc đồ bay xám nằm úp mặt bất động cách chỗ chiếc L-19 cắm sâu xuống ruộng khoảng 20 thước. Chúng muốn lừa để bắn rớt chiếc Rescue – over”. Tr/U Các thận trọng trả lời.
“Mekong đây Paddy, bạn giữ tầng số, sẽ liên lạc Hành Quân Chiến Cuộc (HQCC) và gọi lại cho bạn ngay – over”. Paddy dặn dò. Buổi chiều xuống thấp hơn, chúng tôi kiên nhẫn làm vòng holding phía bờ Nam của Sầm Giang chờ lệnh. Khoảng 5 phút sau…
“Mekong đây Paddy, HQCC gởi 2 chiếc Gunship của PD217 lên cover bạn vào pick up xác của PHĐ tử nạn về bằng mọi giá. Đây là lệnh của Ch/T Tần. Hai chiếc Gunship đã cất cánh được 5 phút rồi, bạn liên lạc qua tầng số nhà – over”. Paddy trả lời ngắn và gọn.
“Paddy đây Mekong, 5/5 liên lạc với Hỏa Điểu qua tầng số nhà – over”. Vừa đổi sang tầng số VHF nhà, tôi đã nghe tiếng Tr/U Huy(lead gunship) trên tầng số.
Hai người Cơ Phi và Y Tá Phi Hành sẽ phải nhẩy xuống ruộng và kéo xác PHĐ tử nạn lên phi cơ.
Mặc dầu chúng tôi đã bàn tính kỹ lưỡng không thiếu một chi tiết nào nhưng “mưu sự tại nhân” mà “thành sự tại Thiên”. Không ai nói với ai một lời nào nhưng chắc chắn nỗi lo âu đều giống nhau. Từ nãy đến giờ, bọn địch đã có đủ thời giờ chuẩn bị cho round 2 vì bọn chúng có thể nhìn thấy chúng tôi vẫn bay vòng vòng ở trên Trời. Chúng tôi nghe Tr/U Huy liên lạc và báo cáo với Paddy về chi tiết yểm trợ cũng như lấy xác của PHĐ tử nạn ra”. Vài phút sau HQCC cho chúng tôi green light và chúc chúng tôi may mắn. “Mọi người có câu hỏi gì không? Khi Gunship xuống, khoảng 30 giây sau là mình sẽ xuống theo”. Tiếng Tr/u Các trong intercom. – “32, Mekong đây 31, mọi người sẵn sàng? 32 theo 31 xuống bây giờ, Mekong chờ 20 giây- over”. Tiếng Tr/u Huy dặn dò lần chót. Hai chiếc gunship chúi xuống như hai con Ó bắt mồi, chỉ trong một thoáng đã xuống bờ sông bắt đầu của chữ U ngược. Tôi cầm hờ cần lái với Tr/U Các…và chiếc Rescue chúi xuống như một mũi tên bay sát mặt ruộng, chỉ trong một tíc tắc thật mơ hồ, chiếc Rescue đã gần như ở dưới bụng hai chiếc gunship. Độ chừng 500 thước đến chỗ chiếc L-19 rớt, tôi bắt đầu nghe thấy tiếng Minigun hú lên từng hồi thăm chừng vào hai hàng cây ở bên hông chúng tôi. Càng đến gần, tiếng Minigun càng trở nên hung bạo hơn…sẵng sàng chơi xả láng với đich quân. Rồi 300, 200…rồi 100 thước rồi…Tiếng Minigun trở thành điên cuồng bất tận…Hai chiếc Gunship gào thét trên đầu chúng tôi, thật là khó mà có thể phân biệt được tiếng súng nổ của Gunship và của địch trong một khung cảnh hỗn loạn như bây giờ. Thỉnh thoảng tôi thấy những vệt đạn bắn quá hay hết tầm tạo thành những bọt nước văng lên khỏi mặt ruộng trước mũi hoặc bên hông phi cơ trên đường vào. Chắc chắn là đạn địch vì Gunship chỉ bắn vào những hàng cây 3 mặt của chữ “U” ngược như đã đồng ý từ trước. Đúng là một phi công đầy kinh nghiệm chiến trường trong những lần đổ quân với hợp đoàn. Từ 120 knots sát mặt đất, Tr/u Các giựt ngược cần lái, “bơm” collective pitch và đạp hai pedals một cách thiện nghệ…con ngựa bất kham phải thần phục người chủ và ngừng hẳn, đầu quay ngang gần 180 độ như đã dự tính … Nhanh như cắt, người Cơ phi và Y Tá Phi Hành đã nhẩy ra khỏi phi cơ và lội bì bõm về chỗ người mặc đồ bay xám nằm úp mặt xuống ruộng. Nhờ có hai chiếc Gunship quần thảo trên đầu mà lòng chúng tôi ấm hơn vì chúng tôi “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Chiếc Rescue to lớn, cồng kềnh với hai phi công ngồi bên trong và đang nằm bất động, trống trải giữa ruộng, hai PHĐ đang ì ạch lội dưới ruộng là một mục tiêu quá dễ dàng cho những địch quân đang núp trong những bụi cây rậm rạp. Chúng tôi sợ nhất là B-40 vì vị trí phi cơ quá gần với những hàng cây chung quanh. Mặc dù hai chiếc Gunship đang cố gắng hết sức để bảo vệ chúng tôi nhưng những vệt đạn quá hay hết tầm vẫn tạo nên những cột nước văng tung tóe chung quanh chiếc Rescue. Chúng tôi gồng mình ngồi yên đó để chờ…và để chờ…thôi thì cầu Trời cho đạn tránh mình… Tất cả chỉ diễn ra trong vòng vài phút mà chúng tôi có cảm tưởng như là lâu lắm … Nhờ Ơn Trên, cuối cùng xác của PHĐ tử nạn cũng được kéo lên đặt giữa lòng tầu. Tr/u Các kéo hết Collective Pitch, chúi đầu bay sát mặt ruộng, lấy vận tốc tôi đa rồi múc ngược lên cao bỏ lại sau lưng hai chiếc Gunship và những tiếng đạn thưa dần theo sau… Chỉ độ một phút sau, hai chiếc Gunship cũng an toàn rời vùng theo chiếc Rescue. – “Paddy đây Mekong” – “Mekong đây Paddy, nghe bạn 5/5- over “ – “Paddy đây Mekong, phi vụ hoàn tất, đã lấy được xác, rời vùng với hai Gunship, nhờ check với HQCC để đáp ở đâu – over”. Tr/u Các báo cáo với Paddy. Khoảng 2 phút sau, Paddy gọi lại. – “Mekong đây Paddy, HQCC muốn bạn đáp ở dưới chân Bình Thủy Tower, sẽ có xe Cứu Thương chờ sẵn – over” Trời đã về chiều, một đêm thật buồn không trăng sao, rải rác đâu đây lấp lánh ánh đèn tỉnh nhỏ như những con đom đóm đang bay lơ lửng trong đêm. Tr/U Các đã quá mệt mỏi nên giao cần lái cho tôi bay về Cần Thơ. Hít một hơi dài, điếu thuốc Capstan như đốt phỏng môi tôi, chất nhựa của thuốc cho tôi một cảm giác dễ chịu nhưng cũng mang máng một chút gì cay đắng… Cuộc đời của một người lính trong thời chinh chiến quả thật rất ngắn ngủi. Đã hơn một năm đi bay hành quân, hầu như ngày nào tôi cũng thấy xác của những ngưòi lính chiến đền nợ nước. “Chết là hết”, đơn sơ, giản dị với câu nói đó nhưng thật sự niềm thương tiếc của những người ở lại sẽ không bao giờ hết, không bao giờ nguôi ngoai. Tôi quay lại nhìn xác của người “đàn anh” (Đại Úy Đạm), chung mầu cờ sắc áo với tôi, anh nằm đó với giấc mơ dài. Trong những giây phút kinh hoàng cuối cùng trước khi phi cơ đâm xuống đất, anh đã nghĩ gì? Anh có đủ thời giờ để sợ nữa không? Anh có biết là anh sẽ chết không? Anh nằm nghiêng úp mặt xuống sàn tàu, mặt anh dính bê bết bùn, giầy vớ, súng đạn cá nhân, tiền bạc, đồng hồ (vệt da trắng trên cổ tay so với mầu da xạm năng của cánh tay) cho biết là bọn du kích đã lột anh sạch sẽ, chỉ còn chiếc áo lưới rỗng tuếch mặc trên người. Bọn chúng đã tìm ra chỗ chiếc L-19 rớt trước chúng tôi, kéo xác anh ra nằm giữa ruộng và chờ để bắn rớt chiếc Rescue. Đang taxi về phía chân Tower Bình Thủy, tôi đã thấy một xe Cứu Thương, một xe Cứu Hỏa và một số khoảng chín, mười người mặc quân phục, lẫn lộn với một hai người đàn bà trong đó. Vừa đặt tàu xuống, một người thiếu phụ độ khoảng 30 tuổi trở lại, tóc bay tơi tả dưới sức mạnh của cánh quạt trực thăng, hất hải, vẻ mặt trông rất thiểu não chạy như bay đến ôm xác của người Sĩ Quan đang nằm trong lòng tàu… Tiếng khóc, tiếng gào thét vật vã của người thiếu phụ mà giờ đây đã trở thành góa phụ làm tôi ứa lệ…bao năm đã trôi qua, dĩ vãng giờ chỉ là một chuỗi phôi pha, mờ ảo nhưng tôi vẫn nhớ mãi phi vụ này và…mắt tôi vẫn cay cay… Vì xác của Th/U Điều còn kẹt trong phi cơ và phần đầu máy bị chôn sâu dưới đất nên chúng tôi không thể đem xác của anh về. Theo như lời kể lại, gia đình anh là một gia đình có tiếng tăm ở Mỹ Tho nên bọn du kích muốn đòi tiền chuộc. Chúng đào xác của anh lên, chặt đầu thi thể và cắm trên một cọc tre, bên dưới chúng có treo một tờ giấy như sau:
“Trực Thăng, Khu Trục thì tha Bà Già Quan Sát lột da chặt đầu”
Phần thi thể còn lại, bọn chúng thả dưới sông nhưng canh gác thật kỹ không cho người nhà của Th/U Điều lại lấy xác. Vài ngày sau khi đã nhận tiền chuộc, người nhà của Th/U Điều lại lấy xác đem về chôn cất nhưng phần đầu của thi thể bọn chúng vẫn giữ lại để đòi thêm tiền chuộc. Cuối cùng thi thể của Th/U Điều đã được cải táng sau khi gia đình của anh chuộc được phần thi thể còn lại của Th/U Điều. Mẹ đón con về cuối đường bay Mờ trong sương khói dáng con gầy Nợ nước tình nhà con đền đáp Nghìn thu yên giấc hãy ngủ say…
Tiễn nhau ngàn dặm cũng chia phôi Vĩnh biệt một câu ngỡ đủ rồi Vạn lời chưa nói sao còn thiếu Nhắn gió về anh cõi xa xôi…
Khi những nhóm phản chiến Hoa Kỳ, trong những y phục nhìn không được sạch sẽ lang thang trên các công viên đường phố Hoa Kỳ lên tiếng cáo buộc cho rằng “người lính Mỹ tại Việt Nam là những người bắn giết trẻ thơ” thì chính lúc đó, những người lính Mỹ đã thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khác nhau, và rất nhiều công tác hữu ích cho con người. Tôi đã có dịp xử dụng những cơ sở, phòng ốc và những sự săn sóc hữu hiệu, vì con người, của những người Mỹ đó.
Tôi nhớ lại vào khoảng trưa 12 tháng 10 năm 1972, tôi được đưa vào Bịnh Viện 95 Dã Chiến Hoa Kỳ, từ Phi Đạo của Phi Đoàn 233, Không Đoàn 51 Chiến Thuật, Đà Nẵng, Miền Nam Việt Nam. Đây là ngày vui của Phi Đoàn 233. Chúng tôi có thể nói là ngày vui của cả Sư Đoàn Một Không Quân. Lý do quá giản dị. Tôi đã ở trong rừng năm đêm, sáu ngày vừa qua, phá kỷ lục, sau khi chiếc trực thăng của tôi bị hỏa tiễn Việt Cộng bắn trúng đứt đuôi. Bịnh Viện này rất quen thuộc với những người phi hành như tôi. Tất cả nhân viên phi hành đều được trị thương tốt lành như chính những người lính Mỹ. Bịnh Viện được trang bị đầy đủ cho dù đây là một Bịnh Viện Dã Chiến!
Vào Chuyện,
Ngày 07 tháng 10 năm 1972
Phi Đoàn 233, Thiên Ưng, Không Đoàn 51 Chiến Thuật, biệt phái 13 chiếc trực thăng với trách nhiệm 4 ngày liền tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương, phi trường Phú Bài, để phục vụ cho Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam 6 trực thăng, đóng tại quận Hương Điền; và Sư Đoàn Dù 7 trực thăng, đóng tại cây số 17 Quốc Lộ 1.
Khoảng hơn 9 giờ ngày 7 tháng 10 năm 1972, tôi được phi lịnh bốc giúp một thiếu phụ lâm vào cảnh khó khăn sinh con, khoảng 20 phút bay về phía Bắc của quận Hương Điền, chúng tôi gọi là Ngã Tư Quốc Tế, và đưa bà mẹ không may này về Bịnh Viện Nguyễn Tri Phương, Huế.
Sau phi vụ nhân đạo đó, tôi trở lại quận Hương Điền, Cơ Phi và Xạ Thủ đã nhanh chóng cột xong cánh quạt chánh để tránh gió đập làm hỏng. Chúng tôi có bữa cơm trưa đạm bạc bên hàng tre già còn xanh lá, cạnh con đường đất miền quê hiền hòa Hương Điền uốn éo giữa những đám ruộng lúa xanh rờn đầy nhựa sống! Sau đó, chúng tôi còn lãnh lương nữa chứ, lãnh lương tại nơi mình biệt phái, xin cám ơn Phòng Lương Sư Đoàn I Không Quân. Nhân viên phi hành được ưu tiên, không xếp hàng đợi chờ mất thì giờ. Tôi được ngạch lương 32 ngàn 500 đồng mỗi tháng, tôi cẩn thận xếp đôi xấp tiền cho gọn và để tất cả vào túi áo bay bên chân phải, xong kéo miệng túi bảo đảm không rơi mất đồng lương nhiều mồ hôi, và nguy hiểm đó!
Chỉ trong khoảng nửa giờ sau bữa cơm trưa, tôi nhận được một phi lịnh đặc biệt khác nữa. Đó là phi lịnh cứu cấp. Một hoa tiêu A- 37 bị súng phòng không Việt Cộng. Anh ta đã nhảy dù xuống an toàn một giờ vừa qua!
Tôi đã nhiều lần cứu cấp hoa tiêu lâm nạn phải nhảy dù xuống như vậy. Nhưng lần này, tôi cảm thấy rất đặc biệt. Tại sao A-37 oanh tạc lại không báo cho trực thăng ứng trực ngay trên bầu trời? Tại sao phải đợi đến một giờ sau mới gọi cứu cấp? Ai trách nhiệm cho việc ra lịnh trễ nảy như vậy? Thiếu trách nhiệm chết người!
Tôi phải cố nhanh chóng hành động sao cho hơn tốc độ của kim đồng hồ. Tôi chụp lấy nón bay, nhảy lên ghế lái, dù vẫn chưa xỏ chân vào gìày, và vẩy tay ra lịnh mở dây cột cánh quạt. Tôi ra hiệu năm chiếc trực thăng, gồm có cả hai chiếc võ trang còn lại cất cánh sau tôi. Phi hành đoàn của tôi chưa ai mang giày, và mang áo an toàn. Chúng tôi vừa bay và vừa trang bị cho đầy đủ. Tôi cũng đã kiểm soát xem tất cả phi hành đoàn đều có áo an toàn vì rằng hoa tiêu đã lâm nạn hơn một giờ qua. Một giờ, thời gian đủ dài để Việt Cộng chuẩn bị những cái bẫy, và chuẩn bị đầy đủ hỏa lực để sẵn sàng dụ những phi hành đoàn cứu cấp gan dạ như chúng tôi!
Ngay sau khi cất cánh tại Hương Điền, tôi bấm máy ra lịnh 3 trực thăng vận tải theo sau phải giữ khoảng cách là 3 phút bay. Hai chiếc võ trang bay hai bên cách tôi một phút bay, vì tôi phải áp dụng chiến thuật bay cho phi lịnh cực kỳ nguy hiểm này!
Trên bầu trời Quảng Trị, nắng gắt, gió Đông Nam thổi nhẹ. Quan Sát Cơ L-19 mang tên Pigeon 10 đang trách nhiệm bao vùng theo dõi. Tôi bắt đầu liên lạc với anh ta khi còn bay với cao độ 1000 bộ, với tốc độ 110 knotts
– Pigeon 10, Pigeon 10, Eagle 3, Eagle 3, Eagle 3 là tên của tôi trong phi lịnh này.
– Eagle 3, Eagle 3, Pigeon 10 tôi nghe anh.
– Pigeon 10, chỉ dẫn mục tiêu.
– 12 giờ trước mặt,
– 12 giờ nhận rõ.
Sau đó, tôi đã quyết định đưa trực thăng nhào xuống bay sát mặt đất, tốc độ 120 knotts và bắt đầu bay chiến thuật vào vùng tử địa.
Cứ mỗi giây phút trôi qua là nguy hiểm đến gần hơn và gần hơn. Mặc dù hai chiếc võ trang bay sau tôi để yểm trợ, tôi cho lịnh Xạ thủ Tuấn và Cơ Phi Xôm khi tôi nghiêng cánh bên nào bên đó bắn không ngừng để đàn áp hỏa lực Việt Cộng dưới đất.
Tôi đã liên lạc với Pigeon 10 nhiều lần và cũng nhận cùng một câu trả lời như trên. Hỏa lực từ đất bắn lên rát lắm. Chúng xuyên thủng trực thăng nhiều nơi. Một viên đạn đã nổ tung phía đầu bọc kính, trước chân tôi. Một mảnh nhỏ đã bay vào giữa đôi chân mày, trên sóng mũi tôi, một giọt máu lăn xuống mí mắt làm tôi thấy màu đỏ loang loáng. Tôi biết ngay rõ ràng là chốn nguy hiểm vô cùng đã đến. Tôi bảo hoa tiêu phụ Trịnh Hữu Văn:
– Tao đã trúng miểng đạn ở trán. Mầy để tay vào cần lái, bay theo tao.
Văn, không nói lời nào, nhanh chóng đưa tay vào cần lái và nhẹ nhàng bay theo tôi. Đây là cách phòng ngừa khi tôi thình lình ra đi trên ghế lái.
Từ Phòng Kiểm Soát Hành Quân, sau khi nghe tiếng tôi, Thiếu Tá Nguyễn văn Thanh, giọng nhẹ nhàng ra lịnh:
– Eagle 3, Phải hết sức cẩn thận. Rồi Thiếu Tá lập lại, “Phải hết sức cẩn thận, Tôi nói anh hiểu không?”
– Vâng, Eagle 3 tôi hiểu, Thiếu Tá!
Liên lạc với Pigeon 10, thì vẫn chỉ có một câu trả lời “12 giờ trước mặt!” Tôi thấy được những tràng đạn đại liên mini của hai chiếc trực thăng võ trang nổ dòn phía trước dưới chân tôi. Tôi cũng thấy những viên đạn lửa của Việt Cộng bay xiên xéo lên phi cơ. Trong lúc nóng lòng tìm Hoa Tiêu lâm nạn, thình lình Cơ Phi Xôm hét to lên mừng rỡ:
– Cánh dù bên trái! Thiếu Úy!
Tôi nhanh chóng nhìn về phía trái, khi bay 120 knotts. Tôi kéo xuống 80 rồi 60 rồi sẵn sàng đáp xuống. Nhưng không có hoa tiêu lâm nạn ở đó, chỉ có cánh dù mà thôi! Tôi lại liên lạc:
– Pigeon 10, Pigeon 10, Eagle 3
– Eagle 3, Pigeon 10
– Mục tiêu.
– 12 giờ trước mặt, Nghe rõ?
Lại cứ trả lời 12 giờ nữa rồi! Tôi trả lời nhanh:
– 12 giờ trước mặt, Nhận rõ!
Việc liên lạc trên phi cơ gồm 3 hệ thống. Đó là FM, UHF và VHF. Tôi dùng FM với Pigeon 10, để cho các lực lượng dưới đất trong vùng, cùng tần số, có thể theo dỏi phi vụ cứu nguy này. VHF và UHF để dùng vào Kiểm Soát Không Lưu và nội bộ. Ngoài trời nắng lên gay gắt, nóng ơi là nóng. Hai mảnh áo an toàn trước và sau thân tôi làm tôi không thoải mái.
Tôi vẫn theo chỉ dẫn “12 giờ trước mặt” của Pigeon 10. Gió Đông Nam thổi nhẹ. Trời nắng nóng càng nóng hơn. Hai phút sau khi bay khỏi nơi thấy cánh dù, lần này tôi nhận ra hoa tiêu lâm nạn.
Tôi dùng phương pháp đáp khẩn cấp từ 120 knotts, bay thấp trên mặt đất cùng lúc vội vàng bấm máy ra lịnh:
– Tất cả ba trực thăng theo sau bay ra ngoài vùng. Trực thăng võ trang bắn thêm yểm trợ.
Và tôi quyết định đáp xuống khi cả vùng trời ngập trong lửa đạn đủ loại, miểng pháo và khói bụi mịt mù. Kéo cần lái sát vào người, cùng lúc tôi đưa cần cao độ sát xuống thấp, quẹo trái, áp dụng kỹ thuật đáp khẩn cấp. Đạn của ta và đạn của địch thi tài áp đảo nhau! Việt Cộng còn giúp thêm cho tử thần bằng cách mưa pháo bồi vào bãi đáp nữa chứ! Quang cảnh chẳng khác nào phi hành đoàn vào địa ngục để cứu hoa tiêu A-37 lâm nạn!
Cơ phi Xôm và Xạ thủ Tuấn gan dạ và nhanh nhẹn nhảy xuống đất, phóng nhanh về phía hoa tiêu lâm nạn và kẹp hai tay xốc anh này chạy vội vàng về trực thăng. Tôi nhận ra đó là Thiếu Úy Nguyễn Hàn.
Khi cả ba đã bước lên trực thăng. Tôi vội vã kéo cần lái, cần cao độ cất cánh trong bụi cát mịt mù dưới cơn bão pháo và súng nhỏ lớn, các loại của Việt Cộng. Tất cả vô cùng mừng rỡ, phi vụ cứu cấp đã sắp thành công! Tôi vội bay hướng Đông Nam về Huế, Phú Bài!
Phi trường Phú Bài – Huế
Mọi việc được hoàn tất mau chóng và chuyên nghiệp trong khi Việt Cộng liên tục pháo vô số vào bãi đáp!
Khi đạt tới cao độ vào khoảng 200 bộ, một quả pháo chạm phải cánh quạt đuôi. Trực thăng giựt mạnh quẹo sang trái. Tôi lại phải tắt máy và áp dụng thể thức đáp khẩn cấp. Bây giờ là đáp khẩn cấp thật sự đây! Năm người trên trực thăng, kể cả Thiếu Úy Nguyễn Hàn, giờ phải tìm cách mưu sinh thoát hiểm, bởi vì trong khoảng cát bụi mịt mù và mưa pháo của Việt Cộng tôi đâu muốn để cho anh em bên ngoài vào cấp cứu.
Khi bối rối đó, Thiếu Úy Nguyễn văn Bằng, bay trực thăng võ trang, hô to:
– Hoan hô Eagle 3 đáp khẩn cấp hay quá, hay quá!
Ngay khi trực thăng đáp xuống đất rồi, tình thế rất khẩn cấp đầy bất trắc, tôi gọi xạ thủ Tuấn mở ngay cửa cho hoa tiêu phụ Trịnh Hữu Văn, và rồi mọi người theo tôi, vì tôi giữ máy liên lạc.
Nhưng trong cơn mưa pháo của Việt Cộng, chúng mong sát hại cả phi hành đoàn, Cơ Phi Xôm, Xạ Thủ Tuấn, Hoa Tiêu phụ Trịnh Hữu Văn và hoa tiêu A-37, Thiếu Úy Nguyễn Hàn, tất cả đã rời khỏi trực thăng qua cánh trái, khi tôi lấy dụng cụ và máy liên lạc cứu cấp xong, tôi nhảy xuống đất bên phải của trực thăng. Chỉ vài phút sau là chúng tôi mất liên lạc với nhau. Không cách nào thấy nhau trong cơn bão pháo và bụi mịt mù! Địa ngục đây rồi?
Dưới bầu trời nắng gay gắt, Việt Cộng vẫn liên tục mưa pháo vào mục tiêu trực thăng của tôi. Bụi mù và miểng đạn mưa pháo làm cho cảnh vật hiện hình rõ ràng là một vùng tử địa! Trong cảnh đó, không ai nhìn thấy ai nữa! Tôi có nhiều lần khẩn khoản 3 hoa tiêu anh em trực thăng đừng vào vì rất nguy hiểm. Dù tôi nói thế nào đi nữa, 3 chiếc trực thăng còn lại nóng lòng muốn cứu chúng tôi, cũng bay vào, rồi thì bị đạn, rồi thì cũng không tài nào thấy được nơi chúng tôi đang nấp, vì tránh pháo. Nên trong khoảnh khắc giành giựt với tử thần đó, anh em cũng phải rời vùng! Bầu trời bây giờ lại có thêm 2 trực thăng Cobra và một chiếc trực thăng chuyên môn cứu cấp là CH 53 của Hoa Kỳ cũng bay hướng đến cấp cứu! Tôi cũng đã dùng máy liên lạc và kêu gọi các trực thăng cứu cấp Hoa Kỳ đừng bay vào bãi đáp vì lý do đơn giản, súng phòng không của Việt Cộng trang bị đầy dẫy chung quanh bãi đáp rồi! Đừng bay vào rọ!
Chiếc trực thăng của Phi Đoàn 233 xấu số của tôi, danh số ở đuôi là 827 màu trắng dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ chói chang dưới nắng, trong cơn bão pháo, đã đứng hiên ngang ngạo nghễ sau những tháng năm dài phục vụ con người. Giờ đây, đã nhằm giờ hóa kiếp, nó đã bị thương mất đuôi, và rồi lãnh trọn phải một quả pháo Liên Xô hay Trung Cộng. Chiếc trực thăng bốc cháy ngùn ngụt cao ngất một cách hãnh diện giữa một ngày nóng bỏng của chiến trường sát nhân oái oăm Quảng Trị!
Trong khoảnh khắc đó, tôi chạy khỏi phi cơ độ hơn 100 thước về phía Tây của bãi đáp, bất ngờ tôi lại bị thương! Tôi đã ngả xuống một lỗ đạn pháo sâu đầy nước trước đây. Tôi bất tỉnh, mê đi trong giấc ngủ vùi!
Tiếng đạn pháo giết người liên tục nổ gầm vang, tiếng gió cuốn bụi cát xát mạnh vào mặt làm tôi choàng tỉnh và mở mắt ra! Bầu trời bây giờ không còn xanh nữa, mà xám xịt, mây đen thấp xuống, bao phủ cả vòm trời! Buổi chiều về mau lẹ với cơn mưa to, nhiều sấm sét. Chiếc trực thăng mang số đuôi 827 theo tôi qua bao cuộc hành quân, yểm trợ, trên 5 tỉnh phía Bắc địa đầu, ngày nào cũng lảnh đạn thù, có lần Cơ Phi báo cáo cả thảy 37 lỗ đạn xuyên qua thân. Sĩ Quan và binh sĩ Phi Đạo 233 lo vá ngày đêm, vá mệt nghỉ. Giờ đây, mãn phần hóa kiếp, cả chiếc trực thăng to lớn như thế cũng chỉ còn lại lớp bụi trắng trên đất. Mỗi cơn gió cuốn qua, một số tro bay tung chạy đua theo gió!
Để tránh Việt Cộng phát hiện, tôi chôn gói thuốc Winton hút còn dang dở, và chiếc quẹt máy Zippo xuống bùn. Tôi đã cố gắng rất nhiều lần kêu gọi các trực thăng cứu cấp nên rời vùng nguy hiểm này bởi vỉ hỏa lực địch quá mạnh và cài đặt khắp nơi như một cái bẫy lớn. Trong cơn mưa như trút nước và sấm sét như xé trời, âm thanh nghe được từ máy liên lạc cứu cấp nhỏ dần, và đứt khoảng, khó nghe. Với những cố gắng để sống còn đã có được một kết quả là những chiếc trực thăng đã nghe tôi rời xa vùng lâm nạn.
Sau đó, tôi giữ hoàn toàn yên lặng và chôn tiếp đồng hồ Seiko, và máy liên lạc đã yếu pin xuống sâu dưới đáy bùn! Đến nửa đêm khi đạn pháo bớt nhắm vào vùng chúng tôi, khi tôi đã phải dấu mình dưới bùn và cỏ, tôi nghe tiếng như có người, lục soát, tìm kiếm chúng tôi. Tôi cố giữ hoàn toàn yên lặng để khỏi bị bắt. Tôi vẫn luôn luôn nghĩ rằng họ là lính Việt Cộng!
Nằm núp dưới đất bùn dơ bẩn, trong cơn mưa sấm sét, tôi cảm thấy lạnh vô cùng. Tôi phải lách mình, mò đi một cách êm thắm, trầm mình nhẹ nhàng xuống lạch nước. Nhờ vậy tôi thấy ấm hơn! Bấy giờ tôi liên tưởng đến những người khác. Bao nhiêu nhân viên phi hành đã bị bắt, bị đối xử một cách hoang dã khi phi cơ họ bị bắn rơi! Hoa tiêu F4 Skyhawk Mc Cain của Hải Quân Hoa Kỳ là một. Ông này bị tóm cổ một cách dã man ngay sau khi chạm đất! Lực lượng Cộng Sản đánh đập ông tàn nhẫn, họ nhục mạ ông, nhục mạ xứ sở Mỹ Quốc của ông. Trường hợp tôi, cũng bị bắn rơi, mà không ai bắt tôi được. Tôi may mắn biết bao!
Đầu óc tôi lẩn quẩn nghĩ miên man tới phi hành đoàn của tôi và hoa tiêu A-37 Nguyễn Hàn. Hoa Tiêu phụ Trịnh Hữu Văn, nhà ở Quảng Tín, mới ở Mỹ về, tôi bay với Văn và đã đề nghị cho Văn đi hành quân với trách nhiệm là hoa tiêu phụ. Văn đã khoe với tôi còn giữ 300 Mỹ Kim và cất ở túi bay dưới chưn nhằm để dành cưới vợ. Còn Xôm và Tuấn rồi Hàn bây giờ ra sao rồi? Cả bốn người có bị Việt Cộng gian ác bắt đi không? Tuấn và Hàn là người gốc Huế, mà Huế và Quảng Trị đâu xa gì! Chắc là cả bốn người biết luồn lách mà tránh được Việt Cộng để về đến Huế. Tôi bị mặc cảm vằng vặc mãi. Bởi vì tôi, vì tôi quyết tâm bay vào lửa đạn để cứu hoa tiêu lâm nạn! Nếu lúc Thiếu Tá Thanh nhắc chừng mà tôi đã nhận thấy ra quá nguy hiểm mà bay trở lại thì đã an toàn cho tất cả phi hành đoàn. Nhưng rồi Thiếu Úy Nguyễn Hàn thì sao?
Dù sao, tôi vẫn cứ tự an ủi nếu ai cũng thiếu gan dạ, không chấp nhận hiểm nguy thì tình chiến hữu đồng đội có ra chi. Bị thương, ừ thì bị thương; chết ừ thì chết; bổn phận không thể không hoàn tất. Mạng sống con người quý giá lắm. Nhưng cái quý giá đó không so sánh được nếu vì lý tưởng, bổn phận phải hy sinh. Tôi đã từng bảo hoa tiêu Lê Công Quởn, đã hy sinh tại căn cứ Hoàng Đế phía Tây của Huế, rằng ”là người làm tròn nhiệm vụ, hy sinh cho người khác, khi chết sẽ được vinh hạnh thành Thánh, nếu không cũng được thành Thần”.
Tôi đã cầu nguyện luôn luôn cho bốn người này. Tôi cũng cầu nguyện Đức Chí Tôn “xin che chở cho tôi nếu Ngài nghĩ rằng tôi còn hữu ích cho đời, cho cộng đồng nhân loại. Nhược bằng trái lại, xin cho tôi nhận một quả pháo trọn vẹn từ quân Việt Cộng vô thần, gian ác! Tôi xin đoàn tụ cùng những bậc tiền nhân, ông cha anh hùng của tôi.”
Tôi mãi nghĩ đến cái vinh dự cao cả của bao nhiêu người lính gan dạ đã đem thân bảo vệ sự độc lập, hòa bình của tổ quốc mình thì đâu sá gì có bị thương hay bị hy sinh bởi súng đạn quân Việt Cộng xâm lăng.
Tôi biết rõ tôi đau đớn lắm vì tôi bị thương bởi đạn pháo của các đế quốc Trung Cộng hay của Liên Bang Xô Viết, vì tôi không phải bị thương bởi súng đạn do chính Việt Cộng Hà Nội chế tạo! Có đến thế nào đi nữa, tôi cũng rất hãnh diện được đổ máu, trên quê hương, hy sinh cho Tổ Quốc tôi, một quê hương đầy đủ nồng nàn ấm lạnh, dù phải cảnh nghèo nàn, cơ cực, cũng đã nuôi tôi lớn lên, cho học hành cẩn thận để biết phân biệt thiện ác, chánh tà. Sau khi tôi chết đi hồn tôi theo về với Tổ Tiên anh hùng của tôi, còn thân xác tôi sẽ trở lại bón phân cho cây cỏ, làm đất thêm mầu mỡ tốt lành!
Mãi mê suy nghĩ đến bổn phận, mơ màng trong trách nhiệm của các đấng nam nhi, kể cả nữ nhi, thế rồi tôi rơi vào giấc ngủ lúc nào không hay!
Tiếng động của bước chân người rầm rập trên mặt đất mỗi lúc một gần hơn, gần hơn. Thế rồi một nhóm Việt Cộng hung ác đứng sững trước chỗ chui trốn ngụy trang của tôi. Tôi đã vùi thân mình dưới tầng bùn đen. Tôi chẳng còn gì trên tay, chiếc nón bay, áo chống đạn đã để lại trên trực thăng đã cháy rụi rồi. Bỗng, một tên Việt Cộng con, trang bị đầy đủ súng đạn, đứng trước tôi, hắn thét lên:
– Ê, thằng trong bùn đó, đứng dậy dơ tay lên!
Tôi vẫn giữ yên lặng, không cử động gì. Tôi cảm thấy toàn thân lên cơn lạnh như nằm trên tảng băng. Trán tôi đã hiện rõ những giọt mồ hôi như trong buổi trưa hè!
– Đứng dậy hay chờ tao bắn? Tên lính Việt Cộng nhóc con lập lại.
Tôi vẫn không trả lời hắn. Hắn ra lịnh bốn tên Việt Cộng con khác xấn tới bên tôi, và kéo tôi ra khỏi vũng bùn. Nhưng mà cái háng bên phải bị thương thì làm gì tôi đứng cho được! Tôi té ngả xuống. Chúng xông tới bên tôi, xách hai tay và kéo tôi lên. Tôi lại té xuống lần nữa trên vũng bùn! Tôi lại té xuống lần nữa nằm sóng xoài trong vũng bùn đen! Một tên Việt Cộng trẻ nhứt đã rời chỗ đứng đi đâu đó. Khoảng nửa giờ sau, cậu ấy trở lại với đôi nạng gỗ cũ mèm, bám nhiều vết máu đen trao cho tôi.
Rồi hai tên đến xốc nách lôi tôi dậy. Đám hung thần này dùng mũi súng AK 47 chĩa vào xương sườn của tôi để hướng dẫn đường đi!
Đi suốt đêm như vậy, đến khi mặt trời mọc, có đến hai, ba sào, chúng ra lịnh tôi ngồi xuống bên thềm nhà lồng chợ Đông Hà, đợi lịnh. Tôi nhớ rõ nơi này, cũng nơi đây tháng rồi, Thiếu Tá Nguyễn Du bị cột quỵ xuống đất, người Thiếu Tá nhiều khả năng tài giỏi, và trẻ nhứt của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã bị đám Cộng Sản ác ôn và đồng bào nơi đây xẻo thịt, lóc da cho đến chết! Nghĩ đến thì man rợ đấy nhưng có người dân nào có đủ can đảm không nghe theo lịnh của Việt Cộng. Nếu người dân nào không tuân lịnh cầm dao xẻo thịt Thiếu Tá Nguyễn Du thì sẽ bị đám Việt Cộng lôi ra bắn chết ngay. Bởi thế, cứ mỗi người bước qua chỗ Thiếu Tá Nguyễn Du thì họ cắt tai, cắt mũi, xẻ thịt, lớn tiếng xỉ vả và cười cao ngạo man rợ lắm! Chúng nó móc mắt, chặt tay, cắt chưn moi ngực, mổ bụng. Thiếu Tá Nguyễn Du đau đớn ngất trời, anh đã chết đi trong những giây phút đầu tiên đó! Hồn anh bay bổng tận mây xanh nhìn lại trần gian đầy quỷ đói dữ dằn! Thế mà cái màn chia thịt người sống vẫn cứ tiếp tục hoang loạn, điên cuồng. Hình ảnh này khắc sâu vào khung trời Quảng Trị, vào óc, vào tim người dân có nhiều oan trái Quảng Trị. Xem ra chẳng khác nào một đám ác quỷ miệng đầy máu me tanh tưởi, nhe răng điên cuồng hò hét, chẳng khác nào một đàn sư tử đói khát xâu xé xác một con nai tơ nạn nhân!
Tôi cứ tiếc mãi, nếu đã có thêm trực thăng võ trang đến cứu cấp kịp thời khi tôi vào cứu Thiếu Tá Nguyễn Du, ngay lúc anh ta vừa bung dù xuống đất thì đâu đến nỗi anh bị lũ Việt Cộng bắt giết dã man như thế! Chúng nó cột anh xuống cái cọc đóng sâu vào đất để dụ phi hành đoàn trực thăng cứu cấp vào bẫy!
Tôi đã đáp gần chỗ Thiếu Tá Nguyễn Du, khi mà súng đạn, lực lượng Việt Cộng cài dày đặc như lưới. Chúng lại có thêm pháo từ xa bắn tới nữa chứ!
Hai trực thăng võ trang của chúng ta, hỏa lực mạnh như thế mà vẫn không thể khống chế hỏa lực địch! Trên bãi đáp tôi ra lịnh cho xạ thủ và cơ phi bắn không ngừng nghỉ. Kiếng trước của chiếc trực thăng của tôi trúng đạn, gió lùa qua chân tôi thấy mát mẻ lạ.
Hơn hai phút, bất thần xạ thủ đại liên cho biết không còn đạn nữa, tôi nhanh chóng nhắc bổng lên cần cao độ, và đẩy cần lái về phía trước cất cánh hướng về phía Nam, bỏ lại Thiếu Tá Nguyễn Du anh hùng trơ trọi, bơ vơ! Lòng tôi rối bời khổ sở!
Trong giây phút căng thẳng đó, tôi nhấc phi cơ lên, cố gắng bay về căn cứ. Nhưng rồi, không may chút nào, đèn báo hiệu có mạt sắt trong hệ thống trục chuyền cũng lại nổi lên! Tôi đã phải đáp xuống căn cứ Sư Đoàn Dù tại cây số 17, phía Bắc Huế. Những khoảnh khắc may mắn thường qua mau! Bộ Tư Lệnh Không Quân cho lịnh dùng hơi ngạt giải cứu Thiếu Tá Du. Nhưng trực thăng cứu cấp đến nơi thì Việt Cộng biết trước, chúng đã trói Thiếu Tá Du dẫn đi mất rồi! Ai đã báo cho Việt Cộng? Trận chiến oan khiên!
Trở lại chuyện hiện giờ của tôi, trong cái sân rộng phía Nam của chợ Đông Hà, tôi thấy người đâu mà đông đảo quá! Mọi chuyện đều tiến hành nhanh chóng. Hai tên Việt Cộng trẻ măng xồng xộc đến bên tôi và đưa mũi súng, ra lịnh tôi chống nạng đứng lên, đi vào giữa đám đông ngoài kia. Tôi biết ngay đó là một Tòa Án Nhân Dân của Việt Cộng!
Đám đông yên lặng đó xem chừng quá nhút nhát, e dè khi một người đàn ông nét da sạm nắng, trong bộ bà ba đen đọc bản kết luận của Tòa Án Nhân Dân tỉnh Quảng Trị rằng tôi sẽ bị xẻo thịt cho đến chết! Và rằng bản án sẽ thi hành ngay!
Mặt trời bây giờ xế, qua đỉnh đầu. Cái nóng bức gay gắt làm sao! Mồ hôi tôi đổ ra như tắm trên đầu và trên mặt. Tôi đã giận cành hông, nên đã vận động hết sức mình là hét lên rằng:
– Không! Không! Tôi vô tội! Tôi chỉ bảo vệ nước tôi! Tôi vô tội!
Dù tôi đã hét lên như sắp chết rằng tôi vô tội, song, đám đông đã tiến sát về phía tôi. Mỗi người đều có con dao ngắn hay dài trên tay. Tôi nhắm đôi mắt lại và tiếp tục hét to lên rằng “tôi vô tội, tôi chỉ lo gìn giữ nước tôi mà thôi”. Miệng tôi hét to lên thì tay chân tôi cũng quơ quào chống đỡ. Việc đó làm tôi đau đớn vô cùng, và làm tôi tỉnh giấc!
Thế là tôi ra khỏi cơn mơ kinh khiếp! Trống ngực còn đập thình thịch. Cơn mơ làm tôi sợ hãi vô cùng, và nhờ đó, trên đường mưu sinh thoát hiểm về lại căn cứ tôi đã hết sức đề phòng từng ly, từng tí mọi bất trắc!
Mò ra khỏi vũng bùn, chiếc áo bay của tôi quá nhiều túi, bây giờ chứa đầy bùn trở thành một gánh nặng nên tôi đã cởi bỏ. Bấy giờ tôi chỉ còn mặc một chiếc quần lót mà thôi!
Mặt trời treo trên cao, nóng cháy da người, và gió nhẹ. Một vài vừng mây trắng bạch lười biếng trôi lững lờ làm tôi thở dài nhớ lại mấy câu thơ tôi đã ghi ra hôm nào:
Gió thổi trời cao, mây vẽ chó,
Lửa tràn mái thấp, khói lùa ong.
Cuộc đời nay có, mai không,
Những người phản trắc, để lòng làm chi!
Để ngụy trang, tôi đã dùng bùn, đất sét trét đầy lên khắp người, và hết sức cẩn thận trườn đi bằng ngực, hoặc bằng lưng của tôi, bởi vì làm sao tôi có thể đi được khi mà khớp nối của đầu xương đùi bị thương quá nặng.
Tôi trườn được một đỗi vừa để ý tựa tai mình xuống mặt đất để nghe có tiếng chân ai đó hay không. Tai tôi cũng mở rộng, hết sức chăm chú. Lúc này trời cũng sắp tối đến rồi. Theo hướng gió từ xa đưa lại, tôi nghe tiếng nói eo éo trong gió của đám Việt Cộng. Tôi vội vàng lẩn trốn ngay.
Những cơn gió chiều thổi càng lúc càng mạnh hơn khi những đám mây đen kéo đến che kín bầu trời. Tôi đoán mưa to rồi sẽ đến như đêm qua. Nhiệt độ bây giờ thấp xuống và dễ chịu hơn. Chỉ có một việc tôi cảm thấy cồn cào đó là đói và khát nước! Đạn pháo hôm nay ít hơn hôm qua.
Tôi cầu nguyện, và cầu nguyện liên tục. Tôi tin ở Tổ Tiên tôi, Quốc Tổ Hùng Vương và Đức Tả Quân Lê văn Duyệt. Tôi cầu nguyện Thượng Đế, trong tôn giáo Cao Đài có cho người trần thế biết tên là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
Rồi thì mưa đổ xuống như thác, tôi nhờ vào đó mà di chuyển an toàn hơn. Tôi dùng hai bàn tay nắm cỏ cao kéo tới, chân trái phụ vào bằng cách đạp vào mặt đất cho toàn thân di chuyển về phía trước được hai hay ba chục phân tây. Thật kể sao cho hết, tôi may mắn làm sao! Mưa càng to thì tôi càng di chuyển được dễ dàng và an toàn hơn, bởi lũ Việt Cộng ác ôn trong cơn mưa, chúng lười biếng đi kiểm soát.
Mưa rơi thì cứ rơi, đạn pháo và việc lùng kiếm giết nhau cũng đâu có bớt đi. Tiếng pháo có thưa hơn, nhưng không hề dứt. Thỉnh thoảng những tràng M16 lại nổ dòn, xen kẽ với tiếng nổ rát tai của AK47, và súng cối.
Mưa vẫn còn tiếp tục rơi, và tiếp tục rơi. Sấm chớp vẫn còn sấm chớp. Ngày còn nhỏ bác tôi bảo đó là Thiên Lôi giết quỷ sứ! Tôi tin lắm vì quỷ sứ có nanh vuốt, ác độc, không tốt! Tôi cũng đã buồn ngủ quá rồi, vì tôi đã kiệt sức! Dù vậy tôi cũng đã cố hết sức chuyển đến một hố nước cũng như đêm qua. Tôi trầm mình dưới vũng nước để thấy ấm hơn trên mặt đất có gió thổi. Hai bàn tay khuấy nước cho sạch bớt bùn đất, rồi hai tay chụm lại hứng từng giọt nước mưa để thấm giọng cho đỡ cơn khát! Tôi tiếp tục làm như vậy cho đến khi tôi thấy bớt khát nước.
Tôi tự bảo rằng dừng lại việc di chuyển về hướng Nam là tự sát. Bởi vậy, tôi phải cố gắng di chuyển và di chuyển cũng như tôi cố mà lắng tai nghe với tất cả sự chú ý của tôi coi có sự động tĩnh gì hay giọng nói nào của lũ Việt Cộng hay không. May mắn quá tôi không thấy ra cái gì cả! Nhưng có điều những dây điện thoại liên lạc thì giăng đầy như lưới nhện trong vùng tử địa chiến tranh tàn khốc này.
Tôi biết mỗi phân, mỗi tấc tôi trườn tới có nghĩa là tôi tiếp cận đến chỗ an toàn sớm hơn. Mặt trời chừng như lố dạng ở chân trời phương Đông, Tôi đã qua thêm một đêm nữa. Mọi vật chung quanh tôi có vẻ yên tĩnh, chỉ trừ có đạn pháo thì không ngừng mà thôi. Pháo suốt đêm! Tôi lại tìm chỗ ẩn thân. Tôi biết không gì cản nổi tôi đi vào giấc ngủ rồi, vì tôi quá đỗi mệt, mệt vì kiệt sức!
Ngày thứ ba trên bãi chiến khi tôi thức giấc cũng là thêm một ngày nóng rát nữa. Tiếng phi cơ phản lực tôi nghe được vọng lại từ xa xôi lắm. Tôi hy vọng chúng đến gần tôi hơn, để tôi có thể đánh hiệu lên cho chúng biết rằng tôi vẫn còn sống!
Tôi nhớ Thiếu Úy Hồng, cùng Phi Đoàn 233 của tôi, đã dùng chính hộp nước ngọt để gửi dấu hiệu cho trực thăng tìm kiếm của Đại Úy Nguyễn văn Banh. Đại Úy Banh nhận được tín hiệu tức khắc Đại Úy Banh tắt máy cho được an toàn và đáp xuống một khoảng trống cạnh một con rạch nhỏ của dãy núi cao. Đại Úy Banh đã cứu được Thiếu Úy Hồng một cách ngoạn mục! Tôi cũng đã thết đải Thiếu Úy Hồng một chầu mừng thoát chết. Tôi cũng đã học hỏi cách nào Thiếu Úy Hồng mưu sinh thoát hiểm để có ngày nào đó đến lượt tôi, thì tôi đã có chút đỉnh kinh nghiệm.
Tôi đã quan sát cẩn thận chung quanh cho an toàn nếu tôi tiếp tục mò về hướng Nam. Lúc đó một chiếc Quan Sát OV-10 trên bầu trời bỗng bay thẳng vút lên trời xanh tránh hỏa tiển SA7 của Cộng Sản Sô Viết để lại một vệt khói trắng màu tang. Tôi hú hồn cho chàng hoa tiêu trên chiếc OV-10 đó!
Trong chốc lát, tôi bỗng miên man nhớ lại hình ảnh của Đại Tá Khánh, Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 1 Không Quân, Trung Tá Phước, Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 51 Chiến Thuật, còn gọi là Phước răng vàng. Tôi nhớ Thiếu Tá Bùi Quang Chính, Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 233. Ông này làm anh cả thì tốt hơn là Phi Đoàn Trưởng. Ông đã chăm sóc mọi thứ cho thuộc hạ dưới quyền, từ Sĩ Quan cho đến Binh Sĩ! Gia đình ra sao, anh chị em thế nào. Ông biết rõ từng người trong gia đình của Phi Đoàn. Tôi nợ ông nhiều lắm. Tôi phải trả cho ông và vợ ông, chị Ngọc Diệp. Bà giáo Diệp đối xử với tôi như là chị ruột.
Cơn đói kéo tôi vào giấc ngủ nữa rồi. Trong lúc ngủ tôi gặp Thiếu Úy Trần Thanh, hoa tiêu trực thăng võ trang. Anh này cất cánh tại Đà Nẳng lúc 7:00 giờ sáng, lãnh một quả SA7, lúc 9:00 giờ sáng cùng ngày. Tôi cũng gặp Thiếu Úy Lê Công Quởn. Đặc biệt Thiếu Úy Quởn gia nhập vào Binh Chủng Không Quân, bay sang Hoa Kỳ thụ huấn trở thành hoa tiêu trực thăng, về Việt Nam và được lịnh phục vụ tại Phi Đoàn 233, Sư Đoàn 1 Không Quân, và là một Sĩ Quan trẻ chung phòng với tôi, cứ hai người một phòng. Tôi coi Quởn như em, cháu. Quởn trọng tôi như chú vậy, bởi vì Quởn tình nguyện đầu quân lúc mới 18 tuổi!
Tôi nhớ rõ sáng hôm đó, tôi được lịnh dẫn 5 trực thăng chuyển quân Thủy Quân Lục Chiến tại Đại Nội Huế. Khi đó, Thiếu Úy Quởn đang thi hành phi vụ tải thương tại căn cứ núi Hoàng Đế King. Thiếu Úy Đỗ Trọng là Trưởng phi tuần. Toán trực thăng của tôi tại Đại Nội vừa cho Thủy Quân Lục Chiến lên tàu, thì tôi nghe được trực thăng của Thiếu Úy Quởn đã rơi tại căn cứ Hoàng Đế King. Tôi cho ngưng lại tất cả việc đổ quân Thủy Quân Lục Chiến, tất cả trực thăng bay thẳng đến căn cứ Hoàng Đế King để cấp cứu phi hành đoàn của Thiếu Úy Quởn. Trung Tướng Trần văn Minh, Tư Lịnh Không Quân cho phép như vậy khi phải cấp cứu một “đại bàng gãy cánh”.
Chúng tôi bay những vòng chờ phía Đông căn cứ Hoàng Đế King, phía Tây dãy núi này hỏa lực và phòng không của Việt Cộng rất mạnh. Không biết Quởn có phải bị súng phòng không Việt Cộng bên kia sườn núi Hoàng Đế King hay không? Tôi bay một vòng quan sát rất thấp trên ngọn cây, song tôi không nhận ra nơi nào trực thăng của Quởn lâm nạn. Quan sát kỹ hơn nữa, bất ngờ đèn báo động có mạt sắt trong hệ thống chuyền lực nổi lên. Tôi mang tên Eagle 5 rời vùng và chiếc Eagle 6 theo sau tôi bay phòng hờ khi nào phi cơ tôi lâm nạn. Tôi hạ cao độ trực thăng xuống thật thấp. Bầu trời rực rỡ sáng, và cơn nóng đã đến vội vàng. Giọng nói êm nhẹ quen thuộc của Thiếu Tá Thanh nghe được:
– Eagle 5, bay sát xuống đất, Eagle 6 bay gần vào, nghe rõ?
Và tôi đáp nhanh:
– Eagle 5 nhận rõ 5 trên 5, Thẩm quyền.
Tôi dự định về Huế để lấy một trực thăng khác để bay tới vùng cứu cấp Thiếu Úy Quởn. Trên đường tới Huế Phú Bài, tôi nghe được tin Trung Úy Lưu, Sĩ Quan trực Cứu Cấp đã trên đường tới căn cứ Hoàng Đế. Trực thăng của Trung Úy Lưu có đầy đủ trang bị cứu cấp trong rừng, có cả hệ thống rước người lâm nạn bất tỉnh kéo lên trực thăng bằng máy.
Tôi chưa tìm được chiếc trực thăng khả dụng nào thì hay tin Trung Úy Lưu đã kéo Thiếu Úy Quởn lên trực thăng và hạ cánh xuống bãi đất gần đó, chuyển cho trực thăng khác đưa Thiếu Úy Quởn về bịnh viện Nguyễn Tri Phương, Huế, vì Trung Úy Lưu còn phải trở lại hiện trường rước thêm 3 người nữa của phi hành đoàn.
Tôi được một trực thăng khả dụng, nên bay thẳng đến bịnh viện Nguyễn Tri Phương. Tôi gặp ngay Bác Sĩ Bùi văn Đức, con nuôi của ba tôi. Bác Sĩ Đức có mặt ngay tại chỗ vì nghe là hoa tiêu bị thương. Anh chạy tới tức thì vì nghĩ có thể là tôi! Anh nói cho tôi biết vết thương của Thiếu Úy Quởn vô cùng trầm trọng, xương sọ phía sau ót bị nứt, tay chưn bị co rút giựt mạnh mẽ luôn! Thấy vẻ mặt tôi lo lắng anh kéo tôi ra ngoài sân và nói nhỏ bên tai tôi để anh theo dõi suốt đêm nay xem Thiếu Úy Quởn có thể phục hồi hay không. Tôi bất chợt nhớ lại rằng tôi đã nói với Quởn rằng: “Khi chúng ta hoàn tất mọi nhiệm vụ được giao phó nhằm phục vụ con người một cách tốt lành, khi phải tử vong chúng ta được lên cõi trên hay được làm thần thánh ở Thượng giới”. Chia tay vơi anh Đức, tôi bay về căn cứ Huế Phú Bài, trằn trọc suốt đêm. Không biết có phải vì câu nói của tôi mà Quởn thêm gan dạ dẫn đến việc hy sinh như vậy?
Sáng hôm sau, Tôi tới Bịnh Viện thì được biết Thiếu Úy Quởn qua đời! Mãi đến bây giờ, tôi vẫn tin rằng Thiếu Úy Quởn vẫn luôn đi theo tôi đến bất cứ nơi đâu để che chở cho tôi khỏi sự nguy khốn.
Cơn mưa chiều nhiều sấm sét hợp cùng tiếng nổ đạn pháo kích của hai bên Quốc Gia và Cộng Sản làm cho bầu không khí trở nên ồn ào ghê rợn khiến tôi không thể nào nghe rõ sự vật quanh tôi! Tôi sắp bước qua đêm thứ ba không quần, không áo! Chính bùn và đất sét và bèo cỏ đã thay cho quần áo và là phương tiện che chở ngụy trang rất hữu hiệu cho tôi. Tôi thầm nhủ rằng lợi dụng đêm tối, mưa giông để mò đi sẽ làm ngắn lại con đường an toàn về căn cứ.
Mưa to quá, mưa xối xả như trút nước, sấm chớp vang trời như thiên lôi rượt đuổi, diệt trừ quỷ ma đang hành hạ con người! Tôi nhờ mưa đêm che chở tránh được sự dò tìm của bộ đội độc ác Việt Cộng.
Tôi vừa trườn qua một chiếc đầu lâu và bộ xương người trắng hếu. Bàn tay tôi nhẹ nhàn vuốt cái xương sọ cùng lúc van vái rằng: “Tôi biết tại sao người bị giết, Hãy giúp cho tôi, che chở tôi đến nơi bình an tôi sẽ cúng cho.”
Một lúc sau tôi thấy một con mèo đen đi quanh quẩn bên tôi và rồi đi về hướng Nam. Tôi cố trườn theo con mèo, nhanh và nhanh hơn nữa, vì vết thương đã có mùi thối như xác chết! Đây là bãi chiến trường, vùng oanh kích tự do. Do vậy, không vật chi còn nguyên vẹn. Chẳng có vật gì lớn hơn 3 ngón tay được lành lặn. Chẳng có hàng tre hay bờ tường nào cao hơn 3 tấc! Tất cả là điêu tàn, là sắt máu hận thù!
Có lẽ tôi đã trườn đi một khoảng xa lắm. Tôi cám ơn Trời. Tôi cảm ơn Quốc Tổ Hùng Vương. Tôi cảm ơn Đức Tả Quân Lê văn Duyệt, đấng đã che chở cho ba tôi trên đường hành Đạo, nay xin Ngài che chở cho tôi. Mưa thì chưa ngớt hột mà tôi thì đã kiệt sức rồi. Tay không còn nắm chặt được cỏ, chưn trái không còn đạp để tiến về phía trước được rồi. Tôi may mắn nằm bên bờ lạch nước đầy cỏ phủ nổi bên trên. Phương Đông có ửng chút ánh hồng. Tôi trầm mình vào lạch nước, phủ đầy cò lên người, cơn mưa đã dịu lại. Chỉ còn sấm sét nổ loang loáng một đôi nơi. Tôi rơi nhanh vào giấc ngủ li bì.
Xe chạy qua đường Lê Văn Duyệt, quẹo qua Tô Hiến Thành, về nhà, về đến nhà, tôi vui mừng tra chìa khóa vào ổ khóa mở cửa sắt nhẹ nhàng bước vào bên trong. Nhìn lên đồng hồ kim chỉ hơn 12 giờ đêm và ba tôi vẫn liên tục cầu kinh ở tầng trên. Ông luôn luôn cầu kinh cho tôi được an toàn! Tôi rón rén giữ sự yên lặng hoàn toàn. Vào khoảng cuối lễ cúng thời Tý, tôi thấy một con mèo trắng nhảy qua ngọn đèn dầu trên trang thờ, làm rơi ngả cây đèn dầu vào chồng kinh sách và phát hỏa lớn lên sau đó. Tôi vội vàng nhảy vào vùng lửa khói lửa để cứu ba tôi. Khi tôi dìu ông ra, tôi đã phải chạy ngang qua vùng lửa cháy, tôi bị phỏng nặng. Tôi đã làm cho tôi bị nhức nhối vô cùng. Nhờ vào sự cử động mạnh mẽ làm đau nhức đó, tôi đã thức dậy và nhìn ra được rằng tôi đang nằm dưới vũng bùn đen giữa bãi chiến chết người!
Ngày thứ tư trên bãi chiến bắt đầu bằng đạn pháo ầm ĩ, súng nổ bốn bề, nhằm giết đi hết mọi sinh vật của Thượng Đế trên đời! Nghĩ cho cùng, nếu Hà Nội không ngu xuẩn nghe lời xúi dại của Liên Xô và Trung Cộng, xua quân xâm lấn miền Nam, thì làm gí có cảnh gió tanh mưa máu hôm nay. Cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt. Ngàn đời nguyền rủa sự ngu xuẩn tham lam của lũ Cộng Sản bạo tàn!
Có lẽ là hai hay ba giờ chiều. Đây là ngày thứ tư tôi nằm trên vùng tử địa. Cơn nắng chiều nghiêng hẳn về Tây và nhiệt độ ngoài trời có lẽ đến cực điểm của ngày. Trời xanh thẳm, một vài tảng mây trắng trôi bập bềnh như vẻ tranh. Tuổi trẻ của tôi ngắm mây trôi là một thú vị. Nhìn mây vẻ hình thú vật thay đổi trong khoảnh khắc mà cứ tưởng mình đang lơ lửng giữa trần mây! Cũng không được bao lâu sau đó, những đám mây sậm màu từ mạn Nam kéo đến, rồi mây đen theo sau, bầu trời phía Đông Nam giờ đây trở nên đen kịt. Gió mát thổi càng lúc càng mạnh. Cơn mưa pháo vẫn rót đều vào phía Tây của bãi chiến bên dãy núi Trường Sơn hùng vĩ.
Gió mạnh cũng tràn về làm ngả rạp đám cỏ hoang cao quá đầu gối. Trông cảnh ấy chẳng có khác gì cảnh ruộng mạ mênh mông của miền Nam Việt Nam. Tôi vẫn luôn cảnh giác nghe ngóng về giọng nói của người và sự động tĩnh bất thường trên đường thoát hiểm hướng về Nam. Tôi đã từng biết rõ ràng là bộ đội Việt Cộng không khiêng thương binh đồng đội của chúng, vì khi tháo lui mà phải khiêng vác nữa thì gánh nặng khó khăn đến bực nào, nên chúng nó đã giết hết thương binh của chúng! Thì theo đó, nếu chúng phát giác được tôi trong tình trạng bị thương nặng như vầy, tôi không thể bước đi, thì ngại ngùng gì chúng không cho tôi một viên vào đầu tức khắc. Vì vậy, tôi phải cực kỳ cảnh giác, cho mỗi gang tấc tiến về phía Nam cho được an toàn.
Tôi đã không có một chút thực phẩm nào ba ngày qua, tôi thấy đói và đói. Tôi thấy mình dần dần yếu đi, đến nỗi tôi muốn dừng lại một chỗ. Nhưng rồi tôi lại nghĩ, dừng lại chẳng khác nào tự tử. Đâu ai biết tôi nơi nào mà cứu cấp! Do vậy mà tôi phải cố gắng trườn đi từng tấc, từng tấc đất để về Nam. Nhờ vận chuyển tôi thấy có thêm sức mạnh và ấm người hơn.
Bèo cám trên mặt nước dân miền Nam dùng để cho heo ăn, nhưng rồi không có cái gì bỏ vào miệng cho bao tử làm việc sinh ra nhiệt, nên tôi buộc lòng nhặt một ít bỏ vào miệng nhai, nhai và nuốt trọng vào, Tôi cảm thấy có cát đất đi vào bao tử với nhúm bèo cám. Tôi nghĩ bao tử tôi reo vui khi làm trọn vai trò sinh nhiệt cho thân tôi.
Trời lại sắp mưa. Gió giật, gió quyện vào nhau cuốn từng cọng rác to nhỏ xoáy tròn bay cao lên khoảng trời đen sẫm. Tôi lại trườn qua gần một mái tranh sụp xuống gần ngang mặt đất. Tôi nghe chừng như ai đó nói chuyện bên trong. Tôi chắc chắn họ là ai. Lũ ác ôn Việt Cộng đây rồi! Tôi lặng yên trườn đi nhanh xa chỗ đó. Tôi lại may mắn vô cùng bởi trời đã đổ cơn mưa lúc đó! Thật quá căng thẳng, quá khiếp sợ đến nỗi tôi đã nghe được cả nhịp tim tôi đập liên hồi trong lồng ngực thiếu sinh khí của tôi.
Trời mưa lớn quá, lớn quá. Sấm sét liên tục dội vào màn nhĩ tôi làm tôi khó chịu thế nào ấy. Chúng thách thức đua đòi hơn thua với âm vang của đạn pháo của con người giữa Việt Cộng đối đầu cùng Sư Đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa tại bản doanh hai sư đoàn này. Tôi lại được dịp qua bờ rạch nhỏ, lừa mình đi nhẹ nhàng đến nỗi không một gợn sóng lan ra trên mặt nước. Tôi tạm nghỉ ngơi, hít thở những hơi dài, coi như rất sảng khoái. Tôi đã cách xa chòi lá giết người lúc nãy rồi. Tôi ghi nhận đó là bản doanh chỉ huy của Việt Cộng ác ôn.
Nhìn lại, đây có thể là đêm nguy hiểm nhứt tôi chưa từng gặp. Tôi nghe giọng nói con người từ hướng Nam theo gió tới tai tôi. Tôi chưa nhận ra là bạn hay thù! Tôi tự khuyến khích chính mình còn hai ngày nữa tôi mò đến mục tiêu đàng kia rồi. Chỉ cần hai ngày nữa! Hai ngày nữa mà thôi!
Hai bàn tay tôi chừng như rã rời. Nhìn lại ngực và lưng tôi nghe ran rát, những đường máu khô đặc lại, gặp nước cho tôi cảm giác xót buốt vô cùng! Thực ra tôi không còn sức di chuyển nữa rồi. Lúc bấy giờ tôi đang bên bờ sông Thạch Hãn. Tôi cẩn thận mò xuống dòng sông ngước nhìn tìm ra chỗ trú an toàn. Tôi biết tôi có thể ngủ ngay tức khắc! Do vậy tôi phải tìm cách nào kín đáo nhứt để ẩn thân đi vào giấc ngủ vùi hẹn hò nhiều mộng mị!
Buổi Hội Thảo hàng tuần chiều Thứ Năm lại đến. Tôi bước vào phòng hội khi nhiều người đã có mặt. Họ gồm cả hàng binh sĩ và sĩ quan của Sư Đoàn 1 Không Quân. Sau phần chào cờ, hát quốc ca và một phút mặc niệm tưởng nhớ Tổ Tiên, anh hùng giữ nước, Thiếu Tá Giả, thay mặt Trung Tá Hậu, Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn, nêu đề tài tại sao chúng ta gia nhập lực lượng quân đội quốc gia.
Sau bài nói chuyện gợi ý của một Thiếu Úy trẻ, Phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn, Thiếu Tá Giã mời mọi người lên phát biểu ý kiến. Một vài người tiến về phía trước phát biểu lập luận rằng mọi người phải gia nhập quân đội khi quốc biến. Quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách. Đám người ngồi sau tôi dịch nghĩa “khi đất nước gặp cơn nguy biến, thì có 7 người có trách nhiệm ra gánh vác” rồi xúm nhau cười. Cũng có kẻ trả lời nghe tiêu cực là nếu không gia nhập thì bị Cảnh Sát bắt tội trốn quân dịch!
Tôi không bằng lòng cách suy nghĩ yếu hèn đó nên đưa tay cao lên phát biểu. Tôi đã cao giọng rằng:
– “Chúng ta gia nhập quân đội quốc gia vì chúng ta muốn tự do! Hà Nội đã tạo ra và cầm đầu cuộc chiến miền Bắc xâm lăng miền Nam, chính vì Khối Cộng Sản Quôc Tế ra lịnh Hồ Chí Minh làm như vậy. Liên Bang Sô Viết và Trung Cộng muốn cho Khối Cộng mở rộng ra về phía Đông Nam Á Châu, và Khối Cộng Sản Quốc Tế sẽ trợ giúp hoàn toàn từ tuyên truyền cho đến vủ khí đạn dược, kể cả tiền bạc phục vụ cho chiến tranh.
Trong cái thế làm tay chưn, một thứ tay sai thời đại mới, nên Hồ Chí Minh làm sao dám cãi lại. Nếu không vâng lịnh thì chắc gì được sống! Mặt khác có thêm nguồn lợi tiền tài danh vọng thì sao không nhận?
Việc xâm lăng xuống miền Nam có nghĩa là xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa. Và cũng có nghĩa là Việt Cộng phía Bắc Vĩ Tuyến 17 xua quân chiếm thêm, lấy vùng đất và giết hại dân chúng phía Nam của Vĩ Tuyến 17. Việt Cộng phía Bắc làm sao có sự khôn ngoan đủ để cho người dân xây dựng đất nước? Ai cũng nêu câu hỏi tại sao Việt Cộng không để cho người dân phát triển tự do? Sao không để cho người dân hai miền có điều kiện so sánh nếp sống hai nơi? Sao không để cho người dân tự do lựa chọn nơi nào họ muốn? Nếu Việt Cộng có được một chút khôn ngoan của dân tộc Đức thi dân ta đâu đến nỗi này!
Anh em chúng ta nghĩ gì khi thấy thây người mỗi ngày, cứ mỗi ngày tiếp theo, thấy chồng chổng, thấy những nạn nhân bị Việt Cộng giết dã man thả xuống sông, trôi bềnh bồng bên những nhánh lục bình trên sông nước hay trên các con rạch vô danh hẻo lánh? Còn khổ đau nào hơn nữa hay không? Tim chúng ta rồi sẽ xoắn ốc ra sao khi thấy một bé con chết trên tay mẹ. Cả hai mẹ con trôi dạt dật dờ bên bờ sông hiền hòa của quê nhà? Chúng ta nghĩ gì, đầu óc ta nghĩ gì, khi chúng ta chứng kiến cảnh tiêu thổ kháng chiến do Việt Cộng bắt chước rập khuôn theo kiểu Mao Trạch Đông, làm cho khắp nơi, cả làng xã bị chìm trong biển lửa hận thù. Con chó mực nào gầy còm lẻ loi, ốm đói bên hông căn nhà cháy hôm nào bây giờ vẫn còn bốc khói, cạnh gốc chuối bị thiêu hết lá; con chó oan khiên cố lấy hết sức tàn để gửi lời trách móc, tru tréo đến khoảng trời xanh xa thẩm trên kia? Nhưng rồi có ai hay?
Tất cả hình ảnh đứt ruột đó đã xảy ra, phải xảy ra vì Cộng Sản Hà Nội muốn mọi người phải nghe, phải theo chúng nó để làm vừa lòng các quan thầy Liên Xô và Trung Cộng của chúng nó! Quái ác thay số phận Việt Nam! Còn gì nữa không? Nước mắt có còn không?
Bởi vậy, những người trẻ, con dân miền Nam muốn bảo vệ mạng sống của mình, của gia đình mình và đất nước mình chỉ còn một cách duy nhứt là đứng lên cùng nhau đứng lên gia nhập quân đội để chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản Hà Nội và cả Khối Cộng Sản Quốc Tế.
Chúng ta muốn Tự Do. Chúng ta muốn bảo vệ Tự Do của chúng ta. Không ai, không bất cứ ai, có quyền xâm lấn đất nước ta. Chúng ta gia nhập quân đội chỉ vì chúng ta muốn Hà Nội phải nhận ra rằng con người phải quý trọng quyền làm con người. Hà Nội dứt khoát không được cỏng rắn cắn gà nhà! Không được gây tai họa khổ đau cho dân tộc ta nhiều hơn nữa! Quá khứ đã quá đủ, quá đủ rồi!
Bất cứ hành động gì chúng ta đều phải nghĩ đến con người. Chúng ta phải nghĩ đến sự Công bình giữa người và người. Phải tốt bụng, phải hiền lành, phải tôn trọng kẻ khác vì chúng ta là Người, là con Người. Tất cả bốn phương là anh em ruột thịt!
Trong khi say mê phát biểu quá nhiệt thành, tôi dơ hai tay lên xuống, có lúc dậm chân trên nền gạch mạnh mẽ đến nỗi vết thương ở đùi mặt kích động đau buốt kinh khủng làm tôi tỉnh giấc bật dậy. Tôi thấy mình đang còn nằm vắt trên hai rễ cây gừa, chìm dưới làn nước của bờ sông Thạch Hãn. Hú hồn trở về sự thật. Lúc đó mặt trời lên giữa đỉnh đầu, nắng gay gắt, không thấy có chút gió nào. Toàn khoảng không gian như bị tan tác, xé ra từng mảnh bởi những phi cơ phản lực oanh tạc thay nhau nhả bom liên hồi xuống rặng núi phía Tây là dãy Trường Sơn. Tôi bước vào ngày thứ năm trên bãi chiến chết người. Trên cao từng mảng mây trắng bạch trôi lờ đờ ở phương trời cao mạn Bắc, khi mà chân trời phương Nam quy tụ những cụm mây mưa xám xịt giăng đầy! Tôi đã luôn luôn nghĩ là tôi vô cùng may mắn. Trời đất cho tôi nhiều ân huệ, ngày nắng gắt cung cấp cho tôi nhiều năng lực ấm áp để rồi đêm đến trong cơn mưa lạnh tôi có đủ sức trườn đi, mò về miền an toàn nhanh hơn
Nhiều đạn dược và ngòi nổ đạn pháo in đầy chữ Tàu Cộng trên bờ Bắc sông Thạch Hãn đựng trong những hộp plastic nói lên một thực tế là quân Việt Cộng đang kiểm soát, hay đang di chuyển trên phần đất phía Bắc dòng sông định mạng Thạch Hãn! Biết vậy tôi tự bảo tôi nhanh chóng lánh khỏi nơi tử địa hứa hẹn nhiều oan trái này.
Tôi đã lần hồi, nhẹ nhàng hết sức, cố bơi sang bờ Nam của dòng sông mà không để lại bất cứ một lượn sóng nào. Bởi tôi biết rất rõ là nhờ vào đó, nhờ vào làn sóng lan ra đó, Việt Cộng sẽ nhanh chóng phát giác ra sự có mặt của tôi và rồi tôi sẽ lãnh ngay một tràng AK kết liễu đời mình.
Khối nước to lớn và đám bèo trên mặt nước của dòng sông làm rớt đi những mảng đất sét ngụy trang trên cái thân ốm đói của tôi. Vết thương trên đầu đùi phải, cũng được nhẹ bớt đi sự đau dai dẳng mấy ngày qua. Rồi cũng đến lúc tôi mò tới được bờ Nam rồi!
Tôi tìm xem nơi nào có lỗ trống không vướng cây cỏ làm tôi khó lê thân lên bờ. Tôi lại dùng hai tay và lồng ngực đầy vệt máu mà trườn lên bờ Nam. Cỏ bờ Nam cao chẳng thua gì bờ Bắc. Tôi trườn đi giữa những đụng cỏ cao như gò mối ngang ngực người, khi bóng chiều xuống nhanh, mặt trời còn khuất sau dãy Trường Sơn hùng vĩ. Những ánh sáng cuối ngày còn vất vưởng ở đọt cây cao, nhạt nhòa trên cánh đồng mênh mông đầy mùi tử khí.
Mưa đêm qua lớn quá nên qua một ngày nắng gắt rồi mà vẫn còn nước đọng lại trên đường đi giúp tôi trườn tới dễ dàng như đang nằm và lội trên đám cỏ sũng nước. Tôi thấy tôi có phước vô cùng. Tôi được sự giúp đỡ của Ơn Trên nhiều quá! Cứ lập lại và lập lại mãi cái vòng sinh hoạt hai tay giang ra phía trước nắm cỏ kéo lê thân đi, có sự tiếp sức đẩy tới của chưn trái khi đạp vào đất! Cố gắng và tiếp tục cố gắng nữa. Muốn sống phải vươn lên!
Chắc cũng được vài trăm thước rồi thì phải, tôi bất chợt cảm thấy như đuối sức, hết hơi trườn tới nữa rồi! Bãi cỏ voi cao quá, cao quá không ai có thể nhìn thấy tôi nằm trên láng cỏ ướt đó. Tôi thấy khát nước vô cùng tôi có thể uống bất cứ nước gì để thỏa mãn cái cơn khát của thân xác này.
Bất ngờ, may mắn làm sao, tôi thấy loáng thoáng vài anh lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa khum khum chạy qua gần bên tôi. Tôi đã vận dụng hết sức mạnh còn lại để gọi lớn lên:
– Thủy Quân … Lục Chiến! Tiếng tôi đứt khoảng vì không đủ hơi. Sau khi nói lên chữ Lục Chiến tôi hoàn toàn hết sức mình. Tôi đã hiểu tôi có cuộc gặp gỡ ly kỳ này là trời cho.
– Đứng lên! Đứng lên! Một anh lính Thủy Quân Lục Chiến nhìn chăm chăm vào tôi và hét to lên.
Tôi nghe được cái lịnh đứng lên của hắn ta mà tức giận:
– Đ. Má! Mầy không biết …hoa tiêu … trực thăng … lâm nạn?
Sau câu nói, hết sức lực đó, tôi bất tỉnh. Bầu trời sụp tối. Gió chiều đã thổi, mơn man qua mặt tôi như bàn tay bà mẹ hiền vuốt má đứa con thân yêu. Tôi thấy nhẹ nhàng lâng lâng, trút mọi lo âu cho quá khứ. Vài phút sau, tỉnh lại, tôi thấy một anh Thủy Quân Lục Chiến nằm bên cạnh tôi. Anh nói khẽ vào tai tôi:
– Thiếu Úy, Thiếu Úy lên lưng tôi tôi đưa Thiếu Úy vào vùng an toàn!
Để trả lời anh này tôi nói nhỏ:
– Vào lấy dây TAB cột vào nhau. Ra đây cột hai tay tôi và kéo tôi vào!
Anh lính Thủy Quân vâng lời, bò vào chỗ của Tiểu Đội anh. Mặt trời bây giờ lặn hẳn rồi. Nhưng đứng gần cũng còn nhìn rõ mặt nhau. Gió Đông Nam bây giờ nhẹ nhàng đưa hơi nước mát lòng, mát dạ đến vùng chiến địa cày răng lược hiện giờ. Quả là phước đức vô cùng, đêm nay trời không mưa. Thật mầu nhiệm của Ơn Trên ban thưởng cho tôi.
Tôi yên lặng không nói lời nào nữa. Nhưng đâu ai biết rằng trong thâm tâm của tôi đã vui mừng khôn xiết. Tôi biết rõ ràng rằng tôi được cứu, tôi được sống từ giờ này. Vài phút sau, hai anh lính Thủy Quân lại bò đến bên tôi. Một anh nằm sát đất, anh kia nâng tôi lên lưng anh nọ. Rồi cả ba trườn vào nơi ẩn núp tạm thời của Tiểu Đội, nơi tuyến đầu xen kẻ cài răng lược với đám Việt Cộng.
Nơi đây tôi gặp Thiếu Úy Thanh, một Khóa Sinh Sĩ Quan cùng Tiểu Đội với tôi khi cả hai cùng được huấn luyện tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Cả hai ôm nhau, nước mắt ràn rụa. Nhắc lại thời Khóa Sinh cùng dẫn nhau trình diện bị phạt dã chiến 4 đêm, làm chúng tôi luyến tiếc thời khóa sinh. Thanh trao cho tôi một điếu Rubi quân tiếp vụ. Điếu thuốc thấm nước phân nửa, ngả màu vàng, cong vòng. Nhưng khi mồi lên, hít một hơi thông suốt thì thấy lòng sảng khoái nhẹ nhàng.
Bấy giờ chắc khoảng 9 giờ đêm hay 10 giờ chi đó. Khác với những đêm mưa tầm tã vừa qua, đêm nay mưa chỉ lấm tấm đủ làm ướt áo khách qua đường. Tôi được chuyển sang vùng an toàn hơn. Rời chỗ Thiếu Úy Thanh chia tay lưu luyến. Tôi có chỉ nơi Việt Cộng đặt bản doanh, và số đạn dược chất trên bờ Bắc sông Thạch Hãn, tôi bắt tay cám ơn từng anh em và Thanh. Tôi dặn dò hết sức cẩn thận sau mỗi lùm cỏ chất đống cao ngạo. Tôi được đưa đến bộ Chỉ Huy Đại Đội. Bởi tuyến đầu của Thanh, hai bên cọ sát đối đầu nhau trong gang tấc, và sẵn sàng giết nhau bằng súng Mỹ, súng Tàu! Tôi được đỡ lên lưng một anh lính Thủy Quân Lục Chiến, ba anh khác đi theo phụ giúp. Hai anh hai bên, và anh thứ ba phía sau. Con đường chuyển tôi đi qua nhiều dốc đất sét. Đất sét gặp nước mưa làm con đường đi càng trơn trợt nguy hiểm. Thật dễ dàng té ngã vì đi trong mưa trên con đường đất sét như vậy của quê nhà.
Khi trời ngớt mưa chúng tôi cũng vừa tới Bộ Chỉ Huy của Đại Đội, nơi đây có bao cát chung quanh. Tôi hoàn toàn kiệt sức, bởi vì tôi phải dùng hết sức mình ôm chặt anh lính Thủy Quân Lục Chiến đang khòm lưng cỏng tôi. Dù vậy, với ân tình huynh đệ chi binh xứng đáng ngàn vàng đó tôi đã lấy hết sức tàn để siết tay và nói lời cám ơn 4 anh lính Thủy Quân Lục Chiến vừa gan dạ vừa tình nguyện hy sinh. Tôi nhớ Đại Đội Trưởng công tác chưa trở lại, chỉ có Đại Đội Phó tại đây. Tôi có nhờ anh gọi máy liên lạc về Huế, và Đà Nẳng cho biết tôi đã về đến nơi an toàn. Lúc đó, một anh lính Thủy Quân đến bên tôi hỏi:
– Thiếu Úy đói lắm hả, uống sữa nhé, chúng tôi cũng có mì Quân Tiếp Vụ làm cho Thiếu Úy?
– Không! Cám ơn anh quá đi. Tôi chỉ buồn ngủ thôi.
Tôi đáp nhanh và rơi vào giấc ngủ hồi nào không hay.
Đến sáng, khoảng 7 hay 8 giờ, một chiếc xe thiết gíáp M113 đến trước Bộ Chỉ Huy Đại Đội để chở tôi đi ngay trên chiến địa. Tôi vui mừng khôn xiết, nhắm đôi mắt lại mơ màng. Trước khi chiếc M113 di chuyển, Đại Đội Phó bắt tay tôi siết mạnh và chúc mau lành để trở lại chiến trường với anh em. Anh cười, và cho biết thêm rằng lúc hơn 2 giờ khuya, một phi hành đoàn của Trung Úy Lưu, Phi Đoàn 233 có bay gần đến vùng này, liên lạc để bốc tôi về Bịnh Viện, nhưng anh từ chối vì an ninh cho cả Đại Đội ban đêm. Đạn và súng cối Việt Cộng sẽ sẵn sàng tấn công vào Đại Đội khi trực thăng đáp xuống rước tôi. Anh đã khước từ nhiều lần mặc dù Trung Úy Lưu khẩn khoản, và rằng Trung Úy Lưu sẽ tắt hết đèn và tắt máy để đáp xuống bất ngờ. Tôi nghe chuyện mà thương cho người đứng đầu chiến tuyến, thương và cảm phục tình chiến hữu trong quân đội, thương Trung Úy Lưu!
Chắc cũng hơn nửa giờ sau thì chiếc M113 dừng lại. Tôi được khiêng ra khỏi xe. Tôi cám ơn các anh kỵ mã can trường. Xe đã lui mà tôi còn nghe lời chúc mau bình phục của họ! Tôi nhìn quanh quan sát, đây là trạm cứu thương giữa chiến trường, Thiếu Tá Bác Sĩ Quân Y nhìn tôi e ngại, thương tình. Lúc đó, trên người tôi chỉ là bùn đen và đất sét ngụy trang mặc dù lúc bơi qua sông chúng đã rơi xuống nước khá nhiều. Tôi chỉ có một chiếc quần lót lẫn màu đất là của con người. Xót xa quá, nên Thiếu Tá vào trong lấy ra một bộ đồ bông màu Thủy Quân Lục Chiến có đính cấp bậc Thiếu Tá và huy hiệu Bác Sĩ Quân Y, và bảo mấy Y Tá chiến trận mặc vào cho tôi! Thú thật, trong bộ đồ của binh chủng anh hùng đó, trông tôi mạnh mẽ hơn lên! Tôi cám ơn nhiều lần, và có ghi nhận là Thiếu Tá Bác Sĩ và binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến can trường còn trẻ quá!
Mặc xong bộ đồ, một xe tải thương đã sẵn sàng để chuyển tôi về nơi an toàn hơn nữa để trực thăng đáp bốc về Bịnh Viện. Xe chạy trên đường đất đỏ có một hàng cây bên trái. Gió buổi sáng len vào thùng xe làm tôi cảm thấy dễ chịu. Có lẽ sau đêm ngủ ngon lành nhiều mơ mộng vui tươi, tôi như có thêm nhiều sức lực. Sức lực có thêm là nhờ tình người, tình đồng đội, tình chiến hữu trong đấu tranh sinh tử có nhau!
Xe cứu thương dừng lại chỗ có tên Ngả Tư Quốc Tế, Lữ Đoàn 147 TQLC. Tôi được khiêng xuống, và xe trở lại Trạm Y Tế Tiền Phương nơi có Thiếu Tá Bác Sĩ mà tôi trong lúc xúc động vui mừng đã không hỏi han danh tánh!
Nằm trên băng ca nơi yên ổn, có người chăm sóc thân mến, lòng tôi rộn ràng nghĩ đến anh em chắc đang chờ gặp tôi! Mắt tôi lơ đãng nhìn bầu trời xanh, cũng lãng đãng mây trắng mà thầm cám ơn Thượng Đế, các đấng Thần Linh đã che chở cho tôi. Cám ơn những đêm mưa đầy sấm sét. Cám ơn người chết nằm giữa đường, xương sọ, xương người trắng hếu. Cám ơn Quân Đội đã sản sanh ra những người chiến hữu sống chết có nhau. Tôi về nơi yên lành mà sau lưng còn bao nhiêu lính trận phải mở mắt to lên, ngày đêm cho dù buồn ngủ đến cay xé! Làm sao đủ từ ngữ để nói lên tinh thần hy sinh cao cả của người lính trận, xả thân vì nước, vì anh em đồng đội, chiến hữu! Phải nói đây là hành động thần thánh, sự thương yêu của anh em ruột thịt, một mẹ trăm con!
Mấy anh lính Thủy Quân Lục Chiến biết tôi, nghe danh tiếng tôi, qua năm tháng phục vụ cho binh chủng này, quen thuộc với một hoa tiêu có nón bay sơn đen ghi chữ “Minh Rừng chết cho Người” ngồi chung quanh băng ca, vui mừng hỏi:
– Trị thương bao lâu Thiếu Úy?
– Vài tháng. Tôi trả lời trong sự lạc quan trước mặt.
– Trở lại bay giúp anh em hở Thiếu Úy? Một anh khẩn khoản.
– Đương nhiên! Nhớ nón bay đen nhé! Một anh lớn tuổi hơn hết, chẳng thấy lon lá gì hỏi:
– Thiếu Úy uống cà phê, sữa hay cơm cháo? Tụi này có sẵn đây! Nghe câu nói chân tình, tôi cảm động siết tay anh và nhờ:
– Anh cho tôi nửa chén nước của mì Quân Tiếp Vụ.
Anh chạy đi lo nấu cho tôi. Mấy anh còn lại hỏi chuyện:
– Mấy ngày qua làm sao mà Thiếu Úy qua mắt được tụi nó? Tụi nó đông lắm Thiếu Úy.
Tôi thấy lòng nhẹ nhàng thanh thản, như đang ở nhà, chỗ yên vui, cho dù vết thương đang hoành hành xông lên mùi xác chết.
Tôi nhận nửa chén súp mì Quân Tiếp Vụ, khói bay theo gió, ngạt ngào mùi thơm. Tôi đã trở lại với xã hội thật của con Người, có thức ăn của người, có tình tự thương mến. Vị mặn và nóng vào miệng ngon lành không sao tả hết được. Mì Quân Tiếp Vụ có giá trị căn bản, chơn chất, rẻ nhất trong đời. Đó là loại thức ăn nhanh gối đầu quen thuộc cho quân nhân, Sĩ Quan độc thân như tôi.
Chắc vào khoảng 10 giờ, mặt trời lên khá cao, gió Đông Nam nhè nhẹ thổi làm tôi thấy khoan khoái hơn. Lòng tôi như mở hội vui mừng! Nhiều trực thăng của Phi Đoàn 233 chợt hiện đến nghiêng cánh vẩy tay chào, rồi đi hành quân. Một chiếc đáp xuống, anh em Thủy Quân Lục Chiến vội khiêng banca tôi lên trực thăng. Rồi thì chúc mau bình phục vang vang theo gió. Tôi ngoái cổ nhìn xuống mà cảm xúc dâng tràn.
Từ Phòng Hành Quân Đà Nẵng, Thiếu Tá Chính chỉ thị phi hành đoàn rước tôi phải trực chỉ về Phi Đoàn càng nhanh càng tốt, vì khách khứa đông đủ chật cả hangar Phi Đoàn.
Trên đường về Đà Nẵng, anh em tại Huế, Phú Bài muốn nhìn thấy tôi, nên trực thăng ghé xuống Huế, Phú Bài. Anh em, Biệt Đội Tiền Phương, kéo nhau ra bãi đáp chào mừng tôi như kẻ chết sống lại. Ai cũng bắt tay, có người vuốt ngực áo tôi rồi chào “Thiếu Tá Bác Sĩ“ trong tiếng cười vang như mở hội ăn mừng. Thật ấm lòng, những cái bắt tay làm tôi vui mừng khôn tả. Đến lúc trực thăng cất cánh rồi tôi vẫn còn nghe tiếng reo vui phía dưới phi trường! Nhìn qua tôi còn thấy Đại Úy Lô, đứng yên đó vẩy hai tay thương mến.
Từ Huế Phú Bài về Đà Nẵng, khoảng hơn 30 phút bay. Thời gian ngắn đó cũng đủ cho tôi biết được hết về phi hành đoàn của tôi. Cơ Phi Xôm và Xạ Thủ Tuấn được Thuỷ Quân Lục Chiến đưa ra khỏi bãi mìn và gửi về Phi Đoàn. Cả hai đang lo việc chào đón tôi tại Phi Đoàn 233. Thiếu Úy Nguyễn Hàn, không may lúc đêm đen, mò trúng vào bãi mìn của Thủy Quân Lục Chiến, mìn nổ chết! Thiếu Úy Hoa Tiêu Phụ Trịnh Hữu Văn mất tích! Tôi thấy cổ tôi nghẹn ngào, thương cho Văn, rồi tự trách vì tôi mà Văn mất tích! Vì tôi mà cha mẹ Văn chạy đôn đáo tới lui! Bổn phận, Danh Dự nào cho nguôi ngoai tình cảnh chúng tôi đây? Văn đã chết hay bị Việt Cộng bắt rồi?
Trực thăng hướng về Nam, qua khỏi đèo Hải Vân có gió nhồi qua đỉnh núi, cao độ giảm dần, rồi được ưu tiên bay vào thẳng Phi Đạo 233. Tôi ngó qua thấy bà con, anh em chờ đông quá. Hình ảnh xôn xao đó làm tôi quên ý nghĩ về Thiếu Úy Văn. Tôi thấy đầy đủ Sĩ Quan, văn phòng của Không Đoàn 51 Chiến Thuật, và Phi Đoàn 233. Gương mặt ai cũng mừng vui rạng rỡ làm tôi quên rằng tôi không thể bước được bước nào. Tôi nằm trên banca đưa tay bắt từng người, từng người.
Chen vào khiêng banca, tôi nghe tiếng Chú Ba, và nhận ra là Trung Sĩ Yêm, cháu rể của chị Năm, em của anh Ba nhà kế bên nhà ngoại lúc tôi học lớp Ba, Tiểu Học Gò Dầu Hạ. Yêm cho biết suốt đêm qua không ai ngủ cả. Ai cũng chờ Trung Úy Lưu rước Chú Ba về. Rốt cuộc Thủy Quân Lục Chiến không cho, vì mấy ổng sợ bị pháo và sợ súng cối bắn vào! Yêm cho biết sáng nay những bàn thờ để ra trước cửa cầu nguyện cho Chú Ba ở trại gia binh mới dẹp vô. Và rằng ai cũng van vái cho Chú Ba.
Mọi người thắc mắc sao lại là Thiếu Tá Bác Sĩ Thủy Quân Lục Chiến? Khi chuyển tôi qua xe cứu thương của Bịnh Viện 95 Dã Chiến Hoa Kỳ, nhiều người còn chạy theo chào mừng Thiếu Úy, chào mừng thầy giáo. Trong năm 1971-1972 tôi có mở lớp, và đích thân dạy Luyện Thi Tú Tài I cho 47 Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ của Sư Đoàn. Tất cả đã đỗ Tú Tài I, nên có nhiều gia đình học trò thương mến lắm.
Bấy giờ xe cứu thương chạy qua cổng Bịnh Viện 95, tôi thấy lính Quân Cảnh Mỹ mở cửa nhìn tôi, rồi đóng cửa xe lại. Sau đó, xe vào và dừng lại cửa Cứu Cấp. Banca của tôi được khiêng xuống và chở vào Phòng Chẩn Bịnh. Thiếu Tá Bác Sĩ James Greenbergs, đứng trước các dương bản chụp xương háng, xương đùi của tôi, Thiếu Tá Chính có mặt bên cạnh, bàn bạc phương cách phẫu thuật.
Chuyển tôi vô phòng mổ, qua, mấy giờ đầy những sinh hoạt đầy ấp những vui tươi, triều mến, tôi đã mệt lả người. Nên tôi nhắm mắt để mặc cho Bác Sĩ và Y Tá làm gì thì làm. Tôi nhắm mắt sau đó đi vào giấc ngủ vùi.
Tối hôm đó, tôi tỉnh dậy, nằm trên giường bịnh vải bao trắng xóa. Tôi thấy có cái gì cộm cộm dưới lưng trên xương đùi. Tôi nhận ra ngay là việc mổ đã xong! Một Trung Sĩ Mỹ phụ trách cho tôi thường lui tới hỏi han. Anh này khi muốn thay băng, hay lau thân tôi, câu đầu tiên anh nói là: “Anh Hùng của tôi” (My hero!).
Sau đó, một nữ Y Tá người Việt được chỉ định chăm sóc cho tôi. Thân tôi là thân đất, nên nhà thương phải lau rửa luôn luôn! Nhờ đó tôi được sạch sẽ và thơm tho lắm. Cám ơn Bịnh Viện 95 Dã Chiến Hoa Kỳ! Cám ơn em Y Tá mà tôi chưa từng biết tên, người xứ Quảng.
Những tháng ngày tháng 10, năm 1972 Việt Cộng tăng cường pháo kích vào phi trường Đà Nẳng. Bịnh Viện kế bên phi trường cũng chung số phận. Bác Sĩ và Y Tá mỗi khi bị pháo kích phải chạy lo cho bịnh nhân an toàn trước tiên. Tôi được che chắn bởi các mảnh áo giáp rất kỹ lưỡng và an toàn!
Tôi lại nghĩ đến sự an nguy của các vị Bác Sĩ và Y Tá Hoa Kỳ! Những người này có phải mình đồng da sắt hay không? Khi Việt Cộng pháo kích các vị nầy phải lo cho người khác, phải quên mình. Đó, hành động đó, tinh thần đó từ đâu mà có? Cám ơn những người Mỹ cao thượng lo cho người, hy sinh cho đời! Các anh xứng đáng làm Người, con người giúp đời, không màng sự chê bai của người khác. Thói thường, không làm được việc cao thượng thì thường hay chỉ trích những ai làm việc cao thượng!
Những người cao thượng trên cỏi đời này, những người Hoa Kỳ cao thượng quý mến ơi! Tôi mang ơn các anh, các chị. Tôi chỉ xin có dịp Vinh Danh các anh. Tôi còn nhớ Thiếu Tá Bác Sĩ James Greenbergs, 1972-1973, người của Tiểu Bang Wisconsin, Hoa Kỳ. Ông này mời tôi đến nhà ông khi có dịp. Nhưng nay có dịp thì lại không có địa chỉ nhà ông! Ông Greenbergs ơi! Nếu Ông đã qua đời, xin Ông hiểu cho lòng tôi, tôi còn hình dáng hai chân tự nhiên là nhờ Ông! Ông giữ công đầu trong việc giải phẩu và nuôi sống trở lại chân bên phải của tôi! Nếu không phải là Ông thì tôi phải mất đi một chưn đứng rồi! Do đó, dòng đời dạy tôi rằng tôi nợ những người Mỹ cao thượng nhiều lắm, tôi nợ mọi người, nợ quê hương tôi và cây cỏ cùng mang số phần nghiệt ngã như tôi!
QUẢNG TRỊ (NV) – Sau khi được cộng đồng người Việt ở hải ngoại giúp đỡ, trưa 12 Tháng Tư, 2016, bà quả phụ cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, tức Trần Thị Mai, và người con trai út Nguyễn Viết Xa đã có chuyến đi từ Sài Gòn đến đồi 31, Hạ Lào, nơi “Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương” hy sinh.
Buổi trưa hôm ấy, anh Nguyễn Viết Xa cũng chay xe ôm, nhưng khác hẳn mọi hôm, hôm nay anh chở vị khách đặc biệt, là mẹ của mình, thẳng tiến phi trường Tân Sơn Nhất, bắt đầu cuộc hành trình đầy khó khăn để sang vùng đất nơi thân phụ mình nằm lại.
Máy bay vừa cất cánh, bà Mai quay sang chúng tôi nở nụ cười: “Ðây là lần đầu cô đi máy bay, nên cảm giác hơi run. Nhưng cứ nghĩ sắp được đến Hạ Lào là vui lắm.”
Ngồi bên cạnh bà Mai, anh Nguyễn Viết Xa cũng vậy. Khuôn mặt hiền lành, nhìn cái gì trên máy bay cũng đều lạ lẫm. Có lẽ suốt hàng chục năm qua, ước mơ một lần được ngồi máy bay của vợ con người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương mới thành hiện thực.
Tỉnh Quảng Trị có ranh giới với Hạ Lào, không có phi trường, chúng tôi mua vé bay ra phi trường Phú Bài của Huế, rồi từ đó bắt xe đi Quảng Trị, men theo đường tỉnh lộ 9 sang biên giới nước Lào qua cửa khẩu Lao Bảo.
Ðón chúng tôi ở phi trường Phú Bài là hai người quen mà phóng viên Người Việt đã liên lạc từ trước. Họ đều là người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở Lào và nói được tiếng Lào sành sỏi. Khi nghe tin báo Người Việt đề cập đến việc đưa bà Mai sang vùng Hạ Lào, họ vui vẻ bỏ công việc và bắt xe để giúp đỡ cuộc hành trình mà chúng tôi đang hướng đến.
Ðường đến Hạ Lào Từ Phú Bài, Huế, đến cửa khẩu Lao Bảo khoảng 200km, chiếc xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên quốc lộ 1A, đi tới địa phận tỉnh Quảng Trị, qua con sông lịch sử Thạch Hãn khoảng 20km là có con đường số 9, bên tay trái. Rẽ vào đó và thẳng tiến khoảng 90km là đến cửa khẩu Lao Bảo.
Trên đoạn đường số 9 này, đoàn chúng tôi ghé lại khu vực Khe Sanh, nơi chiến trường khốc liệt trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, thắp nén nhang tưởng niệm các tử sĩ VNCH, cũng như các quân nhân Hoa Kỳ hy sinh ở khu vực đồi núi này.
Con đường 9 ngoằn ngoèo, băng qua những vùng đồi núi trập trùng đầy cây xanh. Ðến cửa khẩu Lao Bảo đã 5 giờ chiều, làm thủ tục xuất và nhập cảnh xong là trời tối đen như mực. Hạ Lào đón chúng tôi bằng một cơn mưa tầm tã.
Hạ Lào là một vùng quê miền núi nghèo khó, nguồn thu nhập của người dân ở đây chủ yếu từ cây chuối. Tìm một khách sạn đầy đủ tiện nghị ở đây còn khó hơn lên trời. Chúng tôi tìm mãi mới ra được một khách sạn, hay nói đúng hơn là một nhà nghỉ ven đường, vì phòng chỉ có một chiếc quạt gọi là& tiện nghi. Ngoài ra không có vật dụng gì khác.
Thời tiết ở đây khắc nghiệt, ban đêm trời lạnh và ẩm ướt bởi sương mù. Nhưng ban ngày rất nóng bởi ánh nắng mặt trời và nguồn gió Lào khô khan.
Ðêm đó, nói chuyện với chủ khách sạn, chúng tôi biết được 2 ngày nữa là ngày Tết chính thức của người Lào. Người dân đang chuẩn bị đón tết, nên chợ búa, hàng quán không buôn bán gì. Bởi vậy việc tìm khách sạn đã khó, mà việc tìm thức ăn còn khó hơn.
Cuối cùng mọi người ăn món “xôi hấp thịt gà nướng,” món đặc trưng của người dân nơi đây. Bà Mai lại là người ăn chay trường, bởi vậy chỉ có thể ăn một ít xôi với phần lương khô chay, mà bà đã chuẩn bị sẵn mang theo.
Gian khó là vậy, nhưng khi được hỏi “cô có mệt không?” Bà trả lời: “Có gì đâu mà mệt, cứ nghĩ sáng mai được đến đồi 31 là hết mệt. Cảm xúc của cô bây giờ cứ vui buồn lẫn lộn. Vui vì sắp được chứng kiến nơi anh Ðương đã hy sinh. Nhưng buồn vì có lẽ khó mà tìm được xương cốt của ảnh.”
Rồi bà tiếp tục cầm tràng hạt, miệng lẩm nhẩm tụng kinh. Tôi nhìn bà, nét khắc khổ hiền hòa của người phụ nữ miền Nam. Trong thời chiến, họ hy sinh ở nhà chăm sóc con cái cho chồng ra chiến trận. Thời bình, họ đứng trước cảnh mất chồng, các con thơ còn quá nhỏ. Thế nhưng họ không bỏ cuộc, tiếp tục cuộc mưu sinh, nuôi dạy con khôn lớn.
Ðồi 31, nơi người lính không về! Sáng 13 Tháng Tư, đúng vào 30 Tết của người Lào, cả khu thị trấn Tchepone-Hạ Lào vắng hoe. Chúng tôi ghé một quán cà phê cóc ven đường, tình cờ gặp anh Kha, một người Việt đang làm ăn sinh sống ở đây.
Khi được hỏi về đồi 31 Hạ Lào, anh Kha cho biết: “Người dân ở đây gọi vùng đất này là Nam Lào, tôi chỉ biết là có một ngọn đồi, trước 1975 là nơi đóng quân của lính VNCH và lính Mỹ. Hiện nay họ đã làm một viện bảo tàng. Nhưng không biết đây là đồi 30 hay 31.”
Rồi anh chỉ đường cho chúng tôi. Ðó là một ngọn đồi rộng khoảng 10 hecta. Bên ngoài cổng có tấm biển ghi bằng tiếng Lào và tiếng Anh, tạm dịch sang tiếng Việt là “Bảo tàng di sản chiến tích chiến tranh Việt Nam-Lào trên đường 9.”
Khung cảnh hoang vắng, không một bóng người. Nơi đây vẫn còn lưu giữ những chiếc trực thăng của Mỹ, Xe chở quân đội VNCH, súng ống đại bác… Tại đây chúng tôi gặp được anh Xê Phảnh, người Lào, là người bảo vệ ở khu vực này.
Khi được hỏi về đồi 31, anh cho biết: “Ở đây là khu vực đồi 30, khu vực của quân đội Mỹ và VNCH đóng quân trước đây, thuộc huyện Sepone, tỉnh Savannakhet. Còn đồi 31 cách đây khoảng 7km, cũng sát bên đường 9, nó thuộc bản Skiphine.”
“Hiện nay bên đồi 31 chỉ có một cái miếu thờ, người ta đã xây hàng rào bao xung quanh, phải có chìa khóa mới vào bên trong được.” Anh Xê Phảnh vừa nói, vừa chỉ tay sang khu vực vùng đồi 31.
Sau khi nghe chúng tôi trình bày về mục đích đi đến đây, anh Xê Phảnh ngạc nhiên: “Tôi làm việc ở đây đã hơn 15 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy một phái đoàn thuộc lính VNCH ngày xưa sang đây thắp hương.”
“Các cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam hàng năm vẫn đến đây viếng thăm, nhưng phía VNCH thì không thấy ai? Có lẽ quí vị là người đầu tiên thuộc lính VNCH tìm đến đây để viếng?”
Anh Xê Phảnh cho biết thêm: “Ðồi 31 chủ yếu là lính miền Bắc Việt Nam, chết rất nhiều. Vì Mỹ cho B52 rải thảm ở khu vực đó. Bởi vậy bên đó người ta xây đền thờ lính miền Bắc với dòng chữ ‘Tổ quốc ghi công’. Còn lính miền Nam cũng có chết ở đó, nhưng rất ít.”
Khi chúng tôi đề cập đến việc dẫn phái đoàn qua thăm đồi 31, anh Xê Phảnh tỏ ra lo ngại: “Thật tình mà nói, nếu sếp tôi có ở đây thì các bạn khó mà tự do đến đó (chính quyền đang quản lý khu đồi 31 hiện nay là Ðảng nhân dân cách mạng Lào, rất thân với Ðảng CSVN). Nhưng nay là dịp Tết của người Lào, nên ông ta đã về Viêng Chăn ăn tết cùng gia đình.”
Nghe xong, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì nếu đi qua Lào vào ngày khác, có lẽ khó mà vào được đồi 31.
Anh Xê Phảnh đưa chúng tôi sang đồi 31. Từ đồi 30, men theo đường 9, hướng về cửa khẩu Lao Bảo-Việt Nam khoảng 7km, sẽ bắt gặp một ngọn miếu thờ bên phía tay trái nằm trên một ngọn đồi hiu quạnh.
Ðồi 31 nằm sát ngay đường 9, khu đất này cao hơn mặt đường khoảng 10m. Tấm bảng bên ngoài bức tường rào, ngay cổng lối đi vào khu đền thờ, ghi bằng cả chữ Lào và Việt Nam với lời lẽ đầy phân biệt đối với chính quyền VNCH.
‘Mong anh hãy theo mẹ con em về Việt Nam’ Ðúng 11 giờ trưa, chúng tôi đến khu vực đồi 31. Ngọn đồi hoang vu giá lạnh. Ðất đai khô cằn, nền đất đỏ với nhiều hạt đá nhỏ trộn lẫn vào nhau. Chỉ có giống cỏ voi là còn mọc được nơi đây, ngoài ra không thấy cây cối nào khác.
Cầm tấm hình cố Ðại Úy Ðương trên tay, bà Trần Thị Mai bước xuống xe như ứa nước mắt, nhìn xa xăm và nói: “Cô cảm thấy lạnh quá cháu à. Cô cảm nhận được anh Ðương đang ở rất gần đây.” Rồi cô ôm bó nhang, cùng bịch trái cây đã chuẩn bị sẵn mang theo bên mình, đi đến khu vực có miếu thờ.
Chưa đi tới cổng vào, tự nhiên một trái táo trong món đồ cúng mang theo rơi xuống đất. Bà Mai giật mình đứng lại, hai tay chắp lại, quì xuống vái lạy và miệng lẩm nhẩm: “Anh Ðương ơi, có phải anh muốn báo nơi anh mất chính là ở đây?” Rồi bà òa khóc nức nở.
Thấy thế, anh Nguyễn Viết Xa cũng chạy đến bên mẹ, và hỏi: “Hay là mình cúng ở đây đi mẹ à.” “Ừ, đúng rồi, mình làm lễ thắp hương ở đây đi con. Mẹ cảm nhận cha con đã hi sinh ở nơi này.” Bà Mai trả lời.
Rồi bà thắp nhang, bày vật dụng đã mang sẵn theo ra để làm nghi thức cúng viếng. Trong tiếng gió rít trên đồi, tiếng bà thì thầm với người chồng nằm lại mảnh đất này: “Anh Ðương ơi, hôm nay em dẫn con trai của anh đến đây thắp nhang và rước vong hồn của anh về lại Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên em đến được nơi này.”
“Nếu anh có linh thiêng thì hãy theo mẹ con em về Việt Nam, chứ ở đây lạnh lẽo lắm anh à. Em sẽ thỉnh một nắm đất nơi đây, đem về Việt Nam để nơi Chùa, mong hương hồn anh hãy theo em về, để mẹ con em còn được thắp hương cúng thờ cho anh.”
Bà Mai vừa nói, vừa bốc nắm đất bỏ vào cái khăn vải đỏ gói lại để mang về Việt Nam.
Còn anh Nguyễn Viết Xa nói với cha: “Ba ơi, 45 năm rồi từ ngày ba ra đi đến hôm nay con và mẹ mới được đến nơi đây. Ngọn đồi 31 này con cũng nghe nhiều, nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Con và mẹ đã rất muốn đến đây sớm hơn, nhưng điều kiện không cho phép. May mà có quí vị ân nhân ở hải ngoại giúp đỡ, nay mẹ và con mới đến được nơi này.”
“Khi ba mất con còn quá nhỏ. Bởi vậy con không nhớ gì về thời gian ba còn sống bên con. Chỉ nghe mẹ nói trong 4 anh chị em, ba thương con nhất. Con mong ba hãy an nghỉ, bởi còn có rất nhiều người quí mến ba. Họ đã giúp đỡ con và mẹ rất nhiều trong thời gian qua.”
Trong khi ấy, bà Mai sụt sịt khóc: “Mong anh hãy tha lỗi cho em, vì em chưa làm tròn bổn phận của người vợ. Tâm nguyện của anh, em cũng không hoàn thành. Vì đời sống quá khó khăn, bốn đứa con không đứa nào được ăn học đàng hoàng. Hai đứa cũng đã mất rồi anh à…”
Rồi bà cầm xấp giấy tiền hàng mã, rải đều trên đất. Mảnh đồi hoang vu, cùng với cơn gió Lào thổi mạnh, khiến cho từng tờ giấy bay xa. Khuôn mặt bà nhìn xa xăm theo làn gió theo những tờ vàng mã bay xa. Một mắt bà đã mù hẳn, con mắt còn lại cũng yếu mờ, nhưng bà vẫn cố nhìn ra xa, xa mãi nơi ngọn đồi 31 huyền thoại, nơi rất nhiều người lính vẫn nằm lại nơi đây không trở về.
Sau nghi thức cúng vái, bà Mai đi thắp nhang khắp nơi, xung quanh ngọn đồi 31. Bà đi mà không biết mệt giữa cái nắng chói chang và từng cơn gió Lào nóng khô khốc, hất vào mặt, từng cơn, từng cơn…
“Cô phải thắp càng nhiều càng tốt, không những cho anh Ðương mà còn các đồng đội của anh nữa con à. Họ cũng lạnh lẽo lắm, bao năm qua không ai nhang khói hết!”
Sau đó, bà cầm di ảnh và “nắm đất” của cố Ðại Úy Ðương, tiến thẳng vào ngôi miếu thờ. Tại đây bà bày mâm cơm để cúng các vong linh đã bỏ mình nơi đây, trong đó có cả lính bộ đội Bắc Việt.
Bà Mai thắp hương, vái lạy, miệng cầu: “Xin chào các người lính đã hy sinh nơi đây, hôm nay tôi đến đây để thắp nén nhang kính viếng đến các anh. Tôi là vợ của người lính VNCH, nhưng tôi cũng cầu chúc cho các vong linh của người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.”
“Tuy khác chiến tuyến, nhưng các anh đều đã hy sinh ở cùng một nơi này. Âu cũng là số phận. Bởi vậy ở thế giới bên kia, mong các anh hãy là những người bạn tốt của nhau, chứ đừng cầm súng mà chĩa vào nhau nữa. Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam cơ mà.” Bà Mai gửi lời đến các vong linh.
Mong vợ chồng được ở mãi bên nhau Sau nghi thức cúng viếng ở đồi 31, mọi người bắt đầu ra về. Bà Mai vui hẳn: “Cô vui vì cô tin là anh Ðương sẽ theo cô về Việt Nam.”
Khi được hỏi, lúc còn sống kỷ niệm nào về Ðại Úy Ðương khiến bà nhớ nhất, bà cho hay: “Tính anh Ðương hay ‘nổ’ (nói dóc) lắm con à. Cô nhớ trước khi đi chiến dịch Lam Sơn, anh Ðương có nói là đợt này đi xong chiến dịch là anh sẽ lên lon thiếu tá.”
“Hồi đó cô nghe chỉ cho vui, cứ nghĩ ổng lại ‘nổ’ nữa rồi. Ai ngờ ổng lên thiếu tá thật. Nhưng có điều sau khi mất mới được vinh thăng. Có lẽ đây là lời ‘nổ’ chính xác nhất của anh Ðương.”
Những mẩu chuyện vừa vui vừa buồn theo suốt chiều dài cuộc hành trình từ Hạ Lào về lại Huế. Chúng tôi lưu trú lại thành phố Huế một đêm.
Ðêm duy nhất ở Cố Ðô, chúng tôi lại có một kỷ niệm đẹp khi mọi người cùng đi ăn tối. Chúng tôi bất ngờ được anh Lê Quýnh, một người gốc Huế, nhận ra bà Mai và chủ động tới bắt chuyện.
“Tôi biết được câu chuyện của cô khi vô tình đọc được bài viết trên báo Người Việt Online. Không ngờ được gặp cô nơi đây. Bản thân tôi rất yêu thích bản nhạc ‘Anh Không Chết Ðâu Anh’ và quí mến, nể trọng Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương.” Rồi anh lấy Guitar, tự đàn hát ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để tặng mọi người.
Sáng hôm sau, chúng tôi trở về lại Sài Gòn và đi thẳng đến một ngôi Chùa mà bà Mai đã đặt trước am thờ và nhờ thầy tụng kinh niệm Phật.
“Sau này cô mất, cô mong muốn được thiêu và mang tro cốt đặt bên cạnh Ðại Úy Ðương nơi đây. Ðể con cháu có thể dễ dàng đến thắp nhang cúng viếng. Và cũng để vợ chồng cô mãi mãi được bên nhau,” bà Mai tâm sự.
Thiếu tá Hung Nguyen (hình của Chuẩn uý Khristian Viray, army.mil).
Ngày 27 tháng 1, Thiếu tá Hung Nguyen cùng một nhóm sĩ quan cấp Đại đội và Sĩ quan chuyên nghiệp được Ngũ Giác Đài chọn lọc để nhận một trong những Giải thưởng cao quý nhất của Lục quân, đó là Giải thưởng Lãnh đạo Tướng Douglas MacArthur. Việc lựa chọn cho giải thưởng này nhằm vinh danh những Quân nhân thể hiện thành tích xuất sắc, khả năng lãnh đạo mẫu mực và cam kết giữ vững ý chí với các giá trị của Quân đội, được phân biệt thêm bởi chuyên môn kỹ thuật vượt trội và năng lực chiến đấu..
Đối với Thiếu tá Hung Nguyen, phục vụ không chỉ giới hạn trong quân phục hay một nghề nghiệp duy nhất mà đó là một cam kết trọn đời bắt nguồn từ lịch sử gia đình, khả năng lãnh đạo và sứ mạng phục vụ người khác sâu sắc mang tính cá nhân. Cho dù là cấp chĩ huy các Binh sĩ trong Lực lượng Lục quân trừ bị Hoa Kỳ hay thúc đẩy công tác chăm sóc và nghiên cứu ung thư tại Trung tâm Ung thư Fred Hutch ở Seattle, Washington, ông đều thể hiện tinh thần phục vụ thông qua mục đích và tấm lòng.
Hiện phục vụ trong Lực lượng Lục quân trừ bị Lục quân Hoa Kỳ, ông Hung Nguyen còn đảm nhận một vai trò dân sự quan trọng là Quản lý Phòng Dược động học tại Trung tâm Ung thư Fred Hutch, nơi công việc của ông trực tiếp góp phần cứu sống nhiều người. Trong cả hai lãnh vực chuyên môn, ông đều thể hiện lý tưởng “Nhiệm vụ, Danh dự và Tổ quốc” của Tướng Douglas MacArthur và có thành tích xuất sắc, khả năng lãnh đạo và những thành tựu đáng kể.
Thiếu tá Hung Nguyen và các Nhân viên Phòng thí nghiệm Dược động học (hình của api.army.mil)
Binh nghiệp của Thiếu tá Hung Nguyen kéo dài hơn 26 năm, được đánh dấu bằng khả năng thích ứng, sự tiến bộ ổn định và năng lực lãnh đạo chỉ huy trên nhiều lãnh vực. Ông nhập ngũ năm 1999 với nhiệm vụ là một y tá chiến trường, ông phục vụ tại Bệnh viện 1984, Lục quân Hoa Kỳ ở Alaska trước khi chuyển sang phục vụ thường trực với tư cách là một y tá phòng cấp cứu tại Trung tâm Y tế Quân đội Madigan ở Fort Lewis, Washington. Khao khát những thử thách mới, ông chuyển sang Bộ binh, thăng tiến qua các cấp bậc với tư cách là Tiểu đội trưởng và Trung sĩ huấn luyện trước khi đạt được cấp bậc cao nhất là Trung sĩ nhưt tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Bộ binh 414.
Năm 2014, Hung Nguyen được mang cấp bậc sĩ quan công binh, khởi đầu lại sự nghiệp quân ngũ với cấp bậc thiếu úy. Trong những năm qua, ông đã đảm nhận nhiều vai trò lãnh đạo quan trọng, bao gồm chỉ huy Trung đội và là Sĩ quan điều hành Đại đội Công binh 391, đóng tại Boise, Idaho. Sau đó, ông được thăng cấp và chỉ huy Đại đội Công binh 671 (MRBC), nơi ông chỉ huy hơn 200 binh sĩ trong các hoạt động kỹ thuật và xây cầu phức tạp.
Đại uý Hung Nguyen (hinh của Cody Ford, dvidshub.net).
“Đại đội đó đã dạy ông nhiều hơn những gì ông đáp lại, đặc biệt là các Hạ sĩ quan. Họ luôn giúp ông giữ vững lập trường và đi đúng hướng”, Hung Nguyen cho biết. Hiện nay, ông đang phục vụ tại Tiểu đoàn Công binh 411 ở Hawaii, nơi ông chỉ huy Đội quản lý xây cất của Tiểu đoàn, và gần đây đã được khai triển với tư cách là Quản lý Dự án thuộc Quân đoàn Công binh Hoa Kỳ tại Syria, một Quốc gia đang bị chiến tranh tàn phá.
Trong mọi nhiệm vụ, Thiếu tá Hung Nguyen luôn nhấn mạnh một nguyên tắc lãnh đạo trên hết: “Hãy tập trung vào những người ở tuyến đầu. Họ đang ở trong tâm điểm của vấn đề. Hãy lắng nghe họ. Họ hiểu rõ môi trường, vấn đề và giải pháp hơn bất kỳ ai.” Ghi nhận và Trách nhiệm Việc nhận Giải thưởng Lãnh đạo Tướng Douglas MacArthur không chỉ đơn thuần là thành tựu cá nhân mà còn là mục đích chung đối với Hung Nguyen. “Giải thưởng này phản ánh hơn 26 năm cống hiến được thực hiện nhờ sự hỗ trợ không ngừng của gia đình, người hướng dẫn, nhân viên và đồng nghiệp của ông. Sự ghi nhận này nhấn mạnh những giá trị cốt lõi mà ông luôn nỗ lực thể hiện: Bổn phận, Danh dự, Liêm chính và Phục vụ.
Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Hung Nguyen, Họ và tên Việt, Nguyễn Hùng.
Nguồn: usar.army.mil; army.mil; General Douglas MacArthur Leadership Award,.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.