Thề không phản bội quê hương

Tác giả: Trương Hoàng Xuân (1939 – 3/5/2025)

Một cánh tay đưa lên

Hàng ngàn cánh tay đưa lên

Hàng vạn cánh tay đưa lên

Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính

Đập phá tan mưu toan, đầu hàng cái quân xâm lăng

Hoà bình phải trong vinh quang

Đền công lao bao máu xương hùng anh

Nào đứng lên bên nhau

Nào cùng sát vai bên nhau

Thề nguyền với vung tay cao

Quyết đấu tranh đến khi nào đạt thành mong ước

Vận nước trong tay ta

Là quyền của quân dân ta

Tình đoàn kết quê hương ta

Chận âm mưu chia cắt thêm sơn hà

ĐK:

Quyết chiến Thề quyết chiến! Quyết chiến!

Quyết không cần hoà bình đen tối

Chẳng liên hiệp ngồi chung quân bán nước vong nô

Quyết chiến Thề quyết chiến! Quyết chiến!

Đánh cho cùng dù mình phải chết

Để mai này về sau con cháu ta sống còn

Vận nước đang vươn lên

Hàng ngàn chiến công chưa quên

Hàng vạn xác quân vong nô

đã chứng minh cho sức mạnh hào hùng quân dân

Thề chớ bao lui chân.

Ngồi cùng với quân xâm lăng

Ta thà chết chớ không hề lui

Quyết không hề phản bội quê hương (2)

Chiến sĩ vô danh

hung-viet.org

Huy Phương

Post on 1Jun 2016

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

(Viết cho ngày “Chiến Sĩ Trận Vong”)

Năm 1972, trong “Mùa Hè Đỏ Lửa,” với thiệt hại lớn lao của bốn mặt trận Kontum, Bình Long, An Lộc, Quảng Trị, của cả hai bên, để vinh danh những người lính VNCH đã nằm xuống, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã phát động một chiến dịch vinh danh và tri ân các chiến sĩ, bằng cách vẽ hình ảnh các tử sĩ và treo ở trên đường phố Sài Gòn. Tôi chỉ nhớ tên một vài vị, đều là sĩ quan, như cố Chuẩn Tướng Không Quân Nguyễn Huy Ánh, cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, cố Đại Úy Trần Thế Vinh, cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương… Trong số anh hùng này, không thấy có một hạ sĩ quan hay binh sĩ nào.

Hồi ấy, tuần báo Diều Hâu là một tờ báo “tay trái” của Phòng Thông Tin-Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến do Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh và Thiếu Tá Phạm Huấn chủ trương, và chúng tôi, nhân viên của Phòng Báo Chí lâu lâu cũng mượn đất của Diều Hâu để múa bút. Vào dịp đó, trên Diều Hâu tôi đã viết một bài ngắn, cũng lấy đề tựa “Chiến Sĩ Vô Danh,” và câu hỏi tôi đặt ra trong bài báo là phải chăng, anh hùng, tử sĩ của VNCH đều là sĩ quan mà không có một anh lính nào? Vậy thì người lính tử sĩ ở đâu?

Bài viết này không làm cho Trung Tướng Trần Văn Trung mấy hài lòng, và sau khi tờ báo phát hành, nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh được gọi lên “trình diện” ông tổng cục trưởng. Ông Nguyễn Đạt Thịnh nổi tiếng là thẳng thắn và luôn luôn bênh vực nhân viên, mặt khác tờ báo do ông chủ trương, phần nào ông cũng có trách nhiệm, nên nội vụ được cho qua, và tác giả bài báo không phải khăn gói đi Kontum.

Người ta hay dễ dãi trong công việc, và tìm những việc dễ dãi mà làm. Tướng tá chết thì ai cũng biết, nhưng anh hùng vô danh, mặc dù là số đông mấy ai đã biết được tên tuổi.

Gần đây ở hải ngoại cũng vậy, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm, năm vị tướng tuẫn tiết lại được nhang khói, vinh danh. Về sau người ta thêm vào đó, Trung Tá Nguyễn Văn Long, tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, rồi sau đó nữa là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng Chương Thiện, không tự sát, nhưng không chấp nhận đầu hàng, chiến đấu đến cùng, bị bắt và bị xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 Tháng Tám, 1975.

Cả miền Nam, vì mối nhục mất nước, có cả hàng nghìn chiến sĩ tự sát bằng cách này hay cách khác, từ một người lính quân cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu đến những anh em Thủy Quân Lục Chiến trên bãi biển Thuận An, hay các chiến sĩ Nhảy Dù chia nhau một quả lựu đạn tại ngã ba Ông Tạ, trên đường lui binh.

Câu hỏi ngày xưa vẫn còn nguyên: “Vậy thì người lính tử sĩ ở đâu?”

Gần đây, tại San Jose, theo cung cách xây dựng tượng đài vinh danh các anh hùng tuẫn tiết, một bức tường tưởng niệm với năm vị tướng lãnh cùng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Trung Tá Nguyễn Văn Long được dựng lên. Người lính Biệt Động Quân Đoàn Trọng Hiếu đã phê phán chuyện dựng bức tường này: “Việc làm dựng một bức tường tưởng niệm quân dân cán chính VNCH là một việc làm rất đáng hoan nghênh. Nhưng việc ủng hộ nội dung lại là hành động thiếu suy nghĩ đáng chê trách, vô tình biến chúng ta thành kẻ bất nhân bất nghĩa!” Và ông cũng cay đắng cho rằng: “Xin đừng phơi thây trăm họ, để chỉ vinh danh một người!”

Trên thế giới, không phải quốc gia nào hay ai có thể có khả năng làm một cuộc kiểm kê để có danh sách những người lính đã hy sinh, như người Mỹ đã làm khi xây dựng bức tường đá đen ở thủ đô Washington, DC, có tên của hơn 58,000 lính Mỹ đã chết hoặc mất tích tại chiến trường Việt Nam.

Có những người lính đã nằm lại ngoài mặt trận, không đem được về hậu phương, thân thể họ bị vùi lấp trong bom đạn, đất cát, không quan quách, không bia mộ, không ai gắn huy chương, không có nghi lễ phủ cờ đưa tiễn. Gần như không ai biết đến họ, không ai nhớ đến tên tuổi của họ, vì “họ là những anh hùng không tên tuổi,” được gọi là những “Chiến Sĩ Vô Danh.”

Nước Pháp có mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 Tháng Mười Một, 1920. Họ không có tên. Đây là ngôi mộ của một người lính Pháp vô danh chết trong trận Verdun, thời Thế Chiến 1. Cùng ở Paris, bảy chiến sĩ vô danh khác cũng được chôn cất ở Flandres, Artois, Somme, Chemin des Dames, Champagne, Verdun và Lorraine. Trên ngôi mộ ở Khải Hoàn Môn khắc dòng chữ: “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc.” (1914-1918). Người Mỹ cũng có ngôi mộ chiến sĩ vô danh (Tomb of the Unknowns) tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, Virginia, để chôn cất các binh sĩ Hoa Kỳ vô danh tử trận trong Thế Chiến 1, Thế Chiến 2, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và những cuộc chiến tiếp theo sau đó!

Không ai kiểm kê được đầy đủ danh tánh những người đã tự sát hơn là đầu hàng giặc trong ngày tang tóc 30 Tháng Tư, 1975 của miền Nam Việt Nam, cũng không ai có đủ danh sách hàng triệu người đã chết cho tổ quốc, bởi vậy chúng ta cần thiết có một nấm mộ hay tượng đài cho những chiến sĩ vô danh. Chúng ta thường có thói quen ca tụng những người quen mặt biết tên!

Có khi nào bạn so sánh cái chết huy hoàng, rộn ràng của một tướng lãnh và cái chết của một người lính hòm gỗ đơn sơ với những nhánh hương lạnh lẽo trong một nghĩa trang buồn, hay những người lính không bao giờ trở về, thân xác chôn vùi đâu đó trên mảnh đất quê hương!

Chúng ta cần một bia mộ hay tượng đài cho những chiến sĩ vô danh như thế.

Huy Phương
Nguồn Người Việt

Anh hùng vô danh

Thơ Đằng Phương – Hồn Việt (1950)

Tặng những chiến sĩ vô danh tranh đấu cho tổ quốc

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

Mộ bia vô danh tại Nghĩa trang (Hình trái) năm 2004 được đưa về thờ tại Việt Museum – San Jose.

Họ là những anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh,

Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh

Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước

Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu

Và làm cho những đất cát hoang vu

Biến thành một giải sơn hà gấm vóc

Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc,

Không ngại xa, hăng hái vượt trùng sơn

Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn

Cuộc Nam Tiến mở giang sơn lớn rộng

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động

Dưới gót giầy của những kẻ xăm lăng,

Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân

Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc,

Trong chiến đấu, không nài muôn khó nhọc,

Cười hiểm nguy bất chấp nỗi gian nan,

Người thất cơ đành thịt nát xương tan

Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển.

Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm,

Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa,

Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà

Để sống lại cuộc đời trong bóng tối

Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi

Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình

Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh

Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.

Tuy công nghiệp không ghi trong sổ sách,

Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,

Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên

Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.

Và anh hồn chung với tấm tinh trung

Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.

Bài thơ này được sử dụng trong sách giáo khoa tại miền Nam Việt Nam những thập niên 50, 60.

Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

(Kính tặng đại tá tỉnh trưởngTôn Thất Khiên)

 (Chuyện thật được tiểu thuyết hóa (roman vérité).

Nhân vật trong truyện: “hắn” “tôi” không phải là tác giả)

Ở xứ Mỹ nầy, thời đại văn minh mà nói chuyện cha mẹ kén chồng cho con thì nghe lạ tai. Vậy mà chuyện đó lại xảy ra. Chẳng phải ông bà giàu có, sợ gặp thằng rễ đào mỏ, mà cũng chẳng phải cô gái thuộc loại ngây thơ, e thẹn, kín cổng cao tường, không dám tiếp xúc với ai. Sự thực, cô đã trên ba mươi. Cô cũng xông xáo vào xã hội để kiếm sống, cũng nói năng giao thiệp rộng rãi. Cô lại đẹp nữa. Vậy mà gặp cậu nào còn độc thân là ông bà vui vẻ mời ghé nhà. Chẳng thấy ai quí khách bằng ông bà, nhưng rồi, hình như không đạt tiêu chuẩn nào đó, ông bà lại mời chàng khác ghé thăm, chuyện vãn. Những chuyện trên hắn chỉ nghe trong cộng đồng người Việt bàn tán thế thôi. Ông bố cô gái, hắn biết, vì trước bảy lăm (1975), hắn là nhân viên dưới quyền ông. Cả đến cô gái, hắn cũng biết nữa, nhưng hiện nay những tiêu chuẩn chọn khách đông sàng của ông bà thì ai cũng mù tịt. Đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi…? Tất cả chỉ là giả thiết. Và vẫn còn trong vòng bí mật. Có một điều là bọn con trai, từ trẻ đến lớn tuổi đều suýt soa là cô quá đẹp. Đẹp dịu dàng, quí phái, thấy cô chỉ muốn ngắm mãi rồi thở dài vì biết mình không hy vọng gì.  Xin dài dòng về những điều hắn biết về ông bà và cô gái.                                             

Năm 1973 hắn tốt nghiệp đốc sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh VNCH, được bổ về làm phó quận một tỉnh miền Trung. Lúc đó ông ta là đại tá tỉnh trưởng. Trong thời gian làm việc ở quận, thỉnh thoảng hắn phải về tỉnh họp. Hắn thấy ông có một phong thái rất đặc biệt. Ông như một ông vua con với bá quan. Thân mật nhưng có khoảng cách rõ ràng. Ông hết lòng với dân nhưng phục vụ dân như một thiên mệnh hơn là bổn phận, tưởng như chức tỉnh trưởng do trời ban cho chứ không phải do tổng thống bổ nhiệm, đúng ra ông giống như “ngài quận công” em ruột “đương kim hoàng đế” ngày xưa vậy. Chẳng bao giờ ông giữ kẻ điều gì. Ông muốn là làm. Ông có một thói quen buồn cười. Khi làm việc ở tòa Hành Chánh tỉnh, ông thường đến các ty, phòng nội thuộc. Vừa nói mấy câu là ông vỗ vỗ túi áo rồi hỏi “Có thuốc không?” Ai cũng biết trước nên thủ sẵn một gói thuốc ông thường hút, đưa ra, ông lại hỏi “Có quẹt không?” Đưa quẹt cho ông, đốt thuốc xong, ông bỏ tất cả vào túi áo mình rồi đi nơi khác. Có điều lạ là không ai biết ông vất thuốc với quẹt ở đâu mà ngay sau đó chính ông tìm cũng không ra, rồi lại hỏi “Có thuốc không?” Mà chẳng phải ông nghiện thuốc, chỉ bặp bặp vài hơi là cắm điếu thuốc xuống cái gạt tàn, nói mấy câu, lại đốt điếu khác, hút tiếp, lại dụi bỏ. Ngồi họp mà có ông là hắn được cái thú đếm xem ông hút bao nhiêu điếu thuốc trong buổi họp. Đến ngày mất nước (1975), ông không bỏ chạy, ông đi tù. Lúc ở trại tù cải tạo Long Thành 15 NV hắn có gặp ông. Vẫn vẻ phong lưu, bất cần thiên hạ nên trông ông chẳng mất phong độ gì cả. Sau đó ông được đày ra Bắc. Chẳng biết bao lâu, cuộc đời dâu bể. Khi hắn qua Mỹ, ở Virginia, tình cờ gặp ông một lần. Chuyện nầy hồi sau sẽ kể rõ.

Còn chuyện hắn biết cô con gái của ông đại tá tỉnh trưởng (trước 1975) cũng có nguyên do. Năm đó, gần đến Tết, tay thiếu tá quận trưởng của hắn ngồi than thở là tết nhất mà không có quà cáp cho xếp thì thật khó coi. Hắn ta rầu rỉ bảo:                                               

– Nhưng trong túi “moa” (tôi) tài sản chỉ mấy nghìn, biết mua cái gì bây giờ? Một cành mai thì chắc có đứa đem đến rồi, mà thứ mai chấm trần nhà kia, tiền đâu chịu thấu. Một cặp bông hồng hay vạn thọ thì “hẻo” (tệ) quá!

Hắn đề nghị mua một món đồ cổ, chẳng ai biết trị giá của nó nhưng trông đã đẹp lại quí. Thế là hắn được giao nhiệm vụ đó. Hắn đến tiệm đồ cổ, chỗ chân cầu Gia Hội (thành phố Huế) mua một cái tô, không biết cổ thực hay giả, lơn tơn đến dinh tỉnh trưởng. Ông đại tá không có nhà vì là giờ hành chánh, chỉ có cô gái ra tiếp. Cô mới mười lăm, mười sáu mà đẹp kỳ lạ. Cô như nụ hồng hé nở, ngây thơ, tinh khiết. Cô học trường Đồng Khánh, từ dinh tỉnh trưởng, cô chỉ đi mấy phút là đến trường. Chiều đó hắn ngồi tán tỉnh tía lia, khi ra về, em cho hắn ôm hôn lên má, rồi ôm cái tô ra về. Hắn hẹn với em vài hôm sau sẽ đến nữa. Đến hẹn, hắn lại ôm cái tô đến. Lính gác cổng thấy xe quận quen thuộc, không bận tâm. Em tươi cười, mừng rỡ chờ đón hắn.                 

Gặp em được mấy lần thì ông tỉnh trưởng về sớm.

– “Moa” (ta) nghe mấy bữa nay “toa” (cậu) cứ ôm cái tô đến trò chuyện với con bé Mai của moi mãi. Rứa là đủ rồi hỉ!  Chờ ít năm, con bé lớn chút nữa, lúc đó mỗi lần đến đây, toa cứ nộp một cái tô, cái dĩa cổ chi đó là được. Moa hứa với toa nhưng không bảo đảm gì cả nghe!                 

Dù sao thì hắn cũng được em cho ôm hôn mấy lần và cả hai cũng có tặng hình cho nhau gọi là “Để kỷ niệm những ngày mới quen nhau” Hình em mặc váy đầm, tóc thắc bím, ôm búp bê. Hình hắn tặng em là cảnh hắn đứng vênh mặt trước trường Hành Chánh, chụp hôm tốt nghiệp, coi rất bảnh trai. Sau tấm hình hắn ghi cho em một câu đúng điệu nhạc vàng “Anh hứa yêu em suốt một đời”.    

Một lần, ôm hôn em, hắn thì thầm “Em làm vợ anh nghe! ” Có lẽ em không biết rõ  “làm vợ” là làm gì, nhưng em vẫn ngước nhìn hắn cười và gật đầu.

Đáng lẽ chuyện tình của hắn với em sẽ còn dài, nhưng sau đó sập tiệm (miền Nam bị đô hộ 1975). Hắn đi tù, ông (đại tá) bố em, cũng đi tù. Em như cánh chim giữa cơn bão, phiêu bạt về phương trời nào hắn không rõ. Hình em tặng, hắn cũng đánh mất từ lâu. Cho đến khi nghe chuyện ông bà kén chồng cho em, hắn vẫn không hình dung được em ra sao, vì lâu quá, nhưng vẫn nhớ là em rất đẹp. Và nếu trước kia, đứng trước em hắn tự tin bao nhiêu thì nay hắn không dám gặp cả em nữa vì mặc cảm tự ti. Ra tù, thân tàn ma dại, qua xứ Mỹ, hắn cũng chẳng hơn gì con gà mắc mưa, hắn đứng bán McDonald!                                                                            

Cho đến một sáng chủ nhật, hắn ghé tiệm chạp phô mua ít vật thực. Vừa ra khỏi xe, hắn thấy một chiếc xe nhỏ chạy trước, xe cảnh sát chớp đèn chạy sau. Hai xe ngừng lại trước tiệm chạp phô. Tay cảnh sát xuống xe đến hỏi thăm sức khỏe người lái xe, có lẽ vi phạm giao thông gì đó. Hóa ra đó là ông bà đại tá tỉnh trưởng của hắn ngày trước. Hắn thấy tay cảnh sát Mỹ xì xồ mấy câu nhưng ông vẫn tỉnh bơ, chẳng nói năng một tiếng, cứ ngồi nhìn tay cảnh sát như người xem TV nhìn cái quảng cáo. Không vui, không buồn, không sợ, không xun xoe, và cứ trơ ra như thế. Có lẽ tay cảnh sát tưởng ông không biết tiếng Mỹ, lại già cả, nên lên xe bỏ đi. Lúc đó ông mới nhìn hắn cười chúm chím rồi hai ông bà vô tiệm. Hắn có thể đến chào hỏi, tự giới thiệu để chuyện trò nhưng kẹt vì biết ông bà đang kén rễ nên hắn nghĩ tốt hơn đừng để họ tưởng mình có ý đồ gì. Nghe nói có mấy tên bác sĩ, kỷ sư đẹp trai, đi xe đắc tiền còn bị loại, sá gì đến hắn mà đèo bòng, nên hắn phe lờ.

Trong lúc hắn đứng trước quày đồ khô thì ông ta đến bảo.                     

 Toa thấy moa có nhanh trí không, làm rứa là hắn chịu thua, mình khỏi bị ticket (giấy phạt)                                                                                                                          

– Tôi thấy, chỉ đại tá mới biết cách đó. Cái khó là giữ vẻ mặt sao cho tay cảnh sát vừa chán nản vừa thông cảm mới được. Tôi mà làm thế, hắn còng tay ngay.                                            

Ông ta ngạc nhiên.                                                                                          

– Ủa, sao toa biết moa?

   Lúc đó hắn mới bảo là hắn có làm phó quận trong lúc ông làm tỉnh trưởng. Thế là cả hai vui vẻ chuyện trò. Lát sau bà vợ ông ta đến, sau khi giới thiệu nhau, họ đã trở nên thân mật. Đàn bà đều giống nhau, thích tò mò chuyện đời tư người khác.

– Chớ vợ con mô mà đi chợ một mình?

– Tôi chẳng có vợ con gì cả. Như lúc nãy ông đại tá biết, tôi ra trường năm bảy ba, đến năm bảy lăm (1975) sập tiệm. Tôi đi tù về, không ai thèm nhìn, đến khi có vụ HO (tù cải tạo đi Mỹ) thì chẳng hề quen biết mà cũng có người kêu gả con cho, tôi chán quá, không thèm lấy vợ nữa.  

Ông ta bảo. – Moa mà như toa đi chợ chi cho mệt. Ghé tiệm, quán ăn nào đó, ăn xong trả tiền, khỏi chợ búa phiền phức.                                                                                                   

– Nhưng tôi còn bà mẹ, mọi khi tôi đưa bà cụ đi chợ, mấy hôm nay bà cụ mệt, dặn tôi mua các thứ về bà cụ nấu.

Chuyện trò đến đấy thì hắn xin cáo từ, ông bà có mời hắn ghé nhà, cho số nhà, số điện thoại đàng hoàng. Hắn không có thì giờ thăm viếng linh tinh, vả lại tuổi tác chênh lệch mà gia cảnh cũng không thích hợp nên hắn quên luôn. Bẵng đi một thời gian, một sáng chủ nhật, đi chợ, hắn lại gặp ông bà. Họ coi bộ mừng rỡ lắm, nhất định mời hắn ghé thăm nhà, uống trà nói chuyện cho vui. Nể tình, hắn theo họ về nhà. Đó là một căn apartment, chẳng giàu sang gì, nhưng cách bài trí, sắp xếp trong nhà ra người phong nhã, trí thức. Lúc ngồi ở phòng khách, cô gái của ông bà bưng trà ra mời khách. Hắn không dám nhìn sợ bất nhã, nhưng thoáng thấy, hắn nhận ra ngay cô bé ngày xưa và cô vẫn đẹp, còn đậm đà, chửng chạc hơn trước. Thực ra hắn biết thân phận mình nên dửng dưng. Sáng hôm đó, ông bà nghe hắn kể lại những nhận xét, cảm tưởng của hắn lúc ông ta làm tỉnh trưởng, họ cười như chưa bao giờ vui đến thế. Dĩ nhiên hắn chẳng dại gì nhắc đến chuyện hắn tán tỉnh cô con gái của ông bà, coi nham nhở quá, vả lại cô ta mà nghe được, ghét hắn ra mặt thì chẳng vui gì. Những lần sau đó, ông bà có gọi điện thoại mời hắn đến uống trà trò chuyện. Hắn không thích lắm nhưng có cô gái ra mời khách, nghe mấy tiếng “Mời chú ạ!” ngọt như đường, hắn đâm ra mong được nghe cô mời trà để ngắm hai bàn tay búp măng, trắng tinh, dịu dàng.

Một lần nhân chủ nhà vô ý, hắn nhìn quanh tìm cô ta thì y như rằng, cô đăm đăm nhìn lại và tặng hắn một nụ cười. Hắn chới với, ngất ngây như say rượu. Một nụ cười đẹp hơn tất cả các nụ cười trên thế gian. Cả tuần lễ sau, hình ảnh người đẹp cứ ở mãi trong đầu hắn. Nhưng hắn đã lớn, lại ở tù ra nên chín chắn chuyện đời chứ không bộp chộp như mấy cậu thanh niên. Giá như hắn tốt nghiệp đại học Mỹ, có job thơm, hắn đã đường hoàng nhào vô một cách tự tin. Về ngoại giao thì hắn đã có chút cảm tình của ông bà rồi, đối với cô ta, nếu không mặc cảm hắn đâu có khù khờ, ú ớ như bây giờ. Thế nên tim hắn rung động nhưng đầu óc hắn tỉnh táo. Hắn dặn lòng “Yêu thì cứ yêu cho đời có chút hương vị, nhưng chớ dại mà biểu lộ cho người ta biết, chắc chắn bị từ chối, lại rước thêm cái xấu hổ vào thân. Nhớ nhé!”

Cho đến một buổi sáng, hắn nghe điện thoại reo.         

– Thưa chú, ba mạ cháu mời chú qua uống trà.

Các cô gái Huế mà pha giọng miền Nam nói chuyện thì nghe như chim hót, ngọt ngào, ngây thơ không thể tả. Hắn giả giọng Huế hỏi lại.

– Chớ ba mạ cháu ở mô rứa? 

 – Dạ, ở nhà.

– Còn cháu ở mô?

– Dạ, cũng ở nhà.          

– Rứa là biết rồi hỉ. Cám ơn cháu, chú qua ngay bây chừ.

Hắn tự hỏi, tại sao ông bố không gọi mà để cô gái gọi hắn? Khi hắn đến, mọi việc vẫn như trước, người đẹp ra mời trà, rồi chuyện trên trời, dưới đất với ông bà. Khi giả từ, bà lại hỏi.

– Bà cụ có mạnh khỏe không?

– Dạ, cám ơn. Những người lớn tuổi không bịnh nầy thì bịnh kia. Hắn tố thêm một đòn về gia cảnh của hắn. – Tôi đi làm không đủ tiêu, bà cụ phải giữ trẻ cho người ta. Tôi thật xấu hổ, không nuôi nổi mẹ.                                                                                                                         

Tưởng ông bà sẽ dội ngược không ngờ lại hỏi địa chỉ và bảo sẽ đến thăm. Kể dài dòng chỉ thêm mất thì giờ. Đại khái họ đến thăm lúc hắn đi làm. Mẹ hắn chất phác nên gần như ông bà nắm vững gia phả và đời tư của hắn. Theo mẹ hắn kể, ông bà cứ suýt soa rằng hắn có hiếu, họ rất quí trọng những người con có hiếu. Ông bà cũng nói về gia đình họ, về cô con gái đã lớn mà không chịu lấy chồng. Cứ bảo sợ gặp người không tốt, bỏ cha mẹ già không ai săn sóc tội nghiệp. Mẹ hắn vừa kể vừa cười coi bộ hắn lọt mắt xanh của gia đình kia rồi. Hắn không nói gì, sợ mẹ buồn, nhưng hắn bắt đầu nghi ngờ về thái độ của họ. Họ có điên mới gợi ý gã cô con gái  xinh đẹp như hoa cho một thằng không ra gì như hắn. Còn cô ta, nếu bằng lòng thì thần kinh cũng không hơn gì bố mẹ.

Nhưng rõ ràng, họ đã lộ ý rồi. Hắn đánh cờ tướng loại khá. Vì không biết ý định của ông bà, nên một lần được mời đến uống trà, hắn đánh nước cờ cầu may bằng cách báo với họ ý định sẽ đi tiểu bang khác làm ăn, ở đây sống khó khăn quá (Hắn chuẩn bị đi thực). Xong hắn chờ đối phương đi nước cờ “tiếp chiến”.

 Hôm đó, chủ nhật đầu năm, cộng đồng Việt Nam có lệ chào quốc kỳ (Việt Nam Cộng Hòa) trước chợ Eden (tiểu bang Virginia) Tối thứ bảy, đi làm về, hắn được điện thoại của mẹ cô gái gọi.

– Sáng mai Tuấn có đi chào cờ ngoài Eden không?

– Dạ cháu cũng chưa có ý định, phải đưa bà cụ đi chợ, e trễ mất.

– Tuấn cố gắng đưa bác và em Mai ra Eden, sáng mai lúc chín rưỡi. Xe của em bị hư, còn ba nó phải ra sớm, chuẩn bị trước cho buổi lễ.                                                            

– Dạ, cháu sẽ cố gắng đưa bác và cô Mai ra đúng giờ.

Nước cờ đến đây đã rõ mục đích. Họ đẩy cây xe ngon lành (cô gái) đến trước miệng con chốt (là hắn), nhưng nguyên nhân vẫn còn trong vòng bí mật. Ông bố đã lùi một bước để bà mẹ đứng ra đạo diễn, rủi thất bại cũng giữ được tướng an toàn.

Sáng đó, thấy hắn ăn mặc tươm tất, mẹ hắn lại cười. Đàn bà nhạy cảm chuyện nầy lắm, huống gì đó là một bà mẹ. Bà biết hắn đã yêu cô gái. Chính hắn cũng không hiểu mình yêu cô ta từ lúc nào. Tình yêu không đến trực tiếp từ cô gái mà đi vòng từ bố mẹ cô ta. Hắn không cần biết nguyên nhân, nhưng sự sắp xếp của họ khiến hắn cảm động và hắn tin chắc rằng sự sốt sắng đó đã được thúc đẩy từ cô gái cưng của họ. Nhưng hắn với cô ta đâu có tình ý gì với nhau bao giờ?

Đến nơi hắn để hai mẹ con vào đứng với đồng bào. Hắn thối thác chào quốc kỳ. Khi mới đặt chân lên đất Mỹ, lần đầu thấy lại lá cờ vàng ba sọc đỏ, hắn đứng khóc ngon lành như một đứa trẻ. Ngày Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, hắn cũng khóc cả buổi mà không hiểu sao lòng mình tan nát đến như vậy. Thời đi học, mỗi đầu tuần đến trường, hắn đã chào cờ, hát quốc ca… Tình yêu nước đến lặng lẽ trong tim hắn theo thời gian như tình yêu thương mẹ, khi mất nước, mất mẹ mới thấy mình bơ vơ. Kẻ mất nước như người mất hồn, như người thất tình. Thế nên hắn sợ mọi người thấy hắn ứa nước mắt khi hát quốc ca. Một lý do nữa là hắn nghĩ. Đứng cạnh cô thì thích quá rồi, nhưng rủi cô xích ra xa hoặc bỏ đi chỗ khác thì có nước độn thổ mới hết nhục. Ông bà có tử tế với hắn nhưng chuyện cô yêu hắn là viễn vông, vô căn cứ.

Cho nên khi nghe hắn bảo sợ bị xúc động khi chào cờ phải đi tránh chỗ khác, bà mẹ thông cảm nhưng cô gái xụ mặt lại. Thấy cô như giận, hắn mừng trong bụng, muốn đổi ý nhưng đã lỡ rồi nên đành vào một tiệm sách tìm đọc vớ vẩn gì đó nhưng hồn vía để cả vào người đẹp ngoài kia. Nghe chào cờ xong, hắn đi ra, định lò dò theo trò chuyện với cô gái nhưng mẹ cô lại nhờ hắn đưa bà về sớm, còn cô gái thì ở lại với bố. Hắn đành vâng lời. Về đến nhà, bà mẹ lại bảo hắn vô nhà nhờ chút chuyện. Hắn lại vâng lời. Hắn ngồi ở phòng khách. Chẳng cần rào đón, sau khi hỏi hắn sẽ đi tiểu bang nào, ngày nào đi? Đột nhiên bà vào thẳng vấn đề. Bà nói về cô con gái hiếu thảo của bà vất vả, tần tảo để thăm nuôi bố trong tù. Qua xứ Mỹ, nói gì cô cũng không chịu lấy chồng, sợ bỏ cha mẹ già không ai săn sóc. Cô ra điều kiện chỉ lấy người có hiếu với cha mẹ thôi. Nay thấy hắn thương mẹ, cô tỏ ý vâng lời. Hắn nghe mà tưởng mình nằm mơ. Đời nay mà có cha mẹ hạ mình năn nỉ gã con gái xinh đẹp, nết na cho một thằng chẳng ra gì như hắn! ? Hắn biết ông bà sốt ruột thật vì cô gái đã lớn mà cứ ở vậy, nhưng lý do chữ hiếu hình như là cái cớ thôi, chứ nguyên nhân nội vụ thì chưa rõ. Thế nên hắn xin phép bà được gặp riêng cô Mai để nói chuyện thông cảm nhau trước khi hắn nhận ân sủng đó. Bà mẹ chịu liền.

 Thế rồi một buổi chiều, hắn đến gõ cửa, cô ra mở cửa. Cô chào hắn mà không cười, vẻ mặt nghiêm trang, nhưng hắn nhận được từ đôi mắt cô những tia nhìn như reo vui.

– Chào chú ạ!

– Chú đến thăm Mai.                                                           

– Dạ, mời chú vào.                                                                                          

Cô lùi lại, hắn bước vào, cô gần như đứng sát bên hắn. Cô mặc một bộ đồ lụa trắng, hơi rộng nên trông thước tha. Mặt cô bầu bỉnh, có đánh chút phấn hồng, mắt đen nhánh. Vì cô thấp hơn hắn nên khi cô ngước nhìn, đôi mắt cô đẹp hết sức, vừa long lanh vừa như ngạc nhiên điều gì. 

– Có ông bà cụ ở nhà không?

– Dạ không. Mời chú ngồi.  

 Cô ngồi đối diện. Cô rót trà rồi mở hộp bánh ra.

 – Mời chú!

 Hắn cầm tách trà lên nhấm nháp rồi làm bộ suýt soa như bị nóng lắm. Bấy giờ cô mới cười.

– Trà còn nóng, cháu vừa mới pha.

Hắn cầm tách trà nửa chừng và nhìn cô. Cô cúi mặt xuống. Chúa ơi!  Cô đẹp thế kia, trong trắng thế kia sao lại chịu đi bên cạnh cuộc đời bầm dập của hắn được? Thật khó tin!

– Mai biết vì sao chú đến thăm Mai không?

– Dạ không.

– Thế mạ có nói chuyện nầy với Mai không?

– Dạ có.

Không khí như căng thẳng, hắn phải sửa giọng nhẹ nhàng hơn.

– Chú xin lỗi đã làm Mai bối rối. Bây giờ chú đề nghị thế nầy, mình kể chuyện linh tinh gì đó cho vui.

– Dạ

– Trước hết chú kể chuyện của chú cho Mai nghe. Chú học hành chánh, ra trường làm phó quận được hơn một năm thì đi tù sáu năm. Ra tù chú làm đủ nghề đạp xích lô, bán vé số… Qua đây chú đi làm trong tiệm McDonald. Kể ra thời đi học có vui chút đỉnh, đi làm cũng vui nhưng sau đó chán ngấy, hết đi tù thì làm những nghề mạt hạng, qua Mỹ, cũng chẳng khá hơn. (Hắn rào đón trước) Một mình, kiếm sống còn vất vả, họa chăng có cô nào điên mới chấp nhận sống với chú.  

– Cháu thấy, ở đây, có nhiều cặp vợ chồng cũng lao động chân tay mà vẫn sống đầy đủ, hạnh phúc.    

– Mai nói vậy, sao Mai vẫn sống độc thân?

 – Sau năm bảy lăm (1975), cháu chưa đến tuổi trưởng thành thì bị họa mất nước. Tảo tần vì đời sống, lo thăm nuôi ba trong tù hơn chục năm, tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện yêu đương. Qua Mỹ, vì cuộc sống, cháu cũng phải đi làm. Sáng đi, chiều về, chẳng có thì giờ tiếp xúc với ai mà nói chuyện lập gia đình.                                                                                            

Rồi cô lắc đầu, trầm ngâm.

– Thực ra, lòng cháu đã nguội lạnh từ lâu rồi, chẳng có ai làm cháu xao xuyến.

– Chú đoán. Hoặc Mai đang mang một mối tình câm, hoặc đã bị phụ tình. Đúng không?               

Cô ngước nhìn hắn vẻ bí mật. 

– Cháu bị cả hai, nhưng không bị phụ tình. Bị người ta “vô tình” thì đúng hơn. 

Hắn làm bộ bất mãn.

– Tay vô tình nầy thật đáng trách, và cũng đáng tiếc nữa. Mai có thể cho cho chú tên người đó không?            

Cô nhìn hắn, buồn buồn.

 – Cháu đã gọi đó là “người vô tình” rồi mà!

– Vẻ buồn rầu của Mai làm chú nhớ lại ánh mắt của một cô bạn nhỏ ngày xưa, cũng nhìn chú lưu luyến khi chú từ giả cô ta để ra về. Chuyện đã lâu. Nay thì cô ta đã quên chú rồi!                     

Thấy buổi trò chuyện kéo dài mà không đi đến đâu, hắn quyết định từ giả.                    

– Chú đến thăm Mai, có lẽ là lần cuối. Ít hôm nữa, chú sẽ đi sang tiểu bang khác.          

Cô nhìn hắn, vừa ngạc nhiên vừa tức giận.

– Vậy chứ mạ cháu dặn chú đến gặp cháu vì chuyện gì? 

Hắn bối rối.

– Mạ Mai bảo chú đến gặp Mai để biết rõ tình cảm của Mai đối với chú? Nhưng thấy Mai chuyện trò, tâm sự với chú như với người bạn nên chú không dám hỏi. Điều chú phân vân vì sao Mai để ý đến chú, có cảm tình với chú? Trẻ và đẹp như Mai, biết bao người xứng đáng với Mai. Sao Mai lại chọn chú? Vì không rõ lý do, nên chú không dám nhận những cảm tình của Mai ban cho chú.

– Cháu đã nói từ lúc nãy đến giờ mà chú vẫn không hiểu cháu. Cháu đã nói. Từ nhỏ đến lớn, cháu chỉ yêu một người thôi. Nếu không có vụ mất nước, cháu và người ấy đã nên vợ chồng từ lâu rồi. Đâu đến nỗi gần như suốt đời cháu phải đi khắp nơi tìm người ta. Nước Mỹ mênh mông..      

Rồi cô úp mặt vào hai bàn tay khóc nức nở, đôi vai rung lên…Hắn ngồi chết sững.      

– Cho chú xin lỗi Mai. Thú thật. Đời chú quá vất vả. Chú không còn tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện tình cảm với ai. Tình yêu của Mai dành cho chú thật kỳ lạ. Giống như là một chuyện cổ tích.                                                          Cô lau nước mắt.

– Cổ tích sao được. Chú chờ cháu. 

Cô đứng lên, vào phòng một lúc rồi đi ra, tay cầm một tấm hình, trao cho hắn.            

– Chú xem đi!  Hình ai trong đó?

Hắn ngạc nhiên kêu lên.

– Ôi. Hình chú đây mà!

Đó là tấm hình hắn đứng vênh mặt trước trường Hành Chánh hôm tốt nghiệp. Sau tấm hình là câu (thề non hẹn biển) “Anh hứa yêu em suốt một đời”                                 

Cô hằn học.                  

– Chú chú, cháu cháu!  Bộ xưng “anh” sợ bị lính bắt hay sao?

Hôm đám cưới, vợ chồng hắn phải đi từng bàn tiệc chào mừng, cám ơn quan khách, bà con, bạn bè. Mỗi nơi cô dâu chú rể phải uống với khách một ly rượu nhỏ. Vợ hắn chỉ thấm môi nên hắn phải uống hết. Nhiều ly nhỏ thành ly cối. Hắn không biết uống rượu nên say mềm. Bố vợ hắn cũng say. Ông say vì vui nên nói hơi nhiều. Khi khách khứa đã về cả rồi, ông đến bên cạnh, vỗ vai hắn lè nhè.

– Cụ mi rứa là tốt phước. Không có ai chung tình như con bé Mai của moa. Cụ mi biết không? Hắn hành vợ chồng moa đi tìm cụ mi chết xác luôn. Bốn năm đi bốn nơi. Nam Cali tìm cụ mi, Bắc Cali tìm cụ mi, xuống Texas tìm cụ mi, qua đây tìm cụ mi. Chỗ mô moi cũng phải dẫn hắn tham gia cộng đồng, các buổi hội họp để tìm cho ra cụ mi. Hắn nói moa có hứa với cụ mi rồi thì phải tìm cụ mi cho hắn. Nhưng moa có nhớ hứa hẹn gì, khi mô đâu? Mà vợ chồng moa đâu biết cụ mi là ai, mặt mũi ra răng. Tấm hình cụ mi chụp tặng hắn, đã mấy chục năm, có ai trẻ mãi không già? Rứa mới chết chớ!  Rứa là gặp đứa mô cỡ tuổi cụ mi cũng rước về nhà cho hắn nhận diện. Cũng may!  Hắn còn đòi đi Canada và Úc tìm cụ mi nữa đó. Mà moa nói có ai đi HO qua đó đâu?!

..            

Đáng lẽ, chuyện tôi kể còn dài, nhưng phải tạm ngưng ở đây, vì tôi nghe vợ tôi nôn ọe, ói mữa gì trong phòng tắm. Trăng mật cho cố, bây giờ ói mật xanh, mật vàng!  Tôi phải vào với cô ấy, xem sao?

Nguyễn Bắc Sơn

baotreonline.com

Sao Khuê

April 22nd, 2026

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn tên thật là Nguyễn văn Hải. Sinh tại Phan Thiết vào tháng 5 năm 1944

Qua đời ngày 4 tháng 8 năm 2015

Tác Phẩm: Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi (1972), Ở Đời Như Một Nhà Thơ Đông Phương (1996)

Nguyễn Bắc Sơn nổi tiếng trước hết là một giọng thơ phản chiến đặc sắc của thời đại. Tuy nhiên thái độ được gọi là phản chiến của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn không hằn học, phẫn uất và không mang ý hướng chính trị nào. Thơ ông đồng thời cũng bộc lộ cái bất xá của một tên đãng tử bụi đời với cách ứng xử tiêu xái ngay cả trong tình yêu. Và hơn nữa, nó còn thể hiện niềm ẩn mật với một chút thiền vị mà công chúng theo thời thượng lúc đó hân thưởng. Sau đây là một vài bài thơ đặc sắc của NBSơn.  SAO KHUÊ    

Đứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn

Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm

Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm

Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ

Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ

Đã nhìn mình rất ấm một ngày xưa

Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa

Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó

Vì đêm nay tôi thèm nghe sóng vỗ

Vỗ nhịp nhàng từng tiếng động bao dung

Vỗ cho êm chuỗi hệ lụy vô cùng

Đời lang bạt của một người lính thú

Sáng hôm qua tôi là người thiếp ngủ

Đi một mình lên xuống phố mù sương

Phố núi kia ơi, phố có con đường

Lên xuống dốc tìm không ra bạn hữu

Không có bạn tôi làm sao uống rượu

Tôi làm sao sống nổi một ngày đây

Phố núi kia ơi, kẻ lạ đông đầy

Nhìn gã lính không khác gì gã lính

Phố núi kia ơi, một đời phố lạnh

Lạnh hoa vàng, núi đỏ, thác đèo cao

Lạnh hàng cây, tửu quán, lạnh gần nhau

Lạnh thiên cổ, lạnh vào tim máu cạn

Tôi vận rủi làm một người lãng đãng

Ngó mông hoài khuất bóng của người em

Sáng hôm nay đời sống thật bình yên

Sao phố lại đuổi đi người yểu điệu

Vườn đá tảng bàn chân em huyền diệu

In gót hồng lên lớp bụi đời tôi

Là từ khi tôi hạnh phúc rong chơi

Và quên lãng con thú mù phẫn nộ

Ôi phố núi đêm nay là cổ mộ

Một hàng đèn sáng lạnh cõi bi hoang.

Lòng suối cạn phơi một bầy đá cuội

Rừng giáp rừng gió thổi cỏ lông măng

Đoàn quân anh đi những bóng cọp vằn

Gân mắt đỏ lạnh như tiền sắc mặt

Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất

Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi

Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời

Hãy tưởng tượng mình đang đi pic-nic

Kẻ thù ta ơi các ngài du kích

Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo

Hãy tránh xa ra ta xin xí điều

Lúc này đây ta không thèm đánh giặc

Thèm uống chai bia, thèm châm điếu thuốc

Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh

Kẻ thù ta ơi những đứa xăm mình

Ăn muối đá và điên say chiến đấu

Ta vốn hiền khô ta là lính cậu

Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo

Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo

Xem chiến cuộc như tai trời ách nước

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước

Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi

Chiến tranh nầy cũng chỉ một trò chơi

Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí

Lũ chúng ta sống một đời vô vị

Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau

Chọn trời đêm làm nơi đốt hỏa châu

Những cột khói giả rồng thiêng uốn khúc

Mượn bom đạn chơi trò pháo tết

Và máu xương làm phân bón rừng hoang.

Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc

Vô tình ngang một quán cà-phê

Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn

Mải mê tán dóc chẳng cho về.

Về đâu, đâu cũng là đâu đó

Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ

Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ

Ba nghìn thế giới cũng chưa to.

Tháng giêng ngồi quán quán thu phong

Gió Nhạn Môn quan thổi chạnh lòng

Chuyện cũ nghe đau hồn tứ xứ

Thương Kiều Phong, nhớ tiếc Kiều Phong.

Bày ra một ván cờ thiên cổ

Thua trận nhà ngươi cứ trả tiền

Mẹ nó, tiền ta đi hớt tóc

Gặp ngày xúi quẩy thua như điên.

Tóc ơi ngươi cứ tha hồ mọc

Xanh tốt như mùa xuân thảo nguyên

Từ Hải nhờ râu nên mới quạo

Thua cờ tớ bỗng đẹp trai thêm.

Lạng quạng ra bờ sông ngó nước

Trên trời dưới đất gặp ông câu

Ta câu con đú, ngươi câu đẻn

Chung một tâm hồn tất gặp nhau.

Khi gã Yêu Ly đâm Khánh Kỵ

Là đâm chảy máu trái tim mình

Sông Mường Mán không dung hào kiệt

Muôn đời bóng núi đứng chênh vênh.

Tháng giêng có kẻ đi tìm cúc

Nhưng cõi đời không có Cúc Hoa

Thấy đám phù bình trên mặt nước

Biết mình đi lộn nẻo bao la.

Những khuôn mặt những người xuân nữ

Phiêu bồng vĩnh cửu lẫn phù du

Yêu rất khó vô tình cũng khó

Khánh đa tình sợ nhất mùa thu.

Ghé thăm ông bạn trồng cây thuốc

Mời nhau một chén rượu trường sinh

Bát cơm tân khổ mười năm ấy

Câu chuyện năm năm khiến giật mình.

Nằm dưới gốc cây nhìn cánh hạc

Dường như mặt đất tiết mùi hương

Ngủ thẳng một lèo nay mới dậy

Dường như mình cũng mộng hoàng lương.

Dường như đứa trẻ nghìn năm trước

Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta

Khi về râu tóc còn nguyên vẹn

Một ngày loáng thoáng một ngày qua.

Lao vào biển lửa

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on April 27, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

Cuộc giải cứu táo bạo Trung úy Jim Lloyd tại Bắc Việt.

Ngày 6 tháng 8 năm 1972, ngoài khơi Vịnh Bắc Việt, một câu chuyện mà nhiều năm sau vẫn còn khiến giới quân sử nhắc lại đã xảy ra. Đó là cuộc giải cứu Trung úy phi công Jim Lloyd, bị bắn hạ trên đất Bắc. Cuộc giải cứu này không chỉ mang dấu ấn của lòng can đảm mà còn gắn liền với cái tên đã trở thành huyền thoại trong Hải quân Mỹ: “Big Mother” – biệt danh thân thương mà lính Mỹ đặt cho những chiếc trực thăng cứu nạn Sea King.

Big Mother “Người Mẹ Lớn” giữa biển trời lửa đạn

Trong cuộc chiến Việt Nam, Hải quân Hoa Kỳ không chỉ có những hàng không mẫu hạm khổng lồ, oanh tạc cơ dội bom hay dàn chiến hạm hùng hậu. Âm thầm mà quyết liệt, còn có một lực lượng đặc biệt: HC-7 Sea Devils, phi đoàn cứu hộ, với nhiệm vụ sinh tử là đưa những phi công bị bắn hạ thoát khỏi vòng vây kẻ thù. Chính trong phi đoàn ấy, các trực thăng SH-3 Sea King mang biệt hiệu “Big Mother” đã đi vào lịch sử.

Tên “Big Mother” nghe vừa tình cảm vừa cay nghiệt. Lính Mỹ hay đùa: “Ra trận, Big Mother là bà mẹ nghiêm khắc; cứu mạng, Big Mother lại thành bà mẹ hiền.” Những chuyến bay cứu nạn thường diễn ra trong điều kiện ngặt nghèo: bay thấp để tránh radar, lao vào vùng trời đầy hỏa lực phòng không, chỉ để đưa một phi công duy nhất trở về. Nói không ngoa, mỗi phi vụ SAR (Search and Rescue) là một canh bạc. Thống kê lạnh lùng: trung bình, cứ hai phi công được cứu ở miền Bắc, lại có một chiếc trực thăng bị bắn rơi, và ít nhất một trong bốn thành viên phi đoàn hy sinh.

Ấy vậy mà, bất chấp hiểm nguy, Big Mother vẫn cất cánh. Bởi trong văn hóa quân chủng Hải quân Mỹ, có một lời thề bất thành văn: “Không ai bị bỏ rơi.” Đêm định mệnh 6–7 tháng 8, 1972.

Chiếc Big Mother 60 hôm ấy đã trải qua một ngày dài. Hơn sáu tiếng đồng hồ chuyển công văn, phụ tùng cho hạm đội, rồi còn bay yểm trợ cho phi vụ Không quân đánh phá miền Bắc. Ai cũng rã rời, tưởng được nghỉ ngơi, nào ngờ đúng 10 giờ 20 tối, còi SAR hú vang. Trực thăng lại cất cánh.

Trực thăng SH-3 Sea King mang biệt hiệu “Big Mother”   

Trên buồng lái: Trung úy Harry Jack Zinser, chỉ huy; Trung úy William “Bill” David Young, phi công phụ. Ở khoang sau: Hạ sĩ Douglas G. Ankney – cơ khí viên từng cứu bốn phi công thành công trước đó, và binh nhì Matthew Szymanski – xạ thủ M-60, gốc Seawolves, lỳ lợm như đá. Họ biết rất rõ: lần này, người cần cứu là Trung úy Jim Lloyd, bị bắn hạ trên đất Bắc.

1 giờ 55 rạng sáng 7 tháng 8, Big Mother 60 tiến vào nội địa. Hộ tống phía trên là hai chiếc Skyraider A-4. Trực thăng ôm sát triền núi, bay tốc độ 130 knots để né radar và hỏa tiễn SAM. Trong máy truyền tin, Lloyd liên tục báo vị trí. Quân Bắc Việt thì lập mưu thả pháo sáng, đèn nháy giả làm tín hiệu phi công bị nạn.

Zinser bật đèn pha soi ruộng, lập tức bị lộ. Một trận mưa đạn AK nổ rền. Cả trực thăng rung lên bần bật. Trong gần mười phút, tổ bay vừa quần đảo vừa tìm Lloyd. Rồi họ thấy anh: một bóng người chạy cắm đầu trên cánh đồng ngập nước.

Trực thăng không thể đáp hẳn xuống. Young giữ máy bay treo thấp. Ankney vươn người, tóm chặt cổ áo bay của Lloyd, kéo lên khoang. Cùng lúc ấy, Szymanski lia M-60, bắn trả như vãi đạn vào đội hình đối phương chỉ cách vài chục mét. Đạn xẹt qua thân tàu nghe chan chát, nhưng máy bay vẫn cầm cự.

Vừa kịp khép cửa, Zinser cho trực thăng quay đầu. Hai quả SAM xé trời lao qua, may thay trượt mục tiêu. Trên quãng đường hai mươi dặm ra khơi, cả bốn người gần như nín thở. Khi bánh tàu chạm boong hàng không mẫu hạm, tất cả mới biết mình đã thoát.

Lực lượng đặc biệt: HC-7 Sea Devils

Cứu một người – gánh cả sinh mạng bốn người

Trong suốt chiến tranh, không phải phi vụ SAR nào cũng thành công như vậy. Tổng cộng 321 phi công hải quân Mỹ bị bắn hạ gần duyên hải Bắc Việt. Chỉ 169 còn sống khi tiếp đất, và trong số đó, chỉ một phần sáu được cứu. Thế nên, việc Big Mother 60 cứu được Jim Lloyd không chỉ là kỳ tích, mà còn là bằng chứng cho lòng can đảm vô song.

Zinser và Young sau đó được trao tặng Navy Cross – huy chương cao quý chỉ đứng sau Medal of Honor. Ankney và Szymanski cũng được tưởng thưởng. Nhưng hơn mọi tấm huân chương, chính lời nói của Jim Lloyd mới đọng lại: “Thật không thể tin được những gì người ta sẵn sàng làm để cứu lấy một mạng sống. Tôi cảm phục tinh thần ‘một người vì mọi người, mọi người vì một’ của Hải quân.”

Trung tá Grady L. Jackson, chỉ huy toàn bộ chiến dịch đêm ấy, sau này kể lại: “Đó là một trong những chuyến giải cứu sâu nhất trong lòng địch. Nhiều người đã chấp nhận rủi ro để đưa Lloyd trở về. Đêm ấy, Hải quân Hoa Kỳ đã cho thế giới thấy: nếu anh em ta rơi xuống đất, thì cả hạm đội sẽ làm tất cả để không ai bị bỏ rơi.”

Trung tá Grady L. Jackson, chỉ huy toàn bộ chiến dịch đêm ấy

Big Mother di sản còn mãi

Nhìn rộng ra, Big Mother không chỉ là một loại trực thăng. Nó là biểu tượng của một giai đoạn chiến tranh khốc liệt, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Phi đoàn HC-7 đã thực hiện hơn 1.500 phi vụ SAR, cứu hàng trăm mạng người. Không ít chuyến đi không trở về, nhiều phi công, xạ thủ đã nằm lại giữa cánh đồng Bắc Việt, rừng Lào, hay biển Đông mịt mùng.

Ngày nay, khi nhắc đến Big Mother, người ta vẫn nhớ đến hình ảnh những cánh quạt quay mịt mù khói đạn, lao vào vùng trời đỏ lửa chỉ để mang một đồng đội trở về. Đó là “người mẹ lớn” giữa chiến tranh – nghiêm khắc, dữ dội, nhưng cũng chan chứa tình người.

Hình ảnh bốn người – Zinser, Young, Ankney, Szymanski – đứng cạnh nhau sau phi vụ ấy, không chỉ là một tấm hình. Nó là biểu tượng của tinh thần bất khuất, của đồng đội, và của niềm tin rằng, giữa biển lửa mịt mùng, vẫn còn có những bàn tay đưa nhau về với sự sống.

Trung úy Jim Lloyd và 4 người toán giải cứu – nguồn facebook

DXT

Anh Hai Chữ!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

Tranh Bảo Huân

Lần đầu gặp, ảnh tự nổ bùm bùm: “Tui là nhà văn Hai Chữ”. Tui nghe ba xí, ba tú tưởng là nhà văn ‘Hay Chữ”.

Thấy tướng thằng cha nầy phèn hết biết mà có vẻ phách, mặt câng câng thấy ghét, nên tui nói:  “Chữ Việt thiên la địa võng, tùm lum, tà la! Học cả mấy đời còn chưa biết chữ nào trúng, chữ nào trật, kể cả mấy ông nhà văn bán chữ mà ăn.

“Thi Bá” còn không dám vỗ ngực ta đây huống chi anh chỉ là ‘Hà Bá’? Anh viết làng nhàng vài bài! Ðược báo đăng (không trả tiền nhuận bút) mà mừng muốn chết. Rồi mua cả trăm tờ đem tặng tùm lum, nhứt là cho mấy em, để khoe. Tui hỏi thiệt nè: Anh có hay chữ thiệt hay không vậy cha nội?

Nghe tui nói xỏ, xài xể nặng nề như vậy mà anh ‘Hai Chữ’ không giận lẫy sẩy cùi gì hết ráo; mà còn dám xưng ‘qua’ với tui nữa chớ?

‘Giả’ cười khèn khẹt như Tôn Hành Giả đáp lại rằng: “Chị của chú, tức con vợ của ‘qua’ hồi chưa cưới, nó cũng cà nanh, cà chớn và cà chua như chú vậy.

Nó hỏi ‘qua’ vầy nè: “Thấy anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời: Nội Nam Kỳ lục tỉnh có mấy cây cầu, anh biết không?”

“Thấy em hỏi tức, anh đáp phứt cho thông. Nội Nam Kỳ lục tỉnh, có bảy cây cầu: Cầu Phú, cầu Quới, cầu Ninh, cầu Lợi, cầu Tiền. Cầu cho cha mẹ song tuyền. Cầu cho anh với bạn kết nguyền trăm năm!”

Em yêu ‘xí’ một cái dài thòng: “Hổng biết thì nói hổng biết mới là biết! Chạy vòng vòng né không hè! Người ta hỏi cầu là danh từ: chiếc cầu. Còn anh trả lời là: cầu danh, cầu tên tuổi, cầu lợi, cầu tiền, cầu cưới vợ đẹp như tui. Cầu đó là động từ nhe cha nội!”

Vậy mà dám vỗ ngực ta đây khoe ta là ‘Hay Chữ?” Làm như anh giỏi cỡ Cao Bá Quát (1809-1855). Dám khoe thế gian chỉ có 4 bồ chữ, anh chiếm hết 2 bồ?

Lúc đó, ‘qua’ từ tốn bằng bốn lần làm phách, cười khè khè: “Cô Hai bị bịnh tự kỷ văn chương rồi. Cứ nghĩ văn chương mình là hay, là giỏi không hè? Còn Cô Ba, Cô Tư, Cô Năm nữa mà chi?

(Thâm ý của ‘qua’ là hù nó: “Dê em không đặng thì con sáu, con bảy, con tám, con chín bờ đò (xin đừng nói lái) nữa mà chi? Ế chổng mông bây giờ! Ðừng có chảnh!)

Thực ra, tên của ‘qua’ là ‘Hai Chữ’. Chẳng qua, ‘qua’ là con đầu lòng nên thứ hai. Nhà có điền cò bay thẳng cánh; chó chạy cong đuôi miệt Bảy Ngàn, Kinh Xáng Xà No đó.

Tía là Cai tổng Ruộng, Ðồng Văn Ruộng. (Mặc dầu họ Ðồng nhưng nhà điền chủ không có lan can gì với tướng VC Ðồng Văn Cống đâu nhe bà con)

Hồi Má sanh ‘qua’ ra, Tía nói nhà mình giấy xăng bộ lư không thiếu; chỉ thiếu cái học, cái chữ. Con trai là phải lót chữ văn. Thôi đặt nó tên ‘Chữ’. Văn là phải có Chữ!

Ðể từ rày về sau tá điền đong lúa thiếu, đong lúa ăn non, lúa lép không dám nói lén sau lưng Cai tổng Ruộng giàu mà dốt. Tụi tá điền một chữ bẻ đôi nó cũng không biết mà dám lươn chê lịch, dám cười tui.

Gặp con mình, tá điền phải xá xá: “Bẩm Cậu Hai Chữ”.  ‘Hay Chữ’ thì nghe càng khoái.

Cự cãi như vậy nhưng cuối cùng em cũng ưng tui; vì Tía tui làm Cai tổng Ruộng mà. Em nói: “Ưng thằng ngu mà giàu dễ xài hơn là ưng thằng khôn nhưng chỉ có cái ‘đít không! Nghèo rớt mùng tơi (không có tới cái mùng rách) thì nói chi tới tiền. Mà không có tiền làm sao mà sống? Một túp lều tranh hai quả tim vàng? Hết gạo, hai trái tim vàng đem đi cầm được hông?

Riêng ‘qua’ trộm nghĩ thời nào cũng vậy: “Nghèo là ngu hè!”. Tui cự lại: “Ê! Nói vậy đụng chạm tới tui nhe!” Anh Hai Chữ cười khèn khẹt hỏi: “Vậy anh nghèo mà cái trí khôn anh cất ở đâu? Ðưa ra coi chơi!”

Bị chê nghèo vì ngu, tui tức quá hỏi đố Hai Chữ: “Anh biết phát minh lớn nhứt của nhân loại là gì không?”

Hai Chữ đáp: “Lửa”.  “Tầm bậy nè! Trước khi có lửa con người vẫn ăn thịt sống. Quan chức CS nhỏ lớn trong nước giờ tụi nó ăn thịt sống, báo đăng hà rầm, anh không biết hay sao? Thiệt là chậm tiêu quá!”

“Cái phát minh quan trọng nhứt của con người là chữ. Không có chữ, con người sẽ trở về thời mông muội, thời ăn lông ở lỗ. Con người sẽ ngu toàn tập! Phải hông nè?

o O o

Anh Hai Chữ phán rằng từ Hán Việt tam sao thất bổn thì cũng còn châm chế được đi. Ngay cả có vài chữ người địa phương khác xài, tui mà hiểu được chết liền.

Như hồi xưa trong Nam mình dùng chữ ‘chăm bẵm’ là chăm chú, không xao lãng. Chăm bẵm làm việc suốt ngày. Sau nầy mấy tay ‘Bake 75’ vào dùng chữ ‘chăm bẳm (hoặc chăm bẵm, hỏi ngã lung tung xèn) như: “Thằng bé được cả nhà ‘chăm bẳm’ thì lạ quá?”

Ðó là chuyện ngoài Miền Bắc, còn chuyện ở Miền Trung, ông Sơn Nam có thuật lại câu ru em là: “Ru em em théc cho muồi. Ðể Mẹ mua bánh chợ Truồi em ăn.”

Trái chuối chín quá xá chín thì gọi là chín muồi. Muồi còn có nghĩa là ‘muồi’ mẫn. Xuống vọng cổ ‘muồi’ tận mạng. Còn tình ‘muồi’ là tình hết biết trời trăng gì rồi!

(Dù Tía có đem em ra treo tại cột đình. Ðứt dây rớt xuống; thương mình em vẫn thương!)

Truồi tên một cái chợ, tên một vùng đất ở Thừa Thiên thì ai cũng đoán ra được. Còn ‘théc cho muồi’ là gì?

Một bà Huế, ở kế nhà ông Sơn Nam, giải thích: “Théc là khóc, đứa bé théc là khóc lớn tiếng. Sài Gòn, U Minh quen với khóc théc (?!)

Tuy là người Huế nhưng bà Huế nầy cắt nghĩa chữ ‘théc’ trật lất. Hổng lẽ ru em để em théc cho muồi, để em la làng chói lói hay sao chớ?

Hổng phải như vậy đâu! Từ điển Phương ngữ Huế cắt nghĩa ‘théc’ là ngủ. Như vậy ‘théc cho muồi’ là: “Cưng ơi cưng ngủ cho say. Mẹ đi chợ Truồi mua bánh về cho cưng ăn”. Thằng cu Tí nghe dụ khị bánh như vậy chắc miệng nó sẽ nhóp nhép rồi chìm vào cơn mộng đẹp!

Kết luận ‘théc’ không phải là khóc la lớn tiếng như thành ngữ ‘thét ra lửa’ của tướng Hòa Hảo Năm Lửa đâu nhe!

Nghe cha Hai Chữ biện giải tới đây tui đã ‘ngộ’ ra rồi. Nhưng tui cũng giống như một số bà con mình có bao giờ mở miệng ra khen ai bao giờ đâu nè (?!) Tui vẫn cố chấp giữ rịt cái quan điểm cà chớn của mình hỏi lại anh Hai Chữ là: “Phải vậy hông cha?”

Hèn chi cách đây không lâu, có một độc giả ký là “Em yêu” nhào vô “Facebook” phê tui vầy nè: “Tác giả rất cứng đầu! Dạy hổng bao giờ nghe” Té ra đây là lời phê của “con vợ tui” đó nhe! He he!

Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Chương 7

Họ đưa chúng tôi đến một trại tân binh xa hơn trước kia để tổ chức

lại. Đại đội chúng tòi cần bổ sung trên một trăm người. Đồng thời, những khi rảnh việc, chúng tôi đi la cà khắp. Hai ngày sau,  Himmelstoss lại tìm chúng tôi. Lão khòng còn hống hách như trước từ cái ngày ra chiến lũy về và muốn làm lành với chúng tôi. Tôi thì sẵn lòng, vì tôi thấy lão đã tận tuy đưa Haie Westhus về khi nó bị thương ở lưng. Vả lại lão cũng biết điều là khi chúng tôi bí địa lão có nhã ý mời chúng tôi nhậu nhẹt. Chỉ có Tjaden là còn dè dặt và nghi ngờ. Nhưng cả hắn nữa cũng bị chinh phục khi Himmelstoss bảo chúng tôi lão sắp thay thế lão trung sĩ hỏa đầu trong thời gian lão nầy đi phép. Đề chứng minh lão xuất trình ký đường tặng chúng tỏi và riêng tặng Tjaden hai lạng bơ. Lão còn cho chúng tôi ăn thực đơn sĩ quan nữa. Như thế là lúc này chúng tôi có hai cái mà thâng linh nào cũng cần để được thỏa mãn: ăn ngon và khoẻ xác. Nghĩ ra thì chả đáng là bao. Hai năm trước đây chúng tôi ghét cái bản thân mình thậm tệ. Nhưng giờ thì chúng tôi khá sung sướng. Chẳng qua là thói quen – ngay cả mặt trận.

Thói quen giải thích cho điều tại sao ta hình như chóng quên mọi sự. Mới hôm qua chúng tôi còn nằm dưới hỏa lực, hôm nay chúng tỏi đã nham nhở đi mò mẫm khắp vùng, mai chúng tôi lại ra chiến lũy. Thực sự chúng tôi không quên gì. Nhưng vì đã ở ngoài chiến trường lâu, các ngày ở chiến tuyến một khi đã qua chìm lỉm trong chúng tôi như một cục đá; đối vời chúng tôi chúng quá đáng ngại để chúng tôi có thể nghĩ ngay đến chúng. Nếu cứ nghĩ đến chúng, chúng tôi hẳn đã đi đời nhà ma từ khuya. Chả mấy lúc tôi tìm ra điều này:

-ngày nào mình còn cứ rúc đầu  nhắm mắt ngày đó mình vẫn còn chịu đựng được khủng khiếp;

-nhưng nếu cứ nghĩ đến nó là nó xơi tái mình ngay. Cũng như khi lâm trận chúng tôi trở thành những con thú, vì chỉ có thế chúng tôi mới còn sống sót, thì khi nghỉ xã hơi chúng tôi lại biến thành những thằng nghịch

ngợm la cà. Chúng tôi không thể làm khác, đó là một sự cần thiết. Chúng tôi muốn sống với bất cứ giá nào; nên chúng tôi không thể làm nặng mình với những cảm tình mặc dầu có thể là văn vẻ đẹp đẽ vào cái thời bình, nhưng ở đày thì quả hợm hỉnh. Kemmerich chết rồi, Haie Westhus dang hấp hối, vào Ngày Phán xét họ sẽ phải mệt với cái thân hình thằng Hans Kramer bị đạn rơi trúng ngay người nát bét như tương biết sao mà vá víu: Martens mất cha nó hai cẳng Meyer chết, Max chết, Bever chết. Hammerling chết. Một trăm hai chục thằng bị thương nằm rải rác đâu đó; nghĩ thật xót xa, nhưng giờ thì ăn nhằm gì đến chúng tôi, chúng tôi còn sống mà. Nếu chúng tôi có thể cứu được họ, thì người ta thấy chúng tỏi không quản ngại gì nhưng tôi sẵn lòng thử thách mặc dầu chính chúng tôi cũng đang bị thử thách; vì chúng tôi có thể lý tưởng hào hiệp khi chúng tôi thích; bảo sợ thì chúng tôi không biết sợ là bao nhưng khiếp cái chết thì có; nhưng đó lại là chuyện khác, là thuộc về thể xác.

Nhưng các bạn đồng đội chúng tôi đã chết, chúng tôi đã không giúp gì được họ, họ đã được an nghỉ và ai mà biết được những gì đang chờ đợi chúng tôi? Chúng tôi chỉ biết sao cho khỏe xác và ngủ và ăn đầy bụng được

chừng nào cứ ăn và uống và hút để đừng phí thời giờ. Đời ngắn mà.

Cái khủng khiếp của mặt trận chìm lỉm khi chúng tôi quay lưng lại nó: chúng tôi bông đùa sỗ sàng gớm ghiếc về nó; như thế để khỏi phát điên: ngày nào còn quan niệm nó như thế ngày đó chúng tôi còn duy trì được  kháng lực của mình. Nhưng chúng tôi không quên. Thật là láo toét khi trong những tin chiến trường họ ba

hoa về cái vui nhộn của lính tráng. Rằng vừa ra khỏi mặt trận là lo nhảy nhót. Chúng tôi làm thể chẳng phải vui nhộn: chúng tôi vui nhộn vì không vui nhộn chúng tôi không sống nổi. Nếu không thế chúng tôi lại không có sức chịu đựng; mỗi tâm trạng chúng tôi chua chát thêm.

Và điều này tôi biết: tất cả các cái này mà giờ đây, trong khi chúng tôi đang còn trong chiến tranh, chìm lỉm trong chúng tôi như một hòn đá, sau chiến tranh sẽ lại trồi lên, và rồi sẽ mở đầu gỡ rối giữa sống và chết.

Những ngày, những tuần, những năm ở ngoài này sẽ trở lại, và các bạn đồng đội đã chết của chúng tôi lúc đó sẽ lại đứng lên diễn hành với chúng tôi, tâm trí chúng tôi sẽ sángsuốt, chúng tôi sẽ có một chủ trương, và chúng tôi sẽ diễn hành như thế, các bạn đồng đội đã chết bên cạnh chúng tôi, những năm ngoài Mặt Trận sau lưng chúng tôi:

– để chống lại ai, đề chống lại ai đây?

Dạo trước ở nơi này có một hý viện quân đội. Các tấm quảng cáo màu của các buổi diễn còn dán trên một tấm bảng. Mắt thao láo. Kropp và tôi đứng trước bảng. Chúng tôi không thể tin rằng những thứ này lại còn có.

Một cô gái trong chiếc áo mỏng mùa hè với thắt lưng da láng bóng quanh hông. Nàng đứng một tay trên lan can một tay cầm chiếc mũ rơm. Nàng đi tất trắng giầy trắng, giầy đẹp có khoen cao gót. Sau nàng là một cái hồ mỉm cười với sóng bạc đầu, bên cạnh là một cái vùng sáng tươi. Nàng là một cô gái xinh xắn mũi dọc dừa, môi đỏ, đùi thon, hết sức sạch và rất trải chuốt, nàng chắc phải một ngày tắm hai lần và không bao giờ có đất dưới móng tay. Quá lắm thì cũng chơi vài hạt cát ngoài bãi. Cạnh nàng là một người đàn ông mặc quần trắng, áo xanh lơ, đội mũ thuyền trưởng; nhưng chúng tòi không mấy để ý đến gã. Đối với chúng tôi cô gái trên bức quảng cáo thật là một kỷ quan. Chúng tôi đã quên bẳng là còn có những của như thế và ngay lúc này chúng tôi mắt nhìn mà cũng còn ngờ ngợ. Đã mấy năm nay chúng tôi đâu được thấy có ai như thế, có ai mà lại sung sướng, kiều diễm và hớn hở đến như thế. Đó là thời bình, hẳn phải là thời bình; chúng tôi cảm thấy sảng khoái.

«Nhìn đôi giầy mong manh kia xem, đi giầy đó nàng đi bộ được bao lăm, » tôi nói và rồi bắt đầu cảm thấy ngớ ngẩn, vì không gì ngớ ngẩn bằng đứng trước tấm hình như thế mà lại chỉ nghĩ đến đi bộ.

«Nàng chừng bao nhiêu? » Kropp hỏi.

«Nhiều lắm băm hai là cùng, » tôi phỏng đoán.

«Thế là phải nhiều tuổi hơn bọn mình. Theo tao thì không quá mười bảy »

Chúng tôi nổi da gà.

«Phải thế thì hay quá nhỉ, Albert, mày nghĩ sao? »

Nó gật. «Ở nhà tao cũng có quần trắng. »

«Quần trắng, » tôi nói, «Nhưng một cô gái như thế. Chúng tôi liếc nhau. Ở đây còn có gì mà váy vớ – hai bộ binh phục rách mướp, nhọ nhem, bần thỉu. Không biết cạnh tranh làm sao cho được.

Thế là chúng tôi xuống tay xé nát anh chàng mặc quần trắng khỏi tấm bảng và cẩn thận không hại gì đến cô gái. Thế cũng là cạnh tranh rồi đấy chứ. 

«Dù sao thì mình cũng đi bắt rận đi. »Kropp đề nghị.

Tôi không hứng lắm, vì có sạch rận thì quần áo mình cũng chẳng đẹp gì hơn và chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ sau, có rận lại hoàn có rận. Nhưng khi ngắm lại bức hình, tôi đồng ý. Tôi còn đi xa hơn.

«Mình đào đâu được một chiếc sơ-mi sạch thì hay quá -»

«Cần lo tất thì hơn,» Alber nói, không phải không đúng.

«Ử, có lẽ phải xoay cả tất nữa, Thôi mình thử đi xem. »

Rồi là thấy Leer và Tjaden lảng vảng đến; chúng nhìn tấm quảng cáo và tức thì câu chuyện trở thành tục tĩu. Thằng Leer là thằng đầu tiên trong lớp chúng tôi đã nếm mùi gái, nên nó tả tỉ mỉ mê ly lắm. Nó tán thưởng tấm hình theo cáí lối của nó và Tjađen ủng hộ nó hết mình. Đúng ra chúng tôi cũng không bất bình gì. Đã là lính thắng nào không tục tĩu: chỉ có điều lúc này không hợp ý chúng tôi nên chúng tôi lảng đi đến trại diệt rận vởi cái cảm tưởng như đến một cửa hàng phuc sức các người sang trọng vậy.

Những ngỏi nhà chúng tôi trọ nằm gần kênh. Bên kia kênh có mấy cái ao bên bờ có bạch dương – bên kia kênh cũng lại có cả gái nữa.

Các nhà bên này đều bị bỏ hoang. Bên kia tuy thế thỉnh thoảng còn thấy bóng người. Chiều đến chúng tôi đi bơi. Có ba nàng lảng vảng bên bờ sông. Các nàng chầm chậm bước mà lại không chịu nhìn đi chỗ khác, mặc dầu chúng tôi đâu có mặc đồ tắm. Leer cất tiếng gọi. Các nàng cười và dừng lại nhìn chúng tôi. Chúng tôi nói ghẹo họ bằng tiếng Pháp bồi, nói nhăng nói cnội, nói vội nói vàng, nói lung tung, miễn sao giữ các nàng lai. Các nàng cũng chẳng mỹ miều gì, nhưng ở cái xó này đào đâu ra của quí?

Một nàng trông cũng mảnh mai, nhỏ nhắn, tóc nâu. Mỗi lần cười hàm răng trắng ởn. Lanh lẹn, chiếc váy lã lướt quanh đôi chân nàng. Mặc dầu nước lạnh chúng tôi rất phởn làm đủ trò để giữ các nàng lại. Chúng tôi bông đùa và họ nói lại những gì chúng tôi chẳng hiều gì cả; chúng tôi cười xòa ra hiệu. Tjaden ranh mãnh hơn. Nó chạy vào nhà, lấy một ổ bánh mì quân đội giơ lên. Cái mồi thật là nhậy. Các nàng gật và ra hiệu cho chúng tôi đến. Nhưng chúng tôi đâu dám. Có lệnh cấm không được sang bờ bên kia. Các cầu đều có lính canh. Không có giấy phép đâu sang được. Nên chúng tôi ra hiệu là các nàng phải sang bên này; nhưng các nàng lắc đầu chỉ cây cầu. Họ cũng không được phép qua. Các nàng quay đi chậm rải bước theo bờ kênh, nhưng vẫn không rời con đường mòn bên bờ. Chúng tôi bơi theo họ. Được vài trăm thước họ quay đi chỉ vào một ngôi nhà cách bờ kênh không bao xa, có cây cối xum xuê. Leer hỏi phải chăng các nàng ở đấy. Các nàng cười – đúng rồi, nhà họ.

Chúng tôi nói chúng tôi muốn đến chơi, khi nào mà lính canh không thấy. Đêm. Đêm nay. Các nàng giơ tay, áp vào nhau, đặt mặt lên và nhắm mắt lại. Họ hiểu. Nàng mảnh mai tóc nâu còn đi một điệu nhảy. Nàng tóc vàng líu lo: «Bánh mì – tốt tốt».

Chúng tôi nhanh nhẩu cam đoan sẽ mang bánh đến. Và những thứ khoái khẩu khác nữa, chúng tôi đảo mắt đưa tav cố giải thích. Leer ta gần uống nước khi toan chứng minh một cái xúc xích. Nếu cần chúng tôi dám hứa khiêng cả kho quân lương sang. Các nàng bỏ đi và chốc chốc lại quay lại nhìn. Chúng tôi leo lên bờ bên này kênh và nhìn xem phải chăng họ vào ngôi nhà kia vì họ dám nói láo lắm a. Đoạn chúng tôi bơi trở lại.

Không ai được qua cầu mà không có giấy phép, nên chỉ còn cách chờ tối đến là bơi qua. Chúng tôi háo hức chờ đợi. Nóng lòng quá chúng tòi phải lại quán làm ly bia và uống tí rum.

Vừa uống rum vừa phịa chuyện ra điều mình sành gái. Thằng này sẵn sàng tin chuyện thằng kia, háo hức chờ đợi phiên mình để phét hơn thằng bạn. Tay chân bồn chồn, chúng tôi hút thuốc liên miên, cho đến khi Kropp nói: «Ta mang cho các nàng ít thuốc hút chơi chứ hả». Thể là mỗi thằng dành ra ít điếu nhét dưới mũ.

Trời ngả màu táo xanh. Chúng tôi bốn thằng, nhưng chỉ có ba nàng; chúng tôi phải khai trừ thằng Tjaden bằng cách đổ rum cho nó say bí tỉ. Trời vừa buông tối là chúng tôi trở về nhà trọ dìu thằng Tjaden đi giữa. Chúng tôi phởn phơ nghĩ đến chuyện sắp tới mà nóng ran người. Nàng nhỏ nhắn tóc nâu là của tôi, chúng tôi lật bài thằng nào hơn điểm thì được nàng. Tjaden lăn xuống ổ rơm ngáy. Có lúc nó mở mắt nhe răng cười tinh quái khiến chúng tôi đã giật mình lo ngại và tưởng đâu nó vờ để xỏ chơi và chúng tôi đã tốn tiền đãi rượu nó khơi khơi. Nhưng rồi nó lại ngã xuống ngủ như chết. Chúng tôi mỗi thằng mang theo một ổ bánh to tướng gói giấy nhật trình. Thêm vào đó it thuốc lá, ba khẩu phần xúc xích gan vừa được phát chiều nay. Quà thế kể cũng đã hậu. Chúng tôi giấu kỹ;vào trong bốt; chúng tôi phải na theo e dẫm phải dây kẽm gai hay mảnh chai trên bờ bên kia, Vì phải bơi nên không mang theo quần áo gì khác. Nhưng cũng chẳng xa gì và trời lại tối như bưng.

Chúng tôi lên đi, tay cầm bốt. Chúng tôi nhẹ nhàng trườn xuống nước, bơi ngửa, đôi bốt đựng quà giơ trên đầu. Chúng tôi dọ dẫm leo lên bờ bên kia, lấy các gói ra và xỏ bốt vào. Chúng tôi kẹp các gói dưới nách. Và cứ thế, ướt như chuột lột trần như nhộng, có độc đôi bốt đi chân. Chúng tôi nhón chân rão bước. Chúng tôi lần ngay ra nhà. Nhà nằm dưới đám cây. Thắng Leer dẫm phải cái rễ trợt chân trầy cùi chỏ.

«Chả sao, » chàng ta phởn phơ nói.

Cửa số đóng. Chúng tôi lẻn đi quanh nhà cố nhìn qua các khe hở. Chúng tôi đâm nóng ruột. Bỗng Kropp do dự: «Lỡ có lão thiếu tá nào với các ả thì sao? »

« Thì đánh bài tầu mã.» Leer nhe răng,

« lão có giỏi thì ghi lấy quân số ở đày này» và vỗ vào đít.

Cửa sân mở. Tiếng bốt chúng tôi lộp cộp

Cánh cửa mở, một khe sáng rọi và có tiếng đàn bà thốt vẻ sợ sệt.

«Suyt! suỵt! bạn mà — bạn tốt» chúng tôi nói, và đưa các gói quà ra minh chứng.

Hai nàng kia giờ cũng đi ra, cửa mở rộng và ánh sáng tràn lên chúng tôi. Các nàng nhận ra chúng tôi và cười vang thấy chúng tôi như ba con nhộng. Các nàng vừa đi vào cười rủ rượi, múa may nhún nhảy.

Trông mới dẻo chứ!

«Chờ chút. Họ biến đi rồi ném cho chúng tôi vài thứ mặc đỡ và chúng tôi hân hoan khoác lên người. Đoạn chúng tôi bước vào. Một chiếc đèn nhỏ cháy trong phòng; phòng ấm cúng thoang thoảng mùi thơm. Chúng tôi mở gói và giơ quà tặng các nàng. Mắt các em sáng rở, rõ ràng là các em đói. Rồi là chúng tôi đâm ra ngượng nghịu. Leer ra hiệu bảo các em ăn, thế là các em lại sống động, đi lấy đĩa lấy dao và ăn ngon lành, giơ từng miếng xúc xích gan lên ngắm nghía trước khi ăn và chúng tôi hãnh diện ngồi ngắm.

Các em chuyện trò như pháo rang : -chúng tôi lõm bõm câu được câu chăng, nhưng chăm chú nghe, những tiếng nghe có chiều thân thiện. Chắc hẳn chúng tôi thằng nào trông cũng còn non choẹt. Tóc nâu mảnh mai vuốt tóc tôi và nói những cái mà tất cả phụ nữ Pháp đều nói:

«Chiến tranh – thật khổ, tội bọn trẻ»

Tỏi ôm chặt cánh tay nàng dí môi vào lòng bàn tay nàng. Các ngón tay nàng ôm lấy mặt tôi. Sát bên tôi là đôi mắt bỡ ngỡ của nàng, nước da nâu dịu đôi môi đỏ. Miệng nàng nói những lời tôi không hiểu. Tôi cũng chẳng hiểu rõ đôi mắt nàng; đôi mắt hình như nói nhiều hơn là chúng tôi tiên liệu khi thoạt đến. Còn có nhiều phòng bên. Đi ngang tôi thấy Leer đang say sưa với nàng tóc vàng. Và nó có vẻ sành sỏi lắm. Còn tôi, tôi hoang mang trong cô tịch, trong bạc nhược, trong một sự đắm đuối mà tôi phó mặc than mình một cách tin tưởng. Các dục vọng của tôi hỗn tạp dị kỷ, vừa là khao khát vừa là đau khổ. Tôi cảm thấy choáng váng, ở đây không còn có cái gì để mình còn vấu víu. Bốt để ở cửa ngoài, họ đưa dép cho chúng tôi và giờ đây chả còn cái gì để nhắc nhở cho tôi cái nghênh ngang tự tin của thắng lính tác chiến:

không súng, không dây lưng, không binh phục, không mũ. Tôi buông mình vào cái xa lạ, đến đâu thì đến – tuy nhiên, mặc dầu biết thế, tôi vẫn cảm thấy sờ sợ. Tóc nâu mảnh mai nhíu mày khi nàng suy tư; nhưng khi nàng nói lông mày bất động. Và lắm khi âm thanh không còn là một tiếng mà nghẹn ngào hoặc lướt trên tôi dang dở: một vòng cung, một đường mòn, một sao chổi. Tôi đã biết được gì – tôi biết được gì? – Những cái tiếng của cái ngôn ngữ xa lạ này, mà chẳng hiểu quái gì, chúng mơn trớn tôi và làm lòng mình lắng lai, căn phòng trở thành mờ ảo, tan trong cái nửa sáng và chỉ còn cái khuôn mặt trên tôi sống, là sáng. Không gì biến đổi bằng một khuôn mặt; mới trước đây một giờ nó còn xa lạ, thế mà giờ đây, nó đượm vẻ âu yếm chẳng phải phát ra từ nó, mà từ đêm tối, từ đời từ máu, tất cả đều như đồng sáng lên ở nó. Mọi vật trong phòng cũng được nó biến đổi, trở thành biệt lập và tôi cảm thấy gần như kinh hoàng khi thấy cái bàn tay nâu mát vuốt lên làn da trắng trẻo của mình dưới ánh đèn mờ ảo. Khung cảnh này mới khác hẳn khung cảnh các nhà thổ của lính làm sao chứ, nhưng nhà thổ mà chúng tôi được phép đến và đến đứng nối đuôi nhau chờ đến phiên mình. Tôi ước gì mình đừng bao giờ nghĩ lại, nhưng cái thèm muốn cứ vô tình lái tâm trí mình phải nhớ và tôi sợ, vì có lẽ không khi nào mình lại còn thoát khỏi được sự ám ảnh của chúng.

Nhưng rồi tôi cảm thấy đôi môi của tóc nâu mảnh mai và áp chặt môi mình, nhắm nghiền mắt lại và buông trôi hết, chiến tranh và kinh hoàng và thô lỗ, để trở lại trẻ trung sung sướng; tôi liên tưởng đến hình cô gái trên tấm quảng cáo và trong một lúc, tưởng đâu đời mình sống là để chiếm cho được nàng. Và nếu tôi chìm sâu vào đôi cánh tay đang ôm chặt mình, không chừng một phép lạ sẽ diễn ra …

Một lúc sau, chúng tôi lại quay quần. Leer phởn lắm. Chúng tôi xỏ bốt giã từ quyến luyến. Không khí ban đêm làm nguội thể xác nóng hồi của chúng tôi. Bóng các cây bạch dương lù lù trong tổi. Trăng lơ lửng trên trời, lơ lửng đưới nước con kênh. Chúng tôi không chạy, chúng tôi sải bước bên nhau.

«Đáng giá một khẩu phần chứ nhỉ, » Leer nói.

Tôi không hé môi, tôi cũng sướng lắm chứ. Đoạn chúng tôi nghe tiếng chân người vội lần sau lùm cây.

Tiếng chân lại gần, lại sát chúng tôi. Chúng tôi thấy một thằng lính cũng nhộng như chúng tôi: cũng một gói kẹp nách, cũng nhong nhong chay tới. Đúng là thẳng Tjaden tất ta tất tưởi. Nó đã biến mất. Chúng tôi cười xòa. Sáng mai thế nào nó cũng rủa. Chúng tôi lại trở về các ổ rơm của mình: chả ma nào thấy.

Tôi được gọi lên văn phòng. Ông đại đội trưởng cho tôi giấy phép, giấy đi đường và chúc tôi thượng lộ bình an. Tôi nhìn xem được phép bao lâu. Mười bảy ngày – mười bốn ngày phép và ba ngày đi đường. Thế không đủ, tôi xin năm ngày đi đường, Bertinck chỉ vào giấy. Tôi thấy mình không phải trở về để ra ngay mặt trận. Về phép phải đi trình diện tại một trại ở vùng đầm lầy để qua một lớp huấn luyện. Mấy thằng chúc mừng tôi. Kat nhắn tôi một điều, là nên cố làm sao xoay được một công tác ở căn cứ. «Khéo ra thì cứ đeo cho đến hết chiến tranh»

Tôi thích giá được ở lại đây tám ngày nữa hãy đi phép; chúng tôi còn ở được đây lâu hơn thế và ở đây đang sướng. Dĩ nhiên tôi phải đưa mấy thằng lại quán đãi một chầu. Chúng tôi thằng nào cũng ngà ngà say. Tôi cảm thấy buồn: mình sẽ vắng mặt sáu tuần – Đành rằng thế là may, nhưng liệu những gì sẽ xảy ra khi tôi trở lại? Liệu tôi sẽ gặp lại chúng nó không? Thằng Haie đi đoong rồi – và tới thằng nào đây?

Trong khi uống, tôi nhìn từng thằng một.  Albert ngồi bên tôi phi phà điếu thuốc, lặng thinh, hai thằng xưa nay vẫn cặp kè bên nhau; – trước mặt ngồi chồm hỗm là Kat, vai khòm khòm, ngón tay cái bự, giọng bình tĩnh – Muller răng vẫn cười như vỡ chợ; Tjaden với đôi mắt chuột ranh mãnh; – Leer để râu xồm xoàm trông như thể ít nhất cũng bốn mươi. Khói quyện đặc trên đầu chúng tôi. Lính mà không hút đâu có được? Quán rượu là nơi ẩn náu và bia đâu phải chỉ là rượu, mà là một phép mầu cho người ta duỗi cẳng duỗi tay được thoải mái an toàn. Chúng tôi trịnh trọng duỗi cẳng ra trước và nhổ đánh phẹt, chỉ có thế. Tất cả những cái ấy trồi dậy hẳn trước một thằng sáng mai phải lên đường.

Đêm đến chúng tôi lại sang bên kia kênh. Tôi ngại ngùng bảo tóc nâu nhỏ nhắn rằng tôi sắp đi và khi trở lại chúng tôi chắc phải từ biệt đi xa; chúng mình sẽ không còn bao giờ tái ngộ. Nhưng cô nàng chỉ gật không mấy quan tâm. Thoạt đầu tôi thắc mắc không sao hiểu nổi, rồi bỗng tôi chợt hiểu. Phải, Leer nói đúng; nếu mình phải ra mặt trận, cô nàng sẽ lại bảo mình «tội nghiệp thằng bé»; nhưng chỉ có đi phép – thì cô nàng đâu thèm nghe, có gì là hay ho. Thế mà cứ chỉ choé cái lỗ miệng nghe phát tởm. Mình mơ một phép lạ tỉnh giấc chỉ thấy ổ bánh mì. Sáng bôm san, đi tẩy rận rồi, tôi ra ga. Albert và Kat đi tiễn. Đến nơi họ bảo còn hai giờ nữa tàu mới chạy. Hai thằng phải về làm công tác. Chúng tôi giã từ nhau. «May mắn nghe, Kat; may mắn nghe, Albert.»

Họ đi, vẫy tay vài ba lần. Bóng họ nhỏ dần. Tôi biết từng bước một, từng cử động một của họ, xa mấy tỏi cũng nhận ra họ. Rồi là mất dạng. Tôi ngồi lên ba lô và đợi. Bỗng tôi nòn nao muốn đi ngay cho rảnh. Tôi nằm nhiều sân ga: đứng trước nhiều nhà bếp; ngồi trên nhiều ghế băng; – mãi rồi cảnh vật trở thành ảm đạm, bí mật và quen thuộc, Nó lướt qua các cánh cửa số hướng tây với các làng mạc, các mái rơm như những chiếc mũ đặt lên các ngôi nhà nửa gỗ quét vôi trắng, các đồng lúa, óng ánh như xà cừ dưới ánh nắng chênh chếch, các vườn quả, các vựa thóc và các cây chanh. Tên các ga bắt đầu mang ý nghĩa và tim tôi hồi hộp. Con tàu tách chạy, tôi đứng ở cửa số bám lấy khung cửa. Những cái tên này đánh dấu các ranh giới của thời thơ ấu của tôi. Các cánh đồng cỏ mềm mại, đồng lúa, nông trại; xa xa bóng một cặp ngựa cô đơn cử động trên con đường chạy song song với đường chân trời – một hàng rào, với những dân quê đứng chờ, các cô gái vẫy tay, các trẻ nít tung tăng đùa giỡn trên bờ đê, các nẻo đường đi sâu vào cảnh vật, những con đường êm ả không bóng trọng pháo. Chiều rồi và nếu con tàu không xình xịch chắc tôi phải khóc to. Cánh đồng trải mình thật rộng. Xa xa, bóng dáng xanh dịu của dẫy núi bắt đầu hiền hiện. Tôi nhận ra đường nét đặc thù của rặng Doldenberg, một cái lược gẫy, từ ven rừng nhảy chồm ra. Sau đó là thị trấn. Nhưng giờ đây ánh nắng trào qua cảnh vật, hoà tan mọi cái trong cái sáng đỏ vàng của mình, con tàu uốn mình theo một khúc quanh, rồi một khúc nữa: – xa xa, thành một bàng dài cây trước cây sau là rặng bạch dương, huyền ảo, lơ lửng và mờ tối, làm bằng bóng tối, ánh sáng và thèm khát. Cánh đồng xoay tròn khi con tầu bao quanh nó, và các khoảng cách giữa các cây thu hẹp: rặng cây trở thành một khối và thoáng một lúc tôi chỉ thấy một cây – rồi chúng lại hiện ra sau cây trước nhất, lại đứng thành hàng dài trên nền trời cho đến khi bị các ngôi nhà đầu tiên che khuất.

Một ngã tư. Tôi đứng ở cửa sổ, tôi không sao dứt mình đi được. Tụi kia lấy hành lý sẵn sàng xuống tàu. Tôi nhẩm lại tên con đường vừa chạy ngang – Mremerstrasse — Bremerstrasse –

Bên dười là người đi xe máy, xe vận tải, người và người, một con đường xám và một con đường hầm xám:

– nó ôm lấy tôi như thể là mẹ tôi. Rồi tàn dừng lại, và đây là nhà ga với tiếng ồn, tiếng kêu và lính gác. Tôi xách ba-lô cài đai lại, cầm lấy súng và lảo đảo bước xuống. Đứng trên sân tôi nhìn quanh; tôi chả quen một ai trong số những người tất tưởi đi đi lại lại. Một dì phước Hồng Thập Tự đưa tôi một ly gì mời uống. Tôi quay đi, dì ta nbìn tôi mỉm cười ngu xuần ra điều tự phụ;

«Này chú, ta mời chú lính uống cà phê»_Dì ta gọi tôi «Chiến hữu, » nhưng tôi cũng chẳng buồn uống. Bên ngoài trước ga giòng sông gầm gừ chảy dọc theo con đường phố, nó lao đi sủi bọt từ các thủy môn của con cầu nhà máy, Sừng sửng ở đấy là cái vọng lâu vuông cũ có mặt đồng hồ. Trước nó là cây chanh lớn lốm đốm và sau nó là trời chiều. Nơi đây chúng tôi thường ngồi-cách đây bao nhiêu nhỉ-chúng tôi từng đi qua cây cầu này từng thở cái mùi nước đọng man mát hang hắc: chúng tôi từng cúi nhìn cái mặt nước lặng lờ bên này thủy môn, nơi các cây leo và cỏ xanh bám lấy các cột chân cầu:- và những ngày nóng nực chúng tôi ngồi ngắm mặt nước sủi bọt ở bờ bên kia thủy môn và kể nhau nghe chuyện nầy chuyện nọ về mấy ông thầy dạy mình. Tôi đi qua cầu, nhìn trái: nước vẫn đầy rêu như bao giờ và vẫn tung tóe lên thành những vòng cung lóng lánh. Trong ngôi nhà vọng lâu các cô thợ giặt vẫn đứng cánh tay trần như thủa nọ trước các quần áo giặt sach và hơi nóng máy ủi vẫ  bốc qua các cửa sổ mở rộng. Mấy con chó tung tăng trên con đường hẹp, trước cửa nhà người ta đứng nhìn theo tôi đi qua, bẩn thỉu lách cách. Tại tiệm bánh này chúng tôi thường đến ăn kem và tập hút thuốc ở đây. Đi xuôi đường tôi nhận ra từng tiệm một, các nhà kho thuộc địa, tiệm thuốc, tiệm thuốc lá. Và sau hết tôi đứng trước một cái cửa nâu với then đã mòn và tay tôi nặng hẳn. Tôi mở cửa và một luồng hơi mát lạ lùng ùa ra đón tôi. Mắt tôi mờ lại. Cầu thang cọt kẹt dưới đôi bốt. Trên gác một cánh cửa lẹt kẹt, có người từ lan can nhìn xuống. Đó là cửa bếp, họ đang nướng bánh khoai, nhà sặc mùi bánh và hôm nay dĩ nhiên là chủ nhật; đó hẳn là chị tôi đang nhìn xuống. Trong một lúc tôi then thẹn cúi đầu, đoạn tôi bỏ mũ ngườc nhìn lên. Đúng, chị cả tôi.

«Paul, chị kêu lên, «Paul. – »

Tôi gật, ba-lô va vào thành cầu thang; cây súng nặng quá.

Chị mở một cánh cửa gọi: «Mẹ ả, mẹ à, Paul về rồi. »

Tòi không bước được nữa – Mẹ ơi, mẹ ơi, Paul đã về.

Tôi tựa người vào tường nắm lấy mũ lấy súng. Tòi nắm thật chặt, nhưng không sao bưởc lên được một bước, cầu thang trước mở hẳn, tôi chống báng súng áp vào chân tự đỡ mình và cắn răng thật chặt, nhưng tôi không nói được lên lời, tiếng kêu của chị tôi đã làm tôi kiệt lực, tôi không còn làm gì được. Tôi cố cười, cố nói, nhưng khỏng ra lời, tôi chỉ biết đứng đấy, đứng giữa cầu thang, khổ sở, bất lực, tê liệt, và bất chấp ý chí tôi nước mắt chảy giòng trèn má.

Chị tôi lại chạy ra bảo: «Sao, gì thế em? »

Tôi mới lấy lại bình tĩnh lảo đảo bước tiếp lên đầu cầu thang. Tôi tựa súng vào một xó, đặt ba-lô sát vào chân tường, đặt mũ lên ba-lô, vứt các trang cụ và hành lý xuống. Đoạn dõng dạc nói: «Cho tôi chiếc khăn mù soa. »

Chị mở tủ lấy một chiếc đưa tôi, tôi lau mặt, Trên đầu tôi trên tường vẫn còn treo cải hộp kính với những con bướm màu mà dạo nọ tôi sưu tầm. Giờ thì tôi nghe tiếng mẹ tôi. Từ trong phòng ngủ vọng ra.

«Mẹ ngủ? » tôi hỏi chị.

«Mẹ đau-» chị đáp.

Tôi vào, cầm tay mẹ và cố bình tĩnh nói:

«Mẹ, con về đây này. »

Bà nằm yên trong cái sáng lờ mờ. Đoạn bà bỏi giọng lo âu:

«Con có bị thương không? » và tôi cảm thấy cái nhìn soi bói của bà.

«Không, con về phép. »

Mẹ tôi xanh lắm. Tôi không dám thắp đèn.

«Thế mà giờ đây mẹ nằm, » bà nói, «nằm khóc thay vì là phải vui. »

«Mẹ đau sao mẹ? » tôi hỏi.

«Hòm nay cũng đã ngồi dậy được chút đỉnh, » bà nói quay lại chị tôi chốc chốc lại chạy sang bếp coi chừng bánh cháy: Rồi lấy bình mứt nham lê ra, con ưa ăn lắm phải không?» bà hỏi tôi.

«Thưa mẹ, vâng, đã lâu con không được ăn. »

«Chị biết thế nào cũng về, » chị tôi cười, «bánh khoai là thứ em thích mà, lại ăn với mứt nham lê còn phải nói.»

«Và hôm nay lại là ngày chủ nhật. » tôi nói thêm.

«Con ngồi đây, cạnh mẹ, » mẹ tôi nói. Bà nhìn tôi. Tay bà trắng xanh và gầy gò so với tay tôi. Hai mẹ con không nói gì nhiều: và cũng may bà không hỏi gì. Tôi biết nói sao? Những gì tôi có thể mong ước đã an toàn ra khỏi, và ngồi đây cạnh mẹ. Và trong bếp chị tôi đứng làm bánh tối, vừa làm vừa hát.

«Con tôi, » mẹ tôi se sẽ nói. Trong nhà tôi, chúng tôi không hay bộc lộ tình cảm; những người nghèo cặm cụi mải lo làm lo ăn không nghĩ đến chuyện vồn vã. Không quen bàn cãi những cái mình đã biết. Khi mẹ tôi nói «con tôi», chỉ có hai tiếng đó có ý nghĩa nhiều hơn là từ một bà mẹ nào khác nói ra. Tôi thừa biết là bình mứt nham lê là bình mứt duy nhất để dành hàng bao tháng nay và để dành cho tôi; và những chiếc bánh có phần đã cũ mà bà cũng cho tôi. Bà đã có dịp nào đó có được vài chiếc và đã cất đi cho tôi. Tôi ngồi bên giường, và ngoài cửa số mấy cây dẻ ngoài vườn bia đằng trước óng ánh nâu vàng. Tòi hít mạnh tự nhủ thầm: – «Mày ở nhà, mày ở nhà. » Nhưng một cảm giác bỡ ngỡ xa lạ cứ bảm lấy tôi, tôi không còn thấy gì là tôi ở các vật này. Kia là mẹ tôi, kia là chị tôi, kia là hộp kính đựng bướm và kia là cây đàn dương cầm gụ – nhưng chính tôi lại không ở đó. Giữa chúng tôi có một khoảng cách, một bức màn. Tổi đi lấy ba-lô mang lại cạnh giường và lục lọi các thức tôi đã mang về – cả một bánh phó-mát Edam mà Kat cho tôi, hai ổ bánh «Ừ, nhưng Heinrich Bredemeyer vừa đây lính, gần nửa kí bơ, hai hộp xúc xích gan, nửa kí nước sốt và một bao gạo nhỏ.

«Các thức này chắc nhà dùng chứ -“

Hai người gật.

«Ở nhà chắc khan thực phẩm? » tôi dọ.

«Ử, chả có gì. Ngoài ấy em có đủ không? »

Tôi mỉm cười trỏ các thức tôi mang về.

«Chả phải lúc nào cũng nhiều như thế, dĩ nhiên rồi, nhưng cũng phải chăng. »

Erna ra bưng thức ăn vào. Bỗng mẹ tôi nắm lấy tay tôi nghẹn ngào: «Paul, ngoài ấy khổ lắm phải không con?»

Mẹ ơi, con biết trả lời sao đây! Mẹ làm sao hiều nổi, bao giờ mẹ ý thức được nổi. Và mẹ cũng nên biết mà làm gì. Khổ lắm phải không, mẹ hỏi. – Mẹ. – Tôi lắc đầu nói:

« Không, Mẹ à, cũng chẳng khổ gì lắm. Lúc nào bạn bè cũng đông nên cũng chẳng khổ gì. »

«Ừ, nhưng Heinrich Bredemeyer vừa đây về phép nói ở ngoài ấy bây giờ khủng khiếp lắm, nào hơi ngạt, ôi đủ thứ. »

Đó là lời mẹ tôi nói. Bà nói: «Hơi ngạt, ôi đủ thứ.» Bà có biết gì những cái bà nói, bà chỉ lo cho tôi. Giá tôi mà lại kể bà nghe có lần chúng tôi thấy ba chiến hào địch với toàn thể binh sĩ đều chết cứng đơ như bị động kinh? Tựa vào bờ lũy, nằm trong nhà hầm, ở đâu ở đấy, người đứng kẻ nắm, mặt tím bầm, chết.

«Không, mẹ à, họ nói thế thôi. » tôi đáp,

«Bredemeyer chỉ được cái có một nói mười. Thì mẹ thấy đây này, con có hề hấn gì đâu.»

Trước nỗi lo âu rụt rè của mẹ tòi lấy lại được bình tĩnh. Giờ tôi có thể đi đứng trò chuyện đối đáp mà không sợ phải bỗng nhiên tựa vào tường vì thế giới trở thành mềm như cao su và gân cốt trở thành đá cứng.

Mẹ tôi muốn đứng dậy. Tôi xuống bếp tìm chị tôi. «Mẹ làm sao chị? » tôi hỏi.

Chị nhún vai: «Hai tháng nằm liệt giường, nhưng nhà không muốn viết thư cho em hay. Mời đã nhiều bác sĩ. Một ông bảo không chừng ung thư trở lại. »

Tôi đến Tổng trấn khu vực trình diện. Tôi chầm chậm đi qua các phố. Thỉnh thoảng có người hỏi chuyện tôi. Tôi không dừng lâu vì không thích trò chuyện. Từ trại về tôi nghe có tiếng gọi tôi. Đang mãi suy tư tôi quay lại thấy mình đứng trước một ông Thiếu tá, «Bộ chú mày không biết chào?» lão ta quát.

«Xin lổi thiếu tá,» tôi nói ngượng ngập,

«Em không thấy Thiếu tá. »

« Chú mày không biết ăn nói đàng hoàng? » lão lại quát.

Tôi chỉ muốn đấm vào mặt lão, nhưng dằn lòng, vì muốn được nghỉ phép thì phải liệu hồn. Tỏi nện gót đánh chát và nói: «Thưa Thiếu tá, em khỏng trông thấy Thiếu tá.»

« Vậy liệu mà mở mắt, » lão gằn giọng.

«Tên chú là gì? » Tôi nói tên.

Bộ mặt đỏ gay lợn ỉ của lão hùng hổ:

«Liên đoàn nào?

Tôi cho đầy đủ chi tiết. Tuy nhiên lão vẫn chưa cho là đủ. « Đóng ở đâu? »

Tôi bực mình quá đáp: « Giữa Langemark và Bixschoote. »

«Gi? lão hỏi, hơi sửng sốt. Tôi giải thích lão biết rằng tôi mới về pbép được một vài giờ, tưởng nghe xong thì lão xéo đi cho. Nhưng đâu có; Lão còn hung hổ thêm: «Chú mày tưởng chú mày có thể đưa cái ba gai ngoài mặt trận về đây chắc? Này, ở đây chúng tao không ưa cái thứ ấy đâu nhé. Phúc đức, ở đày còn có kỷ luật »

« Lùi hai chục bước, bước mau » lão hô.

Tôi điên lên được. Nhưng còn biết nói gì với lão: lão hứng lão có thể bắt giam tôi. Nên tôi lùi mau, đoạn tiến lên lão. Cách lão sáu bước tôi đứng nghiêm giơ tay chào và giơ như thế cho đến khi đi qua lão sáu bước.

Lão gọi tôi lại và lấy giọng nhân từ giảng giải cho tôi biểu rằng lần này lão đặt tình thương lên trước luật lệ. Tôi làm ra mặt tri ân sâu xa. «Giờ thì, tan» lão hô. Tôi quay mình đúng điệu và đi thẳng. Thế là cả buổi chiều mất vui. Tôi về nhà quăng binh phục vào một xó; lẽ ra tôi phải quăng từ trước. Đoạn tôi mở tủ lấy quần áo dân sự mặc vào. Tôi cảm thấy bực bội. Quần áo vừa chật vừa ngắn, vào quân đội tôi lớn hẳn ra, Cổ cồn cà vạt lại càng làm tôi khó chịu. Rốt cuộc chị tôi phải thắt nơ cho tôi. Nhưng quần áo gì mà nhẹ thế mõng thế, tôi có cảm tưởng như mình chỉ mặc có độc sơ mi với quần xà lỏn.

Tôi ngắm mình trong gương. Trông thật kỳ. Một anh thí sinh vào đại học sạm nắng ngồng nghềnh trố mắt nhìn tôi. Mẹ tôi hài lòng thấy tôi mặc đồ dân sự; như thế trông tôi kém xa lạ hơn với bà. Nhưng bố tôi thì lại thích tôi mặc binh phục để đưa tôi đi thăm viếng bạn bè ông. Nhưng tôi không chịu. Được ngời yên lặng ở một nơi nào đó, trong vườn bia chẳng hạn, dưới các cây dẻ bên đường phóng tên, thật là thích thú. Lá rơi trên bàn rơi xuống đất, mới vài chiếc, những chiếc đầu tiên. Trước tôi một ly bia, tôi học nống rượu trong quân ngũ. Ly đã cạn một nửa, nhưng còn uống được vài hơi, vả lại muốn uống thêm một vài ly nữa cũng cứ được có sao. Làm gì có kèn có bom có đạn, trẻ con nô đủa trên đường phóng tên và con chó đặt đầu lên đầu gối tôi. Trời xanh, giữa các lá dể vươn lên cái bóng tháp xanh của giáo đường Thánh Margaret.

Quang cảnh hiền hòa, tôi thích thú. Nhưng tôi không sao hoà mình được với thiên hạ. Mẹ tôi là người duy nhất khỏng hỏi lôi thôi. Bố tôi thì không. Ông muốn tôi kể ông nghe về mặt trận: ông hiểu kỳ đến độ tôi thấy là vớ vần và bực mình; tôi không còn có liên hệ thực sự gì với ông. Ông không thích gì bằng nghe chuyện mặt trận. Tôi nhận thấy ông không biết rằng người ta không thể kể những chuyện như thế: tôi sẵn lòng kể, nhưng kể những chuyện ấy ra thành lời đối với tôi quả thật ngny hiểm. Tôi e chúng sẽ trở thành quá ghê gớm khiến tôi không còn kềm chế được chúng. Nếu chúng ta ai ai cũng thấy rõ những gi xảy ra ngoài ấy thì không hiều chúng tôi sẽ ra sao?

Nên tôi chỉ kể ông nghe vài chuyện vui vui, Nhưng ông muốn biết tôi đã đánh xáp lá cà bao giờ chưa. Tôi nói «Chưa, rồi đứng lên đi ra phố. Nhưng đâu đã thoát nợ. Ra đường, sau một lúc giật mình vì tiếng rít của xe điện giống y như tiếng rít của đạn đại bác rơi thẳng đến tôi, có người vỗ lên vai tôi. Ra là ông thầy Đức văn của tôi và ông bám lấy tôi với những câu hỏi thông thường: «Sao, ngoài ấy thế nào? Khủng khiếp, khủng khiếp lắm nhỉ? Ừ, ghê tởm thật, nhưng ta phải đi đến cùng. Và dù sao, nghe nói các anh ngoài ấy được tiếp tế đầy đủ lắm mà. Paul, trông anh khoẻ mạnh lắm, vạm vỡ. Dĩ nhiên ở đây càng ngày càng tệ. Dĩ nhiên. Cái ngon cái lành là dành cho lính, điều đó khỏi nói.»

Ông lôi tôi đến một chiếc bàn có nhiều ông khác. Các ông tiếp đón niềm nở, một ông hiệu trưởng bắt tay tôi nói: «Ra anh đây ở mặt trận về? Tinh thần ngoài ấy ra sao? Cao chứ? Cao? »

Tời nói ai thì cũng mong được về nhà. Ông cười ầm. «Đành rồi! Nhưng trước hết hãy giáng cho cải tụi ăn ếch ăn nhái ấy một trận chí tử cái đã. Anh hút thuốc chứ? Dùng một điếu. Bồi, cho anh chiến sĩ thanh niên của chúng ta đây một ly bia coi nào. »

Khổ quá tôi đã trót nhận điểu xì gà nên phải ngồi lại. Và các ông ấy cũng lại đầy thiện chí thành khó chối từ. Dù sao tôi cũng cảm thấy bực bội và hút lấy hút đề. Để ít ra cũng cho thấy mình là lính, tôi làm một hơi hết ly bia. Tức thì các ông lại gọi thêm ly khác; dân chúng biết tri ân người lính như thế nào chứ. Họ bàn cãi mình phải chiếm miền nào. Ông hiệu trưởng với sợi dây đồng hồ thép đòi ít nhất cũng phải chiếm hết đất Bỉ, các miền than đá của Pháp và một mảnh đất Nga. Ông viện ra các lý do tại sao mình phải chiếm và khăng khăng chiếm cho được kỷ cho đến khi mấy ông kia phải chìu theo ý ông. Đoạn ông mới giải thích phải đánh thọc vào đất Pháp đến tận đâu,và quay lai bảo tôi: «Giờ thì ở ngoài ấy mấy anh phải đầy mạnh chiến tranh chiến bào trường kỷ – Đập tan các chiến tuyến của bọn Anh là mình có hòa bình, »

Tôi đáp theo sự nhận định của chúng tôi thì không dễ gì mà đánh thủng. Địch có thể còn nhiều, rất nhiều lực lượng trừ hị. Vả lại, chiến tranh không giống như thiên hạ tưởng. Ông hách dịch bác bỏ cái ý kiến ấy và bảo rằng tôi chả biết tí gì về chiến lược, «Chi tiết vụn vặt, ừ thì được.» ông nói, nhưng đây là vấn đề bao quát. Và bao quát thì các anh khóng biết gì mà xét đoán. Anh chỉ thấy cái khu vực nhỏ bé của anh nên không thấy được toàn diện. Anh làm nhiệm vụ, anh hy sinh tính mạng, đáng được cái danh dự cao nhất các anh ai cũng đảng được Huy chương Sắt – nhưng trước hết toàn thể chiến tuyến địch ở Flanders phải đánh tan phải đánh dập đầu rắn. »

Ông hỉ mũi chùi râu, «Phải đánh dập đầu rắn. Rồi tiến thẳng đến Ba Lê. »

Tôi mnốn biết theo ông thì phải làm sao, và tôi nốc một hơi hết ly bia thứ ba, Tức thì ông gọi thêm một ly nữa. Nhưng tôi cáo từ. Ông nhét vài điếu xì gà trong túi tôi và tiễn tôi bằng một cái vỗ vai thân thiện. «Chúc anh mọi sự may mắn!

Mong sớm được nghe tin anh lập chiến công. »

Tôi cứ tưởng nghỉ phép là thế nào chứ đâu thế này. Thật vậy, một năm trước đây đâu có thế. Dĩ nhiên là chính tôi đã thay đồi trong thời gian ấy. Giữa thời ấy và hôm nay là cả một hố sâu. Hồi ấy tôi chưa biết gì về chiến tranh, chúng mới còn nằm trong các khu vực yên tĩnh. Nhưng giờ đây tôi thấy rằng mình không dễ đã bị nghiền nát. Tôi thấy tôi không còn liên hệ gì với nơi đâv nữa, nó đã là một thế giới xa lạ. Có người hỏi han dọ dẫm, có người chẵng hỏi han gì, nhưng mình thấy được rằng họ tin là họ biết hết: họ thường nói ra như vậy với cái vẻ ta đây thừa hiều của họ, nên có cãi vã với họ cũng chả đi đến đâu. Họ đã tự tạo cho họ một hình ảnh về chiến cuộc. Tôi thích được ngồi một mình, đừng ai quấy nhiễu. Vì ai thì rồi cũng cứ quanh quẩn với một điều, tình hình ra sao, bi quan lắm hả lạc quan chứ hả; người nghĩ thế này, kẻ cho thế nọ; trong khi thật ra lúc nào họ cũng mải miết vời những cải lặt vặt của chính đời sống họ. Trưởc kia tôi cũng sống cái lối đó, nhưng giờ đây tôi cảm thấy mình không còn chút liên hệ gi với nơi đây. Họ nói chuyện với tôi nhiều quá. Họ có những lo âu, những ý định, những dục vọng mà tôi không hiểu nổi. Tôi thường ngồi với một người bọn họ tại cải vườn bia nhỏ bé và cố giải thích cho hắn ta hiểu thật ra chỉ có một điều đáng kể: là ngồi yên lặng, nbư thế này này. Dĩ nhiên họ hiểu, họ đồng ý, họ có lẽ cũng cảm thấy thế, nhưng cảm bằng lời, chỉ bằng lời mà thôi, phải, đúng thế – họ cảm thấy thế, nhưng lúc nào cũng chỉ nửa con người họ, còn nửa kia thì chìm đắm trong các cái khác, bản thân họ bị phân hóa đến mức không một người nào cảm thấy bằng cả cái bản thể mình; chính tôi, tôi cũng không thể nói một cách chính xác những gì ý tôi muốn nói.

Khi tôi gặp họ ở đây, trong phòng họ, trong sở họ, với công việc của họ, tôi cảm thấy bị lôi cuốn tưởng chừng như không sao cưỡng lại được, tôi cũng muốn ở lại đày và quên chiến tranh đi; nhưng đồng thời cái nếp sống này cũng xô đẩy tôi, nó hẹp hòi quá, làm sao làm đầy được một đời sống con người, nếp sống này, mình phải đập tan nó đi; nhưng sao họ làm nổi, trong khi ngoài mặt trận các mảnh miểng rì rào trên các hốc bom và các hỏa châu vút lên. Các kẻ bị thương được khiêng về trong các tấm vải dầu và các chiến hữu nằm phục trong các hào .- Con người ở đây khác hẳn, những con người tôi không sao hiểu rõ, mà tôi vừa thèm thuồng vừa miệt thị. Tôi nghĩ đến Kat, đếu Alberi, đến Muller đến Tjaden, họ đang làm gì nbỉ ? Chắc họ đang ngồi quản rượu, hay không chừng đang bơi-chả mấy lúc họ sẽ lại ra mặt trận.

Trong pbòng tôi sau bàn là một ghế sô. pha da màu nâu. Tôi ngồi xuống ghế. Trên tường dán đầy bình trước kia tôi cắt ở các báo ra. Giữa các hình là những bức vẽ những tấm bưu thiếp mà tôi lượm lặt được. Trong góc có một lò sắt nhỏ. Kê sát tường đối diện là kệ sách với các sách vở của tôi. Tôi ở căn phòng này trước khi đi” lính. Sách tôi mua dần bằng tiền kèm trẻ. Phần nhiều là sách mua lại, chẳng hạn các bộ cổ điển, một cuốn bìa vải xanh tôi đã phải mua với giá một mác hai mươi pfennig. Tôi hay mua trọn bộ vì bản tính thích đầy đủ, tòi không tin các nhà xuất bản tuyền lựa, dù là tuyển lựa những áng văn bảo rằng hay nhất. Nên tôi chỉ mua «trọn bộ ». Tôi chăm chú đọc hầu hết, nhưng thực sự thì không mấy cuốn tôi thích thú. Thích các sách kia hơn, loại hiện đại, dĩ nhiên đắt hơn. Có vài cuốn tôi có được một cách không lương thiện, tôi mượn rồi không trả vì tòi không muốn rời. Một ngăn đầy sách học. Sách không được giữ gìn cần thận. giở ra giở vào đã nhiều, có trang còn bị xé ra vởi chủ đích riêng. Bên dưới là tạp chí, nhật báo, thư từ xếp lẫn lộn với những bức vẽ, những phác họa.  Tòi muốn tưởng tượng mình trở lại vớicái thời ấy. Nó vẫn còn sống trong căn phòng này, tôi cảm thấy nó ngay, mấy bức tường còn duy trì nó. Tay tôi đặt lên tay ghế; giờ thì tôi làm mình thoải mái, co chân lên ngồi thu vào một góc, trong vòng tay chiếc sô-pha. Cánh cửa sổ nhỏ mở rộng, qua khuôn cửa tôi thấy cái hinh ảnh quen thuộc của con đường phố với tháp chuông nhà thờ vươn lên cuối đường. Trèn bàn có hai bòng hoa. Các cán bút, một vỏ sò làm cái chặn giấy, bình mực ở đày chả có gì thay đổi. Cũng lại như thế, nếu tôi may mắn, khi chiến tranh xong tôi được trở về. Tôi sẽ lại ngồi đây cũng như thế này và nhìn căn phòng và đợi. Tôi cảm thấy nao nao; nhưng tôi không muốn thế, vì không thế được, Tôi thèm lại cái khoan khoái êm ả ấy. Tôi muốn cảm thấy cũng cái khao khát mạnh mẽ không tên mà tôi thường cảm thấy mỗi khi quay về với sách. Cái hơi thở dục vọng nó dâng lên từ các bìa màu của sách lại tràn ngập tôi, lại hòa tan cái cục chì nặng chết nắm đâu đó trong tôi, lại làm thức tỉnh cải bồn chồn của tương lai, cái hân hoan linh động của thế giới tư tưởng, nó lại trả lại tôi cái hăng say đã mất đi của tuổi trẻ. Tôi ngồi chờ. Tôi bỗng nghĩ mình phải đi thăm mẹ Kemmerich; -phải đi thăm cả Mittelstaedt, lão chắc ở trại. Tôi nhìn ra cửa sổ;- bên kia cái hình ảnh đơn sơ của con đường là dãy đồi, xa xa tươi sáng, vào một ngày thu sáng sủa tròng nó cũng có khác và tôi ngồi bên lửa với Kat với Albert ăn khoai nấu cả vỏ. Nhưng tôi không muốn nghĩ thế, tôi gạt đi. Căn phòng phải nói lên, nó phải bắt kịp tôi, phải giữ lấy tôi, tôi muốn cảm thấy là mình có liên hệ vởi nơi đây, tôi muốn nghe muốn biết khi tôi trở lại mặt trận rằng ehiến tranh sẽ tàn lụi, sẽ chìm lỉm trong làn thủy triều hồi hương bao la, biết rằng nó sẽ đi luôn không bao giờ trở lại, không còn lúc nào cũng gặm nhấm mình, rằng nó không có một uy lực gì đối với mình ngoài cải uy lực ngoại diện.

Lưng sách đứng  hành hàng. Tôi vẫn còn nhớ hết, tôi nhớ đã sắp chúng theo thứ tự. Tôi van lơn chúng bằng đôi mắt: Hãy nói với ta – hãy lôi cuốn ta – hãy bắt lấy ta, hỡi cái Đởi Sống Tuổi Trẻ của ta – ngươi vốn dĩ vô tư lự, tươi đẹp – hãy thu nhận ta lại đi -Tòi đợi, tôi đợi.

Các hình ảnh lả lướt qua tâm trí tôi, nhưng chúng không níu lấy tôi, chúug chỉ là những hình bóng, những kỷ ức. Chẳng gì khác – chẳng gì khác. Tôi đâm hoang mang.

Một cảm tưởng bỡ ngỡ xa lạ bỗng dâng lên trong tôi. Tôi không tìm ra đường trở lại, tôi bị đóng cửa không cho vào mặc dầu tôi đã tận tình nài nỉ van lơn và đưa hết sức mình ra đẩy cửa. Chẳng có gì rạo rực: thẫn thờ và thiểu não, như một kẻ bị kết án, tôi ngồi đấy và dĩ vãng rút lui. Và đồng thời tôi cũng lại sợ quấy rầy nó quá, vì tôi không biết rồi sẽ xảy ra những gì. Tôi là một thẳng lính, tôi phải bám lấy đời lính. Mệt mỏi tôi đứng lên nhìn ra cửa sổ. Đoạn tôi lấy một cuốn sách, toan đọc, lật vài trang. Nhưng tôi bỏ xuống rút một cuốn khác, Có những đoạn từng gạch đít. Tôi nhìn, giở qua các trang, lại lấy cuốn khác. Sách đã chất đống bên tôi. Rồi là báo, tạp chi, thư từ. Tôi đứng đấy ngây như tượng gỗ. Như trước một ông toà. Chán nản.

Lời, lời, lời – chả lời nào ăn nhịp với tôi.

Uể oải tôi xếp lại sách lên kệ.

Không bao giờ nữa.

Lẳng lặng, tôi bước ra khỏi phòng.

Tuy nhiên tôi vẫn chưa hết hy vọng.

Đành rằng tôi không còn vào phòng tôi nữa, nhưng tự an ủi mình rằng vài ngày chưa đủ đề phán xét. Sau đây – ít lâu nữa – tha hồ thì giờ mà phê phán.

Nên tôi lại trại thăm Mittelstaedt và ngồi trong phòng nó; một bầu không khí tôi chẳng ưa gì nhưng tôi đã quá quen thuộc. Mittelstaedt nói tôi biết một cái tin làm tôi giật nẩy mình. Nó bão tới Kantorek đã bị gọi nhập ngũ vào dịa phương quân.

« Này nghĩ xem, » nó nói, và lấy ra một cặp xì gà, « Tao vừa ở bệnh viện về đây đụng đầu ngay lão ta. Lão ta chìa, tay be be:

‘A! Mittelstaedt, mạnh khỏe chứ?’ Tao nhìn hắn ta bảo: Địa phương quân Kantorek, công việc là công việc, nhậu nhẹt là nhậu nhẹt, bác phải hiều thế chứ. Đứng nghiêm khi nói với thượng cắp; Mày tưởng tượng cái mặt lão lúc đó! Méo như quả bóng xì hơi và nhăn như chuột ngâm dấm. Lão toan làm mặt thân thiện. Tao mới lại xì nẹt dữ hơn. Thế là lão mới lòi tẩy ra hỏi nhỏ tao ‘Anh có muốn tôi nói giúp để anh dự thi một kỳ đặc biệt không? Lão muốn nhắc nbở tao những cái chuyện đó, mày biết không. Tao điên tiết mới nhắc nhở lão cái mửng này.

‘Địa phương quân Kantorek hai năm trước đây bác thuyết chúng tôi ngập ngũ; và trong số chúng tôi có thẳng Joseph Behm, nó không muốn nhập ngũ. Nó ngã gục ba tháng trước khi nó lẽ ra được gọi nhập ngũ theo thường lệ. Nếu không vì bác nó đã được sống thêm ba tháng rồi. Và giờ thì: Tan hàng. Tôi sẽ còn có chuyện nói với bác.’ Muốn được chỉ huy toán lão có khó gì. Trước hết tao đưa lão xuống kho cho lão diện bảnh choẹ cái đã. Mày đợi đấy mà xem.» Chúng tôi ra sân tập. Đại đội đã sắp thành hàng. Mittelstaedt hô nghỉ và đi khám xét. Thấy Kantorek tôi không sao nhịn được phì cười. Mình mặc chiếc áo xanh đã bạc màu. Lưng và bai ống tay có vá những mụn vải thâm tướng. Áo hắn là của một anh không lồ Quần đen đã sờn lại quá ngắn; dài ngang bắp vế. Bốt thì bốt thợ cày vừa cũ vừa cứng, mũi cong tớn lại vẹt ra, dây lại buộc bên, lại to quá đối với lão. Nhưng bù lại, mũ lại nhỏ xíu, bẩn ôi là bẩn, chả khác hộp đựng thuốc viên đã tàng. Trông toàn bộ thật là thiểu não. Mittelstaedt đứng trước lão: «Địa phương quân Kantorek. Khuy thế này là khuy đánh bóng à? Chỉ có thế mà hình như bác không bao giờ học nên thân. Không được. Kantorek quả tình không được-

Thật tôi cười muốn vở bụug. Ở trường Kantorek thường hay rằn vặt Mittelstaedt cũng đúng cái câu «Không được, Mittelstaedt, quả tình không được.

Mittelstaedt vẫn chưa hết xì nẹt; « Nhìn Boettcher xem, đáng là gương mẫu cho anh học hỏi».

Thật tôi không ngờ. Lại có cả Boettcher nữa kia, Boettcher, anh phu khuân vác ở trường. Và lại là một gương mẫu! Kantorek nhìn tôi như muốn ăn sống nuốt tươi. Nhưng tôi nhăn răng một cách thơ ngây, như thể tôi không còn biết ông ta là ai nữa. Không gì nhìn khôi hài bằng cái mũ calô vởi bộ binh phục của lão. Ấy thế mà đây là cải đối tượng mà chúng tôi hằng đứng trước mặt lòng lo ngay ngáy, khi lão ngồi bệ vệ tại bàn trên bục cao, cầm bút chì trỏ mặt chúng tôi mỗi lần chia sai những cái động tự bất thường của Pháp mà rồi sau cũng chẳng giúp chúng tôi tiến sâu được hơn vào đất Pháp. Mới cách đày hai năm – và giờ đây đứng đó là Địa phương quân Kantorek, phép báu tiêu ma, chân vòng kiềng, tay khuỳnh như quai lọ, nút không đánh bóng, ăn mặc lôi thời lốc thốc trong đến buồn cười – một thằng lính vô tích sự. Tôi không thể bảo đó lại là cái con người đáng sợ ngồi tại bàn giáo sư. Tôi tự hỏi không biết tôi, thằng lính cựu, sẽ làm gì khi cái bị da thiểu não kia lại dám bảo tôi: «Baumer, hãy chia thì quá khứ động lự ‘aller’ coi. »

Đoạn Mittelstaedt bắt họ thực tập đụng độ, và đặc ân phong Kantorek làm đội trưởng.

Trong đụng độ anh đội trưởng khi nào cũng đi trước đội mình hai mươi bước; khi nghe hô «Quay bước, quay,» thì toán binh sĩ chỉ việc quay, còn đội trưởng, giờ bỗng thấy mình ở sau toán hai chục bước, phải chạy mau lên vị trí mìnb như trước nghĩa là trước toán là hai chục bước. Như thế là phải chạy bốn chục bước cả thảy. Nhưng lão vừa chạy về đến nơi đã lại có lệnh «Quay bước, bước,» nên lão lại phải ra sức chạy thêm bốn chục bước nữa lên đầu đẳng kia. Như thế cả toán chỉ việc quay lại và bước hai bước trong khi anh đội trưởng phải phóng lui phóng tới. Đó là một diệu kế được trọng dung trong cầm nang của Himmelsioss.

Kantorek khôug thể mong chờ gì khác ở Mittelstaedt, vị đã có lần lão làm hỏng dịp thăng thường của Mittelstaedt nên nó họa có gàn bát sách mới không lạm dụng cơ hội này trước khi lại ra mặt trận. Người ta có lẽ chết được mát ruột hơn sau khi quân đội đã cho mình được một chút may mắn này là đủ. Lúc này đây Kantorek đang phóng đi phóng về như con lợn rừng. Sau đó Mittelstaedt cho ngưng đụng độ và bắt đầu môn rất quan trọng là môn bò. Xoài chân xoài tay, na súng theo đúng qui lực quân đội, Kantorek trườn cái thân hình tiền tụy của lão trên cát ngay trước chúng tôi. Lão thở hổn hển, và cái hổn hển của lão là cả một bản nhạc. Mittelstaedt khích lệ Kantorek anh Địa phương quân bằng những lời đan cử của Kantorek nhà Mô phạm. « Địa phương quân Kantorek, chúng ta có cái đại phúc được sống trong một thời đại vĩ đại, chúng ta tất cả hãy hạ mình xuống và hãy một lần gạt ra bên mọi uất hận. »

Kantorek mồ hôi dầm dề khác một cái ràm gỗ bần đâm vào răng lão. Mittelstaedt củi xuống khiển trách: « Và trong những cái vụn vặt đừng bao giờ quên đó có thể là mầm mống của những biến cố vĩ đại, bỡi Địa phương quân Kantorek»

Kể cũng lạ là Kantorek lại không nồi dóa bằng một quả đấm, nhất khi, trong giờ thể dục, Mittelstaedt bắt chước lão y hệt, nắm đũng quần lão ngay khi lão đang leo lên xà ngang, khiến lão chỉ còn vừa đặt cẩm lên xà, rồi là bắt đầu chỉ dẫn lão cái khôn cái khéo. Rõ đúng y như cái lối Kantorek từng áp dụng với nó hồi ở trường.

Rồi là các dịch vụ phụ được phân phối. «Kantorek và Boettcher, đi lấy bánh, đẩy xe cút kit theo.»

Chỉ hai phút sau cả hai đẩy xe cút kít đi. Kantorek giận tràn hông cắm đầu bước, Nhưng các phu khuân thì khoái chỉ vì là việc nhẹ. Lò bánh ở xa mãi tận cuối thị trấn và hai cha phải đi đến tận đấy lại từ tân đấy đẩy về.

« Hai cha làm vài lần rồi, » Mittelstaedt nhe răng. «vẫn có người chờ xem họ. «Hay lắm, » tôi nói, «nhưng lão đã khiếu nại gì mày chưa »

«Cũng đã có. Lão đại đội trưởng cười như điên khi nghe lão thuật lại. Ông ta cũng chẳng ưa gì mấy thẳng cha thầy giáo. Vả lại, tao lại dụ con gái lão. »

« Lão lại làm hỏng kỳ thi của mày à.»

« Tao đếch cần, » Mittelstaedt điềm nhiên nói. «Vả lại, lão có khiếu nại cũng chẳng đi đến đâu vì tao thừa chứng minh rằng lão làm toàn việc nhẹ. »

«Mày không rèn cho lão khá hơn được? » sao tôi hỏi.

«Ngu như bò, phải vạ mà rèn với riếc, »

Mittelstaedt đáp, giọng khinh bỉ.

Nghỉ phép là gì? – Một thời gian ngưng chỉ làm mọi sự sau đó càng thêm tệ. Chưa chi cái cảm giác chia tay đã bắt đầu len lỏi. Mẹ tôi lẳng lặng nhìn tôi; – tôi biết bà đếm từng ngày: – sáng ra là bà buồn. Lại bởt đi một ngày. Bà cất ba-lô tôi đi, bà không muốn nhìn, vì nhìn lại nhớ. Khi suy tư giờ giấc đi mau. Tôi thấy lại bình tĩnh, đi với chị tôi lại hàng thịt mua kí xương. Đó là một xa xỉ lớn và thiên hạ xắp hàng từ sáng sớm đứng đợi. Nhiều người xỉu.  Chúng tôi không hên. Chờ được ba tiếng thì rã đuôi. Xương không đủ bán. Cũng may mà tôi còn được lĩnh khẩu phần. Tôi đưa về cho mẹ và nhờ thế còn có cái mà ăn ra ăn. Mỗi ngày mỗi thêm khó khăn, đôi mắt mẹ tôi mỗi ngày mỗi thêm sầu muộn. Còn bốn ngày nữa. Tôi phải đi thăm mẹ Kemmerich mới được.

Tôi không sao viết nổi. Người đàn bà run lẩy bầy khóc thút thít lay tôi hét vào mặt tôi: Tại sao cậu còn sống mà nó lại chết? » – mà nước mắt trào cả lên tôi và kể lể: «Con ra đó mà làm chi con ơi là con, khi con-» – rồi buông mình xuống ghế nỉ non: «Cậu có thấy không? Cậu có thấy nó chứ? Nó chết cách nào?

Tôi bảo bà nó bị bắn trúng tim chết ngay. Bà nhìn tỏi, bà ngờ tôi: «Cậu nói dối. Tôi biết hơn. Tôi từng cảm thấy nó chết thê thảm lắm. Đêm đến tôi từng nghe giọng nó tôi từng cảm cái đau đớn của nó – cậu nói thật đi, tôi muốn biết rõ, tôi phải được biết. »

«Thật mà, » tôi nói, «cháu ở bên anh ấy. Anh ấy chết không kịp trối. »

Bà sẽ van vỉ tôi; «Nói đi. Cậu phải nói thật tôi nghe. Tôi biết cậu muốn an ủi tôi, nhưng cậu thấy không, cậu còn làm tôi đau khổ hơn thà là cậu nói thật đi? Tôi không thể chịu được sự mập mờ. Nói tôi nghe sự thể ra sao và dù cho có ghê gớm thế nào cũng còn hơn là những gì tôi phải nghĩ nếu như cậu không chịu nói. Tôi quyết không nói, dù bà có xé tôi ra làm trăm mảnh. Tôi dỗ dành bả, nhưng tôi vẫn cho bà là gàn đở. Tại sao bà cứ lo vớ vần đáu đâu? Bà biết bay không tlì Kemmerich cũng đã chết rồi. Khi người ta đã thấy quá nhiều cái chết người ta không hiều tại sao thiên hạ đau khổ đến thế vì một cá nhân. Nên tôi nói có hơi bực mình: « Anh ấy chết ngay. Anh ấy không cảm biểt gì cả. Mặt anh trông rắt bình thản. »

Bà im lặng. Đoạn bà chầm rải nỏi: «Cậu dám thề không?

« Dám. »

« Bằng tất cả những cái gì thiêng liêng đối với cậu?

Trời đắt ơi, còn có cái gì thiêng liêng đối với tôi -? đối với chúng tôi những cái ấy thay đổi quá mau.

« Vâng anh ấy chết ngay. »

« Nếu như không thật, cậu sẵn sàng không bao giờ trở về nữa chứ? »

« Nếu như anh ấy không chết ngay thì tôi sẽ không bao giờ còn trở về nữa, »

Tôi sẵn sảng thề hết. Nhưng bà bình như tin tôi. Bà lại rên rỉ lại sụt sùi. Tôi phải kể câu chuyện ra sao nên tôi bịa ra và tôi hầu như tin là mình nói thật. Khi tôi cáo từ bà hôn tôi và tặng tôi một tấm hình của nó. Hình chụp hắn mặc đồng phục tân binh đứng tựa vào một chiếc bàn tròn chân làm bằng cành phong. Sau hắn là một cảnh rừng vẽ trên một tấm phông và trên bàn có một ca bia.

Đây là đêm chót ở nhà. Ai nấy đều lặng thinh. Tôi đi ngủ sớm, tôi nắm lấy gối áp vào người và rúc đầu vào gối. Ai mà biết được tôi sẽ bao giờ còn được nằm trên một chiếc giường lông nữa không?

Về khuya mẹ tôi vào phòng tôi. Bà ngỡ đâu tôi ngủ, và tôi vờ ngủ. Trò chuyện ư, thức mà trò chuyện với ai ư, ôi khỗ tâm quá. Bà ngồi mãi đó mặc dầu bà đau và thỉnh thoảng lại vặn mình. Mãi rồi tôi chịu không nồi, và vờ như thể mình chợt tỉnh giấc. « Mẹ đi ngủ đi chứ, ngời đây lại cảm lạnh bây giờ.

« Rồi nữa tha hồ mà ngủ; » bà nói. Tôi ngồi dậy. «Mẹ à, con không phải ra thẳng mặt trận đâu. Con phải qua bốn tuần tại một trại huấn luyện. Không chừng ở đấy một chủ nhật nào đó con sẽ về chơi. »

Bà lặng thinh. Đoạn bà sẽ nói: «Con có sợ lắm không? »

«Không, Mẹ à.

«Mẹ muốn dặn con phải coi chừng cải bọn đàn bà ở bện Pháp. Họ không tốt gì đâu, »

À ra thế. Mẹ ơi, mẹ ơi! Mẹ vẫn còn cho là con còn bé bỏng – tại sao con lại không thể đặt đầu vào lòng mẹ mà khóc? Con cũng muốn khóc, muốn được dỗ dành lắm chứ, thật vậy, con còn bé hơn là bé bỏng nữa kìa; trong tủ còn treo mấy chiếc quần đùi của con – mới cách đây có bao lâu đâu; thế mà tại sao đã hết?

« Chỗ con ở có đàn bà đàn biếc gì đâu, mẹ, » tôi nói cố giữ giọng bình tĩnh.

« Và ra trận hãy cần thận nghe con, Paul. »

Ôi mẹ ơi, mẹ! Sao con lại không ôm mẹ vào lòng và cùng chết với mẹ nhỉ! Mẹ con mình chỉ là những con người khốn khổ!

« Vâng, thưa mẹ, con sẽ cần thận. »

«Mẹ sẽ cầu nguyện cho cou hằng ngày, Panl.»

Ôi! Mẹ ơi, mẹ. Mẹ con mình hãy đứng dậy đi ra, đi lùi lại năm tháng, nơi mà tắt cả cái gánh nặng phiền não thống khổ này không còn đè nặng lên mẹ con mình, lùi lại chỉ còn mẹ và con, mẹ hỡi!

«Biết đâu con không được cắt vào một công việc đỡ nguy hiềm hơn.

«Vâng thưa mẹ, biết đâu con lại không được cắt vào toán hỏa đầu, điều này cũng dễ

« Vậy thì con xin đi, và nếu chúng bạn có nói gì-

« Nói gì thì nói chứ con đâu có ngán, mẹ» Bà thở dài. Khuôn mặt bà bàng bạc trong bóng tối.

«Giờ thì mẹ đi ngủ đi. »
Bà không đáp. Tôi đứng lên cầm tấm khăn lớn của tôi choàng quanh vai mẹ tôi.

Bà tựa người vào cánh tay tôi, bà đau đớn, Và tôi dìu bà về phòng. Tôi ngồi với bà một lát.

« Và trước khi con về, mẹ phải khỏe lại lại nghe, mẹ. »

« Ờ, ờ, con. »

« Mẹ đừng có gửi gì cho con cả nghe, mẹ. Ngoài đó, chúng con thức ăn thửa thãi. Ở nhà cần hơn. »

Bà nằm trong giường trông đến mảnh dẻ nghèo nàn, bà, người yêu tôi hơn tất cả thế giới. Thấy tôi sắp rời phòng, bà vội nói:

«Mẹ có sắm cho con hai chiếc quần trong. Bằng len toàn. Con mặc cho ấm. Đừng quên bỏ vào ba-lô nghe.

Ôi! Mẹ ơi! Con biết đôi quần này mẹ đã phải tốn bao nhiên hơi sức đợi chờ và đi bộ và xin xỏ, ôi mẹ ơi, mẹ ơi! tại sao con lại cử phải xa mẹ nhỉ? Trên đời này còn ai có quyền đòi con hơn là mẹ? Con ngồi đây và mẹ nằm kia, hai mẹ con mình có nhiều cái cần nói mà không bao giờ chúng mình có thể nói ra.

« Ngủ ngon nghe, mẹ. »

« Con ngủ cho ngon. »

Phòng tối. Tôi nghe tiếng mẹ tôi thở, tiếng đồng hồ tí tách. Ngoài cửa sổ gió thổi mấy cây dẻ xào xạc.

Ra đầu cầu thang tôi vấp phải cái balô nằm đó sẵn sàng, vì sáng tinh sương tôi đã phải ra đi. Tôi cắn gối, Hai tay nắm chặt lấy chấn song giường. Lẽ ra tôi chả nên về. Ngoài ấy tôi thản nhiên và thường thì vô vọng; tôi sẽ không bao giờ như thế được nữa. Tôi là lính, và giờ đây tôi chỉ là một sự thống khổ cho chính bản thân tôi, cho mẹ tôi, cho tất cả những cái gì không tài nào an ủi nổi và vô tận. Lẽ ra tôi không nên bao giờ về phép.

Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

Tôi xa nhà năm lên trung học. Nhà tôi cách trường tỉnh ba mươi cây số. Lần đầu tiên, thoát khỏi sự kiểm soát của gia đình, thoải mái quá chừng. Ở nhà trọ. Đóng tiền cơm tháng. Mỗi ngày vào lớp cho có mặt, như một cách trả nợ quỷ thần. Thì giờ còn lại, tôi tà tà đi chơi. Không ai rầy la, nói nặng nới nhẹ, nghe nhức đầu. Cuối năm lớp nhất bậc tiểu học, tôi thi tuyển vào trường trung học Công Lập Tây Ninh. Trường mới thành lập vài ba năm, số học sinh thu vào rất giới hạn. Thí sinh tham dự khoảng hai ngàn, chỉ tuyển hai trăm đứa. Tôi đi thi, cũng như đi chơi. Cái mặt của tôi, mong gì đậu đỗ? Ba tôi nói thế. Lúc thi xong, về chờ kết quả. Ba tôi hỏi: “Bài vở thế nào?”

Tôi nói: “Ngon lành!”

Tử trước dến nay, lần nào ba tôi hỏi về sự học hành, tôi dều trả lời ngon lành. Nhưng khi ông coi lại, thì khám phá ra sự thực rất ư là tồi tệ. Nhiều lần như thế, ông đâm ra mất tin tưởng thằng con. Lần này, tôi cũng nói ngon lành nữa.

Ông cười: “Chừng nào tuyên bố kết quả?”

Tôi lắc đầu: “Con không biết. Thí sinh quá đông, phải chấm bài tuyển lựa, còn chờ lâu lắm.”

“Thôi. Khỏi chờ. Tao biết kết quả rồi. Mày chuẩn bị đi chăn trâu là vừa.” Rồi ông quay mặt, chậm rãi đọc hai câu: “Văn chương phú lục chẳng hay.

 Trờ về lông cã học cày cho xong.”

Tôi đâu tha thiết gì với chuyện học hành. Cũng đâu ngán cái nghề chăn trâu đi cày. Dòng họ nhà tôi, nhiều đời vốn là nhà nông rồi. Nếu đời tôi, tiếp tục chăn trâu đi cày, cũng là nối nghiệp cha ông mà thôi. Chẳng có gì phải tủi thân. Nhưng thái độ châm biếm của ba tôi, làm thì hơi buồn. Đến ngày niêm yết kết quả, có thằng bạn báo tin, tôi trúng tuyển vào đệ thất trường Công Lập Tây Ninh. Tôi lật đật chạy đi coi lại cho chắc ăn. Đậu thật. Trời ạ! Cái tên tôi nằm gần áp chót. Đứng trên dược vài đứa. Đứng đâu trong bảng niêm yết cũng được. Đậu là tốt rồi. Tôi báo tin mừng cho ba tôi và làm bộ chán nản: “Bài làm quá ngon lành, nhưng đậu hơi thấp. Chắc có sự nhầm lẫn gì đây.”.

Ba tôi nói: “Thằng ngồi thi cùng bàn với mày, cũng đậu.̎

“Sao ba biết?”

“Vì mày cọp dỡ bài của nó.”

Tôi cương ẩu:

“Không đâu. Những thằng ngồi gần con, đều rớt đài hết. Chỉ mình con đậu thôi!”

Nghe thế, chẳng những ba tôi không khen, còn phán một câu rất phủ phàng:

“Như vậy, mày là thằng chó ngáp phải ruồi!”

Có lẽ, chó ngáp phải ruồi thật. Nhưng nói ra, nghe mỉa mai làm sao ấy. Tôi tin tưởng thời vận của tôi bắt đầu hên rồi. Mua vé số, không chừng được lô độc đắc.

Năm đệ thất, tôi tập hút thuốc lai rai. Sang năm đệ lục, tôi kẹp điếu thuốc giữa hai ngón tay, cho khói vàng đầu ngón, ra vẻ bụi dời. Bước qua năm đệ ngũ, tôi phì phà, mũi xì ra khói như mây vờn trước mặt, điệu nghệ dân chơi. Tôi tự coi mình là kẻ sỏi đời, chững chạc bước đi. Sỏi đời cái kiểu này, nếu ba tôi biết được, chắc ông đánh hộc máu. Cũng trong năm này, tôi bắt đầu biết yêu. Lớp tôi có con nhỏ tên Thủy Tiên. Chỉ nghe cái tên, cũng đủ yêu rồi. Nhiều lần, tôi bắt gặp nó liếc mắt nhìn tôi. Tôi chưa từng thấy loài phượng hoàng, nên không biết mắt phượng đẹp thế nào. Người ta ca tụng đôi mắt bồ câu. Nhưng mắt bồ câu thì tròn vo như hòn bi xe đạp, chẳng đẹp đẽ gì. Đối với tôi, đôi mắt của Thủy Tiên thật tuyệt vời, đẹp không chê vào đâu được. Nó ngơ ngác theo kiểu con nai vàng mùa thu của Lưu Trọng Lư, lại có nét dìu dịu buồn tây phương của Quang Dũng, Thật tâm mà nói, tôi không hiểu câu thơ mắt em dìu dịu buồn tây phương, là buồn ra làm sao. Nhưng

tôi nghĩ, mắt Thủy Tiên buồn buồn theo kiểu đó. Khi nhìn ai, đôi mắt ấy có sức quyến rũ lạ lùng, tỏa ra cái ma lực đìm tôi chết đuối. làm tôi mộng mị từng đêm. Ngoài ra, tôi còn mường tượng, dưới lớp áo dài trắng phập phồng, cặp vú của Thủy Tiên đầy như hai trái cam thơm phức. Nếu dược đặt bàn tay lên trái cam mềm mụp ấy mã vuốt ve, chẳng biết khoái tới cở nào?

Về nhả trọ, tôi hỏi một anh lớn tuổi, đã có nhiều kinh nghiệm tình trường: “Con Thủy Tiên, nó hay liếc nhìn tôi. Vậy là sao?”

Anh khẳng định: “Nó yêu mày.”

“Thật hả?”

“Chứ còn gì nữa? Không yêu, sao liếc mắt đưa tình?”

“Tôi phải làm sao?”

“Theo lệ công bình, ai yêu mình thi mình yêu lại.”

Một thời gian sau, tôi vẫn không biết làm thế nào tỏ cho Thủy Tiên hiểu rằng tôi cũng yêu nó.

Tôi lại hỏi người anh lớn: “Có cách nào tỏ tình?”

Anh trả lời: “Rà rê tới gần, tán tỉnh nó.”

“Nói lời gì tán tỉnh?”

“Em là nguồn cảm hứng thơ anh.”

“Nhưng tôi đâu biết làm thơ?”

“Làm thơ dễ òm. Nếu cần, tao thức một đêm làm vài chục bài thơ, để tên mày tặng nó. Sơ khởi, mày có thể chép bai Tình Tuyệt Vọng. Mai vào lớp, trao cho con Thủy Tiên. Hồi trước, tao viết hài này để tặng con bồ của tao. Đọc xong. nó chết lên chết xuống vì yêu.”

“Xin đọc cho nghe thừ.”

Anh sửa lại điệu bộ, mắt sầu muộn ngắm mây trời, lấy hơi tuôn ra lời thê thiết:

Lòng ta chôn một khối tình

Tình trong giây phút mà thành thiên thâu

Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu

Mà người gieo cảm như hầu không hay

Hỡi ơi, người đó ta đây

Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân

Dẫu ta đi trọn đường trần

Chuyện xưa hồ dễ một lần hé môi

Người dù ngọc nói hoa cười

Nhìn ta như thể nhìn người không quen

Đường trần lặng lẽ bước tiên

Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.

Nghc xong, tôi la lên: “Đó là bài Sonnet d’Avert do Khái Hưng dịch, chứ đâu phải của anh?”

Anh lý luận: “Trên trái đất củ xì này, không có điều gì được gọi là mới mẽ. Con người bây giờ, cũng yêu như tình yêu cua người muôn năm trước. Đời nay, nói ra bất cứ câu gì, cũng đều trùng lập lại lời của người đời xưa. Bài thơ của tao, nếu giống với bài Sonnet d’Avert, thì đó cũng là tư tưởng lớn của khách nòi tình gặp nhau. Sao lại bảo người này ăn cắp của người kia. Đâu phải người xưa đã nói như thế, rổi cấm người nay không được nói như thế nữa?”

Tôi đưa tay gãi đầu: “Thôi, cứ coi như bài này do anh làm ra. Nhưng nội dung thất tình dau khổ, không hợp với chuyện của tôi và con Thủy Tiên.”

“Mày ngu bỏ mẹ. Hay chịu khó đọc Tâm lý Bạn Gái Trước Ngưỡng Cửa Tình Yêu, và Ái Tình Bửu Giám cho

nhiều vào, con ạ! Con gái rất yếu lòng. Mày làm bộ đau khổ bi thương, nó cảm động sa nước mắt ngay. Lúc đô, có cái gì nó cũng hy sinh cho mày hết”

“Anh nói nghe dễ? Đời người con gái, đâu phải như trái bầu trái bí, mà cho ai hái bẻ dễ dàng?”

“Sao không? Khi nó đã lậm với chữ tình rồi, thì mạng sống còn chẳng tiếc. Sá chi cai xú chiêng, quần xì híp mà chẳng chịu tuột ra?”

Điều anh nói, làm tôi hứng khởi trong lòng, nắn nót chép lại bài thơ tặng Thủy Tiên, nhưng lập lờ không đề tên tác giả. Nếu con nhỏ tưởng tôi sáng tác, thì càng tốt. Nếu nó phát giác ra thơ của người khác, tôi sẽ trả lời rằng, tạm mượn ý thơ người đi trước, để nói lên nỗi lòng thống thiết của tôi. Đi học, tôi luôn rình chờ một lúc thuận tiện nào đó, trao thơ tỏ tình cùng Thủy Tiên. Nhưng con nhỏ ngu quá, không biết tạo cơ hội cho tôi bày tỏ tình yêu. Trên đường đến trường, nó đi chung với vài ba đứa. Giờ ra chơi, nó quấn theo những con bạn của nó. Tôi lại hỏi người anh lớn: “Làm sao tách riêng nó ra một mình, để đưa thơ?”

Anh bảo: “Đứng xa xa, miệng gọi tên, tay ngoắc nó tới. Khi nó tới, dúi thơ vào tay nó. Chẳng cần nói năng.”

Tổi rụt vai: “Không dám.”

Anh nói một cầu triết lý để đời: “Chì có những thằng gân, mới chinh phục được trái tim người đẹp!”

“Nhưng … “

“Không nhưng … gì cả. Mày nhát như con thỏ, lù đù như con gà nuốt dây thun, cũng bày đặt o mèo. Thôi, hãy lo học hành đàng hoàng, để mai sau có chút danh phận với đời. Dùng cái hằng cấp làm sính lễ cầu hôn, may ra cưới được vợ.”

Nói xong, anh trể môi khịt mũi bỏ đi. Tự ái bị tổn thương nặng, tôi quyết tâm làm một bước nhảy vọt đến tình yêu. Thức trắng đêm, nghĩ ra kế hoạch. Tỏi sẽ tìm cách mượn vỡ của Thủy Tiên. Rồi đề thơ vào trong ấy,  trước khi trả lại. Hôm sau. Thủy Tiên đang đứng với con bạn của nó ngoài hành lang nhà trường. Tôi làm bộ vô tình đi ngang, như chợt nhớ ra một điều hệ trọng và đứng lại. Tôi nói: “Bữa trước chép bài vạn vật không kịp. Thủy Tiên cho mượn vỡ, để chép lại bài đi.”

Thủy Tiên chưa kịp nói gì, con bạn xãnh xẹ của nó, hớt lời: “Sao không mượn của con trai? Người ta là con gái mà!”

Khốn nạn! Tôi đâu có mượn của con nhỏ mặt mẹt này? Ai xúi nó lên tiếng? Chỉ một câu thọc gây bánh xe, nó đã dồn tôi vào thế khó, phá bể kế hoạch tiến tới tình yêu. Không dự trù trước một tình huống gãy đổ bất ngờ, tôi đâm ra lúng túng.

“Ờ … ở … Thôi, tui mượn người khác vậy.”

Tôi vội quay đi. Mặt tôi có cảm giác cứng đơ, như một củ khoai sượng. Ghét vô cùng cái con già mồm lẽo mép. Ghét đến không bút mực nào tả xiết. Từ đó trở đi, tôi âm thầm đau khổ. Bài Sonnet d’Avert, thật đúng với tâm trạng của tôi.

 Tình tuyệt vợng, nỗi thảm sầu.

 Mà người gieo cảm như hầu không hay …

Tôi vốn đã biếng trễ học hành. Bây giờ, lại càng tệ hại hơn. Những trang chữ trong sách vở, làm tôi chán ngấy. Hình bóng Thủy Tiên chờn vờn ám ảnh ngày đêm. Trong thời gian này, buồn quá, không biết làm gì, tôi tập làm thơ. Thơ tôi chín muồi đau khổ. Càng đau khổ, thơ càng tuôn ra ào ào. Và tôi cũng khám phá thêm một diều lý thú nữu, nhờ thất tình, tôi bổng trở thành thi sĩ ngang xương. Có ai sống trong hạnh phúc mà  thành thi sĩ lừng danh được dậu? Những bài thơ tuyệt tác trên thế gian, đều là những bài thơ tình đau khổ. Cám ơn Thủy Tiên. Nếu em không có mặt trên cõi đời này, thì chưa chắc anh đã biết yêu ai. Nếu em không thờ ơ lạnh nhạt, thì anh đâu dã thất tình, đến nỗi trở thành thi sĩ. Khi đã trở thành thì sĩ rồi, tôi nghĩ đến một cái tên lưu danh hậu thế. Mới đầu, tôi lấy bút hiệu Hoa Lục Bình. Ý muốn nói tình yêu của tôi, cũng bấp hênh như cụm lục bình trôi nổi trên dòng sông không bến dổ. Sau nhiều đêm suy đi nghĩ lại, tôi thấy cái tên Hoa Lục Bình quá bình dân, nghe không nặng mùi triết lý. Kể từ khi bước chân vào đường yêu, tôi chuốc lấy trăm cay nghìn đắng, thì bút hiệu của tôi phải là Sầu Nhân Thế. Nhưng cũng chưa đủ ý nghĩa. Con Thủy Tiên làm tôi thất tình đau khổ. Còn bản mặt mẹt của nó làm tôi căm ghét vô biên. Phải chọn cái tên nào, nói lên được cả hai điều đó. Và bút hiệu Hận Thế Nhân ra đời. Thơ tôi chép đầy quyển vở học trò. Cuối bài thơ, để tên Hận Thế Nhân. Dưới cái tên, ghi ngày tháng. Thậm chí còn ghi giờ làm xong bài thơ. Khi coi lại, tôi thấy nhiều bài thơ hoàn thành, chỉ cách nhau vài giờ. Không ngờ thi hứng của tôi quả đỗi dồi dào và sức sáng tác mạnh mẽ đến thế. Nhờ vùi đầu trong việc làm thơ và nghĩ cái danh sẽ nổi như cồn trong tương lai, tôi nguôi ngoai dần chuyện thất tình. Khi đã nổi danh rồi, thì sá gì một Thủy Tiên. Con gái sẽ theo tôi nườm nượp. Lúc đó, tha hồ mà chọn mặt gửi vàng. Điều kiện tiên quyết để được chọn, phải đẹp và biết thưởng thức thơ tôi. Trong cái đám con gái lao xao, sàng lọc mãi cũng ra được năm bảy đứa, cho vào vòng chung kết. Cuối cùng, tôi chỉ tuyển ba đứa làm người yêu lý tưởng.

Mãi dật dờ trong ấn tượng, tôi không hay cái nhân dáng của mình dã hiển lộ rõ nét nghệ sĩ lắm rồi. Quần áo xốc xếch. Tóc tai bờm xồm. Mắt ngó về cõi mông lung xa vời nào đó. Nói cho có vẻ văn hoa bóng bẩy, nhìn về phía chân trời viễn mộng. Có lẽ, chốn trần gian không mấy người hiểu được tôi. Vì thế, thơ tôi bây giờ, ngoài nỗi đau thất tình, tôi còn than vãn cho thân phận làm người cô đơn. Đó là tôi bắt chước theo các nhà văn nhà thơ lớn, luôn luôn rên xiết vì trót sinh ra làm người, phải chịu đọa đày, muôn kiếp cô liêu.

Người làm thơ viết văn hôm nay, nếu không quằn quại rên la theo kiểu buồn nôn, triết thuyết bi đát, hay trào lưu hiện sinh … quỷ quái gì đó, thì khó  mà kiếm được một chỗ ngồi trên chiếc chiếu văn nghệ. Muốn được chú ý hơn, phải kêu gào phủ nhận Thượng Đế. Các bậc thầy văn nghệ, gọi hiện tượng này là ý thức phản kháng. Thế mới là thời thượng. Dù bắt chước đàn anh buồn nôn, phản kháng lung tung, nhưng nếu có ai hỏi, được sinh làm người mà than phiền kêu la quá cỡ, vậy mày muốn làm gì đây? Chắc tôi cũng phải ú ớ. Chẳng lẽ lại xin làm loài thảo mộc, như:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

Chỉ nghĩ đến làm cây thông vô trì giác, suốt đời đứng một chỗ như trời trồng, cũng đủ buồn chết được. Từ hai câu trên, có người còn nhái theo, thế này:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm đôi chim nhạn tung trởi mà bay.

Làm hai con chim nhạn bay, thì có gì sướng? Sau cùng nghĩ lại, làm người vẫn hơn. Dầu con Thùy Tiên có ngoành mặt làm ngơ, dầu phải sống trong muôn vàn khổ ải, tôi vẫn muốn được làm người. Tôi sợ phải làm cỏ cây, muông thú. Bút hiệu Hận Thế Nhân, e không còn phù hợp với giai đọan thơ tôi đổi mới. Tên của một thi sĩ phải vượt lên trên lòng thù hận, Phải làm cho người đọc động lòng trắc ẩn xót thương. Như Hàn Mặc Tử chẳng hạn. Đọc cái tên là thấy cả một sự lạnh lùng. Dù đốt lữa hơ cũng không ấm nổi. Dựa theo nhà thơ này, tôi đổi hút hiệu là Hàn Tâm. Một tâm hồn lạnh lẽo. Nghe cũng tội nghiệp lắm chứ? Nhưng sau một thời gian, coi thấy không ổn. Hàn Tâm. Cái tên ngắn ngũn. Khi phát âm, dường như có diều gì hụt hẵng, thiếu nhạc tính. Tôi thêm chữ Phong vào giữa, thành ra Hàn Phong Tâm. Đọc nghe êm tai, lại thêm ý nghĩa. Gió lạnh mà thổi vào hồn, thì ai lại không cảm thấy một trời đông buốt giá? Tội âm thầm làm thi sĩ, cho đến năm lên đệ tứ. Không hy vọng gì nắm bắt được Thủy Tiên. Con gái chỉ khoái thằng học giỏi, nhưng tôi thì bết bát quá, học hành chẳng ra chi. Tội tìm an ủi trong thơ. Vết thương thất tình sắp sửa kéo da non. Một hôm, trong giờ ra chơi, tôi đứng dựa hành lang nhà trường, vớ vẫn nhìn mây. Bỗng Thủy Tiên đến bên tôi, cười cười.

“Lúc này, … thấy … có vẻ miệt mài. Lo học bài thi hả?”

Nó hỏi một câu lơ lững như thế.

Tôi hỏi lại: “Ai thấy ai có vẻ mệt mỏi?”

Nó bẻn lẻn trả lời: “Thì … tui thấy … “

Con nhỏ này lì thật. Nó không chịu xưng em với tôi.

Nhưng thôi, bỏ qua vấn đề xưng hô. Phải chụp ngay cơ hội, để tỏ cho Thủy Tiên biết rằng tôi là một nhà thơ.

Tôi nói: “Mệt mỏi vì thức khuya.”

“Học bài hả?”

“Chỉ học chút chút thôi, nhưng đọc báo nhiều.” Tôi chuyển đề tài. ” À, Thủy Tiên có đọc giai phẩm của thi văn đoàn tài tử Hoa Tình Yêu không?”

“Không, Có bài gì hay?”

_Ồ! Trong đó có bài thơ của thi sĩ Hàn Phong Tâm hay

Nó nói: “Cái tên nghe lạ hoắc,”

Tôi chỉnh liền: “Giá trị là ở bài thơ. Tên lạ hay quen chưa phải laà yếu tố quyết định hay dỡ.”

“Thôi. Đọc cho nghe đi. Có thuộc không?”

Tôi làm bộ: “Chỉ nhớ lỏm bỏm vài câu.”

Và đọc:

Anh tóc rối tìm thiên đường không thấy

Quá buồn tình xuống địa ngục tìm em

Bị quỷ sứ đánh anh gần hộc máu

Nên bây giờ nằm ôm ngực mà rên …

Chỉ mới nghe bốn câu, Thủy Tiên đã cười như bị ai cù vào nách.

“Thằng cha Hàn Phong Tâm này khùng rồi!” Nó phê bình một cách tàn nhẫn.

Tội nóng mặt: “Lời thơ thống thiết, đau thương, truyền cảm đến thế, sao gọi là khùng?”

Nó phân tích: “Này nhê. Anh tóc rối … , có nghĩa là cái đầu tóc bù xù dơ như tổ quạ. Tìm thiên đường không thấy. Trên đời này làm gì có thiên đường mà tìm? Thằng cha này ngu! Sau đó, lại xuống địa ngục tìm em. Em đâu dưới địa ngục mà tìm? Bị Quỷ sử đánh anh gần hộc máu. Cũng còn may! Nếu loạng quạng đi lạc vào khu xã hội đen mà tìm em, chắc sẽ bị tụi du đảng cất gân … “

Tôi đưa tay ngăn lại, sừng sộ: “Thôi. Thôi. Đọc thơ, phải hiểu theo nghĩa bóng. Phân tích theo kiển phàm phu của Thủy Tiên, thì tất cả thi sĩ lớn bé trên cõi đời này, đều phải đi đầu thai sớm. Thí dụ, hai câu thơ của Hàn Mặc Tử:

Trăng nằm sóng soài trên cành liễu

Đợi gió đông về để lã lơi …

Ta phải hiểu rằng, nhà thơ tưởng tượng ra một chị Hằng nằm lồ lộ tênh hênh trên cây liễu. Theo truyền thuyết, chị Hằng vốn dã đẹp rồi. Bây giờ, nằm khêu gợi kiểu đó, thì hấp dẫn còn hơn đi coi Một Mắt.”

Thủy Tiên hỏi bằng một câu lạc đề: “Coi Một Mắt là coi cái gì vậy?

“Hãy tự tìm hiểu,” Tôi xẵng giọng.

Nó nài nỉ: “Người ta hỏi thiệt mà. Nói đi!”

Tôi lắc đầu, vừa lúc chuông reo vào lớp học. Và Thủy Tiên không biết tôi chính là Hàn Phong Tâm.

Cuối năm đó, chúng tôi thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Thủy Tiên đậu Bình Thứ. Tôi không còn may mắn chó ngáp phải ruồi, như kỳ thi tuyển vào đệ thất. Lúc chen chân coi hàng niêm yết kết quả, Thủy Tiên hớn hỡ vui mừng, chợt nhìn thấy tôi đứng một mình buồn hiu cuối dãy hành lang. Nó đi lại gần, đứng sững nhìn tôi lâu lắm. Hai đứa không nói gì. Hình như trong mắt nó có chút long lanh ngấn lệ. Bất ngờ, nó cẩm tay tôi, nói nhỏ: ” Mình chia buồn.”

Tôi rụt tay về, Lòng đau như cắt.

Vì muốn chia sớt nỗi buồn với tôi, Thủy Tiên bày tỏ thân tình: “Đứng đây nhiều người qua. Mình ra quán chè, ngồi nói chuyện đi.”

Toi lững thững theo Thủy Tiên. Quán học trò trước cổng trường, mùa hè vắng hoe. Bông phượng từng chùm đỏ ối trên cây và lớp lớp những cánh hoa tàn rũ, rơi đầy mặt đất. Nó chọn cái bàn trong góc quán. Tôi uể oải ngồi xuống, không nhìn vào nó, mà nhìn ra hàng cây bông phượng. Thủy Tiên thầm thì: “Đừng im lặng. Nói cái gì đi.”

Nói cái gì? Hoàn cảnh bây giờ, còn cho phép tôi nói tiếng yêu em? Tôi phân vân hết sức, trước khi lấy cây bút trên túi áo, viết “Je t’aime” vào mành giấy nhỏ, trao cho Thủy Tiên. Nó nhìn mành giấy một hồi, rồi nhè nhẹ đặt bàn tay của nó lên tay tôi: “Dù anh không nói, Thủy Tiên cũng biết lâu rồi.”

Từ những ngón tay mềm mại, luồn vào tôi một cảm giác lâng lâng khó tả. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết cảm giác của tình yêu là gì, cùng lúc với cõi lòng tan nát. Tôi hỏi một cách vụng về: “Sao biết tình tôi?”

“Nhìn vào mắt anh là biết ngay. Thương nhau đâu cần phải nói.”

“Nhưng truớc kia, mắt Thuy Tiên không nói gì với tôi.”

“Có chứ, Tại anh khờ quá, không đọc được tín hiệu trong mắt Thủy Tiên,”

“Bây giờ, biết được thì muộn rồi.”

” Không muộn đâu anh.”

Tôi nhìn vào đôi mắt mùa thu. mà nói: “Tôi sẽ đi xa.”

Nó hoảng hốt: “Đi đâu? Chừng nào về gặp lại Thủy Tiên?”

Tôi lắc đầu nhè nhẹ.

Nó nắm chặt bàn tay tôi, rấm rứt: “Anh ơi! Đừng đi. ở lại học, mùa hè năm sau, thi nữa.”

Còn mặt mũi nào ở lại học, để ngày ngày gặp Thủy Tiên nữa không? Có một nỗi gì mặn đắng trong tôi.

Nó giục: “Hứa ở lại. Đừng đi nhé?”

Tôi cười buồn như muốn ứa nước mắt. Thủy Tiên nhìn tôi tha thiết, chờ đợi một câu trả lời. Tôi nhìn xuống cánh tay trần của nó, những sợi lông tơ trên da thịt trắng ngà. Tôi thèm được hôn phớt lên làn da ấy, nhưng trong quán không phải chỉ có mình nó và tôi. Trước khi chia tay, Thủy Tiên cho tôi chiếc khăn nhỏ. Chiếc khăn có thấm chút nước mắt tình đầu. Nó nói: “Anh giữ chiếc khăn này, mùa tựu trường mình trở lại gặp nhau. Thủy Tiên chờ. Còn mảnh giấy viết chữ “Je t’aime”, coi như bức thư tình anh gửi Thủy Tiên.”

Trên mặt đất có hằng hà sa số đường đi, nhưng tôi khộng hiết chọn đường nào. Sau cùng, tôi chọn con đường vào lính. Tôi đi mãi miết, không nghĩ có lúc quay về gặp lại Thủy Tiên. Nhiều năm sau, nghe đâu em thành đạt rất cao trên đường khoa cừ và đã lập gia đình.

Cháo chuột

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

Thuở nhỏ tôi sống giữa ranh giới của hai miệt U Minh, đồng ruộng giáp với rừng cây và sông, rạch. Tuy tôi không được chăn trâu như mấy đứa bạn cùng xóm, nhưng thường những buổi trưa nắng gắt, tôi hay nhập bọn với chúng chia phe chọi lộn và đánh nhau la ó vang cả cánh đồng. Tôi rất thích thả diều và làm diều rất ăn gió. Khi lớn lên tôi không còn thích trò chơi trẻ con ấy nữa. Thay vào đó tôi thường ra ruộng đặt lờ, cắm câu hoặc lội sông mò tôm, chận cá hay vô rừng bắt cua, bắt vọp và bẫy chim, bắt chuột…

Nếu nói tới chuột thì phải nói về miệt U Minh. Nhứt là ra Giêng ruộng đồng khô ráo, bờ ruộng nào cũng có chuột mần hang. Chuột khôn lanh vô cùng, chúng biết sự nguy hiểm đương rình rập chung quanh như chồn, cáo, rắn, trăn… và còn có con người nữa. Nhưng thâm độc nhứt vẫn là con người. Cộng đồng nhà chuột làm hang sâu đưới lòng đất, một bọng hang rộng đủ chứa hàng trăm con và hang có rất nhiều ngõ ngách phòng thoát thân khi gặp nguy hiểm. Vậy mà người ta lấp đất chận kín hết các miệng hang ngách, chỉ chừa lại hai miệng hang chính, một miệng chận lưới hoặc gắn nguyên cái lờ đặt cá tổ chảng, còn miệng kia thì dồn rơm, châm lửa rồi quạt cho khói lòn vô hang… Những con chuột bị ngộp khói chạy ra cửa hang duy nhứt, liền bị dính lưới hoặc chui vô lờ, con nào chạy thoát ra ngoài nếu không bị chó chụp thì cũng bị người ta cầm cây đập chết ngay tại chỗ.

Trên đây là một trong những cách bắt chuột đồng. Trước khi nói chuyện bắt chuột rừng thì tôi xin kể một cách ăn chuột rừng cũng khá hấp dẫn. Thời đó U Minh Hạ đất rừng nhiều vô số, người ta muốn khai hoang lấy đất trồng trọt thường dùng cách đốt rừng. Cách nầy rất có lợi, ngoài việc lấy được đất làm ruộng hoặc làm rẫy người ta còn chận bắt sống được rùa và đập được rắn. Trong lúc lửa đương cháy, chuột chạy loạn xạ nhưng không ai để ý bắt làm gì. Chờ lửa tắt hết người ta mới xách giỏ đi vô đám tro tàn tìm rùa, rắn và chuột bị cháy lượm đem về chòi bày ra nhậu với rượu đế tại chỗ.  Rùa và rắn bị thui có trứng ăn mới ngon chớ thịt thì ăn thua xa thịt chuột. Nhứt là khi gạt bỏ hết lớp da chuột bị cháy, xé hai cái đùi phía sau chấm múi tiêu ăn kèm với bần chua và uống rượu đế thì khô lân chả phụng cũng không sánh bằng.

Bắt chuột rừng không phải rườm rà như bắt chuột đồng, chỉ cần một cái roi vừa tầm và con chó khôn ngoan, trung thành với chủ là được rồi. Vào những ngày mùa mưa, người ta cầm roi, mang bao và dắt theo con chó, đi vô rừng tìm những cây rậm lá, nơi có nhiều chuột núp tránh mưa. Thoạt tiên người chủ leo lên đập roi đuổi dồn chuột ra một nhánh rồi tay nắm cành cây rung và tay kia vung roi đập mạnh vô thân cây. Bọn chuột thấy cành cây rung và nghe tiếng đập xành xạch, chúng hoảng hồn nhảy càn rớt xuống đất, phía dưới chó hườm sẵn chụp cắn chết từng con chuột rồi tha gom lại để chung một chỗ. Vừa rung vừa đập cho tới khi hạ được con chuột cuối cùng người chủ mới ngưng tay rồi leo xuống đất, lượm hết số chuột bỏ vô bao, sau đó chủ và chó đi tìm lựa cây khác có nhiều chuột tiếp tục bắt… Chuột ở rừng ăn trái cây rừng và lá rừng nên thịt ít mỡ, ngoài chế biến những thức ăn bình thường, người ta còn làm chuột muối, chuột khô. Chuột đồng nhờ ăn được lúa nên mập và thịt có nhiều mỡ, cho nên nấu những món ăn liền rất ngon, chớ đem muối và làm khô thì không ngon bằng chuột rừng.

Làm thịt chuột mỗi người mỗi cách, nhưng thông thường có ba cách. Một là nấu nước sôi trụng chuột rồi lột da, moi bỏ ruột chừa lại lá gan, hai là đốt rơm thui chuột xong lột da, moi bỏ ruột lấy gan, ba là không cần trụng nước sôi, cứ cắt đầu chuột rồi lột da, làm ruột sạch. Nhưng tốt nhứt là sau khi bắt chuột về, trước khi đem chế biến món ăn, người ta đem ngâm nước lạnh rồi trụng nước sôi, làm sạch ruột và bỏ vô thau ngâm nước lạnh một lần nữa cho thịt chuột trắng và không có mùi hôi.

Những món nhậu có chuột ướp ngũ vị hương áp chảo hoặc nướng và chuột khìa nước dừa, chuột cà ri… Tuy nhiên ngon nhứt vẫn là món thịt chuột nướng ngũ vị hương, xì dầu và ăn với rau sống, dưa leo, khế, chuối chát, chấm nước tương ớt, tỏi bâm. Còn món ăn cơm thì có chuột kho sả ớt, chuột nấu canh chua, chuột xào lá rau muôi hoặc lá cách. Thịt chuột tuy chưa sánh được với cao lương mỹ vị trong thực đơn các nhà hàng sang trọng, nhưng dân quê sánh ngang với thịt gà qua câu đồng dao:

Thịt gà đương luộc

Thịt chuột đương xào

Thầy đứng ngoài rào

Thầy hô béo béo…

Lần về quê vừa rồi tôi có ghé chơi nhà  anh bạn, anh ấy dẫn tôi tới một quán ăn đặc sản của miệt đồng bằng sông Cửu Long. Quán được trang trí với những căn nhà nho nhỏ nép mình bên hàng tre, trúc… Khung cảnh đồng quê mộc mạc tạo cho thực khách có cảm giác rất thoải mái, nhẹ nhàng. Thực đơn toàn các loại chim, chuột, rắn, rùa, trăn…, con nào cũng còn sống. Anh bạn giới thiệu cho tôi món chuột nướng lu và khen món nầy ngon nhứt so với các món trong thực đơn. Đối với tôi món nướng thì bất cứ thịt nào cũng ngon chớ không riêng thịt chuột. Tuy nhiên món chuột nướng lu tôi có nghe nói khi còn ở nước ngoài chớ chưa thấy cách nướng ra sao. Tôi đem thắc mắc của mình nói với anh bạn, anh bạn liền hỏi chủ quán cho tôi vào bếp xem chỗ nướng chuột. Chủ quán không chút ngần ngại, vui vẻ dẫn tôi vô bếp. À, thì ra đây là một cái oven làm bằng chiếc lu sành đựng nước, người ta đốt lửa bên ngoài cho nóng để nướng những con chuột đã lột da trần trụi và ướp gia vị móc treo tòn teng ở trong lu..

Thịt chuột nướng lu ăn kèm cóc xanh bầm nhỏ và chấm với muối tiêu chanh… Các thực khách ngồi những bàn chung quanh ăn uống rất tự nhiên. Và anh bạn tôi vừa ăn vừa khen ngon… bá chấy! Riêng tôi thì cứ ái ngại trong lòng. Trong chúng ta ai cũng biết, trên đất nước Việt Nam mình đã bị ô nhiễm đến mức báo động. Nhứt là từ thượng nguồn sông Mê Kông, phía bên Trung Quốc người ta thả rác rến, đồ dơ xuống và những xưởng máy dọc theo ven sông họ xả nước độc vào dòng sông, thấm vào trong đất đai xứ sở nầy mỗi ngày một nhiều… Chim chóc trên trời, thú vật trong rừng, động vật dưới lòng đất và cá dưới dòng sông… loài nào cũng có thể bi nhiễm độc được hết. Chuột là một loại động vật chui rúc bất cứ hẽm hóc nào thì làm sao tránh khỏi. Dù cho không bị nhiễm bởi môi trường thì chính người chế biến thức ăn đã pha chế biết bao nhiêu thứ phụ gia sao cho món ăn trông được mắt và ngon lành bất kể là chất đó có độc hay không. Những ngày lưu lại quê hương, tôi vô bất cứ hàng quán nào, trông thấy món ăn được trưng bày đẹp và mùi vị thơm tho, quá hấp dẫn thì tôi đâm ra nghi ngờ. Hổng ăn thì sợ bạn bè trách mình phụ lòng, ráng ăn vài miếng và  giả bộ khen ngon, nhưng khi nuốt miếng thịt khỏi cổ họng thì muốn ọi ra, làm tôi phải rót rượu uống liền liền. Rượu gạo nhẹ quá không đủ độ dằn mấy miếng thịt chuột, tôi cảm tưởng như có mấy con chuột lởn vởn trong cổ họng muốn trực…bò ra.

Không biết tại thịt chuột nướng lu hay tại tôi uống quá nhiều rượu gạo mà đêm hôm đó về nhà tôi mửa thấu mật xanh, làm hai vợ chồng anh bạn lo lắng đến hốt hoảng đè tôi ra người cạo gió, người thoa dầu một chập mới yên… Sáng ra, tôi cảm thấy trong người rất nhẹ nhàng nhưng mình mẩy thì ê ẩm và bầm tím. Tôi ra nhà tắm đánh răng rửa mặt. Khi tôi trở vô thì vợ anh bạn đã dọn sẵn bữa điểm tâm và mời tôi vào bàn. Chị múc đưa tôi tô cháo thịt bầm rắc tiêu hành thơm phức. Chị khuyến khích: “Cháo thịt chuột bổ lắm đó, chú ăn đi cho khoẻ!”

– !!!

Nguyễn Lê Hồng Hưng