Bới đất tìm xương

Trần Ðình Thế

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

Chiếc đồng hồ đeo tay tìm thấy trong nấm mồ tập thể.

Từ một mẫu tin nhắn
Những ngày này Saigon, một buổi trưa hè nóng bức, tôi lang thang vào Internet một cách bất định thì vô tình đọc được một tin nhắn tìm người thân: “Gia đình muốn tìm tin tức về người anh của chúng tôi Lê Văn Tài, số quân 74/70/428, thuộc Tiểu Ðội 1, Tiểu Ðoàn 38, Liên Ðoàn 32 Biệt Ðộng Quân. Trong lúc rút quân từ Tây Ninh về thì mất tich….”Tôi dừng lại suy nghĩ một hồi rồi quyết định sẽ liên lạc với người thân của gia đình chú Tài – vì bố tôi chính là Cố Thiếu Tá Trần Ðình Tự, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 38, Liên Ðoàn 32 Biệt Ðộng Quân với mong ước nhỏ nhoi là cung cấp thông tin một cách khách quan nhất. Thông tin từ Mẹ tôi về thời điểm bà nhận xác Bố tôi vào ngày 3 tháng 5, 1975 là tại trường tiểu học Trung Lập Hạ, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi. Tôi liền liên lạc với cô Hương là người nhà của chú Tài….

 Ngày thứ nhất:
Cái cảm xúc trở lại nơi chiến trường xưa làm lòng tôi xao động, lúc trên đường đầu óc cứ ngẩn ngơ hình dung ra khoảnh khắc đau buồn nhưng kiêu hùng, nơi đây vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, Bố tôi và các chiến hữu đã đánh một trận để đời và đã anh dũng nằm xuống cho quê hương, thỏa ước lòng kiêu hãnh, không bao giờ đầu hàng – họ những chiến sĩ BÐQ oai hùng đã chiến đấu đến những viên đạn cuối cùng.
Quãng đường khoảng 50 km đưa tôi đến trường tiểu học Trung Lập Hạ, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi. Tôi đứng trước cổng trường mà lòng đau thắt từng cơn, hình dung cảnh các chiến sĩ BÐQ trói tại sân trường, bị nhục mạ, hành hạ… trước khi đem ra cái mương gần đó để tàn sát bằng những họng súng của bọn du kích tại địa phương, sao mà não lòng. Một cơn gió mạnh mẽ, cùng với cái nắng gay gắt mang cát bụi bất chợt đi ngang qua làm tôi chợt bừng tỉnh… Ghé vào quán nước nhà tranh vách đất ven đường ngồi trấn tỉnh lại, tôi hỏi thăm chủ quán nước và họ cho biết tin; có một hố chôn tập thể cách chỗ tôi ngồi khoảng 1km, trên bờ ruộng của ông Mười Nghe, chính xác là 12 người lính của BÐQ bị tàn sát sau khi đã chiến đấu đến cùng và không chịu đầu hàng, họ bị bắt tại Hương lộ 2… tôi gần như mất hồn… thầm nghĩ như vậy là đúng rồi. Bỗng nhiên có một người được gọi là cô Sáu ở đâu xuất hiện như một định mệnh, Cô tự nhiên kéo ghế lại sát bàn của tôi đang ngồi và nói như đang lên đồng: cái hố chôn tập thể là của lính Ông Cọp trên vai trái, mà hình như người ta gọi là Biệt Ðộng Quân, nghe đâu rút quân từ Tây Ninh về đến đây bị phục kích” tôi buộc miệng reo lên: như vậy là đúng rồi…Tiếp đó cô Sáu nói, ngoài BÐQ rút từ Tây Ninh về đánh trận sau cùng, không có trận đụng độ nào hết… chỉ có là sau ngày 30 tháng 4 bọn du kích đi lùng sục các dân địa phương mà đi lính VNCH, chúng cũng mang ra mà tử hình hết… Cô còn nói với tôi là phải gặp chủ của cái ruộng đó là ông Mười sẽ biết được thêm tin tức, nói xong cô đứng lên đi về như một làn gió mà tôi quá bối rối chưa kịp để cám ơn…
Sau đó tôi xin phép đứng lên và ra ngay bờ ruộng nơi tử hình 12 quân nhân BÐQ, nó trước đây là những cái hào được đào để chống chiến xa… Người chủ quán nước hướng dẫn ra tận nơi đó là cái mô đất chôn 12 người, bọn du kích tập trung các quân nhân BÐQ đứng trên mép của cái mương rồi xả một loạt đạn AK, các thi thể ngã rộp như cây chuối bị đốn, sau đó chúng bỏ đi, người dân xung quanh thấy tội nên đã đắp vội nắm đất cho những anh hùng vô danh này…
Cảm giác lúc đó khó diễn tả, tôi cứ nhắm nghiền mắt và rơi lệ, giọt nước mắt của sự tiếc thương,đau đớn, giọt nước mắt của lòng căm phẫn… để lắng nghe cũng như để hình dung ra thời khắc đó, chiều ngày 30 tháng 4 của 36 năm về trước… tôi như dại người nhưng vẫn có giữ bình tĩnh nhằm để tìm hiểu thông tin một cách chính xác nhằm xác định bốc hài cốt cho chú Tài – là người lính truyền tin ở lại sau cùng với Bố tôi.


Ngày thứ hai:
Những dòng chữ tìm người thân tưởng chừng như vô cảm trên Internet, nhưng chan chứa khát vọng muốn tìm được tông tích của người thân, làm cho tôi có nhiều động lực đễ phải cố gắng tìm được nơi diễn ra trận đánh và những cái chết đầy anh hùng của các quân nhân BÐQ đã oai dũng chiến đấu đến phúc cuối cùng cùng với Bố tôi.
Tiếp tục lên đường chạy qua nhà chú Mười, ông là chủ ruộng nơi có cái hố chôn tập thể, như một sự sắp đặt ngẫu nhiên hay có sự trợ giúp của một sự huyền bí nào đó, ngày tôi nói chuyện cũng là ngày ông vừa từ Saigon về sau thời gian nằm bệnh viện. Chú hỏi ngay vào vấn đề: tôi có giúp được gì cho mấy chú? Tôi bắt đầu câu chuyện: cháu là người thân của một trong mười hai người nằm ở cái hố chôn tập thể đó, giờ chú có thể kể lại chi tiết chính xác về cái hố chôn này không?
Chú Mười vội pha ấm trà và châm điếu thuốc hút, ông kể: lúc thời điểm đó thì tôi không chứng kiến việc này, nhưng sau ngày 30 tháng 4 người dân ở đây ai cũng biết là cái hố chôn 12 người lính là nằm chính trên bờ ruộng của tôi, tôi trồng lúa nhưng không dám trồng trên phần mộ đó, đến dịp Rằm hay Tết tôi đều mua đồ cúng cho mấy ổng và cầu mong là người thân sẽ tìm đến và mang họ về. Tiếp theo ông nói, chính xác theo lời kể thì là 12 quân nhân của BÐQ nghe nói rút quân từ Tây Ninh, khu vực ấp chợ Rầy, Khiêm Hanh, Bầu Ðồn về đến đây thì bị phục kích cũng được chôn ở cái hố đó. Tôi tiếp lời, như vậy chú có biết ai là du kích hay những người tham gia trận đánh đó không?
Ông rít một hơi thuốc thật sâu và nói: hiện nay chỉ còn một người có thể biết chính xác là ông Út – trước đây là du kích ở địa phương này, may ra ông có thể xác định cho các chú, tôi như vừa nhặt được vàng, vừa mừng, hồi hộp và lo lắng… không biết là họ có thể tận tình giúp đỡ hay không, cho dù cuộc chiến đã xãy ra 36 năm… tôi chợt rùng mình…
Sau lời cám ơn và không quên tạm biệt chú Mười, tôi nói: cháu xin đại diện gia đình kính mong Chú tạo điều kiện để bốc mộ của 12 người cho họ về chùa để siêu thoát… Chú ấy trả lời ngay: Tôi sẽ tạo mọi điều kiện cần thiết đễ các chú bốc mộ, giống như tôi làm công đức, ông nở một nụ cười nhân hậu và hạnh phúc.
Ðường từ Củ Chi về Saigon trời bỗng mưa nặng hạt, những cơn gió xào xạc mang theo những giọt mưa rơi làm tôi cay mắt… nhưng không tôi đã bật khóc vì bao nhiêu kỷ niệm tràn về… khóc và buồn cho cái bản tính ích kỷ của mình vì trước đây tôi luôn luôn nghĩ rằng chỉ có Bố tôi là anh hùng nhưng sau khi thực hiện cuộc đi tìm mộ này tôi mới nhận biết một điều thiêng liêng cao cả là, họ những người đã cùng chung lý tưởng với Bố tôi cũng quá xứng đáng là những anh hùng vị Quốc vong thân, và dù có muộn màng họ sẽ nằm trong nơi trân trọng và đáng quí nhất trong trái tim và tâm hồn của mọi người. Họ thật sự đúng là những “người chiến sĩ vô danh.”

Ngày thứ ba:
Trằn trọc thao thức cả đêm không tài nào chợp mắt được, đầu óc tôi có quá nhiều suy tư và trắc ẩn… cảm giác vừa mừng vừa lo, vừa hạnh phúc vừa đau khổ… cầu mong trời mau sáng để tôi lên đường đi Củ Chi để gặp lại nhân chứng sống và duy nhất còn lại đó là chú Út – người du kích năm xưa. Có thể hiểu được nỗi lo trăm mối của tôi vào thời điểm đó: có thật sự là cái hố chôn mà chính tay Mẹ tôi 36 năm về trước đi tìm xác Bố tôi đã đào lên và lắp lại, có thật, sự là cái hố của 36 năm về trước và có chú Tài không? Mà nếu có chú Tài thì lấy gì chứng minh nếu không có thẻ bài, thẻ căn cước, hoặc các loại giấy tờ khác…
Ðường về Củ Chi dường như ngắn lại, tôi đến ngay ngã tư Tỉnh lộ 2 và Hương lộ 7 là nơi TÐ 38 rút quân từ Tây Ninh về cố gắng đến Ðồng Dù –=- nhưng trên thực tế Ðồng Dù đã thất thủ vào ngày 29 tháng 4, 1975 mất rồi. Tôi đứng yên lặng một hồi lâu, đốt vội điếu thuốc, đứng tựa vào thành cầu Sạn nơi đã diễn ra trận đánh nhằm hồi tưởng lại thời khắc của 36 năm về trước.
Tiếng xe chạy qua lại làm tôi không thể nào tập trung được, tôi quyết định tiếp tục rong rủi lên đường, chạy thêm một đoạn đường nữa là đến nhà chú Út, nhà ông nằm sâu trong một con hẻm nhỏ sình lầy lội, nhà ông bán quán nước và cơm trưa cho các công nhân của một xí nghiệp gần nhà.
Tôi dừng xe lại như một người khách bình thường, kêu một ly café đá tôi hỏi người phục vụ: có phải đây là nhà của chú Út không? Người con gái liền trả lời: Ba đang ngủ, anh tìm Ba có việc gì không? Tôi liền đáp: em vui lòng gọi Ba dậy, anh ở Saigon xuống có việc cần hỏi Ba… Tôi nín lặng và hồi họp trong khi chờ ông thức dậy, 10 phút trôi qua mà tưởng chừng như dài vô tận.
Và ông đã bước ra, dáng vóc còn mệt mỏi và ngái ngủ. Tôi mời ông ngồi và bắt đầu câu chuyện:
“Cháu từ Sài Gòn xuống, vì cháu có người quen nhờ đi tìm cái hố chôn tập thể ở ngoài tỉnh lộ 7,” chú Út liền nói: “Ðúng rồi, ở đó có cái hố chôn nhưng tôi không còn nhớ gì hết?…” Tôi giống như từ trên mây rơi xuống mặt đất, cố kiềm nén cảm xúc, tôi mời ông uống nước và tiếp tục câu chuyện. Tôi kể ông nghe toàn bộ câu chuyện đã nói với chú Mười và cô Sáu…. Ông liền đột ngột thay đổi cách nói chuyện: ông kể là lúc đó khoảng 11h00 đến 12h00 trưa thì người dân về báo là có một nhóm lính được trang bị đầy đủ súng, máy truyền tin… đang tiến về hướng căn cứ Ðồng Dù có bắt theo vài du kích để dẫn đường và dường như họ không đến địa điểm tập trung để đầu hàng.
Du kích xã tất cả ở đây rất đông vì thời điểm này xã Trung Lập Hạ đã là vùng giải phóng vào ngày 29 tháng 4, ngày mà căn cứ Ðồng Dù thất thủ. Tôi nói tiếp: cháu là người được người nhà nhờ đi tìm cái hố chôn vì họ có thông tin là người nhà họ bị chết tại khu vực này sau khi rút quân từ Khiêm Hanh, Bầu Ðồn, Tây Ninh về. Chú Út chợt reo lên đúng rồi, tôi nhớ ra rồi dẫn cánh quân đó về có ông thiếu tá rất đẹp trai, lúc đó du kích của tất cả khu vực đều tập trung để đánh chặn TÐ đó, tôi như đứng tim vì câu nói vô tình của chú Út về Bố tôi – nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh: cháu có liên hệ được với vợ của ông thiếu tá đó vì cô ấy là người chỉ cái hố chôn này. Chính cô ấy là người lúc đi nhận xác đã tự tay bới cái hố đó lên khi đi nhận xác chồng, cái hố chôn rất cạn vào thời đểm đó, cô ấy kể chỉ cần cào nhẹ lớp đất là phát hiện ra xác người liền….
Chú Út ngắt lời và nói tiếp về trận đánh, lúc du kích đã dàn quân ra phục kích xong thì TÐ đó về đến khoảng 40 người và lọt vào vòng vây của toàn bộ du kích ở đây. Phía du kích phóng loa kêu gọi đầu hàng, đáp lại là tiếng súng nổ từ TÐ 38, như vậy là họ quyết đánh rồi, cuộc giao tranh du kích và TÐ 38 đánh nhau khoảng được 30 phút. Rồi bỗng nhiên tiếng súng im bặt, không khí nặng nề mùi thuốc súng, cảnh tượng người chết của hai bên nằm la liệt… tiếp đó phía du kích tiếp tục kêu gọi đầu hàng và thông báo căn cứ Ðồng Dù đã thất thủ nếu không đầu hàng sẽ có xe tăng đếm yểm trợ và tiêu diệt… vẫn không có lời đáp trả từ TÐ38… nhưng sau đó vài phút thì họ phát hiện TÐ 38 gần như kiệt quệ và hoàn toàn hết đạn từ lâu… tất cả còn lại 12 người bao gồm TÐT, người mang máy truyền tin, một sĩ quan thiếu úy đầu bạc, và 9 người lính còn lại… họ đang ngồi bên nhau cùng hút những điếu thuốc quân vụ cuối cùng, tất cả đã hết đạn và bị dẫn về trường tiểu học và trói tất cả tại đó…
Tôi gần như chết lặng, sự thật đây rồi… vì từ đầu tiếp xúc với tất cả mọi người tôi đã che giấu thân phận của mình để nhằm tìm kiếm và có một thông tin khách quan nhất về cuộc tìm mộ đầy gian nan vất vả này nhưng đầy bất ngờ, nhiều cảm xúc, vì tôi đã được nghe kể về trận đánh oai hùng của Bố tôi và các chiến hữu, và cũng quan trọng không kém là sự thật về cái chết của Bố tôi. Tôi quyết định tạm dừng tại đây và xin phép ra về vì tôi bắt đầu muốn khóc nhưng cố kìm nén lại. Sau khi từ giã tôi nói, hôm nay cháu đến đây là để tìm hiểu có phải là cái hố đó chôn các lính rút từ Tây Ninh về, chú Út tuyên bố chắc nịch, chính xác rồi đó, chính chú là người canh chừng khi họ bị trói trong trường học nên chú nhớ rõ từng khuôn mặt từng người. Ðể hôm khác lên nếu chú còn nhớ gì thì sẽ kể tiếp.


Ngày thứ tư:
Về đến nhà thì trời đã tối hẳn, cơm nước xong là tôi lên net để thông tin cho người nhà của Chú Tài, là người lính truyền tin của Bố tôi. Sau một vài phút thấy nickname của cô Hương đang online thì tôi mừng khôn xiết và tôi đã truyền tải những thông tin mà tôi có được mong mỏi là gia đình có thêm tin tức về chú Tài… Cô Hương nói ngay như vậy là đúng rồi, chắc cô sẽ về Việt Nam cùng tôi thực hiện việc tìm hố chôn và cải táng, tôi hơi bất ngờ về việc này vì tôi nghĩ rằng gia đình của chú Tài sẽ đi cùng tôi chứ không phải là cô Hương và cô ấy chỉ là người yểm trợ. Cô nói rất cương quyết rằng cô sẽ về VN một chuyến… Tôi nói tiếp cháu cũng nhiều cảm xúc quá nên nghĩ ngơi vài ngày, sau đó cháu sẽ tiếp tục lên đó thêm lần nữa để nghe chú Út kể tiếp may ra có thêm tin tức gì mới… và cô Hương đồng ý.
Tôi liền liên lạc với Mẹ để kể về cuộc tìm kiếm của tôi, biết là Bà sẽ rất buồn nhưng biết làm sao được vì Mẹ tôi có thể may ra nhớ thêm điều gì. Bà nói, con cố gắng làm hết sức mình để giúp họ vì lúc đó gia đình chỉ mong là tìm được xác của Bố chứ đâu có khả năng và thời gian làm cho những người còn lại, đó là trăn trở của Mẹ suốt bao nhiêu năm qua, tôi nói Mẹ yên tâm đây là trách nhiệm và bổn phận con phải làm, chứ con không hề nghĩ đây là một việc làm từ thiện hay công đức, tôi biết Mẹ tôi rất hài lòng về cách suy nghĩ của tôi.
Vài ngày trôi qua, đầu óc tôi cứ quay cuồng với bao suy nghĩ chẳng tập trung được vào việc gì nhưng tôi mừng thầm vì đã có thêm nhiều tình tiết là người ở lại cuối cùng sau trận giao tranh giờ thứ 25 có một người lính truyền tin của Bố tôi, sau cuộc đụng độ vẫn con mang máy truyền tin cho TÐT…
Rồi cô Hương cũng đã về đến Việt Nam, chúng tôi ngồi bàn bạc cách làm sao cho nhẹ nhàng và nhanh chóng vì có lẽ chẳng ai muốn về lại nơi đau thương đó. Tôi và cô quyết định sẽ xuống nơi hố chôn tập thể với mong muốn là thông báo cho các Chú là khai quật và đem các chú về nơi an lành nơi không có tiếng súng, sự tàn ác, dã man mà chỉ có tiếng kinh hàng ngày.
Vài ngày sau đó, tôi, cô Hương, chú Nguyên (người em của chú Tài) lên đường về Củ Chi, trên đường đi chẳng ai nói với ai lời nào, ai cũng mong muốn là mau đến nơi nhưng dường như tôi thấy đoạn đường sao mà xa vời vợi, cái cảm giác cứ ảm ảnh tôi trong suốt quãng đường, khi ngôi trường hiện ra trước mặt cũng là lúc mọi người đã thấm mệt.

Những khúc xương chân được tìm thấy đầu tiên

Tôi đã hướng dẫn và đã kể cho mọi người nghe về câu chuyện mà tôi đã được chú Út kể cho tôi nghe, ai cũng không cầm được nước mắt. Khi đến nhà chú Út thì có một việc không ai ngờ đến là khi vừa thấy chú Nguyên thì chú Út buộc miệng kêu lên: giống lắm, chú này giống cái ông lính truyền tin mang máy cho ông thiếu tá… mọi người ai cũng giật bắn người vì câu chuyện bất ngờ này… Sau vài câu nói chuyện chúng tôi cùng mang một số đồ cúng mang theo ra cái hố chôn…Như vậy đấy mọi người ơi, dù 36 năm về trước họ có thể là kẻ thù của nhau, nhưng giờ đây nhìn hình ảnh này tôi không thể cầm được nước mắt, khóc nhiều rồi tôi cũng chẳng biết khóc vì cái gì nữa… nhưng cái hình ảnh này đã làm tôi thật sự cảm động. Sau các nghi thức cúng kiến xong, chúng tôi quay lại nhà chú Út để bàn về việc tiến hành khai quật, chú Út là người đã thật sự giúp đỡ rất nhiều, ông làm vì tình người, sự cảm thông, hay sự hối hận???… Nhưng tôi hy vọng đó là những việc làm xuất phát từ tình người, những cử chỉ và hành động của ông phần nào làm xoa dịu mọi người khi nghĩ về cái chết thương tâm và uất nghẹn của các quân nhân BÐQ. Ông là người đã giúp chúng tôi liên hệ với bên công nhân khai quật, chuẩn bị đồ cúng, liên hệ với ủy ban xã v.v…
Chúng tôi dùng cơm tại nhà ông và ngồi cùng nhau để bàn bạc việc bốc hài cốt đã được cô Hương ấn định là ngày 16 tháng 9, 2011. Ðường từ Củ Chi về trời mưa nặng hạt, như khóc thương thân phận đất nước Việt Nam điêu linh trong chiến tranh, bao cảnh lầm than, nhiều gia đình tan vỡ…


Ngày thứ năm:
Lại một đêm mất ngủ và thao thức, trằn trọc để mong trời sáng… và rồi buổi sáng đến thật mau, tôi chuẩn bị ra khỏi nhà không quên thắp vài nén nhang cho Bố tôi và cầu mong ông sẽ phù hộ cho chúng tôi khai quật một cách nhanh chóng và chính xác. Khi tôi đến nhà cô Hương thì mọi người đã tề tựu đông đủ, chúng tôi vội vàng lên đường vì ai cũng mong mỏi là sẽ mau chóng đến nơi, trên đoạn đường đi tôi thấy dường như ai cũng căng thẳng và lo âu, riêng tôi như đã đề cập ở phần đầu, cảm giác bấc an, lo lắng, những câu hỏi vẫn chưa có lời đáp, có lẽ không ngoa khi có thể nói rằng, chính tôi là người mong muốn đến thật nhanh tại hiện trường.
Các địa danh như căn cứ Ðồng Dù, cầu Sạn (nơi diễn ra trận đánh), trường học (nơi giam giữ và trói các quân nhân BÐQ)… đều nằm lại sau lưng và chúng tôi cuối cùng cũng đến nơi cái hố chôn đó. Bên bộ phận bốc mộ họ đã đến thật sớm làm các thao tác cần thiết như chuẩn bị đồ nghề và đồ cúng, chú Út cũng đến đó từ bao giờ, tôi thấy ông trầm ngâm và rất suy tư. Sau các nghi thức cúng kiến và thắp nhang cầu nguyện, Sư Cô quyết định là đã đến giờ bắt đầu khai quật, mọi người đã chờ đợi giây phút này rất lâu, đối với gia đình chú Tài thì chắc là đã 36 năm rồi họ chờ đợi giây phút này. Nhà ngoại cảm cầm tay người em của chú Tài và bắt đầu xác định vị trí khai quật…. ai cũng nín thở chờ đợi…


Bên bộ phận khai quật bắt đầu cào lớp cỏ khô ra nhằm xác định vị trí cho chính xác, mỗi nhát cuốc là mỗi lần tim tôi nhói lên vì hồi hộp, người tôi lạnh toát mặc dù đứng giữa cánh đồng trời đang chói chang nắng… sau chừng khoảng vài cuốc, nước từ dưới hố bắt đầu trồi lên làm việc khai quật bị chậm lại vì họ phải cuốc đất đấp thành những cái đê nhỏ nhằm chặn không cho nước tràn vào lại các chỗ đã được đào. Dũng là người chỉ huy các công nhân đào mộ nói với tôi rằng: đúng rồi em có cảm nhận sắp đến chỗ có xương rồi vì theo kinh nghiệm của em chổ nào có xương người thì đó đất sẽ rất mềm…
Vừa nói chuyện với tôi Dũng vừa lấy bàn tay thọc xâu vào lớp đất bì bõm nước, bỗng nhiên Dũng kêu to lên: có xương rồi, xương này to lắm, chắc là xương ống chân…. Tôi như trút được gánh nặng một phần vì đây đúng là hố chôn rồi, nhưng để xác định là có hài cốt chú Tài hay hài cốt của các quân nhân BÐQ là một quá trình rất dài và phải có kỷ vật gì để chứng minh. Dũng nhoẻn miệng cười và hỏi: anh có muốn xem không, không một giây để suy nghĩ tôi trả lời: tất nhiên và tôi là người đầu tiên nhìn thấy cái xương chân đó. Dũng làm một vài động tác và cầm lên một ống xương chân dài, còn nguyên chiếc vớ đã ngả màu bao bọc lại, bất ngờ tiếp theo là còn cả sợi dây trói bằng chỉ cước xanh to bằng ngón tay cái….nước mắt tôi đã rơi vì có lẽ đây là khoảnh khắc đã làm tôi xúc động và sẽ ám ảnh tôi mỗi khi nghĩ về nó, tôi bỗng nhiên hình dung ra thời khắc đó: khi bọn du kích dẫn các quân nhân BÐQ anh hùng ra tàn sát tập thể, họ vẫn bị trói chặt tay hoặc chân, tôi cố dằn cơn xúc động nhưng nước mắt cứ tuôn rơi, lòng tôi gầm thét như bị ai làm tổn thương… tôi tự hỏi tại sao lại có dây nịt, có lẽ lúc khi bị tàn sát họ vẫn mặc đồ quân phục kiêu hãnh của Biệt Ðộng Quân…
Cảm giác đau xót như ai xát muối vào vết thương, nhưng đây là vết thương lòng làm sao mà lành lại được… bỗng nhiên chú Út đứng sau lưng tôi từ khi nào, ông vỗ vai tôi nhè nhẹ như an ủi, làm tôi thức tỉnh nếu tôi quá xúc động sẽ để lộ ra tung tích của mình, đốt vội điếu thuốc lá và cố giữ bình tỉnh, tôi quay sang hỏi chú Út: vậy khi du kích bắn những người này thì họ đang mặc quần áo gì hả chú, ông suy nghĩ vài phút rồi nói: lúc đó đông ngươì lắm, nên chú chỉ nhớ là có người mặc chỉ cái quần cụt, người thì còn mặc quần dài của lính, người thì mặc áo, người thì cởi trần… lâu rồi chú chỉ nhớ có vậy. Tôi ra hiệu cho mọi người nghỉ ngơi một chút vì chính xác là đây rồi với lại tôi muốn có thêm thời gian để suy nghĩ. Tôi quay lưng lại thì hỡi ơi có cả hơn 40 người hiếu kỳ đang đứng xem từ khi nào mà tôi không biết họ đến từ đâu và từ khi nào, họ bắt đầu bàn tán: xót thương có, chửi rủa có, thông cảm có, mắng nhiếc có, cảm thông có và có người đã khóc… họ còn kể chính xác là thời điểm tàn sát vào xế chiều vào khoảng 4h00 hay 5h00 gì đó. Sau vài phút nghĩ ngơi và nói chuyện, bên công nhân khai quật tiếp tục công việc của mình, thời khắc quan trọng đã đến một cái thẻ bài đã được Dũng mang lên từ cái hố chừng nửa mét sâu: tôi như đứng tim và cầm ngay cái thẻ bài đến cái bờ ruộng có nước sạch rửa để xem và hy vọng đó là thẻ bài của chú Tài nhưng một thoáng thất vọng đã xuất hiện trên khuôn mặt của tôi, thẻ bài không phải của chú Tài mà là của:


Ly A Sam

Số quân: 70/131238

Loại máu: A+

Và một thẻ quân nhân cũng là của Chú Sam: tên đầy đủ là:


Lý A Sầm

Sinh ngày: 19/5/1950

Cha: Lý Man Soi

Mẹ: Hồ Thị Minh

Lúc này thời tiết càng nóng gay gắt cũng như lòng người cũng gay gắt nóng hy vọng tìm được thêm kỷ vật.


Và tiếp theo là một thẻ căn cước với nội dung:

Trịnh Ngọc Thuần

Sinh ngày: 3/03/1957 tại Saigon

Cha: Trịnh Hữu Hiền

Mẹ: Hứa Thị Là

Ðịa chỉ: 15/1 Ngô Quyền, Saigon

Như vậy thời điểm chú Sầm bị tử hình ông vừa tròn 25 tuổi và chú Thuần thì chỉ vừa 18 tuổi và 01 tháng. Tôi tự hỏi tại sao chiến tranh kết thúc, các anh là người thắng cuộc tại sao lại phải đối xử và tàn sát những người như vậy và giờ những người đã thi hành việc tử hình năm xưa đang ở đâu, họ có đứng trong vài chục người đang đứng kề cận bên tôi, và họ nếu có và chứng kiến thì họ đang nghĩ gì trong lúc này…. càng quanh quẩn với các câu hỏi tôi càng cảm phục và hãnh diện về các quân nhân BÐQ dưới quyền của Bố tôi, những anh hùng vô danh, vì lý tưởng họ đã chiến đâu đến hơi thở và viên đạn cuối cùng, họ còn quá trẻ để phải chết, nhưng họ đã quyết định chọn cái chết một cách đau đớn nhất nhưng vô cùng kiêu hãnh và đáng để thế hệ sau lấy đó làm niềm tự hào, trong những nổi đau thương luôn có những niềm kiêu hãnh.
Lúc này tinh thần mọi người bắt đầu bớt căng thẳng vì đã có những kỷ vật và ai cũng hy vọng sẽ có bất cứ kỷ vật gì là của chú Tài, có lẽ chú Sầm là người cẩn thận nên hầu như các giấy tờ đều còn. Tôi miên man với bao suy nghĩ và cầu nguyện thì Dũng lại moi từ lòng đất một cái túi nylon đã ngả màu theo thời gian, tôi lập tức cầm lấy và mở ra, thì trời ạ… một chai dầu gió hiệu “song thập,” một bàn chải đánh răng, một cây viết, một cái bóp cá nhân có hình một người mặc đồ lính chụp hình chung với một cô gái – nhưng rất mờ và rất khó để nhận diện khuôn mặt… tiếp theo trái tim tôi có lẽ ngừng đập trong thời khắc này: đó là một cái đồng hồ đeo tay sợi dây đồng hồ bằng da màu đen, còn nguyên vẹn, tôi vội vàng lẻn ra khỏi nơi đang quá đông người và ồn ào: cái đồng hồ đã bị gỉ sét theo thời gian nhưng hai kim đồng hồ thì còn nguyên vẹn…Kim đồng hồ chỉ 4h14 phút ngày 31 – như vậy có 02 giả thuyết chúng ta có thể suy luận:

1. Các quân nhân bị tàn sát vào lúc 4h14 phút, ngày 30 tháng 4, 1975 vì đồng hồ đeo tay thời đó thường là đồng hồ lên giây nên chỉ chạy đúng 24 giờ sau đó lên giây thì mới tiếp tục vận hành, khi chủ nhân của chiếc đồng hồ này bị tàn sát thì nó vẫn tiếp tục chạy đúng 24 giờ (tức là ngày 31 tháng 4, 1975) nữa rồi mới ngừng hẳn 36 năm qua trong lòng đất.


2. Là chủ nhân chiếc đồng hồ đó bị tàn sát, vào lúc thời điểm đồng hổ chỉ lúc: 4h14 phút, khi nằm xuống đã gặp nước và hư hỏng ngay.Tôi như điên như dại, ôm cái đồng hồ vào lòng và bật khóc tôi muốn hét thật to vào không gian yên tĩnh nơi tôi đang đứng một mình. Có một sự huyền bí nào hay chỉ là sự trùng hợp khó tin là các chú đã để lại một dấu hiệu cho mọi người và gia đình biết chính xác ngày và thời gian họ đã nằm xuống cho quê hương, đất nước.
Cuộc đào hố chôn vẫn tiếp tục, thoáng thất vọng đã hiện rõ lên khuôn mặt của cô Hương và gia đình chú Tài là vẫn chưa tìm được bất cứ vật gì để chứng minh là có chú Tài. Nhưng tôi thì hơi khác vì tôi nghĩ rằng trước tiên phải có bất cứ kỷ vật gì để chứng minh đây là TÐ 38, và tôi tiếp tục cầu nguyện, gào thét tên Bố tôi trong tâm khảm là hãy phù hộ cho tôi và mọi người. Và đây rồi thêm một cái bóp cá nhân được Dũng đưa tận tay tôi, tôi lập tức mở ra:

Em gái chú Tài cùng sư cô và gia đinh sửa soạn làm lễ khai quật.

Tôi lập tức đọc kỹ danh sách các quân nhân có tên và trong đó đã có tên của chú Sầm, như vậy như tôi đã nói ở trên chú Sầm là người cẩn thận….được điều động về TÐ 38, Liên Ðoàn 5, Biệt Ðộng Quân, phía sau có chữ ký ông Trung Tá Nguyễn Văn Ðương, liên đoàn trưởng LÐ 5 ký năm 1969, như vậy so với số quân của chú Sầm thì ông về TÐ 38 từ năm 1969 và đã vĩnh viễn không được thuyên chuyển sang các binh chủng khác.Và một giấy có ghi phía sau là: Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 38, Biệt Ðộng Quân, ông Nguyễn Thanh Tiến hay Tiền… năm 1965.
Lúc này trời đã về chiều, ai cũng mệt mỏi và gần như không còn hy vọng gì là sẽ tìm kiếm được nữa vì cái hố đã được đào quá rộng rồi, với diện tích là 3m x 6m…

Sau khi hội ý với nhà ngoại cảm thì ông quyết định là tất cả đã đầy đủ và không nên tiếp tục đào nữa… tôi không thể giải thích được hiện tượng này chỉ biết là ông cứ đi quanh trên cái hố đã được đào, nhắm nghiền mắt và nói chuyện một mình.
Sau đó gia đình hội ý thật nhanh và làm các công tác nhận diện hài cốt của chú Tài bằng hình thức nhà ngoại cảm nói chuyện với các vong linh (lý do tôi không tường thuật việc này vì gia đình chú Tài đã bàn bạc với nhà ngoại cảm). Tiếp theo đó mọi người quyết định sẽ hỏa táng chú Tài và các quần áo, dây nịt, dây trói…. tại cánh đồng lúa nơi chú và các chiến hữu đã nằm lạnh lẽo suốt bao năm qua.
Số hài cốt còn lại tạm thời được để vào trong một cái “khạp” để hy vọng gia đình sẽ liên lạc và mang người nhà của mình về.
Lúc này gia đình và mọi người ngồi cách rất xa, tôi và các bạn đi cùng tiến hành việc hỏa táng… cảm giác như kẻ không hồn… buồn vui trộn lẫn… nghĩ về cảm giác nơi này 36 năm về trước khi chiến tranh chấm dứt đã có một cuộc tàn sát diễn ra giữa những người Việt Nam với nhau cùng chung giòng máu Lạc Hồng, cùng huyết thống… cuộc tàn sát này đã có thể không xảy ra nếu lúc đó…


Phần hỏa táng:
Tôi và cô Hương rong ruổi mang cái “khạp” gửi vào nhà thờ mong ước để xin gửi trong vòng 2 tháng để đăng tin tìm người thân và cũng để vận động sự giúp đỡ vì tất cả các chi phí đều do tiền túi của cô Hương bỏ ra… giờ thì cô ấy đã thật sự hết khả năng mất rồi.
Về nước được 2 tuần tôi vui mừng được cô Hương thông báo là đã đủ số tiền để hỏa táng và gửi vào nhà thờ, tôi hạnh phúc đến dâng trào vì mọi việc gần như đã hoàn tất, mang cái ‘khạp” đi hỏa táng về xong thì tôi liền chạy ngay về nhà thờ đễ làm các thủ tục cần thiết nhằm để các chú an nghỉ…Cảm giác phấn khởi tôi bước vào thì được bộ phận hài cốt cho biết hoàn toàn họ chưa nhận bất cứ tiền của ai để lo cho cái “khạp” này, tôi như chết đứng và vô cùng tức giận, tôi liên lạc với cô Hương thì được Cô cho biết là người đã trực tiếp gửi tiền về cho nhà thờ là ông Ð.T.H – một cựu quân nhân BÐQ, cô Hương cho tôi số phone của người đó để tôi liên lạc và tôi hy vọng chắc họ đã gửi tiền về…. Qua những khó khăn và sự hiểu lầm mà tôi cho rằng có thể tránh được nếu họ – những người đã vận động có một sự tin tưởng và thấu hiểu được các khó khăn mà chúng tôi gặp phải trong suốt quá trình tìm hố chôn – và đây chính là hạn sạn nhỏ trong sự thành công của việc khai quật và hỏa táng mang về nhà thờ đúng như ước nguyện của gia đình.


Ðôi dòng tâm sự:
Về đến nhà tôi thẩn thờ và ngồi bệt trên ghế giống như vừa trở về từ cõi chết, cảm giác như các chú cứ quanh quẩn đâu đây… thầm nghĩ đã nhiều năm nằm hiu quạnh, lạnh lẽo nơi hiu hắt và cô đơn, giờ các chú đã được giải thoát… Hãy thực hiện các ước nguyện của nghiệp trai chưa tròn, về thăm gia đình và bạn bè những người thân đã lo lắng trong suốt thời gian qua các chú nhé!!!
Tôi liên tưởng lại các câu chuyện và lời kể của vài nhân chứng và chính thức tôi xác nhận rằng: Tiểu Ðoàn 38, LÐ 32, Biệt Ðộng Quân là đơn vị BÐQ cuối cùng đã chiến đấu vào giờ 25 của cuộc chiến, họ đã chiến đấu một trận cuối cùng của đời lính vinh quang nhưng đầy cay đắng, họ và chính họ đã chọn cái chết đau đớn nhưng oai hùng sẽ được mọi người nhắc đến…
Theo lời kể của chú Út thì sau khi TÐ 38 hết đạn, người du kích tên là Cò Ráng – đã có những giây phút thóa mạ và mắng nhiếc TÐ 38 và Bố tôi đã to tiếng với người này, sau khi vào trong hội ý chúng đã dẫn Bố tôi ra cái đồng ớt gần đó và tử hình nhằm áp đảo tinh thần anh em còn lại, về nội dung cuộc tranh cãi của Bố tôi thì không ai còn nhớ đến nội dung – kể cả chú Út vì theo ông lúc đó rất đông người, kẻ thóa mạ, dùng những từ khó nghe…. nhưng ai cũng có thể thấy việc tàn sát là chủ đích cá nhân của một nhóm du kích có lẽ lúc đụng độ bên du kích cũng đã bị thiệt hại rất nhiều…

Dự đoán mãi mãi là dự đoán nhưng chúng ta cần tôn trọng sự thật, và vinh danh họ: Thiếu Tá Trần Ðình Tự – và các quân nhân TÐ 38 chính là đơn vị BÐQ cuối cùng chiến đấu và cái chết của họ phải được trân trọng như những giá trị lịch sử của QLVNCH.Bố tôi và họ cũng đã có thể có cách khác để an toàn về với gia đình nhưng tôi hiểu Bố tôi qua nhiều thông tin tôi có được, Ông không bao giờ thỏa hiệp chứ đừng nói đến đầu hàng. Họ đã chiến đấu vì lý tưởng, vì danh dự… Họ không cần vinh danh, không cần chức tước, họ chỉ cần trả lại sự thật cho sự hy sinh của họ, họ chỉ biết chiến đấu với lời nguyện ước với non sông:

Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm

Và sau cùng họ chỉ mong những người còn lại, nhớ đến họ, thắp cho họ một nén hương lòng mỗi khi 30 tháng 4 lại về để họ yên lòng nơi cõi trời cao rộng.

Kính Bố: con đã thực hiện xong trăn trở của Mẹ, trách nhiệm và bổn phận của con một người lính VNCH, đâu đó trong cõi tạm trần gian này con mong Bố đã thấy và hài lòng về những gì con làm cho những người đồng đội đã cùng lý tưởng với Bố và đã vĩnh viễn nằm xuống cho quê hương. Hãy thanh thản nơi cõi trời cao rộng – Bố và các chú sẽ không bao giờ cô đơn, sẽ không bao giờ bị quên lãng.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 Apr 2026

Thường ngày tôi vẫn thường nghe người ta quảng cáo trên đài phát thanh, phỏng theo câu “tích cốc phòng cơ – tích y phòng hàn” thành một câu ví von khác “tích y phòng hàn, tích vàng phòng thân và tích hột xoàn thì không sợ nghèo”. Nói đúng ra, giàu mới có hột xoàn, vì nghèo làm sao mua nỗi đá quý. Nghèo thường phải đi đôi với đói, nhưng giàu có của cải có khi nào phải lâm cảnh đói không? Thời chiến tranh, loạn lạc đã cho chúng ta thấy chuyện gì, nghịch lý đến đâu cũng có thể xẩy ra.

Dưới đời Vũ Hán Đế bên Tàu, Thạch Sùng quyền cao chức trọng vơ vét của phi nghĩa mà làm giàu có, khi Hán Vũ Đế qua đời, Tư Mã Luân dấy loạn, thấy thiếp của Thạch Sùng là Lục Châu xinh đẹp muốn chiếm đoạt. Lục Châu nhảy lầu tự sát để khỏi bị ô danh, Thạch Sùng bị đưa ra pháp trường chém đầu. Sự giàu có của Thạch Sùng và sắc đẹp của nàng Lục Châu đều là mối hoạ. Thời nay, lúc nhiễu nhương, loạn lạc, sự giàu có làm ăn từ lương thiện cũng bị vạ lây. Dưới thời Đệ I Cộng Hoà, ở miền Trung, thầu khoán Nguyễn Đắc Phương cũng vì giàu có, vô tình tranh chuyện làm ăn với cường quyền mà bị thảm sát. Ông Nguyễn Văn Yến, đại thương gia, chủ nhà hàng Morin, cũng vì tài sản mà bị bắt bớ giam cầm, rút cuộc sự nghiệp tiêu tan.

Thời Cộng Sản chiếm miền Bắc, phú nông bị đem ra đấu tố, bà Cát Thành Long nhận phát súng đầu tiên để khai diễn chiến dịch cải cách ruộng đất. Thời Cộng Sản chiếm miền Nam, tư sản bị tịch thu tài sản, đưa đi vùng kinh tế mới, giàu có cũng là cái hoạ. Trong những chuyến di tản, hay vượt biển, con người qua những cơn đói khát, nhất là khát, một lượng vàng đâu có mua được một hớp nước, như vậy tài sản, của cải tích luỹ đâu có được gía trị muôn đời. Chiến tranh và thiên tai đã làm đảo lộn tất cả vị trí, thứ lớp của loài người, như cơn sóng thần đã đưa gan ruột từ dưới đáy biển sâu lên mặt đất và cuốn những gì hiện diện trên mặt đất xuống biển sâu. Vì chiến tranh và chế độ chính trị, nhiều gia đình người Việt chúng ta đã phải hai lần di cư và ít nhất là đôi ba lần chạy loạn, do đó từ triệu phú có thể trở thành tay không chỉ qua một đêm. Giàu có, hạnh phúc không là cái gì vĩnh cửu, đời đời. Trong thời giặc giả loạn ly, giàu có thường là cái hoạ khôn lường, nơi nhòm ngó của quân đạo tặc và cũng là chuyện tranh giành, ganh tị của cường quyền. Ngày nay trên thế giới nhiều quốc gia đã tổ chức xổ số và do đó nhiều người trúng độc đắc trở thành triệu phú. Nhưng theo sự tìm hiểu của báo chí, những người trúng số thường không gặp may mắn sau khi trở thành triệu phú. Ông Whittaker Jr. ở tiểu bang Virginia trúng số 315 triệu vào tháng 12-2002, chỉ trong vòng 5 năm ông đã trở thành trắng tay sau bao nhiêu biến cố không may xẩy đến cho gia đình ông, đến nỗi ông phải thốt lên: “Phải chi tôi đã xé ngay lá vé số này từ lúc biết mình trúng độc đắc”. Năm 1986, ông Jeffrey Dampier trúng số 20 triệu đô la nhưng 19 năm sau ông phải vào tù vì tội giết người. Năm 1997, ông Billy Bob Harrel Jr. trúng số 31 triệu đô la nhưng cuối cùng lâm cảnh vợ chồng ly dị và tự sát. Không chắc những người trúng số đều gặp cảnh bất hạnh, nhưng có một điều chắc chắn là khi người ta trở nên giàu có, họ thay đổi cuộc sống và không làm chủ được đời mình. Vậy tốt hơn là đừng mơ ước trúng số và sống hạnh phúc với những gì mình đang có. Giàu có đã là cái hoạ, nhan sắc lại càng gặp cảnh ngang trái, phải chăng vì “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen!” Người xưa đã có câu “má hồng thì phận bạc”. “hồng nhan đa truân”, ” Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu”(Từ xưa người đẹp như danh tướng, không để nhân gian thấy bạc đầu.) Nàng Kiều của Nguyễn Du quá đẹp để cho “hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” nên phải nhận “đa truân”, mười lăm năm lưu lạc hết lầu xanh này cho đến thanh lâu khác. Tuy vậy không một ai mà không muốn đẹp, bậc nam nhi thì yêu mê mệt cái đẹp của phụ nữ, phụ nữ thì luộn luôn kiêu hãnh vì sắc đẹp của mình, nhưng lại lo sợ sắc đẹp chóng tàn nên cố gắng gìn giữ, trau chuốt và sửa sang khiến cho dịch vụ thẩm mỹ ngày nay là một ngành kiếm ra tiền nhiều nhất. Nhưng nhan sắc có đi đôi với hạnh phúc không? Trong lịch sử nước Tàu những người đẹp như Tây Thi, Chiêu Quân cho đến Võ Tắc Thiên đều là những kẻ không tìm thấy hạnh phúc.

Vào thập niên 50, tại Huế, một tay chân thân tín của vua Bảo Đại, Thủ Hiến Phan Văn Giáo, là “một tay đã bẻ bao cành phù dung” đã làm bao nhiêu gia đình có con gái đẹp phải điêu đứng oan khuất. Trong tập chuyện thật “Thượng Tứ, Nhớ Nhớ Quên Quên”, nhà văn Quế Chi đã kể chuyện một mỹ nhân, con gái một nhà may nổi tiếng ở Huế trong thời đó, chỉ vì một hôm ra giếng rửa chân, bị bọn tay chân Ưng Khuyển để ý, lập công, bắt dâng lên Thủ Hiến. Chuyện ô nhục không thể nào tránh khỏi, cuối cũng cả gia đình, không chịu dược nỗi nhục nhã phải bỏ Huế vào Nam sinh sống, và thiếu nữ xinh đẹp ngày nọ ngày nay đã trở thành một sư bà tại một ngôi chùa sư nữ. Thời đó, các nữ sinh xinh đẹp nổi tiếng ở Huế đã trở thành mục tiêu của công an, không biết thực sự họ có hoạt động cho Việt Minh hay không, nhưng thường bị bắt bớ, học hành dang dở và cuộc đời rẽ qua những lối chông gai khác.

Vậy làm thân con gái cũng đừng đẹp lộng lẫy như Thuý Kiều, cứ như Thuý Vân đẹp thuỳ mị, đoan trang mà sống hạnh phúc. Cũng đừng nghèo quá để lo chạy gạo từng bữa, nhưng cũng đừng quá giàu có để đêm ngủ không ngon giấc vì lo trộm cướp như J.J.Rousseau đã nói: “Người đàn bà đẹp khó mà sống được an thân, cũng như ngọc quý là mồi của trộm cướp.”

Không đẹp, không giàu cũng đừng tài hoa lắm cho người ghét ghen. Việt Nam có câu “con gà tức nhau tiếng gáy” như vậy vào lúc ban mai, nghe con gà ở nhà này lên tiếng gáy, con gà nhà kia tức khí cũng đáp tiếng lại, chứ không phải chúng báo hiệu trời sắp sáng, hay nói một cách văn chương “lên tiếng gọi mặt trời!” như người ta vẫn thường nghĩ. Ban AVT thì cho rằng “hai cô ca sĩ có thương nhau bao giờ!” chắc chắn trong này có một cô hát hay hơn cô kia. Làm tướng cầm quân giỏi, nhưng ngay thắng, trong sạch, bộc trực, ở quốc gia dân chủ thì bị cách chức. Tướng giỏi mà không phe đảng, xu nịnh, ở một đất nước độc tài cũng bị giết. Trang Tử khuyên ta đề phòng, đừng nổi danh quá, hữu ích quá, lo giúp đời nhiều quá. Heo mập thì bị làm thịt trước, chim có bộ lông đẹp thì bị săn bắn trước. Người chết giàu có ngậm ngọc quý trong miệng khi khâm liệm thì kẻ đào mồ phải cầm búa đập sọ và hàm răng người chết để lấy của. Cổ nhân cũng đã có câu “ngu si hưởng thái bình”, hay là ta cứ an phận thủ thường, con gái thì mong trời sinh ra đừng quá đẹp, con trai thì đừng có quá tài ba. Còn giàu có bạc muôn không ham, chỉ mong đừng chạy gạo từng ngày. Cứ làng nhàng là xong, không ai thèm muốn, đố ky, ganh ghét, nghĩ chuyện đời: “Giàu như người ta cơm ngày ba bữa, đói như mình đây cũng đỏ lửa ba lần.”

Đời lính

Thơ Cái Trọng Ty

Post by Sơn râu 27 Apr 2026

ném ba lô quăng luôn nón sắt

ta thở phào duỗi thẳng đôi chân

nghìn cân gánh nặng vừa buông xuống

chiều Tuy An chờ đợt chuyển quân

anh bạn chiến trường thèm xị đế

sương chiều trắng sữa nhớ làng quê

xa nghe âm vọng gầm sắt thép

thần chết chờ mi góp núi xương

gió xoay lửa khói mùi tử khí

mìn bẫy địch gài trên lối đi

mấy ai còn sống không thương tật

vợ con thôi thế cũng đành thôi

người về con nước tràn sông Lũy

những địa danh nặng nợ máu xương

anh bạn xác vùi trong túi xách

ta đưa ngươi về tận cố hương

ta ngươi chia chác đời cơ cực

sống cũng như mây chó cỏ thi

chiều qua đụng trận vùi thân xác

thịt xương tan mồ mã ích gì

đời lính loay hoay ngày trận địa

số phần ngán ngẫm chán tương lai

chết đi lơ lửng hồn chưa thoát

mai mốt sông dời cũng chẻ hai

đời lính nở tàn theo nấm rạp

sớm triền đông chiều chết đồi tây

trượng phu ghê gớm cây trụi lá

tình em đành níu đám mây qua

Anh Khui

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 27 Apr 2026

Ngày… tháng…

Trước tiên, Thuỷ có tin tới chữ định mệnh? Tôi không định ca cẩm về thứ gì to tát, chỉ nói tới những chuyện cỏn con.

Thuỷ tin chứ anh, không tin không được, khẳng định thế, đóng đinh chẳng rút ra được ý nghĩ kia. Gia đình Thuỷ nhiều lần vượt biển đều thất bại, từ bãi bờ trong Nam đi dần ra và lần cuối vùng biển của địa phận Huế đã chế ngự tai ương, êm đẹp cho cuộc viễn du tạm gọi xuôi chèo mát mái.

Hèn gì giọng nói Thuỷ mang nặng âm hưởng người Sài Gòn, trong khi ở Hồng Kông đa phần chúng sinh đều gốc gác là dân miền Trung, tách riêng với đám người đến từ phương Bắc. Nghe Thuỷ nói và có khi tôi để cảm tình chạy xiêu lạc thất thoát vào trong ngữ điệu đó. Đừng cười, tôi thực lòng mà!

Thuỷ cười vì nhớ lại, ngay từ đầu, linh tính mình đã không sai trật về một dự cảm. Sự tử tế của anh khi đó làm người khác phải gợn lòng.

Tôi thực sự là đứa tử tế à?

Thì cứ tạm coi như vậy đi, không tử tế thì đã có sự thiên vị chen vào. Hoặc ga-lăng, hoặc nịnh đầm, giả dụ thế. Anh hẳn còn nhớ cái khui mở lon đồ hộp?

Nhớ như in. Vin vào chuyện ấy để nghi ngờ tới định mệnh. Để kể cho Thuỷ nghe đầu đuôi, tôi đi tay không khi vượt biển, nhẹ nhàng quá, tôi nghĩ nên mang một thứ gì theo để kỷ niệm. Anh tôi đã bị cải tạo ở rừng sâu, tôi tìm thấy sợi dây có tấm thẻ bài của anh xâu cùng với cái khui nhỏ bé của lính Mỹ. Buồn tay tôi đeo nó vào cổ và có ngờ đâu tháng ngày sau đó tôi sáng giá được bà con bu quanh thân thương gọi là Anh Khui.

Rất dễ tìm ra anh, người ngồi làm việc thiện nguyện giữa đám đông. Thuỷ nghĩ bọn người cứu trợ tị nạn cũng vụng tính, phát thực phẩm đồ hộp cho người ta mà quên không đưa vật khui mở. Lý ra anh đáng được bọn họ tuyên dương công trạng.

Ban đầu tôi tính cho bà con mượn nhưng người đàn ông đi chung ghe cùng tôi cảnh báo: Mất như chơi, họ chuyền tay nhau rồi cuối cùng vật đi không trở lại với người. Lạ lùng gì bản chất cái đám đông bát nháo ấy. Ăn quả mà chẳng nhớ kẻ trồng cây. Nghĩ có lý, tôi đành bỏ công ra khui mở lần lượt cho họ lon paté hộp cá mòi. Giải quyết xong xuôi khư khư đeo lại vào cổ thứ vật bất ly thân nọ.

Và anh thường ưu tiên khui mở cho Thuỷ. Kỷ niệm đó e quý hơn tất thảy những kỷ niệm khác? Nó còn lành lặn, nó có theo anh sang tới bên đây không?

Sau một tuần nằm phơi nắng gió trên xà-lan, tôi được gọi tên cho vào đất liền làm thủ tục với phái đoàn đặc trách người tị nạn. Có một bà nhanh miệng lại gần: Xem như em là hoa hậu năm rồi, hãy trao lại vương miện ấy cho chị, hồi nào chị theo em sang ngang chị sẽ bàn giao nó cho kẻ đến sau. Đã là dân tị nạn gửi thân đất lạ nên mở lòng chơi đẹp với nhau em nhớ. Bà ấy chị em ngọt xớt còn ôm siết thân tôi chúc lành trước khi bước xuống ca-nô. Tôi thực sự cảm động, chẳng ngại ngần đưa bà kỉ vật của người anh. Khi đó hẳn Thuỷ cũng đã rời xà-lan trước tôi, vì số thuyền Thuỷ nhỏ hơn.

Anh còn nhớ cả số thuyền nữa à?

Nhớ chứ Thuỷ. Họ không hơi đâu biết tên tuổi của đám người xa lạ, họ chỉ cần đọc lên một con số thì rõ trắng đen. Hình như tù nhân cũng vậy, mỗi mạng phải ăn nằm cùng số má ấy cho đến lúc hoàn lương.

Thuỷ “ở tù” được một năm thì bay sang Đức. Mình khai có thân nhân ở bên đó nên phái đoàn Đức vui vẻ tiếp kiến thu nhận. Hôm ra đi trời Hồng Kông xám xịt những mưa tuôn, Thuỷ nghĩ bên Đức e cũng chẳng sáng lạng gì. Tâm lý chung của người sống trong trại cứ mơ tưởng tới Hoa Kỳ, nghe nước Đức họ ngại đủ điều, nhất là vấn đề ngôn ngữ. Nói chung Thuỷ lên đường chỉ vì sợ điều kiện hỗn tạp, chung đụng ở trong trại ấy quá lâu.

Bữa đó tôi đi làm về muộn, vào trại mình xong tôi leo rào, vi phạm điều lệ để đột nhập lén lút, chạy tới dãy hut A2. Thuỷ đã chẳng để lại thứ ám hiệu nào cả. Một tờ giấy nhỏ cũng không, bà nằm cạnh giường Thuỷ nhìn tôi ái ngại: Cô ấy đi rồi, đi vào ban trưa. Ừ, tới chiều tối mịt mà mưa vẫn làm nhoè cảnh vật. Sân đất đọng vũng và tôi đã thầm gọi Thuỷ ơi.

Đến Dortmund Thuỷ có viết cho anh lá thư, anh nhận được không?

Thư chẳng đến tay, trong suốt cả tháng trời ám buồn nọ tôi không nhận bất kỳ một thứ gì cả và may phước Canada gọi tên tôi biểu ký giấy nợ tiền vé máy bay. Tôi đi cũng không một người đưa tiễn. Khi đã bình phi, ngó xuống Cảng Thơm tôi cám ơn vùng đất đã cho mình tạm trú, cám ơn cái khui đồ hộp và cám ơn câu thơ Kiều chợt nhớ: “Trời đông vừa rạng ngàn dâu, bơ vơ nào đã biết đâu là nhà”.

Anh vẫn thế, vẫn cái lối nói chuyện như xưa. Anh thấy Thuỷ ra sao, chúng ta ai nấy đã mòn hao già cỗi. Sau 4 năm tạm gọi là ổn định, người anh giới thiệu và Thuỷ đã lấy chồng hiện có hai con… Hình như sắp rớt mạng hay sao anh nhỉ? Anh nghe rõ Thuỷ nói không?

Màn ảnh máy vi tính chập choạng hình ảnh, đường nét mù mờ. Sóng ngưng tải những tâm sự vu vơ, thứ mà Thuỷ bảo bằng hai chữ: Rớt mạng. Hong Kong và đâu đó bên nước Đức được kéo về gần rồi thoáng chốc chạy dạt ra xa, mù tăm. Ngoài rớt mạng chúng ta bị rớt thêm điều gì? Mưa gió bão bùng rơi xuống triền hạn, khiến đột ngột cắt đứt một đầu mối vừa lần ra, vừa chạm được. Thuỷ đã lấy chồng hiện có hai con. Thôi, vậy cũng xong. Biết nhiêu đó đã vẹn toàn một cuộc trao đổi.

Ngày… tháng…

Bên đó, lịch nghỉ hè của Thuỷ rơi vào tháng mấy?

Anh biết để làm gì?

Cuối tháng bảy này anh lên xe bông, anh đổi đời, Thuỷ sang để làm người đại diện cho đàng trai thì sẽ khiến anh hạnh phúc hết biết. Dắt theo chồng con thăm thú chốn này luôn thể.

Lu bu quá mạng là hình ảnh của kẻ sắp làm chồng, thì giờ đâu mà đoái hoài tới khách phương xa. Thuỷ sợ nhất là chữ “mang con bỏ chợ”.

Chúng ta sẽ gần nhau suốt ngoại trừ đêm tân hôn, tin anh không? Nói láo hộc máu.

Vợ tương lai của anh như nào? Tả Thuỷ nghe.

Tên Nguyệt, nhỏ thua Thuỷ sáu tuổi. Đẹp xấu tuỳ người đối diện, cao một mét sáu bảy, nặng năm mươi mốt ký, tóc đen, mắt nâu và đã qua một đời chồng. Thuỷ muốn biết gì thêm?

Sao anh không nhắc tới chữ định mệnh?

Anh gặp Nguyệt trong “đêm nhớ Huế”. Có lẽ do sự mai mối ngầm của mấy người bạn vốn đã yên bề gia thất. Hai đứa ngồi gần nhau và anh có cảm tình với cái thật lòng của Nguyệt, cô ta không che đậy làm dáng vẻ như đa số các cô gái khác. Thêm điều nữa, Nguyệt nói giọng Nam, âm hao gần trùng như khi nghe Thuỷ nói. Thuỷ sang với anh rồi Thuỷ sẽ chứng thực là hoàn toàn anh chẳng đặt điều vẽ chuyện. Sang chia vui và giúp anh lần này, nhé. Nói theo kiểu người ta ưa sử dụng trong thiệp mời: Sự có mặt của quý vị là niềm vinh dự của chúng tôi.

Lần này không rớt mạng, thời tiết tốt nhưng Thuỷ phải dắt hai đứa con đi mua sắm. Tạm ngưng ở đây, Thuỷ không hứa, để thuyết phục ông xã trước mới tính được. Canada… để xem nơi anh ở có đúng là xứ lạnh tình nồng không!

Ngày… tháng…

Nguyệt cám ơn anh chị đã vượt bao gian khó để sang dự ngày vui của chúng em, đã thế còn mang theo quà tặng. Em luôn có cảm tình với những sản phẩm đặc thù của Germany.

Chúng tôi cũng mến chuộng xứ sở này, nơi được thế giới luôn ngợi ca về mặt an sinh xã hội. Luôn nuôi ý định sẽ đi thăm một lần và đây đúng là cái cớ nhất cử lưỡng tiện, hai đứa con chúng nó cũng thích thú vô cùng.

Trong quán ăn, cái bàn tròn kê sáu ghế. Tôi ngồi gần thằng con trai bảy tuổi, tới chị nó, tới Thuỷ, tới Lợi chồng Thuỷ và tới Nguyệt. Thuỷ vẫn còn mặn mà, những hư hao ngày cũ thời tạm trú trong trại tỵ nạn đã được bồi đắp khi thụ hưởng với cuộc sống văn minh no đủ. Ngồi đó, vẻ đẹp của Thuỷ khiến “hoa nhường Nguyệt thẹn”. Vợ tương lai của tôi chưa đủ hoả hầu để so bì cùng Thuỷ, y như bóng đá, ra sân Đức bao giờ cũng thắng đậm Canada. Chán thế! Được cái, Nguyệt biết cách ăn nói, lời phi lộ của cô làm mát bụng tôi. Lợi, chồng Thuỷ cũng thuộc dạng miệng mồm. Hai người ấy lời qua tiếng lại chừng tâm đắc. Chỉ có Thuỷ và tôi, hai đứa ngậm miệng hến vì chúng bận loay hoay tìm cách xua tan bao bồi hồi ở phút giây tương phùng hội ngộ.

Nguyệt lên chương trình, sẽ dắt gia đình anh Lợi đi vườn hoa nổi tiếng chốn này để thưởng lãm. Cô thêm thắt, có lắm cô dâu chú rể vào vườn hoa nọ để quây video có viết sẵn kịch bản rất mực tình tứ. Thuỷ hỏi, vậy cô dâu chú rể này thì sao? Tụi em đâu còn son trẻ mà đi đùa nghịch kiểu lạ thường ấy, thậm chí chiếc áo cưới của em cũng rất giản dị, đơn giản. Đi vào vườn hoa thuần chỉ để ngắm hoa chứ chẳng đủ sức để cỡi ngựa xem hoa.

Lợi tán thưởng, Nguyệt nói đúng quá và tui rất chịu chữ cỡi ngựa mà Nguyệt dùng. Tôi trộm ngó Thuỷ, cô vừa đá lông nheo sau câu nói của Lợi. Trước lạ sau quen, đứa con trai bảy tuổi của Thuỷ chừng như tỏ vẻ thân thiện với tôi. Nó chỉ biết nói tiếng Đức và như thế tôi với nó như đứa điếc tỏ bày tình cảm với kẻ câm. Tôi ý thức một chuyện, là có đôi khi lòng mình nổi sóng ba đào mà không cách gì để trút bỏ ra qua miệng lưỡi. Tôi nhìn Thuỷ, em có biết hồ nước ấy đang chứa ngập một tình yêu?

Như đã hứa trước với Thuỷ, hoạt cảnh đem con bỏ chợ chẳng hề xẩy tới. Bọn chúng tôi luôn kề cận bên nhau, vợ chồng Thuỷ do từng có kinh nghiệm đi trước, giờ này họ mang vốn kiến thức ra chỉ bày và giúp đỡ lắm việc trong ngày “trọng đại”. Hai đứa con họ thì rất vui thú khi ngồi ở bàn có đặt thùng “phước sương” thu nhận phong bao lì xì của khách khứa được trông chừng bởi quý bà quen biết với Nguyệt.

Lợi thì ngồi ở góc khuất cố viết và cố thuộc đoạn diễn văn sẽ đọc trước giờ nhập tiệc nâng ly rượu mừng. Thuỷ luôn di động vào ra căn phòng dùng trang điểm cô dâu và nhờ trời người ta tạm ngó lơ thằng tôi, thằng chú rể bơ vơ ngác ngơ khi chung đụng với thứ hoàn cảnh nằm mộng cũng chẳng ngờ.

Xớ rớ một đỗi thì Thuỷ đến sát bên lưng, cô như bà Trưng bà Triệu giỏi việc điều binh khiển tướng, sắc bén tầm nhìn khi nhận định thời cuộc. Vào đây. Thống soái ra lệnh. Thuỷ kéo lôi tôi đi vào một góc phòng tối mờ có tấm bình phong che chắn. Có lẽ đây là nơi mà nhà hàng dùng để chứa những thứ đổ vỡ sứt cọng gãy càng. Chúng tôi ôm siết thân, vòng tay như vòi bạch tuộc cuốn chặt từ dặm ngãi Hong Kong kéo về hiện tiền sắp có pháo đỏ rượu hồng. Thuỷ vén áo đầm lên, Thuỷ tụt nội y xuống và nói hụt hơi: Anh khui ơi, cho anh khui Thuỷ đó. Tôi hôn màu son môi đỏ, tôi liếm vị ngọt từ đó ứa ra. Chú rể ơi, cho chú làm nháp trước đó, cho chú ăn cơm trước kẻng, cho chú nhúc nhích trước buổi động phòng. Tôi đi vào người Thuỷ, êm thắm ngọt ngào, sau đó là chấn động của ngọn núi lửa dấu lòng bao phún xuất thạch, ẩm ướt và nóng bức. Thuỷ nhìn xuống “cái khui” vừa được tắm gội và cô giả giọng như ngày còn bên phương trời xao xác ấy: “Tố chề”. Tiếng Quảng Đông nghĩa là cám ơn. Tôi lập lại chữ đó sau khi Thuỷ vuốt lại tóc tôi, chùi môi tôi dính son hồng và sửa lại ngay ngắn cái cụm hoa giả gắn trên túi áo vest của tôi.

Thuỷ đọc hiệu lệnh: Anh đứng đây khoảng năm bảy phút sau khi Thuỷ rời bước. Cô quay lưng, hát nhỏ một khúc nhạc cũ có ca từ: Hôm nay ngày cưới em, vì sao nàng mời tôi đến… Không một ai hay biết ngày xưa chúng tôi có với nhau chút kỷ niệm dẫn dắt bởi một cái vật kim loại nhỏ dùng để khui mở bao nhiêu lon đồ hộp. Chẳng một ai hay sau chất chồng mùa thu lá bay, Thuỷ hiện ra để lấp đầy một ước nguyện không thành dạo ấy: Khui mở con người Thuỷ dù trái tim dấu trong đó đã thôi nguyên vẹn hình hài. Tôi chẳng chùi rửa cái khui ấy. Tôi cất nó trong quần. Tôi nhắm mắt hôn Nguyệt theo sự xúi dục của đám đông, của bao tiếng ly tách muỗng nĩa va chạm. Đám đông chúc chúng tôi hạnh phúc, kể cả Lợi, rất thực lòng có trong bài diễn văn cảm động. Tôi hạnh phúc, vì tôi vừa ăn mắm ăn muối giữa xác thân người tình cũ và đêm nay được cọ xát ăn nằm, hoặc chong đèn thức khuya đếm bạc lời nhiều hơn lỗ với cô vợ mới.

Một quốc gia có tới hai giếng dầu, quốc gia ấy buộc phải giàu mạnh hạnh phúc. Tôi tên Gia, bí danh là anh Khui. Gia này sẽ tìm cách khui giếng dầu của Thuỷ thêm lần nữa trước khi nàng về lại Germany khô cạn nguồn cơn. Thuỷ ơi, em có hạnh phúc không?

Hồ Đình Nghiêm

Anh Ba Trọc

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Apr 2026

Tranh Bảo Huân

Anh Ba Trọc là người bị ghét nhứt ở đất Footscray. Ghét vì cái lối nói chuyện hay móc họng người ta của ảnh. Như đa phần bà con người Việt, ảnh họ Nguyễn, con trai lót chữ Văn, tên là Phú. Nguyễn Văn Phú.

Vì hồi xưa, nhà nghèo lắm, tía má ảnh chỉ mơ tiền rủng rỉnh nên chị của ảnh tên Giàu. Nguyễn Thị Giàu, như nghệ danh Ngọc Giàu của một cô gái nghèo ở cái đất Thủ Thiêm, bên kia sông Sài Gòn. Sau Ngọc Giàu đi hát cải lương, tiền công-tra với bầu gánh lên tới cả triệu đồng. Từ nghèo thành Giàu là vậy!

Anh Ba Phú giàu có máu mặt ở Footscray nhờ trúng số cả chục triệu đô. Thiên hạ gọi ảnh là “trọc Phú”. Nhìn cái bản mặt câng câng thấy ghét nên thiên hạ bỏ quách cái tên Phú cúng cơm đi, chỉ còn là Ba Trọc.

Trọc không phải là trọc lóc, không có tóc. Xấu củ nhưng tốt dây, tóc râu của Ba Trọc chỉ cần một năm không hớt, nó dài xọc giống người rừng sông Amazon bên đất Brazil, Nam Mỹ vậy. Mấy ông thợ hớt tóc nói lén, thằng cha Ba Trọc ở dơ.

Cuộc đời của Ba Trọc ly kỳ như tiểu thuyết của nữ sĩ Quỳnh Dao, Ðài Loan. Năm 1978, Lê Duẩn sai một tay thợ thiến heo tên Ðỗ Mười từ ngoài Bắc vào Nam đánh tư sản. Mà chữ gọi là cải tạo công thương nghiệp tư sản mại bản. Sau 75, ai mà được cộng sản nó gắn cho chữ “cải tạo” là nát cửa, tan nhà.

Lúc đó, Phú với Giàu ngày đi học, đêm hai chị em đội xề bánh ú đi bán ở chợ Cầu Ông Lãnh. Một bữa, có chú Ba nói tiếng Việt lơ lớ mua mão luôn hai xề bánh ú. Chị Hai Giàu nghĩ bán đắt, sẽ được về nhà ngủ sớm. Khoái chí, chị Hai Giàu chúc bà con (dù đi ghe) thượng lộ bình an. Ai dè đó là ghe vượt biên. Sợ bể, bọn công an còng đầu cả đám; nên mấy chú Ba bắt hai chị em theo luôn. Nhỏ chút éc, Ba Phú đâu có chịu xa tía má. Khi ghe xuôi sông Lòng Tàu ra biển, Phú cứ khóc i ỉ. Chưa có ai chết mà nghe khóc hoài xui thấy mẹ. “Nị mà khóc nữa, ngộ cho một đạp văng nị tuốt xuống sông bây giờ”, nghe bị cho đi thăm Hà Bá, Phú mới chịu nín khóc, lột bánh ú ra ngồi ăn. Sau 5 ngày, 5 đêm, ăn tới cái bánh ú cuối cùng, tính ăn luôn lá chuối thì ghe tấp vô được Pulau Bidong, Mã Lai.

Phái đoàn Úc tới, thấy hai chị em “con bà phước” nên nó ưu tiên bốc ngay về Úc. Ba Phú tính kiếm việc làm ngay để gởi tiền về nuôi tía má gần chết đói ở Việt Nam vì không còn ai đi bán bánh ú hết ráo.

Nhưng Úc nó nuôi. Con nít không cho đi làm, buộc Phú phải học ít nhứt phải hết lớp 10. Chỉ được làm “part time” như giao bánh pizza ban đêm, tuần không quá 20 tiếng.

Ba Phú mới đầu chỉ tính học tiếng Anh đủ để không phải xài động từ “tu quơ”. Ai dè, học riết ghiền; vì trong lớp có mấy em đẹp não nùng. Cuối cùng, Phú cũng lấy được cái bằng cử nhân của Úc. Nhưng thiên hạ nói Ba Trọc gốc dân bán bánh ú chợ Cầu Ông Lãnh thì sức mấy mà có đủ trí thông minh để có được cái cử nhân?

Thiên hạ không tin nhưng tui tin. Mặc dù anh Ba Trọc chưa bao giờ xùy ra cái bằng đại học Úc để nhát tui bao giờ. Tui tin vì có lần nhậu chơi, ảnh đem một câu bằng tiếng Anh ra đố để coi trình độ của tui cao tới đâu.

Câu đó vầy nè: Thầy hỏi: “What has four wheels and flies?”. Trò trả lời là: “A garbage truck!”.

Tui là người rất dốt tiếng Anh nên hỏi: “Mắc cười chỗ nào?” thì Anh Ba Trọc cắt nghĩa: “Cái gì có 4 bánh và biết bay?” Thầy giáo mong học trò trả lời là “chiếc máy bay”. Nhưng học trò lại trả lời là “xe rác”. Như vậy ai đúng? Ai sai? Câu trả lời là: thầy sai, trò đúng. Thầy sai ở chỗ nào? Sai trong cách đặt câu hỏi. Hỏi mà không biết dùng liên từ “and” (và).

“And” là một co-ordinate conjunction (liên từ nối hai chữ đồng đẳng về văn phạm, như danh từ số nhiều phải nối với danh từ số nhiều). Vì thế học trò nó nghĩ “four wheels” danh từ số nhiều của chữ “wheel” ắt phải nối với “flies” là danh từ số nhiều của “fly” (con ruồi). Muốn cho học trò hiểu “flies” là động từ chia ngôi thứ ba số ít của động từ “fly” (bay) thì ông thầy phải thêm chủ từ “it” trước động từ “flies” để chữ “and” nối hai mệnh đề độc lập với nhau. Lúc đó thì học trò hiểu mới trúng theo ý của ông thầy. Cái gì có bốn bánh và nó biết bay là chiếc máy bay. Bằng không có chủ từ “it” của mệnh đề độc lập thứ hai, thì học trò hiểu cái gì có bốn bánh là chiếc xe và nhiều con ruồi (“flies” số nhiều của chữ fly (con ruồi) trước khi đổi qua số nhiều thì phải đổi “y” thành “i” rồi mới thêm “es”. Như vậy, chiếc xe có nhiều con ruồi học trò trả lời là xe rác, là đúng quá xá về văn phạm, đâu có cãi được gì nè.

“Mổ câu, chữ ra cặn kẽ như vậy để thấy chuyện đùa của Úc dù ngắn gọn, nhưng không thừa, không thiếu. Ý nghĩa của nó rất thâm sâu”, anh Ba Trọc lên giọng thầy đời.

Tiếng Anh, đua không lại anh Ba Trọc. Nhưng tiếng Việt là ảnh phải học của tui. Ba Trọc qua Úc hồi chín, mười tuổi sao bằng tui qua Úc lúc đã quá nửa chừng xuân? Tui đố anh Ba Trọc chữ “tiêm chủng” và chữ “chích ngừa” COVID-19 chữ nào đúng? Chữ nào sai? Anh Ba Trọc trả lời: “Hai chữ giống nhau”.

Trả lời như vậy là trật lất, tui cắt nghĩa: “Tiêm chủng: chích cái chủng, cái giống vi trùng đã làm yếu đi để cơ thể sanh ra kháng thể, ngừa bệnh, như tiêm chủng đậu mùa. Bây giờ bào chế kiểu mới hoàn toàn khác, chích vaccine “mRNA” vào để dạy tế bào tạo protein giúp miễn dịch. Không có “tiêm chủng” gì ráo, phải dùng chữ “chích ngừa” mới đúng”.

Nếu anh Ba Trọc không muốn quên tiếng mẹ đẻ của mình; sợ thành dân mất gốc thì mỗi ngày nên đọc Bình Nguyên Lộc hoặc Sơn Nam rồi anh Ba Trọc sẽ thấy các nhà văn trẻ ngoài nước và ngay cả trong nước viết trật bấy bá!

Có sắp nhỏ viết tiếng Việt không giống ai là: “Jeep Wrangler giữ giá lâu nhất, Nissan Leaf nhanh mất giá” (?). Ai cũng biết tiếng Việt trạng từ đi sau động từ. Thì “Nissan Leaf nhanh mất giá” (?) phải viết là: “Nissan Leaf mất giá nhanh”. Vì “đi nhanh” viết thành “nhanh đi” nó khác nghĩa với nhau một trời một vực.

Kết luận sắp nhỏ viết tiếng Việt phải dùng Vietnamese Grammar (văn phạm Việt), đừng dùng English Grammar mà viết tiếng Việt kỳ lắm nha!

Hai đứa ngồi nhậu cãi nhau đến sùi bọt mép thì thằng Cu Tèo, con anh Ba Trọc, đi học về gật đầu chào rồi nói: Cô giáo của con muốn gặp bố! (nó kêu anh Ba Trọc bằng bố; vì chị Ba Trọc là dân Bắc Kỳ 9 nút).

Chẳng qua đầu đuôi gốc ngọn vầy nè:

“Tuần rồi Cu Tèo về nhà nói: Bố! Cô dạy toán của con muốn gặp bố!

– Về chuyện gì?

– Cô hỏi con: 7 nhân 9 là bao nhiêu? Con trả lời: 63.

Sau đó, cô ấy hỏi:

– 9 nhân 7?

Con đã hỏi lại cô:

– Có cái quái gì khác nhau đâu?

– Ðúng thế, được rồi. Bố sẽ đi.

Hôm sau, Cu Tèo đi học về và nói:

– Bố đi gặp cô con chưa?

– Chưa!

– Vậy lúc nào đi, bố gặp cô dạy thể dục luôn nhé!

– Về chuyện gì?

– Giờ thể dục, cô kêu giơ tay trái lên. Rồi cô kêu giơ tay phải lên. Sau đó, cô kêu nhấc chân phải lên, con cũng làm tất. Bây giờ cô kêu nhấc chân trái lên. Vì vậy, con hỏi: Cái gì? Cô muốn em phải đứng trên con “cu” của em hả?

– Ðúng thế

 – Anh Ba Trọc nói

– được rồi, bố sẽ đến.

Bữa nay, Cu Tèo lại hỏi:

– Bố đi gặp cô giáo chưa?

– Chưa.

– Khỏi cần bố ạ. Con bị đuổi học rồi.

– Tại sao con lại bị đuổi học?

– Họ kêu con lên văn phòng thầy hiệu trưởng. Và ngồi đó là cô dạy toán, cô dạy thể dục và có cô dạy văn nữa!

– Cô dạy văn làm cái chó gì ở đó vậy? Anh Ba Trọc hỏi.

– Ðó, đó! Chính xác đến từng chữ! Ðó là câu con đã hỏi!”

Đoàn Xuân Thu

Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 27 Apr 2026

http://www.dutule.com

23 Tháng Mười Hai 2021

Lâm Chương

(Một bài viết cũ. Một chuyện thiếu nhi dành cho người lớn, đọc mua vui trong thời gian dịch Covid-19 hoành hành theo chiến thuật du kích rình mò đánh lén).

Gốc gác gia đình cậu Hai Say là nhà nông, nhưng cậu ít khi ngó ngàng đến ruộng nương. Mùa màng cấy gặt, cậu giao hết cho vợ trông nom. Còn cậu, cứ tà tà đi tán dóc, coi đời như chốn rong chơi. Đầu thôn cuối xóm, ai cậu cũng quen. Ra đường, gặp nhau chào hỏi mệt nghỉ. Chào mãi đâm nhàm, chỉ cần nhìn mặt nhếch mép mỉm cười là đủ.

Có một thời cậu theo cách mạng vô bưng biền. Công cuộc trường kỳ kháng chiến cần nhiều hy sinh gian khổ, không hợp với tính ưa hưởng nhàn của cậu. Cậu bỏ về, mang theo căn bệnh sốt rừng. Da cậu tái nhợt như tàu lá chuối non. Thầy thuốc Nam bảo, cậu ăn uống nhiều vật thực mang tính âm hàn nên sinh ra dị chứng, phải xổ độc để tống khứ nhiễm khí rừng thiêng. Cậu uống bao nhiêu thang thuốc Nam, vẫn không xổ hết chất độc. Mợ Hai, vợ cậu phải bán một bồ lúa, đưa cậu ra tỉnh thành trị bệnh. Bác sĩ nói, cậu bị sốt rét kinh niên. Nếu để lâu, con vi trùng xâm nhập vào gan thì bỏ mạng. Sau một thời gian dùng thuốc Tây, cậu khỏi bệnh. Và từ đó, cậu lấy chữ nhàn làm gốc.

Cái tên của cậu làm tôi thắc mắc. Cậu là Hai Say hay Hay Say? Cách phát âm của người miền Nam, không phân biệt giữa Hai với Hay. Và Say có phải là tên thật của cậu, hay người ta thấy cậu thường có hơi rượu, rồi gán cho cậu cái biệt danh Say? Tôi không dám hỏi về điều này. Mà có hỏi, cũng chưa chắc cậu trả lời thật. Bởi xưa nay, cậu vẫn hay thêu rồng vẽ rắn. Chuyện thật như đùa, chuyện đùa như thật. Biết đâu mà lường.

Trước cửa nhà tôi có con đường đất. Cậu Hai Say thường đi trên đường này, mỗi ngày. Cậu ghé vào nhà này, nói năm ba chuyện trên trời dưới đất. Tạt vào nhà kia, tiên đoán thời tiết nắng mưa. Không bao giờ nghe cậu đặt vấn đề làm ăn sinh kế. Cậu nói, cậu là ông tiên ở trên trời bị đọa xuống trần gian, và ngâm nga:

Có chồng say như trong chay ngoài bội

Ngó vô nhà như hội Tầm Dương

Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh.

Đã là tiên thì đâu cần phải làm gì. Cậu rong chơi, chờ ngày mãn kiếp về trời.

Nhà tôi là nơi cậu thường vào nghỉ chân sau một chuyến đi rảo quanh làng, hoặc lừng khừng sau khi lai rai vài ba sợi đế. Cậu đến nhà tôi, người lớn không cần phải bận tâm đón tiếp. Quen thân quá, hóa lờn. Không ai vô công rồi nghề để ngồi nghe cậu nói chuyện Nam Tào Bắc Đẩu. Cậu cũng không cần làm khách, cứ nằm tự nhiên trên cái võng giữa nhà, đưa qua đưa lại, miệng phì phà điếu thuốc.

Anh chị em tôi rất thích cậu Hai Say. Cậu có cả một kho tàng chuyện lạ, kể hoài không hết. Muốn nghe cậu kể chuyện, chúng tôi phải thay phiên đưa võng cho cậu lấy hứng. Đưa võng cũng phải có nghệ thuật. Cậu nói, đưa mạnh quá làm nôn ruột, đưa nhẹ quá dễ buồn ngủ. Thế thì phải đưa thử, đến lúc nào cậu bảo được là giữ nhịp võng ấy mà đưa hoài. Mỗi khi cậu chấm dứt một câu chuyện kể, phải biết ý cậu, đưa mạnh hơn để tán dương và phụ họa cho tiếng cười phơi phới lên cao. Không phải lúc nào cậu cũng chịu đưa võng. Những khi trời nóng nực, phải quạt cho cậu mát. Quạt mạnh quá, cậu nói ngộp thở. Nhẹ quá, cậu bảo không mát. Phải quạt vừa vừa, đều đặn. Cậu nằm phanh áo, bày ngực và bụng. Quạt từ trên mặt, quạt dài xuống bụng. Cái quạt làm bằng mo cau, tôi còn nhỏ phải cầm hai tay quạt mới xuể.

Những chuyện kể của cậu Hai Say, mấy mươi năm qua rồi, tôi không nhớ hết. Sau đây là một trong vài chuyện, tôi còn nhớ được:

Thời cậu còn theo kháng chiến làm cách mạng. Cậu đã đi rất nhiều nơi, từ chốn bưng biền cho đến miền rừng sâu núi thẳm. Một hôm cậu ngang qua một vùng núi non hiểm trở, bỗng nghe tiếng động ầm ầm dữ dội như tiếng của Thần Rừng Thần Núi giao tranh. Cậu hoảng hồn, mau chân chạy tránh xa nơi hung hiểm. Năm sau, cậu có dịp hộ tống Bác Hồ ngang qua vùng ấy nữa. Cậu thấy xác hai con vật khổng lồ, con rít chúa và con mảng xà vương nằm chết. Xác đã rữa mục rồi. Bấy giờ, cậu mới hiểu ra rằng tiếng động ầm ầm mà cậu nghe năm ngoái là do hai con vật đánh nhau. Cái đuôi của chúng vùng vẫy làm gãy đổ cây cối cả một vùng rừng rộng lớn.

Mảng xà vương chết, còn lại bộ da trải dài như con đường lát gạch. Bác Hồ là người thông minh, có nhiều sáng kiến lạ. Bác bảo, mỗi người cắt vài miếng da mảng xà để làm dép râu. Và Bác đã mang đôi dép này đi suốt “Đường Kách Mệnh.” Đôi dép râu bằng da mảng xà, bền chắc vô cùng. Khi Bác lên làm chủ tịch nước, người ta đưa đôi dép râu này vào trưng bày trong viện bảo tàng. Các nhà khoa học lừng danh của Liên Xô có đến chiêm ngưỡng. Họ dùng phương pháp khoa học tối tân để phân chất, nhưng vẫn không khám phá ra dép của Bác làm bằng nguyên liệu gì. Đó một bí mật mà nhà nước ta giấu kín, không công bố cho bất cứ nước nào biết, dù là nước anh em xã hội chủ nghĩa cũng vậy. Tất cả những gì liên quan đến Bác, đều được truyền miệng một cách hư hư thực thực như huyền thoại. Để từ đó, người ta nhìn thấy Bác là một vĩ nhân.

Con rít chúa chết, còn lại cái vỏ. Vỏ rít có nhiều đốt, nối lại như một đường ống dài. Lúc ấy, trời bỗng đổ mưa to. Bác Hồ bảo mọi người chui vào cái vỏ rít mà trú mưa. Mưa to thế mà không ai bị ướt.

Bác Hồ nói: “Lấy cái vỏ rít này dùng làm địa đạo hoặc nóc hầm trú ẩn, có thể chống được bom đạn.”

Đấy lại là một sáng kiến độc đáo nữa. Có người rút nhật ký ra ghi chép lời Bác.

Anh tôi hỏi: “Ghi chép làm gì?”

Cậu nói: “Để sau này Bác dùng làm tài liệu, viết ký sự “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện,” dưới cái tên giả T. Lan hay Trần Dân Tiên gì đó.”

Cậu tiếc rằng, ở giữa vùng rừng núi xa xôi, không thể khiêng vài cái đốt của vỏ rít chúa về xóm làng.

Anh tôi lại hỏi: “Khiêng về làm gì?”

Cậu nói: “Để bán cho người ta làm mui xe bò. Mỗi đốt làm được một cái mui xe, rất chắc. Xài cả đời cũng không hư.”

Chị tôi hỏi: “Cậu từng phục vụ cho Bác Hồ. Cậu thấy Bác ra sao?”

Cậu tấm tắc khen: “Ồ, đẹp lắm. Trông Bác có cái dáng vẻ tiên phong đạo cốt, dưới càm phơ phất một chòm râu.”

Tôi phấn khởi, hát bài hát được cách mạng dạy cho trẻ em miền quê lúc ấy: “Mong Bác Hồ cho chúng cháu xin, đôi sợi râu làm dây thân ái.” Và hỏi:
“Sao cậu không xin Bác một sợi râu?”

“Dễ gì? Bác chỉ có một chòm râu mà trẻ em cả nước đứa nào cũng muốn xin một sợi. Lấy đâu cho đủ?” Ngừng một lúc, cậu lại nói. “Dù thế, nhưng cậu cũng tìm cách để có được một sợi râu của Bác.”

“Khi Bác ngủ, cậu lén nhổ râu bác hả?”

“Không. Nhổ râu Bác cũng giống như vuốt cái vảy ngược dưới cổ con rồng.”

“Vuốt cái vảy ngược của rồng thì sao?”

“Thì chết chứ sao? Tương truyền, rồng là một linh vật chúa tể của muôn loài. Vảy rồng mọc xuôi về phía sau, nhưng dưới cổ có một cái vảy mọc ngược về phía trước. Ai chạm phải cái vảy ngược, nó giết liền. Người có chân mạng đế vương, thường được ví với rồng. Vì thế, mỗi sợi râu của Bác được coi như một sợi râu rồng. Người đời thường gọi là long tu. Nhổ long tu của Bác, chẳng khác nào chạm cái vảy ngược của rồng.”

“Nguy hiểm như vậy, làm sao cậu lấy được long tu Bác?” Anh tôi hỏi.

Cậu giải thích: “Mỗi buổi sáng, cậu có bổn phận bưng thau nước vào cho Bác rửa mặt. Khi xong, cậu đem đi đổ. Trước khi đổ, cậu quan sát thật kỹ, những mong có được một may mắn. Và cậu đã may mắn thật, trong thau nước rửa có một sợi râu rụng của Bác. Cậu giữ lại sợi râu quý này làm kỷ niệm.”

“Cho tụi cháu xem thử đi.” Chị tôi háo hức.

Cậu nạt: “Ngồi yên! Nghe cậu kể. Người ta nói cọp chết để da, nhưng không ai nói cọp chết để râu. Vì mỗi lần hạ được một con cọp, việc đầu tiên phải làm là đốt ngay bộ râu.”

“Sao thế?”
“Nếu kẻ ác lấy được sợi râu cọp, họ sẽ dùng vào việc giết người.”

Anh tôi thắc mắc: “Râu cọp mà có thể giết người được sao?”

Cậu Hai Say nói: “Họ nhét râu cọp vào mụt măng. Cháu biết măng là gì không?”

Chị tôi nhanh miệng: “Măng là mầm non của tre trúc mới nhú lên khỏi mặt đất.”

“Đúng rồi. Nhét sợi râu cọp vào mụt măng. Lâu ngày, sợi râu sẽ hóa thành con sâu màu đen. Cứt của con sâu này là một thứ thuốc độc ghê gớm. Chỉ cần cho vài viên cứt sâu nhỏ bằng đầu cọng tăm vào lu nước. Ai uống phải nước này, sẽ ngả ra chết liền.”

Chúng tôi rút cổ le lưỡi: “Ghê quá!”

“Im! Bình tĩnh, nghe cậu kể tiếp. Râu Bác Hồ như râu rồng. Cậu tự hỏi, nếu đem nhét vào mụt măng, nó sẽ hóa ra con gì? Vì tò mò, cậu đã làm thử.”
“Cháu nghĩ nó sẽ hóa ra một con rồng nhỏ.” Chị tôi đoán.

“Không. Chẳng phải rồng mà là một con sâu đỏ lòm, cháu ạ.”

“Thế, cậu làm gì với con sâu ấy?”

“Chẳng làm gì cả. Thấy con vật lạ thì nuôi chơi vậy thôi. Cậu nhốt nó trong một chiếc hộp nhỏ, đi đâu cũng mang theo bên mình. Nhưng nó không chịu ăn, lừ đừ gần chết. Cậu không biết làm sao để có thể nuôi nó lâu dài. Có lần, cậu vô ý làm đứt tay, một giọt máu tươi rớt vào trong hộp. Nghe mùi tanh của máu, nó như được hồi sinh và hút sạch giọt máu. Thế là cậu khám phá ra con sâu đỏ này chỉ có thể nuôi bằng máu.”

“Cậu làm sao đủ máu mà nuôi nó hoài?” Anh tôi hỏi.

“Phải có cách chứ. Đâu thể trích máu của cậu mãi được. Đi với Bác lâu ngày, cậu cũng khôn ra. Nghĩa là tận dụng mọi thứ chung quanh mà không hề làm tổn hại đến mình. Cậu bắt con đỉa hút no máu con trâu. Xong, cậu cho con đỉa vào hộp. Con sâu đỏ hút lại máu từ con đỉa. Đỉa là loài sống rất dai, cho nên có câu “sống dai như đỉa.” Thế mà sau khi bị con sâu đỏ hút máu, con đỉa chết luôn. Điều này cho cậu biết rằng, con sâu đỏ là một độc vật ghê gớm nhất trên đời.”

Chị tôi hỏi: “Sao không giết nó đi, nuôi chi một con vật gớm ghiếc?”

“Cậu đã nói, thấy con vật lạ thì nuôi chơi. Mãi sau, có người biết được, tố giác chuyện này lên Bác Hồ. Bác ra lệnh tịch thu con sâu đỏ. Cậu giao nạp con sâu, nhưng vẫn còn sợ bị khép tội ăn cắp long tu Bác Hồ nên trốn về, không theo cách mạng nữa.”

“Rồi Bác Hồ giết nó hay nuôi?”

“Nếu giết nó thì đỡ khổ cho dân lành rồi. Bác nuôi mới chết người chứ!”

“Không lẽ Bác nuôi nó bằng chính máu của Bác?”

“Bác đâu có dại? Máu của nhân dân thiếu chi!”

“Nhưng Bác nuôi nó làm gì?”

“Làm gì, ai biết? Mọi hành vi của Bác đều được giữ bí mật. Trong thời kỳ cải cách ruộng đất, tiêu diệt thành phần trí phú địa hào, thanh trừng văn nghệ sĩ bất mãn, có hàng vạn người bỗng ngả lăn ra chết bất đắc kỳ tử. Cậu nghi họ bị đầu độc bằng cứt của con sâu đỏ này.”

Sau mỗi chuyện kể của cậu Hai Say, thường là những tiếng cười vui thích thú. Nhưng sau chuyện này, cậu không cười. Và chúng tôi thì sợ.

Mấy chục năm qua rồi, ấn tượng về con sâu đỏ vẫn còn đậm nét trong tôi.

Mùa Xuân năm Ất Mão (Tháng Tư năm 1975), theo lệnh đầu hàng, tôi buông súng, quay về làng cũ. Cậu Hai Say bây giờ đã già lắm rồi.

Cậu bảo: “Hãy chạy đi.”

Tôi hỏi: “Sao cậu không chạy?”

“Với số tuổi đời của tao, bỏ thây không tiếc.”

“Cậu thường hay nói chơi. Không biết lần này cậu nói chơi hay nói thật. Nhưng đất nước vừa chấm dứt chiến tranh, không ở lại mà hưởng thái bình, còn chạy đi đâu?” Tôi phân trần.

Cậu ngước mặt lên trời, than: “Người ngu mắc nạn, thường hay đổ thừa cho thiên mệnh.”

Rồi mười năm sau nữa. Tôi ra khỏi tù, áo rách xác ve trở về chốn cũ. Nghe nói, cậu Hai Say được cách mạng mời tham dự tiệc mừng Đại Thắng Mùa Xuân. Và, cậu đã chết ngay sau khi rời bàn tiệc. Tôi chợt nghĩ đến con sâu đỏ. Chẳng biết cái chết của cậu, có liên quan gì với cứt của loài độc vật này hay không?

Lâm Chương

Chăn trâu khổ lắm

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 27 Apr 2026

Trong đời tôi có một khoảng tuổi thơ được sống trong cảnh thanh bình, mà tôi còn nhớ rõ ràng nhứt là thời gian ba, má tôi ở quận Thới Bình. Lúc đó nhà tôi ở trong ấp chiến lược, ấp nằm trong một bờ thành đất sét đắp cao khỏi đầu người lớn, mặt ngoài thành có cắm chông tre nhọn chi chít và trên mặt thành là một hàng rào tre bện khít khao, chó chui không lọt. Đứng trên bờ thành nhìn ra xa là một cánh đồng cò bay thẳng cánh.

Nhứt là mùa xuân đồng ruộng khô ráo, thường những buổi chiều chúng tôi ra bờ thành xem người ta thả những con diều to lớn, gắn đuôi thiệt dài và bay thiệt cao dưới bầu trời xanh ngát, có con phát ra ra âm thanh vi vu như tiếng sáo thổi. Anh em chúng tôi cũng tự vót trúc, uốn sườn, dán giấy nhựt trình tạo thành những con diều nho nhỏ, rồi đem ra bờ thành thả chơi suốt ngày.

Đầu mùa mưa ong bầu thường làm ổ trong bọng những cây tre cắm rào trên bờ thành chiến lược, chúng tôi để miệng chai ngoài miệng lỗ, chỗ ra vào của ong, lấy cây gõ gõ bên ngoài thân tre lừa cho ong chui lọt vô chai, rồi đem về nhà, lật úp chiếc thùng thiết xuống, để ong bầu lên đít thùng, phủ miếng vải lại và lấy cái dĩa dằn lên lưng ong cho nó phát ra tiếng tè tèèè… nghe rất vui tai, chúng tôi gọi đó là máy hát.

Tuy nhiên những trò chơi nhẹ nhàng ấy làm tôi mau chán. Tôi rất thích cỡi trâu, vì vậy tôi thường ra đồng tìm chơi với nấy đứa chăn trâu. Mấy đứa chăn trâu khôn lắm, chúng biết ý tôi muốn gì cũng như chúng biết ý bầy trâu để chúng ra lịnh điều khiển trâu làm theo ý muốn của chúng. Trong đời sống dĩ nhiên cái gì cũng có giá phải trả, tôi muốn cỡi trâu thì phải trả tiền hoặc một gói xôi hay cái bánh ú, bánh lá dừa chẳng hạn. Vì vậy bao nhiêu tiền và quà bánh của má tôi cho ăn đi học tôi đem trả tụi chăn trâu hết, để đổi lấy mấy buổi cỡi trâu. Một hôm không tiền, không bánh, tôi xin chúng cho tôi cỡi trâu thiếu chịu. Bọn chúng không đồng ý, chúng đề nghị tôi vô vườn hái ô môi cho đem ra cho chúng ăn rồi chúng cho tôi cởi trâu. Ghiền cỡi trâu quá nên tôi làm theo, tôi trèo vô vườn người ta, không quen ăn trộm nên đứng sớ rớ, chưa hái được trái nào thì đã bị chủ vườn bắt gặp. Ông ta bèn dẫn tôi về nhà mắng vốn. Má tôi giận quá, bà đánh tôi một chập và cấm không cho tôi ra đồng chơi với đám chăn trâu đó nữa.

Năm ấy tôi được mười một tuổi, Thới Bình chưa có trường học, tôi học trong một nhà thờ, cô giáo là một bà Sơ hơi lớn tuổi. Đám học trò tuổi tác lộn xộn, đứa nhỏ thì bảy tám, đứa lớn thì mười mấy. Lớp học chia ra làm hai nhóm, nhóm nào chưa biết viết, biết đọc cô dạy tập viết, tập đánh vần, nhóm nào biết viết biết đọc rồi thì cô dạy làm toán, học công dân, đức dục và cho bài học thuộc lòng đem về nhà đọc. Tôi thuộc nhóm biết đọc biết viết, có bài thuộc lòng tôi còn nhớ cho tới ngày hôm nay:

“Các em là búp măng non, là đàn chim nhỏ dưới vòm trời cao, là hoa xuân thắm nắng đào, là hy vọng của đồng bào Việt Nam, giờ em chăm học chăm làm, thì mai sau sẽ giỏi giang giúp đời, nước nhà trông cậy em ơi, làm trai ta phải luyện rèn sức trai.”

Trong lớp tôi có quen với chị bé Hai, chị lớn hơn tôi hai ba tuổi gì đó, nhà chị có một cặp trâu, thường thì anh Bần, em kế của chị chăn, còn những ngày nghỉ học thì chị chăn phụ. Tôi thích chơi với chị hơn là chơi với đám chăn trâu, chị cho tôi cỡi trâu bất cứ lúc nào tôi muốn, không phải trả tiền, trả bánh gì hết và còn được chơi nhiều trò chơi thú vị. Nhứt là những buổi trưa chị thường tụ tập bạn bè trang lứa hoặc nhỏ cỡ tuổi tôi ra vườn. Ngoài vườn có một cái bụi mà chị và mấy đứa bạn đã dọn trống, bên trong bụi ngồi được năm sáu đứa, nhờ phía ngoài được che kín bằng lá dừa nước nên trời mưa chúng tôi có thể ngồi chơi bên trong mà không sợ ướt. Không biết ai nắn dùm chị cà ràng, nồi, tô, dĩa, chén bằng đất sét nung đỏ rất khéo, mấy chị có thể nấu cơm kho cá trong những món đồ chơi đó. Thường bữa trưa, chúng tôi tụ tập trong lùm bày trò chơi đám cưới. Trong nhóm chị bé Hai là nhiều sáng kiến nhứt, chị bày chúng tôi chặt lá đu đủ làm lọng, lấy tấm ván nhỏ làm mâm trầu cau, lễ vật là trái dừa hoặc nải chuối… Trong nhóm mình ên tôi là con trai nên lúc nào cũng được chọn làm chú rể, hôm nay làm chồng với chị nầy, mai với chị kia… Đám cưới cũng đầy đủ nghi thức, lạy bàn thờ, ăn trầu cau và rước dâu đi vòng quanh khu vườn, khi trở về chòi bày đồ ra ăn nhậu, dĩ nhiên là ăn giả bộ, sau khi ăn uống xong, mấy ngưòi khách đi về cho cô dâu chú rễ động phòng hoa chúc, cũng giả bộ ôm nhau ngủ đó thôi. 

Một buổi trưa chị bé Hai rủ tôi ra lùm cây, chỗ mà chúng tôi hay tựu tập, kéo tay tôi vô lùm, kêu tôi ngồi xuống coi chị đốt lửa cà ràng, sau đó chị đổ dấm vô lon sữa bò và bắt lên lửa hâm tới khi dấm ấm ấm. Chị bắt dấm xuống rồi cởi nút áo, vạch ngực ra, ngực của chị một bên u lên như núm cau và một bên xẹp lép, chị kêu tôi thoa dấm lên ngực và nhờ tôi bóp dùm phía bên xẹp cho chị, chị nói làm vài lần thì bên nầy sẽ bự bằng bên kia, lúc đó tôi còn nhỏ đâu biết khỉ gì, chị kêu tôi làm sao thì tôi làm vậy. Quả thật, vài lần sau đó ngực bên lép đã sưng lên, tuy mấy lần sau tôi đụng vô chị đau lắm nhưng vì muốn có bộ ngực cân đối chị phải cắn răng chịu đựng. Mặc dầu lúc đó tuổi tôi còn non trẻ, nhưng tôi mơ hồ có một niềm thích thú mà tôi không sao tả được. Một buổi trưa như thường lệ tôi và chị bé Hai chuẩn bị đồ nghề để “nâng cấp” ngực lép của chị, không biết đứa nào mách lẻo, mà má tôi với má chị đột nhiên xuất hiện, mặt mày người nào người nấy đằng đằng sát khí, mỗi người lôi một đứa về nhà. Tôi không biết má chị đánh chị cỡ nào, chớ má tôi thì nổi tam bành lục tặc, sắc mặt dữ dằn, chưa bao giờ tôi thấy bà ghê sợ như lần đó, mấy lần lầm lỗi trước kia bà bắt tôi nằm sắp lên giường, trước khi đánh bà kể những sai lầm tôi đã gây ra và cho biết số roi tôi phải chịu, nhưng lần nầy bà xả roi túi bụi… Sau khi bà trút hết cơn giận thì mình mẫy tôi có lằn tím và mông sưng như dề cơm cháy. Từ đó bà cấm tôi không được đi chơi với mấy đứa con nít “quỷ” đó nữa…

Cho tới hôm nay, đầu đã hai thứ tóc rồi, vậy mà mỗi khi nhớ tới những ngày êm ả hồn nhiên ở Thới Bình, tôi nhớ nhứt là trò chơi đám cưới và chuyện giữa tôi với chị bé Hai, mặc dầu mục đích chính của tôi lúc đó là muốn được cỡi trâu hơn là cùng mấy chị chơi những trò chơi cấm kỵ.

Những năm sống nơi xứ lạ quê người hình ảnh con trâu Việt Nam đã phai mờ trong tâm trí. Rồi một hôm đứa con gái lớn của chúng tôi đem về một cuốn sách có minh hoạ hình, bằng tiếng Hoà Lan, tựa đề là Een jongen in Vietnam (Một Em Trai Ở Việt Nam). Bìa sách có in hình một em trai, độ chín mười tuổi, bận áo sơ mi sọc màu xanh mới toan, tay cầm sợ dây mũi của con trâu, thân hình con trâu to tổ chảng đương đứng trên con đường làng, cạnh một căn nhà tường vôi rữa, xi măng trốc lòi gạch trông cũ kỹ làm sao. Con gái tôi thích lắm, nó đọc hết cuốn sách trong một buổi, sau đó nó sơ lược cho vợ chồng tôi nghe về câu chuyện trong sách. Đại khái là em bé Việt Nam vừa đi học, vừa chăn trâu, về nhà lo phụ giúp gia đình… Vậy mà ở trường em còn là học sinh giỏi và ước mơ tương lai em trở thành phi công hoặc tài xế máy cày…

Thật ra từ ngày Trúc Thanh, vợ tôi, mang thai đứa con gái đầu lòng thì chúng tôi lúc nào cũng bâng khuâng lo lắng, sống nơi xứ người, không biết làm cách nào để dạy con cho thành người Việt. Cuối cùng vợ tôi đề nghị, cứ theo lời của những bậc trí thức ngoài nầy, mình nên tìm về nguồn cội, may ra… Vậy là tôi phải một phen lục lọi tìm tòi sách Việt Nam viết về văn hoá, phong tục, ca dao, tục ngữ, hát ru con, vọng cổ; đọc báo, lướt mạng để tìm về… nguồn cội. Hay lắm, tôi nói với vợ, mình có thể ru con bằng ca dao, tới tuổi nó hiểu biết thì mình kể chuyện cổ tích Việt Nam cho nó nghe, khi lớn lên tức khắc nó trở thành người Việt chánh hiệu con rồng vàng.

Giờ đây ít nhiều gì vợ chồng tôi cũng hài lòng khi nhìn thấy con gái lưu tâm tới văn hoá Việt. Nhưng khi thấy cái hình của em bé chăn trâu ngoài bìa sách không giống một em bé chăn trâu thứ thiệt mà tôi đã biết qua và câu chuyện có vẻ lý tưởng quá cho một em bé chăn trâu. Nhưng hề gì, qua ca dao, tục ngữ và truyền thuyết, lịch sử tôi thấy người xưa đã từng lý tưởng hoá hình ảnh mục đồng lúc thì nhàn nhã như tiên, khi thì anh hùng tái thế làm tới đế vương… Tuy nghĩ là nghĩ vậy, nhưng khi dạy con tôi chọn lọc, bỏ bớt những câu lý tưởng có hơi quá trớn như: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ…”  Tôi giải thích cho hai con tôi biết rằng, chăn trâu cực khổ lắm, sáng dắt trâu ra đồng cho ăn cỏ suốt ngày, những ngày mưa thả trâu ra đồng không được phải lội ra đồng tìm cỏ non cắt bó từng bó đem về cho trâu ăn, trâu ỉa trong chuồn phải hốt cứt đem đổ, chiều phải tắm trâu, tối giăng mùng cho trâu ngủ….. Chừng đó công việc đã chiếm hết thời gian thì còn thời giờ đâu nữa mà học với hành. Đó là chăn trâu của nhà, nếu chăn trâu do chủ mướn mà lỡ để trâu đạp lúa hoặc ăn lúa ruộng người ta thì bị trừ lương. Thời địa chủ em chăn trâu nào lỡ để trâu đi mất thì bị chủ đánh đòn tàn bạo, có khi bị đánh và bỏ đói cho tới chết. Nói trắng ra chăn trâu chẳng có chút vui sướng nào như mấy em gái ở Hoà Lan “chăn” con ngựa của mình cỡi.

Tuy nhiên ngoài những cực khổ của em bé chăn trâu ra, tôi cũng kể cho hai đứa con gái tôi nghe những hình ảnh đẹp giữa trâu và người. Từ ngàn xưa nhà nông biết cách dùng trâu để cày, bừa ruộng hoặc cho trâu kéo cộ, kéo xe… Lúc nào trâu và người nông dân cũng hợp tác với nhau chặt chẽ, họ xem trâu như là một người bạn đời thân thiết. Vì vậy mới có những câu gắn bó người và trâu như:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

Mình cũng có thể tưởng tượng ra, sau những giờ người và trâu cày, bừa mệt nhọc. Bác nông phu với trâu ngồi dưới một gốc cây nghỉ mát, bác uống trà, còn trâu nằm cạnh bên nhơi cỏ và bác vuốt đầu trâu tâm sự:

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy ai mà quản công

Chừng nào cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn…

Nhờ tìm cách dạy con mà tôi học thêm rất nhiều về chuyện con trâu với những tập tục chọi trâu của từng vùng và lễ đâm trâu của người dân tộc. Trong những chuyện tôi thích nhứt là tranh chăn trâu của nhà thiền, nhưng cái nầy thì chưa giải thích cho hai con tôi nghe được.

Có một bức tranh con trâu ăn cỏ trên cánh đồng xanh và em bé ngồi trên lưng trâu thổi sáo, Trúc Thanh và hai đứa con thích lắm, nên kêu tôi đem đóng khung treo lên tường. Thanh cũng góp chuyện kể cho hai đứa con gái nghe quê ngoại của chúng ở tận miền Trung nước Việt Nam, người ta vẫn còn dùng trâu cày ruộng, mai mốt về bển sẽ cho hai đứa tha hồ cỡi trâu. Nghe má nó hứa làm tụi nó nao nức ngày về Việt Nam xem con trâu thiệt và sẽ cỡi trâu cho biết. Hai đứa con gái tôi năm nay đứa nhỏ lên chín, đứa lớn trên mười. Chợt nhớ lại chuyện xưa, hồi ở tuổi chúng nó tôi cũng rất thích cỡi trâu.

Mùa hè năm nay vợ chồng tôi đưa hai cháu về thăm quê ngoại ở ngoài Nha Trang. Xe chạy trên quốc lộ một, tới khúc nào có ruộng thì hai con tôi cứ để ý tìm xem trâu, nhưng không thấy trâu, hai đứa thắc mắc tại sao tôi nói với chúng rằng Việt Nam nhà nông cày ruộng bằng trâu nhưng sao thấy toàn là máy cày. Nghe chúng càu nhàu má nó lên tiếng:

 – Ở đây ruộng lớn nên người ta dùng máy cày cày cho lẹ, quê  ngoại có những thửa ruộng nho nhỏ nên nhà nông sợ tốn nhiên liệu nên mới dùng trâu kéo cày, về tới nhà ngoại rồi con sẽ thấy trâu đi thành bầy giống như trong phim Mùa Len Trâu mà con đã xem hồi ở bển. 

Xe chạy qua khỏi đèo Rù Rì chợt hai con tôi reo mừng hô lớn:

– Trâu kìa, trâu kìa…

Tôi dòm lại thấy mấy con bò đương ăn cỏ bên lề đường, tôi nói:

 – Không phải trâu đâu, con nhìn kỹ coi, con bò đó.

Đứa con gái nhỏ thắc mắc:

– Sao bò màu vàng mà hổng có bông và ốm nhom ốm nhách, lòi be xường, không giống như bò ở Hoà Lan chút nào hết.

Con chị làm tài khôn giải thích:

– Bò Việt Nam nghèo hơn bò Hoà Lan, ăn uống thiếu dinh dưỡng nên mới ốm nhom ốm nhách và nắng nóng quá làm da bò đổi ra màu vàng. 

Nghe con gái tôi so sánh làm những người trong xe cười rộ.

Phong cảnh Vạn Giả sạch và mát, dưới là biển trên là rừng, núi. Nghe kể ngày xưa nơi đây được mệnh danh là rừng vàng bạc biển. Đất nước tôi từ Nam ra Trung, nơi nào cũng rừng vàng bạc biển, vậy mà mà dân đen cúi mặt xuống đất, bán lưng cho trời, quần quật như trâu nhưng vẫn kiếm không đủ cơm ăn…

Những ngày lưu lại quê vợ, sáng sáng tôi hay ra quán cà phê, ngồi nghe dân quê nói… tục và chưởi thề. Hồi ở nhà mỗi lần “chat” với người quen, tôi thường nghe tiếng chưởi thề của đám nhỏ văng vẳng trong microphone. Hôm nay về đây mới nghe tận tai, nhìn tận mắt. Đám con nít bận đồng phục, quàng khăn đỏ ngồi chơi game la ó chưởi thề ỏm tỏi. Tôi mơ hồ một nỗi xót xa, một niềm thất vọng nào đó mà tôi chưa xác định rõ ràng. Vợ tôi vô tư, về quê chỉ chú ý tới chuyện thăm bà con, bạn bè, ăn uống, sửa sắc đẹp rồi rủ nhau cắm trại và đi hát karaoke…

Hổm rày lo dẫn hai con đi chơi đây đó nên chúng nó không có dịp coi trâu. Chiều nay trên đường về nhà tình cờ tới đầu xóm thấy người ta dẫn một bầy trâu đi ào ạt, tung bụi mịt mù, Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa xua đám chăn trâu ra trận mạc chắc bụi cát bay cũng cỡ như vầy. Thấy trâu hai đứa con gái tôi mừng quá, không chờ trâu tới, a tầm phù chạy về phía trước để coi. Nhưng khi chúng gần tới bầy trâu thì tự dưng sựng lai và nép qua đường, lúc bầy trâu đi ngang đứa con gái nhỏ sợ quá đi thụt lùi, không để ý nên đạp lên bãi cứt trâu làm nó hoảng hồn khóc om xòm trời đất. Trong khi tôi đi tới bồng con nhỏ lên, thì con chị bịt mũi vừa chạy vừa hô to.

– Thúi quá, thúi quá, mấy con trâu thúi quá…

Về nhà tắm rửa xong thì đã tới giờ cơm. Cậu tư nói với hai đứa nếu muốn thì ngày mai cậu dẫn đi qua nhà ông Tám cho cỡi trâu, bên bển có bốn con trâu. Chợt hai đứa buông đũa rưng rưng khóc, hai đứa con tôi có tánh đương ăn cơm hễ ai nói chuyện dơ dáy thì chúng ăn không được. Thấy hai đứa khóc dì ba cũng buông đũa dỗ ngọt và dụ dẫn hai đứa đi ăn bánh bèo, món duy nhứt của quê ngoại mà hai đứa ưa chuộng.

Kỷ niệm những ngày về quê vợ chỉ có bấy nhiêu. Khi ra ngoài nầy, hai con tôi đã trở lại trường học, vợ tôi thì vô xưởng làm, còn tôi vẫn tiếp tục cộng việc của mình và cũng không để ý tới chuyện trâu, bò gì nữa hết.

Cũng như mọi năm, trước Tết, gia đình chúng tôi thường đi chợ Việt Nam mua sắm, tiện dịp xin lịch mới của Việt Nam đem về nhà treo. Vợ tôi xin được mấy tấm lịch còn nguyên trong bọc nylon. Đem về nhà hí ha hí hửng khoe với hai đứa con gái và đưa cho mỗi đứa một cuốn, biểu chúng đem treo trong phòng ngủ. Chúng cầm lịch rồi đi lại bàn ngồi xuống mở ra xem, chợt hai đứa đồng thanh hô lên một lượt:

– Eeewww… (Tiếng hô mỗi khi gặp chuyện ghê gớm.)

Rồi bỏ hai tờ lịch lại bàn, chúng chạy tuốc lên phòng. Chúng tôi không hiểu chuyện gì hết, vợ tôi bèn đi lại bàn xem. Tới phiên cô vợ chỉ tay xuống tờ lịch:

– Anh anh, lại đây coi nè.

Tôi đi lại thấy ngoài bìa tấm lịch in hình đầu một con trâu tổ bố. Vợ tôi nói tiếp:

– Hai đứa con mình chắc mất gốc hết rồi anh.

– Em nói gì kỳ vậy, sợ trâu đâu có ăn nhằm gì tới chuyện gốc gác.

– Sao hồi trước anh nói là dạy con cho thành người Việt chánh hiệu con rồng vàng mà.

Tôi ra bộ nghiêm trang, gật gù:

– Bây giờ anh không hiểu nổi cái mẫu người Việt đàng hoàng nó ra làm sao nữa, xin thưa thiệt với em, hồi hè vợ chồng dắt con về bên bển anh thấy từ già cho tới trẻ ăn với nói, nghe mà phát khiếp làm anh sợ con mình bị nhiễm quá chừng, mẫu người nầy không được đâu, thôi thì tụi nó thành người Tây, người Mỹ, người Tàu, người Nhựt… cũng chẵng hề gì, miễn sao nó lớn lên sống cho ra một con Người là tốt lắm rồi.

Trúc Thanh không nói thêm gì, cô bậm môi, mắt đăm đăm nhìn vô tấm lịch, hồi sau cô ngước lên nói:

– Năm tới là năm con Trâu, rõ ra năm tới là năm Kỷ Sửu.

Dronten 11 12 08

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Thời thế, thiện, ác và ….con người

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 27 Apr 2026

vuongmonglong1Một ngày cuối tháng Ba năm 1970 Thượng Sĩ Woodell ghé Cư Xá Trần Quí Cáp- Pleiku đón tôi vào Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa-Kỳ để ghi tên xin khám bệnh. Hôm sau, tôi chính thức nhập viện để được giải phẫu một vết thương.Đúng lý ra, hôm đó, tôi phải lên đường về trình diện Tổng Y Viện Cộng-Hòa theo quyết định của Bác Sĩ Trung, Giám-Đốc Quân Y Viện Pleiku. Chỉ vì sáu tháng trước đây, vết thương trên vai trái của tôi đã được mổ một lần. Lần đó bác sĩ chỉ lấy ra được hai mảnh đạn nhỏ, còn mảnh đạn lớn vì ở quá sâu lại dính với xương vai, nên tôi được xuất viện về đơn vị, chờ ít lâu, sẽ vào nhà thương khám lại. Tôi tiếp tục đi hành quân, cho tới một ngày, thấy mủ màu đen bắt đầu nhỉ ra qua một lỗ rò dưới nách, tôi mới đi tái khám.

Nào ngờ, kết quả lần khám này cho thấy cái mảnh đạn súng cối ấy đã di chuyển xuống vùng sườn trái, khiến cả một vùng cơ bắp sưng tấy, và đang làm độc. Ban Giám Đốc Quân Y Viện Pleiku đã làm thủ tục chuyển tôi về Tổng Y Viện Cộng-Hòa vì nơi đây có nhiều phương tiện chữa trị hơn.

Tôi về đơn vị trình bày việc này cho trung tá liên đoàn trưởng, lúc đó cũng có mặt ông trung tá cố vấn trưởng liên đoàn. Ông trung tá Hoa-Kỳ nêu ý kiến, giới thiệu tôi vào Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa-Kỳ trước, nếu chữa không xong, họ sẽ chuyển tôi ra Hạm Đội 7.

Bệnh viện 71 Dã Chiến nằm trong một thung lũng, bên cạnh con đường nhựa nối liền phi trường Cù-Hanh và Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn II. Bệnh viện này là nơi tiếp nhận thương binh Mỹ từ các chiến trường Cao-Nguyên Vùng 2 chuyển về. Từ đây thương binh được cấp cứu, điều trị sơ khởi, sau đó tuỳ theo tình trạng nặng nhẹ, họ sẽ được chuyển về Sài-Gòn hay chuyển ra Hạm Đội 7.

Thay quần áo xong, tôi được đưa vào phòng Quang Tuyến X rồi chuyển sang phòng chẩn bệnh.

Nơi đây đã có mặt một nữ y sĩ trung tá già da đen. Bà y sĩ trung tá này chính là trưởng khoa giải phẫu của Bệnh Viện 71 Dã-Chiến. Hình dáng của bà ta thật là cao lớn và thô kệch, nhưng giọng nói của bà lại vô cùng ấm áp dịu dàng.

Rất từ tốn, bà tự tay đo, và ghi trên hồ sơ, nhịp tim, mạch của tôi. Rồi bà bước ra cửa, nói nhỏ với cô điều dưỡng vài lời. Một phút sau ông đại úy bác sĩ phụ trách ca mổ của tôi có mặt. Ông y sĩ đại úy này da trắng, cũng hơi lớn tuổi, và mang kiếng trắng. Hai vị thày thuốc luân phiên quan sát hai tấm hình X Ray, rồi sờ nắn vùng đang sưng tấy bên nách tôi. Khi ngón tay của họ nắn bóp trên chỗ sưng, tôi cảm như nơi đó là một quả xoài đã chín nhũn, chứ chẳng thấy đau đớn gì cả. Công việc chẩn bệnh chấm dứt, tôi ngồi chờ người dẫn sang phòng mổ.

Chợt ngoài bãi đáp có tiếng động cơ của trực thăng tản thương. Hai điều dưỡng viên chạy ra khiêng chiếc cáng, trên đó là một thương binh băng kín nửa người phần dưới. Theo sau chiếc cáng là một sĩ quan Mỹ và một sĩ quan Việt-Nam. Người sĩ quan Việt-Nam đó là Đại-Úy Phạm Văn Tư Khóa 19 Võ Bị, tôi quen biết.

Anh Tư là dân Tình-Báo, đang tăng phái ngắn ngày cho ban thẩm vấn đặc biệt của Mỹ tại Hàm-Rồng.

Thấy bệnh nhân là một người Việt-Nam, nên tôi thắc mắc hỏi anh Tư

– Ủa! Sao Niên Trưởng không đưa người của Niên Trưởng vào Quân Y Viện Pleiku mà lại đưa vào đây?

– Có phải người của “moa” đâu? Việt-Cộng đó!

– Việt-Cộng à?

– Thằng Việt-Cộng này vướng Claymore ngoài rào trại Dak-Séang. Mỹ bắt được, đem về Camp Enari , giao cho Phòng 2 Sư Đoàn 4 (Hoa-Kỳ).

– Từ Camp Enari về đây có vài ba cây số sao không dùng xe mà phải xử dụng tới trực thăng?

– “Moa” thấy đùi của anh ta bị quấn “garô” sưng to quá, sợ xảy ra nội xuất huyết thì chết, nên đề nghị với Mỹ lấy máy bay của sư đoàn, đưa anh ta về đây.

Nhìn mặt người nằm trên cáng, tôi đoán chừng hắn cũng cỡ tuổi của tôi và anh Tư thôi.

– Hắn thuộc đơn vị nào vậy?

– Tụi “moa” vừa ký nhận đã phải đưa tới đây ngay. Chưa hỏi được câu nào.

– Bộ anh ta đi đánh nhau không mang theo giấy tờ gì sao?

– Có chứ! Nhưng tài liệu mình còn để trên bàn. Việc cứu người là trọng, phải lo trước. Chiều nay mình sẽ nghiên cứu tài liệu cũng chưa muộn.

– Ừ nhỉ! Dù gì thì hắn ta cũng là người Việt-Nam, chỉ không cùng chiến tuyến với chúng mình.

– “Toa” biết không? Trên đường đi, hắn cứ luôn mồm gọi “Xuân ơi! Xuân ơi!” Chắc hắn yêu thương người mang tên Xuân này lắm?

Tôi gật đầu, tán đồng,

– Dù là Quốc-Gia hay Cộng-Sản, thì con người nào cũng có một trái tim, biết yêu thương, và biết giận hờn.

Một năm trước đây, trong trận Dak-Tô (5/1969), tôi đã trải qua tình cảnh tương tự như người cán binh Cộng-Sản này. Ngày đó, vào giờ phút tuyệt vọng nhất, trái tim tôi chỉ còn hình bóng người mà tôi yêu thương nhất. Tôi đã gọi tên người này nhiều lần trước khi bị ngất đi.

Tên tù binh được chuyển vào phòng X Ray rồi sang phòng chẩn bệnh. Hai Quân-Cảnh Hoa-Kỳ được gửi tới canh gác trước phòng chẩn bệnh. Đại Úy Tư bắt tay tôi, rồi cùng viên sĩ quan Mỹ rời bệnh viện.

Khi tôi và tên tù binh được đẩy vào phòng giải phẫu thì trên bàn mổ đang diễn ra một ca phẫu thuật khá ồn ào. Một nam bác sĩ cùng hai nữ y tá cố gắng và kiên nhẫn lắm mới lấy được cái đầu đạn đồng A.K 47 ra khỏi đùi trên của một anh lính Hoa-Kỳ. Anh lính này da trắng, còn rất trẻ, tuổi chừng mười chín hai mươi là cùng. Anh chàng bị cột chặt nửa người dưới và hai chân xuống bàn mổ, để tránh dãy dụa, gây trở ngại cho bác sĩ.

Chắc việc mổ xẻ làm cho người trẻ tuổi đau đớn lắm, nên anh ta không ngớt khóc lóc, kêu la. Ông bác sĩ và hai cô y tá cứ phải luôn miệng, dỗ dành, an ủi anh.

Trước cảnh này tôi cũng thấy tội nghiệp.

Mỗi khi hoàn tất một pha mổ, toán phục dịch vệ sinh lại nhanh tay thay cái khăn bàn mới, rồi đẩy vào phòng một khay đựng dụng cụ giải phẫu khác đã tẩy trùng.

Ca mổ của anh lính Hoa-Kỳ chấm dứt thì tới phiên anh tù binh Cộng-Sản.

Mỗi bên đùi của tên tù binh này bị hai viên chì Claymore ghim sâu tới xương. Bác sĩ phải đánh thuốc tê từng chân, mổ lấy đạn chì từ từng vết thương một. Do đó, thời gian hoàn thành công việc này khá dài.

Nhìn những giọt mồ hôi chảy thành dòng trên má hắn, tôi nghĩ hắn đang nén cơn đau.

Trong suốt nửa giờ đồng hồ, hắn chỉ rên nho nhỏ trong miệng, trừ hai lần bác sĩ gắp đạn ra khỏi đùi phải thì y chịu không nổi, buột miệng hét lên:

” Ối! Ối! Đau! Đau quá!… Ư!… Ư!… ư… ư…”

Với ca mổ này, cô điều dưỡng da trắng cũng tận tình săn sóc tên Việt-Cộng, không khác gì đã làm đối với anh lính Mỹ trong ca mổ trước. Cô dịu dàng lau đi những giọt mồ hôi trên mặt người tù. Dù biết rằng người được chăm sóc không hiểu cô nói gì, nhưng cô cứ dỗ dành:

“Don’t worry! Don’t worry! You will be Okay!”

Qua cử chỉ dịu dàng và giọng nói êm như ru của cô, không ai dám nghi ngờ rằng cô đang đóng kịch.

Bốn viên chì đã được lấy ra rồi. Vết thương cũng được may vá và băng bó xong. Y tá chuyển người tù sang chiếc xe lăn, cạnh chiếc xe lăn của anh lính Mỹ.

Là bệnh nhân cuối cùng, tôi leo lên bàn mổ mà nửa người bên trái nặng như đeo chì.

Tôi bị cởi trần, nằm hơi nghiêng về bên trái. Cô y tá vừa lau sạch đám bọt oxygen trên vùng sườn trái của tôi, thì ông bác sĩ bắt đầu dùng mười đầu ngón tay ấn nhè nhẹ quanh quanh, thăm dò. Rồi thật từ từ, ông dùng iode vàng xoa trên vùng đang mưng mủ, rộng dần ra thành một bề mặt cỡ lòng bàn tay.

Ông y sĩ đại úy chích cho tôi ba mũi thuốc tê, rồi huyên thuyên cùng tôi đôi chuyện nắng mưa. Vài phút sau, ông mới bắt đầu ra tay.

Dưới tay ông, lưỡi dao sắc như nước, nhanh như chớp, cắt ngọt hai nhát chéo chữ “X” xuyên da, thịt, chạm tới xương sườn của tôi.

Sau đó, cứ thủng thỉnh, ông xẻ dọc, rồi xẻ ngang, như người ta đang băm một cái bánh mềm. Tới khi thịt da trên cái diện tích cỡ lòng bàn tay đó bị bấy ra rồi, ông bác sĩ mới dùng một lưỡi dao cong như lưỡi hái, mạnh tay cạo từng lọn thịt bầm màu xanh lẫn với máu mủ, cho rơi xuống một cái thau nhôm do cô y tá hứng.

Vì nằm nghiêng về bên trái, tôi thấy cái thau nhôm chứa lổn nhổn những cục thịt pha máu đỏ, mủ xanh, mủ vàng, tanh hôi vô cùng.

Tôi chợt nghĩ, nếu như tôi cứ cứ ỷ y, không chịu nhập viện, chắc chỉ sau một thời gian ngắn nữa thôi, cả vùng sườn bên trái của tôi sẽ thối rữa thành mạch lươn, hết phương cứu chữa.

Khi lưỡi dao đục khoét lớp da thịt bên ngoài, tôi chưa thấy đau đớn chút nào, tới lúc lưỡi dao cạo trên xương nghe, “Két! Két! Cột! Cột!” thì điếng người. Ngay cả khi ở ngoài mặt trận, bị mảnh đạn ghim vào, tôi cũng không thấy đau như thế này. Toàn thân tôi run lên bần bật như đang cơn sốt rét. Tôi bật người lên, oằn người xuống, đồng bộ với những nhát dao đang cào, nạo xương sườn của tôi. Tôi cắn chặt hai hàm răng vào nhau. Hình như môi dưới của tôi bị răng tôi cắn chảy máu mất rồi? Mồ hôi trên mặt tôi chảy như tắm, rớt ròng ròng trên tấm nhựa trắng trải bàn mổ. Tôi nghĩ, lúc đó có lẽ mặt tôi đã xám xịt như chàm?

Nhưng tôi vẫn còn tỉnh táo lắm. Tôi biết, lúc này, có hai người đồng cảnh ngộ, một bạn, một địch, đang chăm chú theo dõi, đánh giá sức chịu đựng của một người lính Việt-Nam Cộng-Hòa. Một giọt nước mắt, một tiếng kêu la của tôi sẽ nằm trong trí nhớ của họ suốt đời.

Tôi nhắm mắt, nghĩ tới cảnh những thương binh Việt-Nam Cộng-Hòa khác đã từng lên bàn mổ, bị cưa chân, cưa tay, chắc họ phải chịu đau đớn vạn lần hơn tôi. Tôi tự an ủi rằng, mình còn may mắn hơn những người này rất nhiều…

Rồi tôi hồi tưởng lại truyện Tam Quốc Chí đọc ngày còn bé, với huyền thoại Tướng Quân Quan Vân Trường cứ ung dung ngồi uống rượu, ngâm thơ không màng tới việc Hoa Đà đang xẻ thịt, cạo xương ông để rút mũi tên tẩm thuốc độc đang ghim trên vai ông ta ra.

Ngày xưa làm gì có thuốc tê, thuốc mê? Vậy mà Quan Công không hé chút đau đớn nào, thì ông quả là người có sức chịu đựng phi thường. Càng nghĩ, tôi càng phục vị anh hùng thời Tam Quốc này quá!

Bỗng nhiên bác sĩ ngừng tay dao, đưa tay chụp cái kìm. Ông ngoáy mũi kìm vào cạnh sườn tôi, kẹp chặt một vật, rồi giựt mạnh! Theo phản xạ, tôi vội oằn mình, ưỡn người lên, nương theo hướng lôi kéo của mũi kìm.

“Bục!” thân mình tôi như bị móc lên cao, rồi rơi xuống mặt bàn.

Tôi có cảm giác như vừa bị ông bác sĩ giựt đứt một phần thân thể? Đau thấu xương, đau tới ù tai, hoa mắt luôn! Quá sức chịu đựng, tôi xón đái ra quần mà không hay!

“Here it is!”

Ông bác sĩ vừa cười, vừa giơ cái mũi kìm cho tôi thấy một cục thịt to bằng đầu ngón tay cái, máu đỏ bầy nhầy. Đó là cái mảnh 82 ly vừa bị gắp ra từ khe hở giữa hai cái sương sườn.

Thả cục đạn xuống cái khay trên bàn, ông bác sĩ lại tiếp tục cào nạo. Tay chân tôi bủn rủn không còn hơi sức. Tôi mệt lả người, nằm im như cái xác.

Hồi lâu sau, ông bác sĩ ngừng tay, hất hàm ra dấu cho cô điều dưỡng đứng chờ bên tủ thuốc. Hiểu ý, cô điều dưỡng bưng ra, đặt trên bàn một hộp nhựa chứa hai cái lọ. Bác sĩ nhanh tay lau sạch máu trên vết mổ, rồi mở nắp cái lọ, rút ra một sợi bấc tẩm thuốc bột trụ sinh màu vàng như nghệ.

Với cái kẹp inox, ông khéo léo nhét hết hai lọ băng bấc đèn màu nghệ vào đầy vết mổ. Xong xuôi, cô y tá dán miệng vết thương bằng một tấm băng hai lớp chứa bông gòn ở giữa, rộng bằng bàn tay. Bên ngoài miếng băng này, cô còn quấn thêm một lớp băng cứu thương quanh ngực tôi để cho tôi bớt đau.

Ông bác sĩ và hai cô y tá đều mang băng che miệng, tôi không thấy miệng họ cười, mà chỉ thấy mắt họ cười, khi ca mổ vừa hoàn tất.

Những gì xảy ra trong phòng giải phẫu buổi trưa hôm đó đã cho tôi thấy cái ý nghĩa cao quý của ngành y. Dưới mắt của người thầy thuốc, việc cứu người là mục đích tối thượng. Mạng sống của mỗi con người đều quan trọng như nhau: Dù người đó là bạn hay thù, là da trắng hay da màu, là Cộng-Sản hay Quốc-Gia.

Cô điều dưỡng vừa đẩy cái khay dụng cụ đi khuất thì bà y sĩ trung tá trưởng khoa bước vào.

Bà nói đôi lời với ông bác sĩ, rồi cúi xuống bế tôi gọn trên đôi cánh tay to lớn của bà.

Giọng nói của bà bên tai tôi, dịu dàng như giọng của một hiền mẫu:

“Oh! My baby! My baby! You will be Okay! My baby…”

Anh lính Mỹ và tên cán binh Việt-Cộng cũng sững người, trố mắt.

Bà bác sĩ bế tôi đi trước, hai cái xe lăn của anh lính Mỹ và tên cán binh Cộng-Sản được y tá đẩy theo sau.

Ra tới phòng hồi lực, bà đặt tôi xuống giường rồi lẳng lặng đi ra. Lúc sau bà quay lại, trên tay có gói Salem và cái kẹp diêm cây.

Bà để gói thuốc lá và diêm quẹt trên đầu giường tôi, rồi dơ ngón tay trỏ điểm điểm một vòng, ngụ ý món quà này dành cho cả ba người.

Giường tôi nằm ở giữa, bên trái là anh bạn Đồng-Minh, bên phải là tên cán binh Cộng-Sản. Chỉ có đầu giường tôi bị treo lủng lẳng dây nhợ chuyền nước biển pha thuốc trụ sinh. Còn giường hai bên không bị vướng vít gì, vì họ đã được chích Penicillin rồi.

Tôi đốt một điếu Salem đưa cho anh lính Mỹ. Anh ta lắc đầu, nhỏ nhẹ,

– Thank you!

Tôi đưa điếu thuốc lên môi, kéo một hơi dài, nhả khói.

Tôi trao bao thuốc cho tên Việt-Cộng,

– Này hút đi! Salem đầu lọc nhẹ lắm!

– Không thèm!

nhìn tôi với ánh mắt lừ lừ, gờm gờm, hắn ta gằn giọng.

Tôi tỉnh như ruồi,

– Không hút thì thôi! Tớ hút một mình.

-Thuốc của đế quốc, không thèm hút!

– Thông cảm đi! Ở đây không có thuốc lào. Chỉ có thuốc thơm đế quốc thôi. Không hút thì nằm đó mà ngửi khói.

Tới chiều, chúng tôi được cung cấp mỗi người một khay thức ăn, gồm một bánh mì kẹp thịt bò, một hộp sữa tươi, và một chùm nho.

Tôi và chú GI ăn uống rất ư là tự nhiên, còn tên cán binh Bắc-Việt thì nằm quay mặt vào tường không thèm chạm tới cái khay.

Trước khi quay gót đem theo cái khay của tôi, cô điều dưỡng nhìn tên bộ đội một lúc, rồi dịu giọng,

– Take it! It’s good for you!

Tôi chêm thêm,

– Ăn đi chứ! Không ăn thì chết đói! Muốn gì thì cũng phải sống trước đã! Ăn đi!

Cô y tá nhìn tôi, đồng tình,

– May you tell him to take it?

Tôi nghiêm mặt, hù cho anh cán binh sợ thêm,

– Thôi ăn đi! Anh không ăn, cô ấy dẹp mất thì đói đấy!

Anh chàng hình như cũng đói lắm rồi? Sau một phút ngập ngừng, chàng đưa tay cầm kẹp bánh mì, rồi vội quay mặt vào tường.

Buổi tối, trời trở lạnh, anh lính Mỹ nổi cơn, la hét, chửi bới om xòm. Cô y tá trực phải tới ngồi ở cuối giường, an ủi dỗ dành, rồi đọc truyện cho anh ta nghe.

Tôi mồi một điếu Salem, đưa cho tên Việt-Cộng,

– Hút đi! Không nguy hiểm tới tính mạng đâu mà sợ.

Lần này thì hắn ta không từ chối nữa.

– Ừ! Có thế chứ! Này! Vì sao bị thương và bị “tó” vậy?

tôi bắt đầu gạ gẫm.

– Đang điều nghiên mục tiêu thì bị vướng mìn.

– E mấy?

– Hăm Tám (28)

Tôi đã biết E 28 là tên của Trung Đoàn 28 Mặt Trận B3 Cộng-Sản Bắc-Việt, nên khai thác tiếp,

– Năm ngoái tớ có đụng E 28 ở Dak-Tô. Trận đó E 28 chết gần hết, cậu còn sống sót là may lắm đó!

– Mới bổ sung về E 28 hai tháng thôi.

– Cấp chức gì?

– Trung úy Đặc-Công.

– Quê ở đâu?

– Hải …”Rương”

– Làng nào?

– Hỏi gì mà lắm thế?

– Thôi không hỏi nữa!

Thấy hắn sắp quạu, tôi không thèm nói chuyện thêm. Tôi xoay người lại, nằm ngửa, quay mặt sang anh bạn Đồng-Minh. Cậu bé đã ngáy khò khò.

Đêm vào khuya, tôi bị vết mổ hành, chỉ nhắm mắt, chập chờn. Thêm vào đấy, cứ ba tiếng đồng hồ, y tá lại đánh thức tôi dậy, nhét hai viên trụ sinh vào mồm bắt nuốt. Từ sau lần bị thương thứ nhì, cơ thể tôi không thể tiếp nhận Penicillin, nên kỳ này bác sĩ cho tôi uống Erythromycin với liều lượng cao gấp đôi để phòng ngừa vết mổ làm độc.

Hình như tên tù binh có tâm sự, không ngủ được. Chắc anh ta đang suy tính điều gì gay go lắm? Lâu lâu hắn lại mở mền, hé mắt quan sát quanh phòng. Có lúc hắn gượng gạo ngồi dậy thử đứng hai chân trên nền nhà, nhưng thấy không vững, y đành ngồi phịch xuống nệm, thở dài.

Mấy lần y mở miệng gọi tôi:

“Này! Này!”

Tôi khoát tay ra dấu cho hắn ta im tiếng, đừng làm ồn lúc đêm khuya.

Quá nửa đêm, ba, bốn y tá vào phòng hồi sức, chuyển anh lính Mỹ ra xe, chở đi.

Lợi dụng lúc căn phòng chộn rộn, ồn ào, anh cán binh hỏi nhỏ,

– Các anh có đem tôi đi bắn bỏ không?

Tôi ngạc nhiên,

– Cái gì mà bắn bỏ? Ai nói với anh điều đó?

Anh cán binh trả lời với vẻ mặt hoàn toàn thật thà,

– Chính ủy nói mà! Chính ủy nói, nếu để các anh bắt, các anh sẽ đem xử bắn.

Tôi phì cười,

– Ai mà bắn anh làm gì? Tuyên truyền bậy bạ thế mà anh cũng tin!

Anh Việt-Cộng ngẩn người, ra chiều suy nghĩ, rồi lẩm bẩm:

“Chẳng lẽ chính ủy nói sai?”

tiếng anh ta nhỏ như thể là, anh ta nói, cho chính mình anh ta nghe thôi.

– Này! Có phải Xuân là vợ anh không?

tôi hỏi dò.

– Đúng! Xuân là vợ tôi đấy! Xuân vừa đẻ đứa con gái đầu lòng thì tôi có lệnh đi B. Không biết kiếp này tôi có còn gặp lại Xuân và Bé Ty không?

Nghe tâm sự của anh ta, tôi không khỏi mủi lòng.

Hai người ngừng trò chuyện khi cô y tá trở về phòng cho tôi uống thuốc.

Ngày kế tiếp, sau bữa ăn sáng, hai Quân-Cảnh gác cửa phòng rút đi, Đại Úy Phạm Văn Tư và viên sĩ quan Phòng Nhì Sư-Đoàn 4 Hoa-Kỳ lại xuất hiện.

Anh Tư bắt tay tôi, rồi ngồi xuống cạnh giường bệnh của tên tù Phiến Cộng,

– Hết lo chết rồi nhé! Giờ thì mình đi thôi!

Viên đại úy Mỹ cũng cúi xuống, vỗ vai người tù, xí xố vài câu hỏi thăm.

Sau đó, hai sĩ quan Việt, Mỹ đỡ tên tù Cộng-Sản lên ghế lăn.

Tôi đưa bao Salem còn hơn nửa cho tên cán binh,

– Này! Cầm lấy! Tôi cũng người Hải-Dương…

Anh trung úy Việt-Cộng rụt rè cầm bao thuốc lá nhét vào túi. Rồi, anh ta nắm lấy bàn tay phải của tôi, lắc lắc vài cái,

– Các anh đã cứu mạng tôi. Người ta nói rằng các anh độc ác lắm. Nhưng thật ra… các anh có độc ác đâu?

Lúc này ánh mắt anh ta không còn vẻ gờm gờm, hằn học nữa. Tới cửa phòng, anh ta dơ tay vẫy tôi lần cuối.

Tới trưa, tôi được chuyền thêm một bịch nước biển pha trụ sinh, rồi rời bệnh viện lúc hai giờ chiều, theo chế độ điều trị ngoại trú.

Bà bác sĩ trưởng khoa dúi vào tay tôi cái bao nylon, trong đó chứa cục đạn bằng gang màu đen đã được chùi rửa sạch.

“Don’t throw it away! Keep it for memory!” bà dặn dò.

Bà không bắt tay tôi, mà xoay lưng đi về văn phòng.

“Take care! Good bye! My son!” phút chia tay, hình như bà tránh nhìn tôi, giọng nói của bà run run.

Khi đỡ tôi lên xe, cô y tá mới nói nhỏ vào tai tôi: “Her son was a Ranger like you!”

Hai ngày sau tôi trở lại bệnh viện để thay băng thì cô y tá quen báo cho tôi biết rằng bà y sĩ trung tá trưởng khoa vừa lên đường về nước vì bà đã mãn nhiệm kỳ phục vụ ở Việt-Nam.

Nhớ tới bà, lòng tôi chợt dâng lên một cảm giác lâng lâng, ngọt ngào.

Thế là bà đã về quê! Bà đã xa rời chốn hiểm nguy. Bà sẽ về đoàn tụ với người con trai của bà; anh ấy cũng là một “Ranger” như tôi. Bà cũng giống mẹ tôi: những lúc xa con, thấy anh lính nào cỡ tuổi con mình, cũng thấy thương, như là thương con mình…

***

Cuối tháng Chín năm 1974 Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân xuống Đức-Lập tăng cường cho Tiểu-Khu Quảng-Đức để tham dự cuộc hành quân khai thông Liên Tỉnh Lộ 8 B. Thiếu Tá Phạm Văn Tư (lúc này là Trưởng Phòng 2 Tiểu-Khu) lại gặp tôi lần nữa. Nhớ chuyện năm nào ở Bệnh Viện 71 Dã-Chiến, tôi hỏi anh Tư,

– Ngày đó, vì cớ gì mà anh cứu thằng trung úy Đặc-Công Việt-Cộng?

– Đạo lý làm người mà Long! “Moa” cứu hắn, chỉ vì hắn sắp chết. Vả lại, hắn đâu phải là kẻ thù của chúng ta? Hắn chỉ là kẻ địch của chúng ta thôi.

Tôi biểu đồng tình,

– Đúng! Kẻ thù là người có ân oán với mình. Những tên cán binh đang đánh nhau với mình thì có thù oán gì với mình đâu?

Tôi hỏi tiếp,

– Sau này anh có còn gặp lại y không?

– Không. Vì khai thác xong thì tụi này chuyển giao anh ta cho Phòng Nhì Quân-Đoàn II ngay. Giữ lâu làm gì?

Tôi nhắc anh Tư,

– Anh có nhớ chuyện thằng Vi-Xi đó cứ gọi tên Xuân lúc hôn mê không? Và anh có biết Xuân là ai không?

– “Moa” không hỏi, mà cũng quên khuấy chuyện này rồi.

– Xuân là tên vợ hắn. Đứa con gái hắn vừa chào đời, thì hắn có lệnh vào Nam.

Nghe vậy, anh Tư bèn đưa bàn tay phải lên ngang ngực, dơ ngón trỏ ra nhịp nhịp,

– Ừ há! Chắc ngày trao đổi tù binh năm 1973 hắn đã về đoàn tụ với gia đình ngoài Bắc rồi.

Tôi chợt nhớ, tên cán binh ấy là người Hải-Dương, nên buột miệng,

– Thằng đó là người cùng quê với tôi đấy!

Anh Tư gật gù,

– Có khi hai người là bà con cũng nên?

Tôi cũng gật gù theo,

– Biết đâu chừng lại là anh em, họ hàng. Tôi có một bà dì và hai ông bác còn ở ngoài Bắc. Nếu như hắn là con của những người này, thì quả là “cốt nhục tương tàn”.

Anh Tư phụ họa,

– Những thằng địch đang cầm súng chỉ là nạn nhân bị tụi đầu sỏ cầm quyền lợi dụng máu xương thôi. Mấy thằng Cộng-Sản “cội” đang ăn trên, ngồi trốc ở ngoài Hà-Nội mới là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh “nồi da xáo thịt” này. Tụi đó mới chính là kẻ thù của chúng mình!

***

Đầu năm 1976, nghĩa là đúng sáu năm, sau ngày Đại Úy Phạm Văn Tư áp giải viên trung úy Đặc-Công Việt-Cộng tới Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa -Kỳ, thì tôi và anh Tư đã thành hai trong số vài trăm tù nhân cấp thiếu tá của khu K 3 trại Tam-Hiệp, Biên-Hòa.

Thời kỳ này, giờ khắc trôi từ từ như đang đợi chờ ngày bầu cử Quốc-Hội nước Việt-Nam Thống-Nhất. Chúng tôi còn ở trong Nam, chưa bị đưa ra Bắc, chưa bị cưỡng bách làm các công tác lao động nặng.

Riêng anh Phạm Văn Tư và người cùng Khóa 19 Võ-Bị của anh là Trần Văn Bé được trại tuyển dụng làm thợ đóng bàn ghế trên ban chỉ huy. Tám giờ sáng, vệ binh vào mở cổng, dẫn hai anh đi làm công tác. Năm giờ chiều, hai anh tự động trở về K 3, không có ai dẫn độ.

Anh Trần Văn Bé là người ở cùng Đại Đội B với tôi trong Trường Võ-Bị thời sinh viên sĩ quan. Anh Bé cũng là người đã huấn luyện tôi những ngày đầu đời lính, nên chúng tôi không lạ gì nhau.

Chiều chiều, anh Tư và anh Bé thường rủ tôi tới Lán 2, nơi có cái bàn gỗ của Thi Sĩ Trương Minh Dũng để hút thuốc lào và tán gẫu. Anh Trương Minh Dũng là bạn cùng Khóa 5 Thủ- Đức với Trung Tá Hoàng Kim Thanh, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân. Tôi đã gặp anh Dũng vài lần khi chúng tôi mới tới tăng phái cho tỉnh Quảng-Đức (9/1974). Lúc đó anh Dũng đang giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Tiểu-Khu này. Bây giờ thì ông Thi Sĩ Tham Mưu Trưởng Tiểu-Khu ngày xưa đã mang biệt danh rất hợp thời là “Dũng Điếu Cày”.

Anh Tư biết tôi ghét thuốc lào, nên mỗi ngày anh đều vấn cho tôi vài điếu thuốc rê Cẩm-Lệ.

Buổi trưa một ngày tháng Hai năm 1976, có tiếng súng liên thanh nổ ròn rã một tràng dài ngoài hàng rào. Tiếng súng ngừng lại vài giây, rồi tiếp tục, nhưng lơi đi, từng phát một, như ai đó đang thực tập bắn bia. Trên con đường nhựa bao quanh các khu cách ly, vệ binh chạy rầm rập nối đuôi nhau. Chúng vừa lên đạn “lách cách!” vừa gọi nhau ơi ới:

“Báo động! Báo động! Tù trốn! Tù trốn!”

Cổng chính của tất cả các khu giam giữ tù cải tạo liền bị đóng kín, khóa lại. Chòi gác nào cũng đầy lính canh, súng chĩa vào sân. Tù nhớn nhác nhìn nhau ngơ ngác.

Rồi cửa hông được mở cho hai vệ binh ghìm súng A.K đi vào K 3 để kiểm tra. Tù cải tạo bị đuổi về lán. Vệ binh vào từng nhà, đếm đầu, nhận mặt từng người, với sự xác nhận của lán trưởng.

Kiểm tra xong, trong sân trại sinh hoạt đã trở lại, nhưng không còn cái không khí ồn ào náo nhiệt thường ngày. Tù cải tạo vẫn tụm năm, túm ba, nhưng không phải để đánh cờ, chơi bóng chuyền, hay tập thể dục dưỡng sinh, mà để rì rầm với nhau về chuyện mới xảy ra lúc buổi trưa. Chẳng ai biết vị sĩ quan nào của Việt-Nam Cộng-Hòa đã mạo hiểm làm nên sự kiện này. Trong sân trại, tiếng chim se sẻ nói chuyện với nhau nhiều hơn là tiếng người ta.

Khoảng hai giờ chiều, loa phóng thanh trên chòi cao ra lệnh cho các lán trưởng lên văn phòng nhận lệnh.

Khi trở về, lán trưởng Lán 24 của tôi là Thiếu Tá Trần Thành Trai tập họp tất cả lán viên, rồi tuyên bố:

“Trưa nay có hai cải tạo viên trốn trại. Tên Phạm Văn Tư bị bắt lại. Tên Trần Văn Bé còn tại đào. Các anh đừng hoang mang, nghe lời dụ dỗ của bọn phản động mà trốn trại, sẽ mang họa vào thân.”

Chẳng rõ câu tuyên bố này là do Lán Trưởng Trần Thành Trai ứng khẩu, hay anh ta đã sao y nguyên bản lời của cán bộ?

Tôi ra sân bóng chuyền tìm gặp vài người quen để hỏi thăm tin tức của hai người đàn anh Khóa 19.

Một anh lán trưởng tiết lộ: Khi anh ta lên họp trên ban chỉ huy trại thì nghe vệ binh nói với nhau rằng anh Phạm Văn Tư bị bắn trọng thương, nhưng vẫn còn bị bỏ nằm trong hàng rào kẽm gai, vì khu vực đó có mìn nên vệ binh không chịu chui vào lôi anh Tư ra.

Xế chiều, anh bạn Bắc Hải ngoắc tôi ra góc sân thì thầm,

– Anh Bé thoát rồi! Còn anh Tư thì bị bắn nát bấy cả hai đùi và hai cánh tay. Người bắn anh Tư là “Thượng Sĩ Buồn” đó! Anh Tư thiệt là số xui. Thằng Thượng Sĩ Buồn đi đái, gặp ngay lúc anh Tư đang bị kẽm gai móc vào lưng áo, cách cầu tiêu có vài thước thôi. Nó chạy vào lấy khẩu A.K 47 nhắm hông và đùi của anh Tư, bắn hết một băng đạn ba mươi viên. Rồi nó ráp băng đạn thứ nhì, tì súng trên hàng rào, cứ nhắm tay, chân của anh Tư mà tiếp tục bóp cò từng viên một, cho tới viên cuối cùng. Chân tay anh Tư đã nát bấy, nên anh ấy chỉ còn nước nằm kêu la đau đớn chờ chết. Mãi tới ba giờ chiều chúng nó mới cho gọi mấy anh cải tạo viên bên K 1 chui vào hàng rào, lôi anh Tư ra. Họ khiêng anh Tư về bệnh xá, thằng thiếu úy trưởng trại không cho băng bó, nó còn bắn thêm ba, bốn phát K 54 vào bụng anh Tư, rồi bắt khiêng anh Tư bỏ trên miếng ván nằm trong cái nhà kho cũ của trại. Anh Tư khát quá, xin uống nước, anh em đi lấy nước cho anh, thì thằng Thượng Sĩ Buồn ngăn lại, không cho uống. Sau đó, nó đuổi mấy anh ấy về lán.

Nói xong, Hải buột miệng chửi thề:

– Đù Má! Cái thằng Thượng Sĩ Buồn này độc ác dữ!

“Thượng Sĩ Buồn” là biệt danh của tên Việt-Cộng quản giáo K 3.

Tên này tuổi dưới ba mươi, mặt mày sáng sủa như một thư sinh. Không rõ tên thật của hắn là gì, nhưng anh em trong trại thường gọi hắn là “Thượng Sĩ Buồn”.

Mà cũng đúng! Lúc nào mặt y cũng phảng phất nét u sầu, như đang mang tâm sự không vui, như đang nhớ thương ai.

Tôi nhớ hồi còn ở bên K 1, ông “Ba Gà Mổ”, tức ông lán trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Lộc đã từng chỉ cho tôi thấy mặt một cán bộ Việt-Cộng “hiền hết xẩy” nhân dịp tôi theo ông Lộc lên khiêng gạo trên văn phòng trại. Ông “Ba Gà Mổ” có vẻ biết rành rẽ tên cán binh này lắm,

– Anh quản giáo này quê ở mãi ngoài Bắc-Thái lận! Ảnh mới vào Nam sau “ngày giải phóng”. Ảnh hiền hết xẩy!

Cuối năm 1975 tôi được chuyển từ K 1 sang K 3. Khi thấy người phụ trách K3 chính là anh cán bộ “hiền hết xẩy” tôi cũng mừng.

Sáng sáng, Thượng Sĩ Buồn đứng nơi góc trại nhìn các anh tù tập thể dục dưỡng sinh. Chiều chiều, Thượng Sĩ Buồn rảo quanh trại đôi lần, thủng thẳng tản bộ trên con đường mòn sát hàng rào. Lâu lâu hắn dừng chân, ân cần hỏi thăm sức khỏe của những tù nhân đang túm năm, tụm ba đánh cờ tướng hay đang bàn chuyện gẫu. Hắn rất sốt sắng liên lạc với cán bộ hậu cần giúp mua hàng cho anh em trong trại, mỗi khi được nhờ. Nói chung, hắn ta được lòng nhiều người. Không ai nghi ngờ lòng tốt của hắn cả.

Có một vị tù cải tạo nào đó đã “phịa” ra cái lý lịch đầy màu sắc tiểu thuyết của Thượng Sĩ Buồn, rồi chuyền tai nhau: Nào là, hắn ta vốn là sinh viên đại học Y-Khoa, ly khai vào “bưng” nhân Tết Mậu-Thân, ngày trở lại Sài-Gòn thì người yêu đã lấy chồng! Hoặc, cho hắn là con nhà địa chủ, cha mẹ chết hết trong thời cải cách ruộng đất, vì thế hắn buồn!

Chiều hôm đó Thượng Sĩ Buồn vẫn thủng thẳng tản bộ trên con đường mòn quanh trại. Nhưng không có người tù cải tạo nào dám nhìn anh ta cả. Vì ai cũng biết rằng, anh ta chính là người đã lạnh lùng bóp cò, nhắm bắn từng viên A.K 47 trên thân thể một người cùng màu da, cùng nguồn cội với anh ta.

Giờ đây, anh ta đã lộ rõ nguyên hình một tên cuồng sát máu lạnh, núp đàng sau một khuôn mặt điển trai.

Cũng từ hôm sau, cho tới ngày tôi lên tàu ra Bắc (tháng 7/1976), tôi không còn trông thấy Thượng Sĩ Buồn xuất hiện trong vòng rào K 3 nữa. Hình như hắn được chuyển sang phụ trách khu K 4?

Tối đó tôi mở ba lô, véo một cục từ bánh thuốc rê đầy ắp mà anh Phạm Văn Tư đã đưa cho tôi chiều hôm trước.

Tay tôi vân vê những sợi thuốc, trí óc tôi hiện lên khuôn mặt vừa nghiêm trang, vừa buồn rầu của người Niên Trưởng.

Lúc đưa “rê” thuốc cho tôi, giọng anh thực từ tốn, nhưng vô cùng dứt khoát, anh nói,

– Từ mai, “moa” bỏ thuốc! “Toa” cầm nguyên bánh Cẩm-Lệ này về, rồi tự tay vấn lấy mà hút! “Moa” chán cái việc suốt ngày ngồi vấn vấn, vê vê này rồi! Chẳng làm nên tích sự gì cả!

Chuyện xảy ra trưa nay, đã cho tôi hiểu rằng, thực sự, người đàn anh của tôi đâu đã chán thuốc rê? Anh cho tôi cả bánh Cẩm-Lệ còn mới toanh, và tuyên bố “bỏ thuốc”, chỉ vì anh phải bắt đầu một cuộc phiêu lưu ít người dám làm: Trốn trại!

Thật vậy, có ít người dám làm điều này lắm!

Chỉ vì, trốn trại chẳng phải chuyện đùa! Mà trốn trại, chính là đem sinh mạng của mình ra đánh đổi lấy Tự-Do.

Hai ông đàn anh của tôi đều là dân Tình-Báo, do đó, dù thân thiết cách mấy, tôi cũng không hay biết mảy may mưu đồ của hai ông.

Tôi cũng chợt nhận ra một điều trái khoáy, oái oăm, đó là chuyện ngày xưa Đại Úy Phạm Văn Tư vì “Đạo Làm Người” mà cứu mạng một tên Việt-Cộng sắp chết vì nội xuất huyết trên những vết thương ở đùi. Rồi chỉ sáu năm sau, người tù cải tạo Phạm Văn Tư lại bị những tên Việt-Cộng khác bắn nát tứ chi, không băng bó, vứt trong xó nhà, để mặc cho máu chảy tới cạn kiệt. Không có ai làm “garô” cho anh; không ai lưu tâm tới chuyện hai đùi, hai tay anh đang bị nội xuất huyết, hay ngoại xuất huyết cả; chắc chắn anh sẽ chết dần với nỗi đau đớn tột cùng. Cảnh này cũng thật là trái ngược với hình ảnh cô y tá Hoa-Kỳ tận tâm chăm sóc một tù binh bị thương, không cùng màu da và ngôn ngữ với cô, vừa luôn miệng dỗ dành:

“Don’t worry! Don’t worry! You will be Okay!”

Ngày xưa, khi nhân loại còn dã man, có chuyện người chiến thắng đã đem địch quân ra tùng xẻo, hoặc trói kẻ thù lại, cột dây cho ngựa kéo lê tới chết.

Ngày nay, dù thế giới đã đổi thay, nhưng cung cách đối xử với người dưới ngựa của Việt-Cộng cũng không văn minh hơn chút nào.

Tôi đang suy nghĩ miên man, thì anh bạn Nguyễn Phong Cảnh ló đầu vào cửa sổ ngoắc tay,

– Lẹ lên! Lẹ lên!

Vừa chui lọt thân mình qua cái cửa sổ, tôi đã bị anh Cảnh lôi đi như chạy giặc.

Cảnh dẫn tôi men theo bờ rào, đi về hướng nhà bếp, tới góc cuối của K 3, cách cái chòi gác hai lớp kẽm gai. Lúc đó trên chòi không có lính canh.

Hai đứa ngồi núp mình, nghe ngóng.

Từ căn nhà tôn bên kia, cách tôi bốn lớp kẽm gai và hai khoảng đất trống, rõ ràng là tiếng la rú đau đớn của anh Tư đang vọng ra.

“Ối!…Ối! …Ối!…ôi!…ôi!…ôi!..ư…ư…ư..”

Tiếng la rú lanh lảnh, đứt quãng, quằn quại, từng đợt rợn người, của một sinh vật sắp chết đã phá vỡ cái yên tĩnh của một vùng không gian vào lúc trời chạng vạng. Chắc chắn trong suốt cuộc chiến tranh hai mươi năm vừa qua, khó có thương binh nào phải lâm vào tình trạng đau đớn khủng khiếp như tình trạng hiện thời của người thất trận Phạm Văn Tư.

Tôi nghĩ rằng, nếu có gom góp hết những đau đớn mà tôi đã từng trải, qua ba lần bị thương, cũng chẳng thấm gì với cái đau mà người đàn anh của tôi đang gánh chịu giờ phút này.

Bạn cùng lán của tôi, Thiếu Tá Nguyễn Phong Cảnh, là một sĩ quan thuần túy tham mưu, không quen với cảnh máu đổ, thịt rơi ngoài trận tiền, nên chỉ qua vài phút chứng kiến cảnh thương tâm này, anh Cảnh đã chịu đựng không nổi. Anh òa lên khóc tức tưởi, rồi ù té chạy về hướng sân bóng chuyền.

Tôi vẫn ngồi sát bờ rào, theo dõi tiếp.

Tiếng rú hạ thấp xuống thành tiếng rên, “Hừ!… Hừ!…hừ! …hừ!…”

Rồi hình như trong khi rên, anh Tư đã ú ớ gọi tên ai đó:

“Hừ!… Hừ!…Hừ!..Hường…ơi!…Hư…ường …ơi!…ực!… ực!…ực!…”

Cuối cùng, chen lẫn với những tiếng nấc, bên kia rào chỉ còn những tiếng, “Ư! Ử!…Ư! Ử!…ư! ử!…” nhỏ dần.

Mấy chục năm sau, mỗi khi nhớ lại chuyện này, hai mắt tôi vẫn thấy nóng lên và mờ đi, tim tôi vẫn còn chùng xuống như một con tàu vỡ, đang bị nước tràn vào, đang tròng trành chìm dần xuống đáy biển khơi.

Mấy phút sau, hình như anh Tư đã kiệt sức, không rên được nữa. Thấy không nghe thêm được gì, tôi đành lầm lũi trở về nhà giam. Trong khu K 3, ngoại trừ những hôm có văn nghệ hay chiếu phim, thì sau tám giờ tối, cổng khóa, không còn vệ binh đi tuần tra trong vòng rào nữa.

Và cũng từ khi có kẻng báo ngủ (chín giờ tối) thì trên chòi canh, vệ binh bắt đầu các phiên gác đôi. Từ khi tắt đèn cho tới khuya, lâu lâu tiếng gào thét, la hét của anh Tư lại theo gió vọng về. Có lẽ tới gần hai giờ sáng mới hoàn toàn không còn tiếng rú đau đớn của anh Tư nữa.

Suốt đêm đó tôi cứ giả đò mắc tiểu, lâu lâu lại đi ra sát bờ rào nghe ngóng. Cũng đêm hôm đó, hình như có nhiều người trong khu K 3 cùng mang tâm trạng như tôi. Trong số này, ngoài Nguyễn Lành, Tạ Mạnh Huy và Ngô Văn Niếu ra, còn vài anh Võ-Bị bên Lán 17.

Họ cũng thay phiên nhau ra hàng rào… đứng một lúc, nghe ngóng … rồi đi vào. Chúng tôi như chim cùng đàn, một con bị bắn chết, những con khác chỉ biết bay lòng vòng trên cao, cất tiếng kêu thương. Mờ sáng ngày kế tiếp, có sáu anh tù cải tạo được gọi lên văn phòng để đi chôn xác anh Tư.

Tuần sau, anh Trần Văn Bé bị Việt-Cộng bắt trở lại, và đem về nhốt trong connex đặt trên ban chỉ huy trại. Cùng thời gian này, một anh tù trốn trại khác cũng bị giải về đây nhốt chung với anh Bé. Anh bạn này là Thiếu Tá Biệt Động Quân Phạm Hữu Thịnh. Anh Thịnh đã cùng anh Thiếu Tá Quách Hồng Quang, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân chui rào, tìm cách thoát đi từ Trại Hóc-Môn. Anh Quang bị vệ binh bắn chết ngay tại hàng rào, còn anh Thịnh thì bị bắt khi vừa chui ra khỏi lán. Anh Quách Hồng Quang là bạn cùng đơn vị với tôi thời chúng tôi còn là đại đội trưởng ở Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân. Còn anh Thịnh lại là dân cùng ngành Tình-Báo với anh Tư và anh Bé. Giữa tháng Tư năm 1976, anh Bé và anh Thịnh bị đưa ra tòa án của trại để xử tội. Hôm đó là một ngày nắng gắt.

Khoảng hơn mười giờ sáng, khi loa phóng thanh truyền về trại âm thanh của những loạt đạn A.K kết thúc mạng sống của hai người thua trận, thì trời đang nắng bỗng tối sầm, một cơn giông kéo tới, bụi đất mù mịt. Tiếp theo, là một trận mưa rào xối xả, sầm sập trên mái tôn. Nước mưa vừa bốc thành hơi ngùn ngụt, vừa tuôn xuống đất ào ào. Nhưng chỉ vài phút sau, đột ngột, mưa ngừng. Cảnh vật lại trở về tình trạng cũ.

Hiện tượng khác thường này khiến người ta liên tưởng tới sự hiện diện của Đấng Vô Hình ở trên cao, đang theo dõi các hoạt động của con người dưới trần gian. Có phải cái chết oan ức của hai vị sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa đã động tới lòng Trời? Khiến Trời phải nổi cơn giông phẫn nộ hay không?

Tôi thì tin tưởng rằng, lúc cơn giông nổi lên, chính là lúc Thượng- Đế đưa bàn tay thương yêu của Người ra, để dắt dìu linh hồn các bạn tôi tới bến bờ Tự-Do. Từ phút đó cho tới chiều tối, trong sân tập họp của khu K 3, tù cải tạo lại tụ nhau từng nhóm, thì thầm đọc kinh cầu nguyện.

Những anh tù đại diện có mặt trong phiên tòa, khi về trại, đã kể lại, việc chôn cất hai người bại trận cũng diễn ra rất gọn, vì một ngày trước khi có phiên tòa này, thì hai cái huyệt để chôn người bị xử tử đã được ban chỉ huy trại cho người đào sẵn sàng rồi.

Vậy là, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau khi mất nước, bốn người bạn của tôi đã phải trả giá cho Tự-Do bằng chính sinh mạng của họ.

Sau ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975, thời thế đã đổi thay.

Cái Thiện đã nhường chỗ cho cái Ác.

Tự-Do, Bác-Ái, Công-Bằng chỉ còn là kỷ niệm.

Vương Mộng Long – K20 VBQGVN
Seattle, tháng 7 năm 2013

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 Apr 2026

Người lạc quan đương nhiên là người luôn luôn bằng lòng với cuộc sống, vẽ ra cho mình một viễn ảnh theo ý riêng của mình, nhiều khi không quan tâm đến thực tế chung quanh. Những ngày đầu mới bị Cộng Sản tập trung vào trại “cải tạo”, những người bi quan than thở cho rằng thế này là tù đày không có ngày về, tương lai gia đình, con cái mờ mịt, trong khi những người lạc quan thì suy nghĩ chỉ mươi lăm ngày một tháng là học tập xong, về lại với gia đình, trở lại với đời sống bình thường. Là một người lạc quan, trước khi xách túi rết đi trình diện, tôi còn dặn vợ tôi: “Anh đi “học tập” mười ngày rồi về đi dạy học lại, có gì đâu mà em lo lắng!” Tôi còn lạc quan quá đỗi, đến nỗi chỉ mang đi 10 gói mì “Hai Con Cua” để ăn sáng, ngày mười một là có thể ung dung xơi cơm nhà rồi. Những ngày đầu đó, trong trại tù rất dễ xẩy ra xung đột, có khi sắp xẩy ra chuyện đánh nhau vì bất đồng ý kiến giữa hai phe lạc quan và bi quan. Anh lạc quan vẫn giữ ý kiến của mình, trong lòng nuôi hy vọng được trở về nhà sớm, khi nghe anh bi quan cho rằng thế này là ở tù mút mùa, thì sừng sộ, giận dữ. Bi quan quá đáng thì có lẽ không nên, nhưng anh chàng lạc quan tỏ ra không hiểu gì Cộng Sản, vẫn tin “những gì Cộng Sản nói”. Cán bộ chiến tranh chính trị như bản thân người viết bài này mà còn ngây thơ, những ngày cuối tháng 4-1975, còn ung dung không chịu xuống tàu tìm đường đi, nay mai có thể “đi dạy học lại”, để hệ luy đau khổ cho gia đình, nói gì đến những người dân bình thường khác. Đó là một thứ “lạc quan … tếu”, ngu dốt, khó được tha thứ. Như vậy người lạc quan cũng là người nhẹ dạ dễ tin người như thằng ngốc đi mua vịt trời. Có phải trên thế giới hiện nay, quốc gia có con người lạc quan nhất là Việt Nam?

Tôi vẫn nghĩ rằng khi chúng ta lạc quan yêu đời, thì tâm hồn nhẹ nhàng thong thả, tử tế vui vẻ với người chung quanh, thì vì sao một dân tộc lạc quan …nhất thế giới, lại cộc cẳn, quạu cọ sẵn sàng đánh nhau vì những chuyện không đâu. Cái đất nước có con người yêu đời … nhất hành tinh ấy, sao lại có thể sản sinh ra thứ hàng quán phở chửi, cháo quát, bún … lầm bầm rất là mất dạy hiện nay. Con người lạc quan sao có thể nói với nhau những lời thô lổ, ghét bỏ, thù hận trong khi giao tiếp với nhau hằng ngày. Lạc quan sao con người lúc ra  đường va chạm nhau, trong quán nhậu gây gỗ nhau cũng có thể dễ dàng đưa đến án mạng giết người. Phải là những con người bất mãn, không bằng lòng với cuộc sống, bực mình, giận con cá mà chém cái thớt mới sinh ra tình trạng như vậy. Ở một phương diện nào, nói người Việt Nam bằng lòng với cuộc sống, vì thoả mãn với hiện tại cũng có phần đúng. Từ thời kỳ bao cấp bo bo, khoai sắn, tem phiếu, cô thầy giáo giữa giờ học bỏ học trò chạy lên văn phòng chia thịt, ngày nay chợ búa gạo thịt thả dàn, sao không vui. Thời “”giải phóng” nhà nhà xe đạp, bây giờ xe hơi, xe gắn máy không có chỗ chen trên đường, sao không “hồ hởi”. Nhưng trong một xã hội, bây giờ vẫn con trâu cái cày mà vẫn làm vui, mò cua bắt ốc suốt ngày mà vẫn làm sướng, phải chăng đó là đạo sống ở đời. Ông cụ Đặng Huyền, 98 tuổi ở Huế đang còn phải đạp xích lô kiếm cơm vẫn còn đạp xích lô dài dài; bà cụ Phạm Đoàn, 76 tuổi ở Khánh Hoà, vẫn sáng sáng ngâm mình dưới biển lạnh để mò cua cho có bát cơm bỏ vào miệng, vẫn còn mò cua cho đến khi tắt thở; ông già mù Đoàn Văn Thành mò mẫm đi bán vé số để nuôi thân, còn bán vé số cho đến lúc Việt Nam tiến lên đỉnh cao xã hội chủ nghĩa “hưởng theo nhu cầu” có được mỗi ngày hai chén cháo mà khỏi đi làm. Ba ông, bà cụ mặc áo lụa do Tố Hữu đã cao hứng vẽ thành thơ để “tặng già” này đều là những người lạc quan cho đến chết. Cái lạc quan này làm tôi nhớ đến bốn chữ “an tâm tin tưởng” trong trại “cải tạo”, luôn luôn nói, luôn luôn khai báo mà ruột rối bòng bong. Nỗi đau khổ của dân tộc Việt Nam kéo dài đã mấy thể kỷ rồi, quả tim và tấm lòng chai đá không còn biết sướng, biết khổ nữa. Thời Tây cai trị lúc còn trẻ, khổ đã quen, bây giờ đến lúc già, còn lạ gì với khổ.

Thằng lớn thì nhà, xe, tiền bạc rủng rỉnh, dư ăn dư mặc phải chuyển ra nước ngoài; kẻ lình bình thì bia rượu, ăn nhậu thả dàn, gái non đầy dẫy; người nghèo khổ thì tin tưởng vào số mệnh, đất trời. Cái chính phủ này đúng là vận may vì có được một đám dân như thế, chịu đựng suốt đời, không đám bộc bạch, không hề thở than, nên cũng chẳng bao giờ dám ngóc đầu đứng dậy. Tiêu chuẩn của mỗi “hộ”, sau “giải phóng” do Phạm Văn Đồng ao ước là “đủ nước chấm”, mỗi gia đình có một cái “phích nước”, bây giờ xe gắn máy không đủ đường mà chạy, còn mơ thiên đường chi nữa! Làm “cách mạng” thì phe cánh, một bọn với nhau, bán rừng, chia đất, còn làm ông chủ của đất nước rồi cũng cái cảnh “chồng cầy vợ cấy con trâu đi bừa”.

Ôi ngọt ngào biết mấy những chữ hạnh phúc, lạc quan, an tâm, tin tưởng mà không hề khao khát, không muốn một cuộc đời sáng sủa hơn, ung dung tự tại, mặc cho thế giới tiến bộ, dời đổi, con người lên đến cung trăng hay thám hiểm tận lòng đại dương. Sinh viên Trung Cộng ngoan ngoãn, an tâm như sinh viên Việt Nam thì làm gì có Thiên An Môn, ông Lech Walesa lạc quan, tin tưởng ngồi chờ thì làm gì có biến cố Đông Âu.

Cứ lạc quan kiểu này thì mười năm nữa, “đầu tôm với ruột bầu” vẫn còn ngon, lối lạc quan không cần so sánh, không cần mở mắt, lối lạc quan mang nhãn hiệu Việt Nam, được chấm điểm là … nhất thế giới, là quay mặt vào vách, cúi đầu xuống, ngắm nghía, mân mê cái của mình đang có, mà chữ nghĩa đúng nhất dùng trong trường hợp này là thứ lạc quan … tự sướng.

Án mạng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/07/2019 

Từ ngã tư chú Ía đi vô đường cụt, bà con đứng lố nhố, láo liên tụm năm tụm ba luân phiên góp chuyện, chuyện nọ xọ chuyện kia bày ra toàn cả nghi vấn, khó hiểu. Lối đi vốn hẹp té giờ tìm không ra một khoảng hở, thuật ngữ báo chí buổi nọ dùng chữ “sự cố gây ùn tắc giao thông”.

Có đội ngũ công an la hét nhằm giải toả đám đông. Trung tá Mộc, trưởng ban điều tra chuyên án xuống xe, được hai ông bảo vệ dang tay vạch lối vào hiện trường nơi xẩy ra thảm kịch. Một anh mặt non trẻ nhưng đeo lon Đại uý trình bày cho “sếp” nghe chút khái niệm ban đầu: Theo lời khai của bà Hai, ngụ ở căn hộ sát vách thì hôm qua, tầm chín mười giờ tối nghe tiếng cãi lộn…
Trung tá Mộc hỏi: Ai là người đầu tiên mở cánh cửa nhà trọ đó ra? Công an khu vực ạ. Ai? Tên gì? Gọi chú ấy tới cho tôi hỏi chuyện. Chừng sáu bảy phút sau nghe báo cáo: Đồng chí ấy vừa xin phép được vắng mặt đột xuất ạ. Mộc cau mặt: Thế nà thế lào? Gã Đại uý vừa nói vừa nhìn cánh cửa khép hờ mà đằng sau là hiện trường xẩy ra án mạng: Em gái chú ấy gặp chuyện chẳng may, điện ngay vào bảo chú bằng mọi giá phải chóng ra giải quyết, gây thêm áp lực. Trung tá Mộc thắp lửa điếu thuốc: Lại án mạng? Đại uý tránh nhìn vào mặt người đang phun khói: Hoá ra Trung tá chẳng nắm bắt thời sự? Theo Vietnam net đưa tin bác sĩ Nguyễn Minh Đức, trưởng khoa sản bệnh viện Đức Thọ ở Hà Tĩnh đã kéo đứt cổ trẻ sơ sinh rồi tự tay khâu lại. Sản phụ chính là em gái của đồng chí công an khu vực đang vắng mặt đột xuất.

Mộc hỏi: Cái gì? Kéo đứt cổ là sao? Dạ, là chỉ lôi được cái đầu của em bé ra thôi ạ. Thi thể vẫn kẹt cứng đằng sau cửa mình. Thế mới sinh chuyện chứ ạ. Vị Trung tá cằn nhằn: Mẹ nó chứ. Chỉ dùng tay thôi à? Làm cái đéo gì mà mạnh tay thế!

Tổ trưởng khu phố được gọi tên. Người đàn ông tầm hơn sáu chục tuổi, người gầy dơ xương, mặt nhiều nếp nhăn dồn đẩy trên gương mặt rám choắt bị điểm danh, giật mình. Trung tá Mộc hỏi: Người ta báo cáo bác đi cùng công an khu vực khi mở cửa nhà trọ này? Dạ đúng, mọi khi vẫn vậy. Đi xét hỏi giấy tờ đăng ký tạm trú cũng luôn có đôi cho hợp thủ tục. Mộc lớn tiếng: Tôi không thích hiện trường bị xáo trộn, khi bác xô cửa vào có lục lọi đồ vật trong đó không? Dạ không, tui đi sau lưng anh Chất công an khu vực, tui lấy tư cách chi để mang tật ngứa tay? Thấy người nằm chết chình ình ra đó đã hoảng vía, nghe lạnh cẳng.

Mộc nhìn xuống tử thi: Ai đắp manh chiếu lên người nạn nhân? Tổ trưởng khu phố rụt rè: Dạ tui… Thấy tội nghiệp chẳng cầm được lòng. Mộc bảo: Có nghĩa là hai người chỉ vào nhìn qua rồi bỏ đi? Ông tổ trưởng đáp: Nghe anh Chất nói mình chỉ nên ghi nhận thời điểm, nhiệm vụ của mình không thể đứng ra vạch lá tìm sâu. Bọn tôi tính đi hỏi bà chủ nhà trọ để nắm bắt thêm thông tin thì anh Chất nhận được tin nhắn, anh nói đéo mẹ bọn giết người không gớm tay, xong cái anh cỡi xe máy chạy mất, điệu bộ lúng túng, khẩn trương.

Trung tá Mộc cúi người dùng tay kéo mạnh tấm chiếu lát, lộ hình cái xác trắng hếu. Nạn nhân khoảng độ hai chục tuổi, nằm ngửa và toàn thân đều trần truồng. Tóc cắt ngắn, sợi dây chuyền vàng rơi khỏi cổ, tượng Phật bằng ngọc xanh còn nằm bên vai, ở tay có đeo đồng hồ. Không thương tích, chẳng máu đổ, chỉ có vũng nước loang ở hạ thể. Có lẽ do bị siết cổ và đớn đau hoảng loạn đã khiến nước đái tự động chảy ra. Mộc nói nhỏ: Không loại trừ khả năng là cô này bị hiếp dâm, sẽ xét nghiệm cửa mình xem có chứa tinh dịch không, nhưng đó chẳng phải chuyện của ta. Nhìn lên gã Đại uý: Chú thấy sao? Kẻ thủ ác không lấy đi vật trang sức, đồ đạc chẳng có dấu hiệu bị lục soạn. Và nạn nhân chừng như quen biết với sát thủ.

Gã Đại uý đi tới chiếc giường ngủ đặt ở góc phòng nhặt lên cái túi xách, đổ hết những vật chứa đựng bên trong xuống mặt nệm mỏng: Không có điện thoại di động, e là đã bị lấy đi. Tiền mặt có 750 ngàn. Thẻ chứng minh nhân dân ghi tên Phạm Trần Anh Thư sinh năm 1994. Lạ. Xách tay của phụ nữ phải chứa lắm thứ lỉnh kỉnh… suy ra sát thủ thuộc loại chuyên nghiệp và có dư thời gian… Nó không để lại dấu vết đã đành, lại còn lấy đi những thứ ta xem là manh mối.

Họ lại moi thuốc ra hút. Ông tổ trưởng tự động bật quẹt đưa đốm lửa lại gần môi hai vị đầy tớ nhân dân. Gã Đại uý mặt non trẻ hỏi: Bác làm tổ trưởng khu phố, vậy có biết người bị hại làm nghề nghiệp gì? Lao động ở đâu? Sống đơn thân hay ở chung với ai khác? Dạ, đó là những thứ mà anh Chất và tôi dự tính đi hỏi bà chủ nhà trọ ạ. Tôi chỉ biết là nạn nhân đến thuê nhà trọ chưa được lâu, đâu chừng mới khoảng hai tháng. Gã Đại uý ra lệnh: Bác đi gọi bà chủ nhà vào đây.

Mới rít có ba hơi khói thì bác tổ trưởng lộn lui, có người đàn bà bước ngại ngần theo sau. Qua khỏi ngạch cửa, khi ngó xuống xác người nằm dưới đất liền cất tiếng hốt hoảng: A di đà Phật. Vậy chớ áo quần đâu mà không chịu mặc hở cháu! Ông tổ trưởng: Chết nguyên trạng là thế. Chẳng rõ áo quần có phải hàng hiệu thuộc loại xịn hay không mà đứa giết người cũng muốn soán đoạt sở hữu, lấy đi mất. Tuy chết toàn thây mà nhìn lại cũng thấy thiêu thiếu, phải không chị Huê?

Bà Huê áng chừng năm chục tuổi, tuy mặc bộ bà ba trông bình dân nhưng da thịt và điệu bộ xem chừng là kẻ có của ăn của để. Làm chủ nguyên căn nhà để ngăn chia phòng trọ cho mướn, người đó không thể nghèo được. Trung tá Mộc hỏi ngay: Tiền thuê nhà trọ là bao nhiêu một tháng? Triệu hai. Bị hại làm nghề gì? Trước làm công nhân hàng may mặc trong xí nghiệp nào đó ở Bình Dương, cổ dọn về đây đã hơn tháng, nghe đâu làm ca đêm trong một nhà hàng ở bên quận 5. Thế bà có hay biết những ai là kẻ thường quan hệ tới lui với nạn nhân? Cổ nhiều bạn lắm, cổ cho hay do công việc nên giao tiếp rộng, nhưng được cái là chưa gây ra điều tiếng, sống kín đáo, ít ồn ào, vẫn được lòng chòm xóm ở quanh. Bà con hiếu kỳ bu đông bên ngoài là vì họ hơi bị choáng, Anh Thư là một cô gái hiền lành, vậy mà có ai dè…

Gia đình nạn nhân ở Bình Dương được thông báo về cái chết đột ngột của con em họ. Má Anh Thư đi cùng dượng ghẻ nạn nhân lật đật vào nhà xác làm thủ tục ký nhận, mang đi lo việc hậu sự. Họ câm lặng khi đối mặt với hung tin, lúng túng với thi thể lạnh ngắt chẳng có mảnh vải che thân. Bị chất vấn, người má trả lời vắn tắc: Anh Thư nó thích sống tự lập. Cháu bỏ chúng tôi đi từ lâu. Những gì tôi biết về nó không chắc đã đủ đầy bằng bà chủ nhà trọ.

Phía công an, họ điều tra ra một việc, họ muốn xác tín: Nguyên nhân bỏ nhà đi xa có phải do vụ Anh Thư bị ông dượng cưỡng dâm năm cháu chỉ 14 tuổi. Nghe thế, người làm má khóc oà, không gật đầu chẳng lắc đầu. Khóc dai dẳng, tuồng chất chứa đã lâu chưa có dịp trào thoát. Lôi nỗi đau ra khỏi, cái vết nhơ vẫn bị kẹt cứng ở buồng tim. Đứt đoạn nhưng không vét sạch được một bi kịch.

Trước khi được tẩm liệm vào hòm gỗ tạp, xác kẻ xấu số bị lật qua lật lại cho ông bác sĩ xuất thân từ Củ Chi đưa tay rà soát xét nghiệm theo chỉ thị của hình sự công an. Kết quả giám định: Cửa mình sạch sẽ, cô Anh Thư không bị hiếp dâm, chết do bởi ngạt thở vì bị siết cổ bằng một sợi dây. Ban chuyên án tập trung điều tra tới hai cô bạn gái thân thiết nhất của nạn nhân, không loại trừ khả năng Anh Thư là người đồng tính, ghét và sợ đàn ông qua chấn thương tâm lý mà người dượng từng bạo hành vào năm cô 14 tuổi. Rắc rối ở chỗ, đêm xẩy ra án mạng, theo lời bà Hai thuê ngụ căn hộ sát vách, thì tiếng cãi lộn nghe được là của Anh Thư gây gỗ với một giọng nam. Chỉ có thể khẳng định, vì ghen tuông nên xô xát dẫn đến tử vong. Gái ghen hay trai ghen thì chưa biết, nhưng bạn gái của Anh Thư có cô thể hình chưa nẩy nở đúng hạn kỳ, sức vóc đâu mà nằm đè lên người để siết cổ? Cái thằng đêm hôm đến nhà Anh Thư để lời qua tiếng lại thì chưa có manh mối, cơ sở để nắm bắt nhằm luận tội, truy lùng.

Theo thống kê, trung bình ở địa bàn thành phố, mỗi ngày có khoảng 5 vụ giết người mà lý do cấu thành tội phạm thường vu vơ do đạo đức suy đồi, tánh bản thiện biến mất, kiểu như hai anh em ruột hùn tiền mua vé số, đến lúc trúng lô độc đắc chia chác không hợp lẽ thuận tình, em cầm dao đâm cật lực vào tim anh, xong ôm tiền bỏ trốn, tuần sau thấy bộ dạng trông nghi ngờ, xét giấy tờ rồi bị chận bắt ở cửa khẩu khi tìm cách vượt biên sang Lào. Lý lịch nạn nhân Anh Thư không phải là đảng viên, dân dã bình thường chả mang công trạng gì cho nhà nước nên công an không rỗi việc để hoàn tất cuộc đi điều tra. Lại nữa, bản thân gia đình bị hại chẳng gào la một mực đòi hỏi trắng đen công đạo. Mệt lắm, công việc ở trụ sở công an chất ngập đầu, mãi tồn đọng chưa giải quyết xong. Thôi, quên đi nha. Người dân ở khu vực Chú Ía có một chữ để mô tả vụ Anh Thư, giản dị, kêu bằng “chìm xuồng”.

Chìm ở địa phận nọ nhưng địa bàn khác, Trung tá Mộc lại đánh hơi ra cái khác thường, những muốn tự mình “gạn đục khơi trong”. Vị Trung tá có mười hai năm mặc đồng phục công an, ba năm công tác ở ban chuyên án đã kín tiếng lặng lẽ tìm cách tiếp xúc với cá nhân Chất, công an khu vực chú Ía. Mộc tự giới thiệu bản thân, để làm Chất bớt hoang mang, liền nhập đề: Việc ở cơ quan chả có gì khẩn trương, mình thường mang tật là thích đi giao lưu hỏi thăm các đồng chí trong ngành, ngoài mặt gầy dựng tình cảm biết đâu lại học hỏi thêm bao điều hữu ích nhằm bồi dưỡng vào công tác bảo vệ trị an mà trên luôn đòi hỏi nâng cấp trình độ. Để tâm sự được cởi mở thông thoáng, hay như này, chúng ta tìm tới một quán cà phê…

Chất tính buột miệng: Chẳng mấy khi mà rồng tới nhà tôm, quả thật đó là niềm vinh hạnh lớn lao cho Chất này… Nhưng dù sao sự đa nghi là bản chất của một thằng công an, Chất cố kềm hãm mọi biểu lộ, giữ bộ mặt tỉnh như ruồi. Khi đón nhận một phong bì trao lén lút vào tay, Chất vẫn mang bộ mặt ấy, quen rồi, cứ vờ như đang nhìn đời hiu quạnh chả thấy độc lập tự do hạnh phúc ở đâu cả. Khi một vị Trung tá xa lạ bất chợt đến han hỏi, ta chớ nên tỏ ra xum xoe bợ đỡ. Mẹ kiếp, sự đột xuất nào mà chẳng mang theo một cú thót tim.

Quanh đây có hàng quán nào uống được không? Chất trả lời: Tốt hơn thì nên đi xa một tẹo cho an toàn, đang giờ hành chánh vào ngồi rung đùi trong quán cà phê quen mặt nghĩ cũng không phải. Mộc khen: Chú nói thậm chí lý, tới quận 3 có chốn khuất lấp đèn mờ ta thoải mái vào thư giãn. Để tôi đèo chú đi.

Phục vụ viên trong quán thấy hai ông công an bước vào thì chẳng mấy hồ hởi phấn khởi. Làm ăn buôn bán trong sạch còn cạy mặt huống hồ một quán cà phê thư giãn thắp đèn ngọn tỏ ngọn lu thường bị dán nhãn đồi truỵ. Thời may chị Thắm đứng bên quầy phát hiện ra người quen: Xời, anh Mộc, ngọn gió nào mang anh tới đây? Tưởng đã có lê quên lựu rồi chớ? Hề hề. Mộc cười. Tiếp xúc với dân thì làm mặt quạu nhưng đứng gần chị em phụ nữ cũng nên tỏ ra xởi lởi kẻo má nó khi. Thắm em, dạo này buôn bán thế nào, có phát không? Dạ cũng đắp đổi qua ngày. Bình thường đến đây thư giãn anh mặc đồ dân sự sao bữa nay đóng nguyên bộ vàng khè trông hăm doạ quá. Ờ, anh có chút công chuyện cần giải quyết, tiện thể tạt qua em xem Thắm dạo này như nào. Không dùng bia đâu, mang cho anh hai cái nồi ngồi trên hai cái cốc. Thắm quan sát Chất: Chiện nhỏ. Sữa, đá, đường gì hông?

Để tránh gây phản cảm xúi khách quen sanh dị nghị, làm ảnh hưởng phần nào uy tín của thương hiệu Hương Đồng Cỏ Nội, Thắm ém hai người diện đồ khó coi vào ngồi ở cái bàn nhỏ nằm khuất trong góc kẹt. Định vị xong đâu đó, Mộc nói cho Chất nghe: Hồi nào xuống tinh thần, việc vàng quá căng chú nên lại đây mà xả xì-trét. Ngoài cái Thắm mát mẻ kia ra còn có gần tiểu đội em gái hậu phương được tuyển lựa từ quê lên nom rất là ngon cơm. Điều quan trọng nhất, nếu chúng biết là người của tôi thì y như rằng đồng bọn sẽ thống nhất chỉ xin lấy giá bèo. Sao, chuyến về quê xa thăm em gái sinh nở gặp sự cố đã giải quyết tới ngang đâu?

Chất ngồi rụt cổ, mắt đọng vào cái lon Trung tá đeo ở cầu vai kẻ “vô duyên đối diện”: Dạ, thì tay bác sĩ nhận chịu trách nhiệm việc làm sai quấy gây tử vong hài nhi suýt giết luôn sản phụ và bệnh viện ấy đứng ra bồi thường 15 triệu đồng.

Chú có trực tiếp làm việc với ban lãnh đạo bệnh viện không? Về Hà Tĩnh ở bao lâu? Mẹ nó chứ, chỉ có bọn bác sĩ là không đi tù khi lỡ giết người. Nhưng nói cho ngay thì các đồng chí công tác trong ban ngành mình cũng thường được ưu đãi. Giả dụ chú giết ai đó, ra toà họ định tội là bảy năm, nhưng suy đi nghĩ lại vì chú là công an thì rốt cuộc chỉ ăn cơm tù có hai năm thôi. Nhập kho chỉ hai năm, chú thấy dài hay ngắn?

Chất nghe miệng đắng. Mồ hôi ứa ra trên trán còn nhanh hơn mấy giọt đen đang thong thả rơi từ cái nồi xuống cái cốc. Chất ngó Trung tá Mộc, mắt mờ chả thấy gì, hoang mang nhìn tới một con mèo đen đương bày ra móng vuốt. Chất tuổi Tý, bổn mạng cầm tinh con chuột. Chuột đánh hơi bị mèo dồn vào chân tường hơi bị sớm.

Giọng mèo nghe giảo hoạt: Tôi ngầm điều tra biết chú không đi Hà Tĩnh. Chú đánh hỏng một nước cờ, dân chuyên nghiệp vẫn luôn tạo được chứng cớ ngoại phạm bằng cách vắng mặt ở hiện trường khi gây án; đằng này chú lại kiếm cách xin nghỉ việc sau khi án mạng xẩy ra. Tối hôm đó chú to tiếng với nạn nhân, mâu thuẫn về điều gì? Hãy thành thật khai nhận. Chú thấy đó, tôi đã mang xe lại mời chú đi uống cà phê, động thái rất ư tình cảm. Vụ này lọt vào tay một thằng Trung tá khác tôi, hẳn chú đã hình dung ra tình huống căng thẳng, xui tận mạng, bị đuổi ra khỏi ngành công an béo bở.

Chất thắp lửa điếu thuốc với bàn tay run. Rít liên tục, khói mù trôi nặng xuống bàn. Anh Thư là hàng độc, sở hữu một ngoại hình bắt lửa, là gái gọi có thế giá. Thằng Chất này làm công an khu vực nên giữa chúng tôi có ký một hợp đồng, rằng tôi bảo đảm sự an toàn của cô ta ngược lại cô ấy sẽ chi trả cho tôi mức 7/3. Ví như được 1 triệu thì tiền tôi nhận là ba trăm ngàn. Trước đó hai đêm tôi đón được đơn khai báo của một Việt kiều Mỹ cho hay vừa bị đánh cắp mất bốn ngàn đô la ở trong khách sạn Hoa Sen. Những chi tiết mô tả về cô gái làng chơi rất trùng với Anh Thư. Tôi đến nhà trọ, cô bảo đừng nghe người ta đặt điều, có thằng Việt kiều nào mà ngốc thế? Điên hay sao mà lận tới bốn ngàn đô khi đi chơi gái. Nè, phần anh là hai trăm đô.

Mộc hỏi: Cớ sao chú lại cởi hết áo quần cô ấy?

Giọng Chất lí nhí như chuột kêu: Ngồi trên giếng khát nước đã lâu, tôi định đòi hỏi về tiết mục nọ nhưng nghe tiếng lục đục bên vách nhà hàng xóm…

Mộc: Siết cổ trước, hiếp dâm sau?

Chất: Có sao đâu? Dù không thoả mãn thì mình cũng nguỵ tạo hiện trường, gây nghi ngờ về cái chết chẳng rõ ràng.

Mộc: Thế điện thoại di động của nạn nhân? Chú bán được bao nhiêu?

Chất: Tôi không bán. Tôi gửi về cho em gái gọi là chút quà nhằm uỷ lạo tinh thần.

Mộc: Bốn ngàn đô. Chú đã làm rách phần nào thứ tài sản từ trên trời rớt xuống đó?

Chất: Chẳng những giữ nguyên vẹn tôi xin góp thêm vô năm trăm đô gói gọn gàng vào ba lô để kỉnh anh.

Mộc cười hể hả: Nghiệp vụ công an chú tuy còn ở cấp mầm non nhưng trình độ suy nghĩ của chú thì xem như đã lên cấp đại học. Bao giờ thì tôi nhận hàng?

Chất nói không suy tính: Tối mai, mười giờ, quán cà phê vườn Hoa Dại.

Khi chia tay với đối tác. Đồng chí Chất từ chối leo lên xe của đồng chí Mộc. Mèo đi đường mèo, chuột tìm về hang ổ riêng tư. Chất bắt xe ôm biểu chở về cầu chữ Y. Xuống ở đầu đường, Chất rẻ vào hẻm đi theo hình chữ chi, gặp đứa con nít đang chơi tán lon, hắn thành đứa giao liên dẫn Chất vào đúng nơi Chất muốn. Trần Văn Tám có ngoại hiệu là Tám Tàng, trước đóng đô dưới chân cầu Nhị Thiên Đường, trong một thương vụ vô phúc bị đụng nặng, thất thoát và hao hụt một số đàn em, Tám Tàng chọn cầu chữ Y làm hiểm địa gầy dựng lại thanh thế. Tám Tàng nổi tiếng ở chỗ “ăn chơi không sợ mưa rơi”, có nghĩa là hắn đứng ra nhận việc từ chuyện nhỏ cho chí chuyện lớn. An tâm đi, từ a tới z thằng Tám này thảy đều đáp ứng, xử gọn. Không đẹp không ăn tiền.

Trước tiên, Chất mở túi áo lấy ra cuốn sổ nhỏ cùng cây viết. Chất vẽ hoạ đồ địa điểm cà phê Hoa Dại cùng ba lối dẫn vào quán. Tám Tàng cười mũi: Như vậy là hơi bị xem thường thằng Tám đó nha. Quá hơn Khổng Minh dặn dò Quan Công nên đi vào tiểu lộ. Chất nói: Không dám đâu. Tôi chỉ muốn “đại ca” ẩn mình phục kích ở đây, một công trình thi công dang dở việc xây dựng gần như bỏ hoang cách Hoa Dại đúng năm trăm thước. Tầm mười giờ tối mai tôi đi cùng con mồi, hắn cũng là công an, đi vào bằng lối này. Sau đó tuỳ cách động binh của đại ca.

Tám Tàng nhổ bãi đờm xuống đất: Công an à? Nói anh hai đừng ngầy ngà chớ khử được ông nào tốt ông đó. Mức độ tàn phế?

Chất nói, lời gọn, nhai chỉ một chữ: Chết.

Tám Tàng quay lưng, tới trang thờ Thổ địa thắp ba cây nhang, chắp tay vái vái. Trong dĩa đặt dưới đất có ba trái xoài héo, nhăn da, co quắp, tuồng như gia chủ bận rộn quá xá việc, chưa tiện thay hoa quả tươi mới.

Hai thứ cần lưu tâm, thứ nhất nạn nhân là công an, thứ hai buộc nó phải chết. Do vậy anh hai nên hiểu giá cả có hơi khác thường, đắt chút đỉnh.

Không thành vấn đề. Tôi chẳng có sẵn ngân lượng xứ mình, đại ca chấp nhận thu nhận 700 đô Mỹ nghen.

Sao lại đề ra con số trông chơ vơ ấy? Nhằm giải quyết êm đẹp, tính luôn cả việc không gây ra hậu hoạn, Tám này đóng chốt 1000.

Xong. Cầm trước một nửa, nửa kia tôi trao nốt sau khi con mồi đi đong.

Bận sau có đi giao việc, anh hai làm ơn đừng mặc đồng phục kiểu này, bộ tính nhát ma bọn trẻ trong xóm sao?

Công an Chất trở ra ngoài đường cái. Người nhẹ cơ hồ có thể phi thân lên nóc nhà hóng mát. Từ giờ cho tới đêm mai, kim đồng hồ chừng như đang uể oải đình trệ việc chuyển dịch. Hừ, mày tưởng Trung tá ban điều tra chuyên án là ngon hả. Nghiệp vụ tao chỉ tốt nghiệp cấp mẫu giáo, nhưng mầm non có cái vô tư của mầm non. Vào ngày mốt, cõi đời oan nghiệt này sẽ có thêm một bóng ma, chúc mày sớm siêu thoát.

Chất đi tìm chỗ ít người qua lại, vạch quần đứng đái, rùng mình.

Hồ Đình Nghiêm