Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Chương 7

Họ đưa chúng tôi đến một trại tân binh xa hơn trước kia để tổ chức

lại. Đại đội chúng tòi cần bổ sung trên một trăm người. Đồng thời, những khi rảnh việc, chúng tôi đi la cà khắp. Hai ngày sau,  Himmelstoss lại tìm chúng tôi. Lão khòng còn hống hách như trước từ cái ngày ra chiến lũy về và muốn làm lành với chúng tôi. Tôi thì sẵn lòng, vì tôi thấy lão đã tận tuy đưa Haie Westhus về khi nó bị thương ở lưng. Vả lại lão cũng biết điều là khi chúng tôi bí địa lão có nhã ý mời chúng tôi nhậu nhẹt. Chỉ có Tjaden là còn dè dặt và nghi ngờ. Nhưng cả hắn nữa cũng bị chinh phục khi Himmelstoss bảo chúng tôi lão sắp thay thế lão trung sĩ hỏa đầu trong thời gian lão nầy đi phép. Đề chứng minh lão xuất trình ký đường tặng chúng tỏi và riêng tặng Tjaden hai lạng bơ. Lão còn cho chúng tôi ăn thực đơn sĩ quan nữa. Như thế là lúc này chúng tôi có hai cái mà thâng linh nào cũng cần để được thỏa mãn: ăn ngon và khoẻ xác. Nghĩ ra thì chả đáng là bao. Hai năm trước đây chúng tôi ghét cái bản thân mình thậm tệ. Nhưng giờ thì chúng tôi khá sung sướng. Chẳng qua là thói quen – ngay cả mặt trận.

Thói quen giải thích cho điều tại sao ta hình như chóng quên mọi sự. Mới hôm qua chúng tôi còn nằm dưới hỏa lực, hôm nay chúng tỏi đã nham nhở đi mò mẫm khắp vùng, mai chúng tôi lại ra chiến lũy. Thực sự chúng tôi không quên gì. Nhưng vì đã ở ngoài chiến trường lâu, các ngày ở chiến tuyến một khi đã qua chìm lỉm trong chúng tôi như một cục đá; đối vời chúng tôi chúng quá đáng ngại để chúng tôi có thể nghĩ ngay đến chúng. Nếu cứ nghĩ đến chúng, chúng tôi hẳn đã đi đời nhà ma từ khuya. Chả mấy lúc tôi tìm ra điều này:

-ngày nào mình còn cứ rúc đầu  nhắm mắt ngày đó mình vẫn còn chịu đựng được khủng khiếp;

-nhưng nếu cứ nghĩ đến nó là nó xơi tái mình ngay. Cũng như khi lâm trận chúng tôi trở thành những con thú, vì chỉ có thế chúng tôi mới còn sống sót, thì khi nghỉ xã hơi chúng tôi lại biến thành những thằng nghịch

ngợm la cà. Chúng tôi không thể làm khác, đó là một sự cần thiết. Chúng tôi muốn sống với bất cứ giá nào; nên chúng tôi không thể làm nặng mình với những cảm tình mặc dầu có thể là văn vẻ đẹp đẽ vào cái thời bình, nhưng ở đày thì quả hợm hỉnh. Kemmerich chết rồi, Haie Westhus dang hấp hối, vào Ngày Phán xét họ sẽ phải mệt với cái thân hình thằng Hans Kramer bị đạn rơi trúng ngay người nát bét như tương biết sao mà vá víu: Martens mất cha nó hai cẳng Meyer chết, Max chết, Bever chết. Hammerling chết. Một trăm hai chục thằng bị thương nằm rải rác đâu đó; nghĩ thật xót xa, nhưng giờ thì ăn nhằm gì đến chúng tôi, chúng tôi còn sống mà. Nếu chúng tôi có thể cứu được họ, thì người ta thấy chúng tỏi không quản ngại gì nhưng tôi sẵn lòng thử thách mặc dầu chính chúng tôi cũng đang bị thử thách; vì chúng tôi có thể lý tưởng hào hiệp khi chúng tôi thích; bảo sợ thì chúng tôi không biết sợ là bao nhưng khiếp cái chết thì có; nhưng đó lại là chuyện khác, là thuộc về thể xác.

Nhưng các bạn đồng đội chúng tôi đã chết, chúng tôi đã không giúp gì được họ, họ đã được an nghỉ và ai mà biết được những gì đang chờ đợi chúng tôi? Chúng tôi chỉ biết sao cho khỏe xác và ngủ và ăn đầy bụng được

chừng nào cứ ăn và uống và hút để đừng phí thời giờ. Đời ngắn mà.

Cái khủng khiếp của mặt trận chìm lỉm khi chúng tôi quay lưng lại nó: chúng tôi bông đùa sỗ sàng gớm ghiếc về nó; như thế để khỏi phát điên: ngày nào còn quan niệm nó như thế ngày đó chúng tôi còn duy trì được  kháng lực của mình. Nhưng chúng tôi không quên. Thật là láo toét khi trong những tin chiến trường họ ba

hoa về cái vui nhộn của lính tráng. Rằng vừa ra khỏi mặt trận là lo nhảy nhót. Chúng tôi làm thể chẳng phải vui nhộn: chúng tôi vui nhộn vì không vui nhộn chúng tôi không sống nổi. Nếu không thế chúng tôi lại không có sức chịu đựng; mỗi tâm trạng chúng tôi chua chát thêm.

Và điều này tôi biết: tất cả các cái này mà giờ đây, trong khi chúng tôi đang còn trong chiến tranh, chìm lỉm trong chúng tôi như một hòn đá, sau chiến tranh sẽ lại trồi lên, và rồi sẽ mở đầu gỡ rối giữa sống và chết.

Những ngày, những tuần, những năm ở ngoài này sẽ trở lại, và các bạn đồng đội đã chết của chúng tôi lúc đó sẽ lại đứng lên diễn hành với chúng tôi, tâm trí chúng tôi sẽ sángsuốt, chúng tôi sẽ có một chủ trương, và chúng tôi sẽ diễn hành như thế, các bạn đồng đội đã chết bên cạnh chúng tôi, những năm ngoài Mặt Trận sau lưng chúng tôi:

– để chống lại ai, đề chống lại ai đây?

Dạo trước ở nơi này có một hý viện quân đội. Các tấm quảng cáo màu của các buổi diễn còn dán trên một tấm bảng. Mắt thao láo. Kropp và tôi đứng trước bảng. Chúng tôi không thể tin rằng những thứ này lại còn có.

Một cô gái trong chiếc áo mỏng mùa hè với thắt lưng da láng bóng quanh hông. Nàng đứng một tay trên lan can một tay cầm chiếc mũ rơm. Nàng đi tất trắng giầy trắng, giầy đẹp có khoen cao gót. Sau nàng là một cái hồ mỉm cười với sóng bạc đầu, bên cạnh là một cái vùng sáng tươi. Nàng là một cô gái xinh xắn mũi dọc dừa, môi đỏ, đùi thon, hết sức sạch và rất trải chuốt, nàng chắc phải một ngày tắm hai lần và không bao giờ có đất dưới móng tay. Quá lắm thì cũng chơi vài hạt cát ngoài bãi. Cạnh nàng là một người đàn ông mặc quần trắng, áo xanh lơ, đội mũ thuyền trưởng; nhưng chúng tòi không mấy để ý đến gã. Đối với chúng tôi cô gái trên bức quảng cáo thật là một kỷ quan. Chúng tôi đã quên bẳng là còn có những của như thế và ngay lúc này chúng tôi mắt nhìn mà cũng còn ngờ ngợ. Đã mấy năm nay chúng tôi đâu được thấy có ai như thế, có ai mà lại sung sướng, kiều diễm và hớn hở đến như thế. Đó là thời bình, hẳn phải là thời bình; chúng tôi cảm thấy sảng khoái.

«Nhìn đôi giầy mong manh kia xem, đi giầy đó nàng đi bộ được bao lăm, » tôi nói và rồi bắt đầu cảm thấy ngớ ngẩn, vì không gì ngớ ngẩn bằng đứng trước tấm hình như thế mà lại chỉ nghĩ đến đi bộ.

«Nàng chừng bao nhiêu? » Kropp hỏi.

«Nhiều lắm băm hai là cùng, » tôi phỏng đoán.

«Thế là phải nhiều tuổi hơn bọn mình. Theo tao thì không quá mười bảy »

Chúng tôi nổi da gà.

«Phải thế thì hay quá nhỉ, Albert, mày nghĩ sao? »

Nó gật. «Ở nhà tao cũng có quần trắng. »

«Quần trắng, » tôi nói, «Nhưng một cô gái như thế. Chúng tôi liếc nhau. Ở đây còn có gì mà váy vớ – hai bộ binh phục rách mướp, nhọ nhem, bần thỉu. Không biết cạnh tranh làm sao cho được.

Thế là chúng tôi xuống tay xé nát anh chàng mặc quần trắng khỏi tấm bảng và cẩn thận không hại gì đến cô gái. Thế cũng là cạnh tranh rồi đấy chứ. 

«Dù sao thì mình cũng đi bắt rận đi. »Kropp đề nghị.

Tôi không hứng lắm, vì có sạch rận thì quần áo mình cũng chẳng đẹp gì hơn và chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ sau, có rận lại hoàn có rận. Nhưng khi ngắm lại bức hình, tôi đồng ý. Tôi còn đi xa hơn.

«Mình đào đâu được một chiếc sơ-mi sạch thì hay quá -»

«Cần lo tất thì hơn,» Alber nói, không phải không đúng.

«Ử, có lẽ phải xoay cả tất nữa, Thôi mình thử đi xem. »

Rồi là thấy Leer và Tjaden lảng vảng đến; chúng nhìn tấm quảng cáo và tức thì câu chuyện trở thành tục tĩu. Thằng Leer là thằng đầu tiên trong lớp chúng tôi đã nếm mùi gái, nên nó tả tỉ mỉ mê ly lắm. Nó tán thưởng tấm hình theo cáí lối của nó và Tjađen ủng hộ nó hết mình. Đúng ra chúng tôi cũng không bất bình gì. Đã là lính thắng nào không tục tĩu: chỉ có điều lúc này không hợp ý chúng tôi nên chúng tôi lảng đi đến trại diệt rận vởi cái cảm tưởng như đến một cửa hàng phuc sức các người sang trọng vậy.

Những ngỏi nhà chúng tôi trọ nằm gần kênh. Bên kia kênh có mấy cái ao bên bờ có bạch dương – bên kia kênh cũng lại có cả gái nữa.

Các nhà bên này đều bị bỏ hoang. Bên kia tuy thế thỉnh thoảng còn thấy bóng người. Chiều đến chúng tôi đi bơi. Có ba nàng lảng vảng bên bờ sông. Các nàng chầm chậm bước mà lại không chịu nhìn đi chỗ khác, mặc dầu chúng tôi đâu có mặc đồ tắm. Leer cất tiếng gọi. Các nàng cười và dừng lại nhìn chúng tôi. Chúng tôi nói ghẹo họ bằng tiếng Pháp bồi, nói nhăng nói cnội, nói vội nói vàng, nói lung tung, miễn sao giữ các nàng lai. Các nàng cũng chẳng mỹ miều gì, nhưng ở cái xó này đào đâu ra của quí?

Một nàng trông cũng mảnh mai, nhỏ nhắn, tóc nâu. Mỗi lần cười hàm răng trắng ởn. Lanh lẹn, chiếc váy lã lướt quanh đôi chân nàng. Mặc dầu nước lạnh chúng tôi rất phởn làm đủ trò để giữ các nàng lại. Chúng tôi bông đùa và họ nói lại những gì chúng tôi chẳng hiều gì cả; chúng tôi cười xòa ra hiệu. Tjaden ranh mãnh hơn. Nó chạy vào nhà, lấy một ổ bánh mì quân đội giơ lên. Cái mồi thật là nhậy. Các nàng gật và ra hiệu cho chúng tôi đến. Nhưng chúng tôi đâu dám. Có lệnh cấm không được sang bờ bên kia. Các cầu đều có lính canh. Không có giấy phép đâu sang được. Nên chúng tôi ra hiệu là các nàng phải sang bên này; nhưng các nàng lắc đầu chỉ cây cầu. Họ cũng không được phép qua. Các nàng quay đi chậm rải bước theo bờ kênh, nhưng vẫn không rời con đường mòn bên bờ. Chúng tôi bơi theo họ. Được vài trăm thước họ quay đi chỉ vào một ngôi nhà cách bờ kênh không bao xa, có cây cối xum xuê. Leer hỏi phải chăng các nàng ở đấy. Các nàng cười – đúng rồi, nhà họ.

Chúng tôi nói chúng tôi muốn đến chơi, khi nào mà lính canh không thấy. Đêm. Đêm nay. Các nàng giơ tay, áp vào nhau, đặt mặt lên và nhắm mắt lại. Họ hiểu. Nàng mảnh mai tóc nâu còn đi một điệu nhảy. Nàng tóc vàng líu lo: «Bánh mì – tốt tốt».

Chúng tôi nhanh nhẩu cam đoan sẽ mang bánh đến. Và những thứ khoái khẩu khác nữa, chúng tôi đảo mắt đưa tav cố giải thích. Leer ta gần uống nước khi toan chứng minh một cái xúc xích. Nếu cần chúng tôi dám hứa khiêng cả kho quân lương sang. Các nàng bỏ đi và chốc chốc lại quay lại nhìn. Chúng tôi leo lên bờ bên này kênh và nhìn xem phải chăng họ vào ngôi nhà kia vì họ dám nói láo lắm a. Đoạn chúng tôi bơi trở lại.

Không ai được qua cầu mà không có giấy phép, nên chỉ còn cách chờ tối đến là bơi qua. Chúng tôi háo hức chờ đợi. Nóng lòng quá chúng tòi phải lại quán làm ly bia và uống tí rum.

Vừa uống rum vừa phịa chuyện ra điều mình sành gái. Thằng này sẵn sàng tin chuyện thằng kia, háo hức chờ đợi phiên mình để phét hơn thằng bạn. Tay chân bồn chồn, chúng tôi hút thuốc liên miên, cho đến khi Kropp nói: «Ta mang cho các nàng ít thuốc hút chơi chứ hả». Thể là mỗi thằng dành ra ít điếu nhét dưới mũ.

Trời ngả màu táo xanh. Chúng tôi bốn thằng, nhưng chỉ có ba nàng; chúng tôi phải khai trừ thằng Tjaden bằng cách đổ rum cho nó say bí tỉ. Trời vừa buông tối là chúng tôi trở về nhà trọ dìu thằng Tjaden đi giữa. Chúng tôi phởn phơ nghĩ đến chuyện sắp tới mà nóng ran người. Nàng nhỏ nhắn tóc nâu là của tôi, chúng tôi lật bài thằng nào hơn điểm thì được nàng. Tjaden lăn xuống ổ rơm ngáy. Có lúc nó mở mắt nhe răng cười tinh quái khiến chúng tôi đã giật mình lo ngại và tưởng đâu nó vờ để xỏ chơi và chúng tôi đã tốn tiền đãi rượu nó khơi khơi. Nhưng rồi nó lại ngã xuống ngủ như chết. Chúng tôi mỗi thằng mang theo một ổ bánh to tướng gói giấy nhật trình. Thêm vào đó it thuốc lá, ba khẩu phần xúc xích gan vừa được phát chiều nay. Quà thế kể cũng đã hậu. Chúng tôi giấu kỹ;vào trong bốt; chúng tôi phải na theo e dẫm phải dây kẽm gai hay mảnh chai trên bờ bên kia, Vì phải bơi nên không mang theo quần áo gì khác. Nhưng cũng chẳng xa gì và trời lại tối như bưng.

Chúng tôi lên đi, tay cầm bốt. Chúng tôi nhẹ nhàng trườn xuống nước, bơi ngửa, đôi bốt đựng quà giơ trên đầu. Chúng tôi dọ dẫm leo lên bờ bên kia, lấy các gói ra và xỏ bốt vào. Chúng tôi kẹp các gói dưới nách. Và cứ thế, ướt như chuột lột trần như nhộng, có độc đôi bốt đi chân. Chúng tôi nhón chân rão bước. Chúng tôi lần ngay ra nhà. Nhà nằm dưới đám cây. Thắng Leer dẫm phải cái rễ trợt chân trầy cùi chỏ.

«Chả sao, » chàng ta phởn phơ nói.

Cửa số đóng. Chúng tôi lẻn đi quanh nhà cố nhìn qua các khe hở. Chúng tôi đâm nóng ruột. Bỗng Kropp do dự: «Lỡ có lão thiếu tá nào với các ả thì sao? »

« Thì đánh bài tầu mã.» Leer nhe răng,

« lão có giỏi thì ghi lấy quân số ở đày này» và vỗ vào đít.

Cửa sân mở. Tiếng bốt chúng tôi lộp cộp

Cánh cửa mở, một khe sáng rọi và có tiếng đàn bà thốt vẻ sợ sệt.

«Suyt! suỵt! bạn mà — bạn tốt» chúng tôi nói, và đưa các gói quà ra minh chứng.

Hai nàng kia giờ cũng đi ra, cửa mở rộng và ánh sáng tràn lên chúng tôi. Các nàng nhận ra chúng tôi và cười vang thấy chúng tôi như ba con nhộng. Các nàng vừa đi vào cười rủ rượi, múa may nhún nhảy.

Trông mới dẻo chứ!

«Chờ chút. Họ biến đi rồi ném cho chúng tôi vài thứ mặc đỡ và chúng tôi hân hoan khoác lên người. Đoạn chúng tôi bước vào. Một chiếc đèn nhỏ cháy trong phòng; phòng ấm cúng thoang thoảng mùi thơm. Chúng tôi mở gói và giơ quà tặng các nàng. Mắt các em sáng rở, rõ ràng là các em đói. Rồi là chúng tôi đâm ra ngượng nghịu. Leer ra hiệu bảo các em ăn, thế là các em lại sống động, đi lấy đĩa lấy dao và ăn ngon lành, giơ từng miếng xúc xích gan lên ngắm nghía trước khi ăn và chúng tôi hãnh diện ngồi ngắm.

Các em chuyện trò như pháo rang : -chúng tôi lõm bõm câu được câu chăng, nhưng chăm chú nghe, những tiếng nghe có chiều thân thiện. Chắc hẳn chúng tôi thằng nào trông cũng còn non choẹt. Tóc nâu mảnh mai vuốt tóc tôi và nói những cái mà tất cả phụ nữ Pháp đều nói:

«Chiến tranh – thật khổ, tội bọn trẻ»

Tỏi ôm chặt cánh tay nàng dí môi vào lòng bàn tay nàng. Các ngón tay nàng ôm lấy mặt tôi. Sát bên tôi là đôi mắt bỡ ngỡ của nàng, nước da nâu dịu đôi môi đỏ. Miệng nàng nói những lời tôi không hiểu. Tôi cũng chẳng hiểu rõ đôi mắt nàng; đôi mắt hình như nói nhiều hơn là chúng tôi tiên liệu khi thoạt đến. Còn có nhiều phòng bên. Đi ngang tôi thấy Leer đang say sưa với nàng tóc vàng. Và nó có vẻ sành sỏi lắm. Còn tôi, tôi hoang mang trong cô tịch, trong bạc nhược, trong một sự đắm đuối mà tôi phó mặc than mình một cách tin tưởng. Các dục vọng của tôi hỗn tạp dị kỷ, vừa là khao khát vừa là đau khổ. Tôi cảm thấy choáng váng, ở đây không còn có cái gì để mình còn vấu víu. Bốt để ở cửa ngoài, họ đưa dép cho chúng tôi và giờ đây chả còn cái gì để nhắc nhở cho tôi cái nghênh ngang tự tin của thắng lính tác chiến:

không súng, không dây lưng, không binh phục, không mũ. Tôi buông mình vào cái xa lạ, đến đâu thì đến – tuy nhiên, mặc dầu biết thế, tôi vẫn cảm thấy sờ sợ. Tóc nâu mảnh mai nhíu mày khi nàng suy tư; nhưng khi nàng nói lông mày bất động. Và lắm khi âm thanh không còn là một tiếng mà nghẹn ngào hoặc lướt trên tôi dang dở: một vòng cung, một đường mòn, một sao chổi. Tôi đã biết được gì – tôi biết được gì? – Những cái tiếng của cái ngôn ngữ xa lạ này, mà chẳng hiểu quái gì, chúng mơn trớn tôi và làm lòng mình lắng lai, căn phòng trở thành mờ ảo, tan trong cái nửa sáng và chỉ còn cái khuôn mặt trên tôi sống, là sáng. Không gì biến đổi bằng một khuôn mặt; mới trước đây một giờ nó còn xa lạ, thế mà giờ đây, nó đượm vẻ âu yếm chẳng phải phát ra từ nó, mà từ đêm tối, từ đời từ máu, tất cả đều như đồng sáng lên ở nó. Mọi vật trong phòng cũng được nó biến đổi, trở thành biệt lập và tôi cảm thấy gần như kinh hoàng khi thấy cái bàn tay nâu mát vuốt lên làn da trắng trẻo của mình dưới ánh đèn mờ ảo. Khung cảnh này mới khác hẳn khung cảnh các nhà thổ của lính làm sao chứ, nhưng nhà thổ mà chúng tôi được phép đến và đến đứng nối đuôi nhau chờ đến phiên mình. Tôi ước gì mình đừng bao giờ nghĩ lại, nhưng cái thèm muốn cứ vô tình lái tâm trí mình phải nhớ và tôi sợ, vì có lẽ không khi nào mình lại còn thoát khỏi được sự ám ảnh của chúng.

Nhưng rồi tôi cảm thấy đôi môi của tóc nâu mảnh mai và áp chặt môi mình, nhắm nghiền mắt lại và buông trôi hết, chiến tranh và kinh hoàng và thô lỗ, để trở lại trẻ trung sung sướng; tôi liên tưởng đến hình cô gái trên tấm quảng cáo và trong một lúc, tưởng đâu đời mình sống là để chiếm cho được nàng. Và nếu tôi chìm sâu vào đôi cánh tay đang ôm chặt mình, không chừng một phép lạ sẽ diễn ra …

Một lúc sau, chúng tôi lại quay quần. Leer phởn lắm. Chúng tôi xỏ bốt giã từ quyến luyến. Không khí ban đêm làm nguội thể xác nóng hồi của chúng tôi. Bóng các cây bạch dương lù lù trong tổi. Trăng lơ lửng trên trời, lơ lửng đưới nước con kênh. Chúng tôi không chạy, chúng tôi sải bước bên nhau.

«Đáng giá một khẩu phần chứ nhỉ, » Leer nói.

Tôi không hé môi, tôi cũng sướng lắm chứ. Đoạn chúng tôi nghe tiếng chân người vội lần sau lùm cây.

Tiếng chân lại gần, lại sát chúng tôi. Chúng tôi thấy một thằng lính cũng nhộng như chúng tôi: cũng một gói kẹp nách, cũng nhong nhong chay tới. Đúng là thẳng Tjaden tất ta tất tưởi. Nó đã biến mất. Chúng tôi cười xòa. Sáng mai thế nào nó cũng rủa. Chúng tôi lại trở về các ổ rơm của mình: chả ma nào thấy.

Tôi được gọi lên văn phòng. Ông đại đội trưởng cho tôi giấy phép, giấy đi đường và chúc tôi thượng lộ bình an. Tôi nhìn xem được phép bao lâu. Mười bảy ngày – mười bốn ngày phép và ba ngày đi đường. Thế không đủ, tôi xin năm ngày đi đường, Bertinck chỉ vào giấy. Tôi thấy mình không phải trở về để ra ngay mặt trận. Về phép phải đi trình diện tại một trại ở vùng đầm lầy để qua một lớp huấn luyện. Mấy thằng chúc mừng tôi. Kat nhắn tôi một điều, là nên cố làm sao xoay được một công tác ở căn cứ. «Khéo ra thì cứ đeo cho đến hết chiến tranh»

Tôi thích giá được ở lại đây tám ngày nữa hãy đi phép; chúng tôi còn ở được đây lâu hơn thế và ở đây đang sướng. Dĩ nhiên tôi phải đưa mấy thằng lại quán đãi một chầu. Chúng tôi thằng nào cũng ngà ngà say. Tôi cảm thấy buồn: mình sẽ vắng mặt sáu tuần – Đành rằng thế là may, nhưng liệu những gì sẽ xảy ra khi tôi trở lại? Liệu tôi sẽ gặp lại chúng nó không? Thằng Haie đi đoong rồi – và tới thằng nào đây?

Trong khi uống, tôi nhìn từng thằng một.  Albert ngồi bên tôi phi phà điếu thuốc, lặng thinh, hai thằng xưa nay vẫn cặp kè bên nhau; – trước mặt ngồi chồm hỗm là Kat, vai khòm khòm, ngón tay cái bự, giọng bình tĩnh – Muller răng vẫn cười như vỡ chợ; Tjaden với đôi mắt chuột ranh mãnh; – Leer để râu xồm xoàm trông như thể ít nhất cũng bốn mươi. Khói quyện đặc trên đầu chúng tôi. Lính mà không hút đâu có được? Quán rượu là nơi ẩn náu và bia đâu phải chỉ là rượu, mà là một phép mầu cho người ta duỗi cẳng duỗi tay được thoải mái an toàn. Chúng tôi trịnh trọng duỗi cẳng ra trước và nhổ đánh phẹt, chỉ có thế. Tất cả những cái ấy trồi dậy hẳn trước một thằng sáng mai phải lên đường.

Đêm đến chúng tôi lại sang bên kia kênh. Tôi ngại ngùng bảo tóc nâu nhỏ nhắn rằng tôi sắp đi và khi trở lại chúng tôi chắc phải từ biệt đi xa; chúng mình sẽ không còn bao giờ tái ngộ. Nhưng cô nàng chỉ gật không mấy quan tâm. Thoạt đầu tôi thắc mắc không sao hiểu nổi, rồi bỗng tôi chợt hiểu. Phải, Leer nói đúng; nếu mình phải ra mặt trận, cô nàng sẽ lại bảo mình «tội nghiệp thằng bé»; nhưng chỉ có đi phép – thì cô nàng đâu thèm nghe, có gì là hay ho. Thế mà cứ chỉ choé cái lỗ miệng nghe phát tởm. Mình mơ một phép lạ tỉnh giấc chỉ thấy ổ bánh mì. Sáng bôm san, đi tẩy rận rồi, tôi ra ga. Albert và Kat đi tiễn. Đến nơi họ bảo còn hai giờ nữa tàu mới chạy. Hai thằng phải về làm công tác. Chúng tôi giã từ nhau. «May mắn nghe, Kat; may mắn nghe, Albert.»

Họ đi, vẫy tay vài ba lần. Bóng họ nhỏ dần. Tôi biết từng bước một, từng cử động một của họ, xa mấy tỏi cũng nhận ra họ. Rồi là mất dạng. Tôi ngồi lên ba lô và đợi. Bỗng tôi nòn nao muốn đi ngay cho rảnh. Tôi nằm nhiều sân ga: đứng trước nhiều nhà bếp; ngồi trên nhiều ghế băng; – mãi rồi cảnh vật trở thành ảm đạm, bí mật và quen thuộc, Nó lướt qua các cánh cửa số hướng tây với các làng mạc, các mái rơm như những chiếc mũ đặt lên các ngôi nhà nửa gỗ quét vôi trắng, các đồng lúa, óng ánh như xà cừ dưới ánh nắng chênh chếch, các vườn quả, các vựa thóc và các cây chanh. Tên các ga bắt đầu mang ý nghĩa và tim tôi hồi hộp. Con tàu tách chạy, tôi đứng ở cửa số bám lấy khung cửa. Những cái tên này đánh dấu các ranh giới của thời thơ ấu của tôi. Các cánh đồng cỏ mềm mại, đồng lúa, nông trại; xa xa bóng một cặp ngựa cô đơn cử động trên con đường chạy song song với đường chân trời – một hàng rào, với những dân quê đứng chờ, các cô gái vẫy tay, các trẻ nít tung tăng đùa giỡn trên bờ đê, các nẻo đường đi sâu vào cảnh vật, những con đường êm ả không bóng trọng pháo. Chiều rồi và nếu con tàu không xình xịch chắc tôi phải khóc to. Cánh đồng trải mình thật rộng. Xa xa, bóng dáng xanh dịu của dẫy núi bắt đầu hiền hiện. Tôi nhận ra đường nét đặc thù của rặng Doldenberg, một cái lược gẫy, từ ven rừng nhảy chồm ra. Sau đó là thị trấn. Nhưng giờ đây ánh nắng trào qua cảnh vật, hoà tan mọi cái trong cái sáng đỏ vàng của mình, con tàu uốn mình theo một khúc quanh, rồi một khúc nữa: – xa xa, thành một bàng dài cây trước cây sau là rặng bạch dương, huyền ảo, lơ lửng và mờ tối, làm bằng bóng tối, ánh sáng và thèm khát. Cánh đồng xoay tròn khi con tầu bao quanh nó, và các khoảng cách giữa các cây thu hẹp: rặng cây trở thành một khối và thoáng một lúc tôi chỉ thấy một cây – rồi chúng lại hiện ra sau cây trước nhất, lại đứng thành hàng dài trên nền trời cho đến khi bị các ngôi nhà đầu tiên che khuất.

Một ngã tư. Tôi đứng ở cửa sổ, tôi không sao dứt mình đi được. Tụi kia lấy hành lý sẵn sàng xuống tàu. Tôi nhẩm lại tên con đường vừa chạy ngang – Mremerstrasse — Bremerstrasse –

Bên dười là người đi xe máy, xe vận tải, người và người, một con đường xám và một con đường hầm xám:

– nó ôm lấy tôi như thể là mẹ tôi. Rồi tàn dừng lại, và đây là nhà ga với tiếng ồn, tiếng kêu và lính gác. Tôi xách ba-lô cài đai lại, cầm lấy súng và lảo đảo bước xuống. Đứng trên sân tôi nhìn quanh; tôi chả quen một ai trong số những người tất tưởi đi đi lại lại. Một dì phước Hồng Thập Tự đưa tôi một ly gì mời uống. Tôi quay đi, dì ta nbìn tôi mỉm cười ngu xuần ra điều tự phụ;

«Này chú, ta mời chú lính uống cà phê»_Dì ta gọi tôi «Chiến hữu, » nhưng tôi cũng chẳng buồn uống. Bên ngoài trước ga giòng sông gầm gừ chảy dọc theo con đường phố, nó lao đi sủi bọt từ các thủy môn của con cầu nhà máy, Sừng sửng ở đấy là cái vọng lâu vuông cũ có mặt đồng hồ. Trước nó là cây chanh lớn lốm đốm và sau nó là trời chiều. Nơi đây chúng tôi thường ngồi-cách đây bao nhiêu nhỉ-chúng tôi từng đi qua cây cầu này từng thở cái mùi nước đọng man mát hang hắc: chúng tôi từng cúi nhìn cái mặt nước lặng lờ bên này thủy môn, nơi các cây leo và cỏ xanh bám lấy các cột chân cầu:- và những ngày nóng nực chúng tôi ngồi ngắm mặt nước sủi bọt ở bờ bên kia thủy môn và kể nhau nghe chuyện nầy chuyện nọ về mấy ông thầy dạy mình. Tôi đi qua cầu, nhìn trái: nước vẫn đầy rêu như bao giờ và vẫn tung tóe lên thành những vòng cung lóng lánh. Trong ngôi nhà vọng lâu các cô thợ giặt vẫn đứng cánh tay trần như thủa nọ trước các quần áo giặt sach và hơi nóng máy ủi vẫ  bốc qua các cửa sổ mở rộng. Mấy con chó tung tăng trên con đường hẹp, trước cửa nhà người ta đứng nhìn theo tôi đi qua, bẩn thỉu lách cách. Tại tiệm bánh này chúng tôi thường đến ăn kem và tập hút thuốc ở đây. Đi xuôi đường tôi nhận ra từng tiệm một, các nhà kho thuộc địa, tiệm thuốc, tiệm thuốc lá. Và sau hết tôi đứng trước một cái cửa nâu với then đã mòn và tay tôi nặng hẳn. Tôi mở cửa và một luồng hơi mát lạ lùng ùa ra đón tôi. Mắt tôi mờ lại. Cầu thang cọt kẹt dưới đôi bốt. Trên gác một cánh cửa lẹt kẹt, có người từ lan can nhìn xuống. Đó là cửa bếp, họ đang nướng bánh khoai, nhà sặc mùi bánh và hôm nay dĩ nhiên là chủ nhật; đó hẳn là chị tôi đang nhìn xuống. Trong một lúc tôi then thẹn cúi đầu, đoạn tôi bỏ mũ ngườc nhìn lên. Đúng, chị cả tôi.

«Paul, chị kêu lên, «Paul. – »

Tôi gật, ba-lô va vào thành cầu thang; cây súng nặng quá.

Chị mở một cánh cửa gọi: «Mẹ ả, mẹ à, Paul về rồi. »

Tòi không bước được nữa – Mẹ ơi, mẹ ơi, Paul đã về.

Tôi tựa người vào tường nắm lấy mũ lấy súng. Tòi nắm thật chặt, nhưng không sao bưởc lên được một bước, cầu thang trước mở hẳn, tôi chống báng súng áp vào chân tự đỡ mình và cắn răng thật chặt, nhưng tôi không nói được lên lời, tiếng kêu của chị tôi đã làm tôi kiệt lực, tôi không còn làm gì được. Tôi cố cười, cố nói, nhưng khỏng ra lời, tôi chỉ biết đứng đấy, đứng giữa cầu thang, khổ sở, bất lực, tê liệt, và bất chấp ý chí tôi nước mắt chảy giòng trèn má.

Chị tôi lại chạy ra bảo: «Sao, gì thế em? »

Tôi mới lấy lại bình tĩnh lảo đảo bước tiếp lên đầu cầu thang. Tôi tựa súng vào một xó, đặt ba-lô sát vào chân tường, đặt mũ lên ba-lô, vứt các trang cụ và hành lý xuống. Đoạn dõng dạc nói: «Cho tôi chiếc khăn mù soa. »

Chị mở tủ lấy một chiếc đưa tôi, tôi lau mặt, Trên đầu tôi trên tường vẫn còn treo cải hộp kính với những con bướm màu mà dạo nọ tôi sưu tầm. Giờ thì tôi nghe tiếng mẹ tôi. Từ trong phòng ngủ vọng ra.

«Mẹ ngủ? » tôi hỏi chị.

«Mẹ đau-» chị đáp.

Tôi vào, cầm tay mẹ và cố bình tĩnh nói:

«Mẹ, con về đây này. »

Bà nằm yên trong cái sáng lờ mờ. Đoạn bà bỏi giọng lo âu:

«Con có bị thương không? » và tôi cảm thấy cái nhìn soi bói của bà.

«Không, con về phép. »

Mẹ tôi xanh lắm. Tôi không dám thắp đèn.

«Thế mà giờ đây mẹ nằm, » bà nói, «nằm khóc thay vì là phải vui. »

«Mẹ đau sao mẹ? » tôi hỏi.

«Hòm nay cũng đã ngồi dậy được chút đỉnh, » bà nói quay lại chị tôi chốc chốc lại chạy sang bếp coi chừng bánh cháy: Rồi lấy bình mứt nham lê ra, con ưa ăn lắm phải không?» bà hỏi tôi.

«Thưa mẹ, vâng, đã lâu con không được ăn. »

«Chị biết thế nào cũng về, » chị tôi cười, «bánh khoai là thứ em thích mà, lại ăn với mứt nham lê còn phải nói.»

«Và hôm nay lại là ngày chủ nhật. » tôi nói thêm.

«Con ngồi đây, cạnh mẹ, » mẹ tôi nói. Bà nhìn tôi. Tay bà trắng xanh và gầy gò so với tay tôi. Hai mẹ con không nói gì nhiều: và cũng may bà không hỏi gì. Tôi biết nói sao? Những gì tôi có thể mong ước đã an toàn ra khỏi, và ngồi đây cạnh mẹ. Và trong bếp chị tôi đứng làm bánh tối, vừa làm vừa hát.

«Con tôi, » mẹ tôi se sẽ nói. Trong nhà tôi, chúng tôi không hay bộc lộ tình cảm; những người nghèo cặm cụi mải lo làm lo ăn không nghĩ đến chuyện vồn vã. Không quen bàn cãi những cái mình đã biết. Khi mẹ tôi nói «con tôi», chỉ có hai tiếng đó có ý nghĩa nhiều hơn là từ một bà mẹ nào khác nói ra. Tôi thừa biết là bình mứt nham lê là bình mứt duy nhất để dành hàng bao tháng nay và để dành cho tôi; và những chiếc bánh có phần đã cũ mà bà cũng cho tôi. Bà đã có dịp nào đó có được vài chiếc và đã cất đi cho tôi. Tôi ngồi bên giường, và ngoài cửa số mấy cây dẻ ngoài vườn bia đằng trước óng ánh nâu vàng. Tòi hít mạnh tự nhủ thầm: – «Mày ở nhà, mày ở nhà. » Nhưng một cảm giác bỡ ngỡ xa lạ cứ bảm lấy tôi, tôi không còn thấy gì là tôi ở các vật này. Kia là mẹ tôi, kia là chị tôi, kia là hộp kính đựng bướm và kia là cây đàn dương cầm gụ – nhưng chính tôi lại không ở đó. Giữa chúng tôi có một khoảng cách, một bức màn. Tổi đi lấy ba-lô mang lại cạnh giường và lục lọi các thức tôi đã mang về – cả một bánh phó-mát Edam mà Kat cho tôi, hai ổ bánh «Ừ, nhưng Heinrich Bredemeyer vừa đây lính, gần nửa kí bơ, hai hộp xúc xích gan, nửa kí nước sốt và một bao gạo nhỏ.

«Các thức này chắc nhà dùng chứ -“

Hai người gật.

«Ở nhà chắc khan thực phẩm? » tôi dọ.

«Ử, chả có gì. Ngoài ấy em có đủ không? »

Tôi mỉm cười trỏ các thức tôi mang về.

«Chả phải lúc nào cũng nhiều như thế, dĩ nhiên rồi, nhưng cũng phải chăng. »

Erna ra bưng thức ăn vào. Bỗng mẹ tôi nắm lấy tay tôi nghẹn ngào: «Paul, ngoài ấy khổ lắm phải không con?»

Mẹ ơi, con biết trả lời sao đây! Mẹ làm sao hiều nổi, bao giờ mẹ ý thức được nổi. Và mẹ cũng nên biết mà làm gì. Khổ lắm phải không, mẹ hỏi. – Mẹ. – Tôi lắc đầu nói:

« Không, Mẹ à, cũng chẳng khổ gì lắm. Lúc nào bạn bè cũng đông nên cũng chẳng khổ gì. »

«Ừ, nhưng Heinrich Bredemeyer vừa đây về phép nói ở ngoài ấy bây giờ khủng khiếp lắm, nào hơi ngạt, ôi đủ thứ. »

Đó là lời mẹ tôi nói. Bà nói: «Hơi ngạt, ôi đủ thứ.» Bà có biết gì những cái bà nói, bà chỉ lo cho tôi. Giá tôi mà lại kể bà nghe có lần chúng tôi thấy ba chiến hào địch với toàn thể binh sĩ đều chết cứng đơ như bị động kinh? Tựa vào bờ lũy, nằm trong nhà hầm, ở đâu ở đấy, người đứng kẻ nắm, mặt tím bầm, chết.

«Không, mẹ à, họ nói thế thôi. » tôi đáp,

«Bredemeyer chỉ được cái có một nói mười. Thì mẹ thấy đây này, con có hề hấn gì đâu.»

Trước nỗi lo âu rụt rè của mẹ tòi lấy lại được bình tĩnh. Giờ tôi có thể đi đứng trò chuyện đối đáp mà không sợ phải bỗng nhiên tựa vào tường vì thế giới trở thành mềm như cao su và gân cốt trở thành đá cứng.

Mẹ tôi muốn đứng dậy. Tôi xuống bếp tìm chị tôi. «Mẹ làm sao chị? » tôi hỏi.

Chị nhún vai: «Hai tháng nằm liệt giường, nhưng nhà không muốn viết thư cho em hay. Mời đã nhiều bác sĩ. Một ông bảo không chừng ung thư trở lại. »

Tôi đến Tổng trấn khu vực trình diện. Tôi chầm chậm đi qua các phố. Thỉnh thoảng có người hỏi chuyện tôi. Tôi không dừng lâu vì không thích trò chuyện. Từ trại về tôi nghe có tiếng gọi tôi. Đang mãi suy tư tôi quay lại thấy mình đứng trước một ông Thiếu tá, «Bộ chú mày không biết chào?» lão ta quát.

«Xin lổi thiếu tá,» tôi nói ngượng ngập,

«Em không thấy Thiếu tá. »

« Chú mày không biết ăn nói đàng hoàng? » lão lại quát.

Tôi chỉ muốn đấm vào mặt lão, nhưng dằn lòng, vì muốn được nghỉ phép thì phải liệu hồn. Tỏi nện gót đánh chát và nói: «Thưa Thiếu tá, em khỏng trông thấy Thiếu tá.»

« Vậy liệu mà mở mắt, » lão gằn giọng.

«Tên chú là gì? » Tôi nói tên.

Bộ mặt đỏ gay lợn ỉ của lão hùng hổ:

«Liên đoàn nào?

Tôi cho đầy đủ chi tiết. Tuy nhiên lão vẫn chưa cho là đủ. « Đóng ở đâu? »

Tôi bực mình quá đáp: « Giữa Langemark và Bixschoote. »

«Gi? lão hỏi, hơi sửng sốt. Tôi giải thích lão biết rằng tôi mới về pbép được một vài giờ, tưởng nghe xong thì lão xéo đi cho. Nhưng đâu có; Lão còn hung hổ thêm: «Chú mày tưởng chú mày có thể đưa cái ba gai ngoài mặt trận về đây chắc? Này, ở đây chúng tao không ưa cái thứ ấy đâu nhé. Phúc đức, ở đày còn có kỷ luật »

« Lùi hai chục bước, bước mau » lão hô.

Tôi điên lên được. Nhưng còn biết nói gì với lão: lão hứng lão có thể bắt giam tôi. Nên tôi lùi mau, đoạn tiến lên lão. Cách lão sáu bước tôi đứng nghiêm giơ tay chào và giơ như thế cho đến khi đi qua lão sáu bước.

Lão gọi tôi lại và lấy giọng nhân từ giảng giải cho tôi biểu rằng lần này lão đặt tình thương lên trước luật lệ. Tôi làm ra mặt tri ân sâu xa. «Giờ thì, tan» lão hô. Tôi quay mình đúng điệu và đi thẳng. Thế là cả buổi chiều mất vui. Tôi về nhà quăng binh phục vào một xó; lẽ ra tôi phải quăng từ trước. Đoạn tôi mở tủ lấy quần áo dân sự mặc vào. Tôi cảm thấy bực bội. Quần áo vừa chật vừa ngắn, vào quân đội tôi lớn hẳn ra, Cổ cồn cà vạt lại càng làm tôi khó chịu. Rốt cuộc chị tôi phải thắt nơ cho tôi. Nhưng quần áo gì mà nhẹ thế mõng thế, tôi có cảm tưởng như mình chỉ mặc có độc sơ mi với quần xà lỏn.

Tôi ngắm mình trong gương. Trông thật kỳ. Một anh thí sinh vào đại học sạm nắng ngồng nghềnh trố mắt nhìn tôi. Mẹ tôi hài lòng thấy tôi mặc đồ dân sự; như thế trông tôi kém xa lạ hơn với bà. Nhưng bố tôi thì lại thích tôi mặc binh phục để đưa tôi đi thăm viếng bạn bè ông. Nhưng tôi không chịu. Được ngời yên lặng ở một nơi nào đó, trong vườn bia chẳng hạn, dưới các cây dẻ bên đường phóng tên, thật là thích thú. Lá rơi trên bàn rơi xuống đất, mới vài chiếc, những chiếc đầu tiên. Trước tôi một ly bia, tôi học nống rượu trong quân ngũ. Ly đã cạn một nửa, nhưng còn uống được vài hơi, vả lại muốn uống thêm một vài ly nữa cũng cứ được có sao. Làm gì có kèn có bom có đạn, trẻ con nô đủa trên đường phóng tên và con chó đặt đầu lên đầu gối tôi. Trời xanh, giữa các lá dể vươn lên cái bóng tháp xanh của giáo đường Thánh Margaret.

Quang cảnh hiền hòa, tôi thích thú. Nhưng tôi không sao hoà mình được với thiên hạ. Mẹ tôi là người duy nhất khỏng hỏi lôi thôi. Bố tôi thì không. Ông muốn tôi kể ông nghe về mặt trận: ông hiểu kỳ đến độ tôi thấy là vớ vần và bực mình; tôi không còn có liên hệ thực sự gì với ông. Ông không thích gì bằng nghe chuyện mặt trận. Tôi nhận thấy ông không biết rằng người ta không thể kể những chuyện như thế: tôi sẵn lòng kể, nhưng kể những chuyện ấy ra thành lời đối với tôi quả thật ngny hiểm. Tôi e chúng sẽ trở thành quá ghê gớm khiến tôi không còn kềm chế được chúng. Nếu chúng ta ai ai cũng thấy rõ những gi xảy ra ngoài ấy thì không hiều chúng tôi sẽ ra sao?

Nên tôi chỉ kể ông nghe vài chuyện vui vui, Nhưng ông muốn biết tôi đã đánh xáp lá cà bao giờ chưa. Tôi nói «Chưa, rồi đứng lên đi ra phố. Nhưng đâu đã thoát nợ. Ra đường, sau một lúc giật mình vì tiếng rít của xe điện giống y như tiếng rít của đạn đại bác rơi thẳng đến tôi, có người vỗ lên vai tôi. Ra là ông thầy Đức văn của tôi và ông bám lấy tôi với những câu hỏi thông thường: «Sao, ngoài ấy thế nào? Khủng khiếp, khủng khiếp lắm nhỉ? Ừ, ghê tởm thật, nhưng ta phải đi đến cùng. Và dù sao, nghe nói các anh ngoài ấy được tiếp tế đầy đủ lắm mà. Paul, trông anh khoẻ mạnh lắm, vạm vỡ. Dĩ nhiên ở đây càng ngày càng tệ. Dĩ nhiên. Cái ngon cái lành là dành cho lính, điều đó khỏi nói.»

Ông lôi tôi đến một chiếc bàn có nhiều ông khác. Các ông tiếp đón niềm nở, một ông hiệu trưởng bắt tay tôi nói: «Ra anh đây ở mặt trận về? Tinh thần ngoài ấy ra sao? Cao chứ? Cao? »

Tời nói ai thì cũng mong được về nhà. Ông cười ầm. «Đành rồi! Nhưng trước hết hãy giáng cho cải tụi ăn ếch ăn nhái ấy một trận chí tử cái đã. Anh hút thuốc chứ? Dùng một điếu. Bồi, cho anh chiến sĩ thanh niên của chúng ta đây một ly bia coi nào. »

Khổ quá tôi đã trót nhận điểu xì gà nên phải ngồi lại. Và các ông ấy cũng lại đầy thiện chí thành khó chối từ. Dù sao tôi cũng cảm thấy bực bội và hút lấy hút đề. Để ít ra cũng cho thấy mình là lính, tôi làm một hơi hết ly bia. Tức thì các ông lại gọi thêm ly khác; dân chúng biết tri ân người lính như thế nào chứ. Họ bàn cãi mình phải chiếm miền nào. Ông hiệu trưởng với sợi dây đồng hồ thép đòi ít nhất cũng phải chiếm hết đất Bỉ, các miền than đá của Pháp và một mảnh đất Nga. Ông viện ra các lý do tại sao mình phải chiếm và khăng khăng chiếm cho được kỷ cho đến khi mấy ông kia phải chìu theo ý ông. Đoạn ông mới giải thích phải đánh thọc vào đất Pháp đến tận đâu,và quay lai bảo tôi: «Giờ thì ở ngoài ấy mấy anh phải đầy mạnh chiến tranh chiến bào trường kỷ – Đập tan các chiến tuyến của bọn Anh là mình có hòa bình, »

Tôi đáp theo sự nhận định của chúng tôi thì không dễ gì mà đánh thủng. Địch có thể còn nhiều, rất nhiều lực lượng trừ hị. Vả lại, chiến tranh không giống như thiên hạ tưởng. Ông hách dịch bác bỏ cái ý kiến ấy và bảo rằng tôi chả biết tí gì về chiến lược, «Chi tiết vụn vặt, ừ thì được.» ông nói, nhưng đây là vấn đề bao quát. Và bao quát thì các anh khóng biết gì mà xét đoán. Anh chỉ thấy cái khu vực nhỏ bé của anh nên không thấy được toàn diện. Anh làm nhiệm vụ, anh hy sinh tính mạng, đáng được cái danh dự cao nhất các anh ai cũng đảng được Huy chương Sắt – nhưng trước hết toàn thể chiến tuyến địch ở Flanders phải đánh tan phải đánh dập đầu rắn. »

Ông hỉ mũi chùi râu, «Phải đánh dập đầu rắn. Rồi tiến thẳng đến Ba Lê. »

Tôi mnốn biết theo ông thì phải làm sao, và tôi nốc một hơi hết ly bia thứ ba, Tức thì ông gọi thêm một ly nữa. Nhưng tôi cáo từ. Ông nhét vài điếu xì gà trong túi tôi và tiễn tôi bằng một cái vỗ vai thân thiện. «Chúc anh mọi sự may mắn!

Mong sớm được nghe tin anh lập chiến công. »

Tôi cứ tưởng nghỉ phép là thế nào chứ đâu thế này. Thật vậy, một năm trước đây đâu có thế. Dĩ nhiên là chính tôi đã thay đồi trong thời gian ấy. Giữa thời ấy và hôm nay là cả một hố sâu. Hồi ấy tôi chưa biết gì về chiến tranh, chúng mới còn nằm trong các khu vực yên tĩnh. Nhưng giờ đây tôi thấy rằng mình không dễ đã bị nghiền nát. Tôi thấy tôi không còn liên hệ gì với nơi đâv nữa, nó đã là một thế giới xa lạ. Có người hỏi han dọ dẫm, có người chẵng hỏi han gì, nhưng mình thấy được rằng họ tin là họ biết hết: họ thường nói ra như vậy với cái vẻ ta đây thừa hiều của họ, nên có cãi vã với họ cũng chả đi đến đâu. Họ đã tự tạo cho họ một hình ảnh về chiến cuộc. Tôi thích được ngồi một mình, đừng ai quấy nhiễu. Vì ai thì rồi cũng cứ quanh quẩn với một điều, tình hình ra sao, bi quan lắm hả lạc quan chứ hả; người nghĩ thế này, kẻ cho thế nọ; trong khi thật ra lúc nào họ cũng mải miết vời những cải lặt vặt của chính đời sống họ. Trưởc kia tôi cũng sống cái lối đó, nhưng giờ đây tôi cảm thấy mình không còn chút liên hệ gi với nơi đây. Họ nói chuyện với tôi nhiều quá. Họ có những lo âu, những ý định, những dục vọng mà tôi không hiểu nổi. Tôi thường ngồi với một người bọn họ tại cải vườn bia nhỏ bé và cố giải thích cho hắn ta hiểu thật ra chỉ có một điều đáng kể: là ngồi yên lặng, nbư thế này này. Dĩ nhiên họ hiểu, họ đồng ý, họ có lẽ cũng cảm thấy thế, nhưng cảm bằng lời, chỉ bằng lời mà thôi, phải, đúng thế – họ cảm thấy thế, nhưng lúc nào cũng chỉ nửa con người họ, còn nửa kia thì chìm đắm trong các cái khác, bản thân họ bị phân hóa đến mức không một người nào cảm thấy bằng cả cái bản thể mình; chính tôi, tôi cũng không thể nói một cách chính xác những gì ý tôi muốn nói.

Khi tôi gặp họ ở đây, trong phòng họ, trong sở họ, với công việc của họ, tôi cảm thấy bị lôi cuốn tưởng chừng như không sao cưỡng lại được, tôi cũng muốn ở lại đày và quên chiến tranh đi; nhưng đồng thời cái nếp sống này cũng xô đẩy tôi, nó hẹp hòi quá, làm sao làm đầy được một đời sống con người, nếp sống này, mình phải đập tan nó đi; nhưng sao họ làm nổi, trong khi ngoài mặt trận các mảnh miểng rì rào trên các hốc bom và các hỏa châu vút lên. Các kẻ bị thương được khiêng về trong các tấm vải dầu và các chiến hữu nằm phục trong các hào .- Con người ở đây khác hẳn, những con người tôi không sao hiểu rõ, mà tôi vừa thèm thuồng vừa miệt thị. Tôi nghĩ đến Kat, đếu Alberi, đến Muller đến Tjaden, họ đang làm gì nbỉ ? Chắc họ đang ngồi quản rượu, hay không chừng đang bơi-chả mấy lúc họ sẽ lại ra mặt trận.

Trong pbòng tôi sau bàn là một ghế sô. pha da màu nâu. Tôi ngồi xuống ghế. Trên tường dán đầy bình trước kia tôi cắt ở các báo ra. Giữa các hình là những bức vẽ những tấm bưu thiếp mà tôi lượm lặt được. Trong góc có một lò sắt nhỏ. Kê sát tường đối diện là kệ sách với các sách vở của tôi. Tôi ở căn phòng này trước khi đi” lính. Sách tôi mua dần bằng tiền kèm trẻ. Phần nhiều là sách mua lại, chẳng hạn các bộ cổ điển, một cuốn bìa vải xanh tôi đã phải mua với giá một mác hai mươi pfennig. Tôi hay mua trọn bộ vì bản tính thích đầy đủ, tòi không tin các nhà xuất bản tuyền lựa, dù là tuyển lựa những áng văn bảo rằng hay nhất. Nên tôi chỉ mua «trọn bộ ». Tôi chăm chú đọc hầu hết, nhưng thực sự thì không mấy cuốn tôi thích thú. Thích các sách kia hơn, loại hiện đại, dĩ nhiên đắt hơn. Có vài cuốn tôi có được một cách không lương thiện, tôi mượn rồi không trả vì tòi không muốn rời. Một ngăn đầy sách học. Sách không được giữ gìn cần thận. giở ra giở vào đã nhiều, có trang còn bị xé ra vởi chủ đích riêng. Bên dưới là tạp chí, nhật báo, thư từ xếp lẫn lộn với những bức vẽ, những phác họa.  Tòi muốn tưởng tượng mình trở lại vớicái thời ấy. Nó vẫn còn sống trong căn phòng này, tôi cảm thấy nó ngay, mấy bức tường còn duy trì nó. Tay tôi đặt lên tay ghế; giờ thì tôi làm mình thoải mái, co chân lên ngồi thu vào một góc, trong vòng tay chiếc sô-pha. Cánh cửa sổ nhỏ mở rộng, qua khuôn cửa tôi thấy cái hinh ảnh quen thuộc của con đường phố với tháp chuông nhà thờ vươn lên cuối đường. Trèn bàn có hai bòng hoa. Các cán bút, một vỏ sò làm cái chặn giấy, bình mực ở đày chả có gì thay đổi. Cũng lại như thế, nếu tôi may mắn, khi chiến tranh xong tôi được trở về. Tôi sẽ lại ngồi đây cũng như thế này và nhìn căn phòng và đợi. Tôi cảm thấy nao nao; nhưng tôi không muốn thế, vì không thế được, Tôi thèm lại cái khoan khoái êm ả ấy. Tôi muốn cảm thấy cũng cái khao khát mạnh mẽ không tên mà tôi thường cảm thấy mỗi khi quay về với sách. Cái hơi thở dục vọng nó dâng lên từ các bìa màu của sách lại tràn ngập tôi, lại hòa tan cái cục chì nặng chết nắm đâu đó trong tôi, lại làm thức tỉnh cải bồn chồn của tương lai, cái hân hoan linh động của thế giới tư tưởng, nó lại trả lại tôi cái hăng say đã mất đi của tuổi trẻ. Tôi ngồi chờ. Tôi bỗng nghĩ mình phải đi thăm mẹ Kemmerich; -phải đi thăm cả Mittelstaedt, lão chắc ở trại. Tôi nhìn ra cửa sổ;- bên kia cái hình ảnh đơn sơ của con đường là dãy đồi, xa xa tươi sáng, vào một ngày thu sáng sủa tròng nó cũng có khác và tôi ngồi bên lửa với Kat với Albert ăn khoai nấu cả vỏ. Nhưng tôi không muốn nghĩ thế, tôi gạt đi. Căn phòng phải nói lên, nó phải bắt kịp tôi, phải giữ lấy tôi, tôi muốn cảm thấy là mình có liên hệ vởi nơi đây, tôi muốn nghe muốn biết khi tôi trở lại mặt trận rằng ehiến tranh sẽ tàn lụi, sẽ chìm lỉm trong làn thủy triều hồi hương bao la, biết rằng nó sẽ đi luôn không bao giờ trở lại, không còn lúc nào cũng gặm nhấm mình, rằng nó không có một uy lực gì đối với mình ngoài cải uy lực ngoại diện.

Lưng sách đứng  hành hàng. Tôi vẫn còn nhớ hết, tôi nhớ đã sắp chúng theo thứ tự. Tôi van lơn chúng bằng đôi mắt: Hãy nói với ta – hãy lôi cuốn ta – hãy bắt lấy ta, hỡi cái Đởi Sống Tuổi Trẻ của ta – ngươi vốn dĩ vô tư lự, tươi đẹp – hãy thu nhận ta lại đi -Tòi đợi, tôi đợi.

Các hình ảnh lả lướt qua tâm trí tôi, nhưng chúng không níu lấy tôi, chúug chỉ là những hình bóng, những kỷ ức. Chẳng gì khác – chẳng gì khác. Tôi đâm hoang mang.

Một cảm tưởng bỡ ngỡ xa lạ bỗng dâng lên trong tôi. Tôi không tìm ra đường trở lại, tôi bị đóng cửa không cho vào mặc dầu tôi đã tận tình nài nỉ van lơn và đưa hết sức mình ra đẩy cửa. Chẳng có gì rạo rực: thẫn thờ và thiểu não, như một kẻ bị kết án, tôi ngồi đấy và dĩ vãng rút lui. Và đồng thời tôi cũng lại sợ quấy rầy nó quá, vì tôi không biết rồi sẽ xảy ra những gì. Tôi là một thẳng lính, tôi phải bám lấy đời lính. Mệt mỏi tôi đứng lên nhìn ra cửa sổ. Đoạn tôi lấy một cuốn sách, toan đọc, lật vài trang. Nhưng tôi bỏ xuống rút một cuốn khác, Có những đoạn từng gạch đít. Tôi nhìn, giở qua các trang, lại lấy cuốn khác. Sách đã chất đống bên tôi. Rồi là báo, tạp chi, thư từ. Tôi đứng đấy ngây như tượng gỗ. Như trước một ông toà. Chán nản.

Lời, lời, lời – chả lời nào ăn nhịp với tôi.

Uể oải tôi xếp lại sách lên kệ.

Không bao giờ nữa.

Lẳng lặng, tôi bước ra khỏi phòng.

Tuy nhiên tôi vẫn chưa hết hy vọng.

Đành rằng tôi không còn vào phòng tôi nữa, nhưng tự an ủi mình rằng vài ngày chưa đủ đề phán xét. Sau đây – ít lâu nữa – tha hồ thì giờ mà phê phán.

Nên tôi lại trại thăm Mittelstaedt và ngồi trong phòng nó; một bầu không khí tôi chẳng ưa gì nhưng tôi đã quá quen thuộc. Mittelstaedt nói tôi biết một cái tin làm tôi giật nẩy mình. Nó bão tới Kantorek đã bị gọi nhập ngũ vào dịa phương quân.

« Này nghĩ xem, » nó nói, và lấy ra một cặp xì gà, « Tao vừa ở bệnh viện về đây đụng đầu ngay lão ta. Lão ta chìa, tay be be:

‘A! Mittelstaedt, mạnh khỏe chứ?’ Tao nhìn hắn ta bảo: Địa phương quân Kantorek, công việc là công việc, nhậu nhẹt là nhậu nhẹt, bác phải hiều thế chứ. Đứng nghiêm khi nói với thượng cắp; Mày tưởng tượng cái mặt lão lúc đó! Méo như quả bóng xì hơi và nhăn như chuột ngâm dấm. Lão toan làm mặt thân thiện. Tao mới lại xì nẹt dữ hơn. Thế là lão mới lòi tẩy ra hỏi nhỏ tao ‘Anh có muốn tôi nói giúp để anh dự thi một kỳ đặc biệt không? Lão muốn nhắc nbở tao những cái chuyện đó, mày biết không. Tao điên tiết mới nhắc nhở lão cái mửng này.

‘Địa phương quân Kantorek hai năm trước đây bác thuyết chúng tôi ngập ngũ; và trong số chúng tôi có thẳng Joseph Behm, nó không muốn nhập ngũ. Nó ngã gục ba tháng trước khi nó lẽ ra được gọi nhập ngũ theo thường lệ. Nếu không vì bác nó đã được sống thêm ba tháng rồi. Và giờ thì: Tan hàng. Tôi sẽ còn có chuyện nói với bác.’ Muốn được chỉ huy toán lão có khó gì. Trước hết tao đưa lão xuống kho cho lão diện bảnh choẹ cái đã. Mày đợi đấy mà xem.» Chúng tôi ra sân tập. Đại đội đã sắp thành hàng. Mittelstaedt hô nghỉ và đi khám xét. Thấy Kantorek tôi không sao nhịn được phì cười. Mình mặc chiếc áo xanh đã bạc màu. Lưng và bai ống tay có vá những mụn vải thâm tướng. Áo hắn là của một anh không lồ Quần đen đã sờn lại quá ngắn; dài ngang bắp vế. Bốt thì bốt thợ cày vừa cũ vừa cứng, mũi cong tớn lại vẹt ra, dây lại buộc bên, lại to quá đối với lão. Nhưng bù lại, mũ lại nhỏ xíu, bẩn ôi là bẩn, chả khác hộp đựng thuốc viên đã tàng. Trông toàn bộ thật là thiểu não. Mittelstaedt đứng trước lão: «Địa phương quân Kantorek. Khuy thế này là khuy đánh bóng à? Chỉ có thế mà hình như bác không bao giờ học nên thân. Không được. Kantorek quả tình không được-

Thật tôi cười muốn vở bụug. Ở trường Kantorek thường hay rằn vặt Mittelstaedt cũng đúng cái câu «Không được, Mittelstaedt, quả tình không được.

Mittelstaedt vẫn chưa hết xì nẹt; « Nhìn Boettcher xem, đáng là gương mẫu cho anh học hỏi».

Thật tôi không ngờ. Lại có cả Boettcher nữa kia, Boettcher, anh phu khuân vác ở trường. Và lại là một gương mẫu! Kantorek nhìn tôi như muốn ăn sống nuốt tươi. Nhưng tôi nhăn răng một cách thơ ngây, như thể tôi không còn biết ông ta là ai nữa. Không gì nhìn khôi hài bằng cái mũ calô vởi bộ binh phục của lão. Ấy thế mà đây là cải đối tượng mà chúng tôi hằng đứng trước mặt lòng lo ngay ngáy, khi lão ngồi bệ vệ tại bàn trên bục cao, cầm bút chì trỏ mặt chúng tôi mỗi lần chia sai những cái động tự bất thường của Pháp mà rồi sau cũng chẳng giúp chúng tôi tiến sâu được hơn vào đất Pháp. Mới cách đày hai năm – và giờ đây đứng đó là Địa phương quân Kantorek, phép báu tiêu ma, chân vòng kiềng, tay khuỳnh như quai lọ, nút không đánh bóng, ăn mặc lôi thời lốc thốc trong đến buồn cười – một thằng lính vô tích sự. Tôi không thể bảo đó lại là cái con người đáng sợ ngồi tại bàn giáo sư. Tôi tự hỏi không biết tôi, thằng lính cựu, sẽ làm gì khi cái bị da thiểu não kia lại dám bảo tôi: «Baumer, hãy chia thì quá khứ động lự ‘aller’ coi. »

Đoạn Mittelstaedt bắt họ thực tập đụng độ, và đặc ân phong Kantorek làm đội trưởng.

Trong đụng độ anh đội trưởng khi nào cũng đi trước đội mình hai mươi bước; khi nghe hô «Quay bước, quay,» thì toán binh sĩ chỉ việc quay, còn đội trưởng, giờ bỗng thấy mình ở sau toán hai chục bước, phải chạy mau lên vị trí mìnb như trước nghĩa là trước toán là hai chục bước. Như thế là phải chạy bốn chục bước cả thảy. Nhưng lão vừa chạy về đến nơi đã lại có lệnh «Quay bước, bước,» nên lão lại phải ra sức chạy thêm bốn chục bước nữa lên đầu đẳng kia. Như thế cả toán chỉ việc quay lại và bước hai bước trong khi anh đội trưởng phải phóng lui phóng tới. Đó là một diệu kế được trọng dung trong cầm nang của Himmelsioss.

Kantorek khôug thể mong chờ gì khác ở Mittelstaedt, vị đã có lần lão làm hỏng dịp thăng thường của Mittelstaedt nên nó họa có gàn bát sách mới không lạm dụng cơ hội này trước khi lại ra mặt trận. Người ta có lẽ chết được mát ruột hơn sau khi quân đội đã cho mình được một chút may mắn này là đủ. Lúc này đây Kantorek đang phóng đi phóng về như con lợn rừng. Sau đó Mittelstaedt cho ngưng đụng độ và bắt đầu môn rất quan trọng là môn bò. Xoài chân xoài tay, na súng theo đúng qui lực quân đội, Kantorek trườn cái thân hình tiền tụy của lão trên cát ngay trước chúng tôi. Lão thở hổn hển, và cái hổn hển của lão là cả một bản nhạc. Mittelstaedt khích lệ Kantorek anh Địa phương quân bằng những lời đan cử của Kantorek nhà Mô phạm. « Địa phương quân Kantorek, chúng ta có cái đại phúc được sống trong một thời đại vĩ đại, chúng ta tất cả hãy hạ mình xuống và hãy một lần gạt ra bên mọi uất hận. »

Kantorek mồ hôi dầm dề khác một cái ràm gỗ bần đâm vào răng lão. Mittelstaedt củi xuống khiển trách: « Và trong những cái vụn vặt đừng bao giờ quên đó có thể là mầm mống của những biến cố vĩ đại, bỡi Địa phương quân Kantorek»

Kể cũng lạ là Kantorek lại không nồi dóa bằng một quả đấm, nhất khi, trong giờ thể dục, Mittelstaedt bắt chước lão y hệt, nắm đũng quần lão ngay khi lão đang leo lên xà ngang, khiến lão chỉ còn vừa đặt cẩm lên xà, rồi là bắt đầu chỉ dẫn lão cái khôn cái khéo. Rõ đúng y như cái lối Kantorek từng áp dụng với nó hồi ở trường.

Rồi là các dịch vụ phụ được phân phối. «Kantorek và Boettcher, đi lấy bánh, đẩy xe cút kit theo.»

Chỉ hai phút sau cả hai đẩy xe cút kít đi. Kantorek giận tràn hông cắm đầu bước, Nhưng các phu khuân thì khoái chỉ vì là việc nhẹ. Lò bánh ở xa mãi tận cuối thị trấn và hai cha phải đi đến tận đấy lại từ tân đấy đẩy về.

« Hai cha làm vài lần rồi, » Mittelstaedt nhe răng. «vẫn có người chờ xem họ. «Hay lắm, » tôi nói, «nhưng lão đã khiếu nại gì mày chưa »

«Cũng đã có. Lão đại đội trưởng cười như điên khi nghe lão thuật lại. Ông ta cũng chẳng ưa gì mấy thẳng cha thầy giáo. Vả lại, tao lại dụ con gái lão. »

« Lão lại làm hỏng kỳ thi của mày à.»

« Tao đếch cần, » Mittelstaedt điềm nhiên nói. «Vả lại, lão có khiếu nại cũng chẳng đi đến đâu vì tao thừa chứng minh rằng lão làm toàn việc nhẹ. »

«Mày không rèn cho lão khá hơn được? » sao tôi hỏi.

«Ngu như bò, phải vạ mà rèn với riếc, »

Mittelstaedt đáp, giọng khinh bỉ.

Nghỉ phép là gì? – Một thời gian ngưng chỉ làm mọi sự sau đó càng thêm tệ. Chưa chi cái cảm giác chia tay đã bắt đầu len lỏi. Mẹ tôi lẳng lặng nhìn tôi; – tôi biết bà đếm từng ngày: – sáng ra là bà buồn. Lại bởt đi một ngày. Bà cất ba-lô tôi đi, bà không muốn nhìn, vì nhìn lại nhớ. Khi suy tư giờ giấc đi mau. Tôi thấy lại bình tĩnh, đi với chị tôi lại hàng thịt mua kí xương. Đó là một xa xỉ lớn và thiên hạ xắp hàng từ sáng sớm đứng đợi. Nhiều người xỉu.  Chúng tôi không hên. Chờ được ba tiếng thì rã đuôi. Xương không đủ bán. Cũng may mà tôi còn được lĩnh khẩu phần. Tôi đưa về cho mẹ và nhờ thế còn có cái mà ăn ra ăn. Mỗi ngày mỗi thêm khó khăn, đôi mắt mẹ tôi mỗi ngày mỗi thêm sầu muộn. Còn bốn ngày nữa. Tôi phải đi thăm mẹ Kemmerich mới được.

Tôi không sao viết nổi. Người đàn bà run lẩy bầy khóc thút thít lay tôi hét vào mặt tôi: Tại sao cậu còn sống mà nó lại chết? » – mà nước mắt trào cả lên tôi và kể lể: «Con ra đó mà làm chi con ơi là con, khi con-» – rồi buông mình xuống ghế nỉ non: «Cậu có thấy không? Cậu có thấy nó chứ? Nó chết cách nào?

Tôi bảo bà nó bị bắn trúng tim chết ngay. Bà nhìn tỏi, bà ngờ tôi: «Cậu nói dối. Tôi biết hơn. Tôi từng cảm thấy nó chết thê thảm lắm. Đêm đến tôi từng nghe giọng nó tôi từng cảm cái đau đớn của nó – cậu nói thật đi, tôi muốn biết rõ, tôi phải được biết. »

«Thật mà, » tôi nói, «cháu ở bên anh ấy. Anh ấy chết không kịp trối. »

Bà sẽ van vỉ tôi; «Nói đi. Cậu phải nói thật tôi nghe. Tôi biết cậu muốn an ủi tôi, nhưng cậu thấy không, cậu còn làm tôi đau khổ hơn thà là cậu nói thật đi? Tôi không thể chịu được sự mập mờ. Nói tôi nghe sự thể ra sao và dù cho có ghê gớm thế nào cũng còn hơn là những gì tôi phải nghĩ nếu như cậu không chịu nói. Tôi quyết không nói, dù bà có xé tôi ra làm trăm mảnh. Tôi dỗ dành bả, nhưng tôi vẫn cho bà là gàn đở. Tại sao bà cứ lo vớ vần đáu đâu? Bà biết bay không tlì Kemmerich cũng đã chết rồi. Khi người ta đã thấy quá nhiều cái chết người ta không hiều tại sao thiên hạ đau khổ đến thế vì một cá nhân. Nên tôi nói có hơi bực mình: « Anh ấy chết ngay. Anh ấy không cảm biểt gì cả. Mặt anh trông rắt bình thản. »

Bà im lặng. Đoạn bà chầm rải nỏi: «Cậu dám thề không?

« Dám. »

« Bằng tất cả những cái gì thiêng liêng đối với cậu?

Trời đắt ơi, còn có cái gì thiêng liêng đối với tôi -? đối với chúng tôi những cái ấy thay đổi quá mau.

« Vâng anh ấy chết ngay. »

« Nếu như không thật, cậu sẵn sàng không bao giờ trở về nữa chứ? »

« Nếu như anh ấy không chết ngay thì tôi sẽ không bao giờ còn trở về nữa, »

Tôi sẵn sảng thề hết. Nhưng bà bình như tin tôi. Bà lại rên rỉ lại sụt sùi. Tôi phải kể câu chuyện ra sao nên tôi bịa ra và tôi hầu như tin là mình nói thật. Khi tôi cáo từ bà hôn tôi và tặng tôi một tấm hình của nó. Hình chụp hắn mặc đồng phục tân binh đứng tựa vào một chiếc bàn tròn chân làm bằng cành phong. Sau hắn là một cảnh rừng vẽ trên một tấm phông và trên bàn có một ca bia.

Đây là đêm chót ở nhà. Ai nấy đều lặng thinh. Tôi đi ngủ sớm, tôi nắm lấy gối áp vào người và rúc đầu vào gối. Ai mà biết được tôi sẽ bao giờ còn được nằm trên một chiếc giường lông nữa không?

Về khuya mẹ tôi vào phòng tôi. Bà ngỡ đâu tôi ngủ, và tôi vờ ngủ. Trò chuyện ư, thức mà trò chuyện với ai ư, ôi khỗ tâm quá. Bà ngồi mãi đó mặc dầu bà đau và thỉnh thoảng lại vặn mình. Mãi rồi tôi chịu không nồi, và vờ như thể mình chợt tỉnh giấc. « Mẹ đi ngủ đi chứ, ngời đây lại cảm lạnh bây giờ.

« Rồi nữa tha hồ mà ngủ; » bà nói. Tôi ngồi dậy. «Mẹ à, con không phải ra thẳng mặt trận đâu. Con phải qua bốn tuần tại một trại huấn luyện. Không chừng ở đấy một chủ nhật nào đó con sẽ về chơi. »

Bà lặng thinh. Đoạn bà sẽ nói: «Con có sợ lắm không? »

«Không, Mẹ à.

«Mẹ muốn dặn con phải coi chừng cải bọn đàn bà ở bện Pháp. Họ không tốt gì đâu, »

À ra thế. Mẹ ơi, mẹ ơi! Mẹ vẫn còn cho là con còn bé bỏng – tại sao con lại không thể đặt đầu vào lòng mẹ mà khóc? Con cũng muốn khóc, muốn được dỗ dành lắm chứ, thật vậy, con còn bé hơn là bé bỏng nữa kìa; trong tủ còn treo mấy chiếc quần đùi của con – mới cách đây có bao lâu đâu; thế mà tại sao đã hết?

« Chỗ con ở có đàn bà đàn biếc gì đâu, mẹ, » tôi nói cố giữ giọng bình tĩnh.

« Và ra trận hãy cần thận nghe con, Paul. »

Ôi mẹ ơi, mẹ! Sao con lại không ôm mẹ vào lòng và cùng chết với mẹ nhỉ! Mẹ con mình chỉ là những con người khốn khổ!

« Vâng, thưa mẹ, con sẽ cần thận. »

«Mẹ sẽ cầu nguyện cho cou hằng ngày, Panl.»

Ôi! Mẹ ơi, mẹ. Mẹ con mình hãy đứng dậy đi ra, đi lùi lại năm tháng, nơi mà tắt cả cái gánh nặng phiền não thống khổ này không còn đè nặng lên mẹ con mình, lùi lại chỉ còn mẹ và con, mẹ hỡi!

«Biết đâu con không được cắt vào một công việc đỡ nguy hiềm hơn.

«Vâng thưa mẹ, biết đâu con lại không được cắt vào toán hỏa đầu, điều này cũng dễ

« Vậy thì con xin đi, và nếu chúng bạn có nói gì-

« Nói gì thì nói chứ con đâu có ngán, mẹ» Bà thở dài. Khuôn mặt bà bàng bạc trong bóng tối.

«Giờ thì mẹ đi ngủ đi. »
Bà không đáp. Tôi đứng lên cầm tấm khăn lớn của tôi choàng quanh vai mẹ tôi.

Bà tựa người vào cánh tay tôi, bà đau đớn, Và tôi dìu bà về phòng. Tôi ngồi với bà một lát.

« Và trước khi con về, mẹ phải khỏe lại lại nghe, mẹ. »

« Ờ, ờ, con. »

« Mẹ đừng có gửi gì cho con cả nghe, mẹ. Ngoài đó, chúng con thức ăn thửa thãi. Ở nhà cần hơn. »

Bà nằm trong giường trông đến mảnh dẻ nghèo nàn, bà, người yêu tôi hơn tất cả thế giới. Thấy tôi sắp rời phòng, bà vội nói:

«Mẹ có sắm cho con hai chiếc quần trong. Bằng len toàn. Con mặc cho ấm. Đừng quên bỏ vào ba-lô nghe.

Ôi! Mẹ ơi! Con biết đôi quần này mẹ đã phải tốn bao nhiên hơi sức đợi chờ và đi bộ và xin xỏ, ôi mẹ ơi, mẹ ơi! tại sao con lại cử phải xa mẹ nhỉ? Trên đời này còn ai có quyền đòi con hơn là mẹ? Con ngồi đây và mẹ nằm kia, hai mẹ con mình có nhiều cái cần nói mà không bao giờ chúng mình có thể nói ra.

« Ngủ ngon nghe, mẹ. »

« Con ngủ cho ngon. »

Phòng tối. Tôi nghe tiếng mẹ tôi thở, tiếng đồng hồ tí tách. Ngoài cửa sổ gió thổi mấy cây dẻ xào xạc.

Ra đầu cầu thang tôi vấp phải cái balô nằm đó sẵn sàng, vì sáng tinh sương tôi đã phải ra đi. Tôi cắn gối, Hai tay nắm chặt lấy chấn song giường. Lẽ ra tôi chả nên về. Ngoài ấy tôi thản nhiên và thường thì vô vọng; tôi sẽ không bao giờ như thế được nữa. Tôi là lính, và giờ đây tôi chỉ là một sự thống khổ cho chính bản thân tôi, cho mẹ tôi, cho tất cả những cái gì không tài nào an ủi nổi và vô tận. Lẽ ra tôi không nên bao giờ về phép.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment