Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 2 May 2026

Câu chuyện tôi kể dưới đây bắt đầu khi tôi học năm thứ hai ban Anh Văn ở Đại Học Văn Khoa Huế. Tôi có khiếu về sinh ngữ nên việc học của tôi không mấy khó khăn. Nhưng học mà không thực hành thì khó kết quả. Như môn Anh Văn đa số viết và đọc rất giỏi nhưng nghe và nói thật vất vả. Nhân dịp Tổng Hội Sinh

Viên Huế làm công tác xã hội ở một ấp đồng bào thiểu số, tôi làm quen với một mục sư người Mỹ đang phụ trách truyền giáo ở đó. Tôi đề nghị được giúp ông trong việc phân phối phẩm vật cứu trợ cho đồng bào, thế là tôi có một chỗ thực tập tiếng Anh ngon lành. Ở tỉnh Thừa Thiên đồng bào sắc tộc chỉ có hai ấp Tà Rầu 1 và Tà Rầu 2 thuộc quận Nam Hòa, phía tây của tỉnh, cách Huế độ mười cây số. Vùng nầy tập trung các lăng tẩm và thắng cảnh đẹp nhất Huế. Địa giới quận bao gồm một phần dãy Trường Sơn với các địa danh A Sao, A Lưới, các căn cứ Bastogne, Birmingham. Cả một vùng rừng núi mênh mông đó đã thành hoang địa vì thuốc khai quang, chỉ phần đất thuộc chính quyền kiểm soát còn giữ được nguyên trạng. Hai ấp của người thiểu số nằm hai bên bờ sông Hương. Ấp Tà Rầu 1 nằm cạnh lăng Minh Mạng phía tả ngạn. Ấp Tà Rầu 2 nằm gần đồi Vọng Cảnh phía hữu ngạn. Theo tôi biết thì trước đây, số đồng bào nầy ở trong rừng sâu, để tránh bom đạn họ chạy đến vùng Quốc Gia và được tạm cư ở đây. Mỗi ấp gồm bốn dãy nhà lợp tôn vách ván. Mỗi gia đình được chia một ngăn. Vì quen sống đơn giản, họ chẳng quan tâm đến tiện nghi. Có điều, bỏ họ vào sống chung với đồng bào kinh, họ hoàn toàn lạc lỏng. Mà dù họ muốn sống như đồng bào kinh cũng không được. Họ không có đất để trồng trọt, chăn nuôi. Cho nên cứ mỗi buổi sáng, theo thói quen, đàn ông móc chà gạt trên vai, miệng ngậm ống vố, lang thang, nghiêng ngó đó đây, rồi lần mò trong bờ, bụi, bắt chuột, rắn, ếch, nhái về nướng làm mồi uống rượu. Riêng đám thanh niên trai tráng đều đi biệt kích Mỹ. Mỗi tháng đến kỳ lương, họ về với gia đình. Bất kỳ đang ở đâu, trong đồn hay trên đường hành quân, hễ nhận được lương là họ bỏ mặc, kéo nhau về nhà, mua rượu, gà, chè chén say sưa cho đến sạch túi mới vác súng về lại đơn vị.

Nhiệm vụ tôi là mỗi sáng Thứ Bảy đến hội thánh chuyển phẩm vật cứu trợ lên xe, đến nơi đem xuống. Đồng bào, theo lệ thường đã tập trung sẵn trước sân, ngồi nghe giảng đạo xong, lên nhận quà, thường là những gói “bột dẹp”, “bột xếp”, sữa bột, gạo, đôi khi có cả áo quần, đồ hộp nữa. Để dễ thuyết phục đồng bào, ông mục sư học tiếng thượng, tôi cũng học theo ông. Người cán bộ của Ty Phát Triển Sắc Tộc dạy rất tận tình nên chúng tôi tiến bộ nhanh. Từ khi ông giảng kinh thánh bằng tiếng Thượng, đồng bào rất thích thú, nghe chăm chú hơn. Riêng tôi những lúc đó thường ra góc sân với lũ trẻ bập bẹ chuyện trò. Một lần, cũng vào giờ giảng kinh, tôi lang thang đến các dãy nhà của đồng bào. Mọi người đều tập trung cả trước sân nên vắng ngắt. Lúc đến gần cuối dãy, tôi chợt thấy một cô bé thò đầu ra cửa sổ nhìn tôi và cười. Tuổi em độ mười hai, mười ba, có đôi mắt đen nhánh, miệng rất tươi, tóc em đen, rẽ qua hai bên tai để lộ vầng trán cao và đôi lông mày đậm và dài. Trông em cùng cỡ với một em học lớp đệ thất trung học. Giá như em đi học, có lẽ em là hình ảnh nhí nhảnh, trong sáng nhất trường. Khi tôi đến gần, định hỏi chuyện thì em biến mất sau khung cửa sổ. Tôi ngạc nhiên, sao giờ nầy em lại ở đây, cửa chính lại đóng kín? Tôi tảng lờ đi quá cuối dãy rồi từ từ quay lên, nhưng phía đối diện nhà em. Tôi liếc qua, thấy em đã nhô đầu lên chỉ vừa tầm đôi mắt nhìn tôi. Tôi cười với em. Mắt em sáng rực, đuôi mi kéo dài ra, rạng rỡ. Tôi biết em cũng đang cười. Tôi ra dấu rằng tôi sẽ đến gần em, em lắc đầu. Tôi lại ra dấu em ra với tôi, em cũng lắc đầu. Tôi thấy có gì bất thường. Em bị tật nguyền hay em không thích chỗ đông người? Tôi quay về nhưng đôi mắt vẫn còn làm tôi xao xuyến. Người thiểu số, nhất là phái nữ có đôi mắt rất đẹp, đen láy và đoan chính. Cả khi họ để ngực trần và nếu ta nhìn vào đôi mắt họ, tự nhiên lòng ta như được rửa sạch những ý nghĩ vẫn đục, những ham muốn thấp hèn.

Những buổi gặp gỡ và nói chuyện câm như thế kéo dài được vài tháng. Ngày thường, thỉnh thoảng tôi có vào ấp của em để liên hệ với trưởng ấp những việc linh tinh mà vị mục sư nhờ tôi. Những lúc đó em có nhìn tôi nhưng vờ như không quen biết. Một buổi sáng đi ngang qua đồi Vọng Cảnh, lúc cho xe xuống dốc cầu, tôi chợt thấy một toán phụ nữ sắc tộc đang bì bõm dưới giòng nước để bắt ốc, hái rau gì đó. Chỉ nhìn thoáng qua, tôi biết ngay có em vì dáng em rất gầy và mái tóc kiểu học trò đó không lẫn được với ai cả. Tôi vội dựng xe gắn máy và lần xuống bờ suối. Hình như nhận ra tôi nên em chậm lại để đi sau cùng. Em mặc một quần đùi màu đen, ống dài quá gối và một chiếc áo hoa rộng thùng thình, tôi biết đó là đồ cứu trợ do các hội thiện cấp phát. Khi tôi đến gần, em đứng thẳng người nhìn sửng tôi, đôi mắt đen sâu thẩm sáng lên một nụ cười ngây thơ, hoan hỉ. Hình ảnh đó, suốt đời vẫn còn trong tôi. Tôi cũng vui mừng được gặp em, người bạn nhỏ bé. Tôi tiến xuống bờ suối định chào hỏi thì em lắc đầu và chạy băng lên phía trước. Tiếng chân em bì bõm khiến những người đàn bà quay lại. Họ giăng tay ra cản tôi, tôi bảo:

– Tôi muốn nói chuyện với em bé kia được không?

Họ lắc đầu vừa nói vừa ra dấu:

– Không được, nó sẽ bị đánh vào đầu, vào người. Mầy đi đi!

Tôi dừng lại và hiểu lờ mờ rằng nếu tôi tiếp xúc với em, em sẽ gặp chuyện không may. Tôi quay lên, đứng nấp vào một bụi cây. Em đi chậm lại và dõi mắt lên cầu như tìm kiếm. Tôi bước ra khỏi bụi cây cho em thấy rõ. Em nhìn tôi và cười. Nụ cười và ánh mắt em như tràn ngập nổi buồn của lưu luyến và tuyệt vọng. Tôi vẫy tay, em cũng vừa thụt lùi vừa vẫy tay rồi vụt chạy đi. Hôm đó, như thường lệ, đồng bào ở cả trước sân với vị mục sư, tôi lẻn ra đi qua căn nhà của em. Cửa chính vẫn đóng, cửa sổ vẫn mở, nhưng không thấy em đâu. Tôi đi qua, lại mấy lần vẫn thế, cuối cùng tôi đi thẳng đến cửa sổ và nhìn vào trong. Tôi bàng hoàng, không tin ở mắt mình nữa. Em đã bị lột trần, chỉ còn chiếc quần đùi. Hai tay, hai chân bị trói chặt vào chân giường, em ngồi gục đầu trong hai cánh tay bị treo lên. Người em ốm tong, thấy rõ cả dãy xương sườn bên hông với những vết hằn đỏ bầm, rớm máu. Em xây lưng ra ngoài, hai chân bị trói cố co lên che lấy ngực nhưng vẫn để lộ ra chiếc vú nhỏ xíu như nửa trái chanh. Tôi gọi nho nhỏ “Em, em!” Em nghe thấy nhưng lắc đầu và vẫn dấu đầu với mái tóc lòa xòa vào giữa hai cánh tay. Rồi đôi vai em bỗng rung động mạnh, tiếng nức nở bị kìm chặt giữa hai hàm răng nghe rên rỉ, tức tưởi. Tôi quay lại, lên xe gắn máy, chạy thẳng ra trụ sở xã. Ông xã trưởng đang bàn chuyện gì đó với một anh cảnh sát và vài người nữa. Tôi xin lỗi họ và trình bày:

– Tôi thấy trong ấp Tà Rầu có một em bé bị trói tay chân vào giường, quí ông phải giải cứu nó ra chứ.

Tôi chưa dứt lời, ông xã trưởng đã bảo:

– Chúng tôi đang nói chuyện đó, đó.

– Nhưng chính quyền phải can thiệp …

– Cậu ngồi xuống đây, rồi ông cảnh sát giải thích cho cậu nghe. Chuyện nầy đâu phải xảy ra lần đầu.

Hôm qua tôi có nghe ông trưởng ấp báo cáo rồi, tôi đã cho người lên mời Ty Sắc Tộc xuống giải quyết, họ hẹn sáng nay đến nên chúng tôi phải ngồi chờ đây, chứ Thứ Bảy ai mà làm việc. Nhờ ông cảnh sát giải thích cho cậu đây rõ.

Anh cảnh sát rót cho tôi tách trà rồi nhẫn nha nói:

– Anh làm bên hội thánh phải không? Ông mục sư cũng biết chuyện nầy rồi. Ai cũng biết, chỉ có anh chưa rõ thôi. Nó rắc rối ở chỗ đó tục lệ của đồng bào thiểu số mà luật pháp mình không áp dụng được. Ép nó, nó quậy lên, chẳng hại gì mình nhưng đồng bào bị vạ lây.

Tôi sốt ruột:

– Nhưng dù tục lệ gì cũng phải cởi trói cho người ta chứ! Năm kia, ông quận có xuống cởi trói cho con nhỏ, mấy bữa sau bị đau sao đó. Nghe đồn bị thư bùa ngãi, bụng bị sưng lên, phải ra ngoài Hương Hóa, Quảng Trị rước thầy ngãi về trị mới khỏi.

– Nhưng nó là ai mà ngang ngược như thế?

– Là ai? Chồng con nhỏ đó chứ ai!

– Trời đất!

– Năm kia, con người ta mới mười một tuổi mà nó đòi ngủ, con nhỏ nửa đêm vùng bỏ chạy, la khóc. Nó lôi vô lột áo quần, trói ở chân giường mấy ngày, bỏ đói, bỏ khát. Ông quận xuống xử, nó không chịu, ông phải đích thân cởi trói, đem con nhỏ gửi nhà khác, nhưng không ai dám nhận, sợ nó thư bùa ngải. Cuối cùng phải năn nỉ, giải thích cho nó biết là con nhỏ còn con nít, phải chờ đủ mười ba tuổi mới được. Năm nay con nhỏ vừa đủ mười ba, nó lại giở trò cũ. Nó trói lại đánh đập cách nào con nhỏ cũng không chịu. Chẳng biết lát nữa Ty Sắc Tộc xuống giải quyết thế nào đây?!

– Nhưng muốn có vợ thì thiếu khối gì đàn bà, con gái lớn tuổi, sao lại nhè đứa con nít. Nói đồng bào trong ấp cưới cho nó con vợ.

– Nó cũng có vợ đấy chứ. Vợ nó là chị con nhỏ

Tôi ngớ ra, chẳng hiểu gì cả. Anh cảnh sát cười:

– Bây giờ rãnh rỗi, tôi tóm tắt cho anh nghe. Gia đình con nhỏ đó có ba chị em. Hai con chị đã lớn chỉ có con út nầy còn nhỏ thôi. Chị lớn nó có chồng đang ở bên Tà Rầu một, con chị kế có chồng là thằng cô hồn dịch vật đang nói đây. Lâu rồi, lúc còn ở trong buôn sóc ở trong A Sao, A Lưới kia, ông già của ba cô gái nầy chết, nhà nghèo quá, không có trâu, gà, chiêng, cồng để cúng Yang, làm ma chay đãi làng. Thằng rể cô hồn nầy mới mua cô út bằng mấy trâu gà gì đó về làm vợ. Vậy là nó có hai vợ, một đứa lớn và một đứa năm, bảy tuổi. Nghe nói trong buôn nó là đứa quyền hành, giàu có kiểu như cường hào, ác bá vậy. Bây giờ ở đây, nó không làm gì nhưng ai cũng sợ nó, cả đến đồng bào kinh cũng không dám rây vào. Chính quyền cũng chịu thua, chẳng có cách nào trừng trị nó cả.

– Dù sao cũng phải cứu em nhỏ ra. Để vậy nó bỏ đói, đánh đập riết, em chắc chết.

– Để chờ Ty Sắc Tộc xuống xem sao. Năm kia, đem ra xử, nó nói con chị lớn muốn bắt em lại phải trả đủ trâu bò, chiêng cồng gì đó. Mà tiền đâu chị nó chuộc em ra.

Một ý nghĩ thoáng trong đầu, tôi hỏi tên em nhỏ và tên người chị lớn rồi cám ơn, lên xe qua Tà Rầu một.

Chị ta phảng phất giống em nên tôi nhận ra ngay. Tôi bảo:

– Này, em của chị là Hrao bị cột chân tay, bị đánh đau, bị đói bụng bên Tà Rầu hai, chị biết không?

– Tao biết mà không làm gì được. Nó là vợ thằng K’hiu rồi.

– Nhưng phải cứu Hrao ra, chị không thương Hrao sao?

– Tao thương Hrao đầy một bụng, nhưng không có tiền trả cho nó.

– Nếu tôi đưa tiền cho chị, chị có chuộc được Hrao ra không?

Chị bỗng lôi tuột tôi vào góc nhà, thì thầm:

– Thằng K’hiu nó có cái tai nghe xa lắm. Nó ác như con cọp, con rắn. Nó giết mầy chết. Mầy có tiền muốn mua Hrao phải đưa tiền cho tao. Khi Hrao về nhà tao, mầy đến dẫn về nhà mầy làm vợ, không cho thằng K’hiu biết mầy ở đâu.

– Tôi không có tiền ngay, phải ít hôm nữa. Bây giờ tôi đưa chị qua bên xã, bên đó có nhiều người lắm. Ông xã trưởng, ông cảnh sát, ông sắc tộc làm chứng, khi K’hiu đòi tiền chuộc, chị hỏi nó bao nhiêu rồi cho tôi biết. Chị nhớ hẹn nó ba ngày nữa đưa tiền. Nhớ mời nhiều người đến cho họ thấy chị đưa tiền rồi dẫn Hrao về.

Chị ta mừng rỡ:

– Mầy chở tao qua xã thôi, còn mầy đi đi, đừng cho thằng K’hiu thấy.

Tôi đưa chị qua xã rồi về Huế dọ giá chiếc xe gắn máy của tôi. Hôm sau tôi lên hỏi chị và thấy số tiền cũng khoảng chiếc xe. Tôi về bán xe đưa tiền cho chị, còn một ít tôi mua chiếc xe đạp.

Một buổi sáng, chờ trong ấp vắng người, tôi đến nhà chị. Chị lại lôi tôi vào sau nhà. Em Hrao đang ngồi nấu gì đấy, ngẩng lên thấy tôi, em đứng dậy, nhìn sửng tôi. Người chị bảo:

– Vợ mầy đó, Hrao ưng mầy lắm. Mầy và Hrao nằm đây. Chị chỉ chiếc giường rồi đóng các cửa lại và đi ra ngoài. Tôi dìu em Hrao đến bên giường ngồi xuống. Em vòng tay ôm lấy tôi, úp mặt vào ngực tôi yên lặng.

Tôi không nghe em khóc nhưng nước mắt thấm ướt cả áo tôi. Em Hrao nhỏ quá, ốm quá. Tôi ôm vai em mà xương vai cộm rõ trong bàn tay tôi. Em vẫn mặc chiếc áo hoa rộng thùng thình như hôm trước, một chiếc váy vải đen thô, dài phủ cả bàn chân, có lẽ là váy của người chị.

– Em được về đây, anh mừng lắm. Anh ngồi với em một lát rồi anh về.

Em ngước nhìn tôi, ngạc nhiên:

– Em không về nhà anh à?

– Không, em vẫn ở đây với chị em, thỉnh thoảng

anh ghé thăm em.

– Nó sẽ giết anh, giết em. Nó nói, em nói chuyện với ai, nó sẽ giết hai đứa.

– Anh sẽ ít gặp em, em đừng sợ.

Em vẫn lắc đầu:

– Không, em là vợ anh mà!

– Anh còn đi học, không có tiền nuôi em, không có nhà để ở. Em còn nhỏ quá, làm vợ chưa được. Em chờ anh hai năm nữa, học xong, anh sẽ đi làm, có tiền cưới em về sống với anh.

Ấp Tà Rầu một nằm cạnh lăng Minh Mạng. Lăng xây trên một ngọn đồi, chung quanh có tường thành bao bọc, lại có những giòng nước, hồ sen. Phụ nữ sắc tộc thường đi dọc các con suối, bắt ốc, hái rau. Họ đi buổi sáng đến trưa thì về. Tôi hẹn với em Hrao mỗi tuần vài ba buổi chiều gặp em ở sau lăng. Em cũng đi hái rau với các bạn. Thấy tôi, họ vẫy tay bảo:

– Mầy giữ nó, tụi tao về trước.

Chúng tôi ngồi trên bờ suối, khuất sau những đám cỏ tranh hoang vu. Tôi giở trong xách tay ra một số quà rong. Ít trái cây, bánh và nước lạnh trong chai nhựa. Em Hrao rất thích những trái cây chua như cóc, me, ổi … Với chút muối ớt, đem bao nhiêu em giành ăn hết cả. Chúng tôi vừa ăn quà vừa chuyện trò. Tôi thích hỏi em đủ thứ chuyện để nghe em trả lời một cách ngây thơ, buồn cười. Em xem tôi như người anh đồng thời em dâng tôi thứ bản năng thiết tha, nồng nàn của một người vợ theo như truyền thống của sắc tộc em, đã là vợ khi còn rất trẻ. Từ ngày em về với người chị, em là con chim sổ lồng. Em như cây hoa được chăm sóc, vun xới và bắt đầu có những nụ hàm tiếu. Em lớn nhanh và nẩy nở đến độ chỉ hơn một năm mà em đã đứng đến vai tôi rồi. Tâm hồn em cũng trưởng thành theo. Những lần gặp nhau, em vui mừng theo cách của một thiếu nữ đến với người yêu. Em thường bạo dạn ngồi sát bên tôi, tựa đầu vào vai tôi yên lặng thật lâu … Tôi về Hội Thánh lấy một số áo quần vừa tầm cho em. Hôm nào đến hẹn, em mặc áo đẹp ở trong, ngoài khoác một áo cũ. Khi chỉ còn hai chúng tôi ở bờ suối, em cởi áo ngoài, hãnh diện đến trước mặt tôi, nhìn tôi để chờ được khen. Tôi ngắm em sững sờ:

– Hrao, em đẹp như tiên!

– Em Hrao chỉ mặc áo đẹp cho anh nhìn thôi, không ai biết em đẹp hết.

Hai mắt em long lanh tuổi dậy thì, má em hồng, ngực em đã nhô cao, phập phồng sức sống, đùi em nở tròn, hằn rõ dưới lần vải. Tôi nhìn thấy và hãnh diện khi nghĩ đến khu rừng trinh nguyên, quí giá đó, trong một  ngày trọng đại, tôi và em sẽ cùng nhau khai phá, thưởng thức sự huyền nhiệm của tình yêu vợ chồng. Tôi thườngdặn em phải ăn và ngủ thật nhiều để mau lớn. Em vâng lời và khoe với tôi:

– Ở nhà, em Hrao no rồi mà còn ăn nữa, hết buồn ngủ rồi mà còn nhắm mắt ngủ nữa.

Tôi khen em giỏi, em bảo:

– Nhưng khi Hrao về ở với anh, Hrao ít ngủ để anh ngủ nhiều, ít ăn để anh ăn nhiều.

– Để làm gì?

– Hrao ra nương rẫy bứt lúa về nấu cho anh ăn no.

Em lúc nào cũng mơ đến một khung trời hoang dã, như con chim rừng cùng bạn đời tung cánh trong cõi tự do, bao la. Mùa Xuân năm 75, miền Nam bị tấn công. Dân Huế hoảng hốt chạy cả vào Đà Nẵng. Năm Mậu Thân kinh hoàng với những vụ thảm sát tập thể khiến cho những người, dù không liên hệ đến chính quyền cũng bồng bế nhau chạy giặc. Tôi cũng chạy vào Đà Nẵng, nhưng mấy hôm sau thành phố cũng bị chiếm nốt. Rồi có thông cáo đồng bào phải trở về quê cũ. Đáng lẽ tôi về quê ở Quảng Ngãi, nhưng tôi lại ra Huế, định dẫn em Hrao về với gia dình. Cha mẹ tôi chỉ sinh được tôi là con trai nên rất yêu thương. Tôi tin rằng em Hrao sẽ được chấp nhận như một nàng dâu, tuy còn trẻ nhưng xinh đẹp, hiền lành. Tôi về lại nhà trọ trong thành nội vào buổi chiều, qua sáng hôm sau ra đường Trần Hưng Đạo định đón xe lên Tà Rầu thì bị Việt Cộng chận bắt. Một tên bạn học trở cờ đã báo cáo tôi là tay sai C.I.A, trực tiếp chỉ huy là vị mục sư Tin Lành. Tôi bị nhốt vào lao Thừa Phủ. Họ đưa giấy bút bắt tôi thành thật khai báo. Viết xong họ không chịu, bắt tôi viết lại, hàng chục lần, nhưng tôi có biết gì về C.I.A đâu! Lúc đầu họ dỗ dành, sau hăm dọa, rồi họ bắt đầu tra tấn tôi, chết đi sống lại mấy lần. Suốt bốn tháng trường, đến khi nghĩ rằng mình không thể sống được, tôi đâm ù lì, bảo họ “Cứ giết tôi đi, tôi chẳng có gì để khai cả”. Thế rồi họ thả tôi ra. Tôi về nhà trọ nằm liệt, chỉ còn da với xương. Người chủ nhà rất tốt, săn sóc tôi tận tình. Một thời gian sau đã khá, có thể đi vững, tôi ra đón xe lam lên Tà Rầu tìm em Hrao. Xuống xe ở chợ Tuần, tôi đi đò qua song Hương, qua ngã lăng Minh Mạng đến ấp Tà Rầu. Tôi đi rất đúng đường, nhưng trước mặt tôi là quả đồi trọc, không còn chút dấu vết gì của đồng bào thiểu số cả! Họ đã đi sạch. Tôi lên đỉnh đồi nhìn quanh, chỉ thấy một cõi mênh mông vắng lặng. Tôi đi theo lối mòn và tìm thấy nền nhà của em. Tôi ngồi xuống, cảm thấy được gần gũi em. Đến chiều, tôi xuống đồi vào lăng Minh Mạng, đến bờ suối cũ và lại chờ em. Tôi lấy trong xách tay ra một ít trái cây cho em, để đấy và dõi mắt tìm quanh … Thấy trời gần tối, tôi đành quay về.

Những ngày sau đó, tuy người còn yếu, tôi vẫn lên vùng Nam Hòa, lang thang vào các nơi cũ, hi vọng được gặp em. Một buổi chiều, đang đứng trên đồi, chợt tôi thấy bên kia, nơi những ngôi mộ người thiểu số, thấp thoáng bóng người sắc tộc. Tôi mừng rỡ, chạy băng qua, họ sẽ giúp tôi biết được em Hrao ở đâu. Khi tôi đến nơi thì hình như họ vừa cúng lễ gì đó xong. Một đám lửa gần tàn, một ít đồ gia dụng, áo quần, ống vố, chà gạt … để cạnh một ngôi mộ. Đó là những người trong ấp trước đây, chúng tôi mừng rỡ khi nhận ra nhau:

– Đồng bào cúng gì đó?

– Tao cúng bỏ mả, tao không ở đây nữa, không đem cơm, đem thịt cho nó nữa. Tao cúng bỏ nó, nó theo Yang để có cái ăn, cái uống.

– Bây giờ đồng bào về lại trong núi rồi hả?

– Tao về lại buôn rồi.

– Có xa không?

– Tao đi từ lúc con gà gáy, bây giờ về lại trong buôn.

– Gia đình người chị và em Hrao có về đó không?

– Chị Hrao về đó nhưng Hrao không về.

– Sao vậy? Bây giờ em Hrao ở đâu?

– Nó ở đằng kia, nó chết rồi, mộ nó kia kìa.

Tôi cảm tưởng như thình lình bị rút hết sức sống trong người. Tôi run lên, choáng váng:

– Không phải đâu. Em Hrao nầy nhỏ và đẹp lắm.

Em ở với người chị.

– Hrao đó, tao biết, mầy ưng nó lắm, mầy mua nó làm vợ, ai cũng biết.

– Nhưng vì sao Hrao chết?

– Thằng K’hiu giết nó.

– Tại sao lại giết em, nó đã lấy đủ tiền trâu, tiền cồng rồi mà.

– Tao không biết, ngày mai chị của Hrao ra đây làm lễ bỏ mã, mầy hỏi nó.

– Tôi đến bên mộ em, quì xuống, vuốt ve nấm mộ.

Anh vẫn không tin rằng em đã chết. Em hứa với anh sẽ ra rẫy, ra nương làm việc, sẽ nấu cho anh ăn, sẽ sinh cho anh nhiều con. Em quên rồi sao? Dậy với anh đi em. Em ra suối bắt ốc, hái rau. Anh ngồi chờ em mấy bữa nay ngoài đó.

Tôi cứ lảm nhảm một mình chơ đến tối mịt mới về. Chiều hôm sau lên mộ em, tôi đem theo một ít hoa và những trái cây em thích. Tôi đặt các thứ lên một tờ báo, thắp nhang và quì lạy em. Tôi cứ quì như thế, lòng mơ tưởng đến hình bóng em, nhớ lại những ngày em và tôi bên nhau … Khi trời về chiều, có tiếng chân lên đồi, tôi quay lại, thấy chị của Hrao và chồng đang đi tới. Họ thấy tôi, giật mình sợ hãi, lùi lại:

– Mầy là ma phải không? Mầy chết rồi mà.

– Không, tôi còn sống đây.

– Mầy giống con ma, mầy ốm quá.

– Chị nói tôi nghe, em Hrao còn sống phải không? Người chết trong mộ nầy không phải Hrao mà.

– Hrao chết rồi, nó nằm đó. Tao đến đây làm lễ bỏ mả nó.

– Chị kể tôi nghe, vì sao Hrao chết?

– Hôm súng nổ, đồng bào kinh sợ lắm, chạy trốn hết. Rồi bộ đội lên làm ấp trưởng, xã trưởng. Ít lâu sau có mấy thằng bộ đội lên hỏi về mầy, về ông mục sư. Ai nó cũng hỏi. Sau nó biết Hrao là vợ mầy, nó hỏi Hrao nhiều lắm. Tao nghe nó nói với Hrao:

– Mầy phải nói hết cho tao. Nó mua mầy làm vợ để mầy làm gì cho nó, cho thằng mục sư? Mầy đừng sợ nó, thằng chồng người kinh của mầy chết rồi, nó không đòi trâu, đòi chiêng cồng được nữa. Mầy cứ nói thật cho tao nghe.

Hrao hỏi: Tại sao mầy biết chồng tao chết?

Thằng bộ đội nói: Chính mắt tao thấy.

Hrao kêu lên: Mầy giết chết chồng tao rồi!

Và ngã xuống đất. Một lúc sau tỉnh dậy, chỉ khóc chứ không ăn gì hết. Hrao kêu tên mầy mấy ngày mấy đêm rồi chết. Tao biết thằng K’hiu đã sai con ma bóp cổ Hrao, nó không ăn được, không thở được.

Tôi lặng người vì đau khổ và xót thương em.

Tình em đối với tôi đơn sơ biết bao! Em tưởng tôi đã chết nên nhịn đói để chết theo tôi.

Vợ chồng chị lôi trong gùi ra những lễ vật. Người chồng chôn một cây cọc và cột một con gà nhỏ còn sống bên mộ em, xếp một đống củi và bắt đầu đốt lửa lên. Chị thì đặt trên những tàu lá chuối cơm và thức ăn, bên cạnh là tài sản sơ sài của riêng em. Mấy cái chén, đĩa, vài cái áo quần, một số kẹp tóc và hai cái nịt ngực mà tôi nhớ trước đây đã mua cho em “Anh không muốn ai nhìn thấy ngực em cả.” Nhưng hôm sau em bảo “Hrao không mặc được, thở không được.” Tôi nói với chị xin giữ lại chiếc áo hoa và chiếc quần đùi mà em đã mặc lần đầu tôi gặp ở dưới suối

– Không được đâu, mầy lấy áo quần của Hrao, nó sẽ theo mầy về nhà đó

– Thật không, nếu vậy em Hrao sẽ ở bên tôi suốt đời.

Chị ngồi xuống, người chồng ngồi bên cạnh, dùng cái dùi quấn vải gõ lên cái cồng bắt nhịp và chị bắt đầu khấn vái. Giọng chị đều đều, buồn thảm trong tiếng gió lộng, tiếng lửa cháy tí tách và tiếng cồng ngân nga vang vọng. Tôi quì xuống, chấp tay, nhắm mắt lại. Tôi thấy em Hrao đứng nhìn tôi, đôi mắt đen lánh, ngập tràn yêu thương, rồi em sà vào lòng tôi, đầu tựa vào ngực tôi. Từ mái tóc em, từ người em mùi thơm trinh nữ quen thuộc, ngọt ngào. Tôi hôn em, thì thầm:

– Hrao, em yên lặng nghe chị em làm lễ cầu hồn cho em.

“Oi em Hrao!

“Hôm nay, áo quan đã làm rồi, đã đóng lại rồi, đã buộc lại rồi, các kút cũng đã được tạc rồi. Chị đem cơm đến đây cho em ăn, đem rượu đến đây cho em uống, bởi vì từ nay chị sẽ bỏ em, chị sẽ quay lưng lại em. “Đất đỏ ở dưới, đất đen ở trên, em ở trong áo quan, em ở trong mả, nhà của em ở giữa rừng tranh, ở giữa rừng sậy, em ở một miền đất khác, em uống những giòng nước khác.

“Xin em đừng kêu gọi, đừng lại gần, đừng thương yêu chị, đừng thương yêu cháu của em nữa. “Từ nay chị sẽ không còn mang cơm, không còn mang nước, chị sẽ bỏ mả và không còn săn sóc mả nữa.

“Nếu em muốn ăn cơm, xin em hỏi thần những vì sao, nếu em muốn ăn thịt gà, xin em hỏi thần mặt trăng, nếu em muốn ăn cá, xin em hỏi thần cai quản trên trời. Một vị thần khác sẽ săn sóc, trông nom em. “Em đã chết thật rồi, đã tan rã thật rồi, em là chim Hrao ở trong rừng rậm, em là chim Tlang Hêă sống ở phương Nam.

“Chị đã sửa sang mả rồi, đã tạc những cột kút, cột klao, đã vẽ những hình vẽ bằng máu trâu máu bò rồi.

“Thôi, từ nay thế là hết. Thôi, từ nay thế là hết!

Như lá M’nang đã lìa cành, lá M’tôi đã tàn úa.

“Từ nay không còn đào lỗ, không còn làm nhà chòi, không còn than, không còn khóc nữa. Sẽ không đem của, đem tôm, đem cơm, đem rau đến mả nữa. Sẽ không còn để tang, không còn kiêng cữ nữa. Chóe rượu cúng Ngokbu đã đặt xuống mả rồi, cây chuối, cây khoai đã được trồng lên mả rồi, con gà đã được thả bay đi rồi.

Chị đã quên em rồi, đã bỏ em rồi!

“Ơi em Hrao, chị đã bỏ em rồi!”

Chị đã dứt lời mà tôi vẫn còn quì và nhắm mắt.

Tôi và em Hrao đang chìm đắm trong hạnh phúc của bao kỷ niệm cũ, bao ước mơ về một ngày thành vợ thành chồng, quấn quít bên nhau.

Chị đến bên tôi hỏi nho nhỏ: “Mầy thương Hrao lắm sao? Mầy nhớ Hrao lắm hả?” Bấy lâu nay tôi đã nuốt những giọt nước mắt vào lòng. Tôi cô đơn quá! Giờ đây, nghe chị hỏi, tất cả nỗi buồn trong lòng, tôi không kềm được nữa. Tôi ôm chị khóc say sưa.

Bà Phan Thị Minh Yến, Phu nhân Tướng Lê Nguyên Vỹ

hon-viet.co.uk

Post by Sơn râu 2 May 2026

Từ một nữ sinh trường đầm kiêu sa, thành bà Tướng đầy uy quyền, rồi thế thời đổi thay thành thợ hớt tóc 30 năm dài để nuôi 4 người con nên người mang tên QUANG, MINH, CHÍNH, ĐẠI, đặt tên theo tâm niệm của người chồng chiến binh một đời anh dũng. 

Đó là Bà Phan Thị Minh Yến, phu nhân Tướng Lê Nguyên Vỹ, vị tướng tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực VNCH, một trong 5 vị tướng Miền Nam đã tuẫn tiết để nêu cao khí phách anh dũng và để gìn giữ danh dự của một quân đội vừa mới thua trận trong biến cố 30. 04. 1975.

…Vào năm 1954, cô Phan Thị Minh Yến còn rất nhỏ, nhà ở Cầu Đất, Hải Phòng bắt đầu theo cha mẹ di cư vào Nam. Cô gái Bắc Kỳ nho nhỏ được gia đình cho học chương trình Pháp tại Sài Gòn và đã có câu chuyện tình từ năm 17 tuổi. Khi được 19 xuân xanh thì chính thức lập gia đình với một anh Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. 

Lúc đó là mùa Xuân năm 1964. Chàng hơn nàng 10 tuổi. Nhưng trước sau cô Yến chỉ có một mối tình từ khi biết yêu cho đến lúc thành hôn. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời. Các cháu Quang, Minh, Chính, Đại. Ba đứa con trai đầu lòng đặt tên với niềm tự hào của người cha cương trực sống trong một hoàn cảnh đất nước nghiêng ngả. Nhưng cô Út bé bỏng, xinh đẹp chỉ được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở ngoài lớp học thì đây là cô nhỏ Tường Vi của bà mẹ Hải Phòng. 

Suốt thời gian thơ ấu, người cha đi chinh chiến đêm ngày. Các con phần lớn sống gần gũi và trông cậy vào mẹ. Tuy nhiên, hình ảnh người cha quân đội vẫn là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ cho cả mẹ con. 

Tháng 4 năm 1975, bà mẹ 29 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản qua Hoa Kỳ. Người chồng chỉ huy đơn vị nên không có cơ hội tiễn chưn vợ con. Lần chia tay sau cùng mà vợ chồng không biết là lần vĩnh biệt. Anh đã ra đi vào miền vĩnh cửu khi quân đội tan hàng. Không một mảnh khăn tang. Không một giọt nước mắt. Vợ con cũng không hề biết tin về cái chết của người thân yêu. Năm đó chưa 30 tuổi, cô Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ ở vậy nuôi con cho đến năm nay 2008 vừa đúng 33 năm. 

Qua Hoa Kỳ, một mẹ và 4 con nhỏ, Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Vừa làm mẹ, vừa làm cha. Từ nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn, trở thành vợ lính sống cảnh gia binh, rồi trở thành góa phụ. 

Sau bằng ấy năm trời, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, có cháu nội cháu ngoại. “Hỏi rằng bây giờ chị làm gì” Còn làm gì nữa. Trước sau cũng chỉ làm một việc cắt tóc chải đầu. 

Nhưng nghề chính là vừa làm cha vừa làm mẹ. 

Làm mẹ thì cũng dễ vì đã làm mẹ từ Việt Nam. Nhưng làm cha cho những đứa con trai ở Hoa Kỳ mới thiệt khó. Tất cả đều phải quyết định một mình. Không bàn với ai được. Ba đứa con trai ở tuổi niên thiếu tại miền đất lạ. Biết bao nhiêu là khó khăn. Chuyện học hành, chuyện sinh sống, chuyện yêu đương của các cháu rồi đến chuyện hôn nhân. Cái gì cũng là chuyện của các con. 

Khi được hỏi rằng “thế chị làm ở tiệm tóc thì làm chủ hay làm thợ”. Được trả lời rằng “trước sau chỉ làm công mà thôi. Đã bảo rằng nghề chính là làm mẹ, nếu bôn ba mở tiệm, e rằng không có đủ thì giờ trông nom lũ nhỏ.”

 Hỏi rằng “đi làm như vậy có gặp những điều gì khó chịu không.” Trả lời rằng “lúc đầu cũng thấy tủi thân lắm. Nhưng rồi thì cũng phải nhịn nhục cho quen đi. Vả lại, ở đây cũng không ai biết hoàn cảnh mình ra sao nên cứ việc mình, mình làm. Cũng thi lái xe, cũng lấy bằng, cũng tìm đường đi học nghề, đi làm và nuôi con. Vâng, việc chính là nuôi con”. 

“Chị có buồn giận về chuyện anh nhà đã không đi được vào năm 1975 hay không” Trả lời rằng “thì anh nghĩ coi, ai mà chả muốn có vợ có chồng. Các con muốn có đủ cha mẹ. Nhưng phần số đã như vậy thì mẹ con phải sống sao cho phải đạo với sự hy sinh của ông nhà tôi. Ông ấy mà còn thì cũng chỉ muốn cho các con của chúng tôi được học hành tốt nghiệp đại học, rồi dựng vợ gả chồng cho các cháu như bây giờ gia đình tôi đã được như vậy.” 

Ngoài việc hãnh diện về chuyện con cái, bà mẹ gốc Hải Phòng còn kể thêm với niềm hào hứng đặc biệt. Đó là mối thuận thảo với mẹ chồng. 

Số là ngay sau khi di tản qua Hoa Kỳ, gia đình được tin chồng chết nên đã tìm cách báo về Bắc cho bà mẹ già biết tin. Tội nghiệp chưa. “Ông nhà tôi, lời chị Yến, cũng di cư vào Nam từ 54, mẹ con xa nhau 21 năm không liên lạc. Bây giờ bà cụ mới biết tin con dâu và các cháu ở Mỹ thì đồng thời cũng biết tin con trai đã qua đời”. 

Những năm đầu ở Hoa Kỳ cũng rất chật vật nên không tiếp tế được nhiều. Những năm sau này bắt đầu gửi tiền về miền Bắc cho bà cụ. Chính tôi là con dâu mà chưa hề biết mặt mẹ chồng. Đến khi liên lạc được thì chồng đã chết. Gia đình tôi và các cháu tiếp tục liên lạc về Bắc. Mấy năm gần đây cụ vào Nam gặp các bà chị tôi rồi thu xếp cải táng đưa di hài nhà tôi về Bắc. Xong công việc quan trọng, cụ mới qua đời mấy năm gần đây.

Vâng, thưa quý vị, tôi vừa kể hầu quý vị một câu chuyện của bà mẹ Việt Nam trong nghĩa vụ thay chồng làm cha thời hậu chiến kéo dài hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Một người thiếu nữ 10 năm làm vợ nhưng đã có đến 30 năm vừa làm cha, làm mẹ, và làm dâu hàm thụ qua thư tín. 

Cũng suốt 33 năm tại Hoa Kỳ, với vốn liếng Pháp văn và Anh ngữ của trường Đầm Sài Gòn, trước sau bà cũng vẫn chỉ là cô Yến làm tóc tại Hoa Kỳ. Bởi vì, người phụ nữ Việt Nam đơn giản này đã có một nghề cao quý vô cùng mà bà phải hết lòng theo đuổi. Đó là nghề làm mẹ. Do đó Ngày Của Mẹ hàng năm sẽ là ngày đặc biệt đối với những đứa con của bà. 

Và mỗi năm, ngày tang 30 tháng 4 cũng là ngày giỗ bố của đám nhỏ. Bà mẹ Việt Nam tổ chức giỗ chồng bằng âm lịch những vẫn dặn con vào ngày cuối tháng 4, dù ở đâu cũng phải dành cho bố những giây phút tưởng niệm. 

Bởi vì thân phụ của các cháu đã chết đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, người Sơn Tây, Bắc Việt, chết tại Lai Khê miền Đông Nam Phần.  Ngày nay, tại ngôi đình làng cũ tỉnh Sơn Tây có thờ bài vị của tướng công Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Binh Đoàn Số 5 của quân đội Sài Gòn. Ông đã tự sát vào ngày đất nước đã rơi vào tay giặc. 

Đó là cách ghi nhận của người đồng hương Sơn Tây với một chút tự hào. Và hình ảnh của ông vẫn trong lòng các con Lê Nguyên Quang, Lê Nguyên Minh, Lê Nguyên Chính và con gái út Lê Nguyên Đại Tường Vi tại miền Virginia Hoa Kỳ.

Đối với lũ trẻ Quang Minh Chính Đại, ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng là Ngày Của Mẹ./-

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 2 May 2026

Tranh Bé Ký

Nếu có một điều gì chúng ta được nuôi dưỡng từ người mẹ, thì một phần là từ những lời mẹ ru. Phải nói rằng chúng ta lấy làm tiếc là con em người Việt ở hải ngoại ngày nay và có thể trẻ em trên thế giới không được nghe những lời ru hời đầy văn chương, chuyên chở biết bao nhiêu tâm tình của người mẹ Việt Nam quê mùa mộc mạc.

Kho tàng ca dao của quê hương Việt Nam gần như đồ sộ, giàu có đến nỗi không có một người Việt nào trên đời này có thể cho mình là thuộc hết các câu ca dao, trong khi có người đã có thể đọc thuộc lòng được một cuốn Truyện Kiều gồm 3254 câu lục bát của cụ Nguyễn Du. Nhiều người tóc đã ngã muối tiêu cũng chưa thấy được hai chữ “tủi thân”trong câu ca dao như “Người ta tuổi Dậu, tuổi Mùi, sao em lại chịu ngậm ngùi tuổi Thân” thì làm sao một đứa trẻ còn bú mẹ hay mới chập chững biết đi, đang còn nằm trong nôi mà hiểu hết những lời mẹ ru. Chỉ sau này khi lớn lên, nghe lời mẹ ru em, mới hiểu được lờ mờ những câu hát, và phải đến khi trưởng thành, chúng ta mới nhớ lại, hiểu hết những lời hát ru mang những nỗi đắng cay, xót xa, phiền muộn của một đời người. Bây giờ những đứa trẻ được đưa vào giường ngủ, ôm bình sữa hay được vặn cho nghe một đoạn nhạc êm dịu và tự tìm lấy giấc ngủ, nhưng ngày xưa trên thế giới này từ Đông sang Tây những bà mẹ đều có những khúc nhạc “à ơi” để ru con ngủ. Ở Tây phương những khúc nhạc này được gọi là “lullaby”, phát xuất từ chữ “Lilith-bye” hay “Lilith-Abi” (tiếng Do Thái xưa Abi có nghĩa là begone), “Lilith, đi đi!” Theo truyền thuyết cổ, Lilith là một con quỷ cái xinh đẹp, khỏa thân, mình quấn một con rắn, chuyên đi bắt con nít vào ban đêm, nên những bà mẹ hát những bài hát này để xua đuổi:”Lilith, đi đi!” và ở Tây Phương “Lilithbye” lâu ngày thành ra”lullaby”. Nhưng những bài hát phương Tây làm sao có được những lời thơ trau chuốt dịu dàng và chứa đựng cả một trời tâm sự của người ru. Những bài hát ru của bà mẹ Việt Nam không phải để xua đuổi ma quỷ, nhưng nhiều lúc thấy con chưa chịu ngủ, bà ngừng lời ru, và doạ con: “Ngủ đi. Ông Kẹ kia kìa!” hay ông Ba Bị, Cụ Ngáo … tuỳ theo các nhân vật đặc biệt ở mỗi địa phương. Chúng ta không hề có những lời ru dành cho con trẻ với những giấc mơ thần tiên đầy hoa bướm, bánh kẹo, bong bóng và những khung trời đầy màu sắc rực rỡ, mà những lời ru cho con trẻ bên nôi thời thơ ấu toàn là chuyện của thế gian người lớn, chuyện trai gái, chuyện tình yêu, biệt ly, khổ luy, rồi phụ bạc, tan vỡ, đau đớn … Phải chăng vì những lời hát như thế “lậm” vào người, mà người Việt Nam lớn lên phải đắm chìm trong chiến tranh, tai ương, khổ ải, phiền muộn cho cả một đời.

Ngoài mẹ ru con ra, còn là bà ru cháu. Bà thì ru cháu ban ngày, mẹ thời ru con về đêm:

“Cái ngủ mày ngủ cho lâu,

Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về … “

Cháu nghe êm tai, ra chừng thiu thiu ngủ, mà bà cũng

ra dáng lim dim hai con mắt:

“Ừ, cái ngủ mày ngủ cho say,

Mẹ mày vất và chân tay tối ngày.”(Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

Trong lời ru của mẹ có biết bao nhiêu lời giáo huấn để dạy con nên người, mô tả bao nhiêu cảnh đời đen bạc, nói đến lòng người đảo điên, nhưng những câu ca dao than thân trách phận của mẹ bên nôi mới là tiếng thở dài xót xa, là nỗi lòng của mẹ. Bà một thời đã là mẹ. Hai người đều là những người đàn bà một ngày nọ, từ giã cha mẹ ra đi lấy chồng, dù gần hay xa, hạnh phúc hay khổ đau, họ đều mang một tâm sự riêng, không hề nói cho ai nghe, không biết than vãn cho ai, đành gởi gắm vào những lời ru con. Có một đêm nào đó, một thời đã xa, bạn thức giữa đêm khuya, nghe bên nhà hàng xóm có tiếng trẻ thơ thức giấc khóc, rồi giọng ngái ngủ của một bà mẹ cất lên lời ru, một lời ru không làm bạn dễ dàng tìm giấc ngủ trở lại:

“Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?”

Mẹ hát những lời ru ngọt ngào ấy không phải để cho đứa con thơ trong nôi nghe, đứa trẻ con quá nhỏ, đâu đủ trí khôn để nghe hết những lời ca dao, làm sao để hiểu những tâm tình chứa đựng trong những lời ru, ngoài tiếng à ơi trầm bổng. Đó là tâm sự của mẹ, muốn mượn những vần thơ ca dao, bên con giải bày tấm lòng mình, cho ai nghe, không cho chồng, không cho con, mà cho chính mình. Mẹ nuốt lại hết những lời ru của chính mẹ vào lòng, như nuốt hết những đắng cay, xót xa của một đời làm dâu, một đời làm vợ, rồi một đời làm mẹ. Mẹ gởi hết tâm sự của một đời người qua tiếng hát ru. Một số lớn ca dao đã dành riêng cho tấm lòng thương cha nhớ mẹ, nhất là đối với đứa con gái lớn lên phải đi lấy chồng, luôn luôn nhớ đến người mẹ, nhớ đến quê nhà, bây giờ “gối nghiêng ai sửa chén trà ai bưng?”, rồi nghĩ đến tuổi già lúc xế chiều, bóng ngã:

“Mẹ già như mít chín cây

Gió Đông cũng sợ gió Tây cũng buồn”

hay não lòng biết bao nhiêu:

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.”

Ngày xưa người con gái về nhà chồng phải chịu cảnh làm dâu, gặp cảnh bà mẹ chồng độc ác, chồng lạnh nhạt, thì bỏ phí một đời con gái, tiếng hát não lòng người, có khi nào mẹ vô tình để những giọt nước mắt rớt xuống trên khuôn mặt con thơ:

“Con cuốc kêu réo rắt trên ngàn

Gà rừng táo tác gọi con tha mồi

Lạnh lùng thay láng giềng ơi

Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều.”

Mẹ ít học, chỉ đủ biết đọc biết viết, nhưng duyên cớ đâu mẹ lại thuộc nằm lòng nhiều ca dao đến thế. Ở trường hợp nào mẹ cũng nhớ ra những câu ca dao phù hợp với hoàn cảnh. Ca dao là nỗi lòng: tình yêu, biệt ly, phụ bạc, trái ngang, khổ đau … Phải chăng người xưa học ca dao qua truyền khẩu, bằng nghe những lời ru bên nôi của những người bà, người mẹ, của người góa phụ láng giềng những buổi trưa hè oi ả, những đêm khuya vắng lặng. Không có lời ru nào vui, không có lời ru nào mang hình ảnh của hạnh phúc. Lúc lòng bình thản, thì mẹ ru em bằng những lời ca dao vô thưởng vô phạt, buồn thì mẹ hát những lời ru xót xa đến tận cõi lòng người nghe. Lớn lên tôi cũng như các bạn, may mắn thuộc lòng chút ít ca dao. Nhà trường chỉ dạy học sinh vài ba câu để làm ví dụ qua các thể loại của loại văn chương bình dân này, nhưng sao mọi người ai cũng nhớ, cũng thuộc nhiều ca dao. Ca dao không có tác giả, tác giả là tất cả mọi người Việt Nam, và tôi thường nghĩ rằng lục bát ca dao là những câu lục bát hay nhất trên cuộc đời này. Hình như chúng ta không thể sống thiếu ca dao, như không thể thiếu lời ru của mẹ. Bây giờ bao nhiêu người con gái Việt Nam lưu lạc xứ người, còn nhớ chăng một lời ru của mẹ, để bên nôi con, “à âu”, “ví dầu” một câu hát cho nguôi tấm lòng tha hương.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 2 May 2026

Chết không phải là đã tắt hơi thở

Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.

(Chúc Thư- Huy Phương)

Trong một cuộc phỏng vấn với một sĩ quan VNCH đã trài qua những giờ phút kinh hoàng trên bãi biển An Dương vào ngày 26 tháng 3-1975, khi một lữ doàn Thuỷ Quân Lục Chiến bị kẹt lại trên bở biển, truớc mặt là biển cả chi có một chiếc tàu nhỏ hải quân vào đón thương binh, sau lưng là quân thù và đạn phảo, phần lớn những người lính thất trận đã bị “chết cạn” trên bở biển tại đây hay bị bắt làm tù binh, tôi đã đặt câu hỏi với người lính cón sống sót đến hôm nay, là điều gì khiến cho ông suy nghĩ nhất, sau ba mươi tám năm dài trôi qua?

Điều ông nói có thể khi mới nghe qua, chúng ta ngạc nhiên, nhưng nghĩ lại nghe thật giản dị, nhưng không khỏi xót xa:

– “Điểu ân hận của tôi là đã không được chết!”

Tôi nghĩ rằng câu nói của ông, người lính già, trong giờ phút nhắc lại chuyện cả một quân đội tan ră, bao nhiêu người đã nằm lại trên những con đường lui binh, trên những bở biển tuyệt vọng của miền Nam, là một câu nói phát xuất tử đáy lòng, không khoa trương hay đại ngôn chút nào, bởi sự sống có trăm nghìn lần khó khăn hơn sự chết! Bán năng sinh tồn của mọi loài là cố bảm lấy sự sống. Chúng ta cũng không trách ai những ngày hổn loạn, tìm được một chỗ trên trực thăng hay ra di với toàn bộ gia đình an toàn trên một chiến hạm ra khơi trong khi xe tăng của địch quân đã vào đến Saigon. Khi những con tầu rời bến Khánh Hội. khi những chiếc trực thăng đã bốc lên cao giữa một thủ dỏ đang hứng chịu những quả đạn pháo kích cùng với cánh hỗn loạn của một giờ thất thủ, ở những nơi nào đó, vó những người lính dang tuân thủ lệnh chi huy giữ đất một phút không rời, hay thất vọng đành quàng vai ôm nhau, chia chung cái chết, Ba mươi tám năm sau, những người còn sống sót, bằng cách này hay cách khác, lần lượt ra khỏi đất nước, đã thật sự còn sống không hay cũng như đã chết. Có những vị tướng đã chết lẫm liệt, cho những ông tướng khác sống cuộc dời tầm thường trên đất khách, ngày hai buổi sáng chiều và chết quạnh quẽ, hay thậm chí còn quay về bợ đỡ kẻ thủ. Có những người lính đã chết lrong những giờ cuối củng để cho chiến hữu họ được sống, qua ngày đoạn tháng. Trở về trên những con dường tắm máu ngày xưa, nhưng đầu óc trống rỗng, ngu ngơ nhự những người mất trí nhớ. Có những người thân thể còn lành lặn nhưng tâm thần tê liệt, trở lại rong chơi giữa số phận nghiệt ngã của đồng đội què cụt quanh mình.

Trờ lại câu trà lời của người lính già, ông nói ngày xưa, nếu nằm lại với anh em trên bãi biển, cái chết đến một cách thật dễ dảng, nhưng cái sống bao nhiêu năm nay quả là khó, vi không biết sống thế nào cho đáng sống, cho khỏi hỗ thẹn với chính mình, nhất lả khi nghĩ đến những người đã chết ngay trước mặt mình, đã chết ngay sau lưng khi mình dã may mắn dược ra đi. Sống phải chăng không dễ, vì sự sống còn mang nặng nghĩa vụ với những người đã chết. Chúng tỏi xin nhắc lại một câu chuyện cũ. Ngày 21 tháng 6-1945, khi quân đội Nhật không giữ được Okinawa, tại bộ tư lệnh của đơn vị ở Mabumi, tướng Mitsuri Ushijima đã viết thư trình lên Thiên hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okimawa và tạ tội không giữ được đảo, trước khi tiến hành việc mỗ bụng tự sát, ông đã nói với dại tá Hiromichi Yahara:

– “Dại Tá Yahura, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ại có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng đây là lệnh từ cấp chí huy của ông!”

Yahara do dó là sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông dã cho xuất bản cuốn sách mang tựa dể “Trận Đảnh Vi Okinawa.” Như vậy, sống cỏn phải chăng cũng là một nghĩa vụ? Lòng dũng cảm không chỉ dành cho những vị anh hung đã tự sát. Sống cũng cần lòng dũng càm. Từ ba mươi tám năm nay có những người sống trong sợ hãi, tê cứng tứ chi và đầu ớc. Họ sợ khi trở về Việt Nam bị công an làm khó dễ, họ sợ con cải của họ còn ở bện kia sẽ bị liên lụy, họ sợ sẽ không được trở về để thăm viếng người thân, nếu ở bên này họ có một cử chì hay lời nói nào chống lại hay gây bất lợi cho chế dộ trong nước. Toàn là những cái sợ cho lợi lộc của bản thân. Chúng tôi cũng xin nói thêm đây không phải là một người dân bình thường, tình cờ một đêm nọ, có mặt trên bãi biến, là điểm hẹn của những người vượt biển, nên bị lùa xuống ghe, bắt đắc dĩ phải bỏ nước ra đi, mả họ là những người quyết định chọn cái chết dể tìm con đường sống, tuy đã đánh đổi bằng những năm tháng tù đày khốn khổ nơi chốn rửng thiêng nước độc. Họ cũng không phải là những người lính vỏ danh, những người này có hoạt động trong các hội doàn, có tên tuổi, có chức vị. Một lần tôi có hẹn phòng vấn với một cán bộ xây dựng nỏng thân trên một chương trình truyền hình về quá trình hoạt động của đơn vị ông trước năm 1975. Trước giờ thu hình, tôi gọi điện thoại cho ông, ở đầu giây bên kia, vợ ông trả lời “ông không có nhà.” Tôi ngỡ rằng ông đang trên đường đến đài truyền hình, nhưng khi tôi xưng danh tánh, bà vợ cho lôi biết “ông đã đi xa- out of town!” Trời đất! Mới hôm qua dây, ông “ừ è” với tôi, mà chỉ trong thời gian, chưa đến 24 tiếng đồng hô, ông đã trốn chạy một buổi phỏng vấn, cũng là trốn chạy cái dĩ vãng mà ông thường tự cho là hào hùng ngày xưa, chỉ vì một nỗi sợ hãi nào đó, mả bản thân ông không đủ can đảm nói thật với tôi là ông sợ. Một người nữa đang sống, bề ngoài có vẽ hào hùng nhưng còn sợ hãi. Đây là một cựu sĩ quan có chức vụ trong một bội doàn cựu quân nhân và vào dịp tháng tư năm nay, tôi muốn mời ông lên một chương trinh nói về những ngày lui binh”. Đến giờ thu hình, không thấy ông đến, sốt ruột, tôi gọi cho ông. Ông trà lời vắn tắt, trong khi đèn đuốc, sàn quay, chuyên viên và cả tôi dăng chờ ông: “Tôi bận, không đến được!”

Ông biết truyền thông di xa, có khi về tận bên kia, cẩn thận ần minh đi là tốt. Có điều tôi không hiểu sao ông lại dấn thân di làm việc cộng đồng, trong khi lòng ông đầy sự sợ hãi. Ông muốn về Việt Nam chăng, hay là ông còn mẹ, còn em mà ông lấy cớ muốn bảo vệ họ, sự sự hãi lớn lao đến dường ấy hay sao? Bây giờ mà cái bóng ma cộng sản còn lỡn vỡn bao trùm lên đời sống của ông, một người dã cao bay xa chạy, trong khi tuổi trẻ ở trong nước, những người dân bị phản bội, sống giữa kìm kẹp tù đày, vẫn không hề biết sợ hãi là gì!

Tướng McArthur nói: “Old soldiers never die; they just fade away- Người linh già không chết: họ chì phai nhạt dần đi”. Chết dã dành, sống mà phai nhạt, mờ dần trong quên lãng như cỏ cây, thì còn gì buồn hơn nữa!

Chết và sống, điều gì khó hơn?

Trận cuối

Ngự Thuyết

Post by Sơn râu 30 Apr 2026

Ngự Thuyết

30.04.2018

 Nhớ Trương Như Thung

 Nhớ Trận Cuối Xuân Lộc

 Nhớ chiến sỹ Sư Đoàn 18

Anh ngó lên tháp canh

khi bóng đêm vừa đổ

phòng tuyến đứng lặng thinh

hỏa châu rừng rực lửa.

Địch điệp điệp trùng trùng

hàng ngàn đàn kiến cỏ

giẫm nát hết ruộng đồng

ta không hề khiếp sợ.

Ngày mai trận sống mái

ngày mai ta phản công

máu sẽ đổ thành sông

xương chất lên thành núi.

Đứng lên anh ngó quanh

khuya lặng thinh nín thở

hỏa châu rơi lả tả

phòng tuyến nhảy chập chờn

đêm ngã xuống biển mù

giao thông hào lẩn khuất.

Anh nhớ em của anh

của những ngày tan tác

từ khi miền Trung mất

em chạy loạn nơi nào?

anh đứng sau chiến hào

địch trùng trùng điệp điệp.

đất cháy đen vấy máu

chim rừng không chỗ đậu

đàn quạ lượn chờn vờn.

Ôi Miền Trung đau thương

ôi Hàm Tân khốn đốn

ôi Tánh Linh, Xuyên Mộc

những cứ điểm địa đầu

của Miền Nam thân yêu

lần lượt vào tay giặc.

Đây phòng tuyến Xuân Lộc

những ngày cuối Tháng Tư

ngó lên anh ngẩn ngơ

đứng ngồi không nguôi nhớ.

Mùa hè sôi sục máu

bão nổi mấy mùa thu

không bếp lửa mùa đông

mùa xuân không cánh én

bốn mùa mù mịt khói

em đợi anh bốn mùa.

Anh không có ngày  về

Em nơi nao biền biệt!

Ngày mai trận sống mái

máu xương sông và núi

giờ đây anh ngó quanh

đêm không trăng không sao

hoả châu rơi lã chã

khuya phòng tuyến lặng thinh

hoả châu tuôn dòng lệ.

Bỗng nghe lời thì thầm

em của anh kể lể

trong tiếng gió canh thâu

trong mờ mịt âm u

“Anh ơi anh ở đâu?

về với em anh nhé!

anh ơi anh ở đâu?

kiếp này còn gặp nhau?”

Ngày mai ta phản công

giằng lại từng tấc đất

máu sẽ đổ vào sông

xương chất thêm vào núi

Núi sông là xương máu

đất nước là đạn bom

Em sinh trên đất Bắc

anh quê ở miền Trung

gặp nhau ta yêu nhau

như đã yêu từ trước

đã yêu từ nhiều kiếp

nguyện với đất với trời

thề cùng biển cùng non

tình trăm năm tạc dạ.

Lên đường anh vào Nam

xa quê hương khốn khổ

nhớ em và thương quê

ngày đêm anh ấp ủ

giấc mơ về chốn cũ

Có anh và có em

có dòng sông êm đềm

có cánh đồng mát rượi

có mẹ cha trông đợi

có đàn em đón mừng

có xóm dưới làng trên

có hàng cau khóm chuối

có ngôi nhà ngói mới.

Anh nhớ lời em nói

“Quê em xa nghìn trùng!

miền Bắc trong lao lung

làng em còn đâu nữa!

Quê anh là quê em

ta quê hương chia sẻ!

và anh là của em

là của em mãi nhé!

Hằng đêm em khấn nguyện

thôi mình đừng giết nhau

anh mau về mau về

về anh về nguyên vẹn.”

Nhưng khi nào hết giặc?

Và bao giờ ngày về?

Tháng trước mất miền Trung

mong tin em quay quắt

nay giặc tràn xuống Nam

tin em càng bằn bặt.

Toàn những ngày chém giết

thịt đổ và xương rơi

binh lửa khắp nơi nơi

đất cháy đen vấy máu

chim rừng không chỗ đậu

đàn quạ lượn chờn vờn.

Ôi Miền Trung đau thương

ôi Hàm Tân khốn đốn

ôi Tánh Linh, Xuyên Mộc

những cứ điểm địa đầu

của Miền Nam thân yêu

lần lượt vào tay giặc.

Đây phòng tuyến Xuân Lộc

những ngày cuối Tháng Tư

ngó lên anh ngẩn ngơ

đứng ngồi không nguôi nhớ.

Mùa hè sôi sục máu

bão nổi mấy mùa thu

không bếp lửa mùa đông

mùa xuân không cánh én

bốn mùa mù mịt khói

em đợi anh bốn mùa.

Anh không có ngày  về

Em nơi nao biền biệt!

Ngày mai trận sống mái

máu xương sông và núi

giờ đây anh ngó quanh

đêm không trăng không sao

hoả châu rơi lã chã

khuya phòng tuyến lặng thinh

hoả châu tuôn dòng lệ.

Bỗng nghe lời thì thầm

em của anh kể lể

trong tiếng gió canh thâu

trong mờ mịt âm u

“Anh ơi anh ở đâu?

về với em anh nhé!

anh ơi anh ở đâu?

kiếp này còn gặp nhau?”

Ngày mai ta phản công

giằng lại từng tấc đất

máu sẽ đổ vào sông

xương chất thêm vào núi

Núi sông là xương máu

đất nước là đạn bom

tổ quốc là hố hầm

quê hương là trận chiến

nhà nhà là binh biến

người người là thây ma

ôm nhau nằm co ro

hồn quẩn quanh ngơ ngác

Có bao giờ em hỏi

tại sao ta giết nhau

có bao giờ em quên

điều không ai muốn nhớ

Có bao giờ em ngờ

trong lớp người say máu

trong hàng ngàn đàn kiến

giẫm nát hết ruộng đồng

của miền Nam êm đềm

của miền Nam yêu dấu

có họ hàng của em

những người lính măng tơ

từ xa xôi đất Bắc

mắt không thôi ngơ ngác

vầng tráncòn ngây thơ

trái tim còn vô tư

“Đi vào Nam giải phóng!”

Những khẩu hiệu lừa bịp

Những mưu mô quỷ quyệt

những hành vi bạo tàn

những xảo trá dối gian

và hận thù xúi giục

và xích xiềng tù ngục

và họng súng gông cùm

và đổi trắng thay đen

đưa hàng triệu sinh linh

vào sâu vòng oan trái.

Ngày mai trận sống mái

Giết nhau! Ta giết nhau!

Chém ngươi gươm ta đau

Bắn ngươi nòng súng buốt.

Chứa Chan núi gào thét

Gia Ray rừng thở than

Long Khánh ngùn ngụt lửa

Xuân Lộc đống tro tàn.

Đứng ngồi nghe bỡ ngỡ

giấc mộng vàng đan dở

Tử khí dần dần lan

hỏa châu chùm chùm vỡ

Tháp canh quay vật vã

lết lê đàn kiến cỏ

Lỗ châu mai bập bùng

máu đào chôn gót rã

Phòng tuyến nằm rung chuyển

Chiến lũy đứng hối hả

Ngập ngụa giao thông hào

Xác người phơi mình cá.

Làng quê xa nghìn trùng

đường đi ôi mông lung

khốn quẫn vó ngựa duổi

lối nghẽn bước tức tưởi.

Đêm trắng giở nghìn trang

dòng sử xanh cháy đen

Mắt chiêm bao không mở

Hồn không vui không khổ

Thân không đi không ở

Bàn tay không trong tay

Bàn chân không quen ngõ

Gió chẳng về nhắn nhủ

mưa không buồn đưa tin

nắng chẳng nói gì thêm

mù khơi không trời đất

Dấu chim chìm trong mây

biển dâu từng sợi tóc

tăm cá ngoài lũng câm

lệ rơi trong cơn lốc

Em đang ở nơi nao

héo hon miền đất lạ

viên đạn đồng cứng trơ

bay ngang hồn băng giá.

Một mai binh lửa tàn

Em và anh qua đó.

04/2014

Xuân đất khách

Thanh Nam
Post by Sơn râu 30 Apr 2026

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữ sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bời
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .

Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .
Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .

Seattle, mùa xuân 1977 .

Tâm sự người bại tướng

Việt-Thương-Nhân. Việt Bắc K 2 Thanh Phong, Thanh-Hóa. Mùa Đông 1982. (Hòa Thượng Thích Giác Hoa)

Post by Sơn râu 30 Apr 2026

Hoàng-hôn xuống, khi nắng chiều lịm tắt,

Đời đau thương, khi tràn ngập màu tang.

Một triệu tinh binh Tướng Tá kiêu hùng,

Thành trì vững, Quân nhiều không giữ được.

Lỗi tại ai? có phải vì thời cuộc?

Tại ý Trời, hay ý của Dân-sinh?

Tại cái các Tướng cầm đầu hay tại người chiến binh?

Không tận-tuy, hy-sinh vì Tổ-Quốc?

Thế giặc mạnh, lan-tràn theo chiến cuộc,

Ta đau lòng, vận nước quá lâm nguy!

Chiến hay hòa, giải-pháp hay chạy đi,

Đều tan vỡ mộng lòng theo ảo-ảnh!

Giờ Việt Bắc, thân tù giam ngục lạnh,

Khổ lưu đày, cô quạnh núi rừng hoang.

Nhớ nhung như, hổ nhớ núi non ngàn,

Sầu uất khí, hùm thiêng đành bó gối.

Cơn bão tố, đại bàng mang cánh gãy,

Sống ê chề, dãy dụa đầy đau thương.

Nhớ trời xanh, bay vượt mấy từng không

Nhớ biển cả, thuở lượn vòng đây đó.

Nay, biệt giang hồ nằm trong ủ rũ,

Đói dày vò, nhục nhã lũ người khinh.

Nỗi khống chế, miếng ăn tồi lấp lửng,

Án tử hình, đâu phải án tù binh

Đường trần thế, muôn nghìn tai nạn,

Khốn khổ tù muôn vạn gian truân.

Công danh như giấc mộng tàn,

Nổi sầu mất nước, nổi tan tình nhà!

Sống dở sống, ta nào tha-thiết,

Tự sát mình, thì thiệt người sau

Thân không dần đánh mà đau,

Người không giết bỏ, giết sầu độc chưa?

Trăng lạnh mờ sương khuya,

Hồn chơi vơi lạc lõng,

Trăm mối sầu cô động,

Trong thảm cảnh nhà giam!

Chao ôi, Trời ơi, dân Việt lầm than!

Vì chủ nghĩa “Lê-Nin, Các Mác,”

Nhiều người đã thác,

Bởi Cộng-Sản tà gian!

Tiếng kêu hay tiếng khóc than?

Tiếng rên thảm-thiết muôn ngàn đau thương!

Ai đem đày đọa ngục đường?

Cho thêm đói rét, cho nguồn hờn căm!

Thấy cửa đóng như sắt đè nặng ngực

Nghe tiếng cài then, như búa trúng đầu rêm.

Nghe tiếng khóa cửa như ai rức nhói trong tim,

Đầy tủi hận, buổi vào buồng giam lại.

Trong song sắt nhìn ra ngoài,

Bầu trời xanh, thu hẹp lại.

Ngục tối mấy ngàn đêm rồi,

Không thấy được những vì sao!

Trong cửa sổ nhìn ra ngoài,

Lũ Công An qua lại.

Nghe như dẫm tim mình,

Làm hồn ta tê tái.

Ý thức hệ Miền Nam kiếp nạn,

Bảy năm cố quốc dạ nào quên.

Không xoay thế cuộc anh hùng lụy,

Hào kiệt ngục trung nợ nước đền!

Anh hùng mưu sự chẳng nên,

Cúi xuống thẹn đất, ngước lên thẹn trời.

Mài gươm rồi để hận đời,

Chôn vùi thế hệ, lụy người tù chung!

Van thế nhân xin đừng trách nữa,

Lỗi lầm này hãy sửa sai chung.

Đem xương máu học bài đắt giá,

Chi đem thành bại luận Anh Hùng.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Apr 2026

Thay lời tựa

Thơ Huy Phương

Lũ chúng ta, ván cờ dở cuộc

Tướng bỏ thành, phá tượng, buông xe

Ta thân tốt chân trời góc bể

Nỗi qua sông chẳng hẹn ngày về.

Thuở đứt gánh tóc còn xanh mướt

Giờ nhìn nhau, bạc trắng phơ phơ

Hai mươi năm đốt đời trai trẻ

Buíh sa cơ, lỡ một thế cờ.

Mỗi nghìn đêm còn đau giấc mộng

Mỗi sáng nhìn đất nước khuất xa

Thân tráng sĩ – sức tàn lực kiệt

Mộng thời trai như bóng mây qua.

Những hố bom ngày xưa đã lấp

Biển muôn trùng xanh những nương dâu

Chiến trường xưa đã mờ dấu tích

Sao lòng ta nặng vết hằn đau.

Người linh già tuổi chiều bóng xế

Chẳng còn xưa, chẳng có mai sau

Những tháng ngày sầu niêm đất khách

Vết thương lành, vết sẹo còn đau.

Ôi tháng tư, đốt lò hương cũ

Khóc người xưa, nhỏ lệ cho ta

Người đã khuất – còn nguyên khí phách

Ta sống còn – tháng đoạn, ngày qua.

(4/04)

Ba cảnh, Một ngày Giáng Sinh

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 30 Apr 2026

Giáng sình ngây ngây hương gió,

Giáng sinh thắm thiết mùi có,

Đi đâu,

Đi đâu …

Sáng mai qua cầu.

Xa kia Sài Gòn,

Quanh quất nơi đây vườn cau xóm nhỏ.

Hun hút khói loang mờ dáng sông.

Đầm đằm đất trời luồng rung động,

Thiên Chúa giáng trần cùng não nhân.

Đằng đằng phận người lâm lụy thấm.

Buối Sáng,

Lão mù ngồi lặng ngong hơi nước

Tóc bạc căm căm loáng thoáng ướt

Mưa trải mùa săn sắt bay bay

Sáng sớm đùn hơi sương tê huốt.

Đã quá bao năm,

Hở lão khổ?

Suốt buổi chiến tranh hằng nặng độ

Từ ngày đấu Xuân bảo lửa khói vây(1)

Nay cuối năm

Tàn hơi thấm lạnh.

Lão dựa thành cầu co quắp hiu quạnh.

Trông miệt Nhị Bình (2)

Xa xăm Ba Thôn (3)

Tóc ướt rồi khô lay lắt gió thổi

Bay ngang trời xuôi sông xa Bình Dương.

Lấm lướt khoanh tay lão che gió chướng

Không biết một lần

Đêm nay

Thánh ngời Ân lạ giáng yêu thương.

Qua Chiều

Bước lên giốc cao

Len dần theo dấu dổ

Nắng ngật ngật bụi mù tung đỏ

Nơi chốn này một lần

Người qua nghiệp vận hóa thân.

Căn cứ Lữ Đoàn nay hoang vu (4)

Đồi phượng trốc gốc cành lá rũ

Hàng liễu bạch đàn cạn nhựa ủ

Đất đống bời bời rối cỏ khô.

Doanh trại sụp vỡ đùn ổ mối

Tháp canh rêu mốc chụp bóng tối

Nơi đâu kỳ đài uy nghì chiến binh

Âm âm hồi kèn thúc quân trống nhịp …

Thảng thốt đâu đây khản rền cô khốc

Tấm tôn sét rách đập rung tiếng thét

Lầu nước dựng cao vết thương mầu đen

Đậm dáng người lính buổi cùng uất nghen.

Tôi dứng giữa xanh xao tàn cây

Tưởng vạn oan hồn về theo nắng quái

Một bận Năm Thân như ngày này …

Bao lâu

Chưa dứt phần còn lại?!!

Ta đã ở đây,

Thât có nơi này?

Vô hồi gió thổi

Thấp thoáng nắng chiều rây rây …

Chợt tâm động xôn xao kinh hãi

Khi xuống đổi dầm đầm xám ngắt tàn phai.

Thật hay không

Bóng ta hắt hiu trải lặng hình hài,

Thàm sầu con trốt xoáy.

Cuốn bụi đất hồng vết xé đỏ tươi.

Vào Đêm

Xóm Đạo lặng lở

Chuông lễ chiếu săn sắc

Chủa đến với người

Giữa điêu tàn sống chết buổi chiều Đông,

Hãy dậy lên hờn oan,

Hãy bật cao gầm thét,

Vạn triệu vong linh đất sâu bằng bặt …

Về cùng ta dêm nay.

Giáng Sinh xa xăm huyền hoặc

Một lần

Chúa xuống trần giải cứu

Côi thế căm cảm hằn tiếng than.

Sứ Nhiệm Người đâu riêng đất Canaan,

Tình Thương Trời không dành tộc Do Thái,

Người đứng cùng người,

Đối mặt bên kia Sự Ác,

Sau bao năm …

Vẫn tràn nước mắt thế gian.

Oán nghiệp điêu tàn cõi nhân sinh

Dậy oán khí mờ sắc cao muôn trượng

Sao báo triệu nhạt thếch màu tin tưởng

Thánh Hài Đồng bật khóc dài đêm đông.

Đêm nay,

Chốn này,

Nghĩa Trang

ghìm ghìm dãy bia đá ngã nghiêng(5)

Hố huyệt lanh dậy trừng trừng gào khốc

Liệt Sĩ hãy về đây!!

Cùng người chia phần đắng cay thấm nhục.

Để nói về trời nỗi gớm ghê xa xót,

Mỗi lóng xương đào trốc.

Lũ chó đói gậm mòn kéo lê vương vãi đồi hoang.

Sôi nhục kinh hoàng hằng cháy đỏ từ giờ mất

Miền Nam,

Bia đá thiêng liêng,

Cờ Tổ Quốc,

Đập vỡ

kế hầm cầu,

Xé toang vất tràn hố xí!!

Hãy dựng lại khối ĐAU tột cùng kinh dị

Trung Liệt Đài xiêu dổ

Bộ đội ông Hồ

thỏa thuê tích chứa cất giành phân.

Hãy về đủ đêm nay

Thiên Chủa xuống trần

Gục đầu chân tượng “Tiếc Thương”, (6)

Tưởng tiếng kinh cầu từ nín sâu Cao Thái ,(7)

Hòa nhạc ân lành vọng xa xôi Hố Nai. (8)

Nếm lại với ta giọt máu nóng tươi

Từ buổi Tháng Tư

Ngày Ba Mưoi luôn mới.

Giọt nất hận mười bảy năm tươi rói

Ta gầm gầm nuốt nghẹn

giữa Chiến Hữu không hề chết đêm nay.

Giáng Sinh

Nghĩa Trang Quân Đội

Không đèn.

Tắt lửa.

Bặt căm lời cầu kinh.

Người Lính,

Đứng lặng thinh.

(1)-Đầu Xuân Mậu Thân, 1968,

(2&3)- Chiến địa bắc Sàigòn, thuộc Quận Gò Vấp.

(4)-Căn cứ Nguyễn Huệ, Long Bình, Thủ Dức: Bản doanh LĐ2 Dù.PNN đã sống, viết Dấu Binh Lửa, 1968-69.

(5)-Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa Xã Long Bình, Thủ Đức, bị bộ đội cộng sản cày ủi sau 30 Tháng tư, 1975.

(6) Tượng Tiếc Thương – Công trình bi tráng củu Điêu Khắc Gia Ngxyễn Thanh Thu đặt trước Nghĩa

Trang Quân Đội Long Bình.

(7, 8; Xóm Đạo Công Giáo trước nghĩa trang, vùng Biên Hoà.

Chiều và Đêm 24 Tháng12, 1992

Căn cứ Lữ Đoàn II Nhảy Dù ,

Nghĩa Trang Quân Đội,

Chốn Một Lần

Một đời,

Sống -Chết,

Của chính tôi,

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Apr 2026

Bolsa vừa có chuyện một cảnh sát doạ bắn người, chuyện này có lỗi hay không, hiện chính quyền chưa giải quyết xong, nhưng người bị doạ bắn lại là một người đã dùng chìa khoá xe của mình để vạch một đường dài trên chiếc xe Mercedes của một người vô can đậu trong parking. Chỉ trích cảnh sát trong trường hợp này là điều cần thiết, nhưng không nghe ai lên án con người đã vô cớ phá hoại tài sản của kẻ khác. Không phải chúng ta mới nghe chuyện này lần đầu, ở Mỹ nhiều loại xe mới hay đắt tiền như Lexus, BMW, Jaguar đã chịu số phận “rạch mặt” như thế. Chủ nhân những chiếc xe này rất đau khổ không phải chỉ vì tốn tiền sơn xe mà vì một mặt, chiếc xe của mình có tỳ vết không còn trinh nguyên nữa, mặt khác trong lòng luôn luôn bị ám ảnh khổ sở bởi chuyện này. Còn thủ phạm hành động chắc chắn không phải vì sự tinh nghịch nhự tuổi thiếu niên phá làng, phá xóm, mà vì lòng ganh ty.

Thủ phạm không phải là những người đi cùng một loại xe đắt tiền tương đương, mà chắc chắn họ là chủ nhân những loại xe yếu kém hơn và những chiếc xe lộng lẫy đắt tiền này như đâm vào mắt họ, làm cho họ “ngứa mắt”. Người ganh tỵ luôn luôn “nóng mặt” với những ai xinh đẹp hơn mình, giỏi giang hơn mình, giàu có hơn mình và cảm thấy luôn luôn bực dọc, khổ sở về những điều mình thua sút người khác. Thay vì vươn lên cho bằng người khác thì họ lại muốn kéo người khác xuống, bằng cách dèm pha, nói xấu, bôi lọ bằng ý đồ đen tối và với tâm hồn đầy cay nghiệt của mình.

Tâm lý con người Việt Nam, vì chưa nghiên cứu tôi không dám nói chung cả loài người trên trái đất, thấy người thua mình thì để tâm khinh rẻ, thấy người hơn mình thì đem lòng ganh ghét. Cách đây hai mươi năm khi đợt sóng những người H.O đến Mỹ dâng cao cũng làm xáo trộn phần nào sinh hoạt của những người đến trước và không khỏi có những sự khinh miệt hay ganh ty, mới nhìn có vẻ mâu thuẫn nhưng sự thật thái độ này tuỳ theo đối tượng để người ta tỏ thái độ. Nếu có anh chàng cựu tù nhân nào mới sang xanh xao, ốm yếu, dồn cả gia đình vào trong một căn chung cư một phòng, đi cái xe cũ rẻ tiền, thì bị người đời phán một câu:”Đúng là H.O.”Nhưng nếu có ai mới sang mà ăn mặc coi bộ tuơm tất, hay có tiền để sắm cái xe mới, liền bị kê ngay một câu: “H.O. mà cũng học làm sang!” Nghề nails đôi lúc cũng bị ganh ghét, không ganh ghét sao được khi người ta học ròng rã sáu năm, ra trường tiền thu vào không bằng nghề nails học sáu tháng. Cũng có hạng  người mà thành ngữ Việt Nam đã mô tả là “trâu cột ghét trâu ăn”, thấy bạn bè ăn nên làm ra thì đem lòng ganh ty, thù oán, nói xấu sau lưng. Trên thế giới này, không có ai giàu có nhờ nhặt của rơi ngoài đường, nhưng gầy dựng được cơ nghiệp, sự giàu có đều do cần kiệm hay vất vả cộng thêm với sự khôn ngoan, thông minh tạo thành mà không phải ai cũng bắt chước được.

Ông Bá Dương trong cuốn “Người Tung Quốc Xấu Xí” có kể chuyện một người ở gần một ngôi nhà hàng xóm lớn đẹp hơn, được mời cũng không them sang chơi, thậm chí cũng không muốn làm thân, chào hỏi. Sau đó khi ngôi nhà của ông xây lại, lớn hơn ngôi nhà kia, thì ông lại tỏ thái độ thân thiện vồn vã. Trước kia là vì lòng ganh ty, về sau là vì lòng tự mãn, trịch thượng. Trong những trường hợp càng giống nhau, lòng ganh ty lại càng cao, như trong danh từ Hán Việt “trí thức khinh nhau” (Văn nhân tương khinh), “cùng nghề ghen nhau” (Đồng hành tương kỵ),”Cùng tính thì khích bác nhau” (Đồng tính tương xích). Như vậy hai ông nhà thơ thế nào cũng chê nhau, hai cô ca sĩ có khi nào ưa nhau, đến như ông hay “ba hoa” thì lại ghét ông thích “chích choè”. Ông Bá Dương cũng đưa ra một ví dụ: “Tôi đến thăm anh, thấy anh nhà cao cửa rộng, học vấn uyên bác. Trên đường về, đáng lẽ tôi nghĩ phải cố gắng, phấn đấu, làm việc, học hành để có thể được như anh.

Đằng này lúc ra khỏi nhà anh, tôi lại bảo: Ở nhà đẹp thế! Không biết ăn cắp hay ăn cướp ở đâu ra lắm tiền! Cầu trời ngày mai có đám cháy thiêu trụi cái nhà nó đi cho rồi!”

Con gà “tức nhau tiếng gáy” thì cố gắng gáy cho lớn hơn, nhưng con người tức nhau tiếng gáy thì tìm đủ mọi cách để triệt hạ người hơn mình. Sự ganh ghét rất phổ biến, đến nổi Tạo Hoá cũng đem lòng ganh ghét với mỹ nhân “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen (Kiều). Khi sự ganh ghét đến với chúng ta như đám mây làm mờ trí tuệ và con tim thì trở thành chai đá (Bourdalou).

Nhà thơ Trần Tế Xương được chúng ta hâm mộ đến thế, nhưng tôi nhận thấy ông không dấu nỗi lòng ganh tỵ với những người giàu sang hơn mình phải chăng vì ông quá nghèo túng (một tuồng rách rưới con như bố):

“Công đức tu hành, Sư có lọng

Xu hào rủng rỉnh, Mán ngồi xe”. và tệ hơn nữa: “Đen thủi đen thui cũng lượt là”.

Trong cái chua chát đắng cay, đôi khi chúng ta thấy ông đi quá xa. Không lẽ phương tiện di chuyển hay y phục sang trọng chỉ dành cho đồng bào Kinh hay với những con người lịch sự, đẹp đẽ? Đồng bào Thượng du khó nhọc làm ăn lúc có tiền cũng có thể hưởng chút tiện nghi như người miền xuôi, không lẽ cứ phải đóng khố đi bộ suốt đời hay sao. Cũng không có lẽ “đen thủi đen thui” thì không được ăn mặc tươm tất, đẹp đẽ như người khác. Ông Trần Tế Xương mà sống đến thời này thì bà Michelle Obama thế nào cũng hỏi tội ông vì cái tội ví von, ám chỉ đầy kỳ thị này.

Ông “Cách Mạng” 75 khi chiếm miền Nam xong cũng đầy lòng ganh tỵ. Sao dân miền Nam bị áp bức, Saigon bị nô lệ mà nhà cao cửa rộng, sống sung sướng như thế. Trước hết ông tư bản phải cống hiến hết tài sản, dắt díu nhau mà đi “kinh tế mới”, đến người dân dành dụm chút tư hữu, thì Cộng Sản đánh sụm bằng lối đổi tiền “ăn cướp”: 500 đồng bạc Nam lấy 1 đồng bạc Bắc. Hạnh phúc cho ai tìm thấy được một người giỏi giang hơn mình để học hỏi và gọi họ bằng thầy, chứ không phải đem lòng ganh tỵ vì người ta tài giỏi hơn mình. Kẻ có thực tâm mừng cho sự thành công hay sự giàu có của bạn mình mới là người có đạo đức. Biết vậy, nhưng là một con người tầm thường, đôi khi tôi cũng đem lòng ganh tỵ với những người chung quanh khi thấy người ta giàu có hơn mình, thành công hơn mình, danh tiếng hơn mình, may mắn hơn mình, vì không ai bằng lòng với số phận của mình cả. Nhưng nghĩ lại, biết đâu người láng giềng cạnh tôi cũng đang để tâm ganh ty với tôi về những điều mà hiện nay họ không được may mắn như tôi. Vấn đề là chúng ta có kềm chế được hậu quả của lòng ganh tỵ hay không và để lòng ganh tị ấy kéo chúng ta đi đến đâu. Những người may mắn được làm chủ một cái xe hơi đắt tiền làm gì nên tội, nhưng những kẻ có dã tâm, cầm trong tay’cái chìa khoá để rạch nát lên thân xe người khác, là người mang tâm hồn đen tối, ganh ty của một con thú điên cuồng.