Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 3 May 2026

Khu Tân Định có đường Trần Tấn Phát, đó là con hẻm nối hai đường Hiền Vương và Phan Thanh Giản. Giữa hai dãy nhà dân cư thấp, vụt nổi lên một building cao gần chục tầng, chứa đầy dân kinh tế mới. Họ là những người bị cưỡng bách hoặc do sự vận động của chính quyền cộng sản lên cao nguyên hoặc vùng rừng núi khai phá trồng trọt sinh sống, nhưng vì không biết nghề làm rẫy, vì đất đai thiếu nước, khô cằn, vì không được hướng dẫn, giúp đỡ, họ hoàn toàn thất bại nên lại kéo nhau về thành phố. Building nầy trước thuộc một tay tư bản xây cho người Đại Hàn, Mỹ, Phi Luật Tân mướn trong thời còn chiến tranh. Sau bảy lăm y bỏ chạy ra nước ngoài, dân kinh tế mới kéo vào chiếm ngụ. Phòng nào cũng đều trống rỗng, cửa nẻo bị gỡ đem bán hoặc làm củi nấu, cả đến cái bàn ngồi cầu tiêu cũng bị gỡ đem ra chợ trời, chỉ mấy sợi dây điện luồn trong tường bê tông là còn. Dù sao đối với họ, có chỗ ngủ mà không bị mưa nắng là quá tốt rồi. Nhưng đùng một cái, công an quận ba xuống lùa tất cả ra khỏi building, để sửa sang lại cho ngoại kiều, việt kiều mướn. Thế là họ phải ra ngủ lề đường.

Trước ngày tôi đẩy xe bánh mì thịt nguội ra bán ở góc đường Phan Thanh Giản, Duy Tân, cái xã hội đầu đường xó chợ đó đã thành hình từ lâu. Một buổi sáng, tôi đang lui cui xắt thịt, chả, bán cho khách thì có một đứa đến đứng bên cạnh, nó mặc áo lính cũ, quần đùi, tóc cắt ngắn. Vì bận khách, tôi không để ý, tưởng nó chờ đến lượt mình, đến khi có hai chị đàn bà bảo:

– Cho hai ổ bánh mì ba tê chả.

Tôi cảm thấy áo sau lưng bị giật mạnh, rồi giật tiếp vài cái nữa. Tôi sinh nghi bèn nói:

– Hai ổ một nghìn đồng, tiền đâu?

– Bộ ông tưởng tôi không có tiền à?

– Tiền trao cháo múc chị ơi, ai cũng phải trả tiền trước tôi mới bán.

Chị đàn bà trở mặt:

– Đ.m. khi người hả, tao đéo thèm mua nữa!

Thế là chị ta bỏ đi. Khi hết khách, tôi quay lại thấy nó đứng lơ đảng nhìn lên trời, tay vòng trước ngực:

– Mầy mua bánh mì?

– Tiền đâu mua?

– Khỏi tiền, mầy báo động lúc nãy, tao khỏi mất hai ổ bánh, bây giờ cho mầy một ổ.

– Còn lâu ông mới khỏi mất hai ổ. Nhiều hơn nữa đó cha nội. Ông tưởng nó ôm bánh của ông nó chạy có.

Nó đòi thêm tiền nữa. Lúc nãy nó đứng dòm vô hộc tiền, nó đã thấy mấy tờ năm nghìn của ông. Bán cho nó xong, nó bảo đã đưa tờ năm nghìn cho ông rồi, ông phải thối cho nó bốn nghìn, có con em nó đứng bên cạnh làm chứng, ông không đưa tiền, chị em nó xúm lại dợt cho ông một tăng, xe bánh mì của tiêu tùng mà ông còn bị phù mỏ nữa đó. Nghề của tụi nó mà!

– Được rồi, cám ơn, bây giờ tao hỏi mầy hai câu. Mày muốn mấy ổ đây? Và mầy là con gái hay con trai?

– Con gái, ông hỏi chi dzậy? Định thả dê hả?

– Không đâu, thấy mầy giống con trai tao hỏi chơi thôi.

– Xạo hoài, bộ ông không thấy ngực tôi bự sao? Nó đè tay lên áo, phía dưới ngực nên phần trên nổi rõ lên.

– Thấy rồi, hiểu rồi. Vậy chứ bây giờ mầy muốn mấy ổ đây?

Nó cười đưa cái răng khểnh ra: Một ổ đủ rồi!

Chỉ khi nó cười mới thấy một chút duyên con gái, còn thì mặt mũi nó tầm thường, lại có vẻ dữ tợn nữa. Da ngăm đen, mắt xếch, lông mày rậm. Tôi làm cho nó một ổ bánh mì, nó ngồi xuống ghế ăn ngon lành, có vẻ đói bụng. Ăn được nửa ổ, nó đòi ít ớt, rồi gói lại cầm trên tay.

– Sao không ăn hết đi? Coi bộ mầy đói lắm mà!

– Để cho mẹ tôi

– Mầy có hiếu dữ. Cứ ăn hết, tao cho ổ khác

– Thiệt không đó? Ông cho chứ tôi không mắc nợ ông à!

Rồi nó lên giọng đạo đức:

– Ăn nhiều, ông lỗ vốn tội nghiệp.

Thế rồi cứ vài hôm nó lại ra xin bánh mì ăn. Tôi thường giữ lại những ổ bánh ế ngày hôm trước, chờ nó ra, tôi nướng lại thật giòn, thêm chút thịt thà vào, nó chỉ cần thế để được no bụng. Sự quen biết giữa tôi với nó có thân mật hơn và tôi biết nó cố ăn nói cho đàng hoàng nhưng đôi lúc vẫn bộc lộ bản chất tự nhiên trong xã hội của nó. Có lần tôi hỏi:

– Mầy tên gì?

– Tư Xập Xả

– Trời đất, tên gì kì cục vậy? Tao chưa hề nghe tên đó bao giờ

– Mấy thằng cô hồn chọc tôi không được, chúng nói tôi đánh xập xả với mấy con kia.

– Mầy cặp một thằng bồ thì chúng hết gọi ngay.

– Thôi đi ông ơi, bọn con trai bây giờ lưu manh lắm, nó chơi cho nát nước còn đi nói tùm lum tà la. Mẹ tôi dặn đứa nào ưa phải cưới hỏi đàng hoàng. Bậy bạ, mẹ tôi buồn tội nghiệp.

– Nghe mầy nói, tao tưởng mầy còn dzin lắm.

– Chứ sao!

– Tao khó tin quá, kiểu nằm ngoài đường, mầy ngủ say là coi như ngon ăn với tụi nó.

Nó vênh mặt lên:

– Bộ ông tưởng tôi xạo chắc. Ông dám mò tôi không? Mẹ tôi chém cho bay đầu. Mấy đứa lãnh sẹo rồi đó. Mẹ tôi tỉnh ngủ lắm.

– Giữ làm gì cho mệt mầy ơi! kiểu đó xưa rồi. Chữ trinh bây giờ không đáng giá ngàn vàng nữa đâu.

– Ngàn vàng là gì? Mấy chỉ đó cha nội. Bộ ông muốn dụ dỗ tôi phải không?

– Xin lỗi, tao không có ý đó đâu. Mẹ mầy làm gì?

– Bán vé số, mà mắt bả yếu quá, cứ thối lộn tiền hoài, có bữa thâm vốn. Lối rày bịnh nặng thêm, nghỉ bán rồi.

– Còn mày làm gì mà cả ngày cứ thấy đi lờ xờ hoài?

– Dắt mối.

– Tức là giới thiệu em út cho người ta chứ gì? Chỗ nào, chỉ cho tao với.

– Ông muốn chơi bời hả? Tối nay ra ngã ba Sung Sướng là có tôi. Nhưng bịnh hoạn ông ráng chịu nghe!

Tụi nó coi mặt mũi ngon lành chứ ghê lắm …

– Tao giỡn chơi thôi. Mà ngả ba Sung Sướng là chỗ nào?

– Ngây thơ hoài! Góc Lê Văn Duyệt, Hồng Thập Tự đó. Tối nào em út cũng đứng đầy … Có tôi ngoài đó, ông lo gì!

Nhờ những buổi nói chuyện lẩm cẩm như thế, tôi hầu như hiểu rõ xã hội bị hất hủi đó, biết được những gia đình với những nhân vật có những tên kỳ quái, những cuộc đời thăng trầm và những cách thức sinh sống không ngờ được. Bẳng một thời gian, độ mấy tháng tôi không gặp con nhỏ đó nữa. Một buổi sáng lại thấy nó lò dò ra ngồi, tóc tai rũ rượi:

– Cho một ổ bánh ăn đi, đói bụng quá rồi

– Bánh chùa hay trả tiền?

– Bộ không thấy tôi như cái mền rách sao còn đòi tiền cha nội!

– Hỏi chơi thôi. Mấy lâu nay mầy đi đâu mà tao không gặp?

– Đi nghỉ mát Đà lạt với mấy con bạn. Ông có nhớ tôi không? Tôi thì mỗi khi đói bụng lại nhớ ông.

– Người ta để tình yêu ở quả tim còn mầy thì để ở bao tử! Nói mẹ ra là nhớ bánh mì của tao cho rồi. Đi chơi có vui không, phí tổn ai chịu?

– Nhà nước lo, ngủ hô teo, ăn thịt cọp.

– Giỡn chơi mầy? Thịt cọp đâu trên Đa lạt mà ăn?

– Ông nầy ngu thấy mẹ. Là ở tù đó cha nội, ăn muối đâm cộp cộp

– Nhưng tại sao mầy bị bắt?

Nó nhìn tôi vừa thương hại vừa giận dữ

– Chiến dịch thì nó bắt, chạy không kịp thì nó bắt. Khi nào nó bắt ông, ông sẽ biết. Cho ông nếm mùi Đalạt trăng mờ. Tôi trốn trại được chứ không cũng mút chỉ trong đó.

– Ừ tao cũng từng ở tù nhưng không giác ngộ cách mạng bằng mầy. Bây giờ mầy định làm gì? Tiếp tục sự nghiệp dắt mối của mầy chắc?

– Nó đang chiến dịch, rầu thấy mẹ. Thò mặt ra là nó hốt liền.

– Buôn bán gì sinh sống đi mầy ơi. Làm nghề đó không ổn đâu.

– Vốn đâu?

– Thì nghề ít vốn như bán vé số, thuốc lá hay trái cây gì đó. Chút chút thì tao có thể phụ với mầy được.

– Thiệt không? Cho tôi mượn khó đòi lắm đó. Hay ông muốn cảm tình với tôi để lợi dụng gì đây? Tôi nói

trước, ông muốn làm gì tôi cũng cho, rờ rẩm cũng được. nhưng ngủ với tôi không được đâu. Có thương ông bao nhiêu tôi cũng không cho ông. Tôi để dành …

– Tao biết rồi, để chờ ngày lên xe hoa chứ gì? Có mầy hay tao thì đừng nên nghĩ đến ba thứ xa xỉ đó. Mà tao nói vậy vì thấy mầy cũng khổ như tao, nên muốn giúp mầy vậy thôi chứ âm mưu gì. Ba vụ đó tao tu rồi. mầy sao đa nghi quá! Thế là nó mua một cái xe đẩy, giống như cái thùng hình khối chữ nhật, có bánh xe hai bên, phía sau thêm một bánh xe nhỏ nữa. Trên xe để các loại trái cây đã làm sạch vỏ. Những múi mít vàng ửng thơm lừng, những múi bưởi mọng nước bên cạnh tô muối ớt đỏ rực, những trái sa bô chê, đào, mận, ổi dầm … nhìn thấy phát thèm. Nó đẩy xe vòng vòng các chợ, trường học, xóm lao động, các khu dân cư. Mỗi buổi sáng, nó đẩy xe ngang chỗ tôi bán, ghé vào tặng tôi trái ổi hay múi mít. Khi nào tôi vắng khách thì nó nấn ná trò chuyện, xong đập vai tôi một cái rồi đi. Người ta thường nói hạnh phúc hay không là tự mình. Tôi nghiệm thấy rõ rệt ở con nhỏ nầy. Thoát được nghề dắt mối bấp bênh và đầy bất trắc nó đã sung sướng lắm rồi. Mẹ nó đêm qua ngủ yên giấc hoặc hôm nào bán đắt hàng, mua được chút quà cho mẹ … thế là nó tươi cười, ra khoe với tôi. Những lúc đó nó có vẻ tự  tin và thương yêu tất cả mọi người, yêu cả những kẻ đã đẩy gia đình nó xuống tận cùng của khốn khổ. Nó ước ao:

– Tôi sẽ cố dành dụm để mua chiếc xe ba gác đạp. Đẩy xe nầy hoài muốn sụm giò. Tết nầy có xe là tôi đạp đi bỏ mối dưa hấu.

– Mầy để dành được bao nhiêu rồi?

Nó nhe răng ra cười:

– Được xu teng nào đâu. Không đủ tiền thuốc cho bà già, hể bả rên rỉ, lăn lộn là phải tốn tiền cho ông y tá

chích cho mũi thuốc.

– Bả bịnh gì vậy?

– Tôi đâu biết! Nghe ông y tá nói có cục sạn trong gan, trong thận gì đó, phải mổ mới lành. Cả mấy năm nay mà đâu có tiền. Không mổ, cục sạn lớn là chết. Hễ bà già rên là tôi chịu không được. Mà có cách nào cho tôi đau thế cho bả được đâu!

– Phải tìm cách đưa bà già vô bịnh viện, bác sĩ mổ là hết bịnh ngay.

Chỉ còn độ một tháng nữa là đến Tết, công an lại mở chiến dịch dẹp lòng lề đường. Bàn vé số, tủ thuốc lá, xe bánh mì, thùng đồ nghề sửa xe đạp … công an đến nếu không chạy kịp sẽ bị hốt về phường. Tôi chán quá, cũng dẹp luôn, chả buôn bán gì. Kể ra độc thân cũng khỏe, ở nhờ nhà người bạn, ăn uống sơ sài không tốn kém bao nhiêu, ngày ngày ra quán cà phê nhìn thiên hạ qua lại, nghĩ cách làm ăn khác. Cho đến một buổi tối, con nhỏ bỗng lại nhà tìm tôi. Nó kéo tôi ra chỗ vắng:

– Ông đến mẹ tôi nói gì với ông đó.

Tôi lấy xe đạp đèo nó phía sau:

– Có chuyện gì vậy? Tao đâu biết mẹ mầy là ai mà gọi tao giờ nầy?

– Tôi không biết, mẹ tôi biểu tìm ông.

– Hay là mầy nói gì về tao, bà ấy tưởng tao chọc ghẹo gì mầy … A, vụ nầy không được đâu, có khi mầy cặp đứa nào, có bầu, mầy đổ cho tao, bả kêu tao tới lãnh chứ gì.

Nó đập vào lưng tôi thật mạnh:

– Ông nầy cà chớn, tôi không giỡn đâu nghe!

– Vậy chứ chuyện gì? Tự nhiên bắt tao chở mầy đi khơi khơi, mệt thấy mẹ. Mà mầy phải ôm eo tao. Mày làm như con nhà lành, mắc cỡ, ngồi xa tao phía sau, xe nó đảo, đi sao đặng!

– Tôi vật lộn với mấy thằng con trai hoài, đâu thấy gì. Không biết sao, gặp ông tôi run quá. Đứng xuống, để tôi chở ông cho. Thấy ông đạp tôi phát mệt.

Chúng tôi đổi chỗ cho nhau, lần nầy đến lượt tôi không biết vịn hai tay chỗ nào để giữ cho người được vững mà không chạm vào người nó. Gió thổi ngược, mùi tóc và mùi thơm con gái phả vào mũi tôi hương vị nồng và ngọt ngào khiến tôi ngây ngất, nhưng thực sự, tự lương tâm tôi, không có một ý nghĩ vẩn đục gì với nó. Đời tôi gian nan và đau khổ quá nhiều. Tôi đã chiêm nghiệm và rút ra được một cách sống là vượt qua tất cả, vượt qua cả những ham muốn dù nhỏ bé nhất. Đối với nó tôi có được niềm vui và chút hãnh diện đã giúp đỡ nó có một cuộc sống khá hơn. Lòng biết ơn và cả sự tin cậy, an tâm của nó đối với tôi chính là hạnh phúc của tôi, tôi không muốn đánh mất. Lúc đến nơi, nó dặn tôi:

– Mẹ tôi có nói gì đó giữa ông và tôi thì ông đừng chịu nghe! Ông mà bằng lòng tôi giận ông lắm đó

Chỗ ở của hai mẹ con chỉ là cái mùng vải che muỗi giăng trước hiên nhà người ta. Lúc đó đã hơn mười giờ, người mẹ nghe con gái gọi, vội ngồi dậy vén mùng. Trong ánh đèn đường yếu ớt, tôi chỉ thấy lờ mờ một người đàn bà ốm yếu nhưng gương mặt còn phảng phất những nét thanh tú, hiền lành. Tôi ngồi ghé bên mép chiếu. Sau vài câu xã giao, bà ta ngỏ ý xin lỗi nếu có tò mò hỏi về đời tư của tôi. Tôi vui vẻ trả lời:

– Không sao đâu dì ơi! Tôi kê khai gia phả tôi cũng vài chục lần với công an rồi, nên tôi thuộc như cháo!

Trò chuyện một lát, bà bảo con gái:

– Con ra mua cho anh con ly nước mía và điếu thuốc. Đi lâu lâu cho mẹ nói chuyện.

Khi đứa con gái đi rồi, bà ta than thở về bịnh hoạn và hoàn cảnh của mình:

– Ngồi đây cậu thấy tiệm phở có hình con gà đằng kia, sát bên cạnh là nhà của tôi, cái nhà hai tầng đó, bây giờ cán bộ đang ở tầng trên và cho người ta thuê mở tiệm cà phê ở tầng trệt. Năm 75 cách mạng vô tịch thu hết, mà gia đình tôi đâu có làm gì nên tội, bán chạp phô mà cũng bị đánh tư sản. Họ bắt tụi tôi đi kinh tế mới, chỉ được đem theo vài bộ áo quần. Họ đưa vô nông trường Long Giao nhưng tuốt trong rừng sâu, hơn một ngày đường đi bộ mới ra tới lộ. Được hơn một năm ba nó bị sốt rét chết. Chẳng biết khi nào chúng tôi mới lên lại đó thăm mộ ba nó?!

Bà ta cố nén xúc động bằng cách loay hoay tìm cái khăn:

– Vợ chồng tôi chỉ sinh được có con Ngọc, tính tình nó giống con trai nhưng tôi cũng được chút an ủi là nó rất thương mẹ … Tôi bây giờ chẳng thiết sống nữa, chỉ lo cho nó không nơi nương tựa. Bà lấy khăn sụyt mũi, có lẽ định nói gì đó nhưng còn đang lựa lời: “Tôi nói có điều gì không vừa lòng xin cậu bỏ quá cho. Sinh nó ra tôi đâu có ngờ đời nó khổ sở như thế nầy. Hơn mười tuổi đầu đã phải bương chải kiếm sống. Mấy năm nay tôi lại bị bịnh, nó càng khổ thêm. Tháng trước đến bịnh viện, họ bảo sạn mật đã lớn lắm rồi, phải mổ ngay, nhưng tiền đâu?! Vậy mà nó đòi đi lấy mấy chỉ vàng về cho tôi chữa bịnh ..

Tôi ngạc nhiên:

– Ai cho mượn mà tử tế quá vậy?

– Ai mà cho mượn, nó đòi đi bán trinh đó cậu ơi.

– Trời đất!… Vậy dì tính sao?

– Tôi nói với nó: “Con đem tiền về chữa cho mẹ khỏi bịnh, nhưng mẹ sống mà thấy con như vậy thà mẹ chết còn hơn vì rủi bịnh hoạn con còn chết sớm hơn mẹ nữa, chi bằng bây giờ con nói thật với mẹ con thương ai, nếu là người tử tế thì con về sống với người ta, trinh tiết của con là của hồi môn quí giá nhất, chồng con sẽ thương yêu con và con sẽ được hạnh phúc.” Nó nói “Con chỉ thương mẹ thôi, vì chẳng ai chịu cưu mang mẹ con mình đâu, con sẽ sống với mẹ cho đến khi mẹ chết con mới tính sau”. Tôi biết tính nó ngay thật lắm, tuy không nói ra, nhưng thường ngày nó nhắc đến cậu luôn. Hơn tuần nay cậu nghỉ bán, nó chạy hỏi quanh, lại thêm hôm kia bị hốt xe trái cây, nó về cứ ngồi khóc hoài. Tôi hỏi thiệt, cậu có thương nó không, thương hại cũng được, miễn sao sau khi tôi nhắm mắt, cậu săn sóc, đùm bọc nó. Tôi cũng có bà con thân thuộc, nhưng kể từ ngày tôi sa cơ thất thế, chẳng ai thèm hỏi thăm một tiếng, thấy tôi là họ tránh mặt … Đời đen bạc lắm cậu ơi! Hay là cậu cứ hứa đi, rồi cậu tính sau.

Tôi ngồi lặng thinh. Thật khó giải quyết, thân tôi lo chưa xong, bây giờ lại đèo thêm con nhỏ nầy, nhà cửa đâu, tiền bạc đâu?! Vừa lúc đó nó vào:

– Ông nói gì cho mẹ tôi khóc đó?

Bà ta dịu dàng với con gái:

– Anh con đâu nói gì, chỉ có mẹ nói thôi, mẹ nói về chuyện của con.

– Chuyện của con là chuyện gì?

– Thì chuyện bịnh hoạn của me ..

– Mẹ nói cả chuyện con lên Chợ Lớn nữa à? Bộ mẹ điên rồi hả, đem chuyện nhà cho người ta nghe!

Tôi muốn nói chen vào nhưng không lẽ trước mặt người đàn bà nầy lại xưng mầy tao với nó. Sau cùng tôi quyết định:

– Mẹ cô muốn cô lập gia đình nhưng không biết cô thương ai …

– Bộ ông tưởng tôi thương ông có?! Mẹ tôi có chết tôi cũng không lấy ông đâu, ông đừng hòng mà bàn ra cho mẹ tôi không chịu đi chữa bịnh.

Người đàn bà vẫn dịu dàng:

– Sao con gây với anh con!

– Mẹ ơi, con đã nói với mẹ nhiều lần rồi, mẹ phải chữa cho lành bịnh. Con không thương ai hết, chỉ thương mẹ thôi. Con đã quyết định từ lâu rồi, con giữ gìn thân con bao năm nay là để dành cho mẹ. Bây giờ mẹ không nghe, mẹ chịu chết, con cũng phải bán thân con để làm đám ma cho mẹ mà. Dù bó chiếc chiếu cũng phải tốn cho bao nhiêu thứ khác, từ cây nhang cho đến cái huyệt mả … Con không lấy chồng, không thương ai hết. Nó nấc lên rồi vùng bỏ chạy vào bóng tối. Tôi nghe tiếng sụt sịt, có lẽ bà ta cũng khóc nhưng cố nén lại.

– Nó nói cũng phải đó dì. Dì phải chữa bịnh để sống với nó. Bịnh của dì chỉ mổ là hết ngay. Được một đứa con hiếu thảo như nó hạnh phúc hơn bao nhiêu người khác, giàu có mà con cái chẳng ra gì. Tôi không dám hứa chắc với dì, nhưng sau nầy nếu nó lẻ loi, tôi sẽ lo lắng cho nó như đứa em gái. Bây giờ dì uống ly nước mía rồi nằm nghỉ, để tôi ra hỏi xem nó nghĩ gì.

Tôi đứng dậy dắt xe ra đường Duy Tân. Đường quá tối nhưng tôi cũng nhận ra được nó ngồi trên hiên nhà, hai tay ôm lấy đầu. Tôi dựng xe, ngồi xuống bên cạnh:

– Tôi đã nói với bà già, chịu đi chữa bịnh rồi vì tôi có hứa sẽ săn sóc cho cô bé, nhưng sau nầy kia, chứ bây giờ tôi dự định lên rừng đốn củi, làm rẫy với tụi bạn, chưa ổn định gì cả.

Con nhỏ yên lặng một lúc lâu, rồi thở dài:

– Nhưng, … thành con gái hư rồi! Chẳng ai thèm thương nữa! Rồi thấm ý, nó khóc rấm rức.

– Đừng lo cô bé. Chỉ cần tấm lòng chân thật, chung thủy mới đáng quí, chứ trinh tiết, như cô bé thấy đó, mấy chỉ vàng là cùng.

– Nhưng thấy mấy con nhỏ kia bị bịnh … sợ quá!

Nghe nói có bịnh gì không thuốc chữa, lúc đó … chắc tự tử chớ không dám gặp ai.

– Một lần hi vọng không sao. Dù sao cũng cầu Trời khẩn Phật rồi phó thác cho may rủi … Bây giờ tôi về, vô “nhà”, kẻo mẹ trông. Tôi dợm đứng lên, nó kéo áo tôi lại:

– Khi nào đi, có ghé nữa không?

– Có chứ, sáng mai tôi lại đây, bàn giao xe bánh mì cho cô bé, khi nào hết chiến dịch thì đẩy ra bán. Độ tuần sau tôi đi rồi. Tôi lại dợm đứng lên, nó lại kéo áo tôi ngồi xuống. Yên lặng một lúc thật lâu nó mới ngập ngừng, thì thầm như nói cho chính nó nghe:

– Có thương em thiệt không?

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 May 2026

Văn chương, âm nhạc Việt Nam đã bao nhiêu lần nói đến hình ảnh một cô láng giềng xinh đẹp, Hoàng Quý thì:”năm xưa khi tôi bước chân ra đi. Đôi ta cùng đứng bên hàng Tường Vi. Em nói rằng em sẽ chờ đợi tôi”.

Nguyễn Bính cũng đã thầm yêu cô bé hàng xóm:”Mắt nàng đăm đắm trông lên. Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi! Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi, Tôi buồn tự hỏi: hay tôi yêu nàng? “Trong chúng ta, ngày xưa ấy, ai đã có một cô nàng hàng xóm xinh đẹp để mơ mộng đem lòng yêu thương, hay chẳng may hôm nay, ở cạnh một nhà hàng xóm có thằng cha hung bạo hay con chó dữ. Thực tế không hoàn toàn đẹp đẽ như thế để giữa hai nhà có một “cái dậu mùng tơi xanh rờn”, mà không có gì khổ tâm bằng mua nhà xong, dọn tới mới thấy mình đang phải ở gần một nhà hàng xóm bất như ý.

Tôi cho rằng người láng giềng thật quan trọng hơn cả anh em, họ hàng, ruột thịt. Bà con, bạn bè có vui vẻ, tử tế thì cũng ở xa, nhưng ngay trước mặt nhà là anh hàng xóm, buổi sáng mở cửa ra là đã thấy mặt. Mối giao hảo này rất quan trọng, đến nổi xưa kia, ông bà chúng ta đã khuyên “bỏ bà con xa, mua láng giềng gần”, vì khi tối lửa tắt đèn, lúc đau ốm, hoạn nạn người láng giềng ở cạnh chúng ta quan trọng hơn là máu mủ, ruột thịt nhưng ở xa. Nhà bên nhà có cây cam lã ngọn sang mình, mùa có trái cũng xin tuỳ nghi xử dụng, giao tình, khi có mớ rau, nải chuối ngon cũng sai con đem sang biếu ông bạn láng giềng. Còn lại những lúc gia đình có chuyện cưới hỏi, kỵ giỗ cũng mời láng giềng sang dùng chén rượu, đi lại, qua về thân thiết. Bạn thử tưởng tượng ngày xưa ở Việt Nam, nếu chăng may chúng ta ở gần nhà một anh chàng làm nghề gò thùng thiếc, cứ suốt ngày nghe tiếng gõ cũng đủ điên cái đầu, hay dọn về ở gần lò sát sinh, cứ mỗi sáng lại nghe tiếng heo bị chọc tiết. Cũng có khi dọn nhà gần ông hàng xóm rượu chè say sưa chửi vợ đánh con, hay có lũ nhóc mở nhạc hết cỡ tối ngày. Cũng có bà hàng xóm thường hay ghé mũi vào chuyện nhà người khác, nhòm ngó vào cả cái giỏ đi chợ của mình, hay ngồi lê đôi mách, đem chuyện nhà này lết đến nói chuyện với nhà nọ. Cũng có nhà hàng xóm chuyên đem rác nhà mình đổ vào thùng rác nhà bên cạnh hay có con chó nhà bên cạnh tưởng sân nhà mình là chỗ vệ sinh. Đó là chưa nói đến gương xấu hàng xóm còn ảnh hưởng đến việc giáo dục cho con trẻ nhà mình như chuyện mẹ thẩy Mạnh Tử dọn nhà:

“Thầy Mạnh Tử, thuở nhỏ nhà ở gần nghĩa địa, thấy người đào, chôn, lăn khóc, về nhà cũng bắt chước. Bà mẹ thấy thế nói:

– Chỗ này không phải chỗ con ta ở được. Rồi dọn nhà ra gần chợ.

Thầy Mạnh Tử ở gần chợ, thấy người buôn bán điên đảo, về nhà cũng bắt chước nô nghịch buôn bán điên đảo. Bà mẹ liền dọn nhà đến ở cạnh trường học. Thầy Mạnh Tử ở gần trường học, thấy con trẻ đua nhau học tập lễ phép, cắp sách vở, về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép, cắp sách vở. Bấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói

– Chỗ này là chỗ con ta ở được đây!”

Thuê nhà thì còn dễ, lỡ mua nhà rồi, làm sao có thể ngày một ngày hai dọn đi khỏi nơi ấy. Nước Mỹ có một anh hàng xóm rất kỳ cục. Đồng ý là cái nước Mễ bên cạnh đã cung cấp hàng triệu lao động chân tay cho người Mỹ đỡ phải cắt cỏ, rửa chén bát hay trộn hồ xây nhà, nhưng nhịp độ vượt biên giới sang Mỹ của anh hàng xóm này khiến ai cũng phải sốt ruột. Nếu không có biện pháp “phòng thủ” thì rồi đây vùng đất này sẽ bị Mễ tràn ngập, vì trước năm 2000, mỗi năm có khoảng 1.6 triệu người nhảy rào vào đến Mỹ bất hợp pháp, trong đó 90% là Mễ. Năm nay để giữ nhà, Mỹ đã gửi 1,200 quân đến vùng biên giới Mỹ-Mễ Tây Cơ để ngăn chận di dân nhưng cũng để ngăn chận cả ma tuý xâm nhập và cũng yêu cầu có thêm 500 triệu đô la cho việc bảo vệ biên giới và dành cho các hoạt động của cảnh sát. Anh chàng hàng xóm này lại tự cho mình có quyền nhảy rào sang nhà hàng xóm, nên khi hàng xóm xây lại hàng rào hay nuôi chó giữ nhà đã lớn tiếng phản đối. Ở gần anh hàng xóm như loại này quả là phiền toái, khi hàng xóm không những luôn luôn có ý định nhảy rào, lại còn đào hầm dưới đất, sẵn sàng tuồn qua nhà mình những thứ hàng cấm như vũ khí, bạch phiến.

Hàn Quốc thì gặp phải thằng anh em vừa ruột thịt vừa hàng xóm, nhà ở sát vách. Người anh em này vốn chây lười, nghèo kiết xác nhưng lại không lo làm ăn, theo làng dao búa, thích đâm chém, thường ăn vạ theo kiểu Chí Phèo. Những năm mất mùa đói rách thường mang rá đi xin gạo, anh em cứu giúp bao nhiêu cũng không đủ, nhưng hễ bất bình, lại cầm dao lớn tiếng doạ giết người, làng trên xóm dưới, ai cũng kiềng mặt.

“Thứ nhất sợ kẻ yêng hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân.” Có một anh chàng hàng xóm như thế, quả là đau khổ. Trường hợp phải ở cạnh nhà một anh chàng vừa hung hãn, tham lam, lại gian hùng thì bạn nghĩ sao.

Nếu chúng ta không đủ sức để đối phó, đương đầu lại thì phải làm ngơ, giả câm giả điếc, chịu lép vế, giả lả, mỗi lúc gặp gỡ cũng cười cầu tài cho qua chuyện. Bạn đã bao giờ sống gần một anh hàng xóm chờ khi bất kỳ sơ ý, thường xê dịch cái hàng rào giữa hai nhà để lấn thêm vài phân đất, đổ rác rưởi hay nước bẩn qua vườn nhà mình. Tuy thường khi gặp nhau, y cũng nói đến mối tình láng giềng, khi tối lửa tắt đèn có nhau, dặn dò canh trộm cướp cho nhau, nhưng chính y lại là kẻ vừa ngang nhiên ăn cướp, vừa phòng khi ta không đề phòng mà trổ tài trộm đạo. Những trò tiểu xảo, gian hùng đã có từ trong máu huyết của anh hàng xóm này từ nghìn xưa, nên điều gì có lợi thì hắn làm, sống chết mặc ai, mà bề ngoài, miệng luôn luôn nói điều nhân nghĩa. Y cho vay cắt cổ, nhân danh tình bằng hữu lân lý, đưa láng giềng vào chỗ mang ơn khó trả. Do vậy, y thao túng thế nào láng giềng cũng phải cúi đầu chịu nhục, thậm chí nay mai y muốn chiếm nhà, đoạt con gái người ta cũng không thể nào dám đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình.

Anh hàng xóm này chính là tên Hán gian mưu mô, hung hãn đang ở bên nách nước Việt, mà mỗi lúc y giở trò, lối xóm của y không làm sao đỡ nổi hậu quả nặng nghìn cân. Những trò tiểu xảo ốc bưu vàng, thịt tiểu hổ, móng trâu … làm cho nông nghiệp nước Việt điêu đứng cũng chỉ là chuyện nhỏ, những chuyện ngang nhiên trên biển cả của chúng ta, bắt bớ, giam cầm ngư dân như những kẻ tội phạm. Cái hèn trước nhà hàng xóm là người chủ gia đình không biết nhục, khiến con cái phải van lạy trước kẻ thù, lại nói lời nịnh bợ cho được lòng quân cướp. Tội ươn hèn này làm nhục cho tổ tiên và làm khổ cho lê dân. Người ta thường gọi láng giềng là bạn, chẳng bao giờ gọi là thù, vì vậy kẻ thù xa không nguy hiểm bằng kẻ thù gần, ở ngay sát nách nhà mình, thường khó đề phòng mà cũng không dễ chống đỡ. Phúc cho ai có được người láng giềng lương thiện, mà cũng khốn khổ cho ai ở cạnh tên hàng xóm côn đồ.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 May 2026

Từ đầu năm 2013 đến nay, nhân cuốn “Bên Thắng Cuộc” của một nhà văn “bên kia” mới ra đởi, hai tiếng “thắng” và “thua” đã được nói đến nhiều, cuộc tranh luận trên báo chí thì ít, mà trong câu chuyện lúc trà dư tửu hậu thì nhiều. Cuốn sách ấy đã phơi bảy nhiều mặt trái không lấy gì làm đẹp đẻ của cái bên thắng cuộc, cũng như trình bày dược những nỗi oạn khuất, đau đớn của bên bại trận. Nếu thật sự bên thắng cuộc là một chế độ khác, một quốc gia khác, có một nếp sống và trình độ, dân trí khác, thì chủng ta, những người miền Nam thua lrận đâu đến đỗi tan tác, chia lìa và chịu những nỗi thống khổ dai dẳng như vậy. Tôi cũng rất đỗi ngạc nhiên khi vài người quen biết, thân có, sơ có, đã nói với tôi những lời khá đứng đắn không hể có ý đùa giởn là:”Chúng ta là những người thắng trận, chúng ta đâu có thua!” Đằng sau câu nói này, tôi không biết khi dứng lại, kiếm một chỗ ngồi để tranh luận, chúng ta sẽ nói như thế nào cho tròn ý nghĩa của việc thua thắng, câu chuyện đã để lại những vết hằn lên tâm khảm chúng ta, ba mươi lám năm qua chưa đủ kín vết thương để thành vết sẹo, mà đôi khi còn rì máu. Là những người lính, trước hết phải nhận trách nhiệm đã không làm tròn công cuộc bảo vệ quê hương của minh, để rơi vào tay cộng sản, một chế độ tệ hại nổi tiếng trên thế giới đã làm cho con người đắm chìm vào đau khổ, tai ương. Những bậc trí thức miền Nam cũng không thể đổ lỗi cho người khác, vì quốc gia hưng vong. thất phu phải bữu trách, mà phải như một nhà thơ dã dám viết lên câu:”Tội làm tôi mất nước!” Chúng ta giải thích thế nào về sự thắng bại khi đã để cho hàng nghìn dồng bảo ruột thịt của mình vì quá sợ hãi cộng sản đã bỏ mình khi trốn chạy chế độ này từ cuối tháng 3-1975 cho dến ngày tàn cuộc, và còn mãi mãi sau đó trong rừng sâu, ngoài biển cả, mà miền Nam, không có gia đình nào không âm thầm vấn những mãnh khăn tang, nuốt những dòng lệ vào lòng, xóa gạch tên người thân trong tờ hộ khẩu với hàng chữ: “vắng mặt không lý do!”. Những người lính luận về thắng bại thể nào khi dã không bảo vệ được cho đồng bào ruột thịt mình lúc giặc vào nhà, để cho chiến hữu, đồng đội của mình bị trả thù, tàn sát; bị lùa vào các trại tập trung, lao động khổ sai, bỏ mình nơi chốn rừng thiêng, nước độc. Những người có trách nhiệm luận thế nào về chuyện thắng thua, khi để lại một miền Nam cho những kẻ gian tà, độc ác khiến cho ngày nay, nhân tâm ly tán, đạo lý suy đồi.

Trong binh lược, thắng là kẻ làm chủ trận đánh cuối cùng. Ban Mê Thuột có được xem là trận đánh cuối cùng không hay trận đánh cuối này đã dược quyết định ở Bắc Kinh hay Hơa Thịnh Đốn và sau đó không còn trận đánh nào nữa, mà chỉ là những kế hoạch lui binh, nhường đất. Từ 1973 miền Nam bị Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ mỗi năm 50%, từ tháng 4/1974 hỏa lực giảm 70%, tháng 2/1975 đạn trong kho chỉ còn đủ đánh 30 ngày, tháng 4/1975 chỉ cón đủ đạn đánh 2 tuần, trong khi đó miền Bắc vẫn được Nga-Tàu viện trợ dồi dào, khoảng 660 ngàn tấn vũ khí, đạn dược. Riêng chi viện của Nga cho Bắc Việt từ tháng 12/1974 đã tăng gấp bốn lần.

Cũng có thể nói, miền Nam thua vì “hết đạn.” Không phải tướng tài là trăm trận trăm thắng. Napoléon được coi là một trong những nhà quân sự vĩ đại nhất mọi thời đại và các chiến dịch của vị danh tướng này được nghiên cứu lại các học viện quân sự trên khắp thế giới. Saumột loạt thắng lợi, Pháp đạt dược vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, nhưng cuối cùng với trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815, Pháp phải dầu hàng và vị danh tướng lẫy lừng Napoléơn đã lrải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đởi trong sự giam cầm của người Anh trên dáo Saint Helcna, nơi ông qua đời vào năm 1821.

Từ 1941-1945, quân dội Nhật hùng cứ khắp Đông Nam Á, nhưng trận chiến cuối cùng là Okinawa, tiếp đến hai quà bom nguyên tử thả xuống dất Nhật dã khiến Nhật phải đầu hàng. Việc đầu hàng này ít nhất đã làm cho ba vị tướng lãnh cao cấp của Nhật tự sát là Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng Cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama và Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka. Miền Nam thua mà can trường, anh hùng, sĩ khí với năm vị Tướng và hằng trăm quân nhân tuẫn tiết ngày Saigon thất thủ, vậy chớ nên đem thắng bại mà luận anh hùng.

Trong lịch sử đã có câu hòi:”Ai chiến thắng mà không hề chiến bại?”

Hluống gì người lính của chúng ta, anh hùng, khí tiết có thừa mà phải thua trận vì bị phản bội. Đồng minh phản bội, cấp lãnh đạo đất nước đã bất tài lại phản bội, để người lính phải chịu thất trận, chịu chết đau đớn, oan khiên. Nỗi dau thua trận không chỉ là trong khoảnh khắc mà kéo dài qua nhiều thế hệ. để ngày nay một đứa trẻ mới lớn lên, có thể hỏi chúng la: “Tôi là người Việt Nam, vì sao tôi đến đây?” Không thể nói với thế hệ này rằng chúng ta thắng. Không thể đem điều thắng bại để biện minh, vì thua trận để chịu cảnh lưu vong, lúc nào cũng là điều đau xót khôn nguôi. Nhưng thử nhìn lại đất nước. Danh từ “giải phóng” phải  ược dùng đúng nghĩa của nó như khi lực lượng Đồng Minh tiến vào Paris ngày 26 tháng 8 năm 1944, giải phóng phải như Huế sau 26 ngày khi người lính Việt Cộng bị truy đuổi ra khỏi thành phố. Quân đội giải phóng không phải là thứ quân dội tiến đến đâu, dân chủng bò làng bỏ xóm chạy đến đó. Quân đội giải phóng không phải là thứ quân đội cướp bóc mang của cải ùn ùn chở về Bắc, dùng súng ống dể khống chế tư sản cướp tiền của và áp bức lê dân. Ngày mà “quân dội giải phông” tiến vào Saigon, 120,000 người miền Nam đã “bỏ của chạy lấy người,” ngày mà khắp nước bị vỗ lay hát theo nhau bài “như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng,” cả vạn người dã dắt dìu nhau ra đi, chấp nhận bao gian nguy, chết chóc, vi không còn muốn thấy bản mặt của chế độ dù thêm một ngày. Nói như tác giả Bình Ngô Đại Cáo: “đem đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cưởng bạo” thì bên thắng cuộc “lấy hung tàn mà thắng đại nghĩa, dùng cường bạo dề thay chí nhân!” Cũng đồng nghĩa như thế chúng ta đã nghe câu nói “cái ác thắng cái thiện” của John Mc Cain. hay “nền văn minh đã thua chế độ man rợ” của Dương Thu Hương về chuyện “thắng-thua” ngày 30-4-75.

Bên thắng cuộc đã xô đẩy bằng cách này hay cách khác ba triệu người Việt ra hải ngoại. Nếu chế dộ tốt đẹp ai lại không muốn sống trên quế hương của mình. Hôm nay, cuộc vượt biển vẫn còn tiếp diễn!

Ba mươi tám năm nay, người Việt Nam đã đặt câu hỏi “Ai giải phóng ai?” thì câu trả lời cũng sẽ làm nhẹ lòng cho những người còn ám ảnh bởi chuyện “thua hay thắng.”

Ca sĩ Ngọc Minh

Nhật Ngân

Nếu tôi có được phép thần thông

tôi sẽ đưa anh đi thăm Sài Gòn năm năm về trước

để cho anh thấy Giải Phóng được

Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh

Tôi sẽ đưa anh đi thăm Sài Gòn

Từ lầu cao, từ phố đông

cho tới nơi hang cùng ngõ hẹp

bùn lầy đọng một chút tối tăm

tôi sẽ đưa anh hỏi thăm từng nhà

Họ sung sướng không, họ có mong anh,

mong các anh về giải phóng không anh

Biết anh có chợt nghĩ gì không

khi thấy quanh anh bao nhiêu nụ cười trên môi chợt tắt

và anh ơi thấy gì?

Ôi hạnh phúc đâu?

Ôi Giải Phóng đâu?

21 Hải Quân Đại Úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu Tá năm 2021.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on September 14, 2021 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 May 2026

Theo nguồn tin từ trang nhà bộ chỉ huy quân số hải quân (Navy Personnel Command) thông báo các bản danh sách hải quân (HQ) đại úy được hội đồng thăng cấp hải quân (PROMOTION SELECTION BOARD CONVENING ORDER) chọn đề cử thăng cấp HQ thiếu tá cho tài khóa năm 2021-2022. Trong số hàng trăm HQ đại úy được đề cử thăng cấp HQ thiếu tá năm nay có 21 HQ đại úy gốc Việt.

HQ đại úy Tran Quoc Hung (ảnh của linkedin.com).

Đặc biệt năm nay có 6 đại úy ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line Officers) 7 đại úy ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted Line Officers) và 8 đại úy ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps Officers)

Danh sách HQ đại úy gốc Việt ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted Line Officers) hiện dịch và trừ bị được chọn đề cử thăng cấp thiếu tá:

Phan Tuan Anh; Duong Khoi Dinh; Du John; Le Mariel Clare; Chu Long Tuong; Tran Hung Quoc; Ngo Courtenay Nicole; Dam Lee Vinh; Nguyen Stephen Dang; Nguyen Duc Huynh; Nguyen Phong Dang; Quan Luuthuy Khanh; Vu Carolyne*.

Danh sách HQ đại úy gốc Việt ngành chuyên môn (Staff Corps Officers) hiện dịch và trừ bị được đề cử thăng cấp HQ thiếu tá:

Nguyen Alex Hoang; Quach Amanda Nhuy; Hutson Oanh Pham; Pham Cang Kim; Duong Dat Tan; Nguyen Jacob Andrew; Giang Peter; Chu Jonathan King*.

Ảnh minh họa cấp hiệu thiếu tá ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted line officers) ** hải quân Hoa Kỳ của military.com/navy/officer-ranks.military.com/navy/officer-ranks.

Theo tài liệu lưu trữ trên trang nhà Navy Personnel Command thì có trên 120 HQ thiếu tá gốc Việt đang phục vụ trong hải quân Hoa Kỳ.

Cũng theo thông báo trên trang nhà của Quốc hội Hoa Kỳ (Congress.gov), trong năm 2021 có 16 đại úy lục quân, 15 đại úy không quân, 5 đại úy lực lượng không gian (United States Space Force) và 4 đại úy thủy quân lục chiến gốc Việt được đề cử thăng cấp thiếu tá***.

Theo hệ thống thăng cấp sĩ quan hải quân Hoa Kỳ (Navy Officer Promotion System), thì sau 5 năm mang cấp đại úy, khoảng 80% sĩ quan đại úy sẽ được thăng cấp thiếu tá. Và theo Defense Primer: Military Officers, thì hải quân Hoa Kỳ có 18742 đại úy và 10520 thiếu tá phục vụ hiện dịch toàn thời (Active-Duty Military Officers).

Cựu đô đốc Thomas Hayward, tư lệnh hải quân Hoa Kỳ năm 1978 to 1982, trao tặng bằng tưởng lục cho HQ đại úy Nguyen Dang Phong (ảnh của hạ sĩ I John Hetherington, hải quân Hoa Kỳ).

Cần biết thêm về các ngành của sĩ quan hải quân Hoa Kỳ, xin được tóm lược:

-Sĩ quan ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, sĩ quan hải quân không chiến ( không quân của hải quân ), sĩ quan chiến tranh đặc biệt hải quân ( lực lượng đặc biệt hải quân ), tương tự như sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.

-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan kỹ thuật cơ khí, sĩ quan kỹ thuật hàng không, sĩ quan bảo trì phi cơ, sĩ quan tình báo hải quân, sĩ quan chiến tranh mật mã, sĩ quan tin học điện toán, sĩ quan giao tế ngoại giao, sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị), sĩ quan hải dương học, sĩ quan truyền tin hải quân và sĩ quan tài nguyên nhân lực.

-Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, nha sĩ, điều dưỡng và chuyên viên y tế thuộc bộ chỉ huy quân y hải quân; Sĩ quan kỹ sư công chánh (công binh hải quân) và sĩ quan tiếp liệu hải quân thuộc bộ chỉ huy tiếp vận hải quân; Sĩ quan luật sư quân pháp và sĩ quan tuyên úy tôn giáo trực thuộc bộ hải quân.

HQ đại úy Carolyne Vu “giữa” và hai sĩ quan hải quân và thủy quân lục chiến (ảnh của trung sĩ hải quân Michael Ehrlich).

Chú thích: *Ghi theo họ và tên 21 đại úy gốc Việt trên các bản danh sách; **Cấp hiệu thiếu tá ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps officers) không có ngôi sao như thiếu tá nganh tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted line officers), thay thế cho ngôi sao là huy hiệu của ngành chuyên môn; ***Có một số đại úy mang họ và tên giống người Việt, nhưng không thể xác định được nguồn gốc.

Nguồn: Navy Personnel Command; congress.gov; military.com/navy/officer-ranks; en.wikipedia.org; public.navy.mil; linkedin.com; bienxua-15 Hải Quân Đại Úy và 2 Đại Uý Tuần duyên Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu Tá năm 2020.

Hải Quân Trung tá Tyrone Pham (gốc Việt), Sĩ quan chiến tranh mật mã Hải quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Đại tá

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 1, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 May 2026

Hải quân Trung tá Tyrone Pham, Sĩ quan Chiến tranh mật mã Hải quân, Nhiếp ảnh gia tự do (hình của linkedin.com).

Hải quân Trung tá Tyrone Pham*, Sĩ quan Chiến tranh mật mã Hải quân Hoa Kỳ vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Active-Duty Officer Promotion Boards) đề cử thăng cấp HQ Đại tá cho tài khoá YF-27, theo nguồn tin từ trang nhà của Bộ chỉ huy nhân sự Hải quân (Navy Personnel Command) ngày 29 tháng 4 năm 2025. Danh sách Sĩ quan được đề cử thăng cấp Đại tá đang được chuyển đến Quốc hội để Uỷ ban quân vụ xác nhận, bầu chọn.

Sĩ quan Chiến tranh Mật mã (Cryptologic Warfare Officers) là một phần của ngành chiến tranh thông tin của Hải quân. Các Sĩ quan chiến tranh mật mã cung cấp cho Hải quân chuyên môn về mật mã học, không gian, tình báo tín hiệu (SIGINT), hoạt động không gian mạng và chiến tranh điện tử để bảo đảm tự do hành động trong khi đạt được các mục tiêu quân sự và thông qua hệ thống điện từ, không gian mạng và không gian. Các Sĩ quan Chiến tranh mật mã sẽ áp dụng chuyên môn của họ ở các cấp độ tác chiến, chiến thuật và chiến lược khi làm việc trên chiến hạm, tàu ngầm, Hàng không mẩu hạm hay trên phi cơ, với Lực lượng Đặc nhiệm Hải quân, trong ngành tình báo hoặc trong các Bộ tham mưu lớn của Hải quân và Liên quân. Sĩ quan Chiến tranh mật mã có trình độ kỹ thuật cao, cũng như khả năng giao tiếp hiệu quả, có thể chuyển đổi các vấn đề kỹ thuật phức tạp thành thông tin có liên quan đến hoạt động cho các Tư lệnh Hải quân và Liên quân. Nhiệm vụ của Sĩ quan chiến tranh mật mã là mang lại kết quả trong tất cả các lãnh vực chiến tranh thông qua việc ứng dụng tín hiệu tình báo (SIGINT), chiến tranh điện tử, hoạt động không gian mạng và hoạt động thông tin (IO) hỗ trợ và bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ.

HQ Trung tá** Tyrone Pham gia nhập Hải quân Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 2005, đến nay được 20 năm, 6 tháng. Ngoài nhiệm vụ phục vụ Hải quân toàn thời, ông còn là một Nhiếp ảnh gia tự do. Ông đã hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng Cao học khoa học kỹ thuật điện toán, Trường Đại học University of Southern California, năm 2005; Văn bằng Cư nhân khoa học kỹ thuật điện toán, Trường Đại học University of Southern California, năm 2005; Văn bằng nhiếp ảnh, Trường Pasadena City College năm 2004.

HQ Trung tá Tyrone Pham sẽ là 1 trong 41 HQ Đại tá*** Hoa Kỳ gốc Việt. 24 vị đương nhiệm, 2 vị được thăng cấp Phó Đề đốc, đó là Phó Đề đốc Tuan Nguyen và Nguyễn Từ Huấn, 14 vị hồi hưu (cựu HQ Đại tá Hung Cao hiện là Quyền Bộ trưởng Hải quân) và 1 vị đã qua đời. Danh sách 24 Đại tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong quân chủng Hải quân Hoa Kỳ được ghi nhận sau đây: HQ Đại tá Trinh Hien; HQ Đại tá Bui Han Quan; HQ Đại tá TuAnh C. Halquist; HQ Đại tá Nguyen Trung D; HQ Đại tá Ly Nam Thanh; HQ Đại tá Doan Vinh Dang; HQ Đại tá Luu Thu Nhuan; HQ Đại tá Choate Paul L (Long Mỹ); HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van; HQ Đại tá Nguyen Mark Minh Duy; HQ Đại tá Mai Vinh Q; HQ Đại tá Do Tai Anh; HQ Đại tá Hoang Thanh Duc; HQ Đại tá Nguyen William B; HQ Đại tá Vu Phong Loi; HQ Đại tá Quach Hoai Linh; HQ Đại tá Nghiem Hoan Boi; HQ Đại tá Tran T Tin; HQ Đại tá Nguyen Anvy; HQ Đại tá Nguyen Long Tuong; HQ Đại tá Nguyen Chuong Thieu; HQ Đại tá Dennis La; HQ Đại tá Brian Truong và tân HQ Đại tá Tyrone Pham.

Cấp hiệu Đại tá Hải quân Hoa Kỳ của en.wikipedia.org

Tóm lượt các ngành của Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ: Ngành Sĩ quan tác chiến (chủ lực) của Hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn Unrestricted Line Officers) và Sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers).

-Sĩ quan ngành tác chiến Hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, Sĩ quan Hải quân không chiến (Không quân của Hải quân), Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân). Những Sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các Phi đoàn Không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như Sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.

-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến Hải quân giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan tài nguyên nhân lực; Sĩ quan kỹ thuật cơ khí; Sĩ quan kỹ thuật hàng không; Sĩ quan bảo trì phi cơ; Sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị); Sĩ quan giao tế ngoại giao; Sĩ quan hải dương học; Sĩ quan chiến tranh mật mã; Sĩ quan truyền tin Hải quân; Sĩ quan chiến tranh an ninh mạng và Sĩ quan không gian hàng hải (Maritime Space Office).

-Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, Nha sĩ, Điều dưỡng và Chuyên viên y tế thuộc Bộ chỉ huy Quân y Hải quân; Sĩ quan Kỹ sư công chánh (Công binh Hải quân) và Sĩ quan tiếp liệu Hải quân thuộc Bộ chỉ huy tiếp vận Hải quân; Sĩ quan Luật sư Quân pháp và Sĩ quan Tuyên úy tôn giáo trực thuộc Bộ hải quân.

Chúc tân HQ Đại tá Tyrone Pham thăng tiến hải nghiệp.

Chú thích: *Họ và tên từ tài liệu Tyrone D. Pham, Họ Việt, Phạm D. Tyrone; **HQ Trung tá=Navy Commander; ***HQ Đại tá=Navy Captain.

Nguồn: mynavyhr.navy.mil; linkedin.com; rocketreach.co; bienxua-40* Đại tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt.

Thấy gì ở ngày Quốc hận 30/4/2026 ở hải ngoại?

Mai Thanh Truyết

Post by Sơn râu 2 May 2026

Tiến sĩ Mai Thanh Truyết

Lời người viết:

Ngày 30/4/1975, người viết được 33 tuổi, có thể xem như là thế hệ I. Sau 51 năm, 30/4/2026, xin chia xẻ vài trăn trở về ngày Quốc hận năm nay. Nhìn chung, từ đầu tháng tư, TV, Radio vẫn ngày ngày phát lên những bài hát quen thuộc như “Saigon vĩnh biệt”, “Saigon niềm nhớ không tên” v.v., những bài viết về những nỗi đau ly biệt, hận thù, hẹn một ngày về… , những bài bình luận, ký ức, tự thuật về thảm cảnh 30/4. Phải chăng, một số người Việt hải ngoại, trong tâm tưởng, vẫn còn mang nặng hình ảnh ngày 30/4 và những gì đã xảy ra trước đó. Nghĩa là họ đã đứng yên, cảm nhận về quá khứ trong suốt 51 năm qua. Phải chăng, họ không nhìn thấy những bước chân tuổi trẻ Việt, thế hệ II, thế hệ III lừng lững đi vào đời sống, hội nhập vào sự tiến bộ chung toàn cầu. Tuổi trẻ cần những vết hằn lịch sử mà thế hệ I truyền lại bằng dữ kiện, các biến cố lịch sử khách quan trong giai đoạn trên… Bài viết, thành hình ngay sau 10:27 sáng ngày 30/4/2026, giây phút ĐT Dương Văn Minh tuyên bố “buông súng” ở Sài Gòn, nhằm mục đích nói lên tâm tư của một người con Việt về vấn đề nầy. Mọi phản biện xin được ghi nhận trong tinh thần xây dựng và tương kính.

***

1-    Câu hỏi đầu tiên?

Người Việt đã sống, đã bước đi sau 51 năm hay vẫn còn chựng lại và tiếp tục rên rỉ, khóc than?

Câu hỏi trên chạm đúng một “nút nghẽn” tâm lý tập thể của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Thật rất khó nói thẳng, sau 51 năm, cộng đồng người Việt hải ngoại đang tiến lên, nhưng không đồng đều, và trong nhiều trường hợp, vẫn mang theo một phần quá khứ chưa được tiêu hóa hay chuyển hóa trọn vẹn.

Năm nay, chúng ta lại đứng trước một cột mốc quen thuộc, Ngày Quốc hận 30 tháng 4. Năm mươi mốt năm đã trôi qua, một khoảng thời gian đủ dài để một đời người khép lại, đủ dài để một thế hệ sinh ra, trưởng thành, và bắt đầu đặt câu hỏi.

Nhưng câu hỏi quan trọng không còn là: “Điều gì đã xảy ra vào năm 1975?”

Mà là:“Sau 51 năm, chúng ta đã làm gì với điều đã xảy ra đó?”

Nếu nhìn vào ngày 30/4 năm nay ở hải ngoại, có thể thấy ba khuynh hướng phản ứng rõ rệt:

·         Thế hệ thứ nhất – Ký ức vẫn là hiện tại: Với nhiều người đã trực tiếp trải qua 1975, ngày 30/4 không phải là “lịch sử” mà là một vết thương chưa lành. Ngày hôm nay, những buổi tưởng niệm vẫn mang sắc thái trang nghiêm, đau đớn với những suy nghĩ lẫn ngôn ngữ trầm buồn, vẫn là “mất nước”, “quốc hận”.  Những cảm xúc trên không giả tạo mà rất chân thành, nhưng đã bị đông cứng theo thời gian. Đối với thế hệ nầy, không thể đơn giản yêu cầu “quên đi” hay “tiến lên”. Nhưng vấn đề là, nếu ký ức không được chuyển hóa, sẽ trở thành gánh nặng truyền đời.

·         Thế hệ 1.5 và thứ hai – Phân hóa mạnh: Đây là nơi diễn ra cuộc “chia tay từng phần” hay “đứt gãy” nhận thức rõ rệt nhứ, một nhóm vẫn tiếp nối cảm xúc của cha mẹ và tưởng niệm theo quán tính, một nhóm khác bắt đầu đặt câu hỏi, “30/4 có phải chỉ là mất mát?” và “Có cách nào nhìn lại mà không bị trói buộc bởi hận thù?” Họ không vô cảm. Ngược lại, họ muốn hiểu, nhưng theo cách ít cảm tính hơn. Nơi đây bắt đầu xuất hiện các cuộc đối thoại về thế chính danh của cuộc chiến nhìn từ hai phía, phân biệt giữa chế độ và con người, giữa lịch sử và tương lai.

·         Một xu hướng mới chuyển từ cảm xúc sang trách nhiệm: Xu hướng nầy, âm thầm nhưng rõ ràng, và hiện có một nhóm người Việt hải ngoại đang thay đổi cách tiếp cận. Họ không phủ nhận quá khứ, nhưng không sống bằng quá khứ. Họ không rên rỉ, nhưng cũng không “ăn mừng”. Họ hỏi một câu khác: “Nếu cứ tiếp tục kể lại nỗi đau, thì Việt Nam sẽ đi về đâu?” Ở nhóm này, 30/4 trở thành một dịp suy tư chính trị xã hội nước nhà, một cơ hội để nói về thể chế, giáo dục, y tế, môi trường, và tương lai dân tộc, cũng như vai trò của người Việt toàn cầu.

2-    Câu hỏi tiếp theo

Vậy, sau 51 năm, người Việt hải ngoại tiến lên hay dậm chân tại chỗ?

Câu trả lời thẳng thắn là cả hai đều đang xảy ra.

Một phần cộng đồng vẫn “chựng lại” trong đau thương.

Một phần khác đã bắt đầu bước đi, nhưng chưa đủ mạnh để dẫn dắt toàn thể cộng đồng, nhứt là đối với thế hệ 1 ½, 2, và 3.

Vấn đề không nằm ở việc còn khóc hay không, mà nằm ở chỗ: “Khóc để làm gì? Và sau khi khóc, có làm gì khác không?”

Một nhận định thẳng (có thể khó nghe) là nếu sau 51 năm, ngày 30/4 chỉ còn là những diễn văn cũ, biểu tượng cũ, cảm xúc cũ, thì đó không còn là tưởng niệm nữa, mà là một sự trùng lắp, một sự lặp lại.

Và sự lặp lại đã kéo dài trên 51 năm rồi. Từ đó, sẽ dẫn đến sự mệt mỏi, mất hết kết nối với thế hệ trẻ, và cuối cùng là… tự làm nhạt phai chính mình.

Chúng ta, thế hệ I không phải “Quên” (forget), nhưng có thể là “Hiểu lại” (re-interpret), “Chuyển hóa” (derivation), và “Hướng tới trách nhiệm” (responsibility).

Ngày 30/4 có thể sẽ trở thành:

Một ngày suy ngẫm về tại sao một quốc gia thất bại trong việc giữ gìn tự do và nền cộng hòa?

Một ngày tự đặt câu hỏi: “Làm sao để Việt Nam tương lai không lặp lại những sai lầm về một thể chế độc tài đảng trị?

Và quan trọng hơn cả là người Việt, dù ở đâu, có thể đóng góp gì cho tương lai Việt Nam?

3-    Tại sao ký ức cần được tôn trọng, nhưng không thể giữ mãi trong lòng?

Lễ tưởng niệm 50 năm Quốc Hận và 2 cựu tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh VNCH – Nguoi Viet OnlineKhông ai có quyền yêu cầu những người ở thế hệ I, những người đã mất mát quá nhiều, phải quên đi ký ức về một đất nước đã mất, về những con người đã ngã xuống, về những năm tháng tù đày, vượt biển, ly tán… Tất cả đều là những phần không thể xóa bỏ của lịch sử dân tộc.

Nhưng, ký ức không phải là nơi để giữ chúng ta ở lại mãi mãi. Một cộng đồng nếu chỉ sống bằng ký ức, sẽ dần dần biến ký ức thành gánh nặng. Và gánh nặng đó, sớm hay muộn, sẽ đè lên vai những thế hệ chưa từng trải qua nó, tức thế hệ II, và III.

Sau hơn nửa thế kỷ, chúng ta vẫn tổ chức những buổi tưởng niệm, vẫn lặp lại những bài diễn văn quen thuộc, vẫn giữ nguyên những biểu tượng cũ, lập đi lập lại, không thay đổi.

Điều đó không sai. Nhưng nếu tất cả chỉ dừng lại ở đó, chúng ta phải can đảm nhìn nhận rằng:”Chúng ta không còn tưởng niệm, mà là chúng ta đang lặp lại.”

Và sự lặp lại đó, nếu kéo dài quá lâu, chúng ta sẽ không còn sức sống. Nó sẽ không còn chạm được đến thế hệ trẻ. Nó sẽ không còn tạo ra hành động cụ thể cho tương lai. Và nó chỉ duy trì một cảm xúc, mà cảm xúc, dù chân thật đến đâu, cũng không thể thay thế cho trách nhiệm hiện tại và tương lai.

Những người trẻ gốc Việt hôm nay không sống trong năm 1975. Họ sống trong một thế giới toàn cầu hóa, cạnh tranh, và biến động. Họ không hỏi: “Ai đúng, ai sai trong quá khứ?” Mà họ hỏi: “Quá khứ đó có ý nghĩa gì cho tương lai của chúng ta?”

Nếu chúng ta không trả lời được câu hỏi đó, thì ký ức của chúng ta, dù đau đớn đến đâu cũng sẽ dần dần trở nên xa lạ với chính con cháu mình.

4-    Từ cảm xúc đến trách nhiệm

Đã đến lúc phải đặt thêm một câu hỏi thẳng thắn:” Sau 51 năm, người Việt hải ngoại có còn chỉ là người kể chuyện quá khứ, hay đã trở thành người góp phần xây dựng tương lai?

Chúng ta có lợi thế mà trong nước không có là được tự do tư tưởng, tiếp cận tri thức toàn cầu, kinh nghiệm sống trong các thể chế dân chủ Tây phương. Nhưng chúng ta đã sử dụng những lợi thế đó như thế nào? Nếu 30/4 chỉ là một ngày để nhớ lại nỗi đau, mà không phải là một ngày để tái định nghĩa trách nhiệm, thì chúng ta đã bỏ lỡ một cơ hội lớn.

Chúng ta không cần phải “quên” để tiến lên. Nhưng chúng ta cần chuyển hóa ký ức.

Chuyển hóa như thế nào?

Từ đau thương biến thành một bài học về thể chế độc tài, độc đoán.

Từ mất mát biến thành ý thức xây dựng quê hương dân tộc.

Từ chia rẽ biến thành khả năng đối thoại bình đẳng giữa trong và ngoài nước.

Từ đó, ngày 30/4 có thể sẽ trở thành một ngày suy gẫm về những sai lầm lịch sử, một ngày để học cách tránh lặp lại những sai lầm đó trong tương lai, và quan trọng nhất, một ngày để hỏi: “Chúng ta sẽ làm gì cho Việt Nam trong 10, 20 năm tới?”

5-    Thay lời kết – Tương lai không tự đến

Lịch sử không thay đổi chỉ vì chúng ta nhớ đến nó. Tương lai cũng không tốt đẹp hơn chỉ vì chúng ta mong muốn. Mà chúng ta cần thực hiện những điều chúng ta đang và muốn mong muốn.

Nếu có một điều mà 51 năm sau 30/4 cần phải nói rõ, thì đó là:” Không ai có thể thay đổi Việt Nam ngoài chính người Việt.”

Và trong số đó, người Việt hải ngoại, với tự do và điều kiện hiện đang có, không thể đứng ngoài. Chúng ta có thể tiếp tục khóc. Chúng ta có thể tiếp tục tưởng niệm. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, thì 10 năm nữa, 20 năm nữa, chúng ta vẫn sẽ đứng ở đây và lặp lại chính câu chuyện này.

Hoặc, chúng ta có thể chọn một con đường khác:” Biến ký ức thành hành động.

Biến đau thương thành trách nhiệm. Và biến ngày 30/4 thành điểm khởi đầu, chứ không phải là điểm kết thúc.”

Năm mươi mốt năm đã quá đủ cho một nỗi đau, nhưng đã quá dài cho một sự trì trệ trong tư tưởng và hành động. Chúng ta không thể tiếp tục nhân danh ký ức để đứng yên. Không thể tiếp tục lặp lại những lời cũ, trong khi thế giới đã thay đổi, và Việt Nam, dù muốn hay không, vẫn đang bị cuốn đi trong những dòng xoáy mới của lịch sử nhân loại.

Nếu chúng ta thật sự tin rằng 30/4 là một mất mát lớn, thì câu hỏi không phải là chúng ta đã mất gì? Mà là:

“Sau khi mất, chúng ta đã xây lại được điều gì?

Nếu câu trả lời là “chưa”, thì đó không còn là bi kịch của quá khứ, mà là trách nhiệm của hiện tại.

Chúng ta phải nói thẳng với nhau một điều, dù khó nghe, xin lập lại, một cộng đồng chỉ biết tưởng niệm mà không hành động, sẽ dần dần đánh mất cả ký ức lẫn tương lai.

Thế hệ trẻ sẽ không quay lưng vì họ vô ơn. Họ sẽ quay lưng vì họ không thấy con đường nào phía trước. Và khi điều đó xảy ra, mọi hy sinh, mọi đau đớn mà chúng ta đang cố gìn giữ, sẽ không còn người tiếp nối.

Vì vậy, hôm nay, nếu 30/4 còn có ý nghĩa, thì ý nghĩa đó không nằm ở nước mắt, mà nằm ở một quyết định:

Quyết định không sống như những người bị lịch sử đẩy đi, mà sống như những người có khả năng định hình lại lịch sử.

Quyết định không truyền lại nỗi đau, mà truyền lại ý chí và trách nhiệm lịch sử.Quyết định không chỉ hỏi “tại sao chúng ta mất nước”, mà hỏi:“Chúng ta sẽ làm gì để một dân tộc không còn phải mất thêm một lần nào nữa?”

Không có một phép màu nào sẽ đến. Không có một thế lực nào sẽ thay đổi vận mệnh dân tộc thay chúng ta.

Nếu có một sự thật cần phải nói cho rõ, thì đó là hoặc chúng ta bước ra khỏi quá khứ, hoặc chúng ta sẽ bị chôn vùi trong chính quá khứ đó.

Không có con đường thứ ba.

Và vì vậy, xin kết thúc bài viết bằng một lời không phải để tưởng niệm, mà để đánh thức lương tâm:

Đã đến lúc chỉ cần nhớ ký ức trong tâm tưởng, nhưng phải bắt đầu làm lại.

Đã đến lúc chỉ cần giữ những vết hằn thân xác trong tim, mà phải bắt đầu xây dựng lại và tiến bước.

Và đã đến lúc, người Việt, dù ở bất cứ nơi đâu, phải tự hỏi một cách trung thực và thành thật là mình còn là nạn nhân của lịch sử, hay đã sẵn sàng trở thành người tạo ra lịch sử cho tương lai?”

Nếu không trả lời được câu hỏi trên hôm nay, thì 10 năm nữa, 20 năm nữa chúng ta sẽ không còn cơ hội để trả lời nữa.

Tóm lại, người Việt hải ngoại không phải chỉ đang “rên rỉ” hay “khóc than”, nhưng cũng chưa hoàn toàn bước ra khỏi trọng lực của quá khứ. Sau 51 năm, bài toán Việt Nam không còn là:” Anh đúng, Tôi sai? Hay, “Tôi đúng, Anh sai”.

Mà là:“Chúng ta sẽ phải làm gì với di sản để lại từ một thể chế độc tài đảng trị?

Mai Thanh Truyết

Đã 51 Năm Quốc hận rồi

Houston – 30-4-2026

_________________________

Chiến tranh Việt Nam PQ Trọng -PN Nam – 2406- 5

PQ Trọng -PN Nam – 2406 -5

Edit and Post by Sơn râu 2 May 2026

Dẫn Nhập:

Kính thưa Quý Thính Giả, Cộng Đồng Người Việt hai ngoại đang ở cuối Tháng 4, 2026 để thấy tình hình hỗn loạn diễn ra khắp nơi trên thế giới. Và chính quyền Mỹ với TT Donald Trump có hứa hẹn, quyết thực hiện kế hoạch chấm dứt chiến cuộc Nga-Ukraina đã kéo dài từ 2022, nay thêm đang chiến tranh với Iran từ 28/2/2026. Bởi thực tế cho thấy, chiến tranh không thể tiếp tục cho dù TT Mỹ nào (CH hay DC) cũng phải giải quyết cho xong. Chúng tôi PQTrọng và Người Lính Pnnam thêm một lần cố gắng nói thêm cho rõ lần kết thúc Chiến Tranh VN 30/4/1975. Tại sao? Như thế nào. Kính chào ông Pnn

#1- PQT: Thưa ông PNN, sau cuộc hành trình dài 51 năm qua kể từ năm 1975, Dân Tộc Việt nói chung và Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại nói riêng mà bất kỳ ai trong chúng ta, thành phần Người Việt vốn là Công Dân của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975), dẫu đứng trên quan điểm chính trị-xã hội nào cũng đồng thuận một điều chung nhất: Ngày 30 Tháng 4, 1975 là một biến động đổi đời đối với tất cả. Chương Trình hôm nay thêm một lần mong thực hiện một tường trình khách quan đầy đủ về biến động quan trọng của 51 năm trước với Người Lính-Viết Văn Pnn, nhân chứng sống đủ thời gian dài giữa lửa đạn chiến tranh. Vì thời lượng có hạn xin ông chỉ đặt trọng tâm về Vấn Đề Quân Sự để trả lời vấn nạn: Chiến Cuộc VN đã xẫy ra khi nào và kết thúc như thế nào? Tại Sao?

#1- PNN: Nói câu #1. Không phải: 1/Quan niệm điểm thông tục của phía Mỹ/VN War của Lyne Novick, Ken Burns (từ 3/1965); 2/Phía CSVN: Lần thành lập MTGPMN (20/12/1960. Nhưng thực tế lich sử cho thấy là từ Hội Nghị Liễu Châu (3-5/5/1954) trước lần ký kết chia đôi chia đôi đất nước, 20/7/1964.

#2- PQT: Nếu không phải từ những thời điểm kể trên vậy phải có một thời điểm cụ thể đã bùng nổ chiến cuộc nơi Miền Nam? Ông là Người Lính hẳn thấy ra thời điểm quan trọng, cụ thể ấy? Xin mời ông.

#2- PNN: Đúng như vậy. Nói về nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả của Trận Ấp Bắc, 3/1/1963.

#3- PQT: Nhưng thưa ông Pnn, Mỹ là một bên đã tổ chức, thực hiện, mở rộng và kết thúc Chiến Tranh VN qua một cụm từ ngữ phổ biến VN War mà hội chứng đến nay vẫn còn tồn tại. Mời ông nói về Chiến Cuộc VN trong giai đoạn 1965-1975. Vì thời lượng hạn chế, xin ông chỉ đề cập đế hạn chế về vấn đề quân sự như phần dẫn nhập đã đề ra. 

3/PNN: Nói phía Mỹ: 1/Biến cố vịnh Bắc Bộ, 2-4/8/1964; 2/Đổ quân 3/1965; 3/Mậu Thân/1968/Hòa Hội Paris/VN Hóa Chiến Tranh; Ký kết 27/1/1973/Rút quân.

#4/PQT: Dài theo thời đoạn 1954-1975 như phần trên đã trình bày, Chính Phủ Quốc Gia VN ( 1948-1955); Chính phủ VNCH Cộng Hòa (1955-1975) nơi Miền Nam là nhân tố chính gánh nặng cuộc chiến với máu xương của hàng triệu người Miền Nam trong suốt 20 năm. Vậy tai sao, như thế nào chỉ một trận chiến ngắn khởi đầu từ ngày 10/3 nơi Ban Mê Thuột với kết thúc 30/4/1975 tại Sàigòn! Tại sao?

#4/PNN: Nói câu #4.

#5/PQT: Cuộc nói chuyện phải đi đến phần kết thúc và chúng ta buộc phải chạm đến yếu tố cốt lỏi của các cuộc chiến tranh/bất luận cuộc chiến tranh nào trong suốt lịch sử nhân loại – Đấy là chủ điểm: CHIẾN TRANH CHỈ LÀ MẶT NỔI CỦA NHỮNG TRANH CHẤP CHÍNH TRỊ/TÔN GIÁO/KINH TẾ – Những yếu tố không thuộc về phạm trù của lãnh vực quân sự, súng đạn. Chiến Tranh VN hẳn cũng không ra ngoài nguyên lý nầy, ông có nghĩ như thế không?

#5/PNN: Nói về câu #5: Phân giải Đề Cương Về Các Dân Tộc Thuộc Địa/Tâm Thức (Giả Hình) của phong trào Độc Lập Dân Tộc-Chủ Nghĩa Xã Hội của Lê Nin, 1920 qua thực tế xã hội-chiến tranh VN với giai cấp Tiểu Tư Sản Thành Thị Người Việt từ đầu Thế Kỷ 20 cho đến nay với hiện thực Tư Bản/Cộng Sản Hóa toàn cầu đang diễn ra trên thế giới.               

PQTrọng cám ơn Quý KTG và Pnn.

Chiều lên Hội Quán

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 2 May 2026

Mặt trời đã khuất sau hàng cây rậm lá, nắng chiều xô ngã bóng tàn trải lên mặt lộ đen láng, phẳng phiêu. Bên đường dành cho khách bộ hành, một dãi cỏ màu xanh, hoa vàng, đỏ, tím chen nhau khoe sắc. Ở ngã ba đường khi đèn giao thông bật màu xanh, xe ào ạt chạy tung cát bụi mịch mùng. Đoàn xe lướt qua, con lộ trở nên trống trải, tiếng động cơ hút xa rồi ngưng bặt. Sự yên lặng đến đổi nghe rỏ tiếng gió lướt qua đầu cây ngọn cỏ, tiếng chim chóc rút rích trên cành. Và tôi là khách bộ hành đương đi trên con đường vắng.

Ði hết một đoạn đường, quẹo phải tới cổng hội quán. Mùa hè nắng ấm, trên sân cỏ xanh mượt đám thủy thủ chia phe đá banh; đội áo xanh, đội áo đỏ rất hào hứng chen lấn nhau tranh banh la hét rân trời. Tôi không khoái đá banh nên bước thẳng vô hội quán. Trong phòng thể thao, nhóm thủy thủ Ba Lan chia phe chơi bóng rổ, họ đương hì hục dọng banh bình bịch, ngoài bàn bi da hai anh Phi luật tân đương so cơ lốp cốp. Trước hai phòng diện thoại, người ta đứng sắp hai hàng dài.  Giờ nầy mạnh ai nấy lo giải quyết chuyện riêng, hơn nữa còn sớm, ít người uống bia nên trong bar chỉ lèo tèo vài ba người đứng.  Hàng ghế cao cẳng trước quày rượu trống trơn. Tôi bèn leo lên chiếc ghế trong góc, mua một ly bia nhâm nhi, ngồi đây tôi nhìn được mọi sinh hoạt chung quanh.

Trước đây hơn mười năm. Những ngày cuối tuần, khi tàu còn lênh đênh trên biển, tối đến thủy thủ đoàn rút vô phòng cặm cụi viết thư. Chờ tàu gần vô cảng mỗi anh cầm một sấp thư giầy cộm, đem lên đưa thuyền trưởng nhờ chuyển đi. Khi tàu ghé bến, cả đám lóng ngóng chờ nhân viên mang thư xuống như chờ người tình. Từ ngày những công ty truyền thông phát hành thẻ điện thoại loại rẻ tiền dành cho thủy thủ, chuyện viết thư và nhận thư giảm bớt. Bù lại, mấy phòng điện thoại trên hội quán, lúc nào thủy thủ cũng sắp hàng dọc đứng chờ. Ở Việt nam tôi nghe nói ăn, ngủ, làm tình, đi cầu là bốn cái sướng nhứt trên đời. Nhìn cảnh nầy tôi mới nghiệm ra, nói chuyện cũng là cái sướng nữa. Nếu không thì tại sao người ta gắn điện thoại trong nhà, ty bưu điện đựng điện thoại công cộng khắp nơi vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu, còn phải còn chế thêm điện thoại mobile và phát minh ra internet; lên lưới trò chuyện, đi rong ngoài phố điện thoại cầm tay áp lên má chuyện trò. Chưa đã, hễ có dịp bà con ta còn hẹn hò nhau để… nói chuyện.

Hồi sớm nầy tôi đâu có định lên hội quán. Tôi đương đứng ngoài boong, nhìn tàu bè xuôi ngược trên dòng sông Rijn và những chiếc tàu đã yên vị bên kè đá. Đương phân biệt màu cờ để biết quốc tịch gốc của những con tàu và đoán chừng nó đến từ đâu. Chợt Ebet, thủy thủ người In-đô, cháu của ông Johannes Besla, đi lại nói với tôi:

– Uncle Tấn, hồi trưa tôi gặp uncle Johannes, chú ấy hẹn nhắn chú chiều nay lên hội quán nói chuyện chơi.

Không do dự, tôi nói:

– Được, chiều tao lên. Mày có theo tao không?

– Không được chú, chiều nay tôi trực.

Nhìn thằng nhỏ trong bộ đồ bảo hộ, đầu đội nón an toàn, lững thững đi ra boong. Tôi mĩm cười, những năm gần đây lớp thủy thủ trẻ thay cho lớp già về hưu cũng bộn. Mấy đứa nhỏ mới tập sự hải hành kêu tôi bằng uncle. Nhẩm tính lại tuổi đời vừa đúng bốn mươi,  lên chức chú cũng phải lắm rồi. Uncle Tấn, tên gọi nghe cũng hay hay.

Tôi quen với Johannes Besla từ khi tóc ông còn đen và tuổi tôi còn trẻ, chúng tôi thường sống chung nhau cả năm trên một chuyến tàu. Ông có nhà lầu ở Jakata, nhà có kẻ ăn người ở hẳn hoi, nói chung cuộc sống gia đình rất sung túc. Bổng dưng vợ ông bị chứng ung thư, cơn bịnh kéo dài gần hai năm bà qua đời. Tài sản gom góp hơn hai mươi năm trời, vợ bịnh một trận, tiền ra như nước chảy. Khi chôn cất bà xong, ông cũng phủi tay.          

Cách đây hơn hai năm, tôi đi chung với ông trên chiếc Tina. Tinh thần ông dạo đó xuống thê thảm. Có bửa ngồi sau lái lai rai uống bia, ông tâm sự:

– Tao đương lo thủ tục xin định cư Hòa Lan.

Tôi hỏi:

– Chừng nào xong?

– Một vài năm.

– Sao ông không cưới vợ?

– Đâu dễ dàng như mầy nói.

– Sao lại không, tôi thấy nhiều ngưới In-đô bỏ vợ già, cướì vợ trẻ hoặc hai ba vợ là thường. Tuổi ông chưa đầy năm mươi, về bển cưới gái mười bảy cũng còn được mà.

 Ông nín lặng nhìn tôi như thể đánh giá trong câu nói của tôi có sự dễu cợt nào không. Lát sau ông từ tốn, nói:

– Đó là những người theo đạo Hồi. Hơn nữa cưới vợ để ăn đời ở kiếp với nhau cần có sự thương yêu và lòng chung thủy. Còn kiếm bàn bà, con gái để làm tình cho sướng thì ở nước tao bỏ tiền ra mua gái vừa trẻ vừa đẹp bao nhiêu cũng có.

Tôi nhìn mái tóc trắng phơ của ông mà ái ngại. Phải chi ông còn trẻ, tôi khuyến khích, nếu có cơ hội tôi sẽ giúp đở ông. Đàng nầy, tuổi của ông đã ngót nghét năm mươi. Sống chung với nhau đã lâu, tình tự quê hương của ông ít nhiều tôi cũng biết. Muốn hợp khẩu vị cho bửa ăn, ông bỏ cả buổi đi tắc xi tốn cả trăm đồng, tìm mua cho được một vài món rau cải và gia vị In-đô đem về. Lịch cuối năm người ta tặng đủ cảnh, đủ màu, nhưng ông không treo,  đi mua lịch Tàu chụp cảnh hải đão, núi non về treo trong phòng. Ông nói vì nó giống cảnh quê hương ông. Có lần ông nói, ngày trước con gái ở nước ông lấy chồng ngoại quốc là điều sĩ nhục cho gia đình, dòng họ. Còn ngày nay con gái lấy chồng bất cứ nước nào, không kể thành phần, miễn làm sao ra khỏi cái đất nước nghèo đói là điều hảnh diện cho gia đình rồi.

– Việt nam tôi cũng vậy thôi ông à.

Tôi định kể cho ông nghe, ở nước tôi ngày xưa có một cô Kiều, trước đêm bán mình, cả gia đình viên ngoại khóc lóc như một đám ma. Ngày nay con gái lớn lên cha mẹ đem bán ra nước ngoài để kiếm chút đô la mua xe, sắm sửa nhà, ăn nhậu phè phởn, ra đường cũng hảnh diện quá trời. Nhưng nhớ tới câu đèn nhà ai nấy sáng, quán nhà ai nấy biết, dại gì vạch áo cho người xem lưng. Tôi ngắn gọn:

 –  Lở sanh ra trên đất nước ghèo và chậm tiến mình phải đành chịu chớ biết làm sao. Nhưng ông qua Hà lan làm sao ông tìm được người vợ thủy chung như ông mong muốn.

     Ông dứt khoát:

– Tao không cưới vợ nữa.

– Tuổi già ở Hà lan buồn lắm ông ơi.

– Nhưng không lo đói, bịnh hoạn có thuốc men, già vô trại dưỡng lão có y tá săn sóc.  

Tôi uống hết mấy ly bia, mà ông Johannes vẫn chưa tới. Hai đội banh ngoài sân đã phân thắng bại, các cầu thủ tục tục kéo vô phòng thay quần áo. Một lát sau trở ra họ xúm nhau khiêng hai chiếc bàn đâu lại mới đủ chỗ ngồi cho hai nhóm. Hai đội bóng rổ cũng kéo ra ngồi dãi bàn cạnh bên. Ba người đàn bà đứng trước ba cái vòi bôm bia không ngớt tay. Một ông lăng săn khui nước ngọt, đổi tiền không kịp thở. Hội quán trở nên ồn ào, mùi khói thuốc bốc lên nực nồng, khét lẹt. Họ nói chuyện vài ba thứ tiếng khác nhau. Trong đám rộng ràng nhứt là mấy anh Phi luật tân, uống bia, rượu, ăn to nói lớn. Còn đám Ấn Ðộ, đầu vấn khăn cổ truyền, uống cô-ca-cô-la, ăn nói nhỏ nhẹ, nghiêm trang, tôi đoán họ là những người theo đạo nhưng không biết họ đạo gì. Ngoài nhóm thủy thủ Ba Lan ngồi riêng một bàn, những người da trắng khác ngồi trên hàng ghế cao cẳng trước quày ba, hoặc ngồi xen kẽ trong đám da màu.

Hội quán ở Hòa Lan sinh hoạt có vẻ hơi lành mạnh, không có các cô gái làm tiền vãng lai bắt khách. Tuy nhiên thủy thủ nào cua được gái thì cứ dẩn vô hội quán ngồi chơi không ai phàn nàn gì hết. Thỉnh thoảng cũng có mấy em tiếp thị tới từ mấy hộp đêm khác, đưa giấy quảng cáo mời qua đó chơi có xe đưa, rước miễn phí.

Một cái vỗ vai hơi mạnh, tôi giựt mình day lại. Ông Johannes vẫn để tay lên vai tôi, nhìn thẳng mặt, thân mật nói:

– Bạn hiền, khỏe không?   

Tôi câu vai ông, vừa mừng vừa đáp: 

– Khỏe, khỏe. Còn ông?

– Khỏe luôn.

– Lâu quá mình mới gặp lại.

– Từ lúc chung nhau trên chiếc Tina tính tới nay đã hơn hai năm rồi.

Tôi giơ tay lên gọi thêm hai ly bia. Trong quày không còn ghế trống, tôi với ông bưng bia ra ngoài sân ngồi nơi chiếc bàn dưới bóng đèn điện sáng chưng. Ông đưa tôi chiếc bọc nylon.

– Hôm thằng Ebet điện thoại, nói đi chung với mầy, tao kêu vợ tao tìm mua tặng mầy cái nầy, quà kỹ niệm Java đó. 

Vừa đở lấy chiếc bọc, vừa ngạc nhiên, tôi hỏi:

Ông cưới vợ rồi sao?

– Hơn một năm rồi.

Tôi giơ ly bia ngang mày:

– Chúc mừng ông.

Để ly xuống, tôi mở bọc xem quà, một chiếc xà rong, sọc màu nâu mới toan. Tôi ngước lên:

– Đẹp quá, có điện thoại về thăm nhà, cho tôi nhắn lời cám ơn bà.  

Tuy tóc trắng đầu nhưng nhờ vui vẻ, yêu đời nên thấy ông trẻ ra. Tôi hỏi:

– Hạnh phúc nhiều chớ?  

Ông gật gật cái đầu, giơ tay lên lắc lắc, trề cái môi, nghiêng cái mặt như định giá cái hạnh phúc hơn một năm qua.

– Tốt, tốt lắm. 

Đoạn ông móc bóp, moi ra tấm hình gia đình mới của ông giơ tôi coi. Ông chụp chung với người đàn bà tròn trịa, da ngâm và một đứa con trai đứng bên cạnh ú na ú nầng. Ông kể, chồng bà chết hơn ba năm rồi, con trai bà được mười một tuổi, đã dời về sống vời ông ở Jakarta.  

Tôi hỏi:

– Chuyện di cư qua Hà lan thì sao?  

Ông cười:

– Cách đây hơn hai năm, sau chuyến đi chung với mầy lần đó,  tao ở lại Hà Lan trọ nhà ông bạn gần thành phố Rotterdam. Ðịnh tìm một việc nào đó trên đất liền làm nhưng kiếm hoài không có việc. Tao với ông bạn ban ngày nếu không cà nhông ngoài đường thì ngồi nhà ôm cái truyền hình hoặc bày đồ chơi con nít ra chơi, tối lại rủ nhau ra bar ngồi uống bia. Những lúc đó, tao nhớ tới câu mầy nói, ở bên nầy tuổi già buồn chết sớm.  Mày nói đúng, sống cảnh đó một năm cũng đủ chết nói chi tới già.  Tao ở được một tháng, chán quá tao bay về In-đô và bỏ ý định làm thủ tục di cư.

Tôi tiếp một câu:

– Và quyết định lấy vợ?

Chúng tôi cười ha hả, và bưng bia lên uống:

– Mừng cho ông tìm được hạnh phúc.

Để chia vui cùng ông, tôi đứng lên đi vô mua thêm bia và một gói đậu phộng. Trở ra bày mọi thứ lên bàn. Sau đó chúng tôi đổi sang câu chuyện.

– Nghe nói ông đổi xuống chiếc Elsa phải không?

– Phải.

– Cảng nào?

– Houston. Chừng nào bay?

– Sáng mai.

Hồi chưa lập gia đình, tôi thường đi những tuyến đường xa. Tôi thích vùng Nam Mỹ nắng ấm, nhiều hải đảo, núi non và cảnhh đẹp tuyệt vời. Nhứt là đàn bà, con gái ở đó rất hấp dẫn và rất chịu chơi. Từ ngày cưới vợ tới nay tính ra hơn mười năm, để được gần vợ gần con, tôi hải hành vùng Âu châu và đi ngắn hạn. Mỗi khi gặp đồng nghiệp đi tuyến đường xa thì lòng tôi nôn nao pha chút ganh tị.

– Kỳ nầy ông sướng rồi nhé.

– Sướng gì?

– Thì chiếc Elsa chạy Nam Mỹ, sướng chớ sao.

Ông chỉ tay lên đầu, cười nói:

– Tao đã già, tóc bạc hết rồi còn bướm hoa gì nữa.

Ông bưng ly mời tôi cụng một cái. Lúc đó trong ba lắc chuông báo, chỉ còn rót bán rượu, bia thêm một vòng cuối. Johannes đứng dậy đi vô trong mua thêm bia. Ngồi một mình, nhìn món quà Java, tôi không biết bao giờ mới bận tới chiếc xà rong nầy, tuy nhiên nó gợi trong tôi hình ảnh người đàn bà ở bên kia địa cầu, chồng lên đường làm ăn vợ khuyến khích, sửa soạn đồ đạc, sắp xếp quần áo vô vali ngăn nắp, quyến luyến dặn dò, tiễn chồng ra đi, tuy có buồn nhưng trong lòng chứa chan hy vọng. Vợ thương chồng chung thủy đợi chờ, chồng tin tưởng vợ an tâm cất bước.

Johannes khệ nệ bưng hai ly bia ra để lên bàn. Ông ngồi xuống, nâng ly lên, nói:

– Bạn hiền, uống hết ly nầy mình chia tay.

 Tôi đưa tay lên nhìn đồng hồ, hơn mười giờ đêm, cũng gần tới giờ hội quán đóng cửa. Chúng tôi cụng ly, bưng lên nốc cạn. Đứng dậy rời hội quán, đi thẳng ra bến xe bus.   

Tiễn ông bạn già lên xe chợt nghe lòng buâng khuâng, nghĩ ngợi. Nếu ông sống bên Châu Âu thì tuổi nầy đã lo chuyện nghỉ ngơi và tranh thủ từng ngày để hưởng thụ cái  hạnh phúc gia đình mà ông mới vừa tạo dựng. Có đâu phải làm lại từ đầu, khoát lên mình một trách nhiệm mới, tiếp tục lên đường lo chuyện tương lai, chưa có dấu hiệu nào dừng bước.

Tuy nhiên nói đi thì phải nói lại. Tôi mới vừa bốn mươi tuổi, sống một nơi yên ổn, khỏi phải lo chuyện áo cơm, bịnh hoạn không lo tiền thầy, tiền thuốc, nhưng trong lòng lúc nào cũng bất an. Nhứt là mỗi khi sửa soạn lên đường, con cái đứa câu tay, đứa ôm cổ, mặt mày vợ buồn xo, nước mắt lưng tròng, tiễn chồng đi làm ăn mà giống y như đưa người sang sông không trở lại. Nhưng dù sao đêm cũng đã khuya rồi. Tôi quay gót thả tà tà trở về bến cảng. Đêm nay trăng tròn, sao thưa, trời không mây nên bầu trời rực sáng. Dưới bến cảng, cần trục mốc những containers vuông vức chất khẳm con tàu. Giữa đêm nay chiếc Gera sẽ khởi hành sang Ái Nhĩ Lan, tuần sau sẽ trở lại. Mang tiếng là thủy thủ tàu viễn dương, vậy mà bao năm qua tôi cứ lẩn quẩn trên một tuyến đường, không xa được thành phố Rotterdam nhiều khói máy và sông Rijn tàu bè ra vào nườm nượp trên dòng nước ô nhiễm đục ngầu.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Anh Hay Cự

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 2 May 2025

Thứ Bảy rồi anh Hay Cự, nhà báo, kêu tới nhậu. Tui hỏi: “Chị Hai có ở nhà không anh?”. Ảnh trả lời: “Nó giận tui, nó ôm đồ về nhà em gái nó rồi. Không có mấy bả, mình nhậu phẻ!”.

“Rồi hổng có chỉ ở nhà; ai làm mồi nhậu cho anh em mình?”. “Tui chớ ai! Bộ chú mầy không biết mấy tay khoái nhậu như anh đây, đứa nào cũng biết vài độc chiêu làm mồi nhậu rất bắt hay sao?”.

Anh nói tiếp: “Trời Melbourne đang chính Thu, chưa lạnh lắm, hai anh em mình uống bia đi! Có gỏi tai heo rồi. Ðể anh làm thêm món nghêu xào XO là đủ. Nhậu xong, nếu anh em mình còn đói. Mỗi đứa làm thêm một tô mì gói là phẻ re như con bò kéo xe”.

Nghe cái chương trình nhậu hấp dẫn, khoái quá tui bèn vác càng tôm lò mò bò tới. Tới không cần bấm chuông gì ráo; vì cửa cái đã rộng mở để chào đón người khách viễn phương ba ngày đêm nổi lên sình trương.

Anh Hay Cự đang lui cui trong bếp. “Làm gì đó anh?”. “Nghêu xào XO”. Ảnh vớt nghêu đang ngâm trong bồn rửa chén ra, chà sạch vỏ. Tui tiếp ảnh lấy hành lá và thêm vài trái ớt đặt lên cái thớt rồi xắt nhỏ. (Tui khoái ăn cay lắm. Vì nghe ăn ớt, nhứt là ớt Mexico cay thấu trời, dù món mà bao tử của mình không quen mình không bao giờ bị Tào Tháo rượt.)

Anh Hay Cự rót dầu ăn vào chảo. Ðợi dầu nóng trên lửa lớn, ảnh cho hành lá, ớt đỏ vào đảo đều chừng 2 phút. Xong ảnh trút nghêu vào. Rồi thêm dầu hào, nước sốt XO mua ở shop Tàu. Xong ảnh bớt lửa. Nghêu nó há vỏ ra. Thêm hành lá, ớt và vắt chanh vào. Cầm chảo đổ nghêu ra một cái dĩa trẹt bành ky nái. Khói bốc lên nghi ngút. Anh còn có bốn cái giò cháo quẩy, kéo cắt khúc, để chấm với nước sốt nữa chớ.

Té ra làm đồ nhậu dễ ợt. Cái gì ngoài chợ cũng có. Mua về đổ vô nồi; chờ nó chín rồi xực. Bấy lâu nay em yêu nấu ăn, tui lò mò xuống bếp tính học lóm nghề là em đuổi tui lên. Em nói: “Ðàn ông, con trai vô bếp làm gì?”. Tui khờ, cứ tưởng em yêu không muốn mặt tui dính lọ nghẹ. Ai dè sau nầy, tui mới khám phá ra là em cố ý cho tui “mù” nấu ăn. Em giữ rịt cái lợi thế vua làm bếp. Ðể tui sợ đói mà phải ngoan ngoãn nghe lời. Tui mới hơi hơi cà chớn là em hăm mẻ răng: “Mai tui về với má tui”. Nghe vậy, tui run lên bần bật. Nó bỏ mình đi rồi; ai nấu cơm cho mình ăn? Thế nào cũng đói chết nhăn răng. Cho nên em đặt đâu tui ngồi đó. Biểu cười là cười. Biểu khóc là khóc. Không dám “ngựa” vòng vòng. Cái vụ độc quyền, thiếu cạnh tranh khổ lắm mấy anh ơi! Chỉ trung thành, cúc cung phục vụ duy nhứt một con vợ, không dám mèo chuột gì ráo thì trước sau cũng bị con vợ nó đì. Con vợ giống như con… chí, nó trèo lên đầu!

Xong, hai anh em dọn ra một bàn ê hề. Nhậu tới Tết Congo còn chưa hết. Bia khui lốp bốp. Gắp miếng giò cháo quẩy, chấm nước sốt XO, tui nhai ngồm ngoàm. Chơi thêm một ngụm, bia trôi qua cái cần cổ nghe cái ót. Tui bèn đi ‘botte de saut’ vô đời tư của ảnh: “Chỉ giận chuyện gì mà bỏ nhà ra đi để anh cu ky một mình vậy?”. Hớp một ngụm bia cũng nghe cái ót, bọt bia dính trắng hàng ria mép, ảnh thuật lại: “Tháng trước, hai vợ chồng tui đi chợ Footscray. Con vợ tui thấy một chiếc kiềng có đính kim cương tuyệt đẹp, chưng trong tủ kiếng của một tiệm vàng. “Anh, anh! Vô tiệm coi nó một chút đi anh!”. ‘Chìu’ vợ, tui bước vào dòm; nhưng thực sự không muốn mua vì cái kiềng đó mắc tiền quá. “Em yêu, một ngày nào đó anh sẽ mua nó cho em mà”.

Một tháng trời trôi qua. Rồi hôm qua, bả hổng biết tui trốn đi đâu mất biệt. Cực kỳ giận dữ, em gọi điện thoại cho tui: “Nè, ông đang ở cái chỗ quái quỷ nào vậy?”. “Em yêu! Em có nhớ cái tiệm vàng nơi em đã thấy chiếc vòng cổ kim cương và em rất thích nó hay không? Lúc đó anh không có tiền và anh đã nói, một ngày nào đó nó là của em!”.

“Anh yêu! Em nhớ chứ!”. Em vừa trả lời vừa mỉm cười sung sướng. “Anh đang ở trong cái quán rượu sát bên tiệm vàng đó!”.

Rồi khi ngà ngà, đã đủ đô, tụi lội bộ về. Thì trước sân nào thấy bóng người. Hoa đào năm trước còn cười gió đông. Vô nhà, tui thấy trên bàn ăn có tờ giấy. Trên đó nguệch ngoạc vài hàng gởi anh trìu mến: “Một đi không trở lại. Cu ky một mình mạnh giỏi nhe!”.

“Nhát ma tui hả?”. Giận chồng xách gói ra đi. Chồng theo năn nỉ, tù ti trở về” Năn nỉ giờ hơi sớm. Mình nhậu hết đồ trong tủ lạnh cái đã rồi tui tính sau!

o O o

Vậy là hai đưa uống tì tì vì không biết chuyện gì để tán dóc. Cuối cùng thì rượu vô lời ra. Anh Hay Cự kể một chuyện đùa, mà Úc gọi là joke.

“Putin chết và xuống địa ngục! Sau một thời gian, Putin có hạnh kiểm tốt nên được quỷ sứ cho đi phép một ngày. Putin nhớ nhà bèn về lại Moscow. Putin vào một quán rượu, gọi một ly vodka và hỏi người pha chế: “Crimea có phải là của chúng ta không?”. “Vâng, Crimea đúng là của chúng ta”. “Và Donbas?”. “Cũng của chúng ta”. “Và Kyiv?”. “Dà cũng vậy”.

Hài lòng, Putin cạn ly và hỏi: “Cảm ơn, tôi nợ anh bao nhiêu?”. “5 Euro”.

Vốn trì độn, hơi ngu, tui ngẫm nghĩ hồi lâu mới hiểu hết cái ý nghĩa thâm trầm của 5 Âu kim. Tui phá lên cười ha hả. Nước bia xém văng trúng mặt của ảnh. Né qua một bên, anh Hay Cự hỏi khó tui: “Chú mầy có biết trong khi những người công chính trên toàn thế giới chửi Putin tơi bời vì xua quân qua Ukraine giết ông già, bà cả và con nít thì tại sao CSBV lại ủng hộ tên Putin đồ tể?”. Tui trả lời xụi lơ: “Thú thiệt là tui không biết sao kỳ quái như vậy?”.

Anh Hay Cự cắt nghĩa nghe rất hợp lý: “À! Hồi xưa Nga ủng hộ ta cướp nước VNCH. Giờ Nga cướp nước Ukraine ta phải ủng hộ lại chớ?”.

Anh Hay Cự có cái tật xấu là nghe ai nói gì trên Facebook trái ý anh là ảnh hay cự lại. Chính vì vậy ảnh có cái biệt danh là Hay Cự. Chớ thực ra anh thứ Mười tên Cu. Anh Mười Cu (nghe hết hồn hè) lần nầy không cự (mừng quá): “Anh cũng nghĩ y như chú”. Chiều nay tui đi mua vé số mới được!

Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 2 May 2026

Phía trước nhà ngoại tôi, có hàng cây duối. Thân cây sần sùi già cỗi, to cỡ người ôm. Cây không cao, tàn không lớn, mà chi chít lá rậm. Trong ấy thường lẩn khuất những con rắn lục màu lá non. Chung quanh gốc cây, người ta chất những nồi đất nứt vỡ, và ông táo cũ bằng gạch nung. Trong xóm có người đau bệnh, thân nhân thường đến đây đốt nhang khấn vái, còn lại những chân nhang tàn qua bao năm tháng. Ngoại tôi nói, có thần linh trú ngụ nơi cây duối. Và những con rắn lục là binh gia của ngài, không ai dám sát hại. Bọn trẻ nhỏ cũng kiêng dè, tránh tới gần chơi giỡn làm ồn, sợ thần linh quở phạt. 

Bên kia hàng duối là gò đất cao. Ðất khô cằn chai cứng. Ngoài những cỏ gấu, cỏ may và những bụi chùm hôi chịu được nắng hạn, không có cây gì mọc nổi trên khu đất gò. Vì địa thế cao, không úng nước, nên được chọn làm đồng mả riêng cho dòng họ ngoại tôi. Người trong thân tộc, tha phương bất cứ nơi nào, khi chết cũng đem về chôn ở đây. Có những cái mả xây bằng đá ong, lâu đời đến nỗi không ai biết nắm xương tàn của ông bà cố tổ dưới mộ tên gì, liên hệ huyết thống ra sao. Hồi nhỏ, nghe đồn khu gò đồng mả có ma. Nhất là sau khi dì Út tôi chết trong tuổi còn thanh xuân, tiếng đồn càng dễ sợ hơn. Chỉ tưởng tượng đến những đêm trăng lạnh mù sương, dì hiện hồn về, xoã tóc ngồi trên mộ mà khóc, cũng đủ làm đám trẻ nhỏ rợn mình. Gợi trí tò mò, năm ba đứa chúng tôi, núp dưới chân khu đất gò, rình coi ma. Ma đâu không thấy, nhưng đôi khi thấy những cục lửa màu xanh lân tinh từ trên gò, không biết nơi cái mộ nào, lảo đảo bay lên đọt tre. Tôi kể cho ngoại nghe hiện tượng này. Ngoại bảo, đó là hồn người chết bay lên trời. không nên nhìn, e hồn ma sẽ theo về nhà. Dù thương dì Út, nhưng không bao giờ tôi muốn dì trở về dưới hình bóng một con ma. Lúc còn sống, dì Út là người thanh tú hơn hết trong các chị em của má tôi. Da dẽ trắng trẻo mịn màng, và mỗi khi dì tháo búi tóc ra, tóc đen mướt, buông dài xuống quá lưng. Tôi hay nâng mái tóc của dì, đưa lên mũi hít thở. Dì cười, hỏi:

-Ngửi thấy thế nào?

 Tôi nói: -Nghe mùi của dì.

-Mùi dì ra sao?

-Mùi vú, và mùi dầu dừa.

Dì nhéo tai tôi:

-Ðừng nói mùi vú. Người ta cười chết. 

Thuở còn bé tí teo, tôi thường hay khóc đêm. Má tôi cho mằn vú để tôi dễ ngủ, đã thành thói quen. Khi ở nhà ngoại, tôi ngủ với ngoại hoặc dì Út, cũng không bỏ được tật mằn vú. Vú của ngoại thì teo tóp nhùng nhằng như cái túi da nhão nhẹt. Tôi thích vú dì Út hơn. Xoè bàn tay nhỏ của tôi mà xoa cặp vú căng phồng tròn trịa của dì, thật đã. Bóp mềm mềm như cái bong bóng. Nhưng lần nào tôi bóp, dì cũng hất tay tôi ra. 

-Ðừng!

Tôi hỏi:

-Ðau hả? 

Dì nói:

 -Mày cứ sờ mò nắn bóp hoài, làm sao dì ngủ được? Hãy nằm nghiêng qua bên kia, quay lưng lại phía dì! Nằm như thế, tôi lại trằn trọc hoài, khó ngủ. Một lúc sau, độ chừng dì đã ngủ, tôi quay qua mằn vú.

Dì thức giấc:

-Lại nữa! Mày muốn dì đuổi qua giường ngoại không?

Tôi nín thinh. Ðể im bàn tay trên vú. Cái đầu vú nhỏ xíu của dì kẹp giữa hai ngón tay tôi.

Và tôi êm đềm đi vào chiêm bao. Năm hai mươi mốt tuổi, dì soi gương đối bóng mỉm cười, hay chải chuốt và chưng diện áo quần. Dì trở chứng bất thường. Không thích ánh sáng, hay rúc vào buồng, nói chuyện nho nhỏ, cười khúc khích một mình. Mọi người cho rằng, dì mắc bệnh “cõi âm”. Dân gian thời bấy giờ giải thích, dì bị một vong linh đàn ông nào đó, theo quyến rũ tư tình. Nghĩa là bị ma ám. Sắc diện dì vàng võ khô héo dần. Năm sau, dì chết đi trong niềm đau xót của gia đình ngoại tôi. Tôi thương dì Út hết sức. Nhìn lên bàn thờ, di ảnh của dì ngó tôi không chớp mắt. Ban ngày tôi không sợ. Nhưng ban đêm mường tượng lại đôi mắt ấy, tôi sợ đến khủng hoảng tinh thần. Tôi cầu mong dì đừng hiện về nhát tôi, tội nghiệp.

Ðương nhiên, dì Út tôi được chôn trên khu đất gò đồng mả. Mộ xây bằng đá ong. Ngôi mộ nào cũng thế. Sao những cọng cỏ may phất phơ theo gió trên mộ dì Út lại mang màu ảm đạm thê lương, làm tôi muốn khóc? 

Năm xưa. Có hai thầy trò địa lý người Tàu, đi ngang qua xóm, dừng chân nhìn thế đất gò đồng mả, tấm tắc khen là nơi linh địa. Nghe thế, ông ngoại tôi mời về nhà, cơm nước đãi đằng tử tế, hỏi chuyện tương lai. Thầy Tàu cho biết, tổ tiên được chôn trên gò đất này, thì đời sau con cháu sẽ phát về hướng quan trường, phúc lộc. Ông lại nói thêm, phải chi cái gò nằm dựa lưng vào con sông thì tuyệt. 

Ông ngoại tôi hỏi:

-Tuyệt ra làm sao?

Thầy Tàu bảo:

-Gò đất dựa lưng con sông. dù không được như hàm rồng long mạch, nhưng cũng tựa như kình ngư quẫy sóng. Con cháu dù không phát vương, cũng có thể cầm gươm vạch đất, chia cắt giang sơn, cát cứ một vùng, ngước mặt mà làm minh chủ, sứ quân.Ông ngoại tôi chắc lưỡi, tiếc sức người không dời được con sông Vàm Cỏ Ðông về bên gò đất, cho con cháu mai sau được nhờ. Nhưng trời đã khiến vậy. Chịu thôi. Con cháu chỉ được làm quan lớn, hưởng nhiều phúc lộc, thoát được số phận hẩm hiu của bao đời cha ông còng lưng cày bừa trên những ruộng đồng rẫy bái, cũng an ủi lắm rồi.

Ðể đáp lại tấm lòng người đã tha thiết gọi mời, ân cần chiều đãi, ông thầy Tàu ở lại mấy ngày, giúp ngoại tôi đo đạc đất đai, định hướng mồ mả, đóng cọc yểm bùa trấn yêu chung quanh gò đất. Ông bảo, muốn đời sau hưng thịnh, thì đời này phải khai thông nguồn mạch ẩn tàng trong lòng đất. Xong việc, ông khăn gói ra đi, để lại tên học trò. Ngoại tôi mừng. Không nắm được thầy, thì cột chân học trò. Cũng là một cách giữ ông thần độ mạng nho nhỏ trong nhà. Và người con gái của gia đình làm sợi dây thân ái, nối với tên học trò Tàu, biến hắn thành con rễ. 

Thời gian thấm thoát. Cặp vợ chồng Tàu Việt cho ra đời đến sáu đứa con đầu gà đít vịt. Tôi là một trong sáu đứa này. Mấy chục năm qua, dòng họ ngoại tôi chưa có ai khá nổi. Ðừng nói chi đến chuyện ngóc đầu lên để làm quan triều đình.

 Sự kiên nhẫn đợi chờ nào cũng có giới hạn. Ngoại tôi hỏi chàng rễ Tàu:

-Sao người trong dòng họ nhà ta chưa khá? 

Ba tôi, tức chàng rễ Tàu, nói:

-Ngộ lâu piết.

 -Thế sao thầy của mày bảo cái khu gò mả nhà ta là linh địa?

-Nó lâu phải thầy của ngộ.

-Vậy nó là ai?

-Là người cùng một làng với ngộ, ở pên Tàu.

-Sao mày đi chung với nó?

 -Ở pên Tàu, nó nghèo, ngộ cũng nghèo. Nó rủ ngộ qua Việt Nam làm giàu. Nhưng xứ Việt Nam cũng nghèo quá. Nó dẫn ngộ li chỗ này chỗ kia hoài. Ngộ than mỏi cẳng. Nó muốn pỏ ngộ, nên pảo ngộ ở lại nhà nị. Có cơm ăn, có vợ ngủ. Ngoại tôi trợn mắt:

-Trời đất! Sao lúc đó, mày không nói?

Ba tôi trả lời tỉnh bơ: -Nị không hỏi. Ngộ nói làm chi.

-Bây giờ nó ở đâu?

-Ngộ lâu piết.

-Nó có phải là thầy phong thủy địa lý không?

-Nó cũng như ngộ thôi. Piết chi mà làm thầy.

-Khốn nạn! Vậy mà nó bảo khu gò mả nhà ta là linh địa.

-Nó gạt nị, pảo lất của nị linh thiêng. Nị tin nó làm chi. Lất chỉ có tốt hay xấu thôi. Làm gì có lất linh hay không linh? Ruộng vườn nhà nị, gò cao lất cứng. Trồng trọt vừa lủ ăn là may rồi. Ngoại tôi tức khí, chửi đổng:

-Tổ cha thằng Chệt tha phương cầu thực, dám gạt ta!

Dù có tức, thì chuyện cũng đã đâu vào đấy, như một tiền định. Ông ngoại tôi tuổi già sức yếu. Không còn cơ hội trở mình. Ðành bỏ hết những vọng động lo toan. Làm người sằn dã. Sống theo tinh thần Lão Trang. Hoà mình cùng trời đất. Yên phận với những nương xanh, bờ  cỏ, vườn cây.

Ba tôi nói:

-Nị là người trường thọ.

Ngoại tôi nạt:

-Lại nữa. Mày muốn bắt chước thằng Chệt tha phương cầu thực, gạt ta sao?

-Ngộ là con rể của nị. Lâu dám gạt nị. Năm nay nị gần pảy mươi, nhưng sức còn dẻo, lòng dạ thảnh thơi. Không làm thầy pói cũng piết, nếu không gặp tai nạn pất lắc kỳ tử, thì nị còn sống được nhiều năm nữa. Như thế không gọi là trường thọ sao? 

-Ừ! Mày cũng có lý. Nhưng từ nay, ta cấm mày không được dùng hai tiếng nị ngộ với ta.

Phải gọi ta là cha, và xưng là con.

 -Lược! Nị làm cha, ngộ làm con. 

Tám mươi ba tuổi, ông ngoại tôi thanh thản từ giả cõi đời. Nhiều năm sau, má tôi kể lại cho đám con đầu gà đít vịt nghe chuyện tình duyên của má. Anh em chúng tôi cười nôn ruột. 

Tôi hỏi:

-Tình duyên của má, nghe có vẻ quái đản. Vậy má có yêu ba không? 

Má nói:

-Má không biết tình yêu là gì. Nhưng sống với nhau lâu năm, má cũng thương vì ổng có trách nhiệm gia đình, và biết lo cho các con. 

-Lần đầu ngủ chung, ba có tâm tình gì với má không?

-Ngôn ngữ bất đồng. Ổng thủ thỉ thù thì xí xô xí xào bằng tiếng Tàu. Má không hiểu. Ổng xáp lại gần vuốt ve. Má cự tuyệt, hất ổng ra. 

Anh tôi nheo một con mắt, chọc quê: -Má hất ổng ra, mà có sáu đứa con lai giống. Nếu không hất, chắc tụi con phải có đến hàng tá anh em. Chúng tôi lại cười nghiêng ngửa.

Một lần khác. Nhân lúc ba tôi nhắc lại quãng đời tuổi trẻ, tôi hỏi:

-Ba ơi! Ở bên Tàu, dòng họ mình có ai nổi tiếng trong lịch sử không? 

Ông nói:

-Có chứ. Lâm Xung là một trong một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Pạt. 

Thời kỳ chiến tranh nha phiến, tổng trấn lưỡng Quảng, Lâm Tắc Từ, lổ nha phiến của pọn Anh xuống piển. Và trong cuộc trường chinh của Mao Trạch Lông, có Lâm Pưu làm lến chức thống tướng. 

-Còn ở Việt Nam, họ Lâm có ai nổi tiếng không?

-Mày học chữ Việt mà không piết ông Lông Hồ làm thơ nổi tiếng sao? Tên thật của ổng là Lâm Tấn Phát.

 -Còn ai nữa không?

 -Trong quân lội pây giờ, cũng có họ Lâm làm chức lớn. Bên Lục Quân có Lâm Quang Thơ, Lâm Quang Thi. Bên Hải Quân có Lâm Nguơn Tánh.

 -Mấy ông ấy đâu có bà con gì với mình?

-Gốc gác cùng một ông tổ họ Lâm ở pên Tàu. Sao lại không pà con?

 -Nhưng mấy ông ấy làm tướng. Còn nhà mình nghèo quá.

-Mới qua Việt Nam, thằng Chệt nào cũng chỉ có hai cái hòn dái treo tòn ten dưới háng.

 Xây dựng sự nghiệp pan đầu, pằng cách quảy cặp gánh li mua ve chai, pán đồ cũ. Khá hơn, thì mở tiệm pán pánh pao, hủ tiếu. Piết chút ít chữ Tàu, thì mở tiệm pán thuốc Pắc cho pà con Việt Nam. Lâu dần, mới khá lên lược. Cũng như tụi pây lang li lính, piết lâu vài chục năm sau, lược làm quan lớn. Quân lội Việt Nam sẽ có thêm vài ông tướng họ Lâm. 

-Ấy là chuyện tương lai xa vời, còn mù mịt lắm. Hiện tại, tụi con đang làm lính tác chiến, lúc nào cũng có thể phủi chân lên ngồi trên bàn thờ. 

-Sống ở lất nước này, phải hy sinh cho lất nước này, lền ơn tổ quốc.

 -Ba nói nghe dễ sợ quá!

-Sao lại sợ? Tao ở pên Tàu qua lây, tin có ông Trời sắp lặt mọi chuyện. Như chuyện tao với má tụi pây, cũng do ông Trời lịnh. 

Anh tôi cải:

-Phải nói là do ông ngoại định.

 Ba tôi lý luận:

-Ông Trời khiến ông ngoại. Ông ngoại ép má tụi pây phải chịu tao.

 -Như vậy là má bị ép duyên!

 Chúng tôi la lên. Lại được một trận cười nữa

 Ai cũng có hai nơi, quê nội và quê ngoại. Anh em tôi chỉ có một quê ngoại làm chỗ đi về. Ba tôi bảo, nên học chữ Tàu, để ngày nào đó, sẽ về thăm quê nội. Chẳng đứa nào có được ý niệm, hoặc hình ảnh thân yêu gì về một quê nội xa xôi. Và cũng không bao giờ tha thiết sẽ đặt chân lên một nơi chốn, mà tất cả anh em tôi đều cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Vì thế, chúng tôi không chịu học chữ Tàu. Ba tôi lại bảo, phải tập nói tiếng Tàu. Cái loại ngôn ngữ líu lo như tiếng chim, khó nghe khó nói. Anh em tôi không nghe không nói được. Rốt cuộc, ba tôi phảI tập nói tiếng Việt, nếu không muốn trở thành một người câm suốt ngày trong gia đình. Lý do cũng dễ hiểu. Mỗi lần ông la rầy bằng tiếng Tàu, chúng tôi giương mắt ngó cái miệng của ông, và cứ trơ ra, chẳng có phản ứng gì cả. Tức quá, ông học tiếng Việt để chửi chúng tôi cho hả dạ.

 Vì thiếu quê nội, nên bao nhiêu tình cảm, tôi dồn về một quê ngoại mà thôi. Từ ngày ông ngoại tôi mất, gia đình nhà ngoại càng sa sút thêm. Chính sự sa sút này, làm tôi nặng lòng vớI bà ngoại nhiều hơn. Miệng đời thường nói, không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Không biết các đời trước ra sao, chứ đến đời ngoại thì tàn mạt. Nhiều người cho rằng, nhà hướng ra hàng cây duối, nên phong quang bị quỷ thần che ám. Cửa nhìn về đồng mả, nên vận mạng bị âm khí người chết phong tỏa. Vì hai điều khắc kỵ ấy, mà ngoại tôi không mong gì ngóc đầu lên nổi. Nhưng nhà cửa đất đai đã có sẵn như thế từ đời trước rồi, còn biết đổi dời đi đâu nữa?

Những năm chiến tranh ác liệt, xóm làng nhà ngoại cũng tan hoang. Ðầu tiên là khu đồng mả. Quân du kích lợi dụng địa hình gò đống lô nhô, chiếm lấy cao điểm, biến nơi đây thành bãi chiến trường, tấn công phe địch. Phía Quốc Gia phản công bằng cách dùng phi pháo cày nát khu đồng mả, đánh bật quân du kích ra ngoài. Khi chiến trường im tiếng súng, thì mả mồ cũng tanh banh, quan tài bật nắp. Xác chết của người đời nay, nằm lẫn với xương trắng của người đời xưa. Nhưng xác chết được mau chóng thu dọn, người ta mang đi đâu không biết. Rải rác còn lại những đầu lâu xương trắng người đời xưa.

 Dưới cơn mưa mùa tháng bảy, ngoại tôi dầm mưa, gom lại từng khúc xương, chôn về huyệt cũ. Rồi ngoại thắp đèn đốt nhang trên bàn thờ khấn vái, và khóc còn hơn trời sầu đất thảm. Ðám con cháu ái ngại nhìn ngoại, nhưng chẳng đứa nào chạnh lòng khóc theo. 

Tôi cầm tay ngoại: -Thôi đi ngoại ơi, tổ tiên ngày xưa lúc mới chết, đã được khóc một lần rồi. Bây giờ chỉ còn xương cốt. Lẽ nào mỗi lần nhìn thấy nắm xương là mỗi khóc?

Ngoại mếu máo: -Thời mạt pháp, quỷ dữ lộng hành. Người chết không yên mồ mả. Người sống làm sao sống được?

-Ngoại đừng lo chi cho hao tổn tinh thần. Người sống cứ ăn cơm vào, là tiếp tục sống thôi. 

Ngoại tôi đang khóc, bổng ngừng lại, giận dữ điểm ngón tay vào mặt tôi:

-Tổ cha thằng Tàu lai đầu gà đít vịt. Nói vậy mà nghe được sao? Làm người phải có nguồn cội. Ðừng nói theo kiểu bội nghĩa vong ân. Mày chỉ nghĩ đến ông bà cố tổ nội của mày nằm ở bên Tàu, chứ có thương xót chi người ở đây!

Bà con anh em bên ngoại tôi, đang cố tạo vẻ mặt rầu rầu cho phù hợp với nỗi sầu ai oán của ngoại, bỗng cười rộ lên. Ngoại cũng gạt nước mắt, cười theo. 

Nhiều lần, sau những cuộc đụng độ giữa hai phe lâm chiến, xóm làng nhà ngoại tiêu điều thê thảm. Người ta dùng xe ủi, khai quang cây cối chung quanh khu đất gò. Những hàng tre, lùm bụi trong xóm cũng bị san bằng trống trải. Hàng cây duối, mà ngày nào đó, ngoại tôi nói có thần linh trú ngụ, cũng không còn nữa. Chẳng biết thần linh di tản nơi nào? Có dẫn đám binh gia rắn lục của ngài theo? Bây giờ, nhà ngoại đứng trơ vơ giữa đồng không mông quạnh. Ngó lên khu đất gò, mộ bia xiêu lệch, như những nấm mồ hoang. Quân du kích không còn nơi ẩn núp, lui sâu hơn vào những vùng hẻo lánh. Ban đêm. Thỉnh thoảng, họ về làng kiếm ăn, và rỉ tai ngoại tôi:

-Quân ngụy ác ôn. Cày mồ phá mả. Hủy diệt màu xanh. Triệt tiêu mầm sống. Phá hoại làng mạc. Ðem bom đạn giết hại dân lành…

Ngoại nói:

-Nếu các ông không núp ló trên khu đất gò, không rình mò bắn lén, thì bom đạn đâu có động đến mồ mả nhà tôi.

-Mẹ chiến sĩ đừng nói thế. Luận điệu mất lập trường của mẹ, dễ bị phê bình chỉ trích là phản cách mạng.

-Tôi có nhập bè kết đảng với ai đâu, mà bảo là phản?

-Mẹ nói thế là có ý gì?

-Tôi không có ý gì hết. Chỉ yêu cầu các ông, kéo nhau vô rừng mà đánh nhau. Ðừng lảng vảng chung quanh đây. Tôi sợ bị vạ lây. Tôi già rồi, chỉ mong được yên thân cho đến ngày nhắm mắt.

-Công cuộc giải phóng đất nước còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh gian khổ. Mẹ ích kỷ, chỉ muốn được yên phần mẹ. Tư tưởng như thế, nhân dân không thể chấp nhận.

Ngoại tôi không dám nói tiếp. Khi người ta đã viện lý do giải phóng, thì không từ nan bất cứ biện pháp sắt máu nào. Khi đã lạm dụng đến hai tiếng nhân dân, thì mọi cá thể đều không nghĩa lý gì.Mãi lâu sau, có người hỏi ngoại:

-Già rồi, còn sợ chết hay sao? 

Ngoại ngước mặt, nhìn trời: Thân phận hèn mọn như con trùn con dế, còn ham sống thay. Huống chi ta! Nếu đứng bên ngoài mà trông, nhà ngoại rất bề thế. Nhà rộng ba gian, nền cao lót gạch, mái ngói âm dương. Dù tường vôi loang lở nhưng còn thể hiện được cái quá khứ sung mãn một thời. Vào bên trong rỗng tuếch, mới thấy hết được sự suy sụp của thời gian, phơi bày ra nỗi nghèo nàn cơ cực. Ðồ đạc cũ kỹ, lâu ngày mối mọt hư hao. Cối xay lúa, và cối giã gạo chiếm gần hết gian nhà giữa. Hồi nhỏ, mỗi lần nghe tiếng xay lúa rồ rồ, tiếng giã gạo cùm cụp, thế nào tôi cũng ngủ gục. Có khi còn nằm lăn ra bên cạnh cối xay, thiếp đi một giấc ngon lành. Cái âm thanh và hình ảnh nghèo nàn thân thuộc ấy, tiềm tàng ăn sâu vào tâm thức, đeo đẳng theo tôi suốt đời. Nhiều khi bồi hồi nhớ lại, tôi tưởng chừng còn nghe tiếng cối xay đang rền rĩ trong đầu, và mềm lòng đến ứa nước mắt. Gian nhà trên, có bộ ván gõ. Mỗi tấm ván dày cỡ gang tay. Qua bao thế hệ thấm đẫm mồ hôi, mặt ván lên nước bóng ngời. Những trưa mùa hè, nằm trên bộ ván, nghe mát lạnh tấm lưng. Sát vách, có ba cái tủ thờ bằng cẩm lai khảm xa cừ, chạm hình cảnh và người. Tôi ngắm hoài không chán. Lớn lên, mới biết những hình ấy lấy sự tích từ truyện Tàu. Ðặc biệt hơn nữa, nhà ngoại có cái rương bằng gỗ, rất to. Tôi chưa từng thấy nhà ai có cái rương to đến thế. Cái rương to như chiếc xe bò. Phía dưới có gắn bốn bánh xe, cũng bằng gỗ. Ngoại tôi nói, vào thời trước, mỗi lần chạy giặc Tây, người trong gia đình phải đẩy cái rương chạy theo. Có lần ngoại mở nắp rương, tôi thấy bên trong toàn là chén dĩa bằng sứ, và những nồi đồng, mâm thau cất giấu lâu ngày không dùng, nên bị rỉ một lớp ten xanh. 

Tôi hỏi:

-Chạy giặc, sao còn đẩy cái rương theo?

Ngoại nói:

-Bỏ lại, Tây sẽ lấy hết.

-Ở bên Tây không có những thứ này sao?

-Xứ nó nghèo, làm sao có được của quý? Nó qua xứ mình để ăn cướp. 

Tôi tin lời ngoại, nhưng vẫn thắc mắc. Tây qua xứ mình chỉ để cướp đi những chán dĩa, nồi đồng, mâm thau thôi sao?

Ngày còn thơ ấu. Những buổi trưa, tôi thường nằm ngủ trên bộ ván gõ nhà ngoại. Khi thức dậy, thấy những tia nắng xuyên qua những lỗ hở trên mái nhà, dọi xuống. Trong tia nắng, có vô số hạt bụi bay vơ vẩn, như những sinh vật li ti đang bơi trong không khí. Không biết tại sao, cảnh tượng này, lại gây cho tôi một nỗi buồn khôn tả. Ðang buồn, nhìn vào phía trong lại thấy cái rương quá to. Ðiều kỳ lạ, là càng nhìn cái rương càng to ra, và tôi có cảm tưởng mình càng bé lại. Thế là tôi khóc. 

Ngoại tôi cằn nhằn:

-Thằng nhỏ này có cái thói không chừa được. Lần nào ngủ trưa dậy, cũng khóc.

Cậu tôi là người rất dữ dằn, doạ nạt cỡ nào, tôi cũng không nín. Cậu bỏ tôi trong cái thúng. Ðặt cái thúng vào chiếc gióng. Cột dây thòng tôi xuống giếng. 

-Nếu mày không nín. Tao thả rớt xuống luôn.

Tôi vừa khóc vừa nói:

-Thả rớt luôn đi. 

Cậu từ từ thòng tôi xuống chạm mặt nước. Nước làm ướt đít tôi.

Cậu hỏi vọng xuống:

-Mày chịu nín không?

 Tôi khóc, không trả lời. Cậu hạ thêm. Nửa người tôi ngập trong nước.Giếng quá sâu, không đủ ánh sáng. Nước lại lạnh. Thành giếng cũng toát ra hơi lạnh. Tôi quơ tay ra ngoài, đụng phải thành giếng rong rêu trơn nhớt. Cảm giác rờn rợn luồn vào da thịt, làm tôi khiếp vía. Hình như tôi bị ngộp. Không biết vì giếng sâu thiếu dưỡng khí, hay sự sợ hãi làm tôi khó thở. Tôi nhắm mắt lại, và muốn được chết ngay, để thoát cái cảnh bị hành hạ khốn nạn này.

Có tiếng ai la nheo nhéo trên miệng giếng. Và cậu kéo tôi lên. Tôi thấy ngoại đang khóc.Ngoại nhấc tôi ra khỏi cái thúng, mắng cậu: -Mày độc ác. Doạ kiểu này, nó hoảng hồn chết luôn làm sao? 

Cậu chống chế:

-Nó mà hoảng hồn? Thằng này lì lắm. Thiên lôi tầm sét, chưa chắc đã làm nó sợ. 

Ngoại dẫn tôi vào nhà, ôm tôi và khóc. Trong khi ngoại khóc, tôi lại nín khe. Thương ngoại bao nhiêu, tôi oán cậu bấy nhiêu. Từ đó trở đi, nơi nào có cậu, tôi đều tránh mặt. Nghe tiếng nói tiếng cười của cậu, tôi cũng ghét. Ấn tượng một lần bị thả xuống giếng, tôi không bao giờ quên.

Sau này, cậu bỏ nhà theo Việt Minh. Trong gia đình ai cũng nhắc nhở, nhớ thương. Riêng tôi lại mong, cậu đi đâu thì đi luôn cho rồi. Ðừng về nữa. Thế nhưng, thỉnh thoảng cậu vẫn ghé về thăm nhà. Tôi chỉ chào hỏi qua loa, rồi lẩn mất. Những chuyến đi về của cậu, càng về sau, càng thưa dần. Rồi cậu đi biền biệt, bặt tin luôn. Ðến khi nghe tin cậu mất, mọi người trong thân tộc bàng hoàng. Má tôi chảy nước mắt như mưa. Ngoại xót xa rên xiết từng đêm. Tôi không hề xúc động, dửng dưng như người chưa từng quen biết. Cậu là người duy nhất trong dòng họ ngoại tôi, khi chết không đem được xác về chôn trên khu đất gò đồng mả.

Cái chết của cậu, một kẻ trở về kể lại, nghe cũng rất ly kỳ. Cậu đặc trách công tác nội thành. Lâu lâu, về mật khu để báo cáo tình hình. Một buổi chiều. Cậu cùng vài ba đồng chí về gần tới mật khu.Bỗng nghe bên đường, trong cây rậm, có tiếng hô lớn:

-Tất cả đứng lại. Giơ tay lên! 

Cậu nói:

-Ðường sá xa xôi, mệt lắm rồi. Ðừng đùa, đồng chí ơi!

-Tao bắn bể đầu. Chứ đùa với mầy hả? 

Những người cùng đi với cậu dừng lại, sửng sốt. Ðây là địa phận an toàn của Việt Minh, sao bị phục kích?

Từ trong cây rậm, ra lệnh:

-Thằng cha quấn khăn rằn trên cổ, đứng lại. Những người khác tiếp tục đi.

Cậu ở lại. Người ta dẫn cậu đến một cái chòi của rẫy bắp, trong rừng. Nơi đây, cậu được ăn một bữa cơm chiều với khô trâu. Sau đó, cậu bị chính những người đồng chí của mình kết tội, lợi dụng công tác nội nội thành, làm gián điệp cho Tây. Người ta trói, và dẫn cậu đến một cái giếng lạn, loại giếng bỏ hoang lâu ngày, khô nước. Cậu bị đập đầu, xô xuống giếng. Giữa rừng già mênh mông, tìm cái giếng để đem xác cậu về, không là chuyện dễ. 

Vợ cậu, người tôi gọi bằng mợ, nhan sắc mặn mà, sắc sảo khôn ngoan. Mợ quyết chí trả thù chồng, làm đơn khiếu nại, tố cáo kẻ giết chồng mợ. Ðể tránh con mắt dò xét của người lạ, mợ giấu đơn từ vào trong chiếc nón lá, và chằm kín lại, trông như chiếc nón bình thường. Một ngày mưa, mợ đội nón lá ra đi. Tôi đứng trước thềm hiên, trông theo người đàn bà khốn khổ. Thấy mưa rả rích trên hàng dừa trước ngõ. Mưa mù tận ngoài bưng. Mưa khuất rặng cây xanh ở phía chân trời. 

Ngoại tôi chạy theo, níu áo:

-Con ơi, người chết không sống lại được. Con khiếu nại, tố

cáo cho ra lẽ, thì chuyện cũng đã rồi. 

Mợ nói:

 -Người ta giết oan chồng con. Lẽ nào con cắn răng im lặng?

-Nếu không im lặng, con làm gì được ai?

Mợ nghẹn lời, rồi bật khóc. Cương quyết dứt áo ra đi.

Ngoại tôi lủi thủi quay vào. Ðầu tóc ướt mem. Ngồi rũ trong bếp. 

Những ngày sau. Ngoại bồn chồn không yên, trông mợ trở về. Không phải để nghe mợ báo tin, trả được thù chồng. Ngoại chỉ sợ người ta sẽ thủ tiêu luôn cả mợ. Rồi mợ cũng về trong bơ phờ thất vọng. Những đồng chí cũ của cậu đều làm ngơ, không ai nhận trách nhiệm về cái chết của cậu.

Cái gan của mợ, chẳng biết lớn tới cỡ nào. Mợ nhất định rời khỏi nhà ngoại. Rời khỏi cái nôi của đại gia đình dòng họ nhà chồng, dẫn mấy đứa con nheo nhóc về vùng kiểm soát của Lực Lượng Liên Minh giáo phái Cao Ðài. Không lâu sau, mợ lấy một sĩ quan của Lực Lượng Liên Minh. Dựa thế lực chồng mới, báo thù cho người chồng cũ. Máu oan cừu của cả hai phe lại âm thầm đổ xuống. Không phải qua những đụng độ trên chiến trường, mà bằng những thủ đoạn rình rập chặt đầu, bắn giết thủ tiêu nhau. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự tàn mạt cho gia đình ngoại tôi. Bởi các đồng chí cũ của cậu, coi gia đình nhà ngoại là thù địch, luôn luôn theo dõi, gây ra nhiều nỗi khó khăn. Theo thời gian, nhà ngoại đổ xiêu rách nát. Bà ngoại tôi bỏ nhà, lên khu đất gò, nằm kế bên mả ông ngoại. Má tôi rầu rĩ ho lao, cũng vội vàng lên chiếm một chỗ trên khu đất gò. Ba tôi từ bên Tàu, theo ông thầy phong thủy địa lý giả mạo sang đây, bị bỏ rơi ở nhà ngoại. Ngoài người vợ Việt Nam, và mấy đứa con lai Tàu, ông không còn liên hệ họ hàng với ai. Khi má tôi từ giả cõi đời, ông buồn tình, không thiết sống nữa. Thế là ông tự động đứt mạch máu não, hôn mê mấy ngày trước khi bơi qua sông Nại Hà, theo cho kịp má tôi. Ðối với bên vợ, ba tôi là người ngoại tộc, nhưng cũng được đặc ân chôn trên khu đất gò đồng mả dòng họ ngoại tôi.Thời thế xoay nhanh đến chóng mặt. Mặt đất cũng biến đổi dị thường sau những thăng trầm dâu bể. Mồ mả tiên tổ bao đời của ngoại tôi, được lệnh bốc đi nơi khác. Trên quê hương xứ sở, còn có nơi nào được nằm yên vĩnh viễn? Thôi thì hốt cốt, dồn chung lại, hoả táng một lần cho xong. Khu đất gò, bây giờ là văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Xã. Từ trên văn phòng Ủy Ban nhìn xuống, cái nền nhà cũ của ngoại, mọc lên hai dãy nhà kho, dùng chứa nông phẩm Hợp Tác Xã. Và vườn cây ăn trái phía sau nhà ngoại cũng bị san bằng, biến thành sân đá banh.

Dòng đời, và tất cả cơ ngơi của ngoại tôi, chỉ còn trong hồi tưởng. 

Lâm Chương