Huy Phương
Post by Sơn râu 5 May 2026



“Lũ chúng ta, ván cờ dở cuộc
Tướng bỏ thành, phá tượng, buông xe
Ta thân tốt chân trời góc bể
Buổi qua sông chăng hẹn ngày về.”
(Bài Tháng Tư- Huy Phương)
** Chúng tôi là những con Tốt trong bàn cờ, nay đã qua sông, khó còn có thể trở lại nơi mình đã xuất phát ra đi. Trong các môn cờ, có lẽ cờ tướng là món cờ thanh lịch, phong lưu và phổ thông trong dân gian nhất. Không thanh lịch, phong lưu sao chúng ta thường thấy cảnh hai ông tiên, râu dải, tóc bạc phơ ngôi đánh cờ trong chuyện cổ tích hay trên hòn giả sơn, bên dòng suối chảy róc rách trong một khung cảnh thần tiên. Chuyện cổ có kể hai ông Nam Tào Bắc Đầu vì mãi dánh cờ trên ngọn Nam Sơn, bị chàng trai tên Triệu Nhan phục dâng rượu thịt mà phải sữa sổ tử, thập cứu (19) thành cửu thập cứu (99). Không bình dân sao người ta bày bàn cờ nơi công viên, trong tiệm hớt tóc hay ở quán cả phê để đấu trí mỗi ngày quên cả giờ giấc, ăn uống. Ngày xưa ít nghe ai nói dến cở tướng là môn cờ bạc. ăn thua bằng tiền, cũng không ai xếp môn đánh cờ vào chuyện đỏ đen, nhưng ngày nay khi cờ tướng dã đi vào quán rượu, ra ngoài công viên, đôi khi trở thành môn chơi sát phạt nhau bằng tiền, hết còn là thú vui tao nhã.
Đàn ông, con trai ngày lrước hầu như ai cũng biết đánh cờ tướng, đó là một trong bốn món phong lưu tài tử: cầm-kỳ- thi- tửu. Nếu bất tài không biết đàn địch. làm thơ thì nam nhi, tệ lắm, cũng phải biết uống rượu và đánh cờ. Cờ tướng không chỉ là một môn tiêu khiển thuần túy, nhưng là cả một nghệ thuật. mà người chơi phải “đau đầu” vì vận dụng trí não. Chuyện đánh cờ đã đi vào đời sống của dân gian, nên Việt Nam có nhiều thành ngữ dính dáng đến việc cờ, ứng dụng vào sinh hoạt của chúng ta, nào là “lật ngược thế cờ”, “con tốt thí”, “mách nước”, “chưa sạch nước cản”, “chầu rìa” … Nhưng cờ tướng phát xuất từ đâu, lịch sử nó ra sao? Có hai giả thuyết chính về nguồn gốc cờ tướng:
1. Cờ tướng do cờ Lục Bác phát triển mà thành. Cờ Lục Bác du nhập vào Ấn độ, phát triển thành Saturanga. Saturanga sao đó lại du nhập ngược vào Trung quốc, kết hợp với cờ tướng đang có để trở thành cờ tướng ngày nay:
2. Cờ tướng là do Saturanga, một phát minh của người Ấn độ, du nhập vào Trung quốc phát triển mà thành, không liên quan gì đến cờ Lục Bác. Theo các trang weh của Tầu thì cờ tướng đã có ở Trung quốc rất lâu trước khi người Ấn có Saturanga. Trong các tác phẩm tử thời Chiến quốc như “ Thuyết Uyển” và “Chiêu hồn-Sở từ” đã có nhắc đến cờ tướng (mà người Trung quốc vẫn gọi là Tượng kỳ)

Photo by Sơn râu
Cờ Để Thích.
Nhân gian có câu: “Rượu Lưu Linh, Cờ Đế Thích” và Đế Thích được coi như Vua Cờ. Theo nhiều sách vở, thì Đế Thích là một vị Tiên, nổi tiếng uống rượu và đánh cờ không ai bì kịp. Có nguồn thì cho rằng trong thần thoại Ấn Độ thì Đế Thích là Indra, một vị Thiên Đế trợ thủ Đức Phật Thích Ca sơ sinh, là bậc Vua Cờ.
Ở Việt Nam, xưa kia, tại làng Mộ Trạch, Huyện Đường An, tỉnh Hài Dương, có một người tên là Vũ Huyến. Khi mới sinh ra, ở giữa trán, nổi lên một nốt đỏ, trông hình như quân cờ. Lúc bé có chí khí ngang tàng, khi 15 tuổi, học được phép tiên, đánh cờ rất cao, trong nước không ai địch nổi.
Đánh cờ: chuyện không đơn giản!
Đánh cờ là một thú giải trí tao nhã nhưng đầy mưu lược và mỗi người điều khiển quân cờ phải vận dụng trí óc, mưu mô, đấu trí gay go để chiến thắng. Người đánh cờ khi ngồi vào bàn, không khỏi để lộ bản tính (mưu lược, háo thắng, nóng náy hay trầm tĩnh, lạnh lùng), nên nhiều bàn cờ đã trở thành chuyện đấu đá tay chân.
Kỵ nhất là những ông “ăn không ngồi rồi” chuyên đứng ngoài mách nước, là diều xấu nhất mà không người đánh cờ nào thích. Nhiều người đánh cờ khi ăn được một con xe hay pháo xong. “liều nhân đắc chí” rung đùi cười khanh khách, thế nào cũng có ngày bị bàn cờ gỗ đánh lên đầu. Người đánh cờ lịch sự phải từ tốn, khi loại được một con cở đối thủ, nhẹ nhàng dời con cờ địch ra khỏi bàn, chứ không lấy cờ mình gõ mạnh lên đầu con cờ đối thủ một cách thô lổ.
Khởi đầu, tuy chúng ta đã biết “chậm một nước cờ” có thể đem đến thất bại, nhưng vào bàn cờ, nguyên tắc cùng sự tao nhã, chúng ta phải:
– Nhường người nhỏ tuổi đi trước
– Người cấp bậc, chức tước nhỏ đi trước
– Nhường khách đi trước (tiên khách hậu chủ)
Về luật cờ có quy định:
– Mỗi lượt suy nghĩ để đi con cờ là 120 giây (như vậy là quá lâu, một bản cờ đôi khi kéo dài cả vài tiếng đồng hồ!)
– Hạ thủ bất hoàn (ăn con cờ của đối thủ rồi không dược trả lại để hoàn nước đi.)
– Chỉ cho dùng 6 nước liên tiếp cho một quân cờ. 12 nước liên tiếp cho hai quân, 18 nước liên tiếp cho ba quân.
– Bị xử thua khi vị phạm luật chiếu và đuổi. khi để lâu không đi cờ của mình (quá 120 giây), khi thoát khỏi trận đấu một cách đột ngột.
– Xử hòa khi hai bên đều đồng ý ngưng cuộc “cầu hòa”, dây dưa 6 nước liên tục, hay sau 300 lượt đi mà chưa phân thắng bại.
Để xếp loại người chơi cờ theo trình độ, theo sách vở, gồm có tổng cộng 7 cấp độ, từ thấp lên cao:
– Nhập môn,-Tập sự,- Tân thủ,- Kỳ thủ,-Kỳ nhân, – Kỳ vương, – Kỳ tiên
Bàn cờ: trận địa.
Bàn cờ tướng chính là trận địa mà hai quốc gia đang dàn trận, quân cờ hai bên, tượng trưng có:
*Tướng (Vua hay tổng Thống),
*Sĩ (Bộ Tham Mưu).
*Tượng (Liên Bình Phòng Vệ Tổng Thống Phủ)
*Xe- Mã (Ky Binh, Thiết Giáp).
*Pháo (Pháo binh), và
*Tốt (Khinh Binh).
Một bàn cờ tướng mỗi bên 16 quân gồm một Tướng, hai Sĩ, hai Tượng, hai Xe, hai Pháo, hai Mã và năm Tốt, nhưng dã tạo nên hằng trăm nghìn thế cờ, không thế nào giống thế nào. “Sạch nước cản” là bước đầu tiên của người đánh cờ, cho nên người ta chê người không biết đánh cờ là “chưa sạch nước cản”. Tướng tá dở đôi khi cũng thất bại vì không có tài điều quân, để gặp những sai lầm rất cơ bản, làm tổn thất bao nhiêu nhân mạng binh sĩ.
Một vài nguyên tắc căn bản như “mã nhật, tượng điền, xe liền, pháo cách”, tướng không dược xuất cung. Để bảo vệ Tướng. Sĩ chỉ được đi chéo trong cung. Tốt là loại khinh binh thiệt thòi nhất, không bao giờ được lùi, trước khi sang sông, chỉ cắm đầu tiến tới, “thi hành trước, khiếu nại sau”, qua đến đất địch rồi mới được đi ngang nhưng không thể đi lùi. Người dánh cờ chính là vị Tổng Tư Lệnh Mặt Trận, chỉ huy quân sĩ, dàn mặt trận, bố trí phòng thủ, hay triển khai thế tiến công, biết địch tình, chiến lược của địch, tiến thoái tùy theo mưu tri của người cầm quân. Người dánh cờ cũng như Tướng cầm quân, phải đủ kinh nghiệm chiến trường, trầm tĩnh, nhẫn nại không háo thắng (ăn quân nhiều) để sơ hở (bị phục kích). Có người mạnh về phòng thủ, nhưng cũng có người sở trường về tiến công, không khác gì một trận túc cầu hay một trận địa chiến giữa hai quốc gia. Trong thế cờ, cũng có phục kích, truy cản địch, lừa địch tạo những thế cờ làm cho địch quân khó cứu gỡ. Người cao cờ di dịch một quân cờ phải tính trước năm mười nước, kẻ bị động chống đỡ thụ dộng chỉ chống dỡ từng nước một. Chống đỡ hay tính loán một nước cờ chỉ mới là “chiến thuật”.
Người đánh cừ nghĩ trước năm bảy nước như tướng cầm quản ngoài trận chiến, mới dược gọi là tướng “chiến
lược”. Có người đánh thí quân (đánh biển người) để dành vài con cờ chủ lực. dể tấn công vào phút chót, gài phía địch vào một thế khó lòng gỡ ra. Người la dùng chữ “thiên hình vạn trạng” để nói về những thế cờ trên bàn cờ tướng.
· Sách dạy đảnh cờ cũng như binh thư cho tướng lãnh ngoài mặt trận. Các nguyên tắc chiến lược sau đây cần tôn trọng:
1. Phải nhanh chóng triển khai toàn bộ quân chủ lực . Quân chù lực Xe, Pháo và Mã của cả hai cánh phải được huy động nhanh chóng tiến chiếm lấy những mục tiêu thuận lợi, án ngữ chận bước tiến của đối phương hay dể che chở hỗ tương chiến đấu,
2. Phải hình thành một thế bố trí quân linh hoạt. Phải sử dụng hợp lý các nước đi Tốt và Sĩ, Tượng để không làm cản trờ cho việc phòng thủ từ hai cánh của xe. Vai trò tốt đầu rất quan trọng, vừa giữ vai trò phòng thủ vừa tấn công.
4. Trong lúc mới ra quân không nên sử dụng một quân đi nhiều lần, trong lúc để các quân khác án bình bất động nếu đối phương ra quân đầy đủ để tiến tấn công, sẽ không có lực lượng để đối phó kịp thời.
5. Khi chưa triển khai đủ lực lượng thì không nên vội tấn công
6. Không nên tham lợi nhỏ mà hư việc lớn, bị vào bẩy (phục kích) làm tiêu hao lực lượng.
7. Phải tránh tình trạng bố trí lực lượng cản trở đường đi của quân nhà.
Một vài điều trong binh pháp Tôn Tử áp dụng cho cờ tướng:
– Tấn công vào chỗ địch không phòng bị. ra quân khi địch không chú ý.
– Lấy cái lợi mà dụ địch
– Làm cho đối phương rối loạn để giành lấy chủ động.
– Tuyệt đối không cho địch rõ đường đi nước bước (chiến thuật, điều quân) của chúng ta.
– Khiêm tốn làm cho địch kiệu ngạo chủ quan.
Tàn cuộc cờ.
Cuối cùng phe địch được một nước “chiếu Tướng” cũng như công hãm được nội cung, Tướng bị tấn công phải dùng Bộ Tham Mưu và Lực Lượng Phòng Vệ “Sĩ-Tượng” để bảo vệ cho mình. Khi Lực Lượng Phòng Vệ tan tác, để Pháo địch rót trúng. Thiết giáp. Kỵ Binh cùng khinh binh địch tràn vào thành, thì Tướng ắt nguy cơ (tốt nhập cung, Tướng khốn củng).
Theo nguyên tắc của cờ tướng, một cách quân tử, không được chiếu hậu, nghĩa là không được chiếu tướng từ phía sau, nhưng cũng nhiều ván cờ chấp nhận chuyện đánh bọc hậu. Trong chiến tranh, đánh bọc hậu (nhảy dủ hay thả biệt kích vào hậu tuyến của địch bất ngờ thì tướng phải khốn nguy, trở tay không kịp).
Sĩ Tượng không được ra khỏi thành, lực lượng phòng vệ và hộ tham mưmu phải theo sát để bảo vệ nguyên thủ quốc gia. Nguyên thủ quốc gia (tượng trưng là con Tướng) phải ở hậu cung, nếu lên trực thăng bỏ thành bay đi thì ván cở coi như tàn cuộc, quốc gia tan nát. Khi hết nước đi, cờ không còn quân, chiến trường tan hoang, không phân thằng bại thì hai bên công nhận thủ huề (ký hòa ước,) hay nếu một bên bí nước, quân bị tàn sát gần hết, vộ phương cứu chữa thì xin chịu thua (đầu hàng.)
Dã sử về chuyện dánh cờ.
Ngày xưa, dười đời vua Trần Dụ Tôn (1311-1369) nước ta đang ở trong thời kỳ bị nước Tàu dòm ngó muốn xâm lăng. Vua Tàu sai sử giả sang nước ta để thách đố đánh cờ với vua Dụ Tôn. Vua Dụ Tôn là một tay cờ dỡ nên trong lòng rất lo ngại. Quần thần hiến kế cử người đi tìm người cao cờ dế giải quyết chuyện đấu cờ với sứ Tàu. Khi ấy ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An có ông Vũ Huyến là một hảo thủ tượng kỳ. Ông Vũ Huyến vào yết kiến vua, cam đoan giúp nhà vua thắng sứ Tàu, nhưng cuộc cờ phải bắt đầu vào đúng ngọ và xin nhà vua cho Vũ Huyến được đóng vai lính hầu che lọng trong khi hai bên đấu cờ. Lọng Vũ Huyền che cho nhà Vua đã dùi thúng một lổ để ánh sảng mặt trời lọt qua chiếu thẳng xuống bàn cờ. Vua cứ theo tia nắng đó mà đi cờ nên đã thắng sú giá Trung Hoa. Nhờ sự thắng cở này, Trung Hoa cho nhà vua là người tài giỏi và không dám gây cuộc binh đao với nước ta nữa. Cầu chuyện này chẳng hay ho gì, cũng chẳng phải là mưu lược, mà chỉ là mưu chước xảo quyệt, gian lận, tiêu lòn của kẻ yếu, vì chơi như vậy là ăn gian!
Thơ về cờ tướng.
Nội về cở tướng, bài thơ hay và nồi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là bải “Vịnh Cuộc Cờ Người” của Hồ Xuân Hương. Cũng như những bài vịnh Cái Quạt. Hang Cắc Cớ. Vịnh Trải Mít … , bài thơ này dược hiểu theo hai nghĩa:
“Chàng với thiếp đêm khủya trằn trợc,
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thuý không ai được biết.
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,
Để đôi ta quyết liệt một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa.
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung.
Thiếp đang mắc mước xe lồng.
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu
Thua thì thua quyết níu lấy con.
Khi vui nước nước non non.
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.”
Hồ Xuân Hương ởm ờ với những câu như” đem tốt đầu dú dí vô cung” hay” nước pháo đã nổ đùng ra chiếu” là những câu tuyệt tác, ví von chính xác, hiểu thế nào cũng xong.
Cờ Người.
Ở đây chúng ta không nhắc đến chuyện đánh “Cờ Người” của Hồ Xuân Hương, mà nói chuyện dùng người thật, thay quân cờ hai bên, dàn trận trên sân rộng, vẽ hình bàn cờ để giao đấu cho mọi người tham dự cùng xem. Quân cờ là những nam nữ trẻ tuổi, ăn mặc đẹp. Tướng đội mũ tướng, soái, mặc triều phục chân đi hài thêu, có lọng che. Sĩ đội mũ cánh chuồn (quan văn). Mỗi người trong đội cờ cầm một chiếc trượng phía trên có gắn biểu tượng quân cờ được chạm trổ tinh xảo, áo được vẽ hình quân cờ trước ngực và sau lưng. Hai dội cờ ăn mặc khác mầu xanh đỏ hay tím vàng.
Sau khi quân cờ đã vào các vị trí, hai đấu thủ cờ mặc áo dài. khăn xếp xuất hiện để được giới thiệu danh tính. mỗi người cẩm một cây cờ duôi nheo ngũ sắc nhỏ để chỉ huy trận đánh. Quân hai bên tiến thoái, ngang dọc theo lệnh của người đánh cờ và được hô to trong máy khuếch âm. Ngoài ra một bản cờ lớn cũng được treo lên gần dó, móc những quân cờ hai phe dang quần thảo, để mọi người có thể theo dõi “trận chiến” một cách dễ dàng.
Đánh cờ để giết thời giờ.
Một ván cờ có thể kết thúc trong vòng mươi phút khi hai lực lượng (người đánh cờ) không tương xứng, nhưng một ván cờ hay có thể dằng dai, kéo dài vài tiếng đồng hồ, cho nên đánh cờ lướng là một cách giết thời giờ tốt nhất. Ở trong các trại tù lập trung sau 1975, những ngày nghỉ chúng tôi không có sách dể đọc, không có nhạc để nghe, đành dùng bản cờ giấy, cưa củi gỗ vẽ quân cờ để “giao chiến” cho hết khoảng thời gian vô vọng, gọi là “đánh cờ chờ giờ cơm.”
Đánh cờ tướng nhiều nhất là người Tàu và người Việt. Ở trong nước tại các công viên tại các thành phố lớn như Los Angeles. San Francisco đều có những nhóm người Hoa tụ tập đánh cờ. Người Việt hải ngoại ờ California thì vô những khu vực đấu cờ như sân Phước Lộc Thọ (Nam) và Lion Plaza (Bắc).
Ván cờ dỡ cuộc.
Nhiều người cho rằng chiến tranh Việt Nam là một ván cừ “dỡ cuộc,” trong khi quân cờ của miền Nam xem như nguyên vẹn nhưng Tướng, Sĩ dã xuất cung, để bàn cờ nghiêng ngữa. Trong lịch sử cờ tướng chưa có ai cho thay Tướng nửa chừng. Cuối cùng, khi Xe, Mã và bọn Tốt của đối phương dã “dú dí” vô cung, “chiếu Tướng” chúng ta đành thua cuộc.
Chúng tội là những con Tốt trong bàn cờ, nay đã qua sông, khó còn có thể trở lại nơi mình đã xuất phát ra đi.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.