Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 May 2026

Biến cố 30 tháng 4-1975 như một cơn đại hồng thủy, đất trời sụp đổ, xóa sạch tất cả, tan nát tất cả, chia lìa tất cà. đến với tất cả ngỡ ngàng của người dân miền Nam. Ngày đó trên chuyến phi cơ bỏ xứ sở ra di những người Việt nghĩ là sẽ không có lúc trở về, trên con tầu ra cửa biển có ai mong dến một ngày nhin lại quê hương. Cho nên dẫm trong những dòng nước mắt, chúng ta nghĩ là đã “Vĩnh biệt quê hương, vĩnh biệt Saigon!”

Cũng tưởng là vĩnh biệt những người thân yêu ở lại bên kia nửa vòng trải đất nên nhiều người đàn ông khi bỏ nước ra đi, trong thởi gian tưởng như vô vọng, trước một hoàn cảnh mới, cách xa quê nhà, nơi họ để lại những ngày tháng cũ, trên xứ người, tạo dựng thêm một mái gia đình, để ngày nay phải chịu những nghịch cảnh xỏt xa. Không ai còn nghĩ có thể gặp lại người xưa cho nên nhiều gia đình đã tan vỡ, chia cách, nhiều mối tình đã đi vào quên lãng, làm sao ai biết trước được lần tái ngộ, gặp gỡ mười, hai mươi năm sau đó. Rồi những đứa con ở lại, lớn lên, nhu cầu phải đi lìm lại nguồn cội, trên báo chí nhiều lời nhắn tin tìm cha thống thiết, kể lại những kỹ niệm ngày trước cùng với đầy đủ tên tuổi, chi tiết. Những người cha này, dầu có ở xa, có khi hiện diện gần gũi đây thôi, nhưng cuộc đời dã thay đổi, làm sao dòng sông lại có cơ hội chảy về nơi chốn cũ, Họ đã có một gia đình mới, những đứa con mới, không đủ can đảm nhận trách nhiệm của một người cha. một người chồng, sợ gia đình hôm nay tan vỡ, nếu còn chút lương tâm, chắc chắn phải sống dằn vặt cho đến hết cuộc đời. Nhiều phụ nữ, trong khi chồng đang ở trong các nhà tù cộng sản, tương lại mờ mịt, đã kiếm đường vượt thoát ra di. Trên xứ lạ quê người, phận đàn bà, với những đứa con thơ, cô đơn, yếu đuối, hoàn cảnh đưa đẩy đành phải nhờ cậy một bàn tay cưu mang giúp đỡ khác. Ít ai ngờ trước có ngày người chồng ra tù, vượt biển đến đây, gặp gỡ lại nhau trong một hoàn cành éo le, bây giờ con cái đã đổi tên, đổi họ, nhin nhau lạ lạ quen quen, tất cả chỉ còn là kỷ niệm, đành ngậm ngùi mà than thở: “Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!” (Phan Khôi).

Sau ngảy miền Nam sụp đổ, nhiều đứa con lai, vì hoàn cảnh khó khăn, chế độ khắc nghiệt kỳ thị, đã bị những người mẹ bỏ rơi giữa chợ đời, cô đơn, đói khát, lang thang kiếm sống trên đường phố, nơi bến xe hay chỗ chợ búa đông người. Ngày trưởng thành, các em được quê cha rộng lượng mang về, nhưng nỗi khao khát của những đứa con vẫn là di tìm lại người mẹ. Các em không hề oán trách, lên án ai, chỉ vì tiếng gọi thống thiết của tình mẫu tử, như trên đời này ai cũng cần có một người mẹ. Với những chi tiết và ký ức mơ hồ, rất nhiều em dã trở lại quê hương không phải chỉ một, mả nhiều lần để tìm mẹ, nhưng hầu hết là tuyệt vọng. Qua bao nhiêu năm, không những đất nước, xóm làng dã thay đổi, mà những người thiếu phụ dã lầm lỡ một lần, đau xót một lần đã muốn xóa hẳn dĩ vãng và dấu tích của một thời, có người bây giờ dã yên ổn với một mái gia đình mới, ai muốn khơi dậy chi đống tro tàn năm cũ, cho thêm ngỡ ngàng dau xót.

Cũng tưởng là vĩnh hiệt, ngày tập kết ra Bắc, những cán bộ Việt Cộng, bỏ lại vợ con ở quê nhà. Được một vài năm. đảng cầm chân, bố tri cho họ kết hôn với những đảng viên kiên trung có lập trường, để có thể kiểm soát được tư tưởng hành động các cán binh gốc miền Nam. Những người này không những không còn mơ tưởng, trông ngóng gì những liên hệ gia dình ở miền Nam mả còn an bài với số phận, cắt đứt con đường về để hết lòng chung thủy, tận tụy với đảng,

Phải lâu lắm sau ngày gọi là “giải phỏng,” những người này mới “được phép” trở về miền Nam. Phải nói là họ hết sức ngỡ ngàng, khi thấy hầu hết những người đàn bà miền Nam, vợ những cán bộ cộng sản tập kết, hơn hai mươi năm nay vản ở vậy nuôi con khôn lớn thành người. So với thế giới miền Bắc, nhưng “cơ ngơi,” thành quả những ngày tảo tần của những người vợ và những đứa con trong nước họ để lại miền Nam đã làm cho những cán binh trờ về sau hai mươi năm, cảm thấy ngỡ ngàng, mặc cảm thua sút, xấu hổ trong ngày tái ngộ “bất đắc dỉ” khi nhìn lại cái thân phận “bên thắng cuộc” của mình. Người cán binh cộng sàn trở về đã trở thành xa lạ với những người ruột thịt mả họ đã bỏ ở lại hai mươi mốt năm về trước, người vợ mới và những đứa con sinh trường. lớn lên ở miền Bắc, hoàn toàn xa lạ và lạnh lùng dưới cái nhìn của người miền Nam. Vợ chồng đã không còn có thể “đồng sàng” mà cha con cũng không thể ngồi nói chuyện với nhau dăm phút chỉ vì quá “dị mộng!” Tưởng chừng như vĩnh biệt chế dộ cộng sản khi cà triệu người miền Bắc bỏ quê hương, mồ mà cha ông để di cư vào Nam, có ngờ đâu có ngày nón cối, dép râu, AK 47 lại đuổi theo bước chân của họ dến đường cùng, để cuối củng đành phải rởi bỏ nước lần nữa ra đi, dủ phải chấp nhận cái chết trên biển cả mịt mùng.

Tưởng chừng như vĩnh biệt, mà con Tạo trớ trêu là cho con người ta trùng phùng, tái ngộ trong những hoàn cảnh đau xót không ai mong muốn. Chỉ có con người và đất nước Việt Nam khốn khổ mới phải chịu nhiều nỗi tai ương, gian truân, chia lìa, đắng cay như thế. Giá mà số phận đất nước hơn nừa thế kỷ trước dã không bị loài ma quỹ du nhập vào một sản phẩm tồi tệ là chủ nghĩa cộng sản, thì con người Việt Nam hôm nay đâu có nhận chịu nhiều nỗi khổ đau như thế!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment