Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Bottcher tuyên bố:

– Thế đấy! Tao thú thật là tao ngủ với con bé chiêu đãi. Không thì ta biết làm gì? Nghỉ phép để làm gì? Không lẽ cứ thế rồi trở ra mặt trận!

Anh ta ngồi ở đầu giường Feldmann, tay cầm cái vung ga-men đựng cà phê, chân ngâm trong chậu nước lạnh. Từ khi không có xe đạp, anh ta cuốc bộ đến phỏng da chân. Anh ta hỏi Graber:

– Còn anh. Từ ngày ấy đến giờ anh làm gì? Có thấy gì không?

– Không.

– Không à?

Feldmann giải thích:

– Hắn nằm ngáy đến tận trưa, gọi dậy không được. Lần thứ nhất hắn tỏ ra biết điều.

Bottcher nhấc chân ra xem, da chân phỏng lên từng cục trắng.

– Này các bạn coi! Tôi khỏe nhưbò mộng nhưng chân này chỉ là chân trẻ sơ sinh. Xưa nay vẫn thế, không chịu nổi nữa rồi, thôi đành tính chuyện ra đi vậy.

– Sao vậy? Bây giờ anh có thể nghỉ ngơi một chút, anh có cô chiêu đãi rồi.

– Cô chiêu đãi à! Thiếu gì cô chiêu đãi. Nhưng tôi làm hỏng bét cả rồi. Đang nằm bù khú tôi buột miệng gọi tên vợ làm nó nổi tam bành.

– Cũng đáng kiếp cho anh: ngoại tình, lừa dối vợ.

– Sao lại gọi là lừa dối được? Vợ tao có đây đâu. Đây là trường hợp bất khả kháng.

Reuter hỏi Graber:

– Tối hôm qua chai rượu đắc lực chứ?

– Không có chuyện gì cả.

Feldmann hỏi:

– Không chuyện gì à? Không chuyện gì mà ngủ như chết đến tận trưa?

– Không có gì thật. Không biết sao tự dưng tôi mệt thế. Bây giờ nằm xuống lại ngủ nữa được ngay. Tôi có cảm tưởng như cả tuần nay chưa hề nhắm mắt.

– Thế thì cứ ngủ.

– Thế là khôn đấy; làm như thằng Feldmann, ngủ lì suốt ngày thế mà hay.

– Thằng Feldmann ngu như lợn. Làm phí cả ngày nghỉ phép. Rốt cục, lại ra mặt trận mà chẳng hưởng được gì cả. Ở mặt trận thì dầu sao cũng có thể ngủ mê thấy nghỉ phép.

Feldmann bỗng nhỏm dậy mà rằng:

– Tôi thấy ngược lại, nằm đây mà cứ ngủ mê thấy mình ở mặt trận.

– Thật ra anh ở đâu?

– Dĩ nhiên tôi ở đây.

– Có chắc không?

Anh sọ dài cười gằn:

– Chính tôi cũng tự hỏi thế. Nhưng đã ngủ suốt ngày thì muốn ở đâu cũng được, không cần. Cha này không biết thế cho.

Feldmann bực mình trả lời:

– Lúc nào thức thì tôi biết, chỉ có lúc ấy là đáng kể.

Nói đoạn anh ta lại nằm xuống ngủ.

Reuter quay lại với Graber.

– Còn anh? Ngày hôm nay anh định làm gì để cứu rỗi linh hồn?

– Bảo giùm tôi đến đâu ăn ngon!

– Một mình à?

– Không.

– Thế thì đến hiệu Germania. Chỉ có đấy là hơn cả. Nhưng có lẽ họ không cho anh vào. Mặc đồ lính không được. Quán sĩ quan mà. Nom thấy đồng phục với ba lô của anh họ cũng nể đấy nhưng…

Graber ngắm nhìn binh phục của mình, vết hoen ố, vá chằng chịt

– Anh cho mượn cái áo ngoài được không?

– Sẵn lòng, nhưng anh nhẹ hơn tôi đến mười lăm ký lô, người ta biết ngay mất. Để tôi kiếm cho anh bộ đồ hạ sĩ quan. Ở đây cứ đội mũ lính vào thì chẳng ai để ý đâu. Mà sao anh cứ là binh nhì mãi thế? Đáng ra phải thiếu úy từ lâu rồi.

– Trước tôi đã là hạ sĩ quan. Nhưng trót đánh vỡ mặt một trung úy nên bị giáng trật. Không bị ra hội đồng kỷ luật là may, nhưng không mong gì lên lon nữa.

– À như vậy thì về phương diện tinh thần anh có quyền mặc quân phục hạ sĩ quan. Khi đưa vào đến hiệu Germania, anh đòi hỏi cho rượu Forster Jesuitengarten 1934 hầm Buerklin Wolf. Rượu này có thể làm cho người chết bừng tỉnh dậy được.

– Cám ơn anh. Tôi phải uống thử mới được.

***

Trời âm u. Graber đứng đợi trên cầu. Dưới sông dòng nước đen cuồn cuộn chảy, cuốn theo cột nhà cháy đen, rác rưới. Trường học vươn những bóng đen lên trên làn mây trắng, Graber đã đi qua sông, y bước vào một ngỏ hẻm đưa đến sân trường. Cửa sắt lớn ướt dầm sương mở rộng. Sân trường vắng hoe. Y đi qua sân đến ven sông. Hàng cây hạt dẻ in những bóng đen như mực Tầu lên nền trời trắng. Dưới gốc ấy, còn mấy chiếc ghế ẩm ướt, xưa kia y vẫn ra đó ngồi rất khuya. Biết bao ước vọng thuở ấy ngày nay chưa hề thực hiện. Ở trường ra chiến tranh đã đẩy y vào đời quân ngũ.

Y đứng nhìn dòng nước trôi một lúc. Một cái giường gãy quăng ở bờ sông, gối ướt sũng nước căng phồng như những miếng bọt bể lớn. Y rùng mình. Trở về trường học, y định mở một cái cửa. Cửa không khóa, tôi ngập ngừng bước vào, dừng lại trong phòng nhìn quanh. Y thấy lại hương vị bứt rứt những giờ học. Một cầu thang tối om đưa đến phòng học và phòng ngủ của học sinh nội trú. Y không có cảm tưởng gì cả. Không một chút khinh bỉ hay ngạo nghễ. Y nghĩ đến giáo sư Wellmannn, đến lời ông nói: không nên trở lại quá khứ. Ông ta nói có lý. Ngẫm lại đời mình, y thấy trống rỗng. Tất cả kinh nghiệm học được ở nhà trường đều mâu thuẫn với những điều học được ở ngoài đời. Không còn là gì của trường học nữa. Những năm thơ ấu đã hoàn toàn sụp đổ.

Y quay gót trở ra. Hai tấm bia đá ở hai bên cửa vào ghi tên những học trò cũ chết vì tổ quốc. Y còn nhớ bia bên phải dành cho những học sinh chết hồi đệ nhất Thế chiến. Mỗi ngày lễ quốc khánh người ta lại đặt trên bia một cành thông và một ít lá sên. Vị hiệu trưởng đọc những bài diễn văn nảy lửa về nước Đức đại cường quốc, về sự trả thù, về danh dự tổ quốc. Graber lại trông thấy cái bụng phệ nhũn nhèo của ông mà mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt ông. Bia bên trái dành cho tử sĩ trận đệ nhị Thế chiến hãy còn mới. Y đọc những tên khác trên bia; danh sách đã dài, nhưng không thiếu chỗ cho anh hùng tử sĩ ngày mai.

Y gặp một viên quản trị.

– Anh tìm gì?

– Không.

Y định đi ra nhưng bỗng nhớ ra một điều gì, vội hỏi:

– Ông chỉ giùm chỗ ở của giáo sư Pohmann.

– Ông ta không dạy ở đây nữa.

– Tôi cũng biết. Bây giờ giáo sư ở đâu?

Ông ta đưa mắt nhìn quanh cẩn thận. Graber nói:

– Không có ai đâu, giáo sư ở đâu?

– Ông ấy ở công trường Jahn số 6. Anh là cựu học sinh ở đây?

– Vâng. Bây giờ hiệu trưởng vẫn là ông Schimmel?

– Vẫn ông ấy. Làm sao ông ấy lại có thể đổi đi nơi khác được?

– Tôi cũng nghĩ thế, làm sao ông ấy lại đổi đi nơi khác được.

***

Graber ra khỏi trường học. Mười lăm phút sau y nhận thấy không biết mình ở đâu nữa. Sương mù dày đặc, giữa những đống gạch vụn y không thể định hướng được nữa. Đống nào cũng như đống nào, phố nào nom cũng y như nhau.

Y có một cảm tưởng kỳ dị.

Phải một lúc lâu mới tìm ra đường Haken. Rồi gió nổi lên sương mù bay tung như cát biển ảo huyền.

Y trở về chỗ ở của cha mẹ. Không có tin tức gì. Y vừa quay lại thì nghe thấy một tiếng kêu trong trẻo rất kỳ dị, nghe như tiếng cầm. Y đưa mắt nhìn xem tiếng đàn kỳ lạ ở đâu ra. Phố xá vắng tanh đến tận xa. Tiếng đàn vẫn nổi lên những điệu than vãn, như một tiếng báo hiệu cấp cứu giữa một biển khơi mung lung. Tiếng đàn lúc bổng lúc trầm loạn xạ nhưng đều đặn, như có người chơi trên nóc nhà nào đó.

Graber lắng tai nghe để tìm chỗ phát ra tiếng đàn độc tấu bí hiểm. Nhưng hình như nó ở khắp mọi nơi vọng đến từng tiếng mau sầm sập câu thành một điệu buồn man mác.

Y nghĩ đến người trưởng xóm điên. Chỉ có thể hắn. Y đến gần căn nhà chỉ còn có cái mặt tiền đứng sừng sững rồi bít thân mợ cửa ra. Một bóng người trên chiếc ghế để trước thềm đứng phắt dậy. Graber nhận ra chiếc ghế bành bọc nhung hôm đầu tiên đã trông thấy tại nhà mình.

Lão trưởng xóm vừa tức vừa sợ hỏi:

– Cái gì thế?

Y nhận thấy không phải lão đánh đàn, vả chăng tiếng đàn vẫn vang lên.

– Tiếng gì mà kỳ dị vậy? Ở đâu thế ông?

Lão trưởng xóm đưa cái mặt nhếch nhác lại gần mặt Graber.

– À! Ra ông lính trận! Ông lính bảo vệ tổ quốc! Ông không biết cái gì à? Bài điếu tang những người bị chôn sống đấy! Ông làm sao thì làm, cứu họ ra! Chấm dứt những sự giết chóc này đi.

– Vô lý!

Graber đưa mắt nhìn sương mù đang tỏa. Y nhận ra một cái sợi dây cáp đong đưa trước gió. Mỗi lần dây đưa ra sau tiếng đàn lại vang lên. Y nhớ lại cái dương cầm bể trước đây mấy ngày đã trông thấy mắc ở cột nhà tầng gác thứ ba. Hẳn là sợi dây cáp đong đưa chạm vào dây đàn.

– Cái dương cầm đấy.

Lão trưởng xóm nhăn mặt:

– Cái dương cầm! Cái dương cầm! Ông thì biết gì, ông chỉ là quân giết người! Đó là gió đánh chuông đưa người chết. Trời khóc cho khổ nhục điêu tàn ở trái đất này! Ông biết thế nào là cái chết không, ông giết người mà được tiền công! Kẻ giết người không biết thế nào là cái chết. Đâu đâu cũng có người chết, họ nằm dưới đống gạch vụn này, nhưng rồi họ sẽ trỗi dậy để đuổi các ông đi!

Graber khó chịu quá phải lùi ra ngoài. Lão vẫn theo sau:

– Họ sẽ đuổi các ông đi. Họ sẽ kiện các ông tới Diêm Vương, tới Tam tòa.

Graber đi nhanh, không quay lại. Tiếng lão trưởng xóm vẫn lảm nhảm trong sương đêm.

***

Graber bấm chuông. Cửa mở ngay như có người đứng rình sẵn ở phía sau. Mụ Lieser kinh ngạc kêu lên :

– À! Ra ông!

– Thì tôi đây.

Elisabeth chạy ra. Lần này mụ trở về phòng, không kiếm chuyện gì cả. Y theo Elisabeth vào phòng.

– Áo đi ăn tiệc của em đấy à? Em quên rằng chúng mình đi chơi.

Y nói vậy vì thấy Elisabeth vẫn mặc cái áo xăng đay và cái váy đen hôm trước.

– Anh nói thật hay bỡn?

– Thật chứ. Em trông quần áo anh này. Áo lễ của một anh hạ sĩ quan anh quen. Mình mặc thế này để vào được lữ quán Germania. Không chắc họ có cho hạ sĩ quan vào hay không, cái đó còn tùy thuộc cách phục sức của em. Em không có cái áo nào sang hơn à?

– Có, nhưng mà…

Graber chợt trông thấy chai vốt-ca của Binding trên bàn:

– Anh biết em buồn rầu. Nhưng phải quên đi mới được. Quên mụ Lieser và láng giềng đi. Em không làm hại ai, đó là điều duy nhất đáng kể. Em phải đi ra ngoài cho khuây khỏa. Ở mãi trong nhà này thì hóa điên mất.

Y rót đầy ly vốt-ca đưa cho nàng uống cạn.

– Được rồi. Anh đợi một lát nhé. Em cũng sẵn sàng rồi, chỉ ngại anh quên thôi. Nhưng anh nên đi ra ngoài trước đợi em. Em không muốn cho mụ ta mượn cớ vu cho em làm điếm.

– Lần này mụ có giở trò gì cũng không được! Việc này đối với lính, thì được xem là một hành vi ái quốc. Nhưng anh cũng ra ngoài phố đợi chứ không nên đứng trong hành lang.

Y ra ngoài. Sương mù đã bớt, nhưng phố xá còn bốc hơi như phòng tắm. Bỗng cửa sổ mở, Elisabeth mặc áo hở vai hiện ra giữa khung cửa sổ sáng. Mỗi tay nàng cầm một cái áo. Một chiếc nâu vàng, cái kia màu đậm, không rõ màu gì. Áo bay phấp phới trước gió như lá cờ.

Nàng quay ra hỏi:

– Cái nào?

Y chỉ cái thứ nhất. Nàng gật đầu rồi biến mất. Không ai biết nàng vừa phạm kỷ luật thắp đèn sáng trưng. Y lững thững đi bách bộ chờ đợi. Bất thần đêm tối có vẻ dày hơn. Suốt ngày hôm nay y chỉ nằm dài khiến cho người bần thần, đêm nay trời lại ảm đạm trong lúc y quyết định dẹp quá khứ sang một bên, tất cả những sự kiện ấy làm cho y cảm thấy như một thứ sung sướng trong lúc đợi ai, sự sung sướng chẳng bao lâu biến thành nóng lòng sốt ruột.

Elisabeth hiện ra khung cửa, bước xuống đường. Nàng bước những bước mau và uyển chuyển nom vóc dáng nàng mảnh mai hơn trước trong bộ áo dài hoàng yến óng ánh kim tuyến. Khuôn mặt nàng cũng khác đi, đầu như nhỏ lại, mặt như thanh nhã hơn. Một lúc lâu y mới nhận ra nom nàng khác vì mặc áo hở vai làm lộ cái cổ cao.

– Mụ Lieser có trông thấy em không?

– Có, trông thấy em, mụ như nghẹn hơi. Mụ muốn cho em suốt ngày lam lũ và hối hận. Em cũng có lúc hối hận.

– Hối hận gì, kẻ nào làm xấu mới đáng hối hận.

– Không những hối hận, em còn thấy sờ sợ. Anh thử tưởng tượng…

– Anh không muốn tưởng tượng gì cả. Đừng nên tưởng tượng gì hết, cố gắng quên sợ đi. Ráng sức mà vui vẻ, không nghĩ đến cái gì nữa.

***

Lữ quán Germania còn nguyên vẹn, hai căn nhà hai bên đều tan nát, nom như một ngựời giàu có ở giữa đám bà con nghèo đói. Gạch ngói vụn đã thu dọn sạch sẽ để thành đống hai bên, như vậy cũng làm cho hai căn nhà kia đỡ có vẻ tang tóc thảm thê. Sự nghèo khổ ra vẻ tề chỉnh rồi, gần như trưởng giả hóa rồi.

Người canh cửa nhìn y phục của Graber ra bộ khinh thường một cách kín đáo. Graber đĩnh đạc hỏi ngay, không để cho anh ta kịp mở miệng:

– Phòng ăn đâu?

– Ông đi phía tay trái hành lang. Xin ông hỏi quản lý.

Hai người đi qua phòng lớn. Họ gặp một đại tá và hai trung tá. Graber chào.

– Có cả đống trung tá ở đây. Nhiều bàn hội họp quân sự đặt ở lầu nhất.

Elisabeth dừng lại:

– Mình làm thế này có liều lĩnh không? Nếu họ biết anh không phải hạ sĩ quan thì sao?

Một sĩ quan kỵ binh xuất hiện, đinh thúc ngựa kêu lích kích, đi với một người đàn bà gầy nhom. Hai người đi qua không để ý đến Graber.

– Nếu họ biết thì làm sao?

– Không quan trọng lắm!

– Có thể mang xử bắn không?

Graber cười:

– Họ chẳng bắn đâu, họ đang cần mình ngoài mặt trận.

– Thế thì họ phạt thế nào?

– Chắc là họ giam trong vài tuần lễ, như vậy mình cũng được lời mấy ngày đó, cũng gần như nghỉ phép. Người ta không thể phạt nặng một người sắp sửa trở ra tiền tuyến.

Người trưởng tiếp tân bỗng từ cái cửa bên phải hiện ra. Graber lẳng lặng đặt một tờ giấy bạc vào tay. Hắn nhận tiền không nề hà gì cả rồi đi trước hai người với dáng điệu nghiêm chỉnh.

– Ông có hai chỗ, vâng, mời ông theo tôi.

Hắn để hai người ngồi ở bàn nhỏ lấp sau cái cột lớn rồi đi ngay ngắn trở ra.

Graber nhìn quanh phòng.

– Đúng như tôi vẫn mơ ước. Đợi một lúc cho quen đã.

Y nhìn Elisabeth mà ngạc nhiên:

– Em thì có lẽ không cần, em có vẻ như hàng ngày đến đây hai lần.

Một anh bồi bàn đã có tuổi nom giống như con vạc, đưa thực đơn. Graber cầm lấy, đặt tấm giấy bạc vào kẹp lại rồi đưa trả.

– Cho tôi cái gì không ghi trong thực đơn. Ông có cái gì đặc biệt không?

Bồi bàn nhìn y thản nhiên, không để lộ gì ra nét mặt.

– Nhà hàng chỉ có những món ghi trong thực đơn.

– Được rồi, cho tôi một chai Forster Jesuitengarten 1934 hầm Buerklin Wolf.

– Lần vô thùng cuối cùng.

– Đừng. Thứ đó còn hơi nho, mà ngọt quá nếu mình dùng bữa.

Mắt anh bồi bàn sáng lên và anh ta bỗng dưng rất lễ phép :

– Vâng để tôi kiếm.

Rồi y ghé vào tai Graber:

– Đặc biệt hôm nay có cá lờn bơn Bỉ còn tươi, có thể dùng với xà lách Bỉ và khoai chiên kiểu Anh Cát Lợi.

– Tốt lắm. Thế còn khai vị? Dĩ nhiên không nên ăn ca-vi-a.

Bồi bàn càng thêm nhanh nhẩu :

– Vâng, không nên thật. Nhưng chúng tôi có ba-tê gan dùng với nấm hương.

Graber gật đầu.

– Cuối cùng tôi giới thiệu với ông thứ phó mát Hòa Lan để tăng thêm vị rượu nho.

– Thế thì tuyệt.

Anh bồi bàn đi vào ra vẻ khoái trí. Mới đầu có lẽ anh ta cho Graber là một quân nhân lạc ra ngoài trại lính. Bây giờ anh la cho là một người ăn chơi lão luyện nhất thời nhập ngũ.

Elisabeth ngồi nghe hết sức kinh ngạc:

– Anh Ernst à, sao anh thạo quá xá vậy?

– Ấy, thằng Reuter mới mớm cho sáng nay đấy. Y thạo quá đến nỗi liệt giường vì tê thấp. Cũng may, y càng khỏi phải ra trận. Phạm tội vẫn hay được tưởng thưởng.

– Thế còn chuyện đấm mõm và gọi món ăn?

– Cũng cha Reuter làm quân sư. Y biết hết. Y cũng bảo cách làm ra dáng chán chường buồn thiu để có vẻ phong lưu lịch lãm.

Elisabeth phá ra cười, cái cười thành thực và nồng ấm của cuộc sống hạnh phúc.

– Trời hỡi trời! Em không được biết anh dưới phong độ ấy.

– Anh cũng vậy, lúc gặp em, em không như bây giờ.

Y nhìn nàng như mới gặp nàng lần thứ nhất. Nàng đã biến đổi hẳn vì cái cười. Nàng như căn nhà tối tăm bỗng dưng mở toang cửa.

– Áo của em đẹp lắm.

Y nói hơi ngượng ngập.

– Áo của má em đấy. Tối hôm qua em phải ngồi may lại cho vừa người. Nàng lại cười. Anh thấy không, em không đến nổi thiếu chuẩn bị như đã làm ra thế lúc anh mới đến.

– Em biết may à. Trông em hình như không phải thế.

– Ngày trước thì không biết cầm mũi kim thế nào, nhưng cần đến thì cũng phải học. Bây giờ em khâu áo lính mỗi ngày tám giờ đồng hồ.

– Thật ư? Có phải em bị người ta bắt buộc phải đi làm?

– Không đi cũng không được. Mấy lại cũng không mong gì hơn. Đi làm thì có thể giúp đỡ được ba má ít nhiều.

Graber lắc đầu, nhìn nàng:

– Thực ra nghề ấy không hợp với em, với tên em. Sao em lại tên là Elisabeth?

– Má em đặt. Má người miền nam nước Áo, trồng giống người Ý. Má vẫn muốn em tóc vàng mắt xanh. Tuy em không tóc vàng mắt xanh làm mọi người thất vọng nhưng vẫn đặt tên là Elisabeth.

Bồi bàn đến. Hắn mang chai rượu Jesuitengarten ra, trịnh trọng như một bảo vật.

– Tôi lựa cho ông thứ cốc pha lê mỏng, nom càng rõ rượu đỏ như lửa. Nếu ông thích thì tôi đổi lấy cốc bắc-ca-ra.

Graber từ chối cốc bắc-ca-ra. Bồi bàn hoa tay rót rượu, rồi đưa ra một cái mâm bạc, gan cặp nấm bày thành cánh hoa giữa một vòng xốt đông rung rinh.

Anh ta lấy làm hãnh diện mà rằng:

– Đồ này đưa thẳng từ xứ Alsace đến.

Elisabeth cười:

– Sang trọng quá.

– Sang trọng thật!

Y nâng cốc:

– Sang trọng. Em nói đúng. Chúng ta nâng ly mừng cho cái sang trọng. Đã hai năm nay ăn bằng cái nắp gamen méo miệng, không bao giờ chắc là xong bữa. Ta ngồi ăn bây giờ còn có cái gì hơn cả sang trọng. Còn có yên ổn, an ninh, sung sướng, khác hẳn ngoài mặt trận.

Y uống hớp rượu, một cảm giác ấm nồng tỏa ra khắp người: Y nhìn Elisabeth, nàng đã góp phần vào niềm hân hoan tràn ngập người y. Đó là phương diện bất ngờ của đời sống, cái gì bất thần vươn lên trên giới hạn sự thiết dụng, cái hương vị của tuổi trẻ, cái phần say sưa của vui chơi và mơ mộng. Sau những năm luôn luôn đụng chạm với cái chết, rượũ nho không phải chỉ là rượu nho, mâm vàng đĩa bạc không phải chỉ là mâm vàng đĩa bạc, bản nhạc êm không phải là nhạc đã nghe hàng ngay, cũng như Elisabeth tối nay không phải là Elisabeth mọi ngày. Mỗi vật mỗi người đều có giá trị biểu tượng, biểu tượng cho một đời sống khác hẳn, không có tàn phá giết chóc, biểu tượng cho đời sống ấy bây giờ như chỉ là một huyền ảnh xa xôi, một ước mơ không mong gì thực hiện.

– Có khi người ta quên hẳn rằng người ta sống. Ngày hôm nay, anh nhận thấy điều ấy nhưmột mặc khải bất thần.

Elisabeth cười:

– Em thì chưa bao giờ em quên được ý nghĩ ấy, nhưng chưa bao giờ nó giúp mình được cái gì cả.

Bồi bàn lại gần:

– Ông thấy rượu thế nào?

– Hẳn là siêu tuyệt rồi, vì tôi nghĩ đến những điều lâu nay đã quên hẳn đi.

– Mặt trời đó. Mặt trời thu đã làm chín nho này và bây giờ rượu nho hoàn lại dương khí. Ở vùng xứ Rhénanie người ta gọi thứ rượu này là thánh thể quan giá. Thật vậy nó đỏ như vàng son và khí mạnh như mặt trời.

– Quả vậy.

– Uống một cốc là đủ biết. Thật là mặt trời đóng chai.

– Uống hớp thứ nhất là đủ thấy nó không xuống bao tử mà nó bốc lên tai mắt, nó làm mình nhìn đời khác hẳn.

– Ông sành rượu lắm!

Anh ta thì thầm vào tai Graber:

– Ở bàn bên tay phải, tôi cũng mang ra thứ rượu này, nhưng họ uống như uống nước lã. Những hạng như họ thì uống rượu nho thường cũng xong.

Anh ta đưa cặp mắt khinh bỉ nhìn khách ở bàn bên phải khi đi vào.

– Ngày hôm nay hình như thuận lợi cho những người đi xem cọp. Sao, em uống rượu thấy thế nào? Thưởng thức thứ thánh thể quan giá này thấy thế nào?

Elisabeth ngửa mình ra sau đưa mắt lên:

– Em có cảm tưởng như mới ở tù ra và nơm nớp lo rằng phải trở lại ở tù vì ăn cắp hạnh phúc.

Graber cười thú vị.

– Chúng ta ai cũng vậy cả! Chúng ta sợ tâm tình của chúng ta, chúng ta cho rằng mình đắc tội nếu hưởng một chút hạnh phúc cỏn con.

Bồi bàn mang cá lờn bơn và rau xà lách ra. Graber nhìn anh ta cắt cá. Y thoải mái lắm nhưng vẫn có cảm tưởng như mình phiêu lưu đi trên mặt hồ chỉ có lớp băng mỏng có thể sụm xuống bất cứ lúc nào. May mà tạm thời băng vẫn còn nguyên, cái đó cần thiết hơn cả.

“Khi người ta bì bõm tháng ngày trong bùn lầy, người ta cũng có cái lợi là thấy cái chẳng là bao cũng cho là tuyệt diệu”.

Bồi bàn rót đầy ly. Anh ta săn sóc hai người như mẹ chăm nom cho con.

– Thường thường ăn cá chúng tôi hay rót rượu Moselle. Nhưng cá lờn bơn khác, thịt trắng gần như thịt gà. Dùng nó với rượu Plalzer thì tuyệt. Ông có đồng ý không?

– Thì hẳn rồi.

Bồi bàn gật đầu tán thưởng đi vào.

Elisabeth nói:

– Anh Ernst, liệu mình có tiền trả không? Hẳn là đắt như vàng.

– Đừng lo. Anh có tiền hai năm đi trận, giữ mãi cũng vô ích.

Y cười:

– Chỉ có đủ thời giờ sống một cuộc đời ngắn ngủi. Hai tuần lễ thôi.

***

Khi bước ra cửa lữ quán Germania thì trời đã yên gió nhưng rất âm u.

– Bao giờ thì anh đi? Hai tuần nữa à?

– Gần được hai tuần.

– Ít ỏi quá.

– Ít ỏi mà cũng nhiều. Tùy từng lúc. Thời gian bây giờ không như thời bình. Chắc em cũng biết như thế, sống ở đây không khác ngoài mặt trận bao nhiêu!

– Không, đâu có như nhau.

– Như nhau chứ. Ngày hôm nay mới là ngày đầu nghỉ phép của anh. Cám ơn anh bồi bàn, thằng Reuter, chiếc áo hoàng yến của em và chai rượu thánh thể quan giá!

– Chúng ta cần những thứ ấy.

Nàng đứng thẳng người trước mặt Graber. Ánh đèn rọi xuống tóc, xuống áo; khuôn mặt nàng tươi tắn như trái cây lóng lánh sương mai.

Thình lình họ cảm thấy khó mà quên được những phút này, khó mà dứt đoạn những đường tơ vấn vít cõi lòng đã mở ra với trìu mến và rung cảm, với lặng lẽ quên mình, khó lòng mà trở về trại hôi hám nghe giễu cợt thô lậu để đợi một ngày mai bất tường.

Một giọng nói ráo rức làm tan phút thần tiên:

– Này anh hạ sĩ quan, anh không thấy gì cả à?

Một đại úy mập mạp vừa ló mặt ra, hẳn là ông ta đi gót nhẹ như bấc. Graber nhận ra là một sĩ quan trừ bị kiểu “ra phết người trên”. Y những muốn tống cho hắn chúi mũi xuống quay đi mấy vòng như con thò lò, nhưng nghĩ lại không nên sinh sự. Y bèn xử sự như người lính đầy kinh nghiệm: đứng nghiêm chào mà không nói gì cả.

Ông ta rọi đèn bấm vào giữa mặt.

– Mặc đồ đi chơi! Hẳn là anh đã trốn tránh nhiệm vụ mới thảnh thơi như thế! Một quân nhân đi dép trong nhà, mặc đồ đi chơi! Chà! Nhàn rỗi quá nhỉ! Tại sao anh không ở mặt trận?

Graber không trả lời. Y quên không đeo huy chương vào bộ áo mượn.

– Ăn chơi cho đã! Anh chỉ biết có thế thôi phỏng?

Elisabeth không dằn được lòng tức xuống nữa. Cái đèn bấm rọi thẳng vào mặt nàng, nàng tiến một bước tới gần viên sĩ quan. Ông ta ho một tiếng lấy nước, cau mặt nhìn nàng rồi từ từ đi.

– Em chịu hết nổi rồi.

Graber nhún vai.

– Tụi háo danh ấy đã thành tật rồi. Họ chỉ nghênh nghênh đi ngoài phố đợi người ta chào, suốt đời họ chỉ có thế. Tạo hóa phải mất mấy triệu năm mới nặn ra được loại người ấy chứ bỡn hẳn!

Elisabeth cười.

– Sao anh không ở mặt trận? Lỗi chỉ tại bộ quân phục này. Thôi từ ngày mai ta mặc đồ dân sự. Anh có thể kiếm được quần áo dần sự. Đi đâu cũng chào, chán ngấy rồi. Mặc thường dân thì có thể yên ổn trở lại lữ quán Germania.

– Anh có thể trở lại à?

– Có chứ. Có trở ra mặt trận thì nhớ những phút ấy chứ nhớ làm gì đống gạch vụn với mấy người háo danh. Ngày mai, tám giờ anh trở lại với em nếu anh rảnh. Bây giờ thì phải về ngay kẻo thằng cha ấy có thể trở lại hỏi sổ quân bạ.

Graber ôm lấy nàng, nàng không chống cự. Y ghì chặt nàng như sợ mất và hôn nàng nồng nàn. Y cảm thấy mình không muốn rời nàng ra nữa.

Trở về đường Haken, y dừng lại trước nhà cha mẹ. Chị Hằng vén mây hé mặt ra. Y cúi xuống nhặt lấy bức thư của mình để dưới đất. Có một miếng giấy ghim vào bên lề. Y soi đèn bầm đọc mấy chữ lớn viết bằng bút chì:

“Mời ông đến Ty Bưu điện chính, ghi sê 15”

Như một cái máy, y xem đồng hồ tay. Dĩ nhiên là trễ quá rồi, ban đêm ở Bưu điện đóng cửa, không thể biết gì được trước tám giờ sáng mai. Y gập mảnh giấy cho vào túi áo, rồi đi qua thành phố chết trở về trại. Y có cảm tưởng như mình nhẹ lâng lâng đi trên không trung vậy.

Vĩnh biệt tướng Carey

baotreonline.com

Ian Bùi

May 30th, 2025

Post by Sơn râu 27 May 2026

Ngày 10 tháng 5 vừa qua, tang lễ cho cố Trung Tướng Richard Carey đã diễn ra thật long trọng tại một nhà thờ Baptist ở Plano, Texas. Đầu tháng Tư 1975, ông Carey, khi ấy còn là thiếu tướng, được giao nhiệm vụ lập kế hoạch và chỉ huy cuộc di tản khỏi Nam Vang và Sài Gòn. Tại đám tang ông, ngoài số đông là cựu quân nhân Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ và gia đình, còn có sự hiện diện của một số người Việt, trong đó chắc chắn có người đã nhờ ông mà đến được nước Mỹ.

(IANBUI/TRẺ)       

50 năm sau cuộc di tản bằng trực thăng lớn nhất lịch sử, Trung Tướng Richard E. Carey qua đời ở tuổi 98. Những người quen ông đều nói về ông với lòng ngưỡng mộ và kính trọng thật sự. Không chỉ là một nhà quân sự tài ba, ông còn được biết đến như một con người nhân bản, nhân văn song cũng cực kỳ cứng rắn khi cần thiết. Trong cuộc di tản tháng Tư, khi nghe tin đô đốc Hải Quân Whitmire ra lệnh cho phi công ngưng bốc người vì họ đã “bay quá giờ,” Tướng Carey đến gặp Whitmire và nạt, “TQLC chúng tôi không bao giờ biết mệt khi cần đến!”

(IANBUI/TRẺ)

Trong quyển tiểu sử về ông – “The Flying Grunt” viết bởi Alan Mesches, có kể câu chuyện khi Đại sứ Martin nhất định không chịu rời Sài Gòn vào ngày cuối, tướng Carey đã ra lệnh cho binh sĩ “khiêng ông đại sứ lên trực thăng nếu ổng kháng cự.” Rất may nhà đại sứ đã tự leo lên lúc 5:00 sáng ngày 30/4. Chương sách nói về cuộc di tản vẽ lại hình ảnh một vị tướng nhiều kinh nghiệm, quyền biến, mưu lược, và trên hết là biết uyển chuyển trong một tình huống nhiều rủi ro và bất trắc ngoài sự tiên liệu.

(IANBUI/TRẺ)’

Thiếu tướng James Livingston (trái) chào linh cữu tướng Carey. Tháng Tư 1975, Đại uý Livingston là phụ tá dưới quyền tướng Carey. Ông chịu trách nhiệm liên lạc và phối hợp giữa 6000 quân binh chủng đủ loại tham gia vào cuộc di tản phức tạp ấy. Livingston rời Việt Nam trên chiếc trực thăng cuối cùng từ trụ sở MACV gần Tân Sơn Nhứt. Ông nói lúc ấy trời đã tối, ông kêu mọi người đậu xe thành vòng tròn rồi mở đèn lên cho phi công thấy chỗ đáp. Chiếc 53-A chở ba bốn chục người “bị quá tải thiếu điều cất cánh không nổi, phải lạng qua lạng lại,” ông vừa kể vừa cười.

(IANBUI/TRẺ)

Trong những năm cuối đời, tuy đi đứng khó khăn nhưng tướng Carey luôn cố gắng tham dự các sự kiện liên quan đến binh chủng TQLC cũng như đến Việt Nam. Bức ảnh này được chụp tại buổi khai mạc sự kiện Bức Tường lưu động đến Frisco (TX) hồi tháng 5, 2024. Bên trái ông là tác giả Alan Mesches, bên phải là vợ chồng tướng Lương Xuân Việt. Một tháng trước đó chúng tôi có mời ông dự chương trình nhạc “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” tại Allen, ông hứa sẽ đi coi nếu sức khoẻ cho phép nhưng rất tiếc ông đã không đến được.

(IANBUI/TRẺ)

Sau hơn 200 phi vụ trong chiến tranh Việt Nam, tướng Carey nói không có gì làm ông hãnh diện bằng công tác chỉ huy cuộc di tản tháng Tư mặc dù ông chỉ cứu được 100,000 người thay vì 1 triệu theo kế hoạch ban đầu. Đám tang ông diễn ra trong một ngày mưa tầm tã, sấm chớp ầm ì. Nhưng có lẽ nhờ vậy không khí càng tăng phần ảm đạm, nghiêm trang. Sau 14 phát đại bác và 7 phát súng, tiếng kèn trổi lên với bản Taps chiêu hồn tử sĩ vô cùng thê lương. Mọi người im phăng phắc khi lá cờ phủ trên quan tài được hai binh sĩ gấp lại cẩn thận và trao cho gia đình.

Tướng Carey được chôn cất tại Nghĩa Trang Quốc Gia DFW ở Dallas, nơi đã có gần 80,000 ngôi mộ tử sĩ. Mặc dù ông có thể được chôn tại NTQG ở Arlington (Virginia), nhưng tướng Carey từ chối vinh dự ấy và nói với gia đình rằng ông muốn được nằm gần binh sĩ của mình. Nơi đây có một đài tưởng niệm trận Chosin Reservoir năm 1950 trong cuộc chiến tranh Hàn Quốc. Đó là trận đánh lớn đầu tiên trong đời binh nghiệp của ông Carey. Tại đám tang ông còn có sự hiện diện của một vị sĩ quan từng tham chiến trận Chosin – họ là những người được truy tặng danh hiệu “The Chosin Few”.

(IANBUI/TRẺ)

Thiếu tướng James E. Livingston, phụ tá đắc lực cho tướng Carey trong cuộc di tản mang bí danh Operation Frequent Wind, chụp hình lưu niệm với 3 người Việt đến được Mỹ vào tháng Tư 1975. Thiếu tướng Lương Xuân Việt (bìa trái) rời Việt Nam năm 9 tuổi. Hai người bên phải, doanh nhân DT Nguyễn và Ian Bùi lúc bấy giờ mới 13 tuổi. Mike McCollum, một cựu sĩ quan TQLC hiện đang hành nghề luật sư tại Dallas và từng làm việc nhiều năm với tướng Carey, nói đối với ông đây là bức ảnh có ý nghĩa nhất trong tang lễ, 50 năm sau ngày “Fall of Saigon”.

Nguồn ảnh: Mike McCollum

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 27 May 2026

Tàu rời bến Rotterdam từ trưa hôm kia, sáng nay đã tới vàm sông Elbe. Gần hai tháng qua tàu đậu bến chờ hàng, tuy thủy thủ đoàn sống không giống như cảnh tù tội, nhưng ở một nơi làm việc tà tà, ăn và nhậu riết rồi tinh thần mệt mỏi, nhàm chán nên sanh ra bốc đồng và thường hay cãi vã nhau. Khi tàu hải hành lại thì mọi người phấn khởi, vui mừng vì được thoát cái cảnh lẩn quẩn trên một con tàu.

Sáng nay mấy thủy thủ người In Đô thức sớm hơn mọi hôm, xuống phòng ăn sáng xong ra boong làm việc hết, trông người nào cũng vui tươi và đầy sức sống. Buổi sáng của đầu bếp cũng đã xong, tôi rót ly cà phê định bưng lên phòng vừa nhâm nhi cà phê vừa lên mạng rà đọc một cái gì đó như thường ngày, nhưng hôm nay tàu vô sông Elbe nên tôi bưng tách cà phê ra sau boong đứng. Tôi có thói quen hễ mỗi khi tàu chạy trên một dòng sông, vào những ngày nắng ấm cũng như những ngày đông giá lạnh, tôi hay ra boong đứng nhìn bầy chim nhàn bay trên khoảng không phía sau lái. Bây giờ là mùa xuân nắng hanh, gió nhẹ, khí trời man mác và bầy chim nhàn thảnh thơi bay theo lái tàu, thỉnh thoảng một con nhàn thấy cá ngay lặp tức lao xuống sớt liền. Nước dưới dòng sông còn ròng nên màu vàng lợt và dòng sông không minh mông như những ngày nước lớn. Nhìn nước dưới lái tàu bị chân vịt quậy cuồn cuộn màu phù sa và nhìn hai bờ sông lớn rộng thênh thang làm lòng tôi bồn chồn xôn xao. Từ vàm sông Elbe vô cảng Hamburg khoảng chừng vài chục hải lý, nhưng tôi cũng thấy lòng dạ bồn chồn trông cho mau tới hải cảng. Trong tôi Hamburg còn có những thâm tình và nhiều kỷ niệm ngây ngô của thời trai trẻ. Ngoài ra tôi cũng ngưỡng mộ một hải cảng sống động nhờ những chiếc tàu buôn quốc tế ra vào với những chiếc đò chở đầy du khách bốn phương thưởng ngoạn trên sông và một thành phố đa văn hóa cũng nhờ con sông Elbe hùng vĩ, nhộn nhịp tàu bè ra, vô từ khắp nơi trên thế giới. Nếu không gì trở ngại thì chiều nay tôi sẽ hẹn vài người bạn ra hội quán nhậu lai rai, sau đó lên Reeperbahn xem trong mùa đại dịch này nó có thay đổi gì không.

Thuyền phó từ trên phòng lái đi xuống, nó dừng lại bên tôi hớn hở báo tin:

– Chiều nay thuyền trưởng già về.

Vừa ngắm sông vừa vu vơ suy nghĩ. Chợt nghe tiếng thuyền phó, tôi day lại và nói:

– Oh, vậy hả?

– Oleg xuống thay. Ông còn nhớ Oleg không?

– Nhớ chớ, Oleg Bugrov?

– Đúng rồi.

–  Oleg nghe có ông ở đây, ông ấy gởi lời chào.

– Oh, cám ơn.

Nó cười hì hì rồi đi tới chỗ Edy và Nando đang lui cui rút dây lái ra sắp gọn để chuẩn bị cho tàu ghé bến, nó căn dặn hai đứa cái gì đó rồi day lại tôi, nó nói:

– Tui vô ăn sáng, ông chiên cho tui hai cái trứng được không?

– Sorry, trứng hết rồi, trưa vô Hamburg mới lấy thêm thực phẩm, còn bánh mì, thịt nguội, phó mát tao để ở trên bàn, mày vô lấy ăn đi.

Tàu sắp vô bến người nào việc đó, bận rộn lu bù. Tôi là đầu bếp trên tàu, ngoài những lần thực tập cứu hộ hoặc phòng cháy, chữa cháy ra tôi không phải bận tâm với công việc ngoài boong, vì vậy trong những ngày không thực tập tôi không biết tới mũi tàu và khoang tàu ra sao hết. Tôi cũng không cần phải bận tâm tới chuyện người này nói người kia, nhưng tôi chỉ để ý tánh tình mỗi người và mỗi sắc dân. Có lẽ chung chạ với nhiều giống người và tiếp xúc nhiều văn hoá khác nhau, nên nói chuyện một vài lần với một người nào đó, tôi có thể biết được tánh tình của họ, biết để mà cư xử sao cho hợp thôi chớ hổng phải để so đo với ai hết. Bởi vì thức ăn của tôi nấu cho tất cả mọi người ăn đều có hương vị và chất lượng ngon hoặc dở giống như nhau, miễn sao nấu ngày nào họ ăn hết ngày nấy, thức ăn ít thừa mứa đem đổ bỏ là tôi yên tâm.

Có điều là chung sống với nhiều giống người trong nhiều chế độ và tín ngưỡng khác nhau, tôi nhận thấy những người trong khối Cộng Sản Đông Âu trước kia, kể cả người Nga khi mới qua Hoà Lan làm việc, phần đông họ nghĩ các nước bên Tây Âu giàu lắm, trên tàu cái gì cũng có và ăn uống được tự do, nên khi xuống tàu cần thứ gì thì họ xuống kho lấy thứ đó, ngang nhiên vô bếp lục lạo và gây khó khăn cho đầu bếp. Thật tình thì lúc đầu tôi cũng không ưa những loại người này lắm, chửi lộn hoài, nhất là với người Nga. Nhưng khi nhớ lại, hồi mới tới Hoà Lan tôi cũng có ý nghĩ như họ, nhưng tôi là người tị nạn Cộng Sản và may mắn được định cư trong một xứ sở tự do, giàu, đẹp và nhân văn, sau một thời gian dài tôi mới thấm nhuần tự do và nhân bản. Dần dà tôi cũng hiểu ra, con người lúc nào cũng hướng về những điều tốt đẹp, ngoài những người Nga già cả, đầu óc còn bảo thủ, sống ích kỷ ra, phần đông đám trẻ học hỏi rất mau, vui vẻ hoà đồng với mọi người và sống cũng rất là văn minh, giống như cái cây đương trồng một nơi thiếu ánh mặt trời, mặt trăng và đất đai cằn cỗi, còi cọc, héo úa, nay được thay đất thêm phân giữa bầu trời tinh khiết nó tự do nhảy ra nhiều nhánh trông tươi tắn hẳn lên.  Khi ngộ ra điều đó tôi liền thay đổi cách nhìn về con người, không phân biệt, biết cảm thông và chia sẻ, thử hỏi nếu ngày xưa tôi kẹt lại trong chế độ Cộng Sản thì tôi sẽ ra sao, biết đâu còn tệ hơn họ nữa, cho nên khi nói chuyện với họ tôi tránh những lời lẽ phân biệt để khỏi mích lòng. Tôi có thể nhường nhịn mọi người, chịu thiệt thòi đôi chút, ngoại trừ người nào có thói quen vô kỷ luật, không tôn trọng giờ giấc ăn uống, hống hách, ỷ có chút địa vị rồi lên mặt, coi thường người khác thì tôi phải dùng ngôn ngữ chợ búa ra đối xử với họ.

Hồi mới qua Hoà Lan làm việc, có lẽ Oleg nghĩ làm thuyền phó rồi muốn ăn gì thì ăn, cho nên nó xuống kho lấy nguyên một hộp bánh ngọt và cả một lít kem đem về phòng dự trữ. Một tháng đặt hàng được mười lăm lít kem, tám hộp bánh ngọt, đầu bếp phải phân ra mỗi tuần chỉ được ăn kem một lần vào ngày chủ nhật và một hộp bánh ngọt cho officers, một cho thủy thủ. Theo luật lệ trên tàu thì không ai được phép xuống kho tự lấy thức ăn, tuy nhiên tôi biết cũng có nhiều người lén xuống kho lấy ăn, nhưng chút đỉnh tôi làm lơ, nhưng Oleg nó lấy nhiều quá nên tôi mới lưu ý nó. Thường thì những người Nga lớn tuổi còn máu cộng sản trong người hay ỷ quyền và xem đầu bếp như người phục vụ, nên hay sai đầu bếp làm này làm kia, khi bị tôi lưu ý và nhắc nhở thì họ cự nự có khi làm dữ nữa, nên tôi phải dùng lời lẽ nặng nề chửi cho một trận họ mới chịu yên. Oleg thì không, nghe tôi cảnh cáo nó liền đem bánh đem kem trả lại và xin lỗi, cũng từ đó mỗi khi lên bờ nó mua kem và bánh ngọt đủ loại, kem nó nhét trong học tủ đông trong phòng của nó hổng hết, phần còn lại đem xuống gởi tôi cất trong phòng đông lạnh, thỉnh thoảng nó cũng lấy kem, lấy bánh mời tôi ăn.

Thường thì thủy thủ làm việc không nhất định trên một chiếc tàu, cho nên những gương mặt thủy thủ đoàn mà tôi không thường tiếp xúc qua lại ít khi tôi nhớ. Oleg là một trong những người Nga để lại trong tôi ấn tượng. Tôi còn nhớ lần đầu tôi trò chuyện với nó, nó hỏi:

– Ông là nhà văn?

– Không, tao là nhà bếp.

– Nghe nói ông viết văn mà.

 – Oh, hobby thôi.

– Ông là người Việt mà tôi tưởng là người In Đô.

– Câu này tao cũng nghe nhiều người nói.

– Thấy ông thân thiện với người In Đô hơn.

– Tao đã sống chung với họ cả đời rồi. À, bộ mày hổng nghe tao nói chuyện với họ bằng tiếng gì sao?

Oleg ngẩng người ra ừ hử. Tôi nhìn thẳng mặt nó, hơi bị ngượng nó niễng mặt qua một bên. Cái thằng trông cũng đẹp trai, thông minh và có vẻ dễ gần gủi hơn những người Nga lớn tuổi. Tôi bắt chuyện:

– Bộ tao hổng thân với mày sao?

– Có, nhưng ít thấy ông cười.

Tôi cười lớn và nói:

– Oh! Chuyện cười à? Mày phải nói người Nga của mày mới đúng.

Nó chưa hiểu ý tôi nên hỏi:

– Ông nói người Nga sao?

– Theo tao thấy thì người Nga của mày mới là người có gương mặt buồn bã và ít cười nhứt thế giới.

Nghe tôi nói vậy nó phá lên cười ha hả và nói:

– Tui là người Nga và cũng biết cười mà.

Tôi cười và nhìn nó nói giọng khôi hài:

– Lần đầu tiên tao thấy một người Nga biết cười và còn biết dí dỏm nữa.

Lúc vui vẻ lắng xuống, nó nói với giọng nghiêm túc:

– Thật ra thì những người lớn tuổi ít tiếp xúc thế giới bên ngoài nên họ ngại cười.

– Sống trong chánh quyền sao thì con người ra vậy.

Nó nhìn tôi cũng vẫn chưa hiểu ý tôi nói gì, nó hỏi:

– Ông nói sao?

Thật ra thì từ ngày biết nước Nga qua thành phố Leningrad và vài ba hải cảng trong vịnh Phần Lan, tôi thường hay thắc mắc những học giả, nhà văn và nhà báo và cả các nhà cách mạng của miền Bắc nước Việt Nam thời đó, mấy ông mấy bà qua Nga học hỏi nghiên cứu cái giống gì hổng biết mà một xã hội có những con người với bộ dạng mệt mỏi, ban ngày giống như những cái xác không hồn, về đêm thì đi như những bóng ma giữa một thành phố đẹp lộng lẫy và văn minh, nhưng bị chế độ Cộng Sản tàn phá tanh bành té bẹ. Xe cộ cũ xì, đường xá ổ gà, ổ voi; xe bus, xe điện chạy xụp xuống một cái thì sét rớt lộp độp, khớp xe nghiến nhau nghe ken két và khua rổn rảng. Vậy mà mấy ông, mấy bà viết ra thành cái thiên đường rồi trở về nước đem in thành sách, phổ biến, tuyên truyền ca ngợi ầm ỹ cho dân chúng cả ba miền đất nước Việt Nam về cái chủ nghĩa xã hội liên xô giàu đẹp. Cho mãi tới ngày hôm nay, chiến tranh đã qua nửa thế kỷ rồi, những sự thật đã sáng tỏ, vậy mà vẫn còn những nhà báo hay nhà văn Việt Nam, cũng cách viết giả tưởng đó, đem ra phân tích nụ cười của người Nga. Theo những người này thì: “Trong nhận thức giao tiếp của người Nga, có một quy tắc: nụ cười phải thực sự phản ánh tâm trạng tốt và mối quan hệ tốt. Đó là lý do vì sao các nụ cười Nga là điều hiếm hoi và chỉ xuất hiện trong những trường hợp được coi là thích hợp, thể hiện một cảm xúc hạnh phúc thực sự…” Cười mà cũng phải có quy tắc?! Nhưng dù gì đi nữa thì chuyện đã qua nửa thế kỷ rồi. Oleg nó có biết gì đâu và tôi cũng đã thấy những người Nga lớn tuổi dần dần biến mất, nhường lại đám trẻ đầu óc còn trong trắng học hỏi được văn minh trong những quốc gia tiên tiến, sống biết vui vẻ và hoà đồng với mọi người.

Tôi nói với Oleg:

– Mày thấy những lãnh tụ các nước Cộng Sản có ông, bà nào cười được tươi đâu.

Nó định nói gì nhưng nghĩ sao đó, nó hỏi:

– Ông có tới Nga lần nào chưa?

– Có, tao tới thành phố St. Petersburg hồi còn mang tên Leningrad.

– Ông có ấn tượng gì không?

Thật ra thì ấn tượng tôi có rất nhiều về St. Petersburg và tôi cũng đã ghi chép lại những gì tai nghe mắt thấy từ khi thành phố St. Petersburg còn nghèo nàn, tan hoang cho tới khi phát triển tốt đẹp như ngày hôm nay. Không muốn dài dòng nên tôi cũng chỉ nói ngắn gọn:

– St. Petersburg hồi còn là Leningrad trông nó giống như một cô hoa hậu thế giới bị bọn côn đồ hãm hiếp đến thân tàn ma dại. Nhưng từ ngày lấy lại tên St. Petersburg nó tràn trề sức sống và phát triển rất mau, tốt lắm, đẹp lắm…

Oleg cười ha hả rồi nói:

– Ông nói chuyện nghe vui quá.

Về Oleg tôi nhớ được bao nhiêu và cũng từ sau chuyến đó tôi không còn có dịp đi chung với nó nữa. Nghĩ tới đây thì chợt thấy dưới nước sau lái tàu, một bầy cá con đang nhảy lưng tưng trên mặt nước đục ngầu. Oh! tàu vừa cán lên một bầy cá nhỏ, thấy chúng rộn ràng trông cũng vui mắt. Chợt chạnh lòng khi thấy trên không bầy chim nhàn xôn xao như xông trận, chúng tăng tốc, nhấp cánh lia lịa rồi lấy trớn lao như tên bắn xuống đớp những con cá con tội nghiệp. Chậc! Giá mà tàu không cán lên bầy cá thì giữa cá và chim sống trong hai thế giới, dưới nước và trên không thanh bình biết bao nhiêu.

Edy và Nando sắp xếp xong dây chạc, hai đứa đứng lên, đi tới trước mặt tôi, Edy hỏi:

– Chú biết thuyền trưởng Oleg hả?

– Ờ, chú biết lúc ông ta còn là thuyền phó.

Nó đưa ngón tay lên gật gật:

– Oleg là thuyền trưởng tốt?

Tôi vỗ vỗ lên vai Edy:

– Con siêng năng làm việc là được rồi. Để ý tới thuyền trưởng tốt hay xấu làm gì.

– Ờ ờ… chú nói đúng.

Edy day ngang nói tiếng In Đô với Nando gì đó, rồi hai đứa chào tôi đi ra phía trước.

Sau buổi ăn trưa tàu ghé cảng Hamburg. Khi tàu đã yên vị và máy tàu đã tắt thì người giao hàng cũng vừa xuống đưa tôi danh sách thực phẩm để kiểm tra. Nghĩ cũng buồn cười, đầu bếp đặt hàng, thuyền trưởng kiểm tra xong gởi về công ty, công ty kiểm tra lại một lần nữa rồi mới gởi đặt mua. Đầu nậu giao hàng thứ gì phải nhận thứ đó, đầu bếp không được trả lại những thứ không vừa ý, vậy mà cũng đưa danh sách kêu đầu bếp kiểm tra. Trong lúc chờ đợi hàng chuyển xuống, tôi nhớ lại hồi mới làm đầu bếp, tôi làm dưới quyền một vị thuyền trưởng hiền hậu, ông chỉ dạy tôi rất nhiều điều hay, tôi nhớ hoài câu chuyện ông đã dạy trong lúc tôi đang nêm nồi xúp nấm. Ông vô bếp lấy một cái trứng đưa lên ông hỏi tôi:

– Làm sao một cái trứng mà chia đều cho cả tàu ăn?

Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu:

– Hổng biết.

Ông liền đập cái trứng bỏ vô chén và đánh cho tròng trứng hoà nhau, sau đó tay trái cầm cái dá múc canh, tay phải bưng chén trứng trúc vô nồi rồi ông quậy cho trứng quệnh vào xúp. Xong ông day qua hỏi tôi:

– Hiểu rồi phải không?

Vỡ lẽ ra tôi hô:

– Yes sir!

Khi ông đi rồi tôi cảm thấy mắc cỡ, vì lúc đó tôi lo ăn uống cho đám officers nhiều hơn đám thủy thủ ngoài boong. Từ sau bài học đó tôi đã hiểu như thế nào là bình đẳng và mỗi khi thấy chuyên bất công thì tôi nhớ tới bài học cái trứng và nồi xúp nấm mà thuyền trưởng đã dạy tôi cách đây hơn ba chục năm. Thật ra thường những thuyền trưởng tư cách rất cao, ngoài việc điều hành trên tàu ra, ông còn lo sức khoẻ cho thủy thủ đoàn, nếu thuyền trưởng lớn tuổi thì coi thủy thủ như con, thuyền trưởng trẻ thì xem thủy thủ như anh em. Từ ngày có người Nga qua làm việc mới xuất hiện vài thuyền trưởng có đầu óc kỳ thị, trước khi đổi về biết thuyền trưởng người Nga xuống thay thì ông đặt thực phẩm bớt lại chơi cho bỏ ghét. Những món tôi đặt đều không thiếu, nhưng số lượng thì món nào cũng bớt một hai phần, có món bớt phân nửa. Biết trước như vậy nên tôi chỉ xem những món tôi cần có đủ không, nếu thấy món nào thiếu thì tôi ghi lại, sau đó tôi đưa cho thuyền trưởng mới để ông ta giải quyết, còn chất lượng của thực phẩm thì khỏi cần xem tôi cũng biết toàn là những thứ rẻ tiền.

Trong lúc mọi người đang chuyển hàng xuống kho. Thuyền trưởng già áo quần tươm tất, mang khẩu trang xệ dưới càm. Đi tới hỏi tôi:

– Tất cả đều tốt?

Tôi nhún vai:

– Tốt xấu gì ông cũng biết mà.

Ông cũng nhún vai, nói:

– Xe bus chờ trên bến tao về đây.

– Ok, ông đi bình an.

Đoạn ông day qua mấy thủy thủ, đưa tay chào từ biệt rồi ông đi lên bến. Khi ông ra khỏi cửa, Nando đưa hai tay lên trời mừng rỡ hô to:

– Oh yéé…vậy là hổng còn BBQ cuối tuần nữa.

Mọi người cười rộ. Tôi lắc đầu cười nói với tụi nhỏ:

– Chậc, được ăn nhiều cũng phàn nàn, nếu gặp những viên thuyền trưởng keo kiệt, tụi con có thèm BBQ cũng hổng có để mà ăn.

Nhận hàng xong tôi lo cho buổi ăn chiều, đương lui cui múc thức ăn ra dĩa thì Oleg đi vô vồn vã bắt tay, không theo luật đề phòng dịch gì hết, sau khi hỏi thăm sức khoẻ, nó đưa tôi gói kẹo:

– Cho ông nè.

Tôi cầm lấy gói kẹo và chỉ tay qua phòng ăn nói:

– Cảm ơn, thuyền trưởng vô ăn luôn đi.

Oleg chào tôi rồi đi qua phòng ăn, lúc đó Ama đi vô, nó phụ tôi lấy thức ăn cho thủy thủ. Tôi hỏi nó:

– Chừng nào con có chuyến bay?

– Chiều mai, vì hổng có chuyến bay Hamburg qua Frankfurt nên sáng mai con phải đi chuyến xe lửa sớm tới Frankfurt.

– Corona, phiền phức quá.

Sau bữa ăn chiều Ama vô phụ tôi dọn dẹp, xong nó day ngang bắt tay tôi và nói:

– Sáng con đi sớm, chắc không gặp chú.

Tôi đưa tay vỗ vỗ vào vai nó:

– Ok, thăm gia đình con, đi đường bình an.

Hải cảng Hamburg là một trong những hải cảng quốc tế lớn đứng thứ nhì Âu Châu. Mùa hè là thời điểm thích hợp để du khách khám phá thành phố cảng. Du khách có thể đi tours để khám phá lịch sử của hải cảng quan trọng này, những chuyến đò hiện đại đưa du khách qua các kinh đào, qua những cây cầu kiến trúc lâu đời… Nói chung dòng sông Elbe, trước mùa dịch, lúc nào cũng nhộn nhịp tàu bè vô ra. Cũng vì đại dịch mà làm cho tàu bè thưa thớt trên dòng và những chuyến đò hiếm hoi, vắng vẻ bóng du khách đến từ bốn phương.

Hồi sáng tôi còn nôn nao chờ tàu ghé bến, dự định trước tiên tôi sẽ lên Seaman’Club Duckdalben, điểm dừng chân tuyệt vời cho thủy thủ bốn phương, sau đó lên dạo phố Hamburg. Nhưng khi biết quán bar của hội quán đóng cửa, chỉ có cửa hàng mở bán những món thủy thủ cần dùng. Xe bus hội quán rước mỗi chuyến được hai người, những người lên xe phải mang khẩu trang và ngồi giữ khoảng cách đúng tiêu chuẩn phòng dịch. Chiều nay đứng nhìn dòng sông Elbe vắng vẻ và kè đá của bến cảng còn nhiều khoảng trống, chỉ có vài chiếc tàu buôn đậu rời rạc. Bên kia bến đợi, những chiếc tàu du lịch tầm cở quốc tế có lớn, có nhỏ đang đậu lại im lìm, trông trống vắng lạnh lùng. Nghĩ tới những thủ tục rườm rà khi lên bến thì sự nôn nao, háo hức lúc ban sáng biến đâu mất. Lòng nghe buồn bã nên tôi hổng muốn đi đâu nữa hết.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 May 2026

Tôi, người Thừa Thiên và bạn quê ở Khánh Hoà, dù “cùng lận đận bên trời một lứa”, từ Việt Nam chạy sang đây không thể xem nhau là đồng hương, vì tôi với bạn không phải là người cùng làng (hương đản). Theo tục người Tàu, thì người cùng một tỉnh cũng gọi là đồng hương vì cùng đi thi hương ở một tỉnh, do đó ở hải ngoại chúng ta có nhiều hội đồng hương như Hội Đồng Hương Bắc Ninh hay Quảng Nam- Đà Nẵng, đặt tên như vậy là đúng. Trái lại, tôi và người bạn quê Khánh Hoà nói ở trên không thể ở chung trong một hội đồng hương được, nói theo cách nói sai bây giờ, tất cả người Việt gọi nhau là đồng hương, không lẽ có một hội đồng hương mang tên “Hội Đồng Hương Việt Nam”. Cũng như tôi và ông bạn nói trên có thể “liên lạc” với nhau, nhưng không thể nào “liên hệ” với nhau vì không phải là bà con, máu mủ, theo lối nói trong nước mà rất nhiều người bắt chước hiện nay. Nếu có một tiếng lâu nay chúng ta dùng sai, mà chúng ta biết là sai thì liệu chúng ta có sửa lại cho đúng không?

Chúng ta là người Việt ở trên đất Mỹ này chỉ có thể xem nhau là đồng bào, một danh từ mà trước đây người ta hay dùng theo nghĩa bóng là con dân chung  một tổ quốc, như anh em cùng một bào thai sinh ra.Nhiều người ngại không dùng tiếng “đồng bào” vì sợ xem thường người khác, vì ngày xưa các nhân vật lãnh đạo quốc gia hay mở đầu diễn văn bằng những tiếng “quốc dân”, “đồng bào”. Nhưng không lẽ chúng ta gọi những người Việt trong nước là “đồng bào” và những người Việt cùng chúng ta tỵ nạn sang đây là “đồng hương”? Trên báo chí vẫn thường thấy những tin “cứu trợ đồng bào bão lụt tại miền Trung” nhưng lại viết “đồng hương tham gia biểu tình đông đảo”! Điều đáng nói là hai tiếng “đồng hương” đã được lợi dụng triệt để để ca tụng tình thân ái, yêu thương, đùm bọc như “tình đồng hương”, “giá đồng hương”, giảm giá cho đồng hương, “đặc biệt cho đồng hương” nhưng nghĩa của nó là “lường gạt”, “xem thường”, “khinh bỉ”. Tôi không nói ngoa. Bạn thử vào một ngôi chợ Mỹ, rồi vào một ngôi chợ Việt để xem các cô bán hàng ở hai ngôi chợ này đối với khách khác biệt nhau ra sao? Bạn thử mua một món hàng ở tiệm đồng hương về nhà, không vừa ý, đem đổi lại, thái độ của ông chủ tiệm sẽ ra sao? Bạn thử vào một bãi đậu xe khu phố Việt để thấy lối hành xử của đồng hương chen lấn, vứt xe đi chợ giữa đường hay để sau đít xe người khác ra sao? Bạn thử vào một tiệm ăn đồng hương có nhiều người ngoại quốc đến ăn để xem người ta tiếp đãi khách da vàng, da trắng khác nhau ra sao?

Những chuyện giao tiếp giữa đồng hương với nhau, trên các tờ báo địa phương, người ta đã nói đi nói lại nhiều lần, nhưng chúng ta vẫn gặp những chuyện bực mình nghìn lần như một. Hôm qua chúng tôi từ một nhà hàng ăn trên đường Bolsa, lái xe ra trước một dòng xe nối đuôi nhau chạy liên tục. Biết thân, tôi đã chờ đợi khoảng thời gian khá lâu, những người đi qua toàn là đồng hương thân yêu, nhưng chẳng có ai đưa ra một dấu chỉ thân thiện. May quá, cuối cùng có một người ra dấu nhường xe cho tôi ra, vẫy tay chào lại thay một tiếng cám ơn, tôi thất vọng vì nhận ra người lái xe kia là một người Mỹ tốt bụng chứ không phải chủng loại da vàng mũi tẹt như tôi ..Sống trên mảnh đất có nhiều “đồng hương” nhất ở nước Mỹ này gần hai mươi năm, đã nhường lối xe ra hằng trăm lần cho tất cả mọi người lái xe, không phân biệt vàng, đen, trắng, đỏ, tôi ít khi thấy “đồng hương” mình vẫy một bàn tay để tỏ một cử chỉ thân thiện, mà chỉ thấy những khuôn mặt khó đăm đăm, ra chiều quan trọng, phớt lờ, trái ngược với nụ cười, lối xã giao của những người dân địa phương ở đây. Một lần khác trên con đường ra từ một khu chợ, một “đồng hương” còn trẻ, trong khi chờ xe đậu lấn qua phần đường ra, khiến chiếc xe của tôi phải mắc cạn không tiến được. Tôi xuống cửa xe nói với “đồng hương” xin nhích lên một tí, cho tôi đi lên, kẻo sau tôi còn nhiều xe đợi. Y có vẻ phật ý, lắc đầu. Tôi biết y coi thường người đồng hương, cũng như cái xe đời cũ của tôi. Nếu gặp một người Mỹ trắng sang trọng với cái xe đời mới, chắc y đã vui vẻ nhường đường. Cái này, ông cha ta thời xưa nói là kiểu “khôn nhà dại chợ”, đối với người nhà thì khinh bạc, lấn áp, nhưng đối với người ngoài thì sợhãi kiêng nể.

Tôi cũng đã từng đỡ cửa cho hằng trăm “đồng hương” ở các cửa hàng trong khu người Việt, điển hình là tại thương xá Phước Lộc Thọ, người ta nghĩ tôi là một ông già điếc đặc nên đã không hề mở miệng cám ơn, đôi khi lại không buồn đưa bàn tay ra đỡ giùm cánh cửa, khiến tôi phải khép nép đứng lại một bên, ôm cánh cửa chờ đồng hương bước qua, sợ buông tay, lỡ cánh cửa đập vào mặt người ta. Chẳng phải mới chút đỉnh “thi ân” đã đòi “cầu báo”,mà sợ dân địa phương cho mình là người kém văn minh.

Nhưng sự thực tôi đã lầm, vì nếu gặp một ông tây, bà đầm đỡ giúp cánh cửa thì “đồng hương” đã nở một nụ cười rất khả ái và không quên lịch sự cám ơn rối rít. Vậy câu nói “đồng hương khinh bỉ đồng hương” hẳn không sai. Câu chuyện này đã được ông Bá Dương bên Tàu và nhiều trang báo bên Mỹ nói chuyện nhiều lần, nhưng chẳng ăn thua gì, chỉ sợ người ta lại nhớ đến câu: “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!”

Bạn bè cứ cho tôi là hận đồng hương nên mới “Khổ lắm! Nói mãi!” Quả thật là tôi có bị một anh “nhóc con đồng hương” lừa trong bệnh viện, rồi lại bị một “từ mẫu đồng hương” gửi cho cái bill $3,500 về một dịch vụ “ảo” không hề có thực khiến cơ quan medi-care phải è lưng ra trả. Tôi cũng biết tôi có khuyết điểm là nhớ dai và chưa xoá bỏ được hận thù. Tôi biết nhiều người, nhất là giới cao niên, vì ngôn ngữ hạn chế nên phải bám riết vào đồng hương, không bị lường gạt kiểu này, cũng bị lường gạt kiểu khác, nhưng nghĩ “tình đồng hương”, “chín bỏ làm mười”, “dĩ hoà vi quý”, nên bị chúng coi thường, lại càng làm tới. Nhiều người than phiền bị những “công ty đồng hương” nhận tiền cọc, tiền mua vật dụng cho những dịch vụ sửa nhà, ghép phòng, xong rồi cao bay xa chạy. Rất nhiều gia đình khá giả đã bị “đồng hương” đem xe truck đến dọn sạch nhà. Ai hiểu rõ “đường đi nước bước” và chuyện tiền bạc của đồng hương hơn đồng hương, và dọn nhà đồng hương cũng dễ hơn vào dọn nhà Mỹ. Quả thật đồng hương là một tập thể rất dễ tin nên dễ bị lừa, từ chuyện chính trị cho đến chuyện nhỏ nhặt như viên thuốc, gói trà. Một nữ độc giả báo Viễn Đông vừa than phiền chuyện đi mua “cơm chỉ’ của đồng hương, về nhà thấy một con gián trong miếng canh mướp đắng, đem lại tiệm khiếu nại thì bị nhân viên không cho gặp chủ, lại còn bị mắng mỏ: “mướp có gián thì ra chợ mà khiếu nại!” Một người khách khác than phiền mua phải chè thiu, bản thân người viết bài này cũng đã có dịp mua về nhà món tôm càng kho đã bị chua, đành phải mang ra gửi lại cho chủ tiệm thức ăn “to go”, được trả tiền lại, không bị sừng sộ, là may mắn, đằm thắm tình nghĩa đồng hương lắm rồi. Trong khi thức ăn “to go” của các nhà hàng Mỹ, trong ngày nếu bán không hết phải đổ thùng rác, không để qua đêm vì vấn đề vệ sinh và điều quan trọng là biết tôn trọng khách hàng, tiệm “to go” bán thức ăn ở Little Saigon này để nhiều ngày, siu thối, nếu không gọi “xem thường, khinh bỉ đồng hương” thì chúng ta gọi bằng chữ gì? Phải chăng đó là ý nghiã của khẩu hiệu đẹp đẽ “đồng hương phục vụ đồng hương”!

Trước con mắt quan sát của thiên hạ đối với đồng hương chúng ta, nếu có ai đó có nhã ý giới thiệu nét văn hoá của đồng hương thì nên tránh xa các khu chợ đầy rác, tàn thuốc lá và cũng đừng nên giới thiệu nét “khả ái” của những cô cashier đồng hương, nó cũng không khác gì mấy các cô “Duyên Dáng Việt Nam Air Lines” đâu!

Người ta nói ở nước Úc, Pháp, Canada hay ở các tiểu bang miền Đông nước Mỹ, đồng hương đối với nhau tử tế hơn nhiều. Cũng dễ hiểu thôi, cái gì ít mới quý. Một người Việt ở trong cộng đồng sắc dân khác rất dễ thương, nhưng cũng người này về với đám đông đồng hương thì sinh dễ ghét. Tôi biết nhiều ông bà ở tận miền đông buốt giá, ít người Việt, trong hoàn cảnh chưa gần đồng bào được, nên rất muốn về gần đồng hương. Gần đồng hương rồi mới gặp trăm thứ bực mình, nhưng chẳng thà bực mình với đồng hương còn hơn khốn khổ với trăm thứ “đồng bào” giai cấp mới hiện nay ở bên nhà. Tôi cũng vậy. Nhưng khổ tâm lắm mới phải nói ra! Nói mãi! Biết rồi! Khổ lắm!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 May 2026

Mới mấy tháng trước đây thôi, vào lúc nửa dêm, tại một tiệm bánh Pizza Papa John’s o thành phố Helena, Montana, một người đàn ông bịt mặt vào tiệm, tiến đến quầy thu ngân, đưa ra một mảnh giấy đòi nộp tiền. Công nhân của cửa tiệm vội vàng mở hộc, hốt hết tiền đưa cho “kẻ cướp,” nhưng không, người đàn ông bịt mặt, ngần ngừ rồi bổng bật khóc và nói rằng, ông ta chỉ cần ít thức ăn cho các con ông ở nhà đang đói. chứ ông không phải là tên ắn cuớp chuyên nghiệp. Người đàn ông, sau đó rời khỏi tiệm với một hộp pizza và một ít cánh gà, cho gia đinh của ông, đang không có gì ăn tối nay. Chù tiệm đã báo cảnh sát ngay sau đó, nhưng chắc là không có ai nỡ bỏ tù một người khốn khổ như vậy.

Người ta thường lên án nạn cướp bóc, trấn lột, nhưng nghĩ sao trong trưởng hợp này, liệu nhân viên cửa tiệm có thể rộng lượng cho đi một ít thức ăn, nếu có một người đàn ông đói khát bất ngờ, thay vì bỏ tiền ra mua thức ăn, lại ngữa tay xin một vài cái cánh gà, hay một miếng bánh cho gia đỉnh và chính ông ta không?

Trong tám tiếng đồng hồ chạy theo công việc, tám tiếng đồng hồ sống với gia đình và tám tiếng nghỉ ngơi hay đắm mình vào giấc ngủ, có thời gian nào chúng ta nghĩ đến những đồng loại bất hạnh đang ở gần với chúng ta đây thôi, trong nước Mỹ giàu có, hạnh phúc và cả ở trên quê hương khốn khổ đã xa bên kia của mình.

Chúng ta lên án người khác thì dễ nhưng mở lòng bao dung thì khó! Ở gần chổ đèn xanh, đèn đỏ đầu đường phố, chúng ta thường miệt thị những kẻ không nhà đang đứng hàng giờ để ngữa bàn tay xin lòng đoái thương của kẻ qua đường. Chúng lả kẻ chây lười, hút xách, nghiện ngập, lười biếng, bỏ tù chúng đi là vừa, chúng chỉ làm mất đi vẻ mỹ quan của thành phố. Trưng bảng xin tiền ra giữa đường là phạm luật, làm tiền là thương mại, phải có giấy phép của chính quyền địa phương, nhưng rồi cảnh sát cũng phải làm ngơ.

Ngoài phố Bolsa, trong những ông sư cùng mặc áo vàng đứng “khất thực” nơi đây, ai giả, ai thật. vậy tốt hơn là tôi ngoảnh mặt làm ngơ đi cho đỡ suy nghĩ. Trước một ngôi chợ ở khu Việt, vào những ngày giáp Tết, giữa dòng người tấp nập, vội vàng, tôi trông thấy một người đàn ông cầm một cái hộp quyên tiền có ghi dòng chữ: “Giúp trẻ em khuyết tật và mồ côi.” Người ta thấy ông nhưng không ai nhìn ông. Với sự nghi ngờ cố hữu, có lẽ mọi người đều có câu hỏi, “ông này thuộc cơ quan, tổ chức nào, quyên góp cho ai” hơn là đặt vào tay ông một đồng bạc lẻ. Ai cũng cho rằng cách đây vài chục năm, ở Mỹ chúng ta có thể dừng xe lại để cho một người xin quá giang, hạy là khi chúng ta gặp hoạn nạn, có thể ra dấu chặn một chiếc xe dang chạy trên đường để xin giúp đỡ, Nhưng ngày nay thì không! Thà làm ngơ đi, lương tâm nếu có cắn rứt đôi chút cũng chẳng sao, trái lại những việc qua đường có khi mang đến tai hoa cho bản thân mình, mà còn bị mang tiếng là dại dột. Bây giờ trên dất Mỹ, nơi vùng đất có nhiều sắc dân cư ngụ, thường xảy ra cướp bóc, ít khi bạn có thể hỏi một người Mỹ qua dường, chổ ty buu điện gần đây nhất hoặc đi dến dường Boach còn bao xa. Thường thì chúng ta được nhận một cái khoát tay hay một cái lắc đầu. Ở thời buổi này, thà làm người bất lịch sự còn hơn phải dây dưa vào những chuyện qua dường rắc rối!

Năm 1955, từ Huế vào Saigon, cậu thanh niên tình lẻ mới lớn, là tôi, đang đi với một người bạn học trên đường Bonard, thì một người dàn ông, ăn mặc khá tươm tất, tiến lại phia tôi, – mà không phải là bạn tôi -, mở lời:

– “Tôi đói quá! Cậu cho tôi xin một đồng để mua một nắm xôi!

Tội không chút ngần ngại, móc túi trao cho ông kia một đồng. Có lẽ thấy kiểm một đồng bạc đầu tiên không khó khăn gì, người đản ông chưa cất tiền vào túi vội, nài nĩ, nói thêm:

– “Cậu cho tôi xin thêm một đồng để mua tờ bảo, tôi lận lưng ngủ qua đêm!”

Tôi lại cho lay lên túi áo, nhưng lần này thi thằng bạn Saigon, vội giật cánh tay tôi kéo đi và chửi thẳng vào mặt tôi là “đồ ngu!” Tôi quả là ngu, vì quá tin người, giữa một Saigon hổn tạp, tập trung đủ hạng người tứ xứ.

Ở các thành phố. thình thoáng chúng ta nhẹ dạ giúp đỡ, khi gặp một người than thở, là mới ở bệnh viện ra không có tiền xe về Cần Thơ. Nhưng cũng hôm sau, ở một địa điểm khác, chúng ta lại gặp người này, “mới ở bệnh viện ra,” không có tiền xe về Rạch Giá! Vậy thi chắc chắn chúng ta không bao giờ bị mắc lừa nữa,  nhưng những người thật sự “mới ở bệnh viện ra, không có tiền xe” cần sự giúp đỡ của người khác, sẽ phải chịu thiệt thòi. Thế giới động lòng, giang tay đón tiếp những người vượt biển tị nạn vào những năm 80, nhưng sau dó, ngày càng đông người ra đi. phương tiện cứu giúp có hạn, nhất là sau khi biết “nhà nước cộng sản” chủ trương đóng tàu bán vé, lấy vàng, thì chủ trương cứu vớt của nhiều quốc gia cũng phải xét lại. Cho dến hôm nay, “độc lập-tự do-hạnh phúc” đã 38 năm, người Việt vẫn còn đóng tàu để trực chỉ nước Le. họ nghĩ là nơi dây. lòng trắc ẩn của người địa phương vẫn còn cao. Liệu chúng ta có sẵn lòng cứu vớt, giúp đỡ những người như thế hôm nay không?

Phải chăng, gian trá, bạo lựe đã tàn phá hết tình nhân ái trơng lòng chúng ta, tình thương người hầu như đã nguội lạnh qua thời gian và hình như xã hội càng văn minh chừng nào, lòng người càng trở nên chai đá chừng ấy. Liệu hôm nay, lỡ đường, như trong những tích truyện xa xưa, chúng ta có thể gõ cừa một ngôi chùa hay một nhà thờ đế xin tá lúc qua một đêm giá lạnh hay không. Chúng ta đã nghe câu chuyện cách đây hai mươi năm, một thi sĩ lang thang không nhà đã chết trong chiếc xe của ông đậu trước cửa chủa, phái chi cánh cửa chùa dêm ấy rộng mở!

Phải chăng đến lúc, lòng người đã nguội lạnh, con người đậ chai đá, con tim đã trở thành vô cảm, không còn nước mắt để khóc thương cho những mảnh đời khổ, hòan cảnh éo le của từng mỗi cá nhân hay cả mệnh nước khốn cùng nữa.

Tôi nghĩ rằng không!

Mỗi đêm trên đất Mỹ này, có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam, già có, trẻ có, đã sụt sùi khóc cho những số phận bất hạnh của những nhân vật trong những cuốn phim bộ Đại Hàn, Có điều nước mắt ấy chảy ra không đúng chỗ, đúng lúc thôi! Bỏ cái tin hằng trăm phụ nữ, đồng bào ruột thịt của mình sang Nam Dương làm nghề “khui bia,” vụ 15 phụ nữ bị lửa sang Nga đi bán quán, để sau đó buộc phải bán dâm, một cô gái 14 tuổi bị bắt làm nghề mãi dâm khi đang có thai bốn tháng, hay người dân thứ tư bị công an cộng sản đánh chết trong mấy tháng đầu năm nay, không đáng cho chúng ta nhỏ dược một giot nước mắt hay sao?

Người cộng sán chỉ biết tập trung khóc tập thể ở ngoài công trường khi lãnh tụ qua đời đề biểu diễn” lòng trung thành của họ, nhưng hình như không còn chút mảy may xót xa, động lòng với những gì khốn khổ đang xẩy ra chung quanh mình, ngay trong cuộc sống mỗi ngày bởi áp bức, bất công!

***

Hải quân Thiếu tá Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74), Hải quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 26, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 27 May 2026

HQ Thiếu tá Van Huynh (hình của linkedin.com).

Hải quân Thiếu tá Van Huynh được bổ nhiệm vị trí Sĩ quan huấn luyện trên Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74) tại Newport News, Virginia, từ tháng 7 năm 2024. Nhiệm kỳ trước, ông là Sĩ quan Trung tâm phân tích nhân lực Hải quân (NAVMAC), Phân đội Norfolk. Ông đã tiến hành phân tích nhiều công việc trong quá khứ để xác định nhu cầu nhân lực tại các đơn vị trên bờ thuộc Tư lệnh Lực lượng Hạm đội Hoa Kỳ (USFFC), BSO 60 và Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ(COMPACFLT), BSO 70, từ tháng 2 năm 2022 đến tháng 2 năm 2024.

HQ Thiếu tá Van Huynh tốt nghiệp Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị (NROTC), Trường Đại học Oklahoma năm 2014. Nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp của một Sĩ quan trẻ, HQ Thiếu uý Van Huynh được chỉ định làm Sĩ quan cơ khí trên Khu trục hạm USS Mitscher (DDG-57), ông giám sát 25 Thủy thủ ngành cơ khí, hệ thống động lực Turbine (GSM) và Kỹ thuật viên hệ thống Turbine điện khí (GSE), bảo trì 4 động cơ General Electric LM 2500 series, từ năm 2014 đến năm 2016.

Nhiệm vụ tiếp theo, HQ Trung uý Van Huynh được thuyên chuyển phục vụ trên Tuần dương hạm USS Leyte Gulf (CG-55), ông được chỉ định làm Sĩ quan chống khủng bố và Sĩ quan an toàn, giám sát các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ Thuỷ thủ đoàn trên Chiến hạm. Ông trực tiếp huấn luyện cho hơn 300 thủy thủ về các thiết bị và chiến thuật mới nhất bảo vệ lực lượng, quản lý hơn 15 chương trình an toàn của Hải quân từ năm.2016 đến năm 2018.

HQ Thiếu tá Van Huynh “bên phải”, Sĩ quan huấn luyện HKMH USS John C. Stennis (CVN 74) và HQ Đại tá Matthew Kiser, Hạm trưởng. thực hiện động tác thể dục, sau buổi lễ khai trương phòng tập thể dục trên HKMH tại Newport News, Virginia, ngày 31 tháng 3 năm 2026 (Hình của Hải quân Hoa Kỳ do Thủy thủ Oliver McCain Vieira chụp).

Từ năm 2018 đến năm 2019, HQ Đại uý Van Huynh được chỉ định giữ chức Sĩ quan điều phối chương trình tuyển mộ, Khu tuyển mộ Sĩ quan Hải quân Miami. tuyển chọn những nam nữ xuất sắc để họ gia nhập trở thành những sĩ quan tương lai của Hải quân Hoa Kỳ. Ông giám sát một Phân đội gồm 25 thủy thủ và thân nhân của họ về phúc lợi, tinh thần.

Tù tháng 10 năm 2019 đến tháng 2 năm 2022, HQ Đại uý Van Huynh được bổ nhiệm phục vụ tại Trung tâm tuyển mộ và hội nhập nhân tài Khu vực Columbus, Ohio, ông là Sĩ quan xử lý thường vụ một Phân đội của Phòng tuyển mộ nhân tài Hải quân Ohio chịu trách nhiệm về công tác tuyển mộ thuỷ thủ và sĩ quan tại các khu vực Columbus, Dayton và Beckley, Tây Virginia. Ông tường trình cho Chỉ huy trưởng Phòng tuyển mộ nhân tài Hải quân Ohio River Valley Ohio, chịu trách nhiệm về tinh thần và phúc lợi của đội ngũ tuyển mộ gồm 70 thủy thủ, 2 nhân viên liên lạc Hải quân tại trạm nhập ngũ và 5 nhân viên dân sự.

Tháng 2 năm 2022, HQ Thiếu tá Van Huynh được chỉ định làm Sĩ quan Trung tâm phân tích nhân lực Hải quân (NAVMAC), Phân đội Norfolk. Ông đã tiến hành phân tích nhiều công việc trong quá khứ để xác định nhu cầu nhân lực tại các đơn vị trên bờ thuộc Tư lệnh Lực lượng Hạm đội Hoa Kỳ (USFFC), BSO 60 và Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ (COMPACFLT), BSO 70, từ tháng 2 năm 2022 đến tháng 2 năm 2024.

HQ Thiếu tá hoàn tất các Văn bằng: Cử nhân khoa học (BS), kỹ thuật công nghiệp, Trường kỹ thuật Gallogly, Đại học Oklahoma Gallogly (College of Engineering, University of Oklahoma); Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh (MBA), chuyên ngành lãnh đạo tổ chức, Đại học Tiểu bang Youngstown (Youngstown State); Văn bằng chương trình giáo dục quân sự chuyên nghiệp liên hợp – Giai đoạn I, khóa học chỉ huy và tham mưu Hải quân, Trường Cao đẳng chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College Naval).

HQ Đại úy Van Huynh giới thiệu chương trình gia nhập Hải quân cho một học sinh trung học ( Hình của Chief Mass Communication Specialist Brian Dietrick/Release năm 2020).

HQ Thiếu tá Van Huynh là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá Loi Huynh, Sĩ quan chương trình hiện đại hóa C5ISR, Lực lượng Hải quân mặt nước Đại Tây Dương; HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến mặt nước; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.

Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Van Huynh/Loi Van Huynh, họ và tên Việt, Huỳnh Văn Lợi.

Nguồn: mynavyhr.navy.mi; linkedin.com; nara.getarchive.net; bienxua-28 Hải Quân đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2022

Việt Nam – Buồn quá!

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 27 May 2026

Bài viết đã khá dài phải có kết luận. Xin kể ra những chứng cứ. Dân tộc nói chung, mỗi người Việt nói riêng qua lịch sử dài với điều kiện địa lý-chính trị-kinh tế-văn hóa của một “Nước/Người” nhỏ nằm giữa hai nền văn hóa (quá) lớn và lâu đời hơn Indo-China, nên không (thể) có những Nhà Văn Hóa (lớn) đặc trưng tiêu biểu như Khổng Tử để thấy ra Lý Thái Cực “Thiên-Địa-Vạn Vật nhất thể” với quan niệm “Thệ giả như tư phù. Bất xả trú dạ/Mọi thứ chỉ là bọt bèo. Ngày đêm cứ trôi đi”. Tuy nhiên với bản chất đơn giản, thực tiễn, chịu đựng riêng Người Việt thấy tất cả đều ĐI/TẤT CẢ DI ĐỘNG: Đi ăn-Đi mặc-Đi học-Đi làm-Đi chơi-Đi lính-Đi buôn-Đi bán-Đi làm vợ/Đi lấy chồng… Có những động thái “Đi” không chút xê dịch mà trái lại chỉ xẩy ra tại MỘT vị trí, một địa điểm: Đi ngủ; Đi (ở) tù. Và cụ thể có những lần Đi không ai muốn, không chịu làm: Đi vào chỗ chết! Và một mơ ước (chưa hề thấy ai thực hiện được): Đi lên Thiên Đàng. Vâng, tôi không hề hoạt kệ, ngoa ngôn. Từ thực tế đời sống, đã thấy  ra, nói lên lời như Dân Tộc Việt đã qua sống/chết/nói/làm: TẤT CẢ ĐỀU ĐI/TẤT CẢ CHUYỂN DỊCH. Không như ông thông thái Hy Lạp Heraclides Ponticus (387-312 TCN) nói lên lẽ Thường: “Không ai tắm hai lần trên cùng một giòng sông…”, Người Việt cùng Tản Đà (1889-1939) tự nhiên/tự động nói ra/viết nên… Nước “đi đi” mãi không về cùng non! Ai trong cõi nhân sinh thấy nước “đi”?        

Trong quá trình ĐI/SỐNG/CHẾT như trên, Người Việt mang nặng cái ách nghiệt: ĐÓI. Chỉ riêng một đời người sinh 1940’s đã thấy: – Đói Ất Dậu (1945-1946) mà Văn Cao (1923-1995), tác gỉa Quốc Ca Tiến Quân Ca đã viết ra trong Chuyến Xe xác Phường Dạ Lạc, Tháng 3/1946: “Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa… Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác…” – Đói Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956) ở đồng bằng Bắc Bộ: “… Buổi chiều trước ngày cha bị bắn, mẹ đưa cơm cho cha (như một ân huệ trước khi bị giết). Cha ăn cơm xong, người ta trả cái giỏ đựng nồi cơm cho mẹ. Mẹ thấy ở dưới đáy nồi mẩu giấy nhắn của cha: Ai ngờ vô tội mà chết oan… Chiến Dịch Đấu Tố thực hiện:…”Cái đói, cái dã man hơn cả thú vật giữa người với người, cái nhục mạ, hành hạ thân xác, tinh thần những nạn nhân vô tội, và cái chết bi thảm, rùng rợn, của những người bị đạp ra khỏi xã hội… Một xã hội chỉ có nhu cầu ăn cho no, sẵn sàng đạp lên xác người khác để có bát gạo.” Sách Gia Đình, Đoạn Đời Niên Thiếu của Phan Thúy Hà (sinh 1979) ở Nghệ An. – Đói Cải Tạo Tư Sản. Tháng 10/1954, quân ông Hồ vào “giải phóng Hà Nội”. Từ 1956 đến 1960, là cuộc thanh trừng trí thức mà Nhân Văn Giai Phẩm là tâm điểm. Cùng thời điểm ấy diễn ra cuộc Cải Tạo Tư Sản 1957.  Ba giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Tư Sản và Thanh Trừng Trí Thức được Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Tường kể ra trong tiểu thuyết Une voix dans la nuit/Tiếng nói giữa đêm khuya” xuất bản 1993 tại Pháp:.. những chủ nhà nhỏ, độc thân, không có gia đình, không được hưởng bất cứ trợ cấp hay sự giúp đỡ nào, thấy trước mắt hình ảnh khủng khiếp của cái đói… Có người còn đủ sức, lê gót đến bờ sông gieo mình xuống nước rút ngắn nợ đời… Sáng ra người ta khám phá những xác chết không gia đình ấy quận tròn trong manh chiếu rách thay quan tài và được vất trong hố công cộng.

Sau 1960, ĐÓI đi theo các đơn vị bộ đội vào Nam “Chống Mỹ Cứu Nước”: Đặng Vũ HIệp (1975 sau 1975 được phong thượng tướng), Tháng 4/1972, chỉ huy Trung Đoàn 66 đánh cao điểm Charlie của Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù tường trình: Huyện 80 (?) Tỉnh Komtum ủng hộ Mặt Trận B3 (Vùng Cao Nguyên Trung Phần/Phía cộng sản gọi Tây Nguyên) 180 tấn sắn tươi; riêng mặt trận cánh Đông/Trung Đoàn 66 được 56 tấn. Bộ đội Trung đoàn 66 đã vào vị trí tập kết (để đánh Charlie) cử người đeo gùi trở lại phía sau để lấy sắn về cho đơn vị?! Thành thử trong các trận đánh (quyết) chiếm Charlie trong những ngày 13, 14/4, 1972- Ngày 12/4 Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tử trận) là để kiếm thức ăn của lính TĐ11ND. Sách Ký Úc Tây Nguyên. ĐVH-NXB Quân Đội Nhân Dân. Hà Nội VN, 2002. Cuối cùng, Đói chụp xuống miền Nam, vùng đất dẫu dưới chế độ thực dân Pháp “bóc lột”, từ Thế kỷ 19 qua 20 xuất cảng gạo đứng thứ hai thế giới (sau Thái Lan). Sau 30/4/1975, người Miền Nam được “phân phối” bobo (đại mạch dành cho ngựa); sắn khô, khoai sùng… 

Tôi không bi thảm hóa Tâm Thức BUỒN/Vận Mệnh ĐI và ĐÓI của Dân Tộc Việt. Sau 1954 Người dân ở Miền Bắc/Nơi “Thủ Đô” Hà Nội hỏi nhau: Ăn “tiêu chuẩn” bao nhiêu? Đấy chỉ là biến thể của “Ăn cơm chưa?” khi người Quảng Trị-Thừa Thiên chào nhau như một dấu hiệu thân ái. Rất nhiều đêm nơi phòng giam đất Bắc sau 1976, người cùng phòng nghe rất rõ người bạn tù chóp chép “nhai cơm” trong bóng tối. Tìm đọc lại sách Huy Phương (1937-1922) sẽ thấy ra.

Phan Phi Danh

Nhân Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ

Đất Mỹ, 25/5/2026

Đối với hắn, quyền sở hữu cá nhân đối với gia đình và mái nhà, cũng cần thiết như khí trời để thở, như bát cơm để ăn. Chính vì thế mà con người khác loài vật, chính vì thế mà văn minh tiến bộ. Ngay từ lúc nhà cầm quyền khởi sự đấu tranh chống sở hữu cá nhân nhà cửa, hướng đòn đánh vào cá nhân, nhân danh tập thể, họ phải biết rằng họ đã phá vỡ cơ sở căn bản của xã hội, đã đánh sập nền móng Nhà Nước, do đó phá vỡ bệ trụ trì quyền uy của họ”1053.

Bị nhà nước cướp sách, dân đói, cướp lẫn nhau.

Mang nhau ra xỉ vả, tra tấn, hành hạ hay chém giết chỉ để cướp một cái chiếu sạch, một cái nồi đồng.

Cái cảnh cướp giựt từ một miếng cơm, không biết nên cười hay nên khóc:

“Cả nhà ăn bữa cơm đầu tiên. Đang ăn, dân quân đứng ngoài nhìn vào. Mẹ nhanh trí làm động

Cái đói là một ám ảnh lớn. Trang sách nào cũng có chuyện ăn vỏ khoai, ăn lá cây, giành giựt nhau một nắm cơm, một bát cháo.

Cai trị bằng cái sợ là một chính sách, một lý thuyết chính trị của Lénine, được Staline, Mao, Pol Pot và những đệ tử VN trung thành áp dụng triệt để.

Sợ từ khi còn ngồi ghế nhà trường: “Lúc nào cũng mang nỗi sợ. Sợ mà không biết sợ gì” (GĐ. tr. 42).

Cái chết

Hậu quả của sự tàn bạo là cái chết. Chết vì bị treo cổ, treo đầu ngón chân, bị đánh đập, tra tấn, vì đói, vì tự tử.

– Chị ngồi tựa lưng vào gốc cây dối, dải yếm trễ xuống, thằng con như con nhái bén vẫn đang nhay vú mẹ. Lúc đó chị đã chết rồi mà tôi không biết (ĐĐNT. tr. 41).

– Bà nội chết vì rét hay vì đói. Từ hôm bị trúng viên gạch thằng Kỷ, bà nằm một chỗ. Ba năm sau bốc mộ bà, thấy hai chiếc xương sườn bị gẫy (GĐ).

Huấn luyện căm thù

Người ta tự hỏi: tại sao những người nông dân, vốn hiền lành, đã trở thành ác quỷ?

Con người có thể trở thành thánh, hay thú vật, tuỳ môi trường sống, tuỳ giáo dục. Lịch sử đã chứng minh điều đó, với xã hội Đức dưới thời Hitler, Nga dưới Staline, Tàu dưới Mao, Cao Miên dưới Pol Pot. VN không phải là một ngoại lệ, nếu điều đó có thể an ủi người Việt.

Tất cả trò đấu tố đều học của Tàu, cố vấn Tàu sang dạy cách xử án, quy định tỷ số địa chủ phải mang ra làm thịt.

Đó là một xã hội xây dựng trên sự căm thù, được dạy dỗ, tập luyện từ nhỏ, từ ghế nhà trường:

– “Thầy giáo nói hôm nay nghỉ học để tối đi đấu địa chủ… Xen vào những buổi đi học bình thường là những buổi nghỉ học để tối đi dự đấu tố. Học sinh đến trường tập trung. Mỗi em một bó đuốc, vừa đi vừa hô. Tôi cũng hô to không thua gì các bạn (ĐĐNT. tr. 64).

– Tấm biển “Địa chủ” dựng trước sân. Tôi hất đi thì hôm sau thằng bạn học cùng trường đến dựng lên. Trước đây nó cùng đội thiếu niên, tôi liên đội trưởng, nó liên đội phó (ĐĐNT. tr. 49).

Được dạy dỗ như vậy, bọn trẻ thơ ngây trở thành ác quỷ. Có lẽ cái giết sự ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ, nó còn ghê rợn hơn cả chuyện giết người.

– Bị đuổi dạy, thầy giáo Banh nấu nước chè xanh đi bán ở các làng khác, khi về đến đầu làng bị nhóm trẻ con xúm vào đập vỡ hết bát, ném xuống sông, thầy ngồi khóc trên cầu (ĐĐNT. tr.87).

– “Ê con địa chủ, con địa chủ. Mấy đứa lao vào tôi. Bọn con gái không đánh được thì giật tóc, gõ đầu, cấu véo. Tan học là tôi chạy. Cả đám rượt đuổi. Đuổi theo về đến nhà. Đánh chết thằng con địa chủ này (GĐ. tr.41).

Nhục mạ

Giết người chưa đủ, đánh tan nát gia đình nạn nhân chưa đủ, chia nhau từng cái chổi cùn chưa đủ, còn phải nhục mạ người sống, người chết:

“Vườn của bác đã là vườn của nông dân. Không được chôn địa chủ trong vường nông dân” (GĐ. tr.23).

Có lẽ cái nhục mạ nạn nhân, cái thú man rợ khi tước đoạt luôn nhân phẩm con người chỉ có dưới chế độ cộng sản, đặc biệt là cộng sản Tàu và đàn em.

… Dưới những chế độ độc tài khác, thường thường chỉ có cái ác.

Sửa sai

Năm 1957, Đảng nhận lỗi, sửa sai. Nhưng lỗi là lỗi của những phần tử quá khích. Đảng không thể có lỗi. Tại trường học, những ông hiệu trưởng, giáo viên trước đây được khen ngợi đã thành công trong việc giúp học sinh đấu tố nhau, bị kết tội do địch gài vào để phá hoại.

Nhà nước xin lỗi, thế là xong, yên chuyện, ai về nhà nấy, như không có chuyện gì xảy ra. Như có người vô tình chạm vào tôi ngoài đường, xin lỗi. Dạ, không có chi.

Dù sao, chuyện Đảng công khai xin lỗi cũng cho phép gia đình nạn nhân được khóc công khai những người đã bỏ mạng. Và cho phép rất nhiều tác phẩm về cải cách ruộng đất ra đời mà tác giả không đi tù hay mất mạng.

Mặc dù vậy, cái sợ hình như vẫn đâu đó. Đại tá nhà văn Phan Kế Toại, đề tựa cho cuốn Gia đình, đề cao việc làm của tác giả, coi trọng việc đi tìm sự thực, không quên thòng một câu, cho chắc ăn: “Mọi người cần chung tay cố gắng trân trọng sự đổi mới, gìn giữ thành quả dân chủ để đất nước không bao giờ trở lại thời kỳ ấu trĩ như thế nữa”.

“Thành quả dân chủ”! Câu kết luận politically correct không khỏi khiến người đọc mỉm cười, khi nghĩ đến thực trạng VN ngày nay về nhân quyền, về tự do báo chí, tự do tín ngưỡng…

Trong cùng một bài tựa, ông Toại kể: “Trong gia đình tôi (…), nhiều người đã bị quy địa chủ, phú nông hoặc phản động. Người bị tịch thu tài sản, người tự vẫn, người bị bắt giam, bị cùm chân, người bị xử tử”. Dùng chữ “ấu trĩ” cho một xã hội lở lói khủng khiếp như vậy, có lẽ hơi nhẹ.

Bao nhiêu người là nạn nhân của « cách mạng»?

Theo BBC, nhà nghiên cứu Mông Cổ Balazs Szalontai khai thác các tài liệu Đông Âu và Liên Xô, đưa ra con số 7,7 triệu người dân và hàng trăm gia đình “buộc phải tham gia và chịu hệ luỵ” chỉ trong đợt giảm tô. Trong đợt chính thức Cải cách ruộng đất, 4 triệu người “chịu tác động”. Tác giả Hoàng Minh Chính đưa ra con số nửa triệu người (5% dân số miền Bắc) bị chính quyền VNDCCH giết.

Riêng Cải cách ruộng đất, theo Bernard Fall, 50.000 người bị xử tử, ít nhất gấp đôi bị tù cải tạo (BBC 3/2/2022) (2).

Le Livre Noir du Communisme (Sổ đen của Chủ nghĩa Cộng sản) do sử gia Stéphane Courtois chủ biên, cũng đưa ra con số 50.000 người bị xử tử, từ 50.000 tới 100.000 người bị đưa đi tù cải tạo.

Le Livre Noir là một cuốn sách dày 662 trang, do các sử gia, ký giả, giáo sư Pháp biên soạn, tố cáo những tội ác của cộng sản quốc tế, với 100 triệu nạn nhân đã bỏ mạng để xây dựng “XHCN”.

Alexievitch và ngày tàn của người Đỏ

Đọc Phan Thuý Hà, người ta nghĩ tới nhà văn Nga Svetlana Alexievitch.

Sinh năm 1948, cha người Biélorusse, mẹ người Ukraine, Alexievitch, trong 30 năm, với cây bút và máy ghi âm, đi gặp và ghi lại lời kể, tâm trạng của người Nga sau tai nạn Tchernobyl, sau ngày Nga Xô viết sụp đồ, trong cuộc tham chiến của Nga ở Afghanistan (1).

Trong Les Cercueils de zinc (Những chiếc quan tài bằng kẽm, 1990), bà ghi lại tâm trạng của những bà mẹ, bà vợ, có chồng con chết ở Afghanistan, để thoả mãn tham vọng của Poutine. Những xác chết từ mặt trận được chở về trong những chiếc quan tài bằng kẽm (zinc). Bà viết: cái can đảm chiến đấu của người cộng sản chỉ là huyền thoại. Chẳng có anh hùng gì cả, chỉ có những người lính trẻ bị lường gạt, đưa đi làm mồi cho đại bác, bị khủng bố, phải tiếp tục vì sợ.

Cuốn sách nổi tiếng nhất của Alievitch, “La Fin de l’homme rouge. Le temps du désenchantement” (Cái chết của người đỏ. Thời gian vỡ mộng), được nhiều nhà phê bình coi là cuốn sách hay nhất, quan trọng nhất trong năm (2013), vạch rõ thực chất của người cộng sản (người đỏ), cái ảo tưởng xây dựng xã hội đại đồng, sự thực chỉ là một cuộc lừa gạt đẫm máu để nắm quyền.

Sau khi Nga Xô Viết sụp đổ trong 3 ngày, như đã lên nắm chính quyền trong 3 ngày, Svetlana Alexievitch, để viết La fin de l’homme rouge, đi khắp nước Nga, nghe tâm sự của những người vỡ mộng về ảo tưởng thế giới đại đồng, lạc lõng trong một thế giới mới, xa lạ. Bà nói: có lẽ cái thành công duy nhất của người cộng sản là đã huỷ hoại nhân tính, để tạo những người Nga mới, không còn nhân phẩm. Alexievitch nói trong một cuộc phỏng vấn, dụng ý của bà là qua những nhân chứng thực để tạo những tác phẩm văn chương.

Mục đích của tôi không phải làm điên đầu người đọc với những chuyện kinh hoàng, nhưng rút tỉa ý nghĩa từ những cái kinh hoàng đó. Và giúp con người tiếp tục còn là con người. Làm biến dạng con người, đó có lẽ là cái duy nhất đã thành công (ở Nga Xô Viết). (Mon objectif n’est pas d’assommer (les lecteurs) par toutes les horreurs que j’écris, mais d’en extraire du sens. Et de permettre à l’humain de rester humain. Transformer l’homme. C’est peut être la seule chose qui ait marché). Alexievitch đoạt giải Nobel Văn chương năm 2015 cho toàn bộ tác phẩm của bà.

Phan Thuý Hà không có tham vọng đó.

Bà chỉ ghi lại lời kể chuyện của những nạn nhân còn sống sót.

Tác giả Đoạn đời niên thiếu viết trong lời tựa: “Sáu năm qua, viết sách, tôi được gặp nhiều tuổi quê Nghệ Tĩnh. Các ông bà đều tuổi trên tám mươi, chín mươi. Họ là con của những người yêu nước, tham gia cách mạng, bị Pháp bắt tù đày vào năm 1930-31, lớn lên trong những năm kháng chiến (…). Với những gì họ trải qua, nếu không ghi lại thì tiếc quá”.

Gia đình

Đoạn đời niên thiếu là những cuốn sách nên dịch ra ngoại ngữ, để những người ngoại quốc hay thế hệ người Việt trẻ hiểu rõ thực trạng VN, hơn là những cuốn sách của những người chưa bao giờ đặt chân tới xứ này, hay chưa hề sống trong hoả ngục. Cũng như những tác phẩm của Alievitch nên dịch ra tiếng Việt, để thức tỉnh những người, ở thế kỷ 21, vẫn còn là những ông già ngồi đan rổ, mơ nước Nga, như trong thơ Tố Hữu.

Cũng hy vọng sẽ có nhiều cuốn sách tương tự, ghi lại chuyện thực, của những người di cư 54, những nạn nhân Tết Mậu Thân, của boat people, hay những ngày miền Nam, trước và sau 1975.

Chuyện cần làm

Đã có rất nhiều sách báo về những chuyện này, nhưng vẫn chưa đủ. Cần một tài liệu đồ sộ ghi lại các nhân chứng. Tôi nghĩ tới chuyện này, khi viếng thăm, cách đây mấy chục năm, một thư viện ở Do Thái, nơi tập trung hàng trăm ngàn sách, băng nhạc, ghi âm lời kể của những nạn nhân, hay gia đình nạn nhân Shoah còn sống sót. Ngày nay, nhiều người Việt đã thành công ở hải ngoại, dư tài chánh, có dư khả năng làm việc đó, thay vì làm những chuyện tào lao. Thí dụ tài trợ cho những nhóm trẻ đi phỏng vấn, thu thập dữ kiện tại tất cả những nơi người Việt tỵ nạn cư trú.

Đó là chuyện khẩn cấp. Bởi vì nhiều nhân chứng cao niên đang lần lượt ra đi.

Việc làm của Phan Thúy Hà, hay những việc làm tương tự, sẽ là những chất liệu quý cho những người sau này muốn viết văn, viết sử hay nghiên cứu về VN cận đại. Nếu không, thế hệ sau này sẽ không biết gì về quá khứ. Nếu muốn tìm hiểu lịch sử đất nước chỉ có sách vở của những người muốn viết lại lịch sử, hay những người ngoại quốc, nói chuyện VN dưới lăng kính chính trị hay bác học, không có chất liệu sống.

Không ghi lại thì tiếc quá.

Paris, tháng 9/2023

Từ Thức

(tuthuc-paris-blog.com)

(1) Tên người, tên tác phẩm, địa danh trong bài này viết theo kiểu Pháp.

Trước Sau

Khi gà đầu Ô kêu

Tháng Ba dương lịch năm 1945

Ở trên là bài thơ theo bản in trên tạp chí Tiên phong (1946) với tiêu đề Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc. Một số bản in sau này ghi tiêu đề là Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc. 

Thiên thần lữa trên đầu toán SOG

dongsongcu.wordpress.com

Phạm Sơn Liêm

Posted on May 24, 2026 by dongsongcu

(tặng ..Thanh Nguyễn)

Post by Sơn râu 26 May 2026

Từ khi chiếc trực thăng tấn công Bell AH-1 Cobra đầu tiên xuất hiện tại chiến trường Việt Nam năm 1967, chiến tranh trong rừng sâu Đông Dương đã bước sang một giai đoạn khác, dữ dội hơn, nhanh hơn, và cũng đẫm máu hơn.

Đến khoảng 1968–1971, Cobra gần như trở thành biểu tượng sống còn của các phi vụ xuyên biên giới của MACV-SOG.

Đó là thời kỳ những toán biệt kích âm thầm biến mất vào rừng già Lào, Campuchia và vùng Bắc biên giới… nơi không có bản đồ chính xác, không có quân tiếp viện gần, và đôi khi cũng không có đường trở về.

Những phi vụ như: Prairie Fire, Daniel Boone, Salem House

…đều là những chuyến công tác xâm nhập, đi mà người lính bước xuống trực thăng với tâm trạng của kẻ đã chuẩn bị sẵn cho cái chết.

Nhưng trên đầu họ, luôn có tiếng rotor quen thuộc.

Tiếng gầm khàn đặc của Cobra.

⸻

Cobra được lính SOG yêu quý không phải vì vẻ đẹp.

Mà vì nó cứu mạng người.

So với chiếc Bell UH-1 Iroquois chở quân, Cobra bay nhanh hơn, thân hẹp hơn, khó bị trúng đạn hơn, và mang theo hỏa lực đủ để biến cả một triền núi thành biển lửa.

Nó có thể quần sát ngọn cây, lách qua khe núi, lao xuống thấp tới mức lính dưới đất nhìn thấy rõ từng hàng rocket treo dưới cánh.

Nhiều cựu quân nhân SOG kể lại:

“Khi bị quân Bắc Việt vây kín bốn phía, chỉ cần nghe tiếng Cobra lao tới… tinh thần anh em sống lại.”

Bởi họ biết:

Nếu Cobra còn bay trên đầu, thì vẫn còn hy vọng được kéo ra khỏi địa ngục.

⸻

Một phi vụ SOG điển hình thường bắt đầu trong căng thẳng nghẹt thở.

Chiếc slick Bell UH-1 Iroquois chở toán biệt kích đáp xuống bãi LZ nhỏ hẹp giữa rừng già.

Hai bên là Cobra hộ tống.

Trên cao hơn nữa là chiếc C&C, command & control, vòng tròn quan sát và điều khiển toàn bộ trận đánh.

Mọi thứ thường diễn ra rất nhanh.

Tiếng AK nổ vang từ mé rừng.

Đạn phòng không xé ngang thân trực thăng.

Khói đỏ bốc lên từ bãi đáp.

Và rồi…

Cobra chúi mũi lao xuống.

Rocket phóng ra thành từng vệt lửa dài.

Minigun gầm rú như xé nát không khí.

Cả cánh rừng rung chuyển.

Đó là lúc Cobra mở “đường máu” cho toán biệt kích rút lui.

Nhiều khi chiếc Cobra bay thấp đến mức cành cây quất vào kính buồng lái.

Phi công biết rõ:

Chỉ cần chậm vài giây, toán dưới đất sẽ bị tràn ngập.

⸻

Giai đoạn 1969–1971 là thời kỳ ác liệt nhất của MACV-SOG.

Các toán xâm nhập sang Lào liên tục đụng cả trung đoàn quân Bắc Việt bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh.

Nhiều toán bị truy đuổi chạy suốt nhiều ngày.

Có người sống sót kể rằng:“Trong rừng sâu, tiếng Cobra chính là tiếng của sự sống.”

Và cũng có nhiều phi công Cobra không bao giờ trở về.

Họ lao xuống giữa lưới đạn phòng không để cứu những người lính dưới đất mà đôi khi… họ chưa từng gặp mặt.

Giữa chiến tranh Việt Nam, Cobra không chỉ là trực thăng vũ trang.

Nó là ngọn lửa hộ mệnh bay trên đầu những toán biệt kích sống giữa ranh giới mong manh như sợi tóc… của sự sống và cái chết.

Nữ Hải quân Đại uý Amy Hoang (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến mặt nước hạt nhân, Hải quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 23, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 26 May 2026

HQ Đại uý Amy Hoang (hình của linkedin.com).

Nữ Hải quân Đại uý Amy Hoang* là Sĩ quan tác chiến mặt nước hạt nhân (SWO(N)), cô chỉ huy một toán nhân viên gồm 10 thủy thủ đã được đào tạo về năng lượng hạt nhân trong việc vận hành an toàn và hiệu quả hệ thống động cơ đẩy lò phản ứng hạt nhân trên Hàng không mẩu hạm đang trong giai đoạn chuẩn bị đưa vào hoạt động tại một xưởng đóng tàu năng động ở Norfolk, Virginia. Cô phục vụ đơn vị này từ tháng 11 năm 2024 đến nay.

Hải quân Hoa Kỳ hiện đang vận hành 11 Hàng không mẩu hạm (KHMH) hạt nhân, được chia thành hai lớp: Lớp Nimitz, 10 chiếc thế hệ trước, và lớp Gerald R. Ford, 1 chiếc, thế hệ mới nhất. Đây là thế hệ HKMH hiện đại nhất, chiếc thứ hai cùng lớp này mang tên USS John F. Kennedy đang trong quá trình hoàn tất, sẽ được chuyển giao cho Hải quân vào tháng 3 năm 2027. Toàn bộ 11 chiếc HKMH này đều chạy bằng năng lượng hạt nhân, cho phép chúng hoạt động liên tục nhiều năm mà không cần tiếp nhiên liệu. Các sĩ quan tác chiến mặt nước hạt nhân được đào tạo chuyên môn để bảo trì và vận hành các HKMH, Thủy thủ đoàn và hệ thống động cơ đẩy lò phản ứng hạt nhân. Sĩ quan tác chiến trên mặt nước hạt nhân sử dụng kỹ năng của họ trên các Chiến hạm, bao gồm các HKMH chạy bằng năng lượng hạt nhân. Sĩ quan tác chiến mặt nước hạt nhân có thể dẫn đến vị trí với các chức vụ như Sĩ quan phụ trách phân đội, Trưởng phòng, Sĩ quan điều hành và Sĩ quan chỉ huy.

HQ Đại uý Amy Hoang thụ huấn Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy) vào tháng 8 năm 2017, cô Là mộttrong 16 Sinh viên Sĩ quan thuộc khóa đầu tiên tốt nghiệp với Chương trình xuất sắc về học thuật – vận hành an ninh mạng (CAE-CO) của Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Chương trình CAE-CO là một chương trình giáo dục Đại học liên ngành, chuyên môn về kỹ thuật, được xây dựng vững chắc trên các lĩnh vực khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính/hoặc kỹ thuật điện, với nhiều cơ hội thực hành thông qua các phòng thí nghiệm và bài tập. Cô tốt nghiệp vào tháng 5 năm 2021.

Huy hiệu Sĩ quan tác chiến trên mặt nước Hải quân Hoa Kỳ của en.wikipedia.org/wiki

Sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân, HQ Thiếu uý Amy Hoang được chỉ định làm Sĩ quan Phân đội tác chiến điện tử (EW). Đây là nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp của cô giám sát toàn bộ các chức năng tác chiến mật mã (CW), và tác chiến điện tử (EW) trên Chiến hạm, và bảo đảm tuân thủ 100% các chứng nhận giai đoạn căn bản, duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu trong khu vực tác chiến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Đệ thất hạm đội Hải quân Hoa Kỳ tai Yokosuka, Kanagawa, Nhật Bản từ tháng 10 năm2021 đến tháng 8 năm 2023.

Hoàn tất nhiệm kỳ Sĩ quan tác chiến điện tử tại Yokosuka, Kanagawa, Nhật Bản. HQ Trung uý Amy Hoang được thụ huấn tại Trường năng lượng hạt nhân (NNPS), Hải quân Hoa Kỳ tại Charleston, South Carolina từ tháng 9 năm 2023 đến 4 năm 2024. Tiếp theo chương trình thụ huấn, Army Hoang học thêm về vận hành và bảo trì hệ thống lò phản ứng hạt nhân trên KKMH tại Đơn vị huấn luyện năng lượng hạt nhân (NPTU), từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 9 năm 2024.

Tháng 11 năm 2024, HQ Đại uý Amy Hoang được chỉ định làm Sĩ quan tác chiến mặt nước hạt nhân trên một Hàng không mẩu hạm đang trong giai đoạn chuẩn bị đưa vào hoạt động tại một xưởng đóng tàu ở Norfolk, Virginia.

HQ Đại uý Amy Hoang hoàn tất Văn bằng Cử nhân hoa học – chuyên ngành vận hành An ninh mạng + Chương trình CAE-CO, Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 2021; Chứng chỉ cao cấp khoá học năng lượng hạt nhân, Trường năng lượng hạt nhân, Bộ chỉ huy huấn luyện năng lượng hạt Nhân Hải quân Hoa Kỳ (NNPTC), năm 2024.

Nữ Hải quân Đại uý Amy Hoang là một trong nhiều Nữ HQ Đại uý Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ, một số vị là Sĩ quan tác chiến Hải quân được ghi nhân sau đây: Nữ HQ Đại uý Valerie Doan, Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân, chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân, Đại học Washington; Nữ HQ Đại uý Miahnna Nguyen, Phi công; Nữ HQ Đại uý Becky Doan, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Sophia Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Jennifer Dianne Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Faith N. Huynh, Sĩ quan huấn luyện kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại uý Lillian Ngo Usadi, Sĩ quan tác chiến tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại uý Sarah Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại Uý Phung Duong, Sĩ quan tiếp liệu tàu ngầm (SRS-32) và còn rất nhiều nữ HQ Đại uý gốc Việt ngành tác chiến Hải quân nổi bật khác sẽ được cập nhật.

Chú thích: *Họ và tên từ tài liệu, Amy Hoang – họ và tên Việt, Hoàng Khanh.

Nguồn: wayup.com/i-Government-Administration-j-Nuclear-Surface-Warfare-Officer; bienxua-43 Hải Quân Trung Uý và 11 Trung uý Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gốc Việt được chọn thăng cấp Đại Uý năm 2024/

Việt Nam – Buồn quá!

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 26 May 2026

Photo by Tuyen Pham

Lời Người Viết:

Vào buổi “ngoại cuộc” (không phải trong nghĩa chính trị “Bên Thắng/Bên Thua Cuộc”) thanh thản cuối đời, nhân đọc Thơ Haiku của Nhật (bản dịch tiếng Mỹ) thấy điều thú vị nên đã chấp bút bài viết phiếm đàm giữa thơ Haiku Nhật và Lục Bát Việt Nam. Nhưng lần hồi, nhận ra vấn đề không chỉ là chuyện văn chương, thi ca mà có tầm quan trọng, tổng quát hơn, liên hệ đến Sinh Mệnh/đúng ra là Vận Mệnh của Dân Tộc Việt. Vấn đề lớn quá, người viết (lại) biết rõ bản thân chỉ là một Người Lính Già (rất già) của một quân đội thất trận từ 51 năm trước, và hiện là một thứ dân hạng thấp nhất của xã hội Mỹ xét về tiêu chí sinh lợi. Nhưng dẫu gì, cũng là một “Con Người/Người Việt Nam” nên cố gắng tìm cho ra lẻ (đối với bản thân), chứ không ai khác. Bài viết thoạt đầu có tiêu đề “Việt Nam!Tại sao?”nhưng sau thấy nghiêm trọng quá nên điều chỉnh lại “Việt Nam, Buồn quá!”. Vì nghĩ, bất cứ người Việt trong thế kỷ vừa qua, hiện nay dù bất cứ tình thế nào hẳn cũng có lần kêu lên “Buồn quá!”. Người Đọc cũng có thể không đồng ý về những điều sẽ trình bày nhưng chắc phải nhận ra điều THẬT – Cũng bởi Sự Thật chỉ có Một.   

Dẫn Nhập:

Hình như người Tây Phương (điễn hình, cụ thể người Mỹ) trước đây có phần “khớp” đối với người Nhật (như hiện nay, Thế Kỷ 21 (Trước thời kỳ Donald Trump) đối với Tàu cộng). Theo nhận định (từ chủ quan cá nhân), có lẽ do “mặc cảm có tội” về vụ hai quả bom nguyên tử thả xuống Nagasaki và Hiroshima trong tháng 8/1945; nhưng đồng thời, cũng “ngán” người Nhật từ vụ tấn công Trân Châu Cảng (7/12/1941); lần kỹ nghệ, khoa học, tài chánh Nhật bộc phát vượt trội trong thập niên 1960’s. Riêng về lãnh vực văn hóa-nghệ thuật thì loạt phim ảnh với “chủ đề” như Rashomon; Bảy Người Hiệp Sĩ… rõ ràng hơn hẳn loại phim xanh đỏ màu mè của đào kép Hollywood, Paris trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước. Để cuối cùng, điện ảnh Âu Mỹ phải dựng nên loại “người hùng” kiểu OSS 117; 007, Superman, Người Dơi, Người Nhện… chỉ với một cây súng ngắn đánh tan kẻ thù đông đúc có xe tăng, máy bay, hỏa tiễn yểm trợ từ bàn rượu ở New York, sòng bài Monaco đến Bắc Cực mà chiếc sơ-mi trắng không vết dơ, luôn có một cô gái nỏn nường bên cạnh! Chiến sĩ Rambo một mình với hai tay hai súng đại liên đánh tan một tiểu đoàn Vi-xi! Cộng sản Hà Nội, Cục R không chết vì sặc cười kể cũng lạ. Chuyện tư bản Âu Mỹ, tài phiệt Nhật, cộng sản Tàu Việt không nằm trong nội dung câu chuyện muốn trình bày.

Trở lại ý chính của bài viết, người viết thấy ra: Văn học-Nghệ thuật Người Việt thật ra không kém cỏi so với thế giới. Tất nhiên, VN không (thể) có được Tứ Thư, Ngũ Kinh; Đại tác phẩm như Tam Quốc, Thủy Hữ… của văn hóa Hán Tộc 5000 năm; VN cũng không (thể) có Chiến Tranh và Hòa Bình, Anh Em Nhà Karamozov… của Đế Quốc Nga rộng lớn (nhất địa cầu). Nhưng với văn chương bình dân, đại chúng thì Người Mẹ trong thơ Lưu Trọng Lư, văn xuôi  Thanh Tịnh trước 1945; nhạc Phạm Duy, Y Vân, Trúc Phương, Duy Khánh… sau 1954 ở Miền Nam… không kém kịch tính, cảm xúc so với bất kỳ Người Mẹ nào của văn học-nghệ thuật thế giới. Không kể loại “Mẹ cách mạng giải phóng với lựu đạn dấu trong lưng quần” của đám văn công Việt cộng trong chiến tranh “chống Mỹ cứu nước (1960-1975).

Tóm lại, có thể nói Người Mẹ Nga của Gorky không “Đau” hơn Người Mẹ Gio Linh của Phạm Duy cho dù chung chịu cảnh cùng khổ thương tâm. Mẹ VN cũng tìm thấy rất nhiều trong Mậu Thân 1968 ở Huế; trên Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị, nơi Trường Trung Học Bình Long, An Lộc, 1972; trên đường di tản từ Cao Nguyên Trung Phần sau lần Ban Mê Thuộc bị quân cộng sản Bắc Việt đánh chiếm (10/3/1975). Mẹ Việt Nam còn thấy trôi lềnh Biển Đông, xác rãi dài đường bộ vượt biên sau 30/4/1975. Nỗi Đau không riêng Ai! Ở miền Bắc, trong mật khu “giải phóng” miền Nam không thiếu Mẹ có sáu đứa con, ảnh năm con xếp hàng trên bàn thờ, thằng út quá nhỏ nên “cách mạng” chưa kịp xung vào bộ đội. Tôi lại đi quá xa về phía “phản chiến/cộng sản/quốc gia”. Trở lại vấn nạn Việt Nam – Buồn quá?! 

Một.

Đêm qua ra đứng bờ ao

Một ngày cuối năm 1950, thằng bé bảy tuổi vô cớ không muốn vào chơi nhà Bác Thoại thợ điện,  cùng xóm Kiệt 1 Đường Trung Bộ, khu Gia Hội Huế. Gia đình bác Thoại có bốn con trai, hai  anh hơn nó mấy tuổi, hai em, bằng buổi luôn bày những trò chơi hấp dẫn. Nhỏ đi ra đường Gia Hội, rẻ trái xuống phía rạp hát đang xây cất, mới xong mặt trước với bảng hiệu Gia Hội Hí Viện. Qua tiệm thuốc Bắc có hàng Mụ Ta bán những đồ ăn (chơi) đựng trong những mẹt nhỏ đặt trên hàng hiên tiêm thuốc. Mệ bán cho con một đồng khoai ngào. Mi có tiền không? Dạ có một đồng. Món quà gồm những lát khoai ngào đường đen đúa, vụn nhỏ được gói trong tờ giấy tập vỡ đã viết đầy chữ mực tím. Thằng bé có ý nghĩ “mình mua “lương thực”để đi (chơi) xa” Nó đi theo hông tường hí viện, đến bờ sông, leo qua đống rơm, ngồi lên đống gạch ngói của ngôi miếu nhỏ bị phá dở. Nhỏ nhìn ra sông đang trôi chảy giòng lũ của trận lụt vừa qua. Trên mặt nước con chuồn chuồn Ớt màu đỏ bay chập chờn, nước chảy im lặng hắt nắng vàng lóng lánh. Bên kia sông, Cồn Hến có ngôi nhà thờ sơn màu trắng, và phía tay phải xa xa là cầu Trường Tiền sáng màu bạc. Thằng bé có ao ước “Khi (mình) lớn sẽ lội qua Cồn Hến và đi lên Cầu Trường Tiền”. Nhưng nó tránh liếc chéo về chỗ Bến Ôn Bồi (tên người em ôn nội) vì ở đó lần đầu tiên ba cỏng mình lội xuống nước! Ba đi Việt Minh (lâu) rồi! Thằng bé thấy năng nặng ở ngực và mắt cay cay… Nó vất gói khoai xuống nước cho bầy cá cấn, cá mại… Cho tụi mi đó. Nhỏ trở lại nhà. Nền đất lạnh lạnh dưới chân, hắn thấy lại đầu tóc trắng của mệ nội và cái hòm màu đỏ để ở góc phòng sửa soạn cho người sắp chết. Chỗ trũng ngực hình như nặng hơn. Nó đưa tay lên nút áo  trước ngực lay lay.

***

Thời gian sau, khi theo học lóp Năm của cô giáo Lạc Trường Mai Khôi, đứa nhỏ dần đọc thông tiếng Việt, mở cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư bài Đêm qua ra đứng bờ ao… Hình vẽ một người đàn ông mặc áo dài đứng nơi một bờ ao… Nơi xóm nhà đứa nhỏ không có bờ ao, nhưng còn những người đàn ông mặc áo dài (màu đen, đi guốc mộc, tay cầm dù đen), nên đứa nhỏ THẤY RA tình cảnh buồn buồn tội tội của lớp người đang đi qua, dần biến mất. Hình vẽ kèm bài thơ chỉ miêu tả ước lệ, có phần thô thiển, đơn giản nhưng – Buồn Thật. Thật buồn (đúng nghĩa) với nội dung…Buồn trông con nhện giăng tơ… Đêm đêm tưởng giải ngân hà… Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn… Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ. Không biết “giải ngân hà” là gì? “Tào khê” ở đâu? Nhưng “nước chảy hãy còn trơ trơ” thì chắc để nói về cảnh mõi mòn, chờ đợi như mẹ và hắn chiều chiều (luôn) chờ ba về! Hóa ra, bản thân đứa nhỏ hay nhiều thế hệ người Việt đã thấy ra/sống với Nỗi Buồn từ rất lâu – Rất lâu với Sự Buồn – Dẫu chưa biết gọi tên.

Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820) nguyên ủy là Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (1521-1593) Đời nhà Minh Trung Hoa (1368-1644). Chuyện kể cảnh đời truân chuyên của một ca nhi (có thật) tên là Vương Thúy Kiều người vùng Lâm Tri.  Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân là loại tiểu thuyết có chương hồi chỉ là một văn phẩm hạng hai trong kho tàng đồ sộ của văn học Trung Hoa. Chuyện có nhiều yếu tố bất cập về bố cục tiểu thuyết và tâm lý nhân vật. Bối cảnh chính trị-xã hội được mô tả là “…Gia Tỉnh triều Minh bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng…” Nhưng điểm mấu chốt của bi kịch câu chuyện (của Kiều) là do gã bán tơ cáo gian khiến Kiều phải bán mình chuộc cha – Chứng tỏ xã hội không có pháp luật, đầy rẫy tham nhũng, hối lộ, buôn người, giặc giã! Từ Hải được mô tả “… Giang hồ quen thói vẫy vùng. Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài…”- Một đầu lãnh lớn của vùng Việt Đông! Nhưng do chỉ nghe lời khuyến dụ của ả tình nhân (Kiều) mà bỏ sự nghiệp, quân binh mang thân “về với triều đình” để có chút danh lợi nên bị loạn tiễn tan thân!

Nhưng khuyết điểm (tiểu thuyết) của Thanh Tâm Tài Nhân kể trên đã được tài nghệ trác tuyệt của Nguyễn Du “Việt Hóa qua Tâm Thức Đoạn Trường” khiến Thúy Kiều trở thành một mẫu mực bi kịch không chỉ (riêng) trong thi ca văn học mà sống cùng Nỗi Đau Dân Tộc Việt! Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang… Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Không phải là tiếng kêu than “tình phụ” của cô Kiều đối với tình nhân nhưng là lời thống thiết hoài cổ (âm thầm) của Bà Huyện Thanh Quan trước một Thăng Long hoang phế; là mối xót đau của (toàn) tộc Nguyễn (Nghi Xuân/Hà Tĩnh) vốn là công thần triều Nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), nhưng sau lần Gia Long (1802-1820) thống nhất đất nước phải vào Huế chịu cảnh “hàng thần lơ láo” với triều đình Nguyễn. Thế nên, tình cảnh “Xưa sao phong gấm rũ là. Mà nay tan tác như hoa dọc đường” để “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh. Giật mình mình lại thương mình xót xa” không (thể) là lời kêu đau thương vì một mối tình (trai gái) không trọn mà là khối nguồn uất hận lần “nước mất nhà tan” – Tình cảnh của Người Miền Nam sau 30/4/1975 – Nguyễn Du sống mãi với Phận Người-Vận Nước. Mối Đau là mối đau chung.

Hai.

Ai buồn hơn ai?

Tình cảnh thê thảm “Bắc thành thập khẩu khẩn đề cơ/Ngoài Bắc mười miệng người kêu đói” trong khi ở Huế được bữa ăn ngon của Nguyễn Du đối với người thân ở Hà Tĩnh không phải lần đâu tiên, trường hợp đơn lẻ, cá biệt của một gia đình xẩy ra trong suốt lịch sử xã hội đất Nam… Bi kịch xẩy ra toàn diện, thường xuyên và cùng khắp. Tình cảnh đau thương của mỗi con người, một thành phần xã hội Việt Tộc đã hiện thực rất sớm từ khi loạn Thập Nhị Sứ Quân (944-967), do các đầu lĩnh địa phương đồng bằng Bắc Bộ chia phe nhóm giành dựt một bờ tre, mẫu ruộng. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất các phái, mở đầu thờ kỳ tự chủ, độc lập nhà Đinh thì suốt ngàn năm tiếp theo song song chịu tai ương do nạn ngoại xâm phương Bắc (Tống, Nguyên,

Minh, Thanh) cùng biến loạn cung đình các triều đại phong kiến liên tục tiếp diễn – Cuối cùng, có thể nói: Con Người/Tất cả con người đồng rơi vào thảm cảnh (khác nhau về mức độ, hình thức) nhưng chỉ do một “chủ thể nhẫn tâm” quyết định “Lão Tạo Hóa đành hanh quá ngán. Giết đuối người trên cạn mà chơi!”. Giết chơi (thôi) không chút thương xót khiến Ôn Gia Hầu Nguyễn Gia Thiều 1741-1798) dẫu đang trong chốn yên ổn cung đình nhà Hậu Lê cũng phải kêu lên lời bi phẫn. Và ngoài nhân gian thì người đàn bà hà phải lâm cảnh chờ chồng (đi lính thú) đã biến thành tượng đá mõi mòn: Tô Thị miền Bắc, đá Vọng Phu trên núi Đá Bia nhìn ra biển Đại Lãnh, Khánh Hòa. Trên thế gian hỏi nơi đâu có “chinh phụ” thảm thiết như thế? Đá cũng gờn đau!

Thế nên, không chỉ một lần với Nguyễn Du “Việt Hóa” Thúy Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh, Đoàn Thị Điểm (1705-1748) đã diễn nôm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn (1705-1745) đến nay gần ba năm sau mà với tri thức văn hóa kỹ thuật ngôn ngữ cao độ, không một ai có thể chuyển ngâm khúc tuyệt vời ngang tầm của Hồng Hà Nữ Sĩ – Bà Đoàn không chuyển ngữ một tác phẩm văn học nhưng tái cấu trúc, hình tượng hóa Nỗi Đau Muôn Thuở của Người Phụ Nữ-Người Vợ Việt Nam. Tôi không nói quá lời, hãy so sánh…”Ngàn dâu xanh ngắt một màu . Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai” của Đoàn Thị Điểm với tác giả Mỹ Louise Gluck sinh năm 1943 đoạt giải Văn chương Nobel văn học 2020 do những.. “vần thơ chính xác với vẻ đẹp đơn giản đã đưa đời sống cá nhân  lên tầm cao của toàn thể..”/for her unmistakable poetic voice that with austere beauty makes individual existence universal” – Hãy đọc Thơ của Louise về người chồng từ một cuộc hôn nhân tan vỡ năm 1990: “Anh không bao giờ dùng đến ngôn ngữ, Chữ nghĩa đối với anh chỉ để bàn chuyện làm ăn. Anh không nổi giận, Cũng không hề dịu dàng…” Vâng, thơ của Louise Gluck giải Nobel văn học 2020 là vậy. Chỉ là vậy. Tôi (buộc) làm việc so sánh để cố trình bày nên chủ điểm: Người làm thơ, viết nhạc Việt Nam thấm đau hơn.

Ba.

Buồn vào hồn (CÓ) tên!

Bản thân cá nhân vốn là người lính chuyên nghiệp nhảy dù-biệt động không là giới “tao nhân mặc khách” quen với những nội dung thanh nhạc, chữ nghĩa lâm li bi lụy của những người đồng thế hệ trước, sau: Những người làm thơ Nguyễn Bính, Du Tử Lê… Người viết nhạc Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An… Nhưng do đã sống đời vật lý-tâm lý trong một xã hội nông nghiệp-tiểu thành thị trên quê nhà suốt thời thơ ấu qua một hoàn cảnh… Đứa nhỏ nằm trong chiếc nôi tre để bà, mẹ đong đưa ê a câu hò ru em… Chiều chiều lại nhớ chiều chiều… Chiều chiều lại nhớ mai mai…Hoặc…  Đến đây thì phải ở đây. Con chim kêu cũng sợ. Con cá vẫy vùng cũng kinh… Quanh nhà, nắng chiều… Loại nắng xiên khoai, trong chiều tàn thu, gió heo may gờn gọn, chuông “thu không” đầu Chùa Diệu Đế âm âm, u u…Đứa nhỏ mềm đi trong một trạng thái dặt dìu, lặng chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết.

Lớn lên niên thiếu, được nạp tiếp “năng lượng buồn” từ tình cảnh “Đêm qua ra đứng bờ ao…” như trên đã trình bày… Được “dạy” thêm nền tảng/hệ thống văn chương chữ nghĩa xót xa nhẹ nhưng thấm sâu về cảnh cùng khổ trong Nhà Mẹ Lê của Thạch Lam (1910-1942); lời Thơ chân thật đầm đầm nhân hậu của Đoàn Văn Cừ (1913-2004) với kết thúc một đêm hội làng… “Người đi xem nhiều bọn đã ra về. Trên đường vắng lá đề rơi lát đát…”. Tôi có thể kể ra rất nhiều, rất nhiều về một kho tàng văn hóa nhân văn thanh nhã, thắtm thiết mà nhiều thế hệ người làm văn học-nghệ thuật Việt Nam đã hoàn thành một cách rất cảm động, đáng tự hào trước, sau 1945 ở Miền Bắc, và sau 1954 nơi Miền Nam. Nhiều thế hệ người Việt đã dần thấm “buồn” trong tâm cảnh nầy suốt những thập niên 1940, 50, 60… Mà sau 1954 với Chiến Tranh nơi Miền Nam, lan rộng lên Miền Bắc với “Chủ Thể Tính Nhạc Vàng” mà nhà nước cộng sản Hà Nội sau 1975 đã, đang quyết tâm phá bỏ nhưng hoàn toàn thất bại – Bởi Tâm Thức Buồn của Người Việt trên quê hương không một ngày bình yên suốt thế kỷ 20 và ngay tại hôm nay là một Thực Thể Tâm Linh bất biến. Đạo Phật tồn tại sau hơn 2000 năm chỉ trên Tánh Không-Sự Khổ. 

Không khắc nghiệt tuyệt vọng như tình cảnh của Dante (1265-1321) mô tả trong Comedy Divine khi đứng trước cửa Địa Ngục “Vào đây hãy bỏ rơi tất cả hy vọng..” – Nghệ Sĩ Việt Nam/Người Viết Nhạc nơi miền Nam đã viết nên những lời lời ca thương tâm một cách đơn giản tự nhiên… (Do hạn chế cụ thể của bài viết, chỉ nói riêng về Trúc Phương). Trúc Phương được vinh danh là ông “Hoàng Boléro” của nhạc giới Miền Nam từ 1960 mãi cho đến hôm nay. Nhạc Boléro được phổ biến thông dụng, mến chuộng không phải do nhạc lý, lời ca cao viễn, kỳ diệu như Hòa Tấu Khúc Số 9 của Beethoven (1770-1827) phần thanh nhạc dựa vào lời thơ “Ode to Joy/Hoan Ca”. của Schiller (1759-1805). Với hơn 70 nhạc phẩm, trong những năm 1960’s 1970’s Trúc Phương đã viết nên… Bóng nhỏ đường chiều, Buồn theo bước chân em, Buồn một mình, Buồn trong kỷ niệm, Đêm gác trọ/(Ngõ hẹp, Đêm Việt Nam, Em bỏ dòng sông, Hai chuyến tàu đêm, Kẻ ở miền xa, Mắt em buồn, Mưa nửa đêm, Nửa đêm ngoài phố, Tàu đêm năm cũ, Thói đời, Trên bốn vùng chiến thuật… Tôi có thể kể nhiều hơn về Trúc Phương, nhưng nghĩ đã đủ để chứng minh: Buồn là một TÂM CẢNH có thật. Hãy nghe Thói Đời: “Đường thương đau đày ải nhân gian ai chưa qua chưa phải là người. Trong thói đời, cười ra nước mắt… Bạn quên ta tình cũng quên ta nên trắng đêm thui thủi một mình!” Trúc Phương viết những lời cay đắng nầy trước 30/4/1975, lúc lái Mazda, Peugeot 404 trên đường phố Sàigòn, thời gian cùng với Thanh Thúy, Phương Dung tạo nên một hình tượng “tình yêu tan vở” của tuổi trẻ Miền Nam trong chiến tranh- Tình yêu  được đếm từng giờ ngắn ngủi của “24 Giờ Phép”… Người đi chưa đợi sáng… Thương quê hương và bé nhỏ tình này… Vì mình (chỉ còn 16 giờ) bỏ trời đất bơ vơ. Trúc Phương không tưởng tượng vô cớ  – Người Nghệ Sĩ bằng linh cảm tinh tế đã thấy ra tình cảnh sau 30/4/1975: Nhà bị tịch thu vị “tội vượt biên”, gia đình ly tán (ly dị 1979); không đến nỗi đói nhưng gọi no thì không có! Trúc Phương không lâm nạn một mình, tình cảnh “Ngày mai đi nhận xác chồng”- Thơ Lý Thụy Ý, nhạc Phạm Duy được đẩy lên mức cao nhất – Xác không được nhận, chôn lén, bàn thờ  không được lập: Trường hợp của gia đình Thiếu Tá Đặng Sĩ Vinh, Trung Úy Đặng Trần Vinh, Thiếu Tá Trần Đình Tự… Tôi có thể kể nhiều hơn nhưng quả tình đã kiệt sức.

Buồn vào hồn THẬT CÓ TÊN – Buồn mất nước, tan nhà, sống không ra dạng người, chết không yên nấm mộ. Không chỉ sau 30/4/1975 với người Miền Nam mà lan rộng khắp nước kéo dài đến 23 Tháng 10, 2019 với 39 người sinh sau 1975, gốc Nghệ An (Chiếc nôi của cách mạng vô sản Việt Nam/Sô Viết Nghệ Tĩnh 1930) chết ngạt trong container khi nhập cư bất hợp pháp vào đất Anh. Năm 2024 đường vượt biên bất hợp pháp vẫn tiếp tục với 7,500 người đi qua ngã Nam, Trung Mỹ vào để vào Mỹ từ Mexico. Tâm Cảnh của Dân Tộc Việt là Buồn Thật. Quá Buồn!

Hậu Từ.