Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 29 May 2026

Hôm nay chúng tôi có món cá đặc biệt.

Dĩ nhiên đó là lời tán tụng của anh bồi bàn.

– Đồng ý, món đặc biệt. Đồng ý tất cả ý kiến của anh. Tôi tin rằng anh cho biết những thứ hảo hạng.

– Vẫn rượu ấy?

– Rượu ấy hay rượu khác tùy anh lựa giùm.

Người bồi thích chí lui ra. Graber ngồi ngửa người ra tựa vào lưng ghế nhìn Elisabeth. Y có cảm tưởng rằng mình bất thần từ một khu tiền tuyến bom đạn tơi bời chuyển sang một đảo xa hẳn chiến cuộc. Buổi sáng hôm nay đã xa rồi. Chỉ còn lại phản ảnh của một khoảnh khắc mà cuộc đời đáng sống mở ra trước tầm tay, trước ánh sáng. Y tự nhủ: “Hai tuần lễ để sống, phải nắm lấy nó như cây bồ đề trông thấy ánh sáng nay dang tay ra nắm lấy ánh sáng của mặt trời”.

Anh bồi bàn trở lại.

– Ông nghĩ sao về một chai rượu xứ Moselle màu ngọc bích. So với nó thì sâm banh chỉ là nước chanh.

– Ừ thì rượu Moselle.

– Ông thật là người sành rượu. Dùng với món đặc biệt kia thì tuyệt. Để tôi làm một đĩa xà lách tươi cho thêm vị. Đây là rượu gốc.

Graber nghĩ thầm: “Bữa cơm cho người tội tử hình. Hai tuần ăn những bữa cơm đợi lúc tử hình”.

Y nghĩ thế nhưng không lấy làm chua xót. Y chưa hề nghĩ đến lúc mãn phép, hạn nghỉ phép hình như dài bất tận. Nhiều điều mới mẻ đã xuất hiện hay có dấu hiệu báo trước sắp xảy ra. Y phải đọc bản thông cáo ấy và cũng phải đến thăm thầy Pohlmann để ước lượng xem thời gian còn lại sẽ làm gì.

Elisabeth nhìn theo anh bồi bàn:

– Một ngàn lần cảm ơn người bạn của anh. Y làm cho chúng mình thành người sành ăn.

– Chúng ta không phải chỉ là người sành sỏi, chúng ta hơn thế. Chúng ta là những kẻ phiêu lưu, phiêu lưu tìm an bình trong lúc chiến tranh đảo lộn. Cái mà ngày xưa tượng trưng cho sự cầu an chán ngán, cho tinh thần trưởng giả mỏi mệt, thì bây giờ ta dám với đến là cả một sự báo động vô cùng.

Elisabeth cười.

– Chính chúng ta thực hiện sự thay đổi ấy.

– Thời gian đó. Dầu sao thì cũng có một cái khó chịu mà chúng ta không thể phàn nàn được, đó là chán ngấy và nhàm nhỡ.

Graber nhìn Elisabeth. Nàng ngồi trước mặt chàng, người bó sát trong một cái áo thật eo. Tóc nàng quấn trong một cái khăn choàng lụa. Nom nàng như một cậu thiếu niên.

– Nhàm chán thật. Hôm nay sao anh không mặc đồ dân sự?

– Không có cách nào. Không tìm được chỗ để thay đồ.

Y đã muốn đến nhà Binding thay đồ, nhưng từ trưa hôm ấy đến nay y chưa trở lại nhà Binding.

– Anh cứ đến nhà em mà thay đồ.

– Nhà em? Thế còn mụ Lieser?

– Thây kệ mụ! Em đã quyết không đếm xỉa tới mụ ta nữa.

– Ta không đếm xỉa đến nhiều chuyện khác nữa.

– Em cũng vậy.

Bồi bàn mang ra một chai rượu và mở nút. Nhưng anh ta không rót ra ly. Anh ta nghiêng đầu nghe ngóng.

– Lại báo động, thật là ngán.

Anh ta không cần phải giải thích. Tiếng còi hụ vang lên che lấp cả tiếng nói của khách ăn.

– Hầm núp gần nhất ở đâu?

– Hầm của nhà.

– Có dành cho khách ăn không?

– Ông cũng là khách ăn. Hầm tốt lắm. Hơn những hầm trong thành phố. Vì chúng tôi có phòng cho các sĩ quan cao cấp.

– Nhưng còn món ăn?

– Chưa cho vào lò. Để tôi giữ nguyên vẹn. Tôi không muốn đưa xuống hầm. Hẳn ông cũng hiểu.

– Anh nói phải.

Graber cầm lấy chai rượu rót ra hai ly và đưa cho Elisabeth.

Elisabeth lắc đầu.

– Tốt hơn hết là đừng xuống hầm.

– Còn nhiều thời giờ. Mới là còi bắt đầu. Có lẽ không có gì cả như lần trước. Uống đi em, để thêm sức mà chịu đựng.

– Ông nói rất phải. Rượu quý này mà uống như thế thì cũng uổng thật, nhưng đây là bất đắc đĩ.

Anh ta mặt tái như gà cắt tiết và cố gượng cười.

– Thưa ông, ngày trước chúng ta ngẩng mặt nhìn trời để cầu nguyện. Bây giờ thì để nguyền rủa. Thật không ngờ đã đến nỗi này!

Graber nhìn Elisabeth không rời mắt.

– Uống đi em. Chúng ta có đủ thì giờ, uống hết chai cũng còn kịp.

Nàng nâng cốc uống thong thả. Cử chỉ có cái gì vừa như cả quyết vừa như thất vọng. Rồi nàng đặt ly xuống mỉm cười.

– Bây giờ em cũng phải quyết định lấy một thái độ trước sự nguy hiểm mới được. Lạ thật mỗi lần còi là sợ run.

– Không phải em run đâu, đời sống trong người em run đấy. Cái ấy không ăn nhằm gì với sự can đảm cả. Can đảm là có thể chống cự được. Còn thì nói gì cũng chỉ là khoe khoang. Đời sống của chúng ta có lý hơn chúng ta.

– Nếu thế thì em uống nữa.

Anh bồi bàn cũng nói:

– Con tôi bệnh, nó bệnh lao. Năm nay nó mười một tuổi. Hầm nhà tôi không tốt đâu. Vợ tôi mang được đứa nhỏ xuống thật là khó khăn. Ấy thế mà tôi cũng không về nhà giúp đỡ gì được. Tôi phải ở đây.

Graber trông thấy một cái ly ở bàn bên cạnh, y rót đầy đưa cho anh.

– Này anh, uống một ly với chúng tôi. Ngoài mặt trận chúng tôi có lệ: nếu không thể làm gì được nữa thì cứ bình tĩnh.

– Nói thì dễ thật!

– Thì hẳn rồi! Người ta đâu phải bằng gỗ. Thế thì uống đi.

– Bị chủ cấm uống trong những giờ làm việc.

– Đây là trường hợp đặc biệt, chính anh đã nói thế.

Anh ta cầm ly lên nhưng còn nhìn quanh xem có ai trông thấy không đã.

– Ông cho phép tôi uống mừng khóa của ông?

– Khóa nào?

– Khóa hạ sĩ quan.

– Cám ơn. Anh có khiếu nhận xét lắm.

Anh bồi đặt ly xuống :

– Tôi không thể uống một hơi được. Rượu quý thế này! Cả trong những trường hợp đặc biệt.

– Điều đó thật vinh dự cho anh. Anh mang cả ly đi.

– Cám ơn.

Graber rót ly mình và ly Elisabeth và nói:

– Anh làm thế này để tỏ ra mình can đảm. Vì đã bị nạn bom thì tốt hơn hết ta hưởng cái gì có thể hưởng được, đã biết đâu lát nữa có còn gì không.

Elisabeth nhìn bộ quân phục của y:

– Em sợ vào một hầm đầy nhóc sĩ quan người ta sẽ biết sự giả mạo.

– Biết thế nào được.

– Sao lại không.

– Vả anh cũng không cần.

– Không cần không phải là để bị bắt.

– Ít khi lắm. Cái sợ làm mình chú ý đến chuyện đấy thôi chứ có gì đáng lo. Thôi xuống đi. Lúc khó khăn nhất đã qua rồi.

***

Một phần hầm rượu được đổ bê tông, chống gióng sắt làm thành hầm núp. Có nhiều ghế, ghế bành và trường kỷ với bàn. Nền trải mấy cái thảm cũ, tường quét vôi trắng. Còn có một cái máy thâu thanh, một cái bàn thấp để ly tách và mấy chai rượu. Hầm núp hạng sang.

Hai người ngồi gần tấm vách ván mỏng ngăn chỗ chứa rượu. Nhiều khách ăn cũng theo xuống trong số ấy có một người đàn bà rất đẹp mặc đồ đại hội trắng. Áo hở vai, cánh tay trái óng ánh vàng ngọc. Theo sau là một bà tóc vàng mặt như mặt cá chép. Rồi đến những khách ăn mặc dân sự, một vài bà đứng tuổi và vài sĩ quan. Người ta bắt đầu mở nút chai.

Graber nói:

– Giá mình mang rượu xuống đây có phải hơn không.

Elisabeth lắc đầu.

– Chúng ta đóng kịch với mình làm quái gì!

Elisabeth nói:

– Làm thế xui chết!

Graber nghĩ thầm: “Nàng có lý”. Y nhìn người phổ thầu đi lại với một cái mâm mà bực mình.

– Như thế không phải là can đảm, chỉ là nông nổi. Con người phải đối phó với sự nguy hiểm một cách nghiêm chỉnh. Nhưng muốn biết sự quan trọng, sự sâu xa của cái nguy hiểm thì cần phải quen với cái chết.

Có người ngồi cạnh nói:

– Còi hụ lần thứ hai. Máy bay đến gần rồi.

Graber kéo ghế ngồi xích lại gần Elisabeth.

– Em sợ anh ạ. Mặc dù có rượu mạnh và mình đã cương quyết.

– Anh cũng sợ.

Y ôm lấy vai nàng và nhận thấy nàng lo sợ lắm. Nàng như một con vật trông thấy nguy hiểm và thu mình lại. Nàng không giả bộ can đảm để lấy mạnh mẽ. Nàng chỉ có sự can đảm để chống cự lại nguy hiểm. Sức sống trong người nàng gò người nàng lại theo nhịp còi hụ kêu gào sự chết, và nàng không tìm cách giấu diếm sự rùng mình.

Y nhận thấy người ngồi bên người đàn bà tóc vàng chăm chú nhìn mình. Ông ta là đại úy, người mảnh dẽ, cằm hơi lẹm. Bà tóc vàng trông thấy bàn ăn thì thích chí cười rộ.

Hầm khẽ rung rinh vì một trái bom, rồi tiếng nổ từ xa vọng lại. Câu chuyện giữa đám khách ăn ngưng bặt, nhưng rồi lại nổi lên ầm ầm ồn ào hơn trước. Ba tiếng nổ mạnh hơn tiếp theo tiếng nổ trước.

Graber ngồi áp chặt vào với Elisabeth. Y nhận thấy bà tóc vàng không cười nữa. Bất ngờ hầm rung động mạnh, người bồi đặt vội cái mâm xuống đứng ôm lấy cột tủ đĩa bát. Một tiếng nói nhanh :

– Đừng lo, bom rớt xuống chỗ khá xa.

Thình lình một loạt chuyển động và đổ vỡ vang lên trong hầm. Ánh sáng chớp nhoáng như đứt phim điện ảnh rồi có một tiếng gầm dữ dội. Đèn sáng rồi tắt lia lịa, mỗi lần sáng lên, dáng điệu và nét mặt của mỗi người lại thay đổi. Lần thứ nhất, bà mặc đại lễ hở vai còn ngồi, sau vẫn đứng, rồi có cử chỉ chạy trốn, rồi mọi người xúm quanh bà ta, đến khi tối đen không thấy gì nữa thì chỉ nghe tiếng bà ta kêu la. Bấy giờ mới nổi lên một tiếng sấm dội đi dội lại, hàng ngàn lần, làm trái tim người ta ngưng lại, trái đất như không còn trọng lực.

Graber nói:

– Đây chỉ là không khí di chuyển. Chắc là đứt hết dây điện. Nhà này không trúng bom.

Elisabeth nép vào người chàng. Có người kêu lên :

– Quẹt! Đèn cầy! Có đèn cầy không? Hay cái đèn bấm cũng được.

Đó đây một vài cái diêm bật sáng, chập chờn như ma trơi trong bóng tối.

– Trời đất ơi trong nhà không có đèn khác sao? Bồi đâu rồi?

Những vòng sáng run run đưa trên mặt tường. Trong tối xuất hiện hai vai trần một người đàn bà, một hột xoàn sáng chói, một cái miệng há hốc đen thui, tiếng người nói qua tiếng bom gầm như tiếng kêu chuột nhắt giữa nơi thác đổ. Rồi một tiếng nổ lớn bung ra, lớn thêm đến nhức óc như có một vẩn thạch bằng thép rớt xuống hầm. Tất cả đều lung lay. Những vòng tròn sáng vươn lên rồi tắt ngấm. Hầm không rung động nữa, tiếng gầm như làm hầm bật khỏi trái đất tung lên trời. Graber có cảm tưởng như mình lấy đầu chọc thủng trần nhà. Y lấy hai tay ôm chặt Elisabeth. Một lần rung chuyển nữa lại xuất hiện, y vội vàng lấy mình che kín Elisabeth, lôi tuột nàng xuống đất hai người chui vào một gầm ghế. Y chỉ nghe tiếng nóc sập xuống. Hầu như trong hầm trở thành rỗng không, cái rỗng không như một khối kỳ lạ đè nặng xuống người, bóp thắt tim phổi làm máu đập mạnh ở thái dương. Chỉ còn đợi cái hầm sụp đổ và hấp hối dưới đống gạch vụn. Sự chờ đợi kéo dài. Thình lình một đóm lửa quay tròn trên mặt đất. Đúng hơn, một bó đuốc người, đó là một người đàn bà đang la thét :

– Cháy, cháy, tôi bị cháy, cứu tôi với!

Bà ta giẫy giụa, áo phun ra từng loạt đóm lửa, hột xoàn của bà ta cũng ném ra tia lửa. Mặt bà ta đầy vẻ kinh hoàng. Tiếng người lao xao. Vài người mặc quân phục chạy lại, cùng với bà ta lăn từng vòng trên mặt đất. Tiếng kêu thất thanh xuyên qua tiếng súng phòng không và tiếng bom gầm, rồi tiếng thét bị tắt nghẽn dưới đám chăn mền, quần áo người ta đem trùm kín bà ta để dập lửa.

Graber ôm chặt lấy đầu Elisabeth và lấy người mình che kín nàng cho đến khi hết cháy và hết tiếng la hét, kế đó là tiếng rên yếu ớt và mùi khét lẹt quần áo và thịt người cháy.

– Đi mời thầy thuốc.

– Sao?

– Chở vào nhà thương! Phải chở đi ngay.

– Bây giờ chở đi sao được?

Mọi người yên lặng. Bên ngoài còn vang động tiếng súng phòng không. Đã hết tiếng bom nổ.

– Họ đi xa rồi, thế là hết.

Graber nói vào tai Elisabeth:

– Cứ nằm yên. Hết rồi nhưng cứ nằm yên. Như vậy không bị ai dẫm lên mình mà đi.

Có tiếng người ra vẻ hiểu biết:

– Phải đợi chút nữa. Có thể có đợt thứ hai. Vả chăng còn súng phòng không, còn mảnh đạn.

Một vòng sáng rọi vào cửa, ánh sáng đèn bấm. Người đàn bà lại rên la.

– Tắt đèn đi, không được để lửa.

– Đâu phải lửa! Đây là đèn bấm.

Vòng lửa đưa theo dọc tường như sờ nắn.

– Soi lại đây. Ai có đèn thế?

Vòng lửa vẽ nhanh một hình cung trên trần rồi soi sáng một ngực áo là cứng, đôi ve áo, cái ca vát đen và một bộ mặt bối rối.

– Tôi là quản lý đây. Phòng ăn bị bom rồi. Chúng tôi phải tạm ngưng bán. Xin đưa quí vị xem phiếu trả tiền ăn.

– Hử?

Người quản lý vẫn lấy đèn soi sáng mặt mình.

– Đã hết dội bom rồi. Tôi mang phiếu tính tiền lại đây.

– Phiếu phiếu cái gì! Kỳ cục!

Người quản lý buồn rầu mà đáp:

– Dạ thưa ông, quản lý ăn lương của chủ thì có trách nhiệm phải lo liệu mọi việc.

– Kỳ cục! Ông cho chúng tôi là ăn quịt à. Ông còn lấy đèn mà soi sáng bộ mặt khả ố của ông nữa! Lại ngay đây. Có người bị thương đây.

Khuôn mặt người quản lý lẫn vào trong tối. Vòng sáng đi men trên tường, soi vào tóc Elisabeth, bò xuống đất rồi dừng lại đống chăn mền.

Một người mặc sơ mi quỳ bên cạnh bà bị thương. Y lùi lại. Chỉ còn hai bàn tay ở trong vùng sáng. Vùng sáng lung linh trên đống quần áo chăn mền. Người quản lý cũng run rẩy. Người ta lôi một chiếc mền ra.

Người mặc sơ mi la lên:

– Trời!

Graber bảo Elisabeth:

– Đừng nhìn vào đây. Tai nạn này có thể xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, không dính dáng gì đến chuyện bom đạn. Em không nên ở trong tỉnh này nữa. Để anh đưa về một làng không bị oanh tạc. Anh biết một nơi, có người quen, chắc là họ sẽ nhận cho ở. Ở đấy an toàn hơn.

– Lấy cái cáng, nhà có cái cáng nào không?

Người quản lý không biết được cấp bậc của viên sĩ quan mặc áo sơ mi ấy:

– Xin lỗi ông. Tôi không biết ở đây có người bị nạn.

– Đi tìm ngay một cái cáng. Thôi để tôi đi với ông. Ở ngoài thế nào? Có thể đi lại được chưa?

– Đi được rồi.

Người sĩ quan đứng dậy, mặc áo vào, y là đại úy. Tia ánh sáng biến mất, người ta có cảm tưởng rằng tia hy vọng cũng biến theo. Người đàn bà bị nạn vẫn rên rỉ.

Một tiếng đàn ông run rẩy than thở :

– Wanda! Wanda! Bây giờ biết làm thế nào?

Một người nói :

– Chắc là đi ra được rồi.

– Chưa có còi báo hết! Đèn đóm đâu?

Người đàn bà vừa rên vừa nói:

– Đừng thắp đèn! Đừng thắp đèn!

– Phải mời thầy thuốc, phải kiếm một ít thuốc tê.

– Wanda! Biết nói sao với anh Eberhard?

Người ta mang đèn đến, lần này là đèn dầu. Viên đại úy cầm đèn đi trước, hai người bồi bàn theo sau với cái cáng.

– Dây điện thoại đứt cả rồi. Đưa cáng lại đây.

Ông ta đặt cây đèn xuống đất, quỳ xuống cắm cúi làm gì bên cạnh người đàn bà một lát rồi đứng dậy :

– Vậy là được rồi, thuốc ngủ sẽ làm bà ngủ yên. May mà tôi có sẵn mũi thuốc ngủ. Nhẹ tay, nhẹ tay một chút. Được rồi khiêng đi. Phải đợi ở ngoài để tìm một xe cứu thương.

– Thưa đại úy, vâng ạ.

Người quản lý ngoan ngoãn trả lời.

Cáng được khiêng ra phía cửa. Cái đầu đen thui cháy hết tóc lắc sang phái sang trái. Một cái khăn bàn phủ kín người.

Elisabeth hỏi :

– Bà ta có chết thật không?

– Không. Rồi sẽ khỏi, rồi tóc lại mọc.

– Thế còn mặt mũi thì sao?

– Mặt không hề gì. Cái đó là chính yếu. Còn chỗ khác sẽ liền da. Nói chung thì không có gì là nặng lắm. Anh đã thấy nhiều trường hợp như thế.

– Tại sao lại xảy ra như thế nhỉ?

– Áo bắt lửa vì ngồi gần cái quẹt. Chỉ có thế thôi. Hầm tốt đấy chứ! Chịu được một trái bom ném trúng nóc.

Graber bấy giờ mới rời khỏi Elisabeth. Lúc đứng dậy y nhận thấy mình giẫm lên nhiều mảnh chai, bức vách ngăn cái hầm ra làm hai cũng tan tành. Nhiều ngắn đựng rượu cũng nghiêng đổ, ve và chai nằm ngổn ngang cái còn cái vỡ. Rượu vang chảy lênh láng trên mặt đất như dầu đen.

– Đợi anh một chút, anh trở lại ngay.

Y cầm lấy áo bành tô đi vào hầm, một loáng đã trở lại.

– Thôi ta đi.

***

Bên ngoài, cáng chở người bị bỏng vẫn đứng đợi. Hai người bồi bàn đưa ngón tay vào miệng huýt còi cố gắng gọi một chiếc xe. Người đàn ông ban nãy van than thở :

– Bây giờ biết nói làm sao với Eberhard. Thật là xui xẻo! Làm sao cho Eberhard hiểu được…

Graber nghĩ thầm: “Chắc Eberhard là chồng”. Y đến bên người bồi bàn :

– Ai coi việc bán rượu thế ông?

– Ông hỏi người nào, có hai người.

– Người già, bé nhỏ như con cò.

– Anh Otto. Ảnh chết rồi, cái đèn treo lớn rớt xuống người. Otto chết rồi ông!

Graber im lặng một lát.

– Tôi thiếu ông ta tiền chai rượu.

Người bồi lau mồ hôi trán.

– Ông đưa tôi nhận cũng được.

Anh bồi lấy một cuốn sổ trong túi ra và bật đèn bấm :

– Bốn đồng, thêm tiền phí khoản là bốn đồng tư.

Graber trả tiền. Người bồi nhận. Y chắc chắn rằng anh ta sẽ bỏ túi món tiền ấy chứ không đưa cho chủ.

Hai người quay ra tìm một lối đi giữa chỗ gạch ngói ngổn ngang. Phía nam thành phố đang cháy. Trời đỏ rực, gió cuốn từng đám mây tro than, rắc xuống thành phố.

– Bây giờ phải trở về xem nhà em còn không.

Nàng lắc đầu.

– Chúng ta còn nhiều thời giờ, hãy ở ngoài một lúc nữa.

Họ đến gần hầm bê-tông mà trận bom trước họ đã xuống núp. Lối vào bốc khói như cửa Âm phủ. Họ ngồi trên một cái ghế ở vườn hoa.

– Em đói không. Tối nay chưa ăn gì cả.

– Không sao. Có ăn cũng không nuốt nổi.

Graber giở áo bành tô lấy ra hai chai rượu.

– Không biết lấy được gì đây. Có vẻ là cô-nhắc.

Elisabeth nhìn y.

– Anh lấy đâu vậy?

– Trong hầm. Cửa mở, có hàng chục chai vỡ. Ta cứ giả thiết như đây cũng thuộc số những chai vỡ.

– Anh cứ thản nhiên thế mà lấy đi à?

– Làm lính mà chê một hầm rượu thì chỉ có là lính ốm sắp chết. Anh đã học được cách suy nghĩ rất thực tế. Đối với lính thì mười điều răn không có giá trị.

– Em cũng bắt đầu nghĩ thế, những điều răn khác cũng vậy.

Nàng cười.

– Em không biết mấy tí về các “ông lính”.

– Hôm nay thì em biết khá nhiều rồi đấy.

– Không. Biết thế nào được các anh. Về đến đây thì các anh đã khác rồi. Phải ở ngoài ấy thì mới biết được chân tướng của các anh.

Graber lôi ra hai chai rượu nữa:

– Chai này có thể mở được không cần đồ mở. Rượu sâm banh.

Y tháo sợi dây mạ vàng:

– Mong rằng em cứ uống không có gì phải thắc mắc cả.

– Bây giờ thì không thật.

– Chúng ta uống là uống, không phải để mừng cái gì cả, như vậy không có gì là xui xẻo. Chúng ta uống vì chúng ta khát. Và cũng vì chúng ta còn sống.

Elisabeth cười.

– Anh không can phải nói, bây giờ em đã biết rồi. Tại sao anh lại trả tiền một chai trong khi lấy không bốn chai của người ta?

– À, cái đó khác. Chai kia, nếu mình không trả tiền thì là mình ăn quịt.

Y xoay cái nút đi mấy vòng rồi lấy ra không một tiếng kêu.

– Phải học cách tu cả chai em ạ. Để anh chỉ cho.

***

Hoàng hôn lấn dần trong yên lặng hoàn toàn. Ánh sáng kỳ dị làm cho cái gì cũng có vẻ không thực.

– Anh! Trông cái cây kia. Nó đang trổ hoa.

Graber quay lại. Cây bị bật nửa gốc vì trái bom, một phần rễ đâm ngược lên trời, thân cây bị toác ra, nhiều cành gãy nát. Ấy thế mà cây nở đầy hoa trắng điểm phớt hồng.

– Căn nhà bên cạnh cháy, có lẽ sức nóng làm cho cây chóng khai hoa. Nó ra hoa trước những cây khác đến vài tuần, tuy nó bị đau thương hơn cả.

Elisabeth đứng dậy đi vài bước. Ghế ngồi kê trong bóng tối. Nàng đi lại trước ánh lửa chập chờn nhà cháy như một cô đào nhảy múa trước sân khấu. Ánh lửa đỏ rực bao bọc nàng như một vầng sáng man rợ, như ánh sáng một ngôi sao chổi khải huyền báo trước sự tận thế vào giờ cuối cùng.

Elisabeth nói :

– Cái cây trổ hoa. Đối với nó chỉ có mùa xuân thôi. Còn những chuyện khác nó không cần biết.

– Đúng thế. Cây cối cho ta một bài học. Nó không ngừng cho ta những bài học. Trưa nay là cây bồ đề, tối nay là cây này. Chúng nó chỉ biết mọc lên, khai nụ, trổ hoa, nếu bị bom đạn thì cành nào còn lại vẫn khăng khăng tiếp tục cuộc sống. Sự hiện diện của chúng dạy chúng ta rằng, chúng ta không nền phàn nàn, không nên than thân trách phận.

Elisabeth bước thong thả trở lại. Nước da nàng sáng loáng trong ánh lửa kỳ dị không có bóng tối, mặt nàng trong khoảng khắc hầu như tham dự vào sự kỳ ảo của thế giới cỏ cây, dù có thế nào cũng tiếp tục cuộc sống tối tăm của chúng với sự tin tưởng không sờn. Rồi nàng từ vùng sáng bước vào khoảng tối đến ngồi cạnh chàng, chàng cảm thấy nàng hồi hộp và chan hòa sức sống nồng ấm. Chàng kéo nàng lại gần. Vòm cây trên đầu họ như lớn vô chừng dưới nền trời đỏ rực. Đất lành vẫn sẵn sàng dung nạp họ. Nàng hoàn toàn gởi thân cho chàng không chống cự chút nào.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 29 May 2026

Vào những ngày biển êm gió nhẹ, buổi sáng cũng như buổi chiều, lúc rảnh rỗi tôi hay ra boong đứng nhìn trời nước bao la. Hễ cứ mỗi lần trở lại vùng Scandinavia tâm trạng tôi có hơi chộn rộn và hay suy tư. Chiều nay sau khi lau chùi, dọn dẹp bếp núc xong tôi lên đứng ngoài tầng hai của mui tàu nhìn mặt trời chiếu lóng lánh trên mặt nước, vài con chim nhàn bay lượn qua lượn lại trong khoảng không sau lái tàu. Trên mặt biển xanh hiện ra những chiếc containers chạy dọc ngang giữa vùng nước rộng mênh mông và vài chiếc tàu buồm trắng thấp thoáng từ dãi đất liền xa xa. Mặt trời hạ xuống gần ngang viền nước phía chơn trời, trước cảnh đẹp tự nhiên nhưng chưa biết tàu nằm trên hải phận nước nào? Tôi đi vô phòng lấy điện thoại mở ra xem thì thấy tín hiệu, tuy chưa cao nhưng là đường truyền của Thuỵ Điển. Có mấy email và tin nhắn tôi chưa vội đọc vì cảnh hoàng hôn bên ngoài hấp dẫn quá. Cầm theo điện thoại bước ra boong mở máy chụp cảnh mặt trời lặn. Chụp xong mấy bôi, chợt thấy thuyền phó từ tầng trên đi xuống, gặp tôi nó dừng lại chào và nói:

– Tui định tìm ông để báo một tin vui.

– Tin gì?

– Tàu trở lại Hamburg ông được về nhà.

– Vậy hả, nhưng còn cả tuần nữa tàu mới về tới Hamburg.

– Ờ, còn một tuần và tui cũng về.

– Mày xuống tàu trước tao mà.

– Cùng ngày với ông.

– Hôm xuống tàu thấy mày trên tàu, tao tưởng mày xuống lâu rồi.

– Trước ông mấy giờ thôi.

– Ờ, như vậy cũng đã hơn hai tháng rồi. Mày xuống tìm tao thông báo vậy thôi sao?

– Không không, tui với phụ tá thuyền phó đổi ca trực đêm, thuyền trưởng cho tàu ghé Stockholm vào sáng sớm ngày mai.

– Vậy hả?

– Tàu đậu lại Stockholm mai mới chạy.

– Những ngày mùa hè thành phố Stockholm đẹp lắm.

– Ông muốn lên bờ chơi không ?

– Chưa biết, tao có đọc tin tức, chánh quyền Thuỵ Điển chưa ban lịnh phòng chống dịch nên bị nhiễm corona tràn lan, có lên bờ chắc cũng hổng được an tâm.

Thuyền phó lắc lắc cái đầu:

– Corona.

Nói tới dịch bệnh tôi mới nhớ ra một chuyện bèn nói:

– Tao có nghe Stockholm trước đây hai ba thế kỷ gì đó có một trận dịch hạch khủng khiếp đã làm chết khoảng một phần ba dân số, bây giờ bị corona không biết chết bao nhiêu nữa đây.

– Ghê quá. Nhưng corona có mặt khắp thế giới, không riêng gì Stockholm.

Thuyền phó vừa nói vừa rụt vai rồi day lưng đi xuống tầng dưới. Mặt trời đã lặn xuống viền nước phương Tây, nhưng khí trời vẫn còn ấm áp, mới hay sắp tới mùa hè. Tôi định đi vô phòng tắm một cái và thay đồ rồi đi ngủ thì thấy thuyền phó trở lên, hai tay cầm hai lon bia, nó khui một lon đưa qua cho tôi và khui một lon giơ lên mời tôi cụng. Động tác của nó nhanh quá làm tôi không kịp phản ứng gì hết. Thấy cũng vui vui nên nó kêu sao tôi làm vậy. Hớp xong hớp bia nó hỏi:

– Trời đẹp quá phải không?

Câu hỏi đúng tâm trạng của tôi trong lúc này. Tôi nói:

– Ờ đẹp thiệt! Không hiểu sao mỗi lần trở lại vùng biển Baltic lúc tao nghĩ vầy khi tao nghĩ khác.

– Là sao?

– Như có điều gì đó đặc biệt, chỉ cách một ranh giới hay eo biển mà con người ta sống khác nhau một trời một vực.

– Ông nói bờ biển và ranh giới của nước nào?

– Những nước bên kia bờ, trong đó có nước Nga của mày.

– À, trước thời Cộng Sản thì khác, chớ giờ thì các nước qua lại bình thường rồi.

– Tao hổng nghĩ vậy, muốn bình thường chắc còn lâu lắm.

– Sao vậy?

– Xã hội và kinh tế thay đổi mau hay chậm tùy theo khả năng chánh quyền, nhưng con người muốn thay đổi thì phải chờ vài ba thế kỷ nữa may ra.

– Ông nghĩ vậy sao?

– Cần gì phải suy nghĩ, mày so sánh nước Nga với những quốc gia trong vùng Scandinavia thì biết.

Nó hớp bia và đưa tay ra lắc lắc độ chừng:

– Scandinavia vật giá mắc mỏ hơn Nga, nhưng cái gì bên đây có thì bên Nga cũng có.

Tôi nhìn thuyền phó, mỉm cười và nói:

– Vừa nói ra thì đã thấy khác rồi, người Nga mày hay so đo vật giá chỗ này mắc chỗ kia rẻ. Nhưng đó là vật giá hàng hoá, còn tinh thần và con người thì sao?

Thuyền phó nhún vai:

– Tui nghĩ con người là con người, hổng khác nhau gì hết.

– Hồi còn trẻ lúc mới tị nạn cộng sản ra nước ngoài, tao nghe nói về tự do, bình đẳng tao cũng nghĩ như mày. Nhưng sống lâu trong thế giới tự do tao thấy khác nhiều thứ, thật ra thì cái gì cũng tương đối thôi. Như nước Nga của mày đã thay đổi gần nửa thế kỷ rồi, kinh tế khá hơn thời bao cấp mà vẫn còn có những con người lúc nào cũng làm như bận rộn, với gương mặt buồn bã, sống không hoà đồng với người khác, làm việc thì chậm chạp hổng tuân theo giờ giấc gì hết. Còn những người trong vùng Scandinavians thân thiện, nhẹ nhàng, tiếp xúc với họ rất dễ dàng và thoải mái.

– Vậy bên Nga hổng dễ dàng và thoải mái sao?

– Mày nghĩ xem, nếu lên một thành phố chơi, khi trở xuống tàu, mặt mũi bầm tím, sưng phù và từ đầu tới chưn đầy thương tích, máu me khắp người, tiền bạc hết sạch, giấy tờ tùy thân hổng còn một miếng, như vậy thì mày có được thoải mái không?

– Bên Mỹ cũng vậy mà.

– Tao công nhận các nước khác đều cũng vậy, chớ hổng riêng gì bên Mỹ hay Nga, nhưng còn tùy theo cách đối xử của người với người và cảnh sát nơi đó có thân thiện, làm đúng chức năng không nữa. Nhưng ở đây tao chỉ so sánh với Scandinavia, chớ tao đâu có so sánh với nước Mỹ.

– Ok. Rồi sao nữa?

– Con người bên các nước trong vùng Scandinavia thoải mái vui tươi, không ồn ào uống rượu bia nhiều cũng không la lết ngoài đường như người ở nước Nga và những nước bên kia bờ như Estonia… nói chung là những nước trong khối Liên Xô cũ…

Tôi nói một hơi, chợt thấy thuyền phó trầm ngâm đứng ngó mông lung. Mặc dù những người Nga trẻ tuổi, qua những nước Tây phương làm việc, họ sống rất văn minh, tâm tình rất cởi mở, tuy nhiên là người ai cũng có niềm tự hào dân tộc, nhứt là khi họ nói chuyện với người xứ khác. Cho nên tôi sợ mình quá lời xúc phạm làm cho nó khó chịu nên tôi ngưng nói.  Với lại một buổi chiều mát mẻ, đẹp đẽ như vầy cũng nên nói sao cho êm dịu một chút. Tôi nhẹ giọng nói để phá tan bầu không khí im lặng có chút nặng nề:

– Thật ra tao cũng là người cưỡi ngựa xem hoa thôi, thấy sao nói vậy, nghĩ gì nói nấy.

Thuyền phó day lại đưa tay ra khoát khoát:

– Không sao, ông nói hay, nói đúng mà.

– Thật tình thì tao chỉ so sánh con người và cách sống hai bên bờ biển thôi, nếu nói rộng ra thì những tiêu cực ở nước nào cũng có chớ không riêng gì cộng sản hay tự do hoặc nước Nga và nước Mỹ. Người Việt tao cũng vậy, ở bên Nga mày cũng thấy đó xô bồ xô bộn, đâm chém và bắn giết nhau hà rầm như cơm bữa. Ở đây tao chỉ so sánh những chuyện tốt, chuyện xấu xảy ra trong xã hội nhiều hoặc ít thôi. Thật tình thì nước Nga có nền văn hoá cổ kính lâu đời đã gieo vào lòng tao rất nhiều ấn tượng.

– Ấn tượng gì?

– Có những thứ dã man, mà cũng có những thứ văn minh đáng kính. Tao ấn tượng nhứt là những đêm mùa hè rất lãng mạn, con người nơi đây như sống trong một thế giới khác.

– Khác sao?  

– Thành phố St. Petersburg cũng như các thành phố ở cùng một vĩ tuyến, mặt trời hổng lặn được sâu xuống dưới đường chưn trời, bình minh và hoàng hôn nối tiếp nhau làm cho trăng và sao không có cơ hội toả sáng, những đêm này người ta gọi là Đêm Trắng. Ánh sáng giữa đêm trắng có cái tên thông thường rất lãng mạn là romantic light và cũng có tên gọi vừa lãng mạn vừa có chút ma quái đó là magician’s light (ánh sáng của phù thủy). 

Thuyền phó cao hứng tiếp lời: 

– Ông nói đúng rồi, ánh sáng Đêm Trắng không thể phân biệt được với ánh sáng ban ngày, vì vậy thời gian này những thành phố không bao giờ bật đèn đường vào lúc ban đêm. 

– Nhờ vậy mà ở các thành phố, nhứt là những thành phố trong vùng phía Bắc Baltic, những ngày hè dân chúng tiết kiệm được rất nhiều tiền điện và dùng tiền đó mua rượu vodka uống cho đã. 

Thuyền phó cười ha hả, xong nó nói: 

– Thật ra mỗi thành phố trong những đêm Trắng sinh hoạt đều có màu sắc riêng. 

– Nhưng Phải nói là sinh hoạt ở thành phố St. Petersburg vừa có ý nghĩa vừa sôi nổi, sống động vừa lãng mạn và vui nhộn suốt đêm ngày. 

Nghe nói tới đây thuyền phó day lại, cầm lon bia đưa lên mời, chúng tôi cụng một cái và cùng ngước cổ lên uống một hớp. Nét mặt ra vẻ tự hào, nó nói: 

–  Ông có thể tưởng tượng một đám đông cả triệu con người chen chúc nhau trong một thành phố để xem nhiều loại phim truyện, hình ảnh, hội hoạ giải trí có giá trị do thành phố St.Petersburg cung cấp hoàn toàn miễn phí. Nhiều ngôi sao nhạc rock nổi tiếng cùng dàn nhạc giao hưởng St.Petersburg, những điệu múa ba lê và các nghệ sĩ cổ điển cùng lúc biểu diễn trên những sân khấu khác nhau trong mỗi khu phố… 

– Oh, hay quá! Trước đây có lần tao ghé St. Petersburg nhằm lễ Đêm Trắng, người đông như kiến cỏ, chen chúc chau phát ngộp luôn, nhưng tao chỉ thấy được sinh hoạt trên thành phố còn có những chương trình nghệ thuật dưới nước và trên dòng sông Neva nữa, nhưng tao chưa được xem. 

Thuyền phó cao hứng kể tôi nghe các cuộc đua thuyền chèo, thuyền máy và các kịch sĩ diễn lại chuyện “Cánh Bưồm Đỏ Thắm” được tổ chức vào tháng sáu hàng năm, nhân dịp ngày tốt nghiệp phổ thông trung học nhằm đánh dấu bước ngoặc mới trong cuộc đời của các em học sinh, để cho các em tự tin bước vào đời sống sinh viên. Lễ hội còn diễn lại một cuộc chiến cướp biển bằng sự xuất hiện của một con tàu lớn và những cánh buồm cao màu đỏ tươi trông rất là ngoạn mục. Với một thủy thủ trẻ trung, kiên cường vượt qua sóng gió để đến đón cô gái Assol xinh đẹp… Coi như mơ ước suốt thời kỳ thơ ấu của Assol theo đuổi đã hoàn thành. 

Chuyện Cánh Buồm Đỏ tôi đã xem phim và nghe nói nhiều rồi, nhưng vẫn thích nghe người Nga kể lại trong đêm trắng hơn là người nước khác. Cuối cùng có vài tiết mục nghệ thuật do các diễn viên nổi tiếng của nước Nga và bế mạc chương trình bằng đợt bắn pháo bông rực rở diễn ra. Hàng triệu tia pháo hoa chóp sáng trên bầu trời thành phố, một chiếc thuyền buồm màu đỏ hiện ra trên sông Neva trong ánh sáng thiên nhiên đầy lãng mạn, kì ảo của đêm trắng trên sông Neva như muốn để lại trong lòng người ta một ấn tượng khó quên. Tôi day qua nói với thuyền phó: 

– Theo tao ngoại trừ những thành phố trong vùng của những ngày hè không tối ra thì vui tươi, nhộn nhịp không thành phố lớn nào ở châu Âu có thể đem ra so sánh với St. Petersburg! 

– Nhưng ngoài những cái hay, cái đẹp của nước Nga cũng còn có những cái dã man phải không? 

Thuyền phó nhìn tôi cười cười như chờ xem thái độ của tôi. Trong những ngày thường, lúc ngồi uống bia chơi, tôi hay nói về sự tù tội, giết người dã man của người cộng sản trên thế giới này, cho nên trong lúc cao hứng thuyền phó muốn thăm dò ý nghĩ của tôi chăng? Có lẽ trước kia tôi thường đi đi lại lại thành phố St. Petersburg, tiếp súc nhiều người Việt sống trong thời Cộng Sản loi nhoi lóc nhóc trên nhiều đường phố. Tôi cũng có đọc và tìm tòi biết được chút ít lịch sử, văn hoá nước Nga. Sau này làm việc chung với người Nga trên đất nước tự do, cho nên những ý nghĩ về đất nước, con người Nga trong đầu tôi lúc nào cũng ầm ĩ. Tôi đáp liền: 

– Nói dã man thì có hơi quá, ở đây tao nói một chút khía cạnh của lịch sử, văn hoá mà thôi. Thí dụ những cái tiêu cực như tượng đài vinh danh hay những công trình kiến trúc đồ sộ có tính tuyên truyền của thời Sô Viết, nói gì thì nói, nhưng dù sao nó cũng là những di tích lịch sử. Từ bây giờ con người ta bắt đầu đánh giá lại hết, tao nghĩ cho tới ngàn đời sau cũng mang tiếng như vậy thôi. 

Thuyền phó ngạc nhiên day qua hỏi: 

– Oh, mang tiếng gì? 

– Như con kinh đào Biển Trắng (Belomorkanal) ở bắc Băng Dương nối liền từ Biển Trắng ra biển Baltic, người ta hổng cần biết nó làm cho kinh tế vùng Biển Trắng của nước Nga có khá lên không. Nhưng chắc chắn người ta sẽ nhớ mãi con kinh làm bằng công sức lao động cưỡng bức trên hai trăm ngàn tù nhân thời Cộng Sản Nga, với chừng đó con người, sau khi khai thông được con kinh thì những người tù bị chết cũng trên dưới trăm ngàn người… 

– Nhưng nước nào cũng vậy, xây dựng những công trình lớn, cũng cần  có nhiều người góp sức, dĩ nhiên là có tổn thất rồi. 

– Ok, tao đồng ý với mày là cần nhiều người góp sức và chịu sự tổn thất, nhưng mày cũng cần nên biết, một bên tự nguyện góp sức có hợp đồng và một bên cưỡng bức người ta lao động, hai cách làm nhìn thì giống nhau, nhưng về mặt tinh thần thì khác. 

– Khác sao? 

Cái thằng trông mặt có vẻ thông minh vậy mà hổng hiểu những gì tôi nói, làm tôi phải thêm một phen giải thích: 

 –  Thí dụ như khách du lịch đi trên Great Wall of China (Vạn Lý Trường Thành) ngoài sự chiêm ngưỡng bức tường dài ra họ còn nghĩ tới mỗi viên gạch là một xác chết, tức thì khách du lịch chấp tay cầu nguyện, dù cho kiến trúc tường thành đó có tinh vi, kiên cố bao nhiêu đi nữa thì người ta cũng nhớ tới vị hoàng đế tàn bạo thuở đó là… 

Nói tới đây tôi bí vì hổng biết tên vị hoàng đế Tần Thủy Hoàng tiếng anh gọi là gì và thấy thuyền phó cũng hứng thú và chú ý lắng nghe. Tôi bèn móc điện thoại trong túi ra, mở google dịch, bấm tìm tên Tần Thủy Hoàng, máy dịch ra tiếng anh là Qin Shi Huang. Tôi đưa điện thoại qua cho thuyền phó xem, nó lắc đầu nói: 

– Tui hổng biết tên vị hoàng đế này. 

– Mày có nghe Great Wall of China không? 

– Có, tui đó đọc báo du lịch. 

– Chính ông hoàng đế Qin Shi Huang này bắt dân nô lệ Trung Quốc xây lên đó. 

Tôi đút điện thoại vô túi áo và nói tiếp: 

– Theo tao thì ngàn năm sau, du khách Nga hoặc du khách các nước khác đi tàu trên con kinh đào Belomorkanal thì họ cũng sẽ nghĩ tới hàng trăm ngàn người tù cưỡng bức đã chết tức tưởi trong lúc đào kinh bị đói vì thiếu ăn, bị lạnh không đủ áo ấm và bịnh đau không thuốc men, không bác sĩ, y tá săn sóc chữa trị. Hễ người tù nào chống đối hặc làm hổng nổi liền bị bắn tại chỗ thì người ta sẽ chấp tay cầu nguyện và nhớ tới lãnh đạo nước Nga tàn bạo thuở đó là đảng cộng sản do ông Lenin cầm đầu. 

Thuyền phó ừ hử và day ngang đưa lon bia ra cụng, nó ngước cổ uống một hớp và tôi cũng làm theo. Có lẽ nghe chuyện “dã man” làm thằng nhỏ uống ngụm bia bị đắng rồi nên mới đứng im lặng? Chúng tôi không nói thêm gì chỉ đứng nhìn vào dãi đất liền, bóng tối mỗi lúc mỗi đen, trên nền trời có những vì sao xuất hiện và ngọn hải đăng trong dãi đất liền quét lằng sáng trên không gian. Hồi sau thuyền phó cất tiếng nói: 

– Hồi trước tới giờ tui chưa một lần bước lên bờ Thuỵ Điển.

– Đan mạch, Na Uy, Phần Lan mày lên chưa? 

– Có vài lần lên bờ mua sắm rồi trở lại tàu, nên tui không hình dung ra con người xã hội những nước đó ra làm sao. 

– Theo tao thì Scandinavia là một nhóm quốc gia văn minh, nhân bản có những nhà nước thông minh, những xã hội giàu có, trình độ giáo dục và chăm sóc sức khỏe dân chúng rất tốt.

– Tui có đọc báo mới biết thủ đô Stokholm đẹp giống như thành phố Venezia. 

– Giống chỗ nào?

– Có rất nhiều nước.

– Giống nhau tại vì có nhiều nước thôi sao?

– Ừ, thì thành phố cổ, nhà cửa cũ kỹ…

– Tao cũng không hiểu sao mấy người viết báo du lịch hay so sánh những thành phố đẹp khác với Venezia. Thật ra nước ở Venezia hổng được xanh trong như nước biển Stockholm và xe cộ bị cấm chạy trong thành phố kể cả xe đạp, du khách cuốc bộ hoặc đi xuồng gondola, tàu đò hoặc tắc-xi-nước và sinh hoạt đâu có rầm rộ như ở Stockholm. Đi trong phố Venezia tao có cảm giác như đi trên một sàn nước cũ kỹ, khổng lồ làm bằng xi măng cốt sắt, lót đá gạch và tưởng chừng nó có thể bị xụp đổ xuống hoặc bị nước ngập lên bất cứ lúc nào.

– Ông tới Stockholm nhiều lắm không?

– Mấy năm trước tao thường đi đi lại lại thành phố này, tàu tới buổi sáng thì tao lên bờ buổi trưa, tàu tới buổi chiều là tao lên bờ chơi buổi tối, những đêm trắng có khi tao thức suốt đêm.

– Chắc nó có gì hấp dẫn lắm mới làm ông thích.

– Tao cũng hổng biết nói sao nữa, nhưng tao nhớ nó gây ấn tượng trong tao rất nhẹ nhàng.

– Nhẹ sao?

– Tao còn nhớ lần đầu tao tò mò muốn biết đến Stockholm vì hai câu thành ngữ:  ‘Thành phố lớn mà nhỏ nhất thế giới’ và cũng có câu: ‘Thị trấn nhỏ mà lớn nhất thế giới’.

– Oh, lạ vậy.

– Ừa lạ lắm mà cũng đẹp lắm. Stockholm là một thành phố nối liền đảo này qua đảo nọ bằng những chiếc cầu lớn và dài. Các tòa nhà trong phố có từ thế kỷ mười sáu, mười bảy nằm chung với những toà nhà mới rất hiện đại. Đặc biệt có nhà thờ Riddarholmen, một tu viện dòng Phanxicô được xây dựng vào thế kỷ mười hai. Đường xe điện ngầm của thành phố được du khách biết đến như là phòng trưng bày nghệ thuật dài nhất thế giới, phần lớn các nhà ga được trang trí bằng những bức tranh và những tác phẩm điêu khắc trạm trổ tinh vi. Stockholm là trung tâm văn hóa của Thụy Điển; nhiều hội văn học và học viện khoa học có từ thế kỷ mười tám. Stockholm cũng là thành phố được khách du lịch ghé thăm nhiều thứ hai trong các nước Bắc Âu. Ông Alfred Nobel là nhà hóa học người Thụy Điển, sinh ra tại Stockholm, sáng lập giải Nobel cũng đáng lắm, vì ngoài danh tiếng  của ông ra, có lẽ đi tới đâu cũng thấy mẫu hình nghệ thuật nên Stockholm được chọn làm nơi để trao giải Nobel.  

– Ông biết nhiều quá.

– Có một điều đặc biệt mà tao thích là những con người trong các thành phố của Scandinavia như Stockholm, Helsinki, Cophenhagen vào mùa hè họ rất đẹp. Nhứt là ban đêm trời không tối, họ đi ngoài đường hoặc ra vào nhà ga lúc lưa thưa cũng như khi đông đúc, họ không ồn ào giữa không gian xam xám, nâu nâu và đùn đục. Trong ánh sáng nhẹ nhàng đã tạo ra một bầu không khí thanh tao đầy lãng mạn làm cho con người họ tao nhã rất là tự nhiên, trông họ đẹp như thần tiên, thoạt nhìn tưởng chừng như họ bước ra từ trong một tạp chí người mẫu thời trang.

Thuyền phó hớp hớp bia cuối cùng rồi liệng lon xuống biển.

Day ngang nói:- Nghe ông nói tui thấy thích vô cùng, có thời gian tui lên bờ xem cho biết.

Tôi cũng hớp một hớp bia và quay ra hỏi nó:

– Mày uống nữa không?

– Không tui đi ngủ, khuya nay tui còn trực.

Nói xong nó chào tôi rồi đi vô trong mui tàu. Tôi cầm lon bia vô phòng và bỏ lon vô thùng rác, móc điện thoại để lên bàn. Tắm rửa sạch sẻ, thay đồ ngủ xong lên giường nằm. Chợt nhớ tới mấy tin nhắn và email, tôi bèn chồm qua bàn lấy điện thoại mở ra nằm đọc. Đọc hết tin nhắn chưa và tôi cũng hổng biết buông điện thoại mà ngủ đi hồi lúc nào không hay. Tới khi nghe tiếng máy tàu giảm nhẹ tôi thức dậy,  nghe chiếc điện thoại còn cồm cộm dưới lưng, tôi ngồi dậy lấy điện thoại, tiện tay bấm coi giờ, mới hơn bốn giờ sáng, nghe tiếng máy tàu tăng lên mới biết tàu đã đón hoa tiêu. Tôi nằm xuống đọc lại mấy tin nhắn, dạo này những tin nhắn thường hỏi thăm sức khoẻ và nói về chuyện corona. Có chị bạn là bác sĩ hay gởi thông tin về corona và dạy tôi cách đề phòng dịch bệnh và bạn bè hỏi những nơi tôi tới có nhiều corona không?

Phải công nhận, ngủ trong cái không mát mẻ, mặc dù ngủ ít, nhưng khi thức dậy khoẻ khoắn thể chất lẫn tinh thần. Tôi không ngủ lại được nữa, ngồi dậy bước ra boong định làm vài động tác thể dục, chợt thấy trên boong ướt sũng.

– Ồ! Mưa đêm?

Mặt trời cũng vừa ló dạng những hòn đảo và dãi đất liền đã hiện rõ trên làng nước xanh, mặt nước lóng lánh rực rỡ và một thứ ánh sáng mơ màng chỉ đọng giữa biển trong khoảnh khắc nó thay đổi qua sáng trong trẻo như hơi thở nhẹ nhàng ngập tràn biển khơi. Thật kỳ diệu, không phải chỉ nhìn thấy bằng mắt mà nhìn bằng cả một tấm lòng, tôi có chút ngạc nhiên khi nhìn vô bờ, trời trong vắt dãi đất liền đậm hơn, những đám mây xám nặng nề phủ phía chưn trời vừa vén lên để lộ ra một góc trời trần trụi. Trong cái ánh sáng chan hoà một cánh buồm nhỏ xinh xắn màu trắng tươi in trên mặt nước xanh như một chấm phá. Có lẽ những người trên chiếc ghe buồm ấy cũng không ngủ hoặc có ngủ thì cũng ngủ ngắn như tôi, họ đương thức và ngồi nhìn ánh sáng thay đổi và thấy thời gian chầm chậm trôi theo ánh mặt trời từ từ chiếu sáng. Chưa bao giờ tôi thấy không gian trong sạch đến đỗi không tin rằng nó có thật trên trần gian. Tôi chắc chắn là khắp vùng biển này chưa bị nhiễm dịch corona mà người ta gọi là dịch Vũ Hán. 

Dronten 1-5-2021

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 May 2026

Với một ý nghĩ rất cổ lỗ tôi vẫn cho rằng trẻ em ngày nay, thế hệ người Việt sống ở hải ngoại không có được cái thú ăn quà vặt và nghe tiếng rao hàng ở quê nhà như tôi thời thơ ấu. Cách đây vài  năm, cháu ngoại tôi có dịp về thăm Việt Nam, một buổi trưa nó hỏi mẹ:

– Bà này làm gì lầm lỗi mà trưa nào bà cũng đi quanh xóm kêu lớn để xin lỗi mọi người vậy, Má?

Mẹ nó lắng nghe mới biết đó là tiếng rao hàng lanh lảnh trưa trưa trong xóm: “Ai ăn cherry?” Con bé không rành tiếng Việt, nghe như tiếng xin lỗi “I am sorry! I am sorry!”

Cái thời xưa, chuyện mua bán, theo cung và cầu, đã có những dịch vụ đưa đến tận nhà, không phải đi xa, trước hết ngay cả những món hàng như gạo, vải mà ngày nay chúng ta phải cất công đến cửa hàng, thì cái thời thô sơ đó, ở các làng mạc và các tỉnh nhỏ những người buôn bán vải vóc hay gạo thóc đưa đến tận nhà qua những lời rao mời hàng. Sinh ra trong một gia đình công chức, tôi còn nhớ mẹ tôi thường đong gạo từ những cô hàng xáo (1) và mua những thước vải màu những bà bán vải, thường mang bên mình một “tay nải” nặng mớ vải đủ loại và tay cầm cây thước gỗ dài, đi từ nhà này sang nhà khác. Rồi có nải chuối, con gà, mớ rau, trái bí … cũng phải mang đi rao bán. Ngay có những món hàng nặng nề cũng có người mang đi mời từng nhà. Thỉnh thoảng bạn thấy một người mang hai cây tre, hay đã làm thành sản phẩm như chiếc giường hay chiếc thang, là những món hàng ở thôn quê mang lên phố. Người nông dân cần tiền, ra vườn đốn hai cây tre tốt, mang đi bán để lấy tiền đong gạo. Kiểu mua bán thô sơ này không cần mở cửa hàng, mà cũng chẳng cần biết đến chuyện thuế má. Ngày còn nhỏ tôi đã thấy nhiều nông dân vác hai cây tre, đi suốt ngày mà không ai mua, gần tối chiều mệt mỏi, đói khát, ông ghé một nhà nào đó, bán rẻ gần như cho không. Từ làng lên thành phố đã hằng chục cây số rồi, lại phải đi quanh trong thành phố, thật quá vất vả. Còn thức ăn thì từ sáng sớm đến lúc tối khuya, dù mưa hay nắng, mùa hạ nắng gắt hay mùa đông lạnh giá đều có thức ăn rao bán tận cửa nhà. Tôi không có thời thơ ấu ở Hà Nội hay miền Bắc, nhưng tôi còn nhớ mãi tiếng gõ “sực tắc” của xe mì ông già người Tàu, trong phim “Kiếp Hoa” do hai cô đào Kim Chung, Kim Xuân đóng được chiếu ở Saigon vào thời điểm sau 1954. Xe mì Tàu không có tiếng rao, nhưng có tiếng gõ “nhịp ba” bằng hai thanh gỗ của đứa bé theo phụ nghề, âm thanh đi rất xa, kêu gọi bao tử của những ai muốn ăn bát mì nóng mang đến tận cửa nhà. Nhưng xe mì là chuyện của người lớn. Bọn trẻ chúng tôi thường bâu quanh xe bán kẹo kéo, mà tôi nhớ người bán phải là một ông Bắc Kỳ, không Bắc Kỳ sao lại có câu rao:”Có tiền mà để làm gì? Không mua kẹo kéo Bắc Kỳ mà ăn?”Thứ kẹo mềm và dòn này là một tảng lớn bao bọc trong mình nó đậu phụng rang, nhưng nghệ thuật của người bán dùng vải bọc lót tay, kéo …

Ở quê nhà, trên đường phố, nắng hay mưa, đêm hay ngày, lúc nào cũng vang lên tiếng rao quen thuộc của những gánh hàng rong. Điểm tâm thì có gánh bún, gánh xôi, gánh cháo, bánh mì nóng hay ông già đẩy cái xe cọc cạch bán mì, phở hay cháo huyết. Buổi trưa có gánh đậu hũ đường gừng thơm ngát, cậu bé bán kem, kẹo đậu phụng, cốm gạo hay cốm bắp gánh trong hai cái lu lớn của ông già bán cốm. Ở miền Trung còn có những gánh chè bày những chén chè nhỏ đủ loại úp trên mấy cái mẹt tre, gánh bánh bèo, bánh nậm, bánh lá, bánh bột lọc hay gánh bánh canh Nam Phổ … cho những người cần ăn bữa lỡ lúc xế chiều. Buổi tối lại những món ăn rao mời, nghe tiếng rõ ràng trong đêm vắng: bánh mì nóng, món chè đêm, kéo ra thành những đoạn dài mà vẫn còn bọc được những hạt đậu phụng ở trong. Với một cái ngắt tay nhanh tuỳ theo đoạn kẹo dài ngắn theo số tiền của “người đối diện”, khúc kẹo kéo được bọc vào một mảnh giấy báo trao cho người mua. Ông bán hàng còn dụ bọn khách hàng nhỏ tuổi bằng trò chơi quây số may rủi, nhưng cuối cùng thanh kẹo kéo dài ngắn cũng chẳng cách biệt bao nhiêu, nhưng cũng đã đem lại chút vui mừng hay thất vọng nho nhỏ chốc lát của một thời thơ ấu. Tôi cũng nghe những người bạn di cư nói về tiếng rao “hàn xôi phá sang” của ông Tàu già bán lạc rang mà cũng không hiểu mấy tiếng rao nửa Việt nửa Tàu này nghĩa là gì? Rồi món mía hấp, bún riêu, bánh cuốn, món chè “Lục tào Xá”, gánh phở, và xe kẹo, thúng hột vịt lộn hay gánh phở lắc lư theo ngọn đèn dầu tù mù ngang trước nhà. Những ngày vào Nam, có ai còn nhớ tiếng rao ngọt ngào như món ăn trong gánh hàng rong: “Ai ăn chè đậu xanh, nước dừa, đường cát hôn?” “Ai ăn vịt lộn không”, “Bắp luộc, bắp nướng đây!” “Bánh mì nóng giòn mới ra lò … “, “Bánh bò bánh tiêu”, “Bánh gai, bánh giò đê” “Báo mới đây … “

Có phải chăng con người Việt Nam khá dư dả, sung túc nên ngoài chuyện “cơm ngày ba bữa” còn có thể có tiền ăn chút quà róng? Sự thật là người dân Việt đều thích ăn quà giữa những bữa cơm, càng nghèo càng bình dân lại càng ăn quà, vì vậy hàng quà chỉ  ống nhờ những xóm bình dân hơn là trong những khu phố sang trọng. Ít tiền thì củ khoai, khúc mía, trái cóc, miếng ổi … , dư dả thì bát phở, tô mì, tạo nên thứ “văn hoá” … ăn quà vặt.

Có bao nhiêu thức ăn, bao nhiêu món hàng được rao bán, thật khó mà lên một danh sách cho đầy đủ: từ cây kem cho đến bát phở. Nhưng không phải tất cả tiếng rao hàng đều ngọt ngào, mềm mại, âm thanh trầm bổng như của cô bán chè “ … nước dừa, đường cát hôn?” hay “Ai ăn chè đậu ván!” mà có những buổi trưa bạn đang thiu thiu ngủ, có những tiếng rao như kêu thét lên”Tẩm quất! Tẩm quất!” cùng âm thanh của những miểng sắt nhỏ chạm vào nhau nghe loảng xoảng hay tiếng chuông leng keng của chiếc xe bán kem vừa đi qua. Rồi những tiếng kêu lớn của người thợ hớt tóc dạo: “Tóc đây! Hớt tóc đây!” Anh chàng mua đồ “lạc xon”:”Đồng hồ, quạt máy, ra-dô cũ bán không?” Chị mua lông gà vịt:”Ai lông gà lông vịt bán không?”, “Ve chai đây!”“Có giường nệm, bàn ghế bán không?” Vào cái thời khốn nạn của đất nước “cái gì cũng bán, cái gì cũng mua”:

“Từ tượng đồng, mộ bia, lăng miếu, Đến xác thân em bé đứng đường.”

Quê hương với những tiếng rao hàng vẫn còn đó, nhưng ngày nay, vào thời đại văn minh, những tiếng rao hàng đã thay đổi bằng máy những ca khúc “bolero” qua băng casette rồi đến CD. Tội nghiệp cho những giọng ca nổi tiếng ngày nay đi vào lòng quần chúng, trên những xe kẹo kéo, bánh bò và cả bánh giò, bánh chưng. Nhiều người bán hàng còn trang bị thêm các loại đèn nhấp nháy “hazar light”, “strobe lights” như đèn xe cảnh sát để gây thêm sự chú ý của người mua hàng. Nhiều người than phiền rằng về Việt Nam không ngủ được vì có quá nhiều tiếng động như tiếng còi xe, tiếng chó sủa, tiếng người cười nói ồn ào, pha lẫn và nhiều nhất là tiếng rao hàng, nhiều khi cho mãi tận đến khuya.

Ở trên quê hương chúng ta, những tiếng rao hàng phản ánh nếp sống của người dân nghèo khó, bình thường của những người buôn thúng, bán bưng, suốt một đời cực nhọc vì miếng cơm manh áo, nghỉ một ngày là đói một ngày. Có những gánh bún của bà mẹ đã nuôi nổi một đàn con khôn lớn, một mẹt hành, chanh, ớt cũng đủ tiền chợ trong ngày. Tôi không quên những xe bán kem, chiếc bình ga bán bong bóng hay xấp vé số của người lính miền Nam vừa ra khỏi nhà tù, nếm chút đắng cay đổi đời của cuộc sống để chờ đợi một tương lai sáng sủa hơn.

Còn người muốn ăn quà vặt, còn người muốn mua những món hàng nhỏ đưa đến tận nhà là còn có người bán, người rao hàng. Quê hương Việt Nam vẫn còn đó tiếng rao hàng, những âm thanh đầy kỷ niệm mang theo từ ngày bỏ quê hương. Có bao giờ bạn trở lại, để khuya nay bất chợt nghe một tiếng rao đêm, vẫn âm thanh ấy không khác chi thuở nào, nhưng nghe như nỗi buồn xa xuôi mang theo cả một thời ấu thơ đầy kỷ niệm. Và có nhiều phận người, suốt đời vẫn lam lũ, nhọc nhằn theo chuyện áo cơm.

(1) Người mua lúa về xay xát đem gạo bán cho người, lấy công làm lời.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 May 2026

Khoảng năm 1985, khi nhà văn Đỗ Tấn bị bạo bệnh qua đời tại Saigon, tôi là người có nhiệm vụ đi đăng cáo phó cho anh. Lúc bấy giờ trong thành phố đã đổi tên chỉ có một tờ nhật báo của chế độ mới, đó là tờ “Saigon Giải Phóng.” Sau khi xem qua bản cáo phó viết tay của tôi mang đến, chắc là thấy cái tên người chết có vẽ lạ, nhân viên toà báo trả lại tờ giấy cho tôi và nói:

“Ông này có ở trong Hội Nhà Văn không và nếu có, cho tôi xem giấy chứng nhận, tôi mới đăng được!”

Tôi đành mang tờ cáo phó ra về. Trong chế độ này tất cả những thứ như Nghệ sĩ Ưu Tú, Nghệ Sĩ Nhân Dân, Nhà Giáo Nhân Dân, thậm chí là Anh Hùng cũng phải được “Nhà Nước” phong tặng, có văn bản đàng hoàng, nói chung là Đảng và Nhà nước giành quyền ấn định danh xưng cho nhân dân, Trong chế dộ này, muốn trở thành nhả văn, nhà thơ, nghệ sĩ phải mang giấy chứng nhận có cơn dấu của đảng, duy chi có một cái giấy chứng nhận cần thiết không nghe ai nói dến là giấy chứng nhận làm người. Chẳng bù với đời sống ở hải ngoại này, ai muốn có danh xung nào tuy thích chọn lựa, không hể bị ai hạch hỏi. Một người không biết nói, biết hát, biết đàn, biết vẽ, biết làm thơ viết văn … có thể tự nhận minh là … nghệ sĩ. Một lần, tôi được giới thiệu với một vị cao niện tình cờ gặp trong quán cả phê, vị nảy nhoòi minh về phía tôi và đưa tay bắt, tự giới thiệu:

– “Tổi là nhà thơ XY/. #

Ở trong cái thành phố nhỏ “đi dăm phút đã về chốn cũ,” bằng cái lỗ mũi này cái tên nhà thơ này thật tình tôi chưa hề nghe, Nghe nói năm ngoái ông có in một tập thơ, tôi nghĩ như vậy tác phẩm, ở hải ngoại này có thể thay giấy chứng nhận của đảng, Ông cũng có tên trong tác phầm thi ca “1,000 thi sĩ ở Hoa Kỳ” mà mỗi thi sĩ tự đóng tiền, góp ấn phí, để đem về 50 tập thơ bằng tiếng Anh tặng cho bạn bè. Trong các loại danh xung, Bác Sĩ được xếp loại cao nhất, vì vậy không ai thích gọi tắt mình là Dược Sĩ, Nha Sĩ mà muốn gọi là Bác Sĩ Nha Khoa, Bác sĩ Dược Khoa, Bác Sĩ Y Khoa cho đung chữ (Doctor of Dental Surgery, Doctor of Pharmacy,) thậm chí ngành “Vision Optometry” hay Optician (chuyên viên quang học – đo mắt và cho độ làm kính) cũng dược gọi là Bác Sĩ Mắt thay vì Ophthalmologist mới được gọi là Bác Sĩ Nhãn Khoa có thể chữa hay giải phẩu các bệnh về mắt. Danh xưng Bác Sĩ phải ghi trước tên là Dr và sau là MD như “Dr. Trần Văn A, MD).”cũng như trong trường hợp “Bác Sĩ Nguyễn Văn B, MD.” Nhiều vị Bác Sĩ dung tước vị như là một danh xung ở ngôi thứ nhất, Trong nhiều chương trình quảng cáo cho các phòng mạch y khoa hay sản phụ khoa, chúng ta thường nghe nhiều vị bác sĩ thường dùng tiếng “Bác Sĩ” thay cho tiếng “Tôi” ở ngôi thứ nhất số ít như “Bác sĩ nói cho em nghe … Bác sĩ khuyên bà nên dùng …. ” Gọi bệnh nhân gọi vào chương trình hội thoại bằng “em” đã khó nghe, dùng danh xưng bác sĩ thay cho “tôi” hay “chúng tôi” là điều chỉ thấy trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại.

Trong các tiệm ăn ở gần các bệnh viện, thỉnh thoảng chúng ta thấy nhiều vị bác sĩ, y tá, hoặc nhận viên y tế, mặc đồng phục của bệnh viện ra ăn trưa, nhiều vị bác sĩ còn mang cả ống nghe trên cổ, nghề y quá bận rộn. vất vã! Danh xưng Giáo Sư nhiều người cho rằng chỉ dùng cho Giáo Sư Đại Học, nhưng thời VNCH, dạy Trung Học cũng được gọi là Giáo Sư, vì có ngạch trật là Giáo Sư Trung Học. Hiện nay người ta dùng danh xưng Giáo Sư quá nhiều, nên rất khó phân biệt là Giao Sư Trung Học (Có bằng Tủ Tài II, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội, Đại Học Sư Phạm 3 năm, hay ĐHSP Cấp Tốc 1 năm hay GS Đại Học có bằng Thạc Sĩ. Tiến Sĩ trở lên, có vài ngành chỉ cần có Cử Nhân.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều nghề được quý trọng và nhân gian thường gọi bằng Thầy như Thầy Địa, Thầy Bói, Thầy Tử Vi, Thầy Bói Dịch, Thầy Tu, Thầy Tụng, Thầy Cúng, Thầy Chùa, Thầy Dùi. Thầy Dạy Nhày … nhưng nếu diễn nghĩa chữ “Thầy” ra “Giiáo Sư” như một vài trường hợp chúng ta thường gặp trên báo chí như Giáo Sư Khiêu Vũ, Giáo Sư Phong Thủy, Giáo Sư Cố Vấn, Giảo Sư Bói Toán nghe khá chướng tai. Trong các chương trinh talk show trên TV, chúng ta thường thấy cáe danh xung có vẽ kiêm nhiệm: “Giáo Sư-Nhà Văn.” Hai danh xưng này cái gì quý hay lớn hơn cái kia. Nếu chỉ là một chương trình hội thoại về văn chương, thi nghề giáo sư dạy toán ở trung học không cần thiết phải đưa lên màn ảnh TV hay nhờ xướng ngôn viên giới thiệu về mình. Một bài biên khảo về y học được ký dưới tên một bác sĩ là đúng, nhưng một bài thơ hay một truyện ngắn, mà tác giả cố đem vào trước tên mình cái danh xưng Giáo Sư hay Bác Sĩ là không cần thiết. Danh từ Viện trong tiếng Hán Việt dùng để chỉ một nơi có tường thành bao bọc như Tu Viện. Viện Hán Học, Kỹ Viện, nhưng ngày nay người ta lạm dụng tiếng Viện dành cho một tiệm uốn tóc chỉ có vài ba người thợ, gọi là Thẩm Mỹ Viện hay Viện Uốn Tóc thật không ổn. Mong rằng rồi đây sẽ không bao giờ có những Viện Sữa Xe Hơi, Viện Dry Clean, Viện Food To Go … ra đời.

Về các cấp bậc trong quân đội trước năm 1975 ở miền Nam, nhiều câu nói khôi hài cho rằng, chúng ta tan hàng nhưng phòng thăng thưởng nhân viên là vẫn còn tồn tại. Bằng chứng là nhiều vị vào lúc tan hàng chỉ mang cấp bậc Đại Uý, nay ra hải ngoại không còn quân đội dã 38 năm mà nay được gọi là Thiếu tá. Nhiều người chỉ có cấp hậc Trung Tá ngày trước, được thuộc cấp hay bạn bè nịnh hót gọi Đại Tá, lâu ngày nghe quên tai, thay vì một lời cải chính, thì lại “im lặng là nhận lời,” đôi khi tưởng mình là Đại Tá thật. Nhiều vị lại quả “khiêm nhường” chỉ mới Đai Uý nhưng cho mình xứng đáng mang cấp bậc Thiếu tá trong các buổi lễ lược hay tự xưng, với lý do cũng giống nhau là đã có giấy tờ (ai chứng minh) vào những ngày cuối tháng 4-1975 nhưng “chua kịp gắn lon,” cho nên bây giờ tôi “khiêm tốn” tự gắn cấp bậc mới cho mình. Đó là chưa nói đến chuyện nhiều vị vẫn thích mặc đồng phục, mang cấp bậc Thiếu Tướng, Đại tá của một đơn vị không có trong tổ chức của Quản Đội Mỹ cũng như Quân Đội VNCH, kể cả gắn sao lên xe hơi của mình, Đây thật sự là xử tự do! Dù là một Phật Từ, thú nhận tôi cũng chưa rành về các danh xưng của Quý Thầy, nên hồi ở TTHL Quang Trung, tôi bị ông Thượng Toạ Trưởng Phòng Tuyên Uý Phật Giáo “cự” vì nhân viên biên tập đã ghi nhầm danh vị của ông là Đại Đức thay vì đúng là Thượng Toạ, Cách dây gần 10 năm, khi viết loạt bải  Chân Dung Một H.O.” cũng vì tưởng lầm Thượng Toạ là danh vị cao nhất (ngồi trên) tôi đã hị Hòa Thượng Hạnh Đạo “mắng yêu:” – “Ông Huy Phương, ông hạ chức của Thầy rồi!”

Nhiều danh xưng thiếu tự trọng và thiếu đức khiêm cung mà chúng ta vẫn thường nghc quảng cáo như “Đệ Nhất MC,” hay “Lưong Y Nguyễn Văn X., chuyên chẩn bệnh, bốc thuốc” … Người đi hát có thể gọi là ca sĩ, nhưng không thể tùy tiện nhận mình là danh ca. Ở tiệm bán đồ lưu niệm và khắc chữ “Things Remembered” công khắc phải đếm, tính từng chữ một. Ở bia mộ khi chúng ta qua đời, cũng vậy!

Y Vân – Lost sound of Saigon

baotreonline.com

Ian Bùi

 13th, May 2026

Post by Sơn râu 28 May 2026

Y Vân: The Lost Sounds of Saigon là một cuốn phim tài liệu do cháu ngoại của cố nhạc sĩ, Khoa Hà, thực hiện và làm đồng đạo diễn cùng với Victor Velle. Phát hành vào cuối năm 2025, phim ra mắt khán giả lần đầu tại DOC NYC – liên hoan phim tài liệu tại thành phố New York, và ngay lập tức được lọt vào Top 10 tại đây. “Lost sounds” là một bộ phim đáng xem, và nếu được, nên xem trên màn ảnh lớn.

Khoa Hà đã bỏ ra gần mười năm để tìm kiếm tất cả mọi thứ có liên quan đến nhạc sĩ Y Vân. Nào là những tập nhạc được in trước 1975 cho đến các dĩa nhựa 45 và 33 tua. Là một người Mỹ gốc Việt thuộc thế hệ trẻ, làm việc chủ yếu trong lĩnh vực thiết kế đồ hoạ (graphic design), lúc ban đầu cô hoàn toàn không có ý định làm phim mà đơn thuần chỉ là sưu tầm để bảo tồn di sản âm nhạc của ông ngoại mình. Cách đây khoảng tám năm, cô gặp nhà làm phim tài liệu Douglas Emerson, và ý tưởng làm phim bắt đầu bén rễ mặc dù cô không biết gì nhiều về ngành này. Nhưng cũng nhờ là người “ngoại đạo” nên cuốn phim đầu tay của cô đã vượt ra ngoài lối làm phim tài liệu quy ước, tạo cho “Lost Sounds” một sắc thái riêng biệt và độc đáo, gây sự chú ý trong giới làm phim chuyên nghiệp.

Poster quảng cáo phim tại DOC NYC, một trong những liên hoan phim tài liệu quan trọng nhất trên nước Mỹ.

Ngay từ phút mở màn, bộ phim đã gây ấn tượng mạnh mẽ với cách dùng graphic design theo kiểu Sài Gòn xưa để giới thiệu đạo diễn, nhà sản xuất v.v. Cùng lúc, âm thanh nền là một bản kích động nhạc của Y Vân. Ngay lập tức ta có cảm giác mình sắp sửa được bước vào một cỗ máy thời gian đi ngược về những năm 1960-70 của miền Nam Việt Nam. Màn ảnh lớn với âm thanh nổi càng làm tăng sự kích thích.

Một trong những hình ảnh minh hoạ dùng trong phim. (Pink Buffalo Films)

Trong phim, Khoa Hà xuất hiện như một người kể chuyện. Một câu chuyện về bản thân, đi tìm một điều gì đã mất chứ không phải điều mình đã biết. Hành trình của cô bắt đầu từ những băng cassette cũ, dần dần đưa tới nhiều khám phá ngoài sự tiên liệu lúc ban đầu mà có lẽ ta không nên kể ra nơi đây, để dành sự bất ngờ ấy cho người xem thì hay hơn. Song một điều chắc chắn là sau khi xem phim đa số khán giả sẽ không cảm thấy uổng phí 93 phút cuộc đời.

Truyện phim được chia làm bốn chương với nhan đề riêng biệt, dễ cho ta theo dõi và nắm bắt nội dung:

– Di Sản (Inheritance);

– Chia Cắt (Separation);

– Trở Về (Return);

– Hoà Giải (Reconciliation).

Nó kể lại hành trình của một người trẻ truy lùng nguồn cội qua việc thừa hưởng một di sản mơ hồ, trải qua những đứt gãy văn hoá và lịch sử, trở về quê mẹ để tìm hiểu thêm và cuối cùng tìm được mối dây tinh thần kết nối hai thế hệ và hai nền văn hoá qua âm nhạc. Câu chuyện tuy đơn giản nhưng đầy những bất ngờ thú vị.

Hai mẹ con Khoa Hà trong một chuyến săn lùng dĩa nhạc. (Pink Buffalo Films)

Tuy đây không phải là một cuốn phim về tiểu sử nhạc sĩ Y Vân – ai cũng có thể lên internet tìm đọc về ông nếu muốn, nhưng qua các cuộc phỏng vấn với những người thân như chị em hay vợ ông, chúng ta sẽ được biết thêm về một con người, đúng hơn là một nhân cách, mà có lẽ công chúng xưa nay ít ai biết tới. Đối với người viết, đây có lẽ là phát hiện thú vị nhất sau khi xem phim, vì trước giờ mình chỉ nghĩ đến Y Vân như một nhạc sĩ chứ không như một người cha, người chồng. Giờ đây mỗi khi nghe đến bài “Sài Gòn Đẹp Lắm” mình sẽ nghĩ khác về nó.

Cố phu nhân của nhạc sĩ Y Vân, qua đời không lâu sau khi quay màn phỏng vấn này. (Pink Buffalo Films)

Một trong những điểm son của bộ phim này là phần kỹ thuật hình ảnh – cinematography, được thực hiện vô cùng xuất sắc bởi Victor Velle, người đồng đạo diễn của nhân vật chính là Khoa Hà. Cách sử dụng ánh sáng và đặt góc quay của Victor Velle rất sáng tạo, nhất là những cảnh đường phố của Sài Gòn và Hà Nội hiện đại, tương phản rõ rệt với các hình ảnh vẽ tay mô tả một miền Nam thời xa xưa. Phong cách dựng phim (editing) của Benjamin Shearn cũng đón góp rất nhiều, đưa “Lost Sounds” lên tầm một tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao.

Một cảnh quay phim ở Nha Trang. (Pink Buffalo Films)

Phim hiện đang lưu diễn đến một số liên hoan phim (LHP) trên nước Mỹ. Tại LHP San Luis Obispo ở Cali mới gần đây, “Lost Sounds” đã được khán giả bầu chọn là phim tài liệu hay nhất (Best Documentary), đồng thời là phim hay nhất (Best of Fest). Khán giả vùng Texas có thể đón xem phim này tại LHP HAAPIFEST 2026 ở Houston. Theo lịch trình thì “Lost Sounds” sẽ là bộ phim chủ lực, được trình chiếu vào đêm cuối cùng của LHP vào ngày thứ Bảy, June 7. Muốn biết thêm chi tiết về giờ và rạp chiếu, bạn có thể vào website của HAAPIFEST. Phim hay, rất đáng xem!

Nhà sản xuất Justin Tuấn Smith (phải) trả lời câu hỏi của khán giả sau buổi trình chiếu cuối cùng tại LHP San Diego Asian Film Festival. (IANBUI/TRẺ)

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 28 May 2026

Hai ngày sau cái đêm bóng gương lồng bóng trà mi chập chùng, tôi bị sốt và đái buốt không chiu nổi. Tôi dạp xe đi tìm Hoàng. Hắn cuời ha hà: “Mày mắc bệnh lậu rồi. Bài học làm người đấy.”

Tôi muốn gầm lên, muốn tống một quả đấm thiên lôi sấm sét vào bộ mặt đểu cáng. Nhưng trời ơi, tôi đang cần hắn, tôi phải xuống nước.

Hắn lên mặt dạy đời như người cha dạy đứa con lầm lỗi:

“Đây là dịp để mày sáng mất ra. Đàn bà là loài La Sát, nó ăn tươi nuốt sống những thằng khờ khạo như mày.”

“Hoàng ơi, đừng nói nữa.” Tôi rên lên bằng tất cả nổi niềm thống khổ.

Hắn nói: “Hôm qua, má tao gọi y tá đến nhà chích thuốc cho Tuyết Liên. Tao biết trước sau gì mày cũng tìm tao.”

“Khi ngủ với tao, Tuyết Liên chưa biết nó bệnh?”

“Lúc đó thì chưa. Nhưng thằng nào chơi bời. cũng phải biết rằng con đĩ nào cũng mang một ổ vi trùng. Đã là dân chơi thì nhằm nhò gì ba thú lẻ tẽ đó. Vào trận mạc là chấp nhận thương đau.”

Hoàng dẫn tôi dến nhà một chị y tá, giới thiệu rồi bỏ đi. Khốn nạn! Bệnh kín của đàn ông, lại dưa cho đàn bà điểu trị. Tôi xấu hổ, không đám ngó thẳng vào chị.

Rất dịu dàng, chị hỏi: “Em có sốt không?”

“Có.”

“Đi tiểu có buốt không?”

“Có.”

“Đầu dương vật có mủ không?”

“Có.”

“Mũ trắng hay vàng?”

“Trắng.”

“Trắng là bệnh mới phát, chỉ vài liểu trụ sinh là khỏi ngay, nhung phải kiên nhẫn tiêm cà tuần mới bảo đảm dứt noc.”

Khi trả tiền thuốc, tôi xót số tiền anh Hòa đã cho. Nếu anh biết rằng một phần tiền được dùng vào việc trị bệnh lậu, thì sao? Tôi không xứng đáng với lòng tốt của anh. Trên đường về, tôi gằm mặt xuống. Trời đất mênh mông, vầng dương sáng tỏ. Hình như thiên hạ ai cũng nhìn tôi bằng cặp mắt tò mò. Tôi muốn lẩn trốn, thu mình trong hang như con thú nằm liếm vết thương đau nhức. Tôi lánh mặt những người quen. Tôi sợ những con mắt nhìn vào tôi. Tôi sợ dưới ánh sáng mặt trời, những con mắt ấy phát hiện ra tôi đang bị lậu. Bị bệnh gì, cũng có thể thố lộ. Bị lậu phải giấu giếm, âm thầm ôm lấy đau khổ một mình. Chứng bệnh quái ác này, nó tố cáo một hành động dâm dục bất chính. Nó lột mặt nạ những người đường hoàng đạo đức, phơi trần bộ mặt ghẻ lở xấu xa. Tôi không muốn ai nhìn thấy chân tướng nhơ nhuốc của tôi. Mỗi ngày, tôi đến nhà chị y tá chích thuốc. Ghé lại xe bánh mì trên đường Phước Hải, mua hai ổ bánh cho hai bữa sáng chiều.

Tôi về nằm rúc trong căn nhà lá. Những chiều chạng vạng, tôi hay đứng sau nhà nhìn ra nghĩa địa. Yên tâm trước những nấm mồ câm nín. Không còn quá sợ ma như lúc trước. Tôi là con ma bệnh. thì còn sợ gì ma nữa. Chỉ sợ người đời nhìn rõ bóng dáng tôi. Đêm, tôi không thắp đèn. Tự dung không thích ánh sáng. Khí âm tràn ngập, bóng tối âm u là thế giới của ma quỷ. Tôi sắp biến thành con ma ngoài nghĩa địa.

Giữa khuya tôi hay đạp xe ra bãi biển Nha Trang. Nằm nghe sóng và ngủ quên ở đó. Tinh thần sa sút cùng cực.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 28 May 2026

Một phần Ty Bưu điện còn dùng được, bên kia đã cháy và đổ sụp. Từng hàng người nối đuôi nhau chờ đợi trước ghi sê. Đến ghi sê 15 Graber xuất trình mảnh giấy ghi mấy chữ bằng bút chì.

– Ông có giấy tờ gì không?

Graber lấy sổ quân bạ và giấy nghỉ phép đưa qua lưới sắt. Người công chức xem xét rất lâu.

– Cái gì thế hở ông? Tin tức chứ?

Ông ta không trả lời, đứng dậy đi vào văn phòng phía trong. Graber đứng nhìn giấy tờ của mình để đấy mà không hiểu.

Ông ta trở lại với một gói đồ, so sánh địa chỉ ghi trên với tên trong giấy phép một lần nữa rồi đẩy gói đồ về phía Graber.

– Ông ký vào đây.

Y nhận ra chữ viết của mẹ mình trên gói đồ. Một gói gửi ra mặt trận nhưng được trả lại. Địa chỉ người gởi còn ở đường Haken. Y nhận gói đồ và ký giải nhiệm cho nhân viên bưu điện.

– Tất cả có thế thôi à ông?

Người công chức nheo mắt nhìn lên:

– Còn thì chúng tôi giữ lại làm gì?

– Không phải thế, tôi tưởng rằng ông có địa chỉ của cha mẹ tôi.

– Không phải công việc của chúng tôi, ông lên lầu nhất hỏi phòng thay đổi địa chỉ.

Graber lên lầu. Lầu này chỉ có một phần che mái, nhìn phía trong thấy hở trời, một đám mầy chen nhau với tia nắng. Người nữ thư ký trả lời:

– Chúng tôi không có địa chỉ mới. Nếu không chúng tôi đã không phải gởi đến đường Haken. Ông có thể hỏi người bưu tá quận nhà.

– Ông ta ở đâu?

Cô ta xem đồng hồ.

– Chắc đi phát thư. Chiều nay ông trở lại vào lúc bốn giờ thì gặp. Giờ ấy đang lựa thư.

– Ông ta có thể biết địa chỉ mà ở đây không ai biết chăng?

– Không biết được. Vì chính chúng tôi cho biết địa chỉ. Nhưng nhiều người muốn hỏi cho chắc, họ thích như vậy biết làm sao!

Graber cầm gói đồ đi xuống cầu thang. Y nhìn ngày gởi đi. Cách đây đã ba tuần lễ. Gởi tới mặt trận cũng mất nhiều thời giờ. Trái lại lúc trả về lại rất mau. Y ngồi vào một chỗ, gỡ giấy bọc ngoài. Trong có một bánh ngọt, một đôi bít tất, một gói thuốc và một bức thư của mẹ.

Trong thư không nói gì đến tản cư và bom đạn. Y cất thư vào túi, đợi qua cơn xúc động, rồi đi xuống phố. Tuy vẫn tự nhủ rằng bức thư thứ hai chẳng bao lâu nữa sẽ đến tay với địa chỉ mới của cha mẹ, nhưng y cũng thấy khổ sở hơn bao giờ.

Y định đến nhà Binding xem có tin tức gì không.

***

Binding la lớn:

– Vào đây! Chúng tôi đang cạn một chai thượng hảo hạng. Anh đến đây giúp chúng tôi một tay.

Binding ngồi với một người bạn. Người này ngồi dựa ngửa ra chiếc đi văng kê dưới bức họa của Rubens; nom như bị y đẩy ngã giúi xuống đất và không ngóc dậy được. Mặt anh ta bạc phếch, tóc vàng quá, nom như y không có lông mày lông mi.

– Giới thiệu với anh, anh Heini, người có tài thổi kèn quyến rũ rắn, còn đây là Graber, nghỉ phép từ Nga về.

Binding nói một cách khá lễ phép.

Heini uống đã khá say. Mắt y màu lợt miệng nhỏ.

– Nước Nga à! Tôi đã sang Nga rồi. Bấy giờ còn thời vàng son. Dễ chịu hơn ở đây nhiều.

Graber quay mắt lại hỏi Binding. Binding trả lời:

– Y đã uống mấy hớp rồi. Vả chăng, y buồn vì nhà ông bà già bị trúng bom. Không ai bị nạn, cả nhà ở dưới hầm nhưng căn nhà tiêu tan.

– Nhà bốn phòng mới cất xong, đồ đạc mới sắm cả. Cái dương cầm âm thanh tùyệt! À, lũ lang sói!

– Heini sẽ có cách trả thù cho cái dương cầm – Binding nói – Anh uống một chút cô-nhắc nhé. Vốt-ca cũng có, anh uống gì cũng có.

– Tôi không uống gì. Tôi đi qua đây nên ghé anh hỏi xem có tin tức gì không.

– Chưa có gì anh ạ. Ông bà cụ không còn ở vùng này nữa. Ít ra theo sổ sách chính thức thì thế. Trong những làng lân cận đây cũng không thấy. Như vậy, hoặc là ông bà tự động đi chưa cho biết địa chỉ mới, hoặc là đi với một đoàn tản cư. Hẳn anh hiểu tình trạng này. Họ ném bom khắp cả nước Đức, phải một thời gian nữa mới lập lại được hệ thống bưu điện. À mà anh uống chút gì chứ, uống một ly có sao!

– Cho tôi ly vốt-ca.

Heini lẩm bẩm:

– Vốt-ca. Ở bển, tôi uống cả lít, rồi đem tống vào miệng mấy thằng dân Nga, bật lửa lên đốt. Nom như súng phun lửa bằng xương bằng thịt! Coi chúng nó nhảy lồng lên vì bỏng mà không nhịn cười được, ở bên Nga thú vị thật.

Graber sửng sốt hỏi lại:

– Thế nào?

Heini không trả lời. Mắt anh ta trong vắt nhìn vào chỗ trống không. Anh ta lẩm bẩm một mình: “Xe phun lửa. Nghĩ ra trò này cũng hay!”

Graber hỏi Binding:

– Ảnh nói gì thế?

– Heini đã chứng kiến nhiều chuyện lắm. Ảnh có chân trong ban S.D.

– Bên Nga có S.D à?

– Có. Anh uống đi.

Graber cầm lấy chai vốt-ca, nhìn rượu óng ánh dưới lớp thủy tinh trắng.

– Rượu này bao nhiêu độ?

Binding cười:

– Khá mạnh, ít ra cũng sáu mươi độ. Người Nga ưa thứ rượu cháy giọng. Vì mạnh thế cho nên để cái diêm cháy vào trước miệng là bắt lửa liền.

Binding nhìn Heini y đã biết tiếng tăm mật vụ S.D cho nên lời nói của Heini không phải là bịa đặt khoe khoang. Mật vụ S.D thanh toán tập thể từng loạt lớn lấy cớ dành chỗ sống cho dân tộc Đức. Họ thanh toán bất cứ người nào nghi ngờ, và để việc giết người đỡ nhàm chán họ bày ra nhiều trò chơi ác nghiệt để mua cười. Graber cũng biết một vài trò ấy. Steinbrenner đã kể cho nghe một vài vụ khác, nhưng cái trò xe phun lửa này quả là mới lạ.

– Làm gì mà ngắm mãi chai rượu thế! Nó có cắn anh đâu mà sợ! Làm một ly đi.

Graber đặt chai rượu xuống. Y không muốn đứng dậy đi ra, y chỉ ngồi yên đấy. Đã bao lần y quay mắt đi không muốn biết gì cả. Y và trăm ngàn người khác đã tưởng rằng từ khước được thắc mắc lương tâm một cách dễ dàng. Y đã chán ngán quá rồi, y không nhắm mắt buông xuôi nữa. Mấy ngày nghỉ phép ít ra cũng phải dùng được để làm cái gì.

Binding hỏi:

– Thôi à?

Graber nhìn Heini nằm gáy khò khò.

– Y vẫn ở S.D à?

– Không. Bây giờ y ở đây.

– Ở đâu?

– Trại tập trung.

– Trại tập trung à?

– Vâng. Uống đi. Ít khi gặp nhau. Cứ mất hút anh hoài.

– Không, tôi không đi đâu nữa.

– Ừ anh nói thế nghe được đây. Uống gì, vốt-ca nhé?

– Không cho tôi cô-nhắc chứ đừng vốt-ca.

Heini cựa mình và nói lè nhè:

– Hẳn rồi, đừng xài vốt-ca. Vốt-ca để tụi mình uống! Còn người Nga thì cho họ uống ét-xăng dễ cháy hơn.

***

Heini vào phòng tắm mửa. Binding đợi Graber trước cửa nhà. Trên trời từng lọn mây trắng. Trong bụi cây một con sáo giũ cánh hót vang. Trong cái cục lông đen mỏ vàng này có cả một mùa xuân.

Binding nói :

– Thằng cha thiệt là bảnh.

Nom Binding như đứa trẻ nói với một tướng da đỏ dữ tợn và oai phong. Trong giọng nói của y có vẻ kinh sợ lẫn kính phục.

Graber nói:

– Phải, y bảnh với những người không có phương tiện tự vệ.

– Y bị một cánh tay tê liệt, nên không phải đi lính. Y lãnh của nợ này trong một cuộc choảng nhau với bọn Cộng sản năm 1932. Có lẽ vì thế mà y cay nghiệt. Anh biết chuyện giàn hỏa của y kể không?

Binding kéo một hơi điếu xì gà đã tắt ngấm trong khi Heini ngồi nhớ lại kỷ niệm bên Nga. Y xúc động đến nỗi không nghĩ đến việc châm lửa xì gà:

– Một lớp củi lại một lớp người, cứ thế từ mặt đất lên đến trên cao! Nạn nhân phải tự tay mang khúc gỗ đến trước khi nhận được viên đạn vào gáy. Ghê không?

– Ghê thật.

– Tôi thì tôi không tin. Có lẽ phải nom thấy thì mới tin được. Nhưng tôi không thể làm những việc ác độc như thế được, tôi còn nhiều tình cảm quá.

Heini hiện ra khung cửa, người nhợt nhạt.

– Trời đất ơi! Đến giờ rồi. Trễ giờ rồi! Phải đi gấp! Những thằng khốn nạn sẽ phải đền tội với tao!

Y đi khệnh khạng ra vườn. Đến cổng, y sữa lại mũ, đứng thẳng lên, đi gật gù như cò.

Binding nói:

– Tôi không muổn là phạm nhân bị vào tay hắn tí nào.

Graber ngửng đầu lên, y cũng vừa nghĩ thế.

– Anh thấy như thế có còn gì là công bằng nữa không?

Binding nhún vai

– Những thằng phản quốc. Chúng nó vào trại tập trung không phải là vô cớ.

– Thế còn thầy học cũ anh, ông ta có phản quốc không?

Binding cười:

– Đấy là việc riêng, vả chăng ông ta cũng được ra ngay, không sao cả.

– Nếu ông ta không thoát được thì sao?

– Thì ông ta xui xẻo chứ sao, đành vậy. Bây giờ thiếu gì người xui xẻo. Người bị cháy nhà. Người chết. Nguyên một tỉnh này đã năm ngàn người rồi. Họ đáng kể hơn những người ở trại tập trung. Mấy lại chuyện này có can dự gì đến mình. Không phải lỗi tại tôi hay tại anh.

Một đàn chim sẻ sà xuống chậu thóc dành riêng cho chúng trên bãi cỏ. Một con nhảy vào bồn nước, những con khác làm theo. Binding chú ý đứng xem, y đã quên Heini rồi. Graber nhìn khuôn mặt ngây thơ và thỏa mãn của Binding, người này đã loại bỏ hẳn mọi ý nghĩ về tình thương và trách nhiệm. Ích kỷ, lạnh lùng, sợ sệt ngăn cách họ với đồng bào như một bức tường dày. Y cũng hiểu rằng y cũng không tránh được luật chung ấy, luật chung ấy kiềm tỏa mọi người một cách vô hình trung nhưng chặt chẽ, xa xôi nhưng ghê gớm. Tuy ghê tởm bạn nhưng y cũng thấy mình liên đới với bạn. Y nói từ tốn:

– Vấn đề trách nhiệm không phải là giản dị.

– Graber, anh nói giỡn? Người ta chỉ trách nhiệm về những hành động của người ta mà thôi, mà còn với điều kiện là không đúng lệnh trên.

– Nhưng khi chúng ta bắn những con tin, chúng ta nói rằng họ chịu trách nhiệm hành động của đồng bào họ.

Thình lình Binding chú ý đến câu nói của y và quay lại:

– Anh đã bắn con tin bao giờ chưa?

Graber không trả lời. Binding nói:

– Con tin thì khác. Đó là trường hợp bất khả kháng, ta phải bắn họ.

– Bây giờ chỉ có ngoại lệ và bất khả kháng thôi. Khi chúng ta ném bom một thành phố nào, ta cho là nhu cầu chiến lược. Nhưng khi địch ném bom ta thì hành động của họ là sát nhân hèn nhát.

Binding nhìn Graber một cách ý nhị:

– Anh đã đi đúng đề rồi đó. Đó là lời cuối cùng của nhà chính trị ngày nay. Chính nghĩa là cái gì phục vụ quyền lợi người Đức, như vị Bộ trưởng Tư pháp đã nói. Tôi cho rằng ông ta ở địa vị thuận tiện để biết rõ điều ấy. Chúng ta không có trách nhiệm gì cả. Kìa anh trông con sáo kia nó cũng đến đây để tắm rửa. Lần thứ nhất tôi trông thấy nó đấy! A! Đàn sẻ chạy hết!

***

Thình lình Graber trông thấy Heini trước mặt mình. Phố xá vắng tanh. Một tia lửa vàng ối nằm lười biếng mơ màng giữa hàng rào. Một con bướm vàng lảo đảo trên những lớp cát mỏng phủ vài chỗ thềm đá. Heini biến vào dãy phố quẹo ngang cách đấy độ một trăm thước.

Graber đí trên cát, không nghe tiếng bước chân. “Nếu có ai muốn thanh toán Heini thì lúc nào bằng lúc này. Đường vắng quá”. Phố xá ngủ yên. Cát êm thế này đi đến tận nơi cũng không nghe tiếng. Bóp cổ hay đâm cho một nhát dao có khó gì. Tiếng súng sẽ làm náo động, người ta sẽ bu lại. Heini không có sức là bao, bóp cổ hắn cũng dễ.

Graber nhận thấy mình đi rảo bước không dè. Y nghĩ thầm: “Binding cũng không nghi ngờ gì cả. Ai cũng sẽ cho là một cuộc báo thù. Thiếu gì cớ. Cơ hội này không bao giờ có nữa. Cơ hội diệt trừ một tên sát nhân mà lát nữa nó sẽ hành hình cho đến chết những người không tự vệ”.

Y thấy tay mình vã mồ hôi, ngực khó thở. Y cũng sẽ vào phố ấy, khoảng cách Heini đã bớt đi được ba mươi thước, vẫn vắng tanh. Nếu chạy trên đường có cát thì sẽ đuổi kịp ngay, chỉ một phút là xong cả.

Tim lồng lên trong ngực. Tiếng bước mạnh mẽ mà không nghe tiếng giầy, làm sao hắn biết được? Y nghĩ thầm: “Ủa mình là sao thế, dây vào việc này để làm gì?” Một ý nghĩ thoạt tiên chỉ là một giả thuyết thôi không sao lại trở thành một sự ám ảnh thôi thúc bất thần y cảm thấy như tất cả đều tùy thuộc hành động của y, hành động như vậy y có thể lấy lại quá khứ, lấy lại những cái gì y đã phải buông xuôi, những cái gì y phải cố mà quên, những điều y phải làm hay để cho xảy ra. Hai chữ báo thù nổi lên trong trí. Y chỉ biết người này qua loa ngoài mặt, riêng y không có gì để chê trách người này. Đành là thế, nhưng biết đâu cha Elisabeth và bao nhiêu nạn nhân nữa không chết về tay hắn nay mai? Vả chăng, còn biết bao con tin bị thủ tiêu, họ có lỗi gì không?

Mắt y không rời lưng Heini. Miệng y ráo, cổ y nghẽn. Một con chó sủa trong vườn. Y giật mình nhìn quanh. “Ta uống quá chén rồi phải ngừng lại, phải bình tĩnh, không nên mê sảng điên rồ”. Tuy nhiên y vẫn đi nhanh hơn, thúc đẩy bởi một sức mạnh bất khả kháng, sức mạnh tạo ra vì ý niệm công bình, vì ý nghĩa chuộc tội lỗi giết bao nhiêu người từ trước đến nay.

Y chỉ còn cách Heini có hai mươi thước. Y vẫn chưa biết mình sẽ làm gì thì bỗng thấy một người đàn bà xuất hiện ở đầu phố. Bà ta đeo một tấm vải choàng màu da cam, tay cầm cái rổ không đi lại phía Graber. Y dừng lại. Hình như có cái lò xo trong người y vừa gãy. Y lại đi thong thả. Người đàn bà gặp Heini rồi đi nhanh đến cái rổ tên tay đong đưa. Bà ta có bộ mặt phì nộn rám nắng, ngực đồ sộ, dáng đi bình tĩnh. Nền trời như một màn phông mờ mịt đằng sau mớ tóc đen chải rất kỹ lưỡng. Trong khoảnh khắc Graber chỉ thấy có bà ta là thật giữa khung cảnh mông lung hỗn độn này; bà ta là đời sống, chỉ có bà ta mang gánh nặng đời sống trên vai như cái gì quý giá, còn tất cả chỉ là hoang tàn chết chóc.

Lúc đi qua bà ta nhìn y, mỉm cười:

– Chào ông.

Graber gật đầu đáp lễ, y không nói được lên tiếng. Y nghe tiếng chân đi của bà ta ở đằng sau, rồi lại chỉ thấy một mình đơn độc giữa bãi sa mạc chói chang ánh nắng, xa xa bóng Heini mỗi lúc mỗi nhỏ đi. Đến ngã tư bà ta rẽ sang đường khác.

Y nhìn quanh như người bị lạc. Người đàn bà tiếp tục đi không để ý đến y. “Đáng lẽ mình phải chạy cho nhanh, mình ra tay còn kịp”. Nhưng y biết rằng y chẳng làm gì cả. “Người đàn bà kia đã trông thấy ta rồi, bà ta sẽ nhận ra ngay”. Nhưng nếu không có người đàn bà, liệu y có làm gì không? Hay y lại tìm được cớ khác? Y không thể trả lời được những câu hỏi ấy.

Đến ngã tư không thấy Heini nữa, nhưng đến chỗ quẹo sau lại trông thấy. Y dừng lại giữa đường. Heini nói chuyện với một người SS khác rồi hai người cùng đi. Một anh bưu tá trong vườn ra. Xa xa, hai người đi xe đạp. Thôi chậm quá rồi, Graber có cảm tưởng như mình vừa tỉnh một giấc mơ. Đã xảy ra cái gì thế? Y nghĩ thầm: “Chỉ một chút xíu nữa là mình liều lĩnh dại dột. Mình làm sao vậy?” Y lại tiếp tục đi. “Bây giờ mình phải canh chừng mình lắm mới được. Mình tưởng mình tự chủ lắm. Nhưng kỳ thực mình nóng nảy thảng thốt mà chính mình không dè. Nếu không coi chừng có khi mình hóa điên mất!”.

Y dừng lại mua một tờ nhật trình và đứng đọc. Từ khi về đến đây y chưa đọc tin tức. Y muốn quên hết. Trên mỗi bản đồ in lên báo, y tìm ra chỗ đóng binh của mình. Bản thông cáo chỉ ghi quân khu cho nên không thể định rõ được vị trí tiểu đoàn của mình. Nhưng cũng có thể biết đã rút lui khoảng một trăm cây số!

Y đứng yên một lát. Từ ngày nghỉ phép đến giờ y chưa bao giờ nghĩ đến bạn bè. Kỷ niệm ấy chìm sâu như hòn đá dưới nước, bây giờ mới nổi lên mặt.

Hình như sự cô đơn đen tối từ dưới đất xông lên vây bọc quanh mình. Bản tin cho hay trận chiến đang ác liệt ở chỗ đóng binh của y; nhưng sự cô đơn không hình tướng âm thanh, và tiếng súng cùng lửa đạn đều chết trong sự cô đơn ấy. Những bóng đen nhỏm dậy, nhẹ như bấc, lạnh như băng, múa lộn và nhìn y, cái nhìn chọc thủng người y. Bóng đen rơi xuống lại hòa lẫn với đất đen cầy nát. Vùng trời cao lồng lộng trên đầu cũng phai màu vì ám khói của sự hấp hối vô tận bốc lên từ lòng đất và che lấp cả mặt trời. “Phản bội!” Bất thần ý nghĩ ấy xuất hiện như một mặc khải ghê tởm, “Người ta đã phản bội mình, đã bôi nhọ mình; bất công, dối trá và độc ác đã đầu độc sự hy sinh, sự chiến đấu của binh sĩ. Người ta đã lừa dối binh sĩ, người ta đã lợi dụng đời sống của binh sĩ, lợi dụng cả sự chết của binh sĩ”.

Một người đàn bà xách cái bao va phải y, bà ta la lên:

– Anh không có mắt à?

– Có, có chứ!

Y nói như vậy nhưng không nhúc nhích.

– Ông đứng làm gì giữa hè này?

Graber không trả lời. Bây giờ thì y biết rằng tại sao y đi theo Heini. Vẫn là sức mạnh tối tăm bóp thắt y nhiều lần khi còn ở mặt trận, vẫn câu hỏi mà chưa bao giờ y dám trả lời, vẫn sự thất vọng miên man mà cho đến ngày nay y vẫn nén xuống được. Bây giờ chính y tự tìm ra những sự ám ảnh ấy và y nhất định không nên đi nữa, y muốn sáng suốt nhìn vào tận mắt chúng, không dồn nén đi để chúng tác quái. Y nghĩ đến giáo sư Pohlmann, Fresenburg đã dặn y nên đến thăm. “Mình quên mất, bây giờ mình phải đến thăm thầy, phải nói chuyện này với một người có thể tin được”.

Trước khi đi, người đàn bà còn rủa:

– Đồ chó chết!

***

Một phần công trường Jahn đã bị phá hủy. Những căn nhà khác chỉ bị vỡ hết cửa kính mà thôi. Đời sống hàng ngày vẫn tiếp tục, ở tầng dưới có thể thấy các bà dọn dẹp và làm bếp, còn bên kia phố thì cửa nhà đổ hết, trong nhà đồ đạc lung tung, màn cửa rách mướp phấp phới như lá cờ rách nát sau khi bại trận.

Nhà giáo sư Pohlmann ở trước thuộc về dãy phố bị phá hủy. Tầng lầu trên sụp đổ xuống bịt kín cả cửa vào. Nom bề ngoài như không còn ai ở đây. Graber quay trở lại thì thấy một lối đi nhỏ ở giữa đống gạch ngói. Y bước vào, đi quanh nhà thì đến một chỗ hỏng. Y gõ cửa. Không có ai trả lời. Đợi một lát thì có tiếng bước đi, một tiếng dây xích kéo rồi cửa mở ra.

– Giáo sư Pohlmann.

Một ông già đi ra:

– Ông hỏi gì?

– Tôi là Graber học trò cũ của thầy.

– Ừ! Thế sao?

– Tôi nghỉ phép về, ghé thăm thầy.

– Tôi không dạy học nữa đâu.

Ông nói rất mau.

– Tôi biết.

– Hẳn anh cũng hiểu tôi bị cấm chức vì phạm kỷ luật. Tôi không nhận học trò nữa, vả chăng cũng không được phép liên lạc với học trò.

– Tôi không còn làm học trò, tôi là quân nhân đi nghỉ phép ở Nga về đây. Fresenburg yêu cầu tôi đến thăm thầy và gởi lời thăm thầy.

Ông già nhìn Graber chăm chú hơn.

– Fresenburg à? Anh ấy còn sống à?

– Cách đây mười ngày, anh ấy còn sống.

Ông già ngập ngừng một chút.

– Thôi anh vào đây.

Ông ta tránh lối cho Graber vào.

Graber đi theo ông. Hai người đi qua một hành lang hẹp, vào một nơi tựa như cái bếp, từ đấy lại có một hành lang khác. Thình lình Pohlmann đi rảo bước và nói to:

– Tôi cứ tưởng anh là cảnh sát.

Graber ngạc nhiên. Rồi y hiểu và nhìn quanh. Pohlmann nói câu ấy chỉ để làm yên lòng người nào ở quanh đấy.

Một chiếc đèn dầu che chao xanh soi sáng căn phòng. Gạch vụn chất đống phía ngoài che lấp hẳn các cửa sổ. Pohlmann dừng lại giữa phòng.

– Bây giờ tôi mới nhận ra anh. Ở ngoài sáng quá. Tôi ít ra ngoài… mất cả thói quen rồi. Anh cũng thấy đấy, chỉ có một cái đèn con mà dầu thì khó kiếm, nhiều lúc phải ngồi tối vậy. Còn đèn điện thì đứt hết dây rồi.

Graber nhận thấy thầy học cũ già hẳn đi. Nhìn quanh mình, y có cảm tưởng như lạc vào vũ trụ khác. Cảm tưởng ấy còn được tạo ra bởi những chồng sách thếp vàng hay bìa nâu xếp kín cả tường, còn là những bức họa treo rải rác khắp nơi, còn là ông già tóc bạc da mồi, mặt vàng ệch làm người ta nghĩ đến một người ở kín trong nhà lâu năm.

Pohlmann nhận biết cảm tưởng của Graber.

– Tôi cũng còn may mắn đem hết được sách trở về đây.

– Đã lâu lắm tôi không hề đọc sách và không trông thấy sách.

– Tôi hiểu. Sách nặng quá không thể bỏ bị mang theo được.

– Cũng nặng quá không thể mang theo trong trí nhớ được, vả chăng điều nói trong sách vở không phù hợp với sự việc xảy ra ngoài đời. Những người chỉ biết theo dòng đời lại không bao giờ đọc sách cả.

Pohlmann nhìn vùng sáng tròn xanh chung quanh ngọn đèn :

– Anh đến thăm tôi hay có việc gì.

– Fresenburg khuyên tôi lại thăm thầy.

– Anh chơi thân với Fresenburg là người tin cẩn. Y khuyên tôi nên hỏi thầy, thầy sẽ nói cho biết sự thực.

– Sự thực? Sự thực về vấn đề nào?

Graber nhìn ông già. Thời kỳ y còn đến trường học đã xa lắm rồi. Tuy nhiên y có cảm tưởng như mình vẫn còn là học trò của ông, ông sẽ hỏi y về ý nghĩa cuộc đời, tương lai của y sẽ đổi ra một hướng mới khi đã đối diện với ông già sống giữa sách vở trong cái hang tối dưới đống gạch vụn này. Đằng sau những cửa sổ che lấp bởi gạch vụn sẽ còn sống sót quá khứ nhân từ, rộng lượng, tha thứ và kiến thức uyên thâm.

Y nói:

– Tôi muốn biết mình có trách nhiệm đến mức nào về những tội ác gây ra trong vòng mười năm nay. Tôi cũng biết bây giờ mình phải làm gì?

Pohlmann nhìn y rất lâu. Rồi ông đi qua lại trong phòng. Ông lấy một cuốn sách mở ra, nhưng lại cất vào chỗ cũ không đọc. Sau cùng ông nói:

– Anh có biết anh vừa hỏi điều gì đó không?

– Dạ có.

– Mỗi ngày có biết bao nhiêu người mất đầu dù chỉ nói những điều không quan trọng bằng thế. Ở ngoài mặt trận thì còn chết chẳng có tội gì cả.

Pohlmann ngồi xuống.

– Khi nói đến tội ác anh muốn nói đến chiến tranh?

– Tôi nói đến tất cả những gì đã gây ra chiến tranh, dối trá, áp bức, bất công, độc ác. Tôi cũng nói chiến tranh mà chúng ta đang tham dự đây, chiến tranh với trại tập trung, với sự giết hại dân lành từng loạt.

Pohlmann ngồi yên lặng. Graber nói tiếp:

– Tôi đã nom thấy nhiều, đã nghe thấy nhiều. Tôi biết rằng chúng ta thua trận. Tôi cũng biết rằng chúng ta tiếp tục chống cự để cho chánh phủ, đảng và những người có trách nhiệm với tổ quốc còn ngồi yên vị được ít lâu nữa, và họ ngồi đấy chỉ để phá hoại thêm.

Pohlmann không rời mắt nhìn Graber.

– Anh biết có những điều ấy à?

– Bây giờ thì tôi biết nhưng trước đây thì không?

– Rồi anh lại trở ra mặt trận?

– Vâng.

– Thật là tồi tệ.

– Tồi tệ hơn nữa, vì lúc trở ra mặt trận tôi phải tự nhủ rằng có lẽ mình cũng có trách nhiệm về tình trạng thê thảm này. Thầy có cho rằng tôi cũng chịu trách nhiệm không?

Pohlmann yên lặng một lát rồi hỏi khẽ:

– Anh hiểu chữ trách nhiệm như thế nào?

– Hẳn thầy hiểu vì thầy dạy chúng tôi về Giáo dục tôn giáo. Tôi chịu trách nhiệm đến mức nào khi biết rằng ta đã thua trận và chiến tranh phải chấm dứt để chấm dứt nô lệ, giết chóc, tập trung, mật vụ, thủ tiêu dân chúng từng loạt. Đã biết như vậy mà tôi vẫn trở lại đơn vị để tiếp tục chiến tranh.

Nét mặt Pohlmann bỗng dưng mất hết sinh khí, chỉ có hai mắt còn chút thần sắc, hai mắt trong xanh lạ lùng. Graber nhớ lại mình đã nhiều lần trông thấy những cặp mắt như thế nhưng không nhớ ra vào dịp nào.

– Anh cần phải đi thật à?

– Tôi có thể không tuân lệnh. Nhưng rồi sẽ bị bắn hay xử giảo.

Graber đợi thầy trả lời; thầy ngập ngừng nói:

– Những tín đồ Thiên Chúa giáo đầu tiên đã không chịu khuất phục, họ có tinh thần vô úy.

– Chúng ta không phải là thánh, nhưng trách nhiệm của chúng ta khởi sự từ lúc nào? Khi nào thì tính anh hùng trở thành tội ác? Khi nào người ta không tin những lý lẽ trước vẫn tin chăng? Không tin lý tưởng mình theo đuổi chăng? Đâu là giới hạn?

Pohlmann nhìn y ra vẻ bối rối:

– Tôi biết nói sao bây giờ? Trường hợp này quan trọng quá. Tôi không thể quyết định thay cho anh được.

– Như vậy thì việc ai người ấy phải quyết định lấy.

– Hình như thế thật.

Graber yên lặng và tự nghĩ: “Sao lại hỏi những câu ấy? Đáng lẽ thủ vai bị cáo bây giờ mình lại làm thẩm phán. Tại sao lại làm rắc rối cho ông già này, bắt ông phải giải thích những điều ông dạy mình ngày trước và cả những điều mình học ngoài đời về sau? Ta có cần một câu trả lời không? Có phải lúc này mình đã trả lời rồi không?” Y nhìn Pohlmann. Y nghĩ đến thầy học mình ngày ngày ẩn náu trong chỗ tối tăm này như một tín đồ Thiên Chúa giáo sống trong hang thuở trước, lo sợ từng giờ từng phút người ta đến bắt mình đi, chỉ biết lấy sách vở làm vui.

Y nói với thầy:

– Thầy có lý. Hỏi người khác cũng chỉ là lùi bước không chịu quyết định. Vả chăng tôi cũng không mong thầy nói thẳng cho biết. Nhưng có những lúc người ta chỉ có thể tự hỏi bằng cách hỏi người khác.

Pohlmạnn lắc đầu.

– Anh có quyền hỏi tôi. Anh nói đến trách nhiệm, vậy anh có biết rõ thế nào là trách nhiệm không? Anh còn trẻ, người ta đã đầu độc anh trước khi anh hiểu được việc đời. Nhưng còn chúng tôi, chúng tôi đã biết rõ cả mà cứ để cho mọi việc xảy ra. Tại sao? Tại lười biếng? Lãnh đạm? Hay tại nghèo nàn tư tưởng, ích kỷ, thất vọng? Nhưng làm sao biết trước được tổ quốc lâm vào thảm họa này? Anh biết đâu rằng nhiều lúc tôi cũng phải tự vấn tâm như vậy!

Thình lình Graber nghĩ đến hai con mắt người Nga bị y bắn chết, hai con mắt Pohlmann làm y nhớ lại kỷ niệm đã làm y bối rối. Y đứng dậy:

– Thôi chào thầy. Tôi phải trở lại mặt trận. Cám ơn thầy đã cho tôi vào đây hầu chuyện thầy.

Y cầm lấy mũ. Pohlmann như tỉnh giấc mơ:

– Anh trở lại mặt trận à?

– Tôi cũng không biết. Tôi còn hai tuần lễ nữa để suy nghĩ. Như thế cũng là nhiều trong khi đã quen sống đếm từng giờ từng phút.

– Anh hãy trở lại đây trước khi đi. Anh hứa với tôi đi.

– Xin hứa với thầy.

– Học trò cũ không có mấy người lại thăm tôi.

Graber trông lên chồng sách, gần cửa sổ bít kín có một tấm ảnh. Ảnh một người thanh niên mặc quân phục trạc tuổi mình. Y nhớ ra Pohlmann cũng có một người con, nhưng y nghĩ rằng lúc này không nên hỏi thầy những chuyện ấy.

– Nếu anh viết thư cho Fresenburg thì nói giùm tôi có lời hỏi thăm.

– Thầy đã nói những chuyện ấy với Fresenburg?

– Có.

– Tôi tiếc rằng không được gặp thầy mấy năm về trước.

– Anh tưởng rằng Fresenburg biết vậy sẽ sung sướng hơn hay sao?

– Trái lại.

Pohlmann gật đầu.

– Tôi không muốn bảo gì anh vì không muốn cho anh lỡ lời gánh lấy hậu quả khi chống lại những kẻ giải thích quanh co để bênh vực chính sách của họ. Thiếu gì kẻ như vậy. Họ tuyên bố những lời cả quyết đanh thép nhưng chỉ thuyết phục được những người hèn nhát.

– Cả những người trong Giáo hội?

Pohlmann lưỡng lự, sau mới nói:

– Trong Giáo hội cũng vậy. Nhưng Giáo hội được may mắn hơn. Bên cạnh giáo điều: “Yêu người khác như yêu mình” hay “Không được giết người” còn có câu này “Trả lại César cái gì của César, trả lại Thượng Đế cái gì của Thượng Đế”. Như vậy họ có chút tự do để hành động.

Graber mỉm cười. Y thấy lại giọng châm biếm của thầy học cũ. Pohlmann hiểu thái độ của y.

– Anh cười à. Tại sao anh không nói lớn lên.

– Tôi có nói lớn cũng chẳng ai nghe.

***

Graber trở lại công trường. Ánh sáng thanh thiên bạch nhật làm y chói mắt. Y thong thả đi qua công trường. Y có cảm tưởng của người vừa được thông báo cho biết quyết định của tòa án sau nhiều phiên xử gay go, nhưng không bận tâm đến án quyết tha bổng hay trừng phạt. Đã chậm quá rồi, y muốn tìm cái gì khi về nghỉ phép thì bây giờ đã tìm thấy, bây giờ y biết rõ cái đó là sự thất vọng và y cũng không tìm cách trốn tránh thất vọng.

Y ngồi một lúc lâu trên chiếc ghế, cạnh một hố bom, người thoải mái và trống không hoàn toàn, y cũng không thể nói được rằng mình có đau khổ vì thế hay không. Suy nghĩ đã chán rồi không còn gì để suy nghĩ nữa. Y ngồi ngửa mặt ra sau nhắm mắt lại để cho nắng chiếu vào mặt nóng rát. Y không cảm thấy gì nữa, không cựa mình nữa, ngồi thở thật lâu và an hưởng nắng ấm vỗ về vô tư không biết đến công bằng hay bất công. Được một lát y mở mắt ra, công trường hiện ra trước mắt y mông mênh và sáng sủa. Một cây bồ đề đứng sững trước một cặn nhà sụp đổ. Cành trơ lá vươn lên trời như ngón tay một bàn tay khổng lồ. Một vài đám mây trắng lửng lơ trên trời xanh ngắt.

Tất cả đều sáng tưng bừng, thứ ánh sáng mới tinh, trong sạch như sau một trận mưa rào. Đó là đời sống, đời sống mãnh liệt và biết tự lượng sức mạnh một cách chắc chắn không cần đặt câu hỏi, không cần buồn bã, không thất vọng. Graber chấp nhận đời sống như một câu trả lời quyết liệt sâu sắc hơn tất cả các câu hỏi, các lời giải thích, hơn câu trả lời y đã nghe thấy khi đi bên cạnh cái chết, khi hy vọng ồ ạt đến xua đuổi hết sợ sệt, chờ đợi và buông trôi, nhận chìm hết mọi lý lẽ, mọi tư tưởng dưới làn sóng tràn đi.

Graber đứng dậy, đi đến cây bồ đề, giữa đống gạch ngói, bất thần y cảm thấy mình đang chờ đợi cái gì. Trong người y cái gì cũng chờ đợi một cái gì. Y đợi tối đến như đợi một cuộc hưu chiến.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 28 May 2026

Hồi hôm nghe tiếng tàu đề máy tôi giựt mình thức giấc, biết tàu khởi hành nhưng giờ đó không phải giờ tôi làm việc, tôi lăn người trở mình làm chiếc mền tuột rớt xuống sàn, tôi cúi xuống kéo mền lên đắp lại rồi ngủ tiếp. Không hiểu sao tôi ngủ mê man tới khi đồng hồ reo mới giựt mình thức dậy. Thường thì tôi thức sau bốn giờ sáng, pha một tách cà phê đen đậm bằng nước lọc, không đường, không sữa rồi đem lên phòng, mở laptop ra vừa nhâm nhi cà phê vừa đọc, đọc xong rồi gõ bàn phím viết lưu lại những chuyện xảy ra trên tàu, cho tới

khi đồng hồ reo tôi mới ngưng. Sợ mê đọc và viết quên giờ làm việc, nên tôi chỉnh đồng hồ reo đúng sáu giờ sáng, để nó nhắc nhở tôi đã tới giờ tập thể dục trước khi bắt tay làm việc. Nhưng tối hôm qua tôi ngủ say như chết, cho tới khi đồng hồ reo, tôi lật đật ngồi dậy, đi vội xuống bếp chỉ kịp lấy chai nước lọc đổ vô máy pha cà phê, rót cho mình một tách và bưng ra boong. Định uống hết tách cà phê rồi tập thể dục, nhưng thấy cảnh bên ngoài hấp dẫn quá nên tôi đứng ngắm.  Chuyến này tàu nhận chuyển hàng từ Hamburg lên Stockholm, thủ đô của nước Thuỵ Điển, nếu tàu muốn đi tới Stockholm thì phải băng ngang con kinh đào Kiel để vô biển Baltic. Tàu đã vô kinh Kiel hồi sáng sớm và chạy một đoạn cũng khá xa rồi. Bất cứ tàu lớn, tàu nhỏ gì hễ vào kinh chỉ được phép chạy bảy hải lý một giờ. Những chiếc tàu buồm du lịch màu trắng nho nhỏ xếp buồm chạy bằng động cơ dọc bên bìa kinh và ở giữa dòng những chiếc containers trên ngàn tấn nối đuôi chạy thẳng hàng trong sương pha loang loáng, mặt dù nhiều tàu xuôi ngược trong kinh nhưng rất trật tự và không gây tiếng ồn ào nên trông quang cảnh rất là thanh bình. Tôi để tách cà phê lên đầu cột trụ rồi đi vô phòng lấy chiếc điện thoại thông minh trở ra chụp dọc theo dòng kinh, chụp xong mấy bôi, tôi lại đầu cột trụ bưng cà phê hớp một hớp, cà phê nguội ngắt, tôi ngước cổ ực một hơi hết sạch. Tôi bấm điện thoại xem đồng hồ, gần bảy giờ rồi, không còn đủ giờ tập thể dục nữa. Tôi đi vô phòng tắm sửa soạn đánh răng rửa mặt, nhưng khi vặn vòi nước thì thấy màu nước pha sét vàng khè, tôi nghĩ thợ máy đang thay đổi bồn nước hay đang sửa chữa gì đó. Tôi trở ra phòng ngoài lấy chai nước lọc đem vô rửa mặt đánh răng, xong rồi trở ra thay quần áo và bắt đầu công việc cho ngày mới. Tôi đi xuống mở thử vòi nước trong phòng bếp, vẫn đục ngầu, bèn day qua nhấc điện thoại lên gọi xuống hầm máy hỏi về nguyên do nước bị sét, người phụ máy cho biết, ống dẫn của bồn nước bị bể nên nước chảy hết rồi, chờ tàu tới Kiel ghé xưởng sửa chữa xong sẽ lấy nước khác. Định điện thoại lên hỏi thuyền trưởng chuyện nước nôi thì thuyền phó và Edy xuống tới, mặt hai thằng còn ngái ngủ, đã vậy mà thuyền phó vừa nhăn nhó vừa chửi thề nên trông mặt mày nó bèo nhèo như cái nùi giẻ lau sàn tàu. Nó càu nhàu:
– Hổng có nước đánh răng, rửa mặt! Tôi nói:
– Hồi sáng tao đánh răng rửa mặt bằng nước lọc. Thuyền phó hô:
– Oh, ý kiến hay. Edy thì đưa ngón tay lên gặt gặt.
– Tốt, tốt… Nói xong hai đứa liền day lưng đi trở lên tầng trên, tôi đoán chừng tụi nó lên phòng lấy nước lọc để rửa mặt, đánh răng. Tôi day ngang nhấc điện thoại quay gọi thuyền trưởng hỏi ông cho tôi lấy mấy can nước dự phòng khi tàu gặp nạn để xài. Nhưng ông kêu tôi chờ chút để ông gọi thuyền phó lấy nước cho tôi. Vừa để hộp điên thoại xuống thì thấy thằng nhỏ mới đổi xuống thay cho Ama đứng lấp ló ngoài cửa bếp, thấy tôi nó chào:
– Chào chú. Nó chìa tay ra định bắt, tôi cười và đưa cùi chỏ ra, nó rụt tay lại và miễn cưỡng đưa cùi chỏ lên cụng một cái. Xong nó tự giới thiệu:
– Con là Philip, em của Sam, mới đi chuyến đầu.
– Chào mừng xuống tàu. Hồi hôm con xuống tàu lúc mấy giờ?
– Dạ, mười một giờ. Tôi chỉ tay qua máy cà phê, nói:
– Con lấy cà phê uống đi, chắc còn được một tách. Nó lắc đầu nói: – Con hổng uống cà phê. Ngập ngừng một chút, nó rụt rè hỏi:
– Hôm qua con đi cả ngày hổng ăn gì hết, chú có gì ăn không? Tôi chỉ tay qua phòng ăn nói:
– Con vô trong phòng ăn, phó mát, thịt nguội, bánh mì, nước trái cây và sữa chú để trong tủ lạnh, con coi thứ nào ăn được thì lấy ăn.
– Xin lỗi chú, con đạo Hồi, hổng ăn thịt heo. Chú có mì gói không? Không biết người đạo Hồi ở những nước khác như thế nào, chớ người đạo Hồi ở In Đô phần đông mới xuống tàu họ giữ giới rất kĩ, hổng ăn thịt heo, hổng uống bia rượu, ra vẻ ta đây là người đạo đức hoặc là thánh nhân và muốn người khác phải phục vụ cho mình. Đôi khi là người In Đô với nhau cũng khó chịu và còn đố kỵ với nhau, có vài người đạo Thiên Chúa hổng ăn thịt cừu mà ăn thịt heo, ngồi trước mặt mấy người đạo Hồi họ ăn thịt heo ngon lành và cố ý ra vẻ ăn rất bạo, họ ăn để chọc tức mấy người đạo Hồi cho bỏ ghét chớ chớ hổng ăn vì Chúa. Nhưng phải nói là người đạo Hồi thứ thiệt thì sống đời thủy thủ có hơi khó khăn, nói đúng là sống không được. Tôi thấy một vài người đi chưa hết hợp đồng đã cuốn gói về nước, và có nhiều người cố gắng đi hết hợp đồng rồi về luôn không trở qua nữa, nguyên do cũng tại vì tàu của Hoà Lan thịt heo nhiều quá và những thứ thức ăn chế biến của Hoà Lan thường dùng mỡ heo. Phần đông đạo Hồi người In Đô hổng đọc hoặc hiểu kinh Koran, ban đầu mới xuống còn nghiêm túc giữ đạo, đi được một thời gian thì phá giới uống bia, rượu, hổng ăn thịt heo thì cũng ăn được da heo chiên dòn, hễ có dịp đổ bộ thì đi vô khu đèn đỏ tìm đĩ rẻ tiền mà chơi. Trước kia thấy những chuyện như vậy tôi bất bình hay chọc ghẹo nói xiên nói xỏ. Nhưng rồi một ngày tôi nhận ra khắp nơi trên thế giới này, cũng vì ba cái vụ đạo này đạo kia mà con người ta sanh ra đố kị rồi thù oán, cá nhân thì mỉa mai, chửi bới thậm chí đánh nhau lỗ đầu chảy máu. Cùng một giống nòi hổng ưa nhau cũng vì người theo đạo này, người theo đạo nọ, đạo ăn thịt heo, đạo ăn thịt bò không ưa nhau; cùng là con Phật người ăn chay hổng ưa người ăn mặn. Còn tầm cỡ quốc tế thì nước này gây chiến với nước kia, đánh nhau tơi bời hoa lá cũng vì đạo khác nhau mà người ta gọi là thánh chiến. Thiệt ra thì đạo nào cũng truyền bá thông điệp về tình yêu, vậy mà hễ nghịch nhau thì bị khủng bố, hăm he bắn giết, chặt đầu, bâm thây, đốt nhà cướp của. Tôi nhìn thằng nhỏ, mới bước vào cuộc sống hải hồ còn non nớt, bỡ ngỡ, rụt rè nhưng không biết nó giữ giới được bao lâu, hay là lao vào đời sống tranh đua một thời gian sẽ lơi là chuyện đạo cũng giống như những bậc đàn anh, đàn chú đi trước nó. Tôi bưng ấm nước lên, trong ấm không còn chút nước nào hết. Tôi day lại nói với Philip: – Hổng có nước làm sao nấu mì. Thằng nhỏ ra chiều thất vọng định quay đi. Tôi chợt nhớ ra:
– À…à… con chờ chú chút xíu, chú nấu mì cho. Tôi lấy chai nước lọc đổ vô chiếc ấm điện bấm nút nấu, mở gói mì bỏ vô tô và đập thêm một cái trứng, chờ nước sôi tôi chế lên mì rồi lấy cái dĩa làm nắp đậy, tôi bưng tô mì qua phòng ăn để vô lò vi sóng, bấm hai phút. Tôi trở vô bếp mở hộc tủ lấy muỗng nĩa đưa cho Philip và dặn:  
– Khi nghe tiếng chuông, tức là mì đã xong, con tự bưng ra ăn nhé.  
– Dạ, con biết rồi, cám ơn chú. Cùng lúc đó thuyền phó cũng vừa đi xuống, mặt mày tươi tắn, sáng sủa lên, nó đưa chùm chìa khoá ra lắc lắc nghe rột rẹt và nói:
– Tui xuống kho lấy nước cho ông. Nó xuống kho một lát sau hai tay xách lên hai lố nước lọc để lên mặt bàn, tôi ngạc nhiên hỏi:
– Thuyền trưởng kêu mày lấy nước này cho tao nấu ăn hả?
– Ừ.  
– Nhưng hai lố đâu có đủ. Nó lật đật xuống kho hai tay xách lên hai lố nước nữa và nó tháo chìa khoá kho máng lên cái móc trên vách rồi dặn tôi:
– Thuyền trưởng dặn tui để chìa khóa cho ông, khi nào thiếu nước ông cứ xuống kho lấy. Tôi định hỏi sao hổng lấy mấy can nước dự trữ, nhưng nghĩ lại, một lố nước lọc sáu chai, mỗi chai một lít rưỡi giá tiền chưa tới ba euro, nấu nướng một ngày năm bảy chục lít cũng hổng sao, còn phần rửa ráy lặt vặt thì tôi lấy sô chứa nước sét để lóng lại xài cũng được. Coi như chuyện nước nôi đã giải quyết xong và tôi bắt tay làm việc, tôi đổ nước vô máy pha cà phê rồi day ngang mở điện lò và ra phòng ăn dọn cho bữa ăn sáng. Trong lúc tôi dọn bàn thì nghe tiếng chào:
– Chào ông Tấn. Tôi ngó lên thấy Anatoli thợ máy người Estonia. Có hơi ngạc nhiên tôi hỏi:
– Ông xuống hồi nào?
– Hồi khuya.
– Sao tui hổng nghe ai nói hết. Ông nhún vai nói:
– Tui hổng biết. Chuyện thay đổi người hoặc tin tức này nọ trên tàu thường thì thuyền phó nói cho tôi biết, nhưng có lẽ mấy hôm nay bận rộn chuyến hàng nên nó hổng có thời gian để thông báo. Thợ máy hỏi:
– Ông có cà phê không? Tôi chỉ tay vô bếp:
– Có, ông vô bếp lấy đi. Tàu qua kinh Kiel lúc khuya, thủy thủ thức làm việc cho tới khi tàu vô kinh mới ngủ, sáng nay thủy thủ ngủ bù nên tôi không dọn bàn ăn, với lại người In Đô ăn sáng cũng dễ, trên tàu bơ, sữa, dăm bông, phó mát và mứt trái cây để đầy tủ lạnh nhưng ít khi người In Đô rớ tới, họ thường ăn mì gói với cái trứng luộc hoặc cơm nguội với trứng chiên omelet là xong. Tôi dọn bàn xong trở vô bếp, thì thợ máy lấy cà phê rồi đi đâu mất, có lẽ ông ta xuống hầm máy. Tôi lấy nồi đổ mấy chai nước vô hầm xương để nấu súp, chỉ mới pha cà phê và hầm xương bò mà hết bốn chai nước lọc rồi. Hôm nay tôi định làm món hachee, ăn với cơm trắng hoặc khoai tây luộc và bắp cải đỏ hầm táo, hachee là món thịt bò hầm với củ hành tây, món ăn truyền thống của Hoà Lan và hợp khẩu với phần đông người Hoà Lan, chớ người nước khác thì không khoái khẩu lắm, trên tàu chỉ có một thằng nhỏ phụ máy là người Hoà Lan. Thật ra thì trên tàu đầu bếp nấu món gì thủy thủ đoàn phải ăn món đó, không ai có quyền ọ ẹ, theo luật là như vậy, chớ người nào hổng ăn và cũng hổng ọ ẹ thì hổng lẻ lấy thức ăn nhét vô họng bắt họ ăn. Tôi hổng muốn thức ăn của mình bỏ công ra nấu mà ít có người thưởng thức, bị dư thừa rồi đem đổ bỏ. Tôi quyết định thay món hachee ra món bò hầm cà rốt, khoai tây ăn với cơm trắng, món súp tôi đổi lại món borsch, món này nổi tiếng của nước Đông Âu và Nga, dân nước nào ăn cũng thấy ngon. Tôi day qua lấy thịt bò ra định xắt thì thuyền trưởng điện thoại hỏi chuyện nước nôi và hỏi tôi có bị rắc rối gì nữa không? Tôi nói:
– Tất cả đều tốt nhưng kho nước lọc của ông từ đây tới chiều tốn hao nhiều lắm đó. Thuyền trưởng cười ha hả và nói:
– Không thành vấn đề. Tôi định gác máy, nhưng ông nói tiếp:
– À, Bếp làm thêm hai phần ăn cho buổi trưa và bây giờ thì phiền Bếp làm hai phần ăn cho người lái tàu và hoa tiêu nhé, Edy sẽ xuống bưng lên cho họ.
– Yes sir. Tàu qua ngang kinh Kiel phải dùng hoa tiêu và người lái tàu của địa phương, cho nên mỗi lần qua đây khỏi cần thuyền trưởng nhắc nhở tôi cũng nấu thêm hai ba phần ăn. Trong lúc tôi sắp bánh mì ra dĩa, trét bơ, để lên mấy miếng phó mát và bắt chảo lên lò định chiên trứng thì Edy xuống. Tôi ngạc nhiên nói:
– Oh, sao lẹ vậy ?
– Thuyền trưởng vừa gọi, con xuống liền. Thấy tôi đang đập trứng bỏ vô chảo, nó nói:
– Để con phụ chú, chú chiên trứng đi.
– Ok.  
Chuyện mấy đứa vô bếp phụ tôi làm không phải bắt buộc, tuy nhiên mấy đứa thích phụ tôi lắm, nhưng tôi cho vô bếp chỉ một đứa thôi, trước đây Ama phụ, Ama về rồi Edy xin vô phụ. Edy mở tủ lấy chiếc mâm vuông, lấy giấy lau gói dao, nĩa lại để lên mâm và  lấy tách rót nước trái cây. Edy dọn mâm xong thì tôi cũng vừa chiên trứng để lên bánh mì và tôi để hai phần ăn lên mâm cho Edy bưng lên phòng lái. Edy vừa đi thì thuyền phó cũng vừa tới, nó ló mặt vô bếp hỏi:
– Bếp có thể chiên cho tôi hai cái trứng sunny-side-up (mặt trời chiếu ngược, tức là trứng chiên một mặt) được không? Tôi nhìn lên đồng hồ trên vách, nãy giờ lo chuyện nước nôi làm lố giờ ăn sáng rồi, tôi day qua nói:
– Dĩ nhiên, nhưng mày phải chờ.
– Ok. Tôi chiên trứng dọn ra bàn cho thuyền phó thì thấy thằng nhỏ phụ máy đã ngồi trong bàn ăn hồi nào, tôi hỏi nó:
– Mày ăn trứng không tao chiên luôn. Nó lắc đầu:
– Không, cám ơn Bếp. Tôi trở vô bếp thì thấy Edy đứng khoanh tay trong góc bếp. Tôi hỏi:
– Sao con hổng ngủ?
– Ăn xong con ngủ.
– Oh, vậy con ăn mì gói không chú nấu. Nó dở nắp nồi cơm, thấy còn cơm nguội, nó day ngang lấy dĩa vừa bới cơm vừa hỏi:
– Chú chiên trứng cho con được không?
– Dĩ nhiên. Nó bưng cơm đem bỏ vô lò vi sóng, tôi đánh trứng ra chiên cho nó, thường những người In Đô ít khi ăn trứng chiên nửa sống nửa chín. Một lát sau Edy bưng dĩa cơm đã hâm nóng trở lại và cầm theo cái tô dơ của Philip ăn hồi nãy đưa cho tôi, miệng nó càu nhàu:
– Cái thằng, ăn xong rồi bỏ đó, đi mất tiêu rồi. Tôi nói:
– Nó mới xuống mà, nếu nó hổng biết chuyện gì thì từ từ con chỉ cho nó. Tôi lấy cái sạn xúc trứng bỏ vô dĩa cơm của Edy:
– Phần của con xong rồi nè.
– Cảm ơn chú, con bưng lên phòng ăn nhé chú.
– Ok, ăn ngon. Thuyền phó và phụ máy ăn xong rồi đem dao, nĩa, dĩa dơ vô đưa cho tôi, tôi sắp mọi thứ vô máy, coi như bữa ăn sáng đã xong rồi. Tôi day ngang thấy nồi xương hầm sôi lên bọt sắp trào, tôi vặn bớt lửa và vội lấy dá vớt bọt. Xong tôi định đi lên phòng nghỉ ngơi một chút rồi xuống xắt thịt. Vừa đi tới cầu thang thì chạm mặt thuyền trưởng, ông bưng chiếc mâm của người lái tàu và hoa tiêu đã ăn xong đi xuống. Thấy tôi ông chào:
– Xin chào ông bếp. Tôi ngạc nhiên khi nghe ông chào bằng tiếng Việt và thốt lên:
– Oh! Chào! Tiện tay ông đưa chiếc mâm cho tôi và hỏi tôi:
– Bếp chiên cho tui hai cái trứng sunny-side-up được không?
– Dĩ nhiên.
Tôi bưng mâm trở vô bếp để lên bàn, day ngang bật điện lò và bắt chảo lên. Trong lúc chờ chảo nóng, thuyền trưởng vô đứng bên tôi và đưa máy điện thoại ra khoe:
– Năm rồi tui có đi du lịch bến Ninh Kiều, Cần Thơ, Tây Đô nè. Chắc hôm đi du lịch học được vài ba tiếng Việt, hôm xuống tàu tới nay bận rộn nên quên, hôm nay nhớ lại mới đem ra xài, mấy tên địa danh ông nói dính chùm nhau, nhưng giọng ông rõ ràng tôi nghe là hiểu liền. Làm ra vẻ hiểu biết, ông nói Cần Thơ mà còn kèm theo Tây Đô nữa. Dạo sau này những người Tây tôi biết thường đi du lịch Việt Nam, khi trở về gặp tôi hay khoe. Tôi day qua vui vẻ nói:
– Oh, đã quá vậy? Ông có ý định khoe nên mở điện thoại trước, khi đưa ra cho tôi xem thì trên màn hình đã hiện sẵn những chiếc đò dọc và vỏ lải đuôi tôm chạy trên sông, ông bấm tiếp cho tôi xem chợ nổi Cái Răng, tham quan lò làm hủ tiếu và ngồi ăn cá lóc nướng trui trong một cái quán miệt vườn. Cuối cùng dừng lại tấm hình ông mặc quần đùi, mang ba lô đứng dưới chân tượng ông Hồ Chí Minh trên bến Ninh Kiều. Ông chỉ tay vô tấm hình và hỏi:
– Bếp thích cái này không ? Tôi nhớ có lần tới công trường cách mạng tháng mười ở St. Petersburg tôi có chụp hình đứng trước tượng ông Lenin và tôi có khoe cho thuyền trưởng, lúc đó ông còn là thuyền phó. Hôm đó ông cũng hỏi tôi câu tương tợ như vậy. Tôi cười nhưng không trả lời thẳng:
– Chỉ là pho tượng thôi mà, nước Nga cũng quá trời tượng vinh danh ông kia, bà nọ, hồi đó tui qua St. Petersburg cũng có chụp tượng ông Lenin vậy.
– À, tui nhớ rồi. Chợt tôi nghe mùi khét, tôi ngó qua bếp thấy chiếc chảo đặt trên lò khói bốc lên nghi ngút, tôi vội day ngang nhắc chảo xuống rồi day lại cười nói:
– Nãy giờ tui với ông lo tán chuyện nên chảo bị cháy rồi.
– Oh, xin lỗi.
– Hổng sao, ông ra bàn ngồi uống cà phê chờ tui, trứng chiên một mặt lâu hơn trứng chiên hai mặt.
– Thiệt hả?
– Thiệt mà, tự nhiên tôi cao hứng giải thích, trứng chiên một mặt phải để lửa nhỏ cho trứng chín từ từ và sau khi đập trứng bỏ vô chảo chiên phải cho vài giọt nước để phía dưới không bị khô, chiên sao tròng trắng phải đặc màu sữa, tròng vàng còn nguyên là được. Còn chiên hai mặt thì để lửa cao một chút đập trứng vô chảo rồi lấy sạn lật qua lật lại hai ba phút là xong. – Oh, bây giờ tui mới biết tại sao ai cũng thích trứng chiên của ông, nhứt là trứng chiên với thịt ba chỉ hun khói.
– Ông nói đúng, thường thì sáng nào tôi cũng mất một khoảng thời gian chiên trứng cho thủy thủ đoàn. À mà ông muốn trứng với thịt ba chỉ không?
– Hôm nay thì không. Ông day lưng đi qua phòng ăn. Tôi day lại đem chảo rửa và bắt lên bếp. Chiên trứng xong đem ra cho ông, tôi hỏi:
– Ông đi du lịch tour hay là tự đi?
– Tui đi với người bạn.
– Vui không? Và ăn, uống được không?
– Vui chớ, người Miền Tây rất vui, đi đường gặp người nào cũng cười chào, thức ăn thì món nào tui ăn cũng ngon, trừ cái món lẩu mắm là tôi chịu hổng được.
– Ha ha…Tui là người Miền Tây mà ăn còn hổng vô nữa nói chi ông. Thôi,  ăn trứng sunny side up cho ngon.
– Cảm ơn. Tôi nhìn đồng hồ đã qua chín giờ, mất toi giờ nghỉ giải lao và lố luôn thời gian làm việc. Tôi lật đật đem thịt bò ra xắt, loại thịt bò dai như da dày này hầm hai tiếng trở lên mới ăn được. Những năm gần đây trong đám thủy thủ người Nga tôi quen biết, họ thường mang ba lô đi một mình hoặc đi với bạn bè nên họ khác với người Hoà Lan thường đi tour trọn gói, loại mắc tiền nên đi về họ kể lại những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, ngủ trong khách sạn cao cấp và ăn, uống trong nhà hàng hạng sang nên gặp tôi họ khen Việt Nam đẹp, thức ăn ngon, phục vụ tốt. Còn người Nga đi du lịch ba lô nên gần gũi với thiên nhiên và hiểu biết chút ít nhân tình thế thái, về những món ăn bình dân như phở, gỏi cuốn tôm và thịt ba chỉ, thịt kho, cá lóc nướng trui, lẩu mắm. Họ còn biết chuyện kinh tế nước Việt Nam đang phát triển và biết luôn những sự cố rừng núi bị tàn phá, sông Cửu Long bị ô nhiễm, ngập mặn… Trước kia khi nghe họ khen Việt Nam giàu đẹp và là một quốc gia đang phát triển, tôi thích thú và hãnh diện vô cùng. Rồi một ngày tôi ngộ ra những người đi du lịch dù hình thức nào đi nữa, một năm đi một lần thì cũng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa. Cho nên tôi nghe và ra vẻ đồng tình xã giao vậy thôi chớ thiệt ra hổng còn cảm xúc vui vẻ khi nghe những chuyện tốt hoặc bức xúc khi nghe những chuyện xấu xa như trước kia nữa. Tôi xắt thịt vừa xong thì thuyền trưởng cũng đã ăn xong, ông đem dao, nĩa, dĩa, tách dơ vô để vào chậu. Rồi day qua nói với tôi:
– Trưa nay tui hổng ăn, chiều ăn luôn.
– Ok. Ngủ ngon.
Trong khi tôi phi tỏi, hành và cho thịt vô xào thì thợ máy từ dưới hầm máy chui lên, ló đầu vô bếp hỏi:
– Ông có cornflakes không?
– Dĩ nhiên, tôi để trong tủ phòng ăn.
– Ông cho tui mượn cái tô và cái muỗng, tôi ăn Cornflakes được rồi. Tôi day qua kệ lấy tô và kéo học tủ lấy muỗng đưa cho ông:
– Ăn ngon.
Tôi biết Anatoli trong những ngày đầu nước Hoà Lan nhận lao động Nga và Đông Âu sang làm việc. Thời gian đó thủy thủ người Hoà Lan và người Nga tranh chấp, kỳ thị nhau căng lắm. Người Hoà Lan bình thường trông rất hiền hoà, bỗng chốc tôi thấy từ thuyền trưởng cho tới những người cấp dưới ông bộc lộ tánh kỳ thị rất nặng, họ tỏ thái độ rất là hung hăng, không chịu ngồi ăn chung với người Nga, tới giờ ăn các ông lấy đồ ăn bưng lên phòng hoặc xuống ăn trước giờ ăn, thợ máy không chịu phụ máy người Nga hoặc phụ máy hổng chịu làm việc chung với thợ máy người Nga, làm việc chung với nhau mà ngày nào cũng nghe nói xấu người Nga và có khi chửi bới người ta om sòm. Tuy quốc gia Estonia đã sát nhập vào Âu Châu nhưng Anatoli cũng bị chung số phận, ông là thợ máy chánh, bận rất nhiều chuyện, cái máy rửa chén bị hư những thợ máy người Hoà Lan không sửa được, thuyền trưởng bắt Anatoli sửa đi sửa lại hoài, máy cũ xì rồi sửa sao được, các người lấy đó làm đề tài nói xấu người ta. Thật tình thì lúc đó tôi cũng hổng ưa tánh tình của những người trong khối cộng sản lắm, họ nhậu nhẹt, quậy phá, giữa đêm khuya muốn ăn thì gõ cửa phòng đầu bếp hỏi đồ ăn, muốn chơi thì lên gõ cửa phòng con nhỏ thuyền phó đòi chơi, ban ngày thì thừa cơ hội rờ mông, bóp chim con người ta… dĩ nhiên chuyện như vậy chỉ có vài tên say xỉn thôi nhưng cũng là đề tài cho người Hoà Lan đem ra châm biếm và bôi bác rồi. Tuy bực mình nhưng thấy Anatoli bị đì tội nghiệp, nhưng tôi không giúp được gì ông ta hết, chỉ biết động viên về mặt tinh thần, thân thiện, vui vẻ với ông. Có lần tôi rủ ông lên hội quán chơi, trong lúc ngồi uống bia ông nói với tôi:
– Mình ở nước nhỏ nên bị mấy người ở nước lớn xem thường. Tôi nói:
– Nước Hoà Lan cũng nhỏ mà.
– Nhưng nó giàu. Tôi nhìn Anatoli và nói:
– Giàu nghèo gì thì ở cũng một cái nhà, ăn cũng đầy một cái bụng, tối ngủ cũng có một cái giường.
– Ông ở Hoà Lan nên ông mới nói vậy. Ông đưa ngón tay trỏ và ngón cái chà chà vào nhau và nói tiếp:
– No money, no honey… Câu thành ngữ tiếng Anh no money, no honey, đại khái là không có tiền thì không vui vẻ, không hạnh phúc, câu này tôi thường nghe những người nói với thái độ đùa vui hoặc của các cô gái trong các hộp đêm. Nên khi nghe Anatoli thốt lên với giọng nghiêm túc, tôi thấy nó sao sao. Tôi ôn tồn và nói ra sự trải nghiệm của thân phận ăn nhờ ở đậu nước người ta:
– Tại ông nghĩ vậy thôi, chớ ít tiền cũng vẫn sống vui vẻ được mà. Thấy ông ngẫm nghĩ tôi nói tiếp:
– Ông biết không, tui chạy trốn khỏi Cộng Sản tới Hoà Lan định cư trong những ngày còn trẻ, cả đời làm lụng vất vả và đóng thuế đầy đủ cho đất nước này, được cái là sống trong thế giới tự do thôi, chớ thiệt ra tui vẫn là người Việt và người Hoà Lan họ cũng đâu có coi tôi là người của họ. – Nhưng ông quốc tịch Hoà Lan thì ông vẫn là người Hoà Lan. Hết ở Hoà Lan rồi tới vẫn là người Hoà Lan! Nãy giờ thấy ông chú ý lắng nghe và trầm ngâm suy nghĩ, tôi tưởng ông cũng lãnh hội được ít nhiều những gì tôi nói, nhưng xem ra những lời nói của tôi hổng thấm tháp gì với ông hết. Lúc đó tôi mới nhận ra cùng một khối Cộng Sản với nhau nhưng khi tan rã ra thì tâm trạng của mỗi người dân của mỗi nước mỗi khác nhau. Người Nga thì có vẻ cao ngạo, tự hào, còn dân những nước nhỏ cạnh nước Nga mà vài người tôi được biết, cũng như Anatoli, họ nhẫn nhịn và âm thầm làm việc, họ sống tách biệt với mọi người. Tôi nhìn thẳng mặt Anatoli, ông cúi xuống cầm ly bia xoay xoay, tôi nghĩ gần một thế kỷ người Estonia bị đảng Cộng Sản Nga cai trị, cho nên dân tộc này gương mặt lúc nào cũng buồn bã, cam chịu, giống như người Nga, trong đầu họ chỉ biết làm sao kiếm được thiệt nhiều tiền, ngoài ra không còn gì khác. Có thể vì vậy những lời tâm sự của tôi đối với ông cũng như nước đổ đầu vịt mà thôi. Muốn thân thiện với Anatoli lắm, nhưng thái độ và cách nói chuyện của ông tôi nghe hơi kì kì, thật tình là tôi nghe hổng lọt lỗ tai.   Sau chuyến đó tôi đổi tàu đi những tuyến đường khác. Hơn năm sau tôi mới trở lại gặp ông. Lúc đó tình hình thay đổi rất nhiều, những người Hoà Lan không chịu làm chung với những người Nga thì nghỉ việc công ty này đi làm cho công ty khác. Những người còn ở lại người nào cũng thay đổi tánh tình, họ thay đổi một trăm tám mươi độ la bàn, sống hoà đồng, nói chuyện vui vẻ và chuyện ngồi hơi ăn, uống chung chạ không còn là vấn đề nữa. Lúc tàu đang hải hành thì giờ cà phê đám officers tự pha cà phê uống trên phòng lái. Trên tàu ngày chủ nhật, tôi làm bánh kem hoặc bánh táo thường thì giờ cà phê phụ thuyền phó, phụ máy hoặc thực tập sinh xuống bưng lên phòng lái. Nhưng hôm đó Anatoli vui vẻ xuống bưng bánh, ông hớn hở khoe với tôi là được ngồi ăn chung với người Hoà Lan và giờ cà phê được lên phòng lái uống chung với họ. Tôi định nói, chuyện đó là quyền lợi của ông, có gì đâu mà ông vui vậy? Nhưng thấy ông vui mừng giống như người được trúng thưởng, sợ ông cụt hứng. Tôi bèn nói:
– Chúc mừng ông nhé. Giờ ăn trưa hôm đó, Edy phụ bưng đồ ăn lên cho tụi hoa tiêu và ăn xong nó phụ tôi dọn dẹp. Trong lúc dọn nó thấy tôi múc riêng ra một phần ăn, bọc giấy nhựa cẩn thận và để trên bàn, nó hỏi:
– Chú dành cho ai vậy? 
Tôi nói với Edy:
– Ông thợ máy.
– Tại sao tới giờ ăn ông hổng vô ăn?
– Có lẽ ông ta bận.
– Tàu đang chạy mà bận gì?
Ngập ngừng một chút, nó nói:
– Ông ta hay làm phiền đầu bếp và coi thường người In Đô lắm, có khi ông ra boong chửi thủy thủ ngoài boong nữa.
– Có chuyện đó sao?
– Con nói thiệt mà.
– Con biết ông ta hả?
– Dạ, mấy năm qua con thường làm chung với ông ta mà, tự cao tự đại lắm, chú coi chừng ông ta đó.
– Oh! Vậy là có vấn đề rồi!
Nghe Edy nói tôi mới nhớ, gặp Anatoli hồi sáng tới giờ hổng thấy ông cười và thái độ của ông hổng còn vồn vã như hồi tôi gặp lần cuối nữa. Trước giờ ăn ông vô bếp dặn tôi dành phần ăn riêng cho ông, hình như ông tránh mặt những người Nga. Trước kia chuyện ăn uống trễ giờ làm tôi bực mình, nhưng sống với người Nga và Đông Âu riết rồi cũng quen, tôi nói với Edy: – Trên tàu có mười một người, đủ cho một đội đá banh mà có tới năm quốc tịch khác nhau, tánh tình mỗi người mỗi khác. Tự cao hay tự thấp gì thì thái độ cũng giống như nhau, mình hổng biết hết được đâu, mặc kệ ông ta đi. Nói thì nói vậy thôi, chớ thiệt ra thì những ý nghĩ ôn hoà, sự bao dung phải có sự từng trải và tập luyện nhiều năm mới có được. Tôi mỉm cười và day nhìn lại Edy, nó cũng nhìn tôi gật gật cái đầu và mỉm cười trông có vẻ đồng tình, nhưng tôi cũng hổng hiểu nó đang nghĩ gì nữa.   Tây Nam Đại Tây Dương 28-2-2021   
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 28 May 2026

Học sinh gốc Việt ở Mỹ sao học giỏi thế? Chỉ nhìn riêng một tiểu bang tiêu biểu như California năm nay (2010) trường Trung Học Bolsa Grande, trong số các tân khoa của trường năm nay có 15 em Việt Nam có điểm trung bình từ 4.45 trở lên, tốt nghiệp thủ khoa là em Denny Trần, Á Khoa là Hannah Nguyễn; trường Trung Học La Quinta Thủ khoa là Đặng Kim, Á khoa là Nguyễn Terry; trường Trung Học Rancho Alamitos, Thủ khoa là Nguyễn Phương Chi, Á khoa là Sheely Quân; trường Santiago Thủ khoa là Blair Thanh Liễu, Á khoa là Benjamin P. Nguyễn; trường trung học Edison, Thủ khoa là Amy Lê. Nhìn chung trong nước Mỹ, trong số 31 học sinh được xếp hạng xuất sắc toàn quốc, đã có 25 em là Việt Nam.

Năm 2009 Học Khu Garden Grove có 8 thủ khoa, thì đã 5 là người Việt Nam. Cũng không phải tất cả các em xuất sắc đều sống ở Mỹ lâu và cha mẹ giỏi tiếng Anh. Tại Suffok, Virginia, nơi dân Á Châu chỉ có 1%, hai em Linh Đoàn và Hạnh Đoàn mới sang Mỹ chỉ có ba năm, lúc Linh đã 17 tuổi và Hạnh đã 16. Ngày mới sang không biết tiếng Anh, mỗi khi cần nói với giáo viên, hai em phải viết xuống giấy, nay hai em đều tốt nghiệp trung học Nansemond River với hạng danh dự. Báo chí trong nước, than phiền nền giáo dục xuống cấp tệ hại. Học sinh lớp 12 viết Việt Ngữ còn sai, không biết gì về lịch sử, chạy theo thị hiếu thấp hèn, đua đòi ăn diện, ăn chơi. Đến kỳ thi thì mua đề  thi, ký cóp, gian lận đủ kiểu để đạt mục đích, nhiều vì văn bằng được mua bán, trao đổi. Nhà trường người đỗ đạt bằng cấp nhưng thực chất không có gì, mang bệnh thành tích của chế độ không đủ điểm vẫn có bằng, nâng cao tỷ lệ đạt kết quả để có kết quả thi đua.

Cũng giống quýt đó, trồng ở Giang Nam thì ngọt, trồng ở Giang Bắc thì chua. Đó chính là nhờ phân, nước, khí hậu mỗi nơi cho những thứ trái có phẩm chất khác nhau. Điều gì, môi trường nào đã làm cho những hạt giống Việt trên mảnh đất người, nẩy mầm tốt đẹp, hứa hẹn cho những vụ được mùa cây trái trong tương lai như thế? Ở Mỹ, cần học giỏi có điểm cao mới vào được trường đại học tốt, tốt nghiệp có điểm cao và từ những đại học tốt mới dễ kiếm việc làm và có đồng lương cao. Nhiều sinh viên xuất sắc chưa lãnh bằng tốt nghiệp đã được các công ty trải thảm đỏ đón mời. Ở Việt Nam, không cần học hay học giỏi, không cần điểm cao cũng vào được đại học. Không cần tốt nghiệp đại học, dốt hay điểm thấp cũng có việc làm, lại việc làm tốt, lương cao và lại có nhiều quyền lực. Thật ra người Việt ở trong và ngoài nước có thừa thông minh, cần cù và hiếu học, năng lực cũng như nhau, có khác là ngày nay sách vở chuyên khoa hầu hết bằng Anh Ngữ, sinh viên trong nước có khuyết điểm không có nhiều cơ hội học hỏi nhiều. Nhưng giỏi giang, xuất sắc để làm gì, nếu tài năng đó không được dùng đúng chỗ và trả công xứng đáng. Ở ngoại quốc, chính phủ cũng như các công ty tư nhân chọn người có bằng cấp chuyên môn, có khả năng điều hành công việc, trái lại ở Việt Nam chính phủ chọn người có lý lịch, quen biết và con cái những người có thế lực trong đảng và chính quyền. Người không có thế lực, học giỏi, có bằng cấp cao, dù là ở ngoại quốc về, mang tấm bằng của các trường đại học nổi danh cũng phải xếp xó hay đứng hàng thứ yếu nếu không có thế, có lực trong bộ máy điều hành của đảng và chính quyền. Trước đây chúng ta đã nghe câu chuyện một nữ sinh viên tốt nghiệp ở Nga, mang mảnh bằng về Hà Nội, nhưng đi đến cơ quan nào cũng bị tiếp đón lạnh nhạt, dè bĩu là “bằng chạy”, “lo lót để được du học”, “sang Nga để buôn lậu” (vì mẫu số chung là như thế), cô sinh viên cảm thấy lạc lõng trên quê hương “khốn nạn” này và cuối cùng đành giã từ đất nước ấy ra đi, trở lại Nga dù không biết sẽ làm gì, tương lai ra sao! Học sinh không cần giỏi, chỉ cần biết sống theo hoàn cảnh Việt Nam. Bản tin báo điện tử VNExpress ngày 26 Tháng Ba 2004: Theo Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo, luận văn đạt điểm xuất sắc của một số cơ sở đào tạo đang chiếm gần 90%, học viên hầu hết đạt điểm tối đa. Phó Giám Đốc Học Viện Quân Y – Nguyễn Xuân Nguyên, còn ví tình trạng chấm luận văn điểm cao hiện nay như một “bệnh dịch”. Tình trạng cho điểm “dễ dãi” bất chấp phẩm chất luận án tốt nghiệp đã xẩy ra chỉ nhờ học trò “tiếp cận” tới nhà riêng của giáo sư.

Ngay đến tình trạng học sinh tiểu học muốn có điểm cao, lên lớp không cần phải có khả năng nhưng phải đóng tiền học cho cô giáo dạy kèm thêm, nên giờ ở lớp, cô giáo lãnh lương chính phủ không quan trọng bằng giờ dạy kèm tại nhà riêng, cô thầy giáo nhận tiền từ phụ huynh học sinh. Ai có can đảm không cho con mình theo học những lớp dạy kèm này. Điều đáng xấu hổ là hiện này ở Việt Nam, học sinh mẫu giáo cũng phải đi học thêm ở lớp dạy kèm của cô giáo để có đủ điểm vào bậc tiểu học. Từ đó, ngoài tiền học thêm, gia đình còn phải lo quà cáp Lễ, Tết, cho thầy, cô giáo. Dân lo chạy gạo từng ngày, bây giờ việc cho con đến trường là một gánh nặng lớn không thể không lo. Thầy cô giáo từ đó, không cần phải dạy giỏi, cũng trở thành giáo viên ưu tú nhờ biết điều với ban giám hiệu cũng như cấp lãnh đạo giáo dục. Nền giáo dục trong nước bây giờ là một thứ chợ trời, ở đó người ta mua vào bán ra nhiều thứ, không thiếu một món nào.

Người ta tuỳ tiện bổ nhiệm người vào các chức vụ theo ý thích, xong rồi “cơ quan sẽ tạo điều kiện cho anh đi lấy bằng cấp” để hợp thức hóa bằng cách cho đi học “đại học tại chức” tức là học đại, vì cán bộ có trình độ lớp ba làm sao nuốt nổi bài vở đại học. Tổng giám đốc đi học bằng xe con, có cận vệ, có cả túi tiền, bố thằng nào dám không cho chúng tốt nghiệp. Không theo đại học tại chức thì bây giờ có phong trào mua bằng, đủ loại Tiến Sĩ, Thạc Sĩ cho Giám Đốc hay cỡ Tú Tài cho trưởng phòng, nhân viên, công an. Hiện nay Đại Học Quốc Gia Hà Nội đang liên kết với một loại trường Đại Học ở Mỹ chuyên cấp bằng tiến sĩ loại mua bằng với giá từ $17,000 đô la. Do đó chúng ta có một Giám Đốc Sở Văn Hoá, Thể Thao & Du Lịch tận Phú Thọ là Nguyễn Ngọc Ân có tới bằng tiến sĩ “kinh tế quản trị kinh doanh”. Ông này cho biết ông đã “học” tiến sĩ này tại Mỹ hai lần cách nhau hai năm, mỗi lần một tuần, nghe giảng bằng tiếng Anh được phiên dịch ra tiếng Việt và cả khi bảo vệ luận án cũng có người dịch cho ông. Nghe nói bằng tiến sĩ của ông giám đốc này có cả chữ ký của Tổng Thống Bill Clinton nữa mới kinh!

Trong một cơ quan, người chuyên viên giỏi thường bị ganh ghét, dèm pha nếu không nằm trong hệ thống phe đảng, con ông cháu cha. Cơ quan nào cũng kéo bè lập đảng, người ngoài khó lọt vào và cuối cùng cơ quan nào cũng đạt những thành tích. Bệnh thành tích là một bệnh kinh niên trong chế độ Cộng Sản “làm láo, báo cáo hay”. Học sinh có thành tích học giỏi, giáo viên có thành tích dạy giỏi, hãng xưởng sản xuất vượt chỉ tiêu, đại hội đảng nào cũng thành công rực rỡ, cá nhân nào cũng là xuất sắc nhờ làm việc đích thực, “theo gương bác Hồ”, mà không cần phải có tài năng Bây giờ hầu hết giống quýt đều muốn được trồng ở Giang Nam, chứ không muốn mọc ở Giang Bắc. Sinh viên Việt Nam muốn ở lại Mỹ, dù làm việc vất vả, nhưng nhân phẩm được tôn trọng, tài năng được xử dụng, và công lao được bù đắp xứng đáng. Nhưng con cháu của cán bộ cao cấp thì lại muốn mau mau trở về, vì chức vụ đã dành sẵn, bỗng lộc đang chờ đợi từ những ông bố tận lực “củng cố đời con” trong khẩu hiệu mới: “còn đảng, còn mình. Điều khó cho một xã hội mai sau khi chế độ Cộng Sản không còn tồn tại trên đất nước chúng ta, không phải là chuyện làm giàu cho đất nước, mà chuyện khó lòng cải tạo được một nếp sống đã hoá thạch và làm sao cho mỗi công dân được sống cho ra con người.

Hiện nay con cái chúng ta ở Mỹ cố gắng học hành, tin vào sức mình thì học sinh Việt Nam đến kỳ thi lo học tủ, chạy đề thi hay rủ nhau đi sờ “đầu rùa” trong Văn Miếu để lấy hên, làm sao đất Giang Bắc ấy không sinh ra giống quýt chua được?

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 28 May 2026

Báo The Courier-Mail của nước Úc hôm 28/7 ghi nhận chỉ trong vòng 7 tháng đầu năm 2013, dã có 759 người Việt dùng thuyền ty nạn đến Úc, trong khi Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay tự hào cơm no áo ấm, xã hội tiên tiến, độc lập, tự do, hạnh phúc. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, chúng ta là những người vượt biển tìm tụ do, hẳn đã biết thế nào là nỗi thống khố, bỏ quê hương, làng mạc để ra đi, chịu đói khát, bị hải tặc cướp bóc, hiếp dâm hay chặt đầu, xô xuống biển, nên hết sức thông cảm với hoản cảnh những người đã vượt biển này. Ty nạn, dù là chính trị hay kinh tế cũng là điều đáng thương. Những quốc gia độc tài, hà khắc buộc những người dân phải ra đi tị nạn, hay những chính phủ không lo đủ cơm áo cho nhân dân, để dân phải bỏ nuớc đi tìm miếng cơm ở xứ người cũng phải được lên án như nhau. Dân Mễ Tây Cơ từ năm 1985 vượt biên sang Mỹ mỗi năm chết vì hơi nóng sa mạc, mất nước khoảng 200 người, nhưng từ năm 1995 trở về sau, số người chết này tăng gắp đôi, như vậy cộng với những người đi thoát dến Mỹ, đây là một quốc gia có người bỏ nước vì miếng ăn cao nhất.

Hiện nay, những người tị nạn Việt nam đến Úc không có cơ may được nước Úc cứu xét cho định cư tại nước này và nếu có đủ tiêu chuẩn của một người tị nạn họ sẽ dược đưa sang Papua New Guinca. Tệ hại hơn nữa là chính quyền Úc đã thỏa thuận cho phép công an từ Việt Nam, nơi mà người tị nạn đã bỏ ra đi, vào tận các trại giam người tị nạn để “làm việc,” có nghĩa là sẽ truy cặp tên tuổi và chi tiết của thân nhân họ hiện ở Việt Nam. Hành động này của chính quyền Úc, theo quy ước của người tị nạn là sai trái. Thật sự, nếu công an thẩm vấn người tị nạn để tìm ra những đường giây buôn người thì được nhưng không thể dùng căn cước của những người tị nạn để trả thù thân nhân họ như thói quen và đường lối trả thù của các nước cộng sản. Nhưng câu hỏi dược giới truyền thông Úc đặt ra là những người gọi là “tị nạn” nảy muốn gì khi đặt chân đến Úc? Đa số không phải là người tị nạn thực sự. Nhiều người khai là vô gia đình, nhưng hồ sơ cho thấy một số trước đây đã du lịch đến Úc. Có người, sau khi du lịch đến Úc, họ hủy visa và xin ở lại đoản tụ với gia đình vì bị đàn áp.

Courier Mail hôm 28/7 nói làn sóng thuyền nhân Việt Nam gia tăng, với 759 người đến Úc năm nay, nguyên nhân có tổ chức đưa người Việt lên thuyền sang Úc làm gái bán dâm hoặc buôn ma túy. Ở Darwin, chính quyền cũng đã phát hiện một ổ mại dâm của người Việt ngay bên trong trung tâm giam giữ người xin tị nạn! Quả thật xấu hổ! Những người tị nạn đến Úc trước đây, giờ đã ổn định cuộc sống, thì lại muốn “trả ơn” cho đất nước dã cưu mang mình bằng cách trở về Việt Nam và đem bạch phiến trở lại Úc để đầu độc cho thanh niên nước này. Nhật báo The Age ngày 27/7/09 cho biết cảnh sát Úc đã xác dịnh được hơn 10 người Việt ở Melbourne chuyên tải bạch phiến từ Việt Nam vào Úc cho 7 tổ chức tội phạm lớn ở thành phố này.

Cảnh sát cho biết những người mang bạch phiến xuống phi trường Melbourne hàng tuần và đã đi nhiều chuyến như thế. Trong tháng 2 năm 2009. Chỉ trên một chuyến bay mà cảnh sảt đã bắt được bốn người mang bạch phiến vào Úc. Theo ước lượng của cảnh sát thì mỗi tồ chức buôn lậu này kiếm được khoảng S2 triệu Úc Kim mỗi tháng. Một phụ nữ tải” bạch phiến tử Việt Nam đến Úc, bị cảnh sát theo dõi cho biết chỉ trong vòng 6 tháng trong năm 2008, bà này đã “đốt” khoảng $3,7 triệu tại sòng bạc Casino Crown, và đặt $50,000 cho mỗi ván bài …

Theo tin Việt Nam, đã có 25 người Úc gốc Việt bị tống giam ở Việt Nam vì buôn lậu bạch phiến. 6 người trong số này dang chờ ngày xét xử trong khi 19 người đã bị kết tội và bị lãnh án khác nhau. Kể cả tử hình, 20 năm tù hoặc chung thân, 8 người trong số này là cư dân Việt hiện ở tại Victoria. Từ năm 2003 đến nay, ở Việt Nam đã có 7 người Úc gốc Việt bị tuyên án tử hình nhưng đã được giảm xuống án chung thân vì có sự can thiệp của chính phủ Úc! Phải chăng vi luật pháp nuớc Úc quá dễ dãi và vì nước Úc đã bỏ án tử hình từ 1973?

Chúng ta chưa quên bản án từ hình Singapore đã dảnh cho một người “tị nạn” được định cư tại Úc là Nguyễn Tường Vân vào năm 2004. Nếu nói về danh nghĩa “tị nạn” không ai hơn được con người này vì chính Nguyễn Tường Vân và người em song sinh là Nguyễn Đăng Khoa, đã chào dời tại trại tị nạn Songkhla ở Nam Thái Lan ngày 17 tháng 8-1980, sau khi gia đình đã bỏ nước ra đi và sau đó, đã được nước Úc giang vòng tay nhân ái đón nhận cho vào định cư.

Tháng 11-2002. trên đường từ Saigon qua Singapore về Úc, Nguyễn Tường Vân dã bị cảnh sát tại phi trường Changi bắt vì đã mang theo trong mình 396,2-gram bạch phiến, nhiều gấp 25 lần số lượng phải chịu án tử hình theo luật lệ của Singapore. Y khai với cảnh sát là cần kiếm tiền để trả nợ và lo án phí cho em là Nguyễn Đăng Khoa bị ra toà vi tội xử dụng ma tuý và ấu đả. Vào ngày 20 tháng 3 năm 2004, phiên tòa Thượng Thẩm kết án tử hình Nguyễn TườngVân và ảan án đã được thi hành vào ngày 2 tháng 12- 2005, sau khi mọi can thiệp từ Thủ Tướng Úc John Howard, các cựu thủ tướng Gough Whitlam, Bob Hawke, cựu Tổng Toàn Quyền Sir Dean William. các Bộ Trường Ngoại Giao, Tư Pháp, dân biểu nghị sĩ Úc và cả Giáo hội Công Giáo … đến Thủ Tướng Singapore 1ý Hiển Long đều vô hiệu. Thậm chí, Bộ Trưởng Tư pháp Úc Philip Ruddock.

Những người tị nạn Việt Nam đến Úc, như thanh niên Nguyễn Tường Vân, dã “trả ơn” quốc gia này bằng cách đem bạch phiến vào để đầu độc thanh niên Úc, không phải là ít, hai người khác cũng đã bị án tử hình trong số hàng trăm. bạo nhất là Nguyễn Văn Chính với 1kg và Mai Công Thành tới 1.7 kg bạch phiến, số lượng gấp bốn lần cùa tử tội Nguyễn Tường Vân, cung cấp đủ 10,000 liều cho con ghiền.

Cánh cửa nhân ái tiếp đón những người tị nạn phải lìa hò quê hương đã đóng lại hay chính những người tị nạn đã làm cho những đất nước giang cánh tay dón họ thất vọng. Trên con thuyền mỏng manh giữa biển cả mịt mùng, chúng ta cầu nguyện gì, ước ao gì, hứa hẹn gì, tất cả là chỉ mong được đặt chân đến đất liền. Mới ngày nào dến trại tị nạn chúng ta luôn luôn kêu gào chứng tỏ mình là kẻ bị áp bức, kỳ thị, đẩy di, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, đủ cơm ăn, dư áo mặc, da trắng tóc dài … thì lại nghe chuyện trở về nơi mà mình đã nêu đủ lý do để ra đi, với những lý do xây mộ, thăm người nhà, dự tiệc cưới, về quê ăn Tết, du lịch hay hưởng thụ rong chơi. Ngày nào người tị nạn kêu khổ, rầm rộ đổ vào nước Úc, nhận lãnh bao nhiêu thứ trợ cấp, ưu dãi, nhưng bây giờ vào ngày giáp Tết Ẩm Lịch Việt Nam, khu phố Cabramata ở Sydney, các cửa hiệu, hàng quán vắng vẽ vì thiên hạ bận về quê ăn Tếi. Ở các nuớc sau ngày Saigon thất thủ đã nhận cho vào bao nhiêu người tị nạn, nay có bao nhiêu người mỗi năm về Việt Nam, nơi mà chúng ta dã dùng nó như một lý do để xin tị nạn. Chúng ta có thể nhìn thấy hằng trăm cách “trả ơn” nước Mỹ, nước Úc. nước Pháp, nước Anh, nước Gia Nã Đại … Mỗi người tị nạn “trả ơn” quốc gia họ đến một cách khác nhau. Người trồng cần sa ở Anh và tổ chức buôn người vào cho dịch vụ này chính là những người tị nạn. 1984, 9 năm sau khi bỏ nước ra đi, một số bác sĩ người Việt tị nạn vào Mỹ, được ưu tiên nâng đỡ cho học ngắn ngày để có thể trở lại nghề cũ, đã trả ơn bằng cách đục khoét, gian lận quỹ y tế để thủ lợi riêng. Những thanh niên người Việt được nước Mỹ cho học hành, dùng kiến thức ăn cắp ID của người khác làm thẻ tín dụng để tiêu xài. Bằng tấm lòng chân thật, chúng ta có thể thấy nhiều sự “trả ơn” của người Việt tị nạn cho quốc gia họ dang sinh sống. Nguyễn Tường Vân dã đền tội cho sự vô ơn của mình với bản án tử hình, nhưng cũng có nhiều kẻ khác đang sống yên ổn giàu có bằng lối xử sự phản phúc với quốc gia đã cho mình tái định cư. Chúng ta cũng không nên trách cách xử sự của chính quyền Úc đối với 759 người Việt dùng thuyền đến Úc “tị nạn” trong năm nay. Ngày 2 tháng 12-2005, vào giờ Nguyễn Tường Vân lên giá treo cổ 0 Singapore, thánh đường Saint Ignatius Richmond ở Melbourne, nước Úc đã đổ 25 hồi chuông thương tiếc, tượng trưng cho 25 năm của cuộc dời người tử tội này, nhưng nước Úc chưa bao giờ có những hồi chuông cầu nguyện cho quốc gia này không còn những kẻ tị nạn vong ân như thế nữa.