Việt Nam – Buồn quá!

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 26 May 2026

Photo by Tuyen Pham

Lời Người Viết:

Vào buổi “ngoại cuộc” (không phải trong nghĩa chính trị “Bên Thắng/Bên Thua Cuộc”) thanh thản cuối đời, nhân đọc Thơ Haiku của Nhật (bản dịch tiếng Mỹ) thấy điều thú vị nên đã chấp bút bài viết phiếm đàm giữa thơ Haiku Nhật và Lục Bát Việt Nam. Nhưng lần hồi, nhận ra vấn đề không chỉ là chuyện văn chương, thi ca mà có tầm quan trọng, tổng quát hơn, liên hệ đến Sinh Mệnh/đúng ra là Vận Mệnh của Dân Tộc Việt. Vấn đề lớn quá, người viết (lại) biết rõ bản thân chỉ là một Người Lính Già (rất già) của một quân đội thất trận từ 51 năm trước, và hiện là một thứ dân hạng thấp nhất của xã hội Mỹ xét về tiêu chí sinh lợi. Nhưng dẫu gì, cũng là một “Con Người/Người Việt Nam” nên cố gắng tìm cho ra lẻ (đối với bản thân), chứ không ai khác. Bài viết thoạt đầu có tiêu đề “Việt Nam!Tại sao?”nhưng sau thấy nghiêm trọng quá nên điều chỉnh lại “Việt Nam, Buồn quá!”. Vì nghĩ, bất cứ người Việt trong thế kỷ vừa qua, hiện nay dù bất cứ tình thế nào hẳn cũng có lần kêu lên “Buồn quá!”. Người Đọc cũng có thể không đồng ý về những điều sẽ trình bày nhưng chắc phải nhận ra điều THẬT – Cũng bởi Sự Thật chỉ có Một.   

Dẫn Nhập:

Hình như người Tây Phương (điễn hình, cụ thể người Mỹ) trước đây có phần “khớp” đối với người Nhật (như hiện nay, Thế Kỷ 21 (Trước thời kỳ Donald Trump) đối với Tàu cộng). Theo nhận định (từ chủ quan cá nhân), có lẽ do “mặc cảm có tội” về vụ hai quả bom nguyên tử thả xuống Nagasaki và Hiroshima trong tháng 8/1945; nhưng đồng thời, cũng “ngán” người Nhật từ vụ tấn công Trân Châu Cảng (7/12/1941); lần kỹ nghệ, khoa học, tài chánh Nhật bộc phát vượt trội trong thập niên 1960’s. Riêng về lãnh vực văn hóa-nghệ thuật thì loạt phim ảnh với “chủ đề” như Rashomon; Bảy Người Hiệp Sĩ… rõ ràng hơn hẳn loại phim xanh đỏ màu mè của đào kép Hollywood, Paris trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước. Để cuối cùng, điện ảnh Âu Mỹ phải dựng nên loại “người hùng” kiểu OSS 117; 007, Superman, Người Dơi, Người Nhện… chỉ với một cây súng ngắn đánh tan kẻ thù đông đúc có xe tăng, máy bay, hỏa tiễn yểm trợ từ bàn rượu ở New York, sòng bài Monaco đến Bắc Cực mà chiếc sơ-mi trắng không vết dơ, luôn có một cô gái nỏn nường bên cạnh! Chiến sĩ Rambo một mình với hai tay hai súng đại liên đánh tan một tiểu đoàn Vi-xi! Cộng sản Hà Nội, Cục R không chết vì sặc cười kể cũng lạ. Chuyện tư bản Âu Mỹ, tài phiệt Nhật, cộng sản Tàu Việt không nằm trong nội dung câu chuyện muốn trình bày.

Trở lại ý chính của bài viết, người viết thấy ra: Văn học-Nghệ thuật Người Việt thật ra không kém cỏi so với thế giới. Tất nhiên, VN không (thể) có được Tứ Thư, Ngũ Kinh; Đại tác phẩm như Tam Quốc, Thủy Hữ… của văn hóa Hán Tộc 5000 năm; VN cũng không (thể) có Chiến Tranh và Hòa Bình, Anh Em Nhà Karamozov… của Đế Quốc Nga rộng lớn (nhất địa cầu). Nhưng với văn chương bình dân, đại chúng thì Người Mẹ trong thơ Lưu Trọng Lư, văn xuôi  Thanh Tịnh trước 1945; nhạc Phạm Duy, Y Vân, Trúc Phương, Duy Khánh… sau 1954 ở Miền Nam… không kém kịch tính, cảm xúc so với bất kỳ Người Mẹ nào của văn học-nghệ thuật thế giới. Không kể loại “Mẹ cách mạng giải phóng với lựu đạn dấu trong lưng quần” của đám văn công Việt cộng trong chiến tranh “chống Mỹ cứu nước (1960-1975).

Tóm lại, có thể nói Người Mẹ Nga của Gorky không “Đau” hơn Người Mẹ Gio Linh của Phạm Duy cho dù chung chịu cảnh cùng khổ thương tâm. Mẹ VN cũng tìm thấy rất nhiều trong Mậu Thân 1968 ở Huế; trên Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị, nơi Trường Trung Học Bình Long, An Lộc, 1972; trên đường di tản từ Cao Nguyên Trung Phần sau lần Ban Mê Thuộc bị quân cộng sản Bắc Việt đánh chiếm (10/3/1975). Mẹ Việt Nam còn thấy trôi lềnh Biển Đông, xác rãi dài đường bộ vượt biên sau 30/4/1975. Nỗi Đau không riêng Ai! Ở miền Bắc, trong mật khu “giải phóng” miền Nam không thiếu Mẹ có sáu đứa con, ảnh năm con xếp hàng trên bàn thờ, thằng út quá nhỏ nên “cách mạng” chưa kịp xung vào bộ đội. Tôi lại đi quá xa về phía “phản chiến/cộng sản/quốc gia”. Trở lại vấn nạn Việt Nam – Buồn quá?! 

Một.

Đêm qua ra đứng bờ ao

Một ngày cuối năm 1950, thằng bé bảy tuổi vô cớ không muốn vào chơi nhà Bác Thoại thợ điện,  cùng xóm Kiệt 1 Đường Trung Bộ, khu Gia Hội Huế. Gia đình bác Thoại có bốn con trai, hai  anh hơn nó mấy tuổi, hai em, bằng buổi luôn bày những trò chơi hấp dẫn. Nhỏ đi ra đường Gia Hội, rẻ trái xuống phía rạp hát đang xây cất, mới xong mặt trước với bảng hiệu Gia Hội Hí Viện. Qua tiệm thuốc Bắc có hàng Mụ Ta bán những đồ ăn (chơi) đựng trong những mẹt nhỏ đặt trên hàng hiên tiêm thuốc. Mệ bán cho con một đồng khoai ngào. Mi có tiền không? Dạ có một đồng. Món quà gồm những lát khoai ngào đường đen đúa, vụn nhỏ được gói trong tờ giấy tập vỡ đã viết đầy chữ mực tím. Thằng bé có ý nghĩ “mình mua “lương thực”để đi (chơi) xa” Nó đi theo hông tường hí viện, đến bờ sông, leo qua đống rơm, ngồi lên đống gạch ngói của ngôi miếu nhỏ bị phá dở. Nhỏ nhìn ra sông đang trôi chảy giòng lũ của trận lụt vừa qua. Trên mặt nước con chuồn chuồn Ớt màu đỏ bay chập chờn, nước chảy im lặng hắt nắng vàng lóng lánh. Bên kia sông, Cồn Hến có ngôi nhà thờ sơn màu trắng, và phía tay phải xa xa là cầu Trường Tiền sáng màu bạc. Thằng bé có ao ước “Khi (mình) lớn sẽ lội qua Cồn Hến và đi lên Cầu Trường Tiền”. Nhưng nó tránh liếc chéo về chỗ Bến Ôn Bồi (tên người em ôn nội) vì ở đó lần đầu tiên ba cỏng mình lội xuống nước! Ba đi Việt Minh (lâu) rồi! Thằng bé thấy năng nặng ở ngực và mắt cay cay… Nó vất gói khoai xuống nước cho bầy cá cấn, cá mại… Cho tụi mi đó. Nhỏ trở lại nhà. Nền đất lạnh lạnh dưới chân, hắn thấy lại đầu tóc trắng của mệ nội và cái hòm màu đỏ để ở góc phòng sửa soạn cho người sắp chết. Chỗ trũng ngực hình như nặng hơn. Nó đưa tay lên nút áo  trước ngực lay lay.

***

Thời gian sau, khi theo học lóp Năm của cô giáo Lạc Trường Mai Khôi, đứa nhỏ dần đọc thông tiếng Việt, mở cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư bài Đêm qua ra đứng bờ ao… Hình vẽ một người đàn ông mặc áo dài đứng nơi một bờ ao… Nơi xóm nhà đứa nhỏ không có bờ ao, nhưng còn những người đàn ông mặc áo dài (màu đen, đi guốc mộc, tay cầm dù đen), nên đứa nhỏ THẤY RA tình cảnh buồn buồn tội tội của lớp người đang đi qua, dần biến mất. Hình vẽ kèm bài thơ chỉ miêu tả ước lệ, có phần thô thiển, đơn giản nhưng – Buồn Thật. Thật buồn (đúng nghĩa) với nội dung…Buồn trông con nhện giăng tơ… Đêm đêm tưởng giải ngân hà… Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn… Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ. Không biết “giải ngân hà” là gì? “Tào khê” ở đâu? Nhưng “nước chảy hãy còn trơ trơ” thì chắc để nói về cảnh mõi mòn, chờ đợi như mẹ và hắn chiều chiều (luôn) chờ ba về! Hóa ra, bản thân đứa nhỏ hay nhiều thế hệ người Việt đã thấy ra/sống với Nỗi Buồn từ rất lâu – Rất lâu với Sự Buồn – Dẫu chưa biết gọi tên.

Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820) nguyên ủy là Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (1521-1593) Đời nhà Minh Trung Hoa (1368-1644). Chuyện kể cảnh đời truân chuyên của một ca nhi (có thật) tên là Vương Thúy Kiều người vùng Lâm Tri.  Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân là loại tiểu thuyết có chương hồi chỉ là một văn phẩm hạng hai trong kho tàng đồ sộ của văn học Trung Hoa. Chuyện có nhiều yếu tố bất cập về bố cục tiểu thuyết và tâm lý nhân vật. Bối cảnh chính trị-xã hội được mô tả là “…Gia Tỉnh triều Minh bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng…” Nhưng điểm mấu chốt của bi kịch câu chuyện (của Kiều) là do gã bán tơ cáo gian khiến Kiều phải bán mình chuộc cha – Chứng tỏ xã hội không có pháp luật, đầy rẫy tham nhũng, hối lộ, buôn người, giặc giã! Từ Hải được mô tả “… Giang hồ quen thói vẫy vùng. Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài…”- Một đầu lãnh lớn của vùng Việt Đông! Nhưng do chỉ nghe lời khuyến dụ của ả tình nhân (Kiều) mà bỏ sự nghiệp, quân binh mang thân “về với triều đình” để có chút danh lợi nên bị loạn tiễn tan thân!

Nhưng khuyết điểm (tiểu thuyết) của Thanh Tâm Tài Nhân kể trên đã được tài nghệ trác tuyệt của Nguyễn Du “Việt Hóa qua Tâm Thức Đoạn Trường” khiến Thúy Kiều trở thành một mẫu mực bi kịch không chỉ (riêng) trong thi ca văn học mà sống cùng Nỗi Đau Dân Tộc Việt! Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang… Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Không phải là tiếng kêu than “tình phụ” của cô Kiều đối với tình nhân nhưng là lời thống thiết hoài cổ (âm thầm) của Bà Huyện Thanh Quan trước một Thăng Long hoang phế; là mối xót đau của (toàn) tộc Nguyễn (Nghi Xuân/Hà Tĩnh) vốn là công thần triều Nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), nhưng sau lần Gia Long (1802-1820) thống nhất đất nước phải vào Huế chịu cảnh “hàng thần lơ láo” với triều đình Nguyễn. Thế nên, tình cảnh “Xưa sao phong gấm rũ là. Mà nay tan tác như hoa dọc đường” để “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh. Giật mình mình lại thương mình xót xa” không (thể) là lời kêu đau thương vì một mối tình (trai gái) không trọn mà là khối nguồn uất hận lần “nước mất nhà tan” – Tình cảnh của Người Miền Nam sau 30/4/1975 – Nguyễn Du sống mãi với Phận Người-Vận Nước. Mối Đau là mối đau chung.

Hai.

Ai buồn hơn ai?

Tình cảnh thê thảm “Bắc thành thập khẩu khẩn đề cơ/Ngoài Bắc mười miệng người kêu đói” trong khi ở Huế được bữa ăn ngon của Nguyễn Du đối với người thân ở Hà Tĩnh không phải lần đâu tiên, trường hợp đơn lẻ, cá biệt của một gia đình xẩy ra trong suốt lịch sử xã hội đất Nam… Bi kịch xẩy ra toàn diện, thường xuyên và cùng khắp. Tình cảnh đau thương của mỗi con người, một thành phần xã hội Việt Tộc đã hiện thực rất sớm từ khi loạn Thập Nhị Sứ Quân (944-967), do các đầu lĩnh địa phương đồng bằng Bắc Bộ chia phe nhóm giành dựt một bờ tre, mẫu ruộng. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất các phái, mở đầu thờ kỳ tự chủ, độc lập nhà Đinh thì suốt ngàn năm tiếp theo song song chịu tai ương do nạn ngoại xâm phương Bắc (Tống, Nguyên,

Minh, Thanh) cùng biến loạn cung đình các triều đại phong kiến liên tục tiếp diễn – Cuối cùng, có thể nói: Con Người/Tất cả con người đồng rơi vào thảm cảnh (khác nhau về mức độ, hình thức) nhưng chỉ do một “chủ thể nhẫn tâm” quyết định “Lão Tạo Hóa đành hanh quá ngán. Giết đuối người trên cạn mà chơi!”. Giết chơi (thôi) không chút thương xót khiến Ôn Gia Hầu Nguyễn Gia Thiều 1741-1798) dẫu đang trong chốn yên ổn cung đình nhà Hậu Lê cũng phải kêu lên lời bi phẫn. Và ngoài nhân gian thì người đàn bà hà phải lâm cảnh chờ chồng (đi lính thú) đã biến thành tượng đá mõi mòn: Tô Thị miền Bắc, đá Vọng Phu trên núi Đá Bia nhìn ra biển Đại Lãnh, Khánh Hòa. Trên thế gian hỏi nơi đâu có “chinh phụ” thảm thiết như thế? Đá cũng gờn đau!

Thế nên, không chỉ một lần với Nguyễn Du “Việt Hóa” Thúy Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh, Đoàn Thị Điểm (1705-1748) đã diễn nôm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn (1705-1745) đến nay gần ba năm sau mà với tri thức văn hóa kỹ thuật ngôn ngữ cao độ, không một ai có thể chuyển ngâm khúc tuyệt vời ngang tầm của Hồng Hà Nữ Sĩ – Bà Đoàn không chuyển ngữ một tác phẩm văn học nhưng tái cấu trúc, hình tượng hóa Nỗi Đau Muôn Thuở của Người Phụ Nữ-Người Vợ Việt Nam. Tôi không nói quá lời, hãy so sánh…”Ngàn dâu xanh ngắt một màu . Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai” của Đoàn Thị Điểm với tác giả Mỹ Louise Gluck sinh năm 1943 đoạt giải Văn chương Nobel văn học 2020 do những.. “vần thơ chính xác với vẻ đẹp đơn giản đã đưa đời sống cá nhân  lên tầm cao của toàn thể..”/for her unmistakable poetic voice that with austere beauty makes individual existence universal” – Hãy đọc Thơ của Louise về người chồng từ một cuộc hôn nhân tan vỡ năm 1990: “Anh không bao giờ dùng đến ngôn ngữ, Chữ nghĩa đối với anh chỉ để bàn chuyện làm ăn. Anh không nổi giận, Cũng không hề dịu dàng…” Vâng, thơ của Louise Gluck giải Nobel văn học 2020 là vậy. Chỉ là vậy. Tôi (buộc) làm việc so sánh để cố trình bày nên chủ điểm: Người làm thơ, viết nhạc Việt Nam thấm đau hơn.

Ba.

Buồn vào hồn (CÓ) tên!

Bản thân cá nhân vốn là người lính chuyên nghiệp nhảy dù-biệt động không là giới “tao nhân mặc khách” quen với những nội dung thanh nhạc, chữ nghĩa lâm li bi lụy của những người đồng thế hệ trước, sau: Những người làm thơ Nguyễn Bính, Du Tử Lê… Người viết nhạc Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An… Nhưng do đã sống đời vật lý-tâm lý trong một xã hội nông nghiệp-tiểu thành thị trên quê nhà suốt thời thơ ấu qua một hoàn cảnh… Đứa nhỏ nằm trong chiếc nôi tre để bà, mẹ đong đưa ê a câu hò ru em… Chiều chiều lại nhớ chiều chiều… Chiều chiều lại nhớ mai mai…Hoặc…  Đến đây thì phải ở đây. Con chim kêu cũng sợ. Con cá vẫy vùng cũng kinh… Quanh nhà, nắng chiều… Loại nắng xiên khoai, trong chiều tàn thu, gió heo may gờn gọn, chuông “thu không” đầu Chùa Diệu Đế âm âm, u u…Đứa nhỏ mềm đi trong một trạng thái dặt dìu, lặng chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết.

Lớn lên niên thiếu, được nạp tiếp “năng lượng buồn” từ tình cảnh “Đêm qua ra đứng bờ ao…” như trên đã trình bày… Được “dạy” thêm nền tảng/hệ thống văn chương chữ nghĩa xót xa nhẹ nhưng thấm sâu về cảnh cùng khổ trong Nhà Mẹ Lê của Thạch Lam (1910-1942); lời Thơ chân thật đầm đầm nhân hậu của Đoàn Văn Cừ (1913-2004) với kết thúc một đêm hội làng… “Người đi xem nhiều bọn đã ra về. Trên đường vắng lá đề rơi lát đát…”. Tôi có thể kể ra rất nhiều, rất nhiều về một kho tàng văn hóa nhân văn thanh nhã, thắtm thiết mà nhiều thế hệ người làm văn học-nghệ thuật Việt Nam đã hoàn thành một cách rất cảm động, đáng tự hào trước, sau 1945 ở Miền Bắc, và sau 1954 nơi Miền Nam. Nhiều thế hệ người Việt đã dần thấm “buồn” trong tâm cảnh nầy suốt những thập niên 1940, 50, 60… Mà sau 1954 với Chiến Tranh nơi Miền Nam, lan rộng lên Miền Bắc với “Chủ Thể Tính Nhạc Vàng” mà nhà nước cộng sản Hà Nội sau 1975 đã, đang quyết tâm phá bỏ nhưng hoàn toàn thất bại – Bởi Tâm Thức Buồn của Người Việt trên quê hương không một ngày bình yên suốt thế kỷ 20 và ngay tại hôm nay là một Thực Thể Tâm Linh bất biến. Đạo Phật tồn tại sau hơn 2000 năm chỉ trên Tánh Không-Sự Khổ. 

Không khắc nghiệt tuyệt vọng như tình cảnh của Dante (1265-1321) mô tả trong Comedy Divine khi đứng trước cửa Địa Ngục “Vào đây hãy bỏ rơi tất cả hy vọng..” – Nghệ Sĩ Việt Nam/Người Viết Nhạc nơi miền Nam đã viết nên những lời lời ca thương tâm một cách đơn giản tự nhiên… (Do hạn chế cụ thể của bài viết, chỉ nói riêng về Trúc Phương). Trúc Phương được vinh danh là ông “Hoàng Boléro” của nhạc giới Miền Nam từ 1960 mãi cho đến hôm nay. Nhạc Boléro được phổ biến thông dụng, mến chuộng không phải do nhạc lý, lời ca cao viễn, kỳ diệu như Hòa Tấu Khúc Số 9 của Beethoven (1770-1827) phần thanh nhạc dựa vào lời thơ “Ode to Joy/Hoan Ca”. của Schiller (1759-1805). Với hơn 70 nhạc phẩm, trong những năm 1960’s 1970’s Trúc Phương đã viết nên… Bóng nhỏ đường chiều, Buồn theo bước chân em, Buồn một mình, Buồn trong kỷ niệm, Đêm gác trọ/(Ngõ hẹp, Đêm Việt Nam, Em bỏ dòng sông, Hai chuyến tàu đêm, Kẻ ở miền xa, Mắt em buồn, Mưa nửa đêm, Nửa đêm ngoài phố, Tàu đêm năm cũ, Thói đời, Trên bốn vùng chiến thuật… Tôi có thể kể nhiều hơn về Trúc Phương, nhưng nghĩ đã đủ để chứng minh: Buồn là một TÂM CẢNH có thật. Hãy nghe Thói Đời: “Đường thương đau đày ải nhân gian ai chưa qua chưa phải là người. Trong thói đời, cười ra nước mắt… Bạn quên ta tình cũng quên ta nên trắng đêm thui thủi một mình!” Trúc Phương viết những lời cay đắng nầy trước 30/4/1975, lúc lái Mazda, Peugeot 404 trên đường phố Sàigòn, thời gian cùng với Thanh Thúy, Phương Dung tạo nên một hình tượng “tình yêu tan vở” của tuổi trẻ Miền Nam trong chiến tranh- Tình yêu  được đếm từng giờ ngắn ngủi của “24 Giờ Phép”… Người đi chưa đợi sáng… Thương quê hương và bé nhỏ tình này… Vì mình (chỉ còn 16 giờ) bỏ trời đất bơ vơ. Trúc Phương không tưởng tượng vô cớ  – Người Nghệ Sĩ bằng linh cảm tinh tế đã thấy ra tình cảnh sau 30/4/1975: Nhà bị tịch thu vị “tội vượt biên”, gia đình ly tán (ly dị 1979); không đến nỗi đói nhưng gọi no thì không có! Trúc Phương không lâm nạn một mình, tình cảnh “Ngày mai đi nhận xác chồng”- Thơ Lý Thụy Ý, nhạc Phạm Duy được đẩy lên mức cao nhất – Xác không được nhận, chôn lén, bàn thờ  không được lập: Trường hợp của gia đình Thiếu Tá Đặng Sĩ Vinh, Trung Úy Đặng Trần Vinh, Thiếu Tá Trần Đình Tự… Tôi có thể kể nhiều hơn nhưng quả tình đã kiệt sức.

Buồn vào hồn THẬT CÓ TÊN – Buồn mất nước, tan nhà, sống không ra dạng người, chết không yên nấm mộ. Không chỉ sau 30/4/1975 với người Miền Nam mà lan rộng khắp nước kéo dài đến 23 Tháng 10, 2019 với 39 người sinh sau 1975, gốc Nghệ An (Chiếc nôi của cách mạng vô sản Việt Nam/Sô Viết Nghệ Tĩnh 1930) chết ngạt trong container khi nhập cư bất hợp pháp vào đất Anh. Năm 2024 đường vượt biên bất hợp pháp vẫn tiếp tục với 7,500 người đi qua ngã Nam, Trung Mỹ vào để vào Mỹ từ Mexico. Tâm Cảnh của Dân Tộc Việt là Buồn Thật. Quá Buồn!

Hậu Từ.                


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment