Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 27 May 2026



Bài viết đã khá dài phải có kết luận. Xin kể ra những chứng cứ. Dân tộc nói chung, mỗi người Việt nói riêng qua lịch sử dài với điều kiện địa lý-chính trị-kinh tế-văn hóa của một “Nước/Người” nhỏ nằm giữa hai nền văn hóa (quá) lớn và lâu đời hơn Indo-China, nên không (thể) có những Nhà Văn Hóa (lớn) đặc trưng tiêu biểu như Khổng Tử để thấy ra Lý Thái Cực “Thiên-Địa-Vạn Vật nhất thể” với quan niệm “Thệ giả như tư phù. Bất xả trú dạ/Mọi thứ chỉ là bọt bèo. Ngày đêm cứ trôi đi”. Tuy nhiên với bản chất đơn giản, thực tiễn, chịu đựng riêng Người Việt thấy tất cả đều ĐI/TẤT CẢ DI ĐỘNG: Đi ăn-Đi mặc-Đi học-Đi làm-Đi chơi-Đi lính-Đi buôn-Đi bán-Đi làm vợ/Đi lấy chồng… Có những động thái “Đi” không chút xê dịch mà trái lại chỉ xẩy ra tại MỘT vị trí, một địa điểm: Đi ngủ; Đi (ở) tù. Và cụ thể có những lần Đi không ai muốn, không chịu làm: Đi vào chỗ chết! Và một mơ ước (chưa hề thấy ai thực hiện được): Đi lên Thiên Đàng. Vâng, tôi không hề hoạt kệ, ngoa ngôn. Từ thực tế đời sống, đã thấy ra, nói lên lời như Dân Tộc Việt đã qua sống/chết/nói/làm: TẤT CẢ ĐỀU ĐI/TẤT CẢ CHUYỂN DỊCH. Không như ông thông thái Hy Lạp Heraclides Ponticus (387-312 TCN) nói lên lẽ Thường: “Không ai tắm hai lần trên cùng một giòng sông…”, Người Việt cùng Tản Đà (1889-1939) tự nhiên/tự động nói ra/viết nên… Nước “đi đi” mãi không về cùng non! Ai trong cõi nhân sinh thấy nước “đi”?
Trong quá trình ĐI/SỐNG/CHẾT như trên, Người Việt mang nặng cái ách nghiệt: ĐÓI. Chỉ riêng một đời người sinh 1940’s đã thấy: – Đói Ất Dậu (1945-1946) mà Văn Cao (1923-1995), tác gỉa Quốc Ca Tiến Quân Ca đã viết ra trong Chuyến Xe xác Phường Dạ Lạc, Tháng 3/1946: “Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa… Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác…” – Đói Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956) ở đồng bằng Bắc Bộ: “… Buổi chiều trước ngày cha bị bắn, mẹ đưa cơm cho cha (như một ân huệ trước khi bị giết). Cha ăn cơm xong, người ta trả cái giỏ đựng nồi cơm cho mẹ. Mẹ thấy ở dưới đáy nồi mẩu giấy nhắn của cha: Ai ngờ vô tội mà chết oan… Chiến Dịch Đấu Tố thực hiện:…”Cái đói, cái dã man hơn cả thú vật giữa người với người, cái nhục mạ, hành hạ thân xác, tinh thần những nạn nhân vô tội, và cái chết bi thảm, rùng rợn, của những người bị đạp ra khỏi xã hội… Một xã hội chỉ có nhu cầu ăn cho no, sẵn sàng đạp lên xác người khác để có bát gạo.” Sách Gia Đình, Đoạn Đời Niên Thiếu của Phan Thúy Hà (sinh 1979) ở Nghệ An. – Đói Cải Tạo Tư Sản. Tháng 10/1954, quân ông Hồ vào “giải phóng Hà Nội”. Từ 1956 đến 1960, là cuộc thanh trừng trí thức mà Nhân Văn Giai Phẩm là tâm điểm. Cùng thời điểm ấy diễn ra cuộc Cải Tạo Tư Sản 1957. Ba giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Tư Sản và Thanh Trừng Trí Thức được Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Tường kể ra trong tiểu thuyết Une voix dans la nuit/Tiếng nói giữa đêm khuya” xuất bản 1993 tại Pháp:.. những chủ nhà nhỏ, độc thân, không có gia đình, không được hưởng bất cứ trợ cấp hay sự giúp đỡ nào, thấy trước mắt hình ảnh khủng khiếp của cái đói… Có người còn đủ sức, lê gót đến bờ sông gieo mình xuống nước rút ngắn nợ đời… Sáng ra người ta khám phá những xác chết không gia đình ấy quận tròn trong manh chiếu rách thay quan tài và được vất trong hố công cộng.
Sau 1960, ĐÓI đi theo các đơn vị bộ đội vào Nam “Chống Mỹ Cứu Nước”: Đặng Vũ HIệp (1975 sau 1975 được phong thượng tướng), Tháng 4/1972, chỉ huy Trung Đoàn 66 đánh cao điểm Charlie của Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù tường trình: Huyện 80 (?) Tỉnh Komtum ủng hộ Mặt Trận B3 (Vùng Cao Nguyên Trung Phần/Phía cộng sản gọi Tây Nguyên) 180 tấn sắn tươi; riêng mặt trận cánh Đông/Trung Đoàn 66 được 56 tấn. Bộ đội Trung đoàn 66 đã vào vị trí tập kết (để đánh Charlie) cử người đeo gùi trở lại phía sau để lấy sắn về cho đơn vị?! Thành thử trong các trận đánh (quyết) chiếm Charlie trong những ngày 13, 14/4, 1972- Ngày 12/4 Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tử trận) là để kiếm thức ăn của lính TĐ11ND. Sách Ký Úc Tây Nguyên. ĐVH-NXB Quân Đội Nhân Dân. Hà Nội VN, 2002. Cuối cùng, Đói chụp xuống miền Nam, vùng đất dẫu dưới chế độ thực dân Pháp “bóc lột”, từ Thế kỷ 19 qua 20 xuất cảng gạo đứng thứ hai thế giới (sau Thái Lan). Sau 30/4/1975, người Miền Nam được “phân phối” bobo (đại mạch dành cho ngựa); sắn khô, khoai sùng…
Tôi không bi thảm hóa Tâm Thức BUỒN/Vận Mệnh ĐI và ĐÓI của Dân Tộc Việt. Sau 1954 Người dân ở Miền Bắc/Nơi “Thủ Đô” Hà Nội hỏi nhau: Ăn “tiêu chuẩn” bao nhiêu? Đấy chỉ là biến thể của “Ăn cơm chưa?” khi người Quảng Trị-Thừa Thiên chào nhau như một dấu hiệu thân ái. Rất nhiều đêm nơi phòng giam đất Bắc sau 1976, người cùng phòng nghe rất rõ người bạn tù chóp chép “nhai cơm” trong bóng tối. Tìm đọc lại sách Huy Phương (1937-1922) sẽ thấy ra.
Phan Phi Danh
Nhân Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ
Đất Mỹ, 25/5/2026
Đối với hắn, quyền sở hữu cá nhân đối với gia đình và mái nhà, cũng cần thiết như khí trời để thở, như bát cơm để ăn. Chính vì thế mà con người khác loài vật, chính vì thế mà văn minh tiến bộ. Ngay từ lúc nhà cầm quyền khởi sự đấu tranh chống sở hữu cá nhân nhà cửa, hướng đòn đánh vào cá nhân, nhân danh tập thể, họ phải biết rằng họ đã phá vỡ cơ sở căn bản của xã hội, đã đánh sập nền móng Nhà Nước, do đó phá vỡ bệ trụ trì quyền uy của họ”1053.
Bị nhà nước cướp sách, dân đói, cướp lẫn nhau.
Mang nhau ra xỉ vả, tra tấn, hành hạ hay chém giết chỉ để cướp một cái chiếu sạch, một cái nồi đồng.
Cái cảnh cướp giựt từ một miếng cơm, không biết nên cười hay nên khóc:
“Cả nhà ăn bữa cơm đầu tiên. Đang ăn, dân quân đứng ngoài nhìn vào. Mẹ nhanh trí làm động
Cái đói là một ám ảnh lớn. Trang sách nào cũng có chuyện ăn vỏ khoai, ăn lá cây, giành giựt nhau một nắm cơm, một bát cháo.
Cai trị bằng cái sợ là một chính sách, một lý thuyết chính trị của Lénine, được Staline, Mao, Pol Pot và những đệ tử VN trung thành áp dụng triệt để.
Sợ từ khi còn ngồi ghế nhà trường: “Lúc nào cũng mang nỗi sợ. Sợ mà không biết sợ gì” (GĐ. tr. 42).
Cái chết
Hậu quả của sự tàn bạo là cái chết. Chết vì bị treo cổ, treo đầu ngón chân, bị đánh đập, tra tấn, vì đói, vì tự tử.
– Chị ngồi tựa lưng vào gốc cây dối, dải yếm trễ xuống, thằng con như con nhái bén vẫn đang nhay vú mẹ. Lúc đó chị đã chết rồi mà tôi không biết (ĐĐNT. tr. 41).
– Bà nội chết vì rét hay vì đói. Từ hôm bị trúng viên gạch thằng Kỷ, bà nằm một chỗ. Ba năm sau bốc mộ bà, thấy hai chiếc xương sườn bị gẫy (GĐ).
Huấn luyện căm thù
Người ta tự hỏi: tại sao những người nông dân, vốn hiền lành, đã trở thành ác quỷ?
Con người có thể trở thành thánh, hay thú vật, tuỳ môi trường sống, tuỳ giáo dục. Lịch sử đã chứng minh điều đó, với xã hội Đức dưới thời Hitler, Nga dưới Staline, Tàu dưới Mao, Cao Miên dưới Pol Pot. VN không phải là một ngoại lệ, nếu điều đó có thể an ủi người Việt.
Tất cả trò đấu tố đều học của Tàu, cố vấn Tàu sang dạy cách xử án, quy định tỷ số địa chủ phải mang ra làm thịt.
Đó là một xã hội xây dựng trên sự căm thù, được dạy dỗ, tập luyện từ nhỏ, từ ghế nhà trường:
– “Thầy giáo nói hôm nay nghỉ học để tối đi đấu địa chủ… Xen vào những buổi đi học bình thường là những buổi nghỉ học để tối đi dự đấu tố. Học sinh đến trường tập trung. Mỗi em một bó đuốc, vừa đi vừa hô. Tôi cũng hô to không thua gì các bạn (ĐĐNT. tr. 64).
– Tấm biển “Địa chủ” dựng trước sân. Tôi hất đi thì hôm sau thằng bạn học cùng trường đến dựng lên. Trước đây nó cùng đội thiếu niên, tôi liên đội trưởng, nó liên đội phó (ĐĐNT. tr. 49).
Được dạy dỗ như vậy, bọn trẻ thơ ngây trở thành ác quỷ. Có lẽ cái giết sự ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ, nó còn ghê rợn hơn cả chuyện giết người.
– Bị đuổi dạy, thầy giáo Banh nấu nước chè xanh đi bán ở các làng khác, khi về đến đầu làng bị nhóm trẻ con xúm vào đập vỡ hết bát, ném xuống sông, thầy ngồi khóc trên cầu (ĐĐNT. tr.87).
– “Ê con địa chủ, con địa chủ. Mấy đứa lao vào tôi. Bọn con gái không đánh được thì giật tóc, gõ đầu, cấu véo. Tan học là tôi chạy. Cả đám rượt đuổi. Đuổi theo về đến nhà. Đánh chết thằng con địa chủ này (GĐ. tr.41).
Nhục mạ
Giết người chưa đủ, đánh tan nát gia đình nạn nhân chưa đủ, chia nhau từng cái chổi cùn chưa đủ, còn phải nhục mạ người sống, người chết:
“Vườn của bác đã là vườn của nông dân. Không được chôn địa chủ trong vường nông dân” (GĐ. tr.23).
Có lẽ cái nhục mạ nạn nhân, cái thú man rợ khi tước đoạt luôn nhân phẩm con người chỉ có dưới chế độ cộng sản, đặc biệt là cộng sản Tàu và đàn em.
… Dưới những chế độ độc tài khác, thường thường chỉ có cái ác.
Sửa sai
Năm 1957, Đảng nhận lỗi, sửa sai. Nhưng lỗi là lỗi của những phần tử quá khích. Đảng không thể có lỗi. Tại trường học, những ông hiệu trưởng, giáo viên trước đây được khen ngợi đã thành công trong việc giúp học sinh đấu tố nhau, bị kết tội do địch gài vào để phá hoại.
Nhà nước xin lỗi, thế là xong, yên chuyện, ai về nhà nấy, như không có chuyện gì xảy ra. Như có người vô tình chạm vào tôi ngoài đường, xin lỗi. Dạ, không có chi.
Dù sao, chuyện Đảng công khai xin lỗi cũng cho phép gia đình nạn nhân được khóc công khai những người đã bỏ mạng. Và cho phép rất nhiều tác phẩm về cải cách ruộng đất ra đời mà tác giả không đi tù hay mất mạng.
Mặc dù vậy, cái sợ hình như vẫn đâu đó. Đại tá nhà văn Phan Kế Toại, đề tựa cho cuốn Gia đình, đề cao việc làm của tác giả, coi trọng việc đi tìm sự thực, không quên thòng một câu, cho chắc ăn: “Mọi người cần chung tay cố gắng trân trọng sự đổi mới, gìn giữ thành quả dân chủ để đất nước không bao giờ trở lại thời kỳ ấu trĩ như thế nữa”.
“Thành quả dân chủ”! Câu kết luận politically correct không khỏi khiến người đọc mỉm cười, khi nghĩ đến thực trạng VN ngày nay về nhân quyền, về tự do báo chí, tự do tín ngưỡng…
Trong cùng một bài tựa, ông Toại kể: “Trong gia đình tôi (…), nhiều người đã bị quy địa chủ, phú nông hoặc phản động. Người bị tịch thu tài sản, người tự vẫn, người bị bắt giam, bị cùm chân, người bị xử tử”. Dùng chữ “ấu trĩ” cho một xã hội lở lói khủng khiếp như vậy, có lẽ hơi nhẹ.
Bao nhiêu người là nạn nhân của « cách mạng»?
Theo BBC, nhà nghiên cứu Mông Cổ Balazs Szalontai khai thác các tài liệu Đông Âu và Liên Xô, đưa ra con số 7,7 triệu người dân và hàng trăm gia đình “buộc phải tham gia và chịu hệ luỵ” chỉ trong đợt giảm tô. Trong đợt chính thức Cải cách ruộng đất, 4 triệu người “chịu tác động”. Tác giả Hoàng Minh Chính đưa ra con số nửa triệu người (5% dân số miền Bắc) bị chính quyền VNDCCH giết.
Riêng Cải cách ruộng đất, theo Bernard Fall, 50.000 người bị xử tử, ít nhất gấp đôi bị tù cải tạo (BBC 3/2/2022) (2).
Le Livre Noir du Communisme (Sổ đen của Chủ nghĩa Cộng sản) do sử gia Stéphane Courtois chủ biên, cũng đưa ra con số 50.000 người bị xử tử, từ 50.000 tới 100.000 người bị đưa đi tù cải tạo.
Le Livre Noir là một cuốn sách dày 662 trang, do các sử gia, ký giả, giáo sư Pháp biên soạn, tố cáo những tội ác của cộng sản quốc tế, với 100 triệu nạn nhân đã bỏ mạng để xây dựng “XHCN”.
Alexievitch và ngày tàn của người Đỏ
Đọc Phan Thuý Hà, người ta nghĩ tới nhà văn Nga Svetlana Alexievitch.
Sinh năm 1948, cha người Biélorusse, mẹ người Ukraine, Alexievitch, trong 30 năm, với cây bút và máy ghi âm, đi gặp và ghi lại lời kể, tâm trạng của người Nga sau tai nạn Tchernobyl, sau ngày Nga Xô viết sụp đồ, trong cuộc tham chiến của Nga ở Afghanistan (1).
Trong Les Cercueils de zinc (Những chiếc quan tài bằng kẽm, 1990), bà ghi lại tâm trạng của những bà mẹ, bà vợ, có chồng con chết ở Afghanistan, để thoả mãn tham vọng của Poutine. Những xác chết từ mặt trận được chở về trong những chiếc quan tài bằng kẽm (zinc). Bà viết: cái can đảm chiến đấu của người cộng sản chỉ là huyền thoại. Chẳng có anh hùng gì cả, chỉ có những người lính trẻ bị lường gạt, đưa đi làm mồi cho đại bác, bị khủng bố, phải tiếp tục vì sợ.
Cuốn sách nổi tiếng nhất của Alievitch, “La Fin de l’homme rouge. Le temps du désenchantement” (Cái chết của người đỏ. Thời gian vỡ mộng), được nhiều nhà phê bình coi là cuốn sách hay nhất, quan trọng nhất trong năm (2013), vạch rõ thực chất của người cộng sản (người đỏ), cái ảo tưởng xây dựng xã hội đại đồng, sự thực chỉ là một cuộc lừa gạt đẫm máu để nắm quyền.
Sau khi Nga Xô Viết sụp đổ trong 3 ngày, như đã lên nắm chính quyền trong 3 ngày, Svetlana Alexievitch, để viết La fin de l’homme rouge, đi khắp nước Nga, nghe tâm sự của những người vỡ mộng về ảo tưởng thế giới đại đồng, lạc lõng trong một thế giới mới, xa lạ. Bà nói: có lẽ cái thành công duy nhất của người cộng sản là đã huỷ hoại nhân tính, để tạo những người Nga mới, không còn nhân phẩm. Alexievitch nói trong một cuộc phỏng vấn, dụng ý của bà là qua những nhân chứng thực để tạo những tác phẩm văn chương.
Mục đích của tôi không phải làm điên đầu người đọc với những chuyện kinh hoàng, nhưng rút tỉa ý nghĩa từ những cái kinh hoàng đó. Và giúp con người tiếp tục còn là con người. Làm biến dạng con người, đó có lẽ là cái duy nhất đã thành công (ở Nga Xô Viết). (Mon objectif n’est pas d’assommer (les lecteurs) par toutes les horreurs que j’écris, mais d’en extraire du sens. Et de permettre à l’humain de rester humain. Transformer l’homme. C’est peut être la seule chose qui ait marché). Alexievitch đoạt giải Nobel Văn chương năm 2015 cho toàn bộ tác phẩm của bà.
Phan Thuý Hà không có tham vọng đó.
Bà chỉ ghi lại lời kể chuyện của những nạn nhân còn sống sót.
Tác giả Đoạn đời niên thiếu viết trong lời tựa: “Sáu năm qua, viết sách, tôi được gặp nhiều tuổi quê Nghệ Tĩnh. Các ông bà đều tuổi trên tám mươi, chín mươi. Họ là con của những người yêu nước, tham gia cách mạng, bị Pháp bắt tù đày vào năm 1930-31, lớn lên trong những năm kháng chiến (…). Với những gì họ trải qua, nếu không ghi lại thì tiếc quá”.
Gia đình
Đoạn đời niên thiếu là những cuốn sách nên dịch ra ngoại ngữ, để những người ngoại quốc hay thế hệ người Việt trẻ hiểu rõ thực trạng VN, hơn là những cuốn sách của những người chưa bao giờ đặt chân tới xứ này, hay chưa hề sống trong hoả ngục. Cũng như những tác phẩm của Alievitch nên dịch ra tiếng Việt, để thức tỉnh những người, ở thế kỷ 21, vẫn còn là những ông già ngồi đan rổ, mơ nước Nga, như trong thơ Tố Hữu.
Cũng hy vọng sẽ có nhiều cuốn sách tương tự, ghi lại chuyện thực, của những người di cư 54, những nạn nhân Tết Mậu Thân, của boat people, hay những ngày miền Nam, trước và sau 1975.
Chuyện cần làm
Đã có rất nhiều sách báo về những chuyện này, nhưng vẫn chưa đủ. Cần một tài liệu đồ sộ ghi lại các nhân chứng. Tôi nghĩ tới chuyện này, khi viếng thăm, cách đây mấy chục năm, một thư viện ở Do Thái, nơi tập trung hàng trăm ngàn sách, băng nhạc, ghi âm lời kể của những nạn nhân, hay gia đình nạn nhân Shoah còn sống sót. Ngày nay, nhiều người Việt đã thành công ở hải ngoại, dư tài chánh, có dư khả năng làm việc đó, thay vì làm những chuyện tào lao. Thí dụ tài trợ cho những nhóm trẻ đi phỏng vấn, thu thập dữ kiện tại tất cả những nơi người Việt tỵ nạn cư trú.
Đó là chuyện khẩn cấp. Bởi vì nhiều nhân chứng cao niên đang lần lượt ra đi.
Việc làm của Phan Thúy Hà, hay những việc làm tương tự, sẽ là những chất liệu quý cho những người sau này muốn viết văn, viết sử hay nghiên cứu về VN cận đại. Nếu không, thế hệ sau này sẽ không biết gì về quá khứ. Nếu muốn tìm hiểu lịch sử đất nước chỉ có sách vở của những người muốn viết lại lịch sử, hay những người ngoại quốc, nói chuyện VN dưới lăng kính chính trị hay bác học, không có chất liệu sống.
Không ghi lại thì tiếc quá.
Paris, tháng 9/2023
Từ Thức
(tuthuc-paris-blog.com)
(1) Tên người, tên tác phẩm, địa danh trong bài này viết theo kiểu Pháp.
Trước Sau
Khi gà đầu Ô kêu
Tháng Ba dương lịch năm 1945
Ở trên là bài thơ theo bản in trên tạp chí Tiên phong (1946) với tiêu đề Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc. Một số bản in sau này ghi tiêu đề là Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.