Dầu gió “trị bá bệnh”

December 17th, 2020

Trang Nguyên

Dầu Nhị Thiên Đường làm mưa làm gió suốt một thời gian dài,  cho đến khi dầu khuynh diệp bác sĩ Tín đứng vững trên thị trường từ thập niên 1950 và trở thành đối thủ xứng tầm. Cả hai đều được dân chúng ủng hộ và trở thành dầu gió thông dụng trong đời sống hằng ngày. Với dầu gió bác sĩ Tín được mệnh danh là “dầu bà đẻ”, còn Nhị Thiên Đường là dầu “trị bá bệnh” một thời.

Quảng cáo dầu gió Nhị Thiên Đường ngày xưa (Ảnh: Internet)   

Do quá tín nhiệm dầu gió Nhị Thiên Ðường nên người dân cho rằng nó “trị bá bệnh”. Thật ra cả hai loại dầu nói trên đều trị những bệnh thông thường nhức đầu sổ mũi. Ðau đầu thì xoa hai bên thái dương, đau bụng xoa lên bụng, sổ mũi thoa lên hai lỗ mũi, ho khục khặc thì xức dầu lên cổ. Thậm chí cảm thấy ớn lạnh nhỏ vài giọt dầu vào nồi nước sôi, trùm mền xông hơi mồ hôi ra như tắm thấy hồi phục lại ngay, trầy da chảy máu lấy dầu thoa lên như loại thuốc sát trùng. Chai dầu gió lúc nào cũng có trong nhà, trong túi áo mấy bà, mấy chị, hễ thấy người khó chịu cứ xoa dầu, cạo gió là xong. Buồn buồn lấy chai dầu ra xức lên thái dương, cổ họng để giữ cơ thể cho ấm, riết thành thói quen. Ngồi gần mấy bà già trầu ngồi trên xe thổ mộ hay xe lam chật chội, mùi dầu gió nồng nặc trong xe nhưng cũng cảm thấy dễ chịu hơn mùi dầu khói của xe lam xả mịt mù.

Trước khi có các loại dầu gió, người Việt mình hay dùng dầu cù là Mac Phsu. Nhớ hồi nhỏ tụi tôi chơi trò chi chi chành chành, cải biên lời ca đồng dao thành “Bòn bon si-cu-la, bánh tây sữa hột gà, dầu cù là mác-su” dù rằng thuở đó, dầu gió Nhị Thiên Ðường, rồi dầu khuynh diệp đã phổ biến khắp nơi. Người dân vẫn dùng cả ba loại dầu gió nhưng dầu nước  thuận tiện hơn dầu cù là thoa lên người thấy nhớp nháp. Dầu Nhị Thiên Ðường có màu nâu đỏ, nhãn hiệu cầu chứng là hình Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.

Còn một lời đồng dao vui nhắc đến dầu Nhị Thiên Ðường mà tôi tin rằng các vị tuổi trung niên đều biết: Nhất dương chỉ, Nhị thiên đường, Tam tông miếu, Tứ đổ tường, Ngũ vị hương, Lục tàu xá. Nói chung là trộn lẫn hằm bà lằng xá cấu, chỉ có món chè Lục tàu xá là ngon thôi.

Đường Triệu Quang Phục Chợ Lớn nơi có nhà thuốc Nhị Thiên Đường (Nguồn: Manhhaiflickr)

Trong cuốn Phê bình và cảo luận, nhà phê bình Thiếu Sơn viết: “Lần đầu tiên tôi được đọc cụ Hồ Biểu Chánh trong một cuốn sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường. Tôi để ý tới tiểu thuyết của cụ rồi kiếm coi ở loại sách như những truyện Tàu in xấu, để giá 4 cắc mà luôn luôn bán dưới giá đó…”.

Xem ra ngoài các quảng cáo báo chí thông thường, nhà thuốc Nhị Thiên Ðường còn có sáng kiến tạo ra cách quảng cáo độc đáo để sản phẩm dầu gió được công chúng bình dân biết đến rộng rãi.

Tác giả Phạm Trường Giang ghi nhận: “Ðể quảng bá nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường, ông chủ đã chọn cách khá độc đáo. Ðó là thay vì đăng quảng cáo trên sách, báo thì ông ta thuê một số trí thức viết ra các bộ sách quảng cáo bằng chữ Quốc ngữ, luôn cả chữ Pháp và Hán tự, gọi là Vệ sinh chỉ nam. Trong cuốn sách này in đầy hình ảnh và chữ quảng cáo cho các cao đơn hoàn tán của Nhị Thiên Ðường, đồng thời in kèm vào trong đó các loại thơ văn để người mua có thể đọc thêm. Chẳng hạn bên cạnh quảng cáo dầu cù là Ông Tiên là trích đoạn thơ Lục Vân Tiên, bên cạnh nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường là từng phần Nghĩa hiệp kỳ duyên, bộ truyện tình cực kỳ ăn khách về mối tình Việt – Khmer lúc đó của Nguyễn Chánh Sắt hay còn gọi Chăn Cà Mum (tên nhân vật chính). Nhiều khi khách đang đọc quảng cáo thuốc xổ lãi thì được đọc thêm Hậu chàng Lía, hay các mối tình uyên ương ly hận của Hồ Biểu Chánh… Vì sao nhà văn Hồ Biểu Chánh không muốn in sách đẹp? Vì ông biết nếu sách in đẹp sẽ phải bán mắc và như vậy sẽ không đến được tay những độc giả bình dân thân thiết của ông. Chính nhờ những cuốn sách quảng cáo giá rẻ, in xấu như Vệ sinh chỉ nam của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường mà văn chương chữ Quốc ngữ bình dân giai đoạn đó đã cực kỳ phong phú và phổ biến rộng khắp trong tầng lớp dân chúng…”.

Cầu Nhị Thiên Đường xây xong năm 1925 (Nguồn:Manhhaiflickr)

Dầu Nhị Thiên Ðường do gia đình họ Vi người Quảng Ðông sang Chợ Lớn sáng lập. Không thấy tài liệu ghi nhà thuốc Nhị Thiên Ðường thành lập năm nào, chỉ biết ngoài dầu gió, nhà thuốc còn làm ra các loại đông dược trị các loại bệnh, đặc biệt là ngoại cảm tán, một loại thuốc trị cảm rất hiệu nghiệm, bán rất chạy, thậm chí cả thương hàn. Trong cuốn niên giám Ðông Dương 1933-1934 còn ghi lại: Nhị Thiên Ðường Pharmacie asiatique 47 rue de Canton (Triệu Quang Phục), Telephone no 58 Directeur Vi-Khai Chợ Lớn.

Ngược dòng thời gian về mấy chục năm trước nữa, trên địa bàn quận 5, Chợ Lớn (nay thuộc quận 8) điểm nguồn của quốc lộ 50 Long An đã có một cây cầu gỗ bắc ngang kênh Ðôi cho người dân qua lại. Ðến năm 1925, nhà thầu Vallois-Perret xây một cây cầu bê tông, trang trí hai bên ban công bằng những trụ đèn bằng sắt và từ đó cây cầu được đặt tên chính thức là cầu Nhị Thiên Ðường.

Theo những người dân cố cựu tại khu vực này thì, cây cầu gỗ hồi đó không có tên, do nhà thuốc Nhị Thiên Ðường dựng lên để thông thương hai bờ cho người dân dễ đi lại. Từ đó mà thành tên.

Dấu ấn còn lại của nhà thuốc Nhị Thiên Đường (Ảnh: Nguyễn Minh Vũ)

Theo ghi nhận của tác giả Phạm Trường Giang đăng trên báo Pháp Luật thì “nhà máy sản xuất thuốc và dầu Nhị Thiên Ðường nằm ở bên phía đường Trần Hưng Ðạo và Nguyễn Văn Dũng, còn công nhân thì ở khu vực ngoại thành phía bên kia kênh Ðôi. Hằng ngày để đi đến chỗ làm các công nhân đều phải đi đò qua kênh Ðôi rất mất thời gian và nguy hiểm. Ông chủ Nhị Thiên Ðường quyết định bỏ tiền cùng với chính phủ Nam Kỳ lúc đó xây nên cây cầu này làm việc thiện cho dân chúng thuận tiện đi lại, trong đó có các công nhân của ông. Cũng có giai thoại cho rằng khi xây cầu, chính phủ Nam Kỳ vận động ông chủ Nhị Thiên Ðường ủng hộ một phần tiền để đổi lấy việc đặt tên cầu chứ không phải toàn bộ kinh phí xây cầu vì số tiền này rất lớn. Cũng có một giai thoại khác là kinh phí xây cầu đều do chính phủ Nam Kỳ lúc đó bỏ ra. Do ở gần ngay nơi chân cầu vốn có một dãy nhà kho lớn là nơi chứa gạo và sản phẩm của dầu Nhị Thiên Ðường, được dân chúng gọi là kho Nhị Thiên Ðường nên khi xây cầu xong, người ta lấy luôn tên Nhị Thiên Ðường đặt cho cây cầu. Không rõ trong các giai thoại trên cái nào là chính xác nhưng chắc chắn là đều có liên quan đến nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường”.

Sau 1975, dầu Nhị Thiên Ðường ngừng hoạt động. Dòng họ Vi ra định cư nước ngoài và tiếp tục sản xuất dầu gió “trị bá bệnh”. Những năm sau đó, trong nước xuất hiện lại dầu gió Nhị Thiên Ðường nhưng là hàng giả mạo.

Công dụng của những “Thủy đài nấm” – di sản đã mất của Sài Gòn trước năm 1975

2019/11/07 

in Saigon xưa

Đông Kha nhacxua.vn

Nhiều người có lẽ đã rất quen hình ảnh tháp nước hình nấm này ở Sài Gòn đã có từ trước năm 1975, nhưng không phải ai cũng biết tác dụng điều tiết nước của những “thủy đài nấm” này. Đến năm 2017, hầu hết các thủy đài đã bị đập bỏ.

Ở Sài Gòn có tổng cộng 8 thủy đài hình nấm được xây dựng trước năm 75 là ở đường Hồ Văn Huê (Phú Nhuận), Nguyễn Văn Đậu (Bình Thạnh), Ba Tháng Hai (quận 10), Hoàng Diệu (quận 4), Nguyễn Thái Sơn (Gò Vấp), Võ Văn Kiệt (quận 5), Phạm Phú Thứ (quận 6), Nguyễn Văn Tráng (quận 1).

Những thủy đài cao khoảng 30m, có kết cấu bê tông cốt thép với dung tích 1.200 m3 đến 8.500 m3, được xây dựng trước năm 1975 với mục đích là để điều tiết áp lực nước từ nhà máy nước ở Thủ Đức cấp cho Sài Gòn – Gia Định.

Phía dưới những thủy đài này được xây tường kín hay là những khung cột bê tông cốt thép đỡ bồn nước hình tròn bên trên. Không gian khu vực thủy đài thường rất rộng để đảm bảo an toàn khi thủy đài vận hành. Vị trí của các thủy đài cho biết mật độ dân cư ở đó khá tập trung, nhu cầu nước sạch lớn nên cần có “áp lực” mạnh và khối lượng lớn để cung cấp.

Tuy nhiên có một điều ít người biết là dù được xây dựng từ rất lâu nhưng những thủy đài hình nấm này chưa bao giờ được sử dụng.

Lý do theo một số người nói là vì các công trình này vừa được xây xong thì xảy ra biến cố 1975 nên bị bỏ hoang cho đến khi bị đập bỏ. Một nguồn tin khác nói rằng thủy đài được xây trong thời gian 1966-1969, nhưng không được đưa vào sử dụng vì bị cho là rò rỉ nước khi thử nghiệm. Công tác khắc phục kéo dài đến năm 1975 vẫn chưa hoàn thành do tình hình chĭến cuộc căng thẳng. Có thể giả thiết đầu tiên đúng hơn, vì trong các hình ảnh Sài Gòn trước năm 75, hiếm thấy có hình ảnh của thủy đài nấm, ngoài tấm hình dưới đây.

Bên trên là hình tháp nước đang được xây dựng, nằm ở vị trí Trần Quốc Toản – Lê Đại Hành (nay là đường 3 Tháng 2 – Lê Đại Hành). Còn hình bên dưới là lúc đã hoàn thành, nằm kế bên cây xăng Phú Thọ.

Công dụng

Như vậy, nếu như hoạt động được thì các thủy đài hình nấm này sẽ có công dụng và chức năng như thế nào? Nhiều người sẽ biết câu trả lời, đó là để chứa nước, nhưng không hẳn chỉ là như vậy, nó còn có chức năng điều tiết áp lực. Theo thiết kế, thủy đài được xây dựng để điều áp nguồn nước sinh hoạt. Buổi tối, khi người dân ít sử dụng sẽ dư ra lượng nước lớn, phần nước đó sẽ tự động bơm lên các thủy đài. Còn ban ngày dùng nhiều, thủy đài sẽ tự động mở van để bơm nước trở lại vào mạng lưới cung cấp.

Nguyên tắc hoạt động của thủy đài được giải thích bằng hình vẽ dưới đây:

1. Nước được bơm lên thủy đài
2. Nước được trữ lại
3. Nước được phân phối cho các nơi sử dụng bằng động năng. Vì vậy kể cả khi cúp điện thì người dân vẫn dùng được nước.

Tháp nước trên đường Thuận Kiều thập niên 1920

Quay ngược về quá khứ, từ năm 1886,, người Pháp đã xây những thủy đài, đơn thuần là để chứa nước, với nhà máy nước đặt ở khu vực Hồ Con Rùa (này nay là Công ty Cấp nước Sài Gòn – Sawaco). Nước được bơm thủ công lên bể chứa từ các giếng cạn gần đó để phục vụ cho các công sở, nhà các quan chức Pháp cùng một ít dân cư người Việt khá giả tại khu vực trung tâm Sài Gòn khi ấy chỉ lèo tèo vài con đường đất.

Tháp nước và nhà máy nước khu vực Hồ Con Rùa vào thập niên 1920

Tuy nhiên những tháp nước này có thể tích hạn chế chỉ cấp nước được với quy mô nhỏ. Khi dân số Sài Gòn tăng lên, người Pháp mới bắt đầu cho xây các phông-tên công cộng dọc theo các con phố chính để người dân đến lấy nước sinh họat. Những phông-tên này chính là các giếng khoan trực tiếp do công ty Société Layne France et Cie khảo sát và khoan thẳng vào tầng nước ngầm sâu trên trăm mét.

Cho đến thập niên 1960 các phông-tên nước này ở Sài Gòn mới lùi dần vào quá khứ, khi chính quyền bắt đầu xây dựng nhà máy nước với các đường ống đi tận vào từng nhà. Nhà máy nước Thủ Đức được khánh thành vào ngày 12 tháng 12 năm 1966, nằm ở khu vực Linh Trung hiện nay, cung cấp 90% nhu cầu nước máy sinh hoạt của thủ đô Sài Gòn.

Lắp đường ống để cung cấp nước cho Sài Gòn vào năm 1966

Tuy nhiên nước được dẫn từ Thủ Đức vào trong nội thành, nên áp lực nước sẽ yếu. Vì vậy, chính quyền đã xây dựng hàng chục “thủy đài nấm” chung quanh thành phố nhằm điều áp lưu lượng nước chảy đến đường ống của tất cả các khu vực dân cư ở xa sau khi nhà máy nước Thủ Ðức hoàn thành. Đó chỉnh là các “thủy đài nấm” được nhắc đến trong bài này. Do đó, các thủy đài này không đơn thuần là để chứa nước, mà là để điều tiết áp lực cho nước máy sinh hoạt.

Xin lưu ý, thủy đài nấm này có công năng khác với “tháp điều áp” (tháp cắt áp) ở đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) như đã nhắc đến trong bài trước. Khi nước từ nhà máy bơm vào đường ống lớn, áp lực nước sẽ được tháp này điều tiết, giảm xuống, trước khi nguồn nước này hòa vào mạng lưới đường ống nhỏ hơn. Mục đích là để tránh áp lực nước quá lớn làm bể ổng dẫn nước.

Còn thủy đài nấm là để điều tiết lực nước trước khi dẫn vào từng gia đình như đã giải thích bằng hình ảnh ở bên trên.

Phá bỏ

Năm 2017, chính quyền đã cho gỡ bỏ các thủy đài này. Khi thi công tháo dỡ, người ta thấy rằng các thủy đài này được xây dựng rất kiên cố với bê tông cốt thép nên quá trình tháo dỡ mất rất nhiều thời gian, chậm tiến độ. Một cán bộ giám sát tháo dỡ nói: “Phần nắp thủy đài, nhất là phần vành nắp là nơi khó tháo dỡ nhất và hầu như chỉ thi công thủ công. Do đó, công trình có phần chậm tiến độ so với thời gian đề ra”.

Qua quan sát, phần mái thủy đài được làm bằng bê tông lưới thép kiên cố. Công nhân phải dùng búa tạ đập liên tiếp khoảng 4 lần vào một điểm, mảnh bê tông mới vỡ ra lộ khung lưới thép. “Công trình này làm quá kiên cố, hơn 10 anh em chúng tôi đập và khoan liên tục trong 3 ngày qua nhưng chưa giải quyết xong phần mái thủy đài. Hy vọng, ngày mai chúng tôi sẽ quyết xong phần mái và tiến hành căng lưới tháo dỡ phần thân thủy đài” – một công nhân chia sẻ.

Chia tay một ký ức

Những thủy đài nấm này bị phá bỏ từ năm 2017 để lại nhiều lưu luyến và tiếc nuối cho người Sài Gòn. Những ý kiến sau được tổng hợp từ báo Tuổi Trẻ:

Dương Ngọc Khoa – một người Sài Gòn nhập cư – chia sẻ: “Mỗi lần đi qua tháp nước nào đó tôi lại nhớ cái cảm giác… ngồ ngộ khi tôi trông thấy “cây nấm khổng lồ” lần đầu. Giờ nghe tin nó bị tháo dỡ tôi cũng có cảm giác như phải chia tay một ký ức”.

Còn họa sĩ Uyên Huy – một người Sài Gòn gốc – thổ lộ: “Có chút gì đó hụt hẫng, luyến tiếc. Những thủy đài thời Pháp, Mỹ để lại không xấu, thậm chí nhìn nó cũng thấy lạ, thấy vui mắt. Nhưng nếu để lâu, không bảo dưỡng thì không an toàn, nên nếu buộc tháo dỡ thì theo tôi cũng hợp lẽ thôi.

Tôi cũng cảm thấy tiếc, giá như có những ý tưởng cải tạo những thủy đài này thành nhà hàng, quán cà phê… hay công trình văn hóa gì đó thì hay, nhưng chúng ta không có những ý tưởng đó”.

Đồng quan điểm với họa sĩ Uyên Huy, TS Quách Thu Nguyệt bộc bạch: “Với tôi và thế hệ chúng tôi, những thủy đài ở Sài Gòn là một phần ký ức của đời sống đô thị.

Mỗi lần đi ngang thủy đài trên đường Hồ Văn Huê, tôi vẫn thấy trong lòng gợn lên những cảm xúc gần gũi và như điều gì đó rất riêng rất thiêng liêng với thành phố này.

Nó là cái hồn của Sài Gòn xưa.

Quan điểm của thành phố là dẹp hết các thủy đài, chỉ giữ lại một cái thôi. Nhưng theo tôi, nhìn từ tình cảm của tôi, nếu giữ được thêm thì rất tốt. Thực ra thủy đài cũng là một biểu trưng của thành phố, là hình ảnh có tính công nghiệp, đánh dấu sự trưởng thành của đô thị Sài Gòn trong việc kiến tạo tiện ích sinh hoạt cho người dân”.

TS Vũ Thế Long (ủy viên ban chấp hành Hiệp hội UNESCO TP Hà Nội):

“Lần đầu vào Sài Gòn, tôi rất tò mò khi trông thấy những thủy đài. Những thủy đài đó là kiến trúc của một thời đại, mang trong đó nhiều giá trị.

Mỗi TP đều có bề dày và sức sống lịch sử cùng sự phát triển tất yếu. Nhưng nếu phát triển mà xóa đi các giá trị của lịch sử thì đô thị sẽ bị “què quặt”.

Tôi phản đối chuyện phá hủy vô tội vạ, nhưng cũng không đồng tình công trình nào cũ cũng phải giữ lại. Vậy nên trước khi phá hủy công trình cũ/cổ nào đó, cần phải có những cuộc hội thảo, lấy ý kiến tham góp của các nhà khoa học và cộng đồng.

Những kiến trúc công nghiệp thời thực dân cũ là những giá trị thu hút khách du lịch. Nếu Sài Gòn đánh mất những giá trị ấy thì sẽ giảm đi sức hấp dẫn của thành phố.

Như tháp nước Hàng Đậu ở Hà Nội có thể coi là những chiếc cúc vàng trên chiếc áo đẹp là tổng thể kiến trúc Pháp khu vực quanh đó như những tòa nhà, biệt thự Pháp, cầu Long Biên… Nếu phá bỏ tháp nước Hàng Đậu thì khu vực quanh đó cũng như chiếc áo bị mất cúc.”

Mời các bạn cùng nhìn lại những hình ảnh quen thuộc với người Sài Gòn, nay đã không còn nữa. Nguồn ảnh từ trang zing.vn:

A fishing boat called Freedom: the story of Tu Do

Museum

Posted on 30 Apr 2015 by Kim Tao

Vào ngày 21 tháng 11 năm 1977, một nhiếp ảnh gia làm việc cho Chính phủ Úc, Michael Jensen, đã ghi lại một khoảnh khắc trong lịch sử khi sáu chiếc thuyền tị nạn của Việt Nam cập cảng Darwin trong một ngày. Năm 1990, Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Úc đã mua một trong những chiếc thuyền này, Tự Do, để khám phá những gì vào thời điểm đó là một trong những chủ đề quan trọng nhất trong lịch sử hàng hải Úc – sự xuất hiện của những người tị nạn trên biển và người tị nạn. Vào năm 2012, sau một chương trình phục hồi kéo dài gần một thập kỷ, cuối cùng bảo tàng đã đưa Tu Do trở lại cấu hình được ghi lại trong các bức ảnh của Jensen, khi con tàu chở 31 người tị nạn, bao gồm chủ cửa hàng Nam Việt Nam Tân Thành Lu và gia đình trẻ của anh ta tự do.

Vietnamese refugee boats PK3402 and Tu Do in Darwin, 1977. Photograph by Michael Jensen. ANMM Collection

Dự án Tự Do đã mang lại một nghiên cứu trường hợp cá nhân hấp dẫn về một nhóm người tị nạn. Nhưng nó cũng cung cấp một trường hợp nghiên cứu thú vị không kém về những thách thức độc đáo mà các bảo tàng phải đối mặt với các vật thể làm việc lớn như thuyền. Chúng bao gồm từ những thách thức thực tế của việc tìm nguồn cung ứng vật liệu và học các kỹ thuật đóng thuyền truyền thống, cho đến các cuộc tranh luận về khái niệm về bảo tồn và phục hồi, đặc biệt đối với các vật thể không được chế tạo để đứng trước thử thách của thời gian.

Trốn thoát khỏi Việt Nam

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc với sự sụp đổ của Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn một triệu người tị nạn đã rời khỏi chế độ cộng sản mới bằng một trong những con đường duy nhất có sẵn – trên biển mở. Hầu hết trốn thoát đến các trại tị nạn quá đông đúc ở các nước châu Á lân cận, nơi họ đang chờ tái định cư ở những nơi như Úc, Hoa Kỳ và Canada. Một số nhỏ – 2.059 người – đã trực tiếp đến Úc bằng thuyền trong khoảng năm 1976 đến 1981. Nhiều người khác đã chết vì cố gắng.

Lu family on the deck of Tu Do in Darwin, 1977. Left to right: Tan Lu (in white shirt), daughters Dzung and Dao (standing and sitting on hatch) and wife Tuyet (in spotted shirt). Photograph by Michael Jensen, ANMM Collection

Tan Lu, ba mươi tuổi, đã chiến đấu với Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam và biết rằng gia đình ông phải đối mặt với một tương lai không chắc chắn dưới chế độ cộng sản. Năm 1975, ông đã hợp tác tài nguyên với ba người bạn trên đảo phía nam Phú Quốc và đóng một chiếc thuyền đánh cá mà ông gọi là Tự Do (Tự do) đặc biệt để trốn thoát khỏi Việt Nam. Khi làm như vậy, ông sẽ trở thành một trong những cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử hiện đại – cuộc di cư của thuyền nhân Việt Nam.

Anh gọi chiếc thuyền đánh cá của mình là ‘Tu Do’, có nghĩa là ‘Tự do’ trong tiếng Việt

Tân đã xây dựng Tự Do theo thiết kế của một chiếc thuyền đánh cá kéo lưới đặc trưng của vùng đảo, dài 18,25 mét với một cột buồm về phía trước và một cabin và buồng lái phía sau. Ban đầu, ông sử dụng thuyền để câu cá để đánh lạc hướng sự nghi ngờ của chính quyền và giúp trả tiền cho các nguồn cung cấp quan trọng như thực phẩm, nhiên liệu diesel và động cơ dự phòng.

Trước khi khởi hành vào tháng 9 năm 1977, Tan đã tổ chức một thay đổi động cơ để việc giám sát của Tu Do được thư giãn. Anh đã lắp đặt động cơ thay thế mạnh hơn và nhóm 38 hành khách của mình, bao gồm vợ mang thai Tuyết (27), con gái Dzung (6) và Dao (4), con trai Mo (2), và người thân, bạn bè và hàng xóm, lên đường trong đêm. Những đứa trẻ đã được cho uống thuốc ho để giữ im lặng, nhưng khi chúng đến được vùng nước sâu hơn, một người đứng đầu tiết lộ rằng Dzung đã bị bỏ lại ngủ trên bờ. Họ quay trở lại tìm cô và chuyến đi bắt đầu.

Với vàng và tiền mặt được giấu kín về con tàu, Tự Do đã vượt qua vùng biển có hải tặc khét tiếng ở Vịnh Thái Lan và đổ bộ vào Mersing, Malaysia, nơi tám hành khách kiệt sức được phép rời khỏi nơi tị nạn. Tan có người thân ở Hoa Kỳ, nhưng sau nhiều tuần đàm phán bực bội với các quan chức Di trú Hoa Kỳ, anh đã chọn đi thuyền tới Úc với 30 hành khách còn lại. Ra khỏi Flores ở Indonesia, họ đã giải cứu một chiếc thuyền tị nạn khác, PK3402, bị mắc cạn và kéo nó qua biển Timor. Những chiếc thuyền cập cảng gần Darwin, Lãnh thổ phía Bắc, vào ngày 21 tháng 11 năm 1977. Tan và nhóm của anh ta đã điều hướng hơn 6.000 km bằng một la bàn đơn giản và một bản đồ bị rách từ nắp bàn học. Gia đình Lu được chuyển đến Wacol Migrant Hostel ở Brisbane, Queensland, nơi Tuyết sinh hạ một đứa con trai, Quốc. Gia đình đã được cấp hồ sơ tị nạn sau sáu tháng.

Tu Do arrives in Sydney, 1990. Photograph by Jenni Carter/Australian National Maritime Museum

Vào năm 1978, khi còn ở Wacol, Tan đã sắp xếp bán Tu Do cho một người dân địa phương Darwin, sau đó bán nó cho một người đàn ông ở Cairns vào năm 1985. Cả hai chủ sở hữu đã sửa đổi nhỏ cho con tàu, như tháo mái và tời, lắp đường ray và chỗ ngồi và vẽ lên sơ đồ màu xanh da trời đơn giản của nó, mà Tan ban đầu đã chọn để hòa mình vào đại dương. Tuy nhiên, cấu trúc thân tàu, boong tàu và cabin vẫn còn nguyên vẹn vào thời điểm tàu ​​đến Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Úc năm 1990.

Posted on 30 Apr 2015 by Kim Tao

Năm 2003, nhân viên bảo tàng đã hoàn thành Kế hoạch quản lý tàu đầu tiên cho Tự Do và bắt đầu một chương trình khôi phục tàu trở lại vào năm 1977 – giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử thuyền nhân. Đó là khoảng thời gian này, chúng tôi nhận được tin bi thảm rằng Tan Lu đã chết trong một chuyến công tác đến Việt Nam. Chương trình phục hồi còn mang một ý nghĩa lớn hơn – nó trở thành một cách bảo tồn di sản Tân Lu cũng như ghi lại sự xuất hiện của thuyền nhân Đông Dương đầu tiên vào cuối những năm 1970.

Đây là một thời kỳ thay đổi xã hội lớn ở Úc. Người Việt Nam ban đầu nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ chính quyền Úc và sự xuất hiện của họ trùng hợp với những thay đổi lớn trong luật nhập cư, bao gồm cả việc dỡ bỏ chính sách Úc da trắng đã có từ năm 1901. Tu Do cung cấp một sự tương phản thú vị với con thuyền trái phép gần đây đến Úc, nơi đã góp phần vào một nền văn hóa sợ hãi ngày càng tăng trong cả các diễn ngôn chính trị và công cộng. Tàu cá khiêm tốn này vẫn là một phương tiện mạnh mẽ mà qua đó chúng ta có thể kiểm tra các cuộc tranh luận về nhập cư trong quá khứ và hiện tại là một phần trung tâm của lịch sử hàng hải của chúng ta.

Shipwrights Michael Whetters and Ron McJannett during extensive conservation and repair work to Tu Do’s hull, 2004. Photograph by Andrew Frolows/Australian National Maritime Museum

Chương trình phục hồi Tự Do được phát triển bởi một nhóm bao gồm các nhân viên quản lý và bảo tồn, cùng với các nhân viên của bộ phận bảo tàng, có nhiệm vụ quan trọng (và rất lớn) trong việc duy trì bộ sưu tập nổi của chúng tôi – một trong những thách thức lớn nhất và lớn nhất bảo tàng hàng hải trên thế giới. Chương trình Tu Do được củng cố bằng nghiên cứu sâu rộng về xây dựng thuyền đánh cá Việt Nam và phục hồi thuyền gỗ, cũng như lịch sử và thảo luận với gia đình Lu, các cuộc phỏng vấn với các chủ sở hữu tiếp theo, và những bức ảnh của Michael Jensen, về To Do đến Darwin năm 1977.

Giai đoạn đầu tiên của chương trình (2003 2015) liên quan đến việc sửa chữa và ổn định tàu, trong khi cố gắng giữ lại càng nhiều vải gốc càng tốt. Nhà xe của Tu Do, đã được gỡ bỏ để tăng cường trên bờ, dưới vỏ bọc, và động cơ diesel Jinil mạnh mẽ đã được lắp đặt để vượt qua cướp biển đã được khôi phục với các bộ phận có nguồn gốc ở Hàn Quốc hoặc được sản xuất bởi các tàu đóng bảo tàng.

Các nhà đóng tàu cũng đã loại bỏ boong tàu Tu Do để truy cập cấu trúc thân tàu của nó và thay thế các phần bị hư hỏng của khung và ván bằng gỗ cứng Úc, có đặc tính tương tự như gỗ gốc Đông Nam Á. Đóng tàu sử dụng các kỹ thuật phù hợp với các kỹ thuật của người xây dựng và thời đại xây dựng của nó, chẳng hạn như sử dụng trunnels (chốt gỗ) thay vì đinh. Khi cấu trúc bên trong đã phát ra tiếng ván sàn, động cơ và buồng lái được khôi phục đã được cài đặt lại, khiến Tu Do trở thành chiếc thuyền tị nạn duy nhất hoạt động đầy đủ được hiển thị trên mặt nước ở Úc.

The Lu family back on-board Tu Do, 2005. Left to right: Mo, Dzung, Dao, Tuyet and Quoc Lu. Photograph by Andrew Frolows/Australian National Maritime Museum

Tái thiết và sơn lại

Giai đoạn thứ hai (20091212) liên quan đến việc tái thiết và sơn lại, và phụ thuộc rất nhiều vào các bằng chứng hình ảnh trong các bức ảnh của Jensen. Các yếu tố có thể nhận dạng trong các bức ảnh bao gồm một mái hiên trên boong, được hỗ trợ giữa cột buồm và cabin bằng một chùm, cành cây và cọc tre; rào chắn gỗ tạm thời ở phía cảng của tàu; một tời kéo trên đỉnh cabin; và một nhà vệ sinh ván rất chắc chắn ở đuôi tàu – không gì khác hơn là một cái bục gỗ nhỏ được bao quanh bởi một bao tải hessian cho sự riêng tư.

Tu Do revisions to suit the vessel’s configuration on arrival in Darwin in 1977. Plan drawn by David Payne/Australian National Maritime Museum, 2011

Các kế hoạch đã được soạn thảo bởi giám tuyển David Payne để hiển thị thiết kế và kích thước của từng yếu tố, cũng như vị trí của nó trên tàu như được xác định từ các bức ảnh năm 1977. Đội tàu của chúng tôi đã lùng sục các bãi gỗ khác nhau để tìm gỗ thay thế và ván phong hóa, và các đạo cụ có nguồn gốc như cành cây, tre, trống thép, một tấm bạt và dây thừng cũ để mặc tàu. Khi các yếu tố được xây dựng và cài đặt trên boong, cấu hình ban đầu Tu Do xuất hiện từ từ. Bước cuối cùng là đưa tàu trở lại sơ đồ màu đến.

Sau khi đến Úc Tu Do đã được sơn lại nhiều lần bởi các chủ sở hữu tiếp theo của nó, và được chuyển đến bảo tàng vào năm 1990 với một thân tàu màu trắng và một cabin nhiều màu gợi nhớ đến nhiều kiểu thuyền đánh cá Đông Nam Á, nhưng không phải là màu sắc Thuyền đến Darwin. Các nhà bảo tồn bảo tàng đã lấy các mẫu sơn để tìm lại niên đại về bảng màu ban đầu. Sử dụng các mẫu và thông tin lượm lặt được từ các cuộc phỏng vấn với gia đình Lu, chúng tôi đã có thể xây dựng một sơ đồ sơn chi tiết cho Tu Do. Các bức ảnh của Jensen, mặc dù đen và trắng, rất hữu ích trong việc xác định các tông màu sơn khác nhau, trong khi nghiên cứu về thuyền đánh cá Việt Nam đã cung cấp một nền tảng cho các đường viền truyền thống. Khi Tuyết Lu và cô con gái lớn của cô, Dzung xác định màu xanh da trời chính xác từ các biểu đồ sơn, chúng tôi đã sẵn sàng để bắt đầu vẽ.

Shipwrights Tom Kershaw and Matt McKinlay prepare to paint Tu Do’s hull, 2012. Photograph by Phil McKendrick/Australian National Maritime Museum

Tu Do bị trượt tại một xưởng đóng thuyền ở Bắc Sydney, nơi những người đóng tàu sơn màu xanh thân tàu của nó bằng một lớp sơn chống bẩn màu đỏ bên dưới dòng nước. Số đăng ký tàu ‘VN, KG, 1062A, DC, xác định đây là tàu đánh cá cơ giới của tỉnh Kiên Giang ở Việt Nam, được vẽ trên mũi tàu. Những con số được cộng lại lên đến chín – số may mắn của Tân. Tu Do sau đó được đưa trở lại bảo tàng bến du thuyền nổi, nơi các tàu thuyền hoàn thành công việc sơn trên boong tàu, cabin và cột buồm. Các chi tiết trang trí đã được thêm vào, chẳng hạn như đính cườm trắng xung quanh khung bảng điều khiển của xe lăn và màu đỏ trên gunwale, cột buồm và thân cây. Cuối cùng, thùng nhiên liệu sao chép đã được lắp đặt trên boong, lưới đánh cá đã bị đình chỉ trong cơ chế tời và một tấm bạt được lắp trên mái hiên được tái tạo để khôi phục Tu Do cho cấu hình được chụp bởi Michael Jensen khi nó cập cảng Darwin vào một ngày ướt át vào tháng 11 năm 1977.

Shipwright Tom Kershaw, apprentice shipwright Clarke Prior, apprentice boiler maker Ben Daley and shipwright and painter Teresa McKinlay dress the restored Tu Do at the Australian National Maritime Museum, 2012. Photograph by Kim Tao/Australian National Maritime Museum

Đối với tôi, đó là một khoảnh khắc xác định khi tôi xem đội của bảo tàng lắp đặt tấm bạt, chui xuống dưới tán cây thấp khi họ buộc dây thừng. Tôi tưởng tượng các điều kiện khi Tan và nhóm của anh ta lắp ráp nơi trú ẩn tạm thời này trên biển khơi, đã mạo hiểm mọi thứ trong một chuyến đi vào nơi chưa biết. Nó mang về nhà thực tế đáng sợ về sự trốn thoát của họ và xác nhận Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Úc về lý do phục hồi Tu Do. Khi vấn đề tàu thuyền trái phép tiếp tục chi phối cuộc tranh luận chính trị và công cộng, Tự Do là minh chứng cho sự can đảm, hy vọng và sự khéo léo được thể hiện bởi Tan, gia đình và hành khách của họ. Nó cung cấp cho khách thăm viếng bảo tàng một cái nhìn sâu sắc, hấp dẫn về bản chất của các chuyến đi tị nạn và tác động lâu dài của họ đối với cuộc sống cá nhân.

Đối với Tuyết Lu, người vẫn sống ở phía bắc NSW, Tu Do được khôi phục gợi lên những cảm xúc lẫn lộn. Khi nhìn thấy những bức ảnh về chiếc thuyền gần đây, Tuyết đã nhớ lại rằng cô đã biết ơn nước Úc như thế nào nhưng cô cũng cảm thấy buồn như thế nào khi rời quê hương đến một đất nước rất xa. Trên tất cả, cô đã nhớ về người chồng quá cố Tan và hành trình của họ trên một chiếc thuyền đánh cá tên là Freedom.

Tu Do is open daily at the Australian National Maritime Museum in Darling Harbor, Sydney.

Tu Do on display at the Australian National Maritime Museum, Darling Harbour.

Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

September 6, 2017

Lễ đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster.(Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – “Những thế hệ đi sau như chúng tôi, muôn đời rất biết ơn những người chiến sĩ của Quân Lực VNCH đã từng phục vụ cho đất nước Việt Nam. Chúng tôi đang là một quân nhân của chính phủ Hoa Kỳ, vẫn tiếp tục tranh đấu cho lý tưởng tự do, và vẫn không quên nguồn gốc của mình là người Việt Nam.”

Đó là lời của Chuẩn Tướng Châu Lập Thế, Vệ Binh Hoa Kỳ ở Virginia, nói trong buổi lễ đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster, vào sáng Chủ Nhật, 3 Tháng Chín, vừa qua.

Trong lễ truy điệu diễn ra tại đây, tất cả các quân nhân gốc Việt đều mặc quân phục chỉnh tề. Đi trước là hai quân nhân trịnh trọng mang vòng hoa được kết thành lá quốc kỳ VNCH, các quân nhân theo sau vòng hoa đến đặt trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ và giơ tay chào kính.

Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ Chris Phan, một sáng lập viên Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt, cho biết: “Hội tổ chức buổi lễ đặt vòng hoa này là để tưởng niệm những quý chú bác trong Quân Lực VNCH và những cựu chiến binh Hoa Kỳ đã nằm xuống để cho các con cháu chúng ta được sống tự do trên xứ sở này.”

Các quân nhân Mỹ gốc Việt trong nghi thức khai mạc. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Chúng tôi hãnh diện vì được phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Nhưng còn một hãnh diện hơn nữa, đó là hơn 42 năm qua, cộng đồng người Việt của chúng ta đã gầy dựng một lý tưởng, mà lý tưởng này do từ cha mẹ, từ những chú bác trong Quân Lực VNCH cho chúng tôi, chứ không phải do riêng chúng tôi mà tự có được. Chúng tôi được dạy dỗ là phải phục vụ cho quốc gia dân tộc Việt Nam cũng như của chính phủ Hoa Kỳ đã cưu mang, cho chúng tôi có được tự do như ngày hôm nay,” ông tâm tình.

Một sáng lập viên nữa của hội là cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ hồi hưu Nguyễn Văn Thọ, cũng có lời chia sẻ: “Tôi vượt biên và được định cư tại Hoa Kỳ 1980. Sau đó, tôi được học tại trường đại học của Hoa Kỳ. Trước khi tốt nghiệp đại học, tôi đã gia nhập vào sĩ quan trừ bị của Quân Đội Hoa Kỳ và được đeo lon thiếu úy. Sau 28 năm, tôi đã làm rất nhiều công việc khác nhau trong quân đội, tôi được đeo lon trung tá, và được hồi hưu vào năm ngoái, nhưng vẫn còn là một thành viên của hội này để hướng dẫn các em trẻ sĩ quan gốc Việt của quân đội Hoa Kỳ trong vấn đề binh nghiệp.”

 Kể về việc thành lập hội, cựu trung tá Hải Quân Hoa Kỳ hồi hưu Nguyễn Anh Tuấn cho phóng viên nhật báo Người Việt biết: “Năm 2007, tại chiến trường Iraq, Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ Christ Phan và Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Nguyễn Văn Thọ gặp nhau tại chiến trường và cùng có ý kiến lập ra một hội để các quân nhân người Mỹ gốc Việt được quen biết, giúp đỡ lẫn nhau về tinh thần, cũng như chia sẻ với nhau về những kinh nghiệm làm việc trong Quân Đội Hoa Kỳ.”

Từ trái, Chuẩn Tướng Châu Lập Thể, nữ tài tử điện ảnh Kiều Chinh, cựu phóng viên chiến trường Nick Út, và nữ Đại Tá Mimi Phan. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

     “Đến năm 2008, hai ông về Nam California lập ra hội này, với danh xưng là Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt. Cho đến bây giờ, hội có khoảng 1,500 hội viên. Kể từ sau năm 1975, có khoảng trên 10,000 quân nhân người Mỹ gốc Việt tính luôn cả hồi hưu đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Cho đến bây giờ, có khoảng hơn 20,000 quân nhân Mỹ gốc Việt đang hoặc hồi hưu của quân đội Hoa Kỳ,” ông nói thêm.

      Nữ Đại Tá Mimi Phan, hội trưởng Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt, kiêm trưởng ban tổ chức tiệc ra mắt hội với cộng đồng người Việt tại California, cho biết: “Vào khoảng Tháng Hai, 2016, tôi có về Việt Nam vì bố của tôi bị ngã bệnh khi về Việt Nam. Trong khoảng bảy ngày ở bệnh viện cùng bố, tôi có quan sát được những gì chung quanh mình. Từ một quốc gia có tự do dân chủ, mình cảm thấy hơi buồn vì thấy đất nước của mình còn nghèo quá. Mình mong rằng một ngày nào đó dân tộc của mình có thể được cường mạnh hơn nữa.”

      Đến dự lễ, ông Nguyễn Phước Ái Đỉnh, cựu Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, hội trưởng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Đà Lạt Nam California, nói: “Mục đích chúng tôi đến tham dự buổi lễ này là để đại diện cho một đơn vị của Quân Lực VNCH đến tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ đã hy sinh tại chiến trường Việt Nam, đồng thời cũng tưởng niệm người con của tôi là cựu quân nhân của Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ, đã nằm xuống cho công việc phụng sự quốc gia Hoa Kỳ tại chiến trường Iraq.”

Ban tổ chức, quan khách và đồng hương đến tham dự. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Đối với những anh em quân nhân người Mỹ gốc Việt, phần nhiều những gia đình của họ là tị nạn Cộng Sản đã được chính phủ Hoa Kỳ giúp đỡ cho họ được định cư tại xứ sở này. Khi học hành xong, họ gia nhập vào quân đội Hoa Kỳ với mục đích cũng là góp một phần trả công ơn của chính phủ Hoa Kỳ đã cưu mang gia đình của họ cũng như cộng đồng người Việt tại xứ sở này. Đối với tôi, đó là một sự trả ơn rất trân quý. Tôi rất hạnh diện là một cựu quân nhân đã từng chiến đấu chống Cộng Sản tại Việt Nam, và được làm cha của một chiến sĩ trong quân đội Hoa Kỳ đã hy sinh tại chiến trường Iraq,” ông nói thêm.

 Bà Jennifer Ngô, cư dân Santa Ana, cho biết chồng của bà là cựu quân nhân Biệt Kích của Nha Kỹ Thuật Quân Lực VNCH, và chia sẻ: “Tôi là một quả phụ của một cựu quân nhân từng đi chiến đấu với địch quân tại Việt Nam, nên hôm nay, tôi thấy những người lính Mỹ gốc Việt thì tôi rất thương mến họ. Tôi đến đây để tưởng niệm sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Quân Lực VNCH và các quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt cho tự do của miền Nam Việt Nam, cho Hoa Kỳ và thế giới.”

Japanese architect Tadao Ando has concealed a huge stone statue of the buddha within a hill covered in lavender plants at the Makomanai Takino Cemetery in Sapporo.

Jessica Mairs | 8 August 2017 

Đỉnh đầu của bức tượng chỉ xuyên qua một cái giếng tròn ở trung tâm của gò đất xanh tươi, nơi được trải thảm bởi 150.000 loài thực vật có hoa màu tím. Du khách phải đi qua một đường hầm dài 40 mét để đến chân bức tượng cao 13,5 mét.

Được tạo thành từ những mái vòm bằng bê tông gấp khúc, đường hầm được chiếu sáng lờ mờ để tạo ra một bầu không khí “giống như bụng mẹ”, trong khi phần mở ở trung tâm được chiếu sáng tự nhiên và được bao quanh bởi những bức tường bê tông liên kết hẹp hướng lên trời. Ando đã hoàn thành Đồi của Đức Phật tại Nghĩa trang Makomanai Takino ở miền bắc Nhật Bản vào cuối năm 2015, nhưng những bức ảnh và cảnh quay bằng máy bay không người lái về dự án chỉ mới bắt đầu được lưu hành.

Ando viết trong một bài luận: “Mục đích của dự án này là xây dựng một phòng cầu nguyện để nâng cao sức hấp dẫn của tượng phật bằng đá được điêu khắc cách đây 15 năm. Địa điểm là một ngọn đồi thoai thoải trên 180 ha đất tươi tốt thuộc một nghĩa trang” cho tạp chí Domus.

“Cho đến nay, bức tượng phật vẫn đứng trơ ​​trọi trên cánh đồng, tạo cảm giác bất an. Khách hàng muốn mang đến cho du khách cảm giác thanh thản hơn về tượng phật”, anh nói tiếp. “Ý tưởng của chúng tôi là che phủ tượng phật dưới đầu bằng một ngọn đồi cây oải hương. Chúng tôi gọi ý tưởng này là ‘phật đầu ra ngoài’.”

Thảm thực vật cung cấp bối cảnh thích hợp theo mùa cho bức tượng, chuyển từ màu xanh lá cây vào mùa xuân sang màu tím vào mùa hè và cuối cùng là màu trắng vào mùa đông, khi gò đống trong tuyết.

Một khu vườn nước ở chân gò đất được bao quanh bởi những bức tường bê tông cao và một đường viền nhỏ bằng sỏi xám.

“Một trong những nét quyến rũ của khu vực tượng đài là nó đạt được sự hài hòa với cảnh quan thiên nhiên như thế nào”, Nghĩa trang Makomanai Takino cho biết. “Đáng ngạc nhiên, người ta chỉ nhìn thấy phần đầu của bức tượng được bao quanh bởi cảnh quan của ngọn đồi,” nó tiếp tục.

“Atama Daibutsu (Đầu của Đức Phật) được đặt tên vì vẻ ngoài mới lạ, ấn tượng. Nó hòa hợp hoàn hảo với cảnh quan xung quanh trong tất cả các mùa. Vì vậy, một biểu tượng mới của nghĩa trang đã được thành lập.”

Ando cho biết thêm: “Toàn bộ cơ thể của Atama Daibutsu không thể nhìn thấy từ bên ngoài. Tuyết tích tụ trên đầu nó vào mùa đông. Những gì còn sót lại sẽ khơi dậy sự sáng tạo”.

Là một kiến ​​trúc sư tự học, Ando đã trở thành một trong những người nổi tiếng nhất trong lĩnh vực của mình, đoạt giải Pritzker năm 1995, huy chương vàng Hoàng gia RIBA năm 1997 và huy chương vàng AIA năm 2002. Anh xếp ở vị trí thứ 16 trong danh sách đầu tiên của Dezeen Hot List .

Nhiều dự án đã hoàn thành gần đây của Ando ở Mexico, bao gồm một ngôi nhà bê tông và trung tâm nghệ thuật cho một khu vực ven biển đẹp như tranh vẽ, và một trường nghệ thuật, thiết kế và kiến ​​trúc tại Đại học Monterrey

Dự án này thể hiện một số đặc điểm chính trong công việc của Ando – cụ thể là việc sử dụng bê tông thô, ánh sáng tự nhiên kịch tính và sự tương tác của không gian bên trong và bên ngoài.

Decades Later, a Family of ‘Boat People’ Find Their Rescuers

The New York Times

By Corey KilgannonNov. 7, 2017

Lauren Vương với Dan Hanson, trái, và Ken Nelson, trong cuộc đoàn tụ của những người tị nạn Việt Nam được gọi là “thuyền nhân” và một số thủy thủ đã cứu họ.

Vào tháng 6 năm 1980, một gia đình gồm 5 người cùng với 57 người tị nạn khác chạy trốn khỏi cuộc đàn áp chính trị ở Việt Nam trên một chiếc thuyền đánh cá ọp ẹp cho một cuộc hành trình đầy mạo hiểm trên Biển Đông. “Nếu chúng tôi ở lại Việt Nam, chúng tôi sẽ chết riêng, vì vậy tôi đã đưa ra quyết định,” Mai Trần, người cùng chồng, Thiêm Vương, đưa ba đứa con nhỏ của họ lên thuyền, nhớ lại. “Nếu chúng ta chết, chúng ta sẽ chết cùng nhau.” Những hành khách tuyệt vọng nằm trong số hàng trăm người tị nạn Việt Nam được gọi là thuyền nhân sau hậu quả của Chiến tranh Việt Nam. Lauren Vuong, con gái của bà Trần, năm nay 45 tuổi, lúc đó mới 7 tuổi nhưng vẫn nhớ rất rõ chuyến đi 10 ngày đầy gian khổ khiến hành khách trên bờ vực của cái chết khi một cơn bão nhiệt đới hoành hành và thực phẩm, nước và nhiên liệu cạn kiệt. Nhưng vào lúc mặt trời mọc vào ngày 29 tháng 6 năm 1980, một đốm lửa cứu rỗi xuất hiện ở đường chân trời và ngày càng lớn hơn. Đó là L.N.G. Virgo, một tàu chở dầu dài 935 foot có thủy thủ đoàn đã giải cứu tất cả 62 người tị nạn, hầu hết đều trở thành công dân Mỹ.

Cô Vương, hiện là luật sư ở San Francisco, đã dành nhiều năm để tìm kiếm những người cứu hộ gia đình mình, theo dõi và xem xét nhật ký và sổ đăng ký tàu hàng hải, giấy tờ tùy thân và các tài liệu khác. Vào thứ Bảy, cô gặp họ lần đầu tiên, sau khi cùng gia đình đi du lịch từ California để đoàn tụ tại trường Cao đẳng Hàng hải SUNY ở Fort Schuyler ở Bronx. Virgo là một trong tám tàu ​​chở dầu do Tổng công ty Vận tải Năng lượng, hiện đã không còn tồn tại, vận hành để chở khí đốt tự nhiên hóa lỏng từ Indonesia đến Nhật Bản. Các thủy thủ đã nghỉ hưu của công ty đã tụ họp để đoàn tụ vào cuối tuần trước và tham dự một diễn đàn về ngành cũng như khai mạc triển lãm vận chuyển mới tại Bảo tàng Công nghiệp Hàng hải của trường đại học.

Sau bữa trưa, các thành viên phi của chiếc tàu đã nghỉ hưu kể lại câu chuyện của họ về cuộc giải cứu, trong khi Vương kể lại câu chuyện của họ. Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975, ông Vương, người từng là sĩ quan trong Quân đội miền Nam Việt Nam, bị chế độ Cộng sản bắt giam 4 năm, để lại người vợ Mai Trần nuôi ba đứa con thơ. Khi ông Vương bị quản thúc tại gia, bà Trần đã giúp bảo đảm một chiếc thuyền đánh cá dài 35 feet, Thắng Lợi, hay còn gọi là “Victory” trong tiếng Việt. Một gái mại dâm đã được thuê để làm cho người điều khiển con thuyền say xỉn để những kẻ tị nạn có thể bắt cóc anh ta bằng súng và buộc anh ta phải điều hướng con tàu, bà Vương nói.

Trên biển, bà Vương nhớ lại cảnh chiếc thuyền đánh cá bị đầm lầy bởi những bức tường nước mặn, đen và nghe thấy tiếng khóc của hành khách tưởng chừng như cam chịu trước một cái chết ngập nước. Cô Trần cho biết cô đã giúp làm những ngọn đuốc từ quần áo và vẫn thức vào ban đêm để quan sát các tàu đi qua. Nhiều chuyện trôi qua, cô Vương nói, nhưng chỉ có Virgo dừng lại. Bà Vương nói: “Mẹ tôi vừa khóc vừa cười. “Cô ấy nói,” Chúng ta sẽ sống. “

Ông Nelson với mẹ của bà Vương, bà Mai Trần và cha bà, bà Thiêm Vương, tại cuộc họp. Gia đình Vương được cứu trên một chiếc thuyền đánh cá ở Biển Đông vào năm 1980. Don Walsh kể lại rằng đang canh buổi sáng trên boong tàu Xử Nữ và phát hiện ra chiếc thuyền đánh cá. Larry O’Toole, kỹ sư trưởng của Virgo, nhớ lại đang kéo theo chiếc thuyền đánh cá và thấy rằng “nguồn cung cấp của họ đang cạn kiệt – họ đã sắp hết dây”. Hai kỹ sư từ Virgo, Ken Nelson và Dan Hanson, được hạ xuống để kiểm tra con thuyền và thấy phụ nữ và trẻ em đang túm tụm trong khu vực ngập trong phân và chất nôn.

Ông Hanson nói: “Bạn phải thật phi nhân tính khi nhìn vào tất cả những khuôn mặt đó và tiếp tục bước tiếp. Ông Nelson cho biết ông đã thông báo cho thuyền trưởng của con tàu, Hartmann Schonn, qua radio rằng “con tàu này không xứng đáng – chúng tôi phải đưa họ lên tàu,” và sau đó bắt đầu nâng những người tị nạn từ thuyền lên chỗ ông Hanson trên một con đường mòn. Thắng Lợi là một trong nhiều thuyền tị nạn mà Thuyền trưởng Schonn quyết định dừng lại, một số thành viên cũ của ông nhớ lại.

Nệm được giữ trên tàu cho những người tị nạn được giải cứu, và thuyền trưởng đã chụp ảnh những người tị nạn để đăng trên tàu. Ông cũng tổ chức tiệc cho những người tị nạn trước khi họ xuống tàu và trao cho mỗi gia đình 10 đô la từ tiền túi của mình. “Anh ấy không chỉ cứu sống chúng tôi mà còn không muốn chúng tôi phải tay trắng bỏ công việc chăm sóc của anh ấy”, bà Vương nói. Don McLendon, người từng là kỹ sư trưởng của Thuyền trưởng Schonn cho biết: “Đó là món quà của anh ấy, để họ bắt đầu một cuộc sống mới. “Và tôi biết nó đã mua cho họ bữa ăn trong các trại tị nạn.”

Đại úy Schonn qua đời vào năm 2000, nhưng người vợ góa của anh, Karin Schonn, người đã đi từ Đức để đoàn tụ, cho biết anh thề sẽ sống một cuộc sống từ thiện sau khi được ép phục vụ ở tuổi 14 với tư cách là một xạ thủ phòng không trong Quân đội Đức trong Thế chiến thứ hai. Sau đó, ông nhập cư đến Mỹ, phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, và sau đó trở thành một thuyền trưởng hàng hải nổi tiếng với việc cứu người tị nạn. “Đôi khi anh ấy thực hiện các nhiệm vụ tìm kiếm chúng, chuyển hướng khi anh ấy nghĩ rằng anh ấy đã nhìn thấy một vài đốm sáng ở đường chân trời,” ông McLendon nói.

Theo Joseph Cuneo, một chủ tịch đã nghỉ hưu của công ty, thuyền trưởng Schonn và những người khác được sự hỗ trợ của các giám đốc điều hành công ty, cho biết rằng các tàu của công ty ông đã vớt hơn 2.000 thuyền nhân Việt Nam. Ông nói: “Phải tốn 100.000 đô la một ngày để chạy những con tàu này, vì vậy việc chuyển hướng một con tàu trong một ngày là rất tốn kém, nhưng chúng tôi đã làm hết lần này đến lần khác. “Chúng tôi đã giao hàng hóa có giá trị, nhưng giải cứu mọi người và mang lại cho họ một cuộc sống mới, bạn không thể sánh được”. Sau hai ngày trên tàu Xử Nữ, họ Vương và những người tị nạn khác được một tàu Hải quân Hoa Kỳ đưa vào đất liền. Sau khi trải qua vài tháng trong các trại tị nạn ở Singapore và Indonesia, cuối cùng họ định cư ở San Jose, California. “Cảm ơn rất nhiều vì đã cứu chúng tôi 37 năm trước,” cô nói. “Và cho tất cả các thuyền nhân Việt Nam, xin cảm ơn.”

Dang Can, 1957 | Landscape/Figurative painter

Pubblicato da Tutt’Art Bihiku

Họa sĩ Đặng Văn Cẩn sinh năm 1957 tại xã An Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, nơi nằm ven sông Cửu Long của Việt Nam. Anh đã sớm bộc lộ năng khiếu vẽ và hội họa. Anh bắt đầu tham gia các hoạt động nghệ thuật từ năm 1976 với công việc chính là người vẽ minh họa cho các tờ báo và tạp chí địa phương. Đặng Can là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam. Anh có nhiều bức tranh trong bộ sưu tập riêng ở nhiều nước.

Để rồi từng bước đưa anh đến với công chúng thích nghệ thuật.

Phong cách vẽ tranh của anh không chỉ rất mềm mại, sâu lắng mà còn rất cuốn hút ở sự yên bình của đồng bằng sông Cửu Long. Tranh của anh mang đến một giấc mơ trọn vẹn và tinh khôi, thấm đẫm chất thơ, bay bổng nhưng cũng hiện thực. Chủ đề chính xuyên suốt các tác phẩm của anh là phong cảnh vùng quê yên bình của đồng bằng sông Cửu Long, nữ sinh ở Aodai, sự thay đổi hàng ngày của cư dân địa phương. Nó thực sự đơn giản nhưng cũng rất đáng yêu.

Ngoài hội họa, anh còn là một nhà soạn nhạc / thiết kế gốm sứ. Anh từng có thời gian tham gia công việc cho Xưởng gốm nghệ thuật tại Vĩnh Long, nơi có sản phẩm gốm mỹ nghệ nổi tiếng xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Nhìn những tác phẩm nghệ thuật của Can, chúng tôi không thể cầm lòng hay thờ ơ được vì anh đã đưa chúng tôi đến với cuộc sống tự nhiên ở hạ lưu sông Mekong. Anh ấy muốn cho chúng ta thấy những điều kiện con người, những thăng hoa của cuộc sống hàng ngày cũng như những khung cảnh thân thương và sự đổi mới của đất nước chúng ta từng ngày. Khu vực đồng bằng.

Exhibitions and Awards

  • 1996: Local Exh. held in Vinh Long – Art work: The building worker – Enc. award;
  • 1998: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. – Art work: The green cages – Enc. Award;
  • 2001: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. Art work: The green dream – A Prize;
  • 2003: Zone No.8th Mekong delta – National Exh. Art work: The rest of donor – C Prize;
  • 2004: Zone No.8th Mekong delta – National Ext.Art;
  • 2006: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. Art work: Closing mud. – C Prize;
  • 2006: National exhibition of period 5 year 2001-2006 held at HCM Fine Arts Museum;
  • 2007: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. Art work: a Green message.- 2nd Prize;
  • 2007: Group exhibition – October – “Echo of time” with artist Le Trieu Dien at Phuong Mai Gallery, HCM city;
  • 2008: Zone No.8th Mekong delta – National Exh. Art work: Waiting – B Prize – Collected by Vietnam Fine Arts Museum, Hanoi;
  • 2009, June: Group exhibition “A moment of Mekong Delta” with artist Chieu Dong at Phuong Mai Gallery, HCM City.

Người Việt làm trại gà công nghiệp ở Mỹ

Người Việt làm trại gà công nghiệp ở Mỹ

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-12-16

Một trang trại gà của người Việt ở vùng Newark, Maryland

Người Việt làm trại gà công nghiệp ở Mỹ 

Hơn một thập niên trở lại đây, càng ngày càng có nhiều người Việt ở Hoa Kỳ quay sang tậu đất mở trại nuôi gà, một nghề  không quá vất vả mà cuộc sống ổn định hơn làm công nhân trong các hãng xưởng trên thành phố.

Việc tìm người

Đây là những trại gà công nghiệp ở vùng quê nước Mỹ, chỉ nuôi gà lấy thịt chứ không thu hoạch trứng. Và nếu chỉ tính riêng vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, riêng tiểu bang Maryland thôi người ta có thể tìm thấy hơn 40 trại gà công nghiệp của người Việt tại những vùng đất chỉ sống bằng trồng trọt hoặc chăn nuôi như Salisbury, West Over, Pocomoke, Newark, Ocean City…

Làm trại gà không phải là chọn lựa đầu tiên khi chân ướt chân ráo tới Hoa Kỳ, nhưng khi đã vào nghề này thì phần lớn người Việt tự làm chủ chứ không làm công. Mặt khác, cũng rất ít người nuôi gà mà bỏ cuộc nửa chừng. Đó là lời ông Hà Xuân Hải, thuyền nhân đến Mỹ năm 1984:

Tôi đã lên tham quan, sau đó tôi trở về và quyết định bán nhà, dọn lên trên này… Tôi mua một trang trại cũ chỉ có 5 chuồng thôi, sau đó phát triển thêm 3 chuồng nữa.
– Ông Hà Xuân Hải

Tôi đã định cư tại California, thành phố Oakland, sau đó tôi về Virginia, định cư tại thành phố Annandale 22 năm. Tôi đã trải qua nhiều công việc khác nhau như rửa chén, cắt cỏ, dọn dẹp vệ sinh trong cao ốc, làm thợ  sửa chữa bảo trì ở một khách sạn tại Washington DC.

Năm 2005, như một duyên may, ông Hải quen một người đang làm chủ trại gà ở thành phố Pocomoke, tiểu bang Maryland:

Tôi đã lên tham quan, sau đó tôi trở về và quyết định bán nhà, dọn lên trên này. Hiện giờ tôi đang định cư tại thành phố Newark tiểu bang Maryland.

Đầu tiên phải nói cám ơn người bạn đó đã cố vấn và có những khích lệ. Tôi mua một trang trại cũ chỉ có 5 chuồng thôi, sau đó phát triển thêm 3 chuồng nữa.

Bây giờ thì trại gà của ông Hà Xuân Hải có tất cả 8 chuồng với 3 kích cỡ khác nhau. Thứ nhất là 2 chuồng với mỗi chuồng 21,000 con gà. Thứ hai là 3 chuồng với 27.000 con gà trong mỗi chuồng, và thứ ba là 3 chuồng sau này với 43.000 con mỗi một chuồng.

Nuôi gà ở Mỹ là nuôi gà kiểu công nghiệp, hoàn toàn không giống với cách nuôi bên nhà, không cần vườn rộng để thả gà ra khỏi chuồng, cũng không cần phải đi rải thức ăn cho chúng:

Đây là kiểu nuôi gà gia công,mình đi với một hãng cung cấp gà giống, thức ăn, thực phẩm, thuốc men, đó là những hãng của người Mỹ. Đầu tiên là mình có một trại gà trước rồi mình ký hợp đồng với những hãng gà đó. Hợp đồng thỏa thuận xong thì mình chuẩn bị tất cả những dụng cụ trong chuồng gà, máy móc trong chuồng gà sẵn sàng, có hệ thống nước uống và thức ăn, sẵn  sàng  thì họ mang gà lại bỏ cho mình. Đồ ăn gà họ sẽ mang lại luôn, công việc chính của mình gần như là chỉ chăm sóc gà thôi.

Sau 8 tuần thì  hãng gà sẽ tới và mang gà đi. Họ đưa nhân viên tới và mang gà về hãng để giết rồi họ sẽ cân ký, trả tiền cho mình theo số ký họ đã mang ra khỏi trại của mình.

Đó là lý do những trại chăn nuôi gà công nghiệp không bao giờ thu hoạch trứng vì gà vừa lớn thì công ty cung cấp gà giống đã tới nhận mang đi, thay vào đó những lứa gà mới nở  đã được chủng ngừa cẩn thận:

Tại vì vốn liếng mình đã bỏ một số tiền để xây chuồng  xây trại, vốn liếng họ bỏ ra là gà giống và thức ăn, họ đưa những người chuyên về gia súc để coi gà có bịnh hoạn hay không.

Ở đây có hai lãnh vực khác nhau, có trại chỉ nuôi gà đẻ trứng ấp ra để có gà giống, còn như của tôi là chuyên về nuôi gà để lấy thịt. Nhưng vùng  này không có loại gà để trứng để bán ngoài chợ.  Họ phải chia ra vùng để dễ dàng sắp xếp công việc của một khu vực.

Đất lành chim đậu

Với trang trại hơn 200.000 con gà, ông Hải chỉ mướn hai nhân công người Mexico để chạy việc, còn lại là máy móc trang bị sẵn:

Tại vì những việc như nhập gà vô, xuất gà ra là hãng gà họ lo, còn sau khi đã xuất gà rồi thì tôi sẽ mướn những công ty khác tới để dọn dẹp chuồng và lấy phân gà ra khỏi trại.

Một ngày làm việc của một ông chủ trại gà công nghiệp như thế nào:

Buổi sáng mình phải ra coi gà có khỏe mạnh đau ốm gì hay không, đồ ăn và thức uống có đầy đủ hay không. Hệ thống thông gió trong chuồng gà, quạt không khí trong lành vô, mang  những hơi độc từ mùi phân trong chuồng gà ra, đó là những công việc chính mỗi ngày. Mình  đi lượm những con gà chết,  những con gà bị còi hay bị què quặt  thì bỏ ra ngoài để thiêu hủy.

Trong 4 nùa thì công việc gần như khác nhau. Thí dụ mùa hè quá nóng thì mình phải dùng quạt  để mang hơi nóng ta ngoài và đưa hệ thống lạnh chạy bằng nước vô. Mùa đông thì ngược lại,  lúc gà còn nhỏ mình phải dùng hệ thống sưởi để sưởi ấm cho nó trong thời gian ít nhất là 4 tuần. Mùa xuân và mùa thu mình sẽ dùng hệ thống sưởi  theo nhiệt độ của thân con gà.

Không có rủi ro dịch bệnh trong việc chăn nuôi đại trà tại các trại gà công nghiệp là vì gà con khi nhập trại đã được chích ngừa trước:

Gà con đã được chủng ngừa trước khi vào trại của mình và sau đó họ cũng có tới chủng ngừa khi gà đã được 10 cho tới 18 ngày. Từ ngày tôi lên  đây là 12 năm rồi thì vấn đề dịch cúm gà hay H5N1 chưa bao giờ xảy ra..

Thế nhưng thiên tai thì có rồi, thí dụ mưa bão hay tuyết. Có những năm quá nhiều tuyết thì có những chuồng gà bị sập. Mùa hè nóng quá, trên đây nói chung người Việt cũng như người Mỹ gần như năm nào cũng có một hai trại có thể chết hết một trại gà luôn. Lý do là điện bị cúp, máy phát đèn bị trở ngại, chết một hai chuồng mà mỗi chuồng hai ba chục ngàn con là chuyện thường, gần như là xảy ra mỗi năm.

Có nhiều người Việt lên vùng Newark để mở trại gà như ông Hà Xuân Hải không là câu hỏi tiếp theo, được ông Hải trả lời:

Cứ mỗi năm như vậy là có thêm một hai gia đình người Việt Nam tới đây, có năm ba bốn gia đình về. Mười hai năm trước đây vùng này người Việt chỉ khoảng 15 gia đình thôi, nhưng mà tới ngày hôm nay đã lên tới con số 40 trại gà ở đây rồi.

Bên trong một chuồng gà của ông Hà Xuân Hải vùng Newark. Hình do ông Hải gửi RFA

Princess-Anne, một thành phố nhỏ của Maryland, không xa Newark là mấy, có trại gà của ông Nguyễn Chí Hiện. Ông Nguyễn Chí Hiện là dân Đồng Nai, vượt biên sang Mỹ năm 1989, làm đủ thứ việc trong mười mấy năm ở New Jersey  cho đến khi dọn về Maryland để tiếp tục nghề may.

Năm 2011, sau 4 năm dọn về Marylan, ông Hiện tính đến chuyện làm chủ một trại gà:

Tại vì muốn thay đổi công việc thôi, coi trên báo thấy có một số trại gà người Việt thì tôi liên lạc với một anh ở đây thì anh cũng cho biết cách thức nuôi gà. Tôi cũng chạy xuống coi rồi mua lại một trại nho nhỏ có đất của người Mỹ, có một số chuồng gà thì tôi sửa lại tôi nuôi.

Trại của tôi ở thành phố Princess-Anne, nằm trên  bán đảo giữa Maryland, Delaware và Virginia. Princess_Anne là một thành phố đồng quê,dân thưa, không có nhà chỉ có rừng, không có business gì hết chỉ có làm rẫy làm gà vậy thôi.

Khi vô vùng này thì giống như lạc vô khu rừng hoang vậy, lúc đầu kiểu như mình bị lạc lõng lắm, trại gà nói chung làm chỉ đủ sống thôi. Nhiều khi cũng muốn bước ra nhưng tại vì số tiền khá  lớn nên bước ra không được thì mình phải chịu.

Vạn sự khởi đầu nan

Đã vậy, khi bắt tay vào việc, ông Nguyễn Chí Hiện mới cảm thấy mọi chuyện lúc đầu không dễ dàng, ít nhất là đối với bản thân ông:

Có nhiều khó khăn, thứ nhất về cách nuôi gà mình không biết một cái gì hết, mình cũng  không biết cách kiểm soát cái máy tự động để điều khiển tất cả mọi thứ trong chuồng gà, từ đồ ăn, cám, rồi những cái quạt để có hơi gió cho gà sống,  rồi máy điều khiển khi muốn mở cửa số lớn hay mở nhỏ, tất cả bằng máy móc tự động hết.

Hãng bỏ gà cho mình thì họ gởi một người kỹ thuật chịu trách nhiệm giúp đỡ mình, người ta chỉ xuống nói nói rồi bấm bấm  cái máy control điều khiển cái chuồng gà, mình không thể nào nhớ một lúc được, xong cái người ta đi rồi thì mình ớ ra không biết điều khiển làm sao luôn. Đó là cái mình phải học hỏi ngay từ bước  đầu.

Mười hai năm trước đây vùng này người Việt chỉ khoảng 15 gia đình thôi, nhưng mà tới ngày hôm nay đã lên tới con số 40 trại gà ở đây rồi.
– Ông Hà Xuân Hải

Phải qua một năm mới thành thạo việc điều khiển máy móc, ông Hiện nhớ lại:

Hiện tại bây giờ làm được 4 năm rồi. Hai năm đầu tiên tôi  không lấy được đồng nào, nghĩa là có lấy về được nhưng phải đập vô để sửa chữa tu bổ cho trang trại của mình nó hoàn hảo hơn. Bây giờ tôi cũng xây thêm được 3 cái chuồng lớn nữa. Từ ba chuồng đó với mấy cái chuồng kia cuộc sống mình đỡ hơn, mình không phải vất vả nữa.

Lúc mới mua  tôi có 5 chuồng, mỗi chuồng 25.000 con. Về sau này tôi xây thêm được 3 chuồng nữa, một chuồng 50.000 con. Tám chuồng gà này là gà công nghiệp, không đẻ trứng vì nó có bằng đó bốn mươi mấy ngày cho nên nó chưa tới thời kỳ đẻ trứng.

Nếu chỉ nói về thành phố Princess-Anne không thì đã có bảy hay tám trang trại nuôi gà công nghiệp của người Việt.:

Trại gà của người Mỹ cũng rất nhiều nhưng họ không làm lớn. Hầu hết những người Việt về đây nuôi gà thì người nào cũng có chiều hướng mở lớn hơn, nghĩa là thêm nhiều chuồng. Người Mỹ mà 3 chuồng hay 4 chuồng là quá nhiều rồi, người Việt thì ham hơn xíu vậy đó.

Cuộc sống của những người làm gà công nghiệp ở Mỹ, nhìn lên không bằng ai nhưng nhìn xuống cũng  đỡ hơn rất nhiều người, là suy nghĩ của ông Hiện:

Nói chung cuộc sống ổn định, đủ để trang trải tiêu xài. Làm trại gà này phải mượn tiền nhà băng rất nhiều, hiện tại một số người Việt Nam mà họ biết thì họ rất muốn nuôi gà, không được giàu có như những công việc khác nhưng mà cuộc sống thanh thản và bình yên lắm.

Đối với ông Hà Xuân Hải ở Newark thì :

Đây là một công việc phải nói là tốt và có thể nói là thành công cho người Việt Nam. Mặc dù cũng có lúc chân lấm tay bùn nhưng được cái an ủi là mình tự làm chủ, mình có thời giờ để sắp xếp cho gia đình. Với tôi đây là công việc mà tôi cảm thấy rất hài lòng. Tôi cũng đang chuẩn  bị phát triển thêm.

Còn lợi tức hàng năm, ông Hải nói không thể nhớ con số chính xác, có điều:

Lợi tức của trại gà thì mới đầu nghe mình rất thích  tại vì nó cũng cao lắm. Trừ đi hết rồi thì cũng còn con số nhất định, thí dụ một năm là bao nhiêu, nhưng phải để coi lại cái bill điện thoại, điện nước, rồi những chi phí …

Tiếng là có trên 40 trang trại nuôi gà của ngưởi Việt ở Maryland nhưng trại này ở cách trại kia khá xa, điển hình khoảng cách từ trại của ông Hà Xuân Hải ở Newark đến trại của ông Nguyễn Chí Hiện ở Princess-Anne. Điểm đáng lưu ý mà ông Hiện chia sẻ  ở đây, làm  gà thì phải về vùng quê, do đó những ai có con nhỏ cũng là một trở ngại:

So  với thành phố thì nó quá xa, có con nhỏ mà về vùng rừng này ở thì cũng tội cho tụi nó. Tôi thì mấy đứa nhỏ cũng lớn hết rồi, tụi nó đi học xa nhà hết rồi. Đi học ở những thành phố nhỏ này thì không có điều kiện nhiều như những trường lớn của  thành phố lớn.

Người Việt ở Mỹ, dù phải dùng thịt gà đông lạnh bày bán trong các siêu thị, lại không mấy chuộng thịt gà công nghiệp này vì cho là bở và nhiều chất béo, thịt lại không ngọt và không thơm bằng “gà đi bộ” được nuôi thả bên ngoài.

Thực tế đã có một số trang trại nhỏ của người Việt chuyên chăn nuôi và giết mổ “gà đi bộ”  để bỏ mối cho các cửa hàng thực phẩm của người Á Châu trong vùng.

Chủ trại ‘gà đi bộ’ lớn nhất Texas: Làm giàu từ nuôi chơi đến nuôi thiệt

Jul 22, 2019 cập nhật lần cuối Dec 5, 2019

Ngọc Lan / Người Việt

Ông Dương Minh Dũng, chủ nhân công ty gà đi bộ Đồng Nai ở Austin, Texas. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

AUSTIN, Texas (NV) – Trong khi hầu hết người Việt làm nghề nuôi gà chọn cách nuôi gia công cho các hãng lớn của Mỹ theo hợp đồng có giá trị từ 10 đến 15 năm, thì ông Dương Minh Dũng, cư dân thành phố Austin, tiểu bang Texas, lại chọn một con đường đi khác hẳn cho mình. Đó là nuôi “gà đi bộ,” loại gà được người Việt ở Mỹ đặc biệt ưa chuộng.

Từ vài chục con gà nuôi chơi trong nhà, đến nay, ông Dũng đã là chủ của công ty gà đi bộ Đồng Nai, với 54 chuồng nằm rải rác quanh khu vực Austin, mỗi chuồng trung bình khoảng 30,000 con. Gà đi bộ Đồng Nai không chỉ có mặt trong các chợ, nhà hàng Á Châu quanh vùng mà còn được đưa đến bán ở gần 30 tiểu bang Hoa Kỳ.

Công nhân hãng đồ hộp, bán “taco” và khởi nghiệp nuôi gà thả rông

Sang Mỹ năm 1995, khi chưa đến 40 tuổi, ông Dũng bắt đầu cuộc đời mới bằng việc đi làm cho hãng đồ hộp để mưu sinh.

“Tình cờ một bữa ăn trưa, người bạn làm chung mua cho tôi một cái ‘taco.’ Tôi vừa ăn vừa quan sát và nhận thấy cái taco rất dễ làm, chỉ ăn thua mùi vị thôi. Tôi nhẩm tính chi phí cho một cái taco như vậy chỉ khoảng 25 cents, trong khi họ bán ra là $1.25. Lời quá. Lúc đó lương làm hãng đồ hộp chỉ $400-$500 cho hai tuần, mà rất cực. Thế là tôi quyết định sắm xe đi bán taco.”

Ông Dũng kể chuyện “khởi nghiệp” tại Mỹ trong lúc lái xe đưa phóng viên báo Người Việt đi thăm các trại gà của mình.

Xe “taco” bán cho công nhân hãng xưởng, nên hai ngày cuối tuần công nhân nghỉ thì ông Dũng cũng nghỉ để “đi chợ trời mua gà vịt sống về ăn.”

Là người có “khiếu làm ăn,” nên ông Dũng ghi nhận được ngay hình ảnh, có rất nhiều người Việt đi mua gà vịt sống giống ông.

“Ở đây bắp lúa nhiều quá, lại rẻ, vậy sao mình không thử nuôi gà để ăn, để bán?” Một cách thức kinh doanh xuất hiện trong đầu ông.

Ông kể, “Lúc đó, một người bạn cho tôi mượn miếng đất 10 mẫu, tôi lấy lưới vây lại một góc và mua 100 con gà con thả vô nuôi trong đó. Bốn tháng sau, tôi mang gà về làm ăn, ai cũng khen thịt gà ngon, không như ăn gà Mỹ. Thế là tôi mua gà bỏ thêm vô nuôi. Cuối tuần hai vợ chồng bắt gà về nhà làm, cắt cổ, nhổ lông bằng tay, y như hồi ở Việt Nam, rồi bán cho người quen, bạn bè.”

Gà đi bộ được nuôi tại một trong số 54 chuồng gà của công ty gà Đồng Nai Austin, Texas do ông Dương Minh Dũng làm chủ. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Từ 100 con, ông Dũng nuôi lên 500-600 con, rồi 1,000 con.

“Lúc đó tôi vẫn còn bán taco. Khi đi bán thì để sẵn bịch bắp bịch đậu trong xe, chiều về ghé chỗ nuôi thảy bắp, đậu cho gà ăn. Thấy dễ dàng lắm. Đến lúc thấy gà nuôi bao nhiêu bán cũng không đủ, nhu cầu người ta mua gà đi bộ này nhiều, thì tôi quyết định mua 50 mẫu đất, tập trung vào nghề nuôi gà đi bộ, nghỉ hẳn nghề bán taco. Khi đó là năm 2000.” Ông chủ gà Đồng Nai nhớ lại.

Thất bại ngay lần đầu “làm ăn lớn”

Vừa đứng nhìn những người làm đến bắt gà chuyển qua lò mổ, ông Dũng vừa kể tiếp: “Khi mình nuôi chơi thì rất thành công, nuôi 10 con y chang 10 con, 100 con y chang 100 con, con nào cũng ngon lành. Nhưng khi nuôi lên tới 1,000 con thì đã có vấn đề, nhưng vấn đề nhỏ. Đến lúc thả 6,000 con thì vấn đề khác hẳn.”

Ông chủ trại gà Đồng Nai nhớ lại, “Tôi nhớ thời gian đó tôi không ngủ được, hầu như mỗi ngày tôi ở trong chuồng gà từ 20 đến 22 tiếng với đủ thứ lo lắng mà không biết hỏi ai. Nó quần mình không chịu nổi. Mà kinh khủng nhất là chuyện cho gà ăn và uống.”

Không có kinh nghiệm nuôi gà theo kiểu “công nghệ dây chuyền” cho ăn cho uống hoàn toàn bằng máy, ông Dũng, vào thời điểm đó, vẫn mày mò làm theo cách thức “nông dân.”

“Châm nước cho gà uống theo kiểu từ đầu trên xuống đầu dưới. Mới châm đến 2/3 đường thì đầu trên tụi nó đã uống cạn. Lúc đó suốt ngày gần như chỉ làm mỗi việc cho gà uống nước. Chưa nói đến chuyện chế biến đồ ăn riêng cho gà. Thất bại là ngay lúc đó,” ông nói.

Gà chết mà không biết lý do vì sao cũng là vấn đề khiến ông Dũng mệt mỏi.

“Khi nuôi nhiều thì không chỉ nó ỉa nhiều, mà còn đạp nhau, cắn nhau chết. Gà này khi nuôi lớn đến hai tháng rưỡi, ba tháng thì bắt đầu nó cắn nhau, mổ nhau nó chết. Khi đó, một ngày nó chết cỡ 200 con luôn. Nhìn nó chết mà mình không hiểu lý do, cứ nghĩ là chuột vô cắn chết, lo đi bỏ thuốc diệt chuột, bịt hết các lỗ nghĩ là chuột chạy vô, chứ không biết là gà mổ nhau chết. Rồi đồ ăn cũng vậy. Mình đổ từ đầu này đến đầu kia thì đầu này nó đã ăn hết rồi. Cứ vậy, mình không trong nghề nên không biết gì hết,” ông Dũng mỉm cười nhớ lại quãng thời gian “đau đớn.”

Ông Dương Minh Dũng, chủ nhân công ty gà đi bộ Đồng Nai ở Austin, Texas, đang đứng xem công nhân đang bắt gà đưa qua xưởng chế biến. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Tuy nhiên, sau đó ông Dũng gặp may khi có một người bạn từng làm công việc “bắt điện” cho một trại gà công nghiệp của Mỹ, đến chơi và thăm chuồng gà của ông.

“Tôi nhớ khi đó chuồng gà tôi làm chả giống ai hết nhưng cũng tốn cỡ $200,000 chứ không ít. Nhưng anh bạn vô coi rồi la lên ‘không phải làm như vầy đâu Dũng ơi!,’” Ông kể tiếp.

Thế là nhờ sự “mai mối” của người bạn, ông Dũng có cơ hội vào xem hệ thống trại gà công nghiệp của Mỹ, để từ đó mới biết đến hệ thống cho ăn uống tự động là như thế nào, chuồng phải có máy sưởi, có màn cửa ra làm sao.

Ông nói một cách đầy cảm kích, “Phải công nhận người Mỹ họ hay lắm, mình hỏi cái gì thì họ chỉ dẫn cặn kẽ cái đó. Nhiều thứ mà họ không chỉ không nói thì mình không làm sao biết được. Từ những kinh nghiệm đó, từ từ tôi mới bắt đầu bung ra, hết trại thứ nhất, đến trại thứ hai, thứ ba, đến giờ là 54 chuồng rồi.”

Có tên “gà Đồng Nai” vì “đụng” Health Department!

Vẫn bằng giọng kể chuyện vui nhộn, rộn ràng, ông Dũng tiếp tục câu chuyện trong lúc đi xem chuồng trại, “Lúc mới bắt đầu, chỉ hai vợ chồng tôi làm y chang như kiểu Việt Nam. Khi bỏ quảng cáo ở nhà thờ, họ tới nhà mua đông quá. Mình phải nuôi thêm. Rồi từ nhổ lông bằng tay, chuyển qua mua một máy nhổ lông gà nhỏ nhỏ để nơi góc vườn nhà để làm. Rồi khi gà bắt đầu dư ra thì tôi mang ra chợ Mỹ Thành ở Austin gửi bán.”

Nhưng. Sự đời vốn dĩ luôn có chữ “nhưng” như một cái thắng gấp trước khi bất kỳ ai có thể trượt dài.

“Nhưng mới từ chợ chạy về đến nhà thì đã nghe người chủ chợ gọi cho biết có Sở Y Tế xuống kiểm tra. Khi đó tôi không hiểu luật gì hết. Mà Mỹ hay lắm, khi biết mình không có giấy tờ, không biết luật, là họ tận tình hướng dẫn cách cho mình xin giấy phép, chở tôi đến chỗ làm giấy tờ. Đến lúc họ hỏi tên công ty là gì để điền vào, tôi mới giật mình, không chuẩn bị sẵn, chỉ nhớ hồi xưa mình ở Đồng Nai, nên đề nghị họ cho mình lấy tên Đồng Nai.”

Thương hiệu gà đi bộ Đồng Nai đã ra đời trong hoàn cảnh như thế.

Gà Đồng Nai được bày bán ở chợ Mỹ Thành ở Austin, Texas. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Cũng theo lời ông Dũng, ngay lúc đó, ông được cấp giấy phép cho làm thịt dưới 10,000 con gà mỗi năm, cùng lời dặn “nếu làm trên 10,000 con mỗi năm thì phải báo.”

“Nhưng mà chỉ mới vài tháng thì tôi đã phải đến gặp họ vì mình đã làm hơn số 10,000 con. Họ nói trên 10,000 con thì phải làm kiểu khác. Cứ vậy, mình làm theo cách họ hướng dẫn, làm mỗi lúc một nhiều, họ phải cho bác sĩ và người kiểm dịch xuống đóng chốt tại lò mổ của mình mỗi ngày để bảo đảm an toàn vệ sinh khi gà đến tay người tiêu thụ,” ông Dũng cho biết.

Gà đi bộ được người Á Đông ưa chuộng hơn “gà Mỹ” do thịt gà đi bộ chắc hơn, dai hơn và ngọt hơn.

Ông Dũng cho rằng, “Cách nuôi gà đi bộ khác nuôi gà công nghiệp chủ yếu ở thức ăn, và giống gà. Chuồng trại thì gần giống nhau. Gà Mỹ cũng nuôi chuồng, nhưng chỉ nuôi trong thời gian 6-7 tuần, mà trọng lượng con gà có thể đến 9 lbs. Còn gà mình nuôi tới 4 tháng rưỡi. Con gà này khi làm ra chỉ nặng từ 3.8-4.2 lbs. Gà Mỹ nuôi thức ăn chứa protein rất cao, và giống gà như thổi. Còn gà đi bộ nuôi như ép xác, chỉ cho ăn no nhưng protein rất thấp. Cách nuôi của mình là làm cho con gà tăng trưởng chậm để có thịt ngon.”

Khi gà đi bộ Đồng Nai làm ra bán cho khu vực Austin có dư ra, ông Dũng bắt đầu tiến ra thị trường Dallas, Houston. Đến bây giờ, như ông Dũng nói, “Gà Đồng Nai đã có mặt ở gần 30 tiểu bang Hoa Kỳ. Tại tiểu bang Texas, ngoài các chợ Việt, chợ Tàu, chợ Đại Hàn đều có gà Đồng Nai, hiện giờ các chợ của Ấn Độ, Mễ, Pakistan cũng lấy gà đi bộ Đồng Nai về bán theo như cầu của khách.”

Hiện nay, từ Thứ Hai đến Thứ Sáu, mỗi ngày trung bình trại gà Đồng Nai của ông Dương Minh Dũng đưa ra thị trường khoảng 10,000 con gà đi bộ. Riêng ngày Giao Thừa Tết Nguyên Đán, ngày Lễ Tạ Ơn và ngày Giáng Sinh là những ngày tiêu thụ gà đi bộ nhiều nhất trong năm, số lượng tăng lên rất nhiều, và công ty ông phải làm việc suốt 7 ngày trong một thời gian để có đủ gà cung cấp cho khách hàng.

Nhìn lại công sức của mình, ông Dũng nói, “Ở đây có rất nhiều trại gà nhưng đều là nuôi gia công cho các công ty Mỹ, còn trại gà Đồng Nai là của riêng tôi. Tháng Tám này, tôi sẽ hoàn thành nhà máy giết mổ bò để xuất cảng sang thị trường Đại Hàn và Việt Nam. Nếu không sai thì tôi là người Việt Nam đầu tiên ở đây lập công ty riêng về chăn nuôi từ gà và giờ là bò.”

Ông Dương Minh Dũng, chủ nhân công ty gà Đồng Nai lớn nhất của người Việt tại Mỹ, quả thật, có thể tự hào về những gì ông đã tạo dựng lên từ đôi bàn tay của chính mình trên quê hương thứ hai này.

Trại gà người Việt

Sinh Đặng

October 9th, 2020

Texas là một tiểu bang có diện tích lớn thứ hai của Hoa Kỳ – và gấp đôi Việt Nam – 695,662 km2, mà dân số chỉ có 28,701 (thống kê năm 2018) – với những vùng đồng cỏ bát ngát. Khoảng 10 năm qua, không ít “bước chân Việt Nam”, từ nhiều nơi đã dừng lại ở Texas.

Với đức tính cần cù, siêng năng của người Việt, nhiều người đã đạt được mộng ước có một cuộc sống an lành trên đồng cỏ mênh mông đó. Ðặc biệt những năm gần đây, số người đến lập nghiệp ở Texas, nhất là trong hạng tuổi trung niên trở lên đã gia tăng. Họ có một số vốn sau nhiều năm làm việc và muốn sở hữu một trại gà- điều này đã làm lệch cán cân Cung Cầu cho hệ thống trang trại nầy.

Xin mời quý độc giả theo chân người viết, đến thăm một vài trại gà tại vùng Winnsboro và vùng lân cận thuộc Texas – cách Dallas 100 miles về hướng Ðông.

Ðầu tiên là anh chị Ðặng Ðức Chính đang sống tại Pickton, TX.

Trước kia anh ở đâu, có biết gì về nghề nuôi gà không và động lực nào đã đưa anh đến đây?

Đặng Đức Chính (ĐĐC): Tôi ở San Jose, có xe bán thức ăn như một “tiệm ăn di động”, làm ăn cũng khấm khá, nhưng vất vả và mất nhiều thời gian. Tháng 8 năm 2013, tôi đến thăm người bạn đang làm trại gà ở vùng nầy, thấy công việc thích quá, nên quyết định mua trại gà vào tháng 12 năm 2013, dù chưa một chút hiểu biết về nghề nầy.

Với quyết định táo bạo như vậy, công việc diễn biến thế nào mà anh được thành công như hôm nay?

ĐĐC: Qua sự giúp đỡ của người bạn, tôi mua trại nầy, là một trại cũ với vài chục mẫu đất. Tôi đã được người bạn và các anh em mới quen biết ở đây hướng dẫn tận tình. Tôi mướn một người Mễ đã từng có kinh nghiệm làm việc ở trại gà phụ giúp công việc và cũng để mình học nghề. May mắn, mọi sự suôn sẻ. Ðến năm 2016, người chủ trại bán luôn miếng đất còn lại 133 mẫu và căn nhà tôi đang ở với giá phải chăng, nên tôi mua luôn.

Công việc và cảm tưởng của anh chị về cuộc sống ở đây?

ĐĐC: Bình thường, hai vợ chồng làm công việc trại gà chỉ tốn 4, 5 tiếng là xong. Nhưng những lúc trục trặc thì rất vất vả. Tôi cũng đang gầy dựng đàn bò được vài chục con. Nhìn bò nhởn nhơ gặm cỏ trên cánh đồng thênh thang, tôi nghĩ, đây đúng là “Vùng Trời Bình Yên”.

Từ giã anh Chính, người viết đến trang trại của anh Nguyễn Thiện gần thị trấn Winnsboro, với căn nhà xinh xắn, do chủ nhân tự thiết kế, chung quanh là cây cảnh, bông hoa thật đẹp mắt.

Ông Bà Đặng Đức Chính tại khu trại gà

Anh định cư tại Hoa Kỳ năm nào? Đã sống ở đâu, làm nghề gì và cơ duyên nào đưa anh về đây?

Nguyễn Thiện (NT): Tôi được người anh bảo lãnh qua Mỹ năm 2010 và định cư tại New Jersey. Ở đó, tôi làm nghề xây dựng khá nặng nhọc. Năm 2015, sang đây thăm anh, tôi được  gặp gỡ những gia đình làm trại gà. Qua tiếp xúc, tôi thấy các anh chị đối xử với nhau rất thân thiện, đầy tình người như ở Việt Nam, với cuộc sống thật êm ả. Thích quá, tôi quyết định về đây trong lúc không có chút hiểu biết nào về nghề nầy. Tôi mua trang trại nầy vào tháng Giêng, năm 2016.

Làm sao anh có thể điều hành trại gà lúc bắt đầu?

NT: Lần đầu tiên, khi hãng đưa gà vô, tôi không hề biết gì về hệ thống máy móc, computer. Nhưng thật may mắn và cảm động, khi có cả chục người bạn mới – chủ các trại gà khác – đến giúp, mỗi người chỉ bảo một việc. Sau đó, mỗi lần có trở ngại, tôi gọi điện thoại cho các anh và được hướng dẫn tận tình. Sau 2 đợt gà, tôi tương đối biết mọi việc. Hơn một năm sau, tôi đưa nhà tôi và con trai sang đây.

Công việc chăm sóc trại gà hàng ngày của anh có nặng nề không, và anh có hài lòng với lựa chọn của mình không?

NT: Trại của tôi có 6 chuồng. Năm rồi, cơn bão đã làm hư hại 3 chuồng. Bảo hiểm bồi thường và  đang xây lại 3 chuồng. Công việc hàng ngày của vợ chồng tôi là nhặt gà chết, bắt đầu từ 5 giờ sáng, chỉ vài tiếng là xong. Công việc hơi cực là sau khi ra gà xong. Có khoảng 2 tuần để dọn dẹp, vệ sinh chuồng trại, dùng máy cày, xới phân cho nhuyễn đều, rồi lấy ra bớt, chỉ chừa lại 4 inch, cho nền bằng phẳng để vô gà mới. Khi ở Việt Nam, chúng tôi sống ở miền quê, làm việc cực nhọc hơn nhiều, nên với tôi, công việc này không quá nặng nề. Tôi cảm thấy rất sung sướng, vì tôi đã chọn đúng chỗ, đúng nghề và có được một cuộc sống an bình.

Tạm biệt anh Thiện, chúng tôi đến thăm anh Trần Duy, một trong những người làm trại gà lâu năm nhất vùng nầy, để tìm hiểu thêm về phần chuyên môn. Anh Duy là kỹ sư. Vợ anh là bác sĩ. Năm 2005, khi chị mở phòng khám bệnh tại thị trấn Winnsboro, anh đã quyết định mua trại gà và hoạt động trong nghề cho đến nay.

Xin anh cho biết có bao nhiêu hãng gà đang hoạt động tại Texas? Tên các hãng có trại gà người Việt tại vùng Winnsboro và phụ cận?

trần duy (TD): Texas có 3 hãng lớn là Tyson, Pilgrim và Sanderson. Tại vùng nầy, người Việt nuôi gà cho hãng Pilgrim và Sanderson.

Ông Bà Nguyễn Thiện trước căn nhà ở farm.

Khi ký hợp đồng, hãng có ấn định thời gian bao nhiêu năm không?

TD: Với hãng Pilgrim, nếu trại mới xây thì hợp đồng 15 năm, còn trại cũ thì ký mỗi năm.

Có trường hợp nào bị hủy hợp đồng không?

TD: Khi người nuôi không làm theo đúng những quy định và tiêu chuẩn mà người nuôi phải chấp hành. Trường hợp người nuôi vi phạm nhiều lỗi, hãng buộc người nuôi phải bán trại.

Khi mua trại gà, chủ trại phải làm cho một hãng duy nhất hay có thể hợp đồng với hãng khác?

TD: Phải làm cho hãng đó. Ít khi có trường hợp được đổi từ hãng này qua hãng khác.

Thời gian nuôi gà trong chuồng là bao lâu?

TD: Tùy theo size gà. Nuôi 32 ngày, gà nặng khoảng 3.5lbs. Nuôi 42 ngày, gà nặng khoảng 5lbs. Nuôi 49 ngày, gà nặng khoảng 7lbs, và nuôi 63 ngày, gà nặng khoảng 9lbs.

Chuồng gà có bao nhiêu size?

TD: Có nhiều size. Thập niên 80, size chuồng rộng 40ft, dài 300ft (chứa 16,500 con gà / mỗi con nặng 5lbs). Sau đó, có các size: 40×400 và 40×500 (chứa 19,500 con gà/ 9 lbs). Hiện nay, có nhiều size như: 43×600 – 46×600 – 50×600.

Gà bên trong chuồng.

Trại có 8 chuồng lớn, mỗi ngày, một người phải làm bao nhiêu giờ?

TD: Chuồng mới 46×600, làm trung bình từ 6 đến 8 tiếng. Công việc là nhặt gà chết, sau đó đem thiêu. Chuồng size 40×500, một người làm 4-6 tiếng. Khi gặp trục trặc kỹ thuật, có khi phải làm từ sáng đến tối. Trại gà cũ thì trục trặc kỹ thuật nhiều hơn, đòi hỏi phải thức khuya, dậy sớm, làm nhiều giờ, rất cực. Công việc nặng nhất là khi bắt gà ra và vô gà mới. Ðến ngày hãng báo bắt gà, chủ trại phải thức cả đêm để chuẩn bị, như nâng các máng chứa thức ăn, nước uống lên cao, để xe chạy vào trong. Ra gà xong phải “clean up” và làm nền lại cho kịp ngày gà mới vô.

Gà con, thức ăn, thuốc ngừa bệnh, có phải do hãng cung cấp?

TD: Hãng cung cấp gà con, thực phẩm và thuốc (nếu cần). Có nhân viên đến kiểm tra thường xuyên. Hãng Pilgrim thì khoảng 1 hoặc hơn 1 tuần họ đến. Hãng Sanderson khó hơn, cứ cách 1 ngày lại có nhân viên đến.

Sau đợt nuôi xong, họ tính tiền ra sao?

TD: Hãng sẽ trả tiền theo cân. Nhưng số tiền căn cứ vào nhiều yếu tố khác: cân nặng của con gà, ít hao cám – tiêu thụ nguồn cung cấp của hãng tốt – thì được trả tiền nhiều hơn. Còn gà nuôi không nặng cân, tiêu hao thức ăn nhiều, chết nhiều, thì bị xếp hạng thấp, tiền ít hơn. Hãng dùng cách so sánh các trại và xếp hạng. Họ sẽ trừ tiền người nuôi dở và thưởng cho người nuôi giỏi.

Số gà bị chết trong chu kỳ nuôi có phải báo và bị trách nhiệm không? Có giới hạn tỷ lệ gà chết và nếu gà chết hết, có bị bồi thường không?

TD: Gà bị chết 2%- 5% là bình thường. Hằng ngày, phải ghi số gà chết vào báo cáo. Nếu gà chết nhiều – một cách bất thường – phải báo cáo cho hãng ngay. Nếu vì lý do nào gà chết hết, người nuôi không phải chịu trách nhiệm đền bù. Người nuôi có mua bảo hiểm và được bồi thường nếu trại có thiệt hại vì lý do nào đó.

Theo sự tìm hiểu của người viết, khá nhiều người Việt đã thành công trong nghề nuôi gà gia công. Nhờ đức tính cần cù, chịu khó mà người Mỹ gốc Việt đã được các hãng gà đón nhận khá dễ dàng. Tuy nhiên, công việc nào cũng có nhiều mặt và tùy hoàn cảnh – tạm cho là số mạng – nên cũng có người gặp thất bại trong nghề nầy, khi phải đầu tư số vốn lớn cho một công việc, mà hãng gà là chủ. Không phải ai cũng có vận may, được một cộng đoàn sát cánh trợ giúp ban đầu như anh Chính và anh Thiện. Có thể sắp tới, người viết sẽ có cơ hội tiếp xúc với những người gặp thất bại trong nghề để chia sẻ cùng độc giả.

Trên đường về, qua những cánh đồng cỏ xanh biếc với đàn bò nhởn nhơ gặm cỏ, người viết cảm nhận được câu nói “Vùng Trời Bình Yên” của anh Chính, người chủ trại gà đầy nghệ sĩ tính.