This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ðại Tá Douglas, chỉ huy trưởng Trung Ðoàn Biệt Ðộng 75, thuộc Sư Ðoàn 3 Ranger.
– Bọn con trai mồ côi của tao! Nghe cho rõ, đập một cú đích đáng! Bãi đã dọn sạch! AC-130 hái hết mùa! Taliban mất dái rồi! Tụi bay vô đó nướng bầy chuột, tối nay làm Party! Ok?
5 Sĩ Quan chỉ huy Ranger đưa tay.
-Uh rah!
“Ðêm 19-10 rạng sáng 20-10-2001, Lực Lượng Ðặc Nhiệm Mỹ mở chiến dịch nhảy dù cỡ lớn, chơi thần tốc vô vùng núi Kandahar, bản doanh của Taliban, phía tây bắc Afghanistan”.
Màn đầu, oanh tạc cơ B2 trải thảm xuống căn cứ, sau đó, phi cơ AC-130 võ trang cày nát không sót tấc đất, bọn Taliban chết tại chỗ khá nhiều, đám còn lại tẩu thoát vô vùng núi đá, sau đó Trung Ðội 9 Trinh Sát thuộc Sư Ðoàn 3 Ranger của Jake cùng với 199 lính Biệt Ðộng thuộc Trung Ðoàn 75 được thả xuống trận địa.”
Trung Ðội 9 Ranger áp sát trung tâm chỉ huy của Taliban, thuộc tỉnh Kandahar, nơi được Tình Báo, Không Thám cho hay là đại bản doanh của Tay chột mắt Mullah Mohammed Omar, cha đẻ của quái thai khủng bố và Trùm Taliban, kẻ thù dai dẳng của Mỹ.
Lệnh hành quân cho đơn vị chơi xả láng…
Jake và Luke tạt ra 2 cao điểm, đặt 2 khẩu đại liên M60 bắn chéo, yểm trợ cho toán xung kích đánh nhanh 2 mặt hông, 6 tay súng M79, 2 đại liên trực diện chơi phủ đầu, 2 M72 phá điểm đặt súng cối của Taliban.
2 quả M72 nổ, M 60 nổ, M79 nổ, dãy nhà gạch đất sét, toang hoác trần truồng, những thùng xăng rỗng văng lên cao rớt xuống giữa sân, kho lương thực tung tóe, bầy dê, trừu chạy khắp nơi.
Vài loạt súng chống trả rời rạc, không một bóng Taliban! Bãi chiến trường tưởng chừng khốc liệt, lại vắng tanh, như sân đá banh.
Jake gọi máy.
– Bố Già ơi! Tụi con có thể làm một trận football tại đây. Không một con rệp nào chào hỏi hết!
Nhưng Jake đã sai…
Bên kia dãy núi đá, tận hang sâu.
Bầy Rệp Taliban, nai nịt đầy đủ, súng lớn súng nhỏ, AK, đại liên PKM, RPG7, B41, hỏa tiễn cá nhân, áo quần đen, ngồi đầy hang núi như lũ chuột.
Ánh đuốc đỏ, loáng trên những khuôn mặt sắc máu.
Hassan Akhund, trùm chiến thuật độn thổ, chuyên trị đánh hầm, thông thạo tất cả hang động vùng đồi khô, núi đá chung quanh Kandahar.
Gã đưa 2 tay lên trời, cả bọn im.
– Bọn Mỹ đã sa bẫy, theo như ý Ala! Ðúng mặt trời lặn chúng ta làm một cú hốt ổ!
Mọi người đã chuẩn bị?
– Ala!
C-H-U-Ộ-T!
Anh xô ghế, bỏ ra ngoài, lảo đảo về trại.
Mấy phóng viên.
– Có thể vì trung đội bị nặng nên anh ta khủng hoảng. Giống hội chứng chiến tranh Việt Nam ngày xưa.
– Không! Không có chuyện khủng hoảng.
Luke đứng dậy, nói lớn từ cuối hàng ghế.
– Như Jake, tôi cũng là bạn của Duck. Tên con chuột do tôi đặt ra, chúng tôi quen nhau ngoài chiến trường, trở thành bạn trong đêm.
Các phóng viên há miệng, to mắt, nhìn nhau.
– Khi kẹt tại bãi mìn trong hang núi, chính Duck hướng dẫn tụi tôi thoát hiểm.
Luke bước chậm ra phía trước.
Lao xao.
– Vậy con chuột Duck đâu rồi?
Luke quay phắt lại, hai tay nắm chặt thành ghế, run run.
– Các anh nghĩ rằng nó có thể còn sống sót sau trận mìn sụp cả hang núi sao?
Phóng viên lại lao xao.
Luke xô ghế, bỏ ra ngoài.
Anh nhìn bầu trời xanh, không bóng mây của Kandahar, nơi quân Mỹ vừa chiến thắng.
Jim, hàng xóm thân mến của tôi có người bạn đồng ngũ ngày xưa, Eric, Thiếu úy TQLC Mỹ, cũng như anh, từng đánh đấm ở Gio Linh, Quảng Trị, Việt Nam, lúc nơi này trải qua những cuộc giao tranh đẫm máu nhất. Anh từ New York về Melrose chơi Tết Tây 2021.
Hãng bia Lone Pine. Nguồn. Lone pine brewing company.
Cả ba tụi tôi đều thích bia.
Jim bày chuyện:
– Hê! Thứ Sáu, năm mới, lên Portland, Maine uống bia Tiệp, bia Bỉ, bia Mỹ, bia Ðức.
Tôi bỗng làm biếng vì cơn dịch còn ầm ĩ:
– Bên Cambridge thiếu gì, đi cho xa.
– Nhưng không phải là Portland cha!
Vậy là ba người bịt mặt ra đi đúng ngày Tết Tây.
Jim chạy xa lộ 95, dọc bờ biển, qua Kennebunkport, có đảo của gia đình Tổng thống Bush ở, nằm gần bờ. Hai ca nô của mật vụ chạy vòng vòng quanh đảo đá. Rừng núi thấp kéo dài từ hướng Tây chạy xuống bắt tay biển với nhiều bãi đá, ghềnh cao. Trời đầy gió, mát lạnh, nhiều du khách chụp hình.
Chạy đã một tiếng.
– Ghé đây uống chai bia, ăn sò chiên khai vị đầu năm.
Jim quẹo vô “Captain Cook”, tiệm bán tôm hùm, nghêu sò hấp, bia, nằm thụt vô khu rừng thông bên đường.
Trước tiệm, có tấm bảng “New Year, giá mới, giảm 20%”, dịch Covi cắn, không có khách.
Một đĩa sò chiên trứng, ba chai bia lạnh, ngồi rừng thông nhìn buổi sáng trời xanh ngọc bích, qua chai bia lạnh sủi bọt màu hổ phách.
1:00 trưa, từ xa lộ 95, Jim quẹo vô downtown Portland…
Thành phố vẫn còn vắng.
Tiểu bang Maine thường được biết tới với các đèn biển, tôm hùm ngon, món cuốn tôm hùm nổi tiếng và chuyện mê tín dị đoan, siêu nhiên huyền bí. Nhưng đây cũng là thánh địa của các hãng bia thủ công. Tụi tôi cám ơn các nơi làm bia ở Portland, Maine.
Jim tìm được chỗ đậu xe ở đường Newbury. Anh giải thích:
– Nè! Portland có 12 nơi làm bia thủ công, nhiều hơn các thành phố khác, cho nên … Có ai muốn làm một vòng các nhà máy bia để thử hết hoặc là tìm một chỗ nhậu bia ngon, khỏi lòng vòng?
– Mình không có thì giờ nhiều, chỉ còn 4 tiếng rong chơi…
Tôi nói, Eric tiếp:
– Thường thì ăn nhậu vui vẻ cũng mất cha 2 tiếng rồi.
– Vậy thì mình đi thăm vài hãng bia, uống tại chỗ cũng đủ thì giờ, chừa 30 phút nghỉ trước khi về.
Eric hỏi:
– Nghỉ đâu?
Tôi:
– Nhà nghỉ?
– Không, công viên!
Jim cười.
– Như mấy cha không nhà, say sưa bụi đời… Ha!
Bia tươi Portland. Nguồn. TripAdvisor
Shipyard Brewing Company
Ba người đi bộ tới Shipyard Brewing Company, chừng 4 khu nhà phía trước, số 86 Newbury St.
Nhà máy như một đồn lính to, chung quanh bịt kín, không cửa sổ, một bảng hiệu lớn bên hông với website và số phone, cửa vô nằm sát đường, bên phải.
– Giống nhà tù quá Jim!
Tôi nói.
– Tao thấy giống một góc Ngũ Giác Ðài.
Tụi tôi vô trong.
Sau cánh cửa xấu xí, quẹo qua phải là một tiệm bia rất mát mắt, nơi đây có đủ tất cả các loại bia tươi, bia chai của hãng.
Lấy bàn, Eric gọi 6 chai bia nổi tiếng của Shipyard, Bia bí rợ (Shipyard smashed pumpkin).
– Loại bia này phải rót ra ly, cho tan bớt mùi rượu và hương vị có dịp bốc lên. Jim nhắc.
Khui lon bia, rót vô ly, bọt trắng tràn nhẹ trên lớp bia có màu đồng vàng. Mùi hương của bí rợ và đậu bay vô mũi.
Tôi làm ngụm nhỏ.
Vị ngọt của bí cộng men lúa mì béo, đắng nhẹ với ngàn hạt bong bóng li ti tan trong miệng.
– Ực!
Thêm một ngụm lớn, hết ly bia.
Jim:
– Ngon.
Eric làm nửa ly.
– Ngon.
– Còn thiếu.
– Gì?
– Mất 50% cho màn uống bia.
Jim nhìn tôi.
– Theo truyền thống Nam Bộ của Việt Nam, nhậu phải có mồi, đúng hông cha?
– Ðúng! Luôn luôn đúng, Jim chìa khóa xe đâu?
– Chìa khóa xe thì liên hệ gì tới mồi?
Tôi lấy ba lon bia cho ba người, khoanh tay:
– Tao già nhất trong ba người.
Eric:
– Ðúng!
Jim:
– … Cũng đâu có liên hệ tới mồi?
– Eric trẻ nhất!
– Thì liên hệ gì?
– Eric! Lấy chìa khóa xe, lội bộ 3 blocks, trở lại xe, bỏ tiền đậu xe thêm 2 tiếng, mở cửa xe, mở túi đeo lưng của tao, có một gói bọc giấy nhôm, trong bao ni lông. Mang tới ngay đây.
Eric đứng dậy, chán nản đi, tôi nói theo:
– Mầy gọi Uber nếu muốn trở về nhanh!
20 phút sau, Eric bày gói giấy nhôm, tôi mở ra, Jim ôm lấy tôi:
– Chết tao, H! Cha quá giỏi!
Những miếng nem chua cắt nhỏ nằm vòng tròn.
Jim chụp lấy.
Xin nhắc lại, Jim mê nem như mê gái Việt Nam, anh đã ăn nem Huế khi đóng ở Gio Linh năm 71-73, vẫn tiếc hoài vì chưa đụng được gái Huế, Jim thường lý luận:
– Nơi nào thức ăn, đồ nhậu ngon, thì gái ngon.
Các miếng nem Huế xuất hiện đúng lúc làm 6 lon bia cạn trong 10 phút ngắn.
– Bây giờ mình tới…
Thử bia ở Portland, Maine
Allagash Brewing Company
Lấy xe, vòng xuống downtown, qua Riverton.
Allagash bắt đầu với mọi người, năm 1995, sử dụng dàn máy làm sữa đã biến cải. Tới bây giờ thì đã có các loại bia nổi tiếng nước Mỹ, Allagash White.
Jim đậu xe trước hãng, tiệm bia ngay đó.
Tới phiên tôi, cô nhỏ tóc nâu chân dài như hươu cao cổ, có đôi mắt đẹp:
– Chào, các ông chọn bia gì?
– Cô cho tôi 6 chai bia Allagash nâu… như màu tóc đẹp của cô.
– Cám ơn.
Cô đi và trở lại với 6 chai bia đen:
– Tôi mời ông 6 chai bia đen nổi tiếng của Allagash.
– Nhưng tôi gọi bia nâu như tóc cô.
Cô cười.
– Bản chính tóc tôi đen, nhuộm nâu.
– Tiêu! Cha nốc bia đen rồi!
Tôi lôi gói nem chua trong túi.
Ðây là loại bia đen, được ủ trong thùng rượu whiskey với đậu vanilla, bia nặng 9 độ, đầy mùi whiskey, gỗ sồi nướng và làm bạn bốc ngay, bay là đà sau hai chai.
Allagash beer. Allagash Brewing Company
Bissell Brothers Brewing, Libbytown
Hãng bia này, ban đầu không có chỗ sản xuất, họ phải mướn hãng The Thirsty Pig. Bây giờ thì Bissell Brothers cung cấp cả 10,000 thùng mỗi năm tại Libbytown. Suốt mùa Hè bạn sẽ mê mẩn với loại bia ướp lạnh đầy mùi rừng thông, mùi Caramel ngọt ngào của Portland này.
Bissell Brothers. Nguồn. Good Beer Hunting
Lone Pine, khu East Bayside
Từ Thư viện Ðồ nghề của Maine, băng qua đường, đi chừng 10 phút tới góc của khu phía Ðông, gặp ngay Lone Pine. Sau cánh cửa nặng nề là những người làm việc, phục vụ vui vẻ, nhã nhặn. Một nhân viên đang giải thích cách thức, quá trình làm bia, những đặc điểm của hãng và bạn sẽ được mời nếm thử các loại bia tươi trong thùng gỗ xưa.
Jim đã ngồi ở bàn nhỏ, tụi tôi kéo ghế:
– Người ta nói rằng, tới Lone Pine mà không uống loại bia DIPA có hình động vật như ngựa một sừng, con mèo và khủng long là chưa thành “dân bia” (Beer man).
– Ai nói?
Eric hỏi chọc.
Jim lấy bình đựng bia một lít, rót 3 ly lớn.
– Mẹ! Thì thần bia (Beer Lord). Hà hà!
Phải nói đây là lần đầu tiên thưởng thức loại bia lạ này. Nặng 7.8%, được ủ với mạch nha của lúa mạch đen đậm đà
Tôi làm nửa ly, nhắp lưỡi, mùi kem béo mát lưỡi, thoảng hương vị the của vỏ cam.
– Nem đâu rồi?
– Tao nghĩ sẽ rất vô duyên nếu cha ăn nem, uống bia đen, nem sẽ giết mùi bia đen, và độ đậm bia đen sẽ hạ đo ván mùi nem.
– Ai nói.
Eric chọc.
Tôi cất gói nem vô túi.
– Thần bia bên Ái Nhĩ Lan (Irish Beer Lord), quê của bia đen nói.
Ðã 3:30 chiều, Portland lạnh run, hàng cây bên đường còn vương vãi tuyết, mùa Ðông thường về sớm ở phía Bắc.
– Quẹo vô hãng bia này làm mấy chai rồi nghỉ ngơi, tới giờ về.
Tôi nhắc.
Ði ngược lại chừng10 phút, lên cầu, quẹo trái, ba người vô cửa.
Một loại bia ở Portland, Maine. Nguồn. Foursquare
Austin Street Brewery, Riverton
Ðây là hãng bia nhỏ nhất của Portland, nhưng sản xuất nhiều loại bia IPA ngon có tiếng tại thành phố này.
Jim lấy 6 chai IPA, tôi lôi gói nem trong túi bỏ ra bàn:
– Bây giờ ăn nem là hợp lý.
Jim lấy miếng nem, uống nửa chai bia, chép miệng.
– Bia này thì uống với nem quá ngon, vị chua của nem là bạn đồng hành tuyệt vời với hương trái cây thơm ngọt của Bia IPA.
Mặt trời xuống, những mảng sáng chập choạng, loang lổ qua cánh rừng phong bạt ngàn.
Buổi tối tới sớm hơn ở miền núi, 4 giờ chiều, sương lạnh phủ đầy, lớp hơi nước mù mặt đất, Chavez về tới nhà, anh đẩy cổng. Bỗng cơn lạnh tràn lưng.
Chập chờn dưới bóng tối, cánh cửa chính bị phá một lỗ lớn, nghiêng qua.
Anh thụp xuống, mở đèn săn, đưa cây súng 2 nòng trước mặt, từng bước thận trọng…
Có ai đã phá nát cửa nhà anh.
Chavez chạy qua phải, áp sát cửa.
Góc trái, của cánh cửa nát do một sừng nai ghim vào, máu đông lại chảy thành mảng lớn, tanh rình.
Chavez vô nhà.
Anh kéo chiếc bàn, đè cánh cửa bể, lấy mấy tảng gỗ, bỏ vô chiếc lò gang, nổi lửa, đặt khẩu súng trên bàn, cởi chiếc áo da nhồi bông, treo trên vách, bước tới lò, đốt chiếc đèn gaz, đặt bình cà phê, lấy que sắt, khơi khúc gỗ cháy rực.
Nửa chiếc sừng nai gãy, đầy máu, cánh cửa toang hoác, điều hung dữ đã tới, con nai muốn thí mạng với mình! Ðược!
Anh kéo bao da trên nóc tủ, lôi khẩu 12 ly, một nòng, vô đạn, đặt trên bàn, ngang với khẩu 2 nòng, lấy bình rượu bắp, rót ly đầy, cắt miếng thịt nai xông khói treo trên bếp, bước tới sau tủ lôi bao khoai tây, chọn 4 củ, để lên mặt lò.
Bữa ăn của một ngày săn bắn mệt nhọc với thịt nai, khoai tây nướng, rượu bắp và 2 khẩu súng săn lên đạn, đặt ngay trên bàn và nỗi hoang mang về con nai một sừng.
Có tiếng động mạnh, như ai đang đá vô hàng rào.
Tất nhiên Chavez đã biết chuyện gì đang xảy ra, anh chụp khẩu một nòng, bước tới.
Hàng rào gỗ mù trong lớp sương dày, thấp thoáng bóng con nai một sừng đang đạp mạnh.
– Rầm! Rầm!
Chavez đưa súng lên, nó lẫn vô sương mù.
Chavez tiếp tục ăn bữa tối, lo lắng nhìn chiếc cửa gỗ, đã rớt ra từng mảnh. Xong bữa ăn, Chavez, kéo chiếc tủ, che kín cửa, chừa một khe nhỏ bằng bàn tay, đủ để quan sát bên ngoài, anh đặt 2 khẩu súng trên ghế dài, trong tầm tay.
Sau khi giải ngũ vì hư mắt phải do mảnh lựu đạn trong cuộc phục kích của phiến loạn tại Bosnia, Chavez về tới vùng núi rừng quê hương Arano, thuộc vùng Navare, Tây Bắc Tây Ban Nha, sát nách Pháp. Với số tiền trợ cấp thương binh và căn nhà gỗ của Ba anh để lại, gồm một phòng ngủ nhỏ, bếp, phòng khách, ít vật dụng làm vườn, 2 khẩu súng săn 10 hộp đạn, phụ tùng đi săn dài ngày trên núi như túi da đựng rượu, bộ dao xẻ thịt thú, lều và đồ ngủ, ít đồ dùng trong nhà và món tiền 90,000 peseta (600 đô Mỹ), cùng với Don – con ngựa già – và 40 chú gà. Tất cả được họ Ðạo khu vực, trao lại cho Chavez sau buổi lễ cầu nguyện cho cha mình tại nhà thờ bên kia rừng.
Chừng ấy của cải, với trợ cấp thương binh và sức khỏe của một người lính rừng Tây Ban Nha, đủ cho Chavez bắt đầu cuộc đời yên ổn mới tại Arano, nơi chôn nhau cắt rún.
Mỗi tối cuối tuần, Chavez thường ghé Bar Tapas đầu làng, làm vài ly rượu bắp cay xé cổ với nai, chồn nướng, lè nhè kể về những ngày tác chiến, chừng 2 giờ sáng, khi ngà say, anh lên ngựa, về nhà lăn ra ngủ. Sáng dậy sớm, thu trứng gà, rau cải, bán cho quán tạp hóa cuối làng.
Tối nay, thứ Bảy, trăng đầy, trắng cả rừng, Bar làng đầy tiếng nói cười, tiếng đàn Guitar.
Chavez nốc ly lớn rượu bắp, cắn miếng thịt chồn nướng, nhai nhai, quẹt tay áo lau miệng, anh vừa nấc cụt, vừa kể
– Trung đội viễn thám… Híc! Của tao đang băng qua những mỏm đá chiều hôm đó thì…Híc! Gặp phục kích!
Ông già Corsi ngồi bên phải quầy, tiếp theo:
– Ðùng! Trái mìn nổ! 2 thằng tiền sát chết ngắt! Tụi tao dạt ra hai bên…
Anh chàng râu quai nón vàng hoe như râu bắp, chơi guitar bên cửa sổ, đưa tay.
– … Bắn xả láng vô những bụi cây, hốc đá chung quanh… Cây đại liên quạt mạnh, tụi nó chạy như dê núi!
Chavez, cầm ly rượu, quay lại.
– Tao nghe tiếng thằng chỉ huy léo nhéo…
– Mẹ! Rút! Nổ dữ quá!
– …Nên ra lệnh phản công…tụi tao tưới đạn, đại liên chơi từng tràng, tao rượt theo một thằng…
Anh phục vụ đặt 2 ly bia xuống bàn, nói:
– … Nó núp vào tảng đá, tung quả lựu đạn, tao mất đà, té xuống, lăn một vòng.
Chavez vung hai tay lên trời.
– Ầm! Lựu đạn nổ!
Ông rót rượu, đứng sau quầy, thở dài.
– Lạy Chúa! Chỉ một mảnh nhỏ cắt ngang mắt… Nếu mảnh lớn thì…
Ổng đẩy tuột ly rượu vừa rót trên mặt quầy gỗ, Chazez chụp lấy.
– …Thì cha nội Chavez đã không có mặt tối nay với các bạn!
Anh nâng ly.
– Ô la!
Mọi người nâng ly, cùng la Ô la! Ô la…
Tiếng Ô la thứ 3, thường lệ bỗng ngưng bặt.
Cánh cửa sồi cũ kỹ mở một khoảng nhỏ, người áo đỏ lách nhanh vô, đóng cửa.
– Chào mọi người.
Những tiếng ly để xuống bàn.
– Xin chào!
Cô gái bước tới, dưới ngọn đèn gas trên trần.
À! Một cô Du Mục, tóc xoắn, áo đỏ đốm trắng, đầm đen.
Cô ngước đôi mắt to, nói.
– Tôi là Dika, có thể múa cho các ông coi và đổi lại ít rượu, thịt?
Mọi người lặng thinh.
Mấy ông già quay chỗ khác vì keo kiệt và không còn hứng thú vụ múa.
Anh trai trẻ chơi guitar có vẻ nghèo với chiếc áo da dê và đôi bốt vẹt đế, làm bộ nhìn ra cửa sổ, vờ đi.
Chủ quán nhún vai, vì bà vợ mập ú đang trong bếp, thò đầu ra.
Chỉ còn Chavez.
Hôm nay thứ Bảy, trăng đầy, đêm của sói, đêm của đàn ông căng đầy dục tình, nên Chavez nổi máu.
Anh bước tới, đưa tay chào.
– Cô múa đi, tôi mời rượu và một con chồn nướng mới ra lò!
Cái Bar nghèo nàn, lạnh ngắt vùng núi bỗng sôi nổi hẳn lên, anh đánh guitar chơi những bài dân ca Tây Ban Nha rộn ràng. Cô Dika hát không hay, múa cũng không giỏi, nhưng uống rượu tốt và có cái mông, theo Chavez, tròn và đẹp như mông con bò rừng.
2 giờ sáng, Chavez say tới bến, ông Donez, chủ Bar xốc chả nằm lên ngựa, hỏi Dika.
– Cô về đâu?
Chavez còn cố lè nhè.
– Về nhà tao!
Vậy là Dika theo sau con ngựa chở Chavez về nhà.
4 giờ sáng.
Chavez tỉnh dậy.
Căn nhà vắng tanh.
Nghĩ tới lời đồn đại về tính trộm cắp của người du mục, anh phóng xuống giường, quấn chiếc mền lông quanh người, chạy tới cửa, rờ tay lên mái gỗ.
– À! Còn!
Số tiền dành dụm gói trong bọc da chồn vẫn còn đó, anh ra ngoài, gọi lớn.
– Dika! Dika!
Không một tiếng trả lời, nhìn qua chuồng ngựa… Dika đã biến mất với con ngựa, phương tiện di chuyển duy nhất của mình.
Chavez ôm mặt, ngồi trên giường, buồn cho cái ngu đêm qua.
Chừng vài phút, có tiếng chân ngựa trước nhà, anh mở cửa.
Dika bước vô, đặt túi da trên bàn, lôi vò rượu bắp, bình sữa, bao trứng, phần thịt nai tươi, ổ bánh mì lớn, bắp cải, cà rốt, khoai tây.
– Xin lỗi!
Cô rót ly sữa, đẩy tới Chavez, một ly cho mình.
– Em dậy sớm! Thu trứng gà, cắt 20 cái bắp cải, lấy 4 tấm da chồn đen, bán dưới làng.
– Nhưng da chồn chưa xong!
Dika nhún vai, lấy chảo nhỏ, chiên 4 trứng cho Chavez, 2 trứng cho mình, kéo anh ta ra bàn, Dika ngồi xuống.
Chavez mở miệng.
– Tại sao?
Dika cắt 2 lát bánh mì lớn, đặt vô dĩa.
– Ăn đi! Tại sao thì chút nữa biết!
Hai người ăn.
Dika cười đằm thắm.
– Chavez! Em muốn ở lại đây với anh như một gia đình…
Chavez há miệng, miếng bánh mì rớt xuống dĩa
– … Em làm vườn, nuôi thêm gà, phụ giúp anh. Sẽ không múa nữa.
Vậy là mái ấm gia đình của Chavez và Dika ra đời ở vùng núi Arano.
Ðêm đó Chavez, Dika, khai trương cuộc sống chung bằng một bữa nhậu tận mạng với mấy người trong Bar Tapas, coi như mừng đám cưới, tối Dika hát bài du mục thật vui, dắt ngựa, chở Chavez về.
Chavez, bắn giỏi, ngày nào cũng có thú, nhất là những ngày cuối Thu, có khi anh bắn cả chục con Ngỗng trời.
Dika, trồng rau cải, nuôi đàn gà lớn, lợi tức cho hai người cuộc sống vừa đủ.
Ba tháng, trước khi gặp Dika.
Trời đổ lạnh, băng tuyết cả khu vực, mùa săn nai bỗng khó khăn.
Trưa, trời ấm, tuyết tan róc rách, Chavez, co người trong hốc đá, nhìn xuống con suối nhỏ, đóng băng, nai thường ra đập nát băng, uống nước.
Ðúng như mong đợi, chừng 10 phút, một con nai cái từ bìa rừng tung tăng chạy tới, sau đó là anh nai đực, hai đứa quay vòng, lăn ra tuyết. con đực leo lên lưng người bạn tình…
À! Tụi này đang mần tình, nhưng xin lỗi cho tình yêu, bây giờ thì tao cần sống… Anh đưa súng lên.
Nếu bắn khéo một phát, tao sẽ lượm luôn 2 con, lúc này nai khó tìm!
– Ðùng!
Con nai cái bật té, chết, con đực té theo, nhưng vùng dậy, chiếc sừng bị gãy một phần, còn lại đoạn ngắn, nó lảo đảo quanh con cái, liếm vết máu từ mắt của người tình, rồi quay lại, bước chậm tới gần hốc đá, đưa cặp mắt đỏ như sói nhìn về hướng Chavez, nơi phát súng đã giết chết người bạn tình, nó giận dữ đập hai chân, nhào vô, Chavez phóng ra khỏi hốc núi lăn tròn, siết cò.
– Ðùng!
Con nai biến mất.
Chavez không mảy may bận tâm con nai, anh kéo xác nai chết, ra lùm cây, cột trên ngựa, về nhà.
Khu rừng chập choạng tối, tới mỏm đá trên dốc núi, Chavez giật mình, ngựa khựng lại, lồng lên.
Con nai gãy sừng, đứng đó từ bao giờ, cặp mắt tóe lửa trừng trừng nhìn Chavez, anh chưa kịp phản ứng nó đã lao tới, đâm thẳng, chiếc sừng xé một đường sâu bên hông ngựa, con ngựa đau đớn té xuống, kéo theo Chavez, nhưng anh còn đủ bình tĩnh, quay súng trên vai, nổ một phát.
Chavez nhìn chung quanh, con nai gãy sừng biến mất.
Bây giờ thì chuyện đã rõ ràng, thường thì nai ít khi tấn công người, nhưng con nai gãy sừng tấn công, vì anh đã giết bạn tình của nó.
Chavez tẩm ít rượu mạnh trong chiếc khăn vải, đắp lên vết thương cho con ngựa, thận trọng về nhà.
Vài hôm sau, suốt một ngày săn vất vả, anh chứng kiến chiếc sừng nai đâm lên cánh cửa bị phá nát.
Linh tính của một người lính, của một thợ săn cho biết, con nai một sừng đã gởi đến Chavez tín hiệu của sự quyết tử: Giữa chúng ta có mối thù, tao sẽ đòi món nợ sát nhân này.
Chavez không kể chuyện này cho Dika, người vợ mới của mình.
– Khi anh không có nhà, hoặc em ra ngoài vườn, đi rừng, nhớ mang theo khẩu 12 ly.
Dika đang nhồi bột bánh mì, quay lại.
– Tại sao?
– Mùa này ít thú săn, sói thiếu mồi, hay lảng vảng gần nhà!
– Anh tưởng em là cô bé choàng khăn đỏ à?
Dika đặt chân lên bàn, trên bắp chân thon là con dao trong bao da, cột quanh đùi.
– Dao này không ăn thua với con nai đó!
– Nai nào?
– À! Mấy con sói!
Chavez bước tới ôm Dika.
– Em nhớ! Sói đi từng đàn, dao của em chỉ cắt được cái đuôi, súng vẫn tốt hơn. Em nên cẩn thận.
Bữa tối qua mau, Dika dọn dẹp, vô phòng ngủ.
Chavez xách súng, đi một vòng ngoài vườn. Anh có cảm giác, con nai một sừng vẫn quanh đây. Ðợi dịp để trả thù.
Khi đóng cửa, Chavez bỗng thấy hai đốm đỏ phía trước.
Lẫn trong màn sương mù bốc lên từ đất, con nai một sừng đứng yên như pho tượng, ngoài hàng rào.
Chavez đưa súng lên, nó biến thật nhanh.
Anh lặng lẽ vô phòng, Dika đã ngủ yên.
Tuyết rơi lất phất. Chavez dậy từ sáng sớm,
– Hôm nay anh săn chồn gần đây, không cần ngựa.Anh đeo túi, đặt cây súng 12 ly lên bàn, bước ra cửa, còn dặn Dika
– Anh để sẵn, khi em cần.
Dika làm việc nhà, chuẩn bị bột và trứng, bánh mì.
– Sinh nhật của Chavez chỉ còn vài ngày, hay mình ra tiệm mua ít rượu ngon.
Dika đeo khẩu súng trên vai, lấy ngựa, ra khỏi nhà.
Nắng heo hắt soi làn bông tuyết rơi nhẹ, con đường vô làng đã phủ lớp trắng, mấy người quen chào Dika.
– Hê Dika! Khỏe không?
– Cám ơn! Mình đi mua rượu đây.
– Tối nay hai người say?
– Không! Sinh nhật Chavez sắp tới.
– Woo! Xin chúc mừng trước!
– Cảm ơn.
– Chúc phúc hai người. Chavez và cô Du Mục tử tế!
Dika la lớn.
– Ố la!
Tới Bar Tapas, Dika lấy 2 lít rượu bắp, 4 cái xúc xích heo sấy, và không quên mua một ly rượu cho mình.
Nhưng! Dân Du mục không bao giờ uống một ly rượu!
Cho nên.
Dika lè nhè với ông rót rượu.
– Rót cho đủ một lít luôn!
Dika làm sạch cái “Cho đủ một lít luôn”, lên ngựa, về nhà.
Mới 3 giờ chiều, tuyết rơi, núi rừng âm u tối.
Dika nằm dài, ôm cổ con ngựa.
– Hic! Don! Về nhà giùm cái! Tao phê quá. Coi như mừng sinh nhật Chavez hơi sớm!
Don, con ngựa già cúi đầu, đi từng bước chậm như sợ làm thức cái lè nhè của Dika, qua khỏi mỏm đá, một đoạn rừng phong, nhà đã thấp thoáng trước mặt.
Bỗng con ngựa dừng lại, đập chân cộp cộp trên mặt đường.
– Cái gì? Don.
Dika đã bớt say, cô ngẩng đầu.
Gần cổng nhà, con nai một sừng đứng dạng hai chân trong thế tấn công, đôi mắt đỏ ngầu, trừng trừng nhìn Dika.
– Ô! Vậy là khỏi săn xa! Mồi ngay đây rồi.
Cô đưa súng lên, nhưng không kịp, con nai phóng thật nhanh tới, đâm thẳng, Don lồng lên, quay lại, tung cú đá, Dika rớt xuống, khẩu súng văng đi, nai một sừng trúng cú đá của Don ngựa già, nó giập phổi, rớt xuống, nhắm ngay hạ bộ của Don, đâm mạnh. Chiếc sừng nai duy nhất cắt một đường dài từ hạ bộ đến bụng con ngựa, máu đỏ phun có vòi trên mặt tuyết trắng, Don hí lớn dập thêm cú đá tiếp.
Dika, cố bò tới, tay chạm vô đầu khẩu súng, cô kéo mạnh.
Con nai một sừng đã nằm đó tự bao giờ, hắt hơi thở.
Dika lui lại, con nai bây giờ to lớn như con bò, chân đè trên cò súng, cặp mắt nhắm nghiền bỗng mở to, đỏ ngầu, một chân run run đưa lên…
Dika, không nghĩ rằng nó có thể bắn súng!
Nhưng!
Con nai một sừng đã đập mạnh vô cò.
Khẩu 12 ly nổ lớn!
Tiếng súng nổ làm Chavez băng rừng, chạy thục mạng về nhà.
Trước cổng, con ngựa Don chết lòi ruột trong vũng máu, con nai một sừng chết lè lưỡi, Dika bị bay mất bàn chân, ngất xỉu.
Chavez gục xuống khóc.
Con nai một sừng đã trả được mối thù cho cái chết của người bạn tình.
Máu đã trả bằng máu, nhưng không trả vô mình, mà đã vấy tới Dika, người vợ vô tội của Chavez!
o O o
Khi Dika chập chững chống nạng tập đi, cũng là lúc Chavez nhận giấy định cư Mỹ.
Ðêm đã khuya, tôi uống hết ly bia, bắt tay Chavez, cúi đầu chào Dika.
– Mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp hơn.
Chavez cười, chỉ Hugo.
– Cũng nhờ người cháu này.
Tôi quên nói. Hugo, bạn tôi là cháu của Chavez, người bảo lãnh ông và vợ tới Mỹ.
Tôi ra về, lái xe mà vẫn miên man về con nai một sừng.
Mara Salvatrucha, thường được biết dưới tên MS-13, vào những năm 1970-1980, là một băng tội phạm quốc tế, xuất phát từ Los Angeles (LA), California. Ban đầu, băng này được thành lập để bảo vệ dân nhập cư El Salvador khỏi bị hà hiếp bởi các băng khác ở vùng LA. Theo thời gian, họ phát triển thành tổ chức tội phạm chuyên nghiệp.
MS-13 trong tù. Nguồn. cvitnation.com
Nhiều thành viên của MS-13 đã bị trục xuất về El Salvador khi cuộc nội chiến tại nước này chấm dứt vào năm 1992, hoặc sau khi bị bắt. Hiện nay, MS-13, hầu hết thành viên là dân El Salvador, vẫn còn hoạt động nhiều nơi như Mỹ, Canada, Mễ Tây Cơ và Trung Mỹ.
Dân Trung Mỹ là mục tiêu chính của băng MS-13. Rất nhiều nạn nhân dưới tuổi thành niên và cũng chính đa số đối tượng này bị bắt vì tội giết người theo lệnh của các ông trùm MS-13.
Có nhiều gia đình di dân từ Trung Mỹ được bảo trợ nhưng lại sống bơ vơ trong nhà. Ðây là cơ hội tốt cho bọn băng đảng gạ gẫm, tuyển dụng. Ở El Salvador, trẻ em thường bị dụ dỗ hoặc đe dọa buộc phải tham gia vào băng nhóm khi đi học, tới nhà thờ hoặc đi làm.
Băng MS-13 nguồn. valoroustv.com
MS-13 thường công khai bạo lực. Giết trẻ con và phụ nữ là chuyện bình thường. El Salvador đứng hạng 3 thế giới về số vụ giết hại phụ nữ. Năm 2016, có tới 5,000 phụ nữ El Salvador bị giết. Trong đó chỉ có 5% liên quan tới xã hội đen, còn lại là dân vô tội. Những vụ trả thù đẫm máu, nhắm vào băng nhóm đối thủ, gia đình, bạn bè và cả hàng xóm của họ. Có cả gia đình bị xóa sổ trong một trận tấn công chớp nhoáng, giết sạch, không kể tuổi, giới tính. Xe bus chở đầy hành khách nếu vô tình xâm phạm khu vực sẽ bị đốt cháy ngang nhiên giữa ban ngày. Ngoài ra, cảnh sát, nhân viên chính phủ cũng thường là mục tiêu của băng đảng này. Chính do các cuộc tấn công như vậy khiến Tòa án tối cao El Salvador xếp băng đảng này vào các tổ chức khủng bố.
Thành viên của Mara Salvatrucha, giống như đám băng đảng Mỹ bây giờ, sử dụng dấu hiệu bằng tay khi giao tiếp hay để nhận diện. Một trong trong dấu hiệu thông thường là “Ðầu của Quỷ”, giống chữ M lộn ngược.
Thành viên MS-13. Nguồn. thewashingtonpundit.com
MS-13 tại Mỹ không liên kết chặt chẽ với nhau mà hoạt động theo kiểu khu vực. Theo số liệu năm 2009 của Tổ chức Mối đe dọa băng đảng quốc gia thì “MS-13 có khoảng 30-50,000 thành viên trên thế giới. Riêng tại Mỹ có khoảng 8,000-10,000 thành viên”.
MS-13 trở thành tổ chức tội ác chuyên nghiệp dưới sự cai quản của Ernesto Deras. Deras là cựu chiến sĩ Lực lượng Ðặc biệt El Salvador, được Mỹ huấn luyện từ Panama. Ðể giành quyền chỉ huy MS-13, vào năm 1990, Deras đã sử dụng những gì đã được huấn luyện vào cuộc tranh giành quyền lực và đã trở thành thủ lãnh. Sau đó, gã sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của băng đảng. Từ đó, MS-13 trở thành một trong số ít băng đảng có quyền lực lớn mạnh nhất.
MS-13, thành viên nữ. Nguồn. poplyft.com
Rất nhiều thành viên băng Mara Salvatrucha tại LA đã bị tống cổ về nước sau khi bị bắt. Jose Abrego, một thành viên cỡ bự, đã bị trục xuất 4 lần. Vì những vụ trục xuất này, MS-13 đã thay đổi cách tuyển mộ bằng cách kết nạp nhiều thành viên tại địa phương. Thời Báo Los Angeles nhận định rằng, chính sách trục xuất đã ảnh hưởng tới hoạt động của MS-13 tại Mỹ và Trung Mỹ.
Ngày 23/12/2004, một tội ác tày trời do MS-13 gây ra tại Chamelecón, Honduras, Trung Mỹ. Chiếc xe bus liên tỉnh bị chặn lại và phải nhận cả cơn mưa đạn. Ðã có 28 người chết, 14 người bị thương, hầu hết là đàn bà, trẻ em. MS-13 thực hiện vụ thảm sát này để chống lại chủ trương tái lập án tử hình của chính phủ Honduras. Sáu tay súng đã bắn nát xe bus trong lúc các hành khách gào thét và bỏ chạy. Một tay súng khác leo lên xe, giết từng người một.
Báo Daily News cho biết, vào ngày 4/11/2009, thủ lãnh El Salvador của băng MS-13, đảng phó “Duke” Torres bị tống giam vì tội tổ chức thanh trừng các phe nhóm tại New York và âm mưu ám sát một nhân viên Hải quan phụ trách nhập cư. Torres đã khai kế hoạch này khi chính y và 4 thành viên MS-13 bị các Cảnh sát hình sự New York bắt vì tội quấy nhiễu người đi đường tại đại lộ phía Bắc khu Queen, New York.
Băng đảng bị tù tại El Salvador. Nguồn. izismile.com
Torres tiết lộ, đây là lệnh hạ sát từ thủ lãnh MS-13 tại El Salvador. Torres, thuộc nhóm MS-13 tại Virginia, cho biết, hắn ta được trao quyền chỉ huy và tới New York vào tháng 8 “với mục đích tham gia một kế hoạch giết người”. Nhân viên di trú Hải quan Sean Sweeney đã viết trong lệnh truy tố Torres: “Âm mưu giết người”.
Bản cung khai của một thành viên khác cho biết lý do: “Nhân viên phụ trách di trú bị ám sát vì ông đã bắt quá nhiều người của họ trong 3 năm qua nên băng MS-13 trả thù”.
Theo lời khai thì cuộc ám sát sẽ được nhóm “Flushing” thực hiện. Nhân viên di trú phụ trách chỉ huy điều tra đặc biệt của nhiều vụ án thuộc Liên bang, liên quan tới tội ác như tống tiền, mại dâm, bắt cóc, nhập cư bất hợp pháp, rửa tiền, ám sát, buôn người, buôn vũ khí, thuốc phiện… là đối tượng mà MS-13 nhắm đến.
MS-13 bị tù. Nguồn. Business insider
Tháng 2/2012, Thẩm phán Liên bang tuyên án 3 thành viên MS-13 về tội giết người. Nạn nhân của họ, Moises Frias Jr, bị giết và 2 người bạn trọng thương do thành viên của MS-13 tưởng lầm là băng đối nghịch Nortenos vì họ mặc áo quần đỏ. Danilo Velasquez, cựu trùm chi nhánh MS-13 San Francisco, bị tù chung thân cộng thêm 10 năm giam giữ.
Tháng 4/2017, thành viên Yovany Gomez của MS-13 tại New Jersey bị đưa vô danh sách truy nã của FBI. Gomez bị bắt và kết tội hạ sát bạn mình, Julio Matute, vì tay này liên kết với băng khác. Sau một đêm nhậu say, Gomez và một thành viên khác của MS-13 đập đầu Matute, cắt cổ, và đâm 17 nhát vô lưng. Gomez đào tẩu, nhưng bị tóm tại Virginia khi đang trốn tránh cùng các thành viên MS-13 khác.
Trung tâm Nghiên cứu Nhập cư Washington D.C công bố một danh sách gồm tổng cộng 506 vụ về hành vi gây tội ác của MS-13 tại Mỹ từ năm 2012-2018.
214 thành viên MS-13 bị bắt. Nguồn. Breitbart News
Năm 2017, hai thành viên MS-13 là Miguel Alvarez-Flores và Diego Hernandez-Rivera bị bắt vì tội bắt cóc, hãm hiếp, tra tấn và ép thuốc một cô gái 14 tuổi, trong 2 tuần ở Houston, Texas.
Miguel Angel Corea Diaz, cư ngụ tại vùng Laurel, Maryland (quận Prince, George) là tay trùm MS-13 ở vùng bờ biển phía Ðông, đã bị truy tố ra tòa ngày 19/4/2018, tại tòa án quận Nassau, Mineola, New York, vì tội dự mưu ám sát. Với tội danh này, Miguel Angel có thể bị kết án chung thân nếu tòa án xác định phạm tội. Miguel là 1 trong 17 bị cáo với cáo trạng 21 tội danh bị buộc tội âm mưu giết người, và điều hành hệ thống buôn bán cao cấp các hóa chất bị kiểm soát.
MS-13 đã kêu gọi các thành viên thực hiện “giết một cảnh sát” nhằm trả thù cho việc trùm Miguel Angel Corea Diaz bị bắt (theo tin của AFP News, ngày 21-12-2019).
Một trùm MS-13 bị bắt. Nguồn. Newsday
Trong một cuộc họp với Tổng Thống D. Trump, giới thẩm quyền Mỹ đã công bố: các điều tra viên đã bắt hơn 230 thành viên băng MS-13 tại New York, Baltimore và El Salvador. Ðây là kết quả của hơn 2 năm điều tra băng MS-13.
Trong số 230 người bị bắt, có 96 người ở Long Island, thành trì của MS-13. Tuy nhiên trong biên bản không cho biết họ là dân Mỹ hay nước khác. Ngay sau công bố này, Tổng Thống Trump viết trên Twitter “Chúng ta tóm cổ đám băng đảng MS-13 và những người đó không nên ở đây. Hãy biến khỏi đất nước chúng ta”.
Tổng Thống D. Trump thường gắn những hoạt động bất hợp pháp của băng đảng vào chiến dịch giảm mức độ di dân vô Mỹ. Năm 2017, ông nói rằng MS-13 đã “nắm quyền ở các thành phố và thị trấn ở M
6 thành viên MS-13, lãnh án âm mưu giết người. Nguồn. news.ntd.com
Nhân viên đặc biệt của Phòng Chống Ma túy và Tội ác, Ray Donovan nói: “Những cuộc bắt giữ hôm nay đã khởi sự khép lại sự tàn bạo ở bờ biển Ðông của băng MS-13”. Ông cũng nói rằng, cuộc điều tra đã cho các quan chức cái nhìn sâu sắc hơn về “sự tàn bạo và cai quản của băng MS-13”.
Từ những nỗ lực đó, người ta tin rằng MS-13 sẽ tan tành, và sẽ trở thành chuyện hè phố trong một ngày gần đây!
MS-13 bị quét sạch tai Long Island, New York. Nguồn. muskogeephoenix.com
(chia xẻ với các bạn nhân đọc bào báo viết về người bạn thân của mình. Có nhiều chi tiết mà bài báo không biết nên không nhắc tới nên mời các bạn đọc thêm cho vui)
Rất vui được đọc bài viết về người Bác Sĩ tài ba Phạm Sĩ (tên thật là Phạm Mai Sĩ), mà Sĩ lại là người bạn rất thân của mình. Câu chuyện về Sĩ mình cũng đã có kể cho nhiều bạn bè nghe rồi. Nay đọc bài báo thấy cần xin kể lại.
Bắt đầu từ tháng 6 năm 75, NL và Sĩ, những người con lưu lạc không gia đình đang học hành dở dang từ VN, sống tị nạn trong trại Indian Town Gap. Hai đứa được chọn trong số hàng ngàn sinh viên tị nạn thời ấy, cấp học bỗng toàn phần và tiếp tục đi học lại vào tháng 9 tại trường Lebanon Valley College, cách trại tị nạn chừng 5 dặm. Sĩ, nguyên là SV năm thứ 2 trường Dược Saigon còn NL thì năm thứ 3 trường Khoa Học, Giáo Dục tại Dalat. Hai đứa và một người bạn tên Tuấn cùng theo nghành Pre Med, nhưng sau 1 năm NL và Tuấn bỏ qua học Hóa Học và Sĩ vẫn tiếp tục nghành Y. Sẽ không có một Bác Sĩ mổ tim nổi danh thế giới sau này nếu không có câu chuyện thật kỳ lạ như thế này:
Mùa hè năm 1979, Sĩ nghe tin mình được ĐH Pittsburgh nhận vào học Y lúc đang sống vất vả, loay hoay, thất nghiệp ở Colorado, nhưng không có tiền đi học. NL thì ra trường trước Sĩ một năm, đi làm và có để dành chút đỉnh. NL gọi cho bạn nói: “Mày làm sao mượn tiền, mua vé may bay đến được Pitts, tao sẽ cố gắng chuyển tiền đến đó cho”. Gom góp hết tiền đi làm để dành và mượn thêm của bạn bè, được 15 ngàn đô gởi hết cho Sĩ, và thế là chàng SV người Việt, gốc Ninh Hòa, được nhận vào học trong khóa mùa Thu. Nửa năm sau, tháng 1, 1980, thì không còn tiền để học tiếp khóa sau, sắp phải bỏ học, mình thì bất lực không giúp tiếp cho bạn được nữa (thời đó kinh tế Mỹ rất khó khăn, vay tiền mua nhà phải trả lãi trên 10% và SV không dễ vay tiền đi học nếu không có ai đó bảo lãnh vay giúp).
May mắn lúc đó tại Pittsburgh có một bà triệu phú, chồng mới mất, để lại một gia tài đồ sộ, muốn cấp học bổng cho SV Trường Y. Nhà trường nhờ bà giúp cho hoàn cảnh của Sĩ, bà đồng ý trả cho chi phí tiền học hết những năm học còn lại với hai điều kiện: không được cho Sĩ biết bà là ai, và Sĩ phải có kết quả học thật xuất sắc. Bà còn gởi thư hỏi Sĩ là đã mượn tiền ai để học. Thế là một hôm NL nhận lại đủ số tiền đã giúp bạn còn thêm một ít tiền lời do bà gởi đến trả thay cho bạn Sĩ. Sĩ mang ơn trời biển, ráng học thật giỏi và quyết theo nghành mổ tim để về các nước kém phát triển giúp đỡ. Với những sinh viên Y Khoa giỏi, thường họ xin thực tập tại các bệnh viện lớn, nổi tiếng để có chỗ dựa cho tương lai. Sĩ quyết định xin qua các nước Châu Phi thực tập. Hình ảnh thời này Sĩ gởi về cho NL xem là những tấm hình chụp chung với thổ dân nghèo, với mái tranh dột nát, đám cây khoai mì khô khốc và những bữa cơm, không có cơm, thật đạm bạc. Sĩ vui vẻ giúp họ và ở đây bệnh nhân nhiều vô số cần giúp đỡ, Sĩ nói ” tao mổ tim như mổ gà”, mỗi ngày giúp mổ cho hàng chục bệnh nhân. Nhờ làm việc này mỗi ngày nên thông thạo và thực tập rất nhiều ca mổ khó, bác sĩ tim trẻ tuổi đã rành nghề khi chưa tốt nghiệp. Nhớ ơn người Mỹ đã giúp mình, Sĩ làm thiện nguyện giúp mổ tim cho trẻ em khắp thế giới, trong đó có VN.
Câu chuyện trong bài báo viết dưới đây có nói một chút về việc Sĩ làm nên tên tuổi khi mổ và thay gần hết lục phủ ngũ tạng ông cựu Thống Đốc Casey của PA, bố của đương kim thượng nghị sĩ dân chủ liên bang Casey. Số là ông thống đốc đã thay tim rất nhiều lần nhưng được vài năm lại hỏng. Khi Sĩ làm trưởng nhóm chuẩn bị thay tim cho ông thì có một thanh niên chết vì tai nạn xe hơi. Sĩ quyết định không chỉ thay tim, mà thay tất cả các bộ phận khác trong lồng ngực ông thống đốc, lấy từ người quá cố, một việc làm chưa ai làm trước đó, nhưng Sĩ quyết định làm. Anh nói:”tất cả các bộ phận khác của ông TĐ cũng đã hư, nếu chỉ có thay tim thì sẽ không sống được lâu, cũng phí, nên phải làm liều”. Dù cho tất cả các bác sĩ tim khác ngăn cản, Sĩ vẫn quyết định làm cách mạng y khoa, và thế là ca mổ dài hơn 36 giờ liền, có 12 Bác Sĩ giải phẩu tim thượng thặng cùng làm, Sĩ đã thành công, mà ông TĐ lúc tỉnh lại đã nắm tay Sĩ nói: “Anh là Chúa cứu thế, giúp tôi sinh lại lần nữa”. Ông TĐ sống mạnh khỏe hơn 10 năm sau với trái tim của người thanh niên vắn số, rồi mới qua đời vì già.
Nhớ lại chuyện cũ, Sĩ nói: “khi ông Casey mở mắt ra sau mấy ngày hôn mê, tôi cũng như người chết đi sống lại. Sau mấy ngày nằm cạnh để theo dõi bệnh nhân từng giờ, mình thở phào vì mình biết là đã làm nên lịch sử trong nghành y khoa”. Khi tỉnh táo, ông TĐ có hỏi Sĩ: “Bạn cần bất cứ điều gì tôi sẽ giúp, nếu giúp được”. Và Sĩ đã kể với ông về việc muốn bảo lãnh gia đình từ Ninh Hòa qua Mỹ mà đang bị trục trặc giấy tờ. Thế là một ngày đẹp trời vài tháng sau, trên một chiếc máy bay, một gia đình nhà quê nghèo khổ có cha mẹ và một bầy em trai gái 10 người, đáp xuống phi trường gần Pittsburgs để đoàn tụ với người con trai xuất chúng, đã xa nhau gần 20 năm, của họ.
Nhà của Cha Mẹ Sĩ tôi không lạ. Những năm làm việc tại Á Châu, lâu lâu về VN làm việc và về Qui Nhơn thăm nhà. Trên đường từ Saigon ra Trung, tôi đều ghé Ninh Hòa, một thành phố biển nghèo xơ xác, phía Bắc Nha Trang, để thăm, gởi lời nhắn của người con xa xứ và giúp cho họ chút tiền. Lần đầu thấy có xe hơi ghé nhà, bà con xóm biển lại xem như trẩy hội. Tôi gởi cho họ tiền đô la, số tiền đầu tiên Sĩ có được từ lương Bác Sĩ, và dặn vào Nha Trang đổi ra tiền Việt. Thời đó $4000 đô là một gia tài quá lớn đối với họ. Tôi còn nói con trai họ, bạn rất thân của tôi, đã thành tài nơi xứ người. Nhưng họ không thể hiểu là anh ta nổi tiếng đến mức nào. Bây giờ, những người em trai gái của Sĩ cũng rất thành công ở Mỹ. Có vài em lấy bằng Tiến Sĩ và có em mở công ty làm ăn khấm khá. Cha Mẹ Sĩ đã già, bỏ Pittsburgh vì qúa lạnh về sống vùng Bolsa cho gần người Việt. Sĩ là trường khoa mổ tim của Pittsburgh U., Miami U., Maryland U. , và giờ đang là giám đốc bệnh viện Tim tại Jacksonville, Florida.
Cá nhân tôi, nếu không có người bạn thân tài giỏi này thì chắc cũng không còn ngồi đây viết những giòng chữ này. Năm 90, khi đưa gia đình qua Á Châu làm việc tại Singapore, tôi đã sống với một trái tim có vần đề bẩm sinh, (có lỗ làm máu đen máu đỏ hòa vào nhau) từ bé (có lẽ vì yêu nhiều qúa chăng?) nhưng vì sợ không dám mổ nên trì hoãn. Sĩ nói nếu ông không mổ trước 40t thì sẽ chết sớm, và dĩ nhiên là tôi yêu đời muốn sống với trái tim khỏe. Mùa Giáng Sinh năm 90 tôi được mổ bỡi một cô Bác Sĩ, học trò xuất sắc của Sĩ, tại Singapore . Và nếu không có Sĩ điều khiển từ Pittsburgh, ca mỗ tim tôi gặp trục trặc lớn và chính Sĩ đã chỉ dạy cho cô họ trò sửa sai, và hơn 28 năm qua tôi được sống với trái tim khỏe, đầy máu đỏ (nhiệt huyết).
Nghĩ lại, tất cả những gì xảy trên trên đời đều có lý do mà nhà Phật gọi là Duyên. Tôi tin ở số phận, tin “ở hiền gặp lành” và sống bằng tất cả tấm lòng”ai giúp mình thì mình phải giúp lại” kẻ khác. Kỷ niệm 20 năm (1975-1995) anh em chúng tôi, 12 sinh viên tị nạn đầu tiên trên nước Mỹ được học bỗng đại học, đã về lại trường cũ thăm thầy cô để cảm ơn trường . Chúng tôi chung góp một số tiền lớn, bỏ nhà băng lấy tiền lời, mỗi năm nhờ trường cho học bỗng các sinh viên nghèo cần giúp đỡ như chúng tôi 20 trước. Trong số 12 sinh viên thời ấy, tất cả sau này đều đã học đến tận cùng những gì cần học ở Mỹ. Họ là những Giám Đốc Bệnh Viện, Chủ Tịch nhà Băng, Công ty lớn. Họ là những nhà khoa học, giáo sư, nhà nghiên cứu, ngoại giao…và cũng đóng góp nhiều cho đất nước này. Phạm Mai Sĩ là một trường hợp điển hình.
Nghĩ lại, nếu những năm 75, không có chính sách di dân cởi mở, không có người dân Mỹ, Nhà Thờ Mỹ và Trường Đại Học Mỹ giúp…thì không biết 12 người sinh viên nghèo, không người thân như chúng tôi, đã làm được gì trên đất nước này. Và nếu không có may mắn rời khỏi VN những ngày cuối tháng 4/75 thì chắc chắn người như Phạm Sĩ cũng là một bác sĩ trong một bệnh viện nào đó nếu may mắn được thành Bác Sĩ. Và tôi, chắc là một giáo làng, với nghề gõ đầu trẻ, hút thuốc Lào, uống rượu đế và làm thơ hận đời…
Bác sĩ gốc Việt lừng danh thế giới, ngỏ lời tạ ơn một trường nhỏ từng có lòng tốt đối với người tị nạn.
Ông Phạm Sĩ từng học để trở thành bác sĩ ở Sài Gòn, thì ước mơ bỗng bị tan vỡ bởi cuộc chiến. Câu chuyện lưu lạc của ông đến nước Mỹ đã được nhật báo Lebanon Daily News tường thuật vào đầu tháng Năm, với nội dung như sau. Ông thoát khỏi Việt Nam vào ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Ông có mặt trên một chiếc thuyền, bị tách rời khỏi đất nước, bỏ lại những người thân trong gia đình, và chỉ có bộ quần áo trên người.
Bốn mươi năm sau đó, Phạm Sĩ là một bác sĩ giải phẫu tim mạch tài ba hiếm hoi của thế giới, và là nhà nghiên cứu y khoa từng viết hơn 170 bài nghiên cứu và tham gia ca mổ ghép tim và gan cho cựu Thống Đốc Bob Casey của tiểu bang Pennsylvania.
Bác sĩ Phạm Sĩ được ngồi cạnh vị Giáo Sư ân nhân Owen Moe (bên trái) và Viện Trưởng Lewis Thanye của trường Lebanon Valley College trong đêm trao giải thưởng 27 tháng Tư, 2018 tại trường này.
Nhưng theo ông Phạm Sĩ nói, câu chuyện tay trắng làm nên sự nghiệp của ông chỉ có thể xảy ra là nhờ lòng nhân đạo của thị xã Annville và trường đại học nhỏ bé chuyên về khoa học và nghệ thuật tại thung lũng Lebanon này, được tỏ bày dành cho những người tị nạn chiến tranh cách đây hơn bốn thập niên.
Ông Phạm Sĩ kể rằng ông đã lớn lên cảm thấy bất lực trong một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Ông ước ao có thể chữa lành những vết thương mà bạn bè ông phải chịu đựng do bom đạn gây ra. Vì vậy ông vào Sài Gòn để học ngành bác sĩ. Nhưng đến năm 1975, cuộc chiến diễn biến tệ hơn cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi, quân cộng sản Bắc Việt nhanh chóng xâm nhập và cưỡng chiếm miền Nam. Cha mẹ ông hồi đó sống ở miền Trung, và họ bị kẹt trong sự kiểm soát cộng sản khi cuộc xâm lăng tiến đến gần Sài Gòn.
Ông Phạm Sĩ nói, “Tôi biết chế độ cộng sản là gì và tôi biết dân chủ là gì, vì vậy tôi đã lựa chọn rời khỏi đất nước để rồi thành người tị nạn.” Bác sĩ giải phẫu tim mạch Phạm Sĩ đang nhận giải thưởng Distinguished Alumnus (Cựu Sinh Viên Xuất Sắc) của trường Lebanon Valley College vào ngày 27 tháng Tư, 2018. Những người tị nạn được đưa tới đảo Guam, nơi họ ở lại cho tới tháng Sáu 1975, khi họ được phép đến trại Fort Indiantown Gap, nơi chứa 15,000 người tị nạn.
Ông nói, “Hồi đó tôi không có gì cả. Tôi chỉ có một bộ quần áo trên người.”
Những người tị nạn không được phép rời khỏi trại Gap, cho đến khi họ có được một người Mỹ bảo trợ, và những người độc thân như ông Sĩ đều nằm cuối danh sách mà sự ưu tiên là dành cho những gia đình. Tuy vậy, đến tháng Tám năm ấy, trường Lebanon Valley College (LVC) tạo một cơ hội cho 12 học sinh tị nạn được ghi danh và có được nơi ăn chốn ở, thông qua sự kết hợp giữa chương trình học bổng Pell Grants, chương trình vừa học vừa làm, một học bổng và một khoản tiền vay nhỏ. Thậm chí trường đại học này còn cung cấp các lớp học tiếng Anh bổ túc cho các sinh viên. Giáo Sư Hóa Học Danh Dự Owen Moe, thời đó là một giáo sư nghiên cứu tại LVC, đã không lập tức để ý tới Phạm Sĩ. Cho đến khi họ bắt đầu cùng nhau làm việc trên các dự án, ông mới xác định ông Sĩ thuộc hạng sinh viên có thể vươn lên tới hàng đầu trong chức nghiệp.
Ông Moe nói, “Anh ấy có sự quyết tâm, và phải đối phó trước nhiều trở ngại. Anh đã tìm cách vượt qua mọi trở ngại đó.”
Owen Moe Professor Emeritus of Chemistry at Lebanon Valley College
Ông Phạm Sĩ nói rằng thầy Moe là một người dìu dắt tuyệt vời và là một niềm khích lệ lớn cho ông. Lúc đó ông rất biết ơn vì có cơ hội hoàn tất việc học tại một trường đại học Mỹ, với các giáo sư trực tiếp giảng dạy. Nhưng ít nhất mỗi tuần một lần, ông vẫn thức dậy và nghĩ rằng mình vẫn còn ở Việt Nam. Nơi đó cha mẹ ông đang sống dưới ách cai trị của cộng sản, và không biết ông còn sống hay đã chết.
Phạm Sĩ nói, “Chiến tranh làm cho người ta mau trưởng thành hơn. Đó là một vấn đề sống còn – bạn phải lớn lên, chiến đấu và tìm cách sống sót.”
Ông tốt nghiệp từ trường Lebanon Valley College, sau đó từ trường y khoa, và nhanh chóng vươn lên vượt qua hàng ngũ nghề nghiệp, trở thành trưởng khoa cấy ghép tim, phổi và tim nhân tạo, tại trường y khoa thuộc đại học University of Miami, ngoài những công việc khác. Ông đã công bố hơn 170 bài báo khoa học, giúp thành lập những phương pháp để ngăn chặn sự việc cơ thể tìm cách loại bỏ những bộ phận cấy ghép tim và phổi, và giúp một giải pháp được tiến xa hơn trong việc một phương thay thế phẫu thuật tim hở, theo thông tin do trường LVC cung cấp. Vào năm 1993, ông là thành viên của một nhóm thực hiện ca cấy ghép gan và tim lần thứ bảy trên thế giới, mà bệnh nhân là cựu thống đốc Robert Casey của Pennsylvania.
Hiện nay ông đang làm việc cho Mayo Clinic tại Minnesota. Tuy nhiên, những thành tựu mà ông Phạm Sĩ hãnh diện nhất sẽ không xuất hiện trong các cuốn sách lịch sử: đó là cung cấp các ca mổ cần thiết cho di dân, cho những người nghèo cư ngụ trong thành phố, và những người không có khả năng trả tiền giải phẫu.
Chính ở đó, ông Phạm Sĩ cảm thấy như thể đã hoàn thành sứ mạng ban đầu của ông: là sửa chữa những cơ thể bị phá hỏng, giống như những cơ thể mà cuộc chiến Việt Nam đã tìm cách hủy hoại. Ông cũng có cơ hội để chăm sóc các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Trong số đo có một đại tá về hưu, người đã giúp lập một trại tị nạn nơi mà ông Phạm Sĩ từng ở.
Vì ông đam mê giúp đỡ người bệnh, một trong những thách thức chuyên nghiệp lớn nhất của ông là đối phó với thất bại sau một ca mổ có mức rủi ro cao.
Ông nói, “Bạn phải nói chuyện với các người thân trong gia đình, bạn biết đấy, nói cho người thân biết rằng bệnh nhân không thể qua khỏi. Thật khó, rất khó. Bạn phải học cách đối phó với chuyện đó và rồi tiếp tục đi tới. Nếu không, chuyện đó có thể trở nên khó khăn về mặt tâm lý.”
Mấy năm sau khi đến Mỹ, ông Sĩ mới có thể gửi thư cho cha mẹ thông qua một người bạn sống ở Canada. Bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được nối lại vào cuối thập niên 1980, và trong thập niên 1990, ông đưa cha mẹ sang Mỹ để sống với ông trong một thời gian. Đến lượt ông dẫn con cái về Việt Nam và tới các quốc gia nghèo kém khác, để các con ông có thể hiểu được sự may mắn mà chúng có được ở đất nước Hoa Kỳ này.
Ông đã nhận được giải thưởng cựu sinh viên xuất sắc của LVC, tại một buổi lễ ngày 27 tháng Tư, và ông rất vui khi lãnh thưởng. Thực vậy, ông ghi nhận công lao của cả trường LVC lẫn cộng đồng Annville đã đón tiếp những người tị nạn trắng tay như ông. Ông nói, “Dân chúng Mỹ rất rộng lượng, giúp đỡ rất nhiều.”
Vị bác sĩ này hy vọng mọi thành công của ông sẽ khích lệ những di dân khác, để họ không bị nản lòng khi theo đuổi ước mơ của họ. Ông nói, “Mọi sự sẽ tốt đẹp hơn. Thời gian sẽ chữa lành nhiều vết thương.
Lần đầu tiên nước Mỹ có một lò nấu rượu đế của người Việt, ngay trong vùng Dallas-Fort Worth. Nghe tiếng, chúng tôi lặn lội đến tận nơi để hỏi thăm, thám thính và … uống thử. Thành thật mà nói: Ngon!!
Lò rượu độc đáo này mang tên ‘SuTi Craft Distillery’. SuTi là chữ viết tắt lấy từ tên của hai nhà tiên phong Đinh Trọng Suý và Ngô Thời Tiến. Suý sang Mỹ năm 75 khi còn nhỏ. Gia đình ngày xưa là dân Nam Định, di cư vào Nam năm 54. Anh kể hồi ngoài Bắc Mẹ anh cũng biết nấu rượu như nhiều người trong làng. Nhưng anh thì dĩ nhiên không biết gì về việc đó. Qua Mỹ, anh đi học và ra trường kỹ sư, làm việc trong ngành viễn thông (telecom). Năm 2011 Suý quen một anh bạn gốc Cái Răng, nhà ở Cần Thơ có nghề nấu rượu. Anh tò mò học hỏi và bắt đầu thử nghiệm cất rượu lấy. Anh nói vì khi đi dự tiệc anh hay nghe mấy ông già thắc mắc sao cứ phải uống rượu Tây hoài, không tìm đâu ra rượu đế.
Toàn cảnh phòng nấu rượu.
Trong quá trình thử nghiệm, Suý tự lên Internet tìm hiểu thêm về các loại men, các loại gạo, những phương pháp nấu rượu khác nhau của nhiều dân tộc. Anh đặt mua đủ thứ men từ Việt Nam, Âu Châu cũng như Mỹ về để thí nghiệm. Anh bỏ nhiều năm trời tìm xem gạo nào làm rượu thơm ngon nhất. Vài năm sau tay nghề của Suý đã kha khá, anh bắt đầu tự tin đủ để mang rượu của mình đến các buổi tiệc để giới thiệu với bạn bè và nhận được nhiều phản hồi khích lệ. Một trong những người khuyến khích anh nên theo đuổi đam mê của mình là Tiến, người anh em cột chèo đồng thời là kiến trúc sư làm việc ở Dallas. Bắt đầu từ năm 2016, Suý và Tiến hùn vốn để xây lò rượu.
Nét Đông Phương toả khắp không gian trong mùi gạo thơm thoang thoảng.
Sau khi tìm mua được miếng đất gần Fort Worth, họ mất nhiều tháng trời chỉ để được phép động thổ và khởi công. Khác với những hình thức kinh doanh thông thường như mở nhà hàng hay mở tiệm nails, lò rượu đòi hỏi vô số điều kiện liên quan đến luật liên bang, tiểu bang và thành phố rất khắt khe. Nhưng cuối cùng SuTi cũng thành hình và chính thức đi vào hoạt động cách đây vài tháng. Hiện thời SuTi có hai sản phẩm chính là ‘Rượu Đế Ông Già’ (40%) và rượu mạnh ‘Lion 45’ (45%). Vì là một nhà nấu rượu bán lẻ, SuTi chỉ có thể bán tại chỗ chứ không thể gởi rượu qua đường bưu điện. Suý kể có người lái xe từ tận Houston lên chỉ để mua chục chai mang về. Nghe vậy chúng tôi cảm thấy mình còn quá may mắn vì ở cách lò đế độc nhất vô nhị này có … 60 dặm!
Chiếc máy TEAC cũ kỹ nhưng âm thanh vẫn còn rất tốt.
Chiếc máy TEAC cũ kỹ nhưng âm thanh vẫn còn rất tốt.
Ấn tượng đầu tiên khi bước vào phòng khách là một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu, và rất … Việt Nam. Cách trình bày nơi đây đơn sơ nhưng mỹ thuật, nhờ bàn tay khéo léo và con mắt nhà nghề của kiến trúc sư Tiến Ngô. Trong một góc là chiếc máy hát dĩa thuộc loại đồ cổ gần cả trăm năm nhưng vẫn còn chạy. Chẳng may hôm chúng tôi đến cây kim đã bị hư, chưa được thay. Nhưng bù lại chúng tôi được nghe một thứ nhạc rất lạ mà quen, phát ra từ chiếc máy TEAC tuổi đời chắc cũng gần bằng của chủ nhân. Giọng hát Khánh Ly và Thanh Thuý thời trước 75 lâng lâng đưa ta vào một thế giới nửa của quá khứ nửa tương lai. Chưa kịp thử rượu đã muốn phê.
Hèm đang được ủ để lên men.
Toàn bộ diện tích phòng nấu rượu chiếm một không gian khiêm tốn không đầy 2000 sf nhưng đầy đủ mọi dụng cụ được sắp xếp gọn gàng. Cuối phòng là một cái nồi khổng lồ có thể nấu cả ngàn ký gạo một lúc. ‘Ông Già’ được làm từ một loại gạo thơm đặc biệt đến từ miền Nam Louisiana tên Jazzmen (ghép từ gạo jasmine Á châu và gạo vùng New Orleans, quê hương của jazz). Suý kể mất lâu lắm anh mới tìm được loại gạo này; nhờ nó mà ‘Ông Già’ có một cái hậu rất thơm. Suý không dùng men từ Việt Nam vì theo anh nó có nhiều mùi thuốc Bắc, đã vậy anh không biết được thành phần gồm có những gì. Vì muốn chế biến một loại đế người Mỹ cũng uống được, anh dùng một loại men của Mỹ cho ‘Ông Già’, và một thứ men mới từ Âu Châu cho ‘Lion 45’. Những ai thích rượu mạnh như whiskey hay vodka bảo đảm sẽ ưng ‘Lion 45’, nhất là khi được ướp lạnh. Ai thích mùi gạo thơm sẽ khoái ‘Ông Già’. Sắp tới đây anh sẽ thí nghiệm làm rượu nếp than.
Suý Đinh giảng giải về kỹ thuật và nghệ thuật làm rượu đế, bên cạnh cái máy cất rượu bằng đồng thiết kế theo kiểu nấu whiskey của dân Scotch.
Rượu cất xong được nếm thử và đo nồng độ. Mỗi vụ rượu (batch) được đánh số và ghi ngày tháng cẩn thận. Chỉ những vụ nào đạt đúng tiêu chuẩn về hương vị cũng như nồng độ mới được giữ lại để bán. Luật liên bang quy định rượu được giữ để bán phải có phòng chứa riêng và phải nộp thuế trước, do đó SuTi phải kiểm tra chất lượng mỗi vụ thật kỹ trước khi quyết định dùng hay không. Suý Đinh và Tiến Ngô là hai nhà khởi nghiệp ngành rượu đế trên nước Mỹ. Khách hàng của họ đa số thuộc thành phần trẻ, phụ nữ, dân sành rượu và thích rượu ngon. Với giá một chai chỉ khoảng $35-$45 (tuỳ theo vụ) rượu SuTi dễ dàng cạnh tranh với các nhãn hiệu nổi tiếng trên thị trường.
Chiếc bàn nơi rượu cất xong được nếm thử và đo nồng độ.
Tết Ta cho đến Tết Tây Tiệc tùng cưới hỏi lấy chi làm quà? SuTi nức tiếng ‘Ông Già’ Uống ly rượu đế chạy ba quãng đồng!
Địa chỉ liên lạc và Facebook: Suti Craft Distillery 528 W. Kennedale Pkwy Kennedale, TX 76060
Lời tòa soạn: Đập nước là một lợi thế và cũng là một yếu điểm. Nó có thể cung cấp nước uống và điện năng, nhưng cũng có thể là một quả bom mềm với sức công phá không thua kém bom nguyên tử. Chính vì vậy, đôi khi TQ rải quân đội dày như cám, với những hệ thống phòng không tối tân nhất, và lực lượng bảo vệ đập Tam Hiệp tinh nhuệ không thua kém đội quân bảo vệ Trung Nam Hải…
Cầu và đập Hoover. Nguồn. Zimbio
Trong Thế chiến 2, khi quân đội Ðức Quốc Xã đã xâm lăng khắp Châu Âu, Nga và Bắc Phi, họ vẫn có tham vọng tàn phá các mục tiêu quan trọng của Mỹ. Các mục tiêu họ chọn có tác động về tâm lý và cùng lúc phá hủy các cơ cấu hạ tầng quan trọng liên quan tới chiến tranh.
Những nơi được chọn để tấn công như thành phố New York, Washington D.C, các cơ xưởng quốc phòng ở Detroit và Hoover Dam. Bao nhiêu kế hoạch đã trình làng, vài cái không hợp lý và hao tốn nhiều so với kết quả. Tuy nhiên, có kế hoạch được chấp thuận, được thử nghiệm hoặc đưa vào hành động. Một trong các kế hoạch ấy là tấn công Ðập Hoover đã được thực hiện qua nhiều cách.
Đức Quốc Xã âm mưu ném bom đập Hoover. Nguồn. the-wanderling.com
Suốt Thế Chiến 2, một trong trong các dự định đánh sập Ðập Hoover là dùng tàu ngầm, như tên của một bài báo online “Tàu ngầm Ðức tấn công Ðập Hoover”. Nội dung bài báo xoay quanh một âm mưu có thật vào cuối năm 1944 trong thời kỳ Quốc Xã, họ muốn tàn phá Ðập bằng cách đi ngược giòng sông Colorado từ biển Cortez tại Mễ Tây Cơ bằng loại tàu lặn được võ trang đầy vũ khí.
Văn bản cho biết: Bộ Ngoại Giao và Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Mễ Tây Cơ chứng minh rằng vào năm 1939, trước khi có chiến tranh với Mỹ, 5 năm trước khi trận tấn công bằng tàu ngầm bị tố cáo, các đặc vụ Ðức đã rình rập trong nỗ lực tàn phá con Ðập và bị bắt gọn vì chuyện đó. Ngay cả sau 5 năm chiến tranh, người Ðức vẫn còn theo đuổi âm mưu này.
Pháo đài bí mật canh giữ đập Hoover. Nguồn. Mark Henle, Mark Henle.The Republic
Tối ngày 30-11-1939, Bộ Ngoại Giao nhận báo cáo từ Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Mễ Tây Cơ cho biết một âm mưu đánh bom tháp dẫn nước vào Ðập Hoover. Họ đã phát giác đặc vụ Ðức tại thành phố Mexico City với kế hoạch tấn công Ðập nhằm tê liệt công nghiệp sản xuất về hàng không ở Los Angeles. Việc này sẽ hoàn thành bằng cách cắt đứt đường vận chuyển điện cao thế của Ðập. Hai đặc vụ Ðức cư ngụ tại Las Vegas, một người là chuyên viên đầy kinh nghiệm về chất nổ đã nhiều lần tới Ðập để quan sát khả năng thực hiện kế hoạch. Họ dự định thuê một chiếc thuyền giả vờ câu cá và dùng nó để gắn bom vào tháp dẫn nước của Ðập.
Tháng 4-1942, 5 tháng sau vụ Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, bộ Phim “Kẻ phá hoại” được công chiếu. “Trong phim một anh hùng làm việc tại công xưởng Quốc Phòng ở Nam Cali khi kẻ phá hoại đốt cháy một phần của xưởng. Bạn của người anh hùng bị giết, kẻ phá hoại trốn thoát và người anh hùng bị nhầm là kẻ phá hoại, ông bỏ trốn và truy lùng kẻ đã giết bạn mình khắp đất nước. Ông ta theo sát những manh mối và tìm đến thị trấn Ghost ở Nevada gần Ðập Hoover, nơi ông đã tiếp xúc với nhóm phá hoại, biết rằng họ đang âm mưu cho nổ con Ðập, người anh hùng giả làm kẻ xấu và nhập vô nhóm phá hoại với hy vọng sẽ tìm ra kẻ giết bạn mình.
Xây dựng đập Hoover năm 1934. Nguồn. tribupedia.com
Nhóm phá hoại băng ngang nước Mỹ với trọng tâm là đánh chìm tàu chiến Moored tại thành phố New York sau khi âm mưu nổ đập Hoover trước đó đã bị người anh hùng phá hỏng”
Ðiều thú vị là bộ phim đã được chiếu năm 1942, chỉ một tháng trước khi chiến tranh, giai đoạn sản xuất thật sự bắt đầu trước ngày Trân Châu Cảng bị tấn công 7-12-1941.
Ðoạn trích dẫn trên được lấy từ tạp chí Prologue, cũng cho biết kế hoạch của hai đặc vụ của Ðức tại Las Vegas đơn giản, sạch dấu vết, kỹ thuật tốt. Không thiết bị phức tạp, không máy móc chiến tranh, không cần nhiều lính. Họ sẽ thuê thuyền câu cá, chèo ra hồ như mọi người, khi không ai để ý, họ gắn bom vào bên hông tháp dẫn nước. Nhưng cả hai đã bị bắt trước khi thực hiện đầy đủ kế hoạch, và Ðập không bị tàn phá.
Xây cầu treo qua đập Hoover. Nguồn. High Country News
Vài ngày sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Người Nhật bắt đầu thăm dò khả năng radar của Mỹ dọc bờ biển Thái Bình Dương cùng sự hợp tác với các nhân viên bí mật đã nằm vùng tại nơi ấy. Trong quá trình thực hiện, theo các khả năng của radar và các nguồn tương tự, họ đã tìm được những nơi vị trí sóng radar có hiệu quả, yếu hoặc mất sóng.
Ngày 31-12-1941, Bộ Tư Lệnh Không Quân Ðánh Chặn 4 đã báo rằng có nhiều máy bay địch đã hạ cánh và được giấu gần vùng đất sa mạc ở Idaho, Brawley ở thung lũng Imperial của Cali. Họ cũng báo cáo rằng có 5 bản tin liên lạc bằng mật mã Nhật đã được gởi mỗi ngày giữa Brawley và thành phố Mexico qua làn sóng ngắn. Lúc 12:32pm chiều ngày 31-12-1941, Cục Ðiều Tra Liên bang đã chuyển thông tin như sau:
Những người xây đập Hoover. Nguồn. waterandpower.org
“Kế hoạch tấn công bằng Không và Hải lực vào San Diego, San Perdo và San Francisco sẽ xảy ra lúc hừng sáng vào ngày Tết năm mới hoặc Chúa Nhật sau đó. Tấn công vào San Diego và San Perdo trước. Số người lạ sẽ xâm nhập bờ biển. Cuộc tấn công trên không do các Phi công Ðức từ ngoài biên giới nơi máy bay đang cất giấu, họ cất cánh trước bình minh, bay ở độ cao. Nếu Không Lực được báo động, họ sẽ bị đánh chặn trước khi tới mục tiêu. Hãy nhớ trận Trân Châu Cảng”
Cuộc tấn công tính toán kỹ ấy bị ngưng lại vì các cộng sự viên bí mật của Mỹ, đó là một người đàn bà, như một điệp viên, một tài tử điện ảnh tên là Rochelle Hudson, người cùng sát cánh với chồng là Sĩ Quan Hải Quân Mỹ, đã làm cuộc du lịch nghỉ hè bí mật Mễ Tây Cơ trước và ngay lúc sắp chiến tranh để quan sát liệu có các hoạt động của Ðức, Nhật về khu biên giới phía Nam hay không, nếu có thì cỡ nào. Trong cuộc nghỉ hè, hai vợ chồng đã tìm ra một số lượng lớn nhiên liệu máy bay do đặc vụ Ðức chứa tại Baja, Cali. Bằng mọi cách, số nhiên liệu cất giấu đã được tịch thu nên không có nhiên liệu cho máy bay thực hiện vụ tấn công và kế hoạch bị hủy bỏ.
Những động cơ điện trong hầm ngầm của đập Hoover. Nguồn. YouTube
Sau đó các vùng được tăng cường ra-đa theo dọc bờ biển từ Los Angeles tới tận Mễ và cả 2 phía của Baja. Hầu hết những cuộc xâm nhập Ðập Hoover bằng Không Lực suốt phạm vị rộng 300 miles từ Cali tới vùng Thái Bình Dương, hoặc lên phía trên qua Baja không thể nào thực hiện được. Có hai con đường có thể phá Ðập Hoover. Một, bằng đường thủy ngược giòng sông Colorado, thứ hai, bằng hàng không bay tới từ Arizona và Tân Mễ Tây Cơ, cả hai đường đều không thể thực hiện được. Ðường thủy qua sông Colorado bằng tàu ngầm đã được canh rất kỹ.
Trong khi quân Ðức điên cuồng với kế hoạch phá hủy Ðập Hoover bằng mọi cách. Người Nhật thì yên lặng tự mình phát triển kế hoạch tấn công vô đất Mỹ bằng cách đánh một đòn hủy diệt lớn không tốn nhiều nhân lực, thiết bị và tài chánh. Kế hoạch khởi sự nhỏ, với tàu ngầm loại mini hai người điều khiển là nhân tố chính, bước cuối là dự định cho nổ bom hạt nhân tại thành phố Los Angeles, tới Ðập Hoover.
Những đường hầm dưới đập Hoover. Nguồn. blogspot.com
PUBLISHED: 23:51 AEDT, 8 December 2020 | UPDATED: 23:51 AEDT, 8 December 2020
Con hổ mẹ 350lb được gọi là Arrowhead đã chiến đấu quyết liệt để bảo vệ đất đai khỏi con gái Siddhi của mình. Cuộc ẩu đả kịch tính đã được chứng kiến bởi những khách du lịch đi săn chỉ cách đó vài mét tại Công viên Quốc gia Ranthambore của Ấn Độ. Các nhân viên kiểm lâm cho biết số lượng hổ đang tăng lên có nghĩa là ngay cả mẹ và con gái cũng có thể ra đòn
Một con hổ mẹ và hổ con vồ vào nhau trong một cuộc ẩu đả bất thường bên đường sau khi con hổ cái con cố gắng chia sẻ lãnh thổ của mẫu hệ.
Con hổ mẹ 350lb, được biết đến với cái tên Arrowhead, đã chiến đấu quyết liệt để bảo vệ vùng đất của mình khỏi con gái Siddhi tại Vườn quốc gia Ranthambore, Ấn Độ. Trong trận chiến đáng sợ, hai con hổ nhảy lên và vỗ bàn chân vào nhau khi chúng cố gắng thiết lập sự thống trị, trong một cuộc ẩu đả được chứng kiến bởi khách du lịch safari chỉ cách đó vài thước.
Nhiếp ảnh gia Chandrabhal Singh, đến từ Pune, Ấn Độ, là một trong số những người chứng kiến cuộc chiến vào thứ Bảy tại nơi mà anh gọi là ‘lãnh thổ đẹp và chính’ trong công viên quốc gia. Ông nói: “Con gái lẽ ra nên tìm kiếm một số lãnh thổ mới cho mình ở những nơi khác trong rừng nhưng việc đòi lãnh thổ là điều khó khăn đối với những con hổ non vì không có nhiều không gian”. ‘Cô con gái đến để xem liệu cô ấy có thể chia sẻ lãnh thổ của mẹ mình hay không, nhưng người mẹ đã bảo vệ đất đai của mình – đuổi con gái mình.’ Mẹ và con hổ chiến đấu với nó để giành quyền thống trị
Trận chiến gia đình: Một mẹ con hổ ẩu đả với nhau về lãnh thổ trong Vườn quốc gia Ranthambore, Ấn Độ
Mặt đối mặt: Hổ mẹ, Arrowhead, vỗ vào mặt con gái khi cô ấy cố gắng khẳng định sự thống trị của mình
Mức độ của trận chiến: Một trong những con hổ có biểu hiện ấn tượng trên khuôn mặt khi cô ấy đối mặt với con còn lại trong tầm nhìn đầy đủ của khách du lịch
Singh, người đã chụp ảnh động vật hoang dã trong hai thập kỷ, đã mô tả cách bộ đôi hai mẹ con lao vào đánh nhau, sau đó ngừng chiến một lúc trước khi Arrowhead lao vào Siddhi một lần nữa.
“Siddhi vẫn cảnh giác để mắt đến nơi mẹ cô biến mất. Trong khi Siddhi đang nhìn về hướng khác, Arrowhead đã rình rập và lặng lẽ tiếp cận Siddhi. Siddhi chưa sẵn sàng cho cuộc tấn công bất ngờ này”, anh nói.
Các nhân viên kiểm lâm của công viên cho biết số lượng hổ trong khu bảo tồn đang tăng lên, có nghĩa là ngay cả mẹ và con gái cũng có thể đối mặt với nhau để phân định lãnh thổ của riêng mình. Công viên nói rằng ‘người mẹ đã dạy cho con gái một bài học’ trong cuộc ẩu đả kịch tính, đồng thời nói thêm rằng cả hai đều không bị thương nặng và các con vật đang được theo dõi ‘như một biện pháp phòng ngừa’. Arrowhead là cháu gái của ‘Nữ hoàng Ranthambore’ trước đây, một con hổ cái thuộc mẫu hệ được gọi là Machli, người cũng được mô tả là ‘con hổ nổi tiếng nhất của Ấn Độ’.
Machli, người qua đời năm 2016 ở tuổi 19, được coi là một trong những điểm thu hút khách du lịch chính đến thăm Ranthambore – nhưng Arrowhead hiện được coi là ‘siêu sao hổ cái’.
Hai mẹ con đối đầu trong một cuộc chiến dữ dội về lãnh thổ trong khu bảo tồn thiên nhiên ở Ấn Độ
Cả hai con hổ cái nhảy và cào vào nhau khi chúng cố gắng giành thế thượng phong trong cuộc ẩu đả hôm thứ Bảy
Tát vào mặt: Con gái cố gắng so bì chiều cao và sức mạnh của mẹ trong cuộc đối đầu
Đối mặt: Cả hai con hổ đều không nương tay trong cuộc chiến mà các kiểm lâm viên cho biết đã kết thúc mà không bị thương nặng
Trong trận chiến đáng sợ, hai con hổ nhảy lên và vỗ bàn chân vào nhau khi chúng cố gắng thiết lập sự thống trị
Trước mỗi chuyến vượt biên đêm đầy nguy hiểm sang Anh, người di cư Việt viết tên, quê quán và vẽ hình người yêu lên tường. Họ cũng thắp hương cho những người không may tử nạn.
Bên ngoài tòa nhà chính của trại Vietnam City, một trong những điểm trung chuyển lớn người Việt tới Anh. Năm 2017, người của chương trình Pacific Links Foundation đã vài lần đến thăm trại này ở Angres, Pháp, cách cảng Calais khoảng 100 km về phía đông nam. Nhóm tình nguyện viên cung cấp cho Zing.vn một số hình ảnh về cuộc sống ở đây. Ảnh: Mimi Vũ.
Thông báo ở ngoài cửa cho người mới đến, giải thích rằng các tình nguyện viên Pháp đang hỗ trợ cho trại không phải từ chính phủ, đồng thời yêu cầu tất cả dọn dẹp, giữ vệ sinh. Ảnh: Mimi Vũ.
Bên trong gian phòng với mái đã bị sập và những mảnh gỗ được dùng để đốt lửa, nguồn sưởi ấm duy nhất trong trại. Vietnam City bị chính phủ Pháp đóng cửa, phá dỡ vào tháng 5/2018. Ảnh: Mimi Vũ.
Khu sinh hoạt chung bên trong trại người di cư Việt Nam. Graffiti trên tường vẽ chữ “Freedom” (tự do). Đây là thế giới thu nhỏ của dòng di dân 18.000 người Việt sang châu Âu mỗi năm qua các đường dây vận chuyển người. Ảnh: Mimi Vũ.
Tường vẽ chữ “VN City” và cây thông Noel. Cây thông Noel và mô hình cảnh Chúa giáng sinh là quà tặng của người dân địa phương, mà nhiều di dân từ Nghệ An theo đạo Thiên Chúa rất trân trọng. Ảnh: Mimi Vũ.
Một thanh niên đến từ Hà Tĩnh. Các chuyên gia, bà Vũ và bà Loan, ghi nhận số người vượt biên sang Anh từ tỉnh Hà Tĩnh tăng nhiều trong năm 2017. Ảnh: Mimi Vũ.
Người đàn ông 35 tuổi này quê Nghệ An, nói được tiếng Anh do làm nhà hàng ở TP.HCM và từng học trường nấu ăn một năm. Anh quyết định sang Anh vì không tìm được việc lương cao. Ảnh: Mimi Vũ.
Cơ hội rời khỏi Vietnam City và sang Anh của họ là khi đêm đến, những kẻ buôn người sẽ rình và đưa dân di cư lên các xe tải hướng về cảng Calais, Pháp để sang Dover, Anh. Những ai chưa đi được sẽ quay về trại, chờ vận may lần sau. Trong ảnh, camera cảnh sát quay cảnh người di cư Việt lên xe tải từ một trại ở Sauchy-Cauchy. Ảnh: Le Figaro.
Cảnh sát đột kích trại người Việt ở Sauchy-Cauchy, đưa nghi phạm ra. Ảnh: Le Figaro.
Các trại di cư Việt Nam mang tính tạm bợ. Trong ảnh (chụp cách đây ba tuần) là trại ở Sauchy-Cauchy đã bị phá dỡ cách đây hơn một tháng. Ảnh: Mimi Vũ.
Dân di cư Việt Nam thường xuyên viết tên, số điện thoại, quê quán, và ngày đến Vietnam City lên tường. Quê quán bao gồm “Cẩm Phả – QN”, “Hải Phòng”, “Phú Xuân, Đô Thành” … Và các câu chúc như “Chúc AE qua Anh thành công”, “Thượng lộ bình an”. Ảnh: Mimi Vũ.
Bánh đa Đô Lương, đặc sản xứ Nghệ, được nhóm của bà Vũ và bà Loan của Pacific Links Foundation đem tới cho các dân di cư. Theo hai chuyên gia, những người di cư rất vui khi ăn bánh sau khi hơ trên lửa. Ảnh: Mimi Vũ.
Trái: Hình ảnh người tình đã bỏ lại ở Việt Nam, được một người di cư vẽ lên tường năm 2013. Phải: “Quỳnh ♥ Thức – sẽ nhớ mãi VN” và “Cuộc tình phôi phai” – người di cư vẽ lên tường. Ảnh: Mimi Vũ.
Lá cờ Pháp ở Vietnam City và nơi phơi quần áo. Ảnh: Mimi Vũ.
Hai người đang chơi bóng bàn trong trại. Ảnh: Mimi Vũ.
D. (sinh năm 1992) từng ở Vietnam City, nhưng chết tháng 5/2017 trong trại giam của cảnh sát Pháp. Nghe tin D. qua đời, người Việt trong trại lập bàn thờ, thắp hương và đặt hoa tươi mỗi ngày dù chưa bao giờ gặp cậu. Ảnh: Mimi Vũ.
Tại một trại khác ở Béthune, miền bắc Pháp, người di cư Việt Nam cũng thắp hương cho 39 nạn nhân chết trong container vào Anh vừa qua. “Bọn em thương tiếc cho họ vì số phận không may mắn”, họ nói với đài RTBF (Bỉ), tới đưa tin ngày 27/10. Ảnh: Đài RTBF.
Sau khi Vietnam City đóng cửa, người di cư Việt Nam tập trung ở các trại tạm khác ở Pháp. Trại di dân Việt Nam ở Béthune cách Calais, cửa khẩu để sang Anh, 75 km, và đã tồn tại được một năm, theo RTBF.
Ngày 27/10, có hơn chục người Việt tuổi 18-30. Họ đã trả 15.000-20.000 USD, thế chấp nhà, đi qua Nga để tới đây. “Ở đây vất vả… sinh hoạt các thứ không có gì”, một người nói với RTBF. “Thật sự mong muốn sang bên kia, không ai muốn ở đây cả”. Ảnh: RTBF.
Các nhóm từ thiện cho họ quần áo, thức ăn, nước uống, chỗ tắm rửa, lều bạt. Họ quyết tâm đến Anh bất chấp chặng đường từ Pháp sang Anh được coi là nguy hiểm bậc nhất trong hành trình, vì cho rằng ở Anh dễ kiếm việc hơn, có cộng đồng Việt. Ảnh: RTBF.
Người di cư ở các trại tại Pháp và cộng đồng Việt nhập cư bất hợp pháp ở Anh sốc với vụ phát hiện 39 thi thể trong container. “Giờ thì cũng không hối hận được nữa, giờ mình đã sang đây thì đâm lao phải theo lao thôi”, những người ở Béthune nói với đài RTBF. Ảnh: RTBF.
Trong 6 năm qua, một chú chó chăn cừu Đức có tên là Captain đã ngủ bên cạnh mộ của chủ nhân mỗi đêm vào lúc 6 giờ chiều.
Chủ của nó, Miguel Guzmán đã chết vào năm 2006. Captain, con chó, đã biến mất trong khi gia đình tham dự lễ tang. Một tuần sau, người thân của Guzmán đến thăm nghĩa trang thì họ vô cùng kinh ngạc khi tìm thấy con chó bên cạnh mộ của chủ nhân. Giám đốc nghĩa trang nói rằng con chó đến quanh mỗi đêm lúc 6 giờ chiều, và đã làm như vậy trong 6 năm qua.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.