This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chúng tôi lên tới chợ Kongpong Xom, lúc mặt trời sắp lặn. Từ khi rời Kongpong Xom cho đến lúc trở lại, chỉ cách bốn tiếng đồng hồ. Chúng tôi, những người đi tìm tương lai bỗng hóa ra kẻ đầu đường xó chợ. Tôi lang thang, làm quen với một cụ già người Việt hành nghề mài dao cho các thớt thịt. Tôi bịa ra chuyện đi tìm người bà con nhưng địa chỉ không rõ ràng nên bị lạc. Đồng thời tôi xin cụ giúp chỗ tạm trú qua đêm. Đêm đó, cụ dẫn chúng tôi về chỗ ngủ của cụ. Đây là chái hiên lề đường, bên hông một tiệm sửa Honda và xe đạp. Dọc theo các chái hiên khác, có những người hành khất nằm ngủ. Cụ nhường chiếc sạp cho vợ con tôi. Sạp kê sát đất bằng những mảnh gỗ vụn ghép lại. Cụ và tôi trải manh chiếu trên nền đất. Hơi đất lành lạnh dưới lưng, mùi dầu nhớt bốc thoang thoảng. Tôi nằm gối đầu lên bọc quần áo.
Cụ nói: “Đừng sợ mất đồ. Cùng đinh ăn mày cũng có nghĩa khí của cùng đinh ăn mày.”
“Tôi đã mất tất cả rồi. Chẳng còn gì để mất thêm.”
Tôi nói trong niềm cay đắng. Không ngờ có một ngày, mình rơi vào nỗi tận cùng bệ rạc thế này.
Nửa khuya, cụ già ngồi dậy quấn thuốc hút. Anh đèn đường vàng vọt soi không rõ. Khuôn mặt cụ nhòe bóng tối. Hình ảnh âm u, in lên nền phong héo úa như một tấm tranh đời bi thiết. Mọi vật quanh tôi đều im lìm sâu lắng. Chỉ còn tiếng muỗi vo ve. Đầu thuốc cháy, từng chặp lóe đỏ lên là điểm sáng duy nhất còn linh động.
Vợ con tôi ngủ mê mệt sau một ngày vất vả. Tôi trằn trọc đau xót mãi khôn nguôi, ngồi lên xin cụ điếu thuốc. Thuốc gắt quá, tôi ôm ngực ho sặc sụa. Nước mắt tuôn trào ràn rụa. Cụ già vỗ nhẹ vào lưng tôi như đè xuống một cơn ho, như an ủi một niềm thống khổ. Tôi quay ra ngoài hỉ mũi rẹt rẹt, và chùi nước mắt.
Cụ nói: “Dẫn vợ con đi vượt biên. Coi chừng mất mạng đấy.”
Dù tôi không bày tỏ, nhưng cụ đã biết cả rồi.
Cụ tiếp: ”Lần sau đừng dại dột tin lời người khác. Hãy về Việt Nam đi.”
Tôi nín thinh, nhìn qua dãy nhà tối ám bên kia đường. Còn có một chỗ nào để đi về không? Sau thời gian vắng mặt không lý do, tôi về là tự đem thân nạp mạng cho chính quyền địa phương.
“Cụ ơi, tôi không thể về. Tôi hết đường tới, chẳng còn đường lui.”
“Phải có cách giải quyết chứ?”
“Tôi ở lại Kampuchia, tìm việc làm.”
“Làm gì? Cái tướng trói gà của cậu khuân vác không nổi. Tính kế lừa thiên hạ ư? Tôi cho cậu biết, ở đây con người như lang sói. Cậu chưa kịp lừa ai, thiên hạ đã lừa cậu mất rồi.”
“Tôi muốn chẻ đầu bọn lừa đảo.” Khi nói, tôi nhìn những con dao chặt thịt to bản, để kế bên bộ đồ nghề mài dao của cụ.
Cụ ngó vào mặt tôi: “Dám không?”
Lời cụ như cái thước đo xem tính khí liều lĩnh của tôi tới cỡ nào. Cái mạng của bọn kia, đáng triệt tiêu để trừ bớt ung nhọt cho xã hội. Còn cái thân tôi sau đó, nếu không chết cũng chịu một hậu quả vô cùng khốc liệt. Nó có xứng đáng để tôi đánh đổi một hậu quả như thế hay không?
Cuối cùng, tôi lắc đầu nói với giọng yếu xìu: “Tôi hèn.”
Cụ quấn cho tôi thêm điếu thuốc: “Hàn Tín chịu luồn trôn giữa chợ, vì không thể lấy cái mạng đáng giá muôn người, đổi mạng của tên vô lại.”
“Tôi không thể so với Hàn Tín. Tôi hèn, vì tôi quá thương tôi.”
“Còn biết thương mình là còn ham sống. Từ từ làm lại cuộc đời.”
Cách lý luận của cụ già, tôi thấy lạ. Với một cái đầu như thế, sao lại chịu sống hẩm hiu như người hành khất?
Tôi nói: “Tôi không hiểu cụ.”
Cụ bảo: “Con người sở dĩ còn gần gũi được nhau là vì không hiểu nhau đấy.”
“Cụ nói chi lạ vậy?”
“Không phải sao? Mọi người đến với nhau bằng cái mặt nạ. Ngày nào mặt nạ rớt xuống, nhìn rõ mặt thật của nhau, ngày ấy hai bên trở thành kẻ thù.”
“Đúng vậy, cụ ơi! Tôi có thêm vài kẻ thù, nhưng mình không làm gì được nó, mới đau chứ.”
“Nếu tất cả mối thù đều có thể thanh toán thì lúc nào cũng thấy mọi người chém giết nhau.”
“Cụ là ai mà thấu rõ tình đời đến thế?” Tôi hỏi.
Cụ chỉ bộ đồ nghề: “Cậu thấy đó. Tôi là lão mài dao.”
“Phía sau tấm bình phong ấy là gì?”
“Cậu nghĩ tôi làm khổ nhục kế? Hahaha …”
Tiếng cười òa vỡ giữa đêm khuya. Vợ tôi thức giấc trở mình. Tôi thật không hiểu tiếng cười của cụ. Óc tôi đông đặc mù mờ không còn phân định điều gì. Tiếng cười như sảng khoái, lại nhuốm một nỗi gì u uất bi thương.
Cụ tiếp: “Trước ngày mất Miền Nam, nếu cậu biết hỏi một câu như thế thì những tên ăn mày, những thằng đi mua ve chai đồ cũ đâu có mặt, để sau này thay hình đổi dạng ra làm ủy viên, chủ tịch ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.”
Tôi ngạc nhiên, một cụ già mài dao mà có được tư tưởng thế sao? Tôi chợt nhớ chuyện Kinh Kha khi đến nước Yên làm bạn với người bán thịt chó và người gảy đàn trúc tên Cao Tiệm Ly, ngày ngày cùng nhau uống rượu. Lúc rượu say, Cao Tiệm Ly gảy đàn, Kinh Kha theo đàn mà hát, và cuối cùng ôm nhau khóc giữa chợ nước Yên như chỗ không người. Họ mượn rượu cho vơi bớt nỗi niềm u uất không thể tâm sự cùng ai. Còn cụ già mài dao, lòng cụ ra sao mà cũng ưu tư thế sự?
Sáng ngày, cụ đưa chúng tôi ra bến xe về Phnom Penh. Tôi mua cho mỗi người một ổ bánh mì thịt.
Cụ nhất định không nhận: “Hãy lo cho vợ con đi. Coi bộ tình trạng sắp tới của cậu bi đát lắm đấy.”
“Chuyện gì rồi cũng sẽ qua.” Tôi nói một câu mà lòng không chủ đích.
“Cậu còn có vợ con, nghĩa là chưa mất hết đâu. Ở xứ lạ quê người, mang bộ mặt ngơ ngáo như cậu, dễ bị chúng lấy mạng, và cướp vợ con đưa vào nhà thổ.”
Giờ phút chia tay, tôi còn nhiều bịn rịn. Nhưng cụ tỏ ra cương nghị dứt khoát, khác với vẻ người đờ đẫn mà tôi gặp chiều hôm qua.
“Đi đi. Cứ như đàn bà con gái thế này thì còn làm ăn gì được?”
Tôi lên xe, lòng vẫn tự hỏi cụ già mài dao là ai? Là ai?
Đ.. má, cho tao chửi mầy một tiếng Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng Cầm súng làm gì… chẵng lẽ hiếp dân Tao không tin lính lại hèn đến thế Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngỏ Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin Môi liền răng à thì ra vậy đó Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu Thân phận mầy cũng là Lê là Nguyễn Hà cớ gì…. mầy hèn đến thế sao Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến Mầy chết rồi, tao nghĩ chẳng đất chôn Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi Cứ đà nầy… chết tiệt còn sướng hơn Đàn gãy tai trâu…. xem chừng vô ích Giờ mầy nghe tao chửi còn hơn không.
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 14 Jun 2026
Mất hai ngày mới ra tới quân đoàn, y đến văn phòng trình diện. Viên thượng sĩ không có đấy, chỉ có người thư ký. Làng này ở cách một trăm hai mươi cây số về phía tây làng chiếm đóng ba tuần lễ về trước.
– Ở đây thế nào?
– Thật là rối rắm, bẩn thỉu. Nghỉ phép ra sao?
– Chẳng có đếch gì cả. Ở đây có gì lạ?
– Nhiều. Mày trông đấy thì biết bây giờ chúng mình ở đâu.
– Tiểu đoàn đâu?
– Một toán đào hầm, một toán chôn xác chết.
– Có nhiều sự thay đổi không?
– Rồi biết. Tao không nhớ còn những ai lúc mày đi rồi. Khá nhiều quân tiếp viện. Toàn nhãi con cả. Chúng nó như ruồi bu ấy không biết gì cả. Thiếu úy mới. Muke chết rồi.
– Hắn ra trận à?
– Không. Hắn đang đi cầu. Cả căn nhà bị bật tung.
Anh thư ký ngáp.
– Rồi mày sẽ biết. Tại sao về nhà không lãnh lấy một mảnh bom vào mông đít?
– Thì tao cũng tự hỏi vậy, mình nghĩ đến thì đã trễ quá rồi.
– Tao như mày tao cứ ở nhà thêm vài ngày. Lộn xộn thế này ai mà để ý.
– Ấy đây, về đến đây mới nghĩ ra.
.. Graber đi qua làng. Làng này cũng giống như làng trước. Những làng bị tàn phá, cái nào cũng như cái nào. Sự khác biệt đáng kể là không có tuyết. Nhưng bù lại đã có một lớp sình lầy. Giày lún xuống thật sâu, phải ra sức mới rút được chân lên mỗi bước đi. Người ta đã kê ván trên đường phố chính để dễ đi lại. Bước lên ván bẩp bênh, nếu giậm chân một đầu thì đầu kia ngóc lên.
Mặt trời chói chang, nóng hơn ở nước Đức nhiều. Graber lắng tai nghe ngóng ngoài mặt trận. Tiếng trọng pháo khi tăng khi giảm nhưng không bao giờ dứt hẳn. Y tìm cái hầm do người thư ký chỉ cho và ném bị vào một góc trống. Y lấy làm cay đắng mà tự trách mình không biết nghĩ thêm một hai ngày nữa; quả là không ai để ý đến sự có mặt của y. Y tiến ra đến ranh giới làng. Hầm mới đào một cách vội vã, chứa đầy nước, bờ lở xuống dần dần. Xa xa, bóng dáng một pháo đài bằng bê-tông.
Y vòng trở lại thì thấy đại úy Rahe ở trong làng. Ông ta đi trên những miếng ván như một con cò đeo kính. Graber đến chào.
– Anh may mắn lắm đó. Anh đi khỏi là bỏ hết phép nghỉ.
Hai mắt ông ta nhìn chăm chăm Graber:
– Anh nghĩ ít ra cũng được cái gì cho bõ công chứ?
– Vâng, có.
– Thế thì hay rồi. Ở đây bùn sình ngập tới cổ. Đành là những vị trí này chỉ tạm bợ thôi. Có lẽ rồi sẽ rút về những vị trí đằng sau. Anh có trông thấy không? Đến đây phải qua những vị trí ấy.
– Không, tôi không thấy.
– Cách đây độ bốn chục cây số.
– Chắc đi qua lúc trời tối. Vả chăng tôi ngủ suốt mấy ngày đi đường.
– Ừ, chắc là vì thế.
Rahe nhìn Graber như có ý hỏi. Ông ta muốn biết nhiều hơn.
– Trung úy Muller đã đền nợ nước. Bây giờ người thay thế là trung úy Mass.
– Vâng.
Rahe lấy cái roi thọc xuống bùn đọng bên rìa đường.
– Đất còn lầy lội thế này, quân Nga khó tiến pháo binh và chiến xa, chúng ta có thì giờ để chỉnh đốn hàng ngũ. Cái gì cũng có chỗ hay chỗ dở hé? Tôi rất vui lòng vì anh trở lại. Đây cần người thành thạo để huân luyện tân binh.
Ông ta lấy roi vẽ hình lên đất bùn hôi thối:
– Dân tình ở nhà ra sao?
– Cũng gần như chúng ta ở đây. Có nhiều trận oanh tạc.
– Đến nỗi như thế thật ư?
– Tôi không biết ở các tỉnh khác ra sao, nhưng chỗ tôi ở hai ba ngày lại có còi báo động.
Rahe nhìn Graber, muốn được nghe thêm chi tiết, nhưng Graber im lặng.
***
Những người khác trở lại ăn bữa trưa.
Immermann trông thấy Graber thì la lên :
– À! Chàng nghỉ phép! Sao còn trở lại chỗ địa ngục này làm gì? Sao không đào ngũ quách?
– Đào ngũ thì đi đâu?
Immermann gãi đầu:
– Sang Thụy Sĩ chẳng hạn.
– Trời, thế mà mình không nghĩ ra. Hàng ngày cả mấy chuyến xe lịch sự đầy người trốn lính! Xe mang dấu hiệu hồng thập tự để tránh bom, biên giới nước Thụy Sĩ tấp nập chào mừng người đào ngũ. Đồ khốn! Sao mày không nói trước?
– Trước đây tao vẫn nói thế chứ không đâu. Chắc mày lú ruột quên đi và nghe người ta xì xào ở hậu phương. Mấy lại chúng ta cứ lui binh hoài. Gần như tan vỡ rồi. Cứ lùi một trăm cây số là người ta lại làm rộn lên ca tụng chiến thắng.
Immermann cạo bùn khô bám ở quần áo.
– Muller chết rồi. Reinecke và Schroeder nằm nhà thương. Mucke bị thương ở bụng, hình như đưa về đến Varsovie thì chết. Lúc này ở đây còn ai nữa? À! Còn Berning hắn mất chân phải.
– Hirschland sao?
– Hirschland à?
– Nó cũng chết à?
– Mày chỉ nói dại, nó kia kìa!
Graber quay lại, Hirschland đang cọ rửa ga-men, ngồi trên cái thùng tô-nô cũ.
– Thế mà bà cụ ở nhà nói chắc rằng nó chết rồi, để tao hỏi lại nó.
Y lại gần Hirschland.
– Tôi có lại thăm má anh.
– Thật ư? Anh nhớ à. Thật tôi không hy vọng anh nhớ.
– Sao vậy?
– Vì tôi không quen được người ta làm giúp cái gì.
Graber bỗng nhớ lại mình suýt quên.
– Má tôi thế nào? Anh có nói là tôi vẫn mạnh?
– Má anh tưởng rằng anh đã chết rồi. Bà cụ nhận được thư chia buồn của đơn vị.
– Trời!
– Chính má anh nói với tôi như thế.
Hirschland mở to mắt:
– Thế mà ngày nào tôi cũng viết thư về!
– Bà cụ tin rằng thư của anh là thư viết từ trước đây.
– Nhưng làm sao lại có giấy báo tin ấy. Ở đây làm gì có nhiều tên Hirschland.
– Có lẽ là thư giả mạo.
– Ai lại dám giả mạo một tin như thế!
– Steinbrenner còn ở đây không?
– Còn. Y làm bàn giấy hai ngày sau khi trung sĩ bị chết. Người thư ký bị bệnh.
– Như thế thì thật là càn rỡ!
– Tôi cũng nghĩ thế.
– Công văn có phải đại úy Rahe ký không?
– Mẹ tôi biết đâu chuyện ấy. Đối với bà thì có chữ ký là đủ.
Việc này Graber càng thấy quái gở hơn.
– Đồ khốn nạn thật. Nhưng nó làm thế để làm gì?
– Để đùa nghịch thôi, để tôi cho một bài học vì tôi có máu Do Thái. Mẹ tôi biết tin thì người thế nào.
– Bà bình tĩnh. Anh phải viết thư về nhà ngay. Anh cho tôi gửi lời thăm, bà hẳn phải nhớ tôi.
– Thư đến nơi cũng mất nhiều thì giờ.
Graber thấy môi Hirschland run run.
– Vào văn phòng đi. Họ phải đánh điện tín về cho bà cụ yên lòng. Nếu không chúng ta nói lại với ông Rahe.
– Anh muốn làm to chuyện thế à?
– Sao lại không? Chúng ta còn có thể tố cáo Steinbrenner.
– Nhưng tôi thì tôi không làm, dù có thế nào chăng nữa. Tôi không có bằng chứng. Không, không thể được. Anh hiểu không?
– Vâng, tôi hiểu.
Graber buồn rầu mà trả lời.
– Nhưng anh cứ yên tâm chuyện này. Rồi cũng phải có lúc hết!
Đến bữa ăn tối y lại gặp Steinbrenner. Anh này vui vẻ quá chừng, nom như tượng một thiên thần nhỏ trung cổ rám nắng.
– Ở hậu phương dân chúng tinh thần có vững không?
Graber đặt ga-men xuống:
– Đến biên giới, một đại úy Mật vụ đã tụ tập chúng tôi lại và cho biết rằng không được nói gì về tình hình dân sự hậu phương, trái lệnh sẽ bị phạt nặng.
Steinbrenner bật cười.
– Tôi cũng là Mật vụ đây, anh có thể nói hết.
– Đâu đến nỗi ngốc thế. Phạt thật nặng có nghĩa là tử hình vì lũng đoạn tinh thần quân đội.
Steinbrenner bỗng trở nên nghiêm nghị :
– Nghe anh nói, người ta tự hỏi rằng không biết anh đã trông thấy cái gì kinh khủng ở hậu phương.
– Tôi không nói gì cả. Tôi chỉ nhắc lại lời nói của đại úy Mật vụ.
Steinbrenner nhìn y với hai mắt soi mói:
– Anh lấy vợ phải không?
– Anh biết nhiều nhỉ?
– Tôi biết hết.
– Anh đến văn phòng chứ gì, đừng làm bộ lém lỉnh. Anh đến văn phòng luôn.
– Tôi lại luôn vì người ta cần tôi. Mấy lại tôi cũng chờ dịp nghỉ phép để lấy vợ.
– Ủa? Anh đã biết anh lấy ai rồi à?
– Con gái một nhân viên Mật vụ cao cấp ở hạt tôi.
– Dĩ nhiên.
Steinbrenner không hiểu nổi luận điệu châm biếm; anh ta còn bận giải thích:
– Sự phối hợp hai loại máu như thế thật tốt đẹp nhất. Tôi sinh trưởng ở đông-Frise, vợ tôi ở Hạ-Saxe. Chúng tôi được hưởng thụ cấp “tăng tiến chủng tộc”, con cái được ăn học đến nơi đến chôn, Đảng sẽ cung cấp hết. Trong năm năm nữa vợ tôi có thể xin một chân “người mẹ Đức kiểu mẫu”. Nếu chúng tôi sinh được song thai hay đẻ sinh ba, Quốc trưởng sẽ đứng làm người đỡ đầu. Từ đứa con thứ năm trở đi cũng vậy. Anh thấy không, con đường của tôi đã vạch sẵn.
– Vâng, tôi hiểu.
– Sự tăng tiến giống nòi bằng đủ mọi cách! Thủ tiêu hết máu Do Thái chưa đủ, còn phải thay thế bằng giống Nhật Nhĩ Mãn thuần chủng. Con cháu những người cầm đầu.
– Chắc anh thủ tiêu nhiều người Do Thái lắm.
– Nếu anh được xem bảng công vụ của tôi chắc anh không cần hỏi câu ấy. Như thế mới là công tác chứ!
Y ra bộ nói riêng với Graber:
– Tôi đã xin đổi đi nơi khác. Tôi sẽ đi học lớp huấn luyện Mật vụ SS. Sẽ giữ nhiệm vụ quan trọng hơn và cũng lên chức mau hơn. Lên cấp trên người ta phải có kiến thức để nhìn sự vật với tầm mắt cao. Chẳng cần những hình thức pháp lý rườm rà. Có thể thanh toán từng khối lớn. Hôm trước người ta thanh toán ba trăm tên phản bội Nga và Ba Lan chỉ trong một buổi chiều. Sáu người được huy chương, ở đây chỉ thỉnh thoảng giết một thằng bắn trộm – mà không bao giờ được ban khen. Từ ngày anh đi, chỉ xử bắn chừng nửa tá giặc mà thôi. Trong khi ấy thì tụi com-măng-đô Mật vụ chúng nó làm kể hàng trăm người. Dĩ nhiên người ta căn cứ vào tỉ lệ ấy để cho thăng trật.
Hai mắt Graber chăm chăm dõi theo ánh nắng chiều tà đỏ rực ở bình nguyên nước Nga. Một vài con quạ bay lượn như những mảnh áo rách đen thui. Steinbrenner quả là sản phẩm hoàn hảo của Đảng. Anh ta hoàn toàn lành mạnh, được huấn luyện đầy đủ hoàn toàn không có gì là tư tưởng cá nhân, thật là một con người hoàn toàn hết nhân cách. Anh ta chỉ còn là người máy, đối với anh ta, những hoạt động như tập thể thao, lau chùi súng, giết người, đều không khác gì nhau.
– Anh gửi thư báo tin chết cho bà mẹ Hirschland phải không?
– Ai nói với anh như thế?
– Tôi biết.
– Anh không biết gì cả, làm sao biết được?
– Người ta đồn vậy. Kể ra anh chơi những cú ấy cũng là chịu chơi một cây!
Steinbrenner bật cười. Anh ta không có lấy một xu tinh thần hài bước. Khuôn mặt bảnh trai chỉ phản ảnh sự tinh nghịch ở ngoài quan niệm thiện ác.
– Anh thấy tôi chịu chơi thật à? Chắc bà già đọc bức thư ấy thì coi mặt thật là kỳ dị! Vả chăng cũng không có gì đáng ngại, Hirschland thì cho ăn kẹo cũng chẳng dám hé răng. Còn tôi thì thiếu gì cách nói, ai mà chả có lúc lầm lộn?
Graber trố mắt nhìn:
– Anh can đảm thật!
– Can đảm à? Cần gì can đảm, chỉ cần một chút xíu tinh thần hài hước.
– Can đảm chứ. Ai đã làm như thế thì chóng chết lắm. Ai cũng biết vậy.
Steinbrenner phá ra cười.
– Đồ ngốc! Chuyện đàn bà con nít!
– Không phải chuyện đàn bà con nít. Ai làm việc ấy là ký bản án tử hình. Luật trời đã nhiều lần thấy có thực.
– Thôi đi, anh nói mà không tin lời mình nói.
– Tôi tin hết mình, đáng ra anh cũng phải tin như tôi. Đó là sự tin tưởng lâu đời của dân Nhật Nhĩ Mãn. Tôi, tôi không muốn như anh.
– Anh điên khùng rồi!
Steinbrenner đứng dậy. Anh ta không cười nữa. Graber nói:
– Tôi được biết hai người đã làm những việc như thế. Mấy ngày sau họ bị giết chết. Một người thứ ba may mắn hơn, chỉ bị một viên đạn làm mất hạ nang thôi, hắn thành người bất lực. Có lẽ anh cũng thoát chết. Nhưng đừng nói đến sinh đôi sinh ba gì nữa. Hẳn là sẽ có người khác làm thay anh việc ấy. Vả chăng máu mủ người cha thì làm gì, chỉ cần thuần chủng thôi.
Steinbrenner kinh hoảng nhìn Graber.
– Sao anh lại có thể nhẫn tâm, vô nhân đạo được như thế? Vả chăng tôi cũng bất cần lời nói của anh.
Steinbrenner đứng một lúc nữa rồi thong thả đi. Graber nằm dài ra mảnh ván. Ngoài mặt trận súng nổ ầm ầm. Quạ vẫn tiếp tục lượn những vòng tròn ghê rợn. Bất thần y có cảm tưởng như chưa bao giờ y đi khỏi nơi đây.
***
Y phải gác đêm, lúc hai giờ đi tuần một vòng quanh làng. Bóng đen những căn nhà tàn phá nổi bật lên màn phông lửa pháo bông mặt trận. Trời rung chuyển, lóe sáng khi có một đợt pháo kích. Giày ủng quăng xuống bùn nằm phơi bụng như những linh hồn bị đày địa ngục.
Lần thứ nhất, đau khổ đè nặng xuống người y một cách tàn ác. Trong cuộc hành trình mấy ngày hôm trước, người y như say như tỉnh không nghĩ ngợi gì cả. Sự thất vọng bùng lên một cách đột ngột, hành hạ với những mũi dùi nhọn sắc.
Y dừng lại đứng đợi. Y đợi cho sự đau đớn hiện rõ thành một bộ mặt nhất định để có thể dùng đến lý trí, lý lẽ, sự an ủi mà tác động đến nó. Đổ tại số mệnh cả thì có lẽ bớt đau khổ.
Nhưng y đã thấy rõ hiển nhiên rằng sẽ mất hết, vô phương cứu vãn, y đã sáng suốt mà chịu cực hình thứ cực hình của người được tất cả rồi mất tất cả. Đường đi đã phá sập cầu rồi. Lắng tai, y còn nghe thấy một tiếng nói, một tiếng vang hy vọng, một lời an ủi thì thầm; nhưng quả thật không còn gì cả. Chỉ còn một sự trống rỗng, cái trống rỗng của đau khổ khôn tả.
Y nghĩ thầm: “Còn sớm quá. Để sau sẽ hay, khi nào sự đau đớn đã dịu đi”. Y tập trung hết nghị lực lại, y phấn đấu để khỏi lăn xuống vực sầu khổ, dẫu sao thì cũng chỉ là vấn đề đứng vững được một thời gian. Y nói đến tên những người thân, nhớ lại những kỷ niệm. Khuôn mặt Elisabeth bối rối mà y thấy lần cuối cùng hiện ra qua một màn sương mù. Những khuôn mặt khác không thể nào nhớ ra được. Y ráng hình dung ra mảnh vườn và căn nhà nhỏ của bà quán. Nhưng chỉ như đánh chiếc đàn câm. “Đã xảy ra cái gì đây không biết?”. Có lẽ đã xảy ra cái gì cho Elisabeth, có lẽ nàng bị thương. Có lẽ căn nhà vừa bị sập, có lẽ nàng đã chết.
Y rút giày ra khỏi bùn. Một tiếng kêu ì ọp. Mồ hôi toát ra ướt khắp người.
– Đã hết mệt chưa?
Đó là tiếng Sauer. Y đứng nấp ở góc một cái chuồng bò.
– Có người mong đợi anh ở cách hàng trăm cây số. Anh làm sao thế? Tập thể thao Thụy Điển à?
– Này Sauer, anh lấy vợ chưa?
– Từ mười lăm năm nay rồi. Sao lại hỏi?
– Lấy vợ lâu ngày thế thì mình thấy thế nào?
– Hỏi kỳ cục vậy? Vậy anh muốn nó thế nào?
– Thí dụ nghĩ đến vợ, mình có cảm thấy cái gì cầm giữ mình, mình nghĩ đến hoài và chỉ muốn quay về với vợ.
– Có cái gì cầm giữ mình thật, tôi cũng nghĩ thế. Suốt ngày tôi nghĩ đến những chuyện nhà, nào đi gạt rơm, nào trồng khoai. Ôi dà! Nghĩ đến mà thêm ốm người!
– Tôi không nói đến nông trại của anh. Tôi muốn nói đến vợ anh cơ.
– Thì cũng thế. Không có vợ lấy đâu ra vườn tược. Nhưng nghĩ đến để buồn thối ruột chứ làm gì! Thằng trời đánh thánh vật Immermann nó chỉ suốt ngày nói rằng tù binh ngủ suốt lượt với vợ lính ở nhà.
Sauer thở mạnh, rồi nhân sự liên tưởng kỳ dị, nói luôn:
– Tôi có một cái giường hai người nằm thật là rộng.
– Thằng Immermann chỉ nói nhảm nhí.
– Nó nói rằng đàn bà đã phải hơi đàn ông thì không có không chịu được.
Bất đồ Graber nổi giận: – À, thằng khốn! Thằng cộng sản ngu muội này tưởng tượng ra rằng ai cũng như nó cả. Ngu đến thế là cùng!
Trở về với hiện tại. Khi vợ tôi từ bụi rậm đi ra, trao cho tôi một nắm khâu vàng. Những chiếc khâu được buộc thành hai chùm bằng sợi chỉ còn ươn ướt.
Tôi đưa cho Nu: “Thêm phần này là đủ số.”
Nu cầm vàng, xòe ra nhìn, suy nghĩ. Tôi đâm lo. Tổng số vàng, vẫn còn thiếu một chiếc khâu hai chỉ. Nếu Nu phát giác chưa đủ số, làm khó trong giờ phút này thì thật rắc rối. Nhưng gã chẳng nói gì, đưa lên ngửi thử.
Tôi hỏi: “Anh thử vàng cái kiểu gì lạ vậy?”
Gã không trả lời, ra dấu bảo chúng tôi ngồi yên đấy, rồi bất ngờ quay lưng lủi khuất vào rừng rậm, nhanh như con chồn.
Tôi thảng thốt: “Anh đi đâu?”
Không có tiếng trả lời.
Tôi phóng theo: “Anh ơi! Anh ơi!”
Tiếng kêu không ai hồi đáp.
Tôi lại gào bằng tiếng Miên: “Bòn ơi! Bòn ơi!”
“Bòn” có nghĩa là “anh”, tôi học được từ lúc mới đặt chân lên đất Kampuchia. Dù đã gào hai tiếng “bòn ơi” thống thiết, nhưng Nu vẫn mất hút. Tìm loanh quanh một đỗi không thấy Nu, tôi tuyệt vọng trở lại con suối, ngồi lau mồ hôi, thở dốc. Vợ con tôi co rúm người, sợ hãi. Tôi chợt nghĩ đến những trường hợp đã từng xảy ra. Nhiều người lên Kampuchia vượt biên, bị lừa lấy hết vàng, rồi bị giết luôn để trừ hậu họa.
Tôi bảo vợ: “Em dẫn con Khuê tìm chỗ kín đáo ẩn núp. Anh ở lại đây chờ xem động tịnh ra sao.”
Khi nói điều đó tôi đã có chủ đích. Nếu chúng trở lại đưa đi thì coi như tôi hiểu lầm thiện ý của chúng. Nếu chúng manh tâm sát hại, tôi sẵn sàng một mất một còn với chúng.
Vợ tôi dẫn con tìm chỗ núp.
Tôi chạy theo dặn dò: “Dù có thế nào, em cũng đừng ra mặt.”
Ngồi một mình nơi lòng suối, tôi tự hỏi trong tay không một tấc sắt, lấy gì chống đỡ khi bộ ba của chúng trở lại? Và nếu muốn giết tôi, chúng phải tay dao tay búa sẵn sàng. Tôi khó mà thoát thân, nói chi đến chuyện dằn co ấu đả? Suy cho cùng, tôi quyết định bỏ của chạy lấy người.
Tôi đến chỗ vợ con đang trốn: “Phải rời khỏi nơi đây ngay.”
Vợ nói: “Chờ một chút. Có thể họ trở lại đưa mình đi.”
“Họ đưa đi mua muối.” Tôi gắt.
Vợ xót của: “Còn vàng trao cho họ thì sao?”
“Bỏ vàng, giữ lại cái mạng cùi.”
“Ráng chờ, anh ơi. Còn nước còn tát.”
“Nước nôi gì nữa mà tát? Hết vàng, nó sẽ lấy máu. Chạy ngay bây giờ, may ra còn kịp.”
Tôi nắm tay đứa con gái, băng ra đường. Ngoài đường trống trải. Thỉnh thoảng có xe qua lại, bọn sát nhân không dám làm ẩu. Trong khi chờ xe ngược về Kongpong Xom, vợ tôi ngồi bẹp xuống lề đường, thảm não khóc không ra tiếng. Chưa bao giờ tôi thấy cái mặt của vợ đau khổ như lúc này. Bao nhiêu tiền của chắt bóp dành dụm trong mười năm trời, chờ tôi ở tù về để cùng nhau vượt biên, bỗng chốc hóa thành trắng tay. Chuyện đời như sân khấu. Tự nhiên tôi bật cười khan. Chẳng biết tại sao tôi có thể cười được trong tình huống bi đát này? Ai đó đã nói, cười là tiếng khóc khô không lệ. Có phải tôi cười như thế không? Đời thật chó đẻ! Mình lao đao khốn khó, chạy trốn bọn ác ôn, lại gặp thằng thất đức.
Sau tiếng cười, tôi ngửa mặt lên trời, uất khí xung thiên: “Phật và Chúa đi đâu cả rồi? Sao không vặn họng mấy thằng quỷ sứ?“
Tôi muốn tiếng la vang rền cả thinh không như giọng gầm sư tử hống của Tạ Tốn. Nhưng sao tôi nghe tiếng mình nhỏ như tiếng con dế rè gáy trong bờ cỏ thấp.
Vợ tôi quẹt nước mắt, phẫn nộ: “Giờ phút này mà anh còn cười. Tôi hận anh!”
Mất của, vợ bắt đầu nổi điên, giở giọng ngang bướng xưng “tôi” với chồng.
Tôi dịu nhẹ: “Em không hiểu anh.”
“Tôi còn lạ gì anh mà không hiểu? Ai ở tù cũng đều rên xiết, nhưng anh ở tù với bộ mặt tỉnh bơ. Chuyện gì đối với anh cũng là trò đùa. Tôi mất vàng, tôi xót. Nhưng anh lại cười.”
“Em muốn anh làm sao?”
Vợ rít giữa hai hàm răng sắc lạnh: “Chém nó!”
“Anh không có dao. Anh sẽ cắn nó.”
Tôi vừa dứt câu, vợ tru lên đau đớn như sói tru trăng ngoài đại mạc.
Chúng tôi trở lại Kongpong Xom, bằng Honda ôm. Xe chở bốn người. Con Khuê ngồi trên bình xăng phía trước, trong lòng gã người Miên lái xe. Vợ chồng tôi ngồi phía sau. Trên đường đi, gã nói và chỉ trỏ vô rừng. Tôi không hiểu. Gã làm dấu bằng cách đưa bàn tay cứa ngang cổ. Ý muốn nói nhiều người đã bị giết dọc theo cánh rừng này chăng?
Hôm nay kỷ niệm 100 ngày nhà thơ qua đời, nhớ đến Nguyễn Chí Thiện chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ đến cuộc đời đày ải, bất hạnh của ông và ông xứng đáng là biểu tượng cho sự thánh thiện chống lại cái ác, hiểu tường sự thật chống lại sự dối trá. Nguyễn Chí Thiện đã dùng hết cuộc đời của ông, vắt cạn hết tuổi trẻ, trí tuệ của mình để viết nên những vần thơ, tưởng chừng như vũ bão, sấm sét nhắm vào chế độ cộng sản tàn ác, phi nhân; nhắm đến thủ phạm Hồ Chí Minh, đã mang đến thảm họa cho dân tộc Việt Nam, đày đoa hàng 41.chục triệu con người chúng ta suốt nữa thế kỷ lầm than này. Bất hạnh bởi lớn lên nhằm chế độ, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã chọn con đường của “một nhà văn suốt đời chân thật,” biết ghét và can trường chống lại cái Hiểm Ác, điều Dối Trá và sự Xấu Xa của chế độ Cộng Sản. Cũng bởi tôn trọng sự thật, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã vào tù lần thứ nhất, chỉ trong một giờ dạy sử giúp bạn, ông dã không theo kinh điển dối trá của đảng CS để nói rằng Lực lượng Hồng Quân của Liên Xô là nguyên do khiến Nhật Bản phải đầu hàng, chấm dứt Thế Chiến Thứ 2. Can trường giữ vững khí tiết với những vần thơ nhằm vào đảng Cộng Sản, ông đã liên tiếp chịu hai lần giam cầm tiếp theo, đã tàn phá hết cả tuổi thanh xuân của ông. Bằng những vần thơ vào trận, Nguyễn Chí Thiện đã chịu tất cả 27 năm giam cầm trong những trại tù khắc nghiệt, tồi tệ nhất của nhân loại. và chấp nhận cuộc sống 17 năm lưu vong từ năm 1995 cho đến khi ông qua đời.
Máu và nước mắt của ông trong tập thơ đầu tiên đã được ông mạo hiểm đưa vào tòa Đại Sứ Anh với những dòng chữ thống thiết:
“Nhân đanh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc.”
Chúng tôi thiết nghĩ không cần nhắc lại những giải thưởng văn học quốc tế dành cho ông, vì thơ Nguyễn Chí Thiện được phố biến trên thế giới, là tiếng nói oan khuất của những người đang bị áp bức, thiếu tự do, của những ai là nạn nhân của chế độ cộng sản, dù Đông hay Tây. Nguyễn Chí Thiện có thể có một chổ đứng xứng đáng nào đó trên văn đàn thi ca thế giới, nhưng gần gũi và đẹp đẽ nhất là ông đang đứng trong lòng bạn bè, đồng bảo xa gần, những nhà tranh dấu dân chủ trong nước, đã thương yêu, cảm phục ông và thơ ông sáng tỏa trong lòng hàng triệu người là nạn nhân hay đang tranh đấu chống lại chế độ cộng sản.
Thơ Nguyễn Chí Thiện là vũ khí sắc bén nhất, là ngọn lửa bùng lên từ con tim, từ tiếng nói xót xa của những người bị áp bức, của cả người sống lẫn người chết. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện không nhận mình là thi sĩ hay nhà thơ:
“Thơ cúa tổi không phải là thơ.
Mà là tiếng cuộc đời nức nỡ.
Tiếng cửa nhà giam ngàn đêm khép mở.
Tiếng khô khè hai lá phổi hoang sơ.
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ.
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ:”
Ông không hề kêu gào, máu trả máu, đầu trả đầu với chế độ đã giết hết hạnh phúc và tuổi thanh xuân của ông cũng như đưa hàng triệu người Việt Nam vào địa ngục với tai ương và bất hạnh. Đối với ông, trong tương lai, sự thương yêu và tính nhân ái sẽ thay thế độc tài, sắt máu:
“Khai sáng kỷ nguyên Tả trắng thắng cờ hồng …
Tiếng mục đồng êm ả, tình quê bao la
Thay tiếng “Quốc tế ca”
Bằng tiếng diều cao vút trong chiều tà
Trên ruộng đồng quê ta … “
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã cống hiến cuộc đời mình cho lý tường, ông không có tuổi thanh xuân, không có tình yêu, không có cả một mái ấm gia đình. Ông cho biết thời gian giữa những trại tù, là những ngày đói khổ, phải lo miếng ăn, chưa hưởng được một ngày no ấm, hạnh phúc. Mang thân phận một nhà văn lưu vong, từ ngày sang Mỹ, tuy không còn chật vật trong cuộc sống, ông vẫn có một cuộc đời đơn giản, chay tịnh, dành dụm từng đồng đô la để giúp cho bạn nghèo ở quê nhà, cho những công cuộc đấu tranh dân chủ trong mước.
Dù dau ốm bệnh tật, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng đã dùng thời gian đi đây dó, nói cho tuổi trẻ, nói cho hải ngoại về khát vọng tự do của đồng bảo và về những thủ đoạn gian trá của chế độ Cộng sản ở quẻ nhả.
Kỹ niệm 100 ngày nhà thơ Nguyễn Chi Thiện qua đời, chúng ta học hỏi được từ nơi ông: một nhân cách lớn, một thành tâm, thiện chí như cái tên của ông và tấm lòng trăn trở của ông đối với quê hương dân tộc, từ tuổi thanh niên cho đến lúc nhắm mắt buông tay. Gần gũi ông, trong đời sống hằng ngày mới thấy tấm long đôn hậu của ông. Ông không hề lợi dụng tấm lòng từ tế của ai, của cải, phương tiện và cả tình yêu, để giữ khí tiết, vị trí độc lập và thân phận của riêng mình. Ống là người trọng nghĩa khinh tài, đã có dịp “cho đi nhiều mà chẳng nhận bao nhiêu,” không hề lo lắng cho đời sống cá nhân của riêng ông. Chúng ta học hỏi ở ông sự can đảm và bình thản tột cùng trước nghịch cảnh, – ở trong tù không xin xỏ kêu van; mạo hiểm vào tòa Đại Sứ Anh để lúc ra, biết rằng phải bước thắng vào xà lim, cùm kẹp mà vẫn làm. Ra đến hải ngoại, ông đã bị bêu rếu, đánh phá, vùi dập, trong trường hợp này, chúng ta mấy ai đã giữ được tâm bình thản như ông. Gần ông mới thấy tấm lòng bình an, tha thứ của ông, tiết trực mà tâm hư, để cho tấm lòng rỗng không, không hề đhận thù, oán trách, giận hờn ai. Đó chính là thái độ của một kẻ sĩ.
Trên thế gian này, không có vị giáo chủ nào được ca tụng và tôn sùng mà không bị chửi bới, chỉ trích, xỉ vã. Đó là số phận của những bậc vĩ nhân. Điều mà cuối cùng chúng ta cần học hỏi nơi ông, quý báu nhất, là phải luôn luôn giữ vững lòng tin, lạc quan về một tương lai của dân tộc.
“Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẳn toàn sấm sẻt
Trong lũ người đói rẻt
Phục sẳn một doàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử … “
“Đảng như hòn đá tảng
Đè lên vận mạng quê hương
Muốn sống trong hòa hợp yêu thương
Việc trước nhất phải tìm phương hất xuống!”
Cà một cuộc đời tranh dấu như thể, nhắm mắt từ giã cuộc đời mà chưa thấy chế độ cộng sản tàn lụi, hẳn lòng ông chưa yên, linh hồn ông chưa siêu thoát. Hình như ông vẫn chưa đi đâu xa, đang ở gần chúng ta để hổ trợ, công việc chúng ta đang làm, ông đang ở cạnh các nhà tranh đấu dân chù, đồng bào khổ nạn, để cùng với ông một niềm tin như ông đã viết:
Tôi tin chắc một điều.
Một điều tất yếu.
Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu.
Tôi lại nghĩ một điều.
Một điều sâu thẳm.
Là đêm tàn Cộng Sản tối tăm.”
(Đọc trong buổi Tưởng Niệm Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện
Ta trở về, giáp mặt chiến tranh Ðồi cháy lửa mặt trời nhuộm đỏ Thau rượu đế mừng ta thằng lính sữa Dzô ông thầy! hữu sự có thằng em
Trung đội ta về, hai mươi mấy thằng con Thằng trai miền Nam hề, sinh thời ly loạn Ðứa gốc Kinh, đứa Nùng, đứa Thượng Ðứa độc thân, đứa con vợ đề đùm Ðứa gốc nhảy dù , đứa gốc đào binh Ðứa ăn chay trường , đứa thèm thịt chó
Ta ra trường núi sông nghiêng ngửa Tập chửi thề, gái, rượu, xung phong Hàng trang ta là lựu đạn dao găm Thêm tuổi trẻ ta già như quả đất Thêm một trái tim ngự đầy Chúa Phật Thêm một cõi lòng tràn ngập quê hương
Khi đánh nhau, thắng bại lẽ thường Chỉ mong đàn con bình an vô sự Chỉ mong trở về gặp nhau đụng rượu Lỡ chết rồi hồn cũng thoát thành men
Ta cần gì giáp sắt che thân Gánh gì đồ chiến tranh cho nặng Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẩng Trong túi ta một gói thuốc chuồn Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm
Mấy năm trời giày da vẹt gót Ngày lãnh lương về chợ dưỡng quân Cám ơn những nàng má phấn môi son Yêu ta vội vàng trước khi tiếp Mỹ Con gái tiểu thư mơ toàn hoàng tử Còn ai chia giùm ta con rận hành quân?
Ta lính miền Nam hề, gốc nho phong Không chiến tranh cũng thành đốc tờ, đốc tiếc Thời thế đẩy đưa ta làm lính chiến Mang nỗi buồn như rừng lá khai quang Ta đứng giữa trời bốn phía rưng rung
Em mười lăm đi làm đĩ Mỹ Thằng nhỏ mười ba học đòi sát ngụy Ma quỉ phương ngoài học xẻ Trường Sơn Ðất nước ta, cường quốc bán buôn Hậu phương ăn chơi biểu tình đảo chánh Lúc đồng đội ta sống lên chết xuống Một đám ở nhà nhảy nhót thâu đêm Lãnh chúa ta thì ăn trước ngồi trên Hùng hổ lắm nhưng mạt hèn cũng lắm …
Khóa của ta Trên mấy trăm thằng tình nguyện Ði nhảy dù, thủy bộ, thám báo ” ác ôn “ Ðứng đợi cả ngày để bốc lá thăm Toàn thứ dữ mà vui như chợ tết Có đứa mang bằng kỹ sư về nước Chọn cọp ba đầu rằn làm lính tiền phong Ta lính miền Nam hề, vận nước ngửa nghiêng Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết Một nơi nào hơn ở Việt Nam? Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam?
Trong chuyến mang vàng lên Kamphuchia. Vợ giao tôi cất giữ năm khâu vàng, còn bao nhiêu vợ giữ. Lúc qua biên giới Việt- Miên, công an biên phòng xét hỏi. Tôi sợ quá, nhét ba chiếc khâu vô hậu môn, nghe nhói cấn khó chịu. Còn lại hai khâu không biết giấu đút nơi nào, tôi cho vô miệng nuốt luôn, trước khi họ mò xét khắp người. Tôi qua khỏi, chỉ lo vợ bị rắc rối. Nhưng vợ tôi cũng qua luôn. Sau đó, tôi hỏi em giấu ở đâu mà tài thế? Vợ mỉm cười, không nói.
Khi đến Phnom Penh, người dẫn mối gởi chúng tôi tạm trú nơi nhà người Miên. Tôi bắt đầu móc ba chiếc khâu trong hậu môn, nhưng thọt ngón tay vào không đụng. Không biết tại sao nó chạy tuốt vô sâu? Tôi hoảng. Vợ bảo, nó nằm trong phần ruột già, không đáng ngại. Khi đi cầu, phân sẽ tống nó ra trước.
Đúng như vợ dự đoán. Hôm sau tôi đi cầu. Thỏi phân như cục đất sét khô, đẩy ba chiếc khâu rớt xuống cái bô nhựa. Tôi dùng que bới cục phân, không tìm được hai chiếc khâu đã nuốt. Tôi tính đem đi đổ. Vợ giựt cái bô lại, bịt mũi rà tìm lần nữa. Vẫn không thấy.
Ngày hôm sau, tôi không đi cầu. Bao nhiêu lo lắng dồn dập làm bộ tiêu hóa nổi chứng rối loạn bất thường. Vả lại mấy ngày không ăn rau, tôi bị táo bón. Vợ nóng ruột, mua cho tôi một liều thuốc xổ. Tôi uống thuốc với nhiều nước. Và nửa khuya đêm đó, như cái nút chai bung ra, tôi tháo dạ ào ạt. Quậy trong cái chất lợn cợn dậy mùi. May quá, bắt được một khâu. Còn một khâu đi đàng nào?
Thêm ngày hôm sau nữa, tôi lại nín ỉa. Cứ vài tiếng đồng hồ, vợ bảo xách cái bô vô buồng ngồi rặn, quyết tìm cho ra chiếc khâu.
Tôi nói: “Bụng trống không, rặn thế nào được?”
“Mất chiếc khâu hai chỉ là chết em.” Vợ nhăn nhó.
“Nó không ra, anh sẽ bị nguy. Em không lo cho tính mạng anh, chỉ tiếc của.”
“Nó còn trong ấy, không đáng ngại. Sợ ra rồi mà mình không bắt gặp mới chết chứ?”
Đến ngày chúng tôi lên đường đi Kongpong Xom, chiếc khâu vàng vẫn còn lẩn trốn đâu đó trong cái dạ dày, hoặc khúc ruột ngoằn ngoèo của tôi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.