Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 15 Jun 2026

Chúng tôi lên tới chợ Kongpong Xom, lúc mặt trời sắp lặn. Từ khi rời Kongpong Xom cho đến lúc trở lại, chỉ cách bốn tiếng đồng hồ. Chúng tôi, những người đi tìm tương lai bỗng hóa ra kẻ đầu đường xó chợ. Tôi lang thang, làm quen với một cụ già người Việt hành nghề mài dao cho các thớt thịt. Tôi bịa ra chuyện đi tìm người bà con nhưng địa chỉ không rõ ràng nên bị lạc. Đồng thời tôi xin cụ giúp chỗ tạm trú qua đêm. Đêm đó, cụ dẫn chúng tôi về chỗ ngủ của cụ. Đây là chái hiên lề đường, bên hông một tiệm sửa Honda và xe đạp. Dọc theo các chái hiên khác, có những người hành khất nằm ngủ. Cụ nhường chiếc sạp cho vợ con tôi. Sạp kê sát đất bằng những mảnh gỗ vụn ghép lại. Cụ và tôi trải manh chiếu trên nền đất. Hơi đất lành lạnh dưới lưng, mùi dầu nhớt bốc thoang thoảng. Tôi nằm gối đầu lên bọc quần áo.

Cụ nói: “Đừng sợ mất đồ. Cùng đinh ăn mày cũng có nghĩa khí của cùng đinh ăn mày.”

“Tôi đã mất tất cả rồi. Chẳng còn gì để mất thêm.”

Tôi nói trong niềm cay đắng. Không ngờ có một ngày, mình rơi vào nỗi tận cùng bệ rạc thế này.

Nửa khuya, cụ già ngồi dậy quấn thuốc hút. Anh đèn đường vàng vọt soi không rõ. Khuôn mặt cụ nhòe bóng tối. Hình ảnh âm u, in lên nền phong héo úa như một tấm tranh đời bi thiết. Mọi vật quanh tôi đều im lìm sâu lắng. Chỉ còn tiếng muỗi vo ve. Đầu thuốc cháy, từng chặp lóe đỏ lên là điểm sáng duy nhất còn linh động.

Vợ con tôi ngủ mê mệt sau một ngày vất vả. Tôi trằn trọc đau xót mãi khôn nguôi, ngồi lên xin cụ điếu thuốc. Thuốc gắt quá, tôi ôm ngực ho sặc sụa. Nước mắt tuôn trào ràn rụa. Cụ già vỗ nhẹ vào lưng tôi như đè xuống một cơn ho, như an ủi một niềm thống khổ. Tôi quay ra ngoài hỉ mũi rẹt rẹt, và chùi nước mắt.

Cụ nói: “Dẫn vợ con đi vượt biên. Coi chừng mất mạng đấy.”

Dù tôi không bày tỏ, nhưng cụ đã biết cả rồi.

Cụ tiếp: ”Lần sau đừng dại dột tin lời người khác. Hãy về Việt Nam đi.”

Tôi nín thinh, nhìn qua dãy nhà tối ám bên kia đường. Còn có một chỗ nào để đi về không? Sau thời gian vắng mặt không lý do, tôi về là tự đem thân nạp mạng cho chính quyền địa phương.

“Cụ ơi, tôi không thể về. Tôi hết đường tới, chẳng còn đường lui.”

“Phải có cách giải quyết chứ?”

“Tôi ở lại Kampuchia, tìm việc làm.”

“Làm gì? Cái tướng trói gà của cậu khuân vác không nổi. Tính kế lừa thiên hạ ư? Tôi cho cậu biết, ở đây con người như lang sói. Cậu chưa kịp lừa ai, thiên hạ đã lừa cậu mất rồi.”

“Tôi muốn chẻ đầu bọn lừa đảo.” Khi nói, tôi nhìn những con dao chặt thịt to bản, để kế bên bộ đồ nghề mài dao của cụ.

Cụ ngó vào mặt tôi: “Dám không?”

Lời cụ như cái thước đo xem tính khí liều lĩnh của tôi tới cỡ nào. Cái mạng của bọn kia, đáng triệt tiêu để trừ bớt ung nhọt cho xã hội. Còn cái thân tôi sau đó, nếu không chết cũng chịu một hậu quả vô cùng khốc liệt. Nó có xứng đáng để tôi đánh đổi một hậu quả như thế hay không?

Cuối cùng, tôi lắc đầu nói với giọng yếu xìu: “Tôi hèn.”

Cụ quấn cho tôi thêm điếu thuốc: “Hàn Tín chịu luồn trôn giữa chợ, vì không thể lấy cái mạng đáng giá muôn người, đổi mạng của tên vô lại.”

“Tôi không thể so với Hàn Tín. Tôi hèn, vì tôi quá thương tôi.”

“Còn biết thương mình là còn ham sống. Từ từ làm lại cuộc đời.”

Cách lý luận của cụ già, tôi thấy lạ. Với một cái đầu như thế, sao lại chịu sống hẩm hiu như người hành khất?

Tôi nói: “Tôi không hiểu cụ.”

Cụ bảo: “Con người sở dĩ còn gần gũi được nhau là vì không hiểu nhau đấy.”

“Cụ nói chi lạ vậy?”

“Không phải sao? Mọi người đến với nhau bằng cái mặt nạ. Ngày nào mặt nạ rớt xuống, nhìn rõ mặt thật của nhau, ngày ấy hai bên trở thành kẻ thù.”

“Đúng vậy, cụ ơi! Tôi có thêm vài kẻ thù, nhưng mình không làm gì được nó, mới đau chứ.”

“Nếu tất cả mối thù đều có thể thanh toán thì lúc nào cũng thấy mọi người chém giết nhau.”

“Cụ là ai mà thấu rõ tình đời đến thế?” Tôi hỏi.

Cụ chỉ bộ đồ nghề: “Cậu thấy đó. Tôi là lão mài dao.”

“Phía sau tấm bình phong ấy là gì?”

“Cậu nghĩ tôi làm khổ nhục kế? Hahaha …”

Tiếng cười òa vỡ giữa đêm khuya. Vợ tôi thức giấc trở mình. Tôi thật không hiểu tiếng cười của cụ. Óc tôi đông đặc mù mờ không còn phân định điều gì. Tiếng cười như sảng khoái, lại nhuốm một nỗi gì u uất bi thương.

Cụ tiếp: “Trước ngày mất Miền Nam, nếu cậu biết hỏi một câu như thế thì những tên ăn mày, những thằng đi mua ve chai đồ cũ đâu có mặt, để sau này thay hình đổi dạng ra làm ủy viên, chủ tịch ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.”

Tôi ngạc nhiên, một cụ già mài dao mà có được tư tưởng thế sao? Tôi chợt nhớ chuyện Kinh Kha khi đến nước Yên làm bạn với người bán thịt chó và người gảy đàn trúc tên Cao Tiệm Ly, ngày ngày cùng nhau uống rượu. Lúc rượu say, Cao Tiệm Ly gảy đàn, Kinh Kha theo đàn mà hát, và cuối cùng ôm nhau khóc giữa chợ nước Yên như chỗ không người. Họ mượn rượu cho vơi bớt nỗi niềm u uất không thể tâm sự cùng ai. Còn cụ già mài dao, lòng cụ ra sao mà cũng ưu tư thế sự?

Sáng ngày, cụ đưa chúng tôi ra bến xe về Phnom Penh. Tôi mua cho mỗi người một ổ bánh mì thịt.

Cụ nhất định không nhận: “Hãy lo cho vợ con đi. Coi bộ tình trạng sắp tới của cậu bi đát lắm đấy.”

“Chuyện gì rồi cũng sẽ qua.” Tôi nói một câu mà lòng không chủ đích.

“Cậu còn có vợ con, nghĩa là chưa mất hết đâu. Ở xứ lạ quê người, mang bộ mặt ngơ ngáo như cậu, dễ bị chúng lấy mạng, và cướp vợ con đưa vào nhà thổ.”

Giờ phút chia tay, tôi còn nhiều bịn rịn. Nhưng cụ tỏ ra cương nghị dứt khoát, khác với vẻ người đờ đẫn mà tôi gặp chiều hôm qua.

“Đi đi. Cứ như đàn bà con gái thế này thì còn làm ăn gì được?”

Tôi lên xe, lòng vẫn tự hỏi cụ già mài dao là ai? Là ai?


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment