Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 16 Jun 2026

Du kích!

Steinbrenner thè lưỡi liếm môi và nhìn thấy người Nga. Có hai người đàn ông và hai người đàn bà. Một người đàn bà còn trẻ măng, hai má phinh phình, gò má cao. Họ mới bị bắt sáng nay.

Graber nói:

– Trông không có vẻ quân du kích.

– Họ là quân du kích. Sao anh biết rằng không phải?

– Không có vẻ là du kích. Họ là nông dân thì phải hơn.

Steinbrenner cười:

– Nói như anh thì không bao giờ bắt được đứa giết người.

Graber thấy đại úy Rahe đến nơi, y nghĩ thầm: “Đúng thế. Mày tiêu biểu nhất cho loại người nhắm mắt làm liều”.

Rahe hỏi:

– Bây giờ định làm gì họ?

– Bắt được họ ở đây. Phải giam lại đến khi có lệnh.

– Rắc rối nhiều rồi. Sao không gửi về đồn?

Rahe không đợi trả lời. Đã lâu nay không đóng đồn ở nơi nào nhất định. Giả sử có thể làm được thì bộ tham mưu gửi người đến thẩm vấn và định đoạt.

Steinbrenner vội nói thêm:

– Ở đầu làng có một nhà giàu ngoài xây cái vựa cửa có khóa.

Rahe quay lại. Ông ta đã đoán ra ý của Steinbrenner. Đối với anh này thì người Nga vẫn muốn trốn ra ngoài để rồi rước lấy cái chết.

Rahe bảo Graber:

– Đem tù binh đi. Steinbrenner chỉ cho anh xem cái vựa khóa ở chỗ nào. Xem lại thật có cửa đóng không hay còn lối đi nào khác. Để một người ở đấy canh và trở ra lại cho tôi biết tin. Anh lấy người trong đội của anh. Coi có mình anh trách nhiệm thôi.

Một người tù binh đi khập khiễng. Người đàn bà già bệnh tật, người trẻ tuổi đi chân đất. Ra khỏi làng, Steinbrenner nhát vào lưng một người:

– Thôi đi đi.

Người này kinh ngạc quay lại. Steinbrenner cười ra hiệu thả cho họ đi:

– Tha cho mày, đi đâu thì đi!

Người Nga già nói mấy câu tiếng Nga, người kia không nhúc nhích. Steinbrenner đá y một cái.

– Đi không, con khỉ!

Graber bảo y:

– Thôi kệ họ. Anh không nhớ đại úy bảo gì à?

Steinbrenner thầm thì:

– Mình có thể để bọn chúng chạy, tôi nói mấy thằng đàn ông ấy. Họ chạy độ mươi bước thì ta cho mỗi thằng một phát là yên. Còn đàn bà thì nhốt lại, đêm nay đến kiếm con nhỏ kia.

– Thôi để yên cho họ, anh về đi. Tôi được lệnh chỉ huy.

Steinbrenner đưa mắt thèm muốn nhìn bắp chân người phụ nữ trẻ. Người này mặc váy ngắn hai chân rám nắng và cứng cáp. Y nói:

– Dù sao thì họ cũng bị xử bắn. Mình có thể gỡ tạm con bé kia một đêm. Anh thì anh không cần, anh mới nghỉ phép về.

– Câm miệng đi, hãy nghĩ đến vợ chưa cưới của anh. Đại úy bảo anh chỉ cho xem vựa củi đâu, thế thôi, đừng lắm chuyện.

Họ đi vào lối dẫn đền căn nhà sơn trắng.

– Kia kìa!

Steinbrenner tức giận chỉ cho xem một cái vựa còn nguyên vẹn.

Tường bằng đá, cửa đóng thêm một tấm lưới sắt chắc chắn, đứng ngoài có thể cài lại được.

Y mở cửa dẫn mấy người vào. Hai tân binh tay cầm súng đứng cạnh. Mấy người tù binh bước vào cái vựa chật chội, người nọ đi sau người kia. Graber khóa cửa và thử xem có chắc không. Cửa rất chắc.

Steinbrenner nhạo báng:

– Vào cũi nhé! Coi thật y như đàn khỉ! Ăn chuối không, lũ khỉ kia?

Graber quay lại với mấy người tân binh:

– Các em đứng đây coi. Các em chịu trách nhiệm nếu xảy ra chuyện gì. Rồi sẽ có người đến thay phiên.

Y hỏi mấy người Nga:

– Có ai biết nói tiếng Đức không?

Không ai trả lời.

– Rồi sẽ kiếm cho mấy người ít rơm.

Steinbrenner lại châm biếm:

– Sao không kiếm gối nữa?

– Thôi đi! Còn các em nên cố để ý canh phòng.

***

Graber về nói lại với Rahe và nhận lấy trách nhiệm về nơi giam tù binh.

– Anh trông coi họ với vài người nữa. Trong vài ngày khi nào tình thế sáng sủa, chắc là có người đến lãnh lấy nhiệm vụ ấy cho chúng ta.

– Vâng, đại úy.

– Hai người có đủ không?

– Đủ. Vựa ấy chắc chắn. Tôi có thể đến đây ngủ để canh.

– Đồng ý. Thế càng hay. Tôi đang cần huấn luyện tân binh gấp. Tin tức…

Bỗng Rahe ngừng lại:

– Chắc anh cũng biết rõ như tôi tình hình thế nào rồi. Thôi anh về.

Graber đi kiếm đồ đạc của mình. Y chỉ biết ít người trong đội, Immermann nói :

– Bây giờ anh trở thành người canh tù.

– Tôi thích như thế còn hơn dạy tân binh. Ít ra mình còn ngủ được.

– Tôi có cảm tưởng rằng anh không có thì giờ ngủ đâu. Anh có nghe tin tức không?

– Có. Thối chịu không nổi!

– Quân Nga thấu nhập tứ phía. Chỉ toàn là nói hoẹt, đại tấn công với tiểu tấn công, ở đây là đồng bằng khó mà chống đỡ. Tôi có cảm tưởng rằng chúng mình lại rút lui.

– Anh có cho rằng họ tiến đến biên giới thì thôi?

– Còn anh, anh có nghĩ thế không?

– Không.

– Tôi cũng không. Ai đứng ra mà điều đình.

Hẳn là không phải Tổng tham mưu rồi. Họ không gánh lấy trách nhiệm. Năm 1918, họ đùn việc ấy cho một chính phủ lâm thời cấp tốc thành lập. Mấy anh chính khách tưởng bở đưa đầu ra hứng lấy, ký thỏa ước đình chiến được tám ngày, họ bị lên án phản quốc. Ngày nay thì bại trận cũng toàn diện. Không có đảng chính trị nào để đưa ra điều đình. Graber chua chát:

– Trừ đảng của anh. Anh vẫn thường nói thế. Dù sao thì cũng chỉ là chính phủ độc tài khác, chính sách vẫn y hệt. Thôi tôi ngủ đây. Tôi chỉ cần được để yên cho mình muốn nghĩ gì thì nghĩ, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Từ ngày tả phái cũng như hữu phái lọt vào tay những người muốn làm tiên tri, thì tội ác tầy trời.

Nói rồi y lại hối hận đã tranh luận vô bổ với Immermann: đối với anh này cũng như đối với Steinbrenner không thể nào có đối thoại được. Y vác bị lên vai và ra xe thực phẩm. Một bát cháo đậu, một miếng bánh mì và một khúc xúc xích. Như vậy khỏi cần trở về làng cho đến sáng hôm sau.

***

Buổi quá trưa yên lặng một cách kỳ dị. Tân binh đã đi khỏi và đã mang rơm đến. Mặt trận vẫn không yên tiếng súng, nhưng suốt ngày không có báo động. Trước vựa củi, cỏ đã mọc tốt um. Tuy có nơi bị dày xéo và hố đạn, nhưng cỏ xanh tốt, từng khóm hoa nở dọc theo lối đi.

Graber khám phá ra phía kia lối đi còn có một tòa nhà có chỗ chưa bị phá, ở đấy có thể canh chừng vựa củi nhốt tù binh. Bước vào xem thì thấy còn vài cuốn sách. Những sách cổ đóng bìa da, gáy thếp vàng, nhưng nắng mưa đã làm hư, chỉ còn một quyển có thể đọc được, Graber không đọc được trang sách viết bằng tiếng Pháp, nhưng có nhiều hình chụp những phong cảnh nên thơ gợi nhớ đến cái buồn êm ái, y như bị thôi miên. Khi gập sách lại y còn thấy lòng nao nao nhớ nhung vô vọng.

Y bước vào lối đi dưới bóng cây và bên bờ hồ, đứng gần tượng một con thú còn đứng trơ trơ với điệu múa yên lặng giữa bụi gai. Con thú đã chỉ gãy mất hai sừng trong hai trận chiến tranh và cuộc cách mạng. Con thú đá cùng một thời với hình ảnh cuốn sách tiếng Pháp, nó đã chứng kiến một thời đại huy hoàng mà Graber chưa từng biết. Y ra đời thời thế chiến thứ nhất, lớn lên trong sự nghèo khổ và đảo lộn kế theo đó; y mới bắt đầu sống thực sự từ lúc có đệ nhị thế chiến. Y đi vòng hồ nước một lượt thì đến gần vựa củi bèn lấy tay thử lại tấm rào sắt. Chắc là trước kia không phải cửa sau vựa, sau này mới xây vào. Có lẽ chủ nhà này đã chết sau hàng rào sắt này.

Người đàn bà nằm ngủ. Người trẻ tuổi ở một góc nhà. Hai người đàn ông đứng nhìn trời. Thấy Graber họ cùng quay lại nhìn. Graber quay đi và ra ngả lưng trên bãi cỏ.

Một đám mây lững thững bay qua bầu trời. Chim ríu rít trong bụi. Một con bướm xanh la cà từ bông hoa này sang bông hoa khác trên hố bom. Một lát sau, con bướm nữa bay lại, hai con đùa giỡn, đuổi theo nhau. Ngoài mặt trận tiếng súng thêm mạnh. Hai con bướm giao nhau cùng bay cao lên trên không ấm áp và sáng lạn. Graber ngủ thiếp đi.

***

Đến tối, một tân binh mang canh lại cho tù binh, vẫn canh buổi trưa còn lại, nhà bếp đổ thêm ít nước. Anh ta đứng đợi ăn xong rồi cầm ga-men đi. Anh ta cũng mang lại cho Graber khẩu phần thuốc. Graber được nhiều hơn thường lệ. Điềm xấu. Khi nào thức ăn ngon và thuốc lá nhiều thì tai nạn lớn chẳng xa gì.

– Trưa nay tụi em phải tập thêm hai giờ. Bò sát đầt – ném lựu đạn – đánh nhau với lưỡi lê.

– Đoàn trưởng biết thế là cần chứ không phải ghét bỏ gì các em mà bắt phải tập tành khó nhọc.

Người tân binh gật đầu. Anh ta còn đứng ngắm nghía mấy người Nga như những con vật kỳ dị. Graber bảo y:

– Họ cũng là người.

– Cũng là người nhưng là người Nga.

– Thì hẳn là người Nga, thế thì sao? Cầm lấy súng, chúng ta đưa từng người đàn bà ra một.

Y quay lại nói qua rào sắt:

– Tất cả sang bên trái. Bà già ra trước, sau đến lượt những người khác.

Người Nga già nói mấy tiếng Nga. Tù binh nghe theo. Anh tân binh đứng cách vài bước, tay cầm súng. Người đàn bà già lại gần. Graber mở cửa cho ra rồi đóng cửa lại. Bà ta khóc chảy nước mắt, vì tưởng rằng bị đem ra bắn. Graber bảo người Nga già:

– Bảo cho bà ta biết rằng không sợ gì cả. Để đi tiểu tiện.

Ông già nói vài tiếng. Bà ta thôi khóc ngay, hai người dẫn bà ta ra một góc tường, đợi trở lại rồi dẫn về. Đến lượt người trẻ. Chị này đi thon thót và dẻo dang. Đến lượt đàn ông thì dễ dàng hơn. Chỉ cần dẫn ra sau nhà và đứng canh. Anh tân binh cẩn thận cầm súng bằng hai tay môi dưới thưỡi ra, mắt đăm đăm nhìn. Rồi anh ta đưa người đàn ông kia vào và đóng cửa.

Trở lại gần Graber, anh tân binh nói:

– Làm công việc này thú vị thật.

– Mỗi người có một cái thích. Thôi em mang đồ về đi.

Nói rồi y đặt súng xuống, đợi người tân binh đi khỏi y lấy thuốc ra đưa cho người Nga già bốn điếu, đánh diêm đưa qua rào sắt cho đốt thuốc, cả bốn người cùng hút. Bốn chấm đỏ trong chỗ mờ tối, thuốc hút vào làm sáng chút mặt người Graber nhìn người đàn bà trẻ, bất thần y nhớ đến vợ lạ lùng.

Người Nga già theo dõi mắt Graber bèn lẩm bẩm:

– Anh… tốt.

Hắn kề mặt gần gióng sắt:

– Đức thua trận. Anh người tốt.

Hắn hạ thấp giọng.

– Im mồm!

– Cho chúng tôi ra… Theo chúng tôi!

Khuôn mặt nhăn nheo quay ra nhìn người đàn bà trẻ và quay lại nhìn Graber.

– Nga đây… Theo Nga… Chúng tôi bảo chỗ trốn… sống với chúng tôi.

Hắn nhắc đi nhắc lại mãi.

Graber lắc đầu và nghĩ thầm: “Như thế không phải là một cách giải quyết. Không được. Nhưng thế nào là một cách giải quyết”.

Người Nga già nhắc lại:

– Sống… đừng chết… đừng làm tù binh… Anh tốt, đừng chết… tốt với chúng tôi… Chúng tôi không có tội…

Graber quay lưng lại. Giản dị quá! Trong ánh sáng mờ ngày tàn này, thật là giản dị! Có lẽ họ vô tội thật. Người họ không có khí giới và họ không có quân du kích. Hai người già thì rõ là vô tội rồi. “Nếu mình thả họ ra mình cũng làm được điều lành, mình đã cứu người vô tội. Nhưng không thể đi theo họ được. Mình không thể đi theo cái gì mình muốn bỏ trốn”. Bây giờ bụi cây đã in hình đen lên trên nền trời. Y trở lại vựa củi. Một điếu thuốc còn cháy ở trong rào sắt. Mặt người Nga già vẫn áp vào gióng sắt và lải nhải:

– Sống, sống với chúng tôi…

Graber lấy mấy điếu thuốc cuối cùng ra đặt vào bàn tay chai cứng người Nga già và cho thêm mấy que diêm.

– Sống… Anh còn trẻ… anh tốt… chúng tôi vô tội… sống, sống… mọi người sống…

Tiếng lải nhải như bài kinh nghe êm ái thâm trầm. Lão ta nói tiếng sống như người lái buôn nói bơ, như cô gái điếm nói tình, nói với giọng khẩn khoản đường mật và quyến rũ bỉ ổi. Bỗng dưng Graber giận sôi ruột.

– Câm ngay miệng. Nếu không, đi tố cáo lão bây giờ!

Y quay lại và rảo cẳng đi. Tiếng súng ở xa mỗi lúc thêm lớn. Sao bắt đầu lấp lánh. Bất thần sự cô đơn đè nặng xuống người, y lại tiếc cảnh màn trời chiếu đất mấy ngày trước. Hình như mình bị bạn bè bỏ mình khi phải quyết định một việc quan trọng.

Y nằm dài ra ổ rơm trong căn nhà nhỏ và cố ngủ một giấc. “Có lẽ họ sẽ tìm cách thoát thân được trước khi mình biết”. Y nghĩ vớ vẩn vậy nhưng biết rằng không có ai giúp thì họ không thể ra được.

Mặt trận có vẻ mỗi giờ mỗi tiến lại gần. Phi cơ bay khuất trên cao rầm rộ đi qua làng. Đã nghe rõ tiếng liên thanh khạc đạn. Rồi đến lượt tiếng ầm ầm bom nổ. Tiếng động dâng lên như nước thủy triều. Y nghĩ hoài: “Nếu có thể trốn được?”. Trở lại vựa củi thì thấy vẫn nguyên như cũ. Mấy người Nga có lẽ ngủ rồi. Nhưng hình như vẫn còn thấy khuôn mặt lão già. Y vội vàng chạy xa.

Đến nửa đêm thì không còn nghi ngờ gì nữa: trận đánh đang ác liệt. Trọng pháo bắn xa lắm, chẳng bao lâu nữa làng sẽ ở trong lằn đạn. Y biết rằng vị trí của mình rất xung yếu. Dù sao y cũng theo dõi sự tiến triển của trận đánh. Chẳng còn bao lâu nữa chiến xa sẽ kéo đến. Bom lửa bây giờ rung chuyển mặt đất, tiếng nổ dội đi dội lại khắp chân trời làm rung động con người thấu xương tủy. Y biết rằng chiến trường dâng lên như thủy triều, chẳng bao lâu sẽ đến chỗ y nằm, tuy nhiên y cũng có cảm tưởng rằng căn nhà trắng mỏng mảnh, bốn người Nga và chính y nữa là trung tâm của chiến trường, vận mệnh tùy thuộc có thế, và chỉ có thế.

Y trở đi trở lại, đến gần vựa củi, sờ mó chiếc chìa khóa trong túi, trở mình qua lại trong ổ rơm, mãi đến sáng mới chợp mắt được chốc lát.

***

Y giật mình tỉnh dậy. Trời u ám, chiến trường vẫn sôi động. Trọng pháo đã rót xuống làng và hậu phương. Y liếc mắt trong vựa củi. Cửa sắt vẫn nguyên vẹn, vẫn nom rõ mấy người Nga. Chợt thấy Steinbrenner hấp tấp chạy lại:

– Rút lui. Quân Nga đã chọc thủng phòng tuyến. Tụ tập tại làng. Mau lên! Tình thế hỗn loạn rồi. Thu xếp đồ mau đi.

Hắn dừng lại gần Graber:

– Còn mấy thằng Nga này phải thanh toán ngay đi.

Graber thấy tim mình đập mạnh.

– Lệnh đâu?

– Lệnh! Trời! Còn đợi lệnh gì nữa! Anh mà biết trong làng bây giờ thế nào thì anh không hỏi đến kỹ lưỡng như thế! Anh có nghe trọng pháo xung kích không?

– Có.

– Thế thì anh biết tình thế rồi. Mau lên! Không lẽ mình còn dắt chúng nó đi theo? Đứng ngoài mà bắn cũng được.

Cặp mắt xanh Steinbrenner sáng quắc. Hàm răng dưới đưa ra nom thật tàn ác. Y đưa súng lên vai.

– Không được. Tôi chịu trách nhiệm. Nếu không có lệnh thì anh cứ việc quay về.

– Được rồi, nếu anh muốn thanh toán lấy thì tôi để phần anh.

– Không.

– Dù sao thì một trong hai ta phải thanh toán. Nếu anh gớm tay thì cứ đi đi, để chúng nó cho tôi.

– Không. Anh không được bắn họ.

– Không được bắn?

Y ngước mắt nhìn Graber:

– Tôi không được bắn chúng nó? Anh có ý thức được lời anh nói không?

– Tôi ý thức được rõ, tôi biết rõ tôi nói gì.

– Tôi, tôi cũng biết anh muốn gì.

Mặt Steinbrenner biến sắc, y lấy súng lục ra. Graber đưa súng lên vai bóp cò. Steinbrenner lảo đảo té xuống với tiếng kêu như con trẻ, khẩu súng lục rời khỏi tay.

Graber nhìn xác Steinbrenner mà thất sắc. Một quả trái pháo rít bay qua làng. Y đến vựa củi lấy chìa khóa mở cửa.

– Đi đi!

Mấy người Nga đứng yên nhìn, không dám động đậy. Graber bỏ khẩu súng xuống đất cho họ yên lòng. Rồi giơ hai bàn tay không ra bảo họ:

– Đi đi!

Người Nga trẻ đặt một chân ra ngoài. Graber đến gần xác Steinbrenner và lẩm bẩm:

– Giết người!

Y cũng khồng hiểu rằng y nói gì. Y nhìn Steinbrenner bằng hai mắt trống rỗng.

Thình lình bao nhiêu ý nghĩ nổi lên. Một hòn đá đã đụng chỗ yếu làm ra trận lở núi.

Y đã có một hành động tối ư hệ trọng không thể gỡ lại được, bây giờ y cảm thấy nhẹ bổng, tự do. Y biết rằng mình phải làm cái gì, nhưng hình như y cũng biết rằng chỉ làm thêm một cử chỉ nhỏ y cũng đủ bay bổng lên không. Ý nghĩ quay lộn trong đầu. Y đi lại vài bước. Phải làm cái gì, cái gì có một tầm quan trọng vô cùng, nhưng y thấy mình chưa đủ sức lực. Y cảm thấy mình yếu quá, mới lạ quá và sáng suốt một cách đau đớn.

Y đưa mắt tìm mấy người Nga. Họ đang khom lưng chạy, đàn bà đi trước. Một người quay lại. Tay hắn có khẩu súng, hắn dừng lại chĩa súng vào Graber. Graber nhìn thấy nòng súng đen thui. Y muốn kêu lên thật lớn, y còn nhiều điều muốn nói…

Y không biết là mình trúng đạn. Bất thần y thấy trước mắt mình hiện ra cỏ xanh, một đóa hoa yêu kiều, cánh hoa thanh tú, nhị ửng hồng, hình ảnh lớn dần, như y đã từng trông thấy một lần không biết từ bao giờ. Cánh hoa nghiêng nghiêng tỏa lớn khắp chân trời, nở ra trong yên lặng, cánh hoa tỏa ra khắp bầu trời cái vũ trụ bình yên tí hon của nó, nó trở thành cả vũ trụ – hai mắt Graber từ từ khép lại.

12 Thiếu Tá Hải Quân, Thuỷ Quân Lục Chiến và Tuần Duyên Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá năm 2023

dongsongcu.wordpress.com

Posted on November 7, 2023 by dongsongcu

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 16 Jun 2026

Theo nguồn tin từ trang nhà phòng quân số hải quân (Navy Personnel Command) thông báo các bản danh sách hải quân thiếu tá (HQ) được hội đồng thăng cấp hải quân (PROMOTION SELECTION BOARD CONVENING ORDER) chọn đề cử thăng cấp HQ trung tá*. Và 3 thiếu tá thuỷ quân lục chiến (TQLC) được đề cử thăng cấp trung tá cho tài khóa năm 2024 (YF24). Trong số hàng trăm HQ thiếu tá và thiếu tá TQLC được chọn đề cử thăng cấp trung tá năm nay có 8 HQ thiếu tá và 3 thiếu tá TQLC gốc Việt.

Minh hoạ của facebook.com/MyNAVYHR/photos: HQ thiếu tá Diana Tran-yu, tiến sĩ dược khoa quân y hải quân.

Riêng bên tuần duyên Hoa Kỳ (U.S Coast Guard) cũng có 1 thiếu tá gốc Việt được đề cử thăng cấp trung tá.

Năm 2022, có 12 HQ thiếu tá gốc Việt được thăng cấp trung tá.

Năm nay Sĩ quan Hoa Kỳ gốc Việt có 1 thiếu tá ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line Officers), 1 thiếu tá ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted Line Officers) và 6 thiếu ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps Officers) được chọn đề cử thăng cấp trung tá.

Danh sách HQ thiếu tá gốc Việt ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted Line Officers) hiện dịch và trừ bị được chọn đề cử thăng cấp trung tá: Nguyen Dalton Khac; Mai Carolyn**.

Minh hoạ của alamy.com: HQ thiếu tá Nguyen Peter Minh Van, bác sĩ quân y hải quân.

Danh sách HQ thiếu tá gốc Việt ngành chuyên môn (Staff Corps Officers) hiện dịch và trừ bị được đề cử thăng cấp HQ trung tá: Duong Jacob Ly Nguyen; Nguyen Peter Minh Van; Tran Brian Daniel; Tranyu Diana Thy; Nguyen Thuy Le Thanh; Allbaugh Nguyet Nguyen**.

Danh sách thiếu tá TQLC gốc Việt hiện dịch và trừ bị được đề cử thăng cấp trung tá: THUONG H. KIEU; PHILONG HAC DUONG; R.A LIEN***. Thiếu tá tuần duyên gốc Việt được đề cử thăng cấp trung tá: JASON D. NGUYEN

Minh hoạ của linkedin.com: Thiếu tá Jason Nguyen, tuần duyên Hoa Kỳ (U.S Coast Guard).

Theo hệ thống thăng cấp sĩ quan hải quân (Navy Officer Promotion System) và sĩ quan TQLC Hoa Kỳ, thì sau 3 năm mang cấp thiếu tá, khoảng 70% sĩ quan thiếu tá sẽ được thăng cấp trung tá. Và theo Defense Primer: Military Officers – Updated December 1, 2021, thì hải quân Hoa Kỳ có 10722 HQ thiếu và 6756 trung tá phục vụ hiện dịch toàn thời (Active-Duty Military Officers).

Minh hoạ của commons.wikimedia.org: Thiếu tá TQLC Philong H. Duong (Hình chụp vào năm 2013, khi còn mang cấp đại uý tại chiến trường A Phú Hãn).

Cần biết thêm về các ngành của sĩ quan hải quân Hoa Kỳ, xin được tóm lược:

Ngành sĩ quan tác chiến (chủ lực) của hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn (Unrestricted Line Officers và sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers).

Sĩ quan ngành tác chiến hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, sĩ quan hải quân không chiến (không quân của hải quân), sĩ quan chiến tranh đặc biệt hải quân ( lực lượng đặc biệt hải quân ). Những sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các phi đoàn không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.

-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến hải quân giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan kỹ thuật cơ khí, sĩ quan kỹ thuật hàng không, sĩ quan bảo trì phi cơ, sĩ quan tình báo hải quân, sĩ quan chiến tranh mật mã, sĩ quan tin học điện toán, sĩ quan giao tế ngoại giao, sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị), sĩ quan hải dương học, sĩ quan truyền tin hải quân và sĩ quan tài nguyên nhân lực. -Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, nha sĩ, điều dưỡng và chuyên viên y tế thuộc bộ chỉ huy quân y hải quân; Sĩ quan kỹ sư công chánh ( công binh hải quân ) và sĩ quan tiếp liệu hải quân thuộc bộ chỉ huy tiếp vận hải quân; Sĩ quan luật sư quân pháp và sĩ quan tuyên úy tôn giáo trực thuộc bộ hải quân.

Hình minh họa của military.com/navy/officer-ranks.military.com/navy/officer-ranks: Cấp hiệu trung tá ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted line officers) hải quân Hoa Kỳ****

Theo tài liệu lưu trữ trên các trang nhà Navy Personnel Command và Congress.gov thì có trên 60 HQ trung tá gốc Việt đang phục vụ trong hải quân Hoa Kỳ (Không tính nhiều vị đã hồi hưu).

Chúc 12 tân trung tá Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến trên đường binh nghiệp.

Nguyễn Quân

Chú thích: *ghi theo cấp bậc: HQ thiếu tá ( Navy Lieutenant Commander ) và HQ trung tá Hoa Kỳ ( Navy Commander ); **Ghi theo họ và tên 11 thiếu tá gốc Việt trên các bản danh sách; ***Có một sô thiếu tá hải quân, TQLC và tuần duyên mang họ và tên giống người Việt: được đề cử thăng cấp trung tá, nhưng không thể xác định được gốc Hàn, Hoa hay Việt gốc Hoa?; ****Cấp hiệu trung tá ngành chuyên môn phục vụ hải quân ( Staff Corps officers ) không có ngôi sao như thiếu tá ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted line officers), thay thế cho ngôi sao là huy hiệu của ngành chuyên môn.

Nguồn: Navy Personnel Command; congress.gov; marines.mil; military.com/navy/officer-ranks; public.navy.mil; pnj.com; en.wikipedia.org; bienxua-12 Hải Quân Thiếu tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung tá năm 2022.

Những miếng tồi tàn

vanchuongviet

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 16 Jun 2026

Tôi chưa từng thấy trên thế giới nầy có đầu nậu phân phối thực phẩm nào bất lương như đầu nậu ở Algeciras, Tây Ban Nha. Một thùng bôm, một thùng cam họ tráng trên mặt những trái tươi, phần dưới đáy toàn ủng. Thịt bò họ lấy từ thịt của mấy con toros trong trường đấu ra hay sao mà dai nhách, heo thì mỡ nhiều hơn thịt, cá toàn khúc đuôi. Trứng gà dập và ung đến gần phân nửa, còn gà thì da bầm tím,  thịt bủng xì bủng xịt,  phải xát muối,  gia vị nhiều cho bớt mùi hôi rồi đem chiên thiệt vàng mới ăn được.  Theo nguyên tắc đầu bếp phải kiểm hàng trước khi ký nhận. Nhưng ông đầu bếp trước hải hành đã đúng kỳ về mà hãng không cho người xuống thay. Ông nổi khùng đến nỗi bà vợ phải bay từ Hòa Lan qua Gia Nã Đại thăm. Khi bà xuống tàu, ông đâm ra lười biếng, không muốn làm việc. Tới phiên tôi đổi xuống, thì đồ đạc ông vứt ngổn ngang. Nệm, ra dơ không giặt, phòng không lau chùi, thùng rác đầy nhóc vỏ bia. Kho chứa lương thực thì lộn xộn. Đồ khô ông dồn vô phòng đông đá, có vài món cần đông đá ông nhét vô tủ lạnh. Không biết ông đặt hàng làm sao mà chỉ có ba chục ký lô gà, mười lăm ký cá, ba chục ký heo, trong khi thịt bò ông dến cho một trăm năm chục ký. May cái là khoai tây, đồ khô và rau cải đông đá đầy đủ cho một chuyến đi.
– Thằng đầu bếp trước khùng dữ lắm.  Tôi day lại, thấy ông thủy thủ người Tây Ban Nha đứng bên cạnh mặt đầy râu giọng nói nghe khó chịu. Tôi cười:
– Dĩ nhiên, ở trên tàu lâu ngày ai mà hổng vậy.
– Tao hải hành có khi cả năm nhưng có sao đâu.  Mặt mày ông ở đó mà trăng với sao!  Chót mũi đỏ bóng như trái cà chua chín, miệng mồm tái ngắt giống cái âm hộ bà già nằm ngang giữa chùn râu bùm xùm. Tuổi chưa đầy năm mươi mà đã lẫn, ăn nói lộn tùng phèo, hay bắt nạt những người mới và ưa đâm thọc sau lưng người ta. Tôi định nói xỏ vài câu cho ông thấm thía sự đời, nhưng thấy chuyện hổng đáng nên bỏ qua.  

***  

Tàu rời Algeciras, vượt Đại Tây Dương sang châu Mỹ mất hơn tháng trời. Bây giờ đang trên đường về lại Âu châu.  Lương thực cạn dần, thịt đông lạnh chỉ còn mỗi một thứ là thịt bò. Hôm ghé Baltimore, tôi với viên thuyền trưởng lên chợ mua thêm thức ăn, nhưng thấy ở Mỹ thứ gì cũng bự, ông chê không mua. Cuối cùng mua được hai thùng rau, ba vỉ trứng. Tôi đề nghị ông mua thêm ít thịt heo, thịt gà và dăm bông. Ông không chịu, biểu tôi ghi đơn đặt hàng để ông gởi về công ty.
– Bên Âu Châu đồ ăn vừa rẻ vừa chất lương cao, ông nói, bây giờ trên tàu còn thứ gì thì ăn thứ đó, hễ tên nào ọ ẹ thì ông cứ việc cho tôi biết.  Không hiểu sao ông nói vậy, chớ thật ra đồ ăn trong bên Mỹ rẻ hơn bên Châu Âu và chất lượng thức ăn tươi nào thì cũng ngang nhau. Để làm gương cho thủy thủ, mỗi bữa ăn ông ăn rất ít rồi buông dao nĩa và ngồi ngó từng người. Anh nào ăn nhiều quá ông lưu ý bằng cách đếm từng miếng dăm bông,  phó mát và từng lát bánh mì, làm anh đương ăn có muốn ăn thêm cũng phải buông dao, nĩa. Viên thuyền trưởng tuy có hơi quá đáng, nhưng trên một chiếc tàu buôn loại trung, thủy thủ đoàn đâu trên chục mạng đủ đầu, vậy mà lắm khi có tới bốn năm quốc tịch khác nhau. Từ người có bằng cấp đại học cho tới tên đặc cán mai, hễ đụng tới chuyện ăn uống thì tánh bần tiện thằng nào cũng lộ rỏ như nhau. Trình độ khác, văn hoá khác… nếu thuyền trưởng kỷ luật không nghiêm thì khó mà trị nổi cái đám người tạp nhạp.   Công bằng mà nói, thức ăn trên tàu luôn lúc nào cũng dư, ngoài những tuyến đường dài rau cải tươi hết, phải dùng rau hộp, rau đông đá cho nên chất lượng kém. Nhứt là những ngày sóng to gió lớn, người nào không say sóng thì cũng ương ương khó chịu như đàn bà ốm nghén,  vậy mà hễ ló mặt vô bếp là hỏi:
– Bếp, hôm nay cho ăn món gì?  Ngày nào đầu bếp cũng nghe câu hỏi y chang. Người hỏi lúc nào cũng chờ câu trả lời đúng như ý mình ưa thích. Tuy nhiên thực đơn của đầu bếp ít không khi nào vừa miệng cho tất cả mọi người. Nấu nướng khó khăn nhứt trong những lúc biển động và hết đồ tươi. Họ cũng thừa biết mấy tuần qua trong tàu chẳng còn cao lương mỹ vị nào, nhưng hỏi để tỏ thái độ bất bình với đầu bếp chơi vậy thôi. Không muốn cãi cọ lôi thôi, tôi tìm cách giả lả với họ:
– Tui cho ăn thịt bò, từ đây về lại Âu châu các anh sẽ mọc sừng. Mùa xuân ở Tây Ban Nha có đấu toros, các anh có thể qua đó thi tài.  Câu khôi hài của tôi cũng có duyên lắm chớ, nhưng không làm ai cười được hết. Trái lại có tên mặt dài ra và còn chưởi tục nữa.  Theo quy định trên tàu, thủy thủ nào có sinh nhựt đầu bếp phải làm cho một cái bánh kem hoặc bánh táo, nếu có thể được thì bửa ăn ngày hôm ấy dọn thêm một vài món đặt biệt. Có tên thèm ăn quá phịa đại ra cái ngày sinh nhựt và đề nghị đầu bếp làm bánh cho hắn. Khi đầu bếp xem lại trong danh sách thủy thủ đoàn, thấy không phải sinh nhựt sinh nhiếc gì của hắn hết bèn kêu hắn mắng cho một chặp. Từ đó về sau hễ gặp mặt đầu bếp thì mặt hắn ta gầm gầm như là gặp kẻ thù. Có tên vừa xuống tàu lập tức đi tìm đầu bếp kể lễ đủ thứ bịnh trong người và những món ăn hắn ta cần phải kiêng cử, rồi đưa ra thực đơn những món hắn ta ăn được, nhưng toàn là những món trong nhà hàng ba bốn ngôi sao. Nếu muốn chiều theo khẩu vị của loại người nầy, phải đề nghị công ty mướn một đầu bếp quốc tế và đặt hết thực phẩm trong siêu thị đem xuống họa may mới đủ phục vụ. Ngày nào đầu bếp cũng chứng kiến vài gương mặt bị bịnh thèm ăn riết cũng chán.  Ðể khỏi phiền phức, trong lúc làm việc Bếp cấm cửa không cho tên nào ló vào. Thỉnh thoảng cũng có vài tên vô bếp thăm chừng hỏi nầy hỏi nọ, bị đuổi ra làm hắn ta bực mình:
– Hỏi cũng có vấn đề sao?  Xin thưa, nếu chỉ hỏi thôi thì đâu có vấn đề gì. Vấn đề là sau cái câu trả lời của đầu bếp, nếu trả lời trúng ý thì hắn cười tươi hai bàn tay chập lại chà chà miệng xuýt xoa khen ngon, bằng không thì hắn ôm bụng như bị bịnh tim la lâu ngày không trị, mặt nhăng như khỉ ăn gừng, miệng phung phèo phèo và chê thức ăn dơ.   Hồi còn phụ bếp, tôi thấy rất nhiều đầu bếp khó tánh, thủy thủ nào lỡ hỗn láo, mấy ông liền nổi tam bành lục tặc, chửi thề ỏm tỏi. Vì kỷ luật trên tàu nên trước mặt họ nhịn ông, nhưng sau lưng thì rình đổ thuốc rửa chén lên đĩa xà lách hoặc đổ muối vô nồi xúp phá chơi cho bõ ghét. Sau nầy tôi trở thành đầu bếp, thấm thía cảnh làm dâu trăm họ và nhận thấy lối cư xử trịch thượng quá thường bị thiệt cho mình. Tôi tập tánh nhẫn nhục và ôn hòa với mọi người, nhưng với một đám người phức tạp, có muốn giữ được sự công bằng trong việc ăn uống cũng không dễ dàng gì. Ban đầu chưa có kinh nghiệm, làm gà tôi chặt gà từng miếng nhỏ ướp gia vị, chiên vàng sắp vô đĩa cho đẹp, dọn lên bàn cho lịch sự. Mấy tên ăn trước lựa thịt ngon cho vô đĩa mình chừa lại xương, cánh vụn vặt. Mấy người sau không ăn được bèn bưng dĩa xương vụn vô mắng vốn đầu bếp. Về sau thịt nào mặc kệ, trước khi chiên, nấu cứ đếm đầu người chặt chia đều mỗi người một cục cho xong. Ý vậy mà vẫn lắm chuyện, đôi khi sắp đánh lộn với nhau chỉ vì cái trứng hay cái bánh ngọt. Có nhiều đêm bực mình muốn xách dao qua phòng cắt cổ cái tên dám hỗn láo với tôi và đem xác liệng xuống biển làm mồi cho cá.  Có một thủy thủ người In-đô không ăn được bánh mì, mỗi bữa điểm tâm anh thường xin tôi mì gói. Hôm rày mì gói cũng hết, anh ta đến than với tôi:
– Bên In-đô sáng trưa chiều tối đều ăn thức ăn nóng, còn Âu châu ăn đồ nguội ngắt lạnh tanh. Tôi từ tốn giải thích với anh ta như vầy:
– Tui biết,  ở In đô của anh cũng như ở Việt Nam của tôi ăn ngày ba bữa cơm hoặc khoai lang, nhưng cơm phải nấu,  khoai lang phải luộc mới ăn được, cơm nóng ăn đơn giản với cá khô, xì dầu, ketjap cũng xong. Bên Âu châu có nhiều thức ăn tuy nguội nhưng hợp vệ sinh. Sống tập thể, anh phải tập cho quen với mọi người, chuyện gì tui hổng biết chớ chuyện ăn uống những nước nghèo như mình không bì kịp người ta đâu.  Vì ngẫu hứng tôi lên lớp dạy anh ta hồi nào không hay, đợi đến khi nét mặt anh méo mó dài thòng, tôi mới dừng lại thì đã muộn màng rồi. Món ăn cũng là một trong những thứ biểu hiện văn hóa của dân tộc. Có lẽ tôi đã chạm tự ái dân tộc của anh nên từ đó trở đi anh hay xỉa xói, nói mỉa tôi là người Âu chớ không phải là Việt nữa. Ai cũng có một quê hương để tự hào, anh In đô kia cũng vậy, tôi không thể trách anh ta.  Trứng gà cũng sắp hết nên tôi bớt phần trứng mỗi tuần hai lần trong bữa điểm tâm. Nhưng sáng nào cũng như sáng nấy, ông Tây Ban Nha thức trước hơn mọi người, lấy bánh mì trét bơ để lên đĩa rồi xin tôi một trứng. Ông tự tay chiên vàng, xong bưng vô phòng riêng ăn. Lần đầu tôi không nói, ăn quen ông làm lừng, buộc lòng tôi phải lên tiếng lưu ý. Tức thì mặt ông thụng ra một đống, sau đó tới màn kiếm chuyện:
– Vài ngày nữa tàu ghé Santander, mầy lên bờ mua thêm thức ăn ? Tôi nói:
– Được, nhưng tiền đâu ?
– Thuyền trưởng.  Ông nói chuyện ăn trớt như vậy thử hỏi làm sao tôi im được. Tôi ngó thẳng cái bản mặt râu nhiều hơn thịt của ông và lớn tiếng:
– Tôi đã nói với ông rồi, đơn đặt thực phẩm tui làm xong và đã đưa ông thuyền trưởng gởi về công ty hôm ở Baltimore. Ông chờ vài hôm nữa sẽ có đồ ngon cho ông ăn, còn bây giờ có gì ăn nấy.
– Nhưng mầy là đầu bếp thì phải lo cho đàng hoàng.
– Ông khỏi phải lo, tui hổng để ông chết đói đâu, nhưng yêu cầu ông đừng vô đây làm phiền tui nữa.  Chẳng lẽ mỗi chút mỗi lên tâu với thuyền trưởng, hơn nữa vì lễ nghĩa Á đông dạy tôi kính trọng người tuổi tác, tôi mới chịu khó giải thích dông dài. Ba trợn cỡ như ông và ông thợ máy, gặp phải đầu bếp thiếu tương tâm hoặc hung dữ mà ăn nói lăng nhăng như vậy nó không chửi vô mặt cũng cho ông ăn đàm và nước miếng hoặc lấy nước trong toilet pha trà, cà phê cho uống.  Chuyến nầy đi có hai ông già, thứ già lựu đạn, ăn nói lộn sòng. Ông thợ máy cũng sắp sỉ sáu mươi. Hôm nọ còn hai cái bánh ngọt cuối cùng, tôi lấy cho thuyền phó ăn, ông biết được bèn chạy xuống bếp gặp tôi, la ó om xòm, nói sao không chia cho ông một cái. Rồi từ đó trở đi, hễ tới giờ cà phê là ông nhắc tới hai cái bánh ngọt. Trên bàn ăn của officer, bữa trưa ăn nóng dọn năm món; buổi sáng, buổi chiều bánh mì đen, trắng, phó mát, thịt nguội, mứt trái cây và nước trái cây đủ loại, sửa cà phê, bánh mì đen trắng… Người In đô thì cơm trắng cá hoặc thịt và rau coi như xong bửa. Thật ra người In đô thích ăn thịt rìa có nhiều mỡ, thứ thịt đầu bếp lạng bỏ họ nhưng xin lại và nhờ đầu bếp ướp gia vị theo bếp In Đô, nhờ có nhiều gia vị nên khi chiên, nấu bốc mùi thơm lừng. Mỗi bữa ăn ông thợ máy cứ ngó qua phòng thủy thủ, mũi hít hít lắm khi chịu không được ông nhào qua bốc ăn và khen ngon rồi vô bếp phân bì.  Hôm nhận được điện tín báo sau chuyến nầy ông được nghỉ hưu, ông mừng rỡ cầm bức điện xuống khoe với mọi người. Sau đó ông vô bếp trong lúc tôi đương chiên thịt. Mặt ông hớn hở như trẻ nhỏ được quà, ông khoe:
– Tấn, dìa chuyến nầy tao được nghỉ hưu. Tôi gắp miếng thịt ra khỏi chảo, chưa kịp bắt tay chúc mừng thì ông vội nói tiếp:
–  Tao hải hành đúng bốn mươi hai năm. Nhắc cái chảo để ra khỏi lò, tôi day ngang bắt tay ông:
– Chúc mừng ông, tuổi ông nghỉ ngơi cũng vừa rồi,  nhưng Chủ Nhựt đừng quên dẫn bà và con Kees đi nhà thờ.
– Dĩ nhiên, dĩ nhiên… Chợt nhớ ra, ông nói :
– Nhưng nhà thờ đâu được phép dẫn chó vô.  Có lẽ tôi phải nhắc chuyện con Kees trước khi tiếp tục chuyện của ông . Hơn mười năm về trước. Ông thợ máy cuối độ tứ tuần, tánh tình ông tuy có hơi nhỏ nhặt nhưng chưa quá đáng như bây giờ. Thời gian trôi qua như con nước chảy, ông đã già, còn tôi thì sấp sỉ bốn mươi. Ông cưới vợ Bồ Đào Nha, cư ngụ ở thủ đô Lisboa. Có lần ông tâm sự, vì sợ hao tốn và ngại cực, bà không chịu sanh con, nhưng nuôi một con chó nhỏ xíu đặt tên nó là Kees. Dạo đó tàu đi tuyến đường Lisboa – Angola. Hễ mỗi lần tàu về Lisboa, bà thường dẫn con Kees xuống thăm ông. Một bữa tôi đương dọn dẹp, Kees đi vô ủi mỏ, hít hít dưới chưn, sẵn thức ăn thừa tôi liệng xuống cho. Liệng bao nhiêu nó đớp hết bấy nhiêu… Ăn no bụng, Kees chạy đi đâu tôi cũng không để ý. Đến lúc bà phát hiện con chó nằm ngửa chổng bốn cẳng lên trời, miệng chảy nước, hơi thở đứt đoạn, bà tá hỏa tam tinh chạy vô phòng bếp, hỏi tôi :
– Bếp, bếp, hồi nãy ông cho con Kees ăn gì ?  Tôi nói :
– Tui cho nó ăn đồ thừa.
– Không được, không được!
– Tại sao không ?
– Con Kees có thức ăn riêng.  Tức thì bà chạy kêu ông ôm con chó lên nhà thương cứu cấp. May mà con Kees được cứu sống, bằng không tôi chắc phải ra tòa, vì đối với ông bà sinh mạng con Kees còn quí hơn mạng người nữa. Mỗi lần đổi xuống gặp ông, tôi hỏi thăm sức khỏe của bà mà không hỏi đến con Kees thì ông cũng tự nói ra. Mới đây ông cho tôi biết sức khỏe của con Kees yếu lắm, mới vừa rụng hết mấy cái răng. Như vậy con Kees sẽ cùng về hưu với ông luôn một thể.  Trở lại chuyện với ông, tôi nói :
– Tôi nghe nói ở Âu châu chó chết chủ mướn linh mục đọc kinh trước khi chôn, vậy thì chó cũng biết nghe kinh chớ. Ông giơ tay gạt ngang trán một cái:
– Mấy người đó là mấy người khùng, tao thì không như vậy.  Thấy ông ngây ngô trả lời những câu khôi hài của tôi giống y như thiệt, chợt nhiên tôi nghe buồn buồn trong dạ. Nhìn mặt ông nhăn nheo, da tay sần sùi như rắn lột, hơi thở tỏa ra mùi ống cống làm tôi liên tưởng đến một xác chết. Còn sống chung chạ với nhau, nhỏ nhen, tham lam, ích kỷ.  Đến cuối cuộc đời đầu óc  lẫn lộn, tối tăm nằm chờ xuống lỗ. Giờ đây tôi mới thấy thấm thía câu sanh già bịnh chết của nhà Phật.  Thiệt ra ông và ông già Tây Ban Nha làm ra vẻ mình là quan trọng vậy thôi chớ ăn uống có là bao. Muốn nói chuyện ăn uống nhiều thì hãy nói đến mấy thủy thủ trẻ. Một ngày tôi làm được có ba ổ sandwich, mỗi ổ dài hai tấc tám, bánh dành xắt miếng để ăn điểm tâm và ăn dậm thêm buổi chiều. Mấy ông con thấy đồ ăn còn ít,  sợ chết đói hay sao mà mỗi đêm lấy ăn hơn cả ổ bánh mì, nửa ký phó mát, một đĩa dăm bông. Hết dăm bông, phó mát, mấy ông ăn qua mấy hũ mứt trái cây và đậu phộng nghiền… Tôi biết nhưng làm lơ. Một hôm sơ ý làm sao hổng biết, để cho ông già thợ máy bắt gặp. Sáng hôm sau ông tâu lên thuyền trưởng. Ngay ngày hôm đó, thuyền trưởng đề nghị tôi sau giờ ăn chiều đem tất cả đồ ăn để vô phòng lạnh rồi khóa cửa kho lại. Thức ăn mà đem dấu như mèo dấu cứt, thiệt tình thì cũng khó coi. Nhưng lịnh của thuyền trưởng biết làm sao bây giờ.  Ngồi trong phòng tôi vẫn cảm được cái lạnh mùa xuân trên miền bắc Đại Tây Dương. Gió thổi ào ào, sóng ập thành tàu, nước biển văng lên va vô cửa kiếng xào xạc. Không gian đen thẫm một màu và con tàu vẫn ngả nghiêng theo triền sóng. Có tiếng nắp vung rớt xuống sàn bếp nghe cái xèn. Tôi đứng dậy định đi xuống coi chuyện gì, nhưng kịp sựng lại, vì mũi tôi vừa nghe mùi thơm của mì ăn liền. Khỏi cần xuống bếp, tôi cũng thừa biết có một vài thủy thủ khi biết thức ăn sắp cạn,  xống kho chôm mì gói để dành, chờ mọi người ngủ bèn lén xuống bếp nấu ăn. Để anh bạn nào đó ăn cho ngon miệng, tôi tắt đèn, leo lên giường trùm mền. Trong khi thiêm thiếp, đầu óc tôi cứ chập chờn so đo. Vốn sống và lớn lên một đất nước nghèo và trong thời kỳ chiến tranh. Tôi cứ nghĩ trong cơn loạn lạc đói,  khát mới có chuyện miếng ăn đã làm con người trở nên thấp kém. Chớ tôi đâu có ngờ ở nơi thức ăn  thừa mứa, cũng có loại người chỉ vì miếng ăn mà trở nên bần tiện đâu khác gì. 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 16 Jun 2026

Tôi trở lại Phnom Penh, tìm đến cái nhà trước đây trạm trú, hỏi về người dẫn mối. Người ta không biết kẻ kia ở đâu. Hóa ra đây là nhà cho thuê giường ngủ. Lòng tôi bời bời trăm mối lo toan, nát óc nghĩ không ra lẽ. Về không được, ở không xong.

Vợ nói: “Mình có thể buôn bán.”

Tôi hỏi: “Vốn đâu?”

“Em còn một ít tiền mặt và năm phân vàng. Anh còn hai chỉ.”

“Anh làm gì có?”

Vợ chỉ vào bụng tôi: “Nó còn trong ấy. Không chạy đàng nào.”

“Tính mổ bụng anh hả?”

“Gì mà trầm trọng thế? Trước sau gì, nó cũng tự động ra thôi.”

“Nếu nó không ra?”

“Thế thì nguy cho anh.”

“Thôi, chuyện ấy tính sau. Bây giờ, lo tìm chỗ ngủ đêm nay.” Tôi nói.

Vợ đề nghị: “Thuê giường ở đây.”

“Thuê giường một đêm, họ cứa cũng bộn bạc. Mình phải tiết kiệm.”

Tôi dẫn vợ con lên chợ Ô Hòa Xây, khu chợ chính của thủ đô Phnom Penh, tìm người Việt làm quen. Trước nhà lồng chợ là dãy phố buôn bán, tập nập kẻ lại người qua. Đặc biệt có một gian nhà không bày hàng. Ngoài hành lang có những người đàn bà Việt ngồi lê trên những manh chiếu. Bên trong kê mấy cái giường sắt. Tôi rà rê tới làm quen. Vợ con tôi đứng ủ rũ sau một chiếc xe bán nước mía.

Thấy tôi, một chị hỏi: “Đấm bóp hả?”

Tôi nói: “Không. Chỉ tìm người quen.” Và bịa ra một cái tên, hỏi chị ấy có biết không.

Chị bảo: “Không biết. Sẵn dịp lại đây thì đấm bóp đi anh. Trông anh có vẻ bơ phờ lắm. Đấm bóp giác hơi cho giãn gân cốt, máu huyết lưu thông là khỏe ngay.”

Tôi lắc đầu, cười gượng.

Thêm vài chị rỗi việc bu đến. Tôi áp dụng bổn cũ soạn lại khi còn ở Kongpong Xom với cụ già mài dao, rằng tìm người bà con không gặp, nên bị lỡ đường. Xin họ giúp cho một chỗ ngủ qua đêm.

Một chị nói: “Anh về với bọn tôi đêm nay.”

Tôi chỉ về phía xe nước mía: “Còn có vợ con tôi nữa.”

“Gì mà đông thế? Kêu lại đây. Đứng xớ rớ, coi chừng bị giật đồ.”

Vợ con tôi đến. Những người đàn bà nhìn, dò xét.

“Đi tìm việc hả?”

“Không. Tìm người bà con.”

“Đừng có xạo, cha nội. Tôi biết là đi tìm việc.”

Chị khác, ngó vợ con tôi: “Chị này trông còn ngọt nước lắm. Còn con bé này có thể bưng cà phê bán dạo cho các bạn hàng trong chợ.”

Vợ tôi hỏi: “Chị nghĩ em có thể tìm được việc ở đây không?”

“Ở đây à? Định cạnh tranh nghề nghiệp với bọn tôi hả?”

“Không. Em đâu biết đấm bóp. Việc khác kìa.”

“Đàn bà con gái lên đây, đừng hòng tìm được việc gì khác, ngoài cái việc làm đĩ. Nhưng ông anh chịu cho vợ mình làm không?”

Vợ tôi xám mặt: “Xin chị đừng nói chơi.”

Chị trề môi: “Mệnh phụ, tiểu thư lúc khốn cùng túng quẫn cũng thành gái ăn sương. Ở đó mà khư khư giữ lấy cái nghìn vàng.”

Vợ tôi cúi đầu nhẫn nhục. Lòng tôi tan nát. Cái tình đồng hương trên xứ lạ, sao nghe như muối xát gừng cay.

Không muốn vợ ngồi đây để nghe những lời xúc phạm, tôi bảo: “Em dẫn con đi mua đồ ăn cho nó.”

Vợ con tôi kéo nhau qua chợ mua cơm. Mỗi phần cơm, có con cá nướng bằng ngón tay, được gói trong chiếc lá sen. Cả hai ngồi bên lề đường, bốc từng nắm cơm uể oải cho vào miệng. Nắng chiều nghiêng đổ xuống hai mẹ con một màu tàn phai héo hắt. Con tôi không còn cái vẻ hồn nhiên tuổi nhỏ. Mặt nó vô hồn ngơ ngác. Còn khuôn mặt của vợ tôi, phảng phất một chút gì hờn tủi.

Tôi xót xa, muốn bỏ đi. Nhưng giữa nơi ồn ào phồn tạp quê người, tôi biết đi đâu?

Trong khi tôi ngồi đấy, có một người đàn ông Miên bước vào. Mặt sạm đen, nhễ nhại mồ hôi như thoa một lớp dầu bóng. Lưng áo cũng ướt đầm. Nhìn cách ăn mặc, tôi đoán chừng ông ta là phu khuân vác trong chợ. Các chị tranh nhau mời chào. Không biết họ sang đây hồi nào mà rành tiếng Miên thế? Ông khách đứng quan sát từng chị, so sánh chọn lựa một nhan sắc. Các chị ra vẻ tươi cười. Cũng vẫn những cái miệng này, mới đây đã phát ra những âm thanh cú diều với vợ tôi, bây giờ lại thốt những lời dịu dàng dễ thương chi lạ. Ông khách chỉ vào một chị. Chị vui vẻ liếng thoắng dẫn khách vào phía trong. Có lẽ đã từng là khách hàng đấm bóp nhiều lần, ông khách tự nhiên trút bỏ quần áo bên ngoài, chỉ còn độc cái quần xà lỏn màu đỏ chói, nằm sấp xuống chiếc chiếu trải sẵn trên nền xi măng.

Tôi hỏi một chị ngồi kế bên: “Sao không để người ta nằm trên giường?”

“Giường làm kiểng thôi. Nó lung lay như chiếc răng sắp rụng.” Chị nói.

Tôi lần vào phía trong, xem cách làm việc ra sao. Chị lau mồ hôi cho khách bằng chiếc khăn nhàu nát. Chiếc khăn đã từng lau cho hàng trăm người. Lau xong, chị xòe hai bàn tay chém lia lịa đều khắp trên lưng người khách. Những ngón tay va vào nhau, kêu lách chách.

Sau màn dần lưng, chị lên ngồi trên mông khách, đùi dang ra hai bên. Chị nhích tới nhích lui, bóp từ trên vai xuống tới thắt lưng. Khách có vẻ khoái, nằm nghiêng đầu qua một bên, mắt lim dim hưởng thụ. Dùng sức nhiều, trán chị lấm tấm mồ hôi, nhưng mặt tươi tắn yêu đời. Tiền. Chính mãnh lực đồng tiền đã biến đổi người đàn bà cáu gắt trở nên vui vẻ. Thỉnh thoảng chị ngừng tay, lau trán với chiếc khăn vẫn lau mồ hôi cho khách. Khoảng đôi phút, chị xoay qua màn khác. Chị dùng ngón trỏ và ngón cái, kẹp từng miếng thịt trên lưng khách kéo lên. Và bàn tay kia phạt ngang như nhát chém. Một hồi, lưng khách ửng đỏ trên làn da vốn đã sạm màu. Rồi chị xòe hai bàn tay chà xát thật mạnh dọc theo hai bên sống lưng. Sau đó, chị dùng mười đầu ngón tay kéo mảng thịt trên lưng khách. Mười ngón tay nhanh như những cái chân con rít, đùa mảng thịt thành gợn sóng chạy dài từ thắt lưng lên tận bả vai. Chị thụt về phía sau, chồm lên phía trước theo mỗi gợn thịt đùa từ dưới trở lên. Cái háng dạng ra, tới lui chà lết trên mông người đàn ông. Động tác làm tôi liên tưởng chuyện tục.

Bất ngờ chị hỏi: “Muốn học nghề để truyền cho vợ hả?”

Tôi lắc đầu cười gượng, và bỏ ra ngoài hành lang. Thà tôi gặm cỏ cạp đất mà ăn, chứ không để vợ làm cái nghề dị hợm này!

Chiều sắp tàn. Khách càng đông. Họ cần đấm bóp giác hơi để tìm chút thư giãn sau một ngày lao động chân tay vất vả. Phía trong không đủ chỗ, các chị trải chiếu ra tận ngoài hiên. Những ông khách cũng dễ tính, họ xoay trần nằm sấp trên hiên, kế bên lề đường có bao nhiêu người qua lại. Người đi đường cũng không tò mò dòm ngó. Họ đã quen mắt nên coi đấy là chuyện thường.

Các chị làm việc lăng xăng. Tôi kiên nhẫn chờ một chỗ tá túc qua đêm. Lại có dịp coi thêm màn giác hơi.

Giai đoạn này, chị đấm bóp không ngồi trên mông khách. Bộ đồ nghề là những cái lọ thủy tinh bầu tròn cỡ trái quít. Chị thắp ngọn đèn dầu nhỏ. Dùng cái que, một đầu có đính cục bông, nhúng vào lọ dầu, châm lửa. Chị cầm nghiêng cái lọ, thọc ngọn lửa vào quậy quậy, và rất nhanh, chị chụp xuống. Cái lọ hút dính vào lưng. Từ miệng lọ da thịt phù lên. Chị làm nhanh tay và thiện nghệ. Cứ thế, từng lọ, từng lọ được chụp xuống, trông như những chiếc bong bóng nổi đầy trên lưng khách. Chị để yên đấy, và khách cũng nằm im. Trong thời gian chờ đợi, chị ngồi hút thuốc. Chị giải thích, phải chờ cho máu bầm tụ lại, sau đó sẽ đánh tan đi. Làm thế, máu huyết lưu thông, sẽ hết nhức mỏi và tránh được bệnh thời khí cảm mạo thông thường. Tàn điếu thuốc, da thịt phù lên trong lọ cũng bầm tím. Chị cầm từng chiếc giựt ra, mỗi lần giựt kêu bốc một tiếng. Lưng khách bây giờ, nổi đầy những vết bầm hình tròn. Chị lau sơ, và thoa đều một lớp dầu mỏng cho trơn. Thoa dầu xong, chị chỉ dùng một cái ống giác, thọc ngọn lửa vào quậy, và chụp nhanh xuống lưng khách. Chị kéo cái ông giác chạy lên chạy xuống, đều khắp trên lưng. Đây cũng là giai đoạn chót của màn giác hơi. Xong, chị lau sạch lớp dầu lần cuối cùng, và vỗ nhẹ trên lưng khách vài cái, báo hiệu mọi việc đã hoàn tất. Khách đứng lên vươn vai, mặc lại quần áo. Trông khách khỏe ra, mặt mày tươi tỉnh.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 Jun 2026

Ngày xưa còn bé, tôi như mỗi lần cô tôi về nhà, than thở chuyện gia nương, buồn phiền chuyện chồng con, thì bà nội tôi lúc nảo cũng khuyến giải cô tôi nên học lấy chữ “nhẫn.” Bà thường giải thích trong nghi thức cưới hỏi, lễ vật lúc nào cũng có chiếc nhẫn làm đầu, đó là vật tượng trương cho tình vợ chồng, sống với nhau thì phải nhẫn, nhịn nhau cho qua lúc, đế có hạnh phúc suốt đời. Có lẽ nhờ học được chữ nhẫn, nên gia đình cô dượng tôi sinh hết thảy được mười hai đứa con, hiện nay con đàn cháu đống, mặc dầu sau tháng tư năm 1975 ly tán khắp nơi, nhưng con số đếm cùng dể chừng lên đến hơn trăm. Trong cách xứ thế thì mẹ tội lúc nào cũng mở kinh nhật tụng, khuyên con luôn luôn nhịn nhục, “chín bỏ làm mười,” cho rằng “một sự nhịn thì chín sự lành hay”chữ nhẫn là chữ thếp vàng, ai mà nhẫn được thì cảng sống lâu!” nên đi học thì bị bạn bè hiếp đáp, ra đời ngây ngô, nhũn nhặn, vẫn thường chịu cảnh “trâu chậm uống nước đục.” Những ngày cuối tháng tư năm ấy, bị cấp chỉ huy ra lệnh ôm chặt đơn vị cho đến phút tan hàng rã ngũ, biết bị ép, nhưng vẫn “nhẫn” để cho “xếp” có thời gian cao bay xa chạy. Cha tôi thì ảnh hưởng Khổng học, mọi điều theo kinh điển “Khổng Tử viết” (Đức Khổng Tử nói …) là chân lý, là kết luận cuối cùng không cần bàn cãi. Trong Phật Giáo có nói đến dức “Nhẫn Nhục Ba La Mật.” Đối với nghịch cảnh như nắng mưa, nóng lạnh, đói khát, đau ốm, hoặc bị người đánh đập, hành hạ. làm bức não nơi thân, mình cũng cam chịu, không phàn nàn hay chống cự lại. Đây là chịu đựng về thể xác là “thân nhẫn.” Thân đã nhẫn chịu không chống lại người và miệng cũng không thốt ra những lời nguyền rùa độc ác, trước những lời nhục mạ, chua cay, mắng nhiếc tồi tệ hay đánh đập tàn nhẫn, gọi là “khẩu nhẫn.” Nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, không oán giận, không nổi lên ý phản đối, những tư tưởng hắc ám để trả thù gọi là “ý nhẫn.” Trong Luận Ngữ có ghi chuyện ông Từ Trương và chữ “Nhẫn” của Đức Khổng Khâu như sau:

Ông Từ Trương muốn đi xa, đến chào Đức Khổng Tử và xin Ngài một lời khuyên:

Khổng Từ nói: – Chữ Nhẫn đứng dầu trăm nết!

Từ Trương hòi lại: – Làm sao phải nhẫn?

Đức Khổng Tử trả lời: – Thiên Từ mà nhẫn thì nước không sinh hại. Chư hầu mà nhẫn thi nước sẽ mạnh lớn

thêm. Quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến. Anh em mà nhẫn thì cừa nhà giảu sang, Vợ chồng mà nhẫn thì ở với nhau được trọn đời. Bạn be mà nhẫn thì thanh danh không mất. Hễ nhẫn thì không lo tai hoạ!

Từ Trương hòi lại: -Nếu không nhẫn thì sao?

Đức Khổng Tử đáp:- Thiên Từ không nhẫn thì nước sẽ trống không. Chư hầu mà không nhẫn mất mạng, Quan chức mà không nhẫn thì sẽ bị hình phạt. Anh em mà không nhẫn thì sẽ chia rẽ. Vợ chồng không nhẫn thì sẽ xa nhau. Tự mình không nhẫn dược tất không tránh dược lo lắng! Ông Từ Trương thần phục mà kêu rằng:- Phải lắm! Phải lắm!

Nhìn chung, trong triết lý sống, chỗ nào cũng đề cao chữ nhẫn.” Nho giáo cho rằng “Nhất định phải Nhẫn mới có thể thành công. Khoan dung thì đức sẽ lớn”. Khổng giảo nói:”Việc nhỏ không nhẫn, tất loạn việc lớn, bậc quân tử không có tranh giành.” Lão giáo nói: “Thiên Đạo không tranh mà Thiện thắng, không nói mà Thiện ứng”. Phật giáo giảng: “Trong sáu phép đo và hàng vạn phương pháp tu hành, Nhẫn’ là đệ nhất.” Không ai không nhắc nhỡ về đạo “Nhẫn” ở đời.

Chữ nhẫn dùng trong gia tộc, nhẫn với vợ chồng, anh em, bạn bè, ruột thịt thì dễ hiểu. Thiếu chữ nhẫn thì vợ chồng đưa đến ly dị, chia cắt, anh cm, bạn bè chẳng muốn nhìn mặt nhau. Nhưng “nhẫn” ứng dụng cho thiên tử (cấp lãnh dạo), chư hầu (tiểu quốc) và quan lại (cán bộ) như đám Cộng sàn Việt Nam ngày nay thì nhẫn mang theo nhục. Cách đây mấy năm, chế độ cộng sản Trung cộng quyết định phục hồi ý thức hệ Khổng Tử, đặt tượng Khổng Tử ngay ở quãng trường Thiên An Môn, phải chăng qua hơn nửa thế kỷ, từ ngày Trung Quốc thành Trung Cộng, đạo lý suy đồi, nhân tâm ly tán, Khổng giảo bị lên án như lời của Mao Trạch Đông: “Khổng Tử là con chó giữ nhà cho chế độ phong kiến!” mà nay chế độ cộng sản lại muốn phục hồi Khổng giáo, vì trên thế giời này chế độ cộng sản hiện nay quả là phong kiến hơn phong kiến. Xưa Vua là tối thượng, nhưng trong chế độ cộng sản, lãnh tụ là tối ưu. Xưa bầy tôi có thể can gián Vua, nhưng ngày nay đi nói nguợc lại ý Đảng có thể dễ dàng bị quy tội gián diệp, chống phá, lật đổ chính quyền, bị thanh trừng, thủ tiêu như dưới chế độ Staline, Mạo Trạch Đông và cả Lê Duẫn, Lê Đức Thọ ở Việt Nam. Khổng giáo với cộng sản như đen với trắng, như ngày và đêm.

Khổng Tử luôn nhấn mạnh đến nhân, nghĩa, lễ trí, tín, có nghĩa là con người phaả có lòng thương người, thương vạn vật (Nhân), phải hành động theo đúng lẽ phải, hợp đạo lý (Nghĩa và Lễ); phải có suy nghĩ (Trí) và phải giữ niềm tin (Tín). Trong khi đó thì con người cộng sản phải là: “một kẻ vô đạo đức, một thằng ăn cắp, một người lợi dụng thời cơ, một dứa hối lộ,” như lời Netchaïev, đồ đệ của Bakounine, của Marx và Eingels (Theo Jacques Attali – K. Morx ou Pesprit du monde trang 404- nhà xuất bản Fayard-Paris). (Chu Chỉ Nam- Báo Tổ Quốc -2011)

Chúng ta thấy gì trong chế độ cộng sản ngày nay: đạo đức suy đổi, giáo dục, y tế xuống cấp. Những con số về nạn phá thai, đĩ điếm, tội phạm xã hội tăng vọt, tham nhũng, đàn áp, bất công lan rộng, Để cứu vãn tình trạng này, không có gi khác hơn là phục hồi Khổng Giáo, nhưng Khổng giáo không thể đi song hành với chù nghĩa Mác, Lê Nin. Nhưng phải nói trong hoàn cảnh Việt Nam ngày nay chưa Júc nào Vua Quan đảng cộng sản là thực hành lời dạy cua Đức Khổng ráo riết như bây giờ:

– Sợ Trung Cộng nên Thiên Tử (lãnh đạo) phải nhẫn, nhịn nhục ca tụng 16 chữ vàng.

– Coi mình như chư hầu của Tàu nên Việt Nam phải nhẫn nhục, thà mất nước, để khỏi mất chức, mất đàng, đã bán đất bán biển, lại chịu nhục để ngư dân bị bắn giết, lạy lục bọn Tàu. Trong khi Philippines thề chống Trung Quốc “đến người cuối cùng” thì Cộng Sản Việt Nam kết án hai sinh viên 7 và 8 năm tù chỉ vì viết khẩu hiệu: “Tàu Khựa hãy cút đi”

– Quan chức Cộng Sản hết lòng theo lời Khổng Tử khuyên thực hành chữ “Nhẫn.” “vì quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến, không nhẫn thì phải bị trừng phạt!” nên đảng viên thành đàn cừu, bịt mắt che tai, cung cúc tận tụy hết lòng với đảng để có đặc quyền đặc lợi. Phục hồi Khổng Giáo là phải, để rồi cả đám vua quan trong nước, như Từ Trương, đắc ý, mà đồng tình gào lên:

“Phải lắm! Phải lắm! Nhẫn ngày nay, nhiều khi đã thành hèn nhát. Nhẫn này hẳn phải đi theo với … nhục! Mà lại là quốc nhục.

4. Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng Sản: Trương Vũ

damau.org

Nguyễn Tà Cúc

Post 7.12.2025

Post by Sơn râu 16 Jun 2026

Chuẩn uý / nhà tiểu luận Trương Vũ (Trương Hồng Sơn) trong thập niên 1960

3-Nhà tiểu luận/họa sĩ/ sĩ quan biệt phái Trương Vũ viết về chinh phu và chinh phụ Miền Nam

Nếu Phùng Nguyễn chú ý đến huyền thoại “người lính VNCH ăn thịt người” đã xuất hiện trong sáng tác của một số nhà văn Miền Bắc, thì nhà tiểu luận/họa sĩ/sĩ quan VNCH biệt phái Trương Vũ (Trương Hồng Sơn) bàn về người lính VNCH và gia đình người lính sau 1975 điển hình là bài “Nói với chàng Siêu”. Bài này xuất hiện lần đầu trên tạp chí Văn Học số 95, tháng 3.1994 (trang 2-10 [8]). Giữa năm 2019, 25 năm sau, bài này được in lại trong tuyển tập Đuổi bóng hoàng hôn, Nhà Xuất bản Nhân Ảnh, (trang 89-99) [9] 31 năm sau, “Nói với chàng Siêu” được in lại trong tạp chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt-Trương Vũ, Bằng Hữu & Văn Chương. Đây là một trong những đoạn mà tôi sẽ bàn đến:

– … Trong loạn ly, cái đau thương đâu phải chỉ đến với người lính. Hay, nói cho đúng hơn, trong loạn ly, cái đau thương lớn nhất vẫn không đến với người lính. Nó đến với vô số người mẹ, người vợ, những đứa con thơ và cho rất nhiều thường dân vô tội. Mà ngoài cái đau đớn, sự hy sinh của những con người đáng thương này thì sự can đảm, sức chiến đấu kiên trì của họ nhiều khi phải được kể là vượt qua những người lính. Những ai đã ở lại miền Nam sau 75 chắc chứng kiến được điều đó. Người cầm súng đã bỏ cuộc nhưng những người không cầm súng đã không bỏ cuộc. Họ phải tiếp tục chiến đấu cật lực với cuộc đời. Và, nếu sau đó, cuộc đời đã không đến nỗi tàn mạt như bãi chiến trường, thì điều đó phải là do công của họ. Chính họ, chớ không phải những người cầm súng, đã khiến cho cuộc đời phải tiếp tục, theo một chiều hướng khác, không theo ý muốn của những người nắm quyền lực mới. Trong tập hồi ký về tù cải tạo của Tạ Chí Đại Trường (3), người viết sử này nói nhiều về họ. Ông cũng ghi lại nhiều chuyện thật mà thường chỉ được nghe những cựu tù nhân kể lại ở ngoài đời. Những chuyện mà khi nghe, người lính Việt Nam không muốn nhớ. Rất ít thấy hay không thấy ghi lại trong những hồi ký khác. Ông kể chuyện những người vợ phải bán thân để nuôi chồng, hay tệ hại hơn, chỉ để chiều chuộng những thói quen hưởng thụ rất vị kỷ của chồng cho dù vào lúc đó các ông ấy đang ở trong tù. Nói chung, thì hầu hết phải vật lộn cực khổ với đời sống, chắt chiu tiền bạc, bồng bế dìu dắt con thơ, băng qua biết bao nhiêu dặm đường để mang quà đến trại học tập thăm nuôi chồng. Có ai đếm được bao nhiêu người đàn bà đã ngã quỵ trong những hoàn cảnh như vậy? Có ai đếm được bao nhiêu trẻ thơ chết oan uổng dọc bờ, bụi nào trên quê hương trong và sau cuộc chiến? Mấy ai gọi hồn họ?   … [Trương Vũ, “Nói với chàng Siêu”, tạp chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt-Trương Vũ, Bằng Hữu & Văn Chương, trang 51-52, tháng Giêng 2025, Hoa Kỳ * Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: Đoạn này bỏ 4 giòng so với Bản Văn Học và không in ngả một số giòng]

Bản xuất hiện trên Tuyển tập mới nhất sẽ được gọi là bản Trương Vũ 2025  [10] nơi tôi sẽ sử dụng để trích dẫn. Cứ nhìn số 30 tác giả thuộc các thế hệ khác nhau, cùng hay khác lãnh vực trên khắp bốn vùng chiến thuật, bầy tỏ về tài năng và tài hoa của ông, là có thể hình dung được sự tin cậy, yêu mến và, có khi, hâm mộ rộng rãi ấy. Độc giả có thể vào đọc danh sách tác giả tham dự cùng nội dung tạp chí này tại https://damau.org/101910/tap-ch-ngn-ngu-so-dac-biet-ve-truong-vu-ra-mat-thng-ging-2025.

Cũng như trường hợp Phùng Nguyễn với Da Màu, Trương Vũ (theo tôi biết) góp phần cụ thể giúp đỡ anh chị em duy trì tạp chí Văn Học và Hợp Lưu. Xuất thân học cao tại Hoa Kỳ, ông hoạt động văn học với người bản xứ nên tiếng nói của ông trong thế giới này quả có chút trọng lượng. Nhưng ông đã viết ra sao về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà chính ông có thời phục vụ dù ngắn ngủi (2 năm) trong một đơn vị không tác chiến, rồi sau đó, đa phần chỉ ở hậu phương như một sĩ quan biệt phái tại Viện Đại học Cộng đồng Duyên hải Nha Trang. Bài “Nói với chàng Siêu” sẽ cho chúng ta rõ. Thông thường, tôi không trở lại một vấn đề đã từng nhận xét, nhất là chỉ nhận xét ngắn ngủi trước đó nhiều năm, nhưng Trương Vũ không những đã biên tập “Nói với chàng Siêu” mà bản này còn tái hiện trong tuyển tập 2025 hầu như nguyên bản với chút thay đổi xem ra làm mạnh thêm lập luận trước đây. Do đó, tôi sẽ sử dụng thí dụ Trương Vũ hầu nhấn mạnh vào một khía cạnh trong câu chuyện với Phùng Nguyễn: Cuộc lữ hành trên đường tiến tới hầu khám phá sự thật sẽ không bao giờ ngừng dù, đôi khi hay lắm khi, chúng ta chỉ là kẻ độc hành. Hơn thế nữa, Trương Vũ còn sử dụng một chi tiết trong Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài của sử gia/Trung úy Thủy quân Lục chiến/Đại úy Bộ binh biệt phái Tạ Chí Đại Trường nên tôi muốn mở rộng vấn đề, cũng nhắm công bằng cho sử gia này.

Theo tôi, chủ ý tốt đẹp của Trương Vũ, mà ai cũng nhận được ngay, là muốn vinh danh người vợ lính VNCH (“chinh phụ”) thay vì chỉ nhắc đến các “chinh phu”. Tuy thế, tôi muốn mở rộng phần các “chinh phu” bằng cách liệt kê hoặc so sánh các phát biểu của ông với một số hoạt động của ngưởi lính VNCH nhất là sau 1975. Giữa 3 bản mà tôi có (1994, 2019 và 2025), Trương Vũ đã bỏ một vài chữ không quan trọng trong bản 1994. Đằng khác, tôi sẽ in đậm những chỗ ông thêm vào hay, thảng hoặc, chữa lại, nay xuất hiện trong bản 2025. Từ đây trở đi, tôi sẽ trích dẫn từ bản Trương Vũ 2025 theo thứ tự trong bài và sẽ trích dẫn càng dài càng tốt hầu công bằng cho ông.

Những người lính VNCH thất trận

Mở đầu, ông tổng kết về người lính và Quân Lực VNCH sau khi thất trận khiến một số phải di chuyển ra ngoại quốc:

– “…Bạn bè tôi hầu hết đều có tuổi trẻ đầy ước mơ. Trong gần hai mươi năm qua, họ lại phải thu mình hoặc chịu đày đọa trong bẫy sập của thực tế. Thực tế thứ nhất là cái quân lực mà họ phục vụ không còn nữa. Thực tế thứ hai là dù quân lực đó không còn nữa và cuộc chiến đã chấm dứt, họ cũng vẫn phải sống trong lao tù. Thực tế thứ ba, làm cho đời sống lao tù của họ cay đắng hơn, nhục nhã hơn, là vì quân đội đó tan vỡ quá nhanh chóng, tan vỡ trong hỗn loạn, và gần như không có chống cự. Thực tế thứ tư là dù ở tuổi nào, con người cũng vẫn biết mơ ước, và thông thường, chỉ cảm thấy hạnh phúc khi những ước mơ có cơ thực hiện. Ước mơ, hoang tưởng và giả dối là những cái hoàn toàn không giống nhau. Đời sống ở Mỹ hay ở những nước phương Tây nói chung lại dễ cho phép những cái rất khác nhau này được sống lẫn lộn. Do đó, trước cùng một sự kiện, con người có những phản ứng hoàn toàn khác biệt. Người lạnh lùng, người thích thú, người phẫn nộ, người chua chát, người giễu cợt, v.v…” [Trương Vũ 2025, Tạp chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt-Trương Vũ, Bằng Hữu & Văn Chương, trang 44-45, tháng giêng 2025 * Chữ in đậm là chữ không có trong bản Trương Vũ 1994]

Tiếp đó, ông xác định mục đích của bài viết.

3.2       Chinh phụ và chinh phu của hai mươi năm cũ

Mục đích của ông rất rõ:

– …Tôi viết bài này cho những chinh phụ của hai mươi năm cũ mà dấu binh lửa vẫn còn. Đặc biệt, cho những người phải bắt đầu lại cuộc đời ở mái tóc chàng Siêu. Dù ít dù nhiều, họ đều có những ước mơ. Nhọc nhằn hơn cả là phải lựa chọn ước mơ nào để thực hiện cho kỳ được và ước mơ nào nên quên đi. Sự lựa chọn này nhọc nhằn cho bất cứ ai khác, không riêng gì họ…” [Trương Vũ 2025, sđd, trang 45 * Chữ “(chinh) phụ” chỉ xuất hiện ở bản Trương Vũ 2025. Trước đó, chữ “(chinh) phu” xuất hiện cả trong bản Trương Vũ 1994 (trang 3, Văn Học, sđd) và bản Trương Vũ 2019 (trang 90, Đuổi bóng hoàng hôn, sđd]

Đoạn ông đặt hai tiếng hô “Nghiêm”—một của “cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến” VNCH trong một bữa ăn uống dạ vũ và một của viên sĩ quan Nhật khi gặp lại đoàn lính tử trận—tiếp theo nhau:

 – “…Cách đây hai tháng, nhận lời mời của một người bạn thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa, tôi đến dự dạ tiệc kỷ niệm ba mươi chín năm thành lập binh chủng này. Mới vào, tôi chứng kiến những cảnh thật cảm động. Lần đầu tiên trong một buổi dạ tiệc, tôi nghe nhiều quan khách cùng hát theo bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa và hát trong xúc động. Nét mặt của các cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến thuộc đủ lứa tuổi, thuộc nhiều hoàn cảnh khác nhau, khi đứng trình diện quốc kỳ, quân kỳ, cùng với tiếng hát của họ đã làm mọi người quên hiện tại. Một không khí hoài niệm bao trùm. Một không khí của tiếc thương, của tình đồng đội, và của định mệnh, thứ định mệnh dành cho những người lính mà loại tuổi xanh của họ đã khiến họ lựa chọn một binh chủng có khả năng đưa họ đến cái chết nhanh hơn. Tối hôm đó còn có vẻ như một đêm đoàn tụ của nhiều bạn bè xa cách lâu năm. Thời còn trẻ, họ cũng sống lăn lóc với nhau trong quân ngũ, trên chiến trường. Lúc đó, họ không khác nhau mấy. Ngày nay, gặp lại, mỗi người có một đời sống gần như hoàn toàn khác biệt. Có người đã rất thành công trong nghề nghiệp. Có người chưa rành ngôn ngữ mới, chưa biết làm gì để sống. Có người sống ở Mỹ từ 75. Có người trải qua gần mười lăm năm trong lao tù. Cùng tuổi nhau mà người này trông trẻ trung, nhanh nhẹn, còn người kia thì lụ khụ, tóc bạc, răng cỏ không còn. Có người sống khác hẳn đời sống cũ, đạo hạnh như một thầy tu. Có người vẫn hào hoa như ngày còn trong lính. Nhưng khi tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ được thối lên, trông họ thật giống nhau. Không phải chỉ vì họ khoác lại bộ quân phục cũ để trình diện quân kỳ, mà có lẽ vì trên tất cả, vào lúc đó, tình bạn, tình đồng đội, sự hồi tưởng về một tuổi trẻ đã mất và những bạn bè đã mất chế ngự mọi tình cảm của họ. Phải chi cuộc đời ngừng lại ở đó và thời gian đóng khung ở đó. Cuộc đời lại tiếp tục theo cách riêng. Bình thản. Bình thường. Và như thế hồn tử sĩ đã được mời gọi trở về trong không khí của một dạ tiệc. Có rất nhiều bài diễn văn và trình diễn văn nghệ giống như ở hầu hết các dạ tiệc có tính cộng đồng của Việt Nam. Khi dư âm của tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ vẫn còn đâu đó và bài diễn văn của đại diện Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam bắt đầu, thì những tiếng cười nói, giỡn cợt ồn ào cũng bắt đầu nổi lên. Cái ồn ào lên cao độ khi bài diễn văn cuối cùng chấm dứt và khi ban tổ chức chuẩn bị tiễn đưa quốc, quân kỳ. Lúc đó, bạn tôi, cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến bước lên máy vi âm. Có vẻ như anh lấy hết sức bình sinh để hét lên một tiếng “nghi…ê…ê…m” rung động cả phòng tiệc. Tiếng hô của anh kéo dài hơn bình thường. Tiếng ồn ào giảm dần. Cuối cùng thì tắt hẳn. Tiếng hô của anh cũng ngừng lại ở đó. Nhờ vậy quốc kỳ và quân kỳ được tiễn đưa trong trang nghiêm. Sau đó, nhạc dạ vũ trổi lên. Vui nhộn. Một số người tiến ra sàn nhảy, dẫn đầu là một cựu trung tướng thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa (…) Tiếng hô nghiêm của anh xoáy vào tâm can tôi. Nó khiến tôi nhớ đến tiếng hô của một sĩ quan Nhật trong cuốn phim mới nhất của đạo diễn lừng danh Akira Kurosawa. Tôi muốn ghi lại đây phần xây dựng của Akira Kurosawa. Nhan đề của phim là “Những giấc mơ” (Dreams), trong đó ông xây dựng những giấc mơ khác nhau để nói về nhũng ước mơ, những sợ hãi, những ám ảnh trong cuộc đời. Từ giấc mơ của tuổi thơ đến những giấc mơ của tuổi thanh niên, trung niên và sau cùng là giấc mơ của tuổi già. Thật ra cũng có thể coi đây là những giấc mơ của một người trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời người đó. Tôi xúc động nhiều khi xem phần liên hệ đến những người lính, tựa đề “Con đường hầm” (The Tunnel) (…) Gài lại nút áo cho nghiêm chỉnh, lấy hết sức bình sinh hô “nghiêm”, hét thật to ra lệnh cho trung đội quay lại. Trung đội 3 làm theo lệnh anh, bước răm rắp trở lại đường hầm. Có tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 45-47, 49]

            “Tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ…” sẽ dẫn đầu cho các đoạn phát biểu về người được và không được “chiêu hồn”.

3.3       Lính chết, dân chết, đồng bạn chết, nhiều khi chỉ do thái độ tắc trách, hốt hoảng, kém tài, hoặc hèn nhát của cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ nào… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 50)

            Trương Vũ tiếp tục nhận xét:

– … Có ai biết được sự thật trong trận chiến vừa qua, bao nhiêu thường dân Việt Nam đã bỏ mình, và bao nhiêu người còn sống sót đã phải hủy hoại tuổi xanh của họ? Một triệu? Hai triệu? Ba triệu? Có biết bao nhiêu người đã ngã gục, thường dân hay lính, chỉ vì do tham vọng cá nhân, do thái độ vô trách nhiệm, do kém tài năng, do những quyết định sai lầm vội vã của cấp chỉ huy? Không làm sao đếm được. Nhưng với những con người Việt Nam bình thường, đã từng nghe bom đạn, đã từng nhìn thấy xác chết vì bom đạn, đã lăn lóc trên quê hương trong những ngày chinh chiến, cũng hiểu được là con số đó không nhỏ. Đọc các hồi ký chính trị và quân sự của những cựu chính trị gia, cựu tướng lãnh, của cả miền Nam lẫn miền Bắc, mấy ai nghe thấy một lời nhận lỗi? Lính chết, dân chết, đồng bạn chết, nhiều khi chỉ do thái độ tắc trách, hốt hoảng, kém tài, hoặc hèn nhát của cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ nào. Các đài truyền hình Mỹ thỉnh thoảng chiếu đi chiếu lại cảnh những người lính Cộng Hòa vừa chạy vừa bắn bừa bãi vào dân chúng để giành đường thoát vào những ngày cuối của cuộc chiến. Người lính Việt Nam ngồi xem đau thắt cả ruột gan. Ai chỉ huy họ? Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, trung đội trưởng nào? Hiện giờ những người chỉ huy này đang ở đâu? Sách báo Việt Nam ở hải ngoại hàng hàng lớp lớp. Vô số chữ nghĩa đã được dùng để chửi người Mỹ bỏ cuộc, chửi cấp trên, chửi cấp dưới, chửi lẫn nhau. Bao nhiêu chữ nghĩa đã được dùng cho những lời nhận lỗi… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 50]

 Theo câu thượng dẫn “Lính chết, dân chết, đồng bạn chết, nhiều khi chỉ do thái độ tắc trách, hốt hoảng, kém tài, hoặc hèn nhát của cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ nào” thì cứ cho là Trương Vũ phê bình cả 2 miền. Như vậy, phần Miền Nam thì lính (VNCH) vô kỷ luật, (quan) VNCH “hốt hoảng, kém tài, hoặc hèn nhát của cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ nào”. Ở bất kỳ cỡ nào?!

Tiếp theo, Trương Vũ chỉ rất rõ các cấp chỉ huy này không phải…Trung tướng/Tổng Tư lệnh Quân Lực VNCH Nguyễn Văn Thiệu mà thuộc Quân Lực VNCH trong mấy câu: “những người lính Cộng Hòa vừa chạy vừa bắn bừa bãi vào dân chúng để giành đường thoát vào những ngày cuối của cuộc chiến (…) Ai chỉ huy họ? Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, trung đội trưởng nào? Hiện giờ những người chỉ huy này đang ở đâu?” Tôi sẽ xét xem họ ở đâu cho công bằng cho cà Trương Vũ lẫn các …trưởng.

 Điều đầu tiên chúng ta được biết là ông em, tức Đại úy Quân Cảnh Hoàng Khởi Phong lúc ấy đang ở đâu. Ông này nhận Trương Vũ là “ANH TÔI” đấy [Trương Vũ 2015, “Hoàng Khởi Phong- Trương Vũ và tạp chí Văn Học”, trang 331, sđd *Chữ in hoa là của tác giả]. Tôi sẽ nhắc lần lượt đến một số quân nhân VNCH—có khi kiêm người cầm bút và/hay tù nhân Cộng Sản và/hay nhập cư theo Diện H.O. – và hoạt động của họ sau 1975 hầu mở rộng cho việc lưu lại chứng tích về vị trí của họ trong thời gian hấp hối của VNCH.

Mở đầu là hồi ký Ngày N+… của nhà thơ/nhà văn /Đại úy Quân cảnh Hoàng Khởi Phong, một hồi ký chiến tranh phản ảnh phần đời cuối của không những VNCH mà còn của một người lính đã phục vụ quê hương ấy một cách can đảm và lương thiện.

Nhà văn/nhà thơ/Đại úy Quân cảnh Hoàng Khởi Phong với Ngày N + … và Cây tùng trước bão

Ông tên thật là Nguyễn Vinh Hiển, sinh năm 1943 tại Hải Dương, Bắc phần; di cư vào Nam; nhập ngũ, sĩ quan trừ bị thuộc binh chủng Quân Cảnh 1963-1975; buộc phải di tản một mình sang Hoa Kỳ vào năm 1975. Ông đã làm thơ và có thơ xuất bản trước 1975. Ông có giọng đọc thơ rất hào sảng và rất thấm thía. Tôi không bao giờ quên ơn ông đã giúp đỡ, khi chị em chúng tôi tổ chức Diễn đàn Phụ Nữ Khởi Hành, bằng cách không những lên góp ý (rất thành thực) vào lần thứ nhất, mà còn nhận lời trở lại phát biểu trong tư cách một diễn giả vào lần thứ hai. Trong lần phát biểu tại Diễn Đàn Phụ Nữ Khởi Hành lần II, ông đã cao hứng đọc kèm một đoạn thơ …của người khác, khiến vài-chúng-tôi buộc phải tán thưởng:

            -Mấy ông-Bắc-Kỳ nói hay mà đọc thơ cũng hay.

            Tôi nhủ thầm “Đó là nhờ công của Ban Tổ chức đã kéo các ngôi sao này ra ánh sáng, chứ cũng có vài ông-Bắc-kỳ biến cử tọa thành Bạch Tuyết ngủ trong rừng hết trơn.” Ông cũng là một thí dụ tiêu biểu của giới văn nghệ sĩ Miền Nam: không bị kiềm tỏa như hầu hết nhà văn Miền Bắc vào chủ trương hay giáo điều của chính phủ trong cùng giai đoạn. Tôi muốn cung cấp một phần chân dung của ông qua một cuộc phỏng vấn để cho thấy chân dung ấy đã phản ảnh ra sao vào Ngày N + … và Cây tùng trước bão, 2 tác phẩm đánh dấu 2 đoạn đời sau 1975 của tác giả.

Thời Chiến trong Văn học Miền Nam 1954-1975: Phỏng vấn nhà văn/nhà thơ Hoàng Khởi Phong

Sau khi có dịp nói chuyện với nhà văn Thảo Trường vào năm 2002, tôi đã có ý định phỏng vấn các nhà văn từng phục vụ trong Quân Lực VNCH, hầu được nghe chính cảm tưởng của họ về cuộc chiến và Văn Học Miền Nam; nhất là sau khi đã có một độ lùi cần thiết cho cảm xúc lắng xuống và có cơ hội tiếp xúc đủ với những nhà văn cầm súng Miền Bắc từng là đối thủ của họ trên chiến trường. Trong loạt “Thời Chiến trong Văn học Miền Nam 1954-1975” trên Khởi Hành, tôi đã phỏng vấn vài nhà văn mà tôi tin rằng có đủ tư cách tác chiến lẫn văn chương hầu làm nhân chứng. Một trong mấy nhà văn đó là Hoàng Khởi Phong. Sau đây là vài đoạn trích dẫn từ cuộc phỏng vấn:

–Nguyễn Tà Cúc: Khi nói đến Văn học Miền Nam, lập tức anh nghĩ đến điều gì trước tiên?

–Hoàng Khởi Phong: Chỉ trong câu hỏi ngắn này, trong cụm từ “văn học miền Nam” phải chăng để so sánh với “văn học miền Bắc” ít nhất phải có hai điều cần nói đến là thời gian và không gian. Hiểu một cách giản dị hơn về câu hỏi này, có nghĩa là so sánh hai dòng văn học của miền Nam và miền Bắc trong thời điểm từ 1954 đến 1975. Điều đầu tiên tôi nghĩ tới là các nhà văn của miền Nam không bị ép buộc mặc đồng phục trong các tác phẩm của họ. Những nhà văn của miền Nam khi viết không bị lùa vào một một con đường độc đạo, hướng tới chiến tranh, và chiến thắng. Những người viết và các sáng tác của miền Nam vì vậy muôn hình vạn trạng. Có những nhà văn bay lượn trên không trung như những con chim đại bàng, thì cũng không hiếm những nhà văn bay la đà trong các khóm cây như những con chim sâu, chim sẻ và cũng không thiếu gì ruồi nhặng vo ve bên cỗ bàn. Những nhà văn miền Nam có người tài hoa, có người tủn mủn, có người thông thái, và cũng không thiếu người chất phác giản dị. Những tác phẩm của miền Nam vì vậy đã chạm tới mọi góc gách của cuộc sống, kể cả những góc tối tăm nhất của con người. Nói tóm lại họ không bị ép mặc đồng phục trong các sáng tác của họ… (…)

–Nguyễn Tà Cúc:   Anh viết nhiều nên độc giả ít ai nhớ là tác phẩm đầu tiên của anh là về Thơ. Tác phẩm đầu tay của anh là một tập thơ, tập thơ Mặt Trời Lên in năm 1967. Lúc ấy, dĩ nhiên anh là quân nhân, phục vụ trong binh chủng Quân Cảnh. Anh thuật lại trong một bài viết tưởng niệm nhà thơ Kim Tuấn rằng Kim Tuấn viết bạt cho tập thơ đó, một tập thơ “về sau đã làm cho” anh “vất vả, lận đận không ít trong đời quân ngũ”. Cái đó không có gì ngạc nhiên cho lắm vì trong khi anh đi “bố ráp” người ta về lon áo mũ thì anh bị các ông quan khác “bố ráp” về những bài thơ anh làm. Tôi nhớ nhất câu này trong bài viết đó của anh: “Khi viết bạt cho tập thơ, Kim Tuấn đã có lần nói với tôi: ‘Thơ phú như thế này mà lại làm sĩ quan Quân Cảnh thì thật là phí’ ”.

Tôi có vấn đề với câu nhận xét của nhà thơ (quá cố) Kim Tuấn! Tôi nghĩ hồi xưa — và nhấn mạnh hai chữ “hồi xưa”– người ta vẫn nghĩ đến lính như một cái gì không vui như “bị bắt lính” hay một cái gì xui xẻo, không đáng như “thật là phí”. Nhưng tôi nghĩ khác ngay từ “hồi xưa”. Tập thể lính ấy đúng là đã hy sinh để Miền Nam có thể sống sót trong 20 năm và trong 20 năm ấy, tập thể lính Việt Nam Cộng hòa đã là cái khiên để che cho chở cho một nền Văn học có thể thành hình. Cũng vì bị đi lính tác chiến chứ không phải lính kiểng mà Việt Nam Cộng hòa có những nhà thơ nhà văn như Tô Thùy Yên, Nguyễn Bắc Sơn, anh và một đám đông đảo không kể xiết. Chiến tranh Việt Nam đã phản ảnh khá trung thực trong Thơ (Văn) Miền Nam. Một điều mà chúng ta có thể nói được ngay là khi người ta đọc một bài thơ của các tác giả này, người ta biết là người ta không phải diễn nghĩa gì cả vì chúng không hề bị nhuộm bởi một tà ý chính trị hay một sự lệch lạc (đáng tiếc) gây ra bởi sự thiếu tin tức về chính cuộc chiến tranh đó. Riêng anh, những lần gặp nhau, anh đều nhắc lại thưở làm thơ. Khi tôi mời anh lên phát biểu trong một sinh họat do Khởi Hành tổ chức, anh cũng…ráng đọc thêm một bài thơ không phải của anh. Thế thì tôi muốn lần này được hỏi anh về Thơ, Thơ thời chiến của Miền Nam, của Việt Nam Cộng hòa. Hỏi như thế tôi biết là rộng quá, tôi chỉ muốn xin anh cho biết về vài nhận xét của anh về Thơ Miền Nam.

–Hoàng Khởi Phong: Tác phẩm đầu tay của tôi đúng là một tập thơ, tập thơ Mặt Trời Lên in năm 1967. Tập thứ hai, Phục Hồi Quyền Chức Làm Người, in vào năm 1972. Từ năm 1975 trở đi, khi qua Mỹ tới giờ gần 40 năm rồi tôi chỉ làm thêm có 3 bài thơ mà thôi. Thành thử bây giờ tôi chỉ là “cựu thi sĩ” mà thôi. Cuốn thơ Mặt Trời Lên này khi đi kiểm duyệt để in, nhân viên phụ trách kiểm duyệt không nói là cấm, song toàn bộ tập thơ có khoảng chưa đầy hai chục bài, bị bỏ trọn vẹn 4 bài, những bài thơ còn lại bị dập be bét. Vì muốn in nguyên vẹn không bỏ sót một chữ nào, tôi đành phải in lậu ở nhà in của Tiểu Đoàn 20 CTCT, dùng những gam giấy thừa của nhà in quân đội, chuyên in truyền đơn chiêu hồi để thả vào núi, rừng trong lãnh thổ quân khu 2. Nhà in này lúc đó do họa sĩ Thái Tăng An trông coi, mà thiếu úy Thái Tăng An lúc đó đang ở chung một nhà với tôi, thân nhau như thể anh em ruột. Để tránh những phiền toái, ngoài bìa sau của tập thơ có dòng chữ “Phổ biến dưới hình thức bản thảo dùng để tặng bạn hữu”. Dù đã thận trọng như thế, nhưng chỉ vài tháng sau tôi cũng bị kỷ luật nội bộ, đổi nhiệm sở và cấm chỉ huy năm năm. Rất may lệnh phạt này sớm bị bỏ qua, rút cục tôi chỉ bị tham gia công tác trao đổi tù binh chiến tranh rồi sau đó thuyên chuyển từ Pleiku về Đà Lạt. Khi viết những dòng chữ này, tôi rùng mình nghĩ đến những biện pháp kỷ luật mà miền Bắc đã áp dụng với các nhà văn, nhà thơ của Nhân Văn Giai Phẩm. Bây giờ nói về “thi ca trong thời chiến” và nhất là của các “nhà thơ quân đội”. Thật tình mà nói tôi rất ghét chữ nhà văn, nhà thơ quân đội. Đã có lần trả lời Nguyễn Mạnh Trinh, trong một bài phỏng vấn khá dài mà tạp chí Thế Kỷ 21 hồi đó đã chạy cái tựa: “Hoàng Khởi Phong, nhà văn nhiêu đó đủ rồi”. Nhìn vào thực tế thì phải nói là hầu hết các nhà văn, nhà thơ của miền Nam, đều có một thời gian đi lính. Khi cả nước (cả hai miền) cùng tổng động viên, thì chỉ có một số thật nhỏ thanh niên thoát khỏi bộ quân phục trên người. Bản thân tôi giao du rất kỹ với nhiều nhà văn, nhà thơ đang ở lính, và cũng khá thân với không ít những nhà văn nhà thơ trốn lính, trốn dưới rất nhiều hình thức. Chẳng những thế, trong quyền hạn của tôi vô hình chung tôi đã trợ giúp khá nhiều anh em trốn lính. Nói một cách khác thì chiến tranh chi phối tới tận cùng, ngay với một nhà thơ trốn lính, ông ta vẫn có quyền làm thơ về chiến tranh (…) Trong khi đó ở miền Nam, những nhà thơ như Nguyễn Bắc Sơn đến với chiến tranh với một sự thật hệt như mọi thanh niên phải trần truồng khám sức khỏe khi nhập ngũ:

… Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu

Đi hành quân vẫn rượu đế mang theo

Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo

Coi chiến trận như tai trời ách nước

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước…

Không chỉ Nguyễn Bắc Sơn có hơi thơ ngang ngang, tàng tàng như thế. Hầu như các nhà thơ của miền Nam khi bước vào chiến tranh, họ có thể phải mặc đồng phục của các quân binh chủng của họ, nhưng trong văn chương và thi ca của họ, dứt khoát là những tình cảm thật của mỗi người. Nó thiên hình vạn trạng chứ không bao giờ mặc đồng phục, sáng tác theo các chỉ thị trong các nghị quyết, được ban bố từ những nơi tối cao chỉ đạo cuộc chiến. Chính vì vậy mà Nguyễn Mạnh Trinh đã có lúc coi thơ của tôi là thi ca phản chiến. Bản thân tôi tôi không hiếu chiến, nhưng dứt khoát tôi cũng không phản chiến. Tôi hơi nhậy cảm với cụm từ “thi ca phản chiến”. Tôi là một người lính có nhiều đêm suy nghĩ về chiến tranh, về thân phận con người, và tất nhiên về bản thân mình. Chiến tranh tuy chi phối tới mọi nơi, mọi chốn, nhưng ở miền Nam, chiến tranh chưa bao giờ chi phố toàn bộ thi ca miền Nam. Tuy vậy chiến tranh cũng đóng góp rất nhiều nghịch lý với nền thi ca của miền Nam. Thí dụ nhiều nhà thơ chưa bao giờ đi lính, nhưng lại cỗ vũ chiến tranh hết mình. Nhiều nhà thơ thật sự đang chiến đấu rất mãnh liệt ngoài mặt trận thì thơ phú lại rất mềm mại dịu dàng. Để có thể hiểu về thi ca của miền Nam trong thời chiến, cần phải có nhiều cuốn sách. Một vài câu hỏi thì khó có thể hình dung được các thi sĩ của miền Nam đến với chiến tranh, và viết về chiến tranh như thế nào. Ở đây tôi chỉ nói ngắn, giản dị là các nhà thơ của miền Nam trong thời điểm đó, có thể hay, có thể dở, nhưng đó là những tình cảm thật, suy nghĩ thật của họ về chiến tranh… [Nguyễn Tà Cúc, “Phỏng vấn nhà văn Hoàng Khởi Phong – Thời Chiến trong Văn học Miền Nam 1954-1975”, Khởi Hành Số 180-181, trang 32-33, Tháng 10 & 11.2011, Hoa Kỳ]

            B-Thời hậu chiến: Ngày N +… và Cây tùng trước bão

Hồi ký Ngày N +… và Cây tùng trước bão là tâm tình của một người lính thời tao loạn qua văn chương. Đoạn trích dẫn kèm đây trong Ngày N +… chắc chắn sẽ gợi chúng ta nhớ lại tình trạng tuyệt vọng ngày đó mà không quyết định nào là không làm những người lính VNCH bị giằng co trước tình nhà nợ nước.

Hoàng Khởi Phong, hồi ký Ngày N+…

Thủ bút của tác giả

 Trong đoạn đối thoại dưới đây, Đại úy Quân Cảnh Hoàng Khởi Phong và Trung úy (?) biệt phái Trương Hồng Sơn/Trương Vũ đứng giữa một Nha Trang hoảng loạn. Hoàng Khởi Phong, đem được gia đình và vợ con lính thoát về Nha Trang, nay tìm đường xuôi Nam. Trương Vũ quyết định không đi, đưa chìa khóa chiếc xe jeep cho bạn mình. Theo tin tức trong sách, tôi áng chừng “Ngày N… + 16” là ngày 2, tháng 4 năm 1975 trong đoạn trích dẫn này:

-… Ngày N + 16, 7 giờ 30 sáng

Trương Hồng Sơn đón tôi ngay ngưỡng cửa. Chúng tôi đều ngạc nhiên lẫn cho nhau tại sao còn ở chốn này. Sơn kéo tôi vào nhà, ngồi chưa yên Sơn đã hỏi tôi dồn dập:

-Ông ở đâu mà mò tới đây lúc này?

-Tôi ở Qui Nhơn vào (…)

-Ở Nha trang được bốn ngày nay, tôi ra tới Qui Nhơn, việc đầu tiên là đưa vợ con lính, vợ con tôi vào Nha Trang. Mãi hôm qua đơn vị tôi mới chạy, bị đánh tan ở Tuy hòa. Cả ba đơn vị về còn được tám mống. Tám mống kể cả tôi.

-Như vậy là ông bị đụng nặng rồi. Anh em chết nhiều không? Còn có tám mống thì chắc là bi đát lắm.

-Chết vài ba người, nhưng có lẽ bị bắt sống trọn gói.

Tôi kể vắn tắt cho Sơn biết qua cảnh chạy Liên tỉnh lộ 7, cảnh chạy ở Tuy Hoà. Tôi cho Sơn biết không thể ở lại được. Sơn nói với vợ:

-Anh đi với anh Hiển uống cà phê coi tình hình chút.

Chúng tôi không đi đâu xa, Sơn lái chiếc Jeep dân sự ra tới phố chính thì ngừng lại. [Tôi nói]:

-Ông mới là tối dạ, đã làm sĩ quan Quân cảnh coi tù binh ở Phú Quốc, dầu cho có biệt phái về dạy học chăng nữa cũng phải chạy. Ông hãy nhìn những người dân kia, không có đi coi tù ở Phú Quốc, cũng chẳng dậy đại học như ông, thế mà họ còn đi lũ lượt như thế. Ông chưa thấy tận mắt Đại lộ kinh hoàng năm 72 phải không? Mấy tháng sau tôi đi trao đổi tù binh, có những đoạn xe công binh phải ủi xác người ở dọc đường, mới có lối cho đoàn xe của tôi chạy tới địa điểm trao đổi tù binh. Ông mới là tối dạ, đã làm tới sĩ quan Giám thị Trưởng khu, mà lại là Trưởng khu Tù binh xâm nhập, giờ này còn ở đây thì tôi không hiểu nổi.

-Tôi có cái kẹt khó giải quyết.

-Bây giờ ông coi có quen ai có thuyền không?

-Ông đi với tôi vô Đại học Cộng đồng Duyên hải. Kiếm cái bus của trường rồi tôi chạy với ông.

Sơn chở tôi vô trường Đại học Nha Trang. Dọc đường người tản cư đông như kiến, càng lúc càng nhiều. Càng lúc càng cảm thấy có một cái gì bất ổn. Chiếc xe bus của trường còn đó, không chạy được, người ta đã lấy mất cái bình điện. Trên đường về chúng tôi im lặng. Sơn rủ tôi ghé vào một quán quen còn hé cửa. Rồi anh nói như mơ:

-Tôi cũng biết tôi phải chạy, nhất là đã làm việc với ông ở Phú Quốc ít nhiều cũng ảnh hưởng. Hôm qua giá gặp ông thì có lẽ tôi có cách sử dụng chiếc bus này hợp pháp. Bây giờ dù có muốn sử dụng bất hợp pháp cũng không được.

-Ông có chiếc Jeep đó sao không chở tụi nhỏ chạy? (…)

Rồi đột nhiên Sơn đứng dậy quả quyết đưa chìa khóa chiếc Jeep cho tôi.

-Ông chạy đi, ông không thể ở lại, ông cần chiếc Jeep hơn tôi. Tụi nó vô đây cái xe của tôi chỉ có giá trị bốn cái bánh để làm dép Bình Trị Thiên. Nó không có giá trị gì trong những ngày sắp tới, ông lấy chạy đi.

(…)  Tôi chọn Sơn làm Giám thị trưởng khu tù binh sĩ quan Bắc Việt, bởi lẽ tôi muốn cho tù binh thấy rõ phẩm chất những sĩ quan trẻ tuổi miền Nam, những sĩ quan trẻ cỡ tôi và Trương Hồng Sơn không thối thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, … Cố vấn Mỹ của đơn vị tôi nhiều như ruồi, để ý chúng tôi từ chút. Họ bảo vệ tù binh như một cách gián tiếp bảo vệ những người phi công Mỹ đang bị giam tại Hotel Hilton Hà Nội. Chúng tôi, những sĩ quan trẻ tuổi của miền Nam, cứ việc mình mình làm, đường mình mình đi. (…)

*

Ngày N + 16, 10 giờ sáng

Từ Bến Đá trở về, tôi và Sơn ghé lại quán cà phê cũ. Chúng tôi chạy đôn chạy đáo tới những xóm chài, tới vài nơi mà Sơn đoán là có thuyền, nhưng không có kết quả. Chúng tôi ngồi thừ người trong quán. Nha Trang bây giờ là con bệnh đang trong giờ hấp hối. Còn Sơn và tôi cũng chẳng khác gì, Sơn đưa chìa khóa cho tôi một lần nữa.

-Thôi ông dọt đi, sáng tới giờ tôi đưa đi kiếm ghe là để chiều lòng ông thôi. Không có ghe nào giờ này đâu. Dẫu có bọn nó cũng dấu bên mấy cái đảo nhỏ. Tôi đã nhất quyết không đi từ bốn ngày trước rồi, cứ xem ông đủ biết chạy tới đâu mất tới đó, có chạy tới Sài Gòn cũng thế thôi. Mà đến khi trở về có khi nhà cửa mình lại tan hoang. Tôi dậy học ở đây mấy năm, có dành dụm mua được cái rẫy. Bọn nó vô đây thì tôi làm rẫy sống cũng chả sao. Tôi không cần cái xe jeep này nữa. Ông dông đi (…)

Chúng tôi xiết tay nhau thật chặt như muốn truyền cho nhau một chút sinh khí.

-Xe đầy xăng, bánh hơi mềm một chút, có bánh sơ cua ở băng sau. Thượng lộ bình an nghe ông.

-Cho tôi gửi lời chào bác và cám ơn chị. Hôn mấy đứa lỏi Na Nô Ni Nu Ti hộ tôi.

Và tôi nhủ thầm:

-Vĩnh biệt ông. Vĩnh biệt Nha Trang… [Hoàng Khởi Phong, “Ngày N+16”, Ngày N+ …, trang 164-169, Nhà Xuất bản Văn Nghệ, Thành phố Westminster, CA, 1988 * Tôi trích dẫn từ Bản 1988.]

 Khoảng trên dưới 1 năm sau, 1976, đến lượt Trương Vũ kiếm ghe tìm cách thoát thân sau khi nhận ra “Bọn nó vô đây” thì dù… làm rẫy sống cũng “có sao”! Thế nên, sau Ngày N+ … , tôi sẽ tiếp tục trích dẫn hai chân dung từ Cây tùng trước bão.  Tác giả nói về sự hình thành của tác phẩm này, trong đó có 8 nhân vật Diện H.O.  khi trả lời cuộc phỏng vấn của nhà phê bình Nguyễn Mạnh Trinh nhân lúc Cây tùng trước bão được “hoàn tất”:

 -… Nguyễn Mạnh Trinh: Trong thời thế này, anh có mục đích nào khi viết Cây Tùng Trước Bão? Nhìn lại lịch sử để tôn vinh những gì anh đã sống có phải?

Hoàng Khởi Phong: Đâu có lớn quá vậy, chẳng qua chỉ là một sự tình cờ, trong một cuộc mạn đàm với Đỗ Quý Toàn khi anh ghé Cali chơi cách đây mấy tháng, lúc đó tôi mới giang hồ vặt trở về, mới chân ướt chân ráo vô làm cho tờ Người Việt. Ông Toàn đề nghị làm một loạt bài đề cập tới những người mới tới trong diện HO. Nhân vật đầu tiên mà tôi có duyên gặp gỡ là ông Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Có lẽ tôi cũng là một người lính, nên khi viết về đời lính thì hạp liền. Đó không phải là một cuộc phỏng vấn, mà là một buổi nói chuyện tâm tình giữa hai người lính cũ, tôi chỉ là người gợi ý và ghi lại những ý chính của câu trả lời. Bài viết được nhiều người gọi điện thoại đến chia sẻ. Ông Toàn xúi dại tôi làm luôn một loạt. Tôi thì anh đã biết là chẳng khôn gì, do đó tôi mất sáu tháng trời để chỉ có thể viết được cho tám nhân vật. Cũng không nhiều gì. “Tôn vinh?” Anh dùng chữ lớn quá, mà nếu có tôn vinh thì dành cho những người tôi có duyên nói chuyện. Những chất sống trong đó là của những nhân vật đó, tôi chỉ là một người thư ký. Nói theo lối nhà binh là ghi lại nhật ký đơn vị. Tôi không hề góp phần trong việc “tôn vinh” này. Chỉ là thư ký thôi. [Nguyễn Mạnh Trinh phỏng vấn Hoàng Khởi Phong, “Một cuốn sách, một cuộc phỏng vấn và những mảnh đời trong chiến tranh”, Văn Học số 95, trang 111, tháng 3.1994]

Một trong “tám nhân vật” này là Cao Xuân Huy. Chúng ta sẽ được biết lúc đó ông Đại đội phó này ở đâu.

Nhà văn/Trung úy Đại đội phó, Thủy quân Lục chiến Cao Xuân Huy: Nước mắt tôi ràn rụa. Tôi bỏ vào nằm vật trên giường, chìm đắm trong một nỗi tuyệt vọng vô bờ…

Trung úy Đại đội phó Cao Xuân Huy– bị bắt làm tù binh khoảng 1 tháng trước tại bãi biển Thuận An– thổ lộ cho Hoàng Khởi Phong biết ông ở đâu và nghĩ gì vào ngày 30 tháng 4 thuở năm xưa ấy:

 -… Tôi coi nửa đại đội, hơn tám mươi người lính dưới quyền (…) Cái tháng tư năm 75 đó nó đến một cách kỳ cục. Lạ một điều là trước khi có những cơn giông thì bầu trời làm như oi ả, im phăng phắc. Trong chiến trận cũng vậy, trước khi bom đạn nổ ra tơi bời hoa lá thì những ngày cuối tháng hai cho tới đầu tháng ba 75 hầu như chỗ tôi đóng quân là một chỗ thanh bình. Đêm đêm nằm ở nơi gió cát địa đầu, tụi tôi lắng nghe tình hình chiến sự vùng hai qua mấy cái đài BBC, VOA thổ tả, khỉ gió. Đánh chác cái mẹ gì mà lạ thế này. Đùng một cái tụi tôi được lệnh bỏ vị trí hành quân rút về phòng thủ Huế, rồi từ Huế lại di tản… chiến thuật về Thuận An. Ở Thuận An chính mắt tôi đã nhìn thấy những điều mà tôi không bao giờ quên được. Cái cảnh chen lấn để xuống tầu Hải Quân ở ngoài bãi biển(1). Đến bây giờ tôi vẫn còn uất vì cái khoảng thời gian ngắn ngủi này. Uất vì chẳng hề nghe các… đại bàng ra lệnh đánh gì cả.  Có được bắn phát nào đâu. Mà rồi cũng chẳng thấy… đại bàng với lại… mặt trời gì cả. Qua cái máy truyền tin lệnh của mấy đại ca chỉ là… rút, rút và rút. Điệu này thì đến cả cái ruột của bọn tôi người ta cũng sắp… rút ra luôn. Nằm cứng ở bãi biển nhìn chiến xa của mình trong cơn hoảng loạn, chạy cán bừa lên lính của mình. Máu của bên ta do bên ta gây ra đỏ ngầu một vũng biển, nhiều xác người lềnh bềnh…Bọn chúng đến vồ tụi tôi trọn gói ngay tại bờ biển. Tụi tôi được áp tải ngược trở lại phía Bắc, giam giữ trong những doanh trại cũ của Cộng Sản, bỏ lại đằng sau trong khi truy kích quân ta. Ai thì tôi không biết, chứ riêng tôi thì Sài Gòn vẫn còn, miền Nam vẫn còn. Xui thì bị bắt, năm 73 đã từng trao đổi tù binh của hai miền. Ăn cơm nhà pha Việt Cộng một thời gian thử coi răng của mình có cứng không. Ở tù ai mà chẳng buồn, nhưng rồi cũng chẳng sao, sẽ có ngày về làm lại. Trong thời gian này tuị tôi được coi là tù binh, được chúng đối xử theo quy chế giam giữ tù binh, ăn uống đầy đủ bẩy trăm gram gạo một ngày (…) Tôi được gọi lên làm việc, sau phần khai lý lịch tên chấp pháp hỏi tôi là đã tham gia bao nhiêu cuộc hành quân. Tôi trả lời là một. Hắn hỏi tiếp là đi lính lên tới Trung úy mà sao lại chỉ có một cuộc hành quân mà thôi. Tôi trả lời là tôi hành quân từ ngày mới ra trường cho tới bây giờ cuộc hành quân vẫn chưa chấm dứt. Hắn hỏi tiếp đã giết bao nhiêu quân Cách Mạng? Tôi trả lời có đếm đâu mà biết. Thời gian đó tôi đinh ninh rằng miền Nam sẽ mãi mãi còn đó. Tôi bị bắt cùng binh sĩ. Thầy trò, anh em, trông xuống, quân nhân các đơn vị khác nhìn vào thì phải cố mà giữ mình cho bảnh. Tuyệt không để cho Cộng Sản mỉa mai cái kiểu tranh ăn với lại theo đuôi. Nó nhơm nhếch, mất tư cách. Chẳng gì cũng là quan hai Thủy Quân Lục Chiến. Đây là lúc phải cho chúng thấy phẩm giá của mình, phong thái của mình. Kỳ dư mọi chuyện khác hậu xét.  Tụi tôi bị bắt đâu được một tháng. Ngày ngày chúng đánh đòn cân não, mở máy phóng thanh nghe điếc cả tai. Tất nhiên là đài của chúng nó nên nhờ vậy mà tôi không tin quân ta lùi chi mà lẹ thế. Mới hôm trước Qui Nhơn là ải địa đầu, hôm sau bộ chúng có cánh hay sao mà bay qua khỏi Tuy Hòa, nhẩy vô tới tận Nha Trang làm chủ. Án một cánh quân ở đèo Đại Lãnh thì chúng có mọc cánh cũng phải rụng đuôi mới có thể làm khó Nha Trang được. Lúc này mà tụi chúng cho bọn tôi nghe đài BBC hay VOA chắc là sẽ có thêm khối người tự tử. Ngày 30-4-75. Tôi đang ngồi lơ mơ nghĩ ngợi vớ vẩn về tình trạng rối mù của trận chiến. Cái loa quái ác ở ngoài đang thuật chuyện chiến trường, mà cứ y như là ký giả Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh đá banh không bằng. Lúc này tôi hút thuốc lào đã nhuyễn lắm. Tôi vê một điếu thuốc cho vào nõ. Tay kia cầm một cái đóm đã châm lửa. Đột nhiên trên loa phóng thanh nghe rõ mồn một tiếng Tổng Thống Dương văn Minh hạ lệnh cho quân đội thôi chiến đấu, chờ bàn giao đơn vị, doanh trại cho Cộng Sản. Thế là đầu hàng rồi còn gì nữa. Còn đâu là Sài Gòn, niềm hy vọng cuối cùng của tất cả chúng tôi. Chúng tôi mới bị bắt chỉ trong vòng một tháng, thế mà đã ra nông nỗi này. Cái điếu cầy tuột ra khỏi tay rơi xuống đất mà tôi không hay, lửa trên cái đóm cháy tới tận ngón tay mới biết. Nước mắt tôi ràn rụa. Tôi bỏ vào nằm vật trên giường, chìm đắm trong một nỗi tuyệt vọng vô bờ… [Hoàng Khởi Phong, Cây tùng trước bão, “Trước giờ ngưng bắn”, trang 46-48, Người Việt xuất bản, 1994 – https://damau.org/16821/truoc-gio-ngung-ban%5D

Tiếp đó, ngày cuối của Đại tá Phan Văn Huấn– Chỉ huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, cấp chỉ huy cỡ…Tá– sẽ được đề cập, cũng qua Cây tùng trước bão. Nếu không lầm, ông chính là cảm hứng của chính tên tác phẩm này: “Ông có dáng của một cây tùng chẳng cong lưng khi gặp bão…” [Hoàng Khởi Phong, sđd, trang 32]. Tôi có viết một bài cũng có liên quan đến Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. Bài đó có tên “Lên Non xuống Bể” “Để tưởng nhớ những Y sĩ Quân Y đã hy sinh”, đăng trên Khởi Hành cách đây 23 năm. Nhận được báo tặng, Đại tá Phan Văn Huấn ân cần ghé Tòa soạn thăm Chủ nhiệm & Chủ bút Viên Linh, cũng đặng gửi lời cảm ơn…ông- tác- giả (!) kiêm Thư ký Tòa soạn Nguyễn Tà Cúc.  Viên Linh kể lại với nụ cười mỉm cố hữu, kèm đề nghị ngày nào đó sẽ mời Đại tá Phan Văn Huấn ăn trưa, đặng tôi có dịp trình diện nhỡn tiền là một quý cô. Sau đây là đoạn hồi ức của Đại tá Phan Văn Huấn khi ông tập họp hơn 2.000 sĩ quan và binh lính “giã từ vũ khí’ sau khi nhận lệnh buông súng. Đến đây, tôi xin được rẽ vào ngõ hẻm…có cây tùng trên con đường mang tên Cây tùng trước bão hầu trích dẫn đoạn viết về ngày 30 tháng 4. 1975, thử xem cấp Tá như Đại Tá Chỉ huy trưởng Liên đoàn 81 Biệt cách Dù Phan Văn Huấn đang ở đâu đặng trả lời tỏ tường cho cấp Úy Trương Vũ.

Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ huy trưởng Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù: Quân đội của chúng tôi không phải là những đạo quân không biết chiến đấu…

– … Mới cách đây một tuần lễ, nơi một cánh rừng trong tỉnh lỵ Long Khánh, tướng Lê Minh Đảo đã chặn đứng đà tiến của Bắc Quân. Những người lính bộ binh của Sư Đoàn 18 đã cho thế giới biết một điều: Quân đội của chúng tôi không phải là những đạo quân không biết chiến đấu. Những người lính bộ binh ở đây trong lúc bị xô đẩy tới đường cùng đã tựa lưng vào nhau, tựa thân mình vào những cây cao su để một chống năm, đôi khi chống mười những địch quân đang đà thắng ùa tới. Địch quân mỗi lúc một ùa tới đông hơn, còn Sư Đoàn 18 thì mỗi ngày mỗi hao đi, súng thì mỗi ngày mỗi nhiều, do những người đã chết để lại, nhưng đạn thì mỗi lúc mỗi vơi đi mà không hề có tiếp tế. Bây giờ lệnh đầu hàng đã tới. Hai ngàn binh sĩ của Liên Đoàn chúng tôi có thể đánh một trận để đời, đánh để không một ai còn sống. Nhưng đánh để mà làm gì? Tính mạng hơn hai ngàn con người không thể để bị chết đi, chỉ để đổi lấy một tiếng thơm hão huyền trong những trang sử sau này. Tôi vẫn đứng trên nóc của ngôi mộ cổ. Đám đông chung quanh tôi mỗi lúc mỗi nhòe đi. Phải, không còn chối cãi gì được, chúng tôi đã thua rồi. Chúng tôi phải tuân lệnh của thượng cấp tối cao. Ngưng chiến đấu để khỏi đổ thêm máu một cách vô ích. Chúng tôi không có gì để thẹn với chính chúng tôi, vì chúng tôi đã làm tất cả những gì chúng tôi có thể làm trong khi tuân lệnh cấp trên. Giờ đây chúng tôi phải trở về doanh trại, chờ những người chiến thắng đến bàn giao địa điểm. Không còn xe để di chuyển, chúng tôi tập hợp đơn vị để di chuyển bộ trên đường. Di chuyển lần cuối trong bộ quân phục của chúng tôi. Tôi cố gắng giữ binh sĩ kỷ luật, cho dù chúng tôi thất trận chúng tôi vẫn là những người lính có chỉ huy, có trật tự và có trên có dưới, có anh có em. Tôi sẽ dẫn đầu, vạn nhất nếu họ nổ súng thì tôi sẽ chết trước anh em. Tôi nghe giọng tôi có lúc như nghẹn lại. Làm sao mà có thể dõng dạc nói những lời chót cho binh nghiệp của hơn hai ngàn con người. Tôi nhìn lại những binh sĩ của tôi, những người anh em thật sự của tôi trong tám năm cuối cùng của chiến trận. Đã nhiều người vĩnh viễn ra đi, đã nhiều người chẩy máu, tất cả anh em chúng tôi đã từng đổ mồ hôi. Nhưng anh em chúng tôi hầu như chưa bao giờ đổ lệ, nhất là những giọt lệ uất ức. Có những người đầm đìa nước mắt, có những người tuy không có một hạt ngọc nào trên khuôn mặt đen đủi, nhưng cặp mắt đỏ ngầu trợn trừng như muốn rách cả khóe mắt. Chính tôi, tôi cũng cảm nhận được có một chút gì mằn mặn ở trên môi. Trong vòng một tiếng đồng hồ toàn thể Liên Đoàn tập họp xong. Hơn hai ngàn người lính súng ống, đạn dược đầy đủ từ trong rừng tiến ra xa lộ. Cơ nào đội nấy, tuyệt không có lộn xộn, ồn ào. Dẫu cho có thua nhưng đó là một đơn vị tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một đơn vị được tuyển chọn kỹ càng, huấn luyện gian lao nhất và trang bị dồi dào nhất. Đoàn quân xếp hàng tư. Chỉ Huy Trưởng dẫn đầu. Các sĩ quan tham mưu đi kế tiếp. Các đơn vị trực thuộc theo sau. Đơn vị trưởng đi trước đơn vị của mình. Súng đeo vai, nòng chĩa xuống đất. Đoàn quân hơn hai ngàn người xếp hàng bốn thành từng khối, mỗi khối là một đơn vị. Chỉ thiếu những sĩ quan đi ngoài hàng đếm nhịp thì thật đúng là tập diễn binh trong ngày Quốc Khánh. Liên Đoàn di chuyển thành một đạo quân dài hơn một cây số trên xa lộ Đại Hàn lúc đó vắng xe nhưng thật nhiều người. Con đường mở ra hun hút trước mặt tôi. Những thôn xóm, những mái nhà, những ngã ba, ngã tư. Bầu trời xà xuống thấp, những đám mây đen kịt vần vũ ngay trên đầu, tưởng như có thể thò tay với được. Chính con đường này đây tôi và những binh sĩ của tôi đã từng đi lại nhiều lần. Chúng tôi quen thuộc từng khóm cây, bụi cỏ. Cũng vẫn là con đường đó mà sao hôm nay chúng tôi như bị ai bưng lấy mắt, không trông thấy một cái gì, nên vì đó mà nó xa cách đến dị thường. Chúng tôi khởi đi từ lăng Chú Hỏa. Ngang qua địa phận chỗ núi Châu Thới, tôi thấy rất nhiều người chạy ngược chiều với đơn vị chúng tôi. Họ ở trần, mình chỉ độc nhất có chiếc quần xà lỏn, tay cầm ví đựng tiền và giấy tờ. Tôi chặn vài người lại hỏi thì họ cho biết họ là lính của sư đoàn 5, 25, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung… Họ cho biết là Cộng sản bắt họ tịch thu vũ khí, quân phục và cho về nhà. Tôi vẫn một mình dẫn đầu, ngoảnh lại hơn hai ngàn người lính vẫn quân phục, vũ khí đầy đủ và vẫn giữ đội hình di chuyển hàng tư. Chúng tôi vẫn ngẩng cao đầu, mắt tôi chạm vào một bầu trời đen kịt như đang chuyển cơn mưa. Nếu anh còn nhớ ngày đó thì đúng là một cơn mưa bất thường đang ập đến.

Tôi trông thấy từ xa nhiều chiếc xe Dodge chạy tới. Khi đến gần tôi thấy họ mang theo thật nhiều máy quay phim, họ chạy thật chậm, tất cả các máy quay phim chạy sè sè. Họ quay toàn thể đoàn quân từ đầu đến cuối. Họ vòng lên đầu quay lại thêm một lần thứ hai. Mãi tới lúc đó mới có một chiếc xe Jeep chạy sát tới tôi rồi ngừng lại. Cấp chỉ huy của họ xuống xe nói chuyện với tôi. Nơi cổ áo của họ, chỗ những cấp bậc đã được giấu hết chỉ còn những lần chỉ. Người này yêu cầu tôi giải tán đơn vị theo lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh. Tôi nhã nhặn nói với người này là binh sĩ của tôi chắc chắn sẽ tuân lệnh đầu hàng, nhưng tôi không bảo đảm nếu họ bị cưỡng bách tịch thu quân phục. Những người lính của tôi thà chết chứ không thể mặc quần xà lỏn chạy ngoài đường. Người này đồng ý ngay với tôi là chỉ nộp vũ khí rồi ai về nhà nấy. Riêng đối với các sĩ quan thì người này đề nghị sau khi binh sĩ đã nộp hết vũ khí và ra về thì chở giúp các sĩ quan về nhà từng người. Tôi hội ý cùng một số sĩ quan và đồng ý với đề nghị này. Người đại diện của Cộng sản đến tiếp thu Liên Đoàn 81 có nói với tôi: “Toàn thể Quân Lực Miền Nam chỉ có đơn vị của ông là còn cầm súng tới giờ phút cuối cùng này”. Tôi về đến nhà thì trời đổ một cơn mưa rào. Nhiều năm sau tôi vẫn bị ám ảnh bởi cơn mưa trái mùa này. Tôi vốn là một người dứt khoát. Xưa thật xưa trong lúc đang mài đũng quần trên ghế nhà trường, tôi nhận được một cái giấy gọi nhập ngũ đi học Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tôi thưa với cha tôi là tôi chưa hề thấy một người sĩ quan trừ bị nào được giải ngũ, nhất là trong thời chiến. Do đó tôi nộp đơn tình nguyện vào học Khóa 10 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Mãn khóa xong tôi đã từ mặt trận này sang mặt trận khác. Tôi chỉ huy một Trung đội lên tới chỉ huy một Liên đoàn trong mười bốn năm. Cái ngày cuối tháng Tư năm đó và sau này nhiều đêm nằm chập chờn nửa sống, nửa chết, nửa mê, nửa tỉnh trong các nhà tù Việt Bắc, tôi nghĩ lại cuộc đời binh nghiệp của tôi. Nếu được làm lại từ đầu để rồi sau cùng lại chui vào nằm trong cái cũi như thế này thì tôi… vẫn làm lại y như thế, không thay đổi, không ân hận, không hối tiếc… [Hoàng Khởi Phong, “Cây tùng trước bão”, Cây tùng trước bão, sđd, trang 20-24]

Sau 13 năm tù, ông được phóng thích rồi, mười năm sau, cùng gia đình sang Hoa Kỳ bằng Diện H.O. . Vẫn không chịu …bỏ cuộc, ông nhận lại trách nhiệm của con chim đầu đàn:

-… Ngày 18/3/93 vợ chồng tôi và 3 con được ra đi đến định cư tại California theo diện nhân đạo HO, tại đây đã có hội Thân Hữu Lực Lượng Đặc Biệt thành lập từ năm 1987 và đang ngưng hoạt động, do đó anh em đã đề nghị tôi đứng ra thành lập hội Gia Đình 81BCND/LLĐB để đại diện đầy đủ hơn cho các chiến hữu của cả hai binh chủng BCD, LLĐB cũng như anh em Delta, và hội đã được thành lập ngày 04 tháng 7 năm 1993. Kể từ ngày thành lập đến nay GĐ81/BCD/LLĐB đã liên lạc được trên 500 anh em Delta (kể cả BKQ), BCD và LLĐB, đã gây quỹ TÌNH THƯƠNG để tương trợ cho các gia đình thương binh tử sĩ và anh em BCD/LLĐB nghèo khổ ở quê nhà, số tiền tương trợ đã lên tới trên 50,000 và đã được báo cáo chi tiết trên 28 bản tin nội bộ. Tuy GĐ81 là một hội riêng nhưng công việc làm đều được thực hiện dưới danh nghĩa chung cho cả hai đơn vị BCND và LLĐB vì DANH DỰ của “mầu cờ sắc áo”, và của chiếc nón mầu Xanh lá cây rừng DŨNG CẢM. [Đại tá Phan Văn Huấn, “Câu chuyện Chiếc mũ Xanh-Bài viết của anh Phạm Văn Huấn về sự thành lập binh chủng LLĐB và BCND”, Tuyển tập Đời Chiến binh, trang 18 do “Gia Đình 81 Biệt cách Dù & Lực Lượng Đặc Biệt xuất bản với sự “giúp đỡ của nhà in Five Stars Printing”, Garden Grove, California” *Những chữ viết hoa là của nguyên bản.]

Xuất thân là một Đại tá cầm quân rồi bị cầm tù mà không hàng, cuối đời không còn gì ngoài một đời phục vụ, ông vẫn xử sự đúng theo tư cách của một sĩ quan và một quân tử/An Officer and a Gentleman. Chỉ vì một bài viết nhắc chung đến binh chủng này, chứ không riêng về ông, ông đã thân hành đến tòa soạn Khởi Hành thăm chúng tôi. Sau đó, ông còn nhờ người chuyển tặng Tuyển tập Đời Chiến binh hầu tôi có nhiều tài liệu của nhiều binh chủng hơn khi cần đối chứng với Đại thắng Mùa Xuân của Tướng Văn Tiến Dũng. Chưa hết, chúng ta sẽ không thể quên sử gia/Trung tá tòng sự tại Bộ Tham Mưu Phạm Việt Châu.

Sử gia/Trung tá Phạm Việt Châu: Trăm Việt trên vùng định mệnh

Ông tuẫn tiết bằng độc dược vào ngày 5.5.1975 tại tư gia, nghĩa là 50 năm trước đây. Da Màu có đăng tiểu sử và loạt bài Trăm Việt trên vùng định mệnh, từng xuất hiện trên Bách Khoa, gồm 18 chương của ông. Tôi xin trích dẫn phần giới thiệu tiểu sử tác giả để cho thấy, một lần nữa, vài cấp chỉ huy thuộc Quân lực VNCH đang ở đâu lúc ấy:

Trung tá Trưởng Ban Nghiên Cứu Chiến Lược, Bộ Tổng Tham Mưu Phạm Đức Lợi / Sử gia Phạm Việt Châu

Sử gia Phạm Việt Châu tên thật là Phạm Đức Lợi. Sinh năm 1932 tại làng Hiếu Thiện, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, miền Bắc VN.Di cư vào Nam sau hiệp định Genève. Năm 1954, động viên vào khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Thông thạo các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nhật, Trung-Hoa và từng là Giáo Sư Anh Ngữ tại trường Sinh Ngữ Quân Đội (Cây Mai). Đã đóng góp rất nhiều trong việc soạn thảo tập tài liệu song ngữ Giải Đoán Không Ảnh và đã được tưởng thưởng Lục Quân Bội Tinh của Hoa Kỳ trong những công tác ấy. Từng là nhân viên nòng cốt trong ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên và là trưởng phái đoàn VNCH đầu tiên ra Hà Nội năm 1972 để thi hành hiệp định Paris. Chức vụ cuối cùng trong QLVNCH là Trung Tá Trưởng Ban Nghiên Cứu Chiến Lược – Khối Tình Báo – Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu. Các bút hiệu đã dùng: Mạc Ly-Châu, Phạm Chi-Lăng, Phạm Việt-Châu. Các tác phẩm văn chương đã xuất bản: Tự Do (thơ), Loạn và Máu (kịch), Giông Tố Đêm Giao Thừa (kịch), Lộng Gió (tiểu thuyết), Diễm (tiểu thuyết), Nắng Tắt Trên Làng Mai (tiểu thuyết). Các tác phẩm biên khảo viết chung cùng một số tác giả khác: Tìm Hiểu Thơ Tự Do (tập I, II và III), Tìm Hiểu Thi Ca Miền Núi. Các tác phẩm chưa xuất bản: Dạ Lan Hương (thơ), Quân Lực Cộng Sản VN (biên khảo hợp soạn cùng Ban Nghiên Cứu Chiến Lược Bộ TTM, 1975). Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đã đăng trên tạp chí Bách Khoa từ 1969-1974. Đã từng cộng tác với các báo: Bách Khoa, Phụng Sự, Quân Đội, và nhật báo Chính Luận. Sau khi CSBV chiếm miền Nam VN, tác giả đã tuẫn tiết tại tư gia ngày 5-5-1975. [Phạm Việt Châu, Trăm Việt trên vùng định mệnh, Trang Tác giả – https://damau.org/author/phamvietchau%5D

Người lính/người cầm bút Phùng Nguyễn đã kết luận bài viết giới thiệu Phạm Việt Châu:

– Chúng ta có thói quen chọn một ngày nào đó để cử hành lễ tưởng niệm những người mà chúng ta tôn kính, những người đã xem nhẹ tử sinh để giữ lấy khí tiết, những bậc anh hùng. Với tuyệt đại đa số người Việt ở Hải ngoại, 30 tháng Tư là một ngày như thế. Chúng ta tụ họp, buồn bã và nghiêm trang, kể cho nhau nghe những câu chuyện hào hùng về họ, những anh hùng vị quốc vong thân. Rồi chúng ta chia tay, cho đến tháng Tư năm sau. Ở trong nước cũng thế, người ta chọn một ngày để tri ân anh hùng liệt sĩ, ở đó khói nhang nghi ngút, và những nghi thức trang trọng được bày ra. Tàn cuộc, mọi người kéo nhau ra về, và sẽ “đến hẹn lại lên” vào năm kế tiếp. Nam hay Bắc, trong hay ngoài, đó là những ngày buồn thảm cho người còn lại. Cũng có những người như vì sao khiêm tốn, ẩn hiện đàng sau chòm tinh vân sặc sỡ, chỉ để chúng ta choáng ngợp khi nhìn ra sự huy hoàng của nó ở cự ly gần. Đó là những người không chỉ tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh, và lòng dũng cảm khiến chúng ta kính trọng mà thêm vào đó là sự tiếc nuối vô bờ chúng ta dành cho phần tài năng và trí tuệ siêu việt nay đã mất đi vĩnh viễn. Chúng ta có cơ sở để tin chắc, nếu còn sống, họ nhất định sẽ có thêm những đóng góp quan trọng cho đất nước, cho dân tộc. Nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, người lính, tác giả của Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh Phạm Việt Châu là một người như thế. [Phùng Nguyễn, “Trăm Việt trên vùng định mệnh: 40 năm sau”, ngày 2.9.2015- https://www.voatiengviet.com/a/tram-viet-tren-vung-dinh-menh-bon-muoi-nam-sau/2941123.html%5D

Thương phế binh Phùng Nguyễn và 7 người lính Biệt Kích Dù trên lề đường Võ Di Nguy

Ngoài các người lính như Hoàng Khởi Phong, Ngô Thế Vinh và Cao Xuân Huy, tôi sẽ cho biết thêm một cách chính xác thương phế binh giải ngũ Phùng Nguyễn và 7 người lính tại ngũ Biệt Kích Dù (Mũ Xanh) ở đâu đúng vào ngày 30 tháng 4.1975. Vị trí định mệnh vào ngày cuối của VNCH đã được chứng nhân Phùng Nguyễn thuật lại:

– …Lúc đó vào khoảng 12 giờ trưa. Trước đó khoảng hai tiếng đồng hồ, Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng quân “Cách Mạng”. Khi tôi ra đến ngã ba tiếp giáp với đường Võ Di Nguy (Phú Nhuận) thì quang cảnh hỗn loạn càng lúc càng tăng. Lính tráng thuộc đủ mọi binh chủng chạy ngược chạy xuôi, súng ống, áo quần vất bừa bãi đầy đường. Lại thêm đám thương binh từ Tổng Y Viện Cộng Hòa gần đó, kẻ cụt chân, người mù mắt dắt díu nhau trên lòng đường càng làm cho cuộc tháo chạy thêm phần bi thảm. Trong cái khung cảnh kinh hoàng và đau xót ấy, bỗng dưng tôi nhìn thấy họ! Họ gồm bảy người, đứng sắp hàng rất đều nhau trên lề đường Võ Di Nguy, quãng gần cổng hậu của bộ Tổng Tham Mưu đến cổng xe lửa số 10. Cả bảy người đều mặc quân phục nghiêm chỉnh, súng M16 trên tay phải, bá súng tựa vào hông, tay trái đưa chéo sau lưng theo tư thế nghỉ. Những chiếc “bê rê” xanh lá cây trên đầu họ lấp lánh chiếc huy hiệu nhỏ bằng kim khí sáng loáng có hình con cọp bay ngang qua chiếc dù mở rộng. Những người lính Biệt Cách Dù thuộc Liên Đoàn 81! Ý nghĩ đầu tiên đến với tôi lúc đó, dưới dạng một câu hỏi, là ‘Tại sao họ còn đứng đây làm gì?’ Tất nhiên là tôi không dám hỏi họ câu hỏi đó. Không có ai dám hỏi họ câu hỏi đó! Mọi người, kể cả những thương binh chống nạng lê lết trước mặt họ, đều cúi gầm mặt xuống trong khi đi ngang qua hàng lính đang đứng gác một cách nghiêm chỉnh này. Cả tôi, trong bộ đồ dân sự, cũng vậy. Tôi đã giải ngũ trước đó một năm, nếu không thì lúc này tôi cũng đang vội vã cởi bỏ bộ quân phục và cũng đang cúi đầu lầm lũi đi qua trước mặt họ, hướng về một nơi chốn “an toàn” nào đó. Tôi nhớ mình đã cố tình chậm lại khi đi ngang qua những chiến sĩ Biệt Cách Dù, len lén nhìn lên khuôn mặt của họ. Tất cả đều còn rất trẻ, người lớn nhất chưa đến ba mươi, và người trẻ nhất vào khoảng hai mươi là cùng. Lúc bấy giờ, anh còn trẻ hơn tôi vài ba tuổi. Đó là người lính thứ bảy trong hàng, người cuối cùng mà tôi phải đi ngang qua. Mấy giây để qua khỏi anh dài cả ngàn năm, và mấy bước sau khi qua khỏi anh dài cả ngàn dặm! Tôi quay đầu lại nhìn anh để bắt gặp ánh mắt anh cũng đang hướng về tôi. Rồi anh quay lại, nhìn thẳng về phía trước, và tôi cũng quay đi, tiếp tục cuộc hành trình. Tôi sẽ không có dịp thấy lại anh và các đồng đội của anh, nhưng ánh mắt buồn bã của anh đã ở lại với tôi cho đến mãi bây giờ (…) Bài viết này không mang một hậu ý gì đáng kể. Chỉ là một cách tự nhắc lại cho chính mình những điều đã kinh qua trong một ngày định mệnh hơn hai thập kỷ trước, ở đó, một ánh mắt đã được gởi đi và được mang theo cho đến bây giờ, và có lẽ cho đến nhiều năm sau nữa. Cái ánh mắt buồn bã và bao dung của một người lính còn rất trẻ gởi đến tôi trong một sát na chông chênh giữa cuộc tử sinh vẫn còn rất sinh động như mới hôm qua…” [Phùng Nguyễn, “Về một ánh mắt ngày 30 tháng tư năm 1975”, Đăng lần đầu vào ngày 27.4.1996. Đăng lại vào ngày 30.4.2008 trên Diễn đàn Da Màu- https://damau.org/2170/ve-mot-anh-mat-ngay-30-thang-tu-nam-75%5D

Đinh Từ Bích Thúy, trong bài “Ngày Oakton. Câu trả lời”, đã viết rằng bà đã “gần khóc khi đọc bài tiểu luận anh viết về ánh mắt ngày 30 tháng 4 của năm 75 của người lính Biệt Cách Dù Liên Đoàn 81…” [Đinh Từ Bích Thúy, “Ngày Oakton. Câu trả lời”, Tiểu luận (của/về) PHÙNG NGUYỄN, trang 356, Tạp chí Da Màu xuất bản, 2018, Hoa Kỳ.]

Phần tôi, đọc đoạn này, lại nhớ đến lời căn dặn ngắn ngủi của người bạn trước ngày tan hoang, một ngày mà dân quân Miền Nam đều nhớ lúc đó mình đang ở đâu. Mấy chục năm sau, một người lính của anh nhận ra khi tôi giao báo Khởi Hành cho tiệm sách Văn Khoa (Trung Tâm Phước Lộc Thọ, Westminster, California). Anh ôm lấy tôi tức tủi khóc ròng. Tôi biết anh ấy không chỉ khóc cho bạn tôi, người đã tử trận. Anh còn khóc cho chính anh–người sống sót–và cho bao nhiêu đồng đội đã không bao giờ “tìm thấy xác”. Nghe tiếng khóc, lòng tôi bỗng nhiên dần dần tĩnh lặng vì thốt nhiên ngộ ra, “xác” mất tích ấy, cuối cùng hẳn đã an lòng siêu thoát vào cõi vĩnh hằng khi đến lượt tôi được cho biết anh đã qua đời dù không bao giờ biết đích xác phút cuối ấy. Bao năm qua, tôi vẫn có cảm tưởng đã mang được theo đủ hành lý nhưng chủ nhân của nửa đám hành lý đã đứng ngoài con tầu tốc hành, không biết ở ga nào. Thôi, từ nay Trương Chi có thể vĩnh biệt mối oan tình nhờ những giọt nước mắt nhỏ xuống từ những người đồng đội– thay cho Mị Nương– đã từng ngồi cùng thuyền trên bờ biển đẫm máu chiều nào.

Tới đây tôi cảm thấy lá sớ đã dài đủ để kết thúc bằng chính Trung úy (?) biệt phái Trương Vũ.

Nhà tiểu luận/họa sĩ /Sĩ quan biệt phái Trương Vũ

Đường đường là 1 sĩ quan từng “tốt nghiệp Trường Bộ binh Thủ Đức”, từng là “sĩ quan tuần tra” tại một hải đảo (Trương Vũ 2025, “Mưa ướt Vị Thành”, trang 60-61, sđd), từng e ngại vì đã giữ chức “Sĩ quan Giám thị Trưởng khu Tù binh xâm nhập” tại Phú quốc vv. và vv. nhưng quyết định ở lại vì lý do cá nhân vv. và vv. thế thì ông ở đâu vv. và vv. lúc dầu sôi lửa bỏng đó? Dĩ nhiên chúng ta đều đã biết ông ở đâu vv. và vv. qua hồi ký của Hoàng Khởi Phong. Chúng ta càng biết ông ở đâu vv. và vv. sau bài “Nói với chàng Siêu” sau 20 năm.

Tôi đọc đi đọc lại mà cứ ngờ ngợ, không hiểu có hiểu lầm tiếng Việt không. Nếu hiểu lầm, xin thứ cho vì lẽ nào một anh lính-kiểng-biệt phái-cấp-Úy an toàn tại hậu phương mà ngang nhiên viết trùm, phê bình từ cấp chỉ huy (tác chiến) ở bất kỳ cỡ đại tá Phan Văn Huấn tới cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ trung úy Cao Xuân Huy tại tiền tuyến nào là “tắc trách”, nào là “hốt hoảng”, nào là “kém tài”, nào là “hèn nhát” vv. và vv. mà không sợ bị dăm bẩy ngày trọng cấm hay bị biệt phái cấp kỳ ra trận tiền, đối đầu với các chinh phu từ Bắc vào? Tôi nghĩ Miền Nam mất quá nhanh nên cỡ sĩ quan biệt phái (như Trương Vũ) không kịp tái ngũ vì “nhu cầu quốc phòng”. Tôi đã nhờ một ông nhà binh cấp chỉ huy cỡ Tá, xuất thân trong ngành Giáo Dục, nhưng tại ngũ cho đến ngày cuối, giải thích cặn kẽ:

– Công chức chính ngạch, từ giáo dục cho đến các ngành khác khi bị động viên vào quân ngũ đều được lãnh lương hàng tháng như tiền lương của mình trước khi nhập ngũ (nếu lương cũ nhiều hơn lương được tính trong quân đội) và hàng năm vẫn được xét thăng trật lương (chỉ số lương) trong ngành cũ của mình. Nếu được biệt phái về lại ngành nghề cũ trước khi bị động viên thì khi cần, bộ quốc phòng có thể gọi tái ngũ. Công chức các ngành, từ giáo dục, hành chánh, tài chánh, canh nông, kỹ nghệ. . . đều có thể bị gọi nhập ngũ, được biệt phái về lại nhiệm sở cũ, được gọi tái ngũ khi có nhu cầu quốc phòng. . .

Lúc dầu sôi lửa bỏng vào Tháng Tư ấy mà bị …tái ngũ vì “nhu cầu quốc phòng”, thì không cẩn thận lại khéo có ngày không được sống sót mà ung dung ngồi xem “các đài truyền hình Mỹ”. Chưa kể, chinh phu Miền Bắc lại bị tuyên truyền là sẽ bị “lính ngụy xơi…tái” nên đương nhiên họ phải “sát sát” để tự bảo vệ trước. Khi Trương Vũ miêu tả “Các đài truyền hình Mỹ thỉnh thoảng chiếu đi chiếu lại cảnh những người lính Cộng Hòa vừa chạy vừa bắn bừa bãi vào dân chúng để giành đường thoát vào những ngày cuối của cuộc chiến…” thì tôi nghĩ ngay đến vô số thương phế binh như Phùng Nguyễn, 7 người lính còn cố ở lại nhiệm sở; rồi bao người lính trơn khác—như người lính dưới quyền bạn tôi–phải thoát hiểm mưu sinh vượt biển trốn đi. Không cần thông minh cho lắm cũng đoán được tại sao các đài truyền hình Mỹ lại “chiếu đi chiếu lại” cảnh này mà không “chiếu đi chiếu lại” cảnh dân Miền Nam bị Cộng sản pháo kích trên đường trốn chạy, cảnh những toán lính tử thủ. Hoặc lý do nào Hoa Kỳ ngưng viện trợ vũ khí đến nỗi một viên phi công lái A-37 nói với tôi từ cuối năm 1973, rằng từ xăng đến bom đều bị hạn chế. Tóm lại, khi bàn đến đoạn thượng dẫn, tôi chỉ muốn ngỏ ý:

-Có, đã có những việc đau buồn oan nghiệt xẩy ra. Có, đã có người chỉ huy bất tài làm binh lính và dân lành chết oan. Nhưng không thể bàn đến cả một quân lực, dù bên này hay bên kia, mà không bằng chứng, nhất là khi ngồi tại nơi an toàn mà bàn với tán. Hãy tỏ lòng kính trọng sự hy sinh của mọi người lính dù tại thời nào, quốc gia nào hay bên nào.

Đại tá Quân đội Nhân dân/nhà văn Nguyên Ngọc—một sĩ quan tác chiến Miền Bắc– đã nhận xét công khai về Quân lực Việt Nam Cộng Hòa:

-…Kỳ thực thực tế chiến trường cũng đã khiến chúng tôi phải suy nghĩ. Sau hội nghị Paris, Mỹ đã rút hết quân, chỉ còn đánh nhau với quân đội Sài Gòn, lại thấy khó hơn đánh Mỹ. Cả năm 1974, không diệt gọn được đại đội quân Sài Gòn nào trên chiến trường. Cho đến năm 1975 mới vỡ từng mảng lớn và sụp đổ. Có thể chắc chắn là do từ sai lầm chiến lược của Nguyễn Văn Thiệu quyết định bỏ Tây Nguyên. Nếu không có sai lầm đó sự thể hẳn sẽ còn rất phức tạp… [Nguyễn Hồng Anh thực hiện, “Văn chương về đề tài chiến tranh – Trí nhớ của ngôn từ và sự độc đoán của văn học sử thi”, Diễn đàn Văn Việt, ngày 19.3.2023.

Sau khi thắc mắc về các ông sĩ quan– không may lại gồm nguyên 1 tiểu đội thân hữu của chính Trương Vũ đang khốn đốn bấn loạn trước mũi súng quân Miền Bắc–ông tiếp tục thắc mắc về báo chí hải ngoại: “Bao nhiêu chữ nghĩa đã được dùng cho những lời nhận lỗi…” v.v. Để trả lời, tôi rất hân hạnh được đăng lại Lời trần tình của Đại tá Nguyễn Văn Đồng, Tư Lệnh Lữ đoàn II Kỵ Binh 1974-1975. Ông bị bắt tại chân đập Đồng Chum, tỉnh Phú Yên vào ngày 26 tháng 3.1975. Ông bị giam 12 năm, được nhận vào Hoa Kỳ theo Diện H.O.,  năm 1994:  

-…Tôi tự trách tôi đã có tội lớn vì tôi đã góp một phần vào việc mất Miền Nam. Tôi tự nghĩ, 12 năm tù đày trong các trại tù Cộng sản, trong có ba năm xà-lim ở Tiên Lãnh, có thể là chưa đủ để tạ tội với bao nhiêu gia đình tử sĩ và gia đình dân chúng Tây nguyên có thân nhân chết tức tưởi trên Liên Tỉnh Lộ 7B này… [Huy Phương, “Nguyễn Văn Đồng, H.O. 29”, Chân dung H.O. & Những cuộc đổi đời, trang 211, Nhà Xuất bản Nam Việt, Thành phố Irvine, California, Tháng 5.2015]

Tiếp đây là lời “Nhận trách nhiệm” của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ Binh. Ông bị giam 13 năm, được phóng thích vào năm 1988 và rời Việt Nam theo Diện H.O. 1 đoạn định cư tại Hoa Kỳ vào đầu năm 1994:

NHẬN TRÁCH NHIỆM

Dù tôi đã đem hết sức mình phục vụ, bất chấp mọi khó khăn của hoàn cảnh, quyết tâm tranh đấu Một Mất Một Còn với Cộng Sản, bảo vệ Độc Lập Tự Do cho Đất Nước, mang lại Hạnh Phúc No Cơm Ấm Áo cho Dân Tộc!

Trước:

– Tiền Nhân, các vị Anh Hồng Dân Tộc Vị Quốc Vong Thân

– Đồng bào và chiến hữu đã hy sinh vì Lý Tưởng Tự Do

– Đồng bào Việt Nam Yêu Chuộng Tự Do trong cũng như ngoài nước

– Toàn thể quân nhân các cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Oai Dũng

Ngày Đại Nạn 30 tháng 4 năm 1975- tôi xin NHẬN TRÁCH NHIỆM đối với DÂN với NƯỚC khi tôi chưa hoàn tất trách nhiệm, chưa chu toàn bổn phận trên cương vị một Tướng Lãnh-

LÝ TÒNG BÁ kính bút [Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Hồi ký 25 năm khói lửa: Cảm tưởng của một Tướng Cầm quân tại Mặt Trận, Tác giả xuất bản, tái bản lần thứ 6, 1000 quyển, Tháng 8.2001, Las Vegas, Nevada, Hoa Kỳ * Chữ in đậm hay hoa là của nguyên bản.]

Chuẩn tướng Lý Tòng Bá từng là Chỉ huy trưởng Thiết giáp Binh từ 1972 đến 1974. Cuối cùng, không kém phần quan trọng/last but not least và chắc chắn sẽ không phải lời nhận lỗi cuối cùng là lời xin lỗi của Hoàng Khởi Phong trong đoạn kết thúc Ngày N+ …:

– … Nếu có dịp tình cờ nào đó, các em đọc lá thư này, đọc quyển sách này, xin hãy coi đây như là một lời xin lỗi chân thành nhất của tôi gửi đến các em, bởi chính tôi đã đóng góp một phần, cho dù chỉ là một phần rất nhỏ trong trang sử u buồn này. Sau cùng, tôi xin gửi lời chúc tâm nguyện nhất tới tất cả các em, và hy vọng một ngày nào đó không xa, khi lịch sử xoay dòng, các em và tôi có dịp về thăm ngôi trường cũ để chứng nghiệm một lần trong đời câu châm ngôn: “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”. [Hoàng Khởi Phong, sđd, trang 267] 

Sau khi toàn dân gồm hàng ngũ sĩ quan, “sách báo Việt Nam ở hải ngoại” –đương nhiên có cả tờ Văn Học, nơi đăng bài “xét lại” này đầu tiên– đến lượt toàn quân.

Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng sản: Phùng Nguyễn

damau.org

Nguyễn Tà Cúc 29.11.2025

Post by Sơn râu 15 Jun 2026

2 – Nhà văn/nhà tiểu luận/ Đồng-Sáng lập Tạp chí Da Màu/Thương phế binh Phùng Nguyễn phân tích huyền thoại “Lính ngụy ăn thịt người”

Nhà văn Phùng Nguyễn, tên thật Nguyễn Đức Phùng, sinh năm 1950, đi lính từ năm 1968. Bị trọng thương, giải ngũ vào năm 1974, sang Hoa Kỳ vào năm 1984. Tôi không dám gọi nhà văn Phùng Nguyễn là bạn, song lại nhớ đến đầu tiên ngoài vòng thân hữu khi sửa soạn đề tài này, chỉ vì ông đã dụng công phân tích những điều cho là bất cập trong tiểu luận “The Long Road Home: Exile, Self-Recognition, and Reconstruction” của dịch giả Nguyễn Bá Chung, xuất hiện trên tạp chí Mānoa, một tạp chí được Đại Học Hawai’i bảo trợ, 2002.[4] Phùng Nguyễn có bài “Catching Clams at Lake Isabella/Bắt hến ở hồ Isabella” cùng được đăng, nên mới biết đặng phản bác. Tôi rất đồng ý với một đoạn quan sát, vượt khỏi bài của Nguyễn Bá Chung, mà tôi tin rằng đã thay cho lý do khiến Phùng Nguyễn viết loạt bài về trách nhiệm nhà văn khi đối đầu với lịch sử tại ngay thời điểm đó:

– … Có một số “kiến thức” rất phổ biến về chiến tranh Việt Nam được chia sẻ trước hết trong giới trí thức cấp tiến Âu Mỹ và giới truyền thông và sau đó, lây lan rất nhanh đến các tầng lớp khác qua ngả học đường, báo chí, và các phương tiện truyền thông khác. Lâu dần, những “kiến thức” này trở thành những “thực tế” được công nhận rộng rãi và được sử dụng thường xuyên để đóng khung cách nhìn của các “tín đồ” về người, việc, và sự kiện liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Một số “thực tế” cơ bản và phổ biến nhất:

Chiến tranh Việt Nam không phải là một cuộc nội chiến mà là chiến tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Chính quyền miền Nam tham nhũng, thối nát, và là tay sai của đế quốc Mỹ.

Quân đội miền Nam tàn ác và trong cùng một lúc không có tinh thần chiến đấu.

Nhân dân Nam VN, đặc biệt là thành phần nông dân, hoàn toàn ủng hộ cuộc chiến đấu chống Mỹ do Cộng sản lãnh đạo…”[Phùng Nguyễn, sđd, ngày 15.5.2007- https://damau.org/2168/doc-the-long-road-home-exile-self-recognition-and-reconstruction-cua-nguyen-ba-chung%5D

Tôi gặp Phùng Nguyễn rất bất ngờ. Hôm đó nhà thơ Viên Linh và tôi tìm đến chỗ ra mắt tập thơ của nhà thơ Cung Trầm Tưởng, nhưng cuộc ra mắt đột ngột thay đổi địa chỉ nên nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng vời chúng tôi vào uống cà-phê tại tiệm Gypsy, Westminster, California. Nhà thơ Võ Chân Cửu, từ Việt Nam sang, và Phùng Nguyễn đã ngồi sẵn. Đó là cơ hội cho tôi và anh được gặp nhau và trao đổi cảm tưởng về nhiều vấn đề. Một trong những vấn đề đó là huyền thoại “Lính ngụy ăn thịt người”. Theo Phùng Nguyễn:

-… Chiến tranh, trong mọi thời kỳ, bởi mọi nguồn cơn, là một tai họa lớn lao. Chiến tranh mang đến sự hủy diệt của không chỉ nhân mạng, làng mạc, phố xá, sông suối, núi rừng mà còn cả tình người, điều giúp cho con người tiếp tục là con người ngay cả trong những hoàn cảnh đen tối nhất. Chiến tranh cũng là cái cớ tuyệt hảo để người ta đạp đổ những hàng rào luân lý, đạo đức mà không cần phải cảm thấy áy náy. Để chiến thắng, người ta không ngần ngại áp dụng những thủ đoạn vô luân vô đạo. Một trong những thủ đoạn này là gắn đầu ác thú lên thân thể kẻ thù. Giới lãnh đạo của phe chiến thắng trong cuộc nội chiến Bắc Nam vừa qua, gồm thành phần chóp bu của đảng CSVN, chiếm giải quán quân trong lãnh vực này. Trong chiến tranh Việt Nam và rất lâu sau đó, họ đã giúp biến người dân người lính miền Nam thành những con quỷ khát máu, một lũ ăn thịt người trong mắt người dân và bộ đội miền Bắc. Sau khi chiến tranh chấm dứt, họ tiếp tục bôi nhọ hình ảnh người lính miền Nam như thế mặc dù họ đã mỗi ngày chạm mặt, sinh hoạt gần gũi với những con người bằng xương bằng thịt ở phía Nam đất nước. Cái hình ảnh xấu xa họ dựng lên trong thời chiến đã thấm sâu vào xương tủy, tim óc người miền Bắc, và sau này, lan tỏa đến các thế hệ trẻ trong cả nước. Đối với đa số dân chúng, “lính ngụy” và “ăn thịt người” là hai từ luôn đi đôi với nhau (…) Tôi đã nói về đề tài “lính ngụy ăn thịt người” một vài lần, nhưng chưa hề thấy đủ. Bởi vì chưa hề đủ! Đã có không ít người, vì những lý do mà họ nghĩ rằng cao cả, chỉ muốn quay lưng lại, tảng lờ, chối bỏ sự hiện diện của những nọc độc văn hóa đang luân lưu trong huyết quản dân tộc …[Phùng Nguyễn, “Đúc khuôn tội ác”, Blog Rừng & Cây, VOA Tiếng Việt https://www.voatiengviet.com/a/duc-khuon-toi-ac/3013722.html%5D

Thoạt đầu, Phùng Nguyễn cực kỳ dè dặt, hơi nghi kỵ thì đúng hơn, dù đã đọc tôi nhiều trước đó. Sự dè dặt hay nghi kỵ ấy không đáng ngạc nhiên vì, là Thư ký Tòa soạn Khởi Hành, một tạp chí in với cách tổ chức theo truyền thống Văn Học Miền Nam, tôi cáng đáng một nửa trách nhiệm, lại kiêm phụ nữ, khiến trở thành 2 thứ ngoại lệ tại làng báo văn học hải ngoại. Sự ngoại lệ nào cũng dẫn đến vài cơn giông. May thay, anh Nguyễn Xuân Hoàng “khoe” tôi vừa tốt nghiệp với luận án Cao Học về các nhà văn Miền Nam, kể cả các nhà văn di cư, tiếp tục sinh hoạt văn nghệ và tiếp tục chống Cộng sản tại Hoa Kỳ. Một thực tế mà người Việt hải ngoại phải đối diện là, cho tới nay, một phần sinh hoạt hay khảo cứu về Văn học Miền Nam hay Miền Nam cũng xẩy ra tại hệ thống đại học hay báo chí bản xứ. Tiểu luận, luận án hay tác phẩm của họ hiện diện trong một thế giới khác, thí dụ như tiểu luận thượng dẫn của dịch giả Nguyễn Bá Chung. Trừ phi chúng ta tốt nghiệp tại một đại học ngoại quốc như tại Hoa Kỳ, nghĩa là gia nhập hệ thống của họ, làm sao có phương tiện hầu tìm hiểu, theo dõi, thu thập tài liệu để hoan nghênh hay phản bác? Đó là chưa kể đến hoàn cảnh sinh sống dẫn đến khả năng tham dự. Thế hệ người Việt tỵ nạn đầu tiên, tản lạc trên khắp một vùng đất quá rộng lớn, phải đối phó với “cơm áo gạo tiền” trong hoàn cảnh và ngôn ngữ xa lạ, là những An Tiêm tiên phong trong việc tìm các loại dưa mới chỉ để sống còn. Tuy bản thân không úy kỵ gì khoa bảng, nhưng khó khăn vẫn là khó khăn, trở ngại vẫn là trở ngại. Do đó, câu hỏi này có vẻ phũ phàng, nhưng đó là một phần thực tế chúng ta đã phải đối diện.

Thế nên, đó là lý do Phùng Nguyễn chú ý đến luận án thượng dẫn. Cho tới nay, đó vẫn là luận án duy nhất tại một đại học Hoa Kỳ được hoàn thành bởi một người vừa là nhân chứng, vừa tham dự, vừa nghiên cứu Văn Học Miền Nam và Thời sự Văn nghệ Hải ngoại, lại có mối liên lạc trực tiếp nhiều năm với vài tác giả-nhân chứng danh tiếng là đối tượng nghiên cứu từ nền văn học đó. Tôi vốn sinh quán tại Miền Bắc, nhưng trưởng thành hoàn toàn tại Miền Nam rồi di tản. Luận án ấy cũng phản ảnh thời gian tôi đảm trách phần Thư Ký Tòa soạn cho tạp chí Khởi Hành và, trước đó, Trưởng ủy ban Nhà văn-bị Cầm tù thay thế Trần Tam Tiệp khi ông lâm trọng bệnh. Năm 1978, khi tôi xin được chuyển sang Hoa kỳ Học–mà lẽ ra phải là Mechanical Engineering theo giấy tờ mang theo được–là đã có ý học hỏi về lịch sử, văn hóa và văn học của quốc gia đồng minh đã đóng vai trò quan trọng, hầu như duy nhất, trong việc trợ giúp vũ khí, kinh tế cũng như trách nhiệm trong việc thất thủ của Việt Nam Cộng Hòa. Gần 30 năm sau, trở lại trường hoàn tất việc học dở dang, tôi đã may mắn thực hiện được một phần lời nguyền, là lưu lại chứng tích—dù khiêm nhượng dù thiếu sót đến đâu– của người Việt tỵ nạn trong hệ thống đại học hầu góp phần làm sáng tỏ về Việt Nam Cộng Hòa, gồm cả kinh nghiệm của một công dân từ quê hương đã mất và thêm quan điểm của công dân ấy, nhưng từ quê hương mới.

Từ Thức đã không thể trở lại chốn cũ, nhưng vẫn mang theo hình ảnh của chốn cũ, với hy vọng chốn mới sẽ ngày nào phản ảnh được dư quang đã bỏ lại.

Bên cạnh đó, luận án này còn tiêu biểu cho một khía cạnh chung của hoàn cảnh người tỵ nạn: Làm lại từ đầu với hai bàn tay trắng.  Khác với sự nguyền rủa của Cộng Sản, gia đình tôi và rất nhiều dân Miền Nam, may mắn thoát được là nhờ phút cuối theo giòng người hỗn độn và hoang mang, hoảng sợ, ùa vào bến tàu Sài gòn; không ngờ được cho trèo vào xà-lan, chung quanh che bằng bao cát chống đạn, rồi ra khơi, di tản sang Hoa Kỳ. Gia đình tôi không giàu, không thuộc loại “hút máu nhân dân” hay “bám chân đế quốc Mĩ”. Từ 1976 đến 1994, tôi cũng chỉ là một người nội trợ, không biết cả lái xe (hơi) cho đến năm 1985. Từ năm 1995, tôi là người mẹ đơn thân, làm 2, 3 việc bán phần nuôi các con, với hy vọng sẽ đến phiên được trở lại Đại Học. Tôi thuật lại một phần tiểu sử, không phải vì hợm mình, mà muốn cho thấy, bất cứ người tỵ nạn nào cũng có thể, sau cùng, góp phần khiêm nhượng cách này cách khác có khi một cách rất bất ngờ, vào việc góp một ngọn nến cùng nhiều người khác trên đường soi lại lịch sử của tập thể mà họ từng gia nhập.

Bởi thế, lập tức Phùng Nguyễn thảo luận về những chủ đề được đề cập, dẫn đến một cuộc trao đổi bên lề. Đó là, nếu có khả năng, thế hệ chúng tôi nên viết (nhiều hơn) bằng ngôn ngữ mẹ đẻ hay bản xứ? Vì mỗi ngôn ngữ có một khối độc giả riêng dẫn đến tác dụng khác biệt. Chúng ta chú tâm vào lịch sử/ độc giả Việt Nam bây giờ và mai sau? Hay viết cho các đại học hoặc học viện ngoại quốc, nơi sẽ chuyển nhận mọi nguồn tin tức cho các thế hệ tương lai tại hải ngoại? Nói một cách khác, chúng tôi cần chú ý ưu tiên đến tác giả người Việt hay tác giả người ngoại quốc nếu có cơ hội gia nhập cả hai thế giới đó với khả năng quá hạn hẹp của mỗi cá nhân? Phùng Nguyễn đã phát biểu một chút khi ghi nhận trong cùng bài thượng dẫn:

-…Nền văn học này cũng hiếm khi được đề cập đến ở hải ngoại, ngay cả ở Hoa Kỳ, nơi có đông đảo người gốc Việt cư ngụ, ngoại trừ những cố gắng đơn độc để bảo trì những gì còn có thể cứu vớt bởi một thiểu số đếm được trên đầu ngón tay. Cho nên, nếu có lần nào đó nền văn học này được nhắc đến bằng một thứ ngôn ngữ rất mạnh, rất phổ quát như Anh ngữ, hẳn là một điều rất đáng lưu tâm…” [Phùng Nguyễn, sđd, 2007]

Thật vậy, ngoài những tiểu luận bằng nguyên bản Anh ngữ, một số tác phẩm của nhà văn Miền Bắc còn được dịch ra ngoại ngữ, nhất là Anh ngữ, “một thứ ngôn ngữ rất mạnh, rất phổ quát” như Phùng Nguyễn nhận xét chính xác. Tôi sẽ cho một thí dụ điển hình là tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái– viết từ năm 1996, xuất bản lần đầu năm 2002– hầu độc giả tiện theo dõi. Tiếp đó, tôi sẽ trích dẫn phần Anh ngữ khi tác phẩm này được hiệu đính, dịch sang Anh ngữ và phát hành tại Hoa Kỳ (2012).

Tôi cũng xin được lập lại một số trích dẫn trước đây, từ Phùng Nguyễn hoặc của tôi, trong vài bài khác đã có, hầu độc giả–nhất là độc giả chưa có dịp đọc về vấn đề này—theo dõi một cách mạch lạc hơn.

Nhà văn Miền Bắc viết về “lính ngụy ăn thịt người”

Nhà văn Hồ Anh Thái-Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam/Đệ Nhị Bí thư, Tòa Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ, Bộ Ngoại Giao, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa/Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn khóa VII/Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội/Phó Chủ tịch Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật [5] : bọn thám báo …Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn…

Phần lính ngụy ăn “tim, gan và 2 hột tinh hoàn” kèm đây được trích dẫn từ tác phẩm thượng dẫn:

– … Hai người cứ nằm mãi cho đến khi nhớ ra còn phải đi tìm rau. Lúc này họ đang ở gần một con suối nhỏ. Hùng nấp ở trên bờ, cảnh giới cho Hoa xuống tắm trước. Sau đó đến lượt Hoa canh cho anh tắm. Khẩu súng ngắn, Hùng đưa cho Hoa giữ. Xuống đến bờ suối anh mới cởi hết quần áo, bỏ lại bờ, rồi nhảy xuống suối tắm tiên. Từ trên cao và ở một vị trí không xa lắm, Hoa nhìn rõ một cơ thể cân đối và cường tráng, cao gần một mét tám, nặng bảy mươi sáu cân. Những chàng trai như thế phải đi vào cuộc chiến này, vừa tự hào vừa đáng tiếc làm sao. Giây phút ấy, Hoa bất chợt có ý nghĩ như một người mẹ. Cô sẵn sàng chịu ngàn lần thương tích và tai họa mà chiến tranh đang dội xuống đầu mình, miễn sao những chàng trai như thế kia được đưa ngay về hậu phương, được gửi đi học nước ngoài. Hết chiến tranh, đất nước thực sự cần những chàng trai như vậy. Thình lình Hoa run lên. Một tốp bốn thằng thám báo đã ập đến bên bờ suối từ lúc nào. Chúng giẫm lên bộ quần áo và phát hiện ra con dao găm để lẫn trong đó. Một thằng cúi nhặt con dao, rút ra khỏi vỏ, liếc liếc lưỡi dao vào bàn tay như thử độ sắc. Rồi chúng vẫy Hùng lên bờ. Hùng vẫn đứng ngập nửa thân người dưới suối. Anh không có một vũ khí trong tay, lại trong tình trạng khoả thân hoàn toàn. Hoa định hét lên, định nhắm bắn lũ thám báo cho Hùng chạy, nhưng lý trí kịp kìm sự manh động lại. Lâu nay cánh rừng này vẫn được xem là không có Việt Cộng. Trong bộ quần áo của Hùng không có một thứ giấy tờ gì. Anh sẽ chỉ bị coi là một gã bộ đội Bắc Việt đi lạc đơn vị. Hùng lao người bơi xuôi theo dòng suối tương đối cạn, xa hẳn chỗ Hoa đang nấp. Lũ thám báo văng tục chạy men bờ đuổi theo. Có những chỗ suối cạn không bơi được, Hùng phải chạy. Bốn tên thám báo nhảy chồm chồm trên những tảng đá giữa lòng suối, rồi quây được Hùng vào giữa. Anh quật ngã một thằng. Nó cắm đầu xuống nước, không thấy động đậy gì. Nhưng những thằng kia đã xúm lại. Chỉ một lát sau, chúng đã lôi xềnh xệch Hùng lên bờ. Thân thể anh bầm giập đẫm máu. Chúng đấm đá túi bụi để lấy cung cho tới khi anh ngất đi. Anh tỉnh lại, chúng đánh tiếp. Hoa hiểu vì sao chúng không dùng đến súng. Chúng cũng không muốn gây ra tiếng nổ ở vùng rừng này. Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã đến. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn. Bữa tiệc kéo dài quá sức chịu đựng cuối củng cũng chấm dứt. Lũ thám báo bỏ xác Hùng lại trên bờ suối…” [Hồ Anh Thái, Cõi người rung chuông tận thế, trang 171-174, Nhà xuất bản Trẻ, 2013- In 3.000 cuốn]

Hồ Anh Thái quả không hổ tiếng nhà văn danh trấn giang hồ. Chỉ trong 1 đoạn ngắn, ông đã diễn tả rất…thành thạo (chữ của chính ông) về một tội ác mà không hiểu có chứng kiến bao giờ chưa. Dù sao chăng nữa, tạm thời cứ cho là ông có quyền sáng tạo vì đây là một tiểu thuyết/a novel.  Xin tóm tắt đoạn đó như sau: Lính Miền Nam, 4 người nhưng đều vô danh, bắt được Hùng lính Miền Bắc, không những có danh tính “hùng” mà người cũng “hùng” không kém. Theo Hồ Anh Thái, nhân vật Hùng có “một cơ thể cân đối và cường tráng, cao gần một mét tám, nặng bảy mươi sáu cân”, nghĩa là cao 5 feet 9 và nặng 167 lbs rưỡi, nghĩa là một anh người mẫu khá cao so với một người đàn ông Việt Nam thường thường bậc trung kèm số cân rất “chuẩn”. Nhân vật của Hồ Anh Thái có những số đo làm độc giả không chỉ kinh ngạc mà phân vân. Bóp, một nhân vật chính khác, cao hơn 6 feet và nặng gần 200 lbs:

             -… Tôi xuống đến chân cầu thang, gặp thằng Bóp đang định đi lên. Kính đen gọng to. áo may ô đen. Quần soóc đỏ. Một gã người rừng Tarzan thực sự, cao mét tám lăm, nặng tám mươi tám cân… [Hồ Anh Thái, -Chương 2, https://isach.info/story.php?story=coi_nguoi_rung_chuong_tan_the__ho_anh_thai&chapter=0002%5D

Không những người lớn mà trẻ con cũng dị thường. Một em bé sơ sinh khác, cân nặng xấp xỉ 5 ký (10 pounds 8) khi chào đời:

-…Một thằng bé bầm tím nặng bốn cân chín lọt lòng mẹ nhất định không khóc… [Hồ Anh Thái, sđd, Chương 3.

Đứa bé này có thể “nhất định không khóc” nhưng bà mẹ “nhất định” phải khóc. Cứ trưng cầu dân ý của phụ nữ đã qua lần sinh nở là biết ngay. Đáng suy nghĩ hơn vẫn là lối diễn giải của tác giả. Ông viết:

Những chàng trai như thế phải đi vào cuộc chiến này, vừa tự hào vừa đáng tiếc làm sao. Giây phút ấy, Hoa bất chợt có ý nghĩ như một người mẹ. Cô sẵn sàng chịu ngàn lần thương tích và tai họa mà chiến tranh đang dội xuống đầu mình, miễn sao những chàng trai như thế kia được đưa ngay về hậu phương, được gửi đi học nước ngoài. vv.

Thế những chàng trai khác không “như thế”, không “cao gần một mét tám, nặng bảy mươi sáu cân” mà trái lại, nhìn vào khe song/trông anh ốm yếu ho hen [Phạm Duy, Phố buồn] thì không “đáng tiếc”?! Không đáng được sống sót để “gửi đi học nước ngoài”?!

Nói là nói thế thôi chứ có lẽ tôi biết dụng ý của tác giả: chiến tranh tiêu diệt tinh hoa của một quốc gia. Điều đáng tiếc là, qua ông, chỉ có Miền Bắc mới có loại tinh hoa “vừa tự hào vừa đáng tiếc” cần bảo vệ. Đó là chưa nói tới chi tiết người lính (mà lại là lính thám báo) không dám nổ súng để gây tiếng động nhưng “nổi lửa” nướng thịt khiến khói lan mùi bay. Thêm vào đó, Hoa lại “có ý nghĩ như một người mẹ” thì than ôi, theo tôi, thậm tuyên truyền kiểu “bà mẹ thành đồng chống Mĩ-Ngụy”. Tình yêu với một người đàn ông và tình yêu (hay tình thương) với các con là 2 thứ tình khác nhau. Trong lúc thập tử nhất sinh ấy, việc ưu tiên là làm thế nào để cứu người tình và cứu mình với tình yêu đã đập nhịp bằng chiếc bào thai. Bởi thế, Hồ Anh Thái chưa chắc hơn ai nổi về kinh nghiệm chiến trường. Tôi đã có dịp ngồi cả đêm trong một căn nhà khi bạn tôi dẫn lính đi tuần tiễu trong một đêm mưa nhòe nhoẹt, đã ra đến Cổ thành Quảng Trị rất sớm:

Cổ Thành Quảng Trị

Trời bùng bục

gió lền bụi cát

chân người bước rầm rập

rầm rập ngoài thành quách cổ.

Ðá lăn chuồi

tấn sát chân tường lún gạch xanh rêu

ngàn ngàn năm ngợp trong một chớp mắt.

Chốn bất ưng

người ta giả tảng mà đi tới

anh cũng giả tảng mà đi tới

có thấm nhớ em đã muộn màng

ích chi đặt bày điều trăm năm, em ôi!

Chạng vạng

trừng mắt ngó thinh không im ắng

thây vùi ló mặt

gọi hồn oan uổng lặc lìa

chó tru hoảng.

Linh hồn nào

chưa chịu đầu thai

lén lút ở lại

chờn vờn trên đầu cây ngọn cỏ

rình người bước rầm rập

rầm rập trong thành quách cổ …

[Nguyễn Tà Cúc, 1973-2025]

Tôi đã có dịp vào quân y viện nhiều lần, chứng kiến người lính dưỡng thương với nhiều tâm sự. Tôi không bao giờ quên cảnh tượng một anh giở chiếc chân đắp, cho thấy một chân bị cắt quá đầu gối. Lúc đó thì biết nói gì bây giờ? Hát gì bây giờ? Tặng gì bây giờ? Tôi chỉ còn biết nắm chặt tay anh trong khi chính anh lại cố an ủy. Đến đây tôi xin được mạn phép dẫn chứng để, một phần chứng minh tôi không bịa đặt về những cuộc thăm viếng đã ghi lại trong sinh hoạt Miền Nam bên này; phần khác, để các nhà văn bên kia như Hồ Anh Thái hiểu rằng khi viết về chiến tranh thì nên cẩn thận và…lịch sự hơn bằng cách nghiên cứu trước khi viết:

– … Cuối tuần. Hai ngày thứ bảy và chủ nhật hay có những phái đoàn của học sinh các trường trung học thường xuyên nhất là Gia Long tới thăm và tặng quà cho lính. Tất nhiên là lính rất khoái vì ngoài quà tặng còn được những người đẹp tới trò chuyện, đôi khi có ca hát “bỏ túi” rất là “ấm lòng chiến sĩ”… (NHV, “Những ngày bị thương nằm Tổng Y Viện Cộng Hòa, Ngày 28.11.2023 –   https://dongsongcu.wordpress.com/2023/11/28/nhung-ngay-bithuong-nam-tong-y-vien-cong-hoa-nhv/ ]

Quà thì gia giảm nhưng luôn luôn có một bức thư thăm hỏi và một khăn tay nhỏ, màu trắng, rút chỉ để thêu “rua chữ I” quanh 4 cạnh khăn rồi thêu tắt 2 chữ “GL” vào một góc. Mũi thêu “rua chữ I” này cũng để áp dụng một trong những mũi thêu–mũi “xương cá đơn”, “xương cá kép” vv. — trong chương trình Nữ công Gia chánh mà chúng tôi phải học. Đám học trò con trai không phải học Môn này, trong khi chúng tôi vẫn phải học Môn Thể thao (leo dây, chạy vv.) như họ. Xong xuôi mới may viền mép khăn lại bằng mũi luông để giấu nốt chỉ. Nghĩa là phải may thêu bằng tay từ đầu đến cuối. Vải thì được nhà trường cung cấp. Kim và chỉ thì chúng tôi phải bỏ tiến túi. Cô nào sang thì mua chỉ hiệu DMC từ Pháp, sắc thắm hơn và sợi cũng mượt hơn. Chỉ thêu cũng nhất định màu trắng. Nghĩa là đồng nhất, không có chuyện đủ màu sặc sỡ. Vậy mà có cô bạn còn ráng điểm xuyết vài mũi thêu màu tím vào chữ “GL” vì màu tím là màu đại diện của trường Nữ Trung học này. Vụ “ca hát bỏ túi” thì được gọi là “văn nghệ đầu giường”, nếu không lầm. Thường thì các cô Sài gòn, cô nào mà không biết hát. Có cô còn hát rất hay. Chỉ có anh thương bệnh binh nào…tới số mới bị tôi tới thăm vì hoàn toàn không biết hát. Bù lại, trúng lô an ủi, lá thư có chữ viết và chiếc khăn thêu thì tạm được. Nhờ đó, tôi được thứ tội, lại có dịp hỏi các anh về đời sống chiến trận sau khi cho họ biết tôi muốn trở thành y sĩ phục vụ tại các bệnh viện quân đội. Một anh sĩ quan kể lại điều “kỳ cục” khi bắt được lính Miền Bắc:

            – Có đứa chỉ khoảng 16, 17. Thấy tội nghiệp quá. Từ Bắc lén vô, núp rừng núp bụi, thì làm sao biết đường mà chạy. À, mà lạ lắm, có đứa khóc lóc, xin tôi bắn nó chết cho rồi, đừng ăn thịt nó. Tôi nạt, Bậy nà rồi cho nó ăn đỡ đói. Nó không ăn, cứ xin được theo tôi cho chắc ăn. Tôi phải kêu bạn tôi người Bắc tới kềm nó. Chắc nó bị động kinh nói sảng. Chớ làm gì có chuyện kỳ cục ăn thịt tụi nó. Mình đâu có đói hay rừng rú như vậy. Nó còn kể thiệt cho tôi nghe bị nhồi sọ là lính mình nhát. Dè đâu khi đụng trận, tụi nó mới biết tụi tôi đâu có nhát, rượt tụi nó chạy dài dài…

Đó là lần đầu tiên tôi được biết về loại tuyên truyền người lính chúng ta ăn thịt lính Miền Bắc. Hồi đó, tôi cũng nghĩ như anh sĩ quan, là do tù binh bị hoảng loạn quá mức; cho đến khi bắt đầu nghiên cứu về loại tuyên truyền này. Thế nên, tổng chi, tôi dễ dàng nhận ra mấy điều khả nghi thượng dẫn trong Cõi người rung chuông tận thế mà theo tôi, được sửa soạn cho điều rùng rợn cuối cùng. Trước khi bắt được Hùng, lính Miền Nam nhặt được con dao găm (rất sắc) của chính anh ấy. Ba người lính Miền Nam đánh đập Hùng dã man. Cuối cùng, Hoa (nhân vật nữ, người tình của Hùng), và cũng không ai ngờ nổi, một người lính Miền Nam lấy con dao găm của chính Hùng để rạch bụng moi tim moi gan. Cũng ngay tại đây, là đoạn chứng minh anh hoa phát tiết ra ngoài của tác giả. Ông dùng hai chữ “thành thạo” khi diễn tả người lính Miền Nam rạch bụng người lính Miền Bắc, nghĩa là người lính Miền Nam (và nhóm lính ấy) đã từng làm nhiều lần, rất nhiều lần. Trước đó, ông đã giáo đầu bằng “Một thằng cúi nhặt con dao, rút ra khỏi vỏ, liếc liếc lưỡi dao vào bàn tay như thử độ sắc…” Chưa ngưng được, vì chắc chưa tự tin vào tài thuyết phục độc giả hay tài thuyết minh của chính đương sự hoặc cả hai, Hồ Anh Thái lại tiếp tục bằng “Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.” A ha! Hóa ra “tim” và “gan” chưa quý bằng “hai hột tinh hoàn”?! Thưa ông Đệ nhị Bí thư kiêm nhà văn Hồ Anh Thái?! Tôi xin chấm dứt đoạn …phóng sự này bằng cách mượn lời một anh đồ nghèo đi xin gạo. Tương truyền rằng, có 1 anh đồ nhà ta túng bấn, bèn đến cửa quan xin gạo. Quan ông đi vắng. Quan bà chẳng thương thì chớ, còn mang nhiều thứ, không phải gạo, dọa đem cho. Đồ nghèo đáp lại bằng một bài thơ, đương nhiên, với câu cuối: Của ấy, thưa bà, để biếu ông.

Thiển nghĩ, sáng tạo là quyền đương nhiên của một nghệ sĩ, nhưng trong trường hợp này, loại tội ác chỉ thấy gán đặc biệt cho một bên Miền Nam cần được giải quyết một cách thỏa đáng và đến kỳ cùng. Theo tôi, muốn truy nã những kẻ phạm tội hầu mang công lý về cho tập thể nạn nhân—như Phùng Nguyễn từng đề nghị–quả sẽ quá dễ dàng với một chính phủ đã gửi hàng trăm ngàn quân cán chính Miền Nam vào tù và điều tra họ qua ba đời lý lịch với nhiều phương cách truy nã quá khứ hầu trừng trị tới tương lai của họ cùng gia đình họ. Chưa hết, Cõi người rung chuông tận thế được dịch ra Anh ngữ, Apocalyse Hotel, rồi phát hành vào năm 2012. Không những quyển này đã được dịch ra Anh ngữ mà còn được Tiến sĩ Wayne Karlin adapted/ hiệu đính và introduce/giới thiệu. Tôi trích dẫn đoạn ngắn được dịch sang Anh ngữ về người lính thám báo VNCH, từ lúc phát giác đến đuổi theo và ăn thịt Hùng, người lính Miền Bắc. Trước khi trích dẫn, tôi muốn nói tới tên của dịch phẩm vì hơi khác với nguyên tác. Cõi người rung chuông tận thế được dịch thành Apocalypse Hotel. Phần “Notes, ‘Introduction’” (Apocalypse Hotel, trang 127-129) cho thấy lời giải thích như sau:

–The literal translation of the title is awkward in English: “The apocalypse bell resounds in the human abode/Nếu dịch theo nghĩa đen của tên tác phẩm thì quả vụng về: “Tiếng chuông thời tận thế vang lên trong khu gia cư”. [Apocalypse Hotel/ Khách sạn thời tận thế, Dịch giả Jonathan McIntyre, Wayne Karlin hiệu đính & giới thiệu, trang 127, Nhà Xuất bản Texas University Press, 2012—Nguyên tác Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái, Nhà Xuất bản Phụ Nữ, Đà Nẵng, 2012]

Theo tôi, chữ “cõi” nên dịch là ‘realm” vì “abode” thường có nghĩa là “chỗ ở” hay “nơi cư ngụ”. Thế nên Cõi người rung chuông tận thế có thể dịch sang tiếng Anh The Apocalypse Bell Vibrates Throughout the Human Realm mà không có vẻ awkward/vụng về, lại giữ được chữ “Cõi” (người), một chữ hết sức quan trọng trong văn hóa Việt, vượt hẳn chữ “khách sạn” với ý nghĩa bị hạn chế. Nhà xuất bản Texas University Press, cũng sử dụng một tên tương tự khi giới thiệu bán sách: The Apocalypse Bell Tolls in the Human World [https://www.ttupress.org/9780896728035/apocalypse-hotel/]. Ngoài ra, câu giải đáp cho bản dịch có 1 tên khác với nguyên tác, có thể tìm thấy ở một đoạn được coi như lời giải thích của Wayne Karlin với báo chí Việt Nam:

-Theo dịch giả Jonathan R. S. McIntyre và nhà văn Wayne Karlin (ở vai trò hiệu đính), cuốn sách được đổi tên với hàm ý: “Thế gian này như một cái nhà trọ, một cõi tạm đang ngổn ngang trước những nguy cơ về đạo đức, về tinh thần, về điều kiện sống ngày càng đòi hỏi tranh đua khốc liệt”. Nó cũng trùng hợp, khi tiểu thuyết mở ra trong bối cảnh một khách sạn mang tên Apocalypse, nghĩa là Thiên Khải, đồng thời còn mang nghĩa ngày tận thế… [Võ Minh, “Cõi người rung chuông tận thế ra mắt độc giả Mỹ”, ngày 17.05. 2013 – https://www.nxbtre.com.vn/diem-tin/coi-nguoi-rung-chuong-tan-the-ra-mat-doc-gia-my-2531.html%5D

Tôi không có bản Anh ngữ của lời phát biểu này, nên không biết hư thực ra sao, nhưng phần dịch sang Anh ngữ của đoạn đã trích thì rất sát:

-… Hùng was still half submerged in the stream, unarmed and totally naked. Hoa almost called out, almost started to open fire at the scouts so Hùng could run for it, but logic quickly prevailed. This area of the forest had been considered free of Viet Cong for a long time. There weren’t any documents or letters in Hùng’s clothes. He’d just be seen as a North Vietnamese soldier who had become separated from his unit. Hùng threw himself into the water and started swimming downstream, away from Hoa’s hiding place. Spitting vulgarities, the scouts ran along the bank in pursuit. There were a few points at which the stream ran too shallow to swim, and Hùng had to run. The soldiers scrambled from rock to rock, clustering in the center of the stream, and surrounding Hùng. He ran into one of them, shoving him over, and smashing the scout’s head down into the water, so he lay motionless. But the others had regrouped and a moment later they were dragging Hùng’s writhing body up onto the shore, bruised and bleeding. As they questioned him, they rained kicks and punches down on him until he lost consciousness. When he came to, they started again. Hoa knew why they didn’t use their guns. They didn’t want the sound of a gunshot ringing out in the forest. What happened in the end Hoa never could have foreseen. She’d assumed that the scouts would drag Hùng off to a POW camp to continue their interrogation. Instead, the scout with the long dagger slashed it deftly across Hùng’s stomach. A horrifying scream burst from his mouth. High above, Hoa ground her teeth, nearly passing out. Two of the scouts shoved their hands into Hùng’s abdomen and dug out his organs. They lit a fire, roasting and eating his innards right there. His testicles were split between two of them who were probably higher ranking. This feast–which stretched so far beyond the limits of the bearable–finally ended. The squad of scouts dumped Hùng’s corpse back down onto the bank of the stream, gathered their comrade—half-living, half-dead— and left… [Apocalypse Hotel,  trang 88, Dịch giả: Jonathan R.S. McIntire &  Tiến sĩ Wayne Karlin hiệu đính/adapted và giới thiệu/introduce, Loạt “Modern Southeast Asian Literature”, Nhà Xuất bản Texas University Press, Hoa Kỳ, 2012 – Nguyên tác: Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 2002, Việt Nam]

Như chúng ta có thể thấy, Apocalypse Hotel/ Cõi người rung chuông tận thế không chỉ được xuất bản bằng Anh ngữ, mà còn được xếp vào loat Modern Southeast Asian Literature/Văn chương Đông Nam Á Hiện đại. Mấy chữ Modern Southeast Asian Literature với Chủ biên (series editor) Wayne Karlin xuất hiện ngay trên trang 3 (trang 1 và 2 để trống) trước tên tác phẩm Apocalypse Hotel, trang 5. Các đoạn trích dẫn từ Hồ Anh Thái cho thấy huyền thoại “lính ngụy ăn thịt người” đã phổ biến từ Việt Nam ra thế giới, từ ngòi bút của một trong những nhà văn xứng đáng được coi là danh tiếng thuộc Văn học Miền Bắc, từ tiệm sách và thư viện trong nước tới tiệm sách và thư viện tỉnh lỵ hay đại học tại hải ngoại. Tôi đã tìm mượn được Cõi người rung chuông tận thế tại thư viện thuộc một thành phố có tiếng đông đảo dân Việt cư tại California.

Tôi mừng thay cho tác giả Hồ Anh Thái (và Wayne Karlin) khi Hồ Anh Thái để cho Hoa và cái thai sống sót. Cái thai trở thành nhân vật chính Mai Trừng-một cô gái xinh đẹp nhưng đeo lời nguyền của mẹ– suốt đời theo đuổi trừng trị bất cứ kẻ ác nào với sức mạnh bí ẩn và tuyệt đối.  “Mừng thay” vì Hồ Anh Thái đã không cho Hoa bị giết khi mang thai vài tháng. Nếu thế thì Mai Trừng đã không có mặt hầu làm xương tủy/ pun intended cho ý nghĩa của Cõi người rung chuông tận thế khi Cái Ác sẽ bị tiêu diệt bằng sự tha thứ, không bằng sự trả thù. Nhưng cũng chính vì thế, tiểu thuyết này gẫy ngay từ đầu khi dùng 1 tội ác man rợ– một thứ tội ác vượt lên khỏi mọi thứ tội ác khác—đem gán cho cả tập thể lính Thám báo nghĩa là người lính VNCH. Mai Trừng có thể hỏa thiêu di thể của bố Hùng và mẹ Hoa để xin ngừng truy đuổi nhắm trừng trị kẻ làm Ác, bắt đầu hành trình tự giải thoát và cho người khác khỏi vòng trả thù miên viễn. Nhưng ai giải oan cho tập thể người lính VNCH? Ai đủ quyền năng hầu tha tội cho những tác giả, dù vô tình, đã treo tội ác lên cổ cả một thế hệ? Đoạn giong đi khắp cùng thế giới? Nếu giòng giõi của người lính VNCH muốn báo oán những kẻ đã vu oan cho thân nhân thì bao giờ mới chấm dứt được vòng oan nghiệt theo ý nghĩa cao đẹp của tác phẩm?   

Bởi thế, tuy “mừng thay” cho Hồ Anh Thái nhưng “buồn thay” cho chúng ta, những người Việt từ Nam chí Bắc…không ăn thịt người, vì Cõi người rung chuông tận thế không chỉ là một cuốn tiểu thuyết được dịch ra Anh ngữ. Tác giả của nó còn là 1 trong 6 nhà văn Việt Nam được tuyển chọn trong Dictionary of Literary Biography, Volume 348: Southeast Asian Writers/ Từ điển Chân dung Văn học-Tập 348: Nhà văn Khu vực Đông Nam Á [Chủ biên: David Smyth, Nhà Xuất bản Gale Cengage Learning, 2002]. 6 nhà văn này được giới thiệu theo thứ tự ABC: nhà văn Dương Thu Hương, trang 44-50; nhà văn Hồ Anh Thái, trang 69-73 do Wayne Karlin giới thiệu, có nhắc đến Cõi người rung chuông tận thế, trang 72-73; nhà văn Lê Minh Khuê, trang 132-136 do Wayne Karlin giới thiệu; nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, trang 198-202; nhà văn Nguyễn Minh Châu, trang 203-205 và nhà văn Phạm Thị Hoài, trang 218-221.

Hiện tượng “Lính ngụy ăn thịt người” trong tác phẩm của vài nhà văn Miền Bắc quan trọng đến thế quả đã ám ảnh Phùng Nguyễn, đại diện bằng ít nhất mấy bài viết thống hận kèm phẫn nộ.

Không chỉ nhà xuất bản tại Việt Nam hay Hoa Kỳ, cả Phùng Nguyễn và tôi đều dư biết Nhà Xuất bản Tiếng Quê Hương (Virginia), do nhà báo Uyên Thao đứng mũi chịu sào, lại chính là nơi đã ấn hành Đi tìm nhân vật có đoạn “bọn ngụy ăn thịt người” sau khi tác phẩm này bị ngăn chận trong nước (?)

Nhà văn Tạ Duy Anh-Giảng viên Trường viết văn Nguyễn Du/Biên tập viên Nhà Xuất bản Hội Nhà văn.6

Tôi trích dẫn đoạn “bọn ngụy ăn thịt người” trong tác phẩm thượng dẫn:

– … Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị băm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào, vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội. Nó đã hy sinh như một người anh hùng trên chiến trận… [Tạ Duy Anh, Đi tìm nhân vật, trang 136, Nhà Xuất bản Tiếng Quê Hương, 2003, Virginia-Hoa Kỳ]

 Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh vào loại văn chương sử dụng vào mục đích “bọn ngụy ăn thịt người”: Người lính VNCH không chỉ là “ngụy” mà còn là “lũ quỷ”. Theo tôi, ngòi bút của Tạ Duy Anh cống hiến bạn đọc hình ảnh người lính VNCH bị gọi chung bằng “ngụy”, cũng ghê rợn như hình ảnh moi gan, tim và “2 quả tinh hoàn” của Hồ Anh Thái. Cứ tưởng tượng một nhóm người (bất cứ…người gì, Nam hay Bắc) “róc thịt” một người khác, từ từ từ từ từ từ từ từ từ từ, từ khi còn nguyên vẹn hình hài cho tới lúc chỉ còn lại một bộ xương nham nhở. Mùi thịt người ra sao? Và rượu ở đâu mà sẵn thế? Rượu đế Miền Nam hay rượu …mơ tịch thu của bộ đội sinh Bắc tử Nam? Uống từng hớp hay ngửa cổ tu ừng ực từng nửa chai? Quả thật, tôi thắc mắc: khi viết những giòng này, Tạ Duy Anh đã căn cứ trên dữ kiện nào, của ai, một cách đích xác? Ông đã có dịp tiếp xúc với bao nhiêu người dân/người lính Miền Nam? Hay chỉ gặp đôi ba người từ Miền Nam đã không phản đối, lại giúp ông phổ biến loại hình ảnh đó? Như Uyên Thao, một trong những người sáng lập Nhà Xuất bản Tiếng Quê Hương sau 1975? Trả lời biên tập viên Mặc Lâm của Đài Á châu Tự Do/RFA, Uyên Thao giải thích cho thính giả và độc giả biết về lý do ấn hành Đi tìm nhân vật:

 – Nhà văn Uyên Thao: Tôi nghĩ là trong số những người cầm bút ở trong nước mà có những tác phẩm mình cần phải giới thiệu với mọi người thì Tạ Duy Anh là một trong số những người đó. Tủ sách Tiếng Quê Hương in hai tác phẩm của Tạ Duy Anh. Cuốn đầu tiên là cuốn Đi Tìm Nhân Vật và cuốn thứ nhì là Sinh Ra Để Chết… [Mặc Lâm/ Biên tập viên RFA, “Tủ sách Tiếng Quê hương và nhà văn Uyên Thao”, ngày 19.10. 2013 – https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/uyen-thao-n-the-voice-of-motherland-ml-10182013144959.html%5D

            Câu trả lời của Uyên Thao thật ra chỉ là sự lập lại đoạn cuối của “Vài nét về tác phẩm” dẫn vào Đi tìm nhân vật:

            -… ĐI TÌM NHÂN VẬT xứng đáng với một vị thế đáng kể bên cạnh các tác phẩm giá trị hiện nay của văn học Việt Nam. Đây là lý do thứ nhất khiến Tủ Sách Tiếng Quê Hương quyết định ấn hành tác phẩm này. Ý thức trách nhiệm xã hội không cho phép chúng ta để những công trình tim óc đáng trân trọng của người cầm bút chìm lấp vào lãng quên do hành vi vùi dập của một tập thể bạo quyền. Kế tiếp, chúng tôi cũng không thể sơ sót với bạn đọc khi đã tự chọn công việc tìm kiếm để giới thiệu những tác phẩm đáp ứng đúng nhu cầu đọc sách của mọi người. Tiếp nữa, quan trọng hơn, chúng tôi nghĩ rằng ĐI TÌM NHÂN VẬT là bức chân dung không thể thiếu đối với các thế hệ mai sau khi muốn nhìn lại cuộc sống đích thực của đất nước chúng ta ở giai đoạn hiện nay. Cuối cùng và cấp bách hơn hết là bổn phận chuyển giao lời kêu gào bi thiết của bức thông điệp giữa những người còn mang nặng mong ước đổi đời cho quê hương. Xin mời các bạn bước vào thế giới tiểu thuyết của Tạ Duy Anh. [Tạ Duy Anh, “Vài nét về tác phẩm”, Đi tìm nhân vật, trang VII-XV, Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản, Virginia, Hoa Kỳ, 2003]

Chỉ tiếc “bức thông điệp” và “bức chân dung không thể thiếu đối với các thế hệ mai sau” lại có đoạn bọn quỷ-lũ ngụy lính VNCH man rợ đến nỗi “róc”, “nướng” rồi ăn thịt người lính Miền Bắc-đầy dũng cảm.  Tuy thế, Trần Phong Vũ, một nhân vật quan trọng của Tủ sách Tiếng Quê Hương, phải thú nhận đã… đầu hàng khi việc phổ biến Đi tìm nhân vật thất bại tại hải ngoại. Ông đặt giả thuyết:

– … Riêng cuốn tiểu thuyết ĐI TÌM NHÂN VẬT, tủ sách Tiếng Quê Hương đã được hân hạnh giới thiệu với độc giả hải ngoại từ năm 2003. Nhưng điều đáng tiếc là nó đã không được nhiều người đón nhận. Có thể vì nhan sách không tạo được sự chú ý của người đọc. Cũng có thể vì nhiều nguyên nhân khác (…) ĐI TÌM NHÂN VẬT không thể bị rơi vào quên lãng. Công trình tim óc này của tác giả họ Tạ cần được đặt vào một vị thế xứng đáng bên cạnh các tác phẩm giá trị hiện nay của văn học Việt Nam. [Trần Phong Vũ, “Nhân một lần đọc lại một tuyệt phẩm của Tạ Duy Anh bị bỏ quên”, Nam California, Một ngày năm 2008- https://tiengquehuong.wordpress.com/wp-content/uploads/2014/05/ditim-nhanvat.pdf ]

 Tôi đã dụng công đọc áng văn chương bất hủ dài đằng đẵng (16 trang) của Trần Phong Vũ ca ngợi nhiệt liệt Đi tìm nhân vật mà vẫn không thấy giòng nào nhắc đến đoạn thượng dẫn. Hay tôi lầm? Trần Phong Vũ liệu có đọc hay có còn nhớ 2 chữ “lũ quỷ”-Miền Nam mà Tạ Duy Anh gán cho “bọn ngụy róc thịt uống rượu” hầu đối chiếu với “người anh hùng trên chiến trận” Thiết-Miền Bắc? Cả Uyên Thao và Trần Phong Vũ đều là người Miền Nam và thành tâm của các ông trong việc cổ võ cho một Việt Nam tươi sáng hơn là điều không thể chối cãi được. Tôi chỉ có thể suy đoán bằng giả thuyết của chính tôi: Vì xuất thân từ một Miền Nam nhân bản, khai phóng và rộng lượng, họ không nhận ra nổi những ngón đòn ác hiểm nằm vùng ngay trong những nơi bất ngờ nhất, càng bất ngờ khi tác giả lại có vẻ …vô hại và rõ ràng có thiện ý.

Trong bài “Khi nhà văn không chỉ là kẻ đồng lõa”, Phùng Nguyễn chỉ đích danh Tạ Duy Anh và Hồ Anh Thái–hai trong số tác giả Miền Bắc đã gieo rắc thứ huyền thoại “láo khoét và vô đạo đức” (sic) –qua nhãn quan của một người lính tác chiến Miền Nam. Tư cách một người lính tác chiến từ Miền Nam này rất quan trọng vì từ Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh đến Uyên Thao, Trần Phong Vũ sẽ phải hiểu rằng nếu họ có quyền sáng tác và phổ biến, thì Phùng Nguyễn sẽ có quyền chất vấn. Tiếp đó, quyền phản bác là quyền của họ, dĩ nhiên. Điều tôi muốn nói ở đây, là từ nay, trong lịch sử chúng ta (Miền Nam hay Miền Bắc, quốc nội hay hải ngoại) đã có sự chất vấn chính thức từ một sự phân tích đáng tin cậy của một người lính-tác chiến-Miền Nam trong-cuộc. Ông đặt dấu hỏi về khuôn mẫu “lính thám báo VNCH – ăn thịt lính Miền Bắc” trong sáng tác của cả hai:

– … Phần còn lại là một sao chép vụng về và mâu thuẫn từ một điều đã nghe/đọc/nhặt từ một hay nhiều nơi nào khác. Sao chép? “Thám báo nguỵ” và “ăn thịt người” luôn luôn là cặp bài trùng trong “cổ tích dân gian” kể từ hậu bán thế kỷ 20! Mâu thuẫn? Trong đoạn văn trích dẫn ở trên, có hai chi tiết không ăn khớp:

Hoa hiểu vì sao chúng không dùng đến súng. Chúng cũng không muốn gây ra tiếng nổ ở vùng rừng này.

Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ.

Tất nhiên Hồ Anh Thái chưa từng ở hay đưa trí tưởng tượng của mình vào cái khung cảnh ông đang diễn tả như là một người lính, thám báo “nguỵ” hay trinh sát “Việt cộng.” Cho nên ông không chỉ rón rén mồi lửa mà “nổi lửa” nướng thịt người và trong cùng một lúc lại rất cẩn thận không dùng đến súng vì sợ gây tiếng động! Ông không hề biết gì về khoảng cách và tốc độ mà khói và mùi thịt [người?] cháy khét có thể đạt đến! Tôi ngạc nhiên là những tên “thám báo nguỵ” này đã không ăn… sống nhân vật Hùng, vốn có thể làm cho câu chuyện trôi chảy hơn! Khi Jorge Amado, trong “Phép lạ của bầy chim”, tả Ubaldo Capadócio cu dái lòng thòng bay lên trời cùng với bầy chim đủ loại [một cách rất đáng tin], đó là hư cấu. Cần phải dùng đến một từ khác để diễn tả chính xác hơn công trình “sáng tạo” của nhà văn Hồ Anh Thái.[6] Không thể nói là tôi đã không cảm thấy xúc phạm ở cương vị một người lính của Quân lực Việt Nam Cộng hoà, một tập thể nay đã thuộc về lịch sử, và trên hết, như là một người Việt Nam khi đọc những đoạn trích dẫn nói trên. Cái huyền thoại “lính nguỵ ăn thịt người,” đối với tôi, là chuyện láo khoét, bắt đầu với những tuyên truyền dối trá vào những thời điểm rất sớm trong chiến tranh, và trong khi vô cùng bẩn thỉu khi xét trên các phương diện văn hoá và đạo đức, đã được áp dụng triệt để với mưu đồ gán ghép cái đầu ác thú lên thân thể của kẻ thù. Những tuyên truyền láo khoét và vô đạo đức này, bất kể xuất phát từ bất cứ từ phe nào, nếu có ai đó cho rằng cần thiết trong giai đoạn chiến tranh, lẽ ra phải được chấm dứt và mầm độc của nó phải được hoá giải ngay lập tức vào ngày hôm sau của ngày tàn cuộc chiến. Điều này đã không hề xảy ra, và càng tệ hơn nữa, điều trá nguỵ được tiếp tục củng cố, nuôi dưỡng không chỉ bởi những đầu óc ngu muội mà còn bởi những người mà dựa vào chức năng của họ, trí tuệ và khả năng tư duy phải vượt trội hơn những tầng lớp khác trong xã hội. Tôi muốn nói đến nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ sáng tác, và trong một giới hạn nhất định, trí thức. Những người vẫn đang tin tưởng vào huyền thoại “lính nguỵ ăn thịt người” (hoặc những huyền thoại ghê rợn nhắm vào phe này hay phe kia trong cuộc chiến) sẽ nhảy lên đòi tôi trưng ra bằng chứng về sự “vô tội” của họ. Bằng chứng? Trách nhiệm đưa ra bằng chứng thuộc về kẻ buộc tội, phe công tố, những người đã dựng lên câu chuyện hoang đường này trước tiên, những người nay hoặc đã qua đời hoặc quá hèn nhát để đứng ra thú nhận tội ác làm ô nhiễm văn hoá dân tộc của mình. Về phần mình, tôi không có bằng chứng nào hết! Nói cách khác, bằng chứng của tôi về sự láo khoét và vô đạo đức của cái gọi là “lính nguỵ ăn thịt người” chính là sự thiếu vắng bằng chứng về cái tội ác vượt quá ranh giới giữa người và thú được đổ lên đầu cái tập thể bất hạnh này. Những người đã, đang, và sẽ tiếp tục tin tưởng, viết xuống, hoặc nói về cái tội ác tưởng tượng này, có trong tay mình những gì? Có bao nhiêu chứng cớ cụ thể hoặc có thể kiểm chứng được về “lính nguỵ ăn thịt người” trong những phòng trưng bày “tội ác Mỹ nguỵ” trên cả nước? Hình ảnh? Tên tuổi nạn nhân? Ngày tháng, nơi chốn? Nhân chứng? Đã có những kết quả nào đến từ nỗ lực của nhà nước sau chiến tranh trong việc tầm nã hung thủ để thực thi công lý? Bao nhiêu phiên toà đã được dựng lên để xét xử những con “ác thú kinh tởm” này? Bọn chúng gồm những ai, tên tuổi, ngày tháng tội ác xảy ra, bản cung khai? Tôi e rằng không có bằng chứng nào hết ngoài những lời kể lể ỉ ôi đi kèm với những thề thốt long trọng về sự chân thực của những câu chuyện bịa đặt! Vạn nhất nếu có, và điều này vô cùng quan trọng, sẽ là vô cùng hiếm hoi và vô cùng cá biệt, không bao giờ đủ để bất cứ một ai có thể gán ghép những tội ác phi nhân tính này như là một thuộc tính lên bất cứ một tập thể, một nhóm người nào hết…” [Phùng Nguyễn, “Khi nhà văn không chỉ là kẻ đồng lõa”, Da Màu, Ngày 2. 8.2008,  https://damau.org/8438/khi-nha-van-khong-chi-la-ke-dong-loa * Chữ in ngả là của tác giả]

Ngày 19.10. 2015, bài “Đúc khuôn tội ác” được đăng trên Blog “Rừng & Cây” thuộc Trang Mạng của cơ quan VOA Tiếng Việt. Ngày 22.10.2015, đến lượt bài “Ác mộng trăm năm”. Ngày 23.10.2015, hai bài này gộp làm một thành “‘Từ giấc mộng mười năm’ đến ‘Ác mộng trăm năm’” đặng đăng trên Da Màu. Chưa đầy 1 tháng sau, ngày 17.11.2015, ông qua đời đột ngột tại tiểu bang Maryland. Chưa đầy 1 năm sau, ngày 23. 9. 2016, quyển Cõi người rung chuông tận thế đoạt “Giải Sách Hay” về mục Văn Học.  Độc giả có thể xem một phần thông báo của Ban Tổ chức như sau:

-Kết quả Giải Sách Hay 2016

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

CÔNG BỐ KẾT QUẢ BÌNH CHỌN GIẢI SÁCH HAY 2016

(Do Viện IRED và Quỹ Phan Châu Trinh tổ chức vào ngày 18/09/2016 tại TP. HCM)

(…) 6. Hạng mục sách Văn học

Tác phẩm: Cõi người rung chuông tận thế; Tác giả: Hồ Anh Thái; ĐVXB: NXB Trẻ

Dịch phẩm: Lâu Đài; Tác giả: Franz Kafka; Dịch giả: Trương Đăng Dung; ĐVXB: NXB Văn Học (…)

Hội đồng trao giải Giải Sách Hay:

Nhà văn hóa Nguyên Ngọc

Tiến sĩ Chu Hảo

Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt

Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn

Tiến sĩ Giản Tư Trung …

[https://sachhay.org/tin-tuc/ket-qua-giai-sach-hay-2016]

Phần tôi, tôi thành thực không tin cả Hồ Anh Thái lẫn Tạ Duy Anh—hai nhà văn có thực tài– lại ác độc, hèn nhát hay đê hạ đến nỗi cố ý vu báng một kẻ thù đã tử trận hoặc không còn tự vệ được nữa, dù còn sống. Tuy thế, dù vô tình, nếu không chứng minh được, họ đã triệt tiêu tư cách văn chương khi kết án một tập thể vô tội khiến Phùng Nguyễn, người lính thuộc tập thể đó, có quyền đòi hỏi chứng cớ cụ thể. Nhìn xa hơn, họ là thí dụ điển hình của một chế độ đã thành công trong chính sách chuyển hư thành thực, đến nỗi những người xem ra bình thường lại có thể tin nổi những việc rất bất bình thường. Nói một cách khác, không thể nhân danh văn chương mà muốn viết thế nào thì viết. Không chỉ dập dìu trong cõi sáng tác của nhà văn, những tin tức loại này đã được bắt đầu rồi củng cố trong tâm khảm của dân chúng Miền Bắc—từ phó thường dân đến Phó Đại sứ [7] Hồ Anh Thái — như thí dụ chứng minh sau đây từ hồi ký Vùng đất ngục tù của sĩ quan Miền Nam Nguyễn Vạn Hùng. Bởi thế, theo tôi, việc kiểm chứng sáng tác của nhà văn Miền Bắc về vấn đề này quả quá dễ dàng: hãy so sánh sáng tác của họ với các cuộc tiếp xúc giữa dân chúng địa phương Miền Bắc và tập thể người Tù Cải tạo, trong số này dĩ nhiên phải có rất nhiều người lính VNCH và “lính thám báo”. Nhiều cuộc tiếp xúc ấy đã cho thấy, không còn nghi ngờ gì nữa, huyền thoại “lính ngụy, bọn ngụy ăn thịt người” quả đã được phổ biến từ chính phủ Miền Bắc.

2.2 Vùng đất ngục tù: Nơi phát sinh huyền thoại “lính ngụy, bọn ngụy ăn thịt người”

Đại úy Nguyễn Vạn Hùng: … rồi thì ồn ào hỏi chúng tôi những câu như mỗi ngày chúng tôi cưỡng hiếp bao nhiêu người đàn bà; mỗi người đã ăn bao nhiêu cái mật người; đã đốt và cướp bao nhiêu nhà cửa của đồng bào vô tội; đã ném vào lửa bao nhiêu trẻ em vừa mới chào đời

Tác giả Nguyễn Vạn Hùng được động viên vào Khóa 17 Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức 1963-1964. Ông phục vụ tại tiểu khu Phước Long (1964-1967) trước khi thuyên chuyển về nhận chức Phụ tá Trưởng Phòng Tuyên úy Công giáo kiêm Giám học trường Tiểu học Trần Hưng Đạo từ năm 1967 đến ngày 30 tháng 4. 1975. Ông bị đưa lên Yên Bái rồi sau này, bị giam tiếp tục tại trại Hà Tây- Hà Đông, Miền Bắc. Ông bị giam từ 1975 đến đầu năm 1982, đoạn vượt biển đến Hoa Kỳ vào năm 1984. Ông cho chúng ta biết về kinh nghiệm trực tiếp đối đấu với huyền thoại “ăn thịt người”:

-… Trong khi chúng tôi mở to mắt quan sát xã hội thì những người của xã hội đó cũng bắt đầu nhận thấy sự có mặt của chúng tôi ở bên vệ đường. Có nhiều người bước lại gần chúng tôi hơn. Họ lặng lẽ nhìn, trong ánh mắt của họ tôi thấy một vẻ gì không tự nhiên hiện lên. Có người xăm xăm bước tới, khi đến gần bỗng dưng đứng lại như chiếc xe bị thắng bất ngờ. Hình như có một cái gì vô hình nhưng khủng khiếp đã ngăn chặn họ đứng lại. Có người thì nhìn chúng tôi vì tò mò, có người lại nhìn chúng tôi với vẻ sợ hãi. Ít phút sau đó, một cụ bà trạc ngoài sáu mươi, mặc chiếc áo vải nâu bạc màu, nhiều mảnh vải vá chằng vá đụp đã gần như phủ kín khắp màu áo nguyên thủy. Bà cụ này tiến đến sát đám chúng tôi hơn. Một số anh em chúng tôi muốn gây thiện cảm, đã cất lời chào hỏi: – Chào cụ ạ.

Bà cụ nghe chúng tôi “nói tiếng người” có vẻ ngạc nhiên, nhìn ngó lom lom. Rồi bỗng bà giơ tay chỉ vào một anh ngồi ở đầu toán, mặc trên người bộ áo biệt động quân mà bọn cán bộ trại cấp phát cho chúng tôi lúc còn ở Long giao. Giọng bà cụ cất lên the thé: – Bọn chúng mày là ngụy đấy à?

Chúng tôi im lặng, ngó nhau, liên tưởng đến trận mưa đá củ đậu hôm chờ xe lửa ở ga Hải phòng. Bà cụ nói tiếp: – Thế anh này ăn mỗi ngày bao nhiêu gan người mà trông anh to béo thế?

Anh em chúng tôi vẫn ngồi yên, và thấy rõ hơn có một cái gì bất ổn khi bà phát âm tiếng “anh” với anh bạn kia. Những người quây chung quanh chúng tôi hình như thấy bà cụ “can đảm” đến gần chúng tôi, lại nói chuyện với chúng tôi, nên có một bà mạnh dạn hơn, tiến tới được mấy bước để đứng gần bà cụ già này. Rồi một người đàn ông từ phía sau lưng bà cụ cũng bước lên, chỉ vào mặt một anh bạn khác, cũng tương đối to con ngồi gần tôi:– Có phải anh khỏe và béo thế này là do anh uống máu người thay nước lã mỗi ngày không?

Chúng tôi vẫn ngồi yên lặng, quan sát. Thấy thế, những người từ phía sau hình như không còn sợ hãi chúng tôi nữa nên cùng tới ngang chỗ bà cụ già, rồi thì ồn ào hỏi chúng tôi những câu như mỗi ngày chúng tôi cưỡng hiếp bao nhiêu người đàn bà; mỗi người đã ăn bao nhiêu cái mật người; đã đốt và cướp bao nhiêu nhà cửa của đồng bào vô tội; đã ném vào lửa bao nhiêu trẻ em vừa mới chào đời… Tóm lại giờ này thì chúng tôi biết tại sao lúc đầu họ vội vã dừng đứng chân họ khi chợt cảm thấy đã quá gần chúng tôi. Thì ra trước mắt những người dân này, chúng tôi không phải là người Việt Nam, chúng tôi không còn là con người của Chúa và Phật sinh ra. Đảng và nhà nước đã dạy họ rằng chúng tôi là một bằy ác quỉ, chuyên ăn thịt người, chuyên giết người, hãm hiếp… Anh em chúng tôi vẫn ngồi im, kín đáo quan sát và nghe những lời họ nói. Lúc ấy, một tên công an áo vàng từ trong chợ có lẽ thấy đám đông bu lại quanh chúng tôi nên hắn rảo bước đi tới. Những người dân thấy hắn, ra hiệu nhau rồi lặng lẽ tản ra, lãng dần mỗi người một hướng. Những tháng sau, nhân khi đi lao động ngoài trại tù, thỉnh thoảng chúng tôi có dịp gặp gỡ, một hai người dân địa phương. có khi chúng tôi gặp họ cũng lên rừng đốn củi như chúng tôi. Cũng có khi trong lúc di chuyển trên đường, tình cờ gặp họ và mau lẹ trao đổi dăm ba câu chuyện. Những lần đầu họ gặp chúng tôi, tôi thấy họ thường hay chăm chú quan sát, họ coi chúng tôi như không phải là người Việt Nam, những người vốn cùng với họ là anh em ruột thịt của một Quốc tổ Hùng Vương, của anh hùng Lê Lợi. Trong ánh mắt nhìn của họ, chắc chắn chúng tôi là những con thú đi bằng hai chân và biết nói tiếng Việt Nam. Thậm chí, có những trẻ em khi thấy chúng tôi phải sợ hãi tránh dạt sang bên kia đường, y như sợ chúng tôi đói quá, có thể vồ lấy em, moi gan, uống máu ngay tại chỗ. Nhưng, dần dần, theo thời gian, những lần gặp dân chúng sau này, những nghị ngại kể trên hình như đã giảm dần rồi. Một vài người đã bắt đầu có dấu hiệu thiện cảm đối với chúng tôi. Tiến xa hơn, có những ông cụ già đã cam đảm dúi vào tay chúng tôi những dúm thuốc lào khi gặp nhau trong lúc vắng vẻ ở trên rừng. Sau này, nhờ những lần nói chuyện với đồng bào, chúng tôi được biết khu vực chung quanh vùng đất ngục tù của chúng tôi trước đây chỉ có một số đồng bào thiểu số, sắc dân Mường, Mán làm rẫy sinh sống. Mãi đến sau năm 1954, cộng sản chiếm được một nửa đất nước, chúng đã ra tay đàn áp các giáo dân Thiên Chúa Giáo vùng Bùi Chu, Phát Diệm bằng cách tịch thu nhà cửa, ruộng đất và đầy ải họ lên biệt cư tại đây với những danh từ hoa mỹ như kinh tế mới, như mở rộng vùng canh tác “rừng vàng biển ngọc” của tổ quốc. Nhưng thực chất là đi đầy. Người dân Bùi Chu, Phát Diệm đã phải chấp nhận cuộc sống sơ khai như những người Mường người Mán. Bao bọc bởi rừng thiêng và núi non trùng điệp, nhiều người đã bỏ mạng oan ức và những người còn sống, phải ra sức phát rừng, cào đất mà sống. Do đó, trong tâm hồn họ, đặc biệt là những người lớn tuổi, vẫn còn căm thù cộng sản, vẫn hy vọng có ngày tình thế sẽ lật ngược (…) Một hôm, trại cắt đi công tác một toán bốn người, trong đó có tôi, lên rừng chặt cây về làm nhà. Chúng tôi đã gặp giữa rừng một ông cụ già, đang đi thơ thẩn, tìm kiếm. Hỏi chuyện thì hóa ra ông cụ đang đi tìm những cây lá để mang về làm thuốc nam, chữa bệnh cho đứa cháu cưng của cụ, đau đã lâu mà không có thầy có thuốc. Ông cụ này chúng tôi đã gặp vài lần trước đây. Hôm nay cụ vẫn mặc bộ bà ba nâu như mọi khi, làm tôi có ý nghĩ như cụ chỉ có một bộ đồ duy nhất. Cụ hay cho những anh em cải tạo thuốc lào. Giữa cảnh rừng vắng vẻ, cụ có vẻ ung dung hơn nên mời anh em chúng tôi cùng hút thuốc. Tôi nhìn nét mặt cụ, vẻ mặt cương nghị, vầng trán cao, phảng phất một phong thái của người có học và đã từng một thời khá giả. Trong câu chuyện hôm đó, tới nay tôi còn nhớ như in lời cụ nói: “Suốt mấy chục năm qua, chúng tôi nghe đài trong Nam, chúng tôi chờ đợi các anh ra giải phóng chúng tôi, ai ngờ hôm nay các anh ra đây lại với tư cách này.” Lời nói trăm nỗi xót xa, là tâm sự của cụ, là tâm sự của đa phần đồng bào miền Bắc khiến lòng chúng tôi đau nhói. Khi chiếc điếu cầy được chuyền tay đi đủ vòng để mọi người cùng rút những khói thuốc vào buồng phổi, cùng uống những dư vị đắng cay vào lòng, ông cụ mới chậm rãi nói tiếp: “Các anh là những người vô trách nhiệm, không những vô trách nhiệm với đồng bào trong Nam và còn vô trách nhiệm với cả đồng bào miền Bắc chúng tôi nữa. Biết bao nhiêu người miền Bắc đã thoát khỏi ngục tù cộng sản, vào miền Nam, vậy mà chưa đủ cho các anh thấy kinh nghiệm sống với cộng sản sao? Các anh đã chiến đấu như thế nào để rồi thua, hả?” Nghe y như lời cha mắng con. Chúng tôi chấp nhận ở cương vị những đứa con ngu dại đó, ngồi nhận lỗi với cha già trước bàn thờ tổ quốc. Một anh trong bọn nóng nẩy hơn đã ào ào giải thích với ông cụ là đám người trẻ chúng tôi không hèn, chỉ những thằng đầu sỏ hèn mạt mà thôi. Một người khác giải thích cho ông cụ về cái thế quốc tế mà nước Việt Nam chúng ta, một thân phận nhược tiểu, nên đã bị siêu cường đồng minh bán đứng cho cộng sản. Ông cụ gật gù, chậm rãi: “Đúng, thời nào thì cũng có những người anh hùng cái thế. Vị anh hùng nhất định sẽ xuất hiện lúc này. Từ Quang Trung Nguyễn Huệ tới nay đã hai trăm năm rồi…” … [Nguyễn Vạn Hùng, Vùng đất ngục tù: Hồi ký Tù Cải tạo, trang 37-43, Nhà Xuất bản Thời Luận, 1988

* Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: Nhà Xuất bản Thời Luận phát sinh từ Nhật báo Thời Luận do nhà văn/ đạo diễn/giáo sư tại Đại Học Minh Đức Đỗ Tiến Đức làm giám đốc và Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Nhật báo này là một trong những nhật báo có uy tín lâu đời nhất tại hải ngoại với sự góp sức của gia đình và bà Đỗ Tiến Đức (đảm trách phần Trị sự). Gia đình ông vượt biển sang Hoa Kỳ vào khoảng năm 1985.]

 Giở bất cứ một hồi ký của người tù cải tạo nào cũng có thể được đọc chi tiết “lính ngụy ăn thịt người” hoặc “bọn ăn thịt người” tương tự. Linh mục Phêrô Phan Phát Huồn/Phó Giám đốc Nha Tuyên úy Công giáo (1926, Huế-ngày 16.10.2015, Long Beach, California), bị giam 13 năm tù sau 1975, ghi lại:

            – … Qua sự tiếp xúc với chúng tôi, các cháu hình sự cũng như cán bộ mới hiểu rõ chúng tôi là ai, bây giờ họ biết chúng tôi không phải là bọn ăn thịt người như Việt cộng tuyên truyền cho họ… [Linh mục Phan Phát Huồn, AKA và THẬP GIÁ Ai thắng ai?, trang 215, The Vietnamese Redemptorist Mission/Dòng Chúa Cứu Thế xuất bản, 1994, California]

Thế nên, tôi tự hỏi: có phải chi tiết “lính ngụy ăn thịt người” bị đưa vào nhiều hơn 1 tác phẩm của các tác giả Miền Bắc vì loại tin tức này đã được hệ thống hóa nhắm phổ biến quá lâu và quá rộng lớn bằng Cộng sản? Khi phân tích sự mâu thuẫn giữa hệ thống tuyên truyền—một hệ thống mà Tạ Chí Đại Trường đặt là “Giáo dục tinh ranh trong độc quyền…”—và sự nghi ngờ của người dân Miền Bắc khi có cơ hội chạm với thực tế qua sự tiếp xúc với người Tù Cải tạo Miền Nam, ông đã xác định thủ phạm của loại tin tức này chính là nhà cầm quyền Cộng sản:

-… Ừ, đám người mà sách báo, đài của Đảng, bài nói của cán bộ đều chỉ rõ ràng đól à những tên ác quỷ ăn gan uống máu người không tanh, hiếp dâm từ trẻ lên ba, cắt vú đàn bà, quăng ông già vào lửa rồi rú lên cười man rợ … [Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài, trang 416-417, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, California, 1993]

Bởi thế, việc “giải độc” cho loại tin tức/tuyên truyền kiểu đó sẽ không dễ nhưng không phải là không thực hiện được nếu chúng ta, cả trong và ngoài Việt Nam, cố gắng. Nếu được may mắn sống sót, hãy nhớ để cùng nghiên cứu, cùng lên tiếng, không chỉ để trả lại danh dự cho một nửa tập thể vẫn thuộc dân tộc Việt, mà còn để hủy cái tiếng “bọn ngụy ăn thịt người” ra khỏi lịch sử của Người Việt dù Nam dù Bắc, dù đứng bên phía Cộng sản hay phía Tự Do, dù được nuôi dưỡng trong chính thể nào. Tôi rất quý Phùng Nguyễn vì sự cố gắng không ngưng nghỉ ấy.

Mươi ngày sau khi Phùng Nguyễn qua đời, tôi bàng hoàng nhớ lại mấy lần ông càu nhàu “Chị đừng chạy, coi chừng té, khi đi sau một người đàn ông. Chị có biết bộ dạng lật đật đó không tốt cho chị không?” Tôi bật cười “Anh không biết tôi là dân chạy đua à?” Khi quen nhau nhiều hơn, anh bảo tôi đưa những bài đã viết để giữ hộ vào một chỗ, theo từng chủ đề hoặc từng tác giả, cho khỏi thất lạc, lại càng tiện lợi khi muốn xuất bản. Tôi vốn tệ phần kỹ thuật (vừa bận kiểu “con đông chồng nhiều”, vừa đại lãn kinh niên), tệ đến nỗi có lần anh trách khéo: “Chị có chắc chị học Khoa Học ở Sài gòn không? Hay ông nào đi học dùm chị?” (!!!) Tôi nhớ lại đôi mắt hiền hòa, có khi phủ đầy những làn sương u ám từ quá khứ, đối diện từ bên kia bàn cà-phê. Nhớ lại mấy lần bất đồng ý kiến nhưng vẫn giữ được cuộc tranh luận cho hòa nhã và luôn luôn kết thúc bằng câu nói đùa của tôi: Writing well is the best revenge/Viết cho hay là cách phục hận hoàn hảo nhất.

Tôi không thân đủ để gửi lời chia buồn với gia đình, nhưng một buổi tối, ngồi ở bãi biển Redondo Beach cùng vài người bạn, tôi tự nhủ: Chúc anh an nghỉ. Anh đáng được an nghỉ. Anh đã cầm súng chiến đấu và anh đã cầm bút chiến đấu. Anh đã không bao giờ bỏ cuộc hay đầu hàng, kể cả với số phận. Anh có thể an tâm. “Có thể an tâm” vì ngày nay, Văn Học Miền Nam và tác giả thuộc nền văn học ấy đã được nhiều tác giả nghiên cứu hơn. Tuy thế, tôi vẫn giữ thêm một quan điểm khi thảo luận với Phùng Nguyễn, rằng rất lưu tâm tới những phát biểu của giới văn nhân từ tác giả người Việt hơn một chút. Tôi đã chứng minh, bằng ít nhất 3 tiểu luận, về khổ nạn của một số nhà nghiên cứu/dịch giả/giáo sư Hoa Kỳ không thông thạo tiếng Việt, khiến họ mù mờ về Văn Học Miền Nam nên bắt buộc phải trông cây vào một số người Việt trong vai trò hướng dẫn hay phụ giúp. Tuy thế, những “cố vấn văn hóa & văn chương” kiểu này có đủ kiến thức hay không lại là chuyện khác dù có hay không có ác ý. Tình trạng đó, theo tôi, vẫn sẽ tiếp diễn một khi tác giả ngoại quốc không thông thạo tiếng Việt nên không thể tự thân tìm kiếm nhân chứng và tài liệu, một điều cực kỳ thiếu sót khó thể xẩy ra trong các ngành nghiên cứu khác. Bởi thế, chúng ta, những người sống tại ngoại quốc, cần phải lên tiếng và tiếp tục lên tiếng, dù bằng tiếng Việt dù bằng tiếng ngoại quốc, để thứ nhất, sự nhầm lẫn hay sai sót ngay từ đầu không có cơ hội bành trướng sang những “cố vấn” rồi vượt… biên lan tràn thêm vào các đại học ngoại quốc.

Thứ hai, quan trọng hơn, các thế hệ đi sau trong và ngoài Việt Nam sẽ có bằng chứng bằng cả hai ngôn ngữ để tiện bề phán đoán cho công minh, nhất là thế hệ sinh trưởng tại Việt Nam đã hay đang du học tại Hoa Kỳ, nơi họ được tham khảo mọi sách báo theo ngành họ chọn, và rất có thể, một ngày kia, ở lại. Tôi đã đọc nhiều bài bàn luận về tương lai Văn học Hải ngoại, trong đó viễn tượng èo uột khi hiếm một thế hệ tương lai thông thạo, lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ Việt tại hải ngoại là hợp lý. Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng chúng ta đã tự giới hạn vào thế hệ của chúng ta rồi của chính con cháu chúng ta, những thế hệ công dân Hoa Kỳ với quyền lựa chọn ngành nghề và bổn phận cùng trách nhiệm với quốc gia bản xứ.

Đằng khác, bên cạnh những thế hệ người Việt tại ngoại quốc, tôi cũng có dịp tiếp xúc với nhiều sinh viên Việt Nam trẻ, rất trẻ, du học theo ngành văn chương tại Hoa Kỳ. Họ học tiếng Anh và Pháp từ nhỏ nên Anh ngữ (hàn lâm!) không trở thành vấn đề và ngữ vực tiếng Việt thì khỏi phải nói. Con số di dân người Việt có cơ hội sang nước ngoài đã gia tăng, như chúng ta đều biết. Theo kinh nghiệm riêng ấy thì chúng ta không nên quên các thế hệ (sinh viên) thượng dẫn từ Việt Nam. Họ đang hay sẽ góp phần đắc lực vào việc nghiên cứu Văn học Miền Nam. Đó là chưa kể tới những sinh viên/nghiên cứu gia, nhà văn và nhà thơ tương lai chọn “ở lại”. Lúc ấy họ sẽ chính thức gia nhập Văn học Việt Nam Hải ngoại. Nói một cách khác, nhất là về ngành nghiên cứu mà tôi đang tham dự, họ đang thu thập tài liệu/They are keeping score. Cẩn thận đấy!/En garde!

Bởi thế, tôi rất cảm kích khi Phùng Nguyễn tâm sự:

– “… Liệu có nên tiếp tục đầu tư công sức vào những điều mà một người biết rõ sẽ chỉ đưa đến một số kết quả vô cùng hạn chế? Câu trả lời có thể tìm thấy trong Đêm Lisbon của Erich Maria Remarque mà tôi có cơ hội đọc qua cách đây hơn ba mươi năm và chỉ còn nhớ có mỗi một điều. “Bớt một.” Bớt một chiếc gai độc hoặc một điều trá ngụy là điều nên làm lắm chứ! Nhất là khi biết rằng mình không đơn độc. Có rất nhiều người ở bên này hoặc bên kia những ranh giới văn hóa, chính kiến, và địa lý đã và đang làm như thế, có khi rất âm thầm. Phần “tử tế” của bài viết này xin được dành cho họ…” [Phùng Nguyễn, “Lữ Phương và Đêm Lisbon”, Diễn đàn Talawas-Nhà văn Phạm Thị Hoài chủ trương, Ngày 25.8.2008-https://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=14047&rb=0401]

Trong nhiều trường hợp, ngoài “Bớt một chiếc gai độc hoặc một điều trá ngụy”, tôi còn tin tưởng rằng “thêm một” hay “thêm vài” sự kiện cần được đưa ra ánh sáng hầu có thể kết luận đó là sự thực hay chỉ là một thứ biện luận chưa đủ tính thuyết phục. Trong tinh thần ấy, tôi sẽ bàn đến bài “Nói với chàng Siêu” [8] Trương Vũ) nhưng không dừng lại chỉ ở bài này. Tâm điểm của phần này là người lính VNCH và người vợ cùng gia đình của họ sau 1975.

______________________________

[4] Mānoa, Chủ đề “Two Rivers: New Vietnamese Writing from America and Viet Nam/Hai giòng sông: Sáng tác mới từ Hoa Kỳ và Việt Nam”, số Mùa Thu 2002. Bài của nhà tiểu luận/dịch giả Nguyễn Bá Chung được đăng từ trang 33-44. Bài của Phùng Nguyễn, do dịch giả Nguyễn Quí Đức dịch ra Anh ngữ, được đăng từ trang 85-90.

[5] “NHÀ VĂN HỒ ANH THÁI – Tiểu sử văn học trên trang mạng “Cơ quan ngôn luận của Hội Nhà Văn Việt Nam”:

“Nhà văn Hồ Anh Thái là gương mặt văn học tiêu biểu trưởng thành sau ngày đất nước hòa bình thống nhất năm 1975. Ông sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960, quê quán Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hiện thường trú tại Hà Nội. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985. Hồ Anh Thái là Tiến sỹ văn hoá phương Đông, cử nhân quan hệ quốc tế, từng làm việc tại Bộ Ngoại giao, Hà Nội. Truyện ngắn đầu tay xuất bản năm 1978. Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá VII, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội từ năm 2000. Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội từ năm 2005. Hầu hết các tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và ấn hành ở nước ngoài. https://vanvn.vn/nha-van-ho-anh-thai/%5D”

[6] Tiểu sử của nhà văn Tạ Duy Anh trên trang mạng của Nhà Xuất bản Nhã Nam: “Tạ Duy Anh, sinh năm 1959. Quê làng Đồng Trưa, Hoàng Diệu, Chương Mỹ, Hà Nội Cử nhân văn học. Từng là cán bộ kỹ thuật tại nhà máy thủy điện Hòa Bình, giảng viên Trường viết văn Nguyễn Du. Hiện là biên tập viên NXB Hội nhà văn, https://nhanam.vn/ta-duy-anh”

[7] Chức “Phó Đại sứ” này xuất hiện trên mạng của Nhà Xuất bản Nhã Nam:“Hồ Anh Thái sinh năm 1960, là một nhà văn đương đại của Việt Nam. Ông được xem như một hiện tượng văn chương của thế hệ văn nhân thời hậu chiến, sau 1975. Nhà văn, từng ngồi sáng tác ở các trại viết nước ngoài, đã tham dự nhiều hội nghị nhà văn quốc tế ở các lục địa. Được bầu là Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội hai nhiệm kỳ (2000-2010). Nhà ngoại giao chuyên nghiệp, từng được bổ nhiệm làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ, Phó đại sứ Việt Nam tại Iran và Indonesia. Tiến sĩ văn hóa phương Đông, thỉnh giảng ở Đại học Washington và một số đại học nước ngoài. Đã xuất bản hơn 40 cuốn sách thuộc nhiều thể loại, sách đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng và ấn hành ở nhiều nước, https://nhanam.vn/ho-anh-thai 

 [8] “Nói với chàng Siêu”, Văn Học, số 95, trang 2-10, tháng 3. 1994. Thư viện Người Việt-Tạp chí Văn Học,

Một thời để Yêu & Một thời để Chết.

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 15 Jun 2026

Không còn có thể nhìn rõ ai nữa, cũng không thấy rõ đồng phục nữa. Chỉ còn cái mũ và tiếng nói để giữ sự liên lạc giữa mọi người. Hầm đã sập từ lâu. Mặt trận chỉ còn là một dãy những hầm hố bom đạn cày lên. Bây giờ chỉ còn có đêm dài, máy bay gầm thét, súng nổ, bùn vọt lên cao như núi, và mưa như trút nước. Trời đã sập vì bom đạn, chỉ còn có mưa thác lũ, bom và đạn.

Đèn rọi móc mói mãi đám mây rách mướp. Cao xạ nổ rền, chân trời rung rinh sau những tiếng nổ. Máy bay bốc lửa như bó đuốc lướt qua đêm như sao chổi. Từng con sứa lửa bùng lên lại tắt đi trong không thẳm.

Đã mười hai ngày nay tình thế găng như vậy. Mặt trận đứng vững trong ba ngày. Pháo đài chịu đựng được trọng pháo không hư hại mấy. Nhưng rồi những công sự ở gần địch nhất bị tiêu hủy. Chiến xa địch chọc thủng phòng tuyến tiến thêm vài cây số thì ngưng lại vì đụng độ với dụng cụ chống chiến xa. Sáng hôm sau còn thấy cháy, có cái bị lật ngược lên như những con bọ hung khổng lồ, từng đội quân tiến lên để đặt lại dây điện thoại. Làm việc ở chỗ trống trải trong hai giờ chết mất một nửa nhân số. Từng đợt oanh tạc cơ từ trên trời nhào xuống làm thịt các pháo đài. Trong sáu ngày, phân nửa các pháo đài không dùng được nữa, chỉ có thể dùng để núp. Đến ngày thứ bảy quân Nga xung phong nhưng bị đẩy lui. Rồi mưa xuống như thác lũ. Người ngợm nom không còn ra hình thù gì nữa. Họ bò trong những hầm hố bùn lầy, như ốc sên đồng một màu xám. Toán quân chỉ còn được hai khẩu đại liên đặt trên lô cốt đã bị phá hủy và vài khẩu súng cối. Một vài người núp dưới hố hay sau mảnh tường. Rahe chỉ huy một lô cốt. Mass chỉ huy lô cốt kia.

Họ giữ được vị trí ấy trong ba ngày dưới trời mưa tầm tã. Đến ngày thứ hai đã gần hết đạn. Quân Nga chỉ việc tiến vào là xong. Nhưng họ không xung phong. Đến chập tối máy bay Đức nhờ còn chút ánh sáng ngày thả dù xuống lương thực và đạn dược. Đến đêm thì quân tiếp viện đến.

Công binh đắp vội ụ đất và thân cây. Đại liên và súng cối đặt thành giàn. Một giờ sau có trận xung phong của địch, vị trí bị đánh bất thần. Một số lựu đạn không nổ. Quân Nga lăn xả vào.

Qua lằn sáng và tiếng nổ tạc đạn. Graber trông thấy một cái mũ đặt trên đôi mắt trắng dã và cái miệng đen thui. Một cánh tay bật ra khỏi người như một cành cây tươi đen thui. Y giật lấy một trái lựu đạn trong tay một người tân binh đứng đằng sau ném về phía hình người trước mắt. Lựu đạn nổ. Y quay lại bảo gã kia :

– Xoay dần ốc cái ngòi ra chứ đừng nhắm mắt vào mà lôi thế!

Trái lựu đạn thứ hai không nổ! Y thoáng nghĩ:

– Phá hoại! Tù binh xưởng đúc đạn phản mình rồi!

Ném một trái khác rơi tõm xuống bùn trong khi lựu đạn của Nga bay đến. Không khí chuyển động và tiếng nổ phát ra trong khi một lớp bùn trùm kín hết người Graber. Y nhỏm dậy bảo người tân binh :

– Mau, trái lựu đạn khác!

Chỉ khi không nghe tiếng trả lời, y mới quay lại thì không thấy ai nữa. Đống bùn lỏng, dưới hố sâu máu đỏ ngầu.

Y thò tay xuống hố lôi lên một cái dây lưng và tháo lấy hai trái lựu đạn. Vừa định đứng dậy lại thấy hai bóng đen đi qua đầu và vượt qua hố. Y lại ngồi xuống.

– Bị nhốt ở đây như con chuột rồi.

Y leo lên rìa hố. Không động đậy thì bùn bám đầy người làm cho không ai trông thấy. Một trái sáng làm hiện rõ xác người tân binh. Người anh ta tan nát vì anh ta đỡ hết cho Graber.

Y nằm dài ra, đầu áp xuống đất. Khẩu đại liên ở lô cốt bên phải nhả đạn, rồi đến lượt ổ ở lô cốt bên trái. Trong lúc liên thanh hoạt động thì y chưa đến nỗi nguy. Liên thanh bảo vệ cho cả khoảng đất giữa hai lô cốt. Vả chăng không thấy quân Nga xuất hiện. Chỉ có một vài người lẻ tẻ chắc là đã vượt qua hàng rào. “Mình phải đến gần một lô cốt”. Đầu óc y rối beng, y gần như đã chết một nửa. Nhưng trong lúc nửa tỉnh nửa mê, một vài ý nghĩ hiện lên sáng sủa hoàn toàn. Đó là sự khác biệt giữa một người lính tinh nhuệ và một người tân binh. Sự kinh khủng làm người lính mới tê liệt hẳn. Graber biết rằng mình vẫn còn mưu kế cuối cùng là giả bộ chết nếu quân Nga đến. Khó lòng mà trông thấy mình trong đám bùn lầy. Tuy nhiên, càng đến gần lô cốt, sau này càng có hy vọng trở về đơn vị.

Y nhảy sang một hố bên cạnh, nằm ép xuống đất rồi ngã xuống một hố nước. Một lát sau lại bò đi. Đến hố sau thấy có hai xác chết. Y nằm đợi. Sau nghe tiếng lựu đạn nổ và có lửa sáng ở pháo đài bên trái. Bây giờ họ tấn công cả hai bên. Liên thanh nổ dòn. Lát sau lựu đạn im hơi nhưng trên lô cốt súng vẫn bắn. Graber tiến thêm nữa.

Y biết rằng quân Nga sẽ còn tấn công. Quân Nga sẽ cho rằng những hố lớn sẽ có người núp. Tốt hơn hết là chọn những hố nhỏ. Y kiếm một hố nhỏ và đứng đợi. Mưa rào đổ xuống. Liên thanh im bặt. Bấy giờ pháo binh Nga mới lại hoạt động. Một trái đạn rớt trúng lô cốt bên phải, lô cốt hình như cất bổng lên không. Mặt trời mọc lên, ẩm ướt và nóng hổi.

Graber tìm được Sauer và hai người tân binh sau một chiến xa hư hại trước khi trời sáng hẳn. Sauer chảy máu mũi lênh láng. Một trái lựu đạn nổ ngay cạnh anh ta, một tân binh vỡ bụng đang lấy tay cầm khúc ruột, nước mưa rớt vào mà không có gì để bó lại. Vả chăng bó cũng vô ích, chết được càng sớm càng hay. Người tân binh khác gãy chân vì té xuống hố. Không biết chỉ có nước với bùn mà sao té đến nỗi gãy chân được. Trong một chiến xa bể tung người ta còn thấy xác đen thui mấy người xạ thủ. Xác một người vắt vẻo nửa trên xe nửa dưới đất. Một nửa mặt bị cháy, nửa kia sưng húp, tím bầm, nứt nẻ. Hàm răng trắng lờ mờ như phấn viết bảng.

Một liên lạc viên đến pháo đài bên trái hô lên:

– Tụ họp lại pháo đài. Còn ai ở trong hố không?

– Không thể biết được. Có cứu thương không?

– Chết hay bị thương cả rồi.

Liên lạc viên bò sát đất lui ra.

Graber bảo người bị lòi ruột.

– Để kiếm cho anh ta một y tá nếu không chúng tôi đi tìm đồ băng bó. Chúng tôi trở lại ngay.

Người bị thương không nói gì cả. Y nằm co quắp trong đất ẩm, hai môi tái nhợt. Graber bảo người gãy chân:

– Bùn nhiều quá không thể kiếm được miếng vải bố. Anh tựa vào chúng tôi mà nhảy theo bằng chân kia.

Họ kéo nhau từ hố này sang hố khác, đi rất chậm. Mỗi bước đi người bị thương rên la. Đến sau chân y trẹo đi, không bước được nữa, đành phải bỏ lại gần một bờ tường. Hai người để chiếc mũ của y lên trên cho dễ nhận. Hai cái xác người Nga nằm ngay cạnh; một người mất đầu, người kia nằm sấp trên vũng máu.

Hai người trông thấy nhiều người Nga khác rồi đến người Đức. Đại úy Rahe bị thương. Cánh tay trái quấn tạm một miếng băng. Ba người bị thương rất nặng, quấn trong tấm bố để dưới trời mưa. Một giờ sau, một chiếc tàu bay là là ném vài gói xuống, nhưng rớt xa quá gần phòng tuyến Nga. Thêm bảy người nữa về đến nơi. Những người khác tụ tập ở lô cốt bên phải. Trung úy Mass bị giết. Trung sĩ Rienecke bây giờ cầm quyền chỉ huy. Gần như không còn đạn. Súng cối không dùng được nữa, nhưng hai khẩu đại liên và hai khẩu tiểu liên còn dùng được.

Mười người quân cảnh đến nơi, mang theo đạn dược, đồ hộp và cáng để khiêng thương binh. Hai người khiêng thương binh đi được độ một trăm thước thì trúng đạn tan xác. Suốt buổi sáng ấy, đạn trọng pháo bắn sang, cắt đứt liên lạc với hậu tuyến.

Đến trưa trời hết mưa. Mặt trời hé rạng làm oi bức ngay. Đất bùn bắt đầu nứt nẻ, Rahe nói:

– Họ sắp tấn công bằng chiến xa nhẹ, nếu không mang súng chống chiến xa lại thì nguy.

Bom vẫn dội xuống. Quá trưa một chiếc phi cơ vận tải xuất hiện. Nhiều chiếc khu trục hộ tống.

Máy bay địch xuất trận, hai chiếc bị hạ, rồi đến lượt hai chiếc khu trục hộ tông phát hỏa rớt xuống. Chiếc phi cơ vận tải phải quay đầu lại. Họ thả đồ tiếp tế xuống xa hơn, ở phía sau. Máy bay khu trục vẫn tiếp tục chiến đấu. Tuy bay nhanh hơn nhưng một phải địch với ba, họ đành phải rút lui.

Ngày hôm sau, xác chết bắt đầu thúi. Graber đã tìm được một chỗ trong pháo đài. Còn được hai mươi hai người. Reinecke cũng tụ tập được một số là một trăm hai.

Họ ngồi lau chùi súng. Bùn giắt vào khắp mọi chỗ Graber không nghĩ gì nữa. Y chỉ còn như cái máy, biết ăn, ngủ, chờ đợi, tự nhiên phản ứng đúng mức khi có nguy hiểm.

***

Sáng hôm sau, chiến xa xuất hiện. Suốt đêm trọng pháo, súng cối và đại liên đã cô lập mặt trận với hậu tuyến. Đường dây điện thoại luôn luôn được sửa lại. Trọng pháo Đức chỉ yếu ớt so với trọng pháo Nga. Pháo đài trúng đạn hai lần nữa nhưng vẫn đứng vững. Thực ra chỉ còn là một khối xi-măng lắc lư trên mặt bùn lầy như con thuyền trong cơn bão. Nửa tá đạn sát nách đã làm nền móng lung lay. Mỗi lần nổ người ta lại bị ném mạnh vào tường.

Graber bị toạc một miếng vai nhưng không có thì giờ băng bó, chỉ kịp đổ một chút rượu cô-nhắc vào vết thương.

Chiếc pháo đài vẫn đảo đồng đảo địa. Không còn là con thuyền trong cơn bão nữa, bây giờ là chiếc tiềm thủy đỉnh bập bồng dưới đáy biển đèn đóm tắt hết. Thời gian cũng không còn nữa, thời gian cũng bị bom tiêu hủy. Người ta ngồi dí trong bóng tối mà đợi. Đối với Graber, không còn thành phố nhỏ y vừa sống cách đây mấy ngày, không làm gì còn nghỉ phép chưa bao giờ có Elisabeth. Chỉ còn một giấc mơ vô nghĩa sự chết và sự sống. Chỉ còn cái pháo đài tối tăm và vang dồn tiếng sấm.

Chiến xa nhẹ chọc thủng phòng tuyến vào, theo sau là pháo binh. Người ta để cho chiến xa đi lọt rồi khai hỏa vào pháo binh. Nòng súng đã đỏ lên nhưng vẫn bắn. Pháo binh Nga phải im tiếng. Hai chiếc chiến xa lại gần. Vì không có súng chống chiến xa nên nó tiến dễ dàng. Sườn sắt dày quá, súng liên thanh vô hiệu. Chỉ còn cách nhắm vào cửa mà bắn nhưng may mới trúng được. Chiến xa tìm cách ra khỏi tầm súng rồi đến lượt nó khạc đạn. Pháo đài rung rinh. Bên trong bê-tông nứt rạn.

Reinecke hô lên:

– Lựu đạn!

Y cầm một bó để lên vai rồi tìm lối ra. Giữa hai loạt súng y thoát ra được. Rahe ra lệnh:

– Liên thanh nhắm chiến xa làm đích!

Rahe định bắn yểm trợ cho Reinecke để anh ta lượn đường vòng đến gần chiến xa dùng lựu đạn phá hủy. Hy vọng rất mong manh. Chiến xa đã khai hỏa. Nhưng một lát thì một chiếc im bặt. Không ai nghe nổ.

Immermann la lên:

– Trúng rồi!

Không phải là một người cộng sản chiến đấu cho đồng chí nữa, bây giờ y là người chiến đấu để tự vệ.

Chiếc chiến xa dừng lại. Đại liên tập trung hỏa lực vào chiếc xe, chiếc kia quay lại rồi biến mất.

Rahe nói:

– Có sáu chiếc vượt phòng tuyến. Chắc rồi chúng sẽ trở lại. Bắn cho thỏa thích! Phải cản đường pháo binh của họ.

– Reinecke đâu rồi.

Immermann hỏi trong lúc im tiếng súng.

Không ai trả lời. Reinecke không bao giờ trở lại…

***

Họ giữ vững suốt buổi quá trưa. Pháo đài gần như nát vụn nhưng đại liên vẫn hoạt động tuy thưa thớt hơn. Đạn dược cạn dần. Người ta mở đồ hộp ra ăn và lấy nước ở một cái hố gần bên. Hirschland bị một viên đạn xuyên qua tay.

Trời nóng bức. Trời vẫn mây sáng chói. Pháo đài nồng nặc mùi khói và máu. Bên ngoài, xác chết đã trương lên. Người nào ngủ được cố ngủ một chút. Không ai biết còn lối rút lui hay đã bị cắt đứt rồi.

Đến tối lửa cháy lan rộng rồi tắt hẳn. Mọi người xô nhau ra ngoài, đợi một cuộc xung kích. Không có gì cả. Yên lặng trong hai giờ đồng hồ. Chờ đợi trong sự yên lặng như thế còn mệt sức hơn là lâm chiến.

Pháo đài chỉ là một khối bê-tông gióng sắt không ra hình thù gì cả. Đành phải bỏ. Có sáu người chết và ba người bị thương. Đến ba giờ sáng họ thử ra ngoài. Họ kéo được một người bị thương đi vài trăm thước thì y tắt thở, bấy giờ mới bỏ lại.

Quân Nga lại đánh. Đơn vị còn hai khẩu liên thanh. Họ để lên miệng hố và đẩy lui địch. Xong rồi lùi lại. Quân Nga tưởng họ còn đông và nhiều súng đạn. Chính vì thế mà họ thoát chết. Đến lần nghỉ sau, Sauer bị đạn trúng đầu chết ngay. Xa xa một chút, Hirschland ngã gục ra đằng trước rồi dần dần quay lại và không động đậy nữa. Graber kéo y xuống một hố, cả hai người cùng lăn xuống. Ngực Hirschland bị đạn xuyên qua. Graber lấy trong túi y ra cái bóp đã đẫm máu. Bây giờ thì chẳng cần cải chính giấy báo tin của Steinbrenner gửi cho mẹ Hirschland.

Họ về đến tuyến thứ nhì. Chẳng bao lâu họ nhận được lệnh tiếp tục rút lui. Đơn vị được rút về không phải chiến đấu nữa.

Họ tập hợp lại xa cách nơi trước vài cây số. Đơn vị chỉ còn có hơn ba mươi người. Ngày hôm sau, viện binh đến lại tăng nhân số lên một trăm hai.

***

Graber lại gặp Fresenburg trong một bịnh xá ở thôn quê. Một cái nhà gỗ cất tạm. Anh ta bị nát chân trái.

– Họ muốn cưa đi. Thầy thuốc cù lần quá, không biết làm gì hơn. Tôi được phép tản cư vào ngày mai. Tôi muốn được ông thầy kinh nghiệm hơn xem lại trước khi định cưa hẳn.

Fresenburg nằm ở một góc giường cạnh cửa sổ trông ra cánh đồng. Đồng cỏ điểm hoa xanh, đỏ, vàng, bát ngát tận chân trời. Trong nhà nồng nặc mùi nước tiểu, thuốc mê và chết chóc.

Fresenburg hỏi:

– Bây giờ đại uý Rahe thế nào?

– Bị thương cánh tay. Xương không gãy.

– Ông nằm nhà thương à?

– Không, ông muốn ở lại với anh em.

– Tôi cũng ngờ ông ta sẽ làm thế.

Fresenburg nhăn mặt. Một nửa mặt mỉm cười, còn nửa kia có cái sẹo lớn không để lộ gì cả.

– Có những người như vậy đó. Rahe thuộc số người ấy.

– Sao vậy?

– Ông ta chán cuộc đời rồi. Không còn hy vọng gì nữa. Không tin tưởng gì nữa.

Graber nhìn bộ mặt xám xịt.

– Còn anh?

– Tôi thì tôi không biết. Tôi chỉ biết bây giờ phải tính cho xong chuyện này đã.

Y nói rồi chỉ cái chân đau.

Một làn gió ấm áp và thơm tho từ ngoài cửa đưa vào.

– Lạ nhỉ? Bì bõm trong tuyết thì người ta đâm ra tin tưởng rằng ở xứ này không làm gì có mùa hạ. Ấy thế mà bây giờ nó đến bất ngờ!

– Thế đấy!

– Ở nhà thế nào?

– Tôi cũng không biết. Tôi không thể nối liền hai mảnh rời lại với nhau: nghỉ phép và mặt trận. Lúc đầu thì còn được. Bây giờ thì khác nhiều quá rồi. Tôi không biết đâu là sự thật.

– Bây giờ còn ai biết nữa.

– Trước thì tôi tưởng rằng tôi biết. Ở nhà cái gì cũng rõ ràng. Nhưng chỉ biết trong ít lâu, vả chăng bây giờ xa rồi. Bấy giờ tôi cũng yên chí rằng mình không giết người nữa.

– Không phải chỉ có mình anh.

– Thì vẫn thế! Anh đau lắm không?

Fresenburg lắc đầu:

– Ở đây có thuốc tê, thật không ngờ. Người ta mới chích cho một mũi. Vẫn đau đấy nhưng hình như là người khác đau. Tôi còn một hay hai giờ nữa để suy nghĩ.

– Có chuyến xe hỏa cho thương binh?

– Không, chỉ có xe hơi cứu thương chở tới trạm y tế gần nhất.

– Anh sắp đi rồi. Chỉ còn có mình tôi là cựu trào trong đơn vị.

– Có lẽ họ sẽ chữa cho tôi lành lặn rồi lại gửi về đây.

Hai người nhìn nhau. Họ đều biết rằng không thể có chuyện ấy. Fresenburg nói :

– Tôi vẫn thử tin như thế. Ít nhất trong những giờ có thuốc tê. Một giai đoạn sống, kể ra thật ngắn ngủi hé! Rồi thì xảy ra cái gì mình không biết trước được. Tôi ra trận chiến này là lần thứ hai rồi.

– Sau này anh định làm gì. Anh có tính làm gì sau này không?

Fresenburg khẽ mỉm cười.

– Trước hết tôi phải biết rõ họ định xử trí thế nào với trường hợp tôi. Lúc này tôi chỉ biết chờ đợi. Tôi không nghĩ rằng sẽ được giải ngũ. Tôi tin rằng còn lâu. Rồi họ sẽ lại giữ tôi ở lại để dâng toàn vẹn đời sống mình cho họ. Bây giờ họ mới chiếm được một nửa. Tôi phải làm quen với ý nghĩ ấy. Rắc rối lắm. Tôi đã định làm cho những chuyện khốn nạn này không dây dưa gì đến tôi nữa, tôi sẵn sàng trả giá ấy rồi không nói gì đến nữa. Bây giờ mình lại sa lầy ngập đến tận cổ! Người ta dễ cho rằng chết là hết, chết xóa bỏ hết, cái gì đến lúc chết cũng thế thôi… Nhưng nói thế chỉ là nói tầm bậy! Tôi mệt lắm anh ạ. Tôi sẽ cố gắng ngủ một chút trước khi lại cảm thấy mình tàn tật. Chúc anh may mắn!

Y đưa tay ra bắt tay Graber. Graber nói:

– Chúc anh may mắn.

Y lại nói tiếp:

– Tôi cứ làm như mình là mảnh ván muốn trôi đâu thì trôi. Dễ lắm. Cứ việc làm theo bản năng sinh sống tối sơ. Ngày xưa thì khác, ít ra người ta cũng tin tưởng rằng mình còn một chỗ kín đáo trong tâm hồn để hy vọng, để được tự do. Nhưng không sao, dầu sao người ta cũng vẫn có thể tự ý muốn chấm dứt cuộc đời. Nhưng không bao giờ người ta nghĩ đến cả. Tuy nhiên, ta thử nghĩ xem, đó là một năng khiếu trời phú cho cũng như trời cho ta có lý trí vậy.

Graber lắc đầu.

Fresenburg mỉm cười nửa mặt và nói:

– Anh có lý. Đấy không phải là một giải pháp. Tốt hơn hết là hành động để những thảm họa đừng tái diễn.

Fresenburg ngả đầu xuống gối. Bất thần anh ta ra vẻ đuối sức Khi Graber trở lại như trước khi ra ngoài thì hai mắt Fresenburg đã từ từ nhắm lại.

***

Graber trở về làng. Hoàng hôn nhuộm phớt hồng trời chiều hạ. Đã hết mưa. Bùn khô lại. Cây cỏ và hoa lá thi nhau mọc kín các ruộng bỏ hoang. Ngoài mặt trận, tiếng súng nổ vẫn vang động. Tất cả cái gì cũng lạ lùng, không cùng một kích thước với một chút gì quen thuộc. Graber biết cảm tưởng ấy. Y đã nhiều lần cảm thấy trong những đêm bất thần tỉnh dậy không biết mình ở đâu. Hầu như rớt ra ngoài thế gian và một mình bồng bềnh trong đêm dài vô hạn. Ảo giác không lâu, y tìm thấy ngay một điểm tựa, một cái mốc; nhưng mỗi lần như thế vẫn để lại một niềm khắc khoải, niềm khắc khoải sợ rằng không có ngày trở lại trái đất.

Y không sợ gì cả; y chỉ co rúm lại thôi, như đứa trẻ xa lạc vào rừng hoang mông mênh. Y đút tay vào túi và nhìn quanh, vẫn là cảnh tượng quen thuộc: tàn phá, ruộng hoang, cảnh mặt trời lặn xứ Nga, và xa xa bắt đầu thấy rõ ánh lửa tái mét ngoài mặt trận. Tất cả vẫn còn nguyên đấy, và cũng như những buổi chiều khác, thất vọng giá băng như đâm thủng trái tim.

Y sờ thấy bức thư của vợ trong túi. Lời lẽ nàng dịu dàng thắm thiết, man mác hương tình. Nhưng đó chỉ là ánh lửa ma trơi trên đồng lầy, y càng tiến lại gần đồng lầy càng tối tăm mù mịt. Y đã thắp một ngọn đèn trước khi xây được nhà. Ngọn đèn sáng trong một túp lều đổ nát không làm cho ấm áp mà chỉ làm thêm vẻ quạnh hiu. Y đã làm việc nhanh quá, vội quá, bây giờ y mới biết thế.

Y đã cố gắng không nhìn sự vật như vậy. Nhưng rốt cuộc phải chấp nhận một điều hiển nhiên tất cả những cái đáng ra nâng đỡ mình, giúp mình sống, đem lại cho mình một điểm tựa, một mấu chốt, lại làm cho mình thêm cô lập. Điểm sáng yếu ớt làm ấm lòng đồng thời cũng làm mềm lòng. Đó chỉ là một chút hạnh phúc riêng rất mong manh. Một cái kim biến dạng giữa đồng lầy mênh mông đau khổ và thất vọng. Y mở thư vợ ra đọc lại một lần nữa. Tia nắng quái chiều hôm nhuộm hồng tờ giấy. Y đã thuộc lòng rồi nhưng còn đọc lại, sự cô đơn đè nặng xuống lòng như một phiến chì. Hạnh phúc tình yêu đã quá ngắn ngủi, y đã bất lực trước sóng đời mạnh như thác lũ. Hạnh phúc trong lòng mấy ngày nghỉ phép, nhưng đời lính phải tính bằng những ngày chiến đấu chứ đâu có tính bằng những ngày nghỉ phép.

Y cất thư vào túi áo, cùng với thư cha mẹ tìm thấy ở văn phòng. Fresenbur đã có lý, không nên nghĩ ngợi gì cả, phải khiêm tốn mà bước từng bước đi chứ đừng đặt câu hỏi về số mệnh, sống còn hay tử vong. Nguy hiểm xưa nay vẫn có những cái bó buộc tỉ mỉ và đích xác. Tại sao phải cứ phải nghĩ mãi đến Elisabeth làm như đã mất hẳn nàng rồi? Nàng vẫn còn sống, thư của nàng trong túi kia thôi!

Đã trông thầy làng. Làng vắng tanh và trơ trụi. Những làng mạc này hầu như không bao giờ người ta muốn tái thiết. Một lối đi giữa hai hàng cây đưa đến một căn nhà sơn trắng. Hẳn là trước kia xung quanh có vuờn, đó đây một vài bông hoa quý ở giữa những bụi cỏ dại, một pho tượng dựng gần một hồ nước đọng. Tượng hình thần Pan thổi sáo. Nhưng tiếng sáo thần đã im bặt từ lâu, trong vườn hoang một vài tân binh hái những trái anh đào còn xanh.

Những mảnh đời lưu lạc

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 15 Jun 2026

Google images

Năm 1993. Giữa lúc thế sự nước Nga thay đổi, ở Saint Petersburg ngày nào cũng nghe tin trộm cắp, hãm hiếp, giết người cướp của. Vậy mà Jopy coi như pha, hết giờ làm việc anh lập tức thay quần áo, bỏ bữa ăn chiều, khoát áo lạnh đi lên phố. Suốt đêm theo gái, sáng sớm mới lót tót xuống tàu. Jopy là thủy thủ người In-đô, đã hơn bốn mươi tuổi rồi mà anh vẫn không vợ con, không nhà cửa, dường như cuộc sống của anh chỉ biết có ăn nhậu và chơi đĩ. Mấy hôm trước lên hội quán giành gái sao hổng biết, anh lấy vỏ chai vodka đập lên đầu một thủy thủ Ba-lan phung máu. Người anh nhỏ thó và ốm nhom như con khô hố. Gặp phải mấy tay Ba-lan to như Kinh-công, hè nhau đập anh một trận rồi khiêng anh liệng xuống kinh, trong lúc dưới dòng băng còn tráng mỏng trên mặt nước. May nhờ nhân viên hội quán kịp thời thả dây xuống kéo anh lên, lấy quần áo khô cho anh mặc. Chờ anh tỉnh táo tôi mới gọi tắc xi đưa anh về. Bị một trận đòn nhừ tử vậy mà anh vẫn tỉnh bơ, hỏi tôi:

– Mầy thấy thế nào?

Tôi nói:

– Trong lúc người ta cởi áo quần anh ra thay,  tui thấy con cu anh teo lại còn một thẻo da nhỏ xíu.

-… 

Hồi hôm thức thâu đêm hành lạc hay sao mà sáng xuống tàu người anh phờ phạc, uể oải, tóc tai rối bù, mắt đỏ ngầu. Bước vô tàu chưa kịp cởi áo khoát anh vội đi thẳng qua phòng bếp. Trong lúc tôi đương xắt thịt dâm bông, anh hỏi xin một tách cà phê. Tôi ngừng tay day qua rót cà phê cho anh. Một tay anh đón lấy tách cà phê, một tay anh móc túi quần lấy ra  miếng giấy chìa cho tôi, miệng cười chúm chím ra chiều đắc ý lắm.

– Mầy đọc đi.

Tôi mở mảnh giấy ra xem, một địa chỉ viết bằng chữ Nga tên người là Le Thi Trinh. Tôi đoán chừng nếu người viết đổi tên họ cho giống Tây thì đọc là Trịnh thị Lệ hoặc nhà quê một chút là Lê bằng không cũng có thể là Lê Thị Trinh. Tôi trả miếng giấy lại cho anh:

– Một đàn bà Việt Nam.

Tôi day ngang xắt thịt tiếp. Thấy tôi thản nhiên trước sự khám phá mà anh cho là độc đáo và có lẻ anh nghĩ tôi bị chạm tự ái dân tộc. Anh liền đổi thái độ, cười giả lả:

– Chắc cô ta là người Bắc Hàn.

Tôi xắt xong miếng thịt, sắp vô dĩa rồi ngước lên, hất hàm và cười một cái:

– Ê, bộ đàn bà Việt Nam hổng biết làm đĩ sao. Nhưng anh gặp ả nầy ở đâu?

– Ở trên phố.

Trước khi dợm bước anh còn  nói một câu:

– Người Việt ở Saint Petersburg đông lắm. 

Khỏi đợi Jopy nói tôi cũng biết, mấy năm nay nhà nước Việt Nam đưa hàng trăm ngàn công nhân sang nước ngoài lao động, nhiều nhứt là ở Nga và khối Ðông Âu và qua Á-Rập tôi cũng gặp người Việt lao động bên đó.

 Mấy ngày sau, chiều nào Jopy cũng này nỉ tôi đi theo anh để gặp mặt cô gái đồng hương nào đó. Trên bước đường luân lạc tôi đã nhiều lần chạm mặt với những cô gái Việt làm tiền ở nhiều quốc gia khác nhau chớ không riêng gì trên nước Nga nầy. Gặp nhau như gặp người tình trong hoàng cảnh éo le, lấm la lấm lét, ngượng nghịu nói vài câu rồi cô ta viện cớ nầy cớ nọ vong mất. Ước lượng cuộc gặp gở không mấy bình thường, tôi dứt khoát không đi theo Jopy và cũng không muốn anh nhắc tới chuyện cô Le Thi Trinh nào đó trước mặt tôi nữa. 

***

Cuối tháng ba, những mảnh băng bể trôi tản mạn trên dòng sông Neva.  Dọc trên lộ tuyết tan thành nước pha bùn đọng vũng theo những ổ gà. Chiếc xe bus chạy rù rù trên đường đá lổm chổm, thỉnh thoảng xụp ổ gà kêu cái rầm, bánh xe dẫm bùn văng tứ tung và thân xe rung rinh nhún lên nhún xuống kêu ken két.

 Mau thật, mới đó mà tôi đã đi lại nơi đây hơn bốn tháng trời. Bây giờ tôi đã biết dùng xe công cộng, mấy anh tắc xi không còn cơ hội chặt tôi với giá trên trời dưới biển nữa. Hôm mới tới tôi đổi một trăm Mỹ-kim ra một ngàn rúp, tiền rúp tôi dành mua vé xe hoặc mua bia hơi rót bán trong trong những chiếc keo theo mấy sạp bên lề đường. Những món hàng rong ở đây rẻ như bèo, vì vậy hơn bốn tháng qua tôi xài chưa hết một ngàn rúp.

 Xe dừng lại rước khách. Một người đàn ông cao ráo có bộ râu quay nón tỉa đều, gọn gàn trong bộ đồ Jean đã bạc màu, vai mang ba lô, tay ôm tây-ban-cầm bước lên. Trên xe còn nhiều ghế trống nhưng không ngồi, ông đứng ở khoảng giữa, một tay vịn thành ghế một tay chỏi lên cán đờn. Nhìn ông tôi nghĩ ngay tới một nghệ sĩ giang hồ rày đây mai đó. Có lẻ thấy tôi nhìn ông với vẻ thân thiện nên ông cười một cái và hỏi tôi bằng tiếng Anh:

– Du lịch?

Tôi nói bừa:

– Dà.

Bất chợt ông đưa tay khoa một vòng bên ngoài:

– Hồi trước không như vầy đâu.

Tôi ngó theo hướng tay ông ta, hai bên đường kẻ mua người bán tấp nập, nếu không có đống rác tổ bố nằm bên góc đường thì khu chợ trời cũng sạch sẽ khang trang như những chợ trời ở các quốc gia tân tiến khác. Tôi không biết ông muốn phê phán về những đống rác nằm bên đường hay cảnh bán buôn xô bồ xô bộn mà trước đây nhà nước xã hội chủ nghĩa không cho phép. Nhiều năm lăn lộn đó đây, cuộc sống đã dạy cho tôi nên tỏ lòng thân thiện với mọi người nhưng không nên đẩy đưa câu chuyện quá đà, nhứt là với những người chưa quen biết. Tôi đáp lời ông bằng nụ cười và những cái gật đầu. Xe dừng trước nhà hát trên đường Nevskiy Prospekt, tôi khoát tay từ giả ông nghệ sĩ và cùng vài hành khách bước xuống xe.

 Hôm nay trời đẹp lắm, đi dưới nắng vàng rực rở tôi mới hay mùa đông đã đi qua, trên cành cây lá non vừa nhú và những loài hoa nở sớm bắt đầu khoe sắc. Trên các ghế đá công viên, nhiều người ngồi đọc sách và những đôi trai gái dắt dìu nhau dạo cảnh. Trông ai cũng vui tươi, gần gũi với thiên nhiên, không còn lẫn trốn tiết trời như mấy tháng mùa đông.

 Trong nhiều cửa tiệm lớn vắng người và ít hàng hoá, trái lại ngoài đường phố người bán buôn chen chúc trong đám khách bộ hành và bày biện hàng hoá chiếm gần hết lối đi. Có rất nhiều người Việt, đứng nhiều nơi trong những khu phố đông người rao bán các món hàng như quần áo, vải vóc, nón kết, túi xách và nhiều món linh tinh khác sản xuất tại Việt Nam. Tôi rất muốn hỏi chuyện với những người đồng hương, nhưng còn ngần ngại. Chợt nghe giọng Bắc kỳ thanh thanh rành rọt của người con gái ở phía sau:

– Sang, bên nầy nắng chói quá, mình qua bên kia đường đứng đi. 

Tôi ngoái lại thấy một người con trai vắt áo quần trên cánh tay đứng xề qua xề lại mời khách qua đường mua, người con gái lui cui thu dọn đồ đạc để trên tấm vải trải trên mặt lộ bỏ vô chiếc túi xách lớn. Cạnh bên một em bé ngồi bẹp dưới nền gạch mân mê những món đồ chơi, chợt em bé thảy trái banh lăn ra lộ. Tôi liền rượt theo lượm trái banh trả lại cho em bé. Thấy người lạ em khóc ré lên.

– Hương Giang nín!

– Cô gái nạt đứa bé xong, ngoái lại nhìn tôi và nói lời cám ơn bằng tiếng Nga. Tôi cười và nói lại bằng tiếng Việt:

– Tên của cháu nghe rất là thơ mộng.

Người con gái trố mắt nhìn tôi từ đầu tới chưn như nhìn con quái vật, một hồi sau cô ta hỏi tôi:

– Anh là người Việt?

– Cô nghĩ tui là người gì?

– Trông anh giống Nhật đấy. Anh sang đây du lịch à?

– Không, tui đi làm ăn.

Cô gái cúi xuống lẹ làng lượm những món đồ còn lại nhét hết vô giỏ rồi xốc bé Hương Giang lên nách, day qua tôi cô nói:

– Thế thì anh về nhà em chơi nhé.

Sự hấp tấp của cô làm tôi lúng túng:

– Cô, cô còn bán đồ mà, để khi khác cũng được.

– Không có chi, bán buôn thì tụi em bán suốt năm, lâu lâu gặp người mình một lần, nghỉ một buổi có sao đâu.

Nói xong cô day qua người con trai còn đứng ngoài đường kèo nài giá cả với một bà già. Cô gọi:

– Sang! Anh Sang đi về.

Không đợi anh kia đáp lời và cũng không hỏi coi tôi có chịu theo cô ta về nhà không. Cô day ngang nói với tôi như ra lịnh:

– Đi, mình đi anh.

Tay bồng đứa bé, tay xách giỏ đồ, cô đi te te một nước. Trước sự vồn vã của cô gái lạ làm tôi lính quýnh. Không biết làm sao tôi bèn chạy theo hỏi:

– Mà nè cô tên gì?

– Yến.

– Nhà cô xa đây hông?

Cô ta chỉ tay về phía con đường trước mặt:

– Phía sau đuờng kia kìa.

Nghe nói người Việt ở Nga sống khá phức tạp, cộng thêm sự đường đột của cô gái làm tôi hơi lo. Tôi kiểm lại tiền bạc, trong túi còn năm chục Mỹ kim và số tiền rúp không đáng kể. Tay không đeo cà rá, đồng hồ lỡ gặp xui xẻo cũng chẳng hề gì, thôi đành nhắm mắt đưa chưn bước theo cô ả.

 Đi một đỗi tới một chung cư. Yến đẩy cửa bước vô, tôi cũng bức theo sau. Từ ngoài sáng bước vào chưa quen mắt nên tôi không thấy gì hết, tôi đẩy hé cánh cửa bên ngoài, ánh sáng lọt vô lờ mờ. Tôi thấy Yến đã tới cửa thang máy bấm nút đứng chờ, tôi vừa bước tới thì cửa thang vừa mở ra. Chúng tôi bước vào thang, bên trong cũng không có đèn, tối  thui. Mùi xú uế nực nồng của một người say rượu ói mữa và tiểu tiện ngay dưới sàng, làm dẫm lên trơn nhớt dưới gót dày, tôi rùng mình một cái và nghe cổ họng ơn ớn.

 Thang dừng lại tần thứ sáu. Yến dẫn tôi vô một căn phòng hẹp và mời tôi ngồi trên bộ sa lông đặt giữa phòng bằng vải đã thâm kim, bên cạnh chiếc bàn nhỏ để một cái nôi, xung quanh đồ chơi con nít vứt ngổn ngang, sự bề bộn làm cho căn phòng đã nhỏ lại thêm chật chội. Mới vô tôi tưởng đây là phòng khách. Nhưng không phải, một tấm ván vuông đóng ép vô tường, tới bửa ăn hạ tấm ván xuống làm mặt bàn ăn, tối kéo chiếc sa-lông ra thành chiếc giường ngủ cho hai vợ chồng và đứa con.

Tôi hỏi:

– Ăn ở như vầy cô không thấy chật chội lắm sao?

Yến nói:

– Không anh, chúng em ở như vầy là tốt hơn nhiều người đấy.

Sang khệ nệ ôm gói đồ từ ngoài bước vô, tôi nhìn qua Sang, chưa kịp chào thì Yến vội giới thiệu:

– Anh Sang, là anh nuôi của em.

Tôi tò mò hỏi:

– Còn ông xã cô đâu? 

– Đi làm chưa về.

– Ảnh mần gì?

– Anh ấy lái xe điện, cũng sắp về rồi đấy.

Yến đứng ôm bé Hương Giang. Sáng bước vô ngồi đối diện và gót trà mời tôi. Sau hồi nói chuyện tôi mới biết anh Sang qua Nga du học từ năm 1988, đã đậu bằng kỹ sư canh nông và ở lại làm việc cho một cơ quan nhà nước. Vừa qua tình hình chánh trị nước Nga thay đổi và làm cuộc sống anh cũng theo đó mà đổi thay. Anh nghỉ làm cho nhà nước, ra ngoài cạy cục xin được vài mẫu đất canh tác; nuôi gà, nuôi thỏ và cuốc đất trồng khoai tây. Những ngày rảnh rổi anh theo Yến bán chợ trời.

– Ở nước mình đất đai phì nhiêu, màu mỡ và thời tiết thuận lợi suốt năm. Còn bên nầy mần được mấy tháng mùa hè, còn lại gió lạnh và tuyết đóng băng. Anh muốn mần ruộng thì về bên mình mần dễ hơn bên nầy chớ.

 Có lẻ những lời bọc trực của tôi làm anh tự ái, nên mặt anh đanh lại và im lặng không nói thêm gì. Bất chợt tôi nhận thấy mình quá hồ đồ, dù sao tôi với anh mới gặp lần đầu, nói năng cũng phải giữ phép lịch sự, có đâu xối xả như tát nưóc vô mặt người ta. Tôi bèn lảng sang chuyện khác để che dấu sự ngượng ngùng. Chỉ tay qua những túi đồ, tôi hỏi:

– Hàng nầy sản xuất tại Việt Nam hả anh?

– Vâng.

– Bên nhà gởi qua cho anh hay lấy hàng của người khác?

Sáng chưa kịp trả lời thì Yến chen vào:

– Không anh, bọn em lấy trên Sứ đấy.

– Sứ?

Thấy tôi ngớ ngẩn, Yến giải thích:

– Sứ là sứ quán của Việt Nam đấy anh.

Từ trước tới nay tôi đã đi qua rất nhiều sứ quán. Tôi thấy trong toà sứ nước ngoài có nhân viên làm việc và một người đại diện cho quốc gia được gọi là ông đại xứ. Theo lời Yến, tôi có thể hình dung ra toà đại sứ Việt Nam ở Moscow lúc đó giống y như một cửa hàng buôn bán sỉ và lẻ mà ông đại sứ là chủ tiệm. Yến đưa bé Hương Giang cho Sang bồng, rồi cô lấy ấm nấu thêm nước. Tôi với Sang nói chuyện trời trăng mây gió một hồi thì Yến bước vô, đi theo Yến một gã đàn ông Nga cao lêu nghêu, tay ôm cặp táp. Yến chỉ tôi và nói gì đó bằng tiếng Nga, chợt nhiên cô day qua tôi, hỏi:

– Anh tên gì vậy?

Suốt cả buổi trò chuyện vậy mà cô không biết tên tôi là gì, nếu không hỏi tôi cũng quên tuốc luốc. Tôi nói:

– Tôi tên Tấn.

Tức thì cô ta day ngang tiếp tục giới thiệu. Sau đó gã đàn ông đi tới chìa tay ra bắt tay tôi.

Yến day qua tôi:

– Đây là Stax, chồng em.

Stax bước qua tủ lấy chai Vodka ra rót mời tôi và Sáng uống. Từ đó trở đi mỗi lần về Rotterdam trở qua tôi thường nghé thăm gia đình Yến và cho Hương Giang bánh kẹo. Lần lần chúng tôi trở nên thân thiết. 

Trong thời gian nầy ở Saint Petersburg còn nhiều chuyện phức tạp. Như ai muốn điện ra nước ngoài thì phải đặt và trả tiền trước hai ngày – theo quy định mỗi lần đặt được gọi tối đa là ba mươi phút – tới ngày hẹn trở lại ngồi ở phòng chờ đợi, đợi loa kêu tên và chỉ số phòng cho vô gọi, người nào trễ hẹn coi như mất tiền. Nhân viên bưu điện nói tiếng Nga, vì vậy mỗi lần muốn điện thoại về gia đình tôi phải nhờ Yến đặt dùm và luôn cả việc theo tôi làm thông dịch. Tôi rất ái ngáy trong lòng khi thấy vợ chồng ngồi chờ hàng giờ đồng hồ. Hỏi hai người có khó chịu không. Yến vui vẻ trả lời, chuyện chờ đợi ở nước Nga là chuyện thường thôi. 

Chuyến nầy bị mưa dầm, hàng hoá không lên được, tàu đậu chờ hơn hai tuần lễ rồi. Sợ người nhà nóng lòng muốn biết tin, nên hai hôm trước tôi nhờ Yến đặt điện thoại dùm. Nhân tiện cuối tuần nầy Stax được nghỉ, Yến giao cho Sang bán chợ trời, hai người mời tôi đi phố và thăm vài cảnh đẹp của Saint Petersburg.  Nhưng hôm ấy mưa nhiều quá, tôi đội mưa từ trạm xe bus vô tới nhà Yến thì đầu cổ ướt mem. Vừa bấm chuông Stax liền ra mở cửa. Như chờ sẵn, chưa kịp mời tôi ngồi anh đã giải thích chuyện gì mà nói bô lô ba la, tay chỉ trỏ tứ lung tung. Tôi chẳng hiểu gì hết, chỉ hơi ngạc nhiên vì không thấy Yến ở trong phòng, thay vào đó là một cô gái lạ ngồi chơi với Hương Giang. Thấy tôi lớ ngớ, cô ả bèn đứng dậy chào. Cô lấy khăn cho tôi lau nước, và mời tôi ngồi xuống. Stax lại mở tủ lấy ra một tờ giấy xếp làm tư đưa cho tôi. Tôi cầm lấy rồi mở ra, đó là thư của Yến.

“Anh Tấn,

Em có việc đột xuất phải đi Mockba, không gặp được anh em rất buồn và rất tiếc. Em đã đặt điện thoại cho anh vào lúc bảy giờ chiều, anh tới nghe điện thoại, có chị Xuân theo làm thông dịch và dẫn anh đi chơi. Thôi nhé em vội quá, mười một giờ rưỡi tối tàu chạy rồi, hẹn anh vào ngày Chúa Nhật. Chúc hai người đi chơi vui vẻ…em đi đây.

Yến!  

Tôi ngó qua người con gái, cô ta nở nụ cười tươi như sẵn sàng chờ nghe tôi nói. Tôi hỏi:

– Yến nhờ cô giúp tui hả cô Xuân?

– Vâng.

Tôi nhìn kỹ người con gái hơn, mặt xương, răng hô, thân hình ốm, ngực lép xẹp. Xuân vẫn giữ nụ cười tươi, nhưng tôi vẫn không tìm ra nét duyên dáng nào hết. Stax pha trà để lên bàn rồi bồng bé Hương Giang cho Xuân rảnh tay tiếp chuyện. Tôi nhìn ra ngoài cửa kiếng, vẫn còn mưa rầu mưa rỉ, biết đi đâu bây giờ. Tôi day qua Xuân:

– Mưa nhiều quá, đi chơi hổng được đâu, nếu cô có việc thì cứ đi mần, tui trở xuống tàu, chiều tui lên nhờ cô giúp tôi đi bưu điện.

Xuân nói với vẻ thân mật:

– Không, hôm nay em nghỉ, nếu anh không có chuyện gì thì mời anh qua ốp chơi.

– Ốp! Ốp là gì vậy?

– Là chỗ ở của bọn Xuân đấy.

Hôm nay tôi nghỉ buổi chiều, trở xuống tàu cũng không làm gì, thôi thì theo cô ả chơi, luôn tiện biết thêm cuộc sống của người Việt ở ốp ra sao.

– Từ đây qua chỗ cô ở có xa lắm hông?

– Khoảng mười phút xe điện thôi anh.

– Vậy thì mình đi.

Tôi và Xuân từ giã Stax đi ra, trời vẫn còn mưa tần tả, chúng tôi đội mưa đi ra trạm xe điện. 

Ốp là chung cư dành cho những người Việt sang đây lao động. Chiều dài của mỗi căn phòng khoảng tám chín thước, bề ngang chừng hơn ba thước. Theo lời Xuân thì trước đây cả ngàn dân lao động ở chung cư nầy, mỗi phòng chứa ba bốn người. Vừa qua nhiều người hết hợp đồng về nước. Còn lại khoảng hai trăm người, nên mới được ở rộng rãi như vầy, tức là một phòng chứa hai người. Đây là phòng ngủ và phòng ăn chung. Còn phòng tắm, cầu tiêu, nhà bếp thì xài tập thể. 

Xuân mời tôi ngồi chơi, cô xách ấm ra bếp nấu nước. Căn phòng lành lạnh, cảnh vật lờ mờ và mùi mốc meo thoang thoảng. Bất chợt tôi nghe nhiều tiếng động rột rẹt trong góc phòng, tôi ngó qua những thùng giấy vuông đóng kín bằng băng keo, được chất ngăn nắp chiếm một phần tư căn phòng và cao đụng la-phông. Tiếng động mỗi lúc một nhiều và có cả tiếng chuột kêu. Tiếp theo từ thành giường một chú chuột bằng nữa cườm tay bò ra, rồi hai trự ở góc phòng bò tới, ba bốn con ở dưới gầm giường….cuối cùng xuất hiện một bầy chuột giữa nhà, chúng lượm cơm đổ. Bộ lũ chuột không biết tôi là người hay sao mà cứ ngang nhiên trước mặt giành ăn và còn cắn nhau nữa. Tôi ngồi bất động nhìn bầy chuột cho tới khi Xuân mở cửa phòng, tiếng động của cánh cửa làm bầy chuột giựt mình ùa nhau chạy một lượt rồi biến mất vô chồng thùng giấy. Xuân xách ấm nước nóng bước tới bàn mở bình trà, vừa châm vừa hỏi:

– Làm gì mà ngồi trần tư vậy?

– Nhìn bầy chuột diễn binh chớ đâu có trầm tư.

– Ối giời, gì chớ chuột ở đây thiếu gì, có đêm ngủ nó bò lên cắn chân đấy.

Tôi không muốn nói tiếp chuyện chuột, bèn lảng sang hỏi chuyện người:

– Hôm nay cuối tuần mà sao trong nầy vắng teo ?

Xuân rót nước đưa qua tôi:

– Những người làm ca vẫn còn làm chứ anh, còn những người được nghỉ thì họ đi ra bán chợ trời.

– Người ở chung với Xuân làm ca hay đi buôn bán?

– Chị Lan ở chung với em, chị ấy sung sướng lắm, cuối tuần đi chơi với người yêu. 

Xuân rót thêm trà và không hiểu sao cô đem chuyện của chị Lan nào đó kể cho tôi nghe. Theo Xuân thì ở bên nhà chị Lan có chồng, sang đây cặp bồ với một anh buôn bán mánh mung, anh ta chạy hàng từ Nga qua Ba Lan, từ Ba Lan mua hàng đem về Nga. Hèn chi chỗ ở của chị Lan trang trí đồ đạc trông đẹp mắt và sang trong hơn chỗ của Xuân. Trên vách phía trong chiếc giường treo tấm poster khổ lớn của Sylvester Stallone ở trần, tay mang găng chuẩn bị đánh võ đài, cạnh bên một học băng nhạc của các ca sĩ Việt Nam ở nưóc ngoài và có cả một giàn máy hát để trên đầu giường. Tôi chỉ qua chồng thùng giấy hỏi Xuân:

– Thùng đựng gì mà nhiều vậy?

– Hàng của người yêu chi Lan đấy anh.

– Chi Lan ăn nên làm ra nhờ có người yêu, sao cô không tìm một anh để cùng nhau làm ăn cho lên với người ta.

– Có người yêu phiền phức lắm.

– Thiệt phiền hông đó?

– Thật chớ anh, phiền nhứt là mỗi khi chị Lan dẫn người yêu về ngủ lại đêm.

Tôi nhấp một miếng trà thấm giọng:

– Ừa hén, phòng ngủ trống trơn như vầy cũng bất tiện lắm.

Xuân nói rất tự nhiên:

– Lúc đầu hai người làm em khó ngủ, nhưng lâu dần rồi thấy bình thường nhưng…

Cô ta không nói nữa. Tôi cũng không muốn cô kể tiếp câu chuyện:

– Mọi chuyện trở nên bình thường, như vậy là tốt lắm rồi.

– Sống tập thể mình phải thông cảm với nhau chứ anh. 

Mắt Xuân mơ màng và đưa lưỡi liếm vành môi. Tôi nhìn ra ngoài khung cửa để tránh cái nhìn nóng bỏng của cô. Mưa đã tạnh nhưng gió vẫn còn mạnh đủ sức xô đẩy la liệt những cành cây. Nước mưa còn đọng trên cành lá bị gió vũ văng tạc vô vách ván rao rào. Bên ngoài sống động lạnh lùng. Trong phòng yên lặng đến đỗi nghe rõ tiếng chuột kêu. Bây giờ tôi chợt thấy bất tiện khi ngồi đây nói chuyện với Xuân. Tôi đề nghị:

– Xuân nè, hổng ấy cô dẫn tui đi một vòng rồi mình kiếm cái gì ăn.

– Anh đói hả, để em nấu cơm anh ăn.

Tôi lắc đầu:

– Không, tui muốn cô dẫn tui đi giới thiệu một vài món ăn Nga đó thôi.

– Đi nhà hàng tốn tiền lắm.

– Không sao, ra phố ăn cho gần bưu điện.

Không muốn Xuân nói thêm nữa, tôi hớp hết nước trà và bưng tách đứng dậy hỏi chỗ nào rửa tách được. Xuân chồm lên dằng tay tôi xuống.

– Anh cứ để đó và ngồi chờ em thay đồ.

Không biết vì sống tập thể riết rồi quen, hay gì một nguyên do nào khác. Xuân mở tủ lấy áo, quần rồi tự nhiên dạy mặt vô vách cởi đồ ra thay. Nhìn thân thể gầy gò, cặp giò thiếu thịt, mông dẹp lép mỗi khi cúi xuống lòi cả bộ xương xường. Trông dáng vẻ của cô tôi tưởng tượng ra một đất nước Việt Nam ốm đói đương hiện diện trên xứ lạ quê người. Xuân bận quần áo xong, tới đứng trước mặt tôi, cô ta hỏi:

– Chị ở nhà đẹp lắm anh nhỉ?

Tôi không muốn mất thời giờ nên vừa đứng lên vừa nói:

– Có chị nào đâu mà đẹp với xấu. 

Nói xong tôi bước ra mở cửa. Chúng tôi đi dọc theo hành lang, có lẻ thấy tôi lạ nên vài người đưa mắt nhìn. Nổi bật nhứt là trước cánh cửa của một căn phòng, hai bên giăng giấy hoa đủ màu, trên mặt cửa dán chử Tân Hôn bằng giấy bóng màu đỏ. Chứng tỏ có một đôi tình nhân vừa mới được tập thể cấp giấy sống chung.

***

Mới ngày hôm qua nhiệt độ mười hai, mười ba trời còn ui ui, lành lạnh, bỗng nhiên hôm nay tăng lên tới hai mươi lăm độ. Mặt trời chói chang, gay gắt khó chịu như bị xát muối ngoài da. Mùa xuân vội vã đi qua, mùa hè chợt tới. Tôi trở lại Saint Petersburg chuyến nầy cũng là chuyến chót. Trong những ngày ở đây, tôi tranh thủ thời gian lên thăm và từ giã những người quen. Trước khi lên gặp các bạn, tôi ngỡ câu chuyện sẽ ngưng lại và chấm dứt. Cuộc sống đã tập tôi thành thói quen, đếm một bến lạ vui chơi vui vẻ, tự nhiên, khi rời đi lòng khỏi vấn vương. Nhưng không ngờ khi tôi ngỏ lời từ giã. Yến rưng rưng buồn:

– Anh đi rồi chắc tụi em không còn gặp lại anh nữa đâu.

Tôi cười và nói một câu xưa như đồ cổ:

– Trái đất tròn mà lo gì.

– Phải chi anh ở đây tới Đêm Trắng chúng em dẫn anh đi chơi, vui lắm.

– Đêm trắng là đêm gì?

– Người Nga có tục lệ, hàng năm tới ngày đầu của mặt trời không lặng, họ đổ hết ra đường, uống rượu, ca hát suốt đêm và chiếc cầu bắt ngang sông Neva được quay lên trông đẹp lắm… 

Theo tôi biết thì không phải riêng vì nước Nga, phần đông những động vật sống về phía bắc bán cầu, chịu những tháng dài sống trong cảnh mờ tối. Vì thiếu mặt trời, nên khi ánh sáng trở lại thì lá hoa khoe sắc, chim hót ríu ra ríu rít trên cành; hưu, nai, khỉ đột đùa giỡn trong rừng sâu và con người ta mở tiệc nhậu nhẹt vui tươi chan hoà với thiên nhiên tươi sáng. 

Không ở lại tới Đêm Trắng thì Yến mời tôi lên nhà chơi vào trưa chủ nhựt. Tôi sắp xếp lên đúng hẹn. Khi tới nơi tôi thấy bạn bè tụ tập đầy đủ trong phòng.  Stax xin nghỉ một bửa, anh làm hướng dẫn viên. Yến bồng bé Hương gian, còn Xuân đi theo làm thông dịch. Sang từ nông trại ra có đem theo gà và thỏ, anh tình nguyện ở nhà nấu bếp, chờ chúng tôi về thưởng thức tài nghệ nấu nướng của anh. 

Stax đưa ra một vài nơi thắng cảnh trong thành phố cho tôi lựa chọn. Bảo tàng viện Hermitage nằm bên bờ sông Neva thì tôi đã đi hết một ngày mà chỉ xem được khu mỹ thuật với cung điện chạm trổ tinh vi bằng vàng, tranh ảnh thu thập khắp nơi trên thế giới và một xác ướp của mấy ngàn năm về trước. Tôi có nghe người hướng dẫn nói, nếu muốn xem hết bảo tàng viện thì phải mất ít nhứt là hai năm. Trong nửa buổi chúng tôi không thể đi xem hết viện bảo tàng được. Sau khi cân nhắc, chon lựa, tôi đề nghị đi ra công viên Mùa Hè chơi là tiện nhứt. 

Hôm ấy trời nóng lắm nên ai nấy mặc áo quần màu mè và mát mẻ. Chúng tôi lấy xe điện ra công viên Mùa Hè nằm cạnh bờ sông Neva. Giữa dòng sông những chiếc đò chở đầy nhóc khách du lịch chạy ngược, chạy xuôi.  Chúng tôi nhập vào đám đông du khách đi thẳng vào vườn hoa. Dưới tàn cây xanh bóng mát, nhiều đôi tình nhân thảnh thơi vừa dạo cảnh vừa chuyện trò. Trên những chiếc ghế đá, người lớn ngồi đọc báo, trẻ em ngồi ăn kem. Trên cành cây chim chóc tụ về nhảy nhót và hót líu lo. Các bạn kêu tôi dừng lại xem những tượng vôi trắng tạc  hình người quái lạ. Theo lời Stax thì những tượng nầy do một điêu khắc gia người Ý tạc lên hồi thế kỷ trước tượng trưng cho thần gió, thần mưa, thần ánh sáng, thần đêm tối… nói chung khu nầy mỗi bức tượng là ý nghĩa của một sự sống. Sau khi đi dạo hết công viên, chúng tôi đi tham quan đài chiến sĩ.  Đài được bao bằng bức tường chắn gió, cạnh bên chưn tường được đặt một băng đá dài, trước mặt bàn bằn xi măng láng bóng, chính giữa đài một mẻ lửa bập bùng cháy. Stax nói, đây là đài tưởng niệm những chiến sĩ trắng và đen đã bỏ mình cách đây hơn trăm năm trước…Hình như tiếng Nga của Xuân và Yến chưa đủ để làm thông thông dịch, đôi khi tôi hỏi một câu cần phải giải thích dài dòng, nhưng hai cô dịch lại một câu gọn lỏn làm tôi tưởng chừng như bị lạc đề. Tuy nhiên nhìn nhiều người ôm những bó hoa đủ màu, trân trọng đặt lên phiến đá, rồi đi thẳng vô ngồi lên băng cũng bằng đá, mặt nghiêm trang ngó bếp lửa lập loè, làm lòng tôi dâng lên niềm tôn kính và cảm tưởng như những linh hồn của những chiến sĩ còn phảng phất đâu đây. 

Đã hơn sáu giờ rồi, nhưng bầu trời không dấu hiệu hoàng hôn. Cuộc du ngoạn chúng tôi đưọc chấm dứt sau khi đi ra bến chờ xe điện về nhà. Trên xe Stax nhờ Xuân thông dịch, hỏi tôi:

– Anh thấy thành phố Saint Petersburg như thế nào?

Tôi trả lời: 

– Rất đẹp, nhiều thắng cảnh đáng được xem, nhưng có lẽ gần một thế kỷ qua không được sửa sang, tân trang gì hết. Cho nên Saint Petersburg giống như một thiếu nữ duyên dáng bị bọn côn đồ hãm hiếp tả tơi…

Xuân dịch lại…Stax nghe qua cười nghiêng cười ngữa và cười chảy nước mắt.

***

Chúng tôi về tới nhà thì anh Sang đã nấu nướng xong. Gà chặt miếng nhỏ chiêng vàng, thỏ hầm rượu chát.  Ăn với bánh mì kèm sà lách trộn dầu dấm và uống rượu vodka. Ngoài những người bạn thường gặp có thêm Tuyền, bạn gái của Sang, và Phương là bạn của Tuyền. Hai cô nầy tôi gặp vài lần ở nhà Yến và nhiều lần ở chợ trời. Không hiểu sao gặp hai cô đứng bán ngoài chợ, tôi hỏi chuyện hai cô lạnh lùng như không muốn tiếp. Nhưng hôm nay chợt nhiên hai cô đến chơi, vừa thấy tôi Tuyền vồn vã:

– Nghe tin anh sắp rời khỏi nơi nầy, bọn chúng em bỏ chợ về liền đấy.

Tôi khôi hài:

– Chớ hổng phải nghe tôi rời khỏi nơi đây, hai cô mừng quá nên về tống khứ đi cho rảnh mắt.

– Anh nầy…

– Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn hai cô. 

Nhớ lại  mỗi lần tôi tới đây, nếu không nhờ vả chuyện nầy chuyện kia thì cũng quấy rầy chuyện nọ. Chẳng những các bạn không lấy làm phiền mà còn sẵn sàng bỏ công việc dành thời gian giúp tôi. Yến thay mặt mọi người nâng ly nói lời đưa tiễn, tiếp theo Sang mời mọi người cầm đũa thưởng thức tài nấu bếp của anh. Trong lúc mọi người ăn uống. Stax đi lại góc phòng lấy cây đờn máng trên vách, trở lại ngồi chỗ cũ vừa đờn vừa hát một bản bằng tiếng Nga. Anh hát vừa hết bài, cử toạ cho một tràng pháo tay và bắt đầu nổi hứng.  Sang mượn đờn vừa rảy vừa ngâm bài Tống Biệt Hành, giọng Bắc Kỳ ngâm thơ hào khí gất trời…. “Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ. Chí lớn không về bàn tay không. Thì không bao giờ nói trở lại! Ba năm, mẹ già cũng đừng mong…”. Thiệt tình mà nói, bài thơ anh ngâm tặng tôi nhưng tôi không cảm thấy xúc động chút nào hết. Không hiểu tại sao đàn ông Việt Nam khi ra nước ngoài, hễ ngồi nhậu với nhau thì ngâm Hồ Trường, còn chia tay thì ngâm thơ tống biệt. Người nào cũng chí lớn ngất trời, nhưng phần đông chỉ làm được những chuyện tầm thường, nho nhỏ. Sang ngâm xong bài thơ cũng được một tràng pháo tay. Tiếp theo Xuân mở cặp ra lấy một tập thơ chép tay, cô lật từng trang rồi dừng lại một bài. Xuân giới thiệu, bài thơ nầy của một người bạn làm trong lúc tiễn người thân về nước. Bây giờ cô đọc tặng cho tôi.

(*)

Dẫu sao cũng đất nước người

Thôi em đừng đứng giữa trời mà kêu

Có ai thương những kẻ nghèo

Tấm thân tiều tụy đến điều chưa xong

Hàng em bị cướp nhiều không?

Áo quần nhàu nát mặt bầm vết đau

Tưởng rằng qua kiếp ngựa trâu

Nào ngờ lại thấy trên đầu…dùi cui

Đỏ xanh cũng một chân trời

Đi đâu cũng một kiếp người làm thuê

Thôi em đừng hóc làm chi

Đã qua cửa khám thì về cho xong…

Nghe qua tôi hiểu ý của bài thơ là có một cô đi buôn bán chợ trời, xui gặp bọn cướp giựt hết hàng hoá còn bị công an lấy dùi cui đập và bắt đem nhốt nữa. Nhưng khi được Xuân giải thích tôi mới biết có một nữ công nhân hết hợp đồng được về nước. Nhưng khi ra tới phi trường chẳng may bị bọn côn đồ giựt hết đồ đạc. Câu “Đã qua cửa khám…”  Tức là chỗ khám hành lý chớ không phải cửa tù. Tôi hỏi:

– Những người giựt đồ là người Việt hay người Nga.

Xuân tỏ vẻ khó chịu làm như chính cô là nạn nhân bị cướp, cô hằn học nói một hơi:

– Người Việt mình đấy anh, thế nên bây giờ ra phi trường đưa đón người thân, công an bắt phải đứng riêng ở ngoài chứ không cho vô phòng đợi.

Hồi văn nghệ ngưng ngang, thay vào những câu chuyện của người Việt lao động bên Nga… Bây giờ tôi mới hiểu rõ cuộc sống phức tạp của người Việt sống bên Nga thế nào. Lòng rười rượi buồn, thương cho những kẻ bơ vơ xứ lạ quê người, khi sa cơ lỡ vận, các cô may mắn còn có “cái” bán được để độ thân. Còn các cậu thì đâu có gì ngoài sức lực của mình. Một khi tài sức không dùng được ở những nơi lương thiện, thì đem thi thố những chỗ bất lương để dành sự sống chớ biết phải làm sao. 

Gần mười giờ đêm trời vẫn còn sáng bưng. Dù sao tiệc cũng đã tàn, tôi xin phép được chia tay các bạn. Vợ chồng Yến ẵm cháu Hương Giang lên xe bus theo tôi ra bến cảng. Tôi vào cổng đi được một đỗi xa, ngoái lại thấy hai người vẫn còn đứng vẫy tay chào.

(*) Sau nầy tình cờ tôi đọc bài thơ trên đăng trong phụ trang của báo Đất Nước, nhưng tôi không nhớ tên người sáng tác. Thành thật xin lỗi tác giả và mong được biết tin để sau nầy ghi lại  cho được rõ ràng.