Thép đen – Quyển III

Đặng Chì Bình

Post by Sơn râu 23 Oct 2023

Một mảnh đời của nữ sĩ Thụy An

Đặng Chí Bình

Bài 37

Trời càng ngày càng nóng, chẳng biết ngày tháng Âm lịch hôm nay là bao nhiêu. Ngày mai toàn trại đã vào đợi học tập dài ngày rồi, nghĩa là đã đầu tháng 9 Dương lịch. Nếu chẳng đầu Thu thì cũng cuối Hè rồi vậy mà sao trời còn nóng đổ mỡ suốt ngày đêm. Cái nóng khủng khiếp, suốt đêm như trong lò đốt không ngủ được.

Cái nóng nung người nóng nóng ghê!

Hàng đêm, với một chiếc quần đùi rách, tôi lăn xuống nền đất, chui mãi vào gầm sàn; mặc cho mồ hôi đất cát bẩn dơ, để tìm được một chút hơi ẩm của đất. Hàng 120 người nhét trong một căn buồng mà trước đây 100 người đã chật. Ban ngày còn cái nạn nước để tắm rửa mới tái tê. Toán nào cũng khẩn trương làm công việc cho hoàn tất, để cán bộ cho về trại sớm mươi mười lăm phút, để tranh thủ còn it nước trong mà tắm rữa. Vì thế toán nào cũng vậy, từ lao động ở ngoài đồng cũng như trong khu thủ công. Ai bước chân vào khỏi cổng trại là chân chạy, tay cởi giải rút quần, (không phải cởi áo, mùa Hè hầu hết tù ở trần) chưa vào tới giếng thì đã tụt xong quần.

Hằng trăm người, già trẻ trần truồng vây quanh cái giếng nhưng chỉ có khoảng hai chục cái gầu (gầu gỗ, tôn, nứa). Người có gầu thì múc dội xối xả. Người không gầu thì chui đại vào dưới hàng, kẽ nách để hứng lại ít nước thừa vào đầu óc, cơ thể cho đỡ nóng và cái nhờn của mồ hôi. Vậy mà chỉ vài chục phút là nước giếng đã đục ngầu rồi cạn dần cho tới đáy. Nước dù đục, lẫn bùn vẫn còn mát và vẫn còn đỡ hôi hám hơn mùi mồ hôi. Những ngày đầu thực ngượng ngùng, tôi không dám cởi quần ra, nhưng bị khó khăn trở ngại rất nhiều, như vướng vít, không sạch, thay quần, giặt quần v.v… Thôi thì nhập gia tùy tục, bởi vậy tôi cũng đành tô hô và cứ nhìn nhau mà cười. Toán nào về muộn, hay chậm chân thì chỉ còn nước đục; đôi khi không còn nước, đành tối về buồng ngồi tắm cạn. Nghĩa là ngồi vo ghét khắp mình, cổ, thành từng cục như hòn bi con rồi búng ném tứ tung khắp buồng.

Sáng hôm nay, một buổi sáng gió rừng thật lộng. Cụm nứa già phía cuối hội trường ngả nghiêng, có lúc như cúi rạp, sát xuống để thầm thì, tâm sự với chiếc mái nứa của hội trường. Những chiếc lá con thon dài, nhọn hoắt ríu rít khua vào nhau thành những tiếng xào xạc như nhắc nhở mọi người: hôm nay khai giảng lớp học tập, chỉ một tí nữa thôi sẽ có một tổ nữ tù ngoài trại nữ cùng vào dự chung lớp học hôm nay.

Thực ra cái nguồn tin tươi sáng này chẳng biết từ đâu rỉ vào, anh em đã bàn tán xôn xao từ mấy hôm nay rồi. Vì thế sáng hôm nay hầu hết những thanh niên, kể cả những chủng sinh và những người còn tre trẻ đều mặc những bộ quần áo đẹp và sạch nhất. Mặt mũi, đầu tóc được làm kỹ hơn mọi ngày. Dù ai cũng tỏ với mọi người khác là mình sạch sẽ để tôn trọng lớp học mà thôi. Buồn cười nhất là anh chàng Hoàng Đức Tùng, chừng khoảng 27 hay 28 tuổi. Nghe đâu anh này cũng ở Thái Lan về nước như Trần Lào hay Trần Thanh Tùng trong nhóm chuyển từ trại Vĩnh Tiến về. Tùng có cái áo sơ mi ca rô màu xanh nhạt bằng ny lông với chiếc quần tergal màu cà phê sữa. Tuy có mấy dấu cải tạo, hắc ín to tướng đóng phía trước và đàng sau, nhưng nó vẫn nổi bật màu riêng biệt giữa đám quần áo màu xám đậm của trại. Đầu Tùng chải kiểu đít vịt bóng loáng, kết hợp với đôi xăng đan da màu nâu, kiểu hai quai chéo. Rõ ràng đúng dáng dấp của một anh công tử nông thôn ra thành phố. Ngay từ sáng sớm, Tùng cứ hết vào buồng lại trở ra, rồi đi xuống giếng lại lên phía đầu hội trường, trước những con mắt ngẩn ngơ, trầm trồ của những người…dân tộc.

Hôm nay tôi cũng có nét xốn xang đợi chờ. Đây là một lớp học chính trị vì thế tôi tin những người tù nữ vào dự lớp học này đều phải là chính trị. Hơn nữa, hôm qua Lê Sơn đã nói, trong đám này có cả nữ sĩ Thụy An.

Như đã trình bầy trước đây, tôi chưa bao giờ trông thấy bà. Khi còn ở trong Nam, tôi theo dõi đọc thiên phóng sự “Bên kia bức màn sắt” của nhà văn Hoàng Hải Thủy đăng trên nhật báo Tự Do; có nói sơ đến cuộc đời hoạt động cũng như tình cảm của nữ sĩ Thụy An với Đỗ Đình Đạo và Hoàng Quốc Việt v.v… Cho tới khi tôi ra Hà Nội bị bắt; khi chuyển đến buồng số 12 ở xà lim I, tôi đã thấy giòng chữ viết trên tường của bà, nói đã chọc mù một mắt. Không ngờ, hôm nay tôi lại có thể gặp để nhìn thấy con người của bà cụ thể mà từ lâu tôi vẫn hằng ngưỡng mộ.

Chẳng phải chờ lâu, khoảng 8:30, một đám cán bộ nam, trong đó có một cán bộ nữ hãy còn trẻ chỉ chừng tuổi đôi mươi tiến vào. Chính vì cùng đi chung với một cán bộ nữ mà đám cán bộ nam cười nói vui như Tết; trong đó có cả tên Đức thiếu úy trưởng ban giáo dục. Tiếp theo đám cán bộ là một đoàn tù nữ chừng 14 – 15 người. Đa số còn trẻ, dù vậy cũng phải từ hai mươi mấy tuổi trở lên. Có mấy người già khoảng 60 hoặc 60 ngoài. Người thì vấn khăn, người thì cặp tóc, hầu hết đều ăn mặc quần áo trại màu xám nhạt.

Khi đoàn tù nữ đi qua sân để vào hội trường, có nhiều tiếng chào hỏi với anh em trong trại, chứng tỏ họ đã quen biết nhau từ trước. Ngay từ sáng, vì tôi nóng lòng muốn biết mặt nữ sĩ Thụy An nên tôi đã rủ Lê Sơn lên chỗ cuối hội trường đứng chờ. Thực ra lúc này, chẳng phải chỉ có một mình Lê Sơn biết bà Thụy An mà có rất nhiều người đang chỉ, chỏ kia là bà Thụy An.

Trước đây đọc sách báo, biết về bà, trong óc tôi đã tự vẽ lên một hình ảnh tưởng tượng của nữ sĩ. Rồi cứ thế nó cứ nằm dài theo năm tháng trong lòng tôi. Bây giờ nhìn thấy bà, tôi đã bàng hoàng ngẩn ngơ đến độ đờ đẫn. Một bà chừng 45 đến 50 tuổi (1968) tuy tóc chưa bạc nhưng đã khô cằn, đỏ quạch. Da mặt bà trắng xám, nhăn nhúm thành nhiều vết hằn nhỏ con chạy túa về hốc chiếc mắt chột, hoắm sâu vào như một cái lỗ. Mấy chiếc răng cửa hàm trên, chẳng biết do bà hút thuốc hay ăn trầu, cáu xỉn lại, giồ hẳn ra ngoài môi, chĩa ra hai bên. Chiếc lưng hơi còng còng ra phía trước đã nói lên nó đã phải gánh quá nặng những nỗi truân chuyên thương đau của đời người chủ nó. Vì chỉ còn một mắt nên đầu bà thường phải nghiêng bên này, nghiêng bên kia. Thỉnh thoảng bà mỉm cười để đáp lễ những người quen.

Tôi hiểu rằng, sau buổi khai giảng lên lớp này, họ sẽ chia thành từng tổ học tập nên sẽ bị chỉ định chỗ ngồi mỗi khi vào hội trưởng. Ngay lúc này, để tranh thủ tiếp cận với bà tôi đã chen vượt qua mấy người để ngồi ngay sau lưng bà vì bà là người ngồi phía dưới cùng của tổ nữ.

Bây giờ thì chỉ cách bà 50 – 60 phân, tôi đã nhìn rõ từng sợi tóc của bà. Đầu bà đã có dăm mười sợi tóc trắng . Tôi ngồi phía sau cứ chằm chằm nhìn mãi tóc phai màu và đôi vai gầy của bà, trí óc tôi cứ rỉ dần vào giòng đời. Tôi không thể hình dung ra được ngày xưa, cái ngày ngập tròn hương sắc của đời bà đã làm cho biết bao người nghiêng ngả, nó như thế nào? Dù tôi hiểu rằng, tất cả mọi người, nếu mà không biết, sẽ đều phải trở về già. Tre già thì tre tốt, nhưng người già, mà lại buồn phiền nữa thì ôi thôi, phải gánh chịu mọi cái bẽ bàng, tủi hận của một đời người. Tôi vẫn không kìm hãm được tiếng thở dài nhè nhẹ xì ra:

Tuổi trẻ khô đi mặt xấu rồi!

Chết dần từng nấc thang mai một,

Chết cả mùa Xuân, chết cả đời.

Hội trường đầy ắp người. Nhiều tiếng ồn ào, rì rầm bàn tán, chuyện trò. Không khí mỗi lúc một oi nồng. Cả hội trường, chả ai nhắc nhở nhưng vẫn im bặt, khi một tên thượng sĩ cán bộ trong ban tuyên huấn của trại tiến đến chiếc micro giới thiệu ông chánh giám thị lên bục nói chuyện và khai mạc lớp học. Toàn thể mọi người tù đều phải đứng dậy, khi tên Toán thiếu tá giám thị trưởng trại cải tạo trung ương số I, rời khỏi hàng ghế tiến vào bục nói chuyện. Người y to lớn, da dẻ hồng hào với mọi người đều phải thẳng đứng người chào y. Mặt tươi lên, miệng y nở một nụ cười thỏa mãn. Tay y vẫy vẫy ra hiệu bảo những tên tù ngồi xuống. Sơ lược nội dung y nói:

Do sự chiếu cố thương yêu của đảng; đứng đầu la Hồ chủ tịch kính yêu, chính phủ quyết định mở một lớp học tập chính trị dài ngày: “Lập công chuộc tội, chống Mỹ cứu nước” cho toàn thể những trại viên trên toàn miền Bắc. Riêng ban giám thị trại I đã không tiếc thời gian và công việc, tạo điều kiện cho trại viên học tập kết quả. Vậy toàn thể mọi trại viên hãy quyết tâm ra sức học tập cho thật tốt để gặt hái những thành quả tiến bộ cho riêng mình và cũng là thể hiện lòng biết ơn ban giám thị và nhà nước…..

Tôi liếc nhìn toàn bộ các toán đang hướng mặt lên phía tên Toán nói chuyện. Tôi đưa mắt nhìn hàng ghế các tên cán bộ đang ngồi trên khán đài. Năm sáu tên lúc nhúc trong đó có cả Hoàng Thanh, đặc biệt không thấy tên Nguyễn Chuân.

Lòng tôi còn bồng bềnh, lãng đãng vì tôi chưa hiểu mục đích chủ trương của chúng muốn cái gì trong lớp học này. Tuy tôi vẫn biết ngoài những đòi hỏi dụng ý riêng của từng lớp học, chúng còn có một mục đích chung là thường xuyên không để cho trí óc người tù ngơi nghỉ. Mãi cho tới khi tên Mạch, trung úy trưởng ban tuyên huấn của trại I nói về nội dung lớp học tôi mới hiểu: lập công ở đây là mỗi người đều phải đào sâu suy nghĩ; vắt lòng vắt óc trong suốt quá trình của đời mình. Lúc soát từng không gian, từng thời gian xem đã nghe, thấy, biết bất cứ cá nhân hay một đảng phái tổ chức chính trị nào dù là bạn bè hay thân quen; còn ở ngoài xã hội hay đã vào tù; ở trong Nam hay ngoài Bắc, xét ra có hại cho cách mạng, cho nhà nước, đều phải viết tỉ mỉ, chi tiết trình bầy sáng tỏ v.v… với nhà nước.

Để làm loãng, làm mất cảnh giác mọi người về cái mục đích này của chúng, hàng ngày những buổi lên lớp rồi về thảo luận, chúng giảng về tinh thần bất khuất, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc qua các thời đại. Từ bà Trưng, bà Triệu cho đến thời đại Hồ Chí Minh.

Về kinh tế, chúng khích lệ, khêu gợi nào là Tổ Quốc giang sơn gấm vóc giầu đẹp, tiền rừng bạc bể. Chúng vẽ ra một bức tranh huy hoàng đầy tươi sáng của ngày mai khi quân và dân cả nước tiêu diệt xong Mỹ và tay sai ở miền Nam v.v…

Đã mấy lần, trong những giờ giải lao (15 phút) giữa hai buổi lên lớp, tôi đã định xông bừa đến chỗ bà Thụy An để làm quen và thăm hỏi. Nhưng tôi cứ thập thò ngập ngừng mãi chỉ vì có bao nhiêu người cứ xâu xâu vây quanh đám đàn bà con gái. Mà tính tình của tôi ở những giai đoạn ấy còn rất nhiều lẩm cẩm. Tôi thập thò là chủ trương muốn đến nói chuyện với nữ sĩ Thụy An, nhưng mấy cô gái đang được mấy cậu vây quanh chuyện trò có thể tưởng tôi cũng ngất ngây muốn đến với các cô, là điều mà tôi kỵ, chúa ghét. Khi thấy một cô gái có nhiều cậu trai quấn quít thì tôi tránh xa, không bao giờ tôi lại xông vào cũng săn đón chuyện trò chung với họ. Điều này chẳng hiểu sao tôi lại kỳ cục như vậy.

Do cái tính kỳ cục một cây ấy mà mãi chiều ngày hôm sau tôi mới có dịp nói chuyện với bà Thụy An. Lúc đó vừa mãn một giờ giảng bài, thấy bà vội vàng đi một mình xuống phía giếng, tôi lẹ làng lách đám đông chạy theo. Khi đi ngang qua, hơi hồi hộp và ngường ngượng vì tôi chưa biết gọi là bà hay là chị, nên đành phải nói trống không, không có chủ từ. Tôi nghiêng đầu chào rồi nói một hồi:

– Xin chào, tôi ở trong Nam ra Hà Nội hoạt động tình báo, bị bắt vào Hỏa Lò. Tại xà lim I, khi bị giam ở buồng 12, tôi thấy chữ viết trên tường của…ở gần chỗ cái cùm.

Bà Thụy An ngừng hẳn lại, hơi ngạc nhiên nhưng rồi có lẽ bà đã nhìn thấy thái độ lúng túng của tôi nên bà cười, vồn vã hỏi lại:

– Cậu còn đọc được cơ à, thế cậu lên trại lâu chưa?

Thấy gọi tôi bằng cậu và sự ân cần tự nhiên của bà, phần khác, tôi thường chỉ lấn cấn lúc đầu, bởi vậy tôi cũng niềm nở tỏ ân tình:

– Chị có khỏe không?

Chị hơi ngập ngừng rồi trả lời:

– Khỏe!

Tôi hiểu cái ngập ngừng của chị là chị không được khỏe, nhưng để cho qua nên chỉ đã trả lời như vậy. Sau khi chị nói “khỏe” xong, mặt chị tươi lên rồi nói như thân tình:

– Chờ một chút nhé, tối ra mình sẽ nói chuyện tiếp.

Đột nhiên chị cúi sát gần vào tôi hạ giọng:

– Cậu tên gì?

– Bình ạ!

Chị vừa gật nhẹ đầu vừa tất tả bước lên thêm để vào buồng y tá. Quý Cụt đi ngang qua tôi miệng cười cười:

– Quen đấy ư?

Tôi chỉ gật đầu để trả lời Quý vì một ý nghĩ khác đã xộc vào óc tôi. Trông mặt chị ấy như vậy mà lại đã từng giết người hay sao? Bởi thế tôi có ý định cứ hỏi thẳng xem chị trả lời thế nào. Tôi cũng biết làm gì có điều kiện để nói chuyện với chị nhiều. Vừa lúc đó tiếng còi ở phía hội trường đã ré lên như thúc giục mọi người vào lớp nghe giảng bài tiếp vì giờ giải lao đã hết.

Chị từ trong phòng y tá hấp tấp bước xuống sân đi nhanh về phía tôi. Chị khẽ đập tay vào vai tôi ra ý cùng chị đi vào lớp. Thái độ cởi mở như chị đã quen tôi lâu ngày càng làm tôi mạnh bạo thực hiện ý định lúc nãy khi cùng chị đi đến giữa sân:

– Xin lỗi chị, chẳng có điều kiện gặp được chị lâu. Có phải chính chị đã đánh thuốc độc giết ông Đỗ Đình Đạo?

Đang bước những bước dài, đột nhiên chị ngừng hẳn lại, quay sang nhìn tôi. Mắt mở to trán chị cau lại như ngạc nhiên, như dò xét rồi mặt chị như dãn ra, mềm hẳn lại:

– Không phải đâu, câu chuyện dài lắm. Có dịp tôi sẽ nói cho cậu nghe.

Chị vừa lắc đầu vừa trả lời, cũng là lúc cả chị và tôi đã chìm lẩn vào đám đầy người ở hội trường. Lớp học trong một tuần lễ, cứ hết lên lớp nghe giảng lại về tổ sinh hoạt, thảo luận, thu lượm rồi lại lên lớp. Tổ học tập phân chia không tùy thuộc theo toán, mà theo toàn trại. Vì vậy mỗi tổ từ 15 đến 20 người gồm người của nhiều toán khác nhau. Mỗi tổ học tập có một cán bộ đi sát phụ trách. Tôi ở tổ 4, cán bộ phụ trách tên là Hoàng. Y chỉ định cho anh Phán thuộc toán 7 làm tổ trưởng, còn tôi là thư ký ghi chép biên bản sinh hoạt. Tổ tôi 19 người mà chỉ có 4 người thuộc toán 2 là Nguyễn Văn Gôm, Lò Văn Lui, Nguyễn Thanh Đương và tôi.

Trong đợt học tập này, tôi nhớ nhất một chuyện ở ngay trong tổ của tôi. Sáng hôm đó, trên lớp giảng ở hội trường, chủ đề sinh hoạt là: “Cuộc kháng chiến thần thánh oai hùng của vị anh hùng Lê Lợi đất Lam Sơn đã kiên trì, chiến đấu gian khổ trong 10 năm. Cuối cùng đã đuổi được giặc Minh ra ngoài bờ cõi. Người góp công sức nhiều nhất và cũng đầy tài ba mưu lược nhất của cuộc kháng chiến đó là Nguyễn Trãi”.

Tên Mạch trung úy trưởng ban tuyên huấn cứ thao thao bất tuyệt trên bục giàng: nào là Nguyễn Trãi trong giai cấp nông dân. Một giai cấp đồng chí của giai cấp công nhân sau này của đảng. Nào, tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trãi, cứ như là của một người Cộng Sản thời bấy giờ. Mọi người nghe, thấy ngứa cả tai. Vì vậy khi đến phần thắc mắc về bài giảng; chỗ nào học viên chưa hiểu, hoặc chưa sáng tỏ cứ việc hỏi. Nguyễn Thanh Đương một tu sĩ ở trại Vĩnh Tiến mới chuyển về, giơ tay xin hỏi. Tên Mạch, mắt sáng lên, mặt hớn hở ra hiệu tay cho anh Đương đứng lên phát biểu..

Nguyễn Thanh Đương, dáng người lùn thấp. Tôi nhớ anh nhất vì phía đuôi hai con mắt của anh có nhiều tia ngoằn ngoèo đỏ như máu. Chả hiểu đó là do bệnh đau mắt của anh hay từ khi bẩm sinh? Anh phát biểu rất từ tốn, nằng nặng giọng Nghệ An:

– Thưa ông, theo tôi hai ông Nguyễn Trãi và Lê Lợi rất phong kiến. Đi đến đâu cũng kẻ hấu người hạ, thường ngồi trên ngai, trên kiệu. Tư tưởng thống trị và bóc lột đã thể hiện ra cách sống. Bởi vậy, nếu hai ông ấy sống lại bây giờ, chắc chắn đảng ta sẽ cho hai ông đi cải tạo mút mùa.

Ai nghe cũng tươi mặt lên và buồn cười, nhưng chỉ có vài người cười thành tiếng. Trên bục nói chuyện, tên Mạch xạm hẳn mặt lại, sượng sùng một lúc rồi y nói ngập ngừng:

– Nguyễn Trải và Lê Lợi là hai vị anh hùng của dân tộc, làm sao lại cho đi cải tạo?

Nói đến đây tự nhiên mặt y đanh lại, mắt quắc lên chỉ tay vào anh Đương:

– Vì máu anh là máu phản động, nên mới hỏi bậy bạ như vậy. Về tổ học tập, mọi người trong tổ phải giải phẫu thật kỹ càng tư tưởng phản động ấy.

Rồi để khỏa lấp cái không khí nặng nề đã đọng lại từ khi có câu hỏi của anh Đương, y khỏa tay hỏi nhanh: “Còn ai thắc mắc điều gì khác?” Sau đó y chuyển sang mục thi đua học tập. Chắc tên cán bộ Hoàng phụ trách tổ tôi có chỉ thị đặc biệt, nên y đã bắt tổ sinh hoạt kiểm điểm về chuyện anh Đương mãi tận lúc kẻng lấy cơm mới thôi, trong khi hầu hết các tổ khác đã nghĩ trước đấy gần một giờ rồi. Chưa xong, sau một tuần lên lớp. Đến giai đoạn cá nhân ngồi viết tường thuật cuộc đời, anh Đương lại phải vào nhà kỷ luật. Anh mới ra khỏi kỷ luật hơn nửa tháng trước vì chuyện giật tượng ảnh của Hoàng Thanh.

Về chuyện của chị Thụy An những ngày sau đó, tuy có mấy lần gặp lại chị nhưng chỉ cười hoặc gật đầu chào nhau chứ chưa có dịp nào để tôi nghe tiếp câu chuyện của chị.

Sau một tuần lễ lên lớp nghe giảng và thảo luận, đến phần viết tường thuật cuộc đời của mỗi người. Một tuần sau nữa, tổ nữ lại vào trại E để dự buổi lễ bế mạc của lớp học. Người nào viết xong thì nộp cho cán bộ phụ trách rồi tiếp tục đi lao động. Người nào chưa viết xong thì cứ tiếp tục. Cán bộ đã nhắc nhở rõ ràng: “Viết tỉ mỉ chi tiết, khẩn trương nhưng không hạn chế thời gian”.

Hơn một tuần lễ sau, số người viết xong đến 90 phần trăm, vì thế lớp học đã coi như bế mạc. Chính cái buổi bế mạc lớp học này tôi gặp lại chị Thụy An một lần nữa. Cũng vào giờ giải lao, tôi đang ngồi nói chuyện với Nguyễn Văn Gôm ở hàng ghế phía cuối hội trường, thì chị Thụy An đã đến với tôi. Tay chị đang cầm một tập giấy dầy đã viết rồi. Có thể đấy là bản viết tường thuật cuộc đời của chị, cũng có thể là bản thâu hoạch ghi chép những ý tưởng của cán bộ giảng. Bởi vì ngay từ hôm nọ, tôi đã hiểu chị là tổ trưởng của tổ nữ duy nhất ấy. Tôi và nhiều anh em khác đã trầm trồ bán tán nhìn chị ngồi ghi những ý của cán bộ trên bục giảng. Tay chị thoăn thoắt ghi chép như máy. Tôi có cảm tưởng như chị viết tốc ký.

Sau khi tôi và Gôm vồn vã chào chị, chị ngồi ngay xuống chiếc ghế dài bên cạnh, đặt tập giấy trên đùi, chị vừa cười vừa hỏi tôi:

– Thế cậu Bình ra Bắc từ bao giờ và bị bắt lâu chưa?

– Tôi ra năm 1962, gần một tháng sau thì bị bắt vào Hỏa Lò.

Tôi trả lời chị như vậy, vì Gôm cũng đã biết. Chị nhìn tôi mắt chị loáng lên một chút tiếc nuối:

– Bị bắt sớm quá!

Do hoàn cảnh và thời gian hạn chế, tôi hơi gật đầu như đồng ý với chị. Tôi nghĩ chả cần thanh minh, thanh nga lôi thôi; nhưng Gôm lại bật lên, tỏ ra như một người bạn thân của tôi:

– Công tác của Bình ngắn hạn có 25 ngày thôi mà.

Nỗi băn khoăn của chị như được vơi hẳn, chị quay sang Gôm đon đả:

– Thế còn cậu?

Gôm thì mồm mép một cây nên cũng vồn vã xưng với chị là em:

– Em ở Hà Nội.

Sau khi biết Gôm ở số 42 Khâm Thiên, chị Thụy An lại hỏi Gôm về một người ở Hà Nội mà Gôm cũng biết. Mắt tôi cứ nhìn vào tập giấy chị đang để trên đùi. Mục đích muốn nhìn nét chữ của chị, nhưng tôi lại thấy một góc trang giấy phần ghi lý lịch:

Lưu Thị Yến, thôn Hòa Xá, tổng Thái Bình, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Óc tôi vẩn vơ thấy chiều hướng không thể nói chuyện được với chị lâu nữa, phần nữa tôi có nghĩ đâu rằng, có một ngày tôi sẽ phải ngồi viết về chị. Cho nên lẽ ra tôi phải hỏi ngay chị một số chi tiết cần thiết, tôi lại lửng lơ hững hờ buông trôi theo sự việc.

Để rồi mãi gần ba năm sau, tôi đã được chuyển về trại chính (trại xây), thời gian ấy tôi ở toán làm nhà. Một lần toán tôi phải dựng một chòi gác phía sau trại nữ, tôi thoáng thấy một bà già chít khăn vuông thâm, khòm lưng đang đưa dài mái chổi quét con đường đi phía sau trại. Khi bà ta ngẩng đầu lên, tôi đã bàng hoàng đến thộn người ra; không ngờ đó lại là chị Thụy An. Người chị gầy đi, bé nhỏ hẳn lại.

Nhìn thấy tôi chị mừng rộ ra nét mặt. Chị thăm hỏi tôi ríu rít như người thân lâu ngày mới gặp lại. Vì sợ lão cán bộ của toán tôi biết, cho nên sau những câu thăm hỏi về sức khỏe, tôi chỉ biết chị được ra làm tự giác hơn một năm nay. Do tù lâu, và do tuổi già sức yếu nên giám thị trại cho chị hàng ngày đi lao động tự giác (không có cán bộ dẫn giải). Phần việc là làm vệ sinh quét dọn ở trong trại cũng như những khu vực bên ngoài trại.

Chừng hơn nửa giờ sau, trong lúc tôi còn đang mải mê lao động với toán, thừa một lúc tên cán bộ toán không có ở đấy, chị đã lén đưa cho tôi hơn 1 kg sắn đã luộc rồi. Và đấy là lần cuối cùng tôi nhìn thấy chị cho tới bây giờ. Vào đầu năm 1976. Lúc tôi đang ở trại tù Phong Quang, trại trung ương số II, nằm trong tỉnh Yên Bái. Trong một lần nói chuyện vui với anh Kiều Duy Vĩnh, anh cho biết loáng thoáng: nghe đâu, cuối năm 1973, chị Thụy An bị bệnh nặng, gần chết (không rõ bệnh gì) nên Cộng Sản đã thả chị về Hà Nội. Không hiểu từ đấy, cuộc đời chị rồi ra sao? Sau nhiều những năm, tháng nổi trôi trong tù, tôi không hề còn nghe ai nhắc về chị nữa.

Tóm lại, sau đợt học tập “Lập công chuộc tội, chống Mỹ cứu nước”. qua Nguyễn Văn Gôm và bác Lẫm tôi chỉ được biết sơ một chút về cuộc đời của bà Thụy An như sau:

Bà là con gái ông thủ quỹ họ Lưu. Người ta thường gọi là ông Quỹ Lưu ở Hà Đông. Bà nói tiếng Pháp rất rành, thường giao du với những đặc phái viên của hãng thông tấn xã Pháp (A.F.P.). Không những bà viết sách báo, mà còn đôi khi bán tin tức cho các nhật báo Việt ngữ ở Hà Nội nữa. Bởi thế có dư luận bà là người thân Pháp mới có những tin tức đặc biệt như vậy. Hơn nữa, bà lại rất hăng say, năng nổ về lãnh vực chính trị nên cũng có tiếng vang trong nữ giới ở Hà Thành.

Khoảng cuối 1946, cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Dần dà Pháp dùng Đỗ Đình Đạo, một yếu nhân kỳ cựu của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông Đạo được Pháp giao trách nhiệm thành lập hai tiểu đoàn khinh quân tự trị do Pháp võ trang hoàn bị, gọi là quan thứ lưu động. Mục đích để bình định, mở rộng vòng đai thuộc vùng quốc gia và quấy phá Việt Minh. Tất nhiên cả về tài chính cũng như những phương tiện khác cho hai tiểu đoàn đều do Pháp đài thọ. Đỗ Đình Đạo lại không khá tiếng Pháp vì vậy Pháp đã gài bà Thụy An vào làm chánh văn phòng để giao dịch bằng văn thư với Pháp hoặc thông dịch trong những khi giữa Pháp và Đạo cần đàm thoại.

Đại bản doanh của hai tiểu đoàn khinh quân thuộc thứ lưu động kể trên đóng căn cứ tại Ngã Tư Sở, ranh giới giữa Hà Nội và Hà Đông. Dư luận của chính giới cũng như của Hà Nội bấy giờ đều cho rằng: do điều kiện và cảnh sống tiếp cận như vậy đã tạo lên một mối tình luyến ái giữa hai người. Vả lại họ thường thấy hai người đi đôi như một cặp bài trùng. Nhất là lúc này, mỗi khi bà viết báo hay truyện lại thường lấy bút hiệu là Thụy An Hoàng Dân. Mà Hoàng Dân lại là bí danh của Đỗ Đình Đạo.

Mỗi tháng Pháp phải trả lương cho hai tiểu đoàn này số tiền 350.000 đồng tiền bấy giờ. Vào đầu năm 1954, lúc này tình hình chiến sự rất căng thẳng ở khắp nơi thuộc 3 nước Việt + Miên + Lào, mà gay go nhất là trận chiến Điện Biên Phủ. Một lần vào cuối tháng cũng như mọi khi, buổi chiều Đỗ Đình Đạo đánh xe đi Hà Nội nhận tiền về, để phát lương cho binh lính dưới quyền. Nhưng sáng hôm sau, người lính cận vệ không thấy Đỗ Đình Đạo ở đại bản doanh cũng như ở văn phòng làm việc tại nhà. Anh ta vào gõ cửa buồng ngủ cũng không có tiếng trả lời. Anh đi kêu mấy người đồng đội phá cửa vào phòng thì thấy Đỗ Đình Đạo chỉ còn là cái xác không hồn, nằm cứng đơ ở cạnh tủ áo. Còn Thụy An là chánh văn phòng thì mất tích. Sau hai ngày im lặng để nhà chức trách điều tra, báo chí Hà Nội đã tung tin rùm beng: “Đỗ Đình Đạo bị chết vì thuốc độc. Dư luận kết tội Thụy An đã đầu độc Đỗ Đình Đạo.” Sau đấy hai tiểu đoàn khinh quân trở thành địa phương quân thuộc tỉnh Hà Đông.

Theo dư luận báo chí thời gian ấy, chả hiểu là đúng hay sai: Thụy Anh ẵm số tiền kếch xù về quê thuộc vùng kiểm soát của Việt Minh, đem dâng nộp cho ủy ban hành chính kháng chiến huyện Ứng Hòa để lập công chuộc tội. Nhưng nghe đâu Việt Minh không tin, chúng đặt vấn đề đây là do Pháp làm mồi để cài Thụy An vào hàng ngũ kháng chiến; cho nên tiền thì chúng lấy, còn người thì chúng giam để khai thác.

Sau hội nghị Genève về Đông Dương, chúng đem bà về quản chế tại địa phương. Nhưng vào đầu năm 1958, bà bị bắt lại trong chiến dịch Cộng Sản đánh phá văn nghệ sĩ miền Bắc xuyên qua phong trào “Nhân văn giai phẩm” đã gián tiếp phản đối sự lãnh đạo văn hóa tuyệt đối của đảng. Lợi dụng dịp “Trăm hoa đua nở” này, bà cũng viết mấy bài báo đăng trên tuần báo Văn tỏ ý gián tiếp chống đối lề lối văn nghệ chỉ huy của đảng. Lần này chúng bắt bà với tội danh: phản tuyên truyền và làm gián điệp cho CIA Mỹ. Khi khai thác cung bà ở Hỏa Lò, chúng cứ gán ghép, truy hỏi: những mạng lưới tình báo thuộc phòng nhì của Pháp ở miền Bắc, bây giờ đã được chuyển sang cho tình báo Mỹ.

Tôi ngồi nghe bác Lẫm kể về chị Thụy An, nhưng lòng vẫn bán tin, bán nghi chưa hiểu đâu là sự thật của vấn đề, bởi vì dư luận có phải bao giờ cũng chính xác đâu.

Ngọn đèn trước bão!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 22 Oct 2023

Thủ tướng Đức Angela Merkel.

Barack Obama, năm cuối cùng làm Tổng thống Mỹ, sắp về nhà chăn vịt nên nhân cơ hội còn được đi du lịch… hỏng tốn tiền; bèn đi thăm thú các nước xưa là cựu thù như CS Việt Nam và CS Cu Ba nhưng nay nghe hơi đồng đô la là tụi nó đổi thù đi làm đệ tử Mỹ.

Obama đi ăn bún chả ở Hà Nội rồi lại bay vô Sài Gòn, đất chánh tông của người Việt lưu dân … để đi thăm chùa Tàu gần chợ Đa Kao (?!)

Sau đó còn bay qua Cu Ba để coi Fidel Castro, con khủng long thời tiền sử còn sót lại của mồ ma chủ nghĩa CS đã chết thiệt, chết tiệt hay chưa?

Obama cũng bay đi Châu Âu từ giã bạn bè các nước đồng minh cật ruột đã từng ăn nhậu, vui tưng bừng, vui hết biết với nhau!

Một trong những người bạn thân thiết đó là Thủ tướng Đức Angela Merkel.

Merkel đã làm Thủ tướng 12 năm trời dài đăng đẳng, mệt mỏi ở chính trường, tính theo chân Obama về quê cắm câu cho nó phẻ!

Cũng như, John Key, làm Thủ tướng New Zealand từ năm 2008, tự dưng nghỉ không chịu làm Thủ tướng nữa  từ ngày 12, tháng Chạp, năm 2016 chắc để kịp về nhà ăn lễ Giáng Sinh với má bầy trẻ; dù ông cũng còn trẻ chán; mới có 56 tuổi hè!

“Biết cái gì thì cống hiến hết cho nhân dân hết rồi; thôi tui về vườn cho sấp nhỏ tấn lên; biết bao đứa còn tài giỏi hơn mình!”

Còn hơn biết bao đứa cố đấm đá để leo lên được cái ghế chóp bu, rồi bắt vít vô đít mình, ngồi hoài hè không chịu xuống.

Như Vladimir Putin, leo lên Tổng thống Nga rồi tuột xuống Thủ tướng. Tuột xuống rồi lại leo lên.

Như Hunsen của xứ Chùa tháp Campuchia quyết ngồi tới tận năm 90 tuổi. Mà năm nay thằng chả mới 65 tuổi hè.

Mấy đứa còn sót máu CS trong người là vậy không!

Bữa tiệc tối Angela Merkel tiễn hành Obama về vẽ chưn mày cho vợ kéo dài suốt 3 tiếng đồng hồ. “Tôi không biết Barack Obama, làm Tổng thống Mỹ suốt 8 năm trời, có bao giờ ngồi nói chuyện với một người khác phái lâu đến thế hay không… ngoại trừ em yêu Michelle của ổng!”

Barack Obama đã thuyết phục Angela Merkel ra tái tranh cử nhiệm kỳ thứ tư vào ngày 24, tháng Chín, năm 2017! Kẻo công sức chúng ta xây dựng thế giới dân chủ được như ngày nay Donald Trump sẽ đem đổ sông đổ biển hết!

Vì Trump sẽ tự nhốt mình trong bốn bức tường; đưa nước Mỹ trở lại thời đồ đá, bế quan tỏa cảng, trời tối là rút vô hang;  Putin sẽ lợi dụng cơ hội nầy mà làm ‘sảng’, múa gậy vườn hoang!

Angela Dorothea Merkel sinh tại Hamburg, Đức, ngày 17, tháng Bảy, năm 1954. Năm nay mới được 63 cái xuân xanh!

Tên cúng cơm là: Angela Dorothea Kasner, lớn lên ở vùng quê, chỉ 80 km về phía bắc Berlin, (Đông Đức).

Năm 1986, khi thăm thân nhân ở Hamburg, (Tây Đức) Merkel đã từng muốn trốn ở lại nhưng vì cha mẹ còn kẹt ở Đông Đức đành phải trở về.

Merkel từng uống một lon bia mừng bức tường Berlin sụp đổ năm 1989. Nước Đức thống nhứt trong hòa bình.

(Chớ không giống như CS Bắc Việt thống nhứt Việt Nam bằng AK của Nga và pháo 122 ly của Trung Cộng!)

Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ Vật lý, Angela Dorothea Kasner được Mật vụ Stasi của Cộng sản Đông Đức tuyển mộ nhưng bị Merkel nói ‘no way’!

Sau nầy, đi thăm nhà tù Hohenschoenhausen, nơi Mật vụ Stasi bí mật giam người, Thủ tướng Angela Merkel lên án chủ nghĩa cộng sản: “Đây là ví dụ cho thấy sự tàn bạo của CS, vi phạm nhân phẩm của con người”.

Cái nầy khác một trời một vực với Tổng thống Nga. Khi Mật vụ KGB của CS Liên Xô chiêu mộ là Putin gật liền, leo lên tới chức Trung tá tình báo.

Năm 1977, Angela Dorothea Kasner kết hôn với Ulrich Merkel một nhà vật lý, và theo họ Merkel của chồng.

Mấy ông anh mình nhiều chuyện, lại vô duyên, chê Angela Merkel làm Thủ tướng Đức mà xấu hoắc hè. Hổng chịu em về điểm phấn tô son lại. Ngạo với nhân gian một nụ cười!

“Nè nè! làm Thủ tướng, là đầy tớ phục vụ nhân dân Đức chớ bộ đi thi hoa hậu hay sao mà cần phải xí xọn vậy mấy cha”

Angela Merkel cũng nghe xì xào đó chớ nên nói: “Bất cứ ai thực sự có một điều gì đó để bộc lộ thì không cần đến sự trang điểm.”

Có bằng Tiến sĩ Vật lý (thiệt) là nặng ký lắm rồi nhưng Angela Merkel còn nói tiếng Anh và xổ tiếng Nga rốp rốp như bẻ mía!

Theo tạp chí Forbes, từ năm 2006 cho tới năm nay, Angela Merkel là Thủ tướng Đức, (trẻ tuổi nhất kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai), là người phụ nữ nhiều quyền lực nhất thế giới!

Năm 2015, Angela Merkel được tạp chí Time chọn là nhân vật của năm!

Năm 2017, Angela Merkel tiếp tục đắc cử Thủ tướng Đức lần thứ 4 vì Merkel đã giúp phục hồi nền kinh tế và làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.GDP 3, 3 ngàn tỷ USD, Đức là nền kinh tế lớn nhất châu Âu.

Hơn 90% người Đức cho biết khá hoặc rất hài lòng với cuộc sống hiện tại.

“Dân Đức tin tưởng bà ấy! Ngay cả những người không ủng hộ cũng không nghĩ rằng họ sẽ bị bà ấy phản bội, ném họ vào dưới gầm một chiếc xe buýt.” 

*** 

Trên bình diện thế giới, Thủ tướng Đức Angela Merkel là lãnh tụ của thế giới tự do! “Angela Merkel là người phụ nữ chúng ta cần, trong một thế giới của những người đàn ông nguy hiểm.”

Tại  Úc, Merkel nói chuyện tay đôi với Putin trong hội nghị thượng đỉnh G-20 ở Brisbane “Tại Âu Châu vẫn còn có những nước ỷ dựa vào thế lực của kẻ mạnh, và coi thường  luật pháp. Như việc Nga chiếm lấy Bán đảo Crimea của Ukraine là vi phạm luật quốc tế chẳng hạn.”

Nói như tát nước vào mặt! Chắc Merkel vẫn còn để bụng cái vụ Putin chơi khăm, mang một con chó bự xộn, đen thùi vào buổi hội kiến với Merkel tại Sochi vào năm 2007;  vì biết rằng bà nầy vốn sợ chó… cắn!

Sợ chó thì có sợ nhưng với các chế độ độc tài CS thì không!

Đối với Tàu cộng, dù Tập Cận Bình mặt nhăn mày nhó, làm áp lực; nhưng Angela Merkel vẫn thản nhiên tiếp kiến Đức Đạt-Lai Lạt Ma, lãnh tụ tinh thần lưu vong của Tây Tạng! (Không có nín khe, chạy xịt như Thủ tướng Úc đâu nhe!)

Rồi tại Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, mùng 8, tháng Bảy, năm 2014, Merkel nói với sinh viên rằng: “Luật pháp dùng để bảo vệ chớ không phải để trấn áp người  dân. Điều then chốt là phải có một xã hội tự do, cởi mở, đa nguyên để xây dựng một tương lai thành công tốt đẹp.”

Rồi tại Hungary, ngày mùng 2, tháng Hai, năm 2015, Merkel trong một cuộc họp báo đã thẳng thắn phê bình Thủ tướng Orbán Viktor:

“Trong thể chế dân chủ,phải tôn trọng vai trò của phe đối lập, của xã hội dân sự và tôn trọng tự do báo chí, tự do ngôn luận là hết sức quan trọng…

Nói thật,cá nhân tôi không biết phải làm sao khi nói tới một nền dân chủ mà người dân lại không được tự do!”

(Cái nầy là CS Việt Nam cũng nên kính cẩn lắng nghe chớ đừng có bốc phét là chế độ CS dân chủ gấp triệu lần chế độ tư bản nhe mấy cha!)

***

Merkel ủng hộ mối quan hệ mật thiết giữa Đức và Hoa Kỳ. Nhưng quan hệ của hai nước từng là đồng minh thân cận với nhau có vẻ giờ đây đang bị sứt mẻ ít nhiều!

Trong phòng Bầu dục Tòa Bạch ốc, trước những chiếc máy quay hình chớp lóe sè sè trước mặt, Trump đã từ chối bắt tay Merkel.

Donald Trump đưa ra khái niệm: “Nước Mỹ trước tiên”, đưa ra chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi xây tường, chắn cửa với người tị nạn; viện lý do chống khủng bố!

Donald Trump đã phê phán dữ dội Angela Merkel vì đã tiếp nhận gần 1 triệu người tị nạn, đa số là Hồi giáo từ các vùng bị chiến tranh tàn phá vào nước Đức.

“Dân Đức sẽ nổi loạn để lật đổ bà nầy. Tôi không biết bà ấy đang nghĩ ra cái quái quỷ gì?”

May mắn thay Donald Trump sờ mu rùa trật lất!

Lúc Donald Trump đánh bại Hillary Clinton thì những chánh trị gia mị dân cực hữu, theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cắc ké như  Pauline Hanson, đảng One Nation bên Úc nầy đây cũng nổ sâm banh ăn mừng.

Rồi bà đầm Marine Le Pen bên Tây nữa làm thiên hạ cũng hơi lo là: Angela Merkel tồn tại hết nhiệm kỳ nầy là hết mức.

Tuy vậy, giống như một ngọn đèn trước bão, Angela Merkel lại thắng cử nhiệm kỳ thứ tư liên tiếp; cho dù sau 56 năm, một đảng cực hữu lại lò mò tiến vào Quốc hội Đức, gợi nhớ cơn ác mộng kinh hoàng, một bóng ma thời Adoft Hitler!

Thủ tướng Đức, Made in Germany! Cũng bền như xe Mercedes vậy!

Dẫu đa số dân Đức không thích Donald Trump nhưng nước Đức không thể phớt lờ Tổng thống Mỹ cho được. Vì Đức và Mỹ bị ràng buộc bởi các giá trị chung: dân chủ, tự do, cũng như tôn trọng luật pháp và phẩm giá của mỗi người, bất kể nguồn gốc, màu da, tín ngưỡng và giới tính!

Mới ngồi trong Tòa Bạch ốc chưa giáp năm nhưng Trump đã chuẩn bị tranh cử nhiệm kỳ hai rồi.

Ngoài miệng, Donald Trump cự cãi nhưng trong bụng cũng muốn ngồi lâu trên đầu thiên hạ như Angela Merkel vậy nên: “Thủ tướng Merkel! Hãy dạy cho tui biết làm thế nào bà đã thành công trong vai trò lãnh đạo nước Đức ngần ấy năm?”

“À! Chẳng qua nhờ những người cộng sự trong nội các của tôi chọn đều là những người thông minh xuất chúng!”

“Hay quá! Nhưng làm thế nào để biết họ có thông minh hay không?”

“Muốn biết thì phải hỏi chớ! Chỉ cần vài câu là biết người đó khôn hay ngu rồi hè!” “Dạy cho tui vài câu hỏi đi!”

Merkel bèn nhắc điện thoại lên gọi Bộ trưởng Tài chính của mình là Wolfgang Schäuble: “Nó là con của bố ông nhưng không phải là anh em của ông; vậy nó là ai?”

Wolfgang Schäuble trả lời: “Dễ ợt. Nó là tui chớ là ai nữa vô đây hè!”

Về tới Hoa Kỳ, Donald Trump bèn gọi Phó Tổng thống Mike Pence vào triều kiến để trắc nghiệm trí thông minh.

“Nè Mike! Nó là con của bố ông nhưng không phải là anh em của ông; vậy nó là ai?”

Mike bí lù không biết trả lời sao đành câu giờ, hoãn binh: “Thưa Tổng thống! Tối nay về tui sẽ gác chân lên trán, rán tìm ra đáp án rồi trình cho Tổng thống vào sáng mai!”

Tối về, Mike Pence gọi cho Barack Obama đặt câu hỏi y hịt như vậy.

Obama cười khè khè, đáp: “Dễ ợt! Nó là tui chớ là ai nữa vô đây hè!”

Mike Pence hôm sau lò dò vào Tòa Bạch ốc, trả lời Donald Trump là:

“Thưa Tổng thống! Tui đã biết câu trả lời rồi: Nó là Barack Obama!”

Sau một phút im lặng, Donald Trump quạu lên: “Đồ ngu! Nó là Wolfgang Schäuble!”

Ngày mai bỏ rượu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 22 Oct 2023

Ông bà mình nói quả không sai: Nhàn cư vi bất thiện! Nói thiệt tình tui cũng không nhàn lắm đâu. Nghĩa là không phải ở không toàn thời mà còn đi làm toàn thời tuần 40 tiếng, dù đã đủ tuổi về hưu cũng khá lâu rồi.

Rồi cũng nghe mấy huynh trưởng giảng rằng: “Dân Úc bây giờ nhờ ăn uống đầy đủ phủ phê cộng với nền y học tân tiến nên tuổi thọ trung bình ai cũng trên 80 hết ráo!”

Mà 65 tuổi được quyền về nhà nằm chơi hè chớ không nằm chờ chết! Ông nào có ‘lan can’ chút đỉnh với cuộc đời lính tráng thì không cần tới 65 chỉ tới 60 là một mai một trúc một cần câu rồi cứ ăn tiền hưu trí mà sống tới 15, 20 năm nữa thì ai mà nuôi cho nổi?

Ngân sách nợ đầm đìa, mà dân số lại lão hóa, già chỉ cà nhỏng chống xâm lăng thì trước sau thì nước Úc cũng tuyên bố băng rấp (bankrupt) khánh tận cho mà coi.

Bộ trưởng Ngân Khố, Bộ trưởng Tài Chánh nằm gác chân lên  trán, rán mà kiếm cách thoát hiểm mưu sinh.

Vậy là cấm không cho công ty hãng xưởng thấy già mà bĩu môi chê rậm rề hết xí quách rồi không mướn.

Hai là tới tuổi hưu mà còn chịu cực khổ đi cày thì được giảm thuế một năm tới 5000 đô. Chánh phủ giữ đó chờ mấy ổng chánh thức về vườn 100% thì đưa lại cho mấy cụ ăn chơi rồi chết! Hết.

Tui nghe giảm thuế (tiền mình chứ ai vô nữa) đóng thuế ít lại là tui ham cày hè.

Phần con vợ tui cũng dạy bảo rằng: ‘Nghỉ làm một năm là anh xuống dốc đời cái rụp cho coi. Vì ở không đi vô đi ra, cãi lộn với vợ, riết đâm khùng còn mau chết hơn là đi làm nữa đó!”

Nghe lời em yêu nói tui lại tiếp tục cày. Nhưng cày hoài cũng bị xì trét (stress), áp lực công việc chớ.

(Đời tui hỏng có đủ thông minh để làm thầy đời ai hết, từ con vợ tới bạn bè đều khoái làm thầy đời tui; vì nói là tui nghe và làm theo răm rắp vậy)

Mấy thằng bạn nhậu tui dạy đời: Thấy ông cũng có khiếu hài hước, thôi viết văn viết báo đi. Một là có chút đỉnh tiền còm nhuận bút, hùn vô bàn nhậu; nhậu chực để tụi nó trả tiền hoài tụi nó buồn.

Hai là có bài đăng báo cũng có chút danh phận thì tụi nó chơi bời bù khú với tui sẽ được thơm lây!

Tưởng thiệt, tui bèn xả xì trét bằng viết văn gởi báo. Mà sáng tác, tức hư cấu, viết văn, viết báo là phải nói láo. Nói láo riết thành cố tật. Mà đã là tật, không phải bịnh, rồi thì khỏi chữa.

Rồi nói láo ngay cả trên bàn nhậu, đặt chuyện cho vui thôi chớ chuyện thiệt đã nói hết ráo rồi còn chuyện gì mới đâu để nói?

Bà xã của thằng bạn nhậu tui có lần phán rằng: “Mấy ông xúm lại nhậu có một chuyện… mà nói đi nói lại, kể tới kể lui tới cả trăm lần, nghe không chán sao?”

“Ôi phụ nữ làm gì mà biết một trời tâm sự của mấy ông nhậu đâu nè?”

Chữ rằng: “Rượu vô lời ra!” Uống là phải nói cho hả hơi rượu. Chớ nhậu mà cứ im như hến thì rất mau say, tan hàng về sớm chủ quán rượu nó tất có hỏng vui vì rượu bán ít, tiền thu vào hỏng có bao nhiêu thì làm sao mà sống chớ?

Do đó, lâu lâu thấy bàn rượu im ắng là chủ quán đang ngồi sau quầy tính tiền, bưng ly rượu của nó chạy ra, cụng ly xin chúc mừng mấy anh cho dù mình không có gì mừng để mà nó chúc hết ráo.

Rồi nghe mấy thằng bạn mất nết của tui về bên Sài Gòn nhậu bia ôm, kể rằng: “Má mì đâu có trả lương; chỉ cho mấy em ăn huê hồng trên số lon bia khách uống mà thôi!”

Chính vì vậy mới hớp cạn nửa lon hè là em đã khui cái bốp, lon khác. Còn lon của chính em thì em len lén đổ xuống đất, ướt nhẹp hè; nhưng đâu có ai để ý. Xỉn hết ráo rồi đường đi còn không thấy, cụng đầu vô hai hỏa diệm sơn của em còn chưa thấy; huống gì cái chuyện thấy em hoang phí đổ bia lon xuống đất cho trùn, cho dế nó cũng được dịp may mà say… quắc cần câu.

Bên Úc nầy đây thì ai tui hỏng biết, nghe nói cũng có bia ôm nhưng tình thiệt tui chưa có dịp đi lần nào. Mà cũng không dám hỏi đường đi nước bước của dân chơi mát trời ông địa Footscray; vì sợ biết rồi, cầm lòng không đậu lò mò tới đó.

Nhậu xong về nhà, trên áo quần còn thoang thoảng mùi nước hoa là… cha tui cũng chết!

Phần bàn nhậu có rôm rả hay không là nhờ nói qua nói lại, hỏng hại gì đến cảm xúc của bạn bè thì cứ thoải mái ‘vô tư… lự’ đi nhe đồng nghiệp báo… đời.

Giữa nói láo và nói thật tui khoái nói láo hơn. Vì chữ cũng có câu rằng: Lời thật mất lòng. “Thẳng mực Tàu đau lòng gỗ!” Ông bà mình dạy vậy tui làm sao dám cãi.

Phần cũng có kinh nghiệm thương đau vầy nè: Một hôm em yêu của tui yểu điệu đứng soi mình trước kiếng rồi nói: “Lóng rày em xổ sữa, mập ú nu hè!”

Tui bèn nói thiệt: “Già như vậy mà mắt em còn tỏ lắm đó!”

Tưởng lời khen thành thật phát xuất từ đáy lòng sẽ làm em vui ba tháng. Ai dè ba tháng em làm mặt ngầu, không mở miệng nói một câu, làm tui rầu hết sức!

Em hỏng nói, thì tui làm sao nói? Lâu quá tui quên hết chữ nghĩa, câm luôn thì báo.

Vậy mà mấy thằng bạn nhậu cũng tui lại bảo tui thiệt là may mắn! Con vợ có tính hay giận lẫy, không chịu mở miệng ra nói một lời nào suốt ba tháng trời dài đăng đẳng như vậy quả là khó kiếm…

Còn con vợ tui, trời ơi, một ngày nghe em nói, nói miết… tui cứ tưởng ba thu, tức ba năm; chớ không phải ba tuần trăng mọc rồi lặn như ông đâu! Xin chúc mừng! “Congratulation!” Vô đi!

Tôn chỉ đối với bằng hữu chi giao vậy đó. Nói láo không hại ai mà làm cho họ vui là cứ nói; nên tụi nó mới khoái; mới rủ rê đi nhậu hoài hè; vui hết biết vậy đó!

Tui lại có tánh quảng giao nghĩa là giao thiệp rộng, Tí, Tèo giàu nghèo tui đều chơi hết ráo không kén cá chọn canh gì cho nó mệt.

Cho dù bạn bè học cao; tui học thấp; bạn bè thông mình đĩnh ngộ; còn tui vừa ngu vừa xấu nhưng chả có gì đáng phải bận tâm mà so đo chi cho nó mệt!

Cái tánh nản nhứt trong đời là so đo, ganh tị, khoe khoang nhà mầy lớn nhà mầy cao sao bằng nhà tao?

Nhà nó lớn nhà nó cao thì nó tự hào kệ nó chớ. Mình có đem nhà nó đi thế chấp ngân hàng để lấy tiền đi chơi bời gái gú gì đâu nè?

Còn về cái trí! Mình không được thông mình là do di truyền, do biến đổi ‘gien’ gì đó mà cũng do làm biếng, hỏng chịu học hành gì hết trơn hết trọi.

Trộm nghĩ là ông Trời cho trí mình bao nhiêu mình xài bấy nhiêu. Vậy mà tui xài chưa có hết thì đòi hỏi thêm để làm cái gì hè?

Trong chữ con người, tui 70% nghiêng về con; chỉ còn 30% nghiêng về người.

70% nghiêng về con là đói ăn; khát uống; lạnh mặc áo, nóng ở trần; buồn đi nhậu vậy thôi. Sống đơn giản như đang giỡn! Vậy mà vui!

Chớ đời mà! Cao nhân tắc hữu cao nhân trị! Mình giỏi có người giỏi hơn. Thế nên đừng có bày đặt cái chuyện nổ tưng bừng, nổ mù trời tối đất, nổ như đẻ ở Trảng Bom chỉ tổ làm cho chúng ghét. Mà chúng ghét sau lưng mình nó rủa xả, mướn thầy Ấn Độ trù yếm mình thì trước sau mình cũng chết! Chết chắc, nên tui sợ lắm!

Rồi tam nhân đồng hành ắt ngã bản sư yên – Ba người cùng đi ắt có một người là thầy ta. Với tui thì ba người cùng đi thì hai thằng đó ắt hẳn là thầy tui rồi. Tui làm học trò để kính cẩn nghe lời chỉ đại của hai đứa nó là ‘phẻ’, khỏi cần so đo ganh tị mà chi?!

***

Tui nói cái nầy hỏng phải để khoe khoang với bà con nhe! Tui có cái tánh rất tốt là: Trong lúc rượu vô lời ra, ai cũng tranh nhau nói đến sùi bọt mồm, bọt mép thì tui chỉ lo gắp mồi và chiêu luôn vài hớp, luôn thủ khẩu như bình dù cũng ngứa miệng muốn chết! Tui luôn luôn lắng nghe, dẫu lâu lâu… mới hiểu!

Nên mấy thằng bạn nhậu của tui cứ tưởng bở: tụi nó là những diễn giả tài ba.

Nhưng thú thiệt thiển ý của tui là: Không có giọt rượu nào là có kẻ dại, người khôn nhưng khi đã túy lúy càn khôn rồi… là đứa nào cũng ‘ngu’ đồng hạng!

Nên có chuyện rằng: Ba anh chàng nhậu say, loạng choạng đi giữa trời đất lăn quay.“Chà, chúng ta lạc vào nghĩa trang rồi! Nhìn kìa, đằng kia có một tấm bia. Xem nào, ồ, ông này thọ gớm nhỉ, những 105 tuổi!” “Thế à? Lão tên gì đấy?” “Phan Thiết!”

Trong mỗi chúng ta đều có một thiên tài đang ngủ, chỉ có điều trong tui càng ngày anh ta ngủ càng say! “Nhìn lên chắc không bằng ai, nhìn xuống không còn ai… thì tui mới sợ!”

Tuy con vợ tui nó hăm hoài: “Em chán tối nào cũng ôm cái hũ hèm!” Tui nói: “Chán đừng ôm!”

Thì em trả treo rằng: “Có một đứa hè! Hỏng ôm nó thì ôm ai bây giờ?”

Tui trả treo lại: “Chớ hồi chưa lấy anh; ngủ em ôm ai?”“Đâu có ôm ai đâu nè! Ngủ một mình!”

“Cha chính chuyên dữ he! Vậy giờ em cũng ngủ đừng ôm đâu có chết thằng Tây nào?”

Tuy vậy, tui cũng sợ em yêu bỏ ‘hũ hèm’ nầy không thèm ôm nữa mà đi ôm thằng khác chắc là tui sẽ… thác!

Hương gây mùi nhớ đã quen; giờ không còn cái mùi đã làm phiền cái lỗ mũi mình bấy nay thì sống buồn lắm?!

Nên tui hứa với em là ngày mai tui bỏ rượu. Rồi ngày mai tới tui vẫn uống ‘ tì tì’! Em nhắc, anh hứa với em rồi mà: “Quân tử nhứt ngôn đi. Chớ đừng nói lời lại nuốt lấy lời. Thì con người ấy ai cầu mà chi?”

“Anh nói ngày mai bỏ rượu chớ đâu phải hứa bữa nay đâu mà em cứ càm ràm!”

He he! Huề! Đâu lại vào đấy! ‘Vũ Như Cẩn’ là ‘Vẫn Như Cũ’! Hi Hi!

Em yêu ngước lên trời, than rằng: “Phần số em lấy nhằm một hũ hèm, một tay sáng xỉn chiều say tối ôm chai mà ngủ. Lại còn làm cái nghề viết báo chuyên nói láo ăn tiền!

Phần số đó quá hẩm hiu! Nếu có kiếp sau em sẽ ở giá! Hu hu!”

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 22 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 32

Người mặt rỗ giận dữ nhìn cây súng trên tay ông Can:

– Còn lâu anh mới dám bắn. Bọn công an sẽ lùa tới ngay khi anh vừa nổ súng.

Ông Can nhổ một bãi nước bọt xuống đất:

– Ở điạ vị anh, tôi không đánh cuộc như thế. Trời mưa thế này, ai mà nghe thấy gì? Có muốn tôi chứng minh không?

Người thợ rừng đáp:
– Dạ không, muốn về nhà thì để chúng tôi giúp. Tin tôi đi. Chỉ có chúng tôi là biết xài cái xuồng máy bất kham này mà thôi.

Ông Can hỏi:

– Làm sao mà tin được anh?

– Thì ông có súng. Bảo chúng tôi làm gì thì chúng tôi làm theo. Chỉ cầu ông đừng hại chúng tôi là được rồi.

Ông Can gật đầu:

– Vậy thì tôi sẽ mang theo hai người trong nhóm các anh. Hai người kia ở lại đảo. Khi chúng tôi về tới Nha Trang an toàn, thì họ sẽ quay lại đón các anh.

Người mặt rỗ chỉ vào chính mình và người mặc áo đỏ:

– Vậy mang chúng tôi theo.

Ông Can quay lại phía Văn và tôi, ra lệnh:

– Lục trong đống đồ của họ, lấy dây trói hai người lại với nhau. Nhớ khóa miệng họ lại.

Với sự trợ giúp của Cần, chúng tôi đặt hai tù binh áp lưng vào nhau. Một người vẫn còn bất tỉnh khi chúng tôi lôi họ lại gần nhau. Máu trên đầu hắn ta còn để lại một vệt đốm đỏ dài trên nền đất rừng. Chúng tôi thắt nút thật chặt ở cổ tay và mắt cá chân họ. Vài giọt máu nhẽu trên mấy ngón tay của tôi. Tôi kinh hãi vội quẹt đi. Với hai tay giơ cao trên đầu, người mặt rỗ nói :

– Nói cho tôi biết, bọn ông có cả thẩy bao nhiêu người?

Ông Can im lặng, không trả lời.

Khi chúng tôi đi xuống bãi cát ở bờ biển thì trời gần tối. Mây đen phủ dầy đặc khắp trên bầu trời và mưa rơi nặng hạt hơn. Sấm chớp liên hồi loang loáng trên những vòm cây. Cái xuồng máy nằm trên bờ biển được che dấu bằng những tầu lá dừa. Nó dài gần mười thước, làm bằng ván ép bọc thiếc và nước sơn mầu gỉ sắt đã tróc ra gần hết. Bộ máy gồm một động cơ và một giây nối điên. đặt ở khoảng giữa đáy xuồng về phía đuôi. một cái cần bằng sắt nối động cơ xuống chân vịt qua một lỗ đục ở phía dưới buồng lái đặt ở cuối xuồng. Dọc theo mỗi bên xuồng là môt dãy ghế, có thể đủ chỗ cho từ sáu đến mười người. Trên xuồng đã chất sẵn một đống những khúc gỗ vừa mới xẻ, chiều dài đều đặn bằng nhau. Ông Can ra lệnh cho chúng tôi khuân đống gỗ ăn trộm vất lên bãi để thêm rộng chỗ cho mọi người.

Chúng tôi đẩy cái xuồng xuống biển. Mấy cái rìu của đám thợ đặt trên sàn, có một tấm plastic phủ lên. Chúng tôi ngồi sát cạnh bên nhau trên ghế trong khi đó đám con nít thì nằm lăn ra sàn. Hai cha con ông Can thì ngồi ở phía đằng mũi xuồng. Súng của họ chĩa về phiá những người thợ rừng khi đó ngồi mấp mé ở đuôi xuồng.

Với sự đồng ý của ông Can, người thợ rừng bận áo đỏ giật sợi giây kéo để làm cho máy nổ. Người đồng nghiệp của hắn ta thì giữ cây cần điều khiển nối động cơ để lái theo đúng hướng. Cái xuồng kêu ầm ĩ rồi chaỵ băng băng trên mặt nước như một con hải mã. Chẳng mấy chốc, hòn đảo bị bỏ lại đằng sau. Trước mặt chúng tôi, biển mở rộng vòng tay bao la, dập dìu con xuồng đủ mọi hướng. Mưa rơi nặng hạt làm không thể nhìn thấy gì. Chẳng mấy chốc chúng tôi ướt như chuột lột. Nhìn thấy tôi run bần bật, dì Đặng kéo tôi sát lại gần dì hơn.

Ở phía đuôi xuồng, người mặt rỗ lôi ở dưới chỗ ngồi ra một tấm bạt trao cho chị của Văn và dục cô ta lấy để che mưa. Cô ta cầm lấy với vẻ rụt rè.

Trong bầu không khí căng thẳng như thế, chúng tôi đã đi được gần một giờ. Cuối cùng, mây tan dần, ánh trăng mờ lại le lói trải ra trên mặt biển xáo động.

Gã mặt rỗ cất tiếng năn nỉ ông Can:

– Xin đừng bắn, hãy nghe tôi nói. Tôi cần châm thêm xăng cho máy, nó gần cạn rồi. Bình xăng ở ngay kia kìa.

Hắn ta chỉ tay về phiá một cái thùng sắt tây nằm ngay bên cạnh đống buá rìu. Ông Can trả lời:

– Không được!

– Thiệt mà, cứ nghe tiếng động cơ nổ coi. Chỉ thêm vài phút nữa là nó ngưng chaỵ thôi nếu không châm thêm xăng.

Ông Can cảnh cáo:

– Được, nhưng làm chậm chậm để tôi có thể canh chừng anh. Nhớ tránh xa mớ rìu. Anh mà có hành động khả nghi là tôi bắn ngay đó.

Gã mặt rỗ gật đầu và bước dè dặt lại chỗ bình xăng. Cái bình có vẻ năng nên hắn ta phải dùng hai tay để kéo lê nó trên sàn tầu. Lưng quay về phía ông Can, hắn di chuyển chậm chạp về chỗ ngồi của mình. Bất chợt hắn trượt chân trên một khúc gỗ nằm dưới sàn và chúi về phía trước. Vẫn giữ bình xăng, hắn dang tay xoay một vòng một trăm tám mươi độ và xoay mặt đối diên. với ông Can. Bình xăng sáng loè lướt trên không khí như một tia chớp xẹt. Ông Can hét lên:

– Coi chừng!

Trong cơn kinh hoảng của chúng tôi, người rỗ mặt phá lên cười và nhìn chúng tôi một cách đắc thắng. Những ngón tay của hắn móc chặt lấy cái bình xăng, đung đưa trên mặt biển tối mò. Rồi hắn nháy mắt với ông Can, tay ve vẩy bình xăng qua lại và nói:

– Có giỏi thì bắn đi. Tao thả cái bình này xuống đáy biển. Đến lúc hết xăng, tụi bay cũng chết luôn.

Anh Cần thốt lên, hai tay nắm chặt lại:

– Tên này khốn nạn thật. Tao tưởng mình đã thoả thuận rồi.

– Thoả thuận cái gì. Tụi bay đánh bị thương một người trong bọn tao, bỏ rơi hai người trong rừng, rồi bắt cóc tụi tao lên đây. Vậy thì còn thoả thuận cái nỗi gì.

Rồi hắn ra lệnh cho người bận áo đỏ:

– Tắt máy đi.

Ông Can la lên:

– Đừng.

Nhưng tên kia đã nhấn cái nút điện. Con tầu rít lên một lần cuối rồi khựng lại. Trôi dập dềnh trên biển, nó lắc lư từ bên này qua bên kia. Ông Can chĩa khẩu súng lên:

– Có lẽ tao không còn cách nào khác là phải bắn mày và điều khiển lấy cái ghe.

– Cứ bắn đi. Nhưng cái vụ hết xăng là tao không nói dóc đâu

– Cũng phải liều vậy thôi.

Tên mặt rỗ chỉ lên trời. Đâu đó trên nền mây, vài ngôi sao lung linh yêú ớt trên bầu trời hắn nói:

– Theo hướng ngôi sao đó đó. Có biết tên là gì không? Ngư phủ gọi là sao bắc đẩu. Lẽ ra phải đi về hướng tây thì mới tới Nha Trang.

Hắn ta ngừng lại chờ cho lời nói của mình ngấm đủ tác dụng rồi lại tiếp:

– Nhưng từ lúc ban đầu, cái xuồng đã đi về hướng bắc. Thưa thủ trưởng, ông đòi chúng tôi cho đi nhờ, thì chúng tôi cho ông đi. Bây gời hết xăng rồi. Muốn vất súng xuống hay lẫy cò thì cứ việc. Nhưng mà mau mau lên, trước khi tao phải quyết định.

Vài người đàn bà rên rỉ vì sợ. Lũ con nít bắt đầu cất tiếng khóc. Ông Can đứng lên. Mũi súng rung nhẹ trong tay. Ông quát bọn trẻ:

– Câm mồm!

Một bà thúc gịuc:

– Bỏ xuống đi, ông ơi.

Không để ý đến bà ta, ông quay sang nói với người mặt rỗ:

– Tôi với anh nên dàn xếp việc này một cách ổn thoả. Tôi có một đề nghị

– Tôi dỏng tai lên đây.

– Mình vất hết võ khí xuống biển, cả súng lẫn búa rìu. Anh chở tụi tôi về Nha Trang, rồi tụi tôi sẽ trả công.

– Trả công bằng cái gì chớ?

– Đồ nữ trang!

Tên mặt rỗ hất hàm:

– Đề nghị hay đó. Vậy chìa ra cho coi anh có những gì?

Ông Can nhìn thẳng về phía trước, một tay giữ chặt khẩu súng, còn tay kia gỡ chiếc đồng hồ ra khỏi cổ tay:

– Đây là cái đồng hồ Omega. Trị giá khối tiền đấy. Tôi đổi nó cho mạng sống của thằng con trai tôi.

Người con thì thào:

– Cha! Không thể bỏ cái đó được. Nó là quà kỷ niệm của mẹ mà.

Ông bố cáu kỉnh:

– Im mồm.

Rồi quay về phía chúng tôi, ông ra lệnh

– Lấy hết đồ quý ra đi. Hãy chứng tỏ cho hắn biết là mình chỉ muốn yên thân thôi.

Đám vượt biên lần mò trong quần áo và lôi ra những tài sản mà họ cất giấu. Cả đồng hồ, nhẫn hột xoàn, dây chuyền vàng đeo cổ và những lượng vàng hay bạc được đặt dưới chân của người thợ đốn gỗ. Tên đồng bọn của hắn ta hốt tất cả lên và thồn hết vào trong mọi túi.

Tên mặt rỗ nói với ông Can:

– Ê! Chưa có thoả thuận với cái đề nghị này! Không có võ khí, tụi bay vẫn đông hơn. Tụi tao không thích trò may rủi.

– Vậy mày muốn tụi tao làm gì?

Hắn ta chỉ về phía Cần:

– Đưa cái thằng răng vổ kia lại đây. Tụi tao sẽ giữ hắn làm con tin. Nếu mày không ngoan ngoãn, tao sẽ giết nó.

Ông Can cố chịu nhục:

– Hãy giữ tao làm con tin. Để thằng con tao ra ngoài.

– Ai cũng được, không thành vấn đề. Hãy bỏ súng xuống và bước qua đây.

Ông Can đặt khẩu súng xuống sàn và quay sang nói với người con đang run rẩy:

– Nhớ kỹ là vứt đám rìu búa xuống trước, rồi hãy vứt súng xuống sau.

Giơ hai tay lên đầu, ông bước qua sàn tầu. Người mặc áo nỉ đỏ quơ lấy cổ tay của ông và chói giật ra đằng sau rồi ấn ông qùi xuống. Đám các bà lặng lẽ ném võ khí xuống biển và sau cùng Cần cũng làm như vậy với khẩu súng của cha mình. Trước những cặp mắt sợ hãi của chúng tôi, tên mặt rỗ nhấc bình xăng lên và từ từ mở nắp ra. Một nụ cười quái đản hiện trên mặt, hắn vứt cái nắp xuống sàn và dốc ngược cái bình xuống. Chỉ có vài giọt chất long? đen ngòm nhễu ra mà thôi.

Dưới ánh trăng mờ nhạt, vẻ mặt ông Can nhăn nhúm đi vì giận dữ. Dù chẳng tới được nhưng ông cũng cố nhổ nước miếng về phía kẻ địch

Với cái hộp đựng đồ nghề ở dưới chỗ ngồi, tên mặt rỗ moi ra được một cái rìu nhỏ mà từ trước, chúng tôi không nhìn thấy. Hắn nhe răng ra trước mặt ông Can:

– Thằng già điên kia, mày có biết tụi tao mỗi năm đã từng chạm trán với bao nhiêu thuyền nhân như chúng mày không? Mày tưởng là đã tinh ma hơn chúng tao hả. Tao sẽ giết mày, cái thứ ngu như bò kia!

Cái rìu vung lên khỏi đầu hắn sáng loé trong bóng đêm trước khi cắm phập vào ngực ông Can. Lưỡi rìu xuyên vào thấu xương của ông, gẫy đánh rắc. Cả thân hình ông già giật lên y như thể ông già vừa bị điện giật. Đám tị nạn la hét lên và cuống cuồng xô đẩy nhau chaỵ giạt hết về phía cuối xuồng để tránh xa cái cảnh hãi hùng. Trong cơn bối rối, một người đàn bà rớt ra ngoài. Người con gái của bà ta la lên, điên cuồng xoải hết cánh tay ra để níu lấy mẹ. Dì Đặng xiết lấy cổ tay tôi, rên rỉ vì hãi hùng.

Người áo đỏ cởi trói cho ông Can và cái xác của ông đổ vật xuống sàn. Rồi hắn kéo giật sợi giây cho máy nổ. Cái thuyền bị lắc mạnh về phiá sau lại khiến cho thêm mấy người nữa rớt xuống biển. Gã mặt rỗ tiến lại xác con mồi giật lấy cái rìu còn đang cắm trên ngực. Máu phọt ra chan hoà trên sàn tầu. Sau vài lần đá chân lên, hắn hất cái xác xuống biển.

Chỉ tay vào chị của Văn, đang rúc vào trong đám đàn bà và trẻ con chết khiếp vì kinh hãi, hắn ra lệnh:

– Dẫn con đó ra đây.

Tên đồng bọn túm lấy mớ tóc dài của chị và kéo cô về phía trước. Chị ngã xuống sàn tầu, kêu gào đứa em trai của mình. Văn lúc này bị kẹt trong vòng tay của đám thuyền nhân, nên chỉ biết nhìn theo chị mà chẳng làm được gì.

Gã mặt rỗ tiến về phía chúng tôi, vung cái rìu lên khỏi đầu và hét hết sức mình :

– Cút hết khỏi thuyền của tao.

Tôi la lên với dì Đặng:

– Dì ơi, mình nhẩy xuống đi.

Dì nhìn tôi, đôi mắt dại đi:

– Không được đâu, dì không biết bơi.

Chung quanh tôi mọi người thi nhau nhảy, từng toán một, vừa la hét vừa rơi xuống cái khoảng đen ngòm ở phía dưới. Tôi nắm lấy tay dì. Tên mặt rỗ đang tiến lại phía chúng tôi. Tôi nói:

– Mình đi, dì ơi.

– Không.

– Con xin dì, theo con đi.

Dì vẫn chùn lại. Tôi la lên:

– Đi dì. Con sẽ chỉ cho dì cách bơi ngửa. Dì chỉ cần bám vào con thôi.

Dì gật đầu. Thế là chúng tôi niú lấy nhau, nhảy xuống biển.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 22 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 31

Đi theo môt. hàng doc, cha con ông Can, Văn và tôi di chuyển vào sâu trong rừng, để toán các bà và lũ nhỏ ở laị phía sau. Từ xa, cơn bão gầm gừ như môt. cái dạ dầy đang đói meo. Chớp lóe sáng trên những đám lau sâỵ, làm sống đông. những cành cây mầu tím ở chung quanh chúng tôi , trông như những hình dáng quaí vât. trong chuyên. kinh dị. Ông Can cầm chắc khẩu súng trong tay. Chúng tôi bám sát lấy nhau, trườn trên măt. đất trơn trươt. như môt. con sâu đất khổng lồ dưới an’h xanh kỳ bí cuả cuả buổi xế trưa.
  Đột. nhiên, ông Can bỗng dừng laị. Ông ra hiêụ cho chúng tôi cúi thấp hơn nưã trên măt. đất lõng bõng nước, thì thào:
  – Yên hết. Đừng ai nhúc nhích.
  Từ chỗ đứng, tôi có thể nhìn thấy môt. người đang đốn cây cách tôi chừng ba chuc. thước. Người đốn gỗ ấy không chỉ có môt. mình. Tôi con` nghe thấy có tiếng người khác xen lẫn với tiếng sấm rền và tiếng gío rít. Ông Can ra hiêụ cho chúng tôi bò laị gần ông ta hơn, rồi nói:
  Kế hoach. là như thế này. Bon. họ có bốn người. Hai tên đang ăn trưa. Tuị bay không thấy đâu, họ ngồi khuất đằng sau cái cây đó. Còn hai tên kia thì các cháu nhìn thấy phảỉ không, Kiên, Văn?
  Vừa nói ông vừa chỉ tay về phía hai người thợ rừng đang đứng cách nhau khoảng vài thước. Ông tiếp:
  – Hai cháu lãnh hai tên đó được không? Bác và con bác sẽ canh chừng và hỗ trợ ở đây. Đi kiếm cuc. đá như cuc. này rồi luồn ra phía sau họ. Phaỉ cầm chắc và đâp. cho họ xiủ đi. Đừng có mất tinh thần ngay cả khi họ trông thấy các cháu. Nếu có xaỷ ra thì ráng quâý rối họ lâu chừng nào thì tốt chừng ấy.. Cha con bác sẽ chaỵ ra cứu các cháu ngay. Dễ òm, phaỉ không?
  Ông trao cho tôi môt. cuc. đá lớn hơn nắm tay tôi một. chút. Văn thì lựa cho mình môt. cuc. cũng hình dáng và lớn như cuả tôi. Cái ý nghĩ làm bị thương người khác khiến tôi muốn phát ớn vì sợ hãi. Tôi hỏi:
  – Họ đứng đối diên. với mình, làm sao tụi cháu có thể lẻn tới?
  Văn nói:
  – Tôi có cách 
  Ông Can hạ lệnh:
  – Thử nói coi.
  Văn chỉ những cành cây chiã ra như những ngon. giáo ở trên đầu hai người:
  – Mình sẽ tấn công từ phía trên. Kiên và cháu sẽ chuyền qua mấy cái cành kia để tới gần họ. Rôì chờ đúng lúc thì bup. – Nó taọ thành âm thanh làm như có cái gì giáng xuống – Vào ngay giữa sọ! 
  Ông Can nói:
  – Ý kiến tuyệt. đó con. Nào, lên đường, hai đứa!
  Văn nhổm dâỵ nhét vat. áo vào trong quần, làm thành một cái bồng. Rồi, như con Kangaroo ôm con, nó nhét cuc. đá vào bung. rồi cài chăt. thắt lưng laị. Với hai bàn tay không, nó leo lên môt. cái cây. Tôi cứ làm từng cử đông. theo y như nó. Từ cành này qua cành khác, nó chuyền như môt. con sóc, không gây nhiều tiếng đông.. Tôi bám sát theo nó môt. cách rut. rè , vỏ cây trơn trươt. rất khó giữ. Đã vâỵ, gió manh. cứ rít lên giữa đám lá cây xanh râm. rit.. Hòn đá năng. chiũ cứ trệ xuống trong bung. áo cuả tôi. Ở xa phía trước , Văn đã tới đích rồi. Nó ngồi như con chim đâụ trên cái cây ngang phía trước hai kẻ địch cuả nó, bồn chồn chờ đợi tôi.
  Về phần tôi, càng gần tới muc. tiêu, cành cây môĩ lúc môt. nhỏ hơn và cách xa nhau hơn. Tôi lẩm bẩm khẩn cầu trời phât. cho thêm sức lưc. mới. Cuối cùng thì, qua đám lá dầy đăc. , tôi nhìn thấy cái đầu đen cuả người thợ rừng và môt. mang? áo sơ mi may bằng vaỉ thô mầu đỏ cuả hắn ta. Chỉ còn môt. cành nữa là tôi sẽ ở ngay trên đầu hắn.
  Từ chỗ tôi nhìn qua, thấy Văn đang nhăm nhăm cục đá. Bắt trước theo nó, tôi với một tay để nắm cho chắc, như thế tôi mới có thể moi vũ khi ra bằng tay kia. Nhưng thay vì là bề mặt cứng cuả cành cây, tay tôi laị chạm phải môt. cái gì là lạ, vừa mềm mềm, lành lạnh laị vừa ướt át, trơn trươt.. tôi nhìn xuống thì ra một con trăn lớn hơn bắp đùì tôi. Thân mình cuả nó quấn quanh cành cây ở ngay phía dưới tôi. Nó hếch cái đầu hình thoi cuả nó lên nhìn chòng chọc vào măt. tôi. Tôi rú lên và nhẩy đại về phía sau. Cành cây ở dưới tôi gẫy làm đôi. Tôi rớt xuống môt. đống lá khô chỉ cách chỗ người thợ rừng có vài bước. Cùng lúc đó , Văn liêng. cuc. đá vào ngay đầu nan. nhân cuả nó, quất hắn ta ngã sụm ngay xuống chân như môt. thân cây bị đốn. Măt. hắn ta úp xấp xuống đất bùn.
  Nền đất nhờ có lá phủ dầy nên giống như cái nêm. đỡ tôi lúc ngã xuống, tuy nhiên tiếng hét thất thần công. với sự xuất hiện bất ngờ cuả tôi đã báo đông. cho mấy người thợ rừng khác. Họ quăng ngay bát cơm trưa và túa hết ra từ sau buị cây, tay lấp lóe những cái riù. Người đứng gần chỗ tôi nhất cũng giơ cái riù lên. Mặt cuả hắn đen sạm đầy sát khí. Tôi cố luì lại để tránh xa hắn, nhưng sự sợ haĩ làm cho tay chân tôi rũ liêt.. Người tôi đông cứng lại hé mắt nhìn hắn và chờ đơị cái số phân. bất hanh. cuả mình.
  Tai chỗ núp, ông Can và người con nhào ra chĩa súng vào đám thợ rừng, la lớn:
  – Ngừng laị không tôi bắn!
  Người bân. áo nỉ soc. đỏ thét về phía chúng tôi:
  – Lũ khốn nạn, tui bay giết em tao rồi.
  – Chưa chết đâu. Chỉ ngất đi thôi.
  Văn trả lời môt. cách chắc nịch. Thì ra nó đã tuôt. xuống khoỉ lùm cây từ lúc nào và đang quan sát cái thân xác nằm trên măt. đất. Môt. người làm gỗ hỏi:
  – Mấy người là ai? Muốn cái gì?
  Măt. cuả ông ta đầy những vết seọ rỗ cuả bênh. Đậu mùa, trông lạnh băng, không lộ vẻ cảm xúc. Nhìn ông ta, khó có thể đoán đươc. là ông ta đang ngac. nhiên hay giân. dữ. Ông Can trả lời:
  – Chúng tôi chỉ muốn mươn. cái thuyền cuả các ông để quay về Nha Trang.

This is how triple-ace Robin Olds achieved his perfect victory over Vietnam

wearethemighty.com

by Blake Stilwell

Apr 2, 2018

Post by Sơn râu 22 Oct 2023

Vào ngày 2 tháng 1 năm 1967, những chiếc F-4C Phantom của Không quân Hoa Kỳ đã dụ những chiếc MiG-21 của Bắc Việt vào một kiểu không chiến mà họ thường cố gắng tránh. Nhiệm vụ có tên “Chiến dịch Bolo” là một bẫy trên không được thiết kế bởi Đại tá Robin Olds, một chiến binh xuất sắc và là cựu chiến binh, người bắt đầu sự nghiệp bay chiến đấu của mình trong Thế chiến thứ hai. Mặc dù thực tế là Bolo đã bay ở một số không phận được bảo vệ nghiêm ngặt nhất từng bị lực lượng Hoa Kỳ tấn công, nhưng cuối cùng nó vẫn là một trong những hoạt động lừa dối thành công nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ.

Olds nắm quyền chỉ huy Đội máy bay chiến đấu chiến thuật số 8 tại Căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Lan Ubon vào năm 1966. Đơn vị mà ông tiếp quản thiếu tính quyết liệt và chủ động. Olds, khi đó 44 tuổi, đã mời một người tiên phong khác của Lực lượng Không quân, Đại tá Daniel “Chappie” James, một cựu chiến binh Thế chiến thứ hai khác và là một trong những Phi công Tuskegee, làm giám đốc hoạt động của ông. Đội chỉ huy, sau này được biết đến với cái tên “Blackman và Robin”, đã thay đổi hoàn toàn văn hóa của Lực lượng Đặc nhiệm TFW thứ 8. Họ đã sẵn sàng gây chiến với người Việt.

Sau khi nắm quyền chỉ huy chiếc thứ 8, Olds mất ba máy bay F-4C để đánh chặn máy bay Mig-21. Ông thất vọng với những hạn chế về mục tiêu từ Washington và thất vọng với chiến trường ở miền Bắc Việt Nam. Các quan sát viên mặt đất và radar cảnh báo sớm do Liên Xô cung cấp sẽ cảnh báo cho VPAF những gì sắp xảy ra. Vào lúc máy bay tấn công vượt sông Hồng, những chiếc MiG đã chờ sẵn. Olds muốn sử dụng chiến thuật này để có lợi cho mình.

Những chiếc MiG bay trên không bất cứ lúc nào máy bay Mỹ có mặt trong khu vực. Hai đến bốn chiếc MiG sẽ ở gần căn cứ địch ở Phúc Yên, trong khi số còn lại tấn công lực lượng máy bay ném bom dọc theo một điểm đánh chặn ở phía nam sông Hồng và phía đông bắc Thái Nguyên. Các máy bay MiG sẽ tấn công đội hình F-105 dọc theo tuyến đường của chúng và thường tránh các máy bay F-4.

Hình ảnh mặt dưới bên phải của hai máy bay chiến đấu MiG-21 Fishbed của Liên Xô đang bay.

Để đáp lại, Olds đã thiết kế Bolo, máy bay tiêm kích tấn công đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam. Bị thuyết phục bởi sự vượt trội của phi công Mỹ trong chiến đấu không đối không, anh ta muốn lừa Bắc Việt đọc các chuyến bay của F-4C là những chiếc F-105 chậm hơn, cồng kềnh hơn. Một khi những chiếc MiG đã bay trên không, những chiếc F-4 sẽ phá vỡ đội hình và tấn công theo ý mình. Để đánh lừa radar và những người quan sát mặt đất, những chiếc F-4 sẽ bay theo đội hình 105 trong khi sử dụng các tín hiệu gọi Thud.

Mối đe dọa SAM đã được giảm thiểu nhờ các nhóm chống radar ECM mới. Các thiết bị gây nhiễu đã làm giảm tỷ lệ tiêu diệt SAM trên F-105 xuống gần bằng 0, nhưng F-4 vẫn dễ bị tổn thương do các thiết bị gây nhiễu không vừa với giá treo bom của F-4. Các NCO của Olds trong xưởng chế tạo của TFW thứ 8 đã dành 36 giờ để chế tạo các tấm thay thế tạm thời trước Bolo để những chiếc F-4 có thể mang chúng. Đây là lần đầu tiên những chiếc F-4 thực hiện biện pháp đối phó.

Bảy chuyến bay của F-4C sẽ đến từ Ubon ở phía Tây trong khi bảy chuyến bay khác đến từ Căn cứ Không quân Đà Nẵng ở miền Nam Việt Nam. Lực lượng Ubon, do Olds chỉ huy, sẽ ở trong đội hình Thud cho đến giây cuối cùng có thể. Máy bay chiến đấu Đà Nẵng bao phủ tất cả các sân bay sẵn có để ngăn không cho MiG hạ cánh (chúng không còn là mục tiêu trên mặt đất do lệnh từ Washington) và ngăn chúng trốn sang Trung Quốc. Chuyến bay của Olds sử dụng biển hiệu “Olds”. Chappie sử dụng biển hiệu “Ford” vì một trong những người lập kế hoạch cho rằng Fords “to, đen và vui nhộn”. Còn lại là “Rambler”, “Lincoln”, “Tempest”, “Plymouth” và “Vespa”. Họ sẽ đến khu vực giao chiến cách nhau bốn phút.

Ngày 2 tháng 1 năm 1967 là một ngày u ám. Olds dẫn đầu chuyến bay đầu tiên vào khu vực này. Lúc đầu, dường như không có phản hồi, điều này sẽ gây ra sự tàn phá. Người Mỹ chỉ có thể tấn công MiG trên không. Nhưng Olds không biết đám mây che phủ đã giữ những chiếc MiG ở trên mặt đất thêm mười lăm phút. Còn ba phút nữa là Chuyến bay Ford đến, chuyến bay của Olds rẽ về hướng Tây Bắc khi những chiếc MiG bắt đầu bay lên từ đám mây che phủ.

“Được rồi, Wolfpack! Đi bắt chúng đi!” Olds gầm lên.

Các máy bay MiG đang cố gắng thực hiện động tác phó và điều đó đã nổ tung vào mặt họ khi máy bay chiến đấu Mỹ rời khỏi đội hình. Người Mỹ đã hạ gục bảy trong số mười sáu chiếc MiG-21 trong kho của VPAF mà không mất chiếc Phantom nào. Bolo là ngày tồi tệ nhất đối với Không quân Nhân dân Việt Nam. Thành công của chiến dịch đã dẫn đến việc Lực lượng Không quân số 7 phát động một chiến dịch tương tự ba ngày sau đó, bắt chước một nhiệm vụ trinh sát. Trong số 4 chiếc MiG chặn được mưu mẹo đó, 2 chiếc đã bị bắn rơi. Các chiến binh của VPAF đã phải nghỉ phép trong vài tháng để huấn luyện lại.

Đại tá Olds ghi bàn thắng thứ tư trên chiếc MiG tại Việt Nam vào ngày 4 tháng 5 năm 1967, nâng tổng số trận đánh của ông lên con số 16 và khiến ông trở thành quân át chủ bài ba lần. Ông thực hiện sứ mệnh cuối cùng tại Việt Nam vào ngày 23/9/1967.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 22 Oct 2023

Nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản

Đặng Chí Bình 

Bài 36

Thấy bác Tiến nhận định và có nhìn sắc bén như vậy làm cho tôi suy ngẫm riêng về lãnh vực tuyên truyền của Cộng Sản và thế giới tự do của chúng ta. Tôi đã hùng hồn bộc lộ cái nhìn của tôi về lĩnh vực này với bác Tiến, nội dung như sau:

Tôi đã ở miền Nam, tôi đã ra miền Bắc. Tôi đã nhìn góc này, khía kia qua cả thực tế cũng như trên sách báo. Tôi lấy một hình tượng rất giản đơn để so sánh:

Tôi nhớ lại những ngày tôi còn lang thang trên khắp phố phường của Hà Nội trước khi bị bắt vào Hỏa Lò. Một lần tôi vào một hiệu sách Nhân Dân trước cửa chợ Đồng Xuân. Tôi lục lọi xem, tìm một số sách vở, thoáng thấy một cuốn tự điển chính trị thật dầy của Liên Xô đã được dịch ra tiếng Việt. Mở thoáng đọc một số trang, tôi nhìn thấy chữ “nghệ thuật tuyên truyền” được định nghĩa như sau: “Cái không có, mà nói cho người ta tin là có, đó là nghệ thuật tuyên truyền.”

Ngày nay, hầu hết chúng ta, qua thời gian và thực tế đều để hiểu: thế giới tự do, thực sự đã mang cơm no, áo ấm, tự do hạnh phúc cho mọi người. Nhưng trước đây, người dân lại không tin như vậy. Họ chỉ thấy là đế quốc, thực dân bóc lột, là Ngụy, là phi chính nghĩa v.v… Như vậy “ta có mà người ta lại không tin là ta có.” Ngược lại, Cộng Sản, ai cũng thấy chúng bóc lột đến giấc ngủ cũng không yên. Nhưng trước đây, khi người ta chưa nhìn thấy thực chất của Cộng Sản thì hầu hết lại tin rằng Cộng Sản là chính nghĩa, là đã đem độc lập, tự do, hạnh phúc lại cho nhân dân. Xã hội Cộng Sản là xã hội công bằng, không có cảnh người bóc lột người.

Như vậy, hiển nhiên ta thấy: Cộng Sản không có cái công bằng, dân chủ, nhưng chúng đã tuyên truyền để mọi người tin là chúng có. So sánh, chúng ta thấy rõ ràng như ban ngày: Cộng Sản tuyên truyền cái “không có” cho người ta tin là “có”. Đấy là nghệ thuật tuyên truyền! Là nghệ thuật bậc thầy. “Có” mà tuyên truyền cho người ta tin là “có”. Là nghệ thuật học trò.

Nhưng đây, thế giới tự do của chúng ta “Có” mà ngườii dân lại không tin là có. Như thế, về lãnh vực tuyên truyền ta chỉ là bậc cháu của Cộng Sản. Nghĩa là ta chỉ đáng là học trò của học trò Cộng Sản mà thôi!

Huống chi, Cộng Sản đã tìm và nhìn đúng loại đối tượng để tuyên truyền. Đó là những đám nông dân, công nhân, những người lao động nghèo khổ, ít học. Mà trong nước ta thành phần này chiếm đến 90% của dân số. Họ chỉ biết suốt ngày cặm cụi làm việc vất vả để mưu sinh cuộc sống. Bởi thế, giả dụ: khi Cộng Sản nói trên đài, đăng trên báo: ở một khu vực nào đấy, có một tiểu đội du kích. Do lòng căm thù giặc sâu sắc, do đường lối anh minh của đảng và cách mạng soi sáng chỉ đường, đã dùng mưu lược đánh đuổi được một tiểu đoàn của “ngụy” chạy tóe cứt, vãi đái ra quần v.v… Họ vẫn tin đấy! Vì họ có thì giờ và kiến thức đâu mà suy luận, phân tích thời cuộc làm gì cho nó mệt óc, nhức đầu? Mà một khi quần chúng có niềm tin thì trở thành sức mạnh rồi.

Ngược lại, phía chúng ta, những người Quốc gia của thế giới tự do. Nếu có một tờ báo nào đó cũng đăng một cái tin: ở một địa khu nào đó có một tiểu đội địa phương quân, do lòng sôi sục hận thù Giặc Cộng; do lý tưởng nhân bản, tự do dẫn đường, vạch lối, đã dùng mưu lược trận đồ đánh tan một tiểu đoàn chính quy của cộng phỉ. Tiêu diệt hơn 100 tên, bắt sống 26 tên và thu nhiều vũ khí quân trang v.v…

Chưa nói về độc giả. Ngay những tờ báo bạn, những cơ quan thông tin cùng một phe đã gửi thư, viết bài đăng báo phản đối, chửi bới là nói láo; nói còn để cho người ta nghe được chứ! Nói ngu như thế mà nói được à v.v…. Độc giả như bác với cháu, hay Gôm, Nhu chẳng hạn, sẽ ném vất tờ báo đi, không thèm đọc. Tờ báo đó còn đăng những tin láo khoét như vậy, thì sẽ không mua nữa.  Như vậy, tờ báo đó nếu không muốn bị các bạn chửi bới và sẽ bị chết vì không còn ai mua báo nữa thì chỉ còn một cách: không bao giờ dám đăng những tin tuyên truyền loại đó nữa.

Từ đấy suy ra, vô hình chung các cơ quan ngôn luận tuyên truyền của ta chỉ tập trung cố gắng để làm vừa lòng, chiều theo thị hiếu của cái số độc giả có học, có kiến thức hiểu biết. Mà cái thành phần này trong quần chúng chỉ chiếm 10 phần trăm. Nhưng lại nực cười nữa là cái số 10 phần trăm có kiến thức này như bác, Gôm, Vân, Khải v.v… không những không cần tốn công sức, giấy mực để tuyên truyền, lôi cuốn; mà có đẩy, xô sang phía Cộng Sản thì chắc chắn cũng bỏ cả cha, cả mẹ chạy vội về phía quốc gia tự do rồi. Tóm lại, chúng ta phải nghiên cứu toàn bộ lại phương cách tuyên truyền của chúng ta hiện nay. Dù không nói láo như Cộng Sản, nhưng phải hữu hiệu hơn.

Nghe tôi nói xong, bác Tiến bò nhỏm dậy, vừa kéo tay tôi ra chỗ hút thuốc lào vừa nói trong nét hưng phấn:

– Sự việc này lùng bùng, phức tạp phải dùng cả một bài báo, một cuốn sách để chứng minh diễn giải mà cháu lý luận đơn giản như thế thành ra sáng tỏ dễ hiểu.

May quá! Trời đã tối, chiếc bóng điện 40 watts mới bắt ở giữa nhà không đủ sáng để bác Tiến thấy được nét ngượng ngùng của tôi. Dù vậy, như một sự khích lệ, hút xong điếu thuốc, về chỗ, tôi hăng say thuật lại cho bác Tiến nghe một sự việc cụ thể về nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản. Sự việc này do chính Hoàng Công An đã thuật lại tỉ mỉ cho tôi nghe, trước khi dẫn tôi đến gặp sư bà Đàm Hướng trong vỏ bọc thứ 3 của tôi. Nội dung như sau:

Ngay từ khi Cộng Sản chuẩn bị sẽ ký kết hội nghị Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954. Chúng hiểu rằng, khi đất nước chia làm 2 miền, với những thủ đoạn độc tài, phát xít nham hiểm, quỷ quyệt trong những năm qua của chúng đã lộ ra ít nhiều cho một số quần chúng đã biết được, thì tất yếu có rất nhiều người dân sẽ bỏ chúng để đi vào miền Nam theo phía bên kia.

Như vậy, cả về mặt chính trị cũng như xã hội, chúng sẽ bi lao đao, khủng hoảng. Do đấy, bộ chính trị, chủ chốt là tên cáo già Hồ Chí Minh họp bàn để tìm ra một phương kế hòng lấp bớt cái hố sâu lo này của chúng. Cuối cùng chúng đã tìm ra được một nhân vật lá chắn, đầu cầu là dược sĩ Thẩm Hoàng Tín, đương kim thị trưởng thành phố Hà Nội. Một nhân vật điển hình, vừa danh tiếng, vừa uy quyền và giầu có.

Chúng tin rằng, nếu chúng lôi kéo được Thẩm Hoàng Tín ở lại với chúng thì có thể kéo lại một mảng, có thể đến hàng chục ngàn người cũng ở lại theo. Do đấy, chúng đã nghiên cứu một kế hoạch tỉ mỉ, công phu ngay từ khi hội nghị Genève sắp được ký kết. Chúng đã triển khai thực thi kế hoạch từng bước. Chúng chỉ định một cán bộ trung ương đảng có khả năng thuyết phục và có tình cảm lôi cuốn là Nguyễn Duy Trinh (sau này được vào bộ chính trị và đã từng nắm giữ bộ ngoại giao).

Nguyễn Duy Trinh đã bí mật vào Hà Nội để gặp Thẩm Hoàng Tín. Cộng Sản đã nắm vững là trong giai đoạn này, dù cho Thẩm Hoàng Tín có không đồng ý chăng nữa cũng không dám ra lệnh bắt giữ người của chúng gửi vào. Những ngày ráp ranh, thế lực Cộng Sản đang lên như diều ở Hà Nội, ai mà không rét?

Thẩm Hoàng Tín lúc đầu còn ngỡ ngàng, ngạc nhiên, lo lắng khi gặp một cán bộ trung ương của Cộng Sản. Nhưng người cán bộ này đã hân hoan nồng nhiệt mang lời nhắn nhủ của bác Hồ vào thăm hỏi sức khỏe của chú Tín. Từ trong chiến khu chống giặc Pháp, bác vẫn để ý xem xét, theo dõi khít khao hành động của chú Tín. Cụ thể năm này, tháng nọ đã ra lệnh tha bao nhiêu người tù (nhà tù nào của chúng ta hàng năm lại không tha người?). Đã dựng trường học này, đã xây chiếc cầu kia v.v… Thẩm Hoàng Tín nghe mà bàng hoàng, nhưng cũng dội lên một chút hưng phấn trong dạ. Trong lúc hưng phấn, Thẩm Hoàng Tín không kịp thấy rằng, khi muốn tìm điểm tốt của một người thì bao giờ và ai chả có cho nên niềm vui, lòng hãnh diện cứ thấm dần vào tâm, nên óc Tín đã mờ dần.

Là một dược sĩ tầm thường, chỉ giữ cái chức thị trưởng thành phố Hà Nội. Trước đây, ông Tín nghĩ rằng mình có tội với Cộng Sản, thế mà nay được hẳn một cán bộ trung ương từ ngoài chiến khu mang lời thăm hỏi, khen ngợi của bác Hồ vĩ đại kính yêu, thì thật nằm mơ cũng không thấy.

Tín đêm ngày suy ngẫm, mình được bác Hồ khen cũng là đúng (tâm lý, ai được khen thưởng thấy đúng), mình đối với dân cũng có lương tâm lắm chứ! Bởi vậy, Thẩm Hoàng Tín đã gửi kính thăm sức khỏe của bác, không quên gửi kính biếu bác ít sâm nhung đặc quý. Rồi cho tới khi ký hiệp định Genève, nhiều cán bộ trung ương ra vào gặp Thẩm Hoàng Tín nói là bác Hồ nhớ chú Tín lắm, bác cảm ơn chú Tín đã tặng quà cho bác. Bác muốn chú Tín ở lại gặp bác.

Tuy trong lòng có thiện cảm phần nào với bác Hồ, với cách mạng nhưng trong lòng Thẩm Hoàng Tín vẫn còn nhiều băn khoăn, lo lắng. Chưa biết đâu được, chẳng có gì chắc cả, không chơi dại, ở lại với Cộng Sản nhỡ có chuyện gì thì chạy đâu được. Những cán bộ tiếp xúc với Tín đã thấy mối băn khoăn, giằng co lưỡng lự của Tín. Cho tới còn hơn một tháng trước ngày tiếp quản thủ đô Hà Nội 10/10/1954. Nguyễn Duy Trinh lại vào gặp Tín một lần nữa; mang theo lá thư của Hồ chủ tịch gửi cho chú Tín, nội dung:

“Do những thành tích sáng ngời vì dân vì nước của Thẩm Hoàng Tín. Với tư cách là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trang trọng đặc biệt đảm bảo riêng cho Thẩm Hoàng Tín, gia đình, họ hàng và toàn bộ tài sản của Thẩm Hoàng Tín an toàn triệt để cùng toàn dân đón chờ tới 1956, ngày tổng tuyển cử, đất nước thống nhất một nhà.” Lá thư có đóng đấu và chữ ký của chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Hồ Chí Minh.

Còn nỗi mừng vui hãnh diện nào to lớn hơn. Trong lòng Tín còn chút băn khoăn ngập ngừng nào đã tan thành khói bay theo mây chiều về phương Nam xa xôi. Hãy giữ chắc lá thư lịch sử này, nó như một lá bùa, một bảo bối bảo vệ cho Tín và gia đình an toàn sau này. Một mối lắt lay thầm kín trong lòng Tín từ mấy tháng nay. Bao nhiêu của cải, tài sản nhà cửa, xe cộ cả một đời tạo lập, nếu phải bỏ lại để ra đi thì rồi cũng héo mòn trong luyến tiếc. Không ngờ, ngày nay đã ổn đẹp, mà cuộc đời lại có chiều hướng đi lên. Thế là Thẩm Hoàng Tín quyết định ở lại, không đi vào Nam xa xôi vời vợi dù bạn bè và chính phủ quốc gia khuyên can bao nhiêu cũng không lay chuyển được tấm lòng đã đổi chiều của Thầm Hoàng Tín.

Nguồn tin dược sĩ Thẩm Hoàng Tín, đương kim thị trưởng thủ đô Hà Nội, một người vừa danh tiếng, vừa giầu có ở lại không đi vào Nam được Cộng Sản thổi phồng tung ra lan tràn khắp miền Bắc.

Trong cảnh đất nước chia đôi, lòng người ai cũng vậy. Nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả ông cha, nơi chôn nhau, cắt rốn, ai đâu bỗng dưng cắt ruột mà ra đi về một phương trời chưa hề biết. Cho nên trong lòng mỗi người đều có mối giằng co gay gắt giữa ra đi và ở lại. Hơn nữa, giai đoạn này có phải ai cũng hiểu được Cộng Sản như sau này.

Vì thế, mấy ông chủ sự, chánh văn phòng, giám đốc v.v… đều nghĩ nếu như ông Thẩm Hoàng Tín, một đương kim thị trưởng của một thủ đô, giàu có như vậy mà còn ở lại, ông ta còn hiểu biết Cộng Sản cũng như thời cuộc còn bằng mấy mình ấy chứ. Thế là họ quyết định ở lại. Những ông trưởng đồn cảnh sát, thiếu úy, trung úy v.v… lại nhìn từ ông Thẩm Hoàng Tín cho đến những ông giám đốc, chủ sự. Cứ người này ở lại, kéo theo người kia, để rồi biết bao nhiêu người đã quyết định ở lại theo sự liên đới mà chủ chốt là Thẩm Hoàng Tín.

Về phần Thẩm Hoàng Tín, khi đã quyết định ở lại rồi thì lòng càng mở rộng để nhìn về cách mạng. Thôi thì cứ như thoi đưa, hết cán bộ cấp này đến cấp kia ra vào gặp Tín như cơm bữa. Để rồi nhiều đêm nằm suy tưởng. Tín đã tưởng chính mình cũng là người của cách mạng. Càng gần ngày Cộng Sản tiếp quản Hà Nội, mảnh đất ngàn năm văn vật, càng lổn nhổn lên những con người xôi với đậu, kẻ ở, người đi. Bóng người xưa thưa vắng dần dần. Nhìn cảnh phố phường rệu rạo, đổi màu đôi lúc lòng Tín cũng vẩn lên nỗi man mác, bâng khuâng về những cảnh đời quen thuộc, quyền hành của mình đã qua. Nhưng rồi cái màu đỏ chói của cách mạng đã lôi hồn Tín trở về với những xốn xang, xởi lởi của những buổi ban đầu giao duyên với cách mạng.

Rồi cho tới ngày 10 tháng 10 năm 1954, Cộng Sản vào tiếp quản Hà Nội, lòng Tín như mở hội. Tín làm nhiều bữa tiệc tưng bừng để đón chào những người con cưng của Tổ Quốc, những cán bộ ruột thịt của cách mạng huy hoàng. Họ muốn cái gì, Tín cũng tặng. Họ muốn xe, có xe; muốn mũ, có mũ; muốn giày, có giày. Những thứ quí giá, đắt tiền nhưng Tín không hề do dự tặng, dâng. Tín làm như vậy là để thể hiện tấm lòng thương yêu, sắt son đối với cách mạng. Nhưng chỉ vài ngày sau đó, những cán bộ ân tình, quen thuộc thường xuyên ra vào nhà Tín trước đây, Tín đã đối xử với họ như những anh em đồng chí bây giờ bằn bặt đi đâu, hầu như không còn ai lai vãng. Tín chỉ cho là vì công việc tiếp quản bề bộn quá nhiều nên cán cán bộ đều bận.

Ít tháng sau, nhà nước ra thông báo có lệnh kiểm kê toàn bộ tài sản khắp miền Bắc mà các thành phố là điển hình. Tín cũng có lắng lo nên để ý, nghe ngóng. Các cán bộ kiểm kê ở khu phố Tín ở và những khu có nhà của Tín. Họ đã khẩn trương làm hết các nhà xung quanh nhưng không hề động chạm gì đến nhà đất, xe cộ của Tín. Lòng Tín và vợ con Tín tươi như hoa. Tín nằm ngủ mơ còn cười: thế chứ! Bác Hồ mà, chủ tịch nước và chủ tịch đảng chứ có chơi đâu.

Tín và gia đình suy nghĩ: bác và cách mạng đã đối xử với mình như thế, mình cũng phải biết điều chứ. Tín có nhiều xe, nhiều nhà, Tín tự nguyện tặng cho thành phố mấy cái xe mấy cái nhà để giúp phương tiện cho các cơ quan làm việc. Nhà nước càng hoan nghênh Tín.

Lệnh của ban kiểm kê tài sản: anh có bao nhiêu nhà cửa, xe cộ, ruộng vườn không cần biết. Tất cả nhà anh lớn bé có bao nhiêu người, sẽ chia theo đầu người và tùy theo người lớn trẻ con, chính sách đã quy định rõ ràng là được ở bao nhiêu thước vuông. Ruộng, vườn, xe cộ cũng theo thế mà quy định. Của cải của nhân dân, cũng là của nhà nước, không nên để thừa thải, không hợp lý. Bởi vậy, khi di cư vào Nam, có nhiều người viết giấy ủy quyền với những thủ tục pháp lý đầy đủ như: bố để lại cho con, con cho bố, cho anh em vợ chồng v.v… đều không còn giá trị nữa.

Mãi gần 3 tháng sau, về cuối đợt kiểm kê vào nhà gặp Thẩm Hoàng Tín, lý do:

– Ban kiểm kê tài sản đã biết ông Tín có giấy bảo lãnh của bác Hồ, cho nên không một cán bộ nào dám đụng chạm gì đến tài sản của ông. Chúng tôi đến với ông hôm nay, xin ông vui lòng cho phép chúng tôi kiểm kê toàn bộ tài sản của ông. Bao nhiêu nhà cửa, ruộng đất, xe cộ cũng như những vật dụng đáng giá trong nhà. Mục đích, để nhà nước biết được cái tiềm năng của cải của đất nước mà thôi, chứ chúng tôi không hề làm suy chuyển, dù là một cái đanh, một miếng gỗ thuộc về tài sản của ông.

Tín nghe thì cũng có chút phật lòng, bỡ ngỡ. Nhưng nghĩ cho kỹ, cũng thấy hợp lý, vì nhà nước cũng cần phải biết mức độ của cải, giầu nghèo của toàn dân. Vả lại, mình đã có là bùa hộ mệnh thì còn e dè, sợ sệt cái quái gì nữa. Nghĩ thế, nên Tín đã hân hoan tạo điều kiện cho các cán bộ kiểm kê làm việc được dễ dàng, thuận tiện. Sau mấy ngày khẩn trương làm việc nghiêm túc mới kiểm kê xong, cuối cùng người trưởng đoàn căn dặn Tín:

– Tất cả những đồ đạc, xe cộ v.v… mà chúng tôi đã kiểm kê, yêu cầu không được di chuyển hay cho ai vì nhà nước còn nghiên cứu và thẩm tra lại.

Tin nghe căn dặn, điếng cả người, của mình mà mình không được cho, không được di chuyển và càng không thể được bán (mà có bán lúc này thì ai mua của ai?) như vậy đâu có còn là của mình nữa. Cả nhà buốn, lo rười rượi, ăn không ngon, ngủ không yên. Tín bàng hoàng tức tối, nhất định phải hỏi cho ra nhẽ mới được. Nhưng dạo này những cán bộ cao cấp có còn thấy mống nào đến nhà nữa đâu. Hỏi những cơ quan lớn của thành phố thì họ đều trả lời không biết. Hỏi thẳng cơ quan kiểm kê cũng như cục nhà cửa thì họ chỉ biết trả lời là họ thi hành lệnh trên. Trên là trên nào thì may ra chỉ có ông trời mới biết. Đầu óc cứ như muốn nổ tung ra vì nghĩ với suy. Cùng thì tắc. Tắc rồi thì phải thông, đó là lẽ trời, vì thế Thẩm Hoàng Tín quyết định.

Một hôm trời đẹp như thơ, Thẩm Hoàng Tín khăn gói quả mướp quyết định vào thẳng phủ chủ tịch xin gặp bác Hồ. Năm lần, bẩy lượt đều được trả lời là bác đi công cán không có nhà. Thôi bây giờ cái thế chơi dao đã lú lẫn cầm phải đàng lưỡi rồi. Nghĩa là ở vào cái thế phải chạy theo thì cũng đành vậy. Quyết tâm, Tín bỏ nhiều công thập thò, chờ đợi cho đến một buổi đó, trời cũng giúp ông Tín: một đoàn xe đang hộ tống chiếc xe của chủ tịch đi ở giữa tiến vào cổng phủ, rõ ràng có bác Hồ kính yêu ngồi ở trong. Không thể chần chờ, Tín đã xông ra, nhiều người hộ tống bác Hồ ngăn cản, giằng co với Tín. Bác Hồ đã trông thấy, ra hiệu cho Tín đến gặp. Tín hãy còn hổn hển vì vừa bị đám cận vệ ngăn cản, lôi kéo, chỉ biết cúi đầu thật thấp, xin được gặp bác 5 phút thôi.

Hồ Chí Minh gật đầu chấp nhận và Tín được vào phòng khách của phủ chủ tịch ngồi chờ. Sau gần 20 phút đợi chờ, Tín còn đang rụt rè đưa mắt nhìn những cảnh trang hoàng mới lạ của chiếc phòng khách mà trước đấy, thuở vang bóng ngày xưa Tín đã ra vào nhiều lần thì bác Hồ từ một cửa ngách đi ra. Mặt rồng hớn hở, bác tiến lại giơ tay cho Tín bắt. Lòng Tín xốn xang, cúi đầu thật thấp, run rẩy đưa 2 tay ra nắm chặt bàn tay quyền lực của bác. Bác Hồ vồn vã:

– Đã mấy lần, tôi định đến thăm chú, nhưng việc nước bề bộn, không có rảnh rang được chút nào. Thế hôm nay chú đến thăm tôi hay có việc gì?

Ngập ngừng, Tín trả lời trong hồi hộp nguồn cơn:

– Thưa bác, cháu muốn kính thăm sức khỏe của bác và xin ý kiến bác về một việc.

Hồ Chí Minh giọng vẫn xởi lởi thúc giục:

– Chú cần việc gì thế, cứ nói đi! Tôi sẵn sàng làm cho chú vừa ý!

Được lời như cởi tấm lòng, Tín nói thẳng những điều đang ấm ức trong lòng:

– Được bác thương yêu bảo lãnh cho cháu và gia đình, nhưng nay cán bộ đến kiểm kê hết tài sản của cháu và ra lệnh cấm tuyệt đối không cho di chuyển hoặc cho ai.

Mắt Minh mở to, mặt mất sắc, trắng ra vì ngạc nhiên. Minh quay lại ông bộ trưởng phủ chủ tịch đang đứng phía sau:

– Đồng chí, cho gọi ngay đồng chí bộ trưởng chịu trách nhiệm kiểm kê tài sản toàn quốc, vào đây ngay.

Khi tên bộ trưởng phủ chủ tịch ra ngoài rồi, Minh quay lại, nét mặt còn giận dữ nói với Tín:

– Láo thật! Như thế này thì không còn thể thống pháp lý gì cả.

Chỉ 3 phút sau, ông bộ trưởng đặc trách kiểm kê tài sản rụt rè tiến vào. Minh đứng giật dậy, nhìn ông bộ trưởng vừa vào, hỏi dằn giọng vẫn còn đầy tức tối:

– Tôi đã viết thư, ký nhận bảo đảm tài sản của chú Tín, vậy sao đồng chí còn cho lệnh vào kiểm kê nhà cửa, xe cộ của chú Tín?

Tên bộ trưởng cúi đầu rụt rè, ngập ngừng không nói ra lời. Minh đập tay xuống bàn quát:

– Tại sao?

Tên bộ trưởng nói ngắt quãng:

– Dạ…..thưa bác…..không phải tại cháu ạ!

– Thế, tại ai? Ai ra lệnh?

Minh hỏi dồn dập, tên bộ trưởng giơ hai tay lên xoa tai nói nhỏ:

– Thưa bác…..nhân dân ạ!

Hồ Chí Minh giơ cả hai tay lên trời, đầu lắc quầy quậy nhìn Tín:

– Ồ, nếu là nhân dân thì tôi xin chịu. Bởi vì cả cuộc đời tôi được sinh ra là để phục vụ nhân dân. Nhân dân bảo chết, tôi xin chết. Nhân dân bảo sống, tôi được sống. Tôi chỉ là một cá nhân nhỏ bé, vô giá trị trước nhân dân.

Tin như từ trên trời rớt xuống; đầu choáng, mắt hoa; ra về mà cái chân đi không còn thấy lối. Uất hận, đau thương ngập trời chỉ còn biết mình tự trách mình:

Than ôi! Tay trót nhúng chàm.

Dại rồi, còn biết khôn làm sao đây?

Sau đó, nghe đâu Thẩm Hoàng Tín đã tự tử nhưng được cứu sống, rồi bị bắt hay bị quản thúc thì không được nghe ai nhắc đến nữa.

Chuyện bị bắt hay có tội dưới chế độ Cộng Sản miền Bắc nó rất bình thường, đơn giản. Nó đơn giản đến cái độ mà người ở thế giới bên ngoài không thể hiểu được, cho nên dù có ai nói cũng không tin. Anh có của, có nhà, chính phủ đến lấy, đến tịch thu; anh cứ phải vui như Tết. Từ ở trong lòng, cũng như anh phải thể hiện với người chung quanh là chính phủ đã làm đúng, anh hoàn toàn bằng lòng. Nếu anh lại tỏ ra buồn phiền, phàn nàn hay tức tối, như vậy là tội đấy. Cán bộ sẽ có biện pháp kỷ luật, không cho anh ra khỏi nhà, không được tiếp xúc với ai. Anh lại càng tức tối nữa, phẫn uất như điên, lời nói phản đối nhà nước càng nặng hơn, như vậy tội càng lớn hơn. Cứ như thế, để rồi cuối cùng phải vào trại giam

Anh đang làm trưởng phòng của một cơ quan nào đó. Do những ý riêng hoặc yêu cầu của nhà nước, họ sẽ tìm một vài khuyết điểm vu vơ của anh. Chính phủ hạ anh xuống làm một nhân viên, anh phải vẫn hân hoan, vui vẻ tích cực làm việc ở cương vị đó một cách thực lòng. Nếu anh tỏ ra tiêu cực trong công tác, như vậy là tội đấy, anh đã hờn oán chính phủ. Họ sẽ có biện pháp kiểm thảo, hạch sách, kỷ luật hành anh đủ điều. Anh lại càng hận, tức hơn, tất nhiên sẽ thể hiện trong lời nói và việc làm, anh lại bị nặng hơn nữa, cuối cùng chỗ anh ở vẫn là nhà giam. Nói một cách dễ hiểu: anh đang tự do, trói anh lại, anh đừng giẫy, vẫn vui vẻ thì không sao. Nhưng cả ngàn người khi tự nhiên bị trói thì đều tức tối, giẫy dụa kêu trời, thậm chí còn chửi bới. Vậy, đó là tội đấy!

Tóm lại, với Cộng Sản, xin những nhà nước và những cá nhân đừng tin, đừng ký kết với họ cái gì cả. Ký một hợp đồng đầu tư xây dựng một nhà máy gì đó trong đất Cộng Sản là bạn đã ký giấy cam kết với con hồ ly tinh. Chắc chắn, không sớm thì muộn bạn sẽ bị xiểng liểng với nó. Cộng Sản sau đó sẽ có trăm ngàn lý do làm cho bạn phải đau đầu. Cũng như Cam Ranh của Việt Cộng bây giờ (1990). Rất ngon lành mời gọi, nếu Mỹ cứ mó vào. Tôi chắc chắn rồi Mỹ sẽ phải điên đầu, xiểng liểng thất cơ lỡ vận, lúc đó xin đừng kêu trời.

Phải nói rằng giai đoạn này, bác Tiến và tôi, một già, một trẻ thường say mê chuyện trò với nhau. Tôi cố hạn chế không muốn cho nhiều người biết sự thân mật, chuyện trò giữa tôi và bác Tiến. Thường thường những buổi tối khi đã bỏ màn, chúng tôi ngồi trong màn nói chuyện, bên cạnh lại là mấy người dân tộc nên cũng không đáng ngại. Do cách sống đạo đức, hiền hậu của bác, và nhất là uy tín của bác trước đây nên có nhiều người, nhất là thanh niên, trong đó có những tu sĩ, vẫn thầm kín giúp đỡ bác trong những khó khăn của đời tù vì tuổi già, sức yếu. Năm nay bác đã 65 tuổi rồi (1968).

Trông bác phúc hậu, hiền lành, ăn nói từ tốn cho nên được hầu hết anh em trong tù trọng mến. Ngược lại tụi cán bộ lại ghét cay, ghét đắng bác. Có lần một buổi trưa, bác Tiến đang ngồi ở hội trường nói chuyện với mây thanh niên tu sĩ, tên Đức trưởng ban giáo dục từ ngoài cổng trại đi vào. Đến hội trường, thấy vậy, y bước đến, chỉ bác Tiến, bắt bác nhặt hết những lá khô, rác rưởi ở dưới rãnh dọc theo mái hiên của hội trường. Nó không cho ai giúp bác, chủ trương của nó là chỉ muốn hành hạ bác chơi vậy thôi. Phần do bản tính hiền lành, phần biết nhẫn nhục thích ứng nên bác đã lẳng lặng làm theo lệnh của nó với quan điểm “nín thở qua đò”.

Tên Cẩn trực trại cũng thế. Một buổi Chủ Nhật nó đi lang thanh vào nhòm ngó các buồng. Khi nó vào buồng 2, nhìn thấy bác Tiến đang ngồi nói chuyện trong một đám người, mặt nó lạnh tanh như da trâu ngâm nước, nó bước thẳng vào nhà cầu của buồng rồi trở ra. Vẫy tay gọi bác Tiến, nó dẫn bác vào nhà cầu chỉ chỗ đi ỉa, đi đái đầy mùn, bựa dơ bẩn. Nó ra lệnh cho bác Tiên phải xuống giếng lấy nước, dùng bàn chải cọ cho sạch ngay trong ngày hôm ấy. Chiều nó vào kiểm tra mà còn bẩn thì đừng trách nó. Mọi người thấy nó hành hạ bác Tiến như vậy đều mủi lòng thương, nhưng không ai dám giúp đỡ. Chờ cho đến khi tên Cẩn đi ra, mới có mấy thanh niên đi xách nước cọ giúp cho bác. Mặc dù việc cọ rửa nhà cầu đã có anh Lương Yên, một người Lào gốc Việt vẫn hàng ngày làm vệ sinh trong trại chịu trách nhiệm.

Vậy mà sáng hôm sau, các toán đang chờ xuất trại đi lao động thì có lệnh của ban giáo dục: Phùng Văn tại (toán 2), Hoàng Mạnh Hùng (toán 3) ôm chăn chiếu đi kỷ luật. Hai cậu này hôm qua đã giúp bác Tiến cọ nhà cầu.

Sau một số ngày chuyện trò với bác Tiến, cũng như qua mấy người khác cùng ở trại Vĩnh Tiến với bác, tôi được biết sơ lược về bác như sau:

Là một thanh niên trí thức của Hà Nội, cũng như nhiều thanh niên trí thức có tâm hồn khác. Thấy lòng uất hận, tủi nhục nhìn cảnh quê hương dân tộc bị giặc Pháp thống trị, bóc lột nên ngay từ 1925, bác đã tìm đường trốn ra nước ngoài, hòng tìm ra một phương cách, một giải pháp cứu giúp đồng bào, đất nước. Bác đã lặn lội, lang thang gần khắp châu Âu, hết Anh, rồi Đức lại đến Pháp. Cuối cùng bác đã gia nhập đảng Cộng Sản Pháp. Từ tấm lòng hướng về quê hương, bác đã nghiên cứu, học tập hoạt động hăng say dần dần trở thành một đảng viên xuất sắc. Uy tín của bác được đảng Cộng Sản Pháp đề cao.

Theo sự suy nghĩ của bác, muốn hoạt động cho nền độc lập của nước nhà, không những phải vận động ở bên ngoài, mà còn cần phải có quần chúng, có hậu thuẫn ở trong nước nữa. Vì thế bác đã cậy cục trở về nước bí mật hoạt động vào thời gian Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930). Sau vì những điều kiện trong cũng như ngoài chưa đủ chín mùi, nếu manh nha sẽ bị thực dân Pháp nhận chìm vào biển máu nên đổi chiến thuật, bác quay ra làm sách, làm báo công khai để vận động quần chúng, khích lệ, gieo mầm nuôi dưỡng các phong trào. Cho tới ngày 19 tháng 8 năm 1945 toàn dân đã cướp được chính quyền từ trong tay thực dân Pháp. Do mâu thuẫn nặng nề về chính kiến với những phương cách nham hiểm, tàn bạo của những người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, bác lại ra đi trở về Pháp.

Bác không những là bạn đồng chí mà còn là bạn thân của Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, cả ngay Hồ Chí Minh nữa. Trước đây ở Pháp, bác đã gặp gở và giúp đỡ Minh vượt qua nhiều trở ngại, khó khăn.

Khi trở về Pháp lần này, bác miệt mài nghiên cứu, đào sâu chủ nghĩa Marx và Lénine cùng với một số học thuyết khác. Rồi trong một lần bác được yết kiến Đức Giáo Hoàng, Chúa Kitô soi sáng tâm hồn bác, bác thấy bừng lên một chân trời sáng bao la, cao siêu, đầy nhân hòa trong xã hội loài người. Bác sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng với thực dân, phong kiến và đế quốc, nhưng bác cũng không ưa sự tàn bạo, quá khát máu của Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế. Một thời gian nghiên cứu về thần học, bác đã tìm ra một đường lối giao hòa giữa Cộng Sản và Thiên Chúa giáo. Bác càng nổ lực nghiên cứu thấu đáo con đường bác đã nhìn thấy, hòng cứu vãn dung hòa cái khắc nghiệt của máu sẽ chảy nhiều của thời đại.

Bác đã từ chối hết mọi danh vọng, lời mời mọc của Đồng, Giáp, Liệu. Nào là họ sẽ giao mặt trận Tổ Quốc cho bác, hoặc bác sẽ nhận trách nhiệm hành chính của một tỉnh v.v… Rất nhiều những lá thư tay, lôi kéo, dụ dỗ của Đồng, Giáp, Liệu gửi cho bác cho tới ngày bác về nước đợt này.

Lúc này bác trở về quê hương (1960), mục đích của bác là để vận dụng, thực thi con đường giao hòa giữa Cộng Sản và Thiên Chúa giáo. Trần Huy Liệu và Võ Nguyên Giáp cùng một số cán bộ cao cấp đã đến chỗ ở của bác ở gần Hà Nội gần Nhà Thờ Lớn, nhiều lần đe dọa, áp lực bắt bác phải từ bỏ con đường bác đã chọn. Dù bác không chống họ, nhưng cho tới đầu 1962, họ đã bắt bác vào Hỏa Lò với lệnh tập trung cải tạo.

Khi nghe nói bác bị bắt vào Hỏa Lò 1962 trùng một năm với tôi, tôi chợt nhớ lại. Khoảng 1963 khi tôi được chuyển từ xà lim 3 về xà lim 2 ở buồng số 4 với Phạm Huy Tân. Có một lần Tân nói: trong buồng này, có một bác già tên là Tiến vừa được chuyển đi thì anh đến. Buồn cười lắm! Ông ta nghiện thuốc lào, vì có tiếp tế nên có diêm, có thuốc mà lại không có điếu. Ông ta có một miếng xà phòng giặt, lấy một chiếc đũa thọc xuyên qua thành một cái lỗ, rồi khoét rộng một đầu để có thể vê điếu thuốc nhét vào. Mỗi khi hút, ông ta tỳ miệng vào một bên của cục xà bông, bên kia đánh diêm hút. Ông ta hút một điếu thuốc thật vất vả, nhưng có thể vì xà phòng sao đó ông ta bị đi ỉa chảy mấy ngày nên không dám hút nữa. Khi ỉa chảy đơ đỡ, thèm thuốc quá, ông ta lại hút và lại tiếp tục bị đi ĩa, toàn ra nước với bọt thôi.

Lúc đó nghe Tân nói, tôi nghĩ, ông ta cũng như trăm ngàn người khoác nên tôi cũng chả hỏi thêm làm gì. Nhưng bây giờ tôi đoán, hẳn là bác Tiến chứ không ai khác, và như thế tên Tân hiện đang làm trật tự ở trại này chẳng còn lạ gì bác. Có điều y lờ đi, coi như chưa từng quen biết bác. Giòng suy tư của tôi lửng lờ chảy đến đây, tôi qua lại hỏi bác Tiến ngay:

– Thế ở Hỏa Lò ai tiếp tế cho bác?

Bác cười trả lời:

– À, thời gian ở ấy thì có mấy con cháu, nó vẫn tiếp tế cho bác. Nhưng từ ngày chuyển đi các trại, họ không cho gửi thư, nên các cháu chả biết bác ở đâu.

Những lúc ngồi nghe bác tường thuật lại những cảnh đời bôn ba, lúc thuận tiện cũng như những lúc khó khăn trong quá trình của đời bác. Nhìn mái tóc đã gần trắng hết đầu, nét mặt đôn hậu, hiền hòa, phương phi, tôi chợt nhớ đến gương mặt của Hồ Chí Minh. Giòng suy tưởng của tôi cứ trôi dài vào cái lẽ thăng trầm của thế sự ngược xuôi, thành công và thất bại.

Có tài, nỗ lực làm việc mới chỉ là một điều kiện. Còn một điều kiện, một yếu tố nữa là may mắn gặp thời.

Thời lai, đồ điếu thành công dị.

Vận khứ, anh hùng ẩm hận đa.

Ngày xưa, tôi nhớ trong sách toán học trong miền Nam từ đệ nhị cấp trở lên, ngoài bìa thường in cái phương trình làm việc của nhà bác học Albert Einstein như sau:

X + Y + Z = THÀNH CÔNG

Với ba ẩn số: Z = Cố gắng, nỗ lực. Y = Làm việc, nghĩa là phải bắt tay vào làm cái việc mình định làm. X = May mắn, thời cơ.

Theo lẽ thông thường, yếu tố nào quan trọng hơn người ta đặt trước. Như vậy, dù Albert Einstein, một nhà đại bác học mà cả khối tự do cũng như Cộng Sản đều phải thừa nhận. Nghĩa là, ông là một nhà khoa học đến chân răng, kẽ tóc, thế mà, ông ta vẫn thấy, và thừa nhận yếu tố may mắn trong cuộc đời là quan trọng và cần thiết. May mắn là nói theo khoa học; nói theo lối thông thường là số phận, là định mệnh.

Từ những chứng kiện trên qua óc liên tưởng, cho phép tôi tin: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải đã lâp được một chiến công lẫy lừng đại phá quân Thanh năm 1789. Chúng ta là kẻ hậu thế chỉ thấy cái sáng chói hiển hách của vị anh hùng dân tộc. Nhưng cùng đồng thời với ông hẳn cũng có nhiều người tài ba nhưng vì không may mắn, không gặp thời nên đã mai một đi, trở thành vô tên tuổi. Thời Hồ Chí Minh cũng vậy, và cả thời Ngô Đình Diệm cũng thế. Tóm lại, người thành công nhất, chưa hẳn đã là người tài giỏi nhất.

Hai anh Nguyễn Thanh Đương và Trần Quốc Anh bị đi kỷ luật hôm Hoàng Thanh giật dây ảnh, mãi hơn một tuần sau mới được thả ra. Hai người lặc lè về buồng 2. Mặt mũi anh nào cũng phờ phạc, xanh tái, hẳn đã phải làm bản kiểm điểm, một hình thức nhận lỗi, nhận sai lầm thì mới được ra. Tôi hiểu, Hoàng Thanh chỉ muốn dằn mặt buổi ban đầu với người vừa ở trại khác chuyển đến mà thôi.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 22 Oct 2023

Những tượng ảnh làm ô uế Chúa

Đặng Chí Bình 

Bài 35

Chiều nay, một nguồn vui bất ngờ làm xôn xao cả trại. Do tinh thần lao động hăng say của các toán, Ban giám thị mua về cho cả trại hai con lợn, mỗi con nặng hai mươi lăm ký và đặc biệt chiều nay cơm không độn.

Nguồn tin rộ ra khi đã xuất trại rồi vậy mà nó lan tràn rất nhanh ra khắp các toán ở ngoài rừng cũng như trong lán thủ công. Nhiều con “phe” đã thập thò, thì thầm đặt hàng mua bán, đổi chác cái món ăn tuyệt vời mà từ Tết tới giờ hơn ba tháng rồi mới có. Ngay ở trong lánh, mùi hành, mùi tỏi từ phía nhà bếp trại lách vào trong gió theo nhau ra cả đến chỗ người ta làm mộc. Nhiều anh, dù đang cưa, bào đục đẽo cũng phải ngửng lên hếch mãi cái mũi lên cao hà hà, hít hít, mắt sáng long lanh nhìn nhau như muốn nói: đấy…có ngửi thấy không?

Phần tôi, dù đang cắm cúi bào mấy cái mặt ghế đẩu xồn xột, trong lòng vẫn cứ nhấp nhổm tính. Ngay từ mấy ngày trước, tôi đã nhìn thấy mấy cây ngò gai của bác Chánh trồng bên cạnh gốc cây muồng cụt phía sau lán vernie. Dứt khoát bằng mọi giá tôi phải ngoại giao để kiếm được hai lá về để “xịa” vào mấy miếng thịt chiều cho đời lên hương sắc. Nhưng cho đến khi toán về, khi vào qua cổng trại, một mùi thơm của thịt thật lạ lùng, nó nồng nồng, ngái ngái phả khắp đó đây. Anh em vẫn khẩn trương hơn mọi khi như thôn, làng chuẩn bị vào đám. Nhưng cũng có nguồn tin đang được rỉ tai: “Thịt lợn chết ấy mà”. Mới nghe, mọi người có vẻ hơi buồn một chút, nhưng rồi hầu như mọi người lại gượng vui chấp nhận: “Có còn hơn không”.

Nguồn tin càng gần đến giờ lấy cơm lại càng bành trướng to mãi ra rồi đẻ dài ra nhiều chi tiết cụ thể: “Ân huệ chó gì đâu, mấy con lợn này là của cán bộ mua từ miền xuôi lên. Trời thì nóng, xe thì chậm chạp cũ kỹ nên lợn bị chết đã từ hai ngày ở dưới Hải Phòng. Cán bộ quyết định mổ, lấy ruột ra rồi nhân những thùng mắm cùng mua về cho cơ quan, đem hai con lợn chết ướp vào đấy trên đường về cho thịt khỏi hư. Nhưng có lẽ hai con lợn chết đã lâu, thịt đã ươn nên dù có ngâm vào thùng mắm, nó vẫn có cái mùi khăn khẳn. Chính vì thế, ngoài cơ quan cán bộ không ăn, nhưng lại không muốn mất tiền, cho nên mới bán lại cho bếp trại.

Đấy là lòng thương yêu của ban giám thị!

Dù đã nghe mọi người rì rầm bàn tán như thế, nhưng hầu hết anh em do thèm khát, thiếu đói lâu ngày nên đều nhất trí: có mà ăn là tốt rồi! Vả lại thịt đã được ngâm mắm lại càng thơm càng đậm đà.

Nhưng chả hiểu đường dây báo cáo “chó chết” nào cũng thật nhanh và nhậy. Chỉ mới đến lúc 3 tiếng kẻng rống lên ở cổng trại báo hiệu giờ hạnh phúc, giờ lấy cơm của anh em đã điểm. Anh em đang ồn ào, chen chúc nhau chạy túa về phía nhà bếp thì tên Đức, thiếu úy trưởng ban giáo dục và tên Cẩn trực trại từ phía cổng hộc tốc đi vào nhà bếp. Một tin lại làm tê điếng lòng mọi người: nghiêm lệnh đột xuất của ban giám thị, bắt đem toàn bộ số thịt lợn đó đi chôn. Lệnh giao cho thiếu úy Đức, trưởng ban giáo dục trực tiếp thi hành triệt để.

Lần này trong trại còn xôn xao hơn cả buổi trưa, kêu trời chửi đất râm ran lên như vịt đẻ. Người ta kéo nhau ra đầy sân, đầy cửa đứng nhìn mấy anh tự giác gánh gồng, cuốc xẻng do cán bộ áp giải đem thịt đi chôn. Mọi người nguyền rủa, căm thù tên gian tặc nào đó đã báo cáo. Nó ngu quá, khôn như người ta thì hãy để ăn xong rồi hẵng cáo cầy, để bây giờ nhỡ nhàng chỉ có cơm trắng với muối rang. Câu chuyện thịt chết đến đó vẫn còn chưa xong.

Hai hôm sau, vào ngày Chủ Nhật. Trời đã vào Hè, nắng chang chang. Buổi trưa, không hiểu sao trong trại nhiều nhặng xanh thế? Buồng nào nhặng xanh cũng kéo vào như đàn ong. Đuổi chúng cũng không bay đi, lại cứ xấn cồ vào trong buồng. Một cái mùi tanh tanh, khăn khẳn buồn nôn, cái mùi của thịt chết lâu ngày nồng nặc trong khu trại. Ngửi thấy cái mùi này, tôi lại liên tưởng đến cái mùi thịt của những xác chết ươn đã nhiều ngày ở nghĩa địa Đô thành trong ngày binh biến 11/11/1960, và cái mùi của chiếc chân thối của vị linh mục ở Cassô, Hỏa Lò ngày nào. Chẳng còn ai ngủ trưa được nữa, người ta dậy để đuổi nhặng, và mọi người mới hiểu được nguyên nhân: có những đường dây ngầm, móc ngoặc giữa tự giác với con buôn và người có tiền. Họ đã bí mật đào lấy mấy bọc thịt lợn chôn về, lén lút bán một đồng một cóng bơ sữa bò. Nhiều người có tiền ở các toán đã bắt mối nhau mua. Người mua, chủ trương sẽ cho nhiều muối vào kho mặn rồi giấu kỹ để ăn dần. Nhưng có lẽ một phần vì thịt lợn chết đã quá lâu, đã ươn rữa, phần khác, muối đâu có thể kiếm được đủ dễ dàng. Vả lại, người ta cũng chả ngờ được những con nhặng chó chết, mũi thật tuyệt vời. Người ta đã đậy kỹ, giấu mãi trong rương, trong bọc vậy mà chúng cũng đánh hơi thấy nên đã lăn xả vào con mồi.

Oan khổ hai anh tự giác vừa mất chân béo bở, lại vừa phải nằm nghỉ ngơi, nhưng bụng rỗng ở trong nhà kỷ luật. Mọi người đã mua thịt đều phải tự giác đem ra, không tự giác cũng không được vì những con nhặng sẽ tìm ra ngay; hơn nữa còn bị áp lực gắt gao của những người nằm bên cạnh không mua thịt. Tuy vậy, do quá thèm khát lâu ngày và do tiếc đồng tiền đã bỏ ra nên đại đa số đã ngấu nghiến nhai vụng, nếm ngầm, nuốt bớt để rồi đi ỉa chảy trở thành cái dịch kiết lỵ cho hơn hai chục người trong trại. Cuối cùng 3 người đã phải đền mạng vì đợt thịt chết này là: Trần Đóa, một ông quận trưởng già ở Nam Định thuộc toán 4, Nông A Dzìn và Lò Đót thuộc toán 6. Trong cuộc đời có nhiều cái chết thật rẻ và cũng thật vô duyên!

Thời gian thấm thoát thoi đưa đã chảy dần vào cái Hè oi ả của tháng 6 tháng 7. Cái tháng của mặt trời đốt khô cảnh vật, nhưng cũng có hôm nước đổ ào ào trong những trận mưa rừng dằn dỗi làm ngập lụt cả đường đi. Tôi đã được chuyển lên tổ mộc của Phan Thanh Vân hơn 2 tháng rồi. Vân đã tận tình truyền dạy tay nghề cho tôi, phần khác, do tự tìm tòi học hỏi thêm ở những người thợ vững tay nghề khác, cho nên tôi đã làm được bàn và giường cá nhân khá về kỹ thuật cũng như về năng suất. Ông cán bộ Kích, quản giáo toán đã đổi đi nơi khác hơn một tháng rồi. Phải nói tôi rất có cảm tình với ông Kích, tuy theo Cộng Sản nhưng vẫn giữ được ít nhiều cái bản tính bộc trực, thẳng thắn của người miền Nam gốc Long Xuyên. Một buổi, chính ông đã gọi tôi lên phòng; trong những câu chuyện trò, hỏi han vẫn có một sợi tơ tình luồn lách, lẩn quất bên trong. Ông đã nói ý cho tôi: “cứ lao động vừa thôi thì tôi cũng đã được ăn 18 kg rồi, phải biết giữ sức mình.”

Đây là một ý tưởng rất hiếm, rất quý của một cán bộ trở thành đến lạ lùng nên tôi không thể quên được ông. Ngược lại, tên cán bộ toán mới này, y cũng là người miền Nam tập kết, nhưng tôi không biết quê quán ở đâu. Hơn một tháng nay từ khi về nhận toán 2, y năng nổ đi sâu, đi sát các khâu và mọi phạm nhân trong toán. Y tận dụng mọi thời gian luôn luôn thúc giục tù làm việc. Họp hành, kiểm thảo phê bình càng được tăng cường về cả nội dung cũng như thời gian. Tên y là Sỹ, cũng chỉ có cái lon trung sĩ từ mầu đỏ cạch đã phai đi thành cái mầu lá chết. Da y đen thẫm mầu bánh mật, hai má hóp lại nên đôi gò phía trên gồ ra đối với chiếc cằm nhọn làm cho cái mặt y choắt lại. Nét mặt y như vậy là thể hiện nội tâm của một con người suốt ngày đêm lo toan, tính toán để làm sao vươn cao, nổi bật hơn người chung quanh. Tôi tin rằng những ưu lo của y đã cuốn chặt cả vào những giấc ngủ ban đêm và bữa ăn của y ban ngày.

Một loại người như vậy, thì sống ở bất cứ một cái tập thể nào thì cũng làm phiền toái, gây ra nhiều bực dọc cho cái tập thể đó mà thôi. Ngoài xã hội thì kích bác, ghen ăn, ghen ở, tức ở, thủ đoạn, nịnh bợ. Trong nhà tù thì tất yếu sẽ làm chó không sai. Người như vậy mà có quyền hành thì thật là khốn khổ cho toán 2 chúng tôi trong giai đoạn này. Tôi nhớ một nhà tư tưởng có nói một câu: “Một tội ác nghiêm trọng của loài người là lại giao quyền hành vào trong tay một kẻ ngu.”

Chẳng hiểu tên Sỹ ác ôn này đề xuất, phát kiến sao đó; y lọc chọn toán 2 ra một bộ phận chính gồm toàn những anh trẻ khỏe hơn 30 người. Y đặt cái tên cho cái nhóm này là: đội mũi nhọn tiên phong. Số già yếu còn lại của toán gồm gần 2 chục người ở lại lán làm việc do một tên công an vũ trang quản lý. Số già yếu này phải nhận một phần việc gấp 2 lần để thay cho đội “mũi nhọn” phải nhận một công việc đột xuất đặc biệt.

Hơn hai năm trước, khoảng giữa năm 1966, lúc này chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ bằng không quân đang được mở rộng. Vào một buổi chiều thứ Bẩy, những đoàn tù lũ lượt gánh gồng những sản phẩm như ngô, khoai, sắn ở ngoài đồng về kho trại (trại chính). Chiếc kho này gồm 3 căn nhà xây ngay cạnh trại. Trời trong xanh, phía Đông dăm ba chùm mây trắng lững lờ, ngắc ngư theo gió mò về phía mặt trời lặn. Hai chiếc máy bay trên cao tít, lẫn vào trong mây, chẳng hiểu đi bắn phá mục tiêu ở đâu bay trở về. Có thể mấy anh phi công Mỹ nhà mình, nhìn thấy mấy khu nhà bên ngoài trại giam lại có mấy cái nhà xây. Trong khi, khu nhà của ban giám thị và khu công an vũ trang cũng như những căn nhà trong trại lại là tre, gỗ và lợp nứa. Các anh có biết đâu rằng, đối với công an kho lương thực là quan trọng nhất, nên phải xạy gạch để bảo trì; cho nên các anh đã sà xuống ngắt chơi cho 2 quả bom nhẹ, loại 100 pounds, vì tưởng đấy là lũ người coi trại.

Kết quả cả 3 căn nhà kho đều đổ nát, 18 người tù được tha bổng, 6 người bị thương. Riêng phía công an chết 5 tên, có một nữ cán bộ đang ở tuổi trăng tròn, hơ hớ tuổi xuân. Thế là tù được lệnh phân tán di chuyển về các phân trại. Nhà tù ở cũng được rỡ xuống đem gỗ cất giấu. Riêng có 5 căn nhà dài được rỡ về, xếp thành mấy đống lù đù ở cạnh tại E hiện nay, vẫn bao lợp bằng nứa đan.

Bây giờ giữa năm 1968, Mỹ đã tuyên bố hạn chế bắn phá. Do thế, đội mũi nhọn được lệnh chuyển tất cả những cột, kèo gỗ lạt của 5 căn nhà đó trở về trại xây. Đường từ trại E ra trại xây chỉ khoảng 4 cây số nhưng nhiều ngoắt ngoẻo, dốc đồi.

Hầu hết số biệt kích, gián điệp ở trong Nam ra đều được chọn vào cái đội “mũi nhọn” chết người này. Kể cả Đinh Sơn, tổ trưởng, tổ kỹ thuật và Nguyễn Huy Lân toán trưởng cũng không thể thoát cái lệnh quái ác của tên Sỹ. Tên Sỹ đứng ốp ngay tại đống gỗ. Cột cái 4 người trong người kia, ai cũng phải vác những cái mà tên Sỹ nhìn được.

Hai tên bộ đội vũ trang áp giải cũng thật vất vả. Chúng cũng phải chạy theo những người mang vác. Phần vì mang vác nặng thường phải chạy nhanh một đoạn đường để nghỉ dăm phút cho đỡ đau vai. Phần khác, cũng do tên Sỹ thúc ép quát tháo, giục chạy ở phía sau. Buổi sáng một chuyến, chiều một chuyến; như vậy cả đi và về tất cả 4 lần, tức 16 cây số mỗi ngày. Cái điều đáng sợ là phải triệt để thực hiện khẩu hiệu: “đi có về có” của tên Sỹ. Ở gần trại chính khoảng 500 mét, có mấy đống củi gỗ lớn chẳng hiểu có từ bao giờ. Vì thế, sau khi khênh, vác gỗ làm nhà vào trại chính xếp gọn ghẽ, lại trở ra chỗ đống củi, vác củi về trại E cho bộ đội và cán bộ thổi nấu và sưởi về mùa Đông.

Tuy được bồi dưỡng đặc biệt. Anh Lý A Chén, tự giác toán, được quyền mỗi ngày đào 30 kg sắn, bóc vỏ, luộc để đội “mũi nhọn” ăn thêm cho có sức lao động. Bóc vỏ rồi luộc, chia ra thì mỗi người cũng được 7 lạng sắn chứ có ít đâu. Ngày đầu ai nấy đều hăm hở ăn hết, nhưng những ngày hôm sau thì đã có nghiều người nhai không muốn nuốt, chỉ vì người quá mệt.

Tôi với Vân thường 2 người vác một cột quân. Vân cao lớn hơn tôi, nên đi sau. Kẻ trước người sau đều è vai, mặt đỏ tía tai đẩy kéo nhau chạy. Một vài ngày đầu, ai cũng hăng say phấn khởi, nhẩm bụng mỗi ngày có gần 1 kg sắn thì hẳn phải được ăn no. Những ngày hôm sau, phần vì mệt, hết hơi, hết sức, phần khác, người và vai đau như giần. Đang là một thân tù ốm yếu, hàng ngày chỉ ra lán thủ công lao động, bây giờ mỗi ngày chạy 16 cây số, chưa nói là phải mang vác nặng nề thì ai mà không sợ. Những ngày nắng gắt, mặt trời như đổ lửa xuống núi rừng, mồ hôi chảy tong tong ướt đẫm cả áo quần. Những buổi mưa gió dầm dề, đường trơn lầy lội, anh chàng Vân chỉ to xác, tôi có cảm tưởng 2 cái chân ấy, không phải là của cái thân hình dài ngoẵng của anh ta. Nó chòng chành, run rẩy, xiêu vẹo cứ như lúc nào cũng muốn đổ kềnh ra. Thân tôi cũng đang ngắc ngư con tầu đi, nhưng nhìn Vân tôi cũng thấy não lòng ái ngại. Rõ ràng Vân đi không vững, có lần trượt chân, Vân ngã xấp xuống đám bùn lỗ chân trâu, hất tung cái cột lăn ra mé đường kéo tôi nằm ngửa hơ hơ cũng trên bùn với nước. Những lúc quá nặng, quá mệt, Vân và tôi ghệ chiếc cột vào một bụi nứa bên đường để nghỉ. Thắc mắc, hỏi Vân, tôi mới hiểu: anh đi không vững, một khía do bàn chân mất một ngón, khía nữa chỉ có một con mắt nên cứ chổng chểnh chạy theo, chứ nhiều khi Vân chả nhìn thấy vũng nước hay ổ gà. Thảo nào, những hôm đường trơn toàn bùn, Vân ngã xiêu, ngã vẹo xoành xoạch, quần áo, mặt mũi lấm be, lấm bét. Trông mặt Vân méo xẹo, nhưng tôi cũng chả hơn gì, chẳng qua đã là tấm thân tù rồi. Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai?

Được gần một tuần thì anh Phạm Tấn Tích tổ trưởng tổ 3 ngã, bị cây cột cái đè gẫy xương sống, phải khênh về bệnh xá trại. Dù đã có người bị thuơng nặng, nhưng đội “mũi nhọn” vẫn bị tiếp tục duy trì cường độ lao động, cho tới xong để đạt chỉ tiêu thi đua mà tên Sỹ đã đăng ký lập công, với cấp trên, với tổ đảng. Chỉ hơn nửa tháng trời, mắt anh nào cũng trắng ra, má hóp vào, mặt vêu vao như sau một trận ốm nặng.

Điều vui mừng cho Vân là sau đợt lao động của đội “mũi nhọn” này, Vân đã có lệnh tha. Vân đã được tha ra trước án mấy tháng. Tôi vừa mừng vừa gạt được cái nỗi nặng nề, vẫn canh cánh trong lòng. Mừng vì Vân được tha ra đúng như tôi đã lý luận dự đoán. Lòng tôi nhẹ đi, vì dù sao chăng nữa, từ ngày tôi nhặt được 4 đồng bạc, mà tôi đã đoán đến 90% là của Phan Thanh Vân. Bởi vậy, mỗi lần nhìn thấy Vân, lòng tôi lại gờn gợn lên nét sượng sùng. Bây giờ cuộc đời của Vân đã được đi ra con đường rộng, đã ra chỗ sáng, lòng tôi sẽ không còn áy náy nhiều nữa. Tuy vậy, khi viết đến mấy giòng này, tôi chưa biết Vân đang ở đâu, nếu tìm được, tôi sẽ trả cả vốn lẫn lời cho cái món nợ trong chốn khốn cùng của quê hương ấy.

Cho tới lúc này, tôi tin rằng Vân cũng không thể quên tôi được, bởi vì Vân còn nhớ chăng? Đôi bát to tráng men mầu xanh lá chuối non. Đôi bát lúc ấy là một thứ quý giá nhất đối với đời một người tù, Vân đã dành riêng để lại cho tôi. Đôi bát ấy đã quyện chặt nghĩa tình của Vân. Chúng đã lầm lủi, sắt son theo tôi cho đến ngày cuối ngục tù của đời tôi.

Vân được làm công nhân ngay trong trại I. Những tháng sau đó, đôi ba lần tôi thoáng thấy Vân mặc bộ đồ nâu đi giăng mắc dây điện cho trại. Nghe đâu, lương của Vân mỗi tháng 36 đồng.

Rồi do những đổi thay xê dịch của đời tù, mãi đến năm 1974 sau hội nghị Paris một năm. Lúc này tôi đang ở trại trung ương số II Phong Quang, thuộc tỉnh Yên Bái. Tình cờ nghe mấy em tù hình sự kể chuyện lại: Phan Thanh Vân được về Hà Nội làm công nhân, rồi vì sao đó bị bắt lại trại I. Do sự bất mãn nên đã ương ngạnh với chính quyền mà phải vào nhà kỷ luật. Trong nhà kỷ luật, hơn một tháng sau bị đi kiết lỵ rồi chết. Từ dạo biết tin ấy, tôi rất buồn cho đời Vân. Chẳng thể ngờ đời một con người đã chịu khổ cực tù đầy bao nhiêu tháng, năm cho tới khi được tha, kết quả là như thế hay sao?

Mới đây, tôi nghe có người nói: hiện nay Vân đang ở Pháp. Nghe tin tôi vừa bàng hoàng vừa mừng, nếu như đó là sự thực, tôi tin rằng những ngày tới tôi sẽ tìm thấy Vân. Như vậy, phải chăng nguồn tin Vân bị bắt lại và bị chết là do Cộng Sản đưa ra?

Hôm nay là Chủ Nhật, lao động xã hội chủ nghĩa buổi sáng. Toán 2 được công an vũ trang dẫn giải dùng dao phát quang chung quanh trại. Sửa sang buộc lại hàng rào trại. Khi lao động xong về trại, đang lúc trại ồn ào chia cơm canh, đột nhiên phía ngoài cổng trại lao xao, náo nhiệt hẳn lên. Một đoàn tù đến sáu, bảy chục người, già, trẻ lôi thôi, lếch thếch gồng gánh rương hòm, chăn mùng xếp hàng theo nhau vào trong sân trại. Bên ngoài cổng lố nhố một lũ cán bộ áo vàng. Tên trực trại Cẩn, tay cầm quyển sổ vừa ghi điểm nhận số tù nhập trại xong, y chỉ tay quát bảo đoàn tù vừa nhập trại ngồi xếp hàng 4 ngay tại sân. Tên trật tự Tân và tên Thái y tá đang lăng xăng người ôm hộp con dấu, người xách chiếc sọt tiến ra đám tù thì 6 – 7 tên cán bộ khác cũng từ cổng đi vào. Tên Cẩn đứng ở đầu sân cao giọng:

– Lệnh của ban giám thị, các anh hãy mở hết tư trang ra để cán bộ kiểm tra. Lần lượt từng anh, hết khám người rồi lục lọi từng thứ một. Quần áo, mùng mền, cái nào chưa đóng dấu đều bị đóng dấu. Ca, gô, bát đĩa, mỗi người chỉ được giữ lại một cái: hoặc gô, hoặc ca và một đôi đĩa bát, còn bao nhiêu đều bị tịch thu hết.

Nhiều anh em trong trại, tuy chưa dám đến gần đám tù mới vào nhưng từ xa, ai cũng đứng nhìn ra mong tìm gặp người quen. Sau khi khám xong, đám tù mới được lệnh ôm quần áo vào hội trường ngồi chờ có lệnh sắp xếp, biên chế về các toán. Lúc này, đã có một số người trong đoàn tù mới đến, quen biết với những anh em ở trại. Họ còn đang í ới gọi, nói, chào hỏi nhau thì Hoàng Thanh lững thững từ ngoài cổng trại đi vào.

Chỉ thoáng thấy bóng dáng tên hung thần, hầu hết anh em ở trại đã lấm lét lủi đi hết, kể cả tôi. Chúng tôi đã được biết đây là anh em ở trại Vĩnh Tiến chuyển về. Đám tù mới, ngồi ở hội trường, có thể nhiều người chưa biết tiếng Hoàng Thanh, mà chỉ thấy một cán bộ trung úy bình thường nên họ cứ ngồi trân trân nhìn. Nhưng khi thấy anh em cũ ở trại lủi đi hết nên cũng có người chột dạ cúi xuống ngồi im.

Hoàng Thanh dáng người cao lêu nghêu, hai tay vắt sau lưng, lững thững lách vào đám tù ở hội trường nhìn mặt từng người cứ như nhận diện. Y thấy ai ở cổ đeo thánh giá hay mẫu ảnh, thò tay cầm, mân mê xem rồi y giật đứt, ném mạnh xuống đất cho tên Tân đang đi sau nhặt bỏ vào sọt rác. Miệng Hoàng Thanh nói với vẻ dằn dỗi, trách móc:

– Các anh bậy thật! Tượng ảnh là một thứ thiêng liêng để tôn thờ. Các anh làm bậy, làm bạ thế này mà đeo, tôi cấm các anh từ nay không được đeo nữa! Làm ô uế cả tôn giáo ra!

Cứ thế, y đã giật đứt tượng ảnh của 3 – 4 người rồi. Những người khác vội vàng tháo ra giấu đi thì thôi, nhưng có 2 anh, trông chừng 25 – 30 tuổi đã nói to phản kháng.

– Đây, các anh xem, cái miếng sắt, miếng tôn thế này mà bảo là ảnh Chúa à? Đúng, nhà nước không cấm, nhà nước chủ trương tự do tín ngưỡng nên nhà nước có trách nhiệm bảo vệ tôn giáo. Bao giờ những tượng ảnh này có giấy xác nhận của tòa thánh La Mã thì tôi đồng ý cho các anh đeo. Vả lại, quyền tự do tín ngưỡng là đối với người dân, chứ các anh là những kẻ tội phạm rồi, mất tự do thì cũng không còn được hưởng quyền đó nữa. Các anh hãy cố gắng cải tạo tốt, khi chính phủ tha về, bấy giờ các anh muốn đeo gì thì đeo.

Hai anh đó (sau đấy tôi biết) đều ở Nghệ An, là tu sĩ ở đại chủng viện tên là: Nguyễn Thanh Đương và Trần Quốc Anh. Tuy hai anh em đều tím ruột, tím gan, nhưng trước cường quyền hai anh đành nén, nuốt xuống những giọt máu trào, phải tưởng úa ra tai, ra mắt, ra miệng. Vậy mà, ngay sau đó dù chưa được phân bố về toán nào, hai anh đã được lệnh ôm chăn chiếu vào nhà kỷ luật do tên Cẩn và tên Tân dẫn đi.

Buổi chiều, toàn trại cũng sắp xếp, chuyển đổi chỗ nằm theo bản sơ đồ chỉ định của từng toán do ban giáo dục đưa vào. Số người ở trại Vĩnh Tiến chuyển về được phân bố về toán 2 (mộc) 12 người như sau:

– Trần Lào (Thái Lan về nước, vượt biên) tập trung, cải tạo.

– Nguyễn Văn Gôm (phản cách mạng) án 12 năm.

– Lê Văn Bưởi (gián điệp) án 20 năm.

– Nguyễn Thanh Đương (tu sĩ) tập trung cải tạo.

– Lộc Mù (phản cách mạng) tập trung.

– Lê Liễu (đảng phái) án 20 năm.

– Lò Văn Lui (phản cách mạng, dân tộc Lào) tập trung.

– Hoàng Đức Tùng (Thái Lan về nước, vượt biên) tập trung.

– Thân Lân (bộ đội tập kết, xét lại) tập trung.

– Nguyễn Văn Tiến (phản tuyên truyền) tập trung.

– Trần Thanh Tùng (tân đảo về nước, vượt biên) tập trung.

– Nguyễn Văn Cường (tu sĩ) tập trung.

Phân bổ về toán 3 (xẻ) ở cùng buồng với toán 2 gồm 9 người, trong đó có:

– Lê Triết (em ruột Lê Liễu) án 15 năm.

– Trần Như (phản cách mạng) tập trung.

– Đoàn Giám (tu sĩ) tập trung.

– Vũ Hàm (tu sĩ) tập trung.

– Trần Quốc Anh (tu sĩ) tập trung.

Tôi cũng bị chuyển chỗ nằm, tuy vẫn ở sàn dưới nhưng gần sát nhà cầu, nằm cạnh bác Nguyễn Văn Tiến.

Gần tuần sau, tôi được biết sơ lược: cục lao cải quyết định bỏ trại Vĩnh Tiến. Một số người tội nhẹ, bị bắt đi tập trung cải tạo một cách ồ ạt năm 1963 thì tha về địa phương. Còn lại những loại ngoan cố và án nặng được chuyển phân tán về nhiều trại khác. Riêng chuyển về trại số I này là 68 người. Trong số những người được chuyển về toán 2, người mà tôi chú ý nhất là anh Lê Văn Bưởi. Chúng tôi chỉ mới chào hỏi nhau sơ sơ nhưng qua người khác, tôi được biết anh là đại úy. Một điệp viên qua sông Bến Hải và cũng bị bắt năm 1962.

Một đồng cảnh, lại đồng nghiệp, do đấy tôi phải lựa thế để biết về anh. Tôi nói lựa thế, bởi vì lúc này mắt của những con chó săn đang xục xạo chờ đón ghê lắm. Hàng ngày, ai tiếp xúc với ai, hiện tượng thế nào? Cho nên để khỏi phiền toái về sau, tốt nhất hãy thong thả, để cho thời gian làm loãng đi đã, vội gì. Hơn nữa, kỳ này các toán, các tổ đang khẩn trương làm việc và sắp xếp công việc của toán, của trại cho tạm ổn theo kế hoạch. Lệnh của ban giám thị, mừng lễ quốc khánh xong, ngày 4 tháng 9 toàn trại sẽ dự lớp học tập chính trị dài ngày: “Lập công chuộc tội, chống Mỹ cứu nước” Theo các tên các bộ, đây là một đợt học tập thật quy mô cho toàn dân, toàn quân. Có nghĩa, bên ngoài dân chúng, các cơ quan, nhà máy cũng như tất cả các trại giam trên toàn miền Bắc đều phải học tập lớp học đặc biệt này.

Chỉ còn hơn một tuần nữa đã bước vào đợt học tập. Do những yêu cầu của viết, vẽ các khẩu hiệu phục vụ cho ngày 29 và cho lớp học, tôi lại được phân công lên lán vernie để phụ giúp Lê Sơn.

Tôi thật vui và không ngờ được nằm cạnh bác Tiến, một người thực uyên bác về nhiều lãnh vực. Đấy là điều tôi vẫn hằng sở nguyện từ khi vào tù là được gần những nhân vật lỗi lạc để học hỏi những điều mới lạ của xã hội và những kinh nghiệm trong cuộc đời. Tuy vậy, một đêm tôi chợt nhớ đến tên Đức, trưởng ban giáo dục. Có thể đây là nó cố ý sắp xếp để tôi nằm cạnh bác Tiến để theo dõi, hiểu về tư tưởng của bác Tiến, vậy sẽ có một ngày nó sẽ hỏi tôi về bác Tiến.

Cái điều tôi phải cân nhắc, tính toán suy nghĩ sao để tìm ra một giải pháp như một phương châm, một mẫu mực thích hợp để hành sử, noi theo suốt những tháng năm còn ở trong tù, trong tay Cộng Sản: do toàn bộ sự việc từ lúc đầu, không có cách thứ hai, tôi luôn luôn phải đóng một vai là một người tù tiến bộ rồi. Vậy điều cần soi kỹ, rọi sâu là triệt để không làm một điều gì thiệt hại không thể chấp nhận cho lý tưởng, cho đường đi của mình. Điều này tôi hiểu không phải là dễ dàng, nó đòi hỏi phải thường xuyên cân nhắc, ý thức trước mỗi sự việc. Tôi cũng hiểu nữa rằng, trong cuộc đời phải chấp nhận: muốn câu được cá thì đành phải bắt, giết mấy con giun để làm mồi.

Phải nói, do những anh em ở Vĩnh Tiến về, chúng tôi ở trại E mới biết một cách xác định về vụ Tết Mậu Thân vừa qua, Cộng Sản đã bị thất bại hoàn toàn. Chúng bị bao vây ở khắp nơi, nhất là ở Sài Gòn. Bộ đội của chúng bị tiêu diệt và bị bắt sống làm tù binh rất nhiều. Tuy vậy, trong thời gian chúng chiếm thành phố Huế, chúng đã bắt và giết rất nhiều người đã làm việc cho chính phủ quốc gia. Tàn sát hàng loạt, chúng đã giết hại hàng ngàn người vô cùng dã man, tàn bạo trước khi chúng rút lui.

Theo bác Tiến, đây là một mưu đồ của bộ chính trị công an để giải quyết những mâu thuẫn cục bộ chống chính quyền Sài Gòn và Mỹ giữa Bắc và Nam. Đồng thời, để đánh động, gây tiếng vang với dư luận thế giới nhất là nhân dân Mỹ. Tóm lại, cũng theo ý kiến của Tiến: tuy vụ Mậu Thân, Cộng Sản ở miền Nam bị thất bại, nhưng bộ chính trị Cộng Sản Việt Nam đã thắng. Chúng đã đạt được 2 mục đích: giảm bớt những sức mạnh mang tư tưởng cục bộ, không chịu sự lãnh đạo triệt để của bộ chính trị. Hai là lôi kéo lương tâm và sự ủng hộ của thế giới, nhất là nhân dân Mỹ. Sở dĩ chúng làm được như vậy là do những thủ đoạn tuyên truyền vô cùng hữu hiệu của chúng. Nhân dân thế giới và ngay nhân dân miền Nam dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đa số người mơ hồ, có thiện cảm với Cộng Sản.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 22 Oct 2023

Phỉnh phờ phạm nhân làm chó

Đặng Chí Bình 

Bài 34

Tôi đã được chuyển về tổ học nghề mộc do Nguyễn Huy Lân, toán trưởng dạy hơn một tuần rồi. Tổ này, không kể anh Lân gồm có 5 người. Điều làm tôi mừng vui là lại có cậu Toàn Thái Lan và anh Thành Xuân Yên, những người cùng mâm cơm với tôi từ khi tôi mới lên trại.

Hàng ngày tôi làm quen dần với các loại dụng cụ và những từ chuyên môn của nghề mộc. Anh Lân đã chỉ cho tôi cách mài chàng, mài đục, bướm, lưỡi bào v.v… Dần dần, tôi hiểu được thế nào là cưa mộng, cưa rọc, bào lau, bào phá, bào thẳm. Sau những bỡ ngỡ, chập choạng của những buổi ban đầu, chỉ 3 ngày sau tôi đã có thể tự lấy mực và làm hoàn thành một chiếc ghế đẩu. Chiếc ghế đẩu được Nguyễn Huy Lân khen là đẹp, chắc chắn, nhẵn nhụi, tuy nước bào lau còn cần phải thao tác, nghiên cứu nhiều.

Tôi say sưa nhìn tác phẩm đầu tay của tôi. Tôi trìu mến, ve vuốt nó, hân hoan lòng tự nhủ lòng: chính bàn tay mình đã làm được một sản phẩm hữu ích cho đời dù bé nhỏ. Từ ý thức phải học một cái nghề cho tinh, cho vững ở trên tôi đã trình bầy. Phần khác cũng do quan điểm: “nếu trong cuộc sống chưa có cái mình thích, thì hãy thích cái mình đang có”. Trong điều kiện hiện nay ở nhà tù thì tôi phải yêu cái nghề mộc này. Tôi yêu cái tôi đang có. Chính vì vậy, tôi đã háo hức hăng say học hỏi và nỗ lực lao động. Chỉ sau 2 tuần lễ, tôi đã làm được một ghế đẩu trong một công lao động (một ngày). Đạt mức khoán, điều mà tổ học nghề, trước đấy chưa ai đạt.

Đợt kế tiếp, tôi nhận lãnh 5 chiếc ghế đẩu, tôi chỉ thao tác trong 4 ngày là đã hoàn thành. Như thế tôi đã vượt năng suất một công. Theo quy định của trại, một công lao động của một người tù trị giá 4 hào. Có thể do anh Lân báo cáo thế nào với cán bộ Kích. Nhiều lần, y xuống dưới lán mộc, đứng hàng giờ quan sát tôi miệt mài thao tác lao động, để rồi cuối tháng đó anh Lân nộp danh sách bình bầu mức ăn của toán cho cán bộ toán. Chính tên Kích đã bảo anh Lân ghi tên tôi vào danh sách những người được ăn 18 kg để cho y duyệt rồi đưa lên ban giáo dục (Lân về kể riêng cho tôi biết). Trong khi ở toán không ai bình bầu cho tôi cả vì mới lên trại và còn đang ở tổ học nghề. Điều này, cũng làm cho một số anh em trong toán không hiểu rõ đã nhìn tôi với vẻ dè dặt, ít thiện cảm. Tôi đành chấp nhận, tôi không thể đi thanh minh với hết mọi người, vả lại tôi phải cần có một số tiền để giải quyết những cái tối thiểu trong cuộc sống tù của tôi. Điều quan trọng, điều chủ yếu là việc tôi làm không trực tiếp thiệt hại đến người khác là được rồi.

Chiều nay, một tin làm cho mọi người choáng váng đờ đẫn. Ngoài lán thủ công, mọi người đang cắm cúi lao động thì anh Lân từ phòng cán bộ xuống lán cắt cử 4 người đóng khẩn trương cỗ quan tài phải xong trước giờ trại về. Anh Phồn Lạc trong nhà kỷ luật từ mấy ngày nay không ăn uống gì được mà chỉ nôn ra máu. Trưa nay, khênh anh xuống bệnh xá cấp cứu, nhưng anh đã trút linh hồn khi vừa đặt anh nằm xuống trên chiếc giường duy nhất của bệnh xá. Anh đã thoát khỏi cảnh đọa đầy, khổ đau của đời anh.

Người ta rì rầm bàn tán, ngực của anh khi chết rồi bị tím đen lại. Ngoài ra toán 4 và toán 6 có 3 người nữa vừa phải vào nhà kỷ luật sáng nay. Ngay anh Hai Sơn của toán 2. Anh mới được ra kỷ luật đang ốm bịnh ở nhà, chẳng hiểu sao trưa nay cũng phải ôm chăn chiếu vào nhà kỷ luật. Một bức màn đen tối đầy lắng lo, buồn thảm đang bao trùm tâm hồn mọi người.

Đêm nay tôi nằm mãi không ngủ được, tâm tư khắc khoải cứ cuộn vào cái mớ bòng bong bất hạnh của đời mình. Bên ngoài, trận mưa từ chập tối vẫn kéo dài rả rích canh thâu. Tiếng những giọt mưa ở mãi hồi sau cứ rơi thõng thượt gợi sầu. Nghe tiếng mưa rơi trong đêm dài không ngủ, dù lòng còn đang tê dại với cảnh đời tăm tối của mình, óc tôi vẫn gợi tưởng tới mấy câu thơ của Huy Cận thì phải:

Lắng nghe giọt nhẽ rơi rơi.

Heo May hiu hắt bốn bề tâm tư.

Tâm tư hướng lạc phương mờ.

Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe.

Gió về lòng rộng không che.

Phải nói là gối gỗ nằm tê cứng cả đầu, đau cả cổ chứ còn tìm đâu ra gối mộng của đời mình. Giòng tư tưởng cứ bập bềnh nổi trôi; một thoáng về miền Nam xa vời phía bên kia chân trời, một thoáng về Hỏa Lò với dáng hình chiếc lưng ong của người Hưng Yên chập chờn, lẩn quất chìm dần vào giấc ngủ muộn đêm rừng mưa dai.

Sáng nay, tôi đang ngồi chờ trong hàng, đợi gọi đến toán 2 xuất trại thì anh Lân, sau khi gặp cán bộ toán, anh quay xuống chỗ tôi và Lê Khắc Dũng mũi khoằm bảo ở lại gặp cán bộ. Thằng Dũng này trong vụ của Phạm Huy Tân, từ lâu với tôi không ưa, vì thế khi trở về buồng nó với tôi chẳng nói với nhau một lời. Một lúc sau tên Cẩn trực trại vào dẫn nó ra khu giám thị trước, rồi y lại trở vào gọi tôi. Ngay từ sớm, tôi đã suy đoán có thể hôm nay sẽ lại gặp Hoàng Thanh. Tôi chưa hiểu y gặp tôi để làm gì, từ buổi nói chuyện với y về hoa ở sân trại, lòng tôi mong muốn là không gặp y nữa. Đến khi bước vào buồng thì ra tên thiếu úy Đức trưởng ban giáo dục trại E. Sau khi y chỉ chiếc ghế đẩu cho tôi ngồi, tay y cứ xoay xoay cái lọ mực ở trên bàn, mặt y tươi tỉnh vẻ săn đón:

– Anh kỳ này có khỏe không?

Vì là lần đầu tiên tôi gặp y nên tôi ngửng đầu lên nhìn y dè dặt:

– Dạ, cảm ơn ông tôi bình thường!

Tay vẫn xoay xoay lọ mực y vồn vã:

– Tuy tôi chưa gặp anh, nhưng tôi đã được các đồng chí phản ảnh anh đã đứng đúng chỗ đứng của mình. Trong sinh hoạt học tập cũng như trong lao động anh đã tỏ rõ lập trường minh bạch, không mập mờ ẩn núp, lao động hăng say; chính sự lao động này đã thể hiện tư tưởng của anh. Chúng tôi được đảng và nhân dân giao phó có trách nhiệm giúp đỡ anh tiến bộ đúng theo đường lối giáo dục cải tạo của đảng.

Ngồi nghe y nói, tôi thấy y ít nhiều có học hơn một số tên ở đây. Trông y trắng trẻo, người lại bé nhỏ như con gái. Chiếc hàm công an thiếu úy bạc mầu, đã nói rằng y mang nó từ lâu. Trong cách y nói, chẳng qua y dùng những thủ thuật nghề nghiệp của y mà thôi. Bởi vì từ những tháng trước, tôi đã nghe nhiều tên cán bộ mắng mỏ, xỉ vả phạm nhân là đã lấy lao động để che dấu những tư tưởng phản động. Chỗ này, y tìm một điểm tốt của một người rồi khích lệ, ca ngợi để lôi kéo người đó về phía mình, theo mình, ủng hộ mình; vì nghĩ thế nên tôi cứ ngồi yên nghe y nói tiếp. Hết xoay lọ mực y lại cầm cái tẩy vê vê trên 2 ngón tay:

– Gần 4 tháng nay, với khả năng của anh, hẳn anh đã nhìn rõ những người chung quanh anh: có người tư tưởng tốt, có người tư tưởng xấu. Người có tư tưởng xấu, người có tư tưởng sai cũng ví như một con bệnh phải cần có thầy thuốc chữa cho là cán bộ giáo dục. Nếu người thầy thuốc không biết rõ căn bệnh của người bệnh thì chữa làm sao, mà nếu không chữa khỏi bệnh thì làm sao con bệnh về với gia đình, vợ con, bố mẹ? Vì vậy, anh phải có trách nhiệm giúp những người đó, bằng cách tìm hiểu là bệnh gì, mức độ nặng nhẹ tới đâu rồi anh trình bầy với thầy thuốc là cán bộ. Từ đấy cán bộ mới biết được căn bệnh của họ để chữa trị. Có như vậy anh đó mới chóng được về với gia đình, như thế anh đã trở thành người ân đối với anh đó. Sau đây, tôi sẽ hỏi anh và gợi ý cho anh một số vấn đề. Tuy tôi hỏi về người khác, nhưng chính thái độ trả lời trình bầy của anh để chúng tôi hiểu về tư tưởng của anh đấy.

Nghe y nói đến đây, tôi thấy y ví von người tù như một con bịnh thì cũng không đúng lắm nhưng tôi chợt thấy ý tưởng của y giống hệt tên Phan Tấn Hưng đã nói với tôi ở Hỏa Lò, chỉ có khác là ở đây kèm theo áp lực đe dọa nữa. Thì ra cùng ở trong một cái lò, lời nói, ý tưởng của chúng cũng cùng trong một cái khuôn như nhau. Tuy vậy, tôi cũng hơi bàng hoàng, băn khoăn. Trước đây tôi tưởng, tôi có thể lấy cái khâu lao động tốt để sống yên thân, sống chìm như hòn sỏi, hòn đá nhưng như thế này cũng thật khó ổn. Để thăm dò tôi phát biểu, nhất là thái độ của y lại đang im lặng chờ tôi nói:

– Thưa ông, từ ngày lên trại, tôi đã xác quyết chỉ có một con đường duy nhất là quyết tâm cải tạo mình để mong một ngày nào đó được hưởng lượng khoan hồng của đảng và chính phủ. Bởi vậy, tôi chỉ nỗ lực, hăng say học nghề một cho tốt, từ đấy tôi có điều kiện để làm ra của cải cho trại.

Nghe tôi nói đến đây, y cau mày rồi giơ tay ngăn lại không cho tôi nói nữa:

– Thôi thôi, anh đã cố ý không muốn hiểu lời tôi nói, vậy anh có thể đứng lên đi về trại.

Nói rồi mặt y lạnh hẳn lại. Tôi hiểu, tôi không được phép làm căng, cương ở đây mà nó đã đè thì không còn có cơ hội nào đứng dậy được, vì vậy tôi xả hơi:

– Thưa ông, tuy tôi đã ở tù lâu, nhưng thực sự ở chung với đồng phạm chỉ mới mấy tháng nay, do thế còn nhiều điều tôi chưa hiểu rõ. Ông là cán bộ giáo dục của đảng, để nghị ông hãy chỉ dạy cho tôi những đường hướng tôi phải đi, những việc tôi phải làm.

Mặt y tươi dần lại, xoay hẳn người về phía tôi mà từ nãy y đã xoay ra phía cửa sổ :

– Anh phải biết rằng, chúng tôi đánh giá các anh, những gián điệp, biệt kích từ trong Nam ra xâm nhập miền Bắc hoàn toàn khác. Các anh là những đứa con ở xa cha mẹ, xa nhân dân, thường ngày chỉ nghe lũ tay sai và đế quốc, xúi dục, phản tuyên truyền, nói xấu cha mẹ. Các anh đã hiểu được lòng cha mẹ thương nhớ những đứa con phải xa nhà, lạc mẹ thế nào đâu, nên đã nghe theo lời dụ dỗ, phỉnh phờ của chúng trở về làm hại, chống cha mẹ mình. Bây giờ các anh đã về đây, đã thấy, đã hiểu được lòng cha mẹ, cho nên các anh dễ cải tạo lắm. Ngược lại, những tên phản cách mạng ở ngay trong nhà, những tên phản động đội lốt tôn giáo đã hiểu rõ đường lối chính sách vì nhân dân của đảng và chính phủ. Nhưng chỉ vì những quyền lợi cá nhân, cục bộ nhỏ bé của mình, chúng đã lập phái này, đảng kia để nói xấu, để chống phá cách mạng. Những loại này rất khó hay không thể cải tạo được. Nhưng với vũ khí vô song là vô sản chuyên chính, đảng và nhà nước cương quyết đập tan, phá nát mọi tư tưởng phi vô sản. Tiêu diệt mọi khuynh hướng phản động của giai cấp bóc lột để tạo dựng một xã hội công bằng, ai cũng như ai. Do đấy, anh có trách nhiệm giúp nhà nước hoàn thành sứ mệnh cao cả ấy.

Y hùng hồn dùng đao to búa lớn quá, tôi thấy rằng, tốt nhất hãy tìm cách “hoãn binh” để rồi tùy theo sẽ lựa thế sau. Dù rằng chưa dám đóng hẳn cánh cửa, nghĩa là từ chối thẳng thì cũng phải mở hé ra kẻo rồi sẽ khó khăn về sau này, nghĩ thế tôi phát biểu:

– Thưa ông, hôm nay được ông chỉ dạy cho tôi hiểu biết thêm được nhiều điều mới lạ. Tôi tự hiểu trong đầu óc của tôi còn đầy rẫy những tư tưởng lạc hậu, lỗi thời phản động. Từ nay tôi sẽ quyết tâm gột rửa dần dần vì tôi nghĩ rằng: bản thân tôi, lòng có sạch, tâm có trong thì mới nhìn được sự trong đục chung quanh mình.

Y đứng dậy, đi ra phía cửa sổ nhìn ra bên ngoài, rồi ngoái lại gằn giọng:

– Được, thời gian còn dài, tôi cho anh về suy nghĩ cho thấu đáo. Tùy anh sẽ chọn con đường sáng sủa thênh thang, hay con đường chông gai, đen tối.

Tôi trở về trại, lòng buồn rười rượi. Ngày hôm sau, tôi đem nỗi niềm nặng chĩu tâm sự với bác Lẫm, tôi mới hiểu được thêm những mánh khóe, thủ đoạn của những tên cán bộ giáo dục: cũng chính tên Đức, hơn một tháng trước đấy đã gọi bác Lẫm lên để giáo dục lại nói: “các anh là con cái trong nhà, dù có sai phạm, lỗi lầm thì chỉ là nhất thời cũng như đứa con hư, nên bố mẹ dạy bảo, sửa chữa chẳng khó khăn gì; chỉ những tên biệt kích, gián điệp từ trong Nam ra phá hoại thành quả của cách mạng. Chúng là những loại khát máu, phản động bóc lột, làm tay sai cho ngoại bang, ngay từ trong xương, trong thịt, bởi vậy rất khó cải tạo. Do đấy, các anh là con cái trong nhà, hãy nâng cao trách nhiệm, để ý tìm hiểu những tư tưởng, việc làm của chúng, kịp thời báo cáo rõ ràng với cán bộ v.v…” Nghe bác Lẫm thuật lại, đã làm tôi bàng hoàng! Phải nói rằng giữa bác Lẫm với tôi do những quan hệ thâm tình nhìn được từ trong ánh mắt của nhau nên đã cởi mở từ đáy lòng trao đổi, cho nên những thủ đoạn quỷ quyệt của chúng mới sáng rõ. Tôi bị bàng hoàng vì tôi chợt hiểu rằng: trong cảnh sống đầy đau thương và đe dọa này, hầu hết không ai dám tâm sự với ai. Ngay như tôi, chỉ với bác Lẫm là duy nhất tôi mới dám tâm sự cởi mở hết lòng, trong khi dù Lê Sơn, Vân hay nhiều người khác, nhìn trong sinh hoạt tưởng như là thân nhau lắm, nhưng tôi cũng như họ đâu dám thực sự tin nhau hoàn toàn; cho nên ai cũng ngậm miệng để khỏi di họa. Mà như vậy thì với mức độ khác nhau đều bị rơi vào cái bẫy của Cộng Sản:

Ngăn cách, ly gián, gây nghi ngờ giữa mọi phạm nhân với nhau, từ đấy mỗi người tứ tưởng chỉ có mình mới được cán bộ tin cẩn đánh giá tốt, không tốt mà lại giao cho nhiệm vụ đặc biệt theo dõi, tìm hiểu từng cá nhân ở trong trại?

Sau buổi nói chuyện với bác Lẫm, tôi nhìn mọi người ra vào sinh hoạt, tôi liên tưởng đến một câu chuyện “người chủ nhà và ba người thợ gặt”:

Anh chủ nhà có ruộng. Anh mướn được ba người thợ gặt khác nhau. Mục đích anh chủ nhà muốn là: công việc gặt hái phải nhanh, tốt, không để vương vãi phí phạm. Anh gọi từng người riêng biệt, mà không cho 2 người kia biết, vào trong buồng, rót cho một ly rượu nhỏ rồi trìu mến, ân tình căn dặn: “Ngay từ đầu tôi chỉ tin tưởng nơi anh, hai anh kia không có tinh thần trách nhiệm, nên tôi không thể yên tâm giao việc cho họ; vậy tôi giao mọi việc gặt hái cho anh. Anh hãy để ý xem xét và cố gắng làm việc; tôi sẽ không để thiệt anh.” Nếu ba người thợ gặt này thổ lộ với nhau thì cả ba anh sẽ thấy rõ âm mưu của chủ nhà, vì mỗi anh đều cũng được một chén rượu như nhau. Nếu không, mỗi người sẽ tưởng bở, ông chủ nhà chỉ tin mình và tốt với mình mà thôi.

Ngẫu Hứng Lý Tên Đường!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 21 Oct 2023

Nhà Văn Sơn Nam nói viết văn trước hết là yêu đất, rồi yêu nước. Mà đất thì có tên, có tuổi nghĩa là có địa danh. Chẳng hạn về Miệt Vườn, ông nói: khác với mấy ông khoa bảng trí thức, dân không gọi ‘Đồng bằng sông Cửu Long’ mà gọi là Miệt Vườn, vì câu ca dao: “Mẹ mong gả thiếp về vườn, ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh!”.

Rồi từ cái tên Miệt Vườn tới cái địa danh Cà Bây Ngọp trong Tình nghĩa giáo khoa thư, ông cắt nghĩa cái ‘tích’ như sau:

“Xứ Cà Bây Ngọp, nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp, trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bệnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học…”

Khoái cái tên Cà Bây Ngọp, người viết bắt chước ông mà yêu đất, yêu nước nên yêu luôn cái địa danh, cái tên làng, cái tên xóm. Người viết vốn là dân ‘vưỡn’, dù ‘vưỡn’ vậy nhưng đôi khi nằm gác tay lên trán, nghĩ về những cái tên ở Miệt Vườn lại đem lòng kính trọng ông cha mình từ hồi năm nẩm, cơm đùm cơm gói từ ngoài Trung vô Nam mà khẩn đất biết bao nhiêu! Vì thấy rõ cái lòng tôn kính, cái sự ‘galant’, cái nịnh đầm nếu nói theo bây giờ, của mấy ổng đối với đàn bà con gái xứ mình. Địa danh, tên đất, vùng mới khẩn hoang lập ấp là ưu tiên dành cho quý bà, quý cô trước… Như cho em ưu tiên qua cầu Bến Lức vậy! Tại sao người viết nói vậy? Thưa bà con cô bác: Là vì địa danh vùng đất mới do quý ông đặt ra thì đa phần là dành cho phụ nữ không hà! Phụ nữ đặt cho phụ nữ là thường vì phe ta cùng là má phấn môi son nên muốn ủng hộ nhau? Còn cái nầy đàn ông đặt cho đàn mà mới hay chớ cho dù chế độ mẫu hệ nước mình hình như nó ‘vãn’ từ trước thời Hai Bà Trưng rồi đó!

 Đi theo Lộ Đông Dương hồi xưa, Quốc lộ 4 thời mình, còn thời nó, hỏng biết nó kêu là cái giống gì? Thì thấy biết bao tên đất, tên làng bắt đầu bằng Cái (có nghĩa là của con gái) như Cái Bè, Cái Bé, Cái Côn, Cái Hươu, Cái Nai, Cái Mơn, Cái Răng, Cái Sắn, Cái Nước, Cái Thia, Cái Vồn, Cái Vừng…

Ai dám bảo đàn ông Việt Nam coi thường đàn bà con gái xin chỉ ‘tui’ coi! Rồi từ cái hình tượng của người phụ nữ… đồi núi chập chùng… mới có: Gò Bầu, Gò Găng, Gò Quao, Gò Tre, Gò Xoài… Gò Công. Nhiều Gò thì thành Giồng như Giồng Ông Tố, Giồng Tháp, Giồng Tượng, Giồng Xe…

Và tượng hình hơn cả là Xẻo (nơi có nước chảy ra) như: Xẻo Bần, Xẻo Lá, Xẻo Nước, Xẻo Rô…

Phần mấy ông tự nguyện để em yêu xí phần gần hết, chỉ chừa cho mình chút đỉnh là Hòn… như: Hòn Chông, Hòn Chồng… Hòn Đất mà thôi?

Thưa quý bạn đọc thân mến! Thưa những tri kỷ sanh cùng thời với người viết chắc đều nhớ Mùa Hè đỏ lửa 72? Bắc quân đánh Thừa Thiên, Kontum, An Lộc thì lệnh tổng động viên từng phần được ban hành. Mấy chú sanh viên như người viết xếp bút nghiên, giã nhà đeo bức chiến bào, thét roi cầu Vị ào ào gió thu. Vô Thủ Đức ‘đường trường xa, con chó nó tha con mèo’!

Dua me 03Trưa thứ bảy được đi phép 24 tiếng, vội vã đóng bộ ka ki vàng hồ cứng, đội kết pi, vai đeo alpha vàng chóe, giầy bóng lưỡng, nhìn vô cười nhăn răng thấy hết mấy cái răng vàng, vội ra chợ Nhỏ, đồi Tăng Nhơn Phú, bắt xe lam, dọt về Sài Gòn để gặp em yêu. Thằng bạn cùng trung đội, ngồi chung xe, người viết hỏi nó về đâu? Nó cười hè hè nói: “Tao về Ngã Ba Chú Ía!”. Người viết ngây thơ tưởng nhà nó ở Ngã Ba Chú Ía thiệt chớ? Sau nầy lớn thêm chút đỉnh… À thì ra là vậy… vậy!

Do đó cái địa danh quan trọng lắm nghe! Nhắc tới là gợi lên đầy nỗi nhớ. Mà thiệt vậy, ngay cả cố nhà báo Trường Kỳ, dù gốc Bắc di cư vô Sài Gòn, sau 75 ông vượt biên tới tận Canada và khi nhớ về quê cũ, cũng bồi hồi nhắc nhớ: “Hồi xưa tui ở đường Da Bà Bầu đó nhe! He he!”

Do đó cái lớp lính tráng già như người viết bây giờ có ai nhắc đến “Ngã Ba Chú Ía’ của Sài Gòn mình hồi trước 75 lại bồi hồi cả một trời kỷ niệm à nha!

Sau nầy bỏ nước ra đi cũng khá lâu không biết có còn cái tên Ngã Ba Chú Ía hay không nữa? Nhưng cái chắc là nếu không còn Ngã Ba thì đã có Ngã Tư nhảy vào thay thế. Ngã Tư Sung Sướng? Nơi mà những người con gái dân quê bị cướp ruộng, cướp vườn, cướp đất… phải sa chân vào chốn bùn nhơ, chốn đèn mờ, chốn đèn xanh đèn đỏ, bán nốt cái thân xác còn lại của mình để mà ráng sống sót cho tới bình minh?

Đó là cái địa danh làng xóm! Còn hổm rày trong nước mấy ‘giả’ ở không, hỏng có chuyện gì làm nên ‘đề xuất’ đặt lại tên đường! Chu choa! Tía con nó xúm nhau cãi lộn còn vui hơn là mổ bò. Dù có một bực thức giả nhảy vô can: “Tàu của Tập Cận Bình nó nườm nượp tràn xuống biển Đông kìa! Hãy tập trung lo việc đại sự trước, nguy cấp lắm rồi, đừng lạc đề vào hoa hòe, tên đường, chim kiểng, non bộ… nữa, các bác ơi!”.

Vậy mà anh ba, anh tư giả bộ: ‘Đêm nghe tiếng ếch bên tai! Giựt mình lại tưởng tiếng ai gọi đò?”. Người ta gọi đò chớ có ai gọi Hội Nghị Diên Hồng toàn dân nghe chăng sơn hà nguy biến đâu mấy em?

Nhớ hồi xửa hồi xưa khi chiếm được Sài Gòn, tay nào làm lớn thì chiếm nhà lớn, biệt thự to tổ bố hay nhà mặt phố! Nhà vừa vừa, nho nhỏ như cái chuồng thỏ cũng giành luôn, giành hết ráo! Nhà cửa, ruộng đất giành đã đành vì nó là vàng, là bạc, là ‘đô’ Mỹ. Vậy mà còn chưa đã thèm? Nên ngay cả cái tên đường nó cũng giành luôn? Cái tên đường ‘đưa em về dưới mưa’ của người viết cũng đành cam chịu chung số phận cùng vận nước!

Những con đường mang tên những người yêu nước đã bỏ mình khi chống lại Thực Dân Pháp như Phan Thanh Giản hay Nguyễn Thái Học thì tượng bị đập bỏ, tên đường tháo ra đem vụt láng chít. Nghĩ mà đau lòng con ‘quốc quốc’?!

Bỏ tên đường cũ, đòi đặt tên đường mới thì chí ít cũng phải biết chút chút về Sử Ký chớ mấy cha nội! Đằng nầy: Bù trất! Dốt đặc cán mai! Dốt đầy cán cuốc! Dốt như cây cột còn bày đặt thưa với thốt hỏng chịu ‘nín’ mà nghe? Nên mới có cái chuyện như vầy:

Cô giáo dạy Sử hỏi: Ai ăn cắp nỏ thần của An Dương Vương?

Cả lớp im lặng như tờ! Cô bèn chỉ đại một học sinh: Em biết ai ăn cắp nỏ thần của An Dương Vương không? Học sinh sợ sệt, mếu máo: Dạ không phải em! Cô ơi!

Vừa lúc đó thầy hiệu trưởng đi ngang. Cô giáo phân bua: Thầy xem, học trò bây giờ tệ quá. Tui hỏi ai ăn cắp nỏ thần của An Dương Vương mà không ai biết.

Thầy hiệu trưởng gật gù: Thôi cô nói anh Vương làm bản báo cáo rồi tui nói ban giám hiệu xuất quĩ đền cho. Đừng làm rùm beng nhe! Trường mình mang tiếng chết!

Trời đất ơi! Ông An Dương Vương tên là Thục Phán, vua nước Âu Lạc, từng đóng đô tại Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh-Hà Nội).

Năm 218 trước công nguyên, ông chống lại cuộc xâm lăng do Đồ Thư, tướng của Tần Thủy Hoàng thống lãnh và làm Đồ Thư phải bỏ mạng giữa sa tràng.

Sau, vì vụ gián điệp tình ta “Trọng Thủy Mỵ Châu’ và nỏ thần mà mất nước!

Vậy mà có học như Thầy Hiệu Trưởng cũng ‘bù trất’ thì nói chi tới mấy cha học mới tới lớp ba mà cũng đòi đặt tên đường ?

Đặt tầm bậy tầm bạ nên mới có cái vụ: “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý! Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do!”.

Rồi đi xa hơn nữa, tên đường do mấy ‘giả’ ngẫu hứng lý tên đường, làm bà con cô bác còn kẹt lại trong nước cũng ‘la trời không thấu’! Mà ngẫu hứng là gì hả? Là hứng lên, là làm đại, bất kể quân thần gì ráo trọi nên mới có cái vụ tên đường Cựu chiến binh không rác (xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn -xin xem hình- kẻo không lại nói ‘tui’ bày đặt chuyện nói dóc mà xuyên tạc chánh quyền cách mạng!).

Dù ngẫu hứng lý tên đường gì chăng đi nữa thì thiệt ra hứng là hứng nhưng cũng phải có điều kiện là ông nào, bà nào là bà con với tui, hay là má, là ba, là ‘mèo’, là vợ của đồng chí Bí thơ Tỉnh Ủy, Bí thơ Huyện Ủy là tui cho lên bảng ráo trọi, chẳng cần đồng bào biết mấy ổng, mấy bả là ai? Tui biết là đủ rồi!

Chắc có lẽ vì cái ‘tiêu chí’ đó nên ở phường Phú Thạnh, quận Tân Phú có một loạt tên đường mang họ Lê nhưng thiệt cũng không hiểu thuộc triều đại nào, công trạng ra sao với đất nước? Như: Lê Lâm, Lê Niệm, Lê Lư, Lê Lộ, Lê Sao, Lê Thúc Hoạch…vân vân và vân vân. Người viết thiệt cũng ‘bí’ luôn vì lần đầu em mới được nghe tên mấy ‘chả’ he he!

Hèn chi học trò bây giờ nó ngán, nó chán môn ‘Sử Địa’ là phải lắm! Mới đây học sinh trường THPT Nguyễn Hiền ở Sài Gòn nghe thi Tú Tài không có môn Sử, tụi nó vui mừng vui quá vui xúm lại xé đề cương môn Sử rồi thả từ tầng 4 xuống trắng cả sân trường. Lỗi đâu phải của tụi nhỏ mà do mấy thằng lớn đầu mà dại…?!

Thôi! Lấy tên người mà đặt thì nghe thiên hạ than phiền hỏng biết ổng là ai thì lấy tên bông hoa mà đặt cho mấy tay nhiều chuyện nín quách cho yên như tính đặt đường “Sen Hồ Tây” ở ngoài Hà Nội. Còn trong Sài Gòn quận Phú Nhuận thì có tên đường Hoa Lan với lại Hoa Mai… rồi.

Ngoài tên Hoa, thì có ông đầy tâm hồn ăn uống nên ‘đề xuất’ tên đường phải là các loại đặc sản của Nam Bộ để đặt tên như: đường Hủ tiếu Mỹ Tho, đường Bún nước lèo Sóc Trăng, đường Cá lóc kho tộ, đường Xoài cát Hòa Lộc…?

Và tên đường theo đặc sản vùng miền thì dân Quảng cũng muốn có tên đường Mì Quảng nữa. Mà đường Mì Quảng thì chung chung quá nên người ta sẽ đặt tên cụ thể là đường Mì Quảng Nam, đường Mì Quảng Ngãi, đường Mì Quảng Bình, đường Mì Quảng Trị, đường Mì Quảng Ninh….

Một nhân dân ký tên:Yêu lắm Trảng Bàng quê tui thì năn nỉ ỉ ôi xin đừng có bỏ sót cái quê của ổng nha, nên đề nghị mấy quan đặt tên đường “Bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc” hoặc đường “Bánh canh Trảng Bàng” để ổng nhớ quê của ổng.

Tuy nhiên có ông lại không chịu nên nói rằng: đặt tên theo các loại đặc sản tiêu biểu cũng chỉ làm tăng thêm bệnh đau bao tử vì ăn nhiều quá mấy ông ơi!

Có ông quan lớn, chắc cỡ nhứt phẩm triều đình, thiệt là nghiêm túc, chen vô: “Nên lấy tên mấy bà mẹ Việt Nam anh hùng, liệt sĩ, những người có công đối với đất nước mà đặt. Cuộc xâm chiếm miền Nam từ phương Bắc làm đất nước ta có hàng triệu liệt sĩ, hàng chục nghìn Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Các liệt sĩ, các mẹ ở địa phương nào thì lấy tên họ ra đặt cho địa phương đó. Chức vụ cao thì đặt tên cho đường lớn, chức vụ nhỏ thì đặt tên cho đường nhỏ, còn cấp thấp thì đặt tên hẻm?! Xài tới Tết Congo! Xài làm sao hết, nên nếu thằng Mỹ, thằng Tàu, thằng Nga mà muốn, ta sẽ tặng miễn phí luôn cho tụi nó; để tụi nó biết nước ta giàu…!

Còn có ông không xin đặt tên đường gì ráo trọi mà chỉ xin, tha thiết xin, thống thiết xin: Tên đường gì cũng được, miễn đừng có tên “Đường xuống âm phủ” là OK!

đoàn xuân thu.

melbourne.