Nễ Hành thời @!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 21 Oct 2023

Ðời mà! Vợ chồng hay nói ngược, làm ngược, chơi nhịp chỏi với nhau, nó xảy ra hà rầm hè! Tui nói cộng thì em nói trừ; tui nói nhơn thì em nói chia. Chỉ lúc hai đứa không nói ngược với nhau là lúc đôi ta đi vô buồng ngủ.

Ông bà mình hồi xửa hồi xưa cũng ưa nói ngược đó thôi: “Bao giờ cho đến tháng ba/ Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng… Gà con đuổi bắt diều hâu/ Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông!”

Nói ngược bất quá cãi lộn là cùng. Chớ làm ngược, nhứt là làm ngược với toàn thể thiên hạ là rắc rối to, là lôi thôi lớn, là tới cò tới bót, rồi bị nhốt chớ không phải chuyện giỡn chơi! Nhứt là chuyện thiên hạ mặc quần mặc áo đàng hoàng mà mình cứ khăng khăng, cương quyết ở truồng… cho nó dễ thở.

Bàn cái vụ ở trần, ở truồng nầy quan điểm giữa chàng và nàng cũng rất ngược nhau. Chẳng hạn như muốn nàng sập bẫy tình ta thì chàng phải:

“Thề thốt sẽ đi cùng trời cuối đất vì nàng. Rồi bồng nàng, ẵm nàng (dù nặng hơn một tạ). Ôm nàng dù hai tay không có giáp mí. Ðưa nàng đi ăn tối, mua quà cho nàng (dù tốn tiền ôi vô thiên lủng). Hun nàng, an ủi nàng, lắng nghe nàng nói, khen nàng búa xua (dù không có gì đáng để khen hết ráo). Binh vực nàng, chở che nàng khi nàng gây lộn với con nhỏ bên hàng xóm.”

Còn muốn chàng sập bẫy tình ta thì đơn giản hơn nhiều: “Em đến thăm anh một chiều hè, cứ lè phè không quần không áo, không mặc gì ráo, chỉ cần hai tay hai chai beer, một cho chàng và một cho mình.”

Kết luận là quý anh mình chỉ khoái em lo cho mình ăn nhậu và em ‘sexy’ dày dày đúc sẵn một tòa thiên nhiên… là mình sướng điên lên rồi.

Biết cái tâm lý đàn ông như vậy, nên anh bạn nhậu của tui giải quyết vấn nạn ô nhiễm tiếng ồn, bấy lâu hằng cam chịu, bằng một cách rất rẻ tiền và gọn hơ như vầy: Chẳng qua ảnh đi cày sâu cuốc bẫm để dành được một số tiền đặt cọc rồi mượn ngân hàng để mua căn nhà đầu tiên trên nước Úc phúc địa nầy đây.

Mới tới mà, kinh nghiệm mua nhà đâu có biết vị trí là cái quái gì đâu? Thấy rẻ là a thần phù mua thôi. Ai dè mua rồi mới biết mình ngu, mới biết tại sao căn nhà nầy nó rẻ.

Chẳng qua là căn nhà của ảnh nằm sát xa lộ xuyên bang, cho chạy tới 100 cây số một giờ. Nửa khuya mơ màng giấc điệp để sáng có sức mà cày tiếp, thì tiếng xe gầm rú hú hú chạy ngang qua lại thức. Ðiệu nầy chắc chết sớm!

Diệu kế của ảnh là cách nhà chừng 5 cây số, ảnh chơi một cái bảng đề chữ “Trại Khỏa Thân!” Từ đó, xe nào qua đều chạy chầm chậm như rùa mà mắt tài xế cứ láo liên.

Giống quý anh em mình! Giữa mấy em mặc quần mặc áo và mấy em không mặc gì ráo… tui khoái trường hợp thứ hai hơn nhe!

Từ đó tui đâm ra ấm ức và ghen tức với ông tổ Adam sao sướng hơn tui bây giờ nhiều. Vì Eve đâu có quần áo che chắn gì? Adam muốn nhìn là nhìn hè. Thiệt là quá đã!

***

Nhân chủng học cho biết là: khi mới sanh ra con người đã có lông măng, mịn như tơ. Theo thời gian dần dần trôi, lông cứng hơn, nhiều hơn. Trên đầu thì gọi là tóc. Dưới cằm thì gọi là râu. Rồi từ mặt trở xuống đều gọi là lông cho nó tiện bề sổ sách.

Lông giúp con người cổ xưa ban đêm được ấm, khỏi bị bịnh sưng phổi, ban ngày ngăn bớt sức nóng, bớt tia bức xạ của mặt trời, bớt bịnh ung thư da.

Thời ăn lông ở lỗ phải đi kiếm ăn cực khổ, chui vô rừng vô bụi, cọ tới cọ lui nên lông rụng bớt. Vậy là con người phải nghĩ ra là phải có cái gì che cho ấm lúc đêm về lạnh chớ?

Sau khi săn bắt thú rừng, ăn hết thịt rồi chỉ còn da (dai quá nhai không nổi, bỏ uổng), nên tổ tiên mình dùng xương, (cứng quá gặm không vô), làm dụng cụ như dao để cắt da thú thành những miếng vuông vức, dùng chỉ tét ra từ thân cây, kết vào nhau để thành quần áo bằng lông thú quanh phần nhạy cảm, rờ tới là nhột quá chừng hè! Ai có coi phim Tarzan, chúa tể rừng xanh, thảy đều biết.

Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bộ lạc trong rừng Amazon của Brazil chưa hề tiếp xúc với thế giới văn minh, trai hay gái gì cũng vẫn ở truồng.

Cái nầy quá đã nhe quý ông anh! Tui nhứt định phải rủ mấy ông anh mình chui vô rừng Amazon mà rình một chuyến mới được!

Kết luận: quần áo rất quan trọng để bảo vệ cơ thể chống lại cái lạnh, không có quần áo là nhân loại đã diệt vong, chết sạch hết cả rồi.

Dù quan trọng cho sự sinh tồn của nhân loại, là biểu hiện của con người văn minh nhưng cũng có mấy em chơi nổi, không mặc gì hết ráo; hoặc có mặc là nhỏ xíu bằng bàn tay mới hấp dẫn.

Khước từ quần áo mình tưởng chỉ dành riêng cho mấy em sao? Nghĩ vậy là lầm to, là trật lất. Mấy em xấu che, tốt khoe là phải quá rồi. Còn bên cánh đàn ông có gì tốt đâu mà cũng đem khoe mới là lạ chớ?!

Ông đó là Nễ Hành (173-198), thời Tam quốc, tinh thông cầm kỳ thi họa, miệng lưỡi, nói xuôi cũng được mà nói ngược cũng nghe xuôi.

Nễ Hành mắc bịnh vĩ cuồng, coi mình giỏi trùm thiên hạ nên chúng ghét. (Ối thời nào cũng vậy! Người giỏi dù đã khiêm tốn hết mực rồi mà vẫn có đứa không ưa?) Huống hồ giỏi mà hay nổ nữa.

Nễ Hành đến gặp Tào Tháo xin chút công danh. Ai dè bị Tào A Man chơi khăm phong chức ‘Cổ Lại’ tức là thằng đánh trống để làm nhục Nễ Hành cho bõ ghét.

Ai dè Nễ Hành đánh trống hay, cỡ danh thủ Tùng Giang, bèn xăn tay áo chơi nhịp Ngư Dương, âm tiết tuyệt diệu, nghe vang vang như có tiếng đá, tiếng vàng ngân lên ai oán.

Tên Cổ Lại cũ sợ Nễ Hành giành mất ‘job’ nên cà khịa, kêu Nễ Hành phải mặc trang phục dành cho người đánh trống.

Xin làm quan mà Tào Tháo cho chức đánh trống là đã bị hạ nhục quá xá rồi. Giờ thêm chú Ba nầy kêu mặc áo nầy quần nọ, nên Nễ Hành quạu quá, cởi tuột hết ra luôn, trần truồng như nhộng cho mấy tay áo mão cân đai người xem một chút…

Người cởi truồng đầu tiên trong sử sách Trung Hoa, tiếc thay, chỉ hưởng dương 26 tuổi vì đang buổi nhậu nhẹt mà xài xể nặng lời Hoàng Tổ, vốn là một con người thô lỗ nên bị đao phủ lôi ra chém.

***

Còn Nễ Hành thời A còng, @, tức thời hiện đại, không phải chỉ một lần ở truồng; mà truồng ‘full time’ luôn!

Stephen Gough, người Ăng Lê, 57 tuổi, có biệt danh là “Naked Rambler” người cà nhỏng rong chơi, ở truồng ngao du sơn thủy! Thời tiết ấm áp lên một chút là nhong nhong xuống phố trưa nay đang còn nhức mỏi đôi vai. Ở truồng nhưng có mang vớ mang giày ‘boot’ và đội nón nhe!

Từ năm 2003 tới nay cứ cà nhỏng như thế, bị bắt bỏ bót rất nhiều lần.

Ra Tòa, chỗ trang trọng, chú cứ để tồng ngồng, nên được ông Tòa tặng thêm 4 tháng tù ở về cái tội khinh mạn tòa án.

Mấy thầy phú lít bắt chú như bắt cóc bỏ dĩa vậy. Tốn công quỹ tới cả trăm ngàn bảng Anh; phần lỡ thấy ‘con’ của nó… xui tận mạng đi, chắc chắn sẽ bị nghèo mạt suốt cả năm, nên bà con thọ thuế la ó rùm trời để phản đối một thằng ‘tửng từng tưng’, nhưng coi bộ hổng có ăn thua gì sất!

Theo ý tui, muốn chú em nầy ngưng ngay cái trò cà chớn, vớ vẩn nầy đi thì mấy thầy đội bắt được chú trần truồng như nhộng lần nữa, đừng thèm nhốt vào tù, để ăn có người bưng, ngủ có người gác nữa… mà đem thẳng vô Sở Thú, đưa chú đến chuồng Voi để ‘đọ’!

Tui tin chắc rằng con Voi đang ve vẩy cái vòi dài ngoằng, sẽ bụm miệng cười hô hố mà rằng: “Giời ơi! Vậy mà cũng khoe? Ngắn ngủn như vậy rồi làm sao mà thở?”

Chú em nầy sẽ tự ái, mắc cỡ ên hè… Ðể từ rày về sau không còn dám ta quá đỗi tự hào mà dám đem cái vòi nước của mình ra khoe cùng bàn dân thiên hạ nữa.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 21 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 30

Khoảng hai giờ sáng, chúng tôi tới bãi biển. Khu bến tầu, nơi tôi nhận cá để đem giao cho ngoài chợ lúc này vắng hoe. Ở cuối chiếc cầu tầu nhỏ hẹp và hẻo lánh, một chiếc thuyền chèo bằng gỗ nhỏ đã đợi sẵn. Chúng tôi chạy ngang qua bờ biển, cứ mỗi bước lại thấy nền cát trở nên ướt và mềm hơn, ngấm vào đôi dép của tôi. Bóng một người tối đen nhẩy từ trên thuyền xuống và giơ tay vẫy dì Đặng. Dì vẫy lại.
– Chào bà. Bà canh giờ đúng lắm.
Trên tấm ngực trần, những chỗ có ánh sáng chiếu vào, những đường nét bắp thịt vồng lênlấm tấm mồ hôi dầu. Cặp môi mỏng của hắn không che kín hết hàm răng vổ sáng lên trong bóng tối như ánh đèn huỳnh quang.
Dì Đặng và tôi ngồi tụm lại với nhau trên một băng ghế gần đuôi thuyền. Người đàn ông chèo một cách thiện nghệ, thỉnh thoảng lại dùng một cái địa bàn để dò phương hướng. Con thuyền hướng mũi về phía đông và đi qua dẫy đảo đen tối, mờ mờ qua màn sương.
Trên cao, bầu trời lung linh cả triệu vì sao. Trăng chiếu trên lớp sóng biển thành hình những đồng tiền bằng bạc, toả ánh sáng chan hoà trên mặt nước. Bầu không khí mặn mùi biển mơn man trên làn da của tôi. Con thuyền lướt đi nhẹ nhàng trong im lặng, mỏng manh như một chiếc lá.
Tôi hỏi dì Đặng:
– Mình đi đâu, hả dì? Còn những người khác đâu?
Người đàn ông trả lời:
– Yên lặng. Nhãi con, càng biết ít bao nhiêu càng tốt cho mày bấy nhiêu.
Dì Đặng nói với tôi:
– Chúng ta đi tới hòn Rùa. Tới đó, mình sẽ chờ thuyền khác, lớn hơn.
Càng đi, biển càng trải rộng thêm ra quanh chúng tôi. Ở bên mạn thuyền, sóng vỗ thành tiếng thì thầm đều đặn. Cuối cùng, người đàn ông nói:
– Đến rồi.
Ngồi quay mặt về phía đuôi thuyền, tôi không nhận ra là đã cập tới đảo cho tới khi đáy thuyền chạm phải những hòn đá ngầm.
Trong lúc tìm chỗ để cập bờ, người đàn ông nói:
– Nghe này, đây là đảo con rùa. Hình dáng nó khòm khòm như mu rùa nên người ta gọi nó như thế. Đảo nằm ngoài khu vực giới hạn của dân cư. Thân rùa là núi. Bãi biển là chân rùa. Ngọn núi có tới ba lớp. Mình sẽ tới lớp giữa. Nếu leo cao hơn nữa, đám tàn quân của chế độ cũ còn sót lại sẽ giết mình đấy. Còn nếu gần dưới thì lại rơi vào tay bọn Cộng Sản. Tụi nó cứ bắn tới trước rồi mới hỏi sau. Cho nên phải cực kỳ cẩn thận. Cũng có khi mình đi lạc vô vùng của toán đốn gỗ rừng. Cũng tránh họ đi, nếu có thể. Tầu lớn sẽ tới vào đêm mai. Bây giờ, hãy chuồn khỏi đây ngay trước khi bọn chó vàng đánh hơi thấy mùi chúng ta.
Anh ta muốn ám chỉ toán công an Cộng Sản, vốn vẫn mặc đồng phục mầu vàng sậm.
Đảo rùa là một khu rừng rậm rạp với những cây nhiệt đới và dầy đặc những bụi dâu dại. Bụi cây mọc tràn ra bãi biển, lấn tới tận mé nước, nên là một chỗ lý tưởng cho việc ẩn núp. Chúng tôi đi sâu vào trong rừng theo một con đường nhỏ hẹp xuyên qua một khu đầm lầy. Ruồi và muỗi cuốn lên đen nghịt theo bước chân chúng tôi, những tiếng vo vo ồn ào phá vỡ sự yên lặng.
Người đàn ông trao cho chúng tôi mỗi người một túi xách và nói:
– Giữ lấy. Trong đó có phần ăn và mấy cái mền cho tối nay. Coi chừng cát lún. Giữ chân chỉ bước trên đá thôi. Đừng có quên cả rắn nữa đấy.
Chúng tôi chaỵ theo một hàng qua con đường ẩm ướt và ngoằn nghèo dẫn đến khu vực chính giữa của mu rùa. Dưới chân chúng tôi, đất bùn bị bao phủ bởi những lớp lá rụng trơn tuồn tuột làm chúng tôi đi chệch choạng lúc leo lên đồi.
Những người còn lại của nhóm vượt biên đang chờ đợi chúng tôi tại một vùng đất trống cách con đường mòn không xa lắm. Có tất cả chừng ba chục người, toàn phụ nữ với trẻ em, không có ai nhỏ dưới mười tuổi. Những tấm chiếu nylon của họ trải rải rác trên mặt đất được chặn giữ bằng những cục đá. Vài người đàn bà rúc vào trong mền để tránh gió lạnh. Những người đàn ông duy nhất trong nhóm là hai người lãnh đạo. Người trẻ hơn dẫn chúng tôi tới chỗ hẹn tên là Cần. Người lớn tuổi hơn là bố anh ta, tên là Can. Cách đây vài tháng, ông ta mới đi cải tạo về. Nghe nói rằng ông ta đã từng là trung sĩ dưới chế độ cũ. Ông ta cũng cởi trần và đi chân đất. Cái quần ka ki cắt ngang ống đã bạc mầu che nửa thân dưới, và ở chỗ thắt lưng của ông, tôi thấy thò ra một cái báng súng lục bằng thép. Bên má trái của ông có một cái thẹo to tướng, sấu xí mà mỗi lần ông nói nó bò lồm ngồm như một con thằn lằn. Đôi mắt đen của ông sáng ngời, khi ông giới thiệu chúng tôi với mọi người.
Chúng tôi được sắp xếp chung chỗ với hai người khác đưới một cây me dại, gồm một thiếu nữ với em trai.
Đì Đặng ngồi trên một phiến đá, mệt lả sau một cuộc đi bộ dài. Dì vừa vẫy tôi lại vừa lau mồ hôi trán và nói:
– Lại đây, Kiên. Ngồi nghỉ đây với dì.
Thằng nhỏ gật đầu chào tôi:
– Chào cậu đã tới đảo Rùa.
Nó trạc tuổi mười lăm, mặt đầy tàn nhang và cặp mắt xếch nhỏ xiú như mắt con hình nộm trong tuồng Tàu. Nó và tôi là hai thằng con trai lớn tuổi nhất trong nhóc ở đây.
Chị của nó lớn hơn, lớn hơn nó độ vài tuổi, tay chân thon thả. Tôi giúp chị dọn đống lá khô để lấy chỗ nghỉ ngơi. Chị ngước lên, mỉm cười với tôi. Khuôn mặt của chị với hai gò má cao có vẻ xanh xao tương phản với đôi môi hồng. Cả chị ấy nữa, bộ dạng thanh cao như nàng công chúa làm bằng con rối.
Tít trên cao, qua khỏi những vòm cây, vầng thái dương hé dạng toả xuống mặt nước mầu xanh thẫm, xua tan đi cái bóng tối bàng bạc. Vài đứa trẻ moi đồ ra ăn sáng từ trong những cái túi xách. Các bà thì trông chừng những đứa nhỏ và tơ tưởng đến đời sống mới tại Mỹ. Dì Đặng nói với tôi:
– Lại đây cưng, để dì chải đầu cho.
Tôi ngồi xuống trước mặt dì. Tay dì mềm mại vuốt ve da đầu của tôi. Dì nói với tôi dịu dàng:
– Hết xẩy. Đêm nay mình sẽ lên tầu. Biết đâu đấy, chỉ trong một tuần ngắn ngủi mình đã tới Hồng Kông hay Phi Luật Tân, hay Mã Lại, rồi thì tới Mỹ. Dì thì nhất quyết sẽ định cư ở Cali và đi tìm lũ nhỏ. Cháu cùng ở với dì, mình sẽ kiếm một căn nhà ở bờ biển, cũng đại khái như hồi ở Nha Trang. Khi đã kiếm được lũ nhỏ rồi thì cháu sẽ là anh của tụi nó. Cháu sẽ đến trường và học bất cứ cái gì cháu thích. Rồi cháu lại có thể bảo lãnh cho gia đình đi Mỹ. Cháu có thích giấc mơ đẹp này không?
Thay vì trả lời, tôi chỉ nhích sát lại gần dì hơn.
Tối hôm ấy chúng tôi ăn gà nướng gói sẵn trong ba lô, trong khi anh Cần rời khỏi trại để chờ tín hiệu của tầu ở ngoài bờ biển. Túm tụm vào nhau trong bóng tối, mình choàng tấm mền mỏng, chúng tôi tuy khá lạnh nhưng lòng tràn trề hy vọng. Vài đứa nhỏ đã ngủ lăn ra trong khi những đứa khác thì lục sục không ngừng. Một bà cụ già ngồi chồm hổm dưới đất để đi tiểu. Có người thì cố nén tiếng ho. Quanh chúng tôi, rừng cây ẩn dấu sau lớp sương dầy đặc. Co tròn mình dựa vào thân cây, tôi chìm vào giấc ngủ say trong vòng tay dì Đặng.
Khi tôi tỉnh dậy, bầu trời buổi sáng đã trở nên trắng như sữa. Trên các chòm cây cao, sương mù đã tan chỉ còn vài cụm lảng vảng ẩn hiện trong khu rừng cây xanh. Phía đằng trước tôi, dì Đặng và một vài phụ nữ nữa đang nói chuyện vói anh Cần. Tôi cuộn tấm mền vòng quanh vai rồi tiến lại nhập bon với họ. Một bầu không khí ảm đạm bao phủ chung quanh mọi người. Anh Cần nói:
– Cháu không biết gì hết. Chỉ có nước là ngồi đợi thôi.
Có tiếng ai đó hỏi:
– Đợi bao lâu?
Anh ta bước đi:
– Làm sao biết được, nhưng cũng có thể mình phải ở lại đây vài ba ngày nữa.
Tôi hỏi dì Đặng:
– Chuyện gì xảy ra thế gì?
Bây giờ dì mới chú ý đến tôi. Cặp mắt của dì có vẻ hoảng hốt như con hươu mắc bẫy:
– Đêm hôm qua, có đứa nào lấy mất thuyền mang đi rồi.
Tôi thốt lên kinh hoảng:
– Ôi trời. Cái thuyền lớn chở chúng ta đi Mỹ ấy ư?
Dì lắc đầu:
– Không cái thuyền nhỏ thôi. Còn cái tầu lớn thì chưa thấy tín hiệu gì cả, nên mình mới kẹt ở đây, không có lối ra.
– Mình làm gì bây giờ?
– Chờ thôi.
Dì trả lời như một cái máy, như thể nhái lại lời của anh Cần.
Ngày hôm sau trôi qua một cách lặng lẽ. Chúng tôi xúm lại với nhau để giữ hơi ấm. Dì Đặng nhìn tôi ăn thức ăn nguội mà không động đũa. Trên đầu chúng tôi, mây đen bắt đầu vần vũ.
Qua ngày thứ ba, trời mưa. Tôi chaỵ ra ngoài trên nền đất ướt sũng, nhập bọn với lũ trẻ để tắm mưa, đồng thời hứng nước mưa vào những bình trống để dự phòng về sau. Đám người lớn thì ẩn dưới các tàng cây xung quanh để tránh bị ướt. Niềm hy vọng cứ teo dần với số thực phẩm mang theo. Phía dưới chúng tôi, biển như một đĩa thạch mầu xanh lam khổng lồ, rung rinh theo những cơn giông.
Tới ngày thứ năm, các bà đi rải rác vào rừng để kiếm nấm dại, dâu và rau cỏ trong khi hai người đàn ông thì câu cá ở ngọn suối gần đó. Đảo chỉ cung ứng được chút đỉnh tạm gọi là đồ ăn. Rau dền biển, dâu dại là những loại rau cỏ đạm bạc mà chúng tôi hái được gần đầm lầy. Mặc cho những người lớn cảnh cáo, chúng tôi đem luộc lên ăn và đến đêm hôm ấy thì ngã bệnh kịch liệt. Sáng hôm sau, khi mưa lạnh lại đổ xuống đảo, chúng tôi vẫn phải mang đi giặt mớ quần áo đã bị ói mửa lên. Sau vụ này, mặc dù có đói đến thế nào, chúng tôi cũng chẳng dám đi kiếm thực phẩm bậy bạ nữa. Đám con nít thì đã mút tới viên đường phèn cuối cùng trong khi đám người lớn thì ngủ cho quên đói.
Vào buổi chiều của ngày thứ sáu, dì Đặng lén lút kéo tôi vào tận sâu trong rừng, tránh xa đám người kia. Khi cách trại ít nhất vài chục thước, dì mở chiếc khăn choàng ra và cho tôi thấy vật bên trong. Trên tay dì ba qủa trứng luộc nổi bật lên như một phép ảo thuật. Dì thì thào với tôi:
– Đây, cưng. Ăn lẹ lẹ đi kẻo có người trông thấy.
Mắt tôi thèm thuồng dán vào món ăn trong tay dì, tôi hỏi:
– Dì lấy ở đâu ra vậy?
Dì trả lời:
– Của dì. Để dành cho con.
Tôi nhai nhồm nhoàm:
– Thế còn dì? Dì không đói à?
Dì mỉm cười lắc đầu:
– Không, cưng, của con hết đó. Cứ tự nhiên, ăn hết đi.

° ° °

Khi chúng tôi quay lại trại thì ông Can đang chủ trì một phiên họp khẩn cấp trên nền đất bẩn. Dì Đặng và tôi cũng nhập bọn. Ông ta đứng trên một phiến đá, nhìn xuống lũ chúng tôi, lưỡi liếm môi một cách bồn chồn. Cũng như những người khác, ông ta cũng bị gầy sút đi trong sáu ngày vừa qua. Bộ ngực của ông lép lại, xương sườn lồi lên thấy rõ. Ông nêu câu hỏi với đám đông:
– Chúng ta bắt đầu bầu đi. Có ai ở đây muốn ra đầu hàng bọn chó vàng không?
Bà con nhao nhao lên phản đối. Mọi người nhẩy lên đông đổng, nguyền rủa cái tầu đã không tới, than trách chính họ đã xui xẻo, la lối giữa người này với người kia. Ông Can phải xua tay để làm họ dịu xuống. Ông la lớn:
– Im lặng. Mình còn hy vọng mà.
Cả toán bỗng khựng lại. Ông tiếp:
– Còn một lối thoát. Chúng ta có súng. Chúng ta có thể lấy cắp một chiếc xuồng máy của đám đốn gỗ lậu và chuồn đi. Ai chịu làm chuyện liều mạng đó thì giơ tay lên.
Một bà lên tiếng hỏi:
– Đám làm rừng ấy có võ khí không? Nếu mình thất bại thì sao?
Ông Can nhún vai:
– Mình đâu có nhiều cách để lựa chọn, thưa bà. Nếu thua, mình sẽ chết, nhưng bó tay đầu hàng thì mình cũng chết vậy.
Tôi ngó mặt dì Đặng để ngầm hỏi ý kiến, nhưng dì vội quay mặt đi. Tôi liền đứng dậy. Mọi con mắt đều đổ dồn về phía tôi, chăm chú nghe những lời tôi nói:
– Cháu không muốn đầu hàng. Cũng như tất cả mọi người, cháu bị kẹt ở đây chỉ vì cháu đi tìm tự do. Vậy hãy để tự do vạch cho ta một lối thoát.
Một ai đó to tiếng biểu đồng tình:
– Nói khá đấy, nhóc con. Đánh để mở đường về nhà.
Vài người phụ nữ rên rỉ không đồng ý, nhưng cuối cùng, hầu hết cả đám đều đồng tình là phải chiếm lấy cái xuồng máy. Ông Can nhìn tôi và hỏi:
– Tên con là gì?
– Kiên.
Ông quay về phía thằng bé có cặp mắt xếch, đang đứng cạnh chị nó dưới một cái cây:
– Còn cháu tên gì?
Thằng bé đáp:
– Văn
Ông già nói:
– Thằng con tôi và tôi sẽ đánh úp bọn đốn gỗ. Vậy hai cháu có hỗ trợ chúng tôi được không?
Cả dì Đặng và chị thằng nhỏ cùng kêu lên một lúc:
– Không được đâu!
Ông già nói:
– Xin thứ lỗi, thưa các bà, tôi cần chúng nó để quân bình trận đánh.
Tôi hỏi ông:
– Chúng cháu sẽ phải làm gì?
Dì Đặng ghì chặt lấy cánh tay của tôi lắp bắp:
– Vậy thì cho tôi thay nó. Nếu cần thì tôi có thể uýnh lộn được. Nó còn nhỏ lắm, tha cho nó.
Ông già nói:
– Không thể được. Ngày xưa, bất cứ khi nào tôi giỡn mặt với tử thần, tôi cần lính của tôi. Bây giờ cái chết đang cận kề ngay tại đây, con bà cũng sẽ qua cầu ngon lành.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 21 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 29

Nha trang, tháng Ba năm 1981

Bãi biển lúc xế chiều nom tối đi hơn dưới bầu trời nặng trĩu mầu xám. Trời không có gió nên những gợn sóng lăn tăn vỗ lười biếng lên cát. Cái cảng, vừa mới đây còn đầy thuyền bè náo nhiệt, bỗng trở nên vắng hoe sau khi cá đã được chuyển lên bờ và mang ra chợ. Một bầy hải âu lươn. vòng trên bãi cát ướt hãy còn loang lổ máu cá để kiếm bữa ăn chiều. Tiếng kêu oang oác của chúng vang inh ỏi trong bầu trời u ám nghe như đoạn cuối của một bản nhạc truy điệu áo não. Hôm ấy tôi đi làm một mình, không mang theo em gái, vì tới lượt Jimmy phải trông nom nó.
Không có bé Ti, tôi chẳng cần vội vã về nhà. Tôi thủng thẳng cuốc bộ dọc theo bãi biển để ngắm cảnh hoàng hôn. Đâu đó phía chân trời, một dẫy những hòn đảo nhỏ nối nhau chạy xa tới cuối tầm mắt đã cắt đôi nền trời với mặt biển thành hai phần rõ rệt. Mặt trời đã lặn, nhưng những mảng sáng mầu cam vẫn còn ánh qua bầu trời giống như có ai cất dấu những mảnh than hồng sau những đám mây. Khi tôi tiến lại gần mặt nước, đôi chân trần của tôi chạm vào vùng đất mát rượi., làm tiêu tan cái mệt rũ trên người. Tôi hít một hơi thở thật sâu, dang hai tay ra hai bên. Không khí đượm mùi mặn của biển cả ùa vào hai lá phổi. Không nhìn thấy ai, tôi bèn giả bộ như mình đang lái một chiếc máy bay, cái trò mà từ nhiều năm qua tôi không còn chơi nữa.
– Kiên, chờ Kim với.
Tôi nghe thấy tiếng của Kim ở đâu đó sau một lùm những cây dừa nhỏ. Giọng nàng lảnh lót, xoáy vào tai tôi nghe chói tai như tiếng của bầy hải âu. Hai má tôi nóng bừng lên. Sự xấu hổ vì bị bắt qủa tang đang chơi trò con nít khiến tôi ngượng chín cả từ đầu đến chân. Kể từ cuộc cãi lộn giữa bà Ba Qùi và mẹ tôi, đây là lần đầu chúng tôi gặp lại nhau. Tôi vui, một phần vì được gặp nàng, một phần vì chẳng có ai khác ở ngoài bãi biển dòm ngó chúng tôi. Tôi quay lại nhìn thẳng vào Kim, vừa gãi tai vừa nói:
– Chào.
Cô chạy qua bãi cát để tới gần tôi, hỏi:
– Em gái của Kiên đâu?
– Hôm nay tôi đi làm một mình. Bé Ti ở nhà với em trai tôi.
– À ra thế… Kim đang chờ…
Cô chợt ngưng lại câu nói và nhìn tôi.
Sự im lặng làm chúng tôi lúng túng. Tôi yếu ớt lẩn tránh mắt nàng. Chúng tôi đứng đối diện nhau và ngoài kia, biển cả, với những làn sóng tọc mạch, quan sát chúng tôi. Cuối cùng, tôi phá vỡ sự im lặng.
– Kim vẫn khoẻ chứ?
– Vẫn thế. Cám ơn anh.
Nàng dang tay rờ vào mái tóc của tôi. Mùi lá sả hoà với mùi bột phấn trên da dẻ mịn màng của nàng, tất cả tạo thành một thứ hương vị mát rười rượi. Đột nhiên tôi nhận thấy rõ cái mùi hôi hám vì cá ươn của tôi, và tôi thụt lùi lại, tránh ngón tay nàng. Dường như đọc được ý nghĩa của tôi, Kim nói:
– Anh có muốn đi tắm biển cùng với Kim không?
Tôi đang còn ngơ ngác thì nàng đã trút bỏ lớp quần áo ngoài và đứng trước mặt tôi với hai mảnh áo tắm nhỏ xíu. Lớp vải đỏ chật ép sát vào làn da ngà óng lên, làm nẩy nổi những đường cong như chính nàng đang khoả thân trước mặt tôi vậy. Hay đó chỉ là trí tưởng tượng của tôi mà thôi? Tôi cũng chẳng phân biệt được nữa, tôi cố cưỡng lại sự khát khao nhìn ngắm thân hình nàng.
Kim chạy xuống biển. Tóc nàng bay tung lên trong gió. Bộ đùi mịn màng, thuôn, dài của nàng ngập vào trong nước. Rồi nàng quay về phía tôi. Dưới ánh sáng mầu bạc, biển cả, bầu trời và nàng hầu như cũng tan loãng vào nhau. Nàng vẫy vẫy ra hiệu cho tôi bơi theo. Tôi cởi chiếc áo sơ mi và nhẩy xuống nước đuổi theo nàng. Chẳng bao lâu, chính tôi, tôi cũng cảm thấy tan đi trong cái mờ ảo mông muội lạ thường.
Tôi bơi cách xa Kim, không muốn nàng nhìn thấy tôi kỳ cọ dưới nước. Nàng đứng một chỗ, nhưng mà mắt không rời nhìn tôi. Qua lớp sương mỏng bốc lên từ mặt nước, tôi ngắm từng đợt sóng vỗ vào cái eo thon thả của nàng. Hai cánh tay nàng khoanh lại trước ngực như thể nàng vừa bất chợt nhận ra rằng phần trên của cái áo tắm mới bé nhỏ làm sao! Tôi rửa ráy thật mau rồi lặn xuống nước, bơi về phía Kim và trồi lên thở khi mũi của tôi chỉ còn cách đùi của Kim chỉ có khoảng nửa gang tay. Kim nhận xét:
– Anh bơi khá lắm.
Tôi gật đầu, hãnh diện:
– Tôi sinh trưởng ở đây mà. Hễ rảnh rỗi thì tôi lại đi tắm biển.
– Ước gì Kim cũng bơi giỏi như anh.
Tôi dang hai tay ra:
– Muốn tôi dậy cô không? Tôi làm huấn luyện viên giỏi lắm đó.
Nàng lắc đầu, lùi lại một bước. Tôi quả quyết:
– Tin tôi đi, dễ học lắm mà.
Vẻ mặt sợ hãi của nàng làm cho tôi thèm muốn thấy nàng khóc. Mỗi lúc tôi nghĩ đến ông ba Qùi, cha của nàng, với đôi bàn tay bẩn thiủ, vô học, cùng với bản chất Cộng Sản, đã từng vuốt ve mẹ tôi, là tôi lại điên tiết. Tôi với lấy bàn tay Kim và khi bắt được ngón tay lạnh giá, thì tôi túm lấy chặt hơn. Cô rút tay lại, nói:
– Hôm nay không được đâu.
Giọng tôi đùa giỡn cốt ý che dấu sự nghiêm trọng của mình:
– Hôm nay được chứ. Tốt hơn là cô chạy ngay đi. Vì tôi sẽ túm được cô và lôi cô xuống nước sâu đấy.
Coi sự hăm doạ của tôi chỉ là đùa bỡn, nàng chạy thốc lên bãi cát, la lối và cười ngất. Tôi lao lên sau. Cánh tay tôi đó, đói khát như những đợt sóng, quàng lấy hai bên eo mảnh mai của Kim và nhấc bổng nàng lên khỏi mặt đất. Má tôi tì lên một bên ngực nàng. Mùi da thịt nàng mát rượi, thơm phưng phức như mùi da con nít. Tuy thế, tôi vẫn còn luẩn quẩn nghĩ đến cha nàng và tính toán việc trả thù. Kim dẫy dụa hai chân trên không và van nài tôi ngừng lại, đặt nàng xuống.
– Ha ha. Thằng Mỹ lai vớ được con bồ Cộng sẻng!
Ở trên lối đi có lát ván, một đám con trai đứng quây thành nửa vòng tròn đang vẫy và la lên nhạo báng chúng tôi. Đó là những thằng đồng nghiệp của tôi vừa đổ xong thúng cá cuối cùng và đang trên đường trở về nhà. Câu nói thô bỉ của bọn chúng làm tôi đứng ngay lại. Tôi buông lỏng tay mình và Kim tuột khỏi ngực tôi.
– Thằng lai gống chơi con đĩ Cộng sẻng. Cái lỗ dơ dáy của nó có răng đấy. Hèn chi mà thằng lai giống bị cắn mất c…
Gió cuốn những lời diễu cợt lan trong không gian trống trải, mỗi một lời của chúng như xát thêm muối vào vết thương của tôi. Kim quơ lấy đống quần áo trên cát rồi kéo tay tôi:
– Thôi mình đi, Kiên. Đừng để ý đến chúng nó làm gì.
Tôi muốn đẩy nàng ra nhưng không còn hơi sức nào nữa.
Trong ánh chiều tà, tôi nhìn Kim mặc lại quần áo. Khi xong xuôi, nàng trao cho tôi cái áo sơ mi, tôi bèn nhét ngay vào túi quần đùi vải ka ki của tôi. Nàng hỏi:
– Chúng nó chọc thế có xúc phạm anh không?
Tôi trả lời ngay, nhanh như máy:
– Sức mấy! Tôi quen rồi!
Kim nhìn thẳng vào mắt tôi, hỏi:
– Em hỏi anh một câu. Anh có thấy khó chiụ vì em là dân Bắc kỳ không?
Thay vì trả lời Kim thẳng thắn, tôi hỏi nàng dồn dập:
– Tôi không biết. Thế Kim có thấy khó chiụ vì tôi nghèo mạt cọng và lại còn lai giống nữa không? và đừng quên là cha của cô đang tán tỉnh mẹ của tôi.
Kim lắc đầu:
– Không. Mấy chuyện ấy không quan trọng. Điều quan trọng là em thích anh. Em nghĩ anh là người đáng quí nhất trên bãi biển này. Ấy là chưa nói đến sự anh còn dễ thương nhất.
Tôi nói đùa, lòng cảm thấy nhẹ nhõm hơn:
– Ngoài mấy thằng mắc dịch đó ra, biển này chỉ có một mình tôi là thằng con trai duy nhất, so sánh gì kỳ vậy?
Kim cười, nắm lấy tay tôi:
– Mình về đi kẻo tối
– Sợ mọi người trông thấy
– Thì sao? Em tưởng anh bất chấp chuyện đó.
– Thì bất chấp chứ. Nhưng tôi không đủ thuốc liều để làm cho ba cô điên tiết lên.
Kim huých khuỷu tay vào tôi. Mái tóc của nàng cù lên cổ tôi:
– Được rồi. Khi tới đường cái lớn thì em sẽ rời anh. Nhưng mà em muốn gặp lại anh tối nay.
– Gặp làm sao được? Ở đâu?
– Anh biết chỗ em ở mà. Anh chờ em ở cổng sau, phía sau bếp, khoảng tám giờ nhé.
Tôi nói:
– Anh sẽ tới đó. Tối nay, tối mai, và bất cứ tối nào em muốn, anh cùng sẽ tới. Nhưng nhất thiết chỉ xin em một điều là giữ kín chuyện riêng của chúng mình. Anh không muốn mẹ của anh hay ba của em biết.
Kim gật đầu đồng ý, rồi chúng tôi chia tay.

° ° °

Suốt một tháng sau đám tang của bà tôi, tôi theo dõi rất sát mẹ tôi và Dì Đặng, để coi hai người quyết định ra sao về chuyện vượt biên. Một đêm, nằm thao thức trên giường nghe tiếng ngáy êm ả của Jimmy và bé Ti, tôi đắm mình suy tưởng. Bên ngoài cửa sổ, ngọn đèn toả ra ánh sáng mờ mờ vào phòng tôi. Trên từng không, trăng tròn treo lơ lửng giống như một cái bụng bầu. Gió lùa theo mùi hoa nhài thơm sực nức. Qua chiếc mùng che muỗi mỏng, bóng những thân cây dừa và những cành khế tạo thành những hình dáng mầu đen sâm..
Mẹ tôi rón rén vào phòng, đi thẳng qua chỗ em tôi ngủ. Tôi săn từng cử chỉ của bà với cặp mắt của con cáo đói môì. Bà đập nhẹ vào vai Jimmy, lay nó và thì thào:
– Dậy đi, Jimmy.
Jimmy chống khuỷu tay lên, ngồi dậy mặt ngơ ngác. Mẹ tôi vẫn thì thào:
– Dậy. Sửa soạn đi, Jimmy. Đừng nói gì hết!
Giọng của nó líu ríu, đầy vẻ buồn ngủ:
– Mình đi đâu hả mẹ?
– Đi ra ngoài kia mẹ sẽ nói.
Jimmy leo xuống giường để đi theo mẹ tôi. Khi cả hai đi qua chỗ tôi nằm, tôi ngồi dậy và nhìn mẹ tôi gườm gườm. Miệng của tôi chỉ có thốt lên được có một tiếng: “Tại sao?” rồi tôi bật khóc.
Mẹ tôi nói:
– Nằm xuống ngủ đi Kiên. Một giờ sáng rồi.
Tôi nhẩy ra khỏi giường, chặn lối của hai người và luống cuống, nức nở:
– Tại sao mẹ chọn nó? Mẹ đừng tưởng là con không biết mẹ mưu tính cái gì rồi. Con đã nghe lén câu chuyện giữa mẹ và Dì Đặng hồi tháng trước, sau đám ma của bà. Nếu mẹ không giải thích, con không cho mẹ đi đâu. tại sao lại là nó?
Mẹ tôi đặt tay lên vai tôi:
– Mẹ cần có mày ở đây với mẹ. Con là đứa lớn nhất trong nhà này. Làm đàn ông, con phải có bổn phận trông nom gia đình. Ngoài ra, Jimmy nó còn quá nhỏ. Nếu có xảy ra chuyện gì thì công an cũng không bỏ tù nó. Ở vào trường hợp con thì rủi nhiều may ít, làm sao mẹ để cho con đi được. Vậy hãy để cho nó đi. Trong một tiếng nữa nó phải xuống ghe rồi.
Giọng tôi run bần bật như thể trời đang lạnh lắm vậy:
– Con chẳng phải là đàn ông, chỉ là một đứa con nít thôi, mẹ ạ. Thực ra, con chưa tới mười bốn tuổi. Họ bắt con cũng chẳng thể giam con suốt cuộc đời được. Mà nếu họ có làm như thế, con cũng không ngán. Con không thể sống như thế này được nữa. Con muốn đi, con xin mẹ.
Bà bấu những móng tay vào da tôi, lối từng phạt quen thuộc mỗi khi tôi hư đốn, rồi rành rọt:
– Nghe tao đây. Mày chán sống như thế à? Vậy ai muốn đây? Từ khi hai đứa còn bé, bao giờ tao cũng chiều mày hơn nó. Lúc nào mày cũng có đồ chơi tốt hơn, chia bánh thì mày có phần to hơn, được cưng hơn, săn sóc hơn là nó. Vậy chỉ một lần này thôi, mày hãy để cho nó được đối xử ưu tiên. Mẹ cần có mày ở đây. Thôi đi về giường ngủ đi.
Từ phía sau mẹ tôi, Jimmy lên tiếng:
– Thực sự có phải là con sắp sửa đi vượt biên không mẹ?
Tôi trả lời nó, với nỗi cay đắng:
– Đúng đấy, Jimmy. Mẹ để cho mày vượt biên với Dì Đặng. Đêm nay là đêm hên của mày đó.
Nó lắc đầu, tỏ vẻ sợ sệt:
– Không! Con muốn đổi chỗ cho anh Kiên. Mẹ để cho anh ấy đi. Anh ấy muốn đi còn hơn con nữa.
Hy vọng trở lại, tôi quay về phía mẹ tôi:
– Con sẽ giúp được mẹ nhiều hơn một khi con tới Mỹ. Con xin mẹ. Nếu mà con phải ở lại, con sẽ tự tử đấy.
Mắt mẹ tôi nhìn qua nhìn lại giữa em tôi và tôi. Vớ lấy cơ hội, tôi thúc đẩy thêm:
– Con nói thật đấy, mẹ. Nếu mẹ giữ con ở đây, con sẽ chết lần, chết mòn. Mẹ sẽ có cơ mất cả hai đứa. Mẹ cứ hỏi Dì Đặng xem thử dỉ nghĩ sao khi mất cả mấy đứa con. Ngoài ra, Jimmy đâu có muốn đi. Tại sao lại ép nó?
Mẹ tôi thốt lên một tiếng kêu nho nhỏ, bà quơ tay để xua tôi:
– Mày muốn đi thì đi đi! Dì Đặng đang chờ ngoài cổng.
Tôi chạy ra cổng, chỉ sợ mẹ tôi đổi ý. Có tiếng mẹ tôi gọi. Giọng của bà làm tôi khựng lại:
– Khoan chút đã. Chờ mẹ, mẹ sẽ dẫn con ra.
Quay lại phía em tôi, mẹ nhìn vào mặt nó, nói một cách rành rẽ:
– Nó đi rồi là từ nay làm anh cả đó. Con phải trông nom bé Ti và đỡ đần mẹ đủ mọi thứ. Từ giờ trở đi, con là anh trai lớn nhất của mẹ. Con có hiểu mẹ nói gì không?
Jimmy gật đầu.
– Vậy tốt. Vào giường đi. Mẹ đi ra ngoài một chút sẽ trở về.
Jimmy chay lại phía tôi. Nó choàng tay ôm lấy eo ếch tôi và xiết chặt:
– Anh đi may mắn nhé, anh Kiên. Em thương anh lắm.
Tôi tránh qua một bên. Hai má tôi nóng bừng vì hổ then..
Mẹ tôi dắt tôi ra khỏi nhà. Bên kia đường, Dì Đặng đang đứng chờ sau một thân dừa. Vẻ mặt của dì chuyển từ sự khích đông sang ngạc nhiên khi dì nhìn thấy tôi. Bà hỏi:
– Chị quyết định cho Kiên đi thay à?
Mẹ tôi gật đầu, vuốt ve tóc tôi rồi nói tiếp:
– Thằng kia không chiụ đi. Săn sóc nó giùm tôi, Đặng nhé. Cố sao cho nó không bị tai nạn gì. Tôi cậy bạn, trao cả tính mạng nó cho bạn đó.
Dì trả lời:
– Dĩ nhiên rồi. Tôi sẽ nhận nó làm con nuôi khi tới được Mỹ. Sẽ lo cho nó học hành tử tế và luôn luôn nhắc nhở nó nhớ tới bạn để nó không quên gốc gác của mình.
Mẹ tôi oà lên khóc, dưới ánh sáng xanh xao của ngọn đèn đường, tôi nhận thấy những vết rạn chân chim nơi đuôi mắt của bà, và những lọn tóc mầu xám ở quanh thái dương. Tuy nhiên, mắt bà vẫn sáng ngời. Bà thì thầm với tôi:
– Coi, con cũng đã lớn gớm, cao hơn cả mẹ rồi. Từ nay trở đi, con đi theo Dì Đặng. Dì sẽ thay mặt mẹ trông nom, săn sóc con. Vậy hãy nghe lời dì, hãy kính trọng dì như thể con đã kính trọng mẹ. Mẹ thương con lắm, Kiên à. Hãy tự lo cho mình, con nhé!
Bà đẩy tôi vào ngực Dì Đặng lúc ấy cũng đang khóc. Tôi nói:
– Mẹ chào từ biệt ông ngoại giùm con. Nói với ông là con yêu ông.
Mẹ tôi thì thầm:
– Đi đi! Cầu Trời Phật phù hộ độ trì cho con tôi.

Huấn luyện sĩ quan tại Hoa Kỳ

Lô Thơm

Post by Sơn râu 21 Oct 2023

Theo bài viết, tác giả tình nguyện đi khóa 25 Sĩ Quan Thủ Đức, sau đó sang Mỹ thụ huấn sĩ quan và là một trong 18 học viên VN được gắn lon Thiếu Uý tại quân trường Fort Benning ở tiểu bang Geogia. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của Lô Thơm được chuyển đến bằng điện thư. Mong tác giả sẽ tiếp tục viết thêm và vui lòng bổ túc địa chỉ liên lạc và sơ lược tiểu sử.
***

Nhớ lại những ngày tháng ấy, tôi có cảm giác như là một giấc mơ xa vời. Những hình ảnh quân trường Fort Benning với tiếng hét “Sư Tử Hống” của các huấn luyện viên… hình như phát xuất từ một chốn nào không thực.

Đầu năm 1967, tuy được miễn dịch vĩnh viễn vì là con út trong một gia đình mà tất cả các anh đều đang đi lính, bản thân và đang làm Kế Toán cho một công ty tư, có lương khá cao, nhưng tôi vẫn có cảm giác bất an. Hầu như ngày nào cũng đọc tin chiến sự đẫm máu, nhất là những tin Việt Cộng pháo kích vào nhà dân, chặt đầu viên chức, đắp mô, giật mìn xe đò, tôi tự thấy như mình đang phạm tội gì đó, nếu mình cứ nhàn hạ, trong khi mọi thanh niên đang hy sinh tính mạng cho mình an hưởng. Sau một thời gian suy nghĩ, tôi lẳng lặng đến Biệt Khu Thủ Đô, tình nguyện đi khóa 25 Sĩ Quan Thủ Đức, không cho gia đình hay, vì nếu mẹ tôi biết, thế nào bà cũng khóc và ngăn cản. Ngày tôi lên đường, chỉ có hai thằng bạn thân ra tiễn. Mãi sau khi tôi đã thụ huấn được vài tuần, tôi mới báo cho mẹ và anh lên thăm. Y như tôi tiên liệu, bà cụ khóc mãi, nhưng mọi chuyện đã an bài.

Sau gần 6 tháng huấn luyện ở Thủ Đức, nghe tin có tuyển sinh viên sĩ quan theo học Fort Benning bên Mỹ, tôi lại ghi tên tình nguyện thi thử. Ngày đầu thi, có tới hơn 400 mạng, nhưng rồi rớt dần theo 3 kỳ thi tiếng Anh ở trường Sinh Ngữ Quân Đội, còn lại đúng 40 tên, được tập trung vào một Trung Đội đặc biệt có một ông Đại Úy Mỹ, Captain Isler, làm xếp chúa! Ông này hành hạ tụi tôi khủng khiếp, suốt ngày chạy liên tu bất tận, hễ nghỉ thì hít đất, nhẩy xổm, mỗi lần tối thiểu 50 cái. Đêm đang ngủ, ông dựng cổ dậy, bắt móc chân lên giường trên, tay chống xuống đất, nghe ông “chửi” te tua. Rồi làm tạp dịch như điên. Riêng vụ quần áo là khốn nạn nhất. Hễ ông nhìn thấy cái đường vạt áo chạy xuống mà không thẳng với đường chỉ của cái “phẹc mơ tuya” là bỏ mạng! Giầy thì phải đánh cho láng đến nỗi mà ông nhìn xuống mũi giầy của mình, thấy cái mặt ổng thì mới tha. Nếu không thì đời thiệt là vất vả…

Một tháng sau, khi một số chịu không nổi đã xin ra, hoặc bị ổng đuổi ra khỏi trung đội, còn lại đúng 18 thằng, trong đó chỉ có 10 tên là sinh viên sĩ quan thuần túy, còn 8 mạng kia là Trung Sĩ Thông Dịch ở ngoài đơn vị gửi về. Tất cả lên máy bay, bay một lèo qua San Antonio, Texas, học thêm 6 tháng Anh Ngữ ở trường Sinh Ngữ Quốc Phòng (Defense Language Institute), rồi mới chuyển qua Fort Benning ở tiểu bang Geogia. Tại đây, mới chính thức là đời một Sinh Viên Sĩ Quan Hoa Kỳ, đắng cay, gian khổ như “ở trong địa ngục” (Live in Hell), theo câu châm ngôn của mấy thằng cay cú.

Nói “ở trong địa ngục” cũng không có gì là ngoa. Vì hồi đó, đúng vào lúc chiến tranh khốc liệt nhất, lính Mỹ chết như ngả rạ, nên quân trường chủ trương phải tập luyện tối đa cho những sĩ quan ra trường tại đây quen với một mặt trận khủng khiếp mà sinh mạng lính tráng rẻ như bèo. Phút trước còn đùa cợt, phút sau đã nhăn răng. Người Mỹ vốn quen với các trận Công Kiên Chiến, dùng hỏa lực tối đa trong trận chiến Triều Tiên, nay gặp chiến tranh du kích, gặp muỗi, mòng, vắt, rắn, khí hậu khắc nghiệt, hầm chông, súng ngựa trời… thì chới với. Cho nên tại quân trường như Fort Benning gồm toàn lính trừ bị, đa số bất mãn, nếu không khép vào kỷ luật của địa ngục thì có thể.. thua đau.

12 tuần Huấn Nhục Ngày đầu tiên, khi vừa bước vào cổng trường, còn đang mặc áo bốn túi le lói của Sinh Viên Sĩ Quan Việt Nam, tụi tôi đã gặp ngay một màn chào đón rất ớn lạnh. Ông Thượng Sĩ già đứng chận ngay lối thang lên lầu, gào lên như Sư Tử Hống:

– Ê! Mấy thằng cứt đái kia! Nghe tao cho rõ, thằng nào vào đây mà còn mang ý tưởng là Con Người thì khốn nạn. Chúng bay chỉ là lũ chó đẻ, vừa câm vừa điếc, đồ đầu lừa! Chúng mày phải quên đi thân phận con người thì mới sống sót được. Tao nói thật đấy. Trời vật chúng mày đi! Lũ chúng mày có nghe rõ không? Nghe rõ thì phải gào lên: Thưa Ngài, con nghe rõ!
(Hey! You, shit! Listen to me! Anyone who still thinks that he is a man will be miserable! You’re only son of bitches, dumb, deaf, cripple, donkey heads! You must forget that you’re once men to survive here. I tell you the truth! God damn you! Do you hear me? If you do, say “Sir, yes, Sir!”

Lũ chúng tôi gào lên:

– Thưa Ngài, vâng, thưa Ngài!

Ông già lấy tay che tai:

– Trời vật chúng mày! Tao không nghe rõ!

Tụi tôi lại phải gào lên vỡ phổi cho đến khi ổng hài lòng thì mới bắt đầu một chầu dợt sơ sơ:

– Tao cho tụi bây 30 giây phải mang hết đồ đạc của mình chạy lên tới lầu 3 rồi chạy xuống đây, tao đứng chờ, đứa nào chạy chậm thì phải chạy lại.
Thật khốn khổ. Tụi tôi đang mặc áo bốn túi, dây biểu chương lủng lẳng, giầy láng, mà phải ôm hai, ba cái vali của mình chạy thục mạng lên tới lầu 3, va đụng lung tung, văng đồ, rớt mũ, rồi thục mạng chạy xuống. Tới trước mặt ông già, còn đang thở hổn hển, ổng chả thèm nhìn mặt thằng nào, lại phán:

– Tụi bay chậm quá! Làm lại! Thế là lại tung chân chạy lên… lần thứ hai, rồi thứ ba đến khi thằng nào cũng ngất ngư con tầu đi, quần áo sút tung ra hết, vali bung ra, lăn lóc mỗi chỗ mỗi thứ, có thằng nằm vật xuống cầu thang, miệng xùi bọt mép… lúc ấy ổng mới cho ngưng.

Tụi tôi lếch thếch đi kiếm phòng, cứ hai thằng một phòng, Việt Nam không được nằm chung với nhau, nghĩa là phân tán với các sinh viên Mỹ. Tất cả đồ đạc cá nhân mang theo, cả quân phục Thủ Đức, phải chất đống trong một nhà kho, không được đụng tới và lãnh nhận quân trang quân dụng của Mỹ. Lúc đó, mới có mấy Sinh viên đàn anh tới chỉ dẫn cho chỗ ngủ. Một phòng có hai giường sắt ở hai bên, hai cái tủ đựng quần áo, hai cái bàn để đối diện nhau và sát nhau ở giữa, hai cái ghế, trên bàn có hai cái đèn nhỏ. Ngày đầu tiên chỉ có thế, các huynh trưởng tử tế lắm, hướng dẫn cách ngồi, cách đứng, cách nằm ngủ, cách đi vào phòng… Ôi chao! Dễ ợt!
Sáng hôm sau, đang mơ màng, bỗng nghe tiếng gào khủng khiếp ở cửa:

– Dậy! Dậy! Mấy con lừa ngu độn! Bà vật chúng mày!

Tôi tung chăn ra, vừa kịp cho chân xuống giường, đứng lên, thì một huynh trưởng phóng tới, dí sát mặt hắn vào mặt tôi, cách không tới một ngón tay, gào hét:

– Mày là thằng chó chết! Có biết tao là ai không?

Tôi đứng nghiêm, cũng gào lên: -Thưa Ngài, con biết ngài là huynh trưởng!

Ông kia gầm hét:

-Ai cho mày trả lời, hả thằng khốn nạn! Mày phải biết thưa gửi, và phải xin phép nói mới được nói, biết chưa?

Tôi “dạ, thưa Ngài!”
Ổng gầm lên nữa, nước bọt văng tung tóe vào mặt tôi:

-Mày không được nói khơi khơi như vậy! Phải “Thưa Ngài, Sinh Viên sĩ Quan tên “chó đẻ” gì đó, xin phép Ngài cho con được nói.” Biết chưa!

-Dạ, vâng!

Ông huynh trưởng trợn mắt lên:

-Tao vừa nói với mày ra sao? Nói lại: Thưa Ngài, SVSQ tên chó đẻ gì đó, xin phép Ngài cho con được nói” Khi nào tao cho phép mới được nói, biết chưa!

Rút kinh nghiệm rồi, tôi vội vã gào lên:

-Thưa Ngài, SVSQ X. xin phép Ngài cho con nói! (Sir, Officer Candidate X. request permission to speak!)

Ông kia hài lòng:

-Được! Lần sau, mỗi khi mở miệng phải nói như vậy, biết chưa!

-Thưa Ngài, SVSQ X. biết rồi!

Ông gật đầu:

-Ngồi xuống đi!

Tôi vội vã ngồi xuống bàn. Chợt, ổng đập bàn cái “ầm”:

-Ai cho phép mày ngồi. Tôi ngơ ngác:

-Thưa Ngài, Ngài vừa bảo con ngồi!

Ổng lắc đầu:

-Không được! Phải la to: Thưa Ngài, SVSQ X. xin phép Ngài cho con ngồi!

Tôi gào lớn:

-Thưa Ngài, SVSQ X. xin phép Ngài cho con ngồi!

-Ừ, ngồi đi!

Lúc ấy, tôi mới ké né ngồi xuống, tim đập loạn lên, không biết Ngài còn trò gì nữa đây. Ông chỉ tay cho tôi thấy miếng cạc-tông để trên mặt bàn và hỏi tôi biết miếng bìa này làm cái gì không?

Cũng theo phép tắc cũ, tôi phải gào to lên, xin phép Ngài rồi mới trả lời là “không biết”. Ngài huynh trưởng từ từ nói:

-Miếng này là để làm cái gương cho mày soi. Mày phải đánh xi ra cho nó sáng lên, để soi mặt thay gương!

Nghe qua, tôi tưởng cha này nói giỡn. Mẹ kiếp! Miếng bìa mà bảo đánh cho bóng lên để soi mặt thì.. mụ nội hắn làm cũng không được! Tôi vâng dạ rồi nghe lời hắn chỉ bảo, và cũng cố làm, tới đâu hay tới đó. Không dè lời dậy bảo của ổng là thực. Chiều về, ổng trở lại thấy cái miếng bìa vẫn là miếng bìa chỉ sáng lên một chút, ổng lôi tôi ra, chạy hai vòng sân, vừa chạy vừa nhẩy xổm, đến lúc hai cái đầu gối muốn rơi ra, tôi ngã lăn ra cỏ, ông mới tha. Từ đó, tôi làm chăm chỉ hơn, nhưng mỗi ngày vẫn bị phạt vì cái bìa chưa là tấm gương! Cho đến tuần sau đó, khi mà ổng cúi xuống nhìn vào tấm bìa, thấy cái bản mặt của ổng hiện ra, tôi mới hết bị bò. Đó mới chỉ là tấm bìa! Còn quần áo luôn phải cứng nhu tấm phản. Cái búp nịt đồng phải sáng đến nỗi ông huynh trưởng nhìn vào thấy cái nụ cười ác hiểm của ổng thì mới không bị phạt chạy với súng trên đầu! Hai cái mũi giầy cũng là hai cái gương khác nữa. Nhiều ông chơi ác, đôi giầy người ta đánh gần chết mới sáng được nhiêu đó, ổng không chịu, dùng đế giầy của mình là di di lên mũi giầy của mấy tên khốn khổ, thế là chết cửa tứ! Bị phạt bởi ông này, hay ông khác, cứ ông này vừa tha, ông khác nhẩy vô, ăn có, phạt tiếp. Mỗi đại đội khóa sinh có một đại đội huynh trưởng hành hạ, nên không thể có một ngày bình yên. Phòng ngủ còn kinh hoàng hơn. Không đứa nào dám ngủ thật sự. Cứ đợi đến sau 10 giờ, khi ông huynh trưởng đi tuần qua khỏi là nhào xuống đất, một thằng can-me, một thằng đánh bóng sàn nhà! Chùi làm sao cho mặt sàn cũng bóng lên như gương để mấy ổng nhìn thấy mặt ổng sáng rỡ thì mới không bị phạt. Phương pháp chùi không đơn giản. Đầu tiên, lấy một miếng vài trắng thật sạch, một ly nước thật sạch, một hộp “wax” đánh bóng cũng thật sạch, nếu chỉ có một hột cát trong đó là tiêu đời, đánh một trăm năm cũng không sáng, vì có cát, thì cứ đánh đến đâu, nó lại cào đi đến đấy! Cho nên mọi thứ phải thật sạch. Nằm bò ra, dùng khăn nhúng vào nước, nhúng vào “wax”, quấn vào ngón tay trỏ và giữa, chà xát tại một điểm nhỏ bằng cái đầu ngón tay mà thôi, đánh theo vòng tròn (đánh theo hàng ngang, hàng dọc đều thất bại), cho đến khi nào cái khoảng đầu ngón tay ấy sáng hẳn lên, bấy giờ mới đánh lan ra bên cạnh khoảng một đầu ngón tay nữa… Cứ thế, từng ngón tay, từng ngón tay sẽ thành một bàn tay, rồi hàng ngàn, vạn cái bàn tay ấy qua bao nhiêu ngày mới xong được cái nền nhà! Khốn khổ như thế chả đứa nào dám bước chân lên! Đi học về, là bám lấy cái thanh ngang của cửa ra vào mà đu lên, dùng một bàn chân chạm vào nóc cái tủ quần áo, bàn chân kia với tới cái đầu giường, rồi tung mình vào giường, chân không chạm đất! Vào giường rồi là rón rén cởi giầy ra, để nhẹ xuống sàn, rồi ngồi vào bàn mà học bài, cho đến khi đi ăn hoặc đi ngủ, ra vào cũng theo kiểu Tắc Dăng đu cửa. Vậy mà mấy ổng chơi ác. Đợi đánh bóng rồi, nếu thích hành thằng nào thì đợi khi nó đi học, ổng bước vào lấy giầy của ông di qua di lại… tan nát đời hoa! Tên nào về phòng, thấy nền nhà bị di di, thì đứng gục đầu vào cửa mà khóc như nghe tin cha chết! Lại mất mấy tuần mất ngủ và sáng hôm sau, sẽ mất phần ăn sáng!

Mỗi sáng, đi ăn điểm tâm phải có sức. Xếp hàng dọc đi vào nhà ăn, phải qua một loạt huynh trưởng đứng nhìn chằm chằm từng thằng xem có thằng nào dớn dác, liếc qua liếc lại là túm lấy, hành chơi! Đi phải thẳng lưng, thẳng mắt, thẳng tay. Nghe thấy chuyện gì tức cười cũng phải tỉnh bơ, lỡ dại mà liếc xéo một cái là đời tàn, vài chục cái hít đất, thì khỏi ăn sáng luôn! Nếu không có gì xẩy ra, cũng phải đi qua một cái thanh ngang để kéo tay (pull up). Mỗi thằng phải kéo 20 cái, mỗi cái phải gào lớn: “Một, thưa Ngài”, “Hai, thưa Ngài”, “Ba…” (One, Sir; two, Sir…) Nếu đang kéo mà rớt xuống thì phải bù lại bằng 50 hít đất. Thằng nào làm không được thì khỏi ăn! Hít đất cũng không đơn giản. Có một ông kẹ đứng cầm cái thắt lưng của mình mà nhúng lên, nhúng xuống, không thể ăn gian! Một lần lên cũng phải gào to: “Một, thưa Ngài”, “Hai, thưa Ngài…”

Làm đủ bổn phận bắp thịt rồi thì được xếp hàng vào lãnh thức ăn. Đồ ăn thì ê hề, nhưng có thằng nào ăn hết! Khi bưng đĩa cơm ra, tìm bàn, mà thấy có ông huynh trưởng ngồi sẵn rồi, thì phải gào lớn:

-Thưa Ngài, SVSQ X, xin phép Ngài cho ngồi! Ngài cho ngồi, mới được ngồi. Không nghe nói gì, thì phải hiểu là “cút xéo!”, đi kiếm chỗ khác! Mà bàn nào cũng có một Ngài ngồi chờ để hành đàn em, tránh sao cho khỏi số! Ngồi được rồi, thi sắp xếp thức ăn cho thật ngay ngắn. Con dao phải để xéo góc và trên góc cái khay. Cái thìa, nĩa, thì để song song với khay. Ngồi thật thẳng lưng, hai bàn tay để trên đùi, thằng nào gù gù là bỏ ăn đó. Xong thế ngồi, thì phải gào lên: “Thưa Ngài, SVSQ X. xin phép cho ăn!” Ngài gật đầu, cho phép ăn, mới được ăn, nếu không phải chờ. Khi ăn, thì tay trái cầm nĩa, tay phải cầm dao, cắt miếng thịt xong, để dao xuống, đổi tay, cầm nĩa chọc vào miếng thịt, giơ thẳng từ dưới lên tới ngang mồm, thì quẹo một cái đưa thẳng vào mồm. Mồm cũng không được mở ra khi nhai. Đứa nào nhai mà mở mồm là đời khốn nạn. Hai, ba huynh trưởng sẽ chồm tới:

-Kìa! Thằng này nó ăn như lợn ấy! Nghe nó nhai kìa! Chẳng khác gì con heo. Cút ra ngoài kia! Làm cho tao 50 cái hít đất rồi vào ăn tiếp!
Lập tức phải đứng dậy, kéo ghế đàng hoàng rồi chạy ra ngoài, bơm lấy bơm để, vừa trở vào phòng, chợt nghe tiếng hét: “Hết giờ ăn! Cút!” Thế là xong một bữa!

Chưa kể hôm nào đó, huynh trưởng nổi hứng, chỉ đại một thằng:

-Ê! Thằng kia! Mày biết làm trò khỉ không? Nhẩy lên bàn, làm trò khỉ tao xem!

Thế là vội vã phải đứng lên bàn, nhẩy múa loi choi cho quan Ngài coi đến chừng nào Ngài cho ăn tiếp thì ăn. Bằng không thì… than ôi!
Các Ngài thích hành đàn em khi đang ăn. Có Ngài chìa ra một quả ớt, hỏi đàn em: -Cái này là cái gì đây?

-Dạ, thưa Ngài, đó là quả ớt!

Ngài lắc đầu:

-Không phải ớt. Chuối đó! Không tin tao hả? Ăn thử đi thì biết!

Dĩ nhiên là phải ăn….và cấm khóc!
Những trò hành hạ này làm cho sinh viên oán trời, hận đất không thể tả. Trong thời gian tôi còn học ở đó, tại đại đội bên cạnh, có một anh xui, không kịp oán trời thì chết lăn. Anh ta đang ăn, bị đuổi ra ngoài, bắt chạy một vòng sân vận động, đúng một dặm. Chạy được nửa đường, thì lăn ra chết ngắc! Từ đó, không còn hình phạt bắt chạy đang khi ăn nữa, nhưng những trò khác thì vẫn tiếp tục. Đàn em vẫn phải ngồi cứng người như pho tượng mặc cho huynh trưởng hành như điên. Ngu nhất là những tên đàn em có tính thích xem chuyện xẩy ra bên cạnh, chỉ liếc một cái sang là đời tàn, vì liếc bị gọi là “eye ball”, mắt quả banh, 50 cái hít đất là nhẹ.
Ăn đã vậy, đi lại thì sao?

Trong 12 tuần lễ đầu huấn nhục, đi qua đi lại cũng là một cực hình. Các huynh trưởng chia nhau ra đứng đầy hành lang. Muốn đi qua Ngài, phải ngừng lại, đứng dính sát vào tường, hai tay xuôi xuống, mắt nhìn thẳng, miệng gào lên:

-Thưa Ngài, SVSQ X. xin phép cho đi qua!

Nếu Ngài thích thì cho qua, nếu không thì Ngài cứ đứng đó chơi, giả tảng như không nghe thấy gì cho mình gào đã đời mới tửng tửng: “Qua đi!” Trường hợp Ngài buồn tình thì đứng dạng chân ra, bảo mình chui xuống dưới và bò, thì cũng phải bò. Nếu Ngài thích chơi thì Ngài bảo cởi hết quần áo ra, trần truồng rồi mới bò. Có lần, một huynh trưởng đứng điểm danh giữa sân, trước khi đi học, tẩn mẩn nhìn thấy tên đàn em đang đứng đọc báo cáo, mặc cái áo không chỉnh, nghĩa là đường tà áo không ngay với đường cửa quần, Ngài bắt đàn em cởi truồng ra, đứng chân không, vừa tồng ngồng vừa đọc báo cáo, trông tếu không chịu được, nhưng bố bảo thằng nào dám cười… Cũng trong 12 tuần lễ này, cái khổ nhất là phải chạy liên tu bất tận, chạy từ nhà đến lớp, chạy lên lầu xuống thang, chạy ra nhà tắm, chạy đi lượm rác… chạy riết đến nỗi hai đầu gối muốn long ra. Tên nào chạy dở, thì đến tối phải bị phạt. Hình phạt ở đây cũng quái đản. Hình phạt thứ nhất là vác súng đi cơ bản thao diễn một tiếng đồng hồ. Bị phạt như thế thì hai cánh tay muốn gẫy rời, vì cứ bước một bước lại tung súng lên (cây M.14 nặng gần 5 ký lô), bắt lấy, đưa lên vai, rồi lập tức lại tung súng ra, bắt chào kính, rồi tung trở lên, cho vào vai. Tất cả các cử động đó phải được làm trong khi hai chân vẫn đều bước thẳng! Hình phạt thứ hai là móc chân vào cửa sổ chống tay xuống.. đá! Vì chỗ phạt đó không có cỏ, chỉ có đá dăm miếng cứng như dao, hể lè phè để rớt “bộp” cái đầu gối xuống đó là chẩy máu te tua…Hình phạt thứ ba là đo chu vi của doanh trại. Cứ khom người xuống, dùng gang tay đo sát dưới chân tường, đo hết vòng của doanh trại thì đo ngược lại! Thứ tư là xoay cà rem! Tay trái cầm lỗ tai, tay phải chống lên cái nón sắt, chạy vòng chung quanh cái nón sắt .. hai mươi lần. Thực tế, chưa thấy đứa nào quay nổi 15, 16 lần mà không loạng choạng té nhào vì chóng mặt! Hít đất là chuyện nhỏ! Tuần lễ đầu thì 20, tuần sau tăng lên thành 50, tuần thứ mười thì phải 100.

Một lần, lúc đang xếp hàng chờ đi học, tôi vừa xì xào với tay đứng bên, thì bị tay Thiếu Úy cán bộ người Đức hay Áo gì đó, bắt gặp, hắn nhẩy đến hét vào mặt tôi:

-Cái thằng này! Tao chán mấy cái thằng Việt Nam nhà mày lắm rồi! Nằm xuống! Bơm cho tao 100 cái coi! (Hey! Guy! I am tired of your Vietnamese already! Get down! Do for me 100 push-ups!)

Nghe cái giọng miệt thị người Việt của hắn, tôi tự dưng nổi cơn giận. Tôi nằm xuống làm luôn một hơi… “ninety, sir… a hundred, sir… hundred and one… two.. three… ten….” Sau đó thi hết pin, tôi cứ nằm chống tay và lấy hơi, thỉnh thoảng làm tiếp. Đến giờ phải đi học, tay Thiếu Úy kia gọi tôi ầm lên:

-Đứng dậy! Đi học!

Tôi cứ tỉnh bơ, đếm tiếp… Gọi 2,3 lần không thấy tôi đứng lên, hắn bắt đầu sốt ruột, phải nhờ một tay cán bộ khác dẫn đại đội di chuyển. Một Sĩ quan cán bộ khác tiến lại, hỏi tôi:

-Sao mày cứ nằm hoài thế? Bộ muốn làm cho chết sao?

Tôi lẩm bẩm:

-Tôi sẽ bơm đến khi kiệt lực chết thì thôi. Ai bảo ông ta dám nói xấu dân tộc của tôi? -Cái gì? Ai nói cái gì đụng đến dân mày?

Tôi nói trong cái giọng hết pin, cho hắn biết là tay Thiếu Úy kia miệt thị dân Việt của tôi, vì thế tôi sẽ hít đất cho đến chết để hắn phải sợ. Tay cán bộ này thấy tôi lì quá, cũng ngán, chạy vào kêu ông Đại Úy Đại Đội Trưởng ra. Ông kia đến, quỳ xuống bên tôi, hỏi tôi muốn gì thì mới chịu đứng lên. Tôi thều thào, bảo tay kia phải xin lỗi tôi, tôi mới chịu. Thế là ông Đại Đội Trưởng quay lại bắt tên Thiếu Úy kia phải xin lỗi tôi. Bất đắc dĩ, hắn phải quỳ xuống, gằn giọng:

-Tao xin lỗi mày! Tao nói ẩu! Được chưa?

Lúc đó tôi mới lê lết chống tay ngồi dậy, và vì choáng váng, tôi lại vật xuống. Mấy tên kia sợ quá, vội đỡ tôi dậy, rồi cho phép tôi được tàn tàn đi bộ đến lớp, không phải chạy như mọi lần.
Tôi đi tàn tàn đến lớp. Mấy thằng cùng đội với tôi nể tôi ra mặt làm tôi khoái chí tử.

Thực ra, sự kỳ thị vẫn xẩy ra nhiều lần, hoặc giữa cán bộ với sinh viên, hoặc ngay giữa sinh viên với nhau. Nhóm Việt chúng tôi thường nhịn cho qua. Đến tuần lễ thứ 16, chính mình lên huynh trưởng, mới trả thù hả hê.

Sau ngày tôi lên huynh trưởng, một buổi sáng thứ hai mà chúng tôi gọi là Blue Monday, chúng tôi dậy từ 3 giờ sáng, mặc quần áo tề chỉnh, lẳng lặng sang đại đội đàn em, đứng trước cửa phòng tên nào vô phúc đó, chờ đúng 4 giờ là nhẩy vào phòng, gào hét như điên. “Dậy, dậy, mấy thằng khốn nạn này!…” Hai thằng đàn em của tôi mập tròn như con trâu, đang ngủ, dụi mắt chưa xong bị tôi gào ầm lên đi tắm! Chúng nó bò dưới hai chân tôi vào phòng tắm. Tôi mở nước lạnh ra xối vào người nó. Tên này run cầm cập, kêu lên chí chóe: “Thưa Ngài, lạnh quá!” Tôi cười, hỏi: “Lạnh hả? Rồi, có nước nóng tới liền”. Nói xong, tôi bật nguyên vòi nước nóng vào lưng nó khiến nó nhẩy lên choi choi, kêu “nóng quá!” tơi bời. Tôi cứ thế, hết nóng lại lạnh, làm cho đến khi nó gần xỉu mới thôi.

Sau đó, tôi bắt 10 thằng cũng trần truồng như nhộng vào khiêng hòm cá nhân ra ngoài hành lang, ngồi xổm lên đó, và giả bộ chèo xuồng, trong khi phải hát bài của Cướp Biển “Ho! Ho! Ho! Có 5 tên đàn ông, một thằng thì què, thằng kia thì đui…Chúng tao đi với cây súng trên tay…(There are five men, one is crippled, another is blind. Ho! Ho! Ho!…).

Làm cướp biển chán, tôi bắt chúng làm đám cưới. Một thằng mặc đồ Adam khoác tay một thằng làm Eva, đi giữa hành lang. Hai bên tường là 10 thằng khác cũng mặc đồ Adam như vây, giơ cao tay làm cái tán cho cô dâu chú rể đi qua đi lại, và hát bài “Ave Maria….” Không tên nào dám cười. Chỉ có một tên liếc qua liếc lại, tôi bảo vào phòng, lấy kem đánh răng ra, tôi xịt khắp người nó trắng bóc, rồi bắt nó đi xuống thang, cho huynh trưởng khác phạt chơi! Huynh trưởng là chúa tể rừng xanh mà! Tụi tôi chơi vậy mà cũng không ác bằng một tên khác, lúc 4 giờ sáng, nhiệt độ bên ngoài là khoảng 20 độ F, mặt sông đóng băng, vậy mà nó bắt nguyên một trung đội đàn em, mang súng và ba lô nhẩy tùm xuống nước đá, làm cho hầu hết bị cảm lạnh gần chết! Thiệt là ác hơn.. .tôi!

Huấn luyện thể lực

Những màn huấn nhục này đến tuần thứ 12 thì hết. Nhưng trước khi đó, sinh viên phải qua một màn thử thách thể lực ác liệt: chạy 12 dặm, tương đương gần 20 cây số với đủ 30 “pounds” vũ khí và quân dụng! Mới đầu, ra khỏi trại, các đội ngũ chạy đều, đếm nhịp 1,2,3,4 … và hát “Viet Nam á a à a, Viet Nam á a à a. Khi tôi ngủ, bọn Vixi lẻn vào chặt đầu…” (When I sleep, VC comes to chop my head..á a à a…) Những bài hát đều được dựng lên trên cuộc chiến Việt Nam, mới nghe thì ghê rợn, nhưng sau quen dần. Có lẽ đó cũng là mục đích của các cuộc huấn luyện cho Sĩ quan Mỹ quen đi, khỏi sợ!

Sau khi chạy chừng vài dặm, bắt đầu.. rã ngũ! Kẻ thì chạy chậm lại, kẻ thì rớt đài, lết bết đàng sau. Các sĩ quan huấn luyện đi xe díp theo sau, chửi bới om xòm: -Chạy đi! Chạy mau lên! Đồ con rùa! Đồ ngu! Đổ chó chết! Đồ cứt đái!

Lũ chúng tôi ráng hết hơi tàn, chạy lệt xệt, nhưng đến khoảng 10 dặm rồi thì tan hoang như một bãi chiến trường. Kẻ thì gục bên đường, người thì đứng thở hổn hển, đa số bò lê bò càng (tôi cũng ở trong số đó), vài tên nhất định không chịu chạy nữa, thì chấp nhận đeo cái bảng to tổ bố trước ngực: “Tôi là thằng hèn!” rồi bước đi lửng thửng. Một thằng bạn tôi, lòng khòng, chạy quá sức, bị vỡ xương ống quyển, phải chở vào nhà thương bó bột. Một anh khác, chạy thế nào mà “sa đì”, nghĩa là…bị rớt “hột me” vào trong bụng, phải mổ lắp hột lại vị trí cũ.

Mãi rồi cũng lết tới nơi, vừa tới chỗ dựng trại, mọi người được phân công cứ hai người một cái lều, khai rãnh nước chung quanh lều và đào hai hố cá nhân, chống tấn công. Số tôi xui, thằng bạn được chia làm lều với tôi lại lên xe cứu thương mất rồi, nên còn có một mình, phải làm bá thở. Trường Sinh Viên Sĩ Quan Fort Benning là trường dành cho Mỹ, tên nào tên nấy to con gấp đôi người Việt mình, nên khi luyện thể lực thì dân Việt mình phải cố gắng khủng khiếp mới theo kịp họ. Nhưng có điều hãnh diện là cho dù nhỏ con, thì phe ta cũng không đến nỗi tệ. Trong những màn tập bò dưới hỏa lực, đại liên bắn như mưa trên đầu, phải bò thật lẹ kẻo ăn đạn, phe ta cũng làm ngon lành. Ớn nhất là màn đeo toàn bộ súng đạn chui vào trong một cái ống cống sắt, dài cả vài trăm mét. Vừa chui cái đầu vào là cả đại đội bắt đầu ném đá vào cái ống… Những tiếng vang (echo) trong cái ống đó còn khiếp hơn cả tiếng nổ của đại bác ngay lỗ tai mình. Phải bò thật nhanh, với cái suy nghĩ là sẽ không bao giờ ra khỏi, vì sao mà nó dài dằng dặc, dài kinh khủng như thế. Đôi lúc muốn chùn lại, nhưng không được vì đằng sau cũng có một thằng cũng đang cuống quít như mình.. Rồi vượt sông trong lửa đạn, leo núi, băng đồi, lúc nào cũng chạy như điên để theo kịp đồng ngũ, hơi thở đôi khi muốn tắt ngủm. Ngoài cây súng vài ký lô, cái ba lô chĩu nặng 600 viên đạn, đồ hộp cho cả tuần lễ, túi ngủ, xẻng, võng, lưỡi lê, và lều.. mỗi lúc mỗi nặng hơn. Số tôi khốn nạn vì khá cao nên ngoài đạn dược cá nhân, còn phải vác đạn đại liên nữa. Tên bạn Mỹ đen khổng lồ vác cây đại liên cứ rủa tôi hoài: “Mẹ kiếp, mày đi như con rùa!” làm tôi nghiến răng chạy tới muốn xỉu luôn. Vì thế, khi được dừng chân là tôi ngủ như trâu, không cần biết đó là chỗ nào. Có khi nằm trên sườn núi dốc, hai chân tôi dang ra đạp vào hai gốc cây, rồi cứ thế mà ngủ, không cần biết rằng có nhiều thằng đang ngủ thì lăn xuống hố vỡ cả đầu. Một đêm đi di hành bị mưa ướt, anh em đều căng tấm bạt thành hình chử V ngược, rồi mắc võng bên trong để ngủ ngon lành. Tôi lười biếng, lăn ra đất, chẳng lều chẳng võng, cứ ngửa mặt lên trời mà ngủ! Nằm môt lúc thì lạnh, những giọt nước mưa thấm vào quần áo và làm cho.. chỗ ấy lạnh quá, tôi bèn cởi hết quần áo ra, cuốn cái “poncho” kín người rồi ngủ như chết. Sáng dậy, thấy mình nằm trần truồng giữa một vũng nước mênh mông, may mà thò được cái mũi nổi trên mặt nước!

Chương trình huấn luyện của chúng tôi vừa cần thể lực vừa cần lanh trí. Cuối cùng, chúng tôi phải trải qua một tháng huấn luyện Biệt Động Quân (Ranger) nhớ đời. Mỗi thằng được phát lương khô cho một tuần lễ mà thôi, hết thì phải “mưu sinh thoát hiểm”, vớ gì ăn nấy. Chúng tôi được thả ra tại cuối rừng Georgia rồi phải vừa đánh vừa chạy làm sao cuối tháng tới Alabama! Đánh trận này gần như thiệt, nghĩa là có thể bị Vi-Xi (giả) bắt và hành hạ. Tên nào lè phè mà bị Vi Xi bắt là khốn khổ. Thằng bạn tôi bị bắt lúc đi tiểu đêm, hắn bị địch quân trói hai tay vào cái khung mui xe GMC tong teng, rồi xe chạy ầm ầm trong rừng, lắc hắn gần vãi ra quần! Sau đó, hắn bị lột giầy, tước mất lương thực, nước uống, địa bàn, và tống đi tìm đơn vị mình! Tên này lang thang trong rừng với bàn chân rách, khi gần chết khát mới được bạn bè cứu. Một tay ở đơn vị khác, bị bắt và bị trói giằng tay chân dưới đất thành hình chữ X, rồi bị địch.. tiểu vào mồm! Một thằng bị trói vào cây có kiến càng, xỉu lên xỉu xuống vì bị kiến cắn vào chỗ nhột.
Địch quân rất hung dữ, chúng dùng cả hơi cay! Nếu không gác giặc đàng hoàng, mà bị tấn công bằng hơi cay và bị bắt thì tàn đời.

Điều ớn nhất là đói. Sau khi ăn hết đồ hộp thì đói mê man, tên nào vớ được củ thì đào củ, vớ được cóc nhái, rắn là xơi tuốt. Uống nước ở những cành cây thân mềm thõng xuống… Khi đói gần lả, phải bò đi ăn trộm. Trung đội chúng tôi hên bò gần một nông trại trồng dưa hấu, ban đêm cử mấy thằng thật nhanh và thật gan, bò vào ăn trộm dưa mang ra cho cả bọn ăn. Luật của Alabama là cho bắn bỏ mọi thằng ăn trộm, nên bò vào trại phải chấp nhận sinh tử. May mà mấy tên ăn trộm này kinh nghiệm và nhanh như cắt, nên không tai nạn nào xẩy ra.

Một lần nữa, đang đi lảo đáo, thấy trước mặt một rừng mận ĐàLạt (plum) đỏ chót, tụi tôi phóng tới như điên, cứ một tay vớ quả tọng vào mồm, một tay nhét túi căng phồng lên. Nhưng ăn nhiều mận mà đói bụng thì còn khổ hơn là đói. Chỉ một tiếng sau là toàn những tiếng rên la “đau bụng”. Thằng nào thằng nấy mặt xanh, mặt vàng rồi ráng móc họng cho ói ra mà không được, nên chỉ còn ôm bụng quằn quại cho đến khi.. xổ ra được thì mới êm. Mấy lần sau, thấy dâu tím (blueberry) hay dâu dại (black berry) đầy đất, rút kinh nghiệm, không ai dám ăn nhiều.

Trong khi đó, vẫn phải đánh ngày, đánh đêm, chẳng ngủ nghê gì. Đêm tối thui, đi trong rừng chỉ có nắm thắt lưng thằng đi trước thật chặt, vậy mà vẫn có thằng rớt hố, thằng rơi xuống suối. Mấy thằng đó phải nằm lại chờ ngày hôm sau, có xe cứu thương đến rước!

Những tuần lễ huấn luyện Biệt động này làm cho chúng tôi trưởng thành rất mau, tuy một số phải đi nhà thương, nhưng mình đầy kinh nghiệm chiến trường, được gọi hỏa lực tiếp viện, được phục kích, đánh đồn ban đêm, từ công kiên chiến đến du kích, chơi đủ kiểu…

Chương trình huấn luyện

Phải nói chương trình huấn luyện một sĩ quan trừ bị như chúng tôi tốn cả triệu đô la cho mỗi thằng cũng đáng. Được học lái xe tăng, bán đại bác từ 105 ly, 155 đến 175 ly. Bắn đại bác không dật 90 ly, bắn trực xạ, bắn vòng cầu. Mỗi sinh viên được xử dụng súng cối 4.2 khoảng 10 – 20 quả. Súng cối 90 ly là chuyện nhỏ, súng cối 60 ly thì bắn như cao bồi, nghĩa là để chân đế súng vào đùi, chĩa súng ra ngoài, rồi ném đạn vào nòng, sau đó hướng mũi súng vào chỗ nào thích bắn! Đại liên 60 cũng kẹp đùi như cao bồi chứ không để nằm. Dân Việt nhỏ con, sức yếu nên một thằng bóp cò, một thằng phải đứng đàng sau, chống tay vào lưng thằng bắn, để giữ nó lại khỏi bị sức giật của súng làm té nhào. Tập bắn hỏa tiễn chống xe tăng, hỏa tiễn chống biển người, hỏa tiển dưới đất (địa – địa), và xem hỏa tiễn chống máy bay (địa – không). Súng đại liên 50 thì dĩ nhiên phải để nằm, được bắn phòng cả tay.

Chúng tôi cũng học không vận và nhẩy… không dù từ trực thăng xuống. Học cả Rada, súng phòng không, thực tập với hơi ngạt, đọc không ảnh. (Nói về ngủ gật khi đang học thì ớn lạnh. Bạn học có quyền đấm mình ngã lăn ra giữa lớp! Một thằng đeo kính cận, có giây thung cột đằng sau ót, ngủ gật, bị tên ngồi phía sau rút cái giây thung ấy căng ra và .. thả “bụp” một cái vào ót, điếng người!) Dĩ nhiên cũng có những môn về vũ khí mới hay chiến lược gì đó thì nhóm Việt không được vào phòng học. Điều đáng nói ở đây là tuy chương trình huấn luyện đặc biệt về chiến tranh Việt Nam, trên các tường phòng học nào cũng có hàng chữ “Phải thắng ở Việt Nam” (Win in Vietnam), và trên cặp mà các sinh viên mang theo, cũng có hàng chữ đó, nhưng người Mỹ vẫn kỵ người Việt, không muốn cho thắng ở Việt Nam. Bằng chứng là trong một cuộc biểu diễn hỏa lực mạnh không tưởng tượng được, có những món vũ khí mà nếu đem ra xử dụng ở Việt Nam, chắc cuộc chiến phải đổi chiều. Thí dụ như xe tăng gắn súng bắn lựu đạn M79 có thể bắn 400 quả lựu đạn trong một phút! Tưởng tượng mà mỗi trung đoàn có một xe này, Việt Cộng chỉ có tháo chạy, dù núp trong rừng sâu núi thẳm, vì một trái lựu đạn có tầm sát thương 3, 4 mét bán kính, lại bẳn vòng cầu có thể rớt vào bất cứ chỗ núp nào! Một phút là 400 quả! Chỉ bắn chừng 5 phút là 2000 quả bay ầm ầm đến mọi nơi. Việt cộng thường núp trong rừng cây cao su, nếu bị quạt 1000 quả lựu đạn vào thì có mặc áo giáp bằng thép cũng phải đầu hàng!

Còn xe tăng? Xe tăng có nhiều loại, có chiếc mang 4 nòng đại bác 90 ly! Bốn quả đó mà bắn một lúc vào cứ điểm thì chịu sao thấu? Nếu xe tăng mà chỉ có một nòng đại bác thì được thêm hai cây đại liên 50 hai bên! Ngoài ra còn đại bác không giật 105 ly được gắn trên xe díp chạy phăng phăng trong rừng, tới đâu cũng tới! Súng cối 4.2 thì gắn trên M.113, rót rất chính xác vào mục tiêu mà không cần có mặt ngay tại chiến trường. Nếu gặp lô cốt kiên cố, thì lại có súng phun lửa cầm tay có thể phun xa mấy chục thước! Gặp biển người thì có hỏa tiễn chống biển người, một quả gồm hàng vạn cây đinh có đuôi hình hỏa tiễn, nhỏ bằng cái tăm nhưng khi bắn tung ra thì y như hàng vạn viên đạn có người điều khiển, không thể tránh. Chỉ cần bắn chừng vài quả như thế thì có thể một tiểu đoàn địch gần ngàn người tiêu vong.

Thực tế, không cần nói chi súng lớn, trước Mậu Thân, nếu binh sĩ Việt được trang bị súng trường M.14 (không cần M.16), thay vì M.1 chỉ bắn đùng đoành có 8 viên, thì trận Mâu Thân không kéo dài như thế. Hồi mở đầu Tết Mậu Thân, lính Cộng Hòa vẫn xài Garant M.1 bắn lóp bóp từng viên, trong khi đó ở Fort Benning, chúng tôi đã dùng M.14 đi diễn hành rồi! (Súng M.14 có thể bắn liên thanh với hộp đạn 20 viên, lắp đạn rất nhanh.) Nói chung, người Mỹ muốn trắc nghiệm lòng can đảm và tài nghệ chiến tranh của Việt Nam, nên chỉ đem sang Việt Nam những vũ khí lỗi thời, lạc hậu. Đợi cho Việt Nam xiểng liểng vì súng tối tân của Nga và Trung Cộng, mới gửi sang đợt “mới” bổ sung cho các vũ khí cũng đã bị đào thải tư khuya. Sau khi T54 của Trung Cộng chê hỏa tiễn M72 của Mỹ, lúc đó mới gửi sang M 202! Sau khi B.40 tung hoành, Mỹ mới gửi sang M.72 để thay thế Bazoka từ hồi Thê chiến 2. Sau khi Vixi có AK47, mới cho Việt Nam AR15 rồi đổi thành M16. Sau khi hỏa tiễn Kachiusa và các loại hỏa tiễn cầm tay của Liên Xô tung hoành, giết tơi bời dân Việt, mới gửi sang đại bác 175 ly, bắn xa khoảng 40 cây số, nhưng lại quá năng nề, không di chuyển thuân tiện trên các đường phố hay mấy cây cầu nhỏ vì sẽ làm cầu sập.

Vì thế và dĩ nhiên, vì các lý do chính trị khác, người Mỹ đã bỏ rơi chúng ta, bất chấp bao nhiêu lời thề ước bảo vệ Việt Nam của các đời Tổng Thống Mỹ. Điều cuối cùng mà tôi muốn viết để chấm dứt bài này là quyết định “tức cười” của Bộ Quốc Phòng Việt Nam: Tất cả 18 chúng tôi đều tốt nghiệp Thiếu Úy Bộ Binh Hoa Kỳ, có nghi lễ cấp bằng, gắn lon long trọng hẳn hoi, mà về nước lại bị tụt lon xuống còn Chuẩn úy vì cho rằng Chuẩn úy Việt Nam ngang ngửa với Thiếu Úy Hoa Kỳ! Một chi tiết tầm thường nhưng nghĩ kỹ thì thấy kỳ cục…

Chào anh Bảo,
Cám ơn anh Bảo đã gửi cho xem bài viết ” Huấn Luyện Sĩ Quan tại Hoa Kỳ”.
Tác giả bài viết ” Huấn Luyện Sĩ Quan tại Hoa Kỳ ” là một người trong khóa OCS Fort Benning, sau Khóa của chúng tôi.
Tác giả chỉ nói lên được một khía cạnh của chương trình huấn luyện. Phần huấn luyện gian khổ luôn luôn có trong bất cứ chương trình huấn luyện nào, dù là ở trong nước VN hay tại Mỹ. So sánh với những chương trình huấn luyện khác như chương trình huấn luyện Biệt Kích tại Fort Brake hay chương trình huấn luyện Navy SEAL thì chương trình huấn luyện tại quân trường Fort Benning chưa thấm thiá gì ! Chương trình huấn luyện tại Fort Benning chỉ là huấn luyện cho một Sĩ Quan Bộ Binh trong quân đội Hoa Kỳ có trình độ lãnh đạo căn bản, cấp Trung Đội Trưởng.

Khóa học của chúng tôi, tuy là Khóa đầu tiên nhưng trước khi theo học Khóa OCS Fort Benning, nhóm của chúng tôi, một số đã có thời gian du học và tốt nghiệp trước đây tại Hoa Kỳ. Cho nên trong buổi ” Orientation” trước khi thực sự thụ huấn khóa học, chúng tôi cũng đã cho Ban Giám Đốc của trường Fort Benning biết là chúng tôi không e ngại những khắt khe, gian khổ trong khi huấn luyện, nhưng chúng tôi không chấp nhận những lời nói thô tục, hạ cấp của bất cứ giới chức nào của trường trong suốt thời gian huấn luyện. Chúng tôi cũng đã cho trường biết là sự gian khổ trong lúc huấn luyện thật sự không thể so sánh nổi với sự gian khổ trong khi tác chiến thật sự tại chiến trường VN. Chúng tôi theo học khóa OCS Fort Benning chỉ muốn được học phương cách Lãnh Đạo Chỉ Huy của quân dội Mỹ. Vì vậy chúng tôi ít khi bị nghe những lời thô bỉ, hạ cấp, vô giáo dục của các huấn luyện viên các cấp hoặc các Sinh Viên huynh trưởng.
Tôi nhớ có một lần, một Sĩ quan cấp Thiếu Úy phạt hành xác anh em VN chúng tôi, vô tình dùng chữ YOU PEOPLE…Lập tức anh em chúng tôi từ chối thi hành lệnh phạt, tẩy chay chương trình huấn luyện ngày hôm sau và khiếu nại sự kiện đến vị Tướng Chỉ Huy Trưởng của trường . Trong buổi họp với vị tướng này chúng tôi cho ông ta biết là theo chúng tôi , một Sĩ quan có học thức của một quân đội hùng cường như quân đội Mỹ không thể chấp nhận có một Sĩ quan xử dụng lời nói như một người vô học của một nước lạc hậu. Ông ta có quyền phạt chúng tôi, nhưng chỉ được dùng chữ YOU mà không được dùng chữ YOU PEOPLE. Xử dụng chữ YOU PEOPLE chúng tôi coi như xúc phạm và việc xử dụng chữ Mỹ hạ cấp không thuộc về phương pháp Lãnh Đạo Chỉ Huy.

Vị Sĩ Quan đó bị khiển trách và chúng tôi không còn phải nghe những danh từ Chói tai, điếc con ráy nữa.
Cá nhân tôi, khi tôi đã là Sinh Viên Huynh Trưởng , tôi có phụ trách một buổi huấn luyện thể chất cho khóa đàn em trước sự quan sát của một số Sĩ Quan chỉ huy Đại Đội.

Các Sĩ Quan này muốn tôi cho họ biết một phần về cách huấn luyện thể chất của VN , xem có khác gì hơn cách huấn luyện của Mỹ ! Tôi cho họ biết cách huấn luyện của VN là : ” Làm theo tôi “. Tất cả đồng loạt cởi giầy và đeo vào cổ, kể cả tôi. Tất cả theo tôi đi chân đất vào những đường trải đá răm. Lúc đầu tôi dẫn họ đi chầm chậm, sau đó chạy chầm chậm bằng chân không trên khúc đường có đá răm. Cả đám Sinh Viên Sĩ Quan khóc ròng nhưng vẫn phải thi hành. Những Sĩ Quan trong Đại Đội đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tôi nói với họ rằng tôi có phạt họ đâu ! Họ chỉ làm theo tôi mà thôi. Tôi nghĩ họ sẽ nhớ tới già.

Tuy nhiên, tôi nhìn nhận là cách huấn luyện Sĩ Quan căn bản bộ binh tại trường Fort Benning , tuy không phải là hoàn hảo nhưng đã tạo cho những Sĩ quan tốt nghiệp có được một sự tự tin, tin nơi khả năng chỉ huy cấp Trung Đội của mình.

Đối với những người tốt nghiệp, việc huấn luyện hành xác chỉ là GAME để đào tạo sức khỏe rẻo dai , sẵn sàng thi hành nhiệm vụ khó khăn, gian khổ ngoài chiến trường.
( Vậy mà số thương vong còn lên đến 40.000 ).

Huy Quang

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 21 Oct 2023

Nhân chi sơ…tính bản thiện

Đặng Chí Bình 

Bài 33

Tối nay, sau khi điểm xong, buồng 2 rôm rả hẳn lên. Trước khi vào buổi sinh hoạt tổ thường lệ, anh buồng trưởng Nguyễn Huy Lân tuyên bố:

– Thể hiện lòng ưu ái, chiếu cố của ban giám thị, trại thông báo bán mía cho trại viên. Mỗi kg mía giá 1 hào, các toán làm danh sách thu tiền. Chiều mai, tự giác của mỗi toán sẽ ra trại ngoài xe mía về.

Chỉ mấy câu tuyên bố của anh Lân mà làm cho buồng 2 sôi động ồn ào như ong vỡ tổ. Người ta trèo lên, trèo xuống giữa sàn trên và sàn dưới. Người ta chạy Đông, chạy Tây để mượn tiền nhau và để ghi tên mua mía. Chất ngọt ở trong tù là một thứ vưu vật của cuộc đời. Theo anh em thì đã hơn 10 tháng nay rồi, nay trại mới lại bán mía.

Những người có tiền mua mía xốn xang, hân hoan sôi nổi bao nhiêu, thì càng khoét sâu nỗi niềm lẻ loi, âm thầm lạc lõng của những người không có tiền bấy nhiêu. Đây là một dịp như ngàn năm một thuở, nên hầu như ai ai tùy theo ít hay nhiều đều có ghi tên và số tiền mua mía. Không có tiền thì vay mượn, tôi để ý cả các anh em biệt kích như các cậu Châu, cậu Sáng cũng rối rít ghi tên. Tôi hiểu rằng họ là những người đã ở trại này lâu rồi nên ít nhiều có tiền năng suất trong khi lao động. Dù cho họ không có năng suất chăng nữa, trong cách giao tế, họ xoay sở cũng có chỗ mượn vay được. Hoặc họ là loại tù tập trung, mỗi tháng họ đã có một đồng. Theo quy chế của các trại giam trên toàn miền Bắc ở giai đoạn ấy. Tiêu chuẩn cho một người tù có án là 12 đồng một tháng. Loại tập trung cải tạo 3 năm thì tiêu chuẩn là 13 đồng một tháng, loại này, cứ 3 năm thì được phát một cái màn cá nhân, tù án thì không có. Như vậy, tiêu chuẩn chung cho một người tù mỗi tháng là 12 đồng, do đấy, những ai bị tập trung cải tạo, mỗi tháng được lĩnh một đồng để giải quyết trong sinh hoạt.

Chỉ có tôi, một phần vì mới lên trại, chưa có điều kiện quan hệ thâm tình với ai. Nhưng cái chính là do cái quan điểm, cái mặc cảm sai lầm là không thể mở miệng để vay mượn ai của tôi (vì vay rồi thì lấy đâu mà trả). Bởi vậy, tôi đã tự khoanh cho tôi một cái vòng, thiếu hòa đồng để trở thành đến lủi thủi âm thầm một mình. Chính vì cái quan điểm vẩn vơ này mà ngay những điếu thuốc lào nó cũng đã hành tôi biết bao nhiêu, trong những đêm buồn ít ngủ. Tuy tôi hút không nhiều, mỗi ngày chỉ 3 – 4 điếu là cùng. Ban đêm, mỗi khi giật mình dậy đi đái, nhưng khi đái xong, trở lại trong mùng thì không thể ngủ được nữa vì thèm một điếu thuốc lào. Không ngủ được thì ngồi ở trong màn…chờ. Nhìn hết sàn trên rồi sàn dưới, chờ cho tới khi có một ai đó báo cáo dậy đái. Lại phải xem họ là ai, họ có hút thuốc lào hay không? Họ có quen mình hay không, hay có phải là người dễ dãi, thông cảm với mình không?

Chưa có hút thì ngồi sầu mong đợi, nếu gặp được người thông cảm cho hút xong điếu thuốc rồi: say thì vẫn say, nhưng lại có một nỗi sầu khác càng sầu hơn nữa. Nỗi sầu tủi của người không tiền cứ gậm nhấm, rỉa mó cõi lòng của mình chìm mãi vào đêm thâu. Ôi, biết bao thấp thỏm, nhục buồn do điếu thuốc lào chỉ vì tôi chưa tìm được cách nào để kiếm được tiền.

Cũng đã nhiều lần phẫn uất, tôi định từ bỏ nó, nhưng rồi nhìn khắp 4 phương, cuộc đời của mình có còn cái gì vui đâu. Chỉ còn có điếu thuốc lào, là người bạn thủy chung để mình gửi gấm những tâm tư, những nỗi niềm thầm kín riêng của mình. Tóm lại, vì tôi không có tài xoay sở, lại không muốn mở miệng vay mượn ai, dù tôi hiểu nếu tôi vay thì sẽ được. Cho nên, tất yếu là phải nhận lấy những nỗi niềm đang nhận.

Chuyện mua mía chưa hết, rồi cho tới ngày mía được phân phối về từng toán. Người ta ồn ào, í ới gọi nhau chia chác. Chia xong, người ta hì hục, hớn hở khuân mía về chỗ mỗi người để cất, để dành, rồi lại ríu rít quây quần ngồi nhai mía.

Trong khi mọi người hân hoan, mải mê tận hưởng cái vưu vật của đời thì lại là cái nạn đối với tôi. Do cái bản tính rởm của mình, tôi không thể ngồi nhìn mọi người thưởng thức cái ăn. Nếu tôi lì mặt ngồi đó, thì sẽ có người thấy ái ngại mà mời tôi ăn. Từ chối không ăn thì tỏ ra kênh kiệu mà còn làm cho người ăn mất tự nhiên, nếu cứ ngồi đấy. Tôi hiểu rằng đây là của quý, của hiếm, là thịt, là máu của họ; cho nên tôi sẽ còn khổ tâm biết bao nhiêu khi phải nhận cái mà họ mời mình gượng ép. Bởi thế, nó sẽ nhẹ nhàng cho tôi biết bao, nếu họ ăn vào những giờ trưa, hay những ngày Chủ Nhật. Tôi chỉ cần ra khỏi buồng tránh chỗ họ ăn là được. Tuy rằng, ở trong trại chẳng còn tránh chỗ họ ăn là được. Tuy rằng, ở trong trại chẳng còn một chỗ nào để tôi ngồi được thoải mái, yên thân. Hội trường, hè trước, hồi sau, đâu đâu cũng có nhóm hoặc từng cá nhân ngồi nhai mía. Vậy chỉ còn một chỗ duy nhất, yên tĩnh nhất, tuy phải cái mùi hơi thối là trong nhà cầu của trại. Tôi đành ra đấy ngồi; thà để mũi chịu đựng cái mùi phân (phân tù không thối mấy) còn hơn mang cái nỗi nặng nề ở trong lòng. Nhưng nếu họ ăn vào những buổi tối thì thật là buồn ơi là buồn! Trời lạnh còn đỡ, trời nóng tôi vẫn phải nằm đắp chăn chùm kín đầu. Nghĩa là, cứ sau khi sinh hoạt tổ, toán xong, thấy họ rục rịch lôi mía ra chuẩn bị ăn là tôi phải sắp xếp đi nằm.

Có lần Phan Thanh Vân cứ đập vào chăn bắt tôi ngồi dậy ăn mía với anh, nhưng tôi đã cảm ơn, nói trong người đang khó chịu. Đã từ chối một người thì phải từ chối hết. Nằm đấy mà lòng có yên đâu, tai vẫn nghe họ nhai mía rồn rột ấy.

Tôi cũng hiểu rằng, trong trại hàng mấy trăm con người, chẳng phải duy nhất có một mình tôi là không có cách nào có tiền. Tuy số này rất ít, mỗi toán chỉ một hay hai người. Những người này được coi là kém về mọi mặt. ở cái thành phần vơ vét, nhặt nhạnh. Họ đi vơ, đi gom những bã mía, vỏ mía để ngày hôm sau đem ra lán hay ra đồng dùng ống nứa tươi nấu kỹ lại, cô đọng may ra còn ít chút ngòn ngọt. Ngọn mía thì đều bị chặt ngay từ lúc thu hoạch, để dành trồng cho vụ mía năm tới. Mặt khác, phải hiểu là cái máy nghiền (hàm răng) của mỗi người tù đói khổ thì bã mía cũng xác xơ, không còn gì; ngay ruồi nhặng cũng đừng hòng kiếm chác. Thông thường, mỗi đợt trại bán mía như vậy. Trại ăn lai rai hàng tháng trời mới hết, dù trung bình mỗi người mua từ 5 kg tới 10 kg, tức khoảng từ 2 cây đến 5 cây mía.

Chính vì những dồn nén của hoàn cảnh sống trong tù như thế, nên tôi đã nhờ Nguyễn Huy Lân toán trưởng xin với cán bộ toán cho tôi sang học mộc. Không ngờ, sự đề nghị sang học mộc của tôi lại được ông Kích, cán bộ toán đánh giá là tiến bộ. Bởi vì với cái nhìn của mọi người vể tổ vernie là một chỗ lao động tương đối nhàn hạ. Phải là người được chiếu cố, hoặc có ít nhiều khả năng mới được làm ở đấy.

Tuy công việc vẽ hay đánh vernie không có năng suất nhưng là một công việc “hoa lá cành” nghệ thuật. Nhiều người có quan điểm “vạn sự bất như nhàn”, nhưng với tôi, như đã trình bầy ở trên, tôi phải tìm một cách sống phù hợp với tôi. Còn một điều nữa cũng góp phần thúc hối tôi quyết định học nghề mộc; Thường thường cứ 10 ngày hay một tuần lễ, có một chiếc xe vận tải ọp ẹp từ trại chính vào lấy sản phẩm như giường bàn, tủ ghế. Lúc đó, cán bộ và toán trưởng không bao giờ lấy người thợ chính đi khênh vác mà cứ nhằm những anh tép riu, nhừng nhỡ, không nghề, không nghiệp bắt đi khênh, chuyển hàng ra xe đậu bên ngoài cổng lán thủ công. Bị những tên cán bộ hoặc toán trưởng quát tháo chỉ tay sai phải khênh cái này, vác cái kia làm cho cõi lòng tôi càng tím thẫm lại hơn. Vả lại, dù mới lên trại hơn 3 tháng cũng đủ cho tôi thấy: sống ở trong bất cứ một tập thể nào, nhất là ở trong nhà tù càng đầy rẫy những người chung quanh muốn trèo, muốn đạp mình xuống để họ vươn lên. Bởi vậy, để khỏi bị đè đầu, chèn ép: một là anh phải tìm mọi cách để vươn lên ở cái thế lãnh đạo, chỉ huy như trật tự, toán trưởng, tổ trưởng. Hai là anh đi làm chó tố cáo anh em để có thể của cán bộ, không ai dám đè mình.

Nếu cả 2 thứ trên, không phải là mục tiêu hành xử của anh thì chỉ còn có một con đường duy nhất: anh phải có một cái nghề vững, một tay nghề mà ít người làm được như anh. Như vậy mới có thể khả trợ tránh được những đè ép của đời tù. Tôi nhớ lại một sự việc, cho đến bây giờ vẫn chưa mờ nhạt được trong lòng tôi:

Chừng khoảng nửa tháng, sau vụ trại bán mía cho tù. Vào một buổi chiều Chủ Nhật, tôi loay hoay quét dọn, làm vệ sinh ở chỗ tôi nằm. Phan Thanh Vân đang tắm giặt ở dưới giếng. Khi tôi kéo cái bọc quần áo cũ của tôi trên cái kệ phía trên đầu sàn. Một cái túi con vải nâu, bé tí bằng bàn tay đứa trẻ lên 3, đột nhiên rơi xuống sàn. Tôi vội vàng nhặt lấy mở ra, choáng hồn, bên trong có 4 tờ giấy bạc một đồng, tiền của trại. Trời! Ai có nhiều tiền thế! Những 4 đồng có phải ít đâu. Tôi đoán chắc là của Phan Thanh Vân, nhưng sao lại sang chỗ tôi? Có thể Vân đã vô tình để vương sang chăng? Tôi liếc nhìn Lù Chằn Páng và bác Chánh già ở cách đấy mấy chiếu, đang ngồi khâu vá. Chẳng ai để ý đến tôi cả. Tim đập hơi khác thường, tôi đấu tranh giằng co giữa 2 vấn đề: chốc nữa hỏi Vân xem có mất tiền hay không? Hoặc cầm chiếc túi giơ cao, rao to ở trong buồng: ai có chiếc túi nay, hãy nói bên trong có gì, nếu đúng, tôi sẽ trả. Hay cứ im đi, cất kỹ nếu có ai kêu mất thì mình sẽ đưa ra. Tôi ngồi thừ ra một lúc, một ý tưởng lờ mờ, lởn vởn lẻn vào trong óc: nếu mình có 4 đồng này sẽ ưu tiên cho 2 cái cần thiết là thuốc lào và xà phòng. Cả một năm, mình sẽ ung dung không phải lo đến 2 thứ đó nữa.

Ôi, 4 đồng, số tiền lớn quá! Tôi thấy bấn hết cả người lên, vội vàng quét dọn sơ sơ rồi tôi chạy hộc tốc xuống giếng. Thực ra lúc tôi chạy xuống giếng, cũng không biết để làm gì nữa chứ? Có lẽ để nhìn mặt Phan Thanh Vân xem sao, thế thôi! Tôi có cảm tưởng là chỉ cần nhìn mặt Vân là tôi đã biết được ngay tiền đó là của Vân hay không.

Gặp Vân, thấy anh đang lom khom kéo chiếc gầu tôn nước dội xối xả vào người. Tự nhiên tôi thấy vui hẳn lên. Tôi ca ngợi Vân chịu lạnh tốt, vì trời vẫn còn lành lạnh của những trận Heo May cuối mùa. Tôi cười nói huyên thuyên với Vân một lúc, rồi tôi lại chạy về buồng, lấy chăn ra đắp, nằm suy tính cho dứt khoát. Anh chàng Vân, nếu tinh ý, sẽ thấy ngạc nhiên tại sao hôm nay tôi lại vui thế; và Vân sẽ phải tự hỏi, tôi xuống dưới giếng để làm gì chứ? Chả lẽ, trời lạnh như vậy tôi chạy hộc tốc xuống giếng chỉ để nói vài câu bâng quơ với Vân rồi lại chạy về ư? Nhưng nỗi niềm ở trong lòng mỗi người, bên ngoài ai mà biết được! Và mỗi người là một cuộc đời riêng, ai để ý làm gì? Cho tới lúc Vân đã phơi quần áo xong, về chỗ. Lúc Vân lục đục ngay bên cạnh tôi, thì tôi đã quyết định dứt khoát:tôi sẽ cất kỹ cái túi, im bặt. Nếu Vân hay bất cứ ai trong buồng kêu mất cái túi thì tôi sẽ lấy ra trả, nói rằng thấy rơi ở phia đầu giường.

Mặc cho Vân vẫn cứ hì hục bên cạnh, tôi nằm lan man suy nghĩ hết hướng nọ ngả kia. Từng mảnh đời to nhỏ ngược xuôi, có lúc lững lờ, lảng vảng, có lúc vùn vụt chạy qua óc tôi. Tư tưởng diễn tiến của một con người cũng thật phức tạp, kỳ lạ. Mới nửa giờ trước còn định cầm cái túi rao to lên để trả cho người mất, thế mà giờ đã thay đổi khác rồi, đã thấy mình có một phần quyền lợi trong cái tiền 4 đồng, thực tế là của người khác. Tôi nhớ vào khoảng năm 1958 ở thành đô đầy hương sắc và tình người:

Vào một buổi tối, tôi và đứa em trai 15 tuổi đèo xe đạp nhau đi xem xi nê ở rạp Nam Quang trên đường Lê Văn Duyệt. Chúng tôi xem suất cuối, từ 9 giờ đển 11 giờ đêm. Hôm ấy chiếu phim gì cho tới nay tôi không còn nhớ rõ, nhưng một sự việc trong buổi ấy vẫn hằn lên trong lòng tôi không thể phai mờ.

Trong rạp, khi phim vừa hết, đèn bật sáng. Mọi người đều lũ lượt theo nhau ra phía cửa rạp để về nhà cho sớm. Tôi và thằng em đứng lên sau cùng, chúng tôi đều nhìn thấy ở hàng ghế phía trên, một chiếc ví da dầy cộm đang nằm phơi mình trên một chiếc ghế. Nhìn quanh, suốt mấy hàng ghế đó chả còn ai. Tôi nghiêng cúi người sang cầm lấy chiếc ví, mắt ngơ ngác nhìn theo những giòng người đang chen chúc nhau ra về.

Tôi chờ, tôi tưởng như sẽ có một người hốt hoảng trở lại hàng ghế để tìm chiếc ví của mình. Vì thế, tôi vẫn cầm nguyên chiếc ví ở tay chẳng dám mở ra để biết cái gì bên trong. Mãi cho tới lúc người ta đã ra hết, tôi ra hiệu cho thằng em cũng ra ngoài cửa, trước con mắt chằm chằm của nó đang nhìn vào chiếc ví.

Khi ra đến ngoài, cửa rạp đã lưa thưa, vãn hẳn bóng người. Trời đã vào khuya, 11 giờ 30 đêm rồi! Một tay tôi vẫn cầm chiếc ví, một tay dắt chiếc xe đạp. Tôi còn bấn loạn tâm hồn chưa biết quyết định ra sao trước một việc bất ngờ thế này. Thằng em trai cứ líu ríu theo tôi, nó vẫn tin và làm theo những quyết định của tôi. Dùng dằng, do dự một lúc, tôi quyết định phải mở chiếc ví ra xem bên trong có cái gì? Tôi đưa chiếc xe đạp cho người em dắt, dẫn lại dưới một cột đèn sáng, tôi mở chiếc ví. Lần đầu tiên trong cuộc đời hai anh em tôi nhìn thấy dollars Mỹ. Có khoảng 10 tờ giấy 10 dollars, hơn một chục dollars loại giấy một đồng, và một tờ giấy dollar 50 đồng. Ngăn bên kia, hơn 20 tờ giấy một trăm tiền của Việt Nam Cộng Hòa. Còn nhiều giấy tờ nữa, đút đầy trong các ngăn của chiếc ví mà tôi không dám và không muốn lục lọi kỹ. Tôi vẫn có cảm tưởng là không được xục xạo chuyện riêng tư của người khác. Tôi nhìn thấy một tấm thẻ tên Võ Văn Ba số nhà 50B đường Lê Văn Duyệt, Gia Định.

Lúc này, tim tôi càng xốn xang đập mạnh hơn. Trời lại càng khuya, đường phố đã vắng hẳn bóng người. Tôi có ý định, hay đem vào gửi người coi rạp xi nê để cái ông Ba này sẽ trở lại hỏi, tìm chiếc ví. Nhưng khi 2 anh em tôi trở lại trước cửa rạp thì họ đã đóng chặt hết các cửa rồi, im ắng, chả còn ai ở đấy. Đầu tôi chợt lóe lên một ý tưởng, tại sao không mang đến trình, nộp cho bót cảnh sát? Nghĩ thế, tôi bàn với thằng em, rồi dẫn xe đạp xuống đường, háo hức đèo nhau về bót cảnh sát quận nhất.

Đường khuya, phố vắng, phần vì lo về nhà quá khuya sẽ bị bố mẹ la rầy, phần vì thấy lòng hân hoan vui thích cứ tưởng như chúng tôi đang làm một chuyện tốt, một chuyện được nhiều người khác khen ngợi là đã làm đẹp cho cuộc đời. Vì vậy, tôi càng gò lưng miệt mài chiếc xe phóng như bay trong đêm khuya.

Đến đồn cảnh sát, đã 12 giờ rưỡi khuya, vắng lặng, chả thấy ai ở bàn trực. Hai anh em tôi trở ra, trở vào thập thò một lúc mới thấy một ông cảnh sát ở trong buồng đi ra. Thoáng thấy chúng tôi, ông ta quát lớn:

– Mấy cậu kia đi đâu?

Tôi vào, đặt chiếc ví lên bàn và trình bầy lý do đã nhặt được nó. Cuối cùng, tôi nhờ cảnh sát trả lại chiếc ví cho người chủ của nó. Ông ta cầm ngay lấy chiếc ví, mắt ông ta chuyển ngay từ mầu vàng, cái mầu của hách dịch, lạnh lùng sang cái mầu xanh lam êm dịu nhìn chúng tôi. Rồi tới khi ông ta mở chiếc ví thì mắt ông ta như lồi thêm ra, mồm há hốc. Tay ông ta run rẩy lôi những tờ dollars ra để xuống bàn, mắt ông ta lại ra vẻ lấm lét nhìn chúng tôi. Tay ông ta chỉ hàng ghế dọc theo phía tường trước bàn, miệng ông ta nói trong nỗi xúc động tràn ứ:

– Các cậu hãy ngồi xuống đó cho khỏi mỏi chân.

Cũng là lúc một ông cảnh sát nữa từ ở phía trong đi ra. Hai ông vừa đếm tiền, vừa xem xét các giấy tờ. Thỉnh thoảng các ông lại liếc về phía chúng tôi. Chừng 10 phút sau, các ông nói nhỏ với nhau một lúc rồi cùng tiến lại phía chúng tôi. Ông cảnh sát ra lần sau, đặt một tay lên vai tôi nói rất nhỏ nhẻ, êm dịu:

– Các các cậu vẫn còn là học sinh phải không? Các cậu đã làm một việc đáng khen, bây giờ, các cậu có thể về nhà nghỉ, kẻo khuya rồi. Chúng tôi sẽ có trách nhiệm mang chiếc ví lại trả lại cho người chủ, và chúng tôi thay mặt người chủ chiếc ví cảm ơn các cậu.

Hai ông cảnh sát rất vồn vã, tiễn hẳn chúng tôi ra đến cửa, còn đừng nhìn theo chúng tôi đạp xe đi xa rồi mới quay vào.

Về đến nhà, đã 2 giờ khuya, tuy mệt nhọc, nhưng lòng chúng tôi thênh thang như mở hội. Tôi vẫn nhìn thấy cuộc đời toàn gấm hoa rồi mơ màng chìm dần vào giấc ngủ muộn của tuổi đôi mươi.

Mấy hôm sau, tôi đem chuyện nhặt được chiếc ví khoe với mấy người bạn. Họ đều nêu lên vấn đề là có thể các ông cảnh sát sẽ lấy hết tiền, rồi chỉ trả cho người chủ chiếc ví những giấy tờ mà thôi. Họ trách tôi, sao không để hẳn lại ngày hôm sau mang lại nhà trả cho ông Võ Văn Ba.

Tôi cũng thấy ý kiến của các bạn cũng có khá đúng, nhưng phần vì tôi không muốn mang chiếc ví lại nhà họ, để ra cái vẻ mặt một người làm ân đứng trước một người thọ ân. Phần khác, tôi vẫn cho rằng, tôi đã làm tròn, làm đẹp cái khâu trách nhiệm của mình rồi. Nghĩa là nhặt được của rơi đã đưa đến nộp cho cảnh sát. Vậy còn những khâu khác, nếu họ không làm tốt, làm đẹp thì thuộc về cuộc đời rồi, tôi làm sao mà lo hết?

Từ chuyện chiếc ví năm xưa, giòng tư tưởng của tôi lại chảy dài về một sự việc khác, 7 năm sau đó, ở Hỏa Lò Hà Nội: giai đoạn này tôi đang ở xà lim I (xà lim án chém). Xà lim lúc đó do ông Dư phụ trách. Một sự việc mà tôi vẫn thấy lòng bâng khuâng, buồn buồn mỗi khi nghĩ đến. Tôi nhớ vào một buổi, tôi cũng vào nhà tắm để đổ bộ như thường lệ. Trong khi tay tôi vẫn khoắng bô tráng nước thì mắt tôi liếc đây đó, nhất là cái thùng đựng giẻ chùi (tôi đang tìm giẻ để khâu đồ chống muỗi). Tôi thoáng thấy ở mé bậu cửa có một miếng xà bông thơm, mầu xanh to bằng 2/3 hộp quẹt diêm. Phải nói là từ mấy năm rồi nằm ở xà lim, tôi ước mong có một miếng xà bông con như vậy, nhưng chưa bao giờ được. Tôi có cài bàn chải đánh răng, từ bao lâu chỉ đánh bằng nước lã. Tuy tôi không nhìn thấy, nhưng tin chắc là răng tôi bẩn lắm, sợ có thể bị sâu, hơn nữa hôi mồm. Tôi cần một miếng xà bông bất kể là loại gì, chả cần to lắm. Mỗi ngày tôi chỉ cần quệt có một tí cho có bọt rồi đánh răng cho nó sạch miệng.

Thế mà hôm nay, bất ngờ lại nhìn thấy, tôi suy đoán, có thể của một nữ cán bộ nào vào tắm rồi quên. Và cũng có thể là của một buồng nào đó họ để họ để quên không chừng. Tôi đã nhét vào cạp quẩn, rồi băn khoăn lại moi ra định để lại chỗ cũ. Nhưng sau không cưỡng nổi với lòng tham của tôi, vì một miếng xà bông này, tôi có thể dùng ít ra được một năm, trong khi không còn một cơ hội nào để tôi có cả. Vì vậy, tôi lại nhét trở lại cạp quần và mang về buồng.

Vào buồng, tôi đang hý hửng với một món đồ quý, ngẫu nhiên lại có, thì buồng số 14 báo cáo giọng Quảng Nam trọ trẹ:

– Béo céo cán bộ, buồng tôi để quên miếng xà bông trong nhà tắm!

Tôi vừa hồi hộp, vừa ngần ngừ lắng nghe. Tiếng báo cáo 2 – 3 lần mới thấy tên Dư vào mở cửa buồng:

– Để quên đâu vào mà lấy!

Tôi ngập ngừng, giằng co giữa muốn báo cáo trả, nửa không muốn trả. Cuối cùng giọng số 14 vừa từ nhà tắm đi ra vừa báo cáo:

– Béo céo, buồng nào đã lấy mất rồi!

– Miếng xà bông to không?

– Bằng bao diêm, bánh xà bông hoa nhài, vợ tôi mới gửi vào, tôi cắt đôi.

Tôi biết xà bông hoa nhài giá 4 hào, một bánh. Đây là ½ bánh, nhưng đã dùng nhiều lần rồi chỉ còn bằng 2/3 bao diêm thôi. Giọng tên Dư lại cất cao:

– Buồng nào lấy nhầm miếng xà bông của người ta, báo cáo trả lại cho người ta. Nếu không, tôi vào từng buồng khám thấy thì đừng trách.

Tôi đã lưỡng lự, định báo cáo trả, nhưng khi nghe y đe dọa sẽ khám các buồng thì tôi lại không muốn trả nữa. Để xem y có khám được không! Tôi cúi nghiêng xuống, sờ tay xuống mặt dưới của cái sàn xi măng. Vì là mặt dưới nên họ đổ xi măng hãy còn lỗ chỗ, sần sùi sỏi lẫn cát. Tôi lấy miếng xà bông ra, mò tay xuống ấn ngược lên, miếng xà bông dính chắc. Như vậy có trời mà tìm, trừ trường hợp có cái máy ngửi xà bông thì mới họa chăng. Tên Dư cũng chỉ phách lối, dọa như vậy, chứ cũng không đi khám buồng nào cả.

Tôi cứ nằm bồng bềnh, đầu óc cứ hết cuộn vào rồi lại mở ra. Từ chuyện cái ví năm xưa, đến miếng xà bông mới đây ở dưới Hỏa Lò và bây giờ là 4 đồng bạc. Nội dung của chiếc ví và 4 đồng bạc lúc này thật là giống nhau, nhưng đã thay đổi hẳn hồi kết cục chỉ vì nó cách nhau một thời gian 10 năm. 10 năm trước, tâm hồn của một người thanh niên hãy còn trong trắng, chở đầy chiếc thuyền đời toàn là nhung với lụa. Mười năm sau, cũng người thanh niên ấy, tâm hồn đã vẫn đục như nước lũ mùa Hè.

Như vậy, phải chăng do chính tôi đã làm cho tôi xấu dần theo tuổi đời, hay do xã hội, cuộc đời đã làm bẩn dần tâm hồn của một con người? “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, từ đấy suy ra, người càng già thì càng nhiều thói xấu, càng đục hay sao? Tôi không tin như vậy! Có thể con người ta sẽ xấu, sẽ đục đến một cái mức nào đó, đến một cái tuổi nào đó, rồi người ta lại phải tìm về cái đẹp, cái thiện và lọc dần cho tâm hồn trong lại. Cho nên mới có nhiều ông già, bà già rất phúc hậu đạo đức.

Hàng tuần lễ sau khi tôi vớ được 4 đồng, cũng chả thấy ai kêu mất tiền. Hơn một tuần rồi, phải thành khẩn mà nói rằng: lúc này dù có ai kêu mất tiền, chưa chắc tôi đã trả, vì tôi đã biết một anh ở toán 6 có một miếng xà bông to. Anh đã bằng lòng bán cho tôi với giá một đồng, hơn nữa, tôi đã dự trù cuối tháng nhờ mua mấy gói thuốc lào nữa rồi.

Tôi quan sát, nghe ngóng từng người chung quanh tôi. Tôi có thể đoán gần chắc 4 đồng bạc này là của Phan Thanh Vân, Vân có nhiều tiền nên để quên hoặc lại tưởng rơi ở nơi khác nên đã không kêu, không hỏi.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 21 Oct 2023

Một vụ vượt thoát

Đặng Chí Bình 

Bài 32

Tôi nhớ khoảng hơn một tuần, sau vụ mất quần đùi của Phan Thanh Vân. Lúc này chừng 4 giờ chiều, tôi và Quý Cụt đang mải mê đánh vernie mấy chiếc giường đôi kịp cho ngày mai, trại ngoài vào lấy. (Giai đoạn này, ít khẩu hiệu, sơn vẽ nên một mình Lê Sơn làm. Tôi phải sang phục vụ vernie với Quý Cụt). Bất chợt, có 2 tiếng súng nổ ròn, rổn rang lên từ phía trong rừng. Mọi người còn đang ngác ngơ, thì tiếp theo 2 phát nữa đoàng đoàng, chát chúa ở ngay cổng trại.

Tôi mở to mắt sớn sác nhìn Quý và Lê Sơn. Vì là lần đầu tiên quá bất ngờ nên một thoáng, tôi tưởng như ở trong Nam, lại có đụng độ đánh nhau tới nơi. Nhất là lúc này, tiếng kẻng bom ở cổng trại đang khua vang liên hồi, dồn dập. Ngay giữa sân, tên bộ đội vũ trang đang thổi còi ré lên, tay y khua rối rít dục tù ra xếp hàng tập họp. Tên Kích và tên cán bộ toán 3 chạy xổ từ trong buồng ra sân mặt hớn hở, hớt hải, miệng hò hét inh ỏi. Nhìn thấy tôi đứng ngây người ra, Lê Sơn và Quý Cụt vừa thu dọn đồ, vừa bình thản cho tôi biết chỉ là rải rác khắp nơi trong rừng. Toán nào phát hiện, toán của mình có tù trốn, cán bộ nơi đó cấp tốc bắn 2 phát súng báo hiệu. Những toán lao động gần đấy, cán bộ lại bắn tiếp 2 phát nữa. Nghĩa là bắn chuyền cho đủ cả 5 phân trại đều biết là đã có tù trốn, và tất cả các toán kể cả tự giác cũng phải thu quân về trại.

Khi toán 2 vừa ra khỏi cổng khu thủ công để về trại thì gặp một lũ cán bộ, công an vũ trang súng ống túa ra hướng có 2 phát súng nổ đầu tiên. Ngay ở cổng trại, Phong, tên thiếu úy công an vũ trang, tay đang cầm 4 sợi dây da dắt 4 con chó to lớn đang lồng lộn sủa gâu gâu inh ỏi. Chúng đang nhe miệng thò ra những chiếc răng nhọn hoắt, trắng hếu, lợi và lưỡi đỏ lòm trông thật dữ tợn. Lê Sơn đi bên cạnh, ghé sát tôi thì thầm:

– Giống bẹc-dê này của Đông Đức đấy! Con cháu của bẹc-dê thời Hitler khát máu ngày xưa.

Tên cán bộ nào cũng tớn tác, khẩn trương sôi nổi hẳn lên. Lúc toán 2 vào trại cũng là lúc tên Cẩn trực trại và một tên cán bộ giáo dục, tay đang xách mấy bộ quần áo rách từ trên phía buồng số 3 chạy ra phía cổng trại. Tò mò, sau khi vào khỏi cổng trại, tôi quanh lại liếc nhìn ra: chúng vất mấy bộ quần áo rách đó xuống đất, 4 con chó xông đến hà, hít một lúc, rồi tên thiếu úy Phong và 3 tên vũ trang nữa; mỗi đứa dẫn một con chó chạy xồng xộc về hướng có tù trốn.

Bây giờ thì chúng tôi đã hiểu, người tù trốn là anh Phồn Lạc. Anh là người thuộc đảng Việt Xã trong Liên Hiệp Pháp, anh ở toán làm gạch. Tên trực trại đã vào buồng số 3, đến chỗ anh lục tung quần áo bát đĩa của anh. Y vừa tìm những vật khả nghi có liên quan đến việc trốn tù, vừa lấy quần áo của anh cho chó đánh hơi, đánh mùi để đi tìm anh.

Câu chuyện đảng phái của anh, từ hơn một tháng trước tôi đã nghe anh em nói đến, nhưng chỉ hiểu sơ lược, loáng thoáng: đảng Việt Xã trong Liên Hiệp Pháp được thành lập ở Sơn Tây, quy tụ được một số người. Đa số là những thành phần lính tráng, hạ sĩ quan đã từng ở các đơn vị quân đội thuộc Liên Hiệp Pháp trước 1954. Thêm vào đó là một số thân thuộc, họ hàng con cháu của họ, hầu hết là người Sơn Tây. Họ đã bí mật hoạt động được vài năm. Những người lãnh đạo trong đảng có thể chỉ có tinh thần cương cường chống Cộng Sản nhưng thiếu trình độ tổ chức; không đủ kiến thức để nhìn rõ mình và kẻ thù. Không có đường lối vững vàng, sáng tỏ để thu hút, lôi kéo quần chúng cùng đứng dậy để chống kẻ thù chung. Tôi nói như vậy là căn cứ vào 3 sự việc sau:

1/ Ngay cái sự việc đặt đảng trong Liên Hiệp Pháp đã không có chính danh rồi. Nếu ban lãnh đạo chỉ cần có một ít kiến thức hiểu biết thì dứt khoát họ đã không dùng tên đảng như vậy.

2/ Với một lực lượng hơn 20 người, không có nội ứng mà dám chủ trương cướp trường sĩ quan bộ binh của Cộng Sản ở Phùng, Sơn Tây để đoạt khí giới phát triển lực lượng.

Số lượng người đã ít, lại ô hợp, không được huấn luyện kỹ. Vũ khí lại thô sơ thiếu sót: chỉ có 7 khẩu CKC và 2 khẩu AK, còn hầu hết là mã tấu với lựu đạn. Lợi dụng một đêm tối trời, không trăng sao, đoàn quân của đảng quấn giẻ, tẩm dầu vào đuôi 3 con trâu. Bật hồng đồng loạt đốt cho 3 con trâu chạy vào cổng trường sĩ quan lục quân như một lá chắn, như một mũi nhọn xung phong để đoàn quân nương theo vào phá trường. Để rồi hơn 1 tiểu đoàn bộ binh của Cộng Sản ở Ba Vì gần đấy đến bao vây và bắt gọn.

(Trên đây, chính là lời của anh Phùng Văn Cần, một trong những yếu nhân của đảng. Trong trại anh em thường gọi đùa là “tướng Cần” đã nói chuyện với tôi một buổi tối ở hội trường).

3/ Riêng phân trại E này có hơn một chục người của đảng Việt Xã. Trong đám này có 2 người tương đối có cỡ của đảng là Đinh Khắc Sản, hiện anh đang làm toán trưởng của toán 3 (xẻ gỗ). Theo như quy ước đã dự trù, nếu sau này lật đổ được Cộng Sản, anh sẽ thành bộ trưởng nội vụ. Người thứ 2 chính là anh Phùng Văn Cần, tức “tướng Cần”. Người ta gọi đùa như vậy, bởi vì chính anh là người chỉ huy cuộc tấn công “châu chấu đá xe” vào trường sĩ quan lục quân ở Phùng.

Tôi rất ngạc nhiên về trình độ văn hóa và kiến thức của cả 2 người. Văn hóa, có lẽ chỉ xong tiểu học và kiến thức cũng chỉ xoay quanh cái tỉnh Sơn Tây mà thôi mà dám lập một đảng cách mạng.

Có lẽ vì thế, nên tụi Cộng Sản đã để cho 2 người sống. Mỗi người chỉ mang cái án 20 năm. Một sự việc về tính chất đâu có phải là nhỏ.

Từ khi ra Bắc, trong cái điều kiện giới hạn, hẹp hòi của tôi. Trước đây biết một chút về đảng Tân Phong của Phạm Huy Tân, rồi giờ đây lại biết một ít về cái đảng Việt Xã này, làm cho lòng tôi chả có cái gì vui.

Trở lại việc anh Phồn Lạc trốn tù. Hầu hết trong trại, cho tới khi cơm nước xong, vào buồng điểm, khóa buồng, anh em tuy không dám bàn tán, xầm xì, nhưng nét mặt của ai cũng đăm chiêu khác thường. Trong lòng tôi, tuy chả nói với ai, tôi vẫn cầu mong cho anh Lạc may mắn thoát khỏi những nanh vuốt của kẻ thù. Khi nãy nghe anh Đồng nói sơ qua tôi đã hiểu: mỗi khi có tù trốn, một số cán bộ và công an vũ trang đã được phân công từ trước. Tất cả sơ đồ, địa hình toàn bộ khu vực trại có những đường mòn dẫn tới đâu, đều có cán bộ mang cơm nắm đi nằm ếm khắp các nẻo đường. Bởi thế, đã từ lâu, thỉnh thoảng có tù trốn, nhưng sớm muộn trong vài ngày là đều bị bắt lại. Tuy tình huống khác nhau nhưng mỗi người đều gặp những chuyện không ngờ cả.

Tôi nằm đắp chăn, cứ hình dung tưởng tượng. Bên ngoài, một lũ người và một lũ chó đang xục xạo khắp nơi để tìm một con mồi. Con mồi đó thật khốn khổ yếu đuối, so với cái lực lượng lớn mạnh như thế đi săn tìm. Tôi hiểu anh Lạc, trước khi trốn đi, cũng đã phải nhiều đêm ngày đấu tranh gay gắt, giằng co tơi bời ở trong lòng. Hẳn anh cũng đã biết, anh chẳng có hy vọng nhiều thoát khỏi, có chăng chỉ một chút le lói niềm tin ở những truyện bất ngờ. Một kiếp người, một mạng sống thật rẻ để đánh canh bạc này. Một canh bạc, một ăn mười thua để rồi cuộc đời sẽ chết hay sẽ khổ đau hơn nữa. Hoặc nếu may mắn, được ở trong cái tỷ lệ 1/10 thành công thì cũng chỉ tìm được một cuộc sống tối thiểu bình thường cho một kiếp người.

Trời bên ngoài càng lúc càng tối dần, nhưng niềm hy vọng anh Lạc trốn thoát, lại càng lớn dần lên. Phan Thanh Vân nằm bên cạnh vẫn chưa ngủ. Thấy anh trở mình xoành xoạch, thỉnh thoảng thoát ra một tiếng thở dài nhè nhẹ. Chẳng hiểu Vân có đang nghĩ đến anh Lạc như tôi không? Hay Vân sắp được tha, Vân đang suy nghĩ về những cảnh đời sắp tới của Vân? Lòng người vạn ngả , ai hiểu được lòng ai? Dù có nằm bên cạnh nhau.

Hồn tôi bồng bềnh, lãng đãng chìm dần vào giấc ngủ muộn thì 3 tiếng súng dóng đuôi nhau giật ré lên trong rừng sâu. Âm thanh của 3 tiếng nổ, kéo dài ra đập vào những cây nứa già rên lên như ai oán làm tôi choàng tỉnh dậy. Hai ba tiếng nói dội vào bóng đêm ở phía sàn trên:

– Bắt được tù rồi!

Tim tôi hơi giồi lên nghẹn lại. Tôi chưa hiểu lúc này là mấy giờ khuya? Thấy Vân trở mình, tôi lên tiếng:

– Mấy giờ rồi Vân?

– Khoảng 11 giờ!

Giọng tỉnh queo của Vân làm tôi tỉnh hẳn. Như vậy, Vân vẫn chưa ngủ. Tôi đã hiểu khi có 3 tiếng súng, là ở nơi đó đã bắt được tù. Tôi chưa biết người anh Phồn Lạc, nhưng lúc này tôi thấy thương anh thật nhiều. Bây giờ mọi người trong buồng đang nằm yên ổn trong chăn ấm, nhưng ở chỗ kia, chỉ gần đây thôi hẳn là anh Lạc đang tối tai mặt mũi đón nhận những trận đòn thù, hội chợ. Ôi, một kiếp người yếu đuối, lẻ loi trước cường quyền!

Chừng nửa giờ sau, trong buồng hơi xôn xao. Một số người xô ra phía cửa sổ nhìn ra ngoài sân trại. Tôi cũng nhào đến. Kia kìa! Hai chiếc đòn nứa còn tươi, được buộc với 3 đoạn nứa nhỏ nằm ngang thành một chiếc cáng thô sơ. Tên Thái đi trước, tên Tân trật tự đi sau. Hai tên đang khênh trên cáng một thân hình gầy guộc, trần như nhộng, mặc mỗi chiếc quần đùi rách, đầu tóc, mình mẩy đầy bùn đang nằm khòng khoèo bên trên. Tên Cẩn trực trại và mấy tên bộ đội nữa cầm một chiếc đèn bão và súng ống đi kèm theo sau về phía nhà kỷ luật.

Bao nhiêu người trong buồng chen nhau nhìn cảnh ấy, nhưng rồi chẳng ai nói với ai một lời, đều về chỗ nằm của mình trùm chăn, tôi cũng vậy. Một nỗi sầu của đời đang phủ dần xuống lòng mọi người.

Sáng hôm sau ra lán lao động. Mới khoảng 10 giờ, Nguyễn Huy Lân đã lên chỗ lán vernie nhỏ nhẻ nói cho biết một ít chi tiết về vụ Phồn Lạc trốn mà Lân vừa được lão cán bộ Kích rỉ cho biết sáng hôm nay: toán gạch làm việc ở một bãi đất trống và trũng cách trại E hơn 2 cây số (đường chim bay) về phía Tây. Trong khu vực toán gạch này, trống trơn, chỉ có một căn nhà con, được chia làm 2 gian, một gian cho cán bộ ngồi làm việc, một dùng để làm kho. Một chiếc lò gạch to với một cái sân rộng có một số gạch thô đang phơi và mấy đống gạch đã nung rồi. Nhiều bộ phận khác nhau của toán cũng đều làm việc suốt ngày ở ngoài trời.

Buổi chiều, khi gần hết giờ, tù cất dọn dụng cụ và rửa chân tay rồi tập họp điểm số như thường lệ thì thấy thiếu một người. Sau một lúc tìm, xét, cuối cùng đã biết là anh Phồn Lạc. Mọi người từ toán trưởng trở xuống đều khẳng định: hơn một giờ trước, vẫn còn thấy anh Lạc, nhưng bây giờ thì không ai biết anh Lạc đi đâu. Sau đó cán bộ bắn súng v.v…

Các bộ phận đi làm lỗng (*), đã sục khắp nơi trong rừng. Vòng đai tìm kiếm càng lúc càng mở rộng. Suốt từ 5 giờ chiều cho tới 10 giờ đêm, Phồn Lạc vẫn bặt vô âm tín. Sau đó, ban tham mưu và trinh sát của trại, có người đặt vấn đề hãy trở lại hiện trường toán gạch tìm kiếm, điều xét lại một lần nữa. Cuối cùng, chỉ vì mấy con chó chết cứ sục vào đống gạch ở giữa sân sủa ăng ăng. Sinh nghi, cán bộ cho lục bới từng đống gạch và đã tìm thấy Phồn Lạc đang nằm run như con cầy sấy trước một định mệnh quái ác, trêu người. ((*) Nằm lỗng là nằm phục kín đáo ở những nẻo đường mòn dẫn ra các đường mòn dẫn ra các đường lớn để đón bắt tù trốn.)

Lạc đã bị khảo tra, đánh đập chết đi sống lại mấy lần vì không chịu khai ra ai đã đồng mưu xếp gạch che kín lỗ cho Lạc. Nhưng anh Lạc dù bị đánh tưởng không cón thể sống được nữa, anh vẫn cương quyết trước sau như một là do tự một mình anh. Anh cứ trình bầy là chính anh đã chuẩn bị nhiều ngày mà không cho ai biết. Ngay cả cách xếp gạch để che kín lỗ cuối cùng là một chiếc que gỗ và một miếng ván hình vuông xếp được 12 viên gạch. Nguyễn Huy Lân kể sự việc của anh Lạc đến đây thì Lê Sơn ném mạnh cái bút lông đang vẽ xuống nền nhà, giọng bực tức:

– Cái thằng Lạc này dốt thế mà cũng đòi trốn! Không có một chút óc linh hoạt, bén nhậy tí nào cả.

Thái độ sửng cồ của Lê Sơn làm cho Lân, Quý và tôi nhìn nhau cười. Tôi cười nhưng tôi lại nghĩ đến một vấn đề khác. Tôi cảm thấy thoải mái, thích thú làm việc ở cái lán vernie này, không phức tạp vì không có ai làm chó má cả. Có lẽ Lân cũng hiểu vậy, cho nên chỉ lên đây, Lân mới nói chuyện cởi mở không phải giữ gìn. Khi nghe Sơn nói thế, Lân cau mày cãi lại Lê Sơn:

– Mưu sự tại nhân, chẳng qua là số trời chứ dốt gì?

Sơn quay phắt lại nói như gắt:

– Này nhé, nằm im trong đống gạch, nghe ngóng theo dõi. Khi nghe thấy bắn hai phát súng thì hiểu ngay là sẽ thu quân. Chờ chừng 1 đến 2 giờ thì phải chuồn đổi địa điểm ngay. Nhược bằng tính nằm lỳ, thì bằng mọi giá phải chuẩn bị tỏi, hay dầu cao sao vàng sát vào quần áo, vào người để bịt mũi lũ chó. Ai chả biết trại có một đội chó kinh hồn. Bất cứ ai muốn vượt ngục trại này, trước hết đều phải nghĩ cách vô hiệu hóa lũ chó đã.

Nguyễn Huy Lân nhìn tôi rồi lại nhìn Lê Sơn. Nét mặt Lân như đanh lại, đỏ lên tưởng như ngấu nghiến cãi nhau tay đôi với Lê Sơn, nhưng bây giờ hình như hơi nóng đã xì ra hết; Lân lại đổi “gam” thành ra ca ngợi Lê Sơn:

– Ừ, trốn phải như Lê Sơn mới là trốn, cứ như xi nê! Đến nỗi hơn 2 năm sau, tình cờ bắt được Lê Sơn; mọi người mới vỡ lẽ ra vì sao Lê Sơn đã biến mất như tàng hình.

Thấy tôi trố mắt, háo hức ngạc nhiên nhìn Lê Sơn, Lân lại quay nhìn Sơn lần nữa rồi nói như thúc giục:

– Hãy kể lại cho thằng Bình nó nghe một cú vượt thoát tuyệt hảo của mày đi!

Để thỏa óc tò mò đang nóng của tôi, tôi trầm trồ để thêm:

– Thế Sơn trốn bao giờ? Tình tiết ra sao, hãy cho tôi học hỏi một chuyện hay của đời.

Quý Cụt từ nãy vẫn cắm cúi chà sát mẩu bông gòn thấm vernie lên mặt chiếc cánh tủ, ngửng lên tham gia:

– Vụ Lê Sơn vượt đã lâu rồi, từ đầu 1964 kia.

Tôi chợt nhớ đến lần vượt trốn của tôi ở dưới Hỏa Lò,cũng đầu năm 1964. Lòng tôi như chìm hẳn xuống, môi mím chặt lại, lưỡi tôi lo le đẩy vào chỗ trống của 3 chiếc răng cửa hàm dưới. Một nỗi buồn kém khả năng, thiếu bản lãnh rỉ dần ra.

Mặt Lê Sơn tươi lên roi rói, bất cứ một ai cũng hả hê thích thú khi có người khen đúng khả năng của mình. Sau đây là nội dung sơ lược vụ trốn tù của Lê Sơn và do chính anh thuật lại:

“Giai đoạn này Mỹ chưa bắn phá miền Bắc, nên hầu hết tù chính trị vẫn còn ở ngoài trại chính (tức trại xây đã hoang tàn, chỉ còn bức tường đá xây chung quanh mà tôi đã trông thấy trong ngày đầu tới trại này). Tuy cổng xây, nhưng hàng ngày cửa thường không đóng, vì luôn luôn có một công an vũ trang vừa canh gác, vừa trực gõ kẻng vào những giờ quy định, cũng như trại E hiện giờ.

Do cái khả năng viết, vẽ trang trí của tôi, nên thỉnh thoảng tôi được cán bộ vào đưa ra cơ quan ban giám thị làm việc, hoặc ở lại trại để kẻ những khẩu hiệu v.v… Từ ít lâu nay tôi đã có chủ trương trốn, bởi thế lợi dụng những buổi ra vào giữa trong trại và khu ban giám thị, bên ngoài tuy luôn luôn có cán bộ đi theo. Tôi quan sát, để ý theo dõi những giờ giấc sinh hoạt hàng ngày của cán bộ cũng như toàn bộ những khung cảnh của khu vực trại giam.

Ở trại giam trung ương nào cũng vậy, thường ngày có cán bộ giáo dục, trực trại vào nhận những phạm nhân ra ngoài giáo dục, hoặc tìm hiểu tình hình trong trại. Chỉ sau một thời gian để ý tôi đã nhìn thấy một kẽ hở, từ đấy tôi nghĩ có thể thực hiện được ý đồ vượt thoát của tôi. Trong những buổi kẻ vẽ hay trang trí ở cơ quan, tôi đã xin được một chiếc mũ bộ đội cũ, nhưng tôi không hề đội bao giờ. Tôi đã tháo được một cái huy hiệu công an mà người mất ai cũng có thể nghĩ là đã rơi tuột đâu mất. Chính tôi đã làm giả một đôi lon trung sĩ. Tôi sẵn có một cái sơ mi bộ đội cũ mà tôi đã giấu được không bị đóng dấu. Tôi thường có gần một chục cái bánh sắn mua của trại, vẫn để hợp pháp trong cái rương nhỏ của tôi. Mọi việc tôi đã chuẩn bị tương đối kỹ, chỉ còn đợi thời cơ. Và rồi chờ mãi thời cơ cũng đã đến.

Một buổi chiều trời mưa lâm râm nhì nhẹt, tôi đang phải kẻ mấy cái khẩu hiệu ở hội trường trong trại. Tôi để ý theo dõi từ trưa tới giờ, một tên công an vũ trang mặt mũi còn mới toanh, chắc hẳn mới đổi về. Y vừa đến cổng trại để đổi thay ca gác với một tên cũ. Không chần chờ do dự, tôi về buồng chuẩn bị. Trong buồng chỉ có một bác Tân già nằm ốm bịnh ở sàn trên, đang đắp chăn ngủ yên ắng. Tôi chạy sang buồng bên cạnh gặp anh Lù Pả đang lục đục ngồi hút thuốc lào. Anh Pả hôm nay xin nghỉ bệnh.

Trong trại, do cách sống đứng đắn, hào phóng của tôi và nhất là uy tín làm việc của tôi đối với cán bộ, bộ đội. Bởi thế, đa số anh em trong trại đều tin tưởng ở khả năng xoay sở của tôi. Vả lại, tôi chưa làm thiệt hại đến ai bao giờ nên tôi nói là họ tin theo. Lúc ấy tôi hỏi nhỏ anh Pả, anh có muốn trốn theo tôi không? Mới đầu anh còn ngạc nhiên, nhưng sau thấy thái độ khẩn trương, thận trọng, thận trọng của tôi nên anh tin ngay và gật đầu. Tôi nói: anh phải tuyệt đối theo lời tôi chỉ dẫn, bảo làm gì thì làm cái ấy là được rồi. Anh đã hiểu tôi từ nhiều năm trước rồi nên anh gật đầu. Tôi căn dặn: bây giờ anh chuẩn bị quần áo đàng hoàng, nghĩa là mặc quần áo sạch sẽ. Anh có hòm, rương gì không? Anh lắc đầu và nói chỉ có một cái túi vải. Tôi dẫn Pả sang lấy cái rương của tôi. Những gì không cần thiết ném bỏ lại vào gầm sàn dưới. Những gì cần mang theo, dồn hết vào một cái rương này mang đi.. Pả ngạc nhiên, mắt đờ đẫn nhìn tôi rồi nhìn cái rương tưởng như không tin vào cái tai của mình, đến nỗi tôi phải nhắc lại:

– Tôi bảo sao, anh cứ làm vậy!

Mọi thứ khi chuẩn bị xong, lúc này đã khoảng 3 giờ hay 3 giờ rưỡi chiều rồi. Trời có vẻ hơi hừng sáng, chỉ còn lất phất mấy sợi mưa phùn lưa thưa. Từ ở trong nhà cầu, tôi đội mũ đeo lon đi ra trước con mắt to đầy ngạc nhiên nhưng vẫn còn nhiều lo lắng của anh Pả. Tôi bình thản và tỏ ra rất đường hoàng để trấn áp nỗi lắng lo của Lù Pả, tôi bảo anh ta:

– Bây giờ cứ xách chiếc rương đường hoàng theo tôi ra cổng trại.

Ra tới sân, tôi kéo hơi thấp chiếc mũ xuống một chút vì thoáng gặp bác Thản già quét dọn vệ sinh trại từ phía dưới bếp đi lên. Lúc bác đi ngang qua, bác còn cúi đầu lễ phép chào tôi. Phải nói là lúc bác ngửng lên nhìn theo thì tôi và Lù Pả đã ra gần đển cổng trại rồi.

Ra tới cổng, tên công an vũ trang ở trên chòi gác vừa thò cổ ra ngó xuống, tôi hơi ngửng lên, tay chỉ Lù Pả đanh giọng:

– Đồng chí cho tôi nhận tên phạm này!

Y nhìn một tí rồi gật đầu, tôi quay lại khoắng tay cho Lù Pả, ra ý bảo đi trước (ra ngoài trại, tù phải đi trước, cán bộ theo sau). Tôi nhìn mặt Lù Pả hơi tái đi, chiếc rương anh đang xách cứ rung rung. Tim tôi cũng hơi nghẹn lại, nhưng tôi vẫn bước dõng dạc sát phía sau Lù Pả. Ra tới chỗ đường rẽ, cách cổng trại chừng 60 – 70 mét mà tôi tin chắc tên công an gác cổng vẫn còn nhìn theo. Một ngả tiến về khu giám thị và khu công an vũ trang. Một ngả dẫn ra Phố Lu, Lào Cai cách đấy 8 – 9 cây số. Tôi lên tiếng khẽ bảo Lù Pả đi phía trước, giữa lúc anh Pả đang ngập ngừng chưa biết sẽ rẽ theo hướng nào:

– Rẽ về phía ban giám thị!

Từ phía sau nhìn Lù Pả, lúc này không phải chỉ thấy cái rương rung rung nữa, mà như cả người anh Pả, những bước chân đi xiêu vẹo đò đẫn như muốn khuỵu xuống. Tôi cũng hơi lo, tôi vội lên tiếng nữa để động viên:

– Anh hãy yên tâm! Tôi đã có chủ định, sắp đến chỗ an toàn rồi.

Từ cổng trại đển khu nhà của ban giám thị khoảng 250 đến 300 mét. Con đường, một bên là chiếc ao lớn, một bên là một triền đồi dốc, hẹp trồng khoai lang. Dù tôi đã động viên, nhưng khi càng tiến đến gần căn nhà chính của ban giám thị thì anh Pả như không muốn bước nữa.

Từ nãy, tôi rất lo, nếu giữa quãng đường trống này, có một tên cán bộ nào đó, bất chợt từ trong khu giám thị đi ra, thì thật là nguy hiểm. Bởi vậy tôi giục anh Pả phải bước nhanh. Khi đến trước một luống hoa, tôi tiến nhanh lên phía trước, kéo tay anh chạy lủi vào một bụi nứa có những dây sàn sạt leo kín. Từ đấy tôi kéo anh Pả luồn ra phía sau của căn nhà chính ban giám thị. Chỗ này có mấy bụi giong riềng rất rậm. Ngay sát vách phía sau nhà của giám thị, chúng tôi chui vào nằm im. Tôi đã tính rồi, chính cái điều bất ngờ nhất, nên chỗ này cũng là chỗ an toàn nhất trong lúc này.

Về tâm lý, không một ai có thể nghĩ tù trốn, lại vào chỗ khu giám thị, nơi đầy rẫy cán bộ chỉ huy của trại mà nằm. Bởi thế, kể cả người lẫn chó, chẳng bao giờ xục vào miếng đất đã có chính quyền bảo kê đó.

Quả như tôi đã dự đoán, cho tới lúc kẻng lấy cơm, chừng 15 phút sau thì có 2 phát súng nổ ngay phía cổng trại (lúc chia cơm, không có tôi đặt bát cơm canh, từ đấy tôi dự đoán họ đã phát hiện ra). Sau đó là tiếng kẻng báo động, tù phải vào buồng ngay. Như vậy tù phải mang cơm vào buồng ăn. Tiếp theo là tiếng chó sủa ầm lên.

Trời càng tối tiếng chó và những âm thanh huyên náo, nghe càng nhỏ dần về phía rừng sâu. Tôi ra hiệu và nói khẽ cho Pả nằm yên tại chỗ. Tôi khẽ bò ra phía trước để nghe ngóng, quan sát. Trong nhà ban giám thị điện vẫn sáng trưng, 6 – 7 người lố nhố đang ngồi họp, trong đó có ông Toán, chánh giám thị. Mọi chỗ khác đều yên ắng như tờ. Với những kinh nghiệm của những năm tháng trước đây còn ở bên quân báo. Qua một số âm thanh, một số địa hình tôi đã nắm, kết hợp với những nguyên tắc di chuyển đêm trong một vùng nghi ngờ có những ổ phục kích. Tôi vững tâm, rời chỗ nấp tiến bước về hướng chủ định. Trước khi rời khỏi đám giong riềng, tôi thì thào cho Pả hiểu:

– Tôi sẽ mang anh ra tới chỗ an toàn, lúc đó chúng ta sẽ chia tay. Tôi sẽ tìm đường về xuôi, còn anh sẽ về ngược, vì quê anh ở bản Pó thuộc Bắc Cạn. Với một quy ước kiên định, không hề biết gì về nhau cả.

Với những phương pháp đi đêm đặc biệt ở trong rừng, chúng tôi đã vượt qua được nhiều chặng nguy hiểm. Cuối cùng tôi đã đưa anh Pả đến được con đường hàng tỉnh mà anh đã quen biết. Chúng tôi chia tay nhau, để đi về 2 ngã đời khác biệt. Riêng về chiếc rương gỗ, khi đi khỏi khu ban giám thị chừng nửa cây số, chúng tôi đã dúi nó xuống một đám bùn có bèo lục bình, sau khi đã lấy hết những thứ cần mang theo.

Phần tôi, sau 6 ngày lần mò vất vả, tôi đã về tới Hà Nội. Quê tôi ở Vĩnh Yên, nhưng tôi không hề bén mảng. Hà Nội lúc này dân chúng đang chuẩn bị sơ tán, không khí chiến tranh đang bao trùm khắp đó đây. Tôi làm giấy giả, thay tên đổi họ, rồi tôi lấy vợ và đã có một đứa con trai. Vì tôi nằm trong lòng chế độ này, do đấy tôi lách được vào nhiều khoảng hở để sinh hoạt, tồn tại. Cũng vì cuộc sống, tôi phải đi buôn hàng chuyến trên con đường Hải Phòng, Hà Nội và Hòa Bình. Thời gian cứ như vậy trôi đi được gần 2 năm.

Vào một buổi đó, trên chuyến tàu xuôi từ Phú Thọ về Hà Nội, tôi đang ngồi ngả lưng vào thành tầu. Thân hình lắc lư với những cái nhún nhẩy của con tầu đang đi. Tôi thả hồn theo khói thuốc sau một lúc kháo chuyện với mấy người bạn đồng hành. Rõ ràng, có một mầu vàng chắn ngang vào những làn khói thuốc trước mắt. Tôi choàng tỉnh, nhìn một bóng hình to lớn, lồ lộ đứng ngay trước mặt tôi. Ông Toán, chánh giám thị trại cải tạo trung ương số I Lào Cai.

Tôi choáng hồn, đứng bật dậy, không phải để chạy (vì còn chạy đâu được) mà để chào ông ta, nhưng ông ta đã đặt một tay lên vai tôi đè tôi ngồi lại ghế. Ông nói vừa nhẹ nhàng, nhưng cũng như vừa ra lệnh:

– Cứ ngồi yên!

Tôi cứng đơ người ra như cái máy. Tôi chỉ thoáng liếc chiếc lon thiếu tá còn mới, đỏ ráu ở cổ áo ông ta (khi tôi trốn, ông mang lon đại úy). Tôi cười như mếu nhìn ông ta, bao nhiêu những khí thế linh hoạt có sẵn trong người đều như biến đi hết. Người tôi cứng ra như “Từ Hải chết ngồi” không còn biết nói năng chi, cứ im thin thít như thịt nấu đông.

Mấy anh bạn đồng hành, thấy ông công an to quá cũng đã chuồn sang toa khác từ lúc nào. Tôi còn đang bấn loạn, thấy cả một cuộc đời, cả vợ, cả con bỗng chốc tan thành khói mây thì ông Toán đã rút trong cặp ra cái còng số 8 đen xì mở ra. Tôi líu ríu như một cái máy giơ 2 tay ra cho ông ta còng. Khi xuống ga Hàng Cỏ, ông đã điện cho xe công an đưa tôi vào gửi ở Hỏa Lò. Sau 2 ngày, chính ông ta đến lĩnh tôi ra và đưa trở lại trại I này.”

Lê Sơn nói đến đây thì ngừng lại, coi như câu chuyện đã kết thúc nhưng nét mặt anh vẫn còn đăm chiêu, nhìn ra khoảng trời phía bên ngoài. Giây phút hồn anh lắng đọng đã ép, nén chúng tôi cũng nín chìm vào nỗi niềm. Một phút nặng nề riêng tư, đột nhiên anh lại nói tiếp như minh giải với những tảng mây đang lững lờ trôi ngoài khung trời ấy, hay với cõi hồn xa cũ:

– Nếu không vì cuộc sống, để tôi phải bôn ba cầu thực thì có trời mà bắt được tôi!

Câu nói của anh vẫn lọt thỏm vào cái hũ im lặng của 3 người. Còn một chút khắc khoải trong dòng liên tưởng của tôi, nên đành làm rạn vỡ cái trầm lắng do câu chuyện:

– Thế về trại rồi sau đó ra sao?

Như choàng tỉnh, mặt Lê Sơn rắn lại, mắt anh như có những tia sáng, quắc lên:

– 6 tháng trời, cùm kẹp thê lương! Nếu không vì một số cán bộ có thiện cảm riêng tư từ trước thì họ đã để cho chết rồi. Với bao nhiêu kiểm thảo, kiểm điểm, học hành cho đến rã người ra.

Sơn ngừng lại một lúc rồi lại tiếp, giọng đầy ai oán:

– Khi được thả cùm ra, tôi đã được khênh về buồng, rồi ốm thêm 2 tháng nữa mới khỏi, mới lại người. Mọi người tưởng tôi không còn sống được. Trước đây tôi bị ràng, bố, theo dõi chặt chẽ lắm, chỉ mới lỏng ra được hơn năm nay.

Để cho Sơn nói xong, tôi chỉ hỏi một câu trống không, có thể trả lời theo nhiều hướng:

– Thế bây giờ sao?

Nhưng Lê Sơn rất bén nhậy, đã trả lời đúng ý tôi muốn biết:

– Bây giờ thì tôi không muốn trốn nữa, vì tôi sắp được về rồi!

Quý Cụt, Lân và tôi đều mở to mắt thì Sơn để một ngón tay lên miệng cộc lốc:

– Bí mật!

Nói rồi, anh quay vào tiếp tục kẻ, vẽ.

Nghe xong câu chuyện vượt ngục của Lê Sơn, tôi thừa nhận anh thật nhanh lẹ, có tài. Tôi nghĩ đến đoạn Sơn dẫn Lù Pả ra khỏi cổng trại: Nếu lúc ấy lại có một cán bộ quen, bất chợt đi ra thì làm sao? Nghĩ thế, vì tôi liên tưởng đến vụ trốn của tôi ở Hỏa Lò. Thôi, định mệnh! Lại nhắc đến những chữ “nếu” đáng ghét trong cuộc đời này làm gì nữa.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 21 Oct 2023

Một chuyện tình trong chế độ ưu việt

Đặng Chí Bình 

Bài 31

Sáng hôm nay khi toán 2 xuất trại, lúc toán ra khỏi cổng trại đi gần đến cổng khu thủ công. Những anh đi đầu của toán đã bắt đầu quay rẽ vào cổng, tôi bỗng thấy anh em trong toán xôn xao hẳn lên. Nhất là cậu Toàn và Châu, cứ rên lên ư ử. A, đây rồi, ở phía con đường dẫn ra trại chính, có một đoàn tù nữ khoảng hơn một chục chị, tuổi từ 20 đến 30. Đi phía sau có một bà cán bộ quản giáo chừng 30 tuổi. Đoàn tù đang đi rẽ vào một con đường dẫn ra phía sau khu nhà của ban giám thị. Tôi hơi ngạc nhiên, hơn 3 tháng tôi đến trại này, hôm nay tôi mới nhìn thấy một đoàn tù nữ vào trại E. Hầu như chả có con mắt nào của đoàn tù toán 2 lại không hướng nhìn về phía đoàn tù nữ chằm chằm, kể cả hai tên công an vũ trang và tên quản giáo Kích đi phía sau toán.

Lê Sơn đi bên cạnh tôi, mắt cũng đang đờ đẫn nhìn về phía đoàn nữ tù ấy. Tôi không kìm hãm được sự háo hức, muốn biết tại sao lại có đoàn nữ tù này, nên đành phải bất lịch sự với Lê Sơn. Tôi đập vào tay anh hỏi khẽ nhưng cũng đầy sôi nổi:

– Họ làm gì mà vào đây thế?

Anh chẳng trả lời tôi, mắt anh vẫn hướng về phía xuân xanh ấy. Nhìn mắt anh, tôi có cảm tưởng nó lồi hẳn ra và bất động như mắt giả. Hình như anh không nghe thấy cả câu tôi vừa hỏi. Toán 2 đã đi vào cổng lán, vậy mà còn nhiều cái đầu vẫn ngoái lại phía sau như người ta vừa nhìn thấy một cái vật gì quý lắm, kỳ vĩ lắm trong cuộc đời này không bằng. Cũng như miếng ăn, khi người ta bị đói nhiều ngày, cho nên cái uy lực của nữ giới lúc này cũng thật kinh hồn! Rồi cả buổi sáng và cả buổi chiều, suốt ngày cái chủ đề phụ nữ đã trở thành chính yếu trong lúc bàn tán hay chuyện trò của toán 2. Nhân thế, hôm nay qua Lê Sơn và Quý Cụt tôi mới biết thêm được nhiều vấn đề của trại. Chỉ có tôi mới thực là ngố Tầu, mãi hôm nay tôi mới hiểu, thường ngày vẫn có một đoàn nữ tù từ trại nữ vào chỗ lán may (phía sau khu nhà giám thị) vừa học may do một anh tên Hoàng Xuân Oánh ở trong trại E chỉ dạy và phụ trách.

Thảo nào, những ngày trước đây, có lần tôi thấy một anh chừng bốn chục tuổi từ ngoài cổng trại đi vào một mình, khi trại đã sắp điểm vào buồng lúc chiều muộn. Anh Đồng thì phải, có chỉ anh đó nói là Oánh thợ may, án chung thân, rồi tôi không để ý nên cũng quên đi.

Thường thường mọi khi, đám tù nữ thợ may này vào đến trại này cũng đã 8 giờ là lúc toán 2 đã vào lán thủ công làm việc được hàng giờ đồng hồ rồi. Chiều 4 giờ toán nữ đã trở về K2 (trại nữ), trong khi toán 2 mãi 5 giờ mới nghỉ tay lao động. Do thế, chả bao giờ gặp nhau hay trông thấy nhau. Hôm nay, hẳn bên đám tù nữ có một chuyện gì đặc biệt nên mới vào sớm như vậy, để rồi đã gây ra một mối bất an trong lòng những người tù toán 2 trong một số ngày.

Cũng ngày hôm nay tôi mới hiểu được sơ sơ về anh chàng Oánh này, khi tôi tỏ vẻ trầm trồ ca ngợi cái vị trí ngon lành, độc đáo được phụ trách một đoàn tù nữ trong giai đoạn hạn hán, hanh khô này của anh ta. Tôi nói như vậy, thực ra cũng không ngoa, không cường điệu. Ông bà mình thường nói “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, đấy là trong lẽ bình thường của người đời. Trong trường hợp này thì khí thế còn cao hơn nhiều. Những người tù nam và những người tù nữ, hàng tháng, hàng năm, có khi hàng chục năm không trông thấy nhau. Họ là những người tù chứ không phải đi tu, thì phải nói là như lửa vời dầu xăng ấy chứ. Hễ cứ để gần nhau là tất nhiên phải nổ!

Vụ án của Hoàng Xuân Oánh cũng một thời sôi nổi điển hình của thành phố Hải Phòng năm 1960. Oánh là chủ nhiệm một hợp tác xã may mặc lớn ở Hải Phòng. Anh ta có một người vợ trẻ với đứa con một tuổi. Khi người vợ có mang, rồi đến ngày khai hoa nở nhụy của đứa con thứ hai, được bố mẹ vợ cho đứa em gái vợ 17 tuổi, đang học lớp 9 (hệ 10 năm) từ quê ở Kiến An lên giúp chị. Ông bà phần vì thương đứa con gái phải vượt cạn một mình, phần vì tin tưởng vào người con rể có uy thế, học thức đã được nhà nước giao cho làm chủ nhiệm một hợp tác xã may mặc lớn, nên đã để cho đứa con gái còn hơ hớ tuổi xuân lên giúp chị.

Rồi chuyện đi về, ở ăn sao đó giữa Oánh và cô em vợ thì không ai biết được, kể cả bố mẹ vợ cũng như chính vợ của Oánh, cho tới khi nội vụ đổ bể; sự việc phải ra trước vành móng ngựa, người ta mới hỡi ơi ra. Nội vụ như sau:

Người em vợ đó tên là Hồng Hạnh, bị ông anh rể cho ăn trái cấm nên đã có thai. Cô Hạnh lo sợ quá, khi cái bụng càng ngày càng to, làm sao để che dấu được làng nước và bố mẹ. Chàng Oánh thì cũng bấn xúc xích lên, còn mặt mũi nào để nhìn bố mẹ vợ và ngày cả vợ mình. Hơn nữa, có thể cái địa vị béo bở của chàng cũng sẽ tan theo mây gió. Bởi vậy, Oánh đã tính toán kỹ một kế hoạch, nhưng có lẽ tính kỹ quá thành ra tính quẩn. Anh đã chuẩn bị một âm mưu để giải quyết với người em vợ. Anh viết một lá thư đầy nghĩa tình nồng thắm, thương yêu hẹn Hồng Hạnh ở một cánh đồng vắng, nơi cũng đã từng nhiều lần hò hẹn với Hạnh trước đây. Lúc này, Hồng Hạnh đã có mang được 5 – 6 tháng. Gặp nhau giữa đất trời bao la trên cánh đồng lúa đang vào thời kỳ giáp hạt. Trước khi Oánh thực hiện ý đồ của y, y còn muốn diễn lại câu thơ trữ tình của cụ Nguyễn Công Trứ với Hồng Hạnh một lần nữa:

Giang sơn một gánh giữa đồng.

Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ chăng?

Sau khi đã ứ hự với Hồng Hạnh xong, Oánh liền rút trong bọc ra một con dao nhọn dài hơn 20 phân. Lúc này Hồng Hạnh đã chợt hiểu, mặt không còn hạt máu, cô liền quỳ xuống giữa cánh đồng, lậy Oánh như tế sao. Nước mắt đầm đìa, cô khẩn nài xin Oánh đừng giết. Rằng đời của cô đã tàn rôi cũng không thiết sống nữa, nhưng xin hãy tha cho đứa con còn trong bụng chưa được chào đời. Hồng Hạnh xin cam chịu mọi hình phạt búa rìu, tủi nhục của cuộc đời để cho đứa con được ra đời rồi Hồng Hạnh sẽ tự tử, hoặc lúc đó Oánh giết thì cô không còn oán thoán gì nữa. Nhưng Oánh lúc này như một tên hung thần cứ đâm túi bụi vào thân hình một con người mà vừa trước đó mấy phút, Oánh còn đắm say, cuồng bạo yêu đương.

Trong khi Oánh đã đâm hàng chục nhát dao rồi mà Hồng Hạnh vẫn còn cố gắng quỳ lên chắp tay để lậy Oánh xin tha cho mình và tha cho đứa con, cho tới khi gục xuống chết hẳn. Tên Oánh đã chuẩn bị sẵn một chiếc xẻng con, y tìm một chỗ khuất nẻo đào nông một hố để lấp xác Hồng Hạnh. Làm xong, y tắm rửa, thay áo quần rồi trở về với vợ con ở Hải Phòng coi như chẳng hề có chuyện gì đã xẩy ra.

Sau 2 ngày, bố mẹ Hồng Hạnh không thấy con gái đâu dù tìm hỏi khắp nơi, nên đã đến đồn công an để trình báo về sự mất tích của Hạnh. Cuối cùng, dân làng và nhà chức trách đã tìm được đến chỗ chôn xác Hồng Hạnh. Khi bác sĩ chuyên môn khám nghiệm, đã tìm thấy tất cả 37 nhát dao đã đâm khắp đầu, mình và chân tay của Hồng Hạnh. Với những cánh thư, và với những hiện tượng trước đấy, người ta dễ dàng tìm bắt được đích danh thủ phạm. Cho tới khi đưa ra tòa cử với cái án chung thân, tên Oánh đã phải diễn đi, diễn lại nhiều lần cái buổi y đã hạ sát Hồng Hạnh.

Ngồi nghe Quý Cụt và Lê Sơn thuật lại câu chuyện về tên Oánh, tôi đã nhớ lại bộ mặt và dáng người của y. Người y tầm thước, da trắng trẻo hay mặc đồng bộ mầu nâu. Y có cái trán cao, đặc biệt là đôi lông mày thật rậm, ăn nói thì nhỏ nhẻ, tỏ ra một con người hiền lành tử tế.

Qua sự việc của Oánh, kết hợp với một số vụ khác mà tôi đã biết, tôi đã thấy được cái chủ trương, cái nguyên tắc giải quyết của Cộng Sản. Những vụ án có tính cách trầm trọng làm đảo lộn luân lý, thuần phong, đạo đức làm dư luận quần chúng căm phẫn, chúng xử phạt có vẻ nặng nề để xoa dịu công luận. Nhưng khi vào trại giam, chúng lại chiếu cố, tin dùng cho làm những công việc béo bở ở trong tù như: tự giác, chăn nuôi, coi ao cá v.v… Dù cho án chung thân chăng nữa thì cũng chỉ ở mươi hoặc 12 năm là đã được tha rồi. Bởi vì theo chúng, những tội trạng đó chỉ nằm trong hệ mâu thuẫn nội bộ. Chúng rất lơ là với những chuyện trai gái, cướp bóc, cắp trộm, giết người. Ngược lại, cái điều chúng đặt lên hàng đầu, bất cứ vấn đề gì chỉ hơi dính dáng đến chính trị, thì chúng nỗ lực tìm tòi điều tra cho đến nơi, đến chốn, đến chân răng, kẻ tóc, đến cùng kiệt của sự việc mới thôi. Những điều này chúng đặt là thuộc hệ mâu thuẫn đối kháng. Đã vào tù, dù bất cứ dưới hình thức nào: án hay không chỉ khi nào tốt mới cho về. Mà tốt hay xấu trong tư tưởng thì làm sao mà biết được. Đấy là lý do Cộng Sản nó muốn giam giữ người tù đến bất cứ khi nào là tùy ý chúng.

Câu chuyện của anh chàng Oánh hôm nay lại làm tôi nhớ đển 2 câu chuyện mới xẩy ra 2 hôm trước ở trong trại mà mãi hôm nay anh em vẫn còn đùa cợt, bàn tán. Câu chuyện đau lòng là câu chuyện của tên trật tự ác ôn Phạm Huy Tân: buổi sáng y được gọi ra nhận tiếp tế vì vợ y lên thăm. Y hớn hở, vui mừng lộ hẳn ra trong cử chỉ và nét mặt. Y chắc nẩm, là trật tự, đệ nhất tay sai ở một trại; hẳn rằng ít nhất y cũng được 24 tiếng để hú hí với vợ con, chứ nếu không thì phải 48 tiếng, vì ngay những bọn tự giác, những bọn cải tạo tốt còn được 24 tiếng nữa là y. Nhưng không ngờ, ở đời chỉ có một chữ “ngờ” là chẳng ai học được. Tên cán bộ giáo dục đã giữ kín cho tới phút tên Tân ra gặp vợ mới ngã ngửa ra. Người vợ mang tiếp tế cho y 3 cái bánh mì, 6 quả chuối, 1 kg muối vừng và 2 bao thuốc lá Trường Sơn, kèm theo tờ giấy ly dị. Y thị nhờ đảng và ban giáo dục trại giải quyết thỏa đáng cho y thị, lý do: y thị, sau 6 năm suy nghĩ, quyết định dứt khoát không thể có tình cảm luyến ái vợ chồng với một tên phản cách mạng. Ai cũng biết, điều này đảng và nhà nước ủng hộ, giúp đỡ quá đi ấy chứ, dù cũng ra cái vẻ khuyên răn, giàn hòa. Bởi vậy, tên Tân không những không được 24 tiếng mà chỉ vỏn vẹn 20 phút đồng hồ, sau khi ký giấy, trước sự chứng kiến của ban giáo dục. Theo tên Thái y tá kể lại, Tân đã tâm sự với y: Tân đã cố nén lòng trên đường về trại, y thấy đời anh tan nát hết không còn gì nữa. Y trở thành một tên tù bơ vơ lạc lõng trên cái trái đất đầy bùn đen này. Để rồi y đã không thể ngăn nổi 2 giòng nước mắt đầm đìa khi bước chân vào cổng trại; mặc cho thiên hạ anh em cười chê. Riêng tôi, khi biết được chuyện không may của y, cũng thấy mủi lòng. Đành rằng y là một tên ác ôn, đã làm hại biết bao nhiêu đồng phạm, chẳng qua chỉ vì sự ngu muội của y, chứ y cũng chỉ là một nạn nhân, một tên tù không hơn, không kém. Tôi thấy ngao ngán buồn cho tình đời trong những cảnh đời dưới chế độ xã hội ưu việt của loài người. Tôi có ý định, hôm nào thuận tiện sẽ gặp, thăm hỏi, an ủi gọi là chia xẻ, cảm thông với y phần nào. Điều mà trước đây, tôi nghĩ chẳng bao giờ, nếu có đến với y chỉ là cái nắm tay và những cẳng chân mà thôi.

Còn câu chuyện thứ 2, câu chuyện buồn cười của anh chàng Phan Thanh Vân tư bản kếch xù. Theo Vân tường thuật lại: Vân có một đôi quần đùi thật đẹp của bà chị ở Pháp gửi cho. Vân cũng chả mặc bao giờ, trừ ngày mồng một Tết, Vân mặc một lần để thi đấu bóng bàn, trước những con mắt thòm thèm, suýt soa của nhiều anh em tù khác. Buổi trưa trời nắng hửng, anh chợt nghĩ đến chiếc quần đã mặc có thể bị ẩm mốc nên đem ra phơi ở chỗ những sào nứa, nơi chúng tôi thường ăn hơi mỗi buổi chiều. Phơi rồi, Vân cũng sợ bị mất cắp, bởi vậy anh ngồi ngay tại cửa buồng 2 vừa cuốn thuốc, vừa nhìn ra coi. Chỗ phơi chỉ cách Vân hơn 10 mét. Lúc anh cúi xuống cuộn điếu thuốc, khi ngẩng lên thì chiếc quần đã không cánh mà bay mất rồi. Hộc tốc anh chạy ra thì chỉ có vài người vẫn lảng vàng, trầm tĩnh đi đi, lại lại vì người ta cũng đang có nhiều nỗi ngược xuôi của đời tù nên không ngủ trưa được. Hỏi ai cũng không thấy, Vân bực vô cùng và ai biết cũng ngạc nhiên thay: ai lấy cái quần mà nhanh như biến thế!

Tối hôm đó, Vân bàn riêng với Nguyễn Huy Lân buồng trưởng và Đinh Khắc Sản toán trưởng toán 3. Ngày mai, Vân còn một chiếc quần đùi nữa, sẽ đem ra chỗ cũ phơi, Vân sẽ nấp ở trong buồng, nhìn qua một cái khe vách hở, rình bắt cho được cái tên ăn cắp khốn khiếp ngày hôm qua.

Chủ trương và tính toán như thế rồi, trưa hôm sau Vân cứ thế thực hiện để bắt con mồi. Vân ngồi im lặng rình trong một góc nhà phía sàn dưới, dù mót đi giải, anh cũng không đi.

Trong các buồng nhiều người nằm ngủ trưa để chiều đi lao động. Ngoài sân, trong hội trường, đây đó dăm ba người ngồi chuyện trò, thầm thì nho nhỏ, hoặc khâu vá ngoài sân. Chiếc quần đùi vải ngoại mầu vàng tươi, lồ lộ vẫn nằm yên trên một con sào lẫn vào những chiếc áo bông dầy cộm, rách tã, cùng những chiếc quần áo trại đã bạc mầu nắng mưa.

Vân ngồi đã mỏi người, tê chân. Anh nghĩ, có lẽ tên ăn cắp đã thấy anh ngồi rình (mặc dù chuyện rình chỉ có 2 người nữa biết), hoặc nó đã lấy được một cái đủ dùng rồi, vậy có ngồi đến tối thì chiếc quần vẫn nằm yên đấy. Từ những nghĩ suy như vậy nên anh bình thản hơn, thảnh thơi hút thuốc, đôi khi quay lại trả lời những người thấy anh ngồi đấy mãi lạ lùng nên han hỏi. Rồi một lần sau khi quay lại trả lời một người, khi quay ra thì chiếc quần đã biến mất lúc nào. Vân chạy vội ra tìm và ngơ ngác nhìn đây đó khắp sân.

Hẳn rằng tên ăn cắp, phải là 2 tên, đang đứng ở một chỗ nào đó nhìn Vân, rồi nhìn nhau thích thú. Một người to xác, nhưng lại thật thơ ngây. Cứ tưởng mình có vỏ quýt dầy nhưng đã gặp phải ngón tay nhọn hoắt. Nghe Vân kể lại sự việc tôi cũng buồn cười, mà không dám cười, bởi vì nỗi bực tức vẫn đang dàn đầy ra trên nét mặt Vân. Tôi góp y với Vân như sau:

Lần thứ nhất Vân mất quần đùi thì tôi đã hơi nghi, nhưng lần thứ 2 thì tôi khẳng định là ít nhất có 2 người cùng bàn nhau để ăn cắp chơi của người tư sản trong trại. Nghĩa là phải có một người nào vào làm cho Vân chia trí đi từ 30 giây cho đến 1 phút. Bây giờ đã mất rồi không nói làm gì nữa, cái điều cần nói là làm sao tìm lại được.

Bất kỳ ai lấy, chắc chắn: không dám dùng ở trong trại và cũng không dám để lâu ở trong trại vì ngoài những kỳ khám trại chính thức, cán bộ lại hay vào khám tư trang bất ngờ. Do đó, đường dây ra ngoài thì không thể ngoài những anh tự giác của toán, hoặc toán lâm sản. Cho nên tôi đề nghị Vân, không gì bằng hãy liên lạc, khéo léo đặt mua mấy người thân trong đám tự giác thì sẽ ra…Bởi vì chỉ có họ mới có điều kiện ra gặp nhà dân để mua bán đổi chác mà thôi.

Đang khi Vân đồng ý để tiến hành, thì 4 – 5 ngày sau, anh được gọi ra trại ngoài để gặp cán bộ. Khi về Vân cho biết: ông Toán đã báo cho biết là Vân sắp được tha, họ đang chuẩn bị cho Vân sẽ làm công nhân phục vụ ngay cho trại trung ương số I, trong bộ phận điện. Bởi vì, các phân trại, kể cả phân trại E này cũng sắp được phân phối máy phát điện nhỏ để phục vụ tối thiểu về điện cho trại.

Vân rất phấn khởi, lúc đầu chỉ nói riêng cho tôi biết rằng ông Toàn bảo nhà nước sẽ chiếu cố đặc biệt cho Vân, có thể sẽ cho Vân về Hà Nội để làm một con mắt giả. Tóm lại, Vân đang nhìn con đường ngày mai của anh càng ngày càng rộng mở. Vì thế, Vân chẳng còn, hay chẳng cần để ý gì về 2 chiếc quần đùi đã mất nữa. Phần tôi cũng thấy vui vui trong dạ. Trong cảnh khổ đau tăm tối này ai thoát ra được, dù ở cảnh nào thì cũng mừng cho họ. Phần khác, còn gì thú bằng, sự lý luận suy đoán của tôi với Vân trước đây đã diễn tiến theo chiều hướng như vậy.

Nầy em lớp 6!

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 20 oct 2023

Mary Kay Fualaau, theo họ của chồng ‘nhí’, chớ trước kia là Letourneau, họ của chồng cũ. Năm ấy, năm 1996, em đã 34 tuổi, làm cô giáo, có chồng và có tới 4 đứa con, ngụ tại Seattle. Mary Kay ngoại tình với Vili Fualaau, học trò lớp 6, mới 12 tuổi của mình.

Làm con toán trừ thì thấy tuổi hai người cách nhau tới 22 năm, cả một khung trời viễn mộng.

Em có bầu, đẻ cho anh chồng nhí nầy một đứa con gái, rồi vác chiếu ra tòa và xách gói vô tù hơn 7 năm trời ròng rã, vì đã ‘tù ti tú tí’ với trẻ vị thành niên.

Ra tù năm 2005, hai đứa vẫn còn yêu, nên cưới nhau ở Woodinville, WA.

Cứ tưởng sóng gió đã trôi qua, thuyền tình ta tà tà tới bến hoàng hôn tới răng long (phải đi nhổ và trồng răng giả), tới đầu bạc (phải đi nhuộm tóc)… nào ngờ anh chồng, giờ vẫn xuân thì, 33 tuổi, đâm đơn ra tòa quận King ở tiểu bang Washington, vào ngày 9 tháng Năm để xin ly dị với em yêu đà 55 tuổi, vì không còn là ‘em yêu’ nữa… dù chàng đã cho nàng nằm hai ‘lửa’.

Như vậy đôi đũa lệch nầy có tất cả 6 đứa con. 4 đứa con riêng của em và 2 đứa con chung… để con của em đánh con của chúng ta (!)

Ðông con, mạt cũng phải, tài sản đôi ta khi chia xa không có gì để chia cả ngoài cái đít không, nên không cần ông tòa phải bận tâm phân xử.

‘Người tình lớp Sáu’ sau 12 năm chung sống, người bỏ ta sao đành thì chàng nói: “Không có đứa thứ ba nào chen vô phá đám hết nhe! Tui không có mèo và em không có kép. Nhưng ở chung mà tối ngày cứ gây lộn hoài làm sao mà ở chớ?”

Ráng đem cái máy ‘hàn’ để gắn lại tình ta nhiều lần nhưng vô phương; thôi chỉ còn cách là anh đi đường anh, em đường em, tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Hu hu!

Trả lời đài truyền hình để kiếm chút cháo, khi được hỏi rằng: “Kinh nghiệm tình trường như vậy, ông (giờ làm đàn ông rồi không còn là con nít quỷ nữa) khuyên mấy em lớp 6 ra làm răng?

Thì rằng: “Tôi không đồng tình với việc trẻ nhỏ nên có quan hệ tình cảm hay làm đám cưới với người quá lớn tuổi với các em.”

Ðừng làm phi công trẻ mà lại khoái lái máy bay đầm già! Ðừng khờ khạo mà chơi đồ cổ!

(Xin mở ngoặc ở đây, máy bay đầm già là những chiếc máy bay nhỏ có cánh quạt như Morane hay Cessna L-19, bay rất chậm và cánh quạt kêu phành phạch rất to, ồn ào như một bà đầm già, không chở được nhiều người và chỉ được dùng để do thám địch quân trong những ngày đầu tiên của chiến tranh Việt Nam.)

Nói bên Mỹ mà mình quên trường hợp na ná đã xảy ra ở Việt Nam mình xưa thiệt là xưa thì đâu có được nè!

Dẫu đây chỉ là yêu thầm lặng, không có sờ sẫm, mò mẫm, hun hít gì ráo vậy mà phải đi ở tù mới báo.

Ði ở tù không phải vì hành vi tính dục, nhỏ mà đòi trèo lên, trèo lên cây bưởi hái hoa… mà đi ở tù là vì bài thơ.  Làm thơ tình mà bị bắt bỏ bót là chuyện chỉ có xảy ra trong chế độ CS mà thôi.

Chắc bà con mình đều biết thi sĩ Hoàng Cầm rất nổi tiếng về nhiều bài thơ tình. Vì ông yêu cũng kha khá, nghe nói tới 13 em lận.

Một trong những bài thơ tình nổi tiếng là ‘Lá Diêu Bông’.

“Váy Ðình Bảng buông chùng cửa võng / Chị thẩn thơ đi tìm

Ðồng chiều/ Cuống rạ/ Chị bảo/ Ðứa nào tìm được lá diêu bông/ Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày em tìm thấy lá/ Chị chau mày/ Ðâu phải lá diêu bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá/ Chị lắc đầu/ trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới chị/ Em tìm thấy lá/ Chị cười se chỉ ấm trôn kim

Chị ba con/ Em tìm thấy lá / Xoè tay phủ mặt chị không nhìn

Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông hời…/…ới diêu bông…!”

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 12 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất, tức ngày 22, tháng Hai, năm 1922, tại Bắc Giang.

“Lá Diêu Bông” là chiếc lá huyễn hoặc, là cuộc tình người thơ theo đuổi mãi…

Vậy mà có đứa ganh tài, tố Hoàng Cầm đầy ẩn ý xỏ xiên, ám chỉ Ðảng là ‘Chị’, nghệ sĩ là ‘Em’! Người nghệ sĩ đem hết tâm sức ra giúp Ðảng trong công cuộc kháng chiến nhưng rồi sau, đều cảm thấy như lý tưởng bị đánh mất.

Bài thơ “Lá Diêu Bông” bị coi là có ‘vấn đề’. Hoàng Cầm phải làm tờ kiểm điểm, rồi ở tù 18 tháng, bị đuổi khỏi Hội Nhà văn, cấm in và lưu hành tác phẩm.

Cơ khổ viết thơ tình mà cứ bị bọn cà chớn chụp cho cái mũ phản động như thế nầy mà cũng có đứa tin sao?

Nhà thơ suốt một đời đi tìm lá, nhưng chẳng có chiếc lá nào là lá Diêu Bông.

Nghĩa là tìm hoài nhưng hổng gặp được tình yêu, vì không có ai yêu hết ráo.

(Tui cũng vậy! Ðã từng tìm lá Diêu Bông gần suốt cả đời người mà chưa thấy nè. Giờ thì tui nghỉ đi tìm rồi… Mỏi cẳng! Mệt quá! Hi hi!)

Nhạc sĩ Phạm Duy và Trần Tiến chắc cùng chung tâm sự, phổ bài thơ Lá Diêu Bông nhưng Hoàng Cầm cho rằng cả hai bài nhạc nầy hổng được hay.

(Tui đồng ý! Một bài thơ mà phổ nhạc… thường điệu nhạc làm hạn chế nhạc thơ trong bài… Rồi nhấn nhá, ngân nga không đúng, chỗ đáng lý cao thì thành thấp, chỗ đáng lý thấp thì thành cao… làm bài thơ mất hẳn đi niềm cảm xúc.

Nhạc thì có công chuyên chở bài thơ tới độc giả, thính giả nhiều hơn… nên bài thơ dễ được nhiều người biết đến hơn. Nhưng từ thơ qua nhạc, bài nhạc phổ thơ cho hay… may lắm đạt chừng vài chục phần trăm ý của nhà thơ… là mừng rồi ạ!)

Sau khi bị đám bồi bút đánh lên bờ xuống ruộng, về già đám tay sai đó đi bán muối hết ráo rồi thì hổng còn ngán đứa nào nữa, nhà thơ Hoàng Cầm nhẩn nha kể lại rằng:

“Chẳng qua: Từ làng quê chuyển lên sống ở một phố nhỏ dọc đường quốc lộ, cách thị xã Bắc Giang chừng 6 cây số, cha tôi có tủ thuốc Bắc và gánh hàng xén của mẹ.

Năm đó tôi lên 10, đã học đến lớp ba (cour élémentaire). Một buổi chiều có một người con gái mặc chiếc áo phin trắng, ngoài có chiếc gilê màu thẫm. Khi đó nắng xiên khoai dọi vào nhà, lúc chị ngửng đầu lên thì cả khuôn mặt chị được ráng vàng chiếu sáng, tôi thấy bừng lên một khuôn mặt khiến tôi choáng váng cả người. Tên chị là Vinh.”

Và nhà thơ thầm yêu trộm nhớ. Nhưng than ôi! Sau đó “Nó đi lấy chồng rồi con ạ.”vì có một ông Quản lính khố xanh qua đây, mê vì nhan sắc, đưa chị Vinh về Phủ Lý làm vợ lẽ…

Năm 17 tuổi, nhà thơ vừa thi đỗ tú tài, đang sống ở Hà Nội, về Phủ Lý ăn đám cưới của người bạn, tình cờ gặp lại người xưa.

“Cậu Việt ơi!” Tôi nhìn sang bên kia đường, thì thấy chị Vinh đang ngồi bên một cái tủ bày bánh kẹo, cạnh một cái chõng bán nước chè.

Chị kéo tôi ngồi xuống chõng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi. Chị lấy ông Quản đã có một mặt con. Nhưng dần dần ông Quản ruồng bỏ chị, đi theo người khác.

Tôi ái ngại nhìn chị. Lúc này trong tôi không còn cái tình yêu say mê của thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy thương cho một con người tiều tụy, nhan sắc đã tàn phai!”

(Hồi xưa ngắm một người đẹp, mình thầm yêu, đâu cần xét căn cước làm chi? Tình yêu thánh thiện chớ đâu có tình dục linh tinh gì đâu? (Nhỏ quá làm sao biết?)

Hai mươi lăm năm sau, Hoàng Cầm lại nhớ về chị Vinh, tình thơ dại đầy trong trắng ngây thơ của mình bèn ghi lại trong “Lá Diêu Bông”.

Nhưng thôi! Mới 12, 13 tuổi thì đừng có yêu đương nhăng nhít mà chi cho dù có bị cô giáo (ấu dâm) rắp tâm dụ dỗ chăng đi nữa.

Ráng học cho tới nơi tới chốn đừng để cha mẹ phải buồn lòng nhe! Phần yêu càng sớm… càng thấy gớm… mà thôi.

Vì thơ cũng có câu rằng: “Ðường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn!” Biết buồn nhiều hơn vui thì chầm chậm hãy cắm đầu vô, chưa có muộn mà!

Ðừng có bắt chước tui, học không lo học mà chỉ lo yêu đương nhăng nhít mà ân hận tới ngàn thu!

Hu hu!

Năm Thân! Chuyện Khỉ!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 20 Oct 2023

Thưa! Nhớ xưa! Đường Trương Định là một con đường nhỏ, bên hông Ty Bưu Điện Mỹ Tho; kéo dài từ đường Gia Long, ở bờ sông, tới đường Thủ Khoa Huân, có một dãy hàng me.

Một bữa tui với thằng bạn cùng lớp, cúp cua, trốn học đi dưới hàng me thơ mộng nầy để tìm bắt ý thơ! Chợt nhìn lên cành me, hổng biết ở đâu có con khỉ nhỏ chuyền từ cành nầy qua cành khác… để chơi thôi chớ hổng chọc ghẹo gì ai!

Vậy mà thằng bạn học của tui không để cho nó được yên thân, vui với gió nội mây ngàn, lại lấy cây sào dài quơ quơ, đập cho con khỉ rớt xuống tính bắt đem về làm thú cưng để bắt chí cho con em của nó. (Người mà tui thầm thương trộm nhớ đến nỗi ăn cơm vô cũng mắc nghẹn; uống nước vô cũng mắc nghẹn luôn; nhưng hổng dám hở môi ra).

Thằng bạn cầm sào quơ quơ, hú họa thôi chớ làm sao mà trúng! Vậy mà con khỉ nó sợ, nó nhảy tót xuống đất rồi thót lên Đài Vi ba (dùng nhận tín hiệu điện thoại) sau Ty Bưu Điện, cao hơn 120 thước, để tẩu thoát.

Nó leo bằng thang lồng, suốt 21 tầng, lên tới đỉnh cao chót vót. Thằng bạn nầy lót tót leo theo. Cùng đường rồi; mầy chạy đi đâu cho thoát? Ai dè chú khỉ tòn ten, phía bên kia tuột xuống, dông luôn… mà không cần cầu thang gì ráo trọi…Nhìn thằng ngu… bắt khỉ; tui ôm bụng cười thôi quặn ruột luôn.

Thưa rồi sau đó, Tết Mậu Thân 68, nhà bị cháy sạch, thằng bạn của tui thôi học, dắt em nó, tức đôi mắt người xưa của tui, bỏ nhà theo gánh hát cải lương để kiếm miếng cơm.

Một hôm gánh hát về làng cũ, nó ghé nhà kêu tui đến coi hát. Hỏi nó là kép chánh hả? Thằng nhỏ hãnh diện khoái chí, hểnh mũi gật đầu.

Tuồng đêm đó hát cái tích Tề Thiên Đại Thánh quánh với yêu tinh và nó đóng vai Tôn Hành Giả!

Nó cầm cây thiết bảng, đấu phép tưng bừng, cân đẩu vân, bay qua bay lại từ sân khấu bay ra hàng ghế khán giả, nhờ cái dây cột sau lưng. Bà con khoái quá kẹp tiền vào quạt giấy giơ ra chờ Tề Thiên bay ngang qua vớt.

Nhưng thằng nhỏ trong hậu đài thả dây hơi dài nên lúc nó bay qua một em thôn nữ rất đẹp đang giơ quạt cho tiền… Nó quơ hai tay chụp đại, trúng giữa không trúng, lại trúng phía trên làm em thiếu điều sứt cái đầu tóc mượn. Kép Tề Thiên rớt té cái đụi làm khán giả cười rần…

Tỉnh bơ, Tề Thiên lồm cồm ngồi dậy, tháo dây, chui vô hậu trường, than đau quá. Chắc tại bữa nay tao quên cúng Tổ nên bị Tổ trác hay chăng?

Vãn hát, nó dắt tui ra nhà lồng chợ, dưới ánh đèn măng xông, ăn cháo đậu với tép rang và hột vịt muối.

Thấy thằng bạn theo gánh hát đã lâu mà chỉ đóng được vai Tề Thiên làm tui cũng bùi ngùi cho thân phận nó chớ. Ai dè nó chê là trình độ thưởng thức nghệ thuật của tui còn thấp quá.

“Trời không sanh cho mình có cái đờn trong cổ họng, giọng tốt như Út Trà Ôn hay Thành Được lúc xuống vọng cổ là thiên hạ rụng rún hết trơn; thì đành dựa vào diễn xuất mà bù vào cái thiếu thốn phần thanh sắc vậy!”

Đi hát ai cũng làm kép chánh hết thì ai đóng vai Khỉ đây? Còn em nó, người xưa của tui, thì thanh sắc vẹn toàn sau một khoảng thời gian xuất sắc trong vai tì nữ, em được Bầu Tèo đưa lên làm đào chánh trong tuồng Bạch Viên Tôn Các mà em đóng vai Bạch Viên tức là con vượn trắng.

Anh em thằng bạn tui toàn đóng vai khỉ và vượn không hè!

Nhưng thằng bạn kép hát của tui không buồn tự ái gì hết ráo! Nó nói: “Muốn đóng vai Tề Thiên cho hay là phải bỏ công lặn lội vô Sở Thú xem khỉ mà bắt chước diễn sao cho nó thiệt giống mới được. Rồi phải đọc Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, nghiền ngẫm để hiểu đằng sau cái hô phong hoán vũ, hóa phép, hô nhỏ, biến bự tùm lum đó là Ngô Thừa Ân muốn nói cái gì?”

Sau khi quất cái trót, cạn cái ly hột mít đầy rượu đế, nó giảng thêm cho tui nghe rằng: “Như Thầy Tam Tạng vừa yếu… nhát gan… IQ, chỉ số thông minh, cũng chả là bao… hay bị yêu quái nó lừa… thì lại làm Sếp (?!)”

“Tôn Ngộ Không, đệ tử của Tam Tạng theo Thầy đi thỉnh kinh tại Tây Thiên (Ấn Độ), thì được bà con mình gọi là Đại Thánh, không dám kêu bằng khỉ nầy khỉ nọ mà phải gọi là ông! Ông Tề. Nhớ thuốc rê hiệu ông Tề không hả?”

“Ngộ Không giỏi nhất, biết đúng sai, nhiều lần toan lật đổ cái hệ thống thối nát, bất công nầy nhưng không bao giờ được tự do làm theo ý mình; lúc nào cũng bị vòng kim cô của Sếp trói buộc… nên thua! Cãi lại là bị nhức đầu; phải uống thuốc aspirin mới bớt!”

“Rồi Sa Tăng chịu thương, chịu khó trên đường đi thỉnh kinh, đi sau chót, vác nặng đời trai, vai hành lý mà không hề kêu ca gì hết ráo. Nhân vật nầy giống bà con nông dân ruộng vườn rẫy bái chất phác đó thôi. Cày bừa thấy bà tiên tổ chỉ ‘đổ’ cho cho đầy túi tham mấy thằng khác như Trư Bát Giới nó ăn!”

“Con heo mập nầy là một tên vô lại, tham ăn, hám gái và ngu dốt… Gặp yêu quái là chuồn, là đùn đẩy chuyện sống chết cho Tề Thiên; nhưng láu cá vặt, biết nịnh Sếp, nên công việc nhẹ nhàng (chỉ việc dắt ngựa mà thôi!)”  “Đời mà! Xưa giờ chỉ toàn là bọn yêu quái! Tác oai tác quái hãm hại dân lành! Khi Tề Thiên đem thiết bảng ra tính đập cho bọn bây tan xương nát thịt thì lại có vị Tiên nào đó xuất hiện chở che… Vì bọn yêu quái nầy, toàn là bọn con ông cháu cha ở trên Trời không hà!”nam than chuyen khi 04Thưa sau nầy xa Tề Thiên bạn cũ và người xưa Bạch Viên dễ chừng đã hơn 40 năm! Giờ quê người, nằm ngẫm lại, nhớ lời bạn xưa mới thấy đất nước mình bây giờ toàn là bọn yêu quái! Mà yêu quái lại có phép thần thông biến ra làm Tề Thiên, đóng vai cứu khổn phò nguy để gạt gẫm thiên hạ nữa chớ!

Thưa! Năm nay là năm Thân tức năm của con Khỉ. Loài Khỉ khá giống loài người! Nên mấy tay ‘tửng tửng’ tưởng mình khôn trật búa, phán rằng: “Tổ tiên của loài người là khỉ!” Thiệt là tầm bậy, tầm bạ! Khỉ là khỉ; người là người. Đâu có cái vụ khỉ thành người bao giờ đâu… Nếu có chỉ trong chuyện vui người thành Khỉ Đột như sau:

“Hai vợ chồng nọ có đứa con đã năm tuổi mà cứ khóc nhề nhệ cả ngày. Hôm ấy lúc thằng nhỏ đang khóc thì có người bạn đến chơi, người cha liền hù dọa: “Nín đi, nếu không ông “Khỉ Đột” bắt con đó!”

Người bạn biết ý liền kêu khèn khẹt như con Khỉ Đột, trợn mắt, nhe răng làm thằng nhỏ chết khiếp, úp mặt vào lòng mẹ rồi nín khóc luôn.

Mấy hôm sau, người chồng đi làm về sớm hơn lệ thường, vừa mở cửa bước vào thì thấy thằng con hớn hở chạy ra reo lên: “Hay quá bố ơi! Ông “Khỉ Đột” vừa mới bị mẹ nhốt vào trong tủ áo rồi!

Thưa ca dao Lục tỉnh Nam Kỳ quê mình, nơi gần biển như Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau có câu: “Tháng Ba cơm gói ra Hòn/ Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai!”

Mai ở đây là khỉ! Hang Mai tức là “Hang Khỉ”. (Chớ không phải: ‘Đồn anh đóng ven rừng mai! Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa?’)

Mà tại sao lại Tháng Ba? Thưa! Tháng Ba mùa biển êm, bà con mình xưa ai vượt biên, vượt biển cũng đều rõ cả. Vì Tháng Ba bà già đi biển. Bà già đi biển còn không sợ say sóng thì đàn ông con trai mình, vốn vai u thịt bắp, cũng lặn lội ra Hòn để kiếm mớ trứng nhạn về kêu con vợ chiên ốp la ốp lết gì đó ăn với muối tiêu chơi để cho thiên hạ biết mình cũng là… Tây!

Mà nhắc tới Mai là Khỉ thì không thể nào không nhắc tới nữ danh ca kích động nhạc Mai Lệ Huyền. Mấy ông nhạc sĩ chọn cho nàng cái nghệ danh Mai Lệ Huyền vì tánh nàng cũng hơi là khỉ khọn. Phải khỉ khọn lên sân khấu nhảy cà tưng cà tưng mới được chớ!

Huyền là đen; vì da nàng không được trắng lắm! Ôi! Đen mặn mòi, dễ coi, hấp dẫn, sexy hơn da trắng mà đầy những đốm tàn nhang!

Hổng thấy mấy em Đầm, nó ước da được đen giòn; nên ở trần đi tắm nắng ngoài bãi biển đó sao?

Còn Lệ là nước mắt; nghĩa là nàng nhõng nhẽo, mít ướt hay khóc nhè với anh yêu…

Ôi! Vậy mà đã 40 năm rồi tui vẫn nhớ… Mai Lệ Huyền dù bây giờ người ca sĩ đa tài đó và chàng thanh niên ngày xưa ấy, là ông lão bây giờ, tức là tui… chưa hề gặp lại! Bởi kẻ chân mây (Mỹ) và người góc biển (Úc)… Để đôi ngã đôi ta!

Nhắc tới con Khỉ mà bỏ quên con Vượn đâu có được nè! Mà Vượn thì lại nhớ tới dân ca miền Trung nước ta với Lý Chiều Chiều; mà ngạc nhiên thay hát nghe rất đã cái lỗ tai lại là Thanh Lan, chuyên hát tiếng Tây, vì người đẹp vốn là học sinh trường Marie Curie mà!

“À ơi… à ơi…/ Chiều chiều dắt mạ qua đèo/ Chim kêu chừ bên nớ/ À ơi, chim kêu bên nớ vượn trèo bên ni.

Chiều chiều dắt mẹ, dắt mẹ tà là đèo qua đèo/ Tà là đèo qua đèo

Chim kêu, chim kêu tình như bên nớ/ Ủy – oả – chi rứa – chi rứa/

Ơi hỡi vượn trèo, Vượn trèo tà là kia bên kia, tà là kia bên kia!”

Rồi bộ ‘đã’ lắm sao mà cứ qua ‘đèo’ miết hà: “Chiều chiều… qua đèo – chiều chiều… qua đèo!”

Năm mới là mùa hy vọng: “Sẽ gặp lại người xưa ở tại Sài Gòn nhe!”

Thưa! Lục Tỉnh Nam Kỳ của mình thôi kinh rạch nó chằng chịt đi. Bờ nầy qua bờ kia thì phải chênh vênh qua cái cầu khỉ! Đi mà cứ sợ té xuống sông ướt cái quần ny lông, trong những bữa mưa dầm, bùn sình trơn trợt, em bị thằng Đực dụ khị: “Để tui nắm tay, dắt cô qua kẻo té!”. Về nhà nghe Má nói:  “Con gái mà cho con trai nắm tay… là sẽ có bầu!”. Có bầu rồi mà Má gả con đi đâu xa vậy hổng biết nữa? Nên “Má ơi! Đừng gả con xa/ Chim kêu vượn hú biết nhà Má đâu!”

Mà thiệt lên núi, lên rừng theo thằng chồng xa lạ, buồn tận mạng luôn ai mà muốn đi! Nhứt là đã lỡ cho thằng Đực nó nắm tay một lần rồi! Chu choa! Trời rắc rắc mưa mà sao tay thằng chả nóng hổi vậy cà?!

Thưa bà con mình cũng thường nói: Ở đâu quen đó! Ở đồng bằng là khoái ruộng vườn. Ở rừng, ở núi là khoái chim kêu vượn hú!

Chỗ nào có hồn cố thổ thì mình gọi là quê hương. Ngay con vượn mà bắt nó bỏ rừng lên phố; rồi bị nhốt vào Sở Thú thì: “Vượn lìa cây có ngày vượn rũ” mà!

Thưa thân tui giờ cũng như “Vượn lìa cây có ngày vượn rũ” thôi… kể từ khi mất miền Nam, phải bỏ nước ra đi!

Nhưng Tết nhứt! Buồn mà chi em? Chỉ cần ‘lỳ một lam’ là làm một ly Jack Daniel’s là tui sẽ thấy đời nó vui trở lại!

Thưa để kết bài “Năm Thân! Chuyện Khỉ!”nầy tui xin: “Chúc Mừng Năm Mới!” hỡi bà con độc giả yêu mến hết biết của tui nhe!

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 20 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 28

Tôi đỡ mẹ tôi trở vào nhà. Một sự im lặng ngột ngạt đè lên chúng tôi khi hai người đi bên cạnh nhau qua khu vườn. Ở trước cửa nhà, bà bác tôi đang đứng cạnh ông chồng, tay bà cầm một sô nước. Đôi môi của bà cứ chúm lại để rít mãi một điếu thuốc đã ướt mèm, tạo thành tiếng chùn chụt khó ưa. Không báo trước, bà sấn ngay lại và chút cả sô nước lên đầu mẹ tôi. Dòng nước bẩn chan hoà khắp mẹ, mẹ tôi rú lên vì kinh hoảng.
Bác tôi la lên:
– Bộ hết chuyện rồi hay sao mà gây sự trước cửa nhà tao. Mày không biết nhục hả? Bây giờ cả cái xóm này đều biết mày lang chạ với ông trưởng phường.
Mẹ tôi quay về phía bác tôi lúc này đã lùi lại vài bước để trốn đằng sau lũ con của bà và quát lên một cách khinh bỉ:
– Chết hết đi!
Rồi bà xốc lại quần áo và bước qua bà bác tôi để đi vào nhà, kệ thây những cái nhìn chòng chọc của đám họ hàng.
Bà bác tôi hầm hừ:
– Cái thứ ngựa quen đường cũ. Cầu cho có đứa nó đem cho voi dầy.
Ngay khi mẹ tôi và Dì Đặng rút vào phòng, căn nhà trở lại yên tĩnh. Tôi đi sửa soạn bữa cơm chiều, nhìn con nhện đang bò vội vã trên bức tường bếp. Một con ruồi vướng phải lưới nhện cố dẫy dụa điên cuồng để tìm lối thoát thân. Con nhện khua cái chân nhỏ xíu của nó lên như thách thức. Nọc độc của nó làm con ruồi tê liệt hẳn đi. Đầu óc tôi trở nên trống rỗng như bụng ông Phật Di Lặc. Tôi lục trong chạn đồ ăn tìm xem có gì để ăn thêm cùng với món sắn. Nhưng chỉ có mỗi cái dĩa đựng muối tiêu vắt chanh. Tôi đem cả lên sàn rồi mời ông tôi, Jimmy và bé Ti vào ăn cơm.
Xong xuôi, tôi tới gõ cửa phòng mẹ tôi. Dì Đặng ra mở cửa. Nhử mắt còn dính trên đôi mắt của bà như những mảng gầu nhỏ tí hon. Tôi bước vào, sự chật chội trong căn phòng của mẹ tôi làm cho tôi cảm thấy như đang nằm trong cái quan tài đậy kín. Tôi quan sát khuôn mặt của mẹ tôi xem có còn dấu vết gì của sự buồn đau, nhưng chẳng thấy gì. Mẹ tôi ngồi ở mép giường, đang chải đầu dưới ánh đèn dầu. Tôi nói cộc lốc:
– Cơm xong rồi.
Bà hỏi:
– Kiên, có chuyện gì thế?
– Không có chuyện gì hết.
– Vậy sao mặt mày chàu bạu vậy? Đừng có gây rắc rối cho tao nữa, nghe chưa?
Tôi bước ra và nói:
– Vậy thì lát nữa mẹ ra ngoài ăn cơm.
– Nghe này. Sáng mai mẹ sẽ dẫn con ra chợ. Mẹ muốn mua vài cuốn vở và quần áo cho con.
– Bây giờ đang giữa học kỳ. Con không cần tới vở nữa. Sao mẹ không dẫn Jimmy đi.
Bà lắc đầu:
– Không.
– Tại sao?
Mẹ tôi gõ cái lược lên bàn một cách sốt tiết:
– Mẹ không muốn dẫn nó. Điều quan trọng là con phải học hành tử tế ở nhà trường. Jimmy chẳng bao giờ chiụ học như con cả. Nhưng con không muốn đi thì thôi.
– Con không muốn đi.
– Được, tuỳ ý. Nhưng con phải học. Đừng bao giờ trách mẹ là không cố gắng tối đa để lo cho tương lai của con.
Nỗi đau buồn mà tôi ấp ủ trong mấy ngày qua đột nhiên nổ bùng lên thành cơn giận dữ. Tôi hét lên:
– Tương lai của con? Thế còn Jimmy? mẹ có dự tính gì cho tương lai của nó không? có khấm khá hơn tương lai của con không?
Mẹ tôi quay về phía Dì Đặng, nhướng mày lên, kinh ngạc:
– Nó làm sao thế?
Rồi mắt bà hướng về phía tôi:
– Phép tắc để đâu rồi? sao không mời Dì Đặng xơi cơm?