Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 24 Oct 2023

Một chiến hữu đồng nghiệp…”hang một lỗ”

Đặng Chí Bình

Bài 42

Trưa hôm nay, sau một buổi sáng lao động mệt mỏi, hầu hết anh em tù, ai cũng tranh thủ nằm chợp mắt mươi mười lăm phút cho lại sức, để tiếp tục đi lao động buổi chiều.

Nằm trằn trọc mãi với bao nhiêu nỗi niềm ngang, dọc của cuộc đời, tôi bò dậy xếp gọn chỗ nằm. Như mọi khi, lững thững ra phía cuối hội trường, tôi ngồi trầm ngâm cho hồn lãng đãng, tai buông lơi nghe gió chiều xào xạc trong bụi nứa. Tiếng âm a của bài tập đọc về anh hùng La Văn Cầu của lớp bổ túc văn hóa buổi trưa ở trong hội trường làm tôi chú ý, quay lại.

Hơn mười người, hầu hết là dân tộc thiểu số, trong đó chỉ có 2 – 3 người kinh; đặc biệt nhất là anh Lê Văn Bưởi. Câu chuyện anh Bưởi lẽo đẽo theo học lớp bổ túc văn hóa lớp hai của trại, hơn hai tháng nay đã làm cho một số anh em trong trại bàn tán. Bởi vì học lớp hai bổ túc văn hóa là tập đọc tiếng Việt và tập làm tính trừ, tính cộng. Người ta bàn tán chỉ vì có nhiều mâu thuẫn, đển trở thành như lập dị. Theo như bản lý lịch mà tù nhân nào cũng phải tự viết, khai trong bản kiểm điểm của hàng quý và hàng năm thì lý lịch của anh Lê Văn Bưởi như sau: sinh ngày 10 – 2 – 1931 tại thị xã tỉnh Quãng Yên. Cấp bực đại úy của Việt Nam Cộng Hòa. Can tội vượt tuyến ra Bắc để hoạt động gián điệp. Án phạt 20 năm. Vậy mà mỗi buổi trưa, lại cắp vở theo những người dân tộc đi học lớp 2 bổ túc văn hóa.

Như tôi đã nói đến ở trên, ngay từ khi anh Lê Văn Bưởi được chuyển từ trại Vịnh Tiến về trại này. Khi được biết anh cũng cũng một cái “nghiệp hang một lỗ” như tôi, tôi đã lựa thế làm loãng phần nào sự chú ý của những tên Joóc, rồi sau đó đã liên tục tiếp xúc với anh. Đến bây giờ hơn 7 – 8 tháng rồi, anh và tôi đã trở thành đôi bạn. Nhất là từ gần một tháng nay, tôi làm tổ trưởng tổ học nghề mộc, tổ gồm 6 người, trong đó lại có anh.

Cái việc anh đi học bổ túc văn hóa, do chủ trương và quyền tự do của anh, tôi không có ý kiến. Nhưng theo quan điểm của tôi, làm việc gì cũng cần phải biết mình và biết người. Anh đi học như vậy nó trở thành một trò cười, mà người khác, nhất là đối phương đã nhìn thấy cái hời hợt, ngây thơ của anh; hoặc gây sự chú ý cho họ. Dù tôi nghĩ như vậy nhưng tôi cũng cứ để cho thời gian làm sáng tỏ. Tôi chưa kết luận, vì biết đâu đây chẳng là một ý đồ để kẻ thù đánh giá anh non nớt, hời hợt, một chiến thuật cao tay hơn. Chính Hoàng Thanh đã có lần y đặt vấn đề hỏi tôi:

– Này, theo cái nhìn của anh thế nào? Chả lẽ anh Bưởi lại là một đại úy tình báo của miền Nam?

Y vừa cười vừa hỏi tôi với một ánh mắt dò xét thái độ trả lời của tôi. Tôi cũng nói thực ý nghĩ của tôi là tôi cũng không hiểu thế nào, tuy trong lòng tôi có phần ngạc nhiên. Ngay tình tiết sự việc của anh ra ngoài miền Bắc cũng đầy rẫy những khoảng mù mịt như những lời anh đã tâm sự với tôi. Đã bao nhiêu lần anh với tôi trao đổi tâm tình qua những sự việc của anh ra ngoài Bắc và cả của đời anh nữa. Sơ lược như thế này:

Quê anh ở Quãng Yên, cái vùng có thật nhiều biển và cũng thật nhiều núi. Ngày từ lúc anh 19 tuổi, sau khi đã tốt nghiệp bằng Thành Chung, anh đã tình nguyện gia nhập quân đội Pháp kể từ ngày 01 – 01 – 1950, tại phòng hai tiểu khu Quảng Yên.

Năm 1953 anh tốt nghiệp chuẩn úy tại trung tâm huấn luyện Quảng Yên. Rồi giữa năm 1954, anh được chính thức đeo lon thiếu úy. Cùng năm đó, anh được thiếu tướng Congie tặng thưởng một huy chương Lá Liễu và hứa sẽ đưa anh về Pháp trau dồi thêm nghiệp vụ. Nhưng rồi tình hình dồn dập biến chuyển nên lời hứa đó đã không thực hiện được. Trong suốt thời gian anh phục vụ ở F2 (tôi không hỏi F2 là gì) anh đã được cấp trên tặng thưởng thêm 2 huy chương Lá Liễu nữa và 4 ngôi sao các loại cùng nhiều bằng khen.

Sau hiệp định Genève 1954 về Đông Dương. đơn vị và cơ sở của anh rút vào bên trong vĩ tuyến 17. Đất nước lúc này đang chuyển vần, nghiêng ngả từng ngày. Sau một số ngày đêm đấu tranh suy nghĩ, cuối cùng anh quyết định gia nhập quân đội Quốc Gia tại thị xã Quãng Trị. Do những quá trình chuyên môn nghiệp vụ của anh, anh được vào Sài Gòn dự một lớp tu nghiệp đặc biệt. Sau đấy trở lại làm việc tại phòng tình báo của ông Ngô Đình Cẩn trong thành phố Huế đặc trách khu vực giới tuyến 17.

Giai đoạn này anh thường xuyên chuyên trách nghiên cứu những tài liệu và tin tức tình báo giữa miền Nam và miền Bắc. Dần dà do những yêu cầu của tình hình thực tế anh đã tình nguyện ra Bắc để nghiên cứu tại chỗ, cũng như tạo lập những màng lưới hoạt động bí mật ngay trong lòng địch. Phòng tình báo miền Trung và anh đã miệt mài nghiên cứu một kế hoạch tỉ mĩ, một công tác dài hạn trong đất kẻ thù. Theo anh nói: anh có một người mẹ với một đứa con gái hiện còn đang ở vùng quê hương Quảng Yên của anh. Do tình hình và điều kiện ngặt nghèo của 1954, anh đã không thể đón mẹ và con gái anh cùng vào Nam. Con gái anh đã sống với bà nội ở một làng quê mà Việt Minh đã kiểm soát.

Chính vì vậy, trong kế hoạch anh ra miền Bắc. Anh đóng vai là một trung sĩ cảnh sát, nhớ mẹ già, thương con gái, đồng thời chán chường chế độ độc tài, gia đình trị họ Ngô, anh muốn về với người mẹ và đứa con gái ở miền Bắc.

Mỗi tuần 2 ngày, anh phải ra đứng gác ở cầu Hiền Lương trên bờ sông Bến Hải theo những tiến trình của công tác đã vạch ra cho từng khâu. Những người cảnh sát phía bờ Nam và những tên công an phía bờ Bắc cùng gác trên cầu Hiền Lương; do nhiều lần thấy nhau nên quen mặt. Bởi vậy đôi khi cũng chuyện trò dăm ba câu về trời mưa, trời nắng.

Những tên công an bờ Bắc thỉnh thoảng mồi chài, lôi kéo, rủ rê những anh cảnh sát bờ Nam ra miền Bắc, về với nhân dân, về với cách mạng. Anh Bưởi đã lợi dụng hình thái này, nghĩa là anh cũng đã để cho những tên công an bờ Bắc rủ rê nhiều lần. Và lần đó, ngày 6/6/1962, anh đã ôm một bọc quần áo chạy bừa sang phía bên kia cầu bờ Bắc theo đúng những lời chỉ bảo của một tên công an.

Anh được dân chúng và cán bộ nồng nhiệt đón anh đưa về huyện Vĩnh Linh. Sau mấy ngày tiệc tùng, chào mừng; hàng ngày anh phải đến một bàn giấy để khai báo chi tiết, tỉ mĩ về thân thế, gia đình trong Nam cũng như ở ngoài miền Bắc. Từ ngày vào Nam, làm gì, ở đâu, từng thời gian. Hết hỏi han, khai báo rồi chúng đưa giấy bút, bắt anh phải tự viết tường thuật lại từ khi mới lớn lên ở miền Bắc cho đến vào miền Nam.

Cứ viết một thời gian, lại hỏi, rồi lại viết. Hơn một năm trời với bao nhiêu hình thức thủ đoạn mua chuộc, khích lệ, hứa hẹn và đe dọa. Thỉnh thoảng, chúng cho đi tham quan những cơ sở này, xí nghiệp kia rồi lại về truy tìm, hỏi han. Sinh hoạt ăn, ở của anh bị chúng nó quản lý chặt chẽ. Bao nhiêu lần anh xin về quê ở Quảng Yên để thăm mẹ già và con gái nhưng chúng đều hứa hẹn, anh phải thành khẩn khai báo tốt thì chúng mới cho về. Hơn nữa chúng nhấn mạnh, chúng đã biết hết về âm mưu ý đồ của anh ra miền Bắc. Chúng đã có tài liệu đầy đủ, chỉ vì chúng có rất nhiều người nằm ngay trong cơ quan tình báo của Ngô Đình Cẩn v.v…

Đến đây, anh Bưởi không nói rõ, nhưng qua tình tiết diễn tiến, tôi suy đoán, có thể anh đã khai báo phần nào sự thật (Cộng Sản đã hiểu chế độ của chúng chỉ có đói khổ, nên chúng không bao giờ tin những lý do vớ vẫn như vậy mà người ta lại bỏ một chỗ ấm, no để vào một chỗ đói khổ), nghĩa là sanh ra miền Bắc là vấn đề hoạt động tình báo. Cho nên chúng đã kéo dài thời gian đến 16 tháng để tìm hiểu, điều tra, nghiên cứu về anh. Cuối cùng, chúng thả anh ra, cho anh đi tự do về quê. Nhưng khi anh mới đi đến Quảng Bình, chúng đã đem xe theo đón bắt anh với lệnh của bộ công an vào ngày 23 – 10 – 1963. Chúng đem anh trở lại Vĩnh Linh tiếp tục khai thác. Sau một thời gian, chúng đưa anh ra trước tòa án nhân dân khu vực Vĩnh Linh, xử phạt anh 20 năm, với tội danh: gián điệp xâm nhập miền Bắc để hoạt động chống phá cách mạng.

Anh và tôi càng ngày càng thân nhau, đã kể cho nhau nghe biết bao nhiêu chuyện về gia đình, cuộc đời từ nhỏ cho tôi lúc trưởng thành vào đời. Theo anh nói: gia đình anh cũng là một gia đình thế phiệt, gia giáo, trong miền Nam rất có thần thế. Anh được gặp ông Cẩn, ông Nhu là chuyện thường; chú anh là chuẩn tướng Lê Văn Hưng v.v… Cho nên tuy anh chỉ là một đại úy nhưng anh đã được ông Cẩn tin tưởng, coi như người nhà.

Mới hôm Chủ Nhật vừa qua, buổi chiều, tôi và anh Bưởi rủ nhau ra giếng tắm giặt xong. Về buồng, tôi xuống chỗ anh Bưởi, hai anh em nằm chèo khoeo chuyện trò tâm sự. Sau một vài câu chuyện bình thường như mọi khi, đột nhiên anh quay sang, dịch gần sát lại phía tôi, hạ thấp giọng:

– Tôi coi Bình cũng như anh em, tôi nói cho Bình nghe một chuyện mà tôi đã ôm chặt trong lòng hơn một năm nay. Từ ngày tôi ở trại Vĩnh Tiến đến bây giờ, không một ai trong tù này biết.

Thấy vẻ mặt và giọng nói của anh đầy vẻ thân tình nhưng nghiêm trọng, tôi cũng nghiêng hẳn người lại sốt sắng, chờ lắng nghe. Nội dung: anh nói là anh có công rất lớn với nhà nước, với cách mạng. Anh đang chờ, không những anh sẽ ra khỏi tù mà anh còn phải làm việc nhiều nữa, lúc đó anh sẽ không quên tôi. Anh kể tiếp, khoảng đầu năm 1960. Một buổi chiều muộn trong tư dinh của ông Cẩn. Lẽ ra mọi khi, giờ đó anh đã trở về buồng mình để tắm rửa nghỉ ngơi, nhưng hôm nay vì anh mời uống hai ly rượu mạnh. Vừa mệt, vừa buồn ngủ, anh đã nằm ngay tại một phòng dụng cụ ở chỗ làm việc, rồi ngủ quên luôn. Gần về khuya, giật mình anh tỉnh dậy, nhìn đồng hồ đã 11 giờ 30. Tai anh nghe thoáng có tiếng rì rầm ở phòng bên, nhất là lại có ánh đèn sáng trưng. Tò mò, anh lựa thế nhìn qua một khe cửa sổ thì thấy có 3 người là ông Cẩn, ông Nhu và bác sĩ Trần Kim Tuyến. Ba người đang ngồi châu vào một cái bàn với một chồng sổ sách ở trên bàn. Anh không ngờ ông Nhu và ông Tuyến từ Sài Gòn ra ngay từ chập tối mà anh không biết.

Thấy thái độ bí mật và nghiêm trọng của mỗi người nên anh càng tò mò đứng nhìn và lắng nghe. Ba người đang họp bàn để quyết định những công tác có tính cách chiến lược của một số mạng lưới ở miền Bắc, có liên quan đến phòng nhì của Pháp và CIA, của Mỹ. Anh đã lắng nghe được tên cũng như chức vụ của hơn 10 người từ giám đốc một cơ quan đến những cán bộ trung ương ở miền Bắc. Anh hiểu đây là một bí mật to lớn của đất nước. Anh chỉ hiểu như vậy một mình anh, và chôn chặt trong đáy lòng từ 7 – 8 năm nay. Ngay cả khi ra miền Bắc rồi bị bắt, dù phải trải qua biết bao nhiêu cay đắng, khốn cùng của những năm tháng dài khai thác và tù đầy. Nhưng năm ngoái, một cán bộ cao cấp của bộ công an xuống gặp anh ở trại Vĩnh Tiến. Sau nhiều ngày đêm đấu tranh, giằng co gay gắt trong tư tưởng anh đã muốn lập công với cách mạng nên anh đã khai hết với ông cán bộ đó. Sau đấy, nhiều cán bộ dưới Hà Nội xuống trại tập trung anh liên tục trong gần một tháng trời, trước khi chuyển anh về trại này.

Nghe anh Bưởi thổ lộ đến đây, tôi lướt nhanh suy nghĩ lại toàn bộ sự việc của anh. Nhất là nhìn thái độ của anh nói, mắt anh còn long lanh sáng, mang nhiều hy vọng đợi chờ. Đành rằng những suy nghĩ, nhận định của tôi chỉ là chủ quan nên chưa hẳn đã là đúng.

Anh Bưởi chỉ là một con bài của ông Nhu và Cẩn. Chính ông Nhu và Cẩn đã cố ý tạo nên một buổi họp và cố ý vô tình để cho anh Bưởi biết. Hẳn ông Nhu và ông Cẩn đã nhận định, soi kỹ về con người của anh Bưởi; kể cả về bản tính. Anh không đủ nội lực để đảm trách những công việc tương xứng với chức vụ, mà do tình cờ nghe, biết, nắm giữ được những điều bí mật, tối quan trọng. Bản chất một người như vậy, khi đã ở trong tay của Cộng Sản, không sớm thì muộn, để cứu thoát bản thân, anh sẽ trình bầy với Cộng Sản để lập công. Lúc đó tùy theo mức độ sẽ làm lũng đoạn, mâu thuẫn trong nội bộ hàng ngũ lãnh đạo của Cộng Sản miền Bắc.

Ông Nhu và ông Cẩn, tình báo của miền Nam hẳn cũng đã hiểu: với sự cảnh giác đến chân răng kẽ rốn của Cộng Sản, không bao giờ chúng có thể tin được anh Bưởi. Một người đã bỏ mẹ và con gái để đi vào Nam năm 1954. Bây giờ lại bỏ một xã hội vật chất dư thừa, thoải mái tự do để tìm về một xã hội vật chất thiếu đói, hạn hẹp gò bó về sinh hoạt, chỉ vì nhớ mẹ và con gái. Về chơi rồi đi thì người ta mới tin được.

Khi mà Cộng Sản đã không tin, thì chẳng có điều gì có thể ngăn chận chúng không bắt anh khai thác. Mà chúng đã đặt vấn đề nghi ngờ để điều tra khai thác thì sẽ phải ra. Cứ đặt giả thuyết, đây là một đòn cao, một đòn sâu của ông Nhu, Cẩn và tình báo miền Nam đi nữa thì Cộng Sản cũng không mắc. Tôi chỉ là một cá nhân tầm thường, lại không phải chuyên trách cứu xét sự việc mà cũng phải đặt vấn đề, huống chỉ là Cộng Sản. Chúng nó có cả một bộ môn, một tập thể để soi rọi, chiếu lên từng mảnh vụn của sự việc.

Còn riêng về phần anh Bưởi, ngay ở trong tù hiện nay. Hàng ngày anh lẽo đẽo cắp vở đi theo học lớp hai bổ túc văn hóa, mục đích để làm gì?

Phải chăng mục đích của anh, để cho Cộng Sản đánh giá anh là một người nông nổi, ba tếch, ba toác, không có trình độ? Nhưng cụ thể anh đã khai báo là một điệp viên đại úy tình báo, điều mà lẽ ra anh phải có chủ trương ngay từ đầu, ngay từ ngày anh bước sang phía Cộng Sản ở cầu Hiền Lương. Chứ che dấu ban giám thị trại này, che dấu anh em tù nhưng lại khai rõ trên bộ công an thì đâu còn là một chủ trương thống nhất? Trong cuộc sống, nhiều khi một sự việc rất nhỏ lại trả lời cho một vấn đề rất lớn.

Một lần vào buổi sáng Chủ Nhật. Anh em, người thì đi tắm giặt, người thì ra sân, ra hội trường. Trong buồng sàn trên, sàn dưới thưa thớt dăm mười người. Tôi ngồi ở sàn trên đọc sách; nhìn xuống sàn dưới phía bên kia đối diện, anh Bưởi đang lúi húi vá cái áo trại. Sáng nay, tôi mới xin bác Lẫm được 2 điếu thuốc lào, muốn gọi anh lên để hai người cùng say sưa, vì thuốc lào kỳ này rất khan hiếm nên tôi không muốn cho người khác biết. Tôi mong anh Bưởi khâu một lúc, mỏi người sẽ ngửng mặt lên là tôi vẫy gọi anh. Nhưng tôi chờ mãi đến nửa giờ, có lúc anh ngừng khâu, ngửng đầu lên, nhưng lại chỉ đưa mắt nhìn chung quanh phía bên dưới mà không hề nhìn lên sàn trên. Nếu anh nhìn lên một tí, anh sẽ thấy cái mặt tôi đang tươi roi rói hướng về anh ngay phía đối diện; chỉ chếch phía trên, xa chỗ anh ngồi chừng 5 mét.

Sốt ruột quá, tôi tìm được một miếng giấy con, vo nhỏ lại bằng đầu ngón tay út, ném mạng vào đầu anh. Thấy tiếng động vào đầu và nhất là thấy hòn bi giấy con tí văng xuống đất trước mặt anh, anh quay lại chung quanh ngơ ngác nhìn về phía một bác dân tộc đang nằm nhắm mắt cách anh 3 chiếu. Anh chỉ nhìn ở sàn dưới mà không hề nhìn lên sàn trên; không thấy gì, anh lại tiếp tục cúi xuống khâu. Nóng cả ruột, tôi đã định sẽ hút hưởng một mình, không cho anh hút nữa, nhưng thấy thiếu vui và không tốt. Tôi lại tìm bẻ được một cái đầu que nứa ở tấm vách, nhằm anh tôi ném mạnh, trúng ngay vào vai anh. Anh ngửng phắt mặt, quay ra liếc nhìn đàng trước, đàng sau cũng vẫn chỉ có bác dân tộc mà thôi, anh vẫn chả nhìn lên sàn trên. Tôi tức muốn gào lên “hãy nhìn lên đây cơ mà!”

Tôi đặt vào trường hợp của tôi, chỉ thoáng khi thấy mẫu giấy rơi ra, tôi phải nhìn khắp trên dưới, chỗ nào có khả năng ném tôi, hay từ đâu rơi ra tôi phải biết nguyên nhân. Nếu tôi không thấy gì, tôi sẽ khâu tiếp rồi bất chợt sẽ ngẩng lên nhìn ra khắp lượt. Chứ mà bị ném đến lần thứ hai thì tôi phải bỏ khâu đấy, đứng dậy quan sát khắp chỗ. Và tôi nghĩ rằng, rất nhiều người khác cũng sẽ như tôi chứ không như anh Bưởi.

Nhưng cuộc đời hình như có sự bù trừ. Anh Bưởi lại có khả năng làm cho nhiều người chung quanh tin tưởng rằng trong anh có nhiều tài năng ẩn tàng. Thậm chí, chính Nguyễn Văn Gôm, một con người tinh nhanh, sắc sảo có lần đã thổ lộ với tôi:

– Anh Bưởi là một thứ “xịa” ghê gớm lắm! Bề ngoài trông anh chậm chạp, củ mỉ, củ mì vậy đấy thôi, chứ hiện nay anh còn giữ được một loại thuốc rắc vào cùm, vào khóa là chúng sẽ chảy ngay ra như nước. Chưa hết, anh còn một bí quyết nữa; anh có thể không ăn trong một tuần lễ mà sinh hoạt lao động bình thường.

Chính vì vậy Gôm đang nỗ lực ráo riết, chiều đón, xu phụng anh Bưởi để anh sẽ truyền bí quyết cho, cũng như anh sẽ cho xem cái loại thuốc thần kỳ nói trên.

Điều này tôi đã suy nghĩ mãi nhưng thật khó mà giải thích. Chỉ có thể nói là “Trời sinh ra như vậy”. Như con cua gặp con ếch. Con cua mà gặp con ếch là co dúm người lại cho con ếch đớp rồi nuốt. Nếu con cua cứ giương rộng còng thì con ếch làm gì được. Rồi tới lượt ếch gặp rắn cũng vậy, thoáng thấy bóng rắn là ếch cụp đầu xuống, co quắp người lại để xin mời ông rắn sơi. Nếu con ếch nó cứ bật nhẩy như lò xo, mỗi cái nhẩy hàng thước thì rắn nào đuổi kịp. Như vậy trong cuộc đời có cái này kỵ cái kia, ai mà biết được lý do? Về anh Bưởi, thời gian còn dài, sẽ còn nhiều sự việc để làm sáng tỏ vấn đề.

Tối nay tôi nằm mãi mà không ngủ được, đầu óc cứ còn vấn vương về câu chuyện do Lầu Phá Tra và Lồ Cao Chính kể cho tôi nghe lúc buổi trưa ở hội trường. Lầu Phá Tra và Lồ Cao Chính, hai người đã hôn và đặt tay tôi lên đầu họ hồi năm ngoái, khi tôi lên trại mới được 2 – 3 tháng. Tuy không thường xuyên nhưng tôi vẫn khắn khít tiếp xúc với họ khi có vấn đề cần trao đổi. Lúc trưa họ kể sơ lược cho tôi nghe về Vương Chí Sình. Một ông vua, một người chúa của dân tộc Mèo. Đối với người dân tộc thiểu số trên miền thượng du Việt Bắc, Vương Chí Sình không những chỉ là người chúa của dân tộc Mèo, nhưng ông còn là người khôn khéo, tài ba có uy tín lớn với các sắc tộc khác. Trong sự chống đối, bất hợp tác với chính phủ Hồ Chí Minh của các dân tộc thiểu số thì ông là một điểm sáng chói, là linh hổn của họ.

Ông đã xây dựng, thành lập và lãnh đạo một đội quân đông đảo người dân tộc. Tuy trang bị vũ khí thô sơ nhưng biết lợi dụng địa thế núi rừng hiểm trở của thiên nhiên, nên Việt Minh đã hao tốn bao nhiêu công lao, tâm sức kể cả người và của về chính trị cũng như quân sự mà không thể thu phục được. Họ đã phải dùng nhiều đơn vị lớn, mở nhiều chiến dịch len lỏi vào núi rừng để lùng xục, tiễu trừ đoàn quân chống đối của người dân tộc mà chúng gán cho cái tên là giặc cướp, là thổ phỉ.

Nhưng sau nhiều ngày tháng, Cộng Sản đã không thể làm gì được mà nhiều lần, cái đội quân “phỉ, cướp” đó đã bất ngờ đánh cho lũ cáo Hồ những trận liểng xiểng. Hồ Chí Minh, con cáo già nhiều thủ đoạn cho những tên cán bộ người dân tộc len lỏi, môi giới vào tìm gặp được Vương Chí Sình. Khi đã bí mật liên lạc với Sình được rồi, y dùng những cán bộ trung ương giỏi mồm mép, giỏi nghề dụ, xui người khác ăn cứt gà vào tiếp xúc với Sình. Mặt khác, y lại viết thư như đã từng viết cho Thẩm Hoàng Tín, tình cảm dạt dào, lời lẽ khẳng khái đoan chính v.v… Cuối cùng y đã lôi được Vương Chí Sình về Hà Nội, đã tách cọp ra khỏi rừng, cho cọp về thành phố chơi. Vương Chí Sình cùng với đoàn bộ hạ tham mưu được đón rước linh đình vào phủ chủ tịch, mở hội hoa đăng để kết nghĩa anh em. Chắc Vương Chí Sình cũng sướng tê người như Thẩm Hoàng Tín. Một tên chúa Mèo ở trong rừng sâu hoang dã lại được kết nghĩa anh em, đoàn viên với Hồ Chí Minh, chủ tịch của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Khi quân đã không có chủ tướng, Hồ già càng dễ gây ly gián, nghi ngờ nhau giữa những thành phần của đội quân người dân tộc. Để cuối cùng chúng tiêu diệt dần cho tới khi bắt gọn. Kết quả là biết bao nhiêu người dân tộc phải chết hoặc ở trong tù như hiện nay, trong đó có Lầu Phá Tra và Lồ Cao Chính. Chỉ vì người lảnh đạo mắc một căn bệnh chung là không hay chưa hiểu đủ về Cộng Sản.

Vương Chí Sình khi biết là mình bị ăn cứt gà thì đã muộn. Theo Tra và Chính thì cho đến bây giờ họ cũng không biết rõ về số phận của Vương Chí Sình nữa, vì có nhiều nguồn rỉ tai: có thể ông Sình bị giam lỏng ở Hà Nội và cũng có thể bị chết rồi.

Một bài học quái ác, là cứ phải ngã rồi mới học được! Óc tôi cứ vấn vít xoay quanh về câu chuyện này mãi, mà càng suy nghĩ thì đầu càng nóng lên, để rồi trăn trở mãi mới chìm dần vào giấc ngủ hãy còn nhiều khắc khoải, cau mày.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 24 Oct 2023

Ân tình của chúa sơn lâm

Đặng Chí Bình

Bài 41

Một câu chuyện bình thường về một con trâu nhưng nó đã gợi nhớ cho tôi một cái mốc thời gian trong cái hố sâu của dĩ vãng. Hôm đó, vào một đêm mưa dầm thứ Bẩy, giữa tháng Ba năm 1969. Lúc này trại đã ăn Tết Âm lịch đã được gần một tháng. Trời hãy còn lành lạnh của cái rét nàng Bân. Trại đang ngủ yên ắng, gần nửa đêm về sáng; đột nhiên có những tiếng huỳnh huỵch, ầm ầm như cây đổ phía chuồng trâu đằng sau trại. Một số người tỉnh ngủ trong buồng đã ngồi dậy nhớn nhác, ngác ngơ nhìn ra cái khoảng đen tối của rừng khuya.

Bác Tiến đã thò tay sang màn tôi, lay tôi dậy; nhưng tôi đã tỉnh lâu rồi, mà vẫn nằm yên nghe ngóng. Bỗng có tiếng gầm như rung chuyển cả núi rừng, làm đong đưa ngọn đèn 40 nến đang treo lủng lẳng ở giữa nhà. Tiếng gầm làm hầu hết mọi người đều choàng dậy. Trong buồng có nhiều người dân tộc thiểu số mà núi rừng là quê hương, nhà cửa của cả đời họ nên họ đã biết ngay, đó là tiếng hổ về bắt trâu.

Tiếng hổ gầm cũng có lẽ đã đánh thức tụi cán bộ phía khu nhà giám thị, vì bất chợt một tràng súng AK rú lên. Âm thanh như mũi giáo ngoáy vào màn đêm tịch mịch.

Trong buồng chúng tôi đều hiểu, chúng bắn tràng súng là để dọa đuổi hổ đi, chứ sức mấy đứa nào dám mò ra rừng khuya, giữa lúc mưa lạnh thế này. Chẳng ai dám bàn tán, nhưng nhìn nhau, mắt ai cũng ánh lên niềm vui. Hẳn trong lòng mỗi người, ai cũng đều hớn hở chào mừng “bác” hay “cụ” mồi. Bởi vì, theo anh em, những năm trước đã có nhiều cụ hổ về bắt trâu của trại. Mỗi lần như vậy, thể nào trại cũng có bữa tươi; vì thường thường ông hổ chả ăn hết con trâu. Đó là ân huệ của ông để lại cho đám người cùng khổ.

Sáng hôm sau, nguồn tin sốt dẻo đã có sớm: cụ hổ đã bắt con trâu mộng đầu đàn đem đi mất tiêu hôm qua! Người ta nhìn thấy vết chân hổ to như bàn tay xòe, dẵm nát cỏ cây chung quanh chuồng trâu. Có một cái điều làm cho cán bộ cũng như tù ồn ào, bàn tán không ít là cửa và hàng rào của chuồng trâu vẫn không sao cả. Hàng rào cao khoảng 1 mét rưỡi gần ngang cổ của người lớn. Người ta tự hỏi, con trâu mộng to như vậy, chả lẽ cụ hổ cõng nhẩy qua? Nghĩa là sự việc đó khó tin được; nhưng cụ thể là con trâu đã mất.

Ngay từ sáng sớm, 4 tên vừa cán bộ vừa bộ đội dẫn theo 4 tên tù tự giác. Cơm đùm, cơm nắm dõi theo vết chân của lão chúa sơn làm vào nơi thâm u của núi rừng hoang dã. Cả trại đi lao động ngày hôm ấy đều phập phồng mang theo niềm hy vọng đợi chờ.

Nhưng cho tới chiều tối, đoàn người đi tìm mệt mỏi trở về không và niềm đợi chờ, mong ngóng của anh em cũng xẹp xuống. Mặc dù thế, toán đi tìm hôm sau vẫn tiếp tục. Nhưng người ta cũng kháo nhau nhiều chuyện chung quanh cụ hổ bắt trâu này như những huyền thoại thần bí, linh thiêng của rừng già. Hôm sau, gần về trưa trại xôn xao, náo nhiệt hẳn lên. Đoàn đi tìm đã hì hục khênh, gánh về cái đầu, 2 đùi trước với bộ lòng của con trâu. Cụ hổ đã ăn hết hẳn nửa sau của con trâu. Hai đùi và chỗ thịt ngon, gồm trên 50 kg thì được khênh về khu vũ trang và giám thị (như vậy cụ hổ cũng là ân nhân của lũ cán bộ nữa). Đầu, cẳng chân, xương, da và ruột thì phần trại tù. Tất nhiên cũng phải cân lường kỹ càng để tính tiền trong những kết toán hàng quý, hàng năm của trại. Nhưng phải nói rằng, giữa rừng núi hiếm hoi, có thịt, xương mà mua là tuyệt rồi. Xương lọc kỹ không kể, thịt được 15 kg, với bộ da và bộ lòng cho nhân số hơn 400 thì mỗi người cũng chỉ được một vài miếng nho nhỏ

Nhưng điều tôi chú ý hơn cả, và có thể nhiều người khác cũng vậy. Chúng tôi chen lấn nhau đổ xô xuống sân nhà bếp để nhìn cái đầu con trâu mộng. Tôi chả nhìn thấy mình con trâu, nhưng cứ nhìn cái đầu đồ sộ ngoại cỡ của nó thì tôi đã hình dung ra con trâu đầu đàn to khỏe như thế nào rồi. Một bên sừng bị gẫy một nửa, để lòi ra một đám tủy trắng đỏ, nhờn nhợt. Một mắt lõm sâu, lua tua vài miếng thịt, con ngươi văng đâu mất. Hàm răng nhe ra, rãi và máu đóng lại thành bờ. Da mặt bị cào xé rách nát. Tôi cứ đứng hàng giờ chằm chằm nhìn con trâu. Tôi hình dung một cuộc chiến đấu ác liệt, dai dẳng giữa con hổ và con trâu mộng này. Hẳn rằng trước khi chết, đành gục xuống phó mặc cho con hổ nhai thịt của mình; con trâu đã vì sự sống của mình, nó vừa run sợ, vừa phải chiến đấu dù với một cách não nề, vô vọng với một kẻ thù có truyền thống ăn thịt loài của mình. Tôi cứ nhìn con mắt thất thần còn lại của nó, trợn ngược, trắng dã. Hẳn nó phải chết trong nỗi kinh hồn, khiếp đảm, thảm thương.

Như trên tôi đã nói, chuyện con trâu này đã gợi nhớ cho tôi một cái mốc của thời gian, đến đây cũng chưa phải, mà chính là một sự việc như sau: do cái tài xoay sở, khéo léo của Gôm đã quan hệ thế nào đó với một đường dây tự giác rất đặc biệt. Gôm và tôi góp nhau mỗi người một đồng. Ngày hôm sau ra lán thủ công, đã có một bọc da trâu đến 2 kg thui rồi, giấu trong một đống vỏ bào đã dặn trước. Do những yêu cầu về nấu nướng, chúng tôi chỉ bí mật cộng tác với bác Chánh già làm vệ sinh. Người canh, người cạo rửa rồi cho vào một cái gầu bằng tôn ninh nhừ. Gôm còn ngoại giao đổi chác với nhà bếp để có ít muối.

Buổi chiều hôm ấy, làm sao tôi quên được. Ba chúng tôi: bác Chánh, Gôm và tôi hò hẹn chui vào một bụi bìm bìm phía sau lán. Do sự quy ước chặt chẽ với nhau là không cho người thứ tư biết, vì thế tuyệt đối không được cho ai và phải ăn hết tại chỗ.

Thôi thì nắng hạn gặp mưa rào.

Rét nhiều nên mới có ngày mồ hôi!

Chúng tôi vừa trợn trừng nhai vừa nhìn nhau. Mồm nhai chưa nuốt xong, tay đã cầm sẵn miếng khác chờ chực đút vào rồi. Ăn nấy, ăn để quên hết cả đất trời, tổ quốc, quê hương. Thế mà chỉ một loáng đã sạch trơn, Hai ký da trâu đã chui béng vào bụng ba người. Nhưng mà trời đất hỡi! Cái đêm hôm ấy người tôi như có ai thổi lửa vào hậu môn. Bụng nóng hừng hực, người nôn nao quay cuồng. Tôi bỏ màn đi ngủ sớm. Tôi liếc nhìn lên sàn trên chỗ Gôm, cũng đã thấy bỏ màn rồi. Tôi cố dằn nằm yên, tay xoa bụng. Thỉnh thoảng thấy Gôm mặt đỏ rừ chạy vào nhà cầu.

Nhưng thật oan gia là bác Chánh, có lẽ vì bác già yếu nên đã không chịu nổi như chúng tôi. Bác ngồi trên sàn ồng ộc, nôn thốc, nôn tháo xuống đất. Bác cứ vặn vẹo người, nước mắt, nước mũi dầm dề vì nôn chưa hết. Mỗi lần bác ộc ra, từng sợi nhớt dài thoòng, nhễu nhợt nối từ miệng bác với bãi nôn dưới đất. Mùi khăn khẳn, nồng nồng xông lên khắp buồng. Nhiều người bịt mũi đi nằm vậy mà Thân Lân vẫn chịu khó hì hục lấy tay vớt từng miếng da trâu chưa nát vì ăn vội, nhét vào chiếc “hồ lồ”. Mặt anh tươi roi rói, phởn phơ của một ngày vớ bở. Phần tôi tuy không nôn, nhưng phải một bữa gần chết, cả đêm hôm ấy trằn trọc không ngủ được, nhớ mãi tới bây giờ chưa quên.

Sau này tôi nghĩ lại, thấy thật là dại, da trâu ninh nhừ ăn để chống đói thì thật là tuyệt nhưng với điều kiện ăn vừa thôi. Chỉ vì đói, thiếu lâu ngày, nay vớ được, ăn cho đã cái miệng nên mới bị như vậy.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 24 Oct 2023

Một trời quan tái mấy cho say

Đặng Chí Bình 

Bài 40

Chiều nay, khi toán 2 vừa xuất trại ra tới lán thủ công, tôi đang háo hức, say mê làm những phần việc cuối cùng để hoàn thành chiếc giường đôi đầu tiên do tôi đóng, thì anh Nguyễn Huy Lân toán trưởng, từ trên phòng cán bộ xuống gọi tôi mặc quần áo ra gặp cán bộ. Thoáng nhìn ra thấy tên Cẩn trực trại đang đứng ở gần cổng lán nói chuyện với tên cán bộ vũ trang. Một thoáng băn khoăn thoảng qua trong đầu; cán bộ nào gặp mình đây? Mọi khi, mỗi lần cán bộ giáo dục cần gặp, tôi thường được lệnh ở lại trại ngay lúc xếp hàng đi lao động. Vậy đây là ai? Nghĩ đến đây thì tôi đã ra tới cổng trại. Tên Cẩn cũng như thường lệ, y ra hiệu tay để tôi đi trước, trong khi y quay lại gật gật đầu với tên bộ đội với tên bộ đội như bảo: “Tôi nhận tên phạm này nhé”.

Thoáng nhìn vào căn phòng giáo dục nhỏ, tôi đã thấy dáng của Hoàng Thanh. Đã lâu, hôm nay tôi mới lại gặp y. Thái độ của y có vẻ lạnh lùng, khác hẳn với sự đon đả lần trước.

Sau mấy câu hỏi chung chung về sức khỏe, y vẫn thấy tôi ngồi cúi đầu trên chiếc ghế đẩu phía trước mặt y. Tuy tôi hơi cúi đầu, không nhìn y, nhưng trong trường mắt của tôi, mọi cử chỉ của y đều được ghi nhận. Một tay y để trên bàn cứ cầm cái bút lên rồi lại bỏ xuống mấy lần; tỏ rằng y đang cân nhắc, tính toán một thái độ, một biện pháp trấn áp hay lôi kéo gì đó. Lòng tôi từ ít lâu nay đã có chủ định cho nên vẫn mở cửa ngồi chờ cho y chủ động. Giây phút thinh lặng có lẽ làm cho người y ngứa ngáy, y đứng dậy và gọi hẳn tên tôi:

– Anh Bình!

Tôi ngửng lên, mặt y càng lạnh băng. Tay y chỉ ra phía sau lưng tôi dưới nền đất, miệng y chậm rãi:

– Anh có nhìn thấy cái loại gì kia không?

Tôi quay lại, chỉ có cái nền đất trống trơn. Đây đó mươi nhánh cỏ mọc lên trong những đường nứt nẻ trên nền đất. Bên ngoài, một vài dây thài lài thò vào qua kẽ liếp. Một thoáng ngần ngừ vì tôi chưa nắm được chủ ý của y thì y đã nói tiếp, mang một ẩn ý chính trị:

– Anh có thấy những đám cỏ dại đó không? Chúng nó lợi dụng những chỗ yếu, chỗ nhược; những kẽ hở để tồn tại và phát triển. Nếu ta không nhổ nó đi thì một ngày kia chúng sẽ mọc che kín hết cả cái nền này.

Nói tới đây, y lại ngồi xuống rồi nói như ra lệnh:

– Anh hãy nhổ hết những đám cỏ dại đó đi. Đó là trách nhiệm tôi giao cho anh đấy!

Tôi vừa nhổ cỏ, dòng suy tưởng của tôi vẫn chảy dài trong óc. Phải, đây là những cỏ dại, nhưng nó là thiên nhiên, nó sẽ trường tồn mãi mãi với đất trời. Mảnh đất nào ngừng canh tác, trông nom dọn dẹp thì sẽ bị cỏ cây bao trùm.

Tóm lại, sớm hay muộn, mọi mảnh đất sẽ phải trở về với thiên nhiên. Nếu như tôi chưa có chủ định, thì trong trường hợp này dứt khoát tôi sẽ nói thẳng những ý tưởng đang cuồn cuộn dâng đầy trong đầu tôi, cũng sẽ nằm trong ẩn ý đối lại với y. Nhưng lúc này tôi cứ im lặng nhặt cỏ.

Thấy tôi nhặt hết đám cỏ dại dưới nền, y lại chỉ mấy ngọn thài lài ở trên vách:

– Anh dứt cả mấy cái dây dại đó đi! Ở trong ngóc lên, ở ngoài thò vào!

Để cho chủ trương của tôi có nhiều bức tường che, tôi nói một câu vừa tỏ ra đã hiểu những ẩn ý bóng bẩy của y lại vừa đóng góp thêm vào sự năng nổ, tích cực của mình:

– Thưa ông, với những cỏ dại phía bên ngoài, biện pháp hữu hiệu nhất là ra hẳn ngoài để nhổ tận gốc, chứ không hẳn chỉ ngăn chặn từ phía bên trong.

Mặt y bừng sáng, tươi hẳn ra. Y nghiêng người với cái “phíc” rót một chén nước trà nóng, xì xụp uống. Nét thỏa mãn ánh lên trong đôi mắt y. Sau đó y hỏi tôi về tình hình trong trại, về một số cá nhân ở trong tổ, trong toán. Y cũng đặt vấn đề tại sao tôi thân mật với Nguyễn Văn Gôm và bác Nguyễn Văn Tiến, cũng như tiếp xúc với nhiều người. Tôi mượn ngay cái bọc của y để che cho mình nên trả lời, muốn hiểu ai thì phải tiếp xúc với họ.

Cuối cùng, y đưa cho tôi một tờ giấy trắng, y chỉ một chiếc bàn con ở góc nhà đã có sẵn lọ mực và cái bút. Y bắt tôi ngồi viết những điều tôi vừa trình bầy về tình hình trong trại và một số cá nhân. Qua buổi nói chuyện với y, tôi khẳng định đã có nhiều người báo cáo về tôi. Hầu như mọi sinh hoạt của tôi y đều nắm được.

Những ngày trước, tôi và Gôm đã nhiều lần trao đổi. Chúng tôi đều đã nhận định: Cộng Sản đã khéo léo lợi dụng quy luật đấu tranh để sinh tồn của mọi sinh vật, kể cả thực vật. Chúng áp dụng quy luật ấy với những người tù đói khổ lại càng hữu hiệu hơn nữa. Chúng dùng sự đói khát, cùm kẹp, lao lực, kết hợp với dụ dỗ, phỉnh phờ gây ra ly gián, đói khổ tranh sống. Hình dung như những con cua trong một cái giỏ, suốt ngày đểm giẫy dụa chen chúc con nào cũng tìm cách để trèo lên miệng giỏ. Do sự tranh giành này, phải đạp lên nhau, cấu xé nhau để vượt lên. Bởi vậy, con thì sứt mai, con thì gẫy còng. Nhưng khi leo lên tới miệng giỏ lại vướng cái hom để rồi mỏi mệt lại rơi xuống đáy giỏ. Cuối cùng, con nào cũng chỉ quanh quẩn trong cái giỏ cua mà thôi.

Trong những con cua này, nếu có con nào tỉnh táo hiểu rằng, có nỗ lực, cậy cục, trăn trở lắm thì cũng thế mà thôi. Hãy biết thân phận trèo lên một chỗ nằm đấy cho đỡ mệt. Nhưng nếu nó biết như vậy, thì nó đã không còn là con cua nữa. Bởi vậy có những con trèo lên đến miệng giỏ, đã ngã xuống rồi, thế mà lại vẫn hì hục, cố gắng bò lên nữa. Cho nên, tôi càng cần phải tỉnh táo, cân nhắc, ý thức từng sự việc, sao cho không thiệt hại đến những điều chủ chốt của lý tưởng, đường đi của mình.

Điều này tôi tin rằng tôi sẽ làm được. Với những năm kinh qua đấu tranh với phòng 44 chấp pháp của Hà Nội. Hoàng Thanh tuy là một tên quái, nhưng không thể có nghiệp vụ chuyên môn như phòng 44. Dù như vậy, tôi cũng không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác. Tôi vẫn thừa nhận Hoàng Thanh là một tên sắc sảo, tinh quái. Mỗi một lời nói, một việc làm đều có dụng ý. Y là loại người đóng cửa trước, mở cửa sau, gieo mầm bây giờ để gặt hái về sau.

Nhìn lại suốt quá trình từ ngày tôi ra miền Bắc. Tôi đã gặp biết bao nhiêu loại người của đối phương, nhưng y là người thứ hai mà tôi nhờn, tôi phải để tâm nhất. Người thứ nhất là cái lão già chó chết, một buổi chiều Chủ Nhật đã gặp tôi ở Hỏa Lò chỉ có 15 phút ở phòng ban giám thị. Y đã ngoay ngoáy ngón tay chỉ vào mặt tôi.

Tôi tin rằng tên Hoàng Thanh này, tuy hiện nay y chỉ đeo chiếc lon trung úy, làm giám thị cho một phân trại nhỏ bé. Nhưng trong tương lai, chắc chắn y sẽ tiến cao mãi, sẽ vượt qua nhiều những tên hiện nay đang là cấp trên của y để ngoi lên trên con đường hoạn lộ của chủ nghĩa này.

Như trên tôi đã trình bầy, do những tình tiết toàn bộ sự việc của tôi, khi còn ở Hỏa Lò cũng như lên trại trung ương, tôi luôn luôn phải ở tư thế một người cải tạo tiến bộ rồi. Hơn nữa mới đây, chỉ hơn hai tháng trước, trong một buổi ngồi tâm tình, chuyện trò với Nguyễn Văn Gôm, đầu tôi đã chợt lóe lên một ý tưởng mà trước đây chưa bao giờ tôi nghĩ tới.

Công tác của tôi ra Bắc một phần chính là tuyển mộ và huấn luyện. Nghĩa là cấu tạo và hình thành những hạt nhân, những đường dây để hoạt động bí mật trong một mạng lưới riêng rẽ hay từng chuỗi. Tôi đã thất bại, bị bắt vào tù; trong một môi trường cùng khổ đầy xương, đầy máu này nhưng lại cũng rất đặc biệt. Không thiếu gì nhân tài, không thiếu gì hạt nhân, cốt cán, nhan nhản ra chung quanh.

Tôi hiểu rằng trong cuộc đời, bất cứ việc gì cũng đều có hai mặt. Trong sự việc không may, thất bại đi tù của tôi cũng có cái mặt tích cực của nó, chỉ cần ta biết nhuần nhuyễn khéo léo, chuyển hóa, đôi khi nó không còn là sự thất bại, hay không may nữa. Tôi đã có nghiệp vụ, tôi đã có thực tiễn kinh qua. Hãy chọn lựa, ấp ủ hạt giống rồi gieo đi khắp các nẻo đường của đất nước.

Mai đây những hạt giống nào chẳng may rơi vào vùng đất xấu không mọc được thì tôi cũng chả mất gì thêm. Còn những hạt giống may mắn rơi vào vùng đất mầu mỡ, thuận tiện thì sẽ trưởng thành nở hoa, kết trái cung cấp trái ngon, trái ngọt cho cuộc đời, cho lý tưởng.

Dân tộc, người Kinh, kẻ nông thôn, người thành thị, từ núi rừng hẻo lánh cho đến đồng bằng phì nhiêu, tôi cứ làm những cái gì tôi có thể làm được. Thời gian và hoàn cảnh thật là thuận tiện, còn an toàn hơn cả ngoài xã hội nữa. Vì những chủ trương này, tất yếu tôi phải tìm một chỗ đứng tốt. Hiện nay, không có bức tường chắn tốt nào bằng bức tường của Hoàng Thanh cả.

Ngay Hoàng Thanh, trước đây cứ mỗi lần y tiếp xúc với tôi, y luôn luôn phải đắn đo, thủ đoạn như trong tay y thường phải sẵn sàng lăm le một khẩu súng mà đạn đã lên nòng…nhưng rõ ràng càng về sau y đã bỏ khẩu súng xuống bàn hay đã đút vào ngăn kéo rồi. Nghĩa là tôi đã tạo cho y tưởng rằng y đã nắm được tôi. Tôi không còn là đối tượng y cần khoanh vòng nữa. Mà tôi thì cũng cần và chỉ mong như vậy.

Chiều hôm nay, nhìn cụm thuợc dược phía đầu luống gần chái hồi nhà số 2. Mấy đóa nhung vươn dài ngượng ngập mà tôi vẫn gọi là mấy “cô tiểu thư con gái nhà lành” đang lè ra mấy chiếc yếm xanh bọc túm cái duyên nửa chừng như báo cáo cho thế nhân, mùa Đông đã lại về.

Nhanh thật, vừa mới nóng xong đã lạnh rồi!

Đã nghe rét mướt luồn trong gió,

Đã vắng người đi những nẻo đường…

Thấm thoát tôi đã lên trại xấp xỉ một năm rồi. Hồn tôi bập bềnh nổi trôi trong làn mưa bụi cứ dần dà dạt về miền xuôi. Chợt lảng vảng chiếc lưng ong và làn tóc buông dài dưới gốc cây bàng giữa sân Hỏa Lò, cũng một chiều mưa bay đã ùa vào tràn ắp lòng tôi. Một nỗi nhớ niềm thương quắt quay, cộng với cuộc đời mưa gió, cứ xoáy mãi cõi hồn.

Không biết giờ này người ấy ra sao? Một ý thơ da diết của thi gia Nguyễn Bính thì phải, đã lách vào tim tôi thắt lại:

Chiều nay ….. thuơng nhớ nhất chiều nay.

Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy.

Anh uống cả em và ….. uống cả,

Một trời quan tái mấy cho say.

Bây giờ tôi đâu có cốc rượu đầy, mà chỉ có một trời cay… cay hơn ớt. Tôi còn đương mơ màng trong một trời chiều mây tím thì những tiếng huyên náo ầm ầm ở nhà số I. Những tiếng huỳnh huỵch vật lộn phía trong buồng khi tôi chạy xấn vào. Máu me văng vãi tứ tung, Lê Văn Kinh, người to như hộ pháp đang đè Phạm Công Thành gò người lại như con tôm chiên ở dưới nền nhà.

Công Thành mắt trợn ngược, đang khò khè tưởng không thở được nữa, tuy tay vẫn cầm chặt con dao nhọn dài đến 15 phân. Dưới má Lê Văn Kinh, một vết dao rộng chừng 3 phân. Máu từ đấy, vung vẩy khắp nhà.

– Biệt kích đánh biệt kích!

Có người nói to như vậy. Anh em, một số người đã xông đến. Tôi lẹ tay giật lấy con dao ở tay Công Thành. Mọi người hò trói Công Thành lại và họ đã trói thực. Một số người khác dẫn tay đưa Kinh xuống bệnh xá để băng bó vết thương. Sau một lúc câu chuyện đã được sáng tỏ:

Tên Công Thành (trong toán Boone biệt kích của Nguyễn Huy Lân) ở dưới nhà bếp, thường hay quát tháo, xua đuổi, đập gô, đập bát của các anh em trên các buồng xuống xin nước sôi. Hầu như cả trại không ai ưa y. Nhiều người căm tức nhưng không dám làm gì y vì y núp dưới bóng những tên áo vàng.

Lê Văn Kinh là người miền Nam rất thẳng tính, và nghĩ rằng nó đã làm xấu lây anh em biệt kích với những người tù miền Bắc. Bởi vậy, nhiều lần Kinh trông thấy Thành, Kinh chửi nên Thành rất hận. Đã có nhiều trận chửi nhau trước đấy, bao giờ anh em cũng bênh vực về bè với Kinh. Nếu Lê Văn Kinh không là người lao động tốt thì đã bị đi cùm nhiều lần rồi do sự báo cáo của Công Thành. Tất nhiên mỗi lần Kinh chửi Công Thành cũng đều phải lấy những cớ, lỗi của Thành trong sinh hoạt; chứ chẳng ai dám chửi Thành là kẻ đã làm chó, làm Joóc.

Thành xây hận lâu ngày, tuy Công Thành cũng to khỏ vì làm nhà bếp, nhưng so với tấm thân đồ sộ Người Nhái của Kinh thì không đi đến đâu. Vì vậy Thành đã thủ sẵn một con dao, chờ dịp. Và hôm nay, sau một hồi cải vã, bất ngờ Thành đã rút dao ra, chồm sang sàn Kinh để đâm.

Kinh người to, nhưng cũng rất nhanh. Kinh bị đâm một nhát, vội nhẩy đến, hất dao và vật Thành ra. Hôm nay cũng là dịp, anh em trong trại dồn cơn căm tức Thành đã lâu; bởi thế khi trói, mấy người đã cố ý kéo gò, riết chặt. Công Thành nằm như con heo, ư ử rên la ở giữa nhà. Ai cũng mượn cớ tên Thành đã dùng dao đâm người, trong khi chờ cán bộ vào giải quyết thì phải trói lại vì sợ anh ta tiếp tục hành hung.

Khi tên Đức trưởng ban giáo dục và tên Cẩn trực trại vào. Y thấy tên tay chân của chúng bị trói gô, y ra lệnh cởi trói. Tên Đức và tên Cẩn, hẳn cũng đã hiểu những điều ẩn tàng bên trong sự việc; nhưng vì nhát dao đâm Kinh quá sâu nên đã ra lệnh đưa Công Thành vào kỷ luật để xoa dịu sự bất mãn của trại. Tuy thế Công Thành cũng chỉ bị kỷ luật 2 ngày rồi lại được trở về nhà bếp như cũ. Sự việc này càng tỏ rõ bộ mặt tay sai, chó má của Công Thành, cho nên anh em càng không ai tiếp xúc với y.

Tối nay, sau khi toàn buồng sinh hoạt tổ như thường lệ, tôi vừa ra chỗ chiếc đèn con “Hoa Kỳ”; cầm cái điếu cầy về chỗ để “bắn” một điếu với bác Tiến thì Gôm đến. Chẳng biết Gôm thâu lượm được nguồn tin từ đâu, đã thì thầm cho biết: “Hòa nghị Paris về chiến tranh Đông Dương đã bắt đầu họp từ đầu tháng 5 rồi. Hiệp nghị gồm có 4 thành phần: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, miền Bắc Việt Nam và một bộ phận của chúng ở miền Nam là Mặt Trận Giải Phóng. Tuy đã họp hơn 6 – 7 tháng nay rồi, nhưng lập trường của các bên cách xa nhau một trời, một vực, nên chưa đến một kết quả nào: Nguồn tin này cũng làm cho bác Tiến và tôi sững sờ suy nghĩ. Thảo nào, cũng từ mấy tháng nay, trại cũng chả có đài, hay báo chí gì cả. Tên Mạch, trưởng ban tuyên huấn lại giải thích ở ngoài hội trường hơn một tháng trước là để cho toàn thể trại viên tập trung tư tưởng theo học lớp chính trị dài ngày: “Lập công chuộc tội, chống Mỹ cứu nước” nên tạm ngừng đài và báo.

Vì ở trong một cái hòm đóng kín, thiếu nhiều cơ sở để nhìn, để cọ sát, tham khảo; dù vậy bác Tiến cũng bảo:

– Chúng (chỉ Cộng Sản), nhìn từ bản chất thì chúng chỉ muốn dùng hội nghị Paris như một cơ quan tuyên truyền, cầm chân Mỹ mà thôi. Tuy vậy, đây cũng là một dấu hiệu, chúng đã phải từ bỏ phần nào cái quyết tâm cao ngạo lúc đầu của chúng là sẽ “cướp cho được miền Nam bằng võ lực”. Vấn đề lớn ở đây là nếu Mỹ và Sài Gòn không tỉnh táo, thì sẽ bị hố với tụi này.

Người về từ Hàn quốc!

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 23 Oct 2023

Chuyện rằng: Một cụ ông, cụ bà ở nhà quê lần đầu được con trai dẫn lên thành phố chơi cho biết cái tân tiến với người ta.

Hai cha con đứng trước thang máy chờ… Người mẹ đang lạch bạch như con vịt, mông núc ních, sàng qua lắc lại, đi phía sau, chưa kịp tới.

Ông cụ thấy một bà già bước vào thang máy. Cửa đóng lại. Chừng 5 phút sau, cửa thang máy mở, một em đẹp rực rỡ, đẹp hực hỡ với đôi gò bồng đảo nhún nhẩy thiếu điều văng hết hàng nút áo, bước ra.

Ông cụ quay sang thằng con bảo: “Nè! Chạy kiếm má mầy! Kêu bả bương lẹ lẹ tới đây đi!”

Ðàn ông là bọn ngu ngốc. Dù đã dứt sữa lâu rồi mà vẫn thèm hai bình sữa ế kinh chi vậy?

Cũng vì có cầu mới có cung, theo quy luật cung cầu nên kỹ nghệ làm đẹp trên thế giới đã ra đời vì lý do vớ vẩn ấy.

Người viết có quen một em rất tự hào lẫn tự đại vì tự cao do em làm chủ một nhà hàng, khách toàn là bọn đàn ông đến nhậu rất đông.

Ðời mà, tửu là sắc! Biết cái tỏng mấy thằng dê như vậy, em vẫn còn lợn cợn cái tự ti; vì xui xẻo thay em là con gái trời bắt xấu mà giờ lại già, tà tà bóng ngả về tây.

Vậy là em quyết định xài tới dao kéo. Dao không phải để cắt thịt bò, chiên xào gì ráo trọi. Kéo đây không chỉ để cắt đầu tôm, đuôi tép trước khi nhúng vào lẩu đồ biển, nấu theo kiểu Thái, mà dao kéo đây dùng để cắt gọt cái bản mặt của em.

Cắt mắt hai mí, nâng mũi, xăm chưn mày, chỉnh răng, chỉnh hàm. Lỡ hô, mái hiên nhà nhô ra thì kéo thụt vô. Lỡ móm cái hiên nhà thụt vô thì lại kéo trở ra… Xong cái mặt, em lần lần xuống dưới, sẽ tính tới cái ngực, cái eo và cái mông.

Nghĩa là thay vì chỉ trùng tu thì em sẽ đại tu. Ðập bỏ hết ráo, theo phong trào, để tranh đua cùng chúng bạn.

Trước là ưu tiên phục vụ anh yêu trong nhà, sau tới khách hàng thương mến thương.

Nhưng em không muốn cái mũi của Nicole Kidman, mà muốn cái mũi của Chương Tử Di. Em không muốn núi đôi của Scarlett Johansson mà muốn đôi gò bồng đảo của Củng Lợi. Bộ ngực phải khủng long, cái eo phải nhỏ như eo con kiến nên em sẽ lấy bớt ra một cái xương sườn. Còn cái mông là phải to mới đã, em sẽ bơm vào chừng chục lít ‘botox’.

Lúc ấy hình dáng em sẽ cong như chữ S, vốn là bản đồ của nước ta, phình hai đầu và thắt eo ngay chính giữa.

Và khi em đã muốn là muốn có ngay lập tức. Sáng  khám, chiều leo lên bàn mổ hè!

Người phụ nữ 50 cái xuân xanh nầy, mặt sưng phù khi phẫu thuật che khuất bằng một lớp bông băng. Khi mở băng ra, như tượng sáp của Bảo tàng viện Madame Tussaud, một khuôn mặt vô cảm, quý ông anh mình chiêm ngưỡng, không biết em đang cười hay em đang khóc?

Từ đầu tới chân, chơi toàn đồ giả nhưng phước ba đời nhà em để lại là không bị tai biến, mạng vong khi nằm trên bàn phẫu thuật thẩm mỹ.

Trong nước nè, mới cách đây có vài năm thôi! Nguyễn Mạnh Tường, Thẩm mỹ viện Cát Tường, (mà xui thấy Tía), hút mỡ bụng bơm lên ngực cho khách hàng Lê Thị Thanh Huyền.

Kết quả chưa xong mà nàng đã tử vong. Tay bác sĩ vô lương nầy đem xác nạn nhân lên cầu Thanh Trì vụt luôn xuống sông Hồng.

Ra Tòa, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường lãnh 19 cuốn lịch về tội giết người.

Còn ở Sài Gòn cũng chẳng khá gì hơn. Có ít nhứt là 200 thẩm mỹ viện mở cửa nhưng chỉ có 50 là được Sở Y Tế cấp giấy phép hoạt động.

Năm rồi nhiều thẩm mỹ viện ở Sài Gòn bị đóng cửa sau khi hai em bị chết vì bơm chất lỏng vào ngực, vào môi, vào gò má.

Còn xăm chưn mày, cấy lông mi, căng da mặt, da cổ, cắt mắt hí thành hai mí, nâng mũi, hút mỡ bụng thì bị nhiễm trùng, bị bịnh viêm gan siêu vi A, B, C gì đó, lây qua đường máu, vì dụng cụ phẫu thuật không được khử trùng đúng cách thì nạn nhân của đám bác sĩ ở dơ nầy nhiều ôi vô thiên lủng.

Cũng tại cái ‘thằng’ Ðế quốc Mỹ bày đầu mà ra cả. Vì thẩm mỹ viện hiện đại đầu tiên tại Mỹ mở cửa đón khách vào năm 1910 cách đây hơn một thế kỷ rồi đó.

Thuê minh tinh màn bạc nổi tiếng, quảng cáo cho ngành kỹ nghệ, bảo trì, tu bổ sắc đẹp bằng dao kéo, hiện thời, lên tới 160 tỉ đô Mỹ một năm, ngang bằng với chi phí về giáo dục cho toàn nước Mỹ.

Tốn tiền, còn đau thấu mấy ông Trời mà em nào cũng dám làm là vì: cằm em bị nọng, xệ xuống; em phải đi phẫu thuật thẩm mỹ vì em không muốn Tổng thống Mỹ Donald Trump ân xá cho em vào ngày Lễ Tạ Ơn.

Từ Mỹ, phong trào dao kéo lan ra toàn thế giới để giờ đây Hàn Quốc đang trở thành kinh đô của thế giới về phẫu thuật thẩm mỹ, trị giá tới 20 tỉ đô Mỹ.

Tiền bạc không mua được hạnh phúc, nhưng tiền bạc có thể dùng để đi phẫu thuật thẩm mỹ.

Rồi mấy tay nhà báo (tiền nhuận bút hậu hĩ) sáng tác ra những câu chuyện dóc nhưng y chang như thiệt để dụ khị mấy em mình.

Chuyện rằng: em là người vợ đầy công dung ngôn hạnh nhưng cái nết không đánh chết cái đẹp được, vì chồng em chê em mũi tẹt, mắt hí như heo, ngực phẳng lì như cái màn hình của cái ti vi đời mới nên muốn bỏ, muốn thôi em.

Ðể níu lại tình xưa, cùng nhau dạo cái bản nhạc tình năm cũ em chỉ còn cách là đi phẫu thuật thẩm mỹ mà thôi.

Sau khi cắt mắt hai mí, hút mỡ bụng bơm lên ‘ví’, chỉnh răng hô và gọt cằm bạnh… thì đôi mắt em to tròn như hai hột nhãn, chiếc mũi cao như tháp Eiffel, cùng chiếc cằm chữ V (nghĩa là Victory, chiến thắng).

Từ Seoul, Hàn quốc bay về, Hải quan Trung quốc kinh ngạc vì không nhận ra em, cứ soi cái hình trong giấy thông hành và cái mặt em mãi.

Chúng sợ em là điệp viên của Mỹ cài qua để phá hoại đảng ta.

Về tới nhà, xa vắng bấy lâu, vừa bế con lên là nó khóc ré lên vì nó cũng không nhận ra em!

Riêng ông xã em thì rất lấy làm khoái chí, thề thốt lung tung xèng là sẽ cùng em sống tới răng long đầu bạc.

Thấy em đẹp như tiên nên má cũng vòi tiền ba em để bay đi Hàn quốc để cho hai mẹ con giống hệt như hai trái dưa leo, vì má em không muốn bàn dân thiên hạ  thấy má em không được đẹp, mà em lại hoàn toàn xinh đẹp, đem lòng nghi ngờ là em chơi đồ giả.

Ðọc được bài báo quảng cáo tinh vi nầy, nên một em có dung nhan khá mặn mà nhưng tủi thân vì ngực mình lép quá, cứ năn nỉ, ỉ ôi mẹ cho tiền đi thẩm mỹ viện!

“Tốn hết bao nhiêu hả con?” “Chừng 4,000 đô thôi!”

“Nhiều quá! Mẹ chưa có đủ tiền! Hay là, có đến đâu ta làm đến đấy. Con nâng tạm một bên ngực lên trước đã nhé! Mẹ sẽ ráng dành dụm đủ tiền, con sẽ làm thêm cái còn lại nhé?”

Thưa tui có anh bạn nhậu về Việt Nam cưới một em hương đồng cỏ nội. Về đất văn minh, em học rất nhanh, chớ không còn khờ dại như xưa.

Quan điểm sống hiện đại của em là: “Một khuôn mặt mới bước ra từ một chiếc xe cũ hơn là một khuôn mặt cũ bước ra từ một chiếc xe mới!”

Do đó anh bạn nhậu của tui không xách tiền đi mua xe mới mà tạm ứng cho em đi làm khuôn mặt mới tận bên Hàn quốc.

Ngày đón em, ra phi trường, người đẹp nào về từ Hàn quốc bước ra sao giống y hịt như nhau, như sản phẩm được sản xuất hàng loạt từ một xưởng máy vậy.

Cái đau đớn là em biến mất tăm với thằng bồ mới, nghe nói trẻ khỏe hơn anh rồi.

Anh chỉ ngậm ngùi nói: “Thôi em không còn yêu mình nữa mà bỏ trốn đi với ai kia thì cũng được đi! Nhưng đau một cái là 20 ngàn đô Úc, tiền tui dành dụm bấy lâu, bấm bụng tạm ứng cho em, giờ muốn đòi lại cho sòng phẳng thì đâu biết mặt mũi em ra sao mà đòi bây giờ hỡi ông Trời?”

Người phao tin vịt!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 23 Oct 2023

Thưa du lịch “bụi”, xưa gọi là tiếu ngạo giang hồ; giờ thì gọi là du lịch ba-lô vì du khách (back packer) đeo trên vai một cái ba lô lớn, gồm quần áo, bản đồ, điện thoại di động, chút đỉnh tiền mặt, dụng cụ cá nhân, thuốc, dầu (nhị Thiên đường để xức rún?!)…

Quan trọng hơn hết là bao cao su để cần là có ngay; chớ giữa rừng giữa bụi, có tụi mình với nhau, chớ nhà thuốc Tây nơi khỉ ho cò gáy làm sao có!

Tưởng gì chớ cái vụ nầy ông bà mình xưa có làm hàng trăm năm trước chớ đâu có phải đợi tới bây giờ đâu.

Ca dao chứng minh là tui không có nói phét đó nhe! “Đến đây gặp vịt cũng lùa. Gặp gái cũng ghẹo; (mà) gặp chùa cũng tu!”

Tui thì tối ngày chỉ quanh quẩn bên má bầy trẻ nhe! Vì nói theo một nhà thơ là: “Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt! Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà!”

Tuy nhiên, một lần, tui đâm ra chán cơm nhà, quà vợ; vì tối ngày vô ra đụng mặt hoài, thấy mà ghét; nên tui tuyên bố thẳng với em yêu rằng tui sẽ đi ‘phượt’ (tiếng bây giờ trong nước, có cùng nghĩa là đi giang hồ, đi bụi…)

Em yêu trả lời là được; nhưng chờ em ra shop Tàu, mua cho tui cái khóa trinh tiết mang vào cho nó chắc ăn. Vì em thừa biết cái thói là trăng hoa dữ lắm của chồng mình. Có em bên đời mà còn ngóng mỏ qua con nhỏ hàng xóm, nước miếng nhểu ròng ròng… Hà huống gì đi phượt một mình thì làm sao tránh được cái chuyện có cơ hội mỡ tới miệng mèo… là ‘quằm’!

Du lịch bụi thì phương tiện nào rẻ là mình đi. Hỏng cử kiêng xe đò, xe bò, xe trâu gì ráo!

Đôi khi ngoắc xe lại có xin có giang; rồi cũng thông báo cho thằng tài xế hảo tâm nầy là: Tui vốn mạt nhưng ham vui nên mới đi nhờ xe; để nó đừng nhị tâm sanh lòng tham bất tử, ra tay mần thịt Tây Ba lô như chuyện xảy ra cho một du khách người Anh trên con đường xuyên rừng bụi của Úc hơn chục năm về trước.

Ăn chỗ nào rẻ, ngon là xơi. Xơi loạn ‘cào cào’ như thế, nên có đem theo thuốc Alka-Seltzer, trị sình bụng; vì e bị Tào Tháo rượt.

Ở thì chui vào mấy cái hostel, (nhà trọ rẻ tiền) để có chỗ tắm giặt, chỗ ngủ là OK. Không chơi khách sạn năm sao (vì tiền đâu mà chơi?!). Đôi khi khách sạn ‘ngàn sao’ cũng được. Chỉ cần chui vào cái túi ngủ, ngước lên bầu trời ngàn sao lấp lánh!

Tóm lại không phải trả lệ phí cho một công ty du lịch lữ hành nào hết!

Ba lô (Tây ba lô) xài hầm bà lằng hết ráo không quá 15 đô một ngày.

“The plan is there is no plan” (Kế hoạch là không có kế hoạch nào cả).

Vui ở; buồn đi tiếp. Hết tiền thì kiếm đại cái việc gì đó có sẵn ở địa phương như hái trái cây, lặt rau cải ở các nông trại bên Úc nầy đây!

(Hay dạy tiếng Anh ở những nước như Việt Nam chẳng hạn; dù không có bằng cấp sư phạm gì hết ráo. Ai mướn là làm hè!)

Chính vì vậy, du lịch ba lô thú vị thiệt nhưng cũng có nhiều bất trắc!

Thú vị là vì khác với “đi tour”, vốn bị bó buộc trong một không gian và phải bị giới hạn thời gian theo lịch trình của thiên hạ… là mất hết tự do!

Còn bất trắc là đến một nơi lạ nước, lạ cái, lớ ngớ lơ ngơ dễ làm mồi cho mấy đứa trời ơi đất hỡi.

Rồi chung đụng với đủ hạng người thượng vàng hà cám biết đứa nào tỉnh, đứa nào điên?!

Và bi kịch cũng đã xảy ra tại nhà trọ Shelley’s Backpackers, thị trấn Home Hill, phía Nam Townsville, tiểu bang Queensland, Úc châu dành cho Tây Ba lô.

Tháng Tám năm rồi, vào ngày 23, Mia Ayliffe-Chung, mới 20 tuổi (tháng Mười mới ăn mừng sinh nhựt năm 21) nhưng bi thảm thay ngày dó không bao giờ đến cho một cô gái còn quá trẻ, yêu đời, háo hức trên con đường du lịch bụi vì Mia bị một tên loạn tâm thần tên Smail Ayad, người Pháp, dùng dao nhà bếp đâm chém cho đến chết.

Tom Jackson, người Anh, 30 tuổi, xông vào để mong cứu mạng cho Mia cũng bị tên điên nầy đâm chém vào đầu, đâm vào ngực. Tom đã hi sinh mạng sống của mình để mong cứu thoát Mia, sau một tuần cấp cứu trong bệnh viện!

Bà Ayliffe, thân mẫu của Mia, người đã từ nước Anh bay sang Queensland, để tham dự tang lễ của con gái yêu thương của mình tại Coolibah Downs.

Tang lễ được cử hành theo nghi thức hòa đồng tôn giáo: Hồi giáo, Do Thái Giáo, đạo Sikh và ngay cả Phật giáo.

Tro xác của Mia Ayliffe-Chung sẽ được bạn bè du lịch ba lô đem rải trên toàn thế giới, nơi Mia đã từng đặt chân qua trong những chuyến đi du lịch bụi của cuộc đời rất ngắn ngủi của Mia.

Cái chết của cả hai tạo ra cơn chấn động không chỉ cho toàn nước Úc mà cũng lan tới Vương quốc Anh.

Cảnh Sát Úc và Cơ quan Chống khủng bố của nước Pháp cùng mở cuộc điều tra về vụ sát nhân tàn bạo nầy; vì trong 30 nhân chứng, có người khai rằng: Trước khi giết người, Ayad đã hát quốc ca Pháp và hét lớn: ‘Allahu Akbar’ (Thượng Đế vĩ đại!)

Nhưng cuối cùng, giới chức điều tra của hai nước đều đi đến kết luận là:

“Cái chết của Mia và Tom là không phải do một cuộc tấn công của bọn Khủng bố Hồi giáo quá khích.”

Bất chấp sự thực rõ ràng như vậy, Tổng thống Donald Trump trong cuộc nói chuyện với các cấp Chỉ huy trong quân đội Mỹ tại Florida đã phê phán giới truyền thông phương Tây không tường trình đầy đủ về những cuộc tấn công do bọn Khủng bố Hồi giáo quá khích gây ra trên toàn thế giới.

Sau đó, Giám đốc Truyền thông kiêm phát ngôn nhân của Chánh phủ Trump cho công bố một danh sách 78 cuộc khủng bố lớn như xảy ra ở Paris, Orlando, và San Bernardino từ tháng Chín năm 2014 tới giờ.nguoi-phao-tin-vit-4Vì lý do đó, nên Trumptạm thời cấm dân từ 7 nước, đa phần theo Hồi giáo không được vào nước Mỹ trong 90 ngày, và tất cả những người tị nạn trong 120 ngày.

Trong cái danh sách 78 cuộc khủng bố nầy có đề cập tới cái chết bi thảm của Mia Ayliffe-Chung và Tom Jackson, quy cho bọn khủng bố gây ra. Mà điều nầy lại trái với sự thật.

Mia chết rồi, bạn bè và thân nhân đều cầu nguyện cho Mia Ayliffe-Chung được yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng, ‘Rest in peace!’ Nhưng Mia không được yên nghỉ.

Quạu quá, nên thân mẫu của Mia Ayliffe-Chung đã viết một bức thư ngỏ gay gắt cho Tổng thống Mỹ Donald Trump, đăng trên facebook như vầy:

“Đây là câu trả lời của tôi về việc ông tuyên bố rằng Tom và Mia chết là do cuộc tấn công của bọn Khủng bố Hồi giáo mà không được giới truyền thông tường trình đầy đủ.

Tôi đã nói chuyện với nhiều người bạn của Mia và những người đi du lịch ba lô khác đã từng làm việc trên nông trại và không có ai đã từng chứng kiến hung thủ Ayad trải chiếu ra mà quỳ cầu nguyện (là điều bắt buộc của các tín đồ Hồi giáo bao giờ cả!) Cái chết của con tôi không có liên quan gì tới bọn Hồi giáo cuồng tín quá khích..

Ông sẽ không được phép sử dụng cái chết của con gái tôi làm một phương tiện, một thủ đoạn chánh trị để đưa nhân loại vào chốn tối tăm của lòng thù hận!

Không nghe Chánh phủ Trump trả lời trả vốn về bức thơ ngỏ nầy hết ráo. Có lẽ vì Trump đang bận hô khẩu hiệu: An ninh của dân chúng Mỹ phải là ưu tiên hàng đầu. Lệnh cấm của Trump là cần thiết và đúng luật.”

Nhưng có người chống đối Trump cho rằng: “Lệnh cấm nầy phản lại các giá trị của người Mỹ!”

Trump lại nói: “Chủ nghĩa Khủng bố là mối đe dọa rất lớn. Một đứa học trò Trung học dở ẹt cũng biết điều đó! Tin tôi đi! Vì tôi có đọc những bản tóm tắt tình báo về đe dọa khủng bố hằng ngày mà!”

Chuyện nầy, Trump nghĩ chỉ mình ‘ên’ Trump biết… Nhưng sự thực, người Mỹ bình thường nào cũng biết!

Vì sau cuộc tấn công khủng bố bất ngờ, gây chết chóc nhiều nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ vào mùng Chín tháng Mười Một, Tổng thống George W. Bush (thuộc đảng Cộng hòa) cũng đã trấn an nhân dân Mỹ rằng: “Bây giờ dân Mỹ vẫn tiếp tục sinh hoạt như thường. Chúng ta không cho phép bọn khủng bố đạt được mục tiêu là làm đất nước chúng ta khiếp sợ để đến nỗi không dám làm ăn hay đi bất cứ nơi đâu!”

“Hoa Kỳ vẫn là một quốc gia truyền hy vọng cho những di dân đã từ bỏ tất cả cho một giấc mơ được sống tự do.”

“Đây là một đất nước nơi người dân bình tĩnh trong nguy cấp; vẫn đầy lòng trắc ẩn khi đối diện với những mất mát đau thương.”

“Chúng ta phải bảo vệ một quốc gia vô cùng rộng lớn, nên chúng ta không thể nào tiên đoán hay ngăn chận được tất cả những cuộc tấn công hèn nhát của bọn khủng bố trong tương lai. Nhưng là một quốc gia của tự do và lòng rộng mở, chúng ta sẽ thi hành những biện pháp cần thiết để bảo vệ đất nước và nhân dân của chúng ta!”

Trước Trump, Tổng thống Barack Obama (thuộc đảng Dân chủ) cũng từng tuyên bố: “Chúng ta cảnh giác nhưng không hề lo sợ! Bọn ISIS tìm cách giết những người dân vô tội. Nhưng chúng không thể nào đánh bại được nước Mỹ trừ phi chúng ta phản bội lại Hiến pháp và những nguyên tắc cơ bản của người Mỹ trong cuộc chiến đấu nầy!”

Nhưng tại sao Trump lại muốn làm dân Mỹ lo sợ trong khi những Tổng thống như George W. Bush và Barack Obama lại muốn trấn an?

Câu trả lời đơn giản là: ‘Hù’… để làm dân Mỹ lo sợ về an ninh của chính bản thân mình đã giúp ích rất hiệu quả cho chiến dịch tranh cử của Trump.

Tuy nhiên khi đã thắng cử, đã làm Tổng thống Mỹ rồi thì nhân dân Mỹ chắc muốn được chánh phủ Donald Trump phổ biến những tin xác thực.

Đừng phun ra tin vịt, tin giả mạo, bóp méo, không đúng với sự thật. Đừng ly dị với sự thực! (Divorced from reality!). Như giới truyền thông Mỹ đã ‘gán’ cho Trump (?!)

Làm Tổng thống, công bộc ‘number one’ của nước Mỹ, là để phục vụ nhân dân Mỹ. Dân làm chủ thì phải để ông chủ, tức dân, tin.

Có thì nói có; không thì nói không. Không nói được thì đừng nói! Kỵ nhứt là nói dóc!

Nghe nói Trump tính hy sinh thân già, phục vụ tới hai nhiệm kỳ, tức 8 năm lận mà! Dân Mỹ phải tin mình trung thực, minh bạch (mới biết đường mà rờ), mới tiếp tục bầu cho mình để mình còn thêm cơ hội phục vụ nhiệm kỳ 2 nữa chớ!

Làm dân tin mới khó; chớ làm dân hết tin dễ ợt hè. Đừng để dân nói: ‘Ổng mở miệng ra là ‘xạo’ thấy thương luôn!’

Một lần bất tín là vạn lần bất tin đó nhe! Hỏng có kinh nghiệm thì đi hỏi đảng Cộng sản Việt Nam là biết ngay đấy thôi!

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 23 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 35

Chiếc xe jeep chạy qua những dãy phố đông đúc rồi ngừng lại trước một đồn công an. Căn phòng phía trước là một phòng đợi trang trí công phu với bộ ghế sofa có lót da giả, một khung hình có bút hoạ bằng chữ tầu trên tường, và một chùm đèn treo thấp. Lan qúy được đặt trong chậu bằng đất nung đặt trên khung cửa sổ.
Từ sau cái quầy đối diện với lối vào, một người nữ thư ký đã đem tôi ra chụp hình, lấy dấu tay và làm một bản báo cáo ngắn về lý lịch của tôi. Khi cô ta buông tay tôi ra thì tấm kính trên bàn lại bị nhoe nhoét vì vết mực. Ngay sau đó, bọn công an áp tải tôi đi theo một hành lang dài và xô tôi vào một phòng giam nhỏ. Rồi họ dập cách cửa sắt đánh rầm để đóng lại. Tôi nghe tiếng chìa khoá tra vào ổ, tiếng khóa xoay vòng, rồi tiếng bước chân của họ xa dần.
Phòng giam sặc suạ một mùi lẫn lộn vừa của thịt ôi, của nước tiểu, và của khói thuốc. Mấy bức tường trát vữa đầy những vệt nhơ nhớp nom như là vệt máu hay là những vệt phân người. Căn phòng lạnh ngắt. Giữa trần nhà thòng xuống một cái móc sắt đã cũ mòn, mũi nhọn hoắt hướng lên trên. Ngay ở dưới là một cái bàn bằng gỗ với một cái búa tạ to kềnh bằng thép và vài cái đinh cong queo han gỉ để trên đó. Ở xa phía cuối phòng, kê sát vào tường là một cái bồn bằng sắt, to bằng cỡ cái bàn ở thư viện, chứa đầy nước bẩn, trên mặt nước nổi lều bều mấy cục phân. Hết còn hy vọng trốn tránh, tôi thu mình lại một khoảnh biệt lập duy nhất trong phòng, đó là một cái góc ở bên cạnh bồn nước. Tôi ngồi bó gối, đầu gối chống lên cằm, càng cố thu nhỏ lại thì càng tốt.
Rồi tôi lại nghe có tiếng bước chân tiến đến gần và có tiếng mở ổ khoá. Tôi thu mình lùi vào góc xa hơn nữa, và cố nín thở. Tôi không muốn cho những kẻ bắt giam tôi nhìn thấy tôi khóc, sợ họ suy diễn nước mắt là bằng chứng có tội. Hai gã công an bước vào phòng. Cái bản lề rít lên rồi sập xuống lại ầm ĩ.
Một trong hai tên bước tới, tháo dây lưng và mọi thứ đeo theo như khẩu súng trong bao da cùng băng đạn lên mặt bàn. Mặt hắn trông bình thường như bất cứ người bình thường nào ở tuổi trung niên, với mái tóc lởm chởm và cái mũi tẹt. Gã kia thì nom trẻ hơn, đứng dựa vào tường và im lặng nhìn bạn đồng sự trong tay hắn có một nắm hạt bí rang, hắn vừa cắn rôm rốp từng hạt vừa gõ nhịp mũi giầy bẩn thỉu của hắn xuống sàn. Tiếng lách cách của hắn gây nên càng lúc càng làm cho tôi hồi hộp. Hắn búng một cái vỏ hạt bí về phía gã kia và hỏi:
– Hôm qua chú ngủ được không?
Người kia nhấc khẩu súng ra khỏi bao, tháo tất cả những viên đạn ra để lên bàn, nói:
– Không. Tôi thức cả đêm trên giường với một em rất thơm ở dưới phố. Ai mà cần ngủ chứ.
Người trẻ tuổi đồng ý:
– Sướng thế! Cháu cũng chẳng ngủ được bao nhiêu, nhưng vì lý do khác. Cháu phải trực suốt đêm.
– Tôi nghe nói các cậu tóm được một cặp gái điếm dưới Vịnh Cam Ranh rồi đem nó đi diễu ngoài phố. Bắt chúng nó làm trò hề thì cũng đáng xem đấy chứ.
– Ờ, vui đáo để…
Hắn bỗng ngừng lại và nhìn quanh căn phòng:
– Này! Cái thằng oắt con ấy đâu rồi nhỉ?
Tôi co mình lại thêm nữa trong góc tối. Người lớn tuổi trả lời:
– Nó ở đằng sau cái bồn ấy. Ê! Nhãi bước ra đây mau.
Ông ta gõ khẩu súng lên cái thùng làm tôi giật bắn người, chui ra khỏi chỗ núp.
Gã công an trẻ vứt mớ hạt bí còn lại xuống đất và tiến về phía tôi. Hai bàn tay của hắn ta nom có vẻ khổng lồ, ngón trỏ và ngón cái nám nâu mầu nhựa thuốc lá, y như mầu răng của hắn vâỵ. Hắn tóm lấy cổ tôi, đẩy tôi tì vào cái thùng nước, và chẹn họng tôi làm tôi nghẹt thở. Tôi vùng vẫy để thoát ra. Mũi hắn nở to, phì phò như một con trâu điên, rồi hắn rít lên vào mặt tôi:
– Nói cho tao biết, thằng nhãi, đứa nào là chủ ghe?
Tôi khò khè, cố thì thào trả lời:
– Thưa ông, cháu đâu có biết gì. Cháu chỉ bỏ nhà đi hoang thôi mà.
– Mày thẽo thượt quá, nhưng rồi không biết mày nói dối như thế được bao lâu.
– Thưa đồng chí, cháu không có nói dối.
Hắn gằn giọng:
– Nghe kỹ đây: Tao không là đồng chí của mày.
Mặt hắn nhăn nhúm đầy vẻ thù hận..
Bất thình lình, từ phía sau tên công an trẻ, lão già kia vung tay ra một đòn trời gíáng vào giữa mặt tôi. Mắt tôi loé lên cả ngàn con đom đóm. Rồi chúng nhấc bổng tôi liệng vào cái bồn sắt làm nước bắn tung toé trên sàn xi măng. Tôi cố ngoi lên mặt nước, nhưng một bàn tay mạnh cùi cụi đã nhấn tôi chìm vào trong khối nước bẩn thỉu. Bị dìm trong thùng sắt, phổi tôi như căng phồng. Một trong hai tên nện cái vồ rầm rầm lên vỏ ngoài của cái bồn. Tiếng nước dội vào lại xuyên qua lỗ tai của tôi đau đớn như cả ngàn mũi kim. Tôi không còn biết trời trăng gì nữa nhưng bọn họ vẫn chẳng để cho tôi ngoi lên. Cuối cùng, chúng kéo tôi ra khỏi mặt nước như kéo một cái giẻ rửa bát dơ dáy.
Gã công an lớn tuổi lắc mạnh tôi, cười sằng sặc:
– Bây giờ thì mày chịu khai chưa?
Tiếng nói của họ nghe xa thăm thẳm vì hai tai của tôi đã ù. Tôi nôn oẹ và ho sặc suạ để cố tống hết những chất lỏng còn đầy trong lá phổi. Họ đẩy tôi trở lại bồn nước. Nhưng lần này, tất cả đã chìm trong một mầu đen và tôi rũ xuống trong tay họ.

° ° °

Tôi tỉnh dâỵ trong khoảng không tối như mực, hai tay bị trói ghì trước ngực. Má bên trái của tôi tì lên nền sàn bọc vải nhựa lạnh lẽo và mốc meo. Chung quanh tôi, tất cả dường như lắc lư theo một nhịp điệu đu đưa buồn nản. Rồi, ý thức của tôi bắt đầu nhận ra được tiếng động cơ nổ và cái mùi bụi đường. Tôi biết là mình đang nằm trong một cái xe lớn. Mỗi lần nó giồng lên một hòn đá, ruột gan tôi lại giật lên đau đớn. Tuy nhiên, tôi đã nôn được thốc tháo tất cả mọi thứ trong bụng, chỉ còn lại dư vị đắng nghét ở cổ họng mà thôi. Tôi tò mò chống tay ngồi dâỵ, lén nhìn qua một cái lỗ thủng nhỏ xíu trên thành xe bằng sắt.
Trời đang ban ngày. Chiếc xe leo lên một vùng núi cằn cỗi, hoang vu. Hun hút tới tận chân trời là một rừng cây trụi lá, chết đứng, rễ bám xuống lòng đất khô nứt nẻ. Tới cuối một con đường dài, quanh co khúc khủyu, xe dừng trước một cách cổng han gỉ dựng bên cạnh một dẫy các bồn xăng. Trên cổng. có một hàng chữ viết nguệch ngoạc bằng sơn đen: TRAỊ CẢI TẠO số PK 34. Và ở hàng dưới có thêm mấy chữ : Dành riêng cho tội phạm vượt biên bằng thuyền.
Trại tù được bao quanh bằng hàng rào kẽm gai, và sau này có người cho tôi biết là có cả mìn bẫy nữa. Ở cả hai phía bên cổng, những đường hào hẹp được đào chạy chung quanh khu vực, rắc rối như một mê cung. Ở bên trong có một chòi canh mái lợp tôn, ba người lính đứng gác, nghiêm chỉnh trong bộ đồng phục mầu xanh lá cây của công an, súng trường đeo trên vai. Khi chiếc xe tải dừng lại, một trong ba người leo xuống để mở cánh cổng. Bất thình lình, tấm bạt che nguyên chiếc xe được kéo tung ra. Ánh sáng chói chang ùa vào mang theo cái nóng nung nấu ở bên ngoài.
Thêm mấy người gác xuất hiện. Hai trong nhóm họ túm cái dây trói ở cổ tay tôi để lôi tôi xuống xe. Cái sân bên trong thì ngổn ngang bừa bãi những đồ phế thải. Đây đó lăn lóc các loại võ khí nặng, những quả bom Mỹ đã gỡ ngòi, những vỏ đạn súng cối và thêm cả cái xác thép của khẩu bích kích pháo. Khu vực của tù nhân bao gồm những căn trại dài, một tầng, cất theo kiểu trại lính nối liền với nhau theo kiểu tay nắm tay. Tùy theo tuổi tác và giới tính, tù nhân được cách ly trong những khu riêng biệt, phân cách bởi những hàng rào cao nghều nghệu, có nơi còn có cả bãi mìn.
Những người gác bỏ tôi một mình dưới nắng chang chang. Đây đó, tôi nhìn thấy những toán tù nhân đi theo một hàng dọc giữa những căn trại. Họ toàn là phụ nữ và trẻ em. Những cái đầu trọc phơi dưới ánh nắng mặt trời nóng như thiêu, những cái vai vẹo đi, những đôi mắt thất thần lặng lẽ nhìn xuống đất. Hình dáng họ đờ đẫn như những thây ma khiến tôi khiếp hãi quay mặt đi, không dám nhìn tiếp.
Từ bên trong một căn trại, một viên chức nhà tù sải bước đi về phía tôi. Hắn ta tuổi chừng ngoài bốn mươi, lùn tịt và ốm nhom. Đôi mắt của hắn, nấp sau cặp kính mát to quá khổ, chẳng lộ ra xúc cảm nào khi hắn túm lấy sợi dây trói và dẫn tôi đi ngang qua cái sân rộng hình vuông.
Hắn điệu tôi tới một cái miệng hầm nhỏ đào sâu xuống đất. Phía trước mặt, cách mấy chục thước là một hàng rào kẽm gai ngăn cách nhà tù với khu trại của đàn ông. Từ xa, một vài nam tù nhân lén nhìn hai chúng tôi trong khi họ cũng lê bước đi theo một hàng dọc.
Người cai ngục tháo cánh cửa sập để lộ ra một căn hầm lớn phía dưới. Ông ta nói:
– Xuống lẹ!
Tôi nhìn xuống căn hầm tối om, rộng khoảng hai thước rưỡi, dài chừng ba thước và sâu khoảng chín thước. Cái nền hầm lấp lánh phản chiếu ánh sáng và xông lên mùi nước cống nồng nặc. Có ai ở dưới đó rền rĩ than khóc nghe như từ dưới đáy điạ ngục vẳng lên. Kinh hoảng, tôi vội giật lùi lại mấy bước. Người cai ngục cởi trói cho tôi rồi hỏi gằn:
– Ê, thằng lai Mỹ, mày muốn dùng cái thang hay là để cho tao đá mày xuống?
Tôi từ từ tụt xuống cái thang bằng gỗ nằm ở dưới, hụt hẫng cách mặt đất chừng non thước rưỡi. Cái hầm giam được xây bằng gạch đỏ, chẳng có ống thông gió ngoại trừ cách cửa lật. Khi luồng khí lạnh xuyên vào da tôi như những móng vuốt của thần chết, tôi chợt nhận ra rằng mái đầu của tôi đã hoàn toàn trọc lóc giống như tất cả các tù nhân trong trại PK 34. Hẳn là trong thời gian tôi bị ngất đi, những viên công an tại Vịnh Cam Ranh đã đem cái đầu của tôi ra cạo nhẵn.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 23 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 34

Tôi bò lên cát, đầu óc quay cuồng, không có ý niệm gì về thời gian hay nơi chốn. Tôi cũng chẳng biết mình đã bơi đươc bao xa rồi. Trước mặt tôi là một bãi biển xa lạ đắm chìm trong bóng tối. Bên kia bãi cát là những bụi thông mọc dài theo một con đường hoang vắng, tàng cây dầy đặc, xoè rộng như những cái dù che ở ngoài bãi biển. Trời đất im lặng, chỉ có tiếng biển rì rào nhịp nhàng.
Tôi gập đầu người lại và oẹ hết nước biển ra bãi cát. Bắp thịt tôi run lẩy bẩy. Mặc dầu đầu váng mắt hoa, nhưng tôi cố giữ cho mình tỉnh táo. Quần áo tôi ướt mèm, sặc sụa mùi rong biển. Gượng đứng dậy, tôi loạng choạng tiến về phía lối đi để tìm một chỗ nghỉ ngơi. Một bụi thông với với những cành toả rộng xoà xuống mặt đất tạo thành một chỗ trú chân giống như một cái lều nhỏ. Tôi cúi mình chui vào trong bụi tối, đầu tôi va phải hai đôi chân trần trụi lổn nhổn bên cạnh một đống áo quần. Có tiếng đàn ông kêu lên:
– Nè bộ đui hay sao mà không thấy người ta đang làm gì đây? Tìm bụi khác đi.
Tôi thụt lùi ngay lập tức, qúa sức ngạc nhiên đến nỗi không thể thốt lên được một lời nào. May mắn thay, tôi kiếm ngay được một bụi khác, trống rỗng, cũng ở gần đó. Dưới những tàng cây rộng, rủ xuống đất như một cái vòm, tôi cuốn mình, tay chà xát lên hai vai cho ấm rồi thiếp đi trong một giấc ngủ thật sâu và không mộng mị.
Tôi tỉnh dậy trong tiếng chó sủa và tiếng chân người vội vã. Ánh nắng chiếu qua vòm cây xanh rậm rạp, đọng lên mặt đất những đốm vàng lấp lánh. Tôi nằm im thít, cầu mong sao cho cái chỗ chú ẩn có thể che dấu được tôi. Phía dưới tàng lá, cách nền cát khoảng vài tấc, là một kẽ hở, tôi dòm thấy những chiếc giầy đinh mũi sắt của đám công an bước qua, bước lại. Sự xuất hiện bất thần của họ làm tôi sợ cứng cả người. Mũi giầy đinh ngừng lại ngay trước chỗ của tôi. Một giọng thô lỗ ra lệnh:
– Bước ra ngay!
Tôi biết chẳng còn cách nào khác là tuân lệnh, nhưng trước khi tôi kịp làm chuyện đó thì lại có tiếng loạt soạt ở bụi bên cạnh. Rồi lại vẫn cái giọng la tôi lúc trước, bây giờ run rẩy cất lên:
– Tụi em sẽ bò ra, xin các anh đừng bắn!
Tôi hé mắt nhìn qua những kẽ hở trên lá thông. Một cặp trần truồng như nhộng, lưng quay về phía tôi, đang đứng cúi đầu trước ba người công an. Một con chó bẹc- giê sọc mũi vào đống quần áo của họ lúc này đang treo trên mũi cây súng trên tay gã công an. Hắn ta ghim sợi dây buộc trên cổ con chó để cho nó đứng yên và nói với cặp tình nhân:
– Cho coi chứng minh nhân dân.
Người đàn ông mò mẫm trong bộ quần áo của mình và moi ra được cái bóp. Bỗng nhiên con chó hếnh cái đầu lên về phía tôi và nhe răng ra, gầm gừ. Hết hồn, tôi nhẩy ngược trở lại. Thế là con chó tru lên. Một tên công an nói:
– Hà hà… bên kia có thêm mớ rác rưởi nữa kìa!
Tôi cứ lùi mãi, đến khi thân mình đụng phải thân cây. Một mũi súng đen ngòm thọc qua và chĩa thẳng vào ngực tôi, tay công an cầm súng nói:
– Còn không chịu ra hay sao?
Tôi lách ra ngoài, hai tay giơ cao. Một tay công an túm lấy cổ áo phía sau của tôi, xách lên. Hắn lộ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi:
– Mày làm cái chó gì ở đây thế, hả nhãi con?
Họng súng của gã thúc vào bụng tôi, đằng đằng sát khí. Tôi ấp úng:
– Em… em đang ngủ
Lông mày của hắn nhướng lên:
– Ngủ ngoài bãi với bọn đĩ điếm và đám chôm chỉa này à? Mày là thứ lang thang không nhà hả?
– Dạ, thưa không.
– Có giấy tờ gì khổng
– Da. thưa không.
– Mày sống ở đâu?
– Nha Trang. Khóm sáu.
Gã quay lại phía đồng bọn hỏi:
– Các đồng chí, mình xử lý cái này sao đây?
Một người trong đám họ đẩy cặp trần truồng qua một bên và xông lại phía tôi. Khuôn mặt hốc hác của hắn với đôi gò má cao và xương quai hàm dài ngoãng, banh ra khi hắn nhìn thấy tôi. Đằng sau bộ ria thưa thớt, hắn nhếch cặp môi mỏng dính ra và cười gằn:
– Mày có biết chỗ này là chỗ nào không hả, thằng nhãi?
Tôi lắc đầu. Tránh không nhìn thẳng vào mắt hắn và con chó, tôi cúi xuống, chú mục vào đôi chân đất của mình. Váng rêu xanh cáu trên những lớp nhăn ở da tôi.
Gã công an soi mói nhìn bộ quần áo nhàu nát của tôi. Cuối cùng hắn ta chộp lên tóc tôi, lôi ra một sợi rong biển, và hỏi:
– Ê, nhỏ. Mày ra đây bơi lúc nào vậy?
Tôi trả lời:
– Đêm hôm qua.
– Mày làm gì ở cái bãi biển cách xa nhà tới bẩy chục cây số, lại bơi trong đêm, lại ngủ trong bụi.
Mắt hắn ta hau háu nhìn vào mặt tôi như con sói đói môì:
– Bộ mày tưởng tao là thằng ngu hả? Những đứa vượt biên như mày hiện giờ đang ở đâu?
Tôi chợt nghĩ ra một câu nói dối, tuy rằng không hay lắm, nhưng tôi vẫn túm lấy như một lá bùa hộ mạng:
– Em đâu có đi vượt biên. Mà em cũng chẳng biết vượt biên là cái gì. Em chỉ bỏ nhà đi thôi vì ở nhà em bị hành hạ quá. Em cũng không hiểu tại sao lại thành ra ở đây.
Quay về phía đồng đội, gã công an nói:
– Tôi không tin thằng nhóc này. Người nó tanh tưởi quá. Gắn cho nó cái vây và cái đuôi, nó hẳn ra thành một con cá. Tôi dẫn nó về đồn và bắt nó khai. Hai đồng chí dẫn cái con điếm và cái thằng quỷ kia đi dòng dòng quanh bãi biển để daỵ cho chúng bài học. Rồi lục soát bờ biển coi có tìm thấy thêm đứa nào vượt biên không.
Hắn ta túm lấy vai tôi và lôi xuống đường phố. Trời đã bắt đầu sáng. Phía chân trời ửng mầu tím, mặt trời chói lọi đã xua tan đi bóng tối cuối cùng. Bên kia hàng dừa, phố xá từ từ thức dâ.y. Tiếng bát đĩa, đồ dùng trong nhà đang khua loảng xoảng và tiếng gà gáy rộn rã vang xa. Hắn kéo tôi lên một cái dốc, tới chỗ hắn đậu chiếc xe jeep. Còng hai tay tôi ra sau lưng, hắn xô tôi vào băng ghế sau rồi lái đi, tay nhấn còi để ra hiệu cho các đồng đội. Trên vỉa hè, cặp nam nữ đang bị điệu đi chậm chạp, hai tay của họ chắp ra sau gáy. Khệnh khạng ở phía sau họ vài bước là mấy tên công an, tiếp tục chọc mũi súng vào hết bụi này tới bụi khác để lùng kiếm những kẻ trốn chạy.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 23 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 33

Vòng nước sâu cuốn tôi và dì Đặng vào một dòng xoaý dữ dội. Nhờ nhiều năm lớn lên ở gần bờ biển, nên tôi biết cách thả nổi mình theo những đợt sóng dữ. Tôi đạp chân để trồi lên và bàn tay của dì Đặng tuột khỏi tôi.
Khi nổi lên mặt nước, tôi chỉ thấy xung quanh tôi tất cả là đại dương mênh mông nhấp nhô trong đêm tối nhưng đều không phải là dì Đặng. Con xuồng vẫn còn ở gần đó nên tôi có thể nghe thấy tiếng cười man rợ của mấy người thợ đốn gỗ. Tiếng kêu gào của người chị gái Văn nghe vẳng lại như cách xa thăm thẳm. Tôi gào lên:
– Dì ơi. Dì đâu rồi. Dì Đặng ơi, trả lời con đi.
Tiếng nước vỗ làm tôi giật mình. Nhìn ra chung quanh, tôi thấy dì Đặng đang vùng vẫy một cách tuyệt vọng để giữ cho đầu nổi lên mặt nước. Dì trông thấy tôi nên quẫy mạnh hơn lên. Tôi bơi lại phía dì, túm được eo của dì rồi đẩy dì lên cao. Dì ho sặc sụa và gấp gáp thở một vài hơi thật sâu. Tôi đỡ lưng của dì lên và thả dì nằm ngửa trên mặt nước. Những ngọn sóng bập bềnh có vẻ khiến cho dì dịu lại. Tôi nói nhỏ với dì:
– Cứ xả hơi đi dì, bây giờ yên ổn rồi.
Răng của tôi đánh vào nhau lập cập vì cơ thể đã bắt đầu nhiễm lạnh. Dì nói với tôi dịu dàng, đôi mắt nhắm nghiền lại:
– Cám ơn, cưng.
Chúng nổi bập bềnh như thế trong vòng nửa giờ cho đến khi trời lại đổ mưa. Nước tuôn từ trên trời cao xuống còn ấm áp hơn là nước mà chúng tôi đang ngụp lội trong đó. Khổ một nỗi là gió lại thổi lên, xô đẩy những đợt sóng trở nên cao hơn. Dì Đặng cứ nức lên mỗi khi bị sóng tạt vào mặt. Tôi nói với dì:
– Mình sẽ cưỡi lên sóng đi dì à. Dì có hiẻu không. Dì cố đẩy cho thân mình cho nổi lên để cho nước trôi ở bên dưới. Dì có làm được không?
– Được, cưng ơi.
Nhưng đã quá trễ. Phản chiếu trong đôi mắt thất thần của dì là một ngọn sóng mạnh mẽ, cao nghều nghệu trồi lên trên mặt biển. Nó ụp xuống chúng tôi như một đống gạch. Tôi giữ chặt lấy dì trong khi chúng tôi bị đẩy dúi xuống. Dì quơ lấy mặt tôi, cố gắng trèo lên trên đầu tôi. Sau cùng, chúng tôi nổi trở lên mặt biển. Dì Đặng nôn tháo ra những khối nước đã bị nuốt vào. Mặt dì tái mét và lòng trắng con mắt của dì dại lên lập loè trong bóng tối. Đẩy tôi ra xa, dì nói một cách tuyệt vọng:
– Đi đi!
– Không. Dì nghe con, bình tĩnh lại.
Dì vùng vẫy để thoát ra nhưng tôi vẫn kéo dì lại.
– Đừng. Buông dì ra đi.
Tôi la lớn:
– Con xin dì, dì ơi. Dì cào con đau quá.
Dì đập tay xuống nước rồi rờ lên mặt tôi bằng bàn tay buốt giá. Giọng dì cương quyết:
– Không, cưng ơi. Buông ra đi. Dì mệt lắm không còn tiếp tục được nữa rồi. Dì không muốn con chết theo dì. Khi gặp lại mẹ thì cho dì gởi lời chào mẹ.
Rồi khuôn mặt của dì đầm đìa nước mắt:
– Để cho dì đi gặp lũ con của dì.
Đôi mắt của dì lạc thần nhìn qua vai tôi. Dì nói:
– Kìa kìa. Chú Đặng đang chờ dì đó.

Bằng một cái đẩy mạnh, dì tuột ra khỏi tay tôi và chìm xuống nước. Tôi nhoài lại phía dì nhưng dì lại đẩy tôi ra xa. Ở dưới mặt nước, khuôn mặt trắng bệch của dì nở một nụ cười dịu dàng với tôi trước khi bóng tối phủ chụp lên dì. Tôi ngước mắt lên bầu trời ẩm sũng và chợt nhận ra rằng còn lại có một mình. Tôi nức nở:
– Đừng, dì Đặng ơi. Dì trở lại với con đi.
Tôi đập mãi tay xuống nước, tuyệt vọng:
– Xin đừng bỏ con một mình. Con sợ quá dì ơi.
Tiếng của tôi lan một cách vô vọng trên mặt biển. Quanh tôi, mưa tạt xuống thành những tiếng rít nho nhỏ. Cái ý nghĩ về hàng ngàn thước sâu dưới biển chứa đầy những quái vật ẩn núp làm tôi choáng váng vì sợ hãi. Tôi bắt đầu bơi về hướng tây, nương theo ánh sáng mờ nhạt của sao Bắc Đẩu làm chuẩn và khóc không ngừng trong mỗi sải bơi.
Tôi không rõ là mình đã bơi trong bao lâu. Chỉ biết là tôi đã trượt trên mặt nước như thể đang chaỵ việt dã trên bộ. Ý nghĩ quyết sống đã làm tăng sức mạnh của tôi với một ý tưởng duy nhất: Bơi về phía trước. Rồi tôi lại liên tưởng đến căn nhà ấm áp của tôi, có đồ ăn nóng sốt vừa mới nấu và một ly trà nóng bốc khói. Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Và tôi hăm hở căng mắt ra để tìm dấu vết của đất liền.
Bỗng nhiên, bắp thịt ở dưới eo lưng của tôi thình lình thắt buốt, cơn đau chaỵ vào thấu xương sống và làm cách tay bên mặt của tôi bị tê liệt đi. Cái ngã từ trên cành cây chiều hôm ấy còn để lại vết bầm và bây giờ các mô thịt bị rút chặt cơn đau thắt. Để dịu cơn đau, tôi đổi qua kiêủ bơi nghiêng một bên giống như con cá đã bị gẫy một vây. Lát sau, tôi nằm ngửa ra và để cho mình nổi bập bềnh. Những đợt sóng xáo động xoa bóp bắp thịt, tạm thời làm giảm cơn đau của tôi. Rồi ý chí muốn sống lại bừng lên và tôi lại tiếp tục bơi về hướng tây.
Thời gian cứ thế lê đi. Da của tôi giộp lên vì nước mặn. Tôi cố uống những giọt mưa, nhưng không nhận ra rằng mỗi khi tôi há miệng ra, tôi không khỏi hớp phải nước biển, làm cho cơn khát trở nên dữ tợn hơn.
Sau cùng, mưa cũng tạnh. Bầu trời trải ra như một tấm “drap” rộng rãi, chi chít những vì sao, toả rộng khắp mọi nơi. Ánh trăng tô lên những gợn sóng lăn tăn quanh tôi một mầu bạc như mái tóc của ông tôi. Tôi giơ cả hai tay lên và cười điên dại. Những ngón tay của tôi nhễu xuống từng giọt nước bóng ngời, lấp lánh ánh kim loại nom như những giọt thủy ngân. Trên mặt biển, những vệt sáng lốm đốm nhảy múa như vẫy gọi tôi nhập cuộc. Thời gian tan hoà vào không gian đẩy tôi trôi vào trong lãng quên.
“Đi xuống đây chơi đi” tiếng biển thì thầm vào tai tôi, hát mãi những lời ca hạnh phúc của một sự tự do mới. Sự sợ hãi không còn mang ý nghĩa gì nữa, kể cả nỗi đau đớn. Một sự an tĩnh tuyệt đối đang lan toả vào tận đường gân, thớ thịt của tôi, thì thào với tôi là hãy rũ bỏ mọi sự kháng cự. Như một đứa trẻ biết vâng lời, tôi không bơi tiếp nữa. Tôi để cho mình tự chìm xuống trong làn nước ngập trên đầu và cuốn tôi đi vào trung tâm của trái đất. Nhưng ngạc nhiên biết bao, đang chìm, tôi chợt ngừng lại. Bàn chân của tôi đụng phải một lớp cát nhám xì. Đầu óc tê cứng của tôi chợt lóe lên một tia sáng: Đất liền! bờ biển hẳn là không còn cách đây bao xa.
Tôi vọt lên như một viên đạn, vận dụng hết sức mình để bơi về phía trước. Biển cả thờ ơ đã nhả tôi lên một bãi cát. Tôi ôm choàng lấy nền cát ẩm và mừng rỡ hơn lên.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 23 Oct 2023

Chiếc “hồ lô” của Thân Lân

Đặng Chí Bình

Bài 39

Có lẽ trời đã vào giữa hay cuối Thu. Những chiếc lá nứa từng ngày đổi thành mầu vàng đậu phụ rán. Một vài làn heo may lảng vảng làm ráo hoảnh những đám rêu đầu hè, làm những làn da tay chân căng ra lăn tăn, gờn gợn ngứa. Hương Thu nồng nồng, ngai ngái thấp thoáng trong bụi chuối đầu giếng. Hẳn trong rừng sâu đã có những chú nai vàng ngơ ngác đang đạp trên những lá vàng khô.

Sáng hôm nay đang lúc trại chia sắn sớm, có tiếng một con chim kêu rất lạ trong bụi nứa già phía cuối hội trường. Cứ một đợt 3 tiếng một: hù lú… hù lú… hù lú…

Gợi trí tò mò, cầm đĩa sắn luộc chạy về phía bụi nứa, tôi vừa ăn vừa ngấp nghé nhìn trong đám lá nứa rậm xì. Kìa rồi, cho tới lúc nó hót tôi mới nhìn thấy. Những hai con, mà chỉ có một con hót. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy loại chim này. Chiếc mào mầu nâu tươi gồ lên, một chiếc lông trắng như bông đang ngoe nguẩy với gió trên chỏm của chiếc mào, trông như chiếc ngù của một vị hầu tước. Đặc biệt là cái đuôi mầu xanh cánh chả dài thuổng, nhọn hoắt, cứ ưỡn lên rồi hạ xuống liên hồi. Cái con mình hơi nhỏ hơn, cứ thỉnh thoảng lại cất tiếng hót lạ; trong khi con lớn hơn đứng bên cạnh, có lẽ là con trống, thỉnh thoảng lại quay nhìn con mái. Mỗi khi con mái hót, tôi nhìn và lắng nghe kỹ; rõ ràng con trống lại hơi gật gật cái đầu và có tiếng ừ ừ … rất nhỏ.

Cứ mỗi lần con mái kêu “hù lú” thì con trống lại “ừ” rồi chúng cùng nhìn xuống chiếc hè phía sau hội trường. Ở đấy có anh chàng Thân Lân, người tù đơn độc, cách biệt hết với mọi anh em tù trong trại. Anh đang ngồi riêng biệt một mình nhai sắn, bên cạnh chiếc lọ thần kỳ mà từ anh em trong trại cho đến những tên cán bộ đều gọi là chiếc “hồ lô” của Thân Lân.

Tôi ngồi bần thần, đôi khi đưa mắt nhìn đôi chim vẫn đu đưa trong bụi nứa. Tai thẫn thờ chờ nghe tiếng chim hót lạ hòa với gió heo may như tiếng của mùa Thu gọi nhịp cho núi rừng. Tiếng chim hót lúc này tôi lại nghe ra là hồ hô… hồ lô… hồ hô… vì cũng là lúc Thân Lân đã ăn sắn xong, anh đang dốc ngược chiếc “hồ lô” vào miệng để đón nhận một ngụm đầy cái nước đùng đục, lờ lờ mầu cánh cam phía bên trong.

Chiếc “hồ lô” có sức kéo tôi khỏi bụi nứa, rời đôi chim lạ để tiến về chỗ Thân Lân. Hơn nữa gần 4 tháng nay, từ ngày Thân Lân ở trại Vĩnh Tiến chuyển về, hầu như anh chẳng nói chuyện với ai. Anh chỉ thích lủi thủi riêng biệt một mình nên càng gợi trí tò mò của tôi.

Ngay từ những ngày đầu tôi đã để ý thái độ lạnh lùng, cách ly với mọi người của anh. Gôm và các anh em ở trại Vĩnh Tiến về cho biết, anh là cán bộ tập kết, hình như ở Quãng Nam hay Quãng Ngãi gì đó. Người ta không biết cấp bực của anh, chỉ biết anh là bộ đội chính quy. Anh bị bắt vì tội phát biểu rộng rãi, bậy bạ, không đúng đường lối chính sách của đảng nên bị ghép vào tội có tư tưởng xét lại v.v… đã ở tù 6 – 7 năm rồi. Anh cũng mang cái án cao su tập trung cải tạo 3 năm. Trông người của anh rất khó đoán tuổi. Có thể 30 mà cũng có thể 40 (1968). Bởi vì anh không có râu, nước da lại mai mái, chỉ cao khoảng 1 mét 55 hay 57. Ngay cái tên Thân Lân, từ các cán bộ cho đến anh em cả trại đều gọi như vậy, cho nên không rõ “Thân” là họ của anh, hay chỉ là tên đệm?

Mùa Hè, bất cứ ngày hay đêm lúc nào anh cũng cởi trần trùng trục, mặc mỗi chiếc quần đùi từ chiếc quần dài cũ của trại xé ra. Đặc điểm là anh có cái bụng tương đối vĩ đại. Thành ra nhiều lúc trông người của anh nó giống hệt con ễnh ương. Về tính tình của anh cũng có cái đặc biệt. Anh lao động trên tinh thần tự nguyện, tự giác. Nghĩa là có cán bộ cũng vậy; không có cán bộ cũng thế. Tổ, toán hay cán bộ giao cho anh ta làm phần việc gì (làm riêng). Anh làm có ý thức trách nhiệm cho tới xong. Ai ngồi chơi mặc, anh chưa làm xong thì cứ lầm lủi làm. Ngược lại, ai làm cứ làm, xong việc là anh ngồi chơi. Hoặc khi thấy bụng đói quá là ngồi, dứt khoát không làm nữa dù có đưa anh ta vào cùm. Anh không hề gian tham hay tố giác bất cứ một ai bao giờ.

Chẳng biết từ khi nào, và anh kiếm ở đâu; ngay từ ở trại Vĩnh Tiến, anh đã có một cái chai thủy tinh trắng, cổ rụt, cao độ 25 phân, dung tích khoảng chừng một lít rưỡi. Không có nút nên anh đã nhờ ai hay chính anh đã làm một cái nút bằng gỗ thay vào.

Chiếc chai này đã làm cho Thân Lân phải đi cùm mấy lần ở trại Vĩnh Tiến cũng như ngay ở trại E này. Khi anh mới về đây được hơn nửa tháng cũng đã phải vào nhà kỷ luật 12 ngày vì cái chai đó mà Hoàng Thanh cuối cùng phải nhượng bộ. Chiếc chai của anh dùng để chứa tất cả những cái gì có thể ăn hay uống được trên cái cõi đời này. Bữa cơm anh đi lang thang nhìn các chỗ, nơi người ta ăn uống. Có những anh tài ba xoay xở kiếm chác được con cá, lá rau, đôi khi con chuột hoặc bồ nhông v.v… Đĩa bát của họ ăn rồi thừa tí chút anh đến xin rồi trút, vét hết vào chiếc lọ của anh: mấy cái xương cá, tí nước rau thừ, dăm ba cái xuơng chuột, xương ếch. Đôi khi anh bắt được co gián, con ngóe, con bọ xít… nghĩa là bất kể con gì; ngay những đồ ăn của chính anh; những ngày trại có tươi, ngày lễ, ngày Tết, còn bao nhiêu anh đều dồn vào chiếc lọ đó.

Do nhiều ngày tháng dài, tất cả mọi vật trong chiếc lọ đó đều rữa mục, không những thịt, da, rau cỏ mà cả xương chuột, ngóe, rắn v.v… cũng đều tan ra nước hết, chỉ có những mảnh xương ống chân của lợn hay trâu thì mới không thể tan được mà thôi, để thành một thứ nước đùng đục, nhờn nhờn; có khi là mầu xanh xám, có khi là mầu nâu đậm. Chẳng ai biết cái vị của cái nước ấy ra sao.

Cơm nước, anh thường tìm một xó hay một chỗ riêng biệt ngồi một mình. Cứ sau mỗi bữa cơm, anh thường tu một ngụm cái nước đó. Nước cứ vơi đi lại đầy lên, bao giờ cũng gần lưng lọ, không bao giờ cạn. Anh chẳng ốm đau, bệnh tật gì, lại không hề làm phiền hà gì ai, do đấy cũng có nhiều người có thiện cảm gọi anh, để cho anh ít thức ăn thừa hay canh thừa.

Chiếc lọ luôn luôn gắn liền với anh như tay hay chân của anh vậy. Ngày đêm, khi ăn, khi ngủ, khi lao động, lúc nào anh cũng đeo nó ở cạnh sườn. Cũng có nhiều lần, nhiều anh em, thậm chí cả cán bộ cũng đồng ý, chờ rình lúc anh ngủ say đã lấy chiếc lọ của anh giấu đi. Mục đích giúp anh, ngăn anh, không cho anh dùng cái loại nước mất vệ sinh như vậy. Nhưng khi anh tỉnh dậy, thấy mất cái lọ, anh đã lăn ra giẫy đành đạch kêu ban giám thị, kêu cán bộ, kêu chính phủ trả lại cho anh chiếc lọ đó. Dứt khoát không chịu đi lao động, dù đưa vào nhà kỷ luật; mặc ai nói sao, thí đố anh thế nào cũng chỉ một mực yêu cầu trả lại anh chiếc lọ.

Anh em trong tù cũng như cán bộ thấy rằng, anh không hề chống đối ai, lao động thì tốt. Anh cũng không làm ảnh hưởng hay làm mất vệ sinh đến người chung quanh. Cuối cùng rồi cũng đành trả lại chiếc lọ nước thánh cho anh, và anh lại ngoan ngoãn tiếp tục đi lao động như thường.

Nhưng rồi chắc Hoàng Thanh cũng đã được nghe cán bộ báo cáo về Thân Lân. Và hẳn Hoàng Thanh cũng nghĩ rằng chỉ vì các cán bộ yếu tay, thiếu bản lĩnh cho nên đã không trị được Thân Lân chứ hắn vẫn có bàn tay sắt mà biết bao nhiêu những tên phản động trước đây, mọc bao nhiêu cái sừng. bao nhiêu cái ngà cũng đều hoặc bị tiêu diệt, hoặc lậy van xin chừa. Có một điều Hoàng Thanh đã quên là ở đây Thân Lân không hề chống đối ương ngạnh.

Bởi vậy, một buổi trưa Hoàng Thanh vào trại, y lững thững đến toán 2, tới chỗ Thân Lân đang ngồi ăn cơm một mình ở góc hè. Y cúi xuống cầm chai nước lên hỏi Thân Lân, nước gì bên trong? Thân Lân đã trả lời đấy là nước uống của anh.

Hoàng Thanh quay lại đưa chiếc lọ cho tên trật tự Tân đi theo phía sau, ra lệnh:

– Đem quẳng chiếc lọ này đi! Và cấm Thân Lân từ nay không được uống cái nước bậy bạ mất vệ sinh như vậy nữa.

Thân Lân đã nằm lăn ra gào thét đòi lại, để cuối cùng phải vào kỷ luật. Ngày đêm từ nhà kỷ luật, Thân Lân vẫn ầm ĩkêu xin đảng, nhà nước, ban giám thị xin trả lại cho anh chiếc lọ. Thân Lân bị vào kỷ luật đã được mấy ngày; đêm qua lúc gần sáng, tôi giật mình thức giấc vì một cơn mộng hãi hùng. Nằm ngay cạnh cửa sổ phía sàn trong, trằn trọc mãi tôi vẫn chưa dỗ lại được giấc ngủ còn dang dở. Trong cái vắng lặng của đêm khuya, thỉnh thoảng một vài tiếng kêu của thú rừng văng vẳng vọng về, nhưng tiếng kêu nài than thở của Thân Lân từ nhà kỷ luật lại nghe rỏ mồn một. Giọng anh hơi lạ, đùng đục, khàn khàn như thiếu nước hoặc đã phải nói quá nhiều hay quá mệt. Lúc thì nức nở, tha thiết: – Thưa bác Hồ kính yêu, cháu đã phải chia tay với cô Lành, mối tình đầu và rời xa cả bố mẹ của cháu, nghe theo lời bác kêu gọi, trở về quê hương của cách mạng để được gần bác, đến nay đã mười mấy năm rồi.

Nhưng có lúc thì nghe sôi nổi, dứt khoát:

– Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hơn 6 năm dài trong đơn vị, cháu đã nổ lực liên tục phấn đấu gian khổ trong công tác cũng như trong học tập. Kết quả cháu đã được toàn tiểu đoàn bình bầu là chiến sĩ thi đua và vinh hạnh to lớn là đuợc kết nạp vào đảng Lao Động Việt Nam vinh quang. Ngày nay cháu xin trả lại đảng tịch và cả bằng “chiến sĩ thi đua” để đổi lại cái lọ. Xin bác hãy ra lệnh cho ban giám thị trả lại cái lọ cho cháu.

Lòng tôi đã não nuột, ê chề, nằm nghe Thân Lân kể lể, than van trong đêm lạnh càng làm cho hồn rã rời lịm dần vào biển đắng.

Ba ngày, năm ngày rồi cả tuần lễ vẫn thế. Chắc rằng cũng có một số cán bộ mủi lòng nên đã đề ý kiến với Hoàng Thanh chăng? Mãi đến ngày thứ 12, buổi chiều Hoàng Thanh vào nhà kỷ luật. Chả hiểu có cuộc chuyện trò qua lại giữa Hoàng Thanh và Thân Lân sao đó. Chỉ biết, sau đấy Hoàng Thanh ra lệnh thả cùm cho Thân Lân và bắt tên trật tự Tân mang chiếc lọ trả lại cho anh ta. Và từ đấy, không những anh em trong tù mà cả cán bộ đều gọi chiếc lọ ấy là cái “Hồ Lô” của Thân Lân.

Nhìn cái bụng của Thân Lân nhiều lúc tôi và Gôm hỏi đùa nhau: chẳng biết ở trong đó chứa cái gì mà to thế? Mỡ thì chắc chắn chả có rồi; vậy thì giun, sán hay một thứ ký sinh trùng gì khác? Chúng tôi cũng tự bàn tán, đây là một luật trừ, một trường hợp đặc biệt của một con người do hoàn cảnh tạo nên. Chúng tôi tin rằng bất kể một ai, nếu uống cái nước nhờn nhợn đó vào, nếu không ngỏm củ kiệu thì cũng nằm ốm liệt giường, liệt chiếu; vậy mà Thân Lân lại không sao cả. Biết bao nhiêu loại vi trùng và dơ bẩn ở trong nước ấy. Hẳn cơ thể của anh đã tạo lập được một chất miễn dịch đặc biệt, khác với mọi người.

Chưa hết, Thân Lân còn một việc làm đặc biệt nữa mà ai ở trong trại cũng không thể quên được. Anh ta chẳng có thân nhân, nên cả năm chả gửi hay nhận thư của ai.T uy vậy, suốt năm đi lao động làm việc ở chỗ này hay chỗ khác; thấy từng mảnh giấy to, nhỏ dù dơ bẩn, anh ta cần cù rửa sạch rồi phơi phóng. Những buổi trưa, hay những ngày Chủ Nhật không có lao động xã hội chủ nghĩa, lủi thủi một mình mầy mò, anh ta ghép, dán thành từng tờ giấy to tương đối rồi xếp cất đi. Cứ như vậy cho đến gần ngày Quốc Khánh mồng 2 tháng 9 mỗi năm. Năm thì anh ta viết lá đơn to như tờ báo xin đề nghị Quốc Hội sửa lại điều khoản này, điều khoản kia trong hiến pháp. Năm thì làm đơn gửi chủ tịch nước là bác Hồ, xin cho sửa sang lại thành phố Hà Nội.

Mồng 2 tháng 8 vừa qua, trước ngày có lớp học tập “Lập công chuộc tội, chống Mỹ cứu nước”, tôi, Gôm và nhiều anh em khác đã theo dõi để ý. Thân Lân hý hoáy bao nhiêu ngày để vẽ một số kiểu xe tăng, một số khẩu pháo, mìn và lựu đạn. Anh ta vẽ tượng trưng và có chú thích từng bộ phận. Rồi anh viết một lá đơn khác, lời lẽ rất trang trọng, nghiêm chỉnh. Đề nghị ông bộ trưởng bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp; cải tiến một số xe tăng, một số pháo hiện nay của quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tuy không có phong bì, nhưng anh gấp gọn ghẽ. Sáng ngày mồng 2 tháng 9. Khi Hoàng Thanh và đoàn cán bộ tề chỉnh, quần áo tươm tất trong ngày lể trọng đại hàng năm, vào trại dự lễ. Chờ cho ban giám thị trên bục nói chuyện vừa dứt, ở dưới, bất ngờ anh xông lên. Hai tay anh đưa nộp tận tay ban giám thị tờ đơn và bản sơ đồ nói trên.

Lần đầu, thấy Thân Lân xồng xộc đi lên chỗ khán đài, Hoàng Thanh và các cán bộ đều ngỡ ngàng, ngơ ngác. Mãi cho tới khi Lân hai tay đưa tập đơn nhờ ban giám thị chuyển lên đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hoàng Thanh mới thấy là chuyện vớ vẩn, lằng nhằng, nên y quắc mắt, gạt tờ giấy ra, không nhận và bắt Lân về chỗ. Nhưng Lân vẫn cứ lỳ ra dứt khoát không về chỗ nếu ban giám thị không nhận lá đơn của anh ta. Có lẽ cán bộ giáo dục đã đọc kỹ hồ sơ của Lân rồi, nên đã nói nhỏ cho Hoàng Thanh biết. Bởi vậy Hoàng Thanh quay lại nhận lá đơn của Lân đưa. Lúc đó anh mới chịu trở xuống ngồi vào chỗ.

Rồi từ đấy thành cái lệ, cứ mồng 2 tháng 9 nào cũng vậy. Từ giám thị cho đến các cán bộ, cũng như anh em trong trại đều đã hiểu. Ban giám thị cứ nhận đơn rồi ném vứt đi, bởi vì trong lá đơn không hề có lời xỏ xiên, hỗn xược. Vả lại, dù sao cán bộ cũng đánh giá Lân đã là người ít nhiều bất bình thường.

Cứ như thế, thời gian trôi chảy mãi cho đến hơn một chục năm sau. Năm 1980, tôi vẫn gặp Thân Lân ở trại Thanh Phong, Thanh Hóa. Vẫn chiếc “hồ lô” ấy, vẫn cũng đơn từ hàng năm vào dịp mồng 2 tháng 9, và vẫn chiếc bụng to của con ễnh ương ngày xưa, tuy da mặt Lân có nhăn thêm, và tóc của Lân đã có sợi đổi màu. Anh vẫn sống nhăn ra; trong khi nhìn lại những người cùng thời gian ấy, đã nhiều người vĩnh viễn nằm xuống trong lòng đất lạnh của quê hương nhiều năm máu lửa rồi.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 23 Oct 2023

Đời tù cũng có cái vui

Đặng Chí Bình

Bài 38

Tôi đã nói nhiều về Nguyễn Văn Gôm chỉ vì Gôm đã trở thành người bạn tư tưởng của tôi. Hàng ngày chúng tôi chuyện trò với nhau thật là thoải mái tâm đắc, tin cậy lẫn nhau. Tôi nhớ lại, chỉ sau mấy ngày Gôm ở trại Vĩnh Tiến chuyển về. Tôi để ý một anh cứ vào những buổi trưa, hoặc buổi tối sau giờ sinh hoạt của toán hay tổ. Anh có một ngọn đèn con tí làm bằng chiếc lọ Peniciline; anh ngồi miệt mài đọc sách. Cho đến một buổi tối hôm ấy, một tên bộ đội đi đi, lại lại gác bên ngoài đã đập báng súng vào cửa sổ chỗ anh ta đang ngồi đọc sách quát inh ỏi:

– Anh này đọc sách gì đấy, đưa đây coi!

Tiếng quát làm cho nhiều người quay lại theo dõi. Từ mấy hôm trước tôi cũng đã hơi tò mò muốn biết anh đó đọc loại sách gì nên tôi đã tiến lại gần chỗ tên bộ đội. Tên bộ đội, lôi cuốn sách ra ngoài song cửa, dùng đèn bấm coi; y lật, mở các trang sách; y cho sát miệng vào cửa sổ dằn từng tiếng như hạch hỏi:

– Sách gì mà toàn hình thế này?

Anh đọc sách có một cái cười thật đáng ăn quả thụi, anh ta còn nhay nháy mắt trả lời:

– Sách “Maths” của Liên Xô đấy!

Chắc thấy nói tới Liên Xô nên giọng tên bộ đội dù còn vẻ thắc mắc nhưng đã dịu hẳn lại. Y thò cuốn sách vào trong song cửa trả lại:

– “Mát” là cái gì? Cứ vẽ bậy, vẽ bạ thôi à!

Anh đó cầm lấy cuốn sách, nụ cười riễu cợt lại càng xòe rộng thêm ra. Anh quay lại cũng vừa bắt gặp cái cười đồng tình của tôi. Khi tôi nhìn chiếc bao tải nằm một đống trên cái kệ phía đầu nằm của anh tôi mới chợt nhớ lại. Hôm tên Cẩn khám, đổ bao tải ra chỉ toàn là sách, đủ loại to, nhỏ, dầy, mỏng, nặng chịch. Đến bây giờ tôi mới hiểu toàn là sách toán. Cho nên khi thấy anh muốn mời tôi ngồi nói chuyện, tôi đã sà ngay xuống, rồi chúng tôi quen và thân nhau từ đấy.

Chúng tôi quen và thân nhau, phải nói vì nhiều lý do Gôm tỏ ra rất sắc sảo, khôn quái. Anh có những cái nhìn bén nhậy, sâu sắc về Cộng Sản. Về mặt nào đó anh cũng là một con người có chí. Anh tâm sự với tôi: “Chương trình toán cao cấp, bên ngoài thường phải học 8 năm. Nhưng trong tù thiếu sách vở lại không có thầy, tôi chủ trương sẽ đeo đuổi ròng rã 12 năm cho xong. Tôi sẽ đi được, bởi vì toán học độc lập với chính trị, càng lại không có tư tưởng cho nên chúng sẽ chẳng làm gì tôi được.” Gôm đã đeo đuổi được 4 năm rồi.

Thấy một người có chí dài như vậy tôi càng khích lệ, động viên để họ đi đến đích. Tôi ngưỡng mộ và mến Gôm vì Gôm là con người sắc sảo và có chí. Ngược lại, Gôm có thiện cảm với tôi chỉ vì từ lâu anh rất thích ngành điệp báo. Anh đã từng xem nhiều sách, báo phim ảnh về loại này, nay anh gặp tôi một điệp viên do CIA đào tạo, huấn luyện từ trong Nam ra. Theo cái óc tưởng tượng có sẵn của anh trước đây, hẳn tôi cũng phải ít nhiều có cái gì đó khác người, nhất là trí thông minh. Anh có biết đâu rằng, nếu anh đọc rõ được những suy nghĩ trong óc tôi, anh sẽ thấy tôi đang ngưỡng mộ, phục anh sát đất. Tôi đang buồn và tự trách tôi: “tại sao trong cuộc đời lại có nhiều người thông minh, thế mà cái óc của mình lại tồi như vậy.”

Chính vì những cái lắt léo của tình đời như trên, nên đã đẻ ra một kỷ niệm khó quên giữa tôi và Gôm. Tôi còn nhớ Gôm có một trò chơi ngộ nghĩnh, để thử thách tôi trong những buổi ban đầu chúng tôi quen nhau; để rồi đến hàng chục năm sau chúng tôi còn buồn cười khi nhắc tới:

Một buổi sáng, tôi và Gôm ngồi bên nhau trong hàng đôi của toán, chờ tên Cẩn gọi xuất trại đi lao động. Gôm quay sang tôi nhỏ nhẻ, tỉ tê. Đại cương như sau: để cho đỡ buồn, để óc đỡ phần nào suy nghĩ về những cảnh đen tối của đời tù. Gôm sẽ đố chơi tôi một bài toán, nội dung: có một nhà tư sản Mỹ đi công cán kinh doanh ở Âu Châu. Sau một số ngày, ông ta gặp được một chuyện làm ăn không dự trù trước. Ông ta phải cần có thêm một số tiền, vì thế ông ta gửi một bức điện gấp về Mỹ cho ông tổng quản lý của ông ta, bảo cần gửi ngay tiền cho ông ta. Óc thực tế của người Mỹ đã trở thành truyền thống “không trả, không tiền, dù một xu cho những cái gì thừa thải, vô ích.” Vì vậy bức điện càng ngắn gọn bao nhiêu, để càng trả ít tiền thì càng tốt bấy nhiêu. Với điều kiện công viêc hết quả thỏa đáng. Hơn nữa, ông ta cũng tin vào khả năng minh mẫn, bén nhậy của người quản lý thân tín mà ông đã thử thách, thực nghiệm nhiều lần.

Nguyên văn bức điện như sau: SEND MORE MONEY. Nếu đúng theo trọn ý của câu thì phải viết: “Send me more money”. Nhưng bỏ chữ “me”, người quản lý vẫn hiểu đầy đủ bức điện mà không phải trả tiền cho chữ “me”. Với sự sáng suốt của ông tổng quản lý, nhà tư sản tin chắc chắn sẽ nhận được đúng số tiền mà ông ta muốn.

Nếu bạn là người quản lý, bạn sẽ gửi bao nhiều tiền? Toán thì chỉ có một đáp số, vậy số tiền phải là duy nhất”. Theo Gôm, bài toán này, trước đây có người đã đố Gôm. Sau một tuần Gôm đã tìm ra đáp số. Bây giờ, do nhiều năm tháng tù đầy đau thương khổ cực, đầu óc sẽ giảm sự linh anh, bén nhậy; do đấy Gôm sẽ cho tôi thời hạn là một tháng. Nếu trả lời đúng, Gôm sẽ thưởng cho một gói thuốc lào hai hào.

Tuy trong lòng vẫn đầy ắp mối băn khoăn, lắng lo vì sự hiểu biết và trình độ của mình chỉ có hạn. Nhưng dù sao thời gian ấy, tôi vẫn còn cái tính sục sạo, háo thắng của người thanh niên. Vì thế sau khi hỏi lại biết là không còn một chi tiết nào nữa bổ sung cho bài toán, tôi đã bắt tay Gôm nhận lời.

Như trên tôi đã trình bầy, do bản tính hãy còn sôi nổi; điều gì còn mập mờ, ẩn giấu trước mặt, tôi sẽ phải tìm cho ra với khả năng tối đa của mình. Ngoài khả năng và điều kiện thì chịu. Chính vì vậy, từ buổi nhận lời với Gôm, bất cứ ở đâu hay làm gì; lúc lao động cũng như lúc ăn uống; ỉa đái tắm rửa, thậm chí ngay trong giấc ngủ; bài toán cũng chen lấn vào làm cho giấc ngủ không yên. Còn một điều nữa, tuy không rõ nét nhưng nó nằm sâu trong một ngách của lòng tôi, cũng thúc đẩy sự quyết tâm, tôi phải tìm ra đáp số của bài toán. Đó là tôi cứ tưởng như nếu tôi không giải được bài toán này không những Gôm chỉ coi thường cá nhân tôi mà Gôm còn coi thường dù không nhiều cả cái miền Nam tự do thân yêu của tôi nữa.

Chính vì có nhiều những cái ngấm ngầm kéo lôi như vậy nên chỉ tới ngày thứ ba tôi đã tìm Gôm để giải bài toán này. Gôm đã vồ cả hai tay vào vai tôi đập bành bạch, chào mừng một người bạn trí óc hãy còn tương đối tốt. Dĩ nhiên là tôi không quên nhận gói thuốc lào hút cho nó đã, cho nó sướng cái đời gió mưa.

Kỳ này trong trại cũng có một câu chuyện buồn cười, dù nho nhỏ nhưng tôi vẫn không quên được. Chẳng hiểu từ bao giờ và do ai bắt đầu thì cũng khó mà ai biết. Về cái tục lệ lưu cữu từ hàng bao nhiêu năm nay là đêm đêm bất cứ trại viên nào muốn dậy đi đái, đi ỉa đều phải báo cáo cán bộ, dù có cán bộ hay không cán bộ. Nếu ai phát giác được anh nào dậy vào nhà xí mà không báo cáo là anh đó bị vi phạm nội quy. Bị kết tội là có ý tưởng mờ ám hoặc định trốn tù.

Vấn đề này đã gây ra biết bao nhiêu cảnh cấu xé, chụp mũ cho nhau; thậm chí gây thành thù oán muôn đời. Bởi thế hàng đêm, khúc nhạc đi ỉa, đi đái đã làm quen tai mọi người cũng như tiếng ho tiếng hắng dặng.

“Báo cáo ông cán bộ, tôi xin đi ỉa!”

Phải nói rằng trong lòng mọi người tù, dù là ai; tiến bộ hay không tiến bộ thì cũng đều ít nhiều tức bực cho cái việc phải báo cáo phiền toái, miễn cưỡng này. Có lẽ vì vậy, câu báo cáo, điệu nhạc đêm đi ỉa, đi đái cứ rút ngắn lại dần theo năm tháng.

– Báo cáo ông, tôi xin đi đái!

– Báo cáo ông, xin đi đái!

Nhưng từ ít lâu nay, chẳng biết có ai bảo ai mà hầu như buồng nào cũng vậy. Khúc nhạc đi đái đã đổi nốt thành như sau:

– Báo cáo ông…..đi đái!

– Báo cáo….. ông đi đái!

– Báo cáo…..ông đi ỉa!

Cứ thỉnh thoảng khúc nhạc lại được tấu lên giật đùng đùng trong đêm khuya. Bất cứ ai nghe thấy cũng phải buồn cười, thinh thích. Mà tụi cán bộ đi tuần đêm bên ngoài, chắc sẽ tức ói mật, lộn ruột ra ngoài. Lúc đầu ban giáo dục còn chỉ thị xuống toán, buồng sinh hoạt, tìm cho ra kẻ nào lại dám báo cáo láo lếu như vậy. Nhưng có thể đây là một quyền lợi chung của mọi người tù, dù cho là loại chó mà, antenne, chỉ điểm cũng không muốn cho nên các buồng đã cọ sát, sinh hoạt mấy buổi tối liền nhưng đều vô hiệu. Hơn nữa, vấn đề này rất tế nhị, người ta có muôn ngàn lý do để trả lời. Thí dụ:

Rõ ràng tôi nói: “Báo cáo ông, xin đi ỉa!” nhưng ai đó, một khi đã có ấn tượng trước nên mới nghe ra thế khác; hoặc đang báo cáo thì bị nghẹn v.v…

Tóm lại, khi mọi người đã ít nhiều đồng tình thì chả bao giờ tìm ra thủ phạm cả. Và từ đấy, cho đến sau này, chúng tôi không còn ai nghe thấy khúc nhạc đêm “bất đắc dĩ” ấy nữa. Chắc rằng ban giáo dục cũng thấy khó mà tìm ra được thủ phạm; vậy thà cho chúng nó miễn báo cáo đi, còn đỡ tức. Chứ cứ đêm đêm nghe chúng nó báo cáo, về nhà lòng cuộn lên anh ách, ăn cơm cũng mất cả ngon.