Vẫn chuyện trên tàu

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 10 Jul 2026

Mấy năm qua tôi đi đi lại lại trên vùng Baltic và biển Bắc châu Âu, đã quen khí hậu nơi đó: mùa xuân gió mát, nắng ấm vào mùa hè và những ngày đầu thu. Rồi tới cuối thu sang đông thì gió, mưa, tiếp theo là băng, tuyết lạnh buốt da. Tôi rất thích cảnh rừng thông ngút ngàn và quí trọng đất nước con người trên bán đảo Scandinavia. Tuy nhiên dù cho những người dân nơi đó hiền hoà, thân thiện và cảnh nơi đó có đẹp như tranh vẽ mà cứ lẩn quẩn hoài trong một vùng thì cũng thấy bình thường và nhàm chán. Cho nên khi nghe được đổi qua tàu khác, đi tuyến đường mới thì trong lòng tôi phấn khởi và vui tươi, cộng thêm háo hức. Dù sao đến một địa danh lạ, quang cảnh mới, con người khác vẫn thích thú hơn. 

Từ hải cảng Rotterdam – Hoà Lan qua hải cảng Villagarcia – Tây Ban Nha mất hơn hai ngày hải hành. Suốt chuyến qua Tây Ban Nha tôi không tắt điện thoại, hễ nghe tín hiệu, dù đương ngủ tôi cũng thức dậy xem để biết tàu chạy ngang một hải phận hay một địa danh nào. Khi tàu vô eo biển Manche, tôi thích thú ra boong đứng nhìn. Ban ngày thì lúc thấy bên này bờ là nước Anh, khi thấy bên kia bờ là nước Pháp. Ban đêm rất nhiều đèn của tàu buôn xuôi ngược và hợp cùng ánh sáng của những thành phố trên đất liền hiện ra từng chòm. Những chòm đèn gần thì ánh sáng toả nhiều màu sắc, xa thì nhấp nhá như đom đóm, xa hơn nữa thì ánh sáng hừng toả phía chơn trời. Tàu hải hành ra khơi, bốn phương là biển, nhưng ngồi trong phòng, không cần xem nhiệt kế, cũng cảm nhận được thời tiết thay đổi qua mỗi vĩ tuyến và nghe lòng háo hức lạ thường khi trông thấy một bán đảo hay một con voi xa mờ lấp thấp trên mặt nước. Nhứt là lúc chiều lên, khi mặt trời sắp lặn, nhìn được mặt trời tròn như cái mâm nung đỏ sắp chìm xuống viền nước phía trời Tây, lúc này mới thấy được thời gian trôi qua chầm chậm, tuy thấy chậm nhưng lơ là day qua, day lại thì nguyên cái mâm đỏ biến mất tiêu. Giữa đại dương minh mông, bốn phương trời nước, sắc màu của không gian cũng dần thay đổi từ màu hồng sang màu xám, chẳng bao lâu bóng đêm tràn ngập và vài vì sao trên bầu trời hiện lên nhấp nhá. 

Ông thuyền trưởng lái tàu từ hải cảng Rotterdam qua hải cảng Villagarcia xong ông trở về Hoà Lan. Hôm qua bà thuyền trưởng vừa đổi xuống thì cũng vừa lúc tàu khởi hành. Tới giờ ăn chiều bà xuống bắt tay tôi và khoe vừa đi tour Việt Nam mới về. Tôi hỏi bà đi từ đâu tới đâu. Bà nói, bà xuống phi trường Hà Nội nhưng trước tiên bà tham quan vịnh Hạ Long, Mai Châu rồi lần vô Hội An, Huế,  Mũi Né, Hồ Chí Minh City, Cần Thơ xong ra Phú Quốc. Bà khen nước Việt Nam đẹp, người Việt Nam dễ thương, nhứt là xuống bến Ninh Kiều đi đò trên sông Cần Thơ và xem chợ nổi Cái Răng, bà rất thích sông nước và con người ở đây, ai gặp bà cũng vui vẻ cười chào. Những địa danh nổi tiếng tôi nghe đã quen, chỉ có Mai Châu thì tôi chưa nghe tới, tôi sợ bà nói lộn nên hỏi lại:

– Lai Châu hay Mai Châu?

Bà lấy giấy viết ra viết hai chữ Mai Châu có dấu rõ ràng rồi chìa qua tôi xem. Bà cười cười, gật gật cái đầu ra vẻ hiểu biết và nói:

– Mai Châu là một làng nhỏ ở miền cao, phần đông người dân tộc thiểu số, sống bằng nghề dệt vải.

– Oh, đất nước, con người và văn hoá của nước tui mà tui hổng biết, vậy là bà biết nhiều hơn tui rồi.

Ngày đầu bà kể tôi nghe được bao nhiêu, nhưng rồi mạnh ai nấy làm việc đó. Những năm gần đây bạn đồng nghiệp của tôi đi tour, hay hải hành ghé Việt Nam, không gặp được thì thường gởi tin nhắn, khoe là được ghé Việt Nam. Hễ gặp mặt là phấn khởi khoe, lúc nào tôi cũng nghe khen Việt Nam vui, ăn thức ăn ngon, cảnh đẹp lắm… Nhìn gương mặt hớn hở và nghe họ hả hê khoe khoang thành tích những chuyến du lịch, trong đầu tôi miên man suy nghĩ và thường hiện ra câu hỏi. Nếu những người này họ sống trong xã hội Việt Nam, cũng như những người dân bình thường nơi đó, thì họ có thời gian, tiền bạc để đi du lịch và thưởng thức những món ngon, những vẻ đẹp như họ đã được hưởng trọn vẹn trong chuyến đi hay không? Hay là tới lúc đó họ mới thấm thía câu ‘có tiền mua tiên cũng được’?

Chiếc Alinda chạy tuyến Villagarcia ra Santa Cruz, một hải cảng của đảo  Tenerife, cùng với Las Palmas là quần đảo nằm về châu Phi nhưng thuộc vương quốc Tây Ban Nha. Xuống hàng tại cảng Villagarcia, chiều hoặc tối thứ sáu khởi hành, trưa thứ Hai ra tới Santa Cruz de Tenerife, thứ Ba qua Las Palmas lên hàng, xuống hàng xong rồi trở về tới Villagarcia vào sáng thứ Sáu, như vậy chuyến ra, chuyến vô đúng một tuần lễ.

Đúng một tuần tàu trở vô đất liền lúc khuya và neo trong vàm Villagarcia. Sáng lại tôi lên phòng lái mượn ống dòm. Bà thuyền trưởng thấy tôi phóng ống dòm nhìn những bè nuôi tôm, cá dọc theo bờ biển. Bà nói:

– Ở Phú Quốc cũng có nhiều bè nuôi tôm, cá.

– Ờ, đúng rồi, nhưng bà thấy bè ở đây có khác hơn ở Phú Quốc không?

– Bè nuôi tôm, cá là bè nuôi tôm, cá tui thấy khác gì đâu?

– Khác chớ, những bè nuôi tôm, cá ở  Phú Quốc, nói chung là ở Việt Nam đều có cất chòi cho người ở canh chừng ăn trộm, bọn ăn trộm ban đêm chúng hay bơi xuồng ra bè trộm cá hoặc phá phách. Có những bè cất chòi đủ cho cả một gia đình sống luôn trên đó. Cho nên từ bờ sông hay bờ biển nhìn ra những dãy bè trông giống như những căn nhà nhỏ nổi bình bồng trên mặt nước. Những bè nuôi cá, tôm bên này không có những căn chòi và cũng hổng có người canh nên thấy nằm lè phè gần như ngang bằng mặt nước.

– Ờ ờ…

Tôi hỏi bà:

– Bà đi từ Bắc Việt vô Nam Việt bà có ấn tượng nào không?

– Oh, nhiều lắm như Vịnh Hạ Long cảnh đẹp, Mai Châu tui có mua được chiếc khăn choàng cổ vải rất mềm, rồi phố cổ Hội An, Huế, Mũi Né nơi nào thức ăn cũng ngon, nơi nào cũng hấp dẫn, chỗ nào tui cũng thích.

– Nhưng bà thấy chỗ nào ấn tượng nhứt?

Bà chu cái mỏ, đưa tay lắc lắc ra chiều suy nghĩ, một chút sau bà nói:

– Phú Quốc, chỗ người ta phơi cá cơm và hãng nước mắm thúi kinh khủng…

Đoạn bà kể tôi nghe chuyện bà tham quan hãng nước mắm và cách người ta phơi cá cơm. Bà có mua mấy bọc cá cơm khô và hai chai nước mắm, bà nói nặng quá bà hổng mua được nhiều, bà khen:

– Đảo Phú Quốc rất đẹp…

Nói tới đây chợt có tiếng gọi của văn phòng bến cảng, bà bắt ống nghe. Thấy bà bận nói chuyện, tôi bỏ đi xuống từng dưới và ra boong đứng hóng gió.

Mùa xuân Âu Châu nơi nào cũng mát mẻ và bình minh chuyển màu cũng rất nhanh. Khi mặt trời thong thả nhô lên và soi hừng đồi núi nằm lừng lững trong một vịnh nhỏ thông ra Đại Tây Dương. Mực nước biển sâu, trong xanh và gió xuân nhẹ nhàng thổi tạt sóng nước gờn gợn đủ để nhấp nhô những chiếc bè nuôi cá của dân ngư thả neo bềnh bồng dọc ngang trên mặt nước. Trong khi tôi đứng nhìn những bè cá và cảnh mặt trời lên, thì nghe tiếng máy tàu nổ. Viên thuyền phó người Lithuania từ trên đi xuống, thấy tôi đứng hắn dừng lại, đi tới bên tôi, chào và nói:

– Tàu sắp nhổ neo.

– Oh! Có chuyện gì không?

Tiếp theo hắn hỏi:

– Nhổ neo xong tui vô ăn sáng, ông chiên cho tui hai cái trứng được hông?

– Dĩ nhiên.

Qui chế ăn uống mỗi ngày trên tàu Hoà Lan, ontbijt tiếng hoà Lan là ăn sáng, bữa ăn sáng trên tàu có bánh mì, bơ, thịt nguội, phó mát, trứng gà, sữa, nước trái cây, trà và cà phê. Nếu hôm qua còn dư cơm nguội, tôi đem chiên với trứng hoặc xào mì gói cho người In Đô hoặc người nào hổng ăn được bánh mì. Maaltijd là ăn trưa, bữa trưa là bữa ăn chính có súp, rau, thịt, khoai tây, cơm và đồ tráng miệng có trái cây tươi, trái cây đóng hộp, yoghurt, pudding hoặc kem. Diner là ăn chiều, bữa ăn chiều dọn bàn cũng giống như bữa điểm tâm và ăn đồ ăn dư của bữa trưa còn lại hoặc thêm xúc xích, hamburger, pizza… Hôm nào siêng tôi làm món chả giò, gần bốn mươi năm nấu cho nhiều giống dân và nhiều hạng người ăn, tôi chưa từng nghe dân nước nào, hạng người nào chê món chả giò Việt Nam (Vietnamese loempia) là dở hết.

Hồi tôi còn phụ bếp, nhiều đầu bếp nấu nhiều món không hạp khẩu vị dân tứ xứ làm thủy thủ đoàn ăn hổng được, thức ăn dư rất nhiều, đầu bếp kêu tôi bưng những thức ăn dư đổ bỏ. Mỗi lần bưng thức ăn đem đổ, tôi không cầm được nước mắt. Tôi nhớ lại quê hương tôi trong những ngày chiến tranh, chạy giặc phải ăn cháo loãng và những ngày vượt biển tị nạn Cộng Sản sau này. Trên bước đường gian khổ, hổng có đồ ăn, nhiều người chết đói, thậm chí đói quá người còn sống ăn thịt người đã chết. Cho nên khi làm đầu bếp, tôi tìm tòi học hỏi, lựa chọn chế biến những món ăn nào nhiều người có thể ăn được. Dĩ nhiên nấu cho tập thể ăn, hổng tránh được thức ăn thừa, nhưng tôi cố gắng làm sao cho thức ăn dư càng ít càng tốt. Cho tới nay, hơn bốn mươi năm làm bếp tàu buôn, tôi rất hài lòng công việc của mình và lương tâm tôi cũng hổng bị ray rức vì tôi biết độ số lượng nấu cho bao nhiêu người ăn và ra menu hợp khẩu vị nhiều người, cho nên mỗi ngày thức ăn thừa rất ít, thường là ngày nào hết ngày nấy, có khi ngon miệng bà con hỏi thêm, ít khi thức ăn bị đổ bỏ. Hổng phải chỉ pha chế nấu nướng cho ngon, đầu bếp cũng cần để ý văn hoá ăn uống của mỗi người và mỗi vùng nữa. Nếu đầu bếp được thủy thủ đoàn quý mến thì chuyện đố kỵ về văn hoá, chủng tộc cũng giảm đi, ít ra chỉ là bề mặt.

Có lẽ nhờ để ý học hỏi, dần dà tôi khám phá ra, không khí trên tàu vui hay buồn một phần cũng do đầu bếp, ngoài cách ăn uống khác nhau, tánh tình, ý tưởng của mỗi dân tộc cũng khác nhau và con người khó hoà hợp với nhau lắm. Nhứt là những người lớn tuổi, như viên thuyền phó trong chuyến đi này, hắn nhỏ hơn tôi vài ba tuổi, muốn ăn giờ nào thì ăn, uống giờ nào thì uống, hổng giờ giấc gì ráo và không khi nào ngồi bàn ăn chung với ai hết. Thuyền trưởng người Hoà Lan cũng chịu thua hắn luôn. Trước kia gặp thành phần như viên thuyền phó tôi khó chịu lắm, nhưng hổng lẽ mỗi lần đụng chuyện mỗi lần nổi nóng la ó om sòm, hơn nữa chỉ vì miếng ăn mà chửi bới nhau hoài, chẳng ra thể thống gì hết. Tôi mới nghĩ ra cách, sau giờ ăn tôi để phần ăn của những người chưa ăn ra ngoài và nói với họ muốn ăn giờ nào thì tự lấy ăn nhưng phải rửa dĩa sạch sẽ và dọn dẹp cho gọn gàng, tưởng làm cách đó là ổn, nhưng phiền cái là thằng tới trước lấy nhiều quá, có khi lấy sạch luôn, thằng tới sau hổng có ăn rồi cũng tìm tôi mắng vốn. Thấy vậy tôi mới chia phần ăn ra mỗi người một dĩa, bao giấy kiếng lại rồi để ra bàn, cách này coi vậy mà hữu hiệu và cũng từ đó cho tới nay tôi mới được yên thân. Hôm rồi ngồi nói chuyện chơi với viên thuyền phó, thấy không khí vui vẻ, tôi mới hỏi hắn:

– Bên nước ông giờ giấc ăn uống thế nào?

Hắn lắc đầu nói:

– Muốn ăn giờ nào cũng được, đói giờ nào ăn giờ đó.

– Ai cũng vậy sao?

– Ờ, tất cả mọi người.

Tôi cười thành tiếng:

– Oh! Thiệt hông cha nội?

– Thiệt mà.

– Nếu đi tuyến đường sang Mỹ, mỗi khi qua một múi giờ, giờ giấc thay đổi ông làm sao?  

Hắn nhún vai:

– Thì cũng vậy, khi nào đói thì ăn.

Hắn rất thích thịt gà, hôm nào làm gà chiên, gà luộc, gà kho, nói chung món nào cũng được miễn là gà, người khác ăn dư ra bao nhiên hắn đớp hết bấy nhiêu.

Thấy vậy tôi hỏi:

– Bộ ở nước ông hổng có thịt nào khác hơn gà sao?

Ông trả lời:

– Có chớ, nhưng gà ở bên nước tui rẻ tiền hơn những thứ thịt khác.

Thiệt tình mà nói, nói chuyện với những người này khó tin và khó hiểu họ lắm. Ăn, uống tùy tiện, nói sao họ cũng nói được hết.

Trước đây thì đầu bếp ghi đơn đặt thực phẩm đưa thuyền trưởng đặt mua, có khi thuyền trưởng và đầu bếp cùng đi siêu thị mua thêm rau cải và trái cây tươi. Mỗi tháng đặt hàng một lần, đầu bếp tự phân chia làm sao đủ trong một tháng cho tuyến đường gần, ba tháng cho chuyến đi xa. Ngoại trừ những tuyến đường xa, không mua được rau tươi thì ăn đồ đông đá, nếu đầu bếp kinh nghiệm, khéo tay thì chế biến đồ đông đá ra những món ăn cũng ngon lành.

Tôi còn nhớ hồi bốn mươi năm trước, lúc đó thủy thủ đoàn người In đô, Tây Ban Nha, còn officers là người Hoà Lan, đầu bếp người Hoà Lan và người Cape Verde. Không hiểu sao hồi đó người cung cấp thực phẩm chất lượng rất tốt và một hai tuần thuyền trưởng đưa tiền cho đầu bếp mua thêm rau và trái cây tươi. Còn rượu nho, rượu mạnh, bia, nước lọc, nước ngọt, thuốc lá những thứ này thì thủy thủ tự trả tiền với giá miễn thuế, lúc nào trên tàu cũng đầy đủ. Từ ngày những người Nga và những người Đông Âu sang làm việc, nhứt là người Nga, họ uống rượu say rồi phá phách nhiều quá, có người say xỉn gây lộn sao đó rồi đổ dầu, châm lửa đốt tàu, vì vậy công ty cấm không cho dự trữ rượu mạnh trên tàu. Và cũng từ đó cho tới bây giờ, thức ăn tuy không thiếu nhưng những món thịt mắc tiền và loại thịt bò bít tết công ty cũng không cho đặt nữa. Bị công ty giảm phần ăn và đầu bếp cũng hổng còn được đi chợ mua thêm rau, trái cây tươi nữa. Thực phẩm mỗi tháng lấy một lần, dĩ nhiên đầu bếp ghi đơn đặt hàng, đưa thuyền trưởng gởi về công ty đặt, chớ thuyền trưởng không trực tiếp đặt như trước kia. Theo tôi thì khắp thế giới này bọn phân phối thực phẩm cho tàu buôn hổng có người nào lương thiện hết, ngoài rau và trái cây tươi họ làm mặt để giữ mối ra, còn lại những thứ khác như thịt bò đông đá thì gân, mỡ nhiều hơn thịt và dai như vỏ bánh xe, heo tuy không dai nhưng thịt ít mỡ nhiều, đồ đóng hộp và đông đá thường là những thứ gần hết hạn. Hôm rồi ông thợ máy người Ukraine cầm miếng thịt heo ba chỉ muối rất mặn đem xuống đưa cho tôi và nói:

– Vợ tui làm cho tui đem theo, nhưng ông nấu lúc nào tui cũng ăn no nên tui hổng cần nữa, ông lấy làm gì thì làm.

Tôi hỏi:

– Bộ vợ ông sợ trên tàu thiếu thịt hả?

Ông nhún vai:

– Có nhiều tàu hổng có thịt heo.

– Cái này làm gì ăn?

– Hổng làm gì hết, để vậy ăn.

– Oh!

Theo tôi biết người Ukraine và người Nga có món cá thu muối trộn gia vị ăn sống, bây giờ tôi mới biết thêm món thịt ba rọi muối, gia vị rất nặng mùi, họ cũng ăn sống luôn. Tôi cũng có nghe nhiều thủy thủ tàu khác, nước khác, công ty khác than phiền trên tàu có khi bị thiếu đồ ăn. Cả đời làm bếp cho tàu Hoà Lan, thức ăn trên tàu dạo sau này tuy chất lượng có hơi kém, nhưng tàu nào dự trữ thức ăn cũng dư, không bao giờ thiếu. Vậy mà những bữa ăn dọn ra đầy bàn, người Hoà Lan thì vào ngồi ăn, ít có người vào bếp hỏi món này món kia và cũng hổng dám chê khen, trứng gà thì người Hoà Lan ăn rất ít, có người hổng ăn. Những người Nga và Đông Âu thì thường xông vào bếp, đòi này, đòi nọ và kèo nài thêm một hai cái trứng chiên, trứng luộc. Họ cũng biết menu của một ngày giống nhau vậy mà thỉnh thoảng có người vô bếp hỏi:

– Bếp, ông có món nào khác không?

Khi tôi  hỏi lại:

– Món gì?

Thì họ đừ cái bản mặt ra lắc đầu nói hổng biết. Nhứt là những người cỡ tuổi tôi, còn ảnh hưởng cái văn hoá nước Nga thời Cộng Sản. Cái văn hoá tham ăn, keo kiệt, nhỏ nhen và ích kỷ. Mặt mày lúc nào cũng nặng chịt nhăn nhó khó chịu, hễ mở miệng ra thì dùng ngôn ngữ tuyên truyền, phóng đại, nói sai sự thật mà hổng biết ngượng. Dân chúng nghèo thiếu thốn, vây mà nói ra cái gì bên nước họ cũng có hết. Người thất nghiệp thì đi khắp thế giới tìm việc làm, ai hỏi tới thì nói ở nước họ việc làm thiếu gì. Thật ra thì tôi cũng có một số bạn trẻ người Nga, họ sống rất văn minh, những người này còn trẻ, hội nhập với thế giới tự do rất nhanh nên tánh tình cởi mở, thân thiện và dễ gần gủi hơn. Có lần tôi nói với viên thuyền phó người Nga:

– Người Nga mày phần đông gương mặt lúc nào cũng buồn bã, ít khi cười tươi.

Nó tươi cười và nói:

–  Hồi đó dân nước tui, nếu ai mà thoải mái vui vẻ cười tươi thì bị nghi ngờ, hoặc nói thật lòng đôi khi bị đi tù, nên họ lầm lì chịu đựng riết rồi thành thói quen. 

“Lầm lì chịu đựng riết rồi thành thói quen.” Câu nói của viên thuyền phó làm tôi chạnh lòng và cảm thấy buồn buồn. Sao mà giống y chang ở nước tôi! Quả thật xã hội nào, con người đó. Cũng từ đó trở đi tôi thay đổi cách nhìn và mắc cở không dám trêu chọc và phê bình, chê bai đất nước con người bất cứ ở nơi đâu.

Những năm sau này thủy thủ tạp nhạp nhiều hơn. Mặc dù tôi hổng còn trẻ trung nữa, nhưng tôi thích tiếp cận với mấy đứa nhỏ, cũng nhờ thân thiện với chúng nên tôi mới thấy được sự tiến bộ và sự đổi thay trên thế giới này. Dần dà tôi cũng quen với mọi đổi thay trong cuộc sống, cho nên đi tới một đất nước lạ, gặp con người mới hoặc hoàn cảnh khác hay thời tiết biến chuyển, tôi thích nghi rất dễ dàng. Có lẽ đây là nguyên nhân do cuộc sống luôn xê dịch của tôi và cũng có lẽ là do càng lớn tuổi trải nghiệm càng nhiều nên tôi nhìn cuộc đời thông thoáng hơn.

Santa Cruz De Tenerife 10-6-2019

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Hải Quân Thiếu tá Hugh Tran (gốc Việt), Sĩ quan ngành ngoại giao Hải quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on April 8, 2025 by dongsongcu

06/04/2025

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 10 Jul 2026

Hải Quân Thiếu tá Hugh Tran (ảnh của linkedin.com).

Hải Quân Thiếu tá* Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao Hải quân Hoa Kỳ hiện đang phục vụ đặc trách Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương từ tháng 5 năm 2024. Ông được thăng cấp Thiếu tá vào tháng 4 năm 2024, nguyên là Sĩ quan tác chiến Hạm đội trên mặt biển (Surface Warfare Officer), đã từng phục vụ trên Hàng không mẫu hạm và Khu trục hạm Hải quân Hoa Kỳ. Trước khi trở thành Sĩ quan Hải quân, Hugh Tran nguyên là một Hạ sĩ quan Hải quân ngành cơ khí, phục vụ trên Hộ tống hạm USS McClusky (FFG-41) và Ban tuyển mộ nhập ngũ Hải quân. Sau đó ông được thụ huấn và tốt nghiệp trường Sĩ quan Hải quân**.

Sĩ quan ngành ngoại giao (Navy FAOs) Hải quân là một trong các ngành thuộc nhóm Sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers)*** Hải quân Hoa Kỳ. Các Sĩ quan ngoại giao Hải quân thành thạo một hoặc nhiều ngôn ngữ chính trong khu vực họ phụ trách, họ duy trì nhiều kỹ năng và kinh nghiệm quân sự, kiến ​​thức về các vấn đề chính trị-quân sự, quen thuộc với các yếu tố chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế và địa lý của các Quốc gia và khu vực nơi họ đồn trú. Có khoảng 350 Sĩ quan ngoại giao chuyên môn đang phục vụ, một số vị đang trong quá trình đào tạo. Ngành Sĩ quan ngoại giao dự định ​​sẽ lên đến 400 sĩ quan các cấp. Sĩ quan ngoại giao Hải quân thường được chỉ định phục vụ trong các Hạm đội, Bộ Tư lệnh tác chiến, Cơ quan Quốc phòng và các văn phòng Tuy viên quân sự ngoại giao của Bộ Quốc phòng tại các Toà Đại sứ Hoa Kỳ trên Thế giới. Họ cung cấp chuyên môn trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động, liên lạc với Quân đội nước ngoài hoạt động trong các liên minh với lực lượng Quân sữ Hoa Kỳ, tiến hành các hoạt động chính trị-quân sự và thực hiện các nhiệm vụ quân sự ngoại giao.

HQ Thiếu tá Hugh Tran đã từng phục vụ các đơn vị Hải quân qua các nhiệm kỳ và thời gian được ghi nhận: Từ tháng 7 năm 2022 đến tháng 5 năm 2024, Phục vụ trên Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN-71), Căn cứ Hải quân San Diego, California. Sĩ quan Phụ tá chính cho Hạm phó quản lý chương trình bảo trì trên 20 ban ngành và 139 trung tâm làm việc.

HQ Thiếu tá Hugh Tran trên đài chi huy Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN-71), (ảnh của linkedin.com).

Từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 6 năm 2022****, phục vụ tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy), Annapolis, Maryland. Sĩ quan quyền chỉ huy (OIC), Phòng Sẵn sàng trên sông, quản lý việc bảo trì và vận hành Huấn luyện hạm (YP) cho Sinh viên sĩ quan thực tập.

Từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 12 năm 2013****, phục vụ trên Hộ tống hạm USS McClusky (FFG-41), San Diego, California. Hạ sĩ quan cơ khí chỉ huy trong bộ phận máy chánh trên chiến hạm.

Từ tháng 8 năm 2008 đên tháng 8 năm 2011, phục vụ Ban tuyển mộ nhập ngũ Hải quân. Nhân viên tuyển mộ Hải quân tại Trạm Downtown Los Angeles và Trạm Alhambra.

Từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 7 năm 2008, nhập ngũ trở thành Thuỷ thủ căn cứ Hải quân San Diego, California, Nhân viên kỹ thuật viên cơ khí hệ thống tua bin (GSM). Trung sỉ Hải quân, quản lý trung tâm làm việc.

HQ Thiếu tá Hugh Tran tốt nghiệp các văn bằng: Tốt nghiệp Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School) với Văn bằng Cao học quan hệ Quốc tế và nghiên cứu an ninh Quốc gia năm 2024; Tốt nghiệp Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College) với Văn bằng Cao học giáo dục quân sự chuyên nghiệp tổng quát năm 2021; Tốt nghiệp Trường Đại học Nam Đan Mạch (Syddansk Universitet – University of Southern Denmark) với Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh và quản lý tổng quát năm 2002; Tốt nghiệp Trường Đại học Nam Đan Mạch (Syddansk Universitet – University of Southern Denmark) với Văn bằng kinh doanh quốc tế năm 1999.

Sĩ quan giao tế Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt ngoài HQ Thiếu tá Hugh Tran còn có một số Sĩ quan khác đang phục vụ. Hai vị mang cấp bậc cao nhất là Phó Đề Đốc Hải Quân Tuấn Nguyễn, Tùy viên cao cấp Quốc phòng Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, Trung Quốc và HQ Trung tá Le Tony Truong Giang nguyên là Sĩ quan ngành tàu ngầm. Là Sĩ quan Hải Quân, ngành ngoại giao Hải quân Hoa Kỳ, HQ Thiếu tá Hugh Tran nói được 4 ngôn ngữ: Pháp, Đan Mạch, Việt Nam và Anh ngữ.

Hải quân Thiếu tá Hugh Tran 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Loi Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến Hạm đội; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan Chiến hạm (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều HQ Thiếu tá gốc Việt chưa tiện cập nhật.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *HQ Thiếu tá=Navy Lieutenat Commander; **không ghi nhận được chi tiết HQ Thiếu tá Hugh Tran thụ huấn trường Sĩ quan Hải quân nào, OCS hay USNA?; ***Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan tài nguyên nhân lực; Sĩ quan kỹ thuật cơ khí; Sĩ quan kỹ thuật hàng không; Sĩ quan bảo trì phi cơ; Sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị); Sĩ quan hải vận chiến lược (Strategic Sealift Officer); Sĩ quan ngoại giao (Foreign Area Officer); Sĩ quan hải dương học; Sĩ quan chiến tranh mật mã; Sĩ quan truyền tin Hải quân; Sĩ quan tình báo Hải quân; Sĩ quan chiến tranh an ninh mạng và Sĩ quan không gian hàng hải (Maritime Space Office) ‘****Không tìm thấy tài liệu ghi nhận chi tiết thời gian phục vụ từ năm 2013 đến năm 2022.

Nguồn: linkedin.com; mynavyhr.navy.mil.

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 10 Jul 2026

Những ngày còn bé dại, mỗi lần nghe cơn lụt đến là hí hửng mừng thầm, vừa được nghỉ học, vừa được lội nước trên những con đường xóm, được xếp thuyền thả ngay trong sân nhà hay theo anh em kết những thân cây chuối làm bè. Đó là những cơn lụt nhỏ. Những năm lụt lớn, nước vào nhà làm ướt hết cả sách vở, áo quần, lúa gạo vì chạy không kịp, có ngày chỉ ăn một bữa. Cả gia đình chồng chất giường tủ lên nhau để làm nơi trú ngụ tạm thời. Nhiều khi suốt đêm, cha mẹ ngồi chong mắt kẻo sợ trong bầy con có đứa lăn ùm xuống nước. Cha tôi còn chuẩn bị một cái rựa sắc để phá mái tranh ngôi nhà cho gia đình thoát ra ngoài trong trường hợp nước vẫn tiếp tục dâng cao. Sau khi nước rút lại là những ngày vất vả dọn lại nhà cửa, phơi phóng vật dụng trong khi vườn tược lẫn đường sá ngập đầy một lớp bùn non.

Nhưng chuyện ấy, ngày xưa vài năm lại mới xẩy ra một lần. Mấy năm gần đây, vì đói nghèo, con người tranh nhau chặt rừng làm củi, gỗ quí theo túi tham xuống chợ, mạnh ai nấy tàn phá rừng, nên năm nào cũng nghe tới lụt lội ở quê nhà. Số kiếp miền Trung èo uột nghèo đói, xưa nay đã làm thân đòn gánh cho hai thúng gạo Bắc Nam, Huế bây giờ lại là trung tâm điểm để nước thượng nguồn đổ về mỗi năm. Nghèo đói, oan khiên lại lũ lụt, sao số phận của mảnh đất cằn cỗi quê hương tôi lại có nhiều đắng cay đến thế. Lũ lụt lại kéo theo bão táp, tàn phá ruộng vườn, quét sạch ngô khoai, tương lai mù mịt mà con người cũng phải ôm lấy đất mà sống, ôm lấy mồ mả ông cha, ôm lấy bất hạnh của đời người. Năm này cơn lụt vừa xong, dọn dẹp ruộng vườn, trồng lại ngô khoai, chưa lai tỉnh thì năm sau cơn lụt khác lại đổ đến. Cha ông đã kể lại cơn bão năm Thìn (ngày 8 tháng 6 năm 1904), cơn bão phải lớn lắm, tàn phá hủy hoại tất cả mới có thể mang cả bốn vài cầu sắt Trường Tiền gởi gió bay đi. Người ta cũng không quên cơn lụt năm 1953, sức nước mạnh hơn pháo đạn, bom mìn ngày nay, xô đổ các cửa thành Thể Nhơn (cửa Ngăn), Quảng Đức (sau trận lụt này gọi là cửa Sập), cửa Tây Nam (nằm phía Hữu hoàng thành). Cả ba cửa thành này đều hướng về phía Tây Nam, đều chịu sức nước từ phía thượng nguồn sông Hương đổ về. Những cổng thành này xây bằng hàng vạn viên gạch nung và vôi vữa thời đó, không có gì đục thủng, không có gì có thể xô ngã, mà sức nước réo qua đêm đã xô sập cả ba cổng thành, như vận nhà Nguyễn đã tới hồi chung cuộc. Mới đây cơn lụt năm 1999, đã cuốn đi bao nhà cửa, cướp đi bao sinh mạng con người, do vậy mà ngày nay nhà nhà đều cất cao, nếu ai còn chút khả năng đều lên lầu, khiến cho những khu nhà dân cự trông lô nhô, nhếch nhác chẳng còn chi là lối kiến trúc nhà vườn tĩnh lặng ngày xưa. Hãy về coi Phủ Túy Lý Vương, cổng tam quan trùng tu, xây lại điểm long tô phụng, nhưng nhà trong vườn cất cao như cái chòi canh thời hiện đại, vươn cao lên làm thành cái bối cảnh thiếu cân đối cho cổng phủ tráng lệ, nghiêm trang. Mỗi trận lụt đều có những thảm cảnh riêng của nó, nhưng đều chung một cảnh ngộ con người chống chỏi với sức nước. Nạn nhân đều ở trong những gia đình nghèo khó, nhà tranh vách đất, chỉ cần một cơn mưa lớn, một trận cuồng phong đủ để cho cái tổ ấm che mưa đụt nắng này tan tác. Sức con người yếu đuối không thể nào đương đầu với gió mưa, bão táp, con người chỉ là một chiếc lá khô bọt bèo trong trong biển nước mênh mông, “như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son” như lời viết của Khái Hưng trong “Anh Phải Sống”. Có những người nghèo, nhân cơ hội nước nguồn về kéo theo gỗ mục, đã cố gắng chèo thuyền vượt dòng vớt những cây khô, dành dụm cho những ngày giá rét, thổi nồi cơm độn khoai, hay gánh ra chợ bán đổi lấy vài ký gạo. Họ là những chị Lạc của những thời đại mới, thời đại sau Tự lực Văn Đoàn hơn nửa thế kỷ, vẫn mang cái cảnh ấy khốn khổ, bần hàn, bữa đói bữa no, sẵn sàng xả thân để mang về cho gia đình một vài thanh củi mục. Có những gia đình mẹ cha, chồng con và cháu chắt, trước cảnh tượng nước càng lúc càng lên cao, nhà lẻ bạn giữa đồng không mông quạnh, lời kêu cứu lạc giữa gió gào, để khỏi xác trôi mỗi người một ngả, đã đành cột dính vào nhau để chờ cái chết đang đến. Ôi, những cảnh chết chùm, có khác chi cùng một đoạn dây sắt trong một mồ chôn tập thể những ngày Tết Mậu Thân. Oan khuất chi lắm Huế của tôi ơi!

Có những mẹ già thấy con bận bịu theo mình, đã tự buông tay theo dòng nước lũ, để nhường sức lực con mình cho đàn cháu nhỏ, khác chi người mẹ trung kiệt thời xưa, tự kết liễu đời mình cho con đừng bịn rịn chữ hiếu với mẹ mà quên chữ trung với nước. Có những người mang tấm lòng vị tha, hết lòng cứu giúp láng giềng chòm xòm trong cơn hoạn nạn , mà quên nghĩ đến thân mình, cho tới lúc sức tàn lực kiệt, thân xác bị nhận chìm dưới làn sóng dữ. Phù sa của Cửu Long luôn luôn bồi đắp cho đồng bằng miền Nam một lớp đất bồi bổ sau mỗi trận lụt, làm  cho ruộng lúa tốt tươi, đem tôm cá từ sông vào ruộng đồng,làm rau quả đầy ngập trên những khoang thuyền từ vườn ra chợ. Lụt miền Trung nạo vét dòng sông, đem phủ lên ruộng đồng vốn đã thiếu màu mỡ lại dày thêm cát sỏi. Nói về sức chịu đựng của con người, quả là con người miền Trung đã truyền kiếp chịu đựng với địa dư nghèo khó, với khí hậu khắc nghiệt và luôn luôn cam phận với cuộc đời mà số mệnh đã ban cho. Tôi có một hai người chị con ông bác ruột, từ lúc sinh ra đã lớn lên với ruộng đồng, khoai sắn, qua nhiều cuộc chiến tranh, ly loạn, đã biết tới đói, rét, bão lụt; biết sợ hãi, lo lắng vì bom đạn, bố ráp, và điều chắc chắn là họ chưa bao giờ có miếng ăn ngon, mặc được chiếc áo đẹp. Tôi có nhiều người anh họ trong làng, bên này hay bên kia, người xương đã mục trong những nấm mồ quên lãng; kẻ vẫn sống còn như nhánh giây khô giữa ruộng đồng cằn cỗi. Vậy mà bây giờ cả nước vào thời mở cửa, đi lên kinh tế thị trường, vẫn không nghe có ai ra đi bán sức xứ người hay lớp con cháu rắp tâm trang điểm, rao bán thân xác trong khu chợ người, ước mơ được có một tấm chồng ngoại nhân.

Rừng im lặng

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 9 Jul 2026

Trăm vòng kẽm gai nơi trận địa

Giăng như tơ nhện giăng hố sâu

Mắt lính đỏ ngầu đêm thiếu ngủ

Thi gan thức trắng cùng trời sao

Ngày đi hành quân rừng ngập nước

Sình lầy ngang bụng đĩa bám lưng

Nước tanh tưỡi mùi như mùi máu

Bạn ta vừa trúng đạn chết đêm qua

Thì thôi gian khổ vương đời lính

Những tuổi hai mưới bỗng rất già

Nghiến răng bước tới rừng thăm thẳm

Ngón tay cò súng đạn lên nòng

Mẹ sinh ta thằng con bất hiếu

Bỏ quê biền biệt chẳng trở về

Hành quân ngâm khẽ câu Túy ngọa

Sa trường hồ dễ đáo chinh nhân

Thì thôi gian khổ vương đời lính

Những tuổi hai mươi bỗng rất già

Nghiến răng bước tới rừng thăm thẳm

Ngón tay cò súng đạn lên nòng

Mẹ sinh ta thằng con bất hiếu

Bỏ quê biền biệt chẳng trở về

Hành quân ngâm khẽ câu túy ngọa

Sa trường hồ dễ đáo chinh nhân

Hành quân ngâm khẽ câu túy ngọa

Sa trường hồ dễ đáo chinh nhân

Tháng ba từ biệt Pleiku

hung-viet.org

16 Tháng Ba 2026

Donry Nguyễn

Post by Sơn râu 9 Jul 2026

Tỉnh lộ 7 – 23/3/1975

(Ký sự người pháo thủ pháo đội C/221/PB trên đường di tản từ Pleiku về Tuy Hòa tháng 3/1975).

Tháng Ba nhận lệnh lìa biên ải,

Kéo súng lui binh giữa bụi mù.

Xe qua Diệp Kính, chào em gái

Đâu ngờ xa cách mãi Pleiku!

Tỉnh lộ Bảy B người đông nghẹt,

Quân đi dân chúng lấn chen hàng.

Quân-Dân-Cá-Nước tình chan chứa

Có khi nào, lại chẳng cưu mang?

Đoàn xe chậm rãi lăn từng bước,

Pháo địch rê theo nổ dậy trời!

Những xác người tung, rung tiếng thét

-Xác nào là xác của con tôi!

Tu-Na đèo máu, tanh mùi máu,

Dựng súng ven rừng bảo vệ dân.

Đạn hết, phá nòng, chôn cơ bẩm,

Lòng lính hoang mang, quặn thắt lòng!

Rừng vây bốn phía, cây trùng điệp

Giặc đuổi theo sau, núi chặn đường!

Đêm trú bờ khe mà nước mắt,

Chảy tràn máu lệ khóc quê hương!

Vượt bao nguy khốn về Thạnh Hội

Cầu phao, nằm đợi lượt sang sông.

Thần chết gieo mầm theo đạn cối

Dòng nước sông Ba máu nhuộm hồng.

Ai xui triệt thoái theo đường Bảy?

Đường bỏ lâu ngày, đá ngổn ngang.

Cầu gãy, xe ùn, quân nghẽn lối

Khiến cả binh đoàn, tan…nát tan!

Tháng Ba, lệnh rút về duyên hải,

Hẹn ngày trở lại giữ biên cương.

Lính nhỏ nào hay cơn thành bại

Đâu biết lần đi biệt chiến trường!

                     ***

Ơi người em gái Pleiku cũ,

Có còn nhớ đến lính ta không?

Ta đi theo gót đoàn quân mỏi

Lực cùng không giữ vẹn non sông!

Phố núi bây giờ mây có thấp,

Có còn sương trắng những mùa đông?

Năm mốt năm rồi ta vẫn nhớ…

“Em Pleiku má đỏ môi hồng”…

Tháng Ba, kéo súng đường di tản

Là mãi chôn vùi mọi ước mơ,

Pleiku bỏ lại, hờn ngui ngút…

Sương phụ ôm con mỏi mắt chờ!

Donry Nguyễn.

Hải Quân Đại tá Brian Truong (gốc Việt), Sĩ quan thực tập Hạm phó, Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN 71), Hải Quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on July 8, 2026 by dongsongcu

Đăng ngày 19/04/2026, cập nhật ngày 08/07/2026

Nguyễn Quân

HQ Đại tá Brian Truong (hình của linkedin.com).

Hải Quân Đại tá Brian Truong hiện là Sĩ quan thực tập vị trí Hạm phó Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN 71), Hải Quân Hoa Kỳ. Ông là Sĩ quan cao cấp Phi công Hải quân (gốc Việt) được tuyển chọn làm Ứng viên Hạm phó từ tháng 4 năm 2025. Ông được thăng cấp Đại tá ngày 1 tháng 5 năm 2026, theo thông báo từ mynavyhr.navy.mil ngày 13 tháng 4 năm 2026. Hàng không mẩu hạm (HKMH) USS Theodore Roosevelt (CVN 71) thuộc lớp Nimitz, trọng tải 106,300 tấn, dài 332.8 mét, chạy bằng năng lượng hạt nhân, có mang theo 90 phi cơ F/A-18E, F/A-18E, EA-18G, E-2D, CMV-22B và trực thăng MH-60S/R cùa Không đoàn 11 (CVW-11). Con tàu này được đặt tên vị Tổng Thống Theodore Roosevelt thứ 26 của Hoa Kỳ, là người đề cao sức mạnh của Hải Quân.

Hạm trưởng (Commanding Officer) HKMH USS Theodore Roosevelt (CVN 71) hiện nay là HQ Đại tá William Mathis; Hạm phó (Executive Officer) là HQ Đại tá Michael Silver. HQ Đại tá Brian Truong thực tập vai trò Hạm phó dưới sự hướng dẫn của HQ Đại tá Michael Silver, một Sĩ quan Phi công trực thăng Hải quân đàn anh, tốt nghiệp Học viện Sĩ quan Hải quân (US Naval Academy) năm 2003, trước HQ Đại tá Brian Truong 1 năm. Trước khi đảm nhận chức Hạm phó, HQ Đại tá Michael Silver đã thực tập vai trò Hạm phó HKMH USS Theodore Roosevelt (CVN 71) 2 năm.

HQ Đại tá* Hạm trưởng (commanding officer) và HQ Đại tá Hạm phó (Executive Officer) chỉ huy một HKMH nguyên tử của Hải quân Hoa Kỳ, thường là Phi công Hải quân (Naval Aviator) hoặc Sĩ quan phi hành Hải quân (Naval flight Officer). Đây là yêu cầu quy định nhằm bảo đảm sự phát triển của ngành Hàng không Hải quân. Quy định này đặt họ dưới sự quản lý của các Bộ Tư lệnh Không quân Hải quân (U.S. Naval Air Forces). Trong bối cảnh lịch sử: Yêu cầu này được Quốc hội quy định vào năm 1920. Ngày nay, tất cã Sĩ quan chỉ huy HKMH của Hải quân Hoa Kỳ đều là Phi công Hải quân. Hải quân Hoa Kỳ hiện có 11 HKMH nguyên tử (CVN) và 9 Chiến hạm tấn công đổ bộ/HKMH trực thăng (Amphibious assault ships/Helicopter carriers), tất cả Hạm trưởng và Hạm phó của 2 loại HKMH trên đều mang cấp bậc HQ Đại tá ngành phi hành Hải quân.

Huy hiệu HKMH USS Theodore Roosevelt (CVN 71) của vi.wikipedia.org/wiki

HQ Trung tá Brian Trương lớn lên tại Portland, Oregon, ông tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy) năm 2004. Tháng 5 năm 2006, ông được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công Hải quân tại NAS Whiting Field, và hoàn tất khóa huấn luyện Phi công trực thăng H-60F/H tại Phi đoàn 10 trực thăng chống tiềm thủy đĩnh vào năm 2007.

Nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp của HQ Đại tá Brian Trương, ông phục vụ tại Phi đoàn 11 trực thăng chống tiềm thủy đĩnh tại Jacksonville, Florida. Ông được điều động phục vụ trên HKMH USS Enterprise (CVN 65) để yểm trợ cho chiến dịch IRAQI FREEDOM và chiến dịch ENDURING FREEDOM. Tháng 1 năm 2010, ông bay các phi vụ yểm trợ nhân đạo tại Haiti trong lúc phục vụ trên HKMH USS Carl Vinson (CVN 70) trong Chiến dịch UNIFIED RESPONSE.

Trong nhiệm kỳ phục vụ đơn vị trực thăng trên bộ từ năm 2010 đến năm 2013, ông là Phi công huấn luyện của Phi đoàn 3 trực thăng chiến đấu biển và là Sĩ quan bảo mật Truyền tin đơn vị. Năm 2013, ông được chọn làm Sĩ quan tùy viên cho Tư lệnh, Lực lượng Không quân của Bộ Tư lệnh Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ (United States Atlantic Fleet), nay là Bộ Tư lệnh các Lực lượng Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ (United States Fleet Forces Command).

Tháng 2 năm 2016, với chức vụ là Trưởng phòng hành quân, HQ Đại tá Brian Trương tường trình cho Chỉ huy trưởng phi đoàn 23 trực thăng chiến đấu biển. Vào mùa thu năm 2017, ông chỉ huy một hơp đoàn trực thăng hỗ trợ các nỗ lực cấp cứu bão Harvey ở Texas. Năm 2018, ông làm Phi đội trưởng, Phi đôi Ba, kiêm Sĩ quan an phi đơn vị, ông đã bay hướng dẫn hai máy bay trực thăng đáp xuống bệnh viện hạm USNS Mercy để yểm trợ cho công tác PACIFIC PARTNERSHIP 2018.

Trong nhiệm kỳ một năm làm Trưởng phân bộ đơn vị Hải quân, ông là Thư ký cùng đồng nghiệp trong ngành, nơi ông phục vụ trong vai trò Tham mưu trưởng cho Giám đốc cao cấp về lãnh vực đào tạo nhân tài, và làm Giám đốc chương trình của nhóm phân tích nhân lực. Tháng 9 năm 2020, HQ Đại tá Brian Truong được bổ nhiệm làm Chỉ huy phó, Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển, đến tháng 12 năm 2021, ông chính thức trở thành Chỉ huy trưởng phi đoàn 14 và chỉ huy đơn vị đến tháng 3 năm 2023.

HQ Trung tá Brian Truong “phải”, được trao tặng huy chương Meritorious Service Medal do công trạng chỉ Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển (HSC-14) trong buổi lễ chuyển giao quyền chỉ huy tại căn cứ Không quân Hải quân North Island, ngày 9 tháng 3 năm 2023 (hình của Trung sĩ Hải quân Elisha Smith, dvidshub.net).

Sau nhiệm kỳ Chỉ huy Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển, HQ Trung tá Brian Truong được chỉ định phục vụ tại Bộ Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff), Washington DC-Baltimore Area, từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 4 năm 2025 qua các nhiệm vụ: Sĩ quan Phó phụ tá cho Trung tướng, Giám đốc Tham mưu liên quân; Sĩ quan kế hoạch chính trị-quân sự, Ban Đông Bắc Á, Phòng 5 (J5); Phó phòng 5 (J5), Ban Đông Bắc Á. Sau nhiệm kỳ 2 năm phục vụ tại Bộ Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff), HQ Trung tá Brian Truong được chỉ định trở về phục vụ Hải quân. Ông được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Active-Duty Officer Promotion Boards) đề cử thăng cấp HQ Đại tá ngày 24 tháng 4 năm 2025, và đã được Uỷ ban quân vụ xác nhận, bầu chọn ngày 29 tháng 6 năm 2025. Ông được chỉ định thực tập vi trí Hạm phó Hàng không mẩu hạm khi còn mang cấp Trung tá. Và sẽ thay thế HQ Đại tá Michael Silver làm Hạm phó HKMH Theodore Roosevelt (CVN 71) sau khi hoàn thành nhiệm kỳ thực tập.

HQ Trung tá Brian Truong tốt nghiệp các Văn bằng: Hoàn tất xuất sắc Văn bằng Cao học an ninh Quốc gia và nghiên cứu chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương, Trường Đại học Hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College), năm 2015; Văn bằng Cao học điều hành quản trị kinh doanh, Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), năm 2013; Văn bằng Cử nhân khoa học kinh tế, Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy), năm 2004. Văn bằng cao cấp khóa học năng lượng hat nhân, Trường năng lượng hạt nhân – Bộ chỉ huy huấn luyện năng lượng hạt nhân Hải quân (NNPTC), tháng 1 năm 2026.

HQ Đại tá Brian Truong là một Phi công Hải quân với trên 21 năm kinh nghiệm và đã bay hơn 2.600 giờ, điều khiển những phi cơ quân sự tối tân nhất thế giới. Ông đã đã lãnh đạo, chỉ huy hàng trăm Thủy thủ và quản lý hàng chục phi cơ trị giá hàng trăm triệu đô la trong suốt binh nghiệp của mình, đồng thời ông chỉ huy các nhiệm vụ tác chiến để đạt được các mục tiêu quân sự. Ông mong muốn tận dụng kinh nghiệm chỉ huy và quản lý sâu rộng của mình để chỉ huy các tổ chức hoạt động hiệu quả cao và làm cho các đội, nhóm hoạt động hiệu quả hơn bằng cách chỉ đạo các sáng kiến ​​thúc đẩy sự xuất sắc trong hoạt động. Ông được trao tặng nhiều loại huy chương và bằng khen cao quý của Hải quân Hoa Kỳ.

HQ Đại tá Brian Truong là 1 trong 39 HQ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt. 24 vị đương nhiệm, 14 vị hồi hưu và 1 vị đã qua đời. Danh sách 24 Đại tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong quân chủng Hải quân Hoa Kỳ được ghi nhận sau đây: HQ Đại tá Trinh Hien; HQ Đại tá Bui Han Quan; HQ Đại tá TuAnh C. Halquist; HQ Đại tá Nguyen Trung D; HQ Đại tá Ly Nam Thanh; HQ Đại tá Doan Vinh Dang; HQ Đại tá Luu Thu Nhuan; HQ Đại tá Choate Paul L (Long Mỹ); HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van; HQ Đại tá Nguyen Mark Minh Duy; HQ Đại tá Mai Vinh Q; HQ Đại tá Do Tai Anh; HQ Đại tá Hoang Thanh Duc; HQ Đại tá Nguyen William B; HQ Đại tá Vu Phong Loi; HQ Đại tá Quach Hoai Linh; HQ Đại tá Nghiem Hoan Boi; HQ Đại tá Tran T Tin; HQ Đại tá Nguyen Long Tuong; HQ Đại tá Nguyen Chuong Thieu; HQ Đại tá Brian Truong; HQ Đại tá Dennis La; HQ Đại tá Nguyen Anvy và HQ Đại tá Pham Tyrone D (đề cử thăng cấp Đại tá tháng 5 năm 2026). Hải Quân Đại tá Brian Truong là Sĩ quan Phi công cao cấp Không quân của Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt duy nhất sẽ giữ chức Hạm phó Hàng không mẩu hạm Hải quân Hoa Kỳ. Riêng ngành Sĩ quan phi hành Không quân của Hải quân, ngoài HQ Đại tá Brian Trương, còn có nhiều Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt khác bay các loại phi cơ: P-3 Orion; P-8 Poseidon; T-6B Texan II; T-44C Pegasus; KC-130T; MH-60R Seahawk; F/A-18 Hornet; T-44 Pegasus; E-2C Hawkeye và EA-6 v.v…

Chú thích: *HQ Đại tá=Navy Captain.

Chúc HQ Đại tá Brian Truong thăng tiến hải nghiệp.

Nguyễn Quân

Nguồn: facebook.com/USSTheodoreRoosevelt; airpac.navy.mil; mynavyhr.navy; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt; bienxua-11 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2025

Bóng người thương lẫn khuất giữa sông…đầy…!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 9 Jul 2026

Hồi xưa mục ‘Gỡ rối tơ lòng’ trang báo dành cho đàn bà, con gái như trong tờ Phụ Nữ Diễn Đàn chẳng hạn, thường do bà Tùng Long phụ trách. Tơ lòng rối là cái chắc.  Một mình gỡ không ra nên phải nhờ thức giả gỡ dùm.

Bây giờ thì trong nước, văn minh hơn, có mục trực thoại truyền thanh gỡ rối tơ lòng…thòng mà thính giả gọi vào thì được chuyên viên tư vấn tâm lý giúp đỡ, gỡ cho.

Đừng tưởng nó là bá láp! Mấy chương trình này có chỉ đạo đàng hoàng đó nha. Nó nhằm mục đích cho đám nhỏ sa đà vào chuyện tình ái ‘lăng quăng’, mà quên đi cái bọn Tàu Phù đang giành đất, lấn biển Đông?!

Một thính giả, chắc là con đám giang hồ đất Cảng, đã gọi vào và khoe rằng: Chú đã thịt cô chị rồi mà nay cô em đang nhởn nhơ, phởn phơ trước mắt, bẹo tới bẹo lui hoài, nên bối rối quá hỏng biết phải tính làm sao?

Chuyện gia tư vấn, chắc cũng cùng một giuộc, thuộc giang hồ đất Cảng, hỏi: “Chú em có muốn thịt luôn cả họ nhà nó không? Nếu không, đến nhà tìm cô chị, không có ở nhà thì vào phòng cô em để làm gì? Mà nếu người ta đóng cửa phòng lại, thì mình phải biết đường ra chớ?! Con chuột nó còn biết tìm cách lách ra khỏi cửa huống chi là mình. Đúng không…?”.

Cách hỏi và cách trả lời sao nhuốm ‘mùi xã hội đen’ quá cở thợ mộc?!

Chú em này chắc: Ta đây là: bố quan nha, nhà mặt phố nên nghĩ em nào cũng khoái nhào vô!  Hỏi không phải để hỏi. Hỏi chỉ để khoe thôi…?!

Còn bên Perth, Tây Úc, cũng nói vậy, nhưng không phải vậy. Nói chỉ để khoe thôi. Ông ‘thần’ này, không cần ai tư vấn gì sất, tự ‘ên’, tới luôn bác tài, rồi kêu báo, đài, tới phỏng vấn chơi .

Chuyện rằng: Marc Glasby có vợ là Belle gần 30 năm. Thình lình con vợ tìm lại được người em gái song sinh thất tán từ nhỏ. Chị em về ở chung. Ông anh rể này chắc khó lòng phân biệt đứa nào là đứa nào; nên thôi ‘thịt cả nhà nó’ luôn! Cho tiện việc sổ sách. Đêm nay bà này; đêm mai bà kia. Hơi mệt chút nhưng cũng có phần êm ấm. Y cười hè hè nói: “Tui như khúc ‘sausage’ kẹp giữa hai lát bánh mì ‘sandwich’ vậy mà!”

Tưởng gì?  Có vậy mà cũng khoe! Cách đây mấy ngàn năm, theo Tam Quốc Chí,  thì Lưu Bị đã làm trước mấy mươi đời vương rồi.  Khi làm quan ở Dụ Châu, Lưu Bị ‘quằm’ Cam Phu nhân, My phu nhân, là hai chị em ruột, rồi sau đó là em gái Tôn Quyền, rồi sau đó nữa là Ngô Phu nhân. Sơ sơ có bốn bà thôi! Thời đó chưa có Viagra chắc Lưu tiên sinh ‘oải’ dữ à nha!

Như vậy Tây, Tàu, Ta đều khoái tỉ tê cái chuyện hai mái một trống hay nói một cách cờ bạc là hai bầu một con cua, hay hình tượng hơn một chút là khúc sausage kẹp giữa hai lát bánh mì sandwich. Nhưng  Úc đâu có chịu. Nó làm luật đàng hoàng:

“Ai có vợ, có chồng rồi mà còn kết hôn với người khác là bị tội song hôn theo chương 94 của luật gia đình 1969.  Hình phạt tối đa là 5 năm tù ở!!!”

Do đó cỡ Lưu Bị gặp Úc mà không chạy sút dép (vì tiên sinh thuở thiếu thời từng đi bán dép) thì Úc nó nhốt . Chứ nó không chịu ‘xính xái’ cho ‘xính xáng’ đâu à nha?

Bên Tây chắc cũng có luật na ná như vậy nên ông tổng thống Pháp François Hollande chẳng thèm cưới hỏi gì ráo trọi cho nó rắc rối. Bà nhỏ, ông ở lúc còn nhỏ, là Ségolène Royal, chính trị gia, đẻ cho ông 4 trự. Bà lớn, ‘ghệ’ ông lúc lớn, là Valérie Trierweiler, ký giả. Ông đắc cử thì bà thành ‘đệ nhứt tình nhân’ của nước Phú Lang Sa vì có cưới hỏi gì đâu mà đòi làm ‘đệ nhứt phu nhân’. Và bà này cay như ớt hiểm. Số là Ségolène Royal ứng cử nghị sĩ. Tình xưa, nghĩa cũ, tổng thống, cùng đảng Xã Hội, hết lòng ‘ẵm hộ’ người xưa. Nhưng bà ‘đệ nhứt tình nhân’ này lại ủng hộ Olivier Falorni, là đối thủ chính trị của Ségolène Royal. Rốt cuộc Royal thất cử. Tan tành cái mộng làm chủ tịch quốc hội Phú Lang Sa. Cũng tại ‘nó’ mà ra!.

Do đó tuyên bố rằng hai vợ là trong ấm ngoài êm như vua lúa giống, ở Lương Hòa Lạc, Mỹ Tho là dóc tổ…

Nội cái chuyện ‘đêm nay anh vô em nào’ cũng là rắc rối lắm rồi.

Chuyện xưa quê mình bằng thơ như vầy:

Người vợ nhỏ:

“Rượu nằm trong nhạo chờ nem”

Nằm hoài mà có thấy khúc ‘sausage’nó đâu? Bèn ấm ức ‘chít chát’ rằng:

“Đêm khuya gió lặng sóng yên
Lái kia có muốn ghé thuyền sang chơi!”

Khúc ‘sausage’ bèn ‘chít chát’ lại rằng:

“Muốn sang bên ấy cho vui
Mắc đồn lính gác, khó xuôi được đò!”
Thì vợ lớn lại ra điều kiện rằng:

“Sông kia ai cấm mà lo
Muốn sang thì nộp thuế đò rồi xuôi!”

Trời đất!

“Không buôn không bán thì thôi
Qua đồn hết vốn còn xuôi nỗi gì?”

Thế là tan vỡ một đêm vui! Mạnh ai nấy nằm chèo queo. Nên nữ sỉ Hồ Xuân Hương tức quá, chửi um:

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng!”

Vây mà Giáo Hương trong Tuyệt Tình Ca của Hoa Phượng và Ngọc Điệp đâu có ngán. Ở Mỹ Tho, Giáo có một bà và hai thằng cu rồi; lại lang bạt qua Vĩnh Long để găp em Lan chi nữa. Rồi ‘tọt’ ra Lê thị Trường An và Lê Long Hồ.

Thời buổi loạn lạc, Giáo lên Sài Gòn làm ông cò quận 9. Thất tán người xưa. Kết cuộc đau lòng là con dòng lớn thì ăn chơi lêu lổng. Vợ thì bài bạc. Còn bà nhỏ, nghèo quá, quần quật làm nuôi con đến nỗi  ho lao. Con gái, Lê thị Trường An, phải đi làm ‘gái bao’ nuôi má, nuôi em!

Ngày găp lại người xưa, Giáo rơi nước mắt. Khổ quá chừng chừng mà hỏng ai thương?! Còn phải nghe bà lớn đay nghiến:

“Trồng trầu thì phải khai mương
Làm trai hai vợ mà ông thương không đồng
Chim quyên ăn trái nhản lồng
Lia thia quen chậu mà vợ chồng sao ông lại quên hơi”
 Còn em Lan, vợ nhỏ, thì hờn trách:

“Nhưng chồng của tôi lại quá đỗi bạc tình
Về với vợ lớn rồi, không trở lại thăm mẹ con tôi
….Từ Mỹ Tho xuống Vĩnh Long chỉ có một đoạn đường
Tôi chờ đợi mỏi mòn, anh Hương vẫn không thèm xuống
Bỏ tôi lạc lỏng, giữa chợ đời với lũ con thơ
Sống vất vưởng bơ vơ, với cái nghèo bữa đói bữa no!!!”
Thưa bạn đọc trân quý, nhất là quý ông! Nay cơm, mai phở ai mà không khoái. Nhưng nhức đầu quá, xin hỏng dám đâu! Nếu mà lỡ có em nào còn thương xót ‘chim hót trong lồng’ thì cũng xin ‘từ tạ trong đêm’ bằng câu vọng cổ đầy thở than, ai oán của Giáo Hương khi phải giã biệt người xưa, em Lan của cái làng Tân Ngãi, Vĩnh Long rằng:

 “Tôi đứng đây mà tưởng chừng như đang đứng trên bờ sông Mỹ Thuận. Khi mình quay xuồng tách bến để trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn. Con nước lớn lục bình trên rời rạc. Chiều đã xuống mặt trường giang bát ngát, mà bóng người thương lẩn khuất giữa sông… đầy…!”

Em yêu ơi! Cám ơn em đã yêu anh! Nhưng thôi! Bóng chim tăm cá đi em! Xin bóng người thương lẩn khuất giữa sông đầy… để trái tim ‘qua’ ngủ yên. Cho nó khỏe!

Đa thê là đa mang, là đa khổ hận phải không? Thưa quý bạn hiền!

Tuyết cuối đông và Cúc tháng giêng

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 9 Jul 2026

Trong căn phòng nhỏ, lò sưởi hơi nước tỏa làn hơi ấm áp. Ngồi vào bàn, tôi mở laptop. Ánh sáng nhẹ hắt lên gương mặt. Liếc mắt xuống góc màn hình, chỗ báo thời tiết thấy nhiệt độ ngoài trời vẫn đang dưới không độ và tuyết đang rơi nhẹ. Tôi ngó ra khung cửa, trăng khuyết đã lên trên mái nhà.

Ồ, đẹp quá! Tôi đứng lên đi tới nhìn ra bên ngoài khung cửa, ngoài kia tuyết rơi rất mịn, mặt đất như phủ một tấm khăn trắng mỏng. Gió lùa qua mái nhà, âm thanh nghe thôi cũng đủ lạnh. Dưới ánh trăng dịu nhẹ, những chấm đèn đỏ nhỏ nhấp nháy trên dãy turbine gió, dấu hiệu quen thuộc của vùng đất Flevoland, miền đất thấp lừng danh bởi những công trình lấn biển và những cánh đồng tulip có gió miên man.

Tôi quay lại bàn làm việc, rà chuột lật trang trên màn hình laptop, ai đó đăng một đoạn video: những cánh mai vàng không biết hồi nào mà vẫn còn nở, chưa bán hết. Người quay phim nói Tết năm nay ảm đạm, buồn hiu. Chẳng biết cái buồn hiu ở Việt Nam như thế nào? Nhưng riêng tôi thì nổi buồn ray rứt của những năm đầu xa xứ, nay đã hết rồi. Chỉ còn quan tâm như người khách nhìn vào mâm cúng của người nghèo ba ngày Tết, trong lòng có chút xót xa. Tuy nhiên, những sắc vàng của những chậu mai, chỉ cần nhìn thôi cũng đủ làm lòng dịu lại. Tôi bấm xem lịch ta, hôm nay đã mười một tháng Giêng rồi. Chợt nhớ lại câu nói người xưa, hết mùng là hết Tết. Vậy là ở quê nhà, người ta bắt đầu nói với nhau: “Ra Giêng rồi đó.”

Chỉ một câu vậy thôi, mà ký ức bỗng mở ra. Tôi như thấy đàn bướm vàng chập chờn trên những luống bông bên hông nhà. Nghe tiếng chim lảnh lót trên những cành bưởi trắng ngát hương sau vườn. Nghe mùi nắng tháng Giêng hong nhẹ trên mái hiên. Tất cả gọi tôi trở về một nơi rất xa.

Quê hương tôi đã ra Giêng.

Ở miền Nam, không khí cũng đổi khác. Bớt rộn ràng, bớt níu kéo, tuy mai vẫn còn rực rỡ, nhưng người ta bắt đầu nói nhiều hơn về những chậu cúc. Cúc tháng Giêng không còn rộ sắc như những ngày cận Tết, nhưng vẫn được nâng niu trên bàn thờ, trong hiên nhà, như một lời chúc còn sót lại của năm mới. Những lời chúc thưa dần, nhưng cũng nhờ vậy mà ấm áp hơn.

Tháng Giêng âm lịch, tháng mở đầu của một năm, luôn mang theo một không khí riêng. Không còn tưng bừng như ba ngày Tết. Không còn là mùa của sum họp đông đủ. Nó là khoảnh khắc chia tay không bịn rịn, người ta bắt đầu quay về với công việc, với những lo lắng ngày thường, những dự định tương lai. Là lúc chấp nhận một vòng quay mới đã thực sự bắt đầu.

Còn tôi, giữa mùa đông Hòa Lan, chỉ nghe tiếng gió qua khe cửa. Tiếng lạo xạo dưới chân người đi vội. Ở Flevoland, gió nhiều và mùa đông dường như dài hơn những gì tôi từng quen. Mỗi lúc mở cửa, hơi lạnh ùa vào như muốn nuốt trọn chút ấm áp trong phòng.

Có những lúc tôi đứng nhìn những cánh quạt gió xoay đều trong sương mù. Chúng quay chậm rãi. Lặng lẽ. Và lòng tôi cũng quay theo, có chút trống trải không gọi thành tên.

Vậy mà chỉ cần nhìn lại những hình ảnh quê nhà trên màn hình, tôi đã nghe tháng Giêng đang trôi. Nghe mùi thơm bánh tét dư ra trong ba ngày tết đem chiên giòn, ăn với thịt ba rọi kho trứng được trộn cùng cải chua thành món có tên là “xào bần” giản dị. Nghe tiếng trẻ con chạy tung tăng trong xóm nhỏ. Nghe tiếng gọi nhau đi lễ chùa rằm tháng Giêng.

Những điều rất nhỏ ấy làm mùa đông nơi xứ người bớt lạnh đi một chút. Dù chỉ trong khoảnh khắc. Có những buổi tối, tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn tuyết rơi mà tưởng như đang nhìn mưa trên mái ngói quê nhà. Tuyết trắng. Hoa vàng. Hai thế giới chẳng liên quan gì nhau. Vậy mà trong lòng tôi, chúng hòa vào nhau một cách tự nhiên, như thể khoảng cách chỉ là một lớp sương mỏng.

Tháng Giêng là tháng ăn chơi, quê nhà rộn ràng theo cách riêng của nó, ai ra khơi đánh cá thì ra, ai vô ruộng, vô rẫy mần thì cứ mần, khi chiều về thì vẫn tụ nhau đờn hát.

Mùa đông, quê người lặng lẽ theo cách của mình. Tôi đứng giữa hai miền: ký ức và hiện tại. Tôi mỉm cười. Nhẹ khép cửa sổ lại để giữ hơi ấm. Rồi đặt tay lên bàn phím.

Tôi biết mùa đông này rồi cũng sẽ qua, như bao mùa đông khác. Tuyết sẽ tan. Gió sẽ dịu. Nắng sẽ trải dài trên những cánh đồng ở Flevoland. Và tôi vẫn tiếp tục hành trình nơi xứ người, mang theo trong tim một tháng Giêng không bao giờ tắt. Bởi quê hương không chỉ nằm trên bản đồ. Quê hương nằm trong hơi thở. Trong giấc mơ. Và đôi khi, chỉ cần vài cái chạm nhẹ trên bàn phím, cả một bầu trời quê nhà đã hiện ra trước mắt.

Flevoland 27/2/2026

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Nam Việt

Ấn hành lần thứ hai 6-2006

Post by Sơn râu 9 Jul 2026

Tặng Điệp

Độc giả đầu tiên của tôi

Huy Phương

“Lấy chi trả thảo cho cha,

Đền ơn cho mẹ, con ra lấy chồng”

(Ca dao)

Lúc tôi mới lên ba thì chị đã mười tám tuổi. Ngày ấy khi cha tôi dạy học ở Bố Trạch, Quảng Bình thì chị tôi theo chồng về tỉnh ly Đồng Hới, con đường từ nhà mẹ ra nhà chồng cũng chẳng bao xa. Tôi nghe nói ngày chị đi lấy chồng, mẹ tôi khóc nhiều vì chị là con đầu lòng, mà chị tôi cũng sụt sùi không kém. Vài năm sau, cha tôi đổi về quê quán Thừa Thiên cho gần gũi với bên nội, thì khoảng cách giữa chị tôi và gia đình xa thêm một khoảng đường. Năm 1954, đất nước bị chia cắt, chị tôi và mẹ ở hai miền Nam Bắc phân ly không hy vọng có ngày đoàn tụ. Trong suốt một thời gian dài, mẹ tôi xót xa coi như mất một đứa con không bao giờ có thể thấy mặt lại. Hai mươi mốt năm sau, khi chị tôi về lại quê nhà thì cha mẹ tôi đã qua đời. Dù có hạnh phúc với chồng con đi nữa, suốt cuộc đời, chị tôi vẫn mang trong lòng một sự ân hận, là phải đi lấy chồng xa để khuya sớm không được gần gũi với cha mẹ. Và mẹ tôi trước khi thở hơi cuối cùng giã từ cuộc đời vẫn thường nhắc đến chị tôi, trong lòng còn thương nhớ khôn nguôi.

Ngày cha tôi từ giã cõi đời, con cái ông đang ở mỗi đứa một nơi, đứa cam phận tù đày, đứa phiêu bạt rời bỏ quê hương, trong những ngày hiu quạnh cuối cùng chắc ông buồn lắm. Thế hệ ngày trước, lớn lên, sống và chết trong cùng dưới một mái nhà, có lẽ không ai muốn con thành đạt để đi xa, mà chỉ muốn con cái quanh quẩn bên cạnh như đàn gà dưới cánh mình, dù đôi lúc sức lực cha mẹ không còn che chở được gì cho con cái.

Không ai muốn gả con đi lấy chồng xa, không phải vì còn nhờ cậy lúc tuổi già “gả con thì gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho”, mà chính vì mối tình cảm quyến luyến giữa mẹ con, gia đình: “mẹ ơi đừng gả con xa, một mai cha yếu mẹ già ai trông?”

Có phải ngày nay tấm lòng con không phải còn chơn chất, đơn thuần như ngày trước không, hay là vì tấm long cha mẹ đã đổi thay. Cái trò chơi háo hức làm người dự thí để được trúng tuyển lọt mắt xanh được một ông chồng Đại Hàn, Tàu Cộng hay Tàu Quốc rồi bây giờ tới Mã Lai, Singapore đã trở thành một câu chuyện “thường ngày ở huyện”, không dở không hay, không vui mà cũng không buồn. Nó đã trở thành một nếp sống, nói theo chữ dùng của bên nhà là “nếp sống văn hóa”, đương nhiên phản ảnh con người và tư tưởng của cái xã hội ấy. Trong cái xã hội mới cách đây vài chục năm ngắn ngủi thôi, cái lễ nghĩa, liêm sỉ khi trong một gia đình có đứa con gái gọi là “bị chửa hoang” hay “làm đĩ” được coi là “bôi tro trát trấu” lên mặt mày cha mẹ và danh giá gia đình, thì ngày nay nó lại là chuyện đương nhiên, nếu việc ấy đem về cho gia đình một số lợi nhuận, để cái nhà mình có thể cất lên cao đẹp hơn những cái nhà khác trong xóm, và mặt mày cha mẹ cũng hãnh diện ngẩng cao hơn. Có nỗi đau đớn nào hơn:

– “Mẹ cha ơi hỡi mẹ cha,

Nghèo gần không gả, giàu xa đem đày!”

– “Mẹ em thấy của thì ham

Hang hùm cứ tưởng hang vàng ép con.

Nói ra thẹn với nước non

Ngậm vào cay đắng lòng con đêm ngày!”

Trong truyện Kiều, vướng nỗi oan ức, “ …. thằng bán tơ kia giở giói ra, làm cho bận đến cụ Viên già” thì nàng Kiều mới đành phải bán mình chuộc cha. Đời này chúng ta có hằng chục nghìn cô Kiều cũng trẻ thơ xinh đẹp, cha mẹ chưa hề mắc vòng lao lý hay phải hầu cửa quan, chưa vướng lụy nỗi oan gia, mà cũng tự nguyện bán mình. Lý do mà quí cô đưa ra là nghèo đói làm không đủ ăn, không có tiền cho cha mẹ trả nợ hay cần sửa nhà, sửa cửa, mua xe. Xem ra thì những lý do đó vẫn quanh quẩn chung quanh chuyện tiền. Trong thời chiến tranh người ta mừng vì sinh con gái khỏi phải cầm súng ra mặt trận, ngày nay đông con gái cũng là điều mang giàu sang lại cho nhiều gia đình. Thời chiến tranh, Thượng Nghị Sĩ Mỹ McGovern khi sang thăm Việt Nam chỉ mới nói một câu: “Saigon là một ổ điếm” mà những người có liêm sỉ đã thấy giận đỏ mặt, hôm nay đất nước này coi chuyện bán thân, làm đĩ là chuyện bình thường thì chúng ta còn dám ngẩng mặt lên nhìn ai nữa!

Ngày nay những người chị của tôi lớn lên trong tuổi thanh xuân sẽ không có mối tình duyên đẹp đẽ, hoa mộng nào nữa. Chị lo trau dồi sắc đẹp, giữ gìn thể xác và nguyện lòng chẳng hề yêu ai, để một ngày kia chị sẽ không còn nỗi vướng bận nào khi chị ra đi, làm như đời chị sinh ra được sắp đặt tới một tháng ngày nào đó, như một món hàng, người ta xuất cảng chị ra nước ngoài, để đem về cho chính phủ của chị một món ngoại tệ, cho cha mẹ một số tiền trả ơn trả nghĩa phải chăng. Có hàng nghìn người chị đã bỏ xóm làng ra đi, chị bỏ cái cuốc cầm tay, gánh hàng trên vai hay mái chèo nơi một con đò ven sông, và nhất là chị phải bỏ những mối ràng buộc yêu thương, liên hệ gia đình để tới một nơi xa lạ, lạ những phong cảnh, thế tục, lạ cả tiếng người. Cũng có thể những người chị này đã để lại bao nhiêu mối tình thơ mộng sau lưng cho những chàng trai đã ngày nào yêu chị. Rút cuộc, người ta nhận ra rằng, không còn gì giữ chân chị lại được, ngoài đồng tiền ra.

Ngày nay không phải thân phận chị chỉ được rao bán tại quê nhà mà chị như kiện hàng được đem ra nước ngoài, để trên kệ hàng, tủ kính có ánh đèn màu hấp dẫn, có ghi giá cả như con cừu trong chợ gia súc hay món thịt đông lạnh trong cửa hàng thịt. Phải nói chị sinh ra không gặp thời, chị lớn lên trong lúc người ta cần những thứ hàng xuất khẩu. Anh em chị, người sang đông, kẻ sang tây đổ máu mắt, mồ hôi mới có miếng ăn, đồng tiền trả nợ, đồng tiền ơn nghĩa ngay cho những thế lực đã mang bán các anh em họ hàng ra đi. Chị cũng như món hàng. Ngày xưa mẹ có rổ rau, buồng chuối hay con gà, cặp vịt đem ra chợ bán, để có đồng tiền mua lại mớ tôm, con cá, hay may cho chị manh áo mới, mua cái lược, cái gương soi. Ngày nay, có lẽ không còn gì hay sao mà cha mẹ lại đành lòng bán chị đi. Ngày xưa, nuôi được con heo nái đẻ con, lúc bán đàn heo con đi,

mẹ cầm xấp bạc trong tay mà thở dài, bây giờ bán chị đi, lòng mẹ có buồn nghìn lần hơn thế không?

Sự biến đổi đau lòng nhất là những người chị của tôi có lẽ không biết buồn dù có “nước non nghìn dặm ra đi” tới nơi xa xôi. Sống trong thời đại mới, biết đâu chị còn hãnh diện hơn đám bạn bè hay lối xóm xấu xí, vô phước nghìn lần hơn chị, ngày chị ra đi, họ vẫn chân lấm tay bùn, bàn chân nứt nẻ trong nước đồng ruộng hay trên sông rạch nghèo nàn quê mùa, ngày hai buổi chợ. Tôi thực sự buồn cho nỗi buồn của chị thì ít mà buồn cho tấm lòng chai đá của cha mẹ thì nhiều. Vơng Ông thấy con mà “máu sa ruột dàu”, còn cha mẹ chị bây giờ thì nghĩ sao? Rồi đây, mỗi đi lấy chồng xa chiều cơn nước ròng, nước dẫy, con thuyền ra chợ còn mang theo tiếng hát của cô gái nghèo, sinh ra lớn lên với ruộng đồng, sông rạch, có ai nhớ tới những người chị tôi đang ở một phương trời nào đó, hạnh phúc hay khổ đau, làm người vợ chung thủy hay làm gái đĩ cho ngoại nhân.

Nhìn lại đất nước hằng trăm năm qua, kể cả những lúc quằn quại vì ngoại xâm, đói nghèo tột độ, chưa lúc nào ai nói được nhân phẩm của những người đàn bà như chị bị vùi dập như bây giờ, vào cái thời dân tộc đang có cả “độc lập” lẫn “hạnh phúc”!

Mai này, chị có thể là mẹ một bầy con còn bập bẹ đôi tiếng Việt. Nhưng rồi qua một đời, hai đời, chị hòa tan vào giòng máu ngoại tộc, từ miếng ăn thức uống, đến chiếc áo mảnh khăn, người ta may ra chỉ còn nhớ tới chị như một người đàn bà đã lâu lắm, từ một đất nước nào đó tới đây, một đất nước rất cần tiền nên phải bán chị đi. Chị như cánh lục bình rời xa con rạch cũ, lỡ trôi giạt ra tới biển Đông rồi, sẽ không bao giờ có thể trở lại nhánh sông xưa. Thương chị, lòng tôi ray rứt, không yên.

Báo tử

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/09/2019 

Post by Sơn râu 8 Jul 2026

Bạn tôi năng buồn, buồn mang nặng. Để trám lấy, mong khinh khoái, bạn làm thơ. Tơ lơ mơ thôi cũng gặt được gần hai chục cái like. Ai đó nói, bữa nay hắn sinh đổ đốn, bạn nghe, bỏ ngoài tai. Đẹp trai không bằng chai mặt. Bạn kêu ngặt, làm thơ khó mà tìm đứa hiểu ta, lại càng khó hơn. Tôi vỗ vai bạn, một ngày kia rồi sẽ ngộ, chẳng hạn có kẻ tâm đầu ý hợp lò dò quá bộ lại tìm quen.

Tính bạn tôi chướng, ưa cãi bướng, thích Bùi Giáng ở câu “Suốt đời phải thức trắng đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”. Mày chưa đắc đạo thì chớ cười. Tao nào phải dân chây lười. Lại đọc thơ Tô Thuỳ Yên “thức cho xong bài thơ, mai sớm ra đi, cài hờ lên cửa tặng”. Nghe đã mặn chưa? Có khi thức dậy ban trưa, chưa lại thần hồn đã phán: Mày mần cho tao cái bìa, đôi ba bữa nữa tao gom thơ đi in thi tuyển. Chừng trăm quyển cũng đủ trôi cơn hạn. Đã là bè bạn, không phải nói trạng hãy đợi chạng vạng cùng bá cổ nhau đi đánh chén. Xem như ăn mừng trước đi, hén?
Ngoài thể thơ lục bát, có bài bạn xem là lục nồi. Rổ rá cặp nhau chuyện vàng thau, vợ chồng có khi còn y như đôi đũa lệch. Tính suy làm chi cho mệt, ngay cả mấy thằng chệt xà quần ngoài khơi cũng chả biết cách chơi, có ngày rồi nó sẽ bơi vào bờ. Không có đạn đưa lên nòng, chờ. Chỉ toàn một bọn gà mờ. Bạn thắp ba cây nhang cắm trên bàn thờ, điệu bộ thành khẩn. Tưởng khấn nguyện cho nước nhà an ổn ai dè chỉ cầu xin thuận buồm xuôi gió việc in thơ. Bạn chửi thề tỉnh bơ, mẹ nó chứ, nếu tao là con gái post hình mát mẻ thì giờ này đã có thằng vác ngà voi in cho ba tập thơ, chí ít. Ai biểu anh không có ngực cho nên trời sinh ra mỹ nhân! Bạn tôi ưa phát ngôn linh tinh, hiểu tính bạn tôi đành mần thinh.

Và tôi nghe lời, tôi nhúng bút lông vào tách cà phê đen uống thừa để vẽ cho bạn một bức tranh siêu thực. Chỉ một thôi, hết đường lựa chọn, đừng bực. Tôi mài mực, kẻ nét phăn-ta-dzi hai chữ Màn Trinh. Đó là tên tập thơ mà bạn suy nghiệm, chọn lọc để trình làng. Bạn nói nên dùng chữ màu đỏ, vất nó vào cõi ta bà cho chúng phá xem rách tới ngang đâu. Sao mày chừa ra bảy cái đốm trắng trên tranh bìa? Ờ, mày thắc mắc bị mày chưa nghe chuyện Bạch Tuyết và 7 chú lùn. Nghệ thuật nằm ở cái sự chừa ra ấy. Nghĩ mà xem, Bạch Tuyết muôn đời vẫn còn trinh. Bạn tôi cười rộ, lấy làm tâm đắc. Của chùa nhé, tao không giả tiền đâu, nhớ? Bố mày chỉ còn đúng hai ngàn nhằm trang trải việc in sách. Chơi ngông cách này nghĩ cũng hách. Có gặm bánh mì thì đừng trách. Bạn nói mình ên, tuyệt không mang âm hưởng của sự rên.

Sách về hai thùng đầy kè chất ở nhà kho xây sau hè. Màn Trinh nhện giăng bụi bám giấy đổi màu mặt ủ mày chau. Hoá ra nhân thế “đương đại” này hết ai còn hứng thú chuyện phá trinh? Bạn chấm câu: Đau thế! Dại thế! Tao đâu ngờ thơ mà bị ế! Tâm hồn thi nhân bị lay động, ô uế: Bỏ hai ngàn mua vé số không chừng mà trúng được lô ba ngàn. Đi lãnh, bỏ túi một ngàn khoẻ re, chêm một cục cho ấm đít. Lạnh lòng bèn mang Kiều ra đọc, rít róng:

Tiếc thay nước đã đánh phèn
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần…
Lỡ từ lạc bước bước ra
Cái thân liệu những từ nhà liệu đi…
Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh…
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.

Thân bèo bọt là cái chi chi? Ra đường, nhánh rong phiêu bạt trăm khi vẫn đăm chiêu với vần điệu thi ca, lộn hồn lộn vía chẳng màng thế sự vây quanh, luôn gầm đầu đếm bước như thể tìm nhặt câu thơ lỡ rơi. Băng qua đường, băng qua triền hạn để nghe tiếng bốn bánh xe cày bỏng khét mặt nhựa. Rầm, chơi bài tới đụng phải con Ầm. Hay con Nghèo? Hay con Học Trò? Hay con Nọc Đượng? Hay con Rốn? Con gì đi nữa thì cũng xúi vận sự: Nằm thẳng cẳng. Xe ambulance chở bạn vào nhà thương, y như Việt kiều yêu nước đi xe có còi hụ. Khi phone về cho tôi, giọng chẳng hư hao: Chết thế chó nào được, bố mày vẫn còn sống đây.

Tôi vào thăm thằng ranh con lúc nào cũng ưa làm bố người ta. Gãy mất hai cái xương, chân bó bột, mặt trầy trụa, lồi lõm. Không có giấy bút, bạn ghim thơ trong bộ nhớ, từ đầu hôm tới giờ vẫn chưa quên, quay mặt sang bắt tôi ghi vào sổ: “Đêm rồi cởi áo thiên thần, Sa đoạ rụng cánh tần ngần hôn anh. Này môi thơm ngát hương chanh, Cam lê nho táo mọc quanh cửa mình. Thời đi để nhớ cuộc tình, Dưới giường quỷ sứ vẫn rình giao hoan”.

Y tá cho hay, mông-xừ này tối qua ngáy khiếp quá. Tôi giải thích cho bệnh nhân nằm giường bên rằng, đau đớn thì rên la, chuyện thường hằng. Ngáy là hồi nào trong giấc mơ chẳng gặp ác mộng. Thương tật mang gần 40% thì mộng đẹp sao đặng, có là tài thánh! Để chiều nay cho uống thuốc ngủ tăng đô xem có còn “ngáy” nữa thôi.

Bạn biểu tôi lấy iPhone ra “tự sướng” một bức ảnh chụp bạn nằm trên giường bệnh, thuốc thang đầy đủ, sướng rên mé đìu hiu. Mày đưa lên Facebook cho những đứa yêu thơ tao thấy “thi bá” đang long thể bất an, hẹn tuần sau sẽ xuống núi, tâm thần vẫn chưa phân liệt. Có ai nhốt được một ngọn gió? Tôi lại phải nghe lời chỉ dạy, mừng bạn khi bị xe đụng những sợi thần kinh nằm trong sọ chưa thay đổi vị trí, bởi có mệnh hệ gì thì thơ bạn làm ra ắt sẽ gây sóng gió vũ lâm. Hình ảnh kẻ thương tật post lên chừng nửa ngày thu được có tới 19 cái like. Lạ đời, tự cổ chí kim chưa có ai bày tỏ sự thích khi nhìn ngó đứa bị sao quả tạ chiếu. Thù ghét nhau mới vậy. Thơ tình ướt át của đứa bị quấn băng bông đầy người kia khổ sở làm ra thì chỉ có ba “em” like thôi. Thơ ngang trái hăm thik, chỉ thích nghía thân thể mà tứ chi đã thôi lành lặn của người khác.

Bác sĩ có ghé thăm, đứng dưới chân giường hỏi han đôi câu và dặn dò, chớ nên để luỹ vọc tay vào cái ipad. Đang ở thời gian chờ bình phục, đang tĩnh dưỡng, đang yếu đuối mà đụng phải bao tình huống bao hình ảnh bao vấn nạn khóc cười trong cõi ấy thì luỹ sẽ bị sốc thôi, thuốc men ích gì cho buổi ấy?

Luỹ sốc thật. Luỹ nghi ngờ câu “Trust Me, I’m a Doctor”. Luỹ chẳng nghe nghiêm lệnh, lén lút “vượt bức tường lửa”. Nhà thương hàn gắn vết thương thôi mà, nào phải trung tâm cai nghiện mà cấm cản ông lục lạo facebook? Thở dốc xong bèn cười nửa miệng: Đêm qua tao bị thuốc hành, chả ngủ được. Mắt thao láo mà chẳng rình thấy thơ thẩn gì cả, ngược lại một ý tưởng sáng suốt vụt loé lên. Mày nghe bố mày bảo này, mặt mày tao đương bơ phờ tàn tạ lắm phải không? Bây giờ tao nằm vẹo cổ sang bên, há hốc mồm, một cánh tay rớt xuống khỏi giường, ngón co quắp… Mày chụp lấy, sao cho ảnh hình nọ thuyết phục được người xem, đấy là một tử thi, da thịt bắt đầu lạnh… Chơi liền đi, năm mười phút nữa bà y tá vào giục uống thuốc thì hỏng.

Trước khi post hình ảnh cuối cùng của kẻ vắn số lên, người bạn kỳ dị nọ bắt tôi viết đôi dòng tâm trạng: “Chúng tôi vô cùng bàng hoàng, đau đớn trước tin xấu là nhà thơ Không Như vừa đột ngột từ bỏ cõi tạm để rong chơi miền xa có tên gọi Như Không sau hơn hai mươi năm ăn nằm mặn nồng một lòng một dạ cùng nàng thơ, hưởng dương 58 tuổi. Trong lúc buồn đau, chúng tôi tạm thời loan báo có vậy. Mọi chi tiết khác sẽ sớm cập nhật sau. Một số thân hữu của nhà thơ đồng kính báo”.

Tôi nói cho bạn nghe nỗi lo ngại chẳng chính đáng, là giả như trong bệnh viện này có một người Việt mang tên Như Có từng đọc thơ Không Như, chàng ta hoặc nàng ta sẽ lắm mồm nói này nói nọ để đến tai ban điều hành bệnh viện: Cậu điên à? Tập thể bác sĩ chúng tôi có gì không tốt. Rõ là làm ơn mắc oán, đã chữa lành không nhận một đồng trả công, không luôn một tiếng cảm ơn, lại còn loan báo đột tử. Điều này ảnh hưởng trầm trọng tới uy tín của nhà thương này.

Bạn nhăn răng: Mày lo bò trắng răng. Một cái lon nằm giữa đồng, cả triệu con chim bay qua về mỗi ngày, có cục phân nào rơi vào trong lon không? Thử hình dung đi. Mày suốt đời không thể làm thơ được vì mày chẳng tạo ra những bước đột biến, những thứ mà trong nước kêu bằng siêu bức xúc, choáng, khủng.

Ở đời, bá tánh thường rộng lòng chúc mừng khi nghe ai kia vừa lên xe bông. Thường nhỏ xuống đất ba giọt lệ khi nghe kẻ nọ đang sống chuyển sang từ trần. Vận số Không Như cũng không tránh khỏi, mấy thằng cha căng chú kiết lạ hoắc lạ hươ chẳng rõ từ đâu cũng mạnh tay gõ lời chia buồn rất mực thắm thiết. Trong 13 dòng phản hồi, có hai “quới nhơn” viết ra điều đáng quan tâm vì nó quá… sáng giá. Dòng thứ nhất của người mang tên Sa Mạc: “Tôi biết nhà thơ có in ra tập Màn Trinh. Xin hỏi giá mỗi cuốn là bao nhiêu? Thôi thì nhà thơ đã qua đời, tôi xin mua ủng hộ 10 cuốn và sẽ gửi ngân phiếu 1000 đô tới những ai đứng ra lo hậu sự. Chia buồn nha”. Dòng thứ hai của người mang tên Thuỳ Dương: “Xin cho biết ngày giờ và địa điểm hôm động quan đút vào lò thiêu. Người ta bảo nghĩa tử nghĩa tận gì đó, tôi có khi là vợ cũ của anh Trần Văn Mau, tự cái hồi ảnh chưa là Không Như. Tôi mong được thắp cho ảnh ba cây nhang. Vĩnh biệt”.

Bạn Không Như nằm trên giường, điều khiển cho tấm nệm gập lại. Chỉ có đầu tóc là rối như ổ quạ, mặt mày râu ria lún phún; nhưng thần sắc đã có phần lanh lợi của một kẻ vừa chế ngự và đánh thắng nỗi đau. Chính bà y tá cũng gia giảm liều lượng thuốc xuống, bà cho hay: Cực chẳng đã thôi, uống ba thứ này vào thêm mụ người. Mai mốt thử xuống giường lần mò đi quanh xem sao. Phải bắt cơ thể vận động, có hiểu nghĩa “nằm liệt giường” là gì không? Không Như đùa: Đau khổ chi bằng bắt lần mò, đến buồn ríu mắt lại nhảy lò cò. Tôi nói với bà y tá giàu lòng nhân: Bạn tôi thuộc loại nắng mấy hoa cũng không héo. Bon, bon. Tốt, tốt. Nghị lực là phương thuốc quý báu nhất trần đời. Người ta nên bỏ công đi săn lùng cái vui của nụ cười để xem đó là nghĩa sống. Buồn sẽ khiến mình thối đi.

Có một điểm đáng ca ngợi thượng đế, là khi nhào nặn ra chúng sinh, “ngài” tạo ra ngay sự khác biệt, chẳng ai giống ai. Niềm vui, nỗi buồn cũng thế, cung bậc hoàn toàn riêng tư dành cho mỗi cá nhân. Bi kịch xẩy tới là cá nhân ấy không biết cách thụ hưởng hoặc chống đối và như vậy, hài kịch phát sinh.

Bạn tôi nói, lắm khi tao như một sinh vật thật hèn mọn, có khi thức giấc trên giường bệnh thèm sáng mai được ăn một dĩa bánh bèo cho sướng cái lỗ miệng, dĩ nhiên là ăn chùng vụng kẻo y tá thấy họ sẽ ngầy ngà. Trên đường về nhà, thuận lối tôi tạt vào một cái siêu thị lớn. Tôi sẽ mua bánh Trung Thu và vớt thêm dĩa bánh bèo cho đứa buồn miệng. Siêu thị chộn rộn, hỏi ra mới biết “người ta” đang có chiến dịch thanh lùng và vừa bắt được hai tên chuyên xài bạc giả, thanh toán toàn giấy bạc hai chục. Một “bạn hàng” đẩy xe trong chợ nói: Vú giả, mông giả, chồng giả vợ giả, giả tuốt luốt cho tới tờ hai mươi gia kim. Xem ra cuộc đời này đã chẳng còn thứ gọi là sự thật!

May mà mấy tờ 20 của tôi không bị giả mạo, đưa vào máy dò chẳng tìm ra tì vết. Có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh, tôi mua hai dĩa bánh bèo, lát nữa tôi ăn phần tôi trước để xem bụng dạ có gây đột biến, nếu êm thì ngày mai sẽ mang vào nhà thương cho bạn dĩa còn lại. Cả bánh Trung Thu cũng vậy, chả dính kẽ răng nhưng ăn nó là nhai với bao kỷ niệm cũ, thuở thơ ngây. Hình bóng cũ làm no bụng? Ai biết được, hãy cứ tin vậy, cho khỏi mắc nghẹn.

Mai tôi sẽ nói cho bạn Như Không biết, rằng tôi sẽ “mu” qua thành phố khác sống, hòng kiếm ra môt công việc thích hợp; tiêu phí khoảng thời gian sau chót của đời mình vô vị kiểu này nghĩ không đành lòng. Lời thưa thật ấy hoàn toàn giả dối, nhưng bạn hiểu cho, tôi chẳng thích lui tới với một đứa vừa tự khai tử, một hồn ma? Khi mình rút vào bóng tối, tự thân sự khiếm diện kia cũng nói lên biết bao điều, cần gì phải đánh trống khua chiêng. Ôi, Không Như, mày không biết cách binh 13 lá bài mà đời chia đều cho những đứa nhập cuộc. Hoặc mày mậu binh? Xin thôi được nhìn thấy nhau. Hoặc ở kiếp sau? (xin chớ làm người).

Hồ Đình Nghiêm