Về một chuyến đi

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 12 Jul 2026

Từ ngày xuống tàu cho tới nay, cũng hơn hai tháng rồi, thường gặp gió to, sóng lớn, mưa nhiều. Cho tới hôm nay sóng, gió mới chịu ngừng và mưa không còn nữa. Khí trời vùng này tuy lạnh nhưng không buốt, hôm nay trời nắng và mặt biển trơn láng như mặt thủy tinh. Trên không, sau lái tàu chim nhàn bay cả bầy. Dưới nước, trước mũi tàu, một bầy cá nược đua trông nhộn nhịp vô cùng. Tôi có thói quen gặp cảnh đẹp và vui, tôi hay chăm chú theo dõi, tôi đứng nhìn bầy cá nược rất lâu, cá nược lâu lâu mới gặp chúng đua một lần. Chim nhàn thì mùa nào cũng có, bất cứ ở nơi đâu, xứ lạnh tuyết, băng hoặc xứ nóng như thiêu, nói chung từ Nam Cực lên Bắc Cực ra tận giữa Thái Bình Dương, chỗ nào cũng thấy chim nhàn bay theo lái tàu. Đàn cá nược đua rất trật tự và ngay hàng thẳng lối theo hông hoặc trước mũi tàu. Thỉnh thoảng vài con phóng lên khỏi mặt nước và rơi xuống lao chao qua lại rồi cũng bơi theo một đường thẳng, hình như chúng chăm chú chỉ có cuộc đua thôi. Nhìn tốc độ chúng đua theo tàu, rất thong thả. Tàu chạy trên dưới mười bảy hải lý, tức trên dưới hai mươi lăm cây số một giờ, có lẽ chúng không có ý tranh phần thắng nên không thấy có dấu hiệu cố sức và cũng không một chút nào lơ là. Chúng có thể bơi nhanh hơn tốc độ con tàu, nhưng chúng cứ thong thả trước mũi tàu theo đường thẳng mà bơi. Cũng như chim nhàn, thỉnh thoảng nhấp cánh một cái rồi dang thẳng hai cánh thả theo tàu, tàu tới đâu chúng tới đó và trong lúc chúng nhấp cánh đứng yên lấy trớn, trước khi từ trên lao xuống như mũi phi tiêu thẳng một đường, ùm xuống mặt nước, khi cất cánh lên thì trên mỏ đã gắp được con mồi. Tuy thấy động tác chớp nhoáng nhưng rất nhẹ nhàng, thong thả không lệch lạc chút nào, đặc biệt hơn nữa là không thấy chúng giành giựt hay cắn mổ nhau vì một con mồi.

Mấy chục năm làm đầu bếp trên tàu buôn, nấu cho nhiều loại người ăn, từ giám đốc công ty, officers cho tới những thủy thủ ít học, tôi hay chú ý cách ăn uống của họ và có sự so sánh này. Mặc dù mỗi con người, mỗi dân tộc, có đạo hay không theo đạo nào hết, phần đông con người ta hay đứng núi này trông núi kia, ăn uống ít khi chú tâm tới món ăn trước mặt, dọn ra món này thì ước ao được ăn món khác. Có vài thuyền trưởng hể uống bia thì ngồi miết từ trưa cho tới chiều, thuyền trưởng làm sao thì đám phụ tá làm theo vậy. Nhưng thấy họ có chú tâm uống bia đâu, ngồi tụm lại người này nói, người kia nói, lâu lâu ngước cổ đổ bia vô họng rồi lấy trớn nói tiếp, làm như bia là dầu bôi trơn cho mấy cái máy nói chạy. Hổng biết chuyện gì mà ngày nào cũng tụm lại vừa uống bia vừa nói chuyện, đàn ông không mà cũng nhiều chuyện quá trời, có khi mê nói mà bỏ luôn cả bữa ăn. Tôi có làm chung với thuyền trưởng phụ nữ, nhưng đàn bà thường sống kỷ luật hơn, đúng giờ giấc hơn và các bà đâu có ngồi lê đôi mách hàng giờ, uống bia và nhiều chuyện như mấy ông. Mỗi khi quan sát cá nược và chim nhàn, tôi nghĩ tới sự chú tâm (mindfulness), ngôn ngữ phật giáo gọi là “chánh niệm”, tôi thấy ngoài những chùa chiền ra, nhiều nơi trên thế giới này có nhiều trung tâm tổ chức thực tập chánh niệm, nhưng càng ngày con người càng lộn xộn, sống trong sợ hãi và bất an. Xem ra chim nhàn và cá nược khỏi cần thực tập, có lẽ từ khi có loài chim, loài cá cho tới nay chúng vẫn vui sống trong chánh niệm rất hồn nhiên.

Mấy ngày nay biển tương đối êm, tàu tới bến không bị trễ như những ngày gió to sóng lớn. Khi tàu yên vị cảng đảo Las Palmas cũng vừa đúng giờ ăn sáng. Sau khi dọn bữa điểm tâm cho mọi người, tôi trở vô phòng bếp lo cho bữa ăn trưa. Một lát sau tôi qua phòng ăn dọn dẹp, hơi ngạc nhiên khi thấy mọi người bỏ đi đâu hết mà dĩa thức ăn của người nào cũng còn thừa. Đương thắc mắc chuyện gì xảy ra, thì nghe tiếng xôn xao bên phòng làm việc của thuyền phó, tôi ngó qua thấy cảnh sát và nhiều nhân viên đứng chật cả phòng, có mấy người đứng ngoài cửa và mặt mày người nào cũng có vẻ khẩn trương. Thấy một thủy thủ đi ngang, tôi bèn hỏi:

– Có chuyện gì?

Anh ta trả lời một tiếng:

 – Stowaway!

– Oh!

Tôi giựt mình đánh độp một cái. Đây là một trong những vấn đề quan trọng mà từ thủy thủ cho tới thuyền trưởng rất sợ phải đối mặt trên những tuyến đường. Hơn một ngày trước tàu lấy hàng ở hải cảng Casablanca, thủ đô nước Ma Rốc, cảng này được rào bằng rào sắt và canh phòng cẩn thận, ai muốn ra, vô thì phải qua mấy trạm kiểm soát và thủ tục rất rườm rà. Mỗi khi tàu ghé bến, cũng như các cảng khác ở Châu Phi, nhân viên trụ trách an ninh cảng, cho thêm ba người xuống tàu cùng với một thủy thủ canh chừng stowaway. Hổng biết bằng cách nào anh này vượt qua những rào cản, lẻn được lên tàu và chui xuống khoang mà cả bốn người canh gát không người nào phát hiện. Khi tàu lấy hàng xong, đóng hầm lại và rời cảng, anh ta bị kẹt dưới khoang. Cho tới sáng nay, sau khi tàu cặp bến, một thủy thủ nghe tiếng gõ lạch cạch dưới nắp hầm, anh ta liền xuống xem, mới phát hiện ra một thanh niên người Ma Rốc mệt mỏi, ngất ngư miệng phát ra tiếng khàng khàng hỏi xin nước uống và thức ăn, anh lên thông báo cho thuyền trưởng biết. Nghe qua mọi người tá hoả, bỏ ngang bữa ăn sáng, đi ra xem stowaway. May mắn cho thuyền trưởng, anh ta mà lỡ chết trong hầm tàu thì ông bị rắc rối cũng không ít và cũng may cho anh ta, chuyến đi chỉ một ngày rưỡi, nếu đi một hai tuần lênh đênh trên biển thì anh ta toi mạng là cái chắc.

Trong đời thủy thủ, đây là lần thứ ba tôi đối mặt với những hành khách không có giấy tờ, không trả tiền mua vé và có tên là stowaway, tức là người trốn theo tàu. Những lần trước, cách đây hai, ba chục năm rồi, cũng trên vùng duyên hải Phi Châu này, tôi đã gặp và cũng thường nghe nói, có khi năm sáu mạng trốn trong một container trong suốt hải trình. Cho đến khi container chứa họ được bốc lên bến cảng, thủy thủ đoàn mới phát hiện ra thì người nào người nấy ngất ngư gần chết. Theo tôi biết được thì đi cách này, khi bị bắt, họ phải được đối xử một cách nhân đạo, trên tàu phải lo cho ăn, uống đàng hoàng. Khi tới một bến cảng thuyền trưởng phải thông báo cho cảnh sát biết để cảnh sát xuống thăm. Nếu có toà đại sứ của họ ở nước sở tại xuống nhận thì bàn giao họ cho toà đại sứ, và công ty tàu phải trả chi phí hồi hương người trốn cùng với một người hộ tống về nước. Tôi biết đại khái vậy thôi, vì lịch sử của stowaway đã có hơn trăm năm rồi và mỗi một quốc gia làm thủ tục hồi hương hoặc cho những stowaways nhập cảnh cũng khác nhau.

Dạo đó tôi không nghĩ nhiều về chuyện này đâu, vì tôi cũng là người trốn chạy bằng đường biển, có tên là Boat People, cùng là người muốn muốn rời khỏi quê hương mình mà lại có tên gọi khác nhau và cách cư xử cũng khác. Tôi và đồng bào tôi thì may mắn có Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc giúp đỡ, sau đó được các nước tự do chấp nhận cho sang định cư. Chuyến đi của chúng tôi tuy có gian nan, nguy hiểm và có nhiều người bỏ mạng trên đường trốn chạy, nhưng về việc định cư có phần thuận lợi hơn những stowaway. Tôi còn nhớ cho tới hôm nay, dạo đó tôi nhớ quê hương tôi lắm và muốn quay trở về, nhưng tình hình chánh trị trên quê hương của tôi lộn xộn quá nên tôi chưa về được. Cho tới những năm sau này, nghe nói đất nước tôi thanh bình, không còn cảnh xáo trộn như trước nữa nên tôi mới về thăm. Nhưng về tới nơi tôi mới biết, cái quê hương tôi mang theo trong lòng mấy chục năm, từ cảnh vật cho tới tình người, tất cả đã đổi thay, không còn chút dấu vết nào hết. Bây giờ tôi mới thấm thía hai từ ‘dâu bể’! Cũng từ đó cái nhìn và mọi suy tư của tôi về quê hương đất nước hoàn thay đổi.Cả đời phiêu bạt, xa quê hương đất nước, nhưng thời gian sau này nhờ internet mà tôi liên lạc được với các bạn trẻ trong nước, lao động nước ngoài, du học sinh, nghiên cứu sinh. Ngoại trừ thành phần con ông cháu cha và con các đại gia, phần đông được tiếng đi du học, nhưng thật ra chúng ăn chơi phè phỡn, bọn người này muốn ở lại nước nào thì chúng được cha mẹ bỏ tiền sắp xếp nơi định cư cho chúng. Còn thành phần khác thì rất khó, nhưng qua nhiều lần nói chuyện, tôi thấy người nào cũng có tâm trạng na ná như nhau. Nghĩa là, trước khi lên đường ra ngoại quốc làm việc, ngoài chuyện kiếm tiền, họ còn hy vọng mang về những kỷ niệm về danh lam thắng cảnh, những kinh nghiệm văn hóa của đất nước, con người nơi xứ lạ… Nhưng đi không bao lâu thì gặp phải quá nhiều áp lực, và quá nhiều thất vọng, cảm thấy mệt mỏi lại muốn trở về quê, sống tại một nơi bình yên. Nhưng sau khi về  ở quê nhà một thời gian, cảm thấy chẳng những bất an, mà còn bị nhiều áp lực và rồi bị hụt hẫng, chịu hổng nổi, lại tìm đường đi tiếp. Nhiều người gom góp, vay mượn tiền bạc trả cho chuyến đi, để rồi bị chết rải rác trên đường hoặc tập thể trong một container.

Nhưng dù sao tôi cũng là đầu bếp, phải nghe lệnh thuyền trưởng, nấu thêm phần ăn cho stowaway. Thuyền trưởng giao mỗi bữa phải đem thức ăn cho thằng nhỏ, ông giao luôn cho tôi chìa khoá phòng nhốt thằng nhỏ và dặn tôi phải canh chừng nó. Chết chưa, đầu bếp kiêm luôn chức giữ… tù! Vì chưa có kinh nghiệm giữ người nên bữa đầu tôi đem cơm lên cho thằng nhỏ, nó hỏi tôi xin nước và cái ly. Tôi đi xuống bếp lấy ly và nước cho nó, ỷ y như không có gì, tôi không khoá phòng lại và gắn chìa khoá trong ổ khoá cửa. Tôi đi xuống bếp chưa đầy một phút, trở lên đưa ly cho nó, khi tôi đi ra định khoá cửa lại mới phát hiện chìa khoá không cánh mà bay. Tôi hỏi nó, nó nói nó hổng biết. Tôi xuống báo thuyền phó và phụ thợ máy, hai đứa lên xét phòng, lục lọi tùm lum cả buổi mà hổng thấy chìa khoá ở đâu hết. Thuyền phó và phụ máy nghĩ tôi làm rớt chìa khoá đâu đó nên nó khoá cửa lại bằng passkey, loại chìa khoá mở được các phòng, hơn nữa tàu đã nổ máy chuẩn bị khởi hành và cầu thang cũng đã rút lên rồi, thằng nhỏ có trốn chạy cũng không khỏi.

Nhưng không ngờ, trong khi mọi người lu bu lo chuẩn bị cho tàu khởi hành. Thằng nhỏ mở cửa phòng dọt ra ngoài, rồi chạy dọc theo thành tàu tìm đường thoát thân. Thủy thủ phát hiện hô lên om xòm ngoài boong. Nghe tiếng hô, tôi liền chạy ra boong xem chuyện gì, thì thấy thằng nhỏ bận chỉ có cái quần xà lỏn, và áo thun. Từ trên thành tàu cao độ chừng hai ba thước mà nó dám phóng lên kè đá và té lăn cù, may không bị trẹo chân, tức tốc nó đứng lên chạy chối chết. . . Trong khi thủy thủ bắc xong cầu thang thì thằng nhỏ đã phóng nhanh như ngựa phi, chẳng bao lâu đã mất dạng trong những containners. Nguyên bãi containers, bao nhiêu là kẹt, hóc hàng ngang, hàng dọc, biết nó trốn trong ngõ ngách nào mà tìm. Thuyền trưởng cũng đã gọi điện báo cho cảnh sát trên cảng, nhờ họ tìm bắt dùm. Tàu đã nổ máy rồi, bây giờ phải tắt máy đậu lại chờ. Cũng may cho thuyền trưởng, chưa đầy giờ sau cảnh sát đã bắt được thằng nhỏ và chở xuống giao cho ông. Nếu thằng nhỏ trốn thoát hoặc có chuyện gì thì ông lãnh đủ chớ hổng phải chơi.

 Từ hôm đó trở đi thuyền trưởng không giao cho tôi giữ thằng nhỏ nữa, tôi chỉ làm phần ăn rồi đưa cho thuyền phó và ông bưng lên phòng cho nó. Lần này thuyền trưởng cẩn thận hơn, ông viết một tờ giấy ghi phòng của stowaway dán lên cửa là chỉ có ông và thuyền phó mới được vào. Đã vậy mà ông vẫn còn chưa an tâm. Mỗi khi tàu ghé bến, ông đặt một chiếc ghế trước cửa phòng stowaway, rồi cắt ra một thủy thủ ngồi canh, cho tới khi tàu rời bến mới thôi.

Thằng nhỏ theo tàu hơn một tuần. Khi tàu ghé Gijon nhân viên toà đại sứ Ma Rốc xuống nhận thằng nhỏ. Cả tàu ai cũng thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng. Tất cả đều vui khi tàu quay trở lại biển. Nhưng riêng tôi thì suy nghĩ nhiều về những người sống trên đất nước nghèo khổ, muốn đi tìm một nơi khác để đổi đời và những người sống trong những quốc gia độc tài, hễ có cơ hội, họ trốn chạy để thoát thân. Có thể đây là một trong những nguyên nhân tạo cảnh xáo trộn trong cuộc sống trên thế gian này? Mấy ngày qua tôi suy nghĩ nhiều quá, đầu óc không tập trung, muốn thành chim, thành cá, không suy nghĩ gì nữa hết mà không sao làm được. Rồi hôm kia tôi ghé hội quán, tình cờ gặp một cậu sinh viên Việt Nam theo tàu thực tập, lâu lắm rồi tôi mới gặp người Việt bên trời Âu xa tít này. Hỏi thăm nhau, mới biết cậu ta học nghề cơ khí. Qua hồi nói chuyện, cậu ta tâm sự, nhiều người trong nước, ước mơ được ra nước ngoài và thường với những chuyến đi xa là cả niềm hãnh diện của gia đình, cho họ hàng và cho cả bà con chòm xóm. Thấy tôi nhìn thẳng cậu ta và  chú ý lắng nghe. Cậu ta thao thao nói:

– Theo cháu thì ra đi không chỉ là đi ngao du ngắm cảnh mà còn mang theo trách nhiệm và để hoàn thành mục tiêu.

Nghe tới đây tôi mới chặn và hỏi:

– Trách nhiệm gì? Mục tiêu gì?

Cậu ta trả lời không ngập ngừng:

– Trách nhiệm với gia đình và định học xong cháu sẽ tìm việc làm trên tàu của nước ngoài.

Trước kia, trên bước đường lang bạt, gặp những bạn trẻ, tôi thường hỏi thăm chuyện quê hương đất nước và góp ý chuyện này, chuyện kia… Không hiểu sao bây giờ nghe cậu ta nói, tôi chỉ nhìn cậu ta mà đầu óc trống trơn và hổng biết trong lòng thương hay ghét, vui hay buồn? Cuối cùng tôi cũng moi ra được một câu. Gật gù cái đầu và nói:

– À à, mục tiêu đi nước ngoài, cũng là… một lý tưởng!

– Sao chú?                                                                  

Tôi chỉ tay xuống ly bia

–  Hổng sao hết, uống cạn cái này mình chia tay được rồi…

Trên đường hải hành tôi đã từng gặp nhiều người Việt sống tha phương, có vài lần tôi đã gặp đồng hương gạ gẫm, mua chuộc, để mong có được cơ hội bỏ cái xứ sở mà luôn luôn tự hào là “quê hương ta giàu đẹp” và “rừng vàng biển bạc”.

Từ giã cậu sinh viên, trên đường trở xuống tàu, tôi chợt nghĩ ra, giả sử trong thời gian này gặp một vài stowaway người Việt, hổng biết tôi sẽ có cảm giác ra sao và cư xử với họ như thế nào nữa?

Trong quần đảo Canary 2.1.2020

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 12 Jul 2026

“Một Mẹ nuôi đủ năm con,

Năm con không nuôi nổi một Mẹ.”

(tục ngữ)

Người Việt ở Hoa Kỳ có hai ngày để nhớ mẹ, đó là ngày “Mother’s Day” của Mỹ và ngày Vu Lan của Phật Giáo. Bây giờ những lời cầu nguyện cho bình an của Mẹ đã qua đi, chuông mõ đã lắng yên, những bông hồng trắng, đỏ cài trên áo đã héo khô. Mẹ đã trở lại cuộc sống bình thường hằng ngày, trong xưởng may, bên bếp lửa nóng, ngồi trước màn ảnh của phim bộ hay trằn trọc trong “nursing home” đêm nay. Các nhà thơ, các nhà văn đã nói nhiều về Mẹ, với những hình ảnh dịu dàng và thân ái biết bao nhiêu: “Mẹ và  Quê Hương”, “Mẹ và Em”, “Mẹ là Thơ … Thế mà hôm nay, tôi đã tàn nhẫn đem Mẹ gắn liền với “nursing home”, nơi mẹ sống những ngày cuối cùng lặng lẽ, sầu muộn và câm nín. Tôi muốn nói đến “nursing home”, nơi Mẹ sẽ chết vì cô đơn buồn bã, nơi Mẹ cũng có thể bị hành hạ đối xử tệ bạc, cũng có thể là nơi mẹ chết vì uống nhầm thuốc hay người bị mất nước, ghẻ lở vì thiếu vệ sinh. Đây là tiếng nói chính thức của các cơ quan y tế công và tư của Hoa Kỳ, không phải là tiếng nói có thành kiến của một người ty nạn võ đoán, hàm hồ. Theo co quan “Non-profit California Healthcare Foundation” thì tại tiểu bang này, năm 2001, 3/4 “nursing home” không hội đủ các tiêu chuẩn tối thiểu. 1/5 có những vi phạm gây ra bệnh nặng và đưa đến cái chết cho những bệnh nhân. Vào ngày 11 tháng 3-2005, tại Santa Rosa, California, một bà cụ 76 đã qua đời vì bị cho uống nhầm thuốc. Viên y tá này đã thừa nhận rằng y quên kiểm tra lại tên bệnh nhận trên băng đeo (armband). Theo nghiên cứu của Colorado và Georgia Health Care Facilities thì trong 5 trường hợp có 1 cho nhầm thuốc. Một báo cáo khác vào thuốc của người khác. Lý do sâu xa cho biết là y tá quá căng thẳng, mệt mỏi vì làm việc quá độ và chăm sóc quá nhiều bệnh nhân.

Có 44% trong 1,212 “nursing home” tại Cali đã không đủ y tá săn sóc 3,2 giờ mỗi ngày cho một bệnh nhân, còn tính theo tiêu chuẩn 4,1 giờ mỗi ngày cho một bệnh nhân thì có tới 92% không đáp ứng nhu cầu này.

Theo một cuộc điều tra về những sự đối xử tồi tệ hay vi phạm trong các “nursing home”, do yêu cầu của Dân Biểu Henry Waxman, D-California, được ghi nhận trong bản tin CNN ngày 30/7/2001, thì trong hai năm từ tháng 1-1999 đến tháng 1-2001, trong hơn 17,000 “nursing home” trong nước Mỹ đã có tới 5,283 “nursing home” vi phạm việc đối xử và săn sóc bệnh nhân. Những điểm chính trong bản phúc trình cho dân chúng thấy:

– Hơn 30% “nursing home” trên nước Mỹ, trong vòng hai năm, gồm 9,000 trường hợp vi phạm đối xử với bệnh nhân.

– 10% “nursing home” đã thực sự gây tổn thương cho bệnh nhân.

– Trên 40%, hay 3,800 vi phạm đã bị khiếu nại hoặc than phiền.

– Nhiều vi phạm trầm trọng đã được báo cáo như trường hợp một nhân viên “nursing home” đã vào phòng một nữ bệnh nhân và gào thét: “Tôi chán cái bản mặt mụ lắm rồi! (I’am tired of your ass)”, đánh vào mặt bệnh nhân và làm gẫy sống mũi bà này.

– Có những vụ sờ mó và tấn công tình dục, như trong một trường hợp ở Cali, một nam nhân viên đã sờ mó hai bà cụ trong khi tắm cho họ và trong một trường hợp khác, một nhân viên đã định hiếp dâm một bệnh nhân trong phòng của bà.

– Nhiều vụ bệnh nhân bị tổn thương thân thể như gãy cườm tay, khuỷu tay, xương hông, đùi hay ở những phần khác vì bị đánh đập.

Trong bản phúc trình về các vi phạm của “nursing home” cho ta thấy nhiều bệnh nhân bị bực bội, suy dinh dưỡng, khô nước. Lý do là một nhân viên y tế phải lo cho nhiều người chỉ có một thời gian giới hạn, mà bệnh nhân đôi lúc vì già cả, lú lẫn hay sinh ra khó tính, bực dọc. Y tá không có tình thương và sự kiên nhẫn để chiều chuộng, năn nỉ người bệnh hòan tất phần ăn, nên chuyện bị bỏ đói vẫn thường xẩy ra. Không phải y tá nào cũng có sự nhân ái và lương tâm để pha nước ấm, tắm rửa đàng hoàng cho các bệnh nhân già cả, bệnh hoạn lại thường dở chứng. Không ai trong “nursing home” có thể có tấm lòng của người con để dỗ dành cha mẹ dùng bữa hay tắm rửa, săn sóc. Vì vậy, chuyện chửi bới, xúc phạm, kể cả đánh đập là không thể không xẩy ra. Nhiều bệnh nhân uất ức mà không nói được, nhiều khi đưa đến sự lẫy hờn, giận dỗi (một người già bằng ba con nít), và thái độ này lại khiến cho họ bị xúc phạm cả thể xác lẫn tinh thần nhiều hơn qua những nhân viên vô lương tâm.

Một phúc trình cũng cho biết các khiếu nại, than phiền giải quyết rất chậm trễ. Đối với người Việt lại “một sự nhịn chín sự lành”, “giả dại qua ải, sợ thân nhân mình bị trả thù, trù giập, nện tốt hơn là tử tế, lo lót quà cáp cho yên chuyện. Chuyện đưa cha mẹ vào “nursing home” là một vấn đề khá nhức nhối đối với những gia đình Việt nam, vì đời sống ở Mỹ quá căng thẳng, tất bật, con không có thời giờ để săn sóc đến cha mẹ với lý do là bận rộn để kiếm đồng tiền. Nhưng xưa kia, người mẹ phải hy sinh suốt đời trong gian nhà, căn bếp vì con. Bây giờ cũng có những bà mẹ trẻ, hy sinh chịu chật vật hơn một tí, ở nhà để có thời giờ chăm sóc con cái. Vậy mà con cái ngày nay, không góp công góp của để tìm một người săn sóc Mẹ tại nhà trong những ngày tháng cuối cùng, để lấy lý do công ăn việc làm đẩy Mẹ vào “nursing home”. Ngày xưa Mẹ đã vắt kiệt giọt sữa cuối cùng cho con, sẵn sàng hy sinh đời sống cho con dù phải chìm xuống đáy biển hay cháy trong lửa đỏ, nay con vì muốn thêm một chút tiện nghi trong nhà, tạo cho mình một đời sống khá giả hơn, đã không còn ngó ngàng chi tới Mẹ và đưa Mẹ vào nơi lạnh lẽo, buồn phiền như huyệt mộ. Có biết bao nhiêu lý do để đưa ra. Đó cũng là nhân tình: “Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể- Con nuôi mẹ kể tháng kể ngày!”(ca dao)

Có lần, người viết bài này có ý định viết một loạt bài phóng sự về các cụ ông, cụ bà trong “nursing home”. Sau khi nói chuyện, ghi chép sinh hoạt và tâm tình của một cụ già đang nằm trên giường bệnh, chúng tôi muốn chụp một tấm ảnh để hoàn thành bài phỏng vấn, thì ông cụ đổi ý, ông khoát tay lia lịa và thều thào: “Thôi, thôi! Ông ơi. Ông mà đưa tôi lên báo thì các con tôi nó giết tôi mất”. Nghĩa là, không một đứa con nào muốn cho thiên hạ biết rằng mình đã đưa cha hay mẹ vào “nursing home”. Thật là tội nghiệp!

Ngay trong đợt nóng chết người tại Paris mùa hè năm 2003, cảnh sát đã thông báo cho vài đứa con biết cha hay mẹ họ đã chết, nhưng đã có người lấy lý do là đã “book” một tour du lịch, không thể cắt ngang để trở về. Những đêm Giáng Sinh, Giao Thừa hay Sinh Nhật con cháu, giữa cái sum họp, đầm ấm đông vui, có khi nào chúng ta nghĩ tới cha mẹ già đang hiu quanh cô đơn trong nhà dưỡng lão. Những trường hợp công việc bề bộn, sinh kế, giao thiệp, giải trí … lôi cuốn đàn con theo dòng thác chảy của cuộc sống, có lẽ không quên cha mẹ đang nằm trong “nursing home” nhưng ỷ y nơi đó cha mẹ đã có người chăm sóc thuốc men, ăn uống, tắm rửa. Có những bậc cao niên đã mất trí, không thể tỏ bày với con những khổ đau và tổn thương tâm lý, nhưng khi vào thăm cha mẹ, xin xem lại những tổn thương thân thể mà cha mẹ đã chịu đựng mà áo quần chăn mền đã dấu kín.

Sau thiên tai Katrina, ở New Orleans, chủ nhân của một nursing home đã bị truy tố vì người ta đã tìm thấy 34 xác của các ông bà cụ bị chết vì nước lụt tại đây, trong khi mọi người có trách nhiệm đã bỏ đi trước cơn bão. Trước thảm cảnh này, người ta mới thấy sự vô trách nhiệm của chủ nhân và các nhân viên. Trên đường di tản tránh cơn bão Rita, 23 ông bà cao niên của Brighton Gardens Nursing Home đã chết cháy trên xe bus bốc hỏa vì các bình dưỡng khí phát nổ, và khi xe cháy, những ông bà cụ này bệnh hoạn hay tàn tật không thể thoát thân. Trước khi cơn bão Rita thổi vào Houston, công ty nursing home này đã liên lạc với gia đình các thân chủ, khuyến cáo họ đem thân nhân về, và 61 người đã được thân nhân đến đón. Một số được di tản đi Arlington, số còn lại trên đường sắp tới Dallas thì gặp nạn. Con cái của các vị cao niên này ở đâu, nghĩ gì khi họ lo di tản và phó mặc cha mẹ?

Bây giờ trời đã trở thu, đêm đã khá lạnh, trong “nursing home” khuya này, có ai kéo lại mảnh chăn đắp lên cho mẹ như ngày xưa mẹ đã cúi xuống bên con, sửa lại chăn gối cho con, khép lại cánh cửa, rón rén trong từng bước đi kẻo sợ con thức giấc.

Biết rằng ai cũng tham sống sợ chết, dù phải sống như cỏ cây vô tri, vô giác, nhưng thật não lòng khi nghe một cụ bà thốt nên lời: “Xin cho tôi được chết, trước khi người ta có thể đưa tôi vào “nursing home”!

BẢN TIN ĐỌC THÊM:

Albany, NY (TH) Các máy thu hình cài đặt bí mật trong một số nhà dưỡng lão tại New York cho thấy thảm cảnh các cụ già bị dính đầy phân trên người mà không ai giúp đỡ, trong khi các nhân viên làm việc trên đây thì mải coi phim.

Các băng từ trung tâm này, Jennifer Matthew Nursing Home, tại thành phố Rochester, cho thấy một bệnh nhân và một cụ già khác sống nơi này không được chuyển đổi vị thế nằm để không bị phồng da và những người khác thì bị bỏ mặc nhiều giờ đồng hồ nằm trong bãi phân và nước tiểu của chính họ. Ông Spitzer nói rằng thuốc men và các dịch vụ khác đã không được cung cấp cho bệnh nhân như đã đề ra trong giao kèo.

Nhân viên trong nhà dưỡng lão dời chuông gọi ra xa nơi nằm của các cụ và không đi rảo quanh các phòng trong giờ trực mà dành thì giờ nói chuyện với nhau, coi phim, ngủ boặc đi ra khỏi nơi làm việc. Một số nhân viên nhà dưỡng lão bị cáo buộc là giả mạo giấy tờ để ghi rằng mình có cung cấp các dịch vụ cần thiết cho bệnh nhân.

(Trích NB Người Việt 7-1-2006)

Đày ải nhân gian

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 11 Jul 2026

Năm giờ sáng trên kinh tế mới

Tôi băng rừng đi bộ xuống ga

Con đường đất gần mười cây số

Khi đang mang bệnh nặng trong người

Cha theo tiễn tôi đi một đoạn

Dúi cho tôi hai củ khoai mì

Cha bảo nếu nhắm đi không nổi

Thì quay về chờ khỏe hẳn đi

Năm giờ sáng sương rừng lãng đãng

Bước chân đi đầu óc quay cưồng

Cha đang bệnh mà tôi cũng bệnh

Cha ở nhà chẳng thể đi xa

Mười cây số con đường gánh cũi

Đi riết quen nên thấy cũng gần

Nhưng hôm nay đường như thiên lý

Tôi đi hoài mà chẳng tới nơi

Có những lúc tưởng chừng ngã quỵ

Tôi nằm trên bãi cỏ bên đường

Mắt trừng trừng nhìn trời xanh ngắt

Có tử thần trên đó hay không?

Mười sáu tuổi nhưng khi ốm nặng

Tôi khác gì ông lão già nua

Ho sù sụ ho phun cả máu

Ngã đứng lên lê nặng bước đời

Tôi không chết dọc đường hôm ấy

Chắc số tôi chưa phải lìa trần

Trong toa tàu tôi ngồi ủ rũ

Như con gà bị ướt hết lông

Về thành phố má đưa đi viện

Nằm dưỡng thương mất cả tháng trời

Đầu cạo trọc nước da xanh mét

Sinh tử kia chắc cũng do trời

Rồi tôi lại lên kinh tế mới

Lại đốt than gánh củi mưu sinh

Thời hậu chiến quay cuồng cơm áo

Đã cho tôi hiểu được cuộc thời

Ba năm trời trên kinh tế mới

Thằng thiếu niên già trước tuổi đời

Bất lệ đổ nhãn mục quan tài

Hồ Đình Nghiêm

quanvan.net

Post on 27 Apr 2022

Post by Sơn râu 11 Jul 2026

Thị bỏ hắn đã hai năm. Cỡ đó. Không chính xác, chừng lâu hơn, bởi hắn nhớ rõ đã lội nước lụt những bốn lần. Đồ vật úng thuỷ, những tập vở, những trang thư tình lấm lem trôi lềnh bềnh ra tận ngõ. Như nước cuốn, thị đi và thị chẳng để sót một thứ gì trong căn nhà 6 mét vuông tróc lở gạch đá này.

Khi uỷ ban xã ra quyết định nâng cấp toàn bộ khu vực, sợ tốn kém, sợ lôi thôi, và sẵn xáo trộn hắn bán căn hộ ấy cho một tổ hợp chăn nuôi gia súc. Hắn quyết ra đi, xuôi vào Nam, mường tượng ra cảnh một cặp lợn xề được di dời địa bàn tới trú ngụ chỗ hắn từng ở. Chỉ có heo mới chịu nổi, không rõ trước khi giũ áo ra đi thị có thốt câu đó? Hình như rất kín tiếng, thị ngậm hột thị lẳng lặng biến mất. Đau cho hắn ở cách chơi chẳng hô hoán ấy. La lên một tiếng, rống lên một hồi thì dễ chịu xiết bao.

Vào chốn xa, tứ cố vô thân, lạ nước lạ cái hắn buộc phải học lắm thứ để thích nghi. Xin được chân làm thợ mộc trong xí nghiệp gỗ, thuê nhà gần xưởng cưa đục đẻo bào, ăn uống giản đơn cần kiệm rồi mừng thầm cho cuộc đổi đời chẳng đi vào đường cùng ngõ cụt. Ông Tư, người được giao trách nhiệm dạy việc cho hắn phút đầu không có mấy thiện cảm. Bị tui hổng nghe hiểu ra những gì chú em nói, vô rừng nghe gió thổi qua cây còn biết chúng nói gì với nhau, nói bỏ lỗi người cùng xứ sở mà sao chơi khó nhau quá. Khi giả giọng Nam, có nghĩa là dụt bỏ dấu nặng chêm dưới mỗi chữ khi ấy ông Tư mới chịu thu ngắn khoảng cách. Vậy có khoẻ trí không? Trước mày cứ chơi đúng bài bản “nói dậy mà hổng phải dậy” rắc rối thí mẹ!

Ông Tư có đứa con gái rượu (hắn rất muốn hiểu chữ rượu này, chắc hổng liên hệ với bia ôm) khi rảnh rỗi ổng thường mang cô này ra làm đề bài để tả tình tả cảnh. Nó tên Liễu vì má nó sanh nó ra ở Bạc Liêu. Má nó vắn số khiến thằng Tư này chịu cảnh gà trống nuôi con đã bộn bề bao niên kỷ.Tháng 10 tới nó đúng 19 tuổi. Nó may giỏi lắm nghe mậy, từng là công nhân gương mẫu bên xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng may mặc… Không như bàn ghế tủ, thợ mộc khi gia công hẳn dùng thước đo đạc chuẩn xác để đẻo đóng khít khao, ông Tư nói về con thường chẳng có kích thước ngắn dài cong thẳng. Cũng chớ trách, con người chớ nào phải đồ vật. Một ngày đi từ a tới z ông Tư dư sức đóng xong 4 cái ghế, nhưng bàn tới nhân vật Liễu ổng “bào” miết khúc gỗ quý ấy mà ngày hoàn thành e bộ còn lâu để chốt con mộc cuối.

Dù gì thì thằng thanh niên trai tráng người ở ngoải thiệt thà củ mỉ cù mì (cù lần) chăm làm ăn cục vắt thành hòn chưa vợ chưa con ít nói thánh nói tướng nọ cũng có hồi được ông Tư dắt về nhà tham quan một bữa xấu trời. Mưa lai rai, mày mua vài chai bia, tao đã sẵn hai con khô mực nhằm làm khuây một chiều cuối tuần. Có gì biểu con Liễu phụ vô chai rượu trắng coi có tới bến đặng hôn. Tương ngộ xảy đến như sấm chớp chiều giông, hắn ngắm Liễu và Liễu nghía hắn, sóng giao thoa dễ say hơn triệu lần con mực khô mặn mòi sực nức mùi quyến dụ gượu bia. Sao mặt mày đỏ vô chừng vậy Gia? Tại tui ít khi chung đụng hơi men, tạng người tui không sánh bì được với dân miền Tây Nam bộ. Liễu à, Gia này làm ở đẳng, đệ tử của tao, mày huỡn đãi chuyện bếp núc bỏ đó ra đây ngồi chuyện trò thoải mái một phen. Đệ tử của tía thì con kêu cách sao? Huynh, muội? Chú, con? Hay kêu anh xưng em. Mồ tổ mày, kêu sao chẳng đặng, miễn sao nó còn biết đường về là được, nó gục tại trận thêm khổ tao. Nè, vô cái này coi. Rượu vào lời ra, tao hỏi thật cái này nghe Gia, hằng tháng mày trả tiền thuê phòng là nhiêu, thêm tiền cơm hàng cháo chợ cà phê cà pháo e tiền lương chẳng còn xu dính túi?

Hắn ngồi tính nhẫm một phép cọng rồi đưa ra cái kết quả. Liễu la lên: Ác đức bất nhơn, sứt mẻ kiểu đó mà sao mặt anh cứ tỉnh như ruồi vậy. Mai này tính chuyện đại sự lấy đâu ra tiền mà trang trải. Khù khờ quá mạng! Ông Tư tiếp lời, hay là này, có gì mày lại đây ở, giá cả phải chăng, tao thu tiền phòng, mày góp thêm cho con Liễu ít tiền chợ. Tao đã chôm được ít tấm ván, ít thanh gỗ, bỏ ra nửa ngày là mày có gian phòng tươm tất chốn đây. Giản tiện một công đôi ba chuyện, tao nói vậy mày nghe có thông không. Coi như mình là người nhà với nhau. Tiết kiệm cả nạm tiền. Hợp lý quá đi chớ!

Buổi ra mắt thuận lợi xuôi chèo mát mái. Khi ông Tư đi lui nhà sau giải thuỷ, Liễu thì thầm: Không hiểu sao tía em mết anh dữ thần, chắc bị người ngoài miền Trung lạc loài vào đây kiếm cách sinh nhai, chớ mấy thằng loanh quanh chốn này ưa chòng ghẹo em bị ổng chửi cho thiếu đường sập mả , chạy toé khói ông bà ông vãi. À mà này, từ rày về sau anh bỏ cái giọng pha tạp đó đi, nghe không thật lòng. Xí nghiệp em mần có chán khối dân lao động từ quê anh tấp vào làm, nghe họ tán chuyện riết cũng thông lỗ tai đâu có gì khó nghe như tía em phê bình này nọ. Anh nói mà ổng hổng nghe ra có khi mà lại hơn. Hắn đắm đuối, hắn ngây dại: Vậy thì tới chừng nào anh được ăn cơm do Liễu nấu? Nằm buông mùng cách chỗ Liễu có tấm ván mong manh? Liễu nhai cái râu mực: Cuối tháng anh trả phòng đằng đó, xong đầu tháng anh dọn tới đây. Có nhiêu đó mà tính không ra sao cà!

Mưa lâm thâm dễ chịu quá chừng quá đỗi chớ mấy hổm rày nực nội sảy cắn ngứa mình gãi mẩy ngủ thiệt chẳng êm. Anh thích mưa hôn? Chừng nào thiếu thì cảm tình mình sâu nặng, chứ quê anh chốn nọ mưa liên miên ngó bắt nản, bắt chán, bắt ớn. Cứ coi như anh vô đây cũng là một kiểu trốn mưa. Mưa ở đây khác chớ bộ, dội cho mát chút đỉnh rồi ngưng rơi, có đâu trời sầu đất thảm như quê anh. À, sau nhà có xây cái giếng, nước hiền lắm nghen, em thường ra tắm vào nửa khuya mát trời ông địa.

Hắn chuyển đổi địa bàn nơi ăn chốn ở được đâu ba bữa thì lương nhận có tăng chút đỉnh do khéo tay học mau thuộc bài và chăm chỉ chịu khó với công việc. Người ta thử giao cho hắn việc cưa, bào, làm mộng, đẻo gọt, chạm trổ một cái quan tài ngó sao cho hợp nhãn, hợp bụng kẻ quy thiên khi sở hữu căn nhà đẹp đẽ gói thân về cát bụi. Những thanh gỗ xẻ chả biết lấy từ nguồn cung cấp nào mà khi cắt da xẻo thịt nó xông lên hương mùi thật ngọt ngào. Hắn bào mịn thớ gỗ, mồ hôi đổ xuống và ngây ngất cái độ nồng mà gỗ trao gửi. Có những trưa oi ả, ăn xong hắn chùng vụng vào nằm trong áo quan để đánh một giấc êm ả, phảng phất mùi trầm hương, u mê như dính phải bùa mê thuốc lú. Thành quả hắn làm ra không chê vào đâu được và xưởng mộc ngợi ca đẻ cho hắn một danh xưng: Gia Tài. Gia là tên cúng cơm, tài là chuyên trị đóng quan tài. Chỉ vậy thôi, chẳng hàm ý nào khác. Trong chu vi ba cây số vuông, không ai không biết đến Gia tài. Ông Tư rất vui bụng, ổng nói: Năng nổ lên con, rồi có ngày sẽ thêm hai chữ điền sản sau đuôi. Khó hiểu, nhắm chừng hồi nào Gia tài điền sản đâu ra đó thì hẳn gọi ổng là tía vợ hay sao đây?

Nói ông Tư khù khờ thì hơi bị hàm oan, nhưng nói Liễu khôn nẻ vỏ thì đích thị. Hôm ấy mưa tháng bảy rầm rộ trút, mịt mù từ rừng cao su đổ trắng trời xối xả chạy ra huyện lỵ. Mưa mù khiến ông Tư thèm nhắm chút chất cay và Liễu luôn minh chứng lòng hiếu thảo cho xứng tầm con gái rượu. Liễu moi từ túi áo Gia tài ra hai trăm ngàn chạy u đi tha về lít rượu trắng kèm tôm khô củ kiệu. Chạy không tơi nón dưới thịnh nộ đất trời, chừng thích thú với tầm tã để khi trở về mái nhà xưa áo xống dán chặt vào châu thân, biến hoá thành một món nhậu ngon mắt chẳng có gì so sánh được. Gia tài nuốt nước miếng, nuốt khan, đánh ực với độ rung mãi co giật nơi trái cấm luôn chuyển động ở cần cổ. Liễu có cách làm chủ tình hình trong mọi tình huống, không đi ra ngoài dự liệu, ban đầu ông Tư lè nhè về y phục ướt như chuột lột của Liễu, ca cẩm chuyện nắng mưa và rồi thì goắc cần câu. Nồng độ cồn không pha tạp đánh gục ông xuống chẳng biết trời cao đất dày. Liễu giả bộ than: Tía ơi là tía, tửu lượng có bây nhiêu thôi mà lúc nào cũng vỗ ngực. Liễu giả bộ hắt hơi nhảy mũi: Thôi chết, sao người khó chịu thế này, hổng lẽ bị mắc mưa. Anh Gia à, có vào xức dầu nóng cạo gió cho em không nè. Giọng nũng nịu tuồng như chưa bị gió máy tác hại và thân di động y như con rắn đang lột vỏ. Áo trước quần sau, vào tới giường em thì lồ lộ cả tấm thân ngọc nữ. Hắn từng có vợ, nào mới mẻ gì cho mắt tắm gội hình tướng một nữ nhân, nhưng nói nào ngay con vợ cũ nó mướt kiểu khác, đằng này rõ là dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên. Người quê hắn thiếu ăn, đa phần xương xóc hiếm thấy thịt thà, sinh nở ở miền Nam nên Liễu được đất đai trù phú hào sảng làm vun bồi đồi này núi nọ. Ngay cả chuyện cây cỏ cũng vậy, rậm rạp phồn thực chớ không hề lưa thưa mọc trên đất cày lên sỏi đá. Liễu nằm dang tay dạng chân thứ bản đồ hình như chưa bị xâm phạm, nếu đúng vậy hắn là thằng thực dân xâm lược đang mang mộng cắm dùi bóc lột. Nói yêu em đi, bằng chất giọng nguyên bổn ở ngoài nớ, em rất thích đồ ngoại vật lạ. Hắn không nói, máu chạy rần rần loạn xạ đả thông cả chục huyệt đạo chớ không riêng hai huyệt nhâm đốc. Luýnh quýnh láng cháng cởi hoài mà áo quần chết tiệt bày đặc làm khó. Người Liễu thơm hơn một cây quế chảy mủ, có nơi ngọt có chốn mặn, có chỗ chua nồng có khúc… Hắn phá mồi mà chả cần nhắp chút rượu cay. Nhậu say không cứ phải chịu lệ thuộc vô bia rượu, chỉ nhậu khan, hắn biết mà Liễu cũng hiểu chuyện làm nháp trước khi vào văn bản chính thức trọ trẹ ra tiếng yêu mệt bá thở.

Cả hai ngầm thoả thuận chơi theo chiến thuật du kích thầm lén mà không báo cáo cùng thủ trưởng. Nhậu sương sương, phá mồi non tháng thì xảy ra đột biến. Trong xí nghiệp của Lài có cô nhân công gặp cảnh tang gia bối rối, chồng cưới mới nửa năm ảnh đã vội rửa chân leo lên bàn thờ ngồi. Cơn đau đứt ruột của người vợ trẻ đánh động lòng thương cảm Liễu, chỗ tía em nức tiếng anh Gia tài có hoa tay làm áo quan không chê được, để em nói giúp một tiếng chắc họ sẵn lòng lấy giá du di xem như thay tiền phúng điếu. Nói hôm trước hôm sau đã dẫn một thiếu phụ mặc áo tang sầu muộn đến chọn lựa mua nhà mới cho kẻ bạc phần. Đi chưa tới bảy bước, cả hắn lẫn mệnh phụ chít khăn trắng đực mặt đứng như trời trồng. Éo le chẳng có bút mực nào tả xiết. Ủa, chơ anh vô khi mô? Ủa, chồng em đau răng mà chết? Anh làm thợ mộc răng chừ? Em có mụn con nào không? Nửa đường đứt gánh có hơi sớm hỉ? Căn nhà ngoài nớ anh bán rồi à. Liễu với anh quan hệ ra răng? Chết cha, nếu đúng là thành quả lao động của anh thì không chừng anh tặng không cho em chớ tiền bạc chi, phải rứa không? Tầm bậy nà, nguyên vật liệu là của xí nghiệp, mình quyền hạn chi mà xem cái hòm như đồ của chùa. Không lấy nhiều thì phải nộp một ít, ngay cả tình cũng rứa mô có cho không biếu không đâu nà!

Cả mười mấy mạng trong xí nghiệp gỗ đồng loạt nghỉ tay giương mắt ra ngó. Í, ngộ hén, thằng Gia tài mà từng có vợ rồi sao ta. Nó bỏ vợ hay vợ bỏ mà đoàn viên trong cảnh ngộ trái ngang này? Tha phương mà ngộ cố tri mừng vui làm sao nói hết, nghiệt một chỗ thiếp đang là nàng cô phụ, đành lòng nào mà xáp lại ôm ấp nhau! Nhưng nói nào ngay, tình cũ không rũ cũng tới, áo tang cởi bỏ mấy hồi rồi châu lại về hiệp phố, chuyện nhỏ! Cha con ông Tư lặng câm trước bao xôn xao của đám bình loạn viên. Đại diện hội đồng quản trị xí nghiệp thuận lòng cho Gia tài thuê xe ba gác khiên đi cái quan tài giá bèo nhất, giảm giá 50 phần trăm cùng điều kiện hắn phải gia công làm thêm giờ. Chuyện bất khả, xin chia buồn khi người thân thích thầm lặng ra đi. Ông Tư lớn tiếng, chớ có đi luôn nghe mậy, xí nghiệp chờ mày về trả lời cụ thể mọi nguồn cơn. Bày đặt giở trò mèo dấu cứt!

Đi quàng xiên trên đất lạ, ai đâu ngờ được chúng nó từng có quá khứ gừng cay muối mặn của kiếp vợ chồng. Chồng cũ kéo cái quan tài đôi ba hôm sau sẽ vùi lấp thằng chồng mới. Vợ nửa cũ nửa mới đi bên cố gạt vẻ u sầu: Anh có oán hận em không? Chuyện đã lỡ bây chừ xin niệm tình tha thứ. Gia tài nói: Tụi mình giống như một cuốn tiểu thuyết đọc chưa hết buộc phải gấp lại, không lộn xộn mở trang giấy cũ ra, không háo hức xem sang hồi sau sẽ rõ. Anh giúp em lần nay là bị du vào cái thế chẳng đặng đừng. Thiệt khó ăn khó nói khi trở lại xí nghiệp gỗ, có nghĩ tình xưa nghĩa cũ em chớ có lộn lui chốn ấy mà làm bể nồi cơm của anh. Chồng vừa chết thì cứ giả bộ giữ tròn đạo nghĩa, chớ loạng quạng đi ta bà để chịu tiếng dị nghị âm mưu bất chính người đời gán cho. Thề một tiếng cho anh an tâm. Vợ cũ không nói gì, về tới ngõ như quả bóng xì hơi: Mả cha cuộc đời! Anh ơi là anh ơi, có sống khôn thác thiêng thì chứng giám giùm cho con vợ bất hạnh này!

Đúng là nhà có tang, lắm kẻ chộn rộn đứng ngồi không yên. Hắn chùi mồ hôi: Em đi kêu ai ra vác nó vào. Anh không hiếu kỳ vô dòm mặt thằng chồng em sao? Cho anh xin, anh nhát gan lắm, sợ vãi chuyện kề cận tử thi. Anh về đây, em nhớ giữ trọn nghĩa vợ chồng. Mụ cô anh, tính chửi khéo người ta hả? Ừ, con này sẽ giữ trọn tình nghĩa, đám tang xong con nay tới xưởng mộc thăm viếng quà cáp trả lễ cho anh, được chưa. Hắn quành chiếc xe ba gác lui về đường cũ. Đi giữa đàng thì đụng mặt Liễu, mặt ủ mày ê. Em đi mua rượu, chiều nay quyết đánh chén, say chết mẹ luôn. Bả là vợ cũ của anh à? Gia tài gầm mặt: Liễu nói sao cũng đặng, có điều bả không xứng làm vợ anh. Về đi cha, tía tui đang đợi dẹp yên dư luận đó. Rồi tối trời lại đến phiên tui, lột đồ ra, mài con dao bén, không thành khẩn tui cắt phén thằng nhỏ, giải phóng cho khỏi sanh hậu hoạn. Phỏng dái mà nhằm nhò gì! Gia tài than, cả em mà cũng xử anh kiểu đó sao Liễu? Anh thương em giàn trời hổng thấy sao. Không có em thì nào khác gì Gia tài mà mất đi điền sản. Em là cánh đồng cò bay thẳng cánh của riêng anh. Nói láo cho bà vật!

Như thường lệ, phục rượu cho ông Tư khỏi lèm bèm tới phiên Liễu lôi hắn vào buồng trấn lột. Em là con gái rượu của tía em đồng thời em cũng là hủ mắm treo đầu giường của anh. Bây giờ việc anh cần làm là chí tình liếm mút cái hủ mắm ấy, chừng nào anh càng u mê lậm phải bùa thì chừng đó em mới an tâm… Ui chao, gia tài ơi là gia tài, chừng nào em biểu thôi mới được thôi…Ui, thế con vợ cũ anh có từng bày ra trò này chưa? Ở ngoài đó, cái đầu của nam nhi chỉ được phép đội ơn công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ thôi, giữ không được ô uế. Bây chừ em bắt anh chúi mũi chúi lái vào cái cửa tử này thì đủ chứng minh anh thương em chết bỏ bể bỏ rồi. Ui, nói nghe mát ruột quá… Ui, em sướng quá mình ơi…

Bụng Liễu lộ hình cái thai hai tháng tuổi, sau hai tuần họp chi bộ đả thông tư tưởng, ông Tư đi tới chỉ thị: Nhận đồng chí Gia làm con rể. Quá trình nó phấn đấu lâu quá mạng rồi chớ còn eo xách gì nữa. Đạo đức tốt, nhân thân tốt, thường nhận được bằng ban khen của xí nghiệp và quan trọng nhất, nó thương con Liễu không cách gì tả xiết. Con Liễu có bùa ngải gì thì không biết, mà nếu có chăng, mời thầy pháp về thằng Gia tài cũng một mực từ chối chẳng ưa thanh tẩy xua đuổi tà ma ám khí. Mấy khúc gỗ đi cùng tấm ván ép từng ngăn chia biên giới, giờ được tháo gỡ cho thêm phần thông thoáng đặng có chỗ tiếp rước quan khách từ hai xí nghiệp đến chung vui ngày hệ trọng. Bản thân ông bố vợ tương lai đã cùng đứa con gái rượu áp tải anh Gia tài ra tuốt ngoài mả bà già vợ mà thắp nhang khấn vái thề nguyền theo kịch bản do Liễu chủ động viết ra. Hắn đọc trơn tru thì không khéo mà nắm xương tàn kia sẽ ngóc đầu ngồi dậy, cười lên ba tiếng cho caí sự tình lâm ly nọ. Chúng làm như cõi đời ô trọc này chưa từng nghe qua hai chữ thuỷ chung, hai chữ son sắc, bốn chữ đầu bạc răng long. May mà lời khấn nguyện kia chẳng viết thành văn bản nhuốm mùi trần tục: Tui mà phụ bạc thì Liễu có quyền cắt con chim cu tui ra dụt bên nấm mồ cô quạnh này để chứng giám.

Ông Tư tâm sự: Làm đờn ông khổ chứ không phải chơi đâu nghen mậy! Tao một mực ở không, chẳng đi bước nữa là vì vậy. Mẹ nó chứ, ba má sanh ra lành lặn là thế, được có mỗi con chim ăn nói khi không nó vụt bay đi mất thì ta nên xếp vào tội bất hiếu vậy! Thân con chẳng giữ trọn sự vẹn toàn tía má ơi!

Làm đàn ông thậm khổ, chí lý thay! Bụng Gia co thắt khi nhát thấy con vợ cũ mặc đồ đại tang vừa đi qua cánh cổng có trang hoàng đơm bông kết trái quanh chữ lễ thành hôn. Giọt nước mắt rơi xuống có thể làm dâng lên trận lụt vỡ bờ. Không ai đi chúc mừng mà lại ăn vận thứ y phục quái gỡ dị dạng tựa thế. Theo sau là người đàn ông bế trên tay một đứa bé. Cả ba đều không có tên trong danh sách khách được mời. Họ bước vào sân mang theo cả một trời đe doạ làm hoang mang cục diện. Người ẳm đứa nhỏ mặc đồng phục công an, chẳng ai lạ gì vì ảnh có chút chức phận ở huyện đường. Ảnh đứng đó làm những nụ hoa tươi dùng để trang trí buộc phải thôi khoe sắc, xìu xìu ển ển. Ảnh ngậm câm nhường cho bà quả phụ khai hoả phát súng đầu, nhắm bắn tới người đóng vai chú rể: Trước khi cuộc vui diễn ra, chúng ta cần hoàn tất một hợp đồng, đó là hàng tháng anh phải gửi tiền trợ cấp con anh cho tới khi nó trưởng thành. Tôi nhận nuôi dưỡng nó vì anh không đủ tư cách để làm cha. Chẳng nhiều nhặng gì đâu, năm triệu cho mỗi tháng. Anh đồng ý thì tôi xin ôm con rút lui, quyết không dây dưa ngó ngàng tới bộ mặt tráo trở của anh lần nào nữa.

Đám cưới nhà người đám ma nhà mình. Câu ấy sai lạc toàn bộ bởi đâu đâu cũng nhìn ra cảnh tang gia bối rối. Ăn không được thì phá. Câu ấy cũng trật tuốt luốt. Bởi nào có cảnh ăn uống gì đâu, phá cũng không, cô ấy chỉ cho nổ một trái bom to hơn cả thứ mà bọn khủng bố quen dùng. Xao xác, tan tành, vùi dập mau thứ phông màn song hỷ. Pháo đỏ rượu nồng chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Tài hùng biện có uốn ba tấc lưỡi như các thánh mưu sĩ cũng hết có đất dụng võ. Gia ôm hận làm kẻ tiểu nhân đợi bóng chiều nhuộm tím đất trời thầm lặng ôm tư trang chạy trốn ra bến xe, lẫn vào cuộc lữ lắm bụi chưa định ra mốc cuối. Thì cứ trôi, trôi đi dù con nước cạn chẳng tài nào giáp mặt cảnh quang hào phóng của biển cả độ lượng. Nước đầy rong bèo, nước đục bùn, nước ô nhiễm, nước ao tù, nước chẳng thu được cho riêng nó một khoảng trời xanh phản chiếu mây dạt.

Người ở khu phố nói chung, ở xí nghiệp gỗ nói riêng dần dà sáng mắt sáng lòng tựu thành một nghi vấn rồi đi gần về với đáp án đầy biện chứng: Thằng Gia tài vô tội. Đứa bé kia không phải là con hắn. Cái chết đường đột ám tối của thằng chồng không loại trừ khả năng bị đầu độc, mà kẻ tiếp tay con vợ trắc nết ấy chẳng ai khác ngoài gã công an tình nhân của bả, là cha đứa nhỏ ngác ngơ kia. Sẵn thời cơ, chúng chụp bắt và đổ riết mọi tội vạ lên đầu thằng Gia tài thứ kịch bản nằm mộng cũng chẳng ngờ.

Liễu ra mả bà già thắp nhang khóc lóc kể vắn than dài để đêm về mộng thấy má hiện lên chỉ bày năm điều ba chuyện. Liễu xin nghỉ việc, Liễu nói với ông Tư: Tui đi nghe tía, chừng nửa tháng là cùng. Tức quá mà, không lôi ảnh về lại đây hoá ra là mình thua chúng nó, mắc mưu chúng nó. Con Liễu này sẽ một mình đương cự chúng nó, đánh tới rách cái lai quần vẫn hổng ngán. May mà tui còn sáng suốt, nghe lời xúi bậy của tía tới bệnh viện trục cái thai ra thì có phải tui là phường ác đức bất nhơn không. Liễu đưa tay xoa bụng: Con yên tâm, để má tìm ba con về, bà ngoại chỉ đường cho má rồi, lưới trời lồng lộng nhưng ba mày sẽ chạy không thoát bàn tay của má đâu. Kẻ sống thì đa phần đều mù loà chẳng biết phân biệt trắng đen, chỉ có người khuất bóng mới tường tận bao oan trái trên thế gian này.
Bể khổ là chỗ ấy. Nghịch lý là chỗ ấy. Phân lìa cũng do chỗ nọ! Ưa chửi thề mới gớm!

Liễu đeo cái túi vải lên vai bước đi. Ông Tư nói với theo: Biểu nó giỏi chân về, thằng già này rất nhớ hắn, nhớ thằng rể côi cút hẩm hiu. Mẹ rượt, ngồi uống rượu mình ên mà nghe rượu đắng, nuốt hổng trôi! Mày đi đường mạnh giỏi, cẩn thận cái bụng bầu, hén.

Hồ Đình Nghiêm

Con rắn “Đuôi chuông”

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

November 30th, 2024

Post by Sơn râu 11 Jul 2026

Arhan

Lần tôi xuống thăm trại nuôi gà và đồn điền ớt của Thành, người em họ, con bà dì ở El Paso, Texas. Tối đó trong bàn nhậu.

– Bữa nay em đãi anh món rất đặc biệt của thổ dân Da Đỏ…

– “Da đầu người nhúng giấm”?

Tôi chọc.

Thằng em ngước mặt, rao lớn như những người Sơn Đông quảng cáo thuốc dán ở bến xe Đà Nẵng năm xưa.

– Rắn “Đuôi chuông”, xé phay trộn xương rồng ngâm chua…”

Nó lấy chai Vodka và Tequila có màu đỏ bầm trên bàn ăn.

– …Rượu Vodka pha máu rắn, Tequila pha mật rắn, uống bổ gân dãn cốt…

Thành ngồi xuống, ôm vai người đàn ông lớn tuổi, da nâu đỏ, mái tóc đen bóng, chải ngược ra sau, đánh thành lọn tóc bím, dài tới lưng, kiểu truyền thống của dân Da Đỏ.

– Tất cả những món đặc biệt này, đều do người quản lý trại gà và đồn điền ớt làm, theo kiểu Da Đỏ … Đây Arhan!

Arhan đứng dậy rót 3 ly rượu mật rắn.

– Xin chúc khỏe mạnh!

Cạn ly.

Anh vui vẻ nói với tôi.

– Nhậu thịt rắn “Đuôi chuông”, tôi kể anh nghe…

Rắn đuôi chuông

“Tôi thuộc bộ tộc người Da Đỏ Pueblo ở khu vực Ysleta của El Paso, Texas. Năm 25 tuổi, chuyên nghề sửa xe, nhưng ế khách, nên chỉ làm 3 ngày 1 tuần cho một ga ra ở vùng Socorro. Rảnh, nên tôi thường đi săn chồn, chó rừng, thỏ xám, rắn đuôi chuông ở mấy vùng rừng thấp chung quanh khu núi đá với Perdo, một người lai Da Đỏ, trốn từ Mễ Tây Cơ qua, cắt cỏ ở Socorro.

Đang đi, tôi nghe thoảng trong gió, tiếng chồn chí chóe rất nhỏ. Tôi kéo Perdo, chạy tới, núp sau mỏm đá, nhìn xuống. Dưới vạt dâu rừng sát bên núi, 2 con chồn xám đang lăng xăng ăn những chùm dâu chín đỏ nằm lẫn trong đám lá xanh.

– Vòng bên phải, tới sát mỏm đá bên kia, tao bắn con bên trái, mày con bên phải.

Tụi tôi đi vòng, cách vạt dâu chừng 50m. Hai đứa núp sau tảng đá, đưa súng lên.

– Đùng! Đùng!

Tôi bắn trúng con chồn bên trái, nó văng qua một bên. Phát súng của Perdo chỉ cày tung lớp lá dâu. Con bên phải biến mất. Hai đứa chạy tới. Đúng lúc Perdo cúi xuống vạch đám lá tìm con chồn, tôi nghe tiếng rè rè “Đuôi chuông” của loại rắn độc, nên đưa tay cản Perdo lại, nhưng không kịp. Một con rắn đuôi chuông rất to, màu vàng đất có 2 sọc đen trên lưng đã phóng lên, cắn vô cổ Perdo. Nó té xuống, con rắn trườn nhanh, rồi quay lại, đưa cao đầu khè những tiếng hung dữ, như muốn tấn công chúng tôi. Perdo còn đủ bình tĩnh, nó nạp viên đạn. Đúng lúc đó một con đuôi chuông khác từ bên hông Perdo, trườn nhanh tới, chồm lên cắn vô bắp tay nó, nhưng chỉ vướng vô tay áo. Perdo lẹ tay chụp lấy đuôi con rắn, quăng mạnh, con rắn đuôi chuông rớt vô đám dâu rừng, Perdo lên đạn.

– Đùng!

Con rắn rớt xuống. Tôi đưa súng lên định bắn con rắn trước mặt, nhưng nó đã trườn đi.

Perdo gạt đám dâu rừng qua một bên, tôi bước tới lấy xác con chồn mình bắn, còn xác con chồn kia nằm sát bên một bầy rắn 6 con lúc nhúc vừa nở ra từ những cái vỏ trắng có đốm đen trong một lỗ hang sâu dưới lớp đất khô. Bây giờ thì tôi hiểu ra. Con rắn đuôi chuông lớn, màu vàng có 2 sọc đen, đã tấn công Perdo là rắn chồng, đang canh cho con rắn vợ (Bị Perdo bắn chết) ấp trứng, lúc các rắn con vừa nở thì Perdo bắn con chồn bên phải, và con rắn vợ đã cắn chết con chồn trước khi viên đạn của Perdo tới đích vì sợ con chồn ăn mất các con của mình mới nở.

Tranh Hồ Đắc Vũ

Cấp cứu

– Arhan! Arhan…

Mặt Perdo bầm tím lại, miệng sùi bọt, thở khò khè, nó kêu tôi, lảo đảo té xuống.

Biết Perdo bị trúng độc nọc rắn đuôi chuông. Tôi quỳ xuống, lấy dao săn cắt một đường ngắn giữa 2 vết rắn cắn, bóp mạnh, máu độc ứa ra. Tôi lấy bật lửa, hơ nhẹ trên vết cắn, hái một nắm lá dâu, giằm với ít nước tiểu, bóp thành một miếng dài, đắp vô vết thương.

Perdo khò khè

– Tao không thở … Được!

Tôi xốc nó lên vai, chạy thẳng ra xa lộ, nơi có trạm điện thoại cấp cứu.

Một tuần sau, tôi gặp Perdo tại bar Mễ ở Socorro.

– Sao rồi?

Perdo khui 2 chai Corona.

– Tao bị mù mắt trái, miệng méo.

Tôi vỗ vai nó.

– Không chết là may mắn lắm …

Làm ngụm bia.

– Ông chú tao, nuôi đàn bò rừng 10 con ở vùng núi El Paso … Đêm kia 1 con đuôi chuông chui vô chuồng, cắn chết 2 con bò mộng một lúc!

Mối thù

Perdo đập tay xuống bàn, mấy người chung quanh nhìn.

– Tao phải giết nó! Trả mối thù bẩn thỉu này!

Nó nốc cạn chai bia thứ 3.

– Tao nhớ rõ con rắn “Đuôi chuông” to, có 2 sọc đen trên lưng… Mẹ! Tao sẽ giết nó!

Từ ngày đó, Perdo thường xách súng, ra bãi dâu rừng và khu núi đá chung quanh, tìm dấu vết con rắn đuôi chuông 2 sọc. Đôi lúc Perdo nổi điên, nó bắn tan xác bất cứ con rắn đuôi chuông nào thấy được. Bây giờ, Perdo không còn đi săn với tôi, ngày nào nó cũng xách súng đi lòng vòng khu núi đá, bãi dâu, cồn cát, truy sát rắn đuôi chuông, để trả thù cho con mắt mù và cái miệng méo xẹo của mình.

Bữa nhậu ở Bar Mễ, Perdo đã tuyên bố.

– Tao sẽ giết tất cả rắn đuôi chuông, từ lớn tới nhỏ, Không chừa một con nào!

Rắn đuôi chuông tấn công.

Mấy hôm sau, vừa cắt cỏ về. Perdo khiêng máy cắt và đồ nghề bỏ trong hiên nhà, lúc bước ra xe, lấy máy phun thuốc trừ sâu.

– Rè! Rè! Rè!

Tiếng rung đuôi của rắn đuôi chuông từ dưới gầm xe, Perdo nhảy lui lại.

Dưới gầm xe phóng ra con đuôi chuông, mình có 2 sọc đen.

Tối đó, ngồi với tôi ở Bar Mễ.

Perdo đưa bắp chân lên.

– Mẹ! Con rắn to cỡ này.

– Ohhhh!

– Đó là rắn “Chúa”.

Ông già Da Đỏ đang uống rượu ở cuối quầy nói.

– … Là con rắn “Trùm” cả một vùng. Rắn cũng có tổ chức xã hội như người …

Perdo uống ly rượu, nói nhỏ với tôi.

– Mẹ! Đúng là con rắn mà tao đã truy tìm để trả thù …

Perdo chỉ vô con mắt mù và cái miệng méo.

– Mầy chắc là nó không?

– 100%! Chắc! Vì…

“Con rắn phóng ra, quay nhanh lại, lừ đừ đưa cái đầu to lắc lư và cặp mắt màu chì ngẩng lên cao, nó chồm tới, le lưỡi, khè những tiếng lớn, như hăm dọa. Perdo nhảy vô xe, chụp lấy cái ống phun thuốc trừ sâu, đưa ra trước mặt, tay bấm nút mở máy. Làn thuốc trắng phun vô mắt con rắn, nó quay đầu, trườn lẹ về hướng núi đá.

– Vậy là mầy hên!

Người khác nói.

– Nó mà tấn công … Là mầy mù luôn con mắt bên kia!

Tôi vỗ vai Perdo.

– Rắn đuôi chuông ít khi nào cắn trật! Nhất là rắn “Trùm”.

Perdo gọi 2 ly Tequila, nói với tôi.

– Tao thề! Sẽ tìm ra và giết con rắn “Trùm” Tao không thể chịu thua nó!

Mấy người bạn đứng ngay quầy bar cùng đưa cao ly rượu.

– Chúc Perdo hạ thủ được con rắn “Trùm”

Như mỗi cuối tuần, Perdo xách súng vô khu núi đá, truy tìm con rắn đuôi chuông. Vì biết con rắn “Trùm” này rất tinh khôn, nên anh dụ con rắn bằng cách cột 2 con thỏ sống với sợi dây dài, để nó tự do chạy tới lui, ăn những củ cà rốt đã được rải chung quanh, khi con rắn tấn công thỏ, anh sẽ, bắn nát đầu nó.

Chiều đã mát lại, vài cơn gió nhẹ len qua các mỏm đá, xua bớt đi cơn nóng thiêu đốt của mùa hè.

Perdo dựa lưng vô vách đá, nhìn một vòng chung quanh, rồi gác súng ngang người, lấy trong túi xách miếng thịt chồn sấy và chai whiskey còn phân nửa. Perdo nốc hết phần rượu, khà một tiếng dài, cắn miếng thịt chồn, nhai nhóp nhép…

– Tao đang lim dim thưởng thức cái ngọt thơm của whiskey quyện với miếng thịt chồn khô thì.

– Rẹt!

Một vật màu xám lao xuống, tao chỉ kịp ôm đầu, lăn qua một bên tránh …

Perdo đưa 2 tay lên trời.

– Mẹ ơi! Con rắn “Trùm” đã phóng xuống tấn công tao.

Ông Da Đỏ, đứng ở quầy rượu, nói.

– Vậy sao mầy còn đây?

– Nó cắn vô đầu … Nhưng nhờ lăn qua nên con rắn cắn trúng vô cổ áo khoác, nọc độc phun nóng hổi, rát rạt một bên cổ, tao đứng nhanh dậy, chụp khẩu súng đã lên đạn nhưng không bắn được, vì con rắn đu đưa sau lưng, nó cong người lại quấn quanh mình tao, cố rút hàm răng nhọn bị cắm vô cổ áo. Tao xoay người, đập mạnh cái lưng vô mỏm đá, con rắn “Trùm” bị đau, nó cong mình lại, quất cái đuôi to vô đầu tao. Những cái vảy lớn sau đuôi của rắn rung chuông cứng như móng chân bò nên tao đau quá, lấy hết sức đẩy lưng một cú mạnh, con rắn “Trùm” trúng đòn, nó phì một tiếng lớn, phóng xuống đất, tao quay lại, đưa khẩu súng, định bắn, con rắn vươn cao đầu, há to miệng, phun những tiếng phì phì rồi phóng vô mặt tao. Tao dội ngược, rút dao, chém ngang một phát, trúng đầu con rắn, nó khè một tiếng lớn, trườn lẹ vô đám xương rồng, để lại vệt máu trên mặt đất khô.

– Theo những điều linh thiêng của rừng núi, mà người Da Đỏ đã biết, qua bao trăm năm …

Ông già Da Đỏ gục gặc đầu.

– … Khi con thú dữ đối mặt, hù dọa, chống lại mình, đó là điềm báo trước về sự suy tàn của vận mạng.

– Ha! Ha! Nó chỉ là một con rắn lớn! Ông Già ơi… Vậy là nó suy tàn! Không phải tôi.

Perdo đưa cao ly rượu, cái miệng méo xẹo la lên.

Rắn đuôi chuông trả thù.

– Tao sẽ giết con rắn “Trùm”! Cạn ly.

Tới ly thứ 5, thì Perdo bắt đầu say. Nó nốc một ly nước cải chua lớn cho giải rượu, trước khi về.

Perdo leo lên chiếc Jeep, Arhan bước tới.

– Perdo! Mầy say quá! Về nhà tao ngủ, sáng sớm về.

Perdo gạt tay.

– Không sao Arhan! Tao còn tỉnh, tao muốn về nhà!

Vậy là Perdo nổ máy, phóng đi.

Về tới nhà, đã 10 giờ tối. Perdo đi tắm. Anh lấy con gà luộc mua hồi chiều để ra bàn, cắt cái đùi, rót ly whiskey. Ăn xong, Perdo ra cửa nhìn một vòng chung quanh. Vì lời cảnh báo của ông già Da Đỏ, anh vô giường, để khẩu súng sát tay phải. Cơn say bốc lên, Perdo cởi hết áo quần, nằm ngủ trần truồng.

Perdo kéo chiếc mền mỏng lên ngực.

Con rắn “Trùm” đuôi chuông từ dưới giường bò ra, tiếng xè xè của chiếc đuôi vang to trong đêm tối. Perdo mở đèn.

– Mẹ! Rắn!

Đúng! Con rắn “Trùm” ngẩng đầu có vết chém của Perdo xéo ngang cái má to. Perdo chụp khẩu súng.

Nhưng trễ rồi! Con rắn đuôi chuông, đã há to cái miệng đầy răng và nọc độc phóng thẳng vô hạ bộ trần truồng của Perdo …

Và như ông già Da Đỏ đã nói.

“Khi con thú dữ đối mặt hù dọa mình, đó là điềm báo trước về sự suy tàn của vận mạng”

Nhưng Perdo không bị suy tàn vận mạng … Chả mất mạng!

Một tuần sau, những du khách đi thăm vùng Pueblo của bộ tộc người Da Đỏ ở khu vực Ysleta, El Paso, Texas. Lúc nào cũng thấy một con rắn đuôi chuông “Trùm”. Mình có 2 sọc đen, đầu gác trên cánh chim ưng bằng gỗ, hiền lành nhắm mắt, quấn mình quanh cây cột Totem thờ thần núi rừng.

Con rắn đuôi chuông “Trùm” đã về tu thân với thánh thần, sau khi trả thù cho vợ.

HDV

Vài chuyện nhỏ đầu tuần

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 11 Jul 2026

Trước đây tôi thấy những thủy thủ lớn tuổi trên tàu thường có vẻ mệt mỏi, khó chịu bực bội và hay gây gổ với người khác, cho nên bị đám trẻ chọc ghẹo hoài, chắc cũng vì vậy mà tới ngày được nghỉ hưu thì họ về nghỉ liền. Hiện giờ trong công ty những thủy thủ già cỡ tuổi với tôi không còn ai hết.

Đúng ra tuổi của tôi được về hưu năm ngoái nhưng tôi thấy sức khoẻ còn tạm được nên nán lại. Định đi tới khi nào mệt mỏi và làm không nổi nữa thì nghỉ. Cũng vì thấy những người lớn tuổi hay khó chịu mà bị đám nhỏ coi thường, nên tôi tập tánh ôn hoà và không nổi nóng bất tử với ai, nhờ vậy mà cho tới nay tôi chưa gây gổ với người nào và cũng chưa từng bị ai chọc ghẹo hết. Được may mắn cái là khi xuống tàu phần đông thủy thủ đoàn chào đón vui vẻ, nói chuyện cũng đàng hoàng. Nhứt là thủy thủ trẻ người In Đô, có đứa mới gặp lần đầu cũng mừng rỡ chạy xuống cầu thang bắt tay, ôm: “Chào uncle Tấn.”. Rồi tự giới thiệu là con hoặc cháu của một bạn đồng nghiệp nào đó đã nghỉ hưu và chúng nó phụ tôi rinh hành lý lên tàu. Chuyến này có thợ máy người Nga, nhỏ hơn tôi vài tuổi, mặt mày lúc nào cũng gầm gầm khó chịu, hôm xuống tàu tới nay ông không bắt tay và cũng không nói chuyện với tôi, ngoại trừ những khi ông vô bếp hỏi thêm đồ ăn. Sáng hôm nay, trong lúc tôi đứng gọt khoai tây, ông tới đứng ngoài cửa phòng ló đầu vô bếp kêu:

– Bếp!

Day lại thấy ông, tôi vui vẻ và lịch sự như người bán hàng, hỏi:

– Tôi có thể giúp gì cho ông?

Thấy ông nhếch đôi môi méo mó, hổng biết cười hay mếu và nói:

– Tui không ăn thịt nữa.

Đã lâu lắm rồi không nghe thấy ai vô bếp phàn nàn chuyện ăn uống và lâu lắm rồi tôi mới thấy lại cái gương mặt cũ kỹ của người Nga hồi cái thời nước Nga còn là Liên Bang Xô Viết. Theo quy định ăn, uống trên tàu của Hoà Lan thì ngày ăn ba bữa; bữa sáng ăn bánh mì thịt nguội phó mát và trứng chiên hoặc trứng luộc, bữa trưa là bữa ăn chánh có đầy đủ thịt, súp, khoai tây, rau cải và đồ ăn tráng miệng, bữa chiều cũng bánh mì thịt nguội, phó mát; sữa, trái cây và nước trái cây ăn, uống uống thoải mái. Buổi chiều, nếu đầu bếp siêng thì cuốn và chiên cho mỗi người một vài cuốn chả giò hoặc cơm chiên, mì xào. Nếu làm biếng thì lấy trong phòng đông ra kroket hoặc frikandel hay hamburger để tan đá rồi chiên cho mỗi người một cái, những món này không có cũng không sao. Nhưng từ khi người Nga và Đông Âu qua làm việc, hổng biết hợp đồng về ăn uống của họ như thế nào, mà đầu bếp không còn nhận những thứ thịt bò mềm làm bít tết, cá hồi, tôm thẻ, nói chung những món mắc tiền bị loại ra khỏi đơn đặt hàng. Đã vậy mà khi nhận hàng, kiểm đồ khô hết hạn, rau cải bị úng còn thấy được, chớ đồ đông đá thì khi nào tan đá mới biết nó như thế nào. Đầu nậu cũng mánh mung lắm, họ trộn cá ươn, thịt ôi chung với những thùng thịt đông đá, còn khoai tây thì không rửa sạch để đất bám vào cho nó nặng ký. Thịt bò thì dai nhách, đầu bếp phải ướp soda để cách đêm cho mềm rồi mới đem chế biến, còn thịt ươn thì phải ướp gia vị nhiều vô rồi mới đem chiên, xào, nấu. Nhiều người Hoà Lan thà ăn bánh mì thịt nguội, phó mát chớ không ăn những thực phẩm bị kém chất lượng như vầy đâu. Thiệt tình mà nói, chính tôi nấu ra mà tôi cũng hổng dám ăn luôn! Nhưng những người Nga và Đông Âu thì họ đớp sạch và còn khen ngon, nói chung những người Nga và người Đông Âu họ ăn nhiều thịt, những người này họ qua Hoà Lan làm việc lâu năm, đã quen cách ăn uống trên tàu Hoà Lan rồi nhưng bữa ăn chiều nào không thấy thịt thì họ có vẻ không vui. Thật ra thì đầu bếp dọn đồ ăn ra bàn ai ăn được thì ăn, không thì thôi, nhưng nếu nấu đúng theo tiêu chuẩn trước kia, nhiều món họ ăn không được, thức ăn bị đổ bỏ nhiều quá, thấy xót ruột nên tôi đành phải phá lệ. Buổi trưa tôi nấu thêm một phần thịt, chiều tôi đem phần thịt dư ra cho mỗi người một miếng, làm như vậy mới an tâm, vì không đổ bỏ thức ăn nữa. Trở lại chuyện ông thợ máy, có hôm buổi chiều tôi dọn món thịt gà chiên bột, ông hỏi:

– Bếp có thịt không?

Tôi chỉ dĩa thịt gà chiên bột cười, dí dỏm nói:

– Thịt đó, món này ông vô nhà hàng Việt mới có.

Thuyền trưởng và mấy người trẻ khác ra điệu sành ăn, bới miếng cơm vô dĩa, gắp cục gà chiên bột để lên và chan sốt chua ngọt vừa giải thích cách ăn. Nhưng ông thợ máy gầm mặt xuống miễn cưỡng ghim miếng gà chiên bột, moi miếng thịt ra ăn, còn phần bột ông bỏ lại, sau này tôi mới biết, cái món chả giò của Việt Nam mà nhiều người ưa thích ông cũng không ăn. Nói chung ngày nào cũng phải có miếng thịt cho ông, không thì ông hỏi, nhưng hôm nay không biết mắc gì mà trở chứng hổng ăn thịt nữa. Tôi ngoái ra nói:

– Ô kê.

Ông hỏi:

– Tui ăn cá được không?

– Dĩ nhiên là được.

– Cám ơn.

 Nói đoạn ông day lưng đi ra ngoài. Buổi ăn trưa hôm đó, tôi dọn ra món gà đúc lò, khoai tây chiên dòn, cải thảo trộn mayonnaise và súp giả vi cá, đây là thực đơn đặc biệt của riêng tôi chọn mà người Âu, người Á và người đạo Hồi đều ưa thích. Dọn bàn xong tôi trở vô bếp, đương lui cui dọn dẹp đồ đạc thì thợ máy đứng ngoài cửa ló mặt vô gọi:

– Bếp!

Mặt mày ông nhăn nhó, bèo nhèo như miếng nùi giẻ lau sàn. Thấy bộ mặt thê thảm của ông, biết có chuyện không vui, nhưng tôi vẫn bình thản hỏi:

– Ông cần gì?

– Cá của tui đâu?

– Hôm nay hổng có cá.

Giọng ông hằn học:

– Hồi sáng ông có hứa làm cá cho tui mà.

Tôi cười thầm trong bụng và vẫn giọng ôn tồn nói:

– Oh, tui nhớ hồi sáng ông có hỏi tui, ông ăn cá được không? Tui nói là được, chớ đâu có hứa là sẽ làm cá cho ông ăn.

– Vậy tui ăn gì?

Tôi có hơi khó chịu nhưng vẫn giữ giọng bình tỉnh hỏi:

– Đồ ăn đầy bàn, bộ ông hổng ăn được món nào sao?

Nghe tôi hỏi ông ta liền chửi thề một cái rồi mang cái bộ mặt thiểu não day lưng đi trở ra bàn ăn. Lâu rồi tôi không còn bận tâm, thắc mắc hay bực tức về thái độ ăn uống của con người ta nữa, khen cũng được, chê cũng hổng sao, có chửi cũng kệ luôn và cũng không cần giải thích. Sau bữa ăn thuyền trưởng bưng dĩa dơ vô bếp để lên bàn rồi day qua bắt chuyện hỏi:

– Chừng nào ông nghỉ hưu?

Tôi day lại nói:

– Tùy sức khoẻ và tùy thủy thủ đoàn, nếu mọi người thấy tôi không còn xài được nữa thì tui về nghỉ liền.

Thuyền trưởng cười nói:

– Vậy chắc còn lâu lắm.

– Biết đâu được?

– Bếp vui vẻ và nấu ăn mọi người ai cũng thích.

Tôi cười khôi hài và nói:

– Có một người chê và thường hay phàn nàn chuyện ăn uống.  Thuyền trưởng ồ lên một cái rồi bắt qua nói chuyện thợ máy:

– Tánh thợ máy tuy có hơi khó chịu, nhưng không chê bếp đâu. Bởi vì ông ta theo đạo chính thống Nga.

Tôi chặn:

– Bộ theo đạo rồi mặt mày lúc nào cũng chầm dầm như giẻ rách vậy hả?

Thuyền trưởng cười, phớt qua câu tôi hỏi và nói tếp:

– Đạo đó có giới luật, trong tháng cuối năm, tín đồ không được ăn thịt, ăn cá cho tới ngày Giáng Sinh.

– Oh, tui biết rồi, chúa Jêsu của đạo này ra đời vào ngày bảy tháng Giêng tây lịch.

– Đúng rồi.

– Vậy sao ông ta đòi ăn cá?

Thuyền trưởng ỡm ờ, đưa tay chỉ lên đầu lắc lắc tìm câu trả lời. Trên tàu có mười hai người nhưng có năm quốc tịch khác nhau; Hoà Lan, Bun-ga-ri, Nga, In Đô và tôi là đầu bếp người Hoà Lan gốc Việt. Tôn giáo cũng khác nhau, người đạo Hồi có giới luật không ăn thịt heo, không rượu bia và ngày Ramadan họ ăn, uống ban đêm, ban ngày thì nhịn. Thiệt tình thì tôi không ưa những tôn giáo đem thiên đường ra dụ dỗ hoặc địa ngục ra hù doạ người khác, tệ hơn nữa là nhân danh đạo rồi xách vali đầy chất nổ tấn công đám đông. Tôi cho rằng chỉ có những con người cuồng chánh trị và cuồng tôn giáo họ mới nghĩ và sáng tạo ra những cảnh giết người dã man, chiến tranh tàn khốc, lớn thì khủng bố, làm cho nhiều nơi xáo trộn cả lên, còn nhỏ thì gây phiền phức cho những người sống chung với họ. Điển hình như những người đạo Hồi, mới xuống tàu thì giữ giới kĩ lưỡng và tưởng cái đạo của mình là ngon nhứt thế giới, ai đụng tới thì có chuyện, nhưng làm việc trong thế giới tự do được một thời gian, phần đông bỏ phong tục ăn ban đêm vào tháng Ramadan, người nào không ăn thịt heo thì cũng ăn da heo chiên dòn và uống bia, rượu. Có nhiều người ăn uống cho đã miệng rồi biện minh: “Rượu bia uống cũng tốt, đạo cấm là đạo sai.”. Còn mấy người đạo Chúa, chỉ có một quyển Thánh Kinh mà sanh nhiều ý tưởng, nhiều sáng tạo, mạnh ai nấy sáng tạo mới có chuyện đi tới đâu gây rắc rối tới đó. Duy có phụ máy người Bun Ga Ri, dễ thân thiện, lúc nào cũng vui vẻ, lễ phép, thỉnh thoảng nó vô bếp nói chuyện và kể tôi nghe, bánh mì là thức ăn chánh của gia đình nó, nhưng từ sau chiến tranh giữa Nga và Ukraina, bánh mì xứ nó mắc lắm nên mới ăn cơm và lúa mạch. Thấy ông thợ máy vô bàn ăn luôn lúc nào cũng khó chịu, hay phàn nàn. Nó nói:

– Có ăn là may mắn hơn nhiều người đang sống trong chiến tranh. Vậy mà lúc nào vô bàn ăn thợ máy cũng cằn nhằn này nọ.

Tôi hỏi nó:

– Mày theo đạo nào?

– Không theo đạo nào hết.

Thằng nhỏ hổng có đạo, vậy mà còn có lương tâm và biết nghĩ tới những người khốn khó. Ngày trước tôi hay tìm hiểu về tôn giáo và tôi cũng biết qua cái đạo Chính thống giáo Đông phương là nhánh Kitô giáo lớn thứ nhì trên thế giới, sau Giáo hội Công giáo Rôma. Là một trong những định chế lâu đời và có một vai trò quan trọng trong lịch sử, văn hóa Đông Âu, Hy Lạp, Nga, Kavkaz và vài nước khác. Có lẽ cũng vì trong đầu chứa chấp nhiều đạo quá nên tưởng mình đã là thánh nhân, hễ nghe ai nói tới chuyện đạo khác với ý mình thì rống họng lên bàn cãi om sòm. Rồi một ngày phát hiện ra, toàn là chuyện vô bổ, chỉ nói thôi mà sống thì chẳng ra gì hết! Từ đó tôi tập chú tâm làm việc đúng theo chức năng của mình và tập hoà nhã, sống thiệt lòng, chớ hổng lấy lòng người khác theo cái kiểu “đắc nhân tâm” và cũng không còn nhìn đời qua những cái tiêu cực, chướng tai gay mắt nữa. Sống trong tập thể thì phải tuân theo qui tắc tập thể, người nào sống không hoà đồng được với tập thể rồi sẽ tự mình loại ra thôi. Cũng giống như những người đạo Hồi tự cho mình chân chính, sống đúng theo giới luật đạo Hồi thì không người nào sống được với đời thủy thủ. Viên thợ máy chắc cũng dựa theo cái đạo Chánh thống Nga và tự sáng tạo ra cái ngày chay cho mình, ăn cá không ăn thịt vào tháng chay của đạo chánh thống Nga. Thấy thuyền trưởng ỡm ờ, không có câu trả lời, tôi day qua ngó thuyền trưởng cười và hỏi:

– Vậy ngày nào tui cũng phải nấu cá cho thợ máy ăn hả?

Thuyền trưởng cười và đưa tay khoát khoát nói:

– Không không, tui chỉ kể về tôn giáo Chánh thống Nga cho ông biết thôi.

– Đạo thì chánh thống mà làm toàn là chuyện tà.

Thuyền trưởng cười hì hì. Chợt trong đầu tôi hiện ra một ý tưởng. Tôi nói tiếp:

– Ông biết đó, thế kỷ trước, nước Nga ra đời cái “đạo” gọi là Cộng Sản, đã làm chết biết bao nhiêu người Nga và gây tang thương khắp thế giới….

Thuyền trưởng chận:

– Nhưng bây giờ nước Nga đâu còn cộng sản nữa.

– Còn chớ, đạo Cộng Sản nó biến dạng giống như con vi rút corona vậy đó, độc địa hơn nữa là nó còn chui vào các tôn giáo, lan ra tới đâu gieo rắc đau thương, chết chóc tới đó, cho tới ngày nay nó vẫn tiếp tục hoành hành. Tui đọc báo thấy tổng thống Putin thường đi lễ nhà thờ Chánh Thống giáo ở Moscow. Nghe nói trước trước khi ra lịnh xua quân qua xâm lăng nước Ukraina ông cũng có đi nhà thờ cầu nguyện, báo chí và truyền hình nước Nga cũng đưa tin và ca ngợi ông quá trời luôn.

– Oh, ông biết nhiều quá.

Mặt dù tôi cũng thường nghe những người Nga đã chạy ra nước ngoài lánh nạn chiến tranh hoặc nhiều người trong tuổi nghĩa vụ quân sự hối lộ để trốn quân dịch, những người này mở miệng ra thì nói xấu chế độ cộng sản trước kia và chống đối chánh quyền của tổng thống Putin hiện giờ. Nhưng dù sao thuyền trưởng cũng là người Nga, tôi không thể nói quá đà, sợ chạm tự ái dân tộc, nên tôi chỉ nói ngắn gọn để chấm dứt câu chuyện cho rồi.

– Có lẽ cũng vì biết nhiều quá nên tôi bị dị ứng, như đạo Hồi có giới luật hổng ăn thịt heo, đạo Phật thì ăn chay nên đi tới đâu gây phiền phức cho người ta tới đó. Bây giờ có thêm cái đạo Chánh Thống Nga nữa. Chậc, chỉ có ba cái chuyện ăn uống thôi mà phải đem tôn giáo ra làm bảo kê để người khác phục vụ cho mình.

Thuyền trưởng cười ha hả rồi nói sang chuyện khác:

– Lát nữa tui và thủy thủ đoàn đi xem bảo tàn viện xe Volvo. Bếp có đi với chúng tôi không?

– Không, ông đi trước đi, buổi trưa tôi muốn nghỉ ngơi một chút.Thuyền trưởng nói:

– Vậy hả, tui lên gọi cho xe hội quán xuống rước. Ông muốn mấy giờ đi, tui hẹn giờ cho ông luôn.

– Không cần, tui có gọi hẹn với họ rồi.

–Vậy tui xem bảo tàng xong rồi về hội quán, lát bếp lên đó mình gặp.

– Ô kê.

Thuyền trưởng nói xong, chào tôi rồi đi lên phòng. Hình như nãy giờ Dika ngồi bên phòng ăn chờ. Khi thấy thuyền trưởng đi khuất nó bước qua hỏi tôi:

– Chú hổng đi sao?

– Đi, nhưng không đi chung.

Tôi hỏi:

– Bộ con hổng đi xem bảo tàng viện với mấy người sao?

– Con coi trên mạng thấy bảo tàn triển lãm chỉ có xe Volvo không à chú?

– Bảo tàng xe Volvo thì triển lãm xe Volvo chớ hổng lẻ triển lãm xe BMW hay Mercedes.

Dika cười hì hì và hỏi:

– Chú có lên đó chưa?

– Mười mấy năm trước chú có tới xem một lần, thấy người ta chụp hình, chú cũng bắt chước chụp, nhưng về xem lại thấy hình mình chụp xấu hơn những hình quảng cáo xe, nên chú xoá bỏ, với lại xe Vovol là loại xe “deluxe”, mắc tiền quá chú hổng dám nghĩ tới, cho nên trong đầu chú cũng xoá luôn, bây giờ chú hổng còn ấn tượng nào về nó hết.

– Vậy lát nữa chú định đi đâu?- Chú định vô phố Gothenburg. Nhưng con có đi theo mấy người kia thì lên thay đồ đi đi, đứng đây nói tới nói lui một hồi trễ xe đó.

– Không con đi với chú.

– Chú có hẹn một giờ rưỡi xe hội quán xuống rước.

– Không sao, con chờ chú.

Tôi nhìn lên đồng hồ trên tường gần một giờ rồi. Tôi day qua nói:

– Nãy giờ nói chuyên làm mất thời gian nghỉ trưa rồi, để chú đọn dẹp xong, thay đồ chắc cũng vừa đúng giờ xe xuống rước.

– Để con phụ chú.

Tôi chỉ tay qua đống dĩa dơ trên bàn, nói.

– Ờ cũng được, vậy con sắp cái đám này vô máy rửa dùm chú đi.

– Được rồi chú tắm và thay đồ đi.

Nó chỉ tay qua phòng ăn nói:

– Xong rồi con ngồi đó chờ chú nhé.

– Cảm ơn nhé.

Tắm rửa thay đồ xong tôi trở ra thấy Dika bận áo lạnh mỏng quá, thường thì áo lạnh mùa đông bên In Đô không có độn lớp bông, chỉ có hai lớp vải mỏng cở áo lạnh mùa thu và mùa xuân bên Âu Châu. Tôi chỉ tay ra bên ngoài cửa kiếng nói:

– Coi kìa, bên ngoài tuyết rơi và trời lạnh trừ một hai độ, con bận áo mỏng và không khăn choàng cổ đi ngoài trời chịu sao thấu.

Nó ngó mặt ra cửa sổ, ngẫm nghĩ một chút rồi nói:

– Hổng lẽ lấy áo làm việc bận.

– Đi phố mà bận áo làm việc coi sao được.

– Chắc hổng sao đâu chú.

Tôi trở vô phòng lấy chiếc áo lạnh và khăn choàng cổ dành bận trên tàu mỗi khi ra ngoài boong đưa cho nó:

– Con bận áo và choàng khăn này đi, mùa đông Thụy Điển, chớ hổng phải bên In Đô.

Tay nó nhận áo mặt lộ vẻ vui mừng, nói:

– Oh, tốt quá, cám ơn chú.

Chờ nó bận áo và choàng khăn xong rồi chúng tôi vô ngồi trong phòng ăn chờ xe xuống rước. Dika hỏi tôi:

– Con nghe Gothenburg là thành phố lớn thứ hai của Thuỵ Điển phải không chú.

– Phải rồi, Gothenburg đứng sau thủ đô Stockholm.

– Con cũng biết Gothenburg là do người Hoà Lan xây dựng.

– Theo chú được biết là thành phố Gothenburg được thành lập trước đây năm sáu thế kỷ do vua Thụy Điển và  dân chúng Thuỵ Điển đã sống ở vùng này hàng ngàn năm, đời sống rất thoải mái và phong phú hơn nhiều so với những thành phố khác.

– Dạ , nhưng thành phố thiết kế do những chuyên gia người Hoà Lan, đặc biệt là dựa theo mô hình Batavia, tức thủ đô Jakarta ngày nay.

– Con nói đúng một phần, thật ra phần lớn dựa theo kinh nghiệm đê điều của người Hoà Lan cách xây dựng  trên đầm lầy và những con kinh đào trong thành phố lấy theo mô hình của Amsterdam.

Nói tới đây thì nghe tiếng còi xe trên bến, biết là xe hội quán xuống rước, tuy tiếng còi không có vẻ thúc hối, nhưng tôi và Dika cũng vội vàng đứng dậy bước ra ngoài và đi nhanh xuống cầu thang chỗ xe đậu. Xe mở sẵn cửa bên hông, chúng tôi vừa bước lên thì đã nghe tiếng chào của cô tài xế và chúng tôi cùng chào lại. Trước khi cho xe chạy, cô day mặt ngó ra sau, thấy chúng tôi chưa cài dây an toàn, cô nhắc chúng tôi cài dây an toàn và nói cho chúng tôi biết, cô còn ghé những chiếc tàu khác đón thêm người. Dika hô:

– Yes Madam!

Xe có mười hai ghế, ghé rước mới hai tàu mà đã hết chỗ ngồi. Mấy người cứ leo lên xe ngồi ém và lấn tôi với Dika xát vô thành xe. Cô tài xế thấy vậy liền hô:

– Oh ho!

Cô liền mở cửa xe leo xuống và đi ra phía cửa hông, cô từ tốn nhỏ nhẹ kêu mấy người chen lên ngồi ngoài bìa xuống và nhắc  mấy người còn lại cài dây an toàn. Nhìn thấy nhóm người đứng lóng ngóng với vẻ mặt không vui, biết là người Á Đông. Có lẽ những người này ít đi lại Âu Châu nên không biết đây là Thụy Điển, một xứ sở văn minh, người dân ai cũng nghiêm túc tuân thủ luật đi đường, chớ không phải ở các nước còn lạc hậu, kém văn minh, hễ lên xe là cứ chèn ém tới khi nào chật nức mới thôi. Cô tài xế lấy điện thoại gọi về hội quán, rồi day qua ôn tồn nói với mấy người đứng lóng ngóng bên dưới, nói:

– Không là vấn đề, khoảng mười phút có xe tới rước các bạn. 

Tôi nhìn xuyên qua khung cửa kiếng, tuyết rơi lai rai từ hồi sáng tới giờ mà đã lấp đầy mặt đất, khắp bến cảng trắng xoá và phủ lên những lố containers trông giống như những ngọn đồi tuyết. Cô tài xế cho xe dừng lại bến xe bus gần hội quán. Tôi xuống xe và bước tới hỏi cô tài xế mấy giờ hội quán đóng cửa. Cô nói:

– Sáu giờ.

Tôi và Dika cám ơn cô rồi bước tới bảng chỉ dẫn trong trạm xe xem giờ . Hôm nay ngày chủ Nhựt xe vô phố chỉ có một giờ một chuyến. Tôi nhìn đồng hồ, đã quá ba giờ rồi. Tôi day qua nói với Dika:

 – Định đi vô phố chơi rồi trở về hội quán giang xe bus xuống tàu, nhưng hội quán sáu giờ đóng cửa mà xe vô phố bận đi bận về mất hết hai tiếng thì còn đâu giờ để đi chơi.

– Vậy chú tính sao?

Tôi nói với Dika:

– Thuyền trưởng và nhóm thủy thủ đang coi đá banh ở trong hội quán, con thích vừa coi đá banh vừa nhậu thì vô với họ. Cái thời trai trẻ, khoẻ mạnh, thức thâu đêm, đụng đâu nhậu đó của chú đã qua rồi.

– Vô ngồi chơi thôi chú.

Tôi chỉ tay qua hướng hàng cây thông, nói:

– Chú đi dạo qua trung tâm của cái xóm nhỏ nằm bên kia, rồi trở vô hội quán sau.

– Vậy con đi với chú.

Tôi với Dika đi trên con đường nhỏ dưới hàng cây thông. Tuyết vẫn lả lơi rơi nhẹ, lên những cành cây trơ trụi lá và tuyết góp phần trải thảm lên bãi cỏ giờ đã trắng tươi, làm tôi nhớ tới cái thời mùa bông gòn chín ở quê tôi. Thiên nhiên trầm lắng, tuyết trắng tinh khôi, sáng ngời. Vào mùa đông ở Grothenburg của Thụy Điển mở rộng và có vẻ đẹp tự nhiên, giống như xứ sở thần tiên trong truyện cổ tích.

Hul, Anh quốc 18-3-2023

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 11 Jul 2026

“Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh … ” Phải rồi ngày ấy đã xa. Trong chúng ta không ai không có một kỷ niệm của buổi tựu trường và những ngày thơ ấu, tuổi học trò. Nhưng câu văn đầy nhạc, dịu dàng như thơ, trích từ những trang sách của Thanh Tịnh mà trong chúng ta, ai cũng thuộc nằm lòng. Rồi mẩu chuyện “ngày khai trường” trong tập sách “Tâm Hồn Cao  Thượng” của nhà giáo Hà Mai Anh dịch từ Edmond de Amicis, mà những người cao niên ngày nay vẫn còn nhớ: “Hôm nay là ngày khai trường Mấy tháng hè đã thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba-Lệ-Tư để ghi tên lên lớp Ba.” Hay lên những lớp trung học với những trang sách của Anatole France, nói về mùa tựu trường: “Je vais vous dire, ce que me rappellent tous les ans … ” để chúng ta không quên, bên trời tây, cậu bé học trò, vai mang cặp sách, tung tăng đi qua khu vườn Luxembourg khi những ngọn lá vàng rơi trên vai những pho tượng trắng. Ở quê nhà ngày trước, tôi là một trong những cậu học trò nhà quê vào thời chiến tranh mà cha tôi phải lui về quê nội, mặc áo bỏ ra ngoài quần đùi, chân đất, đến trường với một ngòi bút “lá tre” và cái bình “godet” (bình mực) mang lủng lẳng trên tay. Đặc biệt những cuốn tập là những tờ giấy người ta đã viết một mặt, cha tôi gập đôi lại, cho phần chưa viết chữ ra ngoài để chép bài vở. Mỗi buổi đi học về là mực tím vây bẩn đầy tay, ai cũng biết mình là học trò. “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh … ” Phải rồi ngày ấy đã xa. Trong chúng ta không ai không có một kỷ niệm của buổi tựu trường và những ngày thơ ấu, tuổi học trò. Nhưng câu văn đầy nhạc, dịu dàng như thơ, trích từ những trang sách của Thanh Tịnh mà trong chúng ta, ai cũng thuộc nằm lòng. Rồi mẩu chuyện “ngày khai trường” trong tập sách “Tâm Hồn Cao Thượng” của nhà giáo Hà Mai Anh dịch từ Edmond de Amicis, mà những người cao niên ngày nay vẫn còn nhớ: “Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè đã thoáng qua như giấc mộng.

Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba-Lệ-Tư để ghi tên lên lớp Ba.” Hay lên những lớp trung học với những trang sách của Anatole France, nói về mùa tựu trường: “Je vais vous dire, ce que me rappellent tous les ans … ” để chúng ta không quên, bên trời tây, cậu bé học trò, vai mang cặp sách, tung tăng đi qua khu vườn Luxembourg khi những ngọn lá vàng rơi trên vai những pho tượng trắng. Ở quê nhà ngày trước, tôi là một trong những cậu học trò nhà quê vào thời chiến tranh mà cha tôi phải lui về quê nội, mặc áo bỏ ra ngoài quần đùi, chân đất, đến trường với một ngòi bút “lá tre” và cái bình “godet” (bình mực) mang lủng lẳng trên tay. Đặc biệt những cuốn tập là những tờ giấy người ta đã viết một mặt, cha tôi gập đôi lại, cho phần chưa viết chữ  ra ngoài để chép bài vở. Mỗi buổi đi học về là mực tím vây bẩn đầy tay, ai cũng biết mình là học trò. Mực thời ấy là mực viên, khi dùng phải hòa với nước. Từ đó cho tới khi dùng được cây bút máy phải mười năm. Bạn còn nhớ không những cái bàn dài chúng ta ngồi học, mỗi bàn cho bốn hay năm học trò, ở chỗ mỗi người đều có một rãnh dài để bút thước và một cái lỗ tròn đục thủng để cho chúng ta bỏ bình mực. Ôi những tập vở luôn luôn có mực dính và quăn ở các góc của những chàng học trò bê bối. Những năm về sau, thời thế đã đổi thay, những ngày chuẩn bị đến trường, được mẹ may cho bộ áo quần mới, được mua những cuốn tập mới, hãnh diện, cặm cụi lấy tờ báo có tranh ảnh màu bao lại từng cuốn một, nắn nót đề tên, lớp và môn học trên những cái nhãn tập (étiquettes).Từ đó để đi đến những ngày có được một cái cặp da thuộc màu vàng, trong đó có cái áo mưa bằng “nylon” xếp lại, mang một đôi “xăng đan” rọ heo, rồi lớn phổng để leo lên một cái xe đạp “giàng” (loại xe đạp có thanh ngang danh cho nam giới). Suốt trong mười năm, biết bao nhiêu cuộc đổi đời thú vị. So lại những thời thơ ấu của ông cha, trẻ em bây giờ sung sướng biết bao!

Khi còn là một học sinh lớp nhì, tôi có một người bạn thân ngồi cạnh, có tài ngâm thơ, nên những giờ học thuộc lòng, thầy vẫn bắt anh ngâm những câu lục bát cho cả lớp cùng nghe. Nhưng vào mùa tựu trường năm sau, lên lớp  nhất, tôi không còn gặp lại người bạn cũ. Hỏi người quen thì mùa hè năm ấy bạn tôi về quê, bị bệnh dịch tả và đột ngột qua đời. Tôi buồn ngơ ngẩn suốt mấy tuần, và vào cái tuổi ấy, tôi cũng chưa biết tự hỏi vì sao ở đời, người ta sống chết, mất còn dễ dàng như vậy. Thời lên trung học, có một cô bạn cùng lớp vẫn thường mượn sách truyện của tôi để đọc. Mùa tựu trường năm ấy, trong lớp mới, tôi thấy vắng cô. Đến nhà thăm, người nhà đưa trả tôi tập truyện cô mượn tôi đã lâu và nói rằng cô đã đi lấy chồng hai tháng trước.

Tôi rất buồn và nắm chặt cuốn sách trong tay, nghĩ sao cô vô tình đến như thế, trong lòng mang một chút tiếc nuối bâng quơ, mặc dầu những ngày đó, tôi chưa hề biết yêu là gì, vì lòng còn trong trắng quá. Điều này làm tôi lại nhớ đến những hoàn cảnh ly biệt như câu nói của thầy giáo cũ của An-Di trong niên học mới vào ngày tựu trường: “An-Di ơi! Thầy trò ta từ nay chia tay nhau nhỉ?”

Cho nên mỗi năm, mùa tựu trường như là những báo hiệu cho một cuộc đổi thay, mất mát lớn trong cuộc đời. Nó không biểu hiện cho sự tái ngộ, sum họp nữa mà để nhắc tới sự chia lìa, ly biệt. Ngày xưa có người được mẹ đưa đến trường, rồi lớn lên chúng ta đưa con vào lớp học, bây giờ cũng có những vị nội ngoại tóc đã bạc phơ cầm tay giắt cháu trong buổi tựu trường. Thời gian đi quá nhanh, mới đó mà vèo đi những tháng ngày, của đôi khi, hơn nửa thế kỷ đã qua. Rồi trong chúng ta, ai cũng có một mùa hè cuối cùng của thời học sinh. Vào mùa thu sau đó, có người bỏ học ra đời, có người bỏ học để vào quân ngũ, và cũng có người như cô bạn thời niên thiếu của tôi, bỏ học để … sang ngang. Trong cuộc đời, chúng ta ai cũng có một mùa hè cuối cùng, để rồi trong mùa thu tới, chỉ còn đất cát cùng hư vô.

Hạnh phúc thay là những ngày ngồi trên ghế nhà trường. Khi tôi phải bỏ học để ra đời sớm, tôi vẫn thường nằm mơ thấy mình về ngồi trong lớp học ấy, với bạn bè và thầy giáo của những ngày tháng cũ. Đó là tuổi học trò, tuổi hoa niên, tuổi thanh xuân, tuổi thần tiên, tuổi kẹp tóc, tuổi ô mai … thứ tuổi quí giá nhất của một đời người, mà ngày nay như giòng sông cũ đã trôi đi biền biệt. Vậy mà đời nay có những đứa trẻ không hề có thứ tuổi ấy bao giờ. Hiến pháp của nhiều nước nghèo đói, lạc hậu trên quả đất này bao giờ cũng có ghi vấn đề cưỡng bách giáo dục, nhưng cơm không có ăn, áo quần không có mặc, gia đình ở trong những căn nhà đóng bằng những tấm ván thùng ngay trên nghĩa địa thì lấy đâu ra cái “buổi mai bôm ấy …. “. Đời cha thất học kiếm cơm ven sông rạch, đời con không được đến trường, hằng ngày đi lang thang từ những đống rác này qua những đống rác khác để tìm cho đủ bữa cơm, lấy đâu có những “buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh”.

Chúng ta chưa quên nước Nga đã có một mùa tựu trường đẫm máu vào ngày ngày 1 tháng 9 năm ngoái, khi quân du kích Chechnya tấn công một ngôi trường ở thành phố Beslan, bắt tất cả học sinh, thầy cô giáo và phụ huynh làm con tin để làm áp lực chính trị với chính phủ Nga. Sau cuộc thương thuyết bất thành, quân đội chính phủ đã tấn công vào trường học, loạn quân đã bị thanh toán, nhưng kết quả hơn một nửa trong số 300 người hiện diện tại trường học, gồm cả những em học sinh vô tội đã bị giết chết! Nhìn lại đất nước Hoa Kỳ, cơn bão Katrina trong vùng vịnh Mexico năm nay đã thổi tan đi niềm vui tựu trường của Lao Động, trường còn ngập nước, trốc mái, sách vở hóa thành bùn đất, thầy cô, bạn bè chia lìa, tan tác, kẻ mất người còn, những đổ vỡ không biết bao giờ mới hàn gắn lại được. Nhiều niềm hạnh phúc thật đơn giản nhưng không phải trên đời này ai cũng có được như ai.

(Mùa tựu trường 2005)

Chiều Quảng Trị

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 10 Jul 2026

Một chiều xưa anh về Quảng Trị

Tìm em trong khói lửa điêu tàn

Một chiều xưa anh về Quảng Trị

Tìm em trên con phố Quang Trung

Không còn em chẳng còn ai nữa

Trường Nguyễn Hoàng xao xác lá bay

Xa lâu rồi bao ngày tháng cũ

Điền Triệu Lăng còn có màu xanh
Mùa nắng hè gió Lào táp lữa

Vượt Trường Sơn vào đến quê mình

Một chiều xưa lên cầu Ái Tử

Nghe câu hò thổn thức chiều hôm

Mẹ thương con lên cầu Ái Tử

Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu

Ngày anh đi không còn ai tiễn

Cha mẹ già tựa cửa ngó ra

Em ở đâu phố buồn Quảng Trị

Khói sương giăng Thạch Hãn nhạt nhòa

Một chiều xưa lên cầu Ái Tử

Nghe câu hò thổn thức hoàng hôn

Mẹ thương con lên cầu Ái Tử

Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu

Một chiều xưa anh về Quảng Trị

Tìm em trong con phố điêu tàn

Tiếng bánh sắt đau từng nhịp thở

Tìm cuộc tình dưới lớp tro tàn

Một chiều xưa anh về Thạch Hãn

Lau lách mờ trong bóng hoàng hôn

Bánh xe tăng cày trên mặt lộ

Như nỗi buồn cày xới hồn anh

Bánh xe tăng cày trên mặt lộ

Như nỗi buồn cày xới hồn anh

Một chiều xưa anh về Quảng Trị

Tìm em trong khói lữa điêu tàn

Bùa yêu

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Jul 2026

Thưa bà con! Ngoài tình yêu, tâm đầu ý hợp là phải nói tới tình dục.

“Gió đưa bụi chuối sau hè, giỡn chơi chút xíu ai dè có con?”

Đó là còn trẻ còn khỏe, còn sung kìa. Chớ lâu ngày chày tháng như cái máy từ từ nó cũng xìu xìu ển ển mà thôi…

Mà muốn chữa cái bệnh gần hết xí quách nầy, muốn đèn gần hết dầu mà vẫn phựt cháy phừng khi bị hút hồn bởi làn da trắng nõn, mịn màng, cơ thể tỏa hương thơm hừng hực sắc xuân thì quý ông anh mình phải chơi bùa… yêu vậy!

Chuyện rằng: Hai chị em ruột Triệu Phi Yến và Triệu Hợp Đức, nhan sắc đổ nước nghiêng thùng, da trắng nõn, mềm mượt, tỏa ngát hương thơm nhờ xông xạ hương, uống sâm cao ly và lộc nhung.

Vừa đẹp vừa sung, cả hai làm Hán Thành Đế, Lưu Ngao (51 TCN-7 TCN) cực kỳ mê đắm, vùi đầu vào những cuộc truy hoan khiến thiếu điều hết xí quách!

Để được vui tới bến, Lưu Ngao ra chiếu chỉ kêu ngự y chế một loại xuân dược tức bùa yêu cho Hoàng đế thành mãnh long quá giang chớ không còn là thỏ đế! Nhưng xài riết lờn thuốc, công hiệu kém dần đi, nên Lưu Ngao chỉ biết kêu ngao ngao trước giờ lâm trận!

Cho đến một đêm, Triệu Hợp Đức ép Hoàng đế uống cả 10 viên một lúc để mạnh gấp 10, không ngờ Vua uống xong thì hôn mê sâu, đi tàu suốt!

Đó là chuyện bên Tàu! Còn Việt Nam mình cũng hỏng có thua kém gì đâu.

Lừng danh nhứt là bùa yêu Minh Mạng thang!

Tương truyền Vua Minh Mạng nhờ bài thuốc nầy mà có cả thảy 43 người vợ và 142 người con.

Thói thường xài bùa là có ngày bùa vật chết… Nên người mới 50 tuổi là đã thăng, băng như diều đứt dây!

Vậy mà giờ mấy ông anh mình cứ đồn đại rồi xúi dại nhau tìm rượu hòa Minh Mạng thang để chứng tỏ mình là vô địch quyền vương!

Nên con buôn nhạy bén, chớp thời cơ, pha sẵn bán lẻ theo “xị” hàm rầm ngoài quán nhậu.

Thưa nếu một xị thì có thể ông uống bà khen hay. Nhưng quất hai xị vô là ông uống bà không khen gì hết ráo; vì ông nằm ngẹo cu lơ; ngáy ồ ồ như trâu rống vậy!

Thưa bà con! Tui cứ trộm nghĩ rằng mấy ông thầy thuốc Bắc nầy quảng cáo hơi quá!

Nếu có công hiệu, mấy ông Thầy nầy đã được vời vô Thường vụ Bộ Chính Trị của đảng Cộng sản bên Tàu để phục vụ các lãnh đạo quốc gia anh em!

Rồi bản thân mình sẽ được ăn sung mặc sướng chớ đâu có phải mỏi tay xắc thuốc, bào chế hầm bà lằng xắng cấu, dặn về bỏ vào siêu sắc, ba chén còn năm phân, uống vô nó đắng thấy bà tiên tổ?!

Thưa vì vậy, tui chọn thuốc Tây hơn thuốc Tàu. Trùm đế quốc Mỹ bao giờ cũng hay hơn là cái thằng Tàu Cộng!

Vì nó gọn, công hiệu tức thời, sau một tiếng là tối đa; chớ không phải chờ xa xa… như thuốc Bắc!

Đó là viên Viagra chữa bịnh trên bảo dưới không nghe, lần đầu tiên được tung ra thị trường năm 1998, làm quý anh chị em mình hồ hởi và phấn khởi như đêm tân hôn.

Thằng quỷ dịch, bạn ní của tui đã dụ khị tui để bán 100 đô một viên.

Tui thấy mắc không mua, vì tui hỏng có tiền… Chớ nếu có, tui cũng dám chơi liền.

Giờ thì chỉ riêng nước Mỹ đã xài hết 1.14 tỉ đô năm rồi. Con số nầy cho thấy nước Mỹ chiếm tới 50% quý anh trên thế giới có vấn đề về đời sống tình dục.

Người Ý đã mua 86 triệu viên thuốc màu xanh nho nhỏ xinh xinh nầy năm rồi. Cứ bổ đồng 12 phút, một viên thuốc được bán ra.

Quý anh mình trên 40 thì cứ hai người là có một phải cần tới bùa yêu. Và cứ 1000 quý ông anh mình thì xa cạ, xài tới 437 viên.

Vậy là từ 1998 tới nay đã có hơn 40 triệu quý anh mình trên thế giới chơi bùa yêu Viagra, tốn hết 2 tỉ đô la.

Viên thuốc màu xanh huyền diệu đã giữ cho tình ta không tan vỡ bèo mây! Hay hết biết!

***

Mới tròn 18 tuổi nên viên thuốc mầu nhiệm nầy cũng còn gây nhiều lấn cấn.

Nó chữa bệnh! Mình không bịnh thì hỏng có cần!

Đừng tò mò xài thử xem nó ra làm sao coi chừng vong mạng như Lưu Ngao thì báo?

Phải cần tới bác sĩ ra toa. Và coi chừng thuốc dỏm nhe mấy anh mình!

Hãng sản xuất Pfizer đã phải thành lập một đội điều tra của riêng mình để giúp nhân viên công lực phá vỡ những đường dây làm thuốc dỏm trên thị trường.

Thuốc dỏm có tác hại với người xử dụng; đồng thời cũng làm các công ty phân phối như Big Pharma mất đi bộn bạc.

Mà muốn tiêu diệt nạn thuốc dỏm thì xin mấy ông Pfizer giảm giá đi cho bà con nhờ. Rẻ, ít lời, là bọn đạo tặc nầy nó hỏng thèm làm nữa đâu.

***

Thưa các cụ nhà ta! Xin đừng ngại ngùng chi. Nếu có trục trặc, hãy mau mau đi gặp bác sĩ để cụ bà đừng có bức bối chửi chó mắng mèo, nghe nhức đầu lắm!

Chuyện nầy ở Mỹ là thường! Ngay cả cựu ứng cử viên của đảng Cộng Hòa Bob Doyle, ra tranh rồi thất cử, về quảng cáo cho xuân dược Viagra đó thôi. Thì việc gì mà mình ngại?

Bob Doyle, sau khi được điều trị về chứng ung thư tuyến tiền liệt, đã mặc bộ đồ vest truyền thống màu sậm, thắt cà vạt đỏ và tuyên bố: “Cũng hơi bị quê quê khi phải nói về chứng liệt dương nhưng vì sự quan trọng cực kỳ cho đời sống hôn nhân của hàng triệu quý anh, em mình và bạn tình nên tui phải nói công khai! Nó công hiệu nhe! Tin tui đi! Thưa bà con cô bác!”

Nắm nhu cầu đó, các công chức thành phố Toronto, bên Canada mua Viagra được bảo hiểm trả tiền, tốn của chánh phủ gần 2 triệu dollars năm rồi!

Ủa bộ công chức Toronto bị liệt dương hết ráo hay sao mà xài Viagra dữ vậy chớ!

Thưa hỏng phải vậy! Mấy giả đã lạm dụng đặc quyền mua thuốc theo toa bác sĩ, không phải trả tiền, rồi sau đó đem bán ra ngoài để kiếm chút cháo bào ngư!

***

Thưa mới đầu tháng Mười Một, Úc sắp bước sang Hè mà ông Chủ bút đã nóng ran lên rồi; vì phải làm số báo Xuân!

Nên ổng kêu tui viết 5, 7 bài gì cũng đặng.

Còn dặn thêm là quý độc giả thân mến của bổn báo mình có rất nhiều cụ cao niên; nên anh chọn đề tài nào mà các cụ rất quan tâm nhứt!

Nhớ vui vui, tiếu lâm cũng được nhưng nhớ đừng có mặn quá nhe cha nội!

Tuân theo lời nhắn nhủ đó, tui xin kể cho quý anh mình vài chuyện không vui hỏng ăn tiền sau đây:

Cái chung giữa Thế giới giải trí Disney World và Viagra là: “Chờ cả tiếng đồng hồ để được vui chơi chỉ hai phút mà thôi!”

Rồi em yêu hỏi: “Anh đi đâu dó?” “À! Anh đi bác sĩ!”

“Tại sao phải đi bác sĩ? Bộ anh bịnh hả?”

“Đâu có bịnh hoạn gì! Anh tới để xin vài viên Viagra!”

“Chờ em đi với!” “Chi vậy?”

“Vì anh đi xin vài viên thuốc quái quỷ đó thì em phải chích ngừa phong đòn gánh trước cho nó an tâm!”

***

Thưa chữ có câu rằng: “Thái quá bất cập!” Nhiều quá là không có tốt đâu nhe!

Quý anh mình có nghe chuyện: “Người ta đem chôn một ông xài Viagra quá liều… mà không thể đậy được cái nắp quan tài chưa?!”

“Anh có nghe tin một người bị mất mạng vì dùng viagra quá liều không?”

“À có! Một ông chơi một lượt tới mười hai viên và con gà móng đỏ, chân dài tời nách của ổng chết!”

Tuy vậy con bồ nhí của tui lại không cần tới bùa yêu nầy đâu. Em chỉ cần yêu bằng tâm hồn thôi là đã đủ!

Nên tối hôm đó, tui ló mặt tới tìm em! “Anh tìm em vì nhớ hay là hay mới uống Viagra vậy hả? Thiệt là hỏi ngay chóc tim đen hè!”

Thưa dẫu vậy, cứ mạnh dạn mà tìm Thầy, khi mình muốn vui một đêm thôi rồi mai lên đường!

Đừng mắc cỡ mà chi cho chúng nó khi nên có chuyện vầy nè!

Một ông đi bác sĩ vặn vẹo đôi tay cuối cùng mới nói được nên lời vì ngượng quá mà: “Thưa bác sĩ tôi có hơi chút rắc rối về đời sống tình dục!”

“Ối bây giờ mấy cái rắc rồi đó không còn mang đến niềm thất vọng não nùng cho cánh mày râu chúng ta nữa vì đã có thần dược Viagra.”

“Ông chỉ cần uống một viên thôi… là cái rắc rối đó sẽ trôi vào lịch sử. Tin tôi đi! Chính tôi cũng đã thử rồi nè!”

Hai tháng sau, bác sĩ lơn tơn ra phố tình cờ chạm mặt lại người xưa!

Anh vồn vã: “Tôi thiệt là mang ơn bác sĩ nhe! Thiệt là thần dược! Không thể nào tin được!”

“Thấy chưa? Tui đã nói với ông anh mình mà! Mà nè chị nhà có cảm tưởng ra sao hả?”

“Vợ tui hả? Tui đâu có biết! Hai tháng nay tui chưa có về nhà!”

***

Thưa bà con! Vốn tự xưng (chớ hỏng có ai xưng dùm mình) thuộc giới văn nghệ nên ai viết văn, viết báo là tui chơi hết ráo. Không có phân biệt già trẻ lớn bé, gái hay trai! Xúm lại là cà phê cà pháo buổi sáng, buổi chiều là nhậu.

Hôm tuần rồi, nhân ngày sinh nhựt thần dược Viagra lên 18 tuổi, bạn bè văn nghệ tụi tui, đa phần là khách hàng của bùa yêu Viagra, có chú em năm nay vừa 5 bó, tức là còn hơi nhỏ nhỏ!

Chú em thuật chuyện thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc nầy nghe cũng hú hồn. Chớ va vào tui; chắc tui đã mạng vong… banh ta lông rồi!

Chuyện rằng: 18 năm về trước, tui 32 tuổi, mới yêu em lần đầu!

Rồi trộm nghĩ tam thập nhi lập, 30 tuổi là lập thân, lập gia đình nên tui bèn chấm dứt đời độc thân… để đi ở tù chung thân do em yêu làm cai ngục.

Chiều đó, tui đánh xe đến, tính chở em đi thử áo cưới màu hoa cà để đôi ta chung một nhà.

Nhưng nhà vắng hoe, trước sau nào thấy bóng người, hoa đào năm trước còn cười gió đông, chỉ có đứa em gái thiên kiều bá mị của em mỏng tang trong bộ đồ ngủ… Thấy là nước miếng nó nhểu lòng thòng!

Nàng bèn thỏ thẻ rằng: “Bấy nay em đã thầm yêu trộm nhớ anh, người trong mộng… Mà anh lại sắp cưới chị em rồi. Ôi! Quá trái ngang! Tình em mà duyên chị…”

“Thôi quà cưới em đi, chỉ có thân xác nóng hổi nầy đây! Mời anh xơi! Bảo đảm là rau sạch!”

Trời ơi! Tui có nghe nhầm không đây hở Trời?

Tui bèn vội vã bước trở ra xe. Ai dè một đám, gồm con vợ tương lai, ba má vợ cũng tương lai, vỗ tay hoan hô rầm trời, cười tươi như hoa nở, khen nức nở làm tui muốn tức thở: Tui là một anh rể rất đàng hoàng; không thèm bứng hoa bứng cả cụm như Lưu Bị ngày xưa; dù mỡ đã dưng trước miệng mèo!

Ôi cái gia đình bên vợ nầy độc ác, thâm hiểm quá!

Nếu mấy viên viagra tui không để quên ở ngoài xe… là tui đã trúng kế của bọn chúng rồi!

Ponchos buồn

hung-viet.org

Bảo Định Nguyễn Hữu Chế

14 Tháng Giêng 2007

Post by Sơn râu 10 Jul 2026

Không biết từ bao giờ, chiếc áo poncho đã trở thành chiếc áo đi mưa của người lính VNCH. Thời chiến tranh Việt – Pháp, người lính Pháp dùng áo đi mưa bình thường như ta vẫn dùng, nhưng màu sắc là màu kaki. Bộ đội Việt Minh thì dùng “tơi” làm bằng lá cọ, rất bất tiện. Về sau họ được trang bị bằng tấm vải nylon được lén lút mua từ vùng “Tề”. Trong những món quân trang được cấp phát cho người lính, có tấm poncho màu ô liu, dùng để làm áo đi mưa. Ý nghĩ đấu tiên của người lính giản dị chỉ có thế. Nhưng khi vượt sông, người lính được chỉ cách dùng tấm poncho, gói tất cả ba lô, quân trang quân dụng, cột túm lại để trở thành cái phao mà vượt qua dòng nước. Khi đi hành quân, với hai tấm ponchos nối lại với nhau, một sợi dây căng dùng làm đòn dong, người lính đã có một “túp lều lý tưởng của anh và của em”, của ba người lính, hay ba chàng “ngự lâm pháo thủ”. Vì cần thêm một người lính nữa chung vào, tấm poncho thứ ba làm tấm drap trải nền. Người lính đi hành quân dài ngày, ngoài ba lô quân dụng, phải mang một cấp số rưởi đạn dược, nhiều trái lựu đạn, hành trang thường nặng trên 20 ki lô, nên ít ai mang theo chăn mền. Do đó tấm poncho thứ ba, khi đêm khuya lạnh lẻo giữa nơi núi non, hay vùng đồng không mông quạnh, đã trở thành chiếc mền cho ba người lính đắp chung. Ba người lính cùng dựng “túp lều lý tưởng”, cũng là tổ “Tam Tam” trong cơ chế quân đội, là đơn vị nhỏ nhất: tổ Tam Tam, Tiểu đội, Phân đội, Trung đội, Đại đội,…Khi đi vào những vùng khan hiếm nước, hay không có nước như mật khu Hắc Dịch thuộc tỉnh Phước Tuy chẳng hạn, người lính đào một cái hố cạn, phủ poncho lên trên, tạo thành một cái giếng cạn để hứng những giọt sương đêm, hay gặp may, có một cơn mưa nào bất ngờ chợt đến để hứng nước. Sau cùng, khi người lính hy sinh nơi chiến địa, tấm poncho đã trở thành chiếc áo quan “phủ kín thân xác của người chiến sĩ”.

 Bảo Định

 Mùa hè đỏ lửa năm 1972, Tiều đoàn 2/43 cùng Đại đơn vị Sư đoàn 18BB nhảy vào An lộc thay thế Sư đoàn 5BB, trấn giữ Thị xã này của “Bình Long Anh Dũng”.

 Ngày 12 tháng 6 năm 1972, khi lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới tung bay trên đỉnh đồi Đồng Long, người hùng An Lộc, Tướng Lê Văn Hưng tuyên bố với phái viên VTVN: “Thành phố An Lộc đã được hoàn toàn giải tỏa”. Sau hơn hai tháng giao tranh, lực lượng tấn công cộng sản xâm lăng Bắc Việt với quân số đông gấp 4 lần lực lượng của QLVNCH, nhưng quân trú phòng đã gây cho chúng thiệt hại ít nhất là 30 ngàn quân trong tổng số 4 sư đoàn quân CSBV. Tổn thất về phía QLVNCH cũng khá nặng nề. Nhưng điều quan trọng là họ đã giữ vững được Thị xã. Mặc dù An lộc đã trở thành một địa ngục của trần gian! Mưu đồ của CSBV mong chiếm được An Lộc để đặt làm Thủ đô của cái gọi là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, con đẻ của Hànội, và làm bàn đạp tiến đánh Thủ đô Sàigòn hoàn toàn bị bẻ gãy. Cuối cùng bọn đầu lĩnh Bắc Bộ Phủ đành phải chọn Lộc Ninh, một quận nhỏ của tỉnh Bình Long, nằm cách biên giới Việt – Miên vài cây số để làm thủ đô! Thật là khôi hài!

 An Lộc đứng vững là nhờ sức chịu đựng, tinh thần chiến đấu dũng cảm, và lòng hy sinh vô bờ bến của người lính VNCH. Họ là những chiến sĩ Nghĩa Quân, Địa Phương Quân tỉnh Bình Long của Đại tá Trần Văn Nhựt, Sư đoàn 5 của Tướng Lê Văn Hưng, vài đơn vị của Sư đoàn 9, Sư đoàn 18, Sư đoàn 21, Biệt Động Quân, và lực lượng Nhảy Dù. Hai câu thơ của một cô giáo An Lộc, được viết lên trên một tấm gỗ của thùng đạn pháo binh, cắm trước Nghĩa trang Biệt Cách Dù, ngay giữa khu phố chợ Bình Long:

 “An Lộc Địa, sử ghi chiến tích,

 Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân”

đã nói lên lòng biết ơn sâu xa của người dân địa phương đối với sự hy sinh cao cả của người lính VNCH.

 An lộc đã đứng vững, các ngọn đồi chung quanh như Đồi Đồng Long, Đồi Gió, Đồi 169,…đã được tái chiếm. Quân CSBV bị thua nặng, bị kiệt quệ, nên thôi mở những cuộc tấn công thiêu thân. Nhưng vòng vây bao quanh thị xã vẫn xiết chặt. Không đũ khả năng hay không còn dám mở những cuộc tấn công bằng bộ chiến, chúng tấn công bằng trận địa pháo. Những trận mưa pháo liên tục trút lên thị xã nhỏ bé, ngày cũng như đêm. Những người lính VNCH tử trận không có phương tiện để mang về Hậu cứ trong hoàn cảnh súng phòng không dày đặc, đường bộ thì bị cắt tại Tàu Ô trên QL13, đành phải “vùi nông một nấm” tại chỗ. Nhưng mỗi tấc đất của An Lộc là một tấc lãnh đạn pháo của địch. Do đó chuyện “người chết hai lần, thịt xương nát tan” như lời một bài ca của Trịnh Công Sơn là chuyện thường tình. Tại An Lộc, Tiểu đoàn 2/43 đã có những người lính chết ba lần, bốn lần, thậm chí năm lần! Thử hỏi thịt xương còn gì? Không chỉ là nát tan!

 Sư đoàn 18BB của Đại tá Lê Minh Đảo, sau khi nhảy vào An Lộc, để cùng với Trung đoàn 52 và một Tiểu đoàn của Trung đoàn 48 tăng phái cho Sư đoàn 5, đã có mặt tại đây ngay từ những ngày đầu của trận chiến, liền cấp tốc mở những cuộc hành quân tái chiếm những vùng đất bị mất, nới rộng vòng đai phòng thủ, hầu giảm thiểu những trận mưa pháo của địch. Phi trường Quản Lợi nằm cách xa thị xã An lộc lối 10 cây số về hướng Đông – Bắc. Trong thời kỳ quân đội đồng minh còn tham chiến ở VN, nơi đây là căn cứ của một Lữ đoàn Quân đội Hoa Kỳ. Người bạn đồng minh đã xây dựng tại đây những pháo đài, những bunkers rất là kiên cố để bảo vệ sân bay. Khi trận chiến An Lộc xảy ra, đây là địa điểm tốt để đặt sở chỉ huy của chúng, nhất là những dàn đại pháo để bắn vào An Lộc. Do đó, Tư lệnh Mặt trận Lê Minh Đảo quyết định bằng mọi giá, phải tái chiếm Phi trường Quản Lợi.

 Vào một ngày đầu thu năm 1972, Sư đoàn 18BB đã mở cuộc hành quân cấp Trung đoàn để tái chiếm Phi trường Quản Lợi. Đây là vùng đồn điền cao su Đất Đỏ (Terre Rouge) của người Pháp. Từ An Lộc đi về hướng Đông theo con đường 303. Trước khi đến Phi trường, phải vượt qua một thung lũng hẹp. Đây là thung lũng mà những người lính của Tiểu đoàn 2/43 gọi là “Thung lũng Tử thần”. Chính cái thung lũng nhỏ hẹp này đã cướp mất biết bao nhiêu là sinh mạng của các chiến sĩ Tiểu đoàn 2/43.

 Từ sáng sớm, những phi cơ chiến đấu thay nhau trút bom đạn lên đầu giặc; tiếp theo là những tràn đạn pháo 105ly, 155ly. Những khẩu pháo này đã hoạt động liên tục trong suốt trận chiến, nòng súng bị nở rộng, đường khương tuyến bị mòn, nên bây giờ tác xạ không còn chính xác. Độ sai số có thể lên đến 500 mét! Sau những đợt mưa bom và đạn pháo, Tiểu đoàn 2/43 của Đại úy Nguyễn hữu Chế, khóa 13 Võ khoa Thủđức, và Tiểu đoàn 3/43 của Thiếu tá Lê Thanh Quang, khóa 16 Võ bị Đàlạt bắt đầu mở cuộc tấn công. Trước khi mặt trời lặn, hai tiểu đoàn đã tiến chiếm được một đầu phi đạo. Trận chiến diễn ra rất ác liệt, sự thiệt hại của cả hai bên đều khá cao! Nhưng quân bạn đã lập được đầu cầu, xua quân địch về bên kia và về cuối phi đạo! Cuộc hành quân chỉ tiến đến được ngang đó. Bên kia phi đạo là một dãy pháo đài và bunkers kiên cố của quân đội Mỹ để lại. Sức chống trả của địch thật mãnh liệt, quân bạn không thể tiến xa hơn. Sau nhiều ngày tạm nghỉ ngơi, một trận đánh quyết liệt đã diễn ra mà nổ lực chính là Tiểu đoàn 2/43 để giải quyết trận địa.

 Tiểu đoàn được tăng phái Đại đội Trinh sát 43 của Đại úy Nguyễn Tấn Chi, khóa 12 Võ khoa Thủđức. Từ sáng sớm, bom và đạn pháo thay nhau trút xuống mục tiêu. Thời gian của cơn mưa bom đạn kéo dài gần suốt ngày. Trước khi tấn công, một màng khói nhân tạo, do những trái đạn khói pháo binh tạo thành, dày đặc, làm màng che cho bộ binh tiến lên. Trận đánh kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ để vượt qua một phi đạo không rộng lắm. Nhưng quân bạn không thể nào chiếm được những pháo đài và bunkers. Cộng quân với các khẩu súng cộng đồng 12ly7, đại liên, trung liên, SKZ, B40, B41 đã chống trả quyết liệt. Một vài toán quân tiến được qua bên kia phi đạo, nhưng không thể nào xâm nhập vào bên trong, đành phải bỏ cuộc, rút lui. Con số thương vong khá cao. Trời vừa tối, trước mặt vị Tiểu đoàn trưởng là 19 chiến sĩ QLVNCH nằm ngay hàng với tấm poncho phủ kín:

 “Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại?

 Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.

 Anh trở về chiều hoang trốn nắng,

 Poncho buồn liệm kín hồn anh.

 Anh trở về bờ tóc em xanh,

 Chít khăn sô lên đầu vội vã…Em ơi!”

 (Kỷ Vật Cho Em – Phạm Duy)

 Còn nỗi buồn nào hơn nỗi buồn này. Chỉ trong một cuộc tấn công ngắn ngủi, con số thiệt hại đã lên quá cao! Nhiệm vụ chưa hoàn thành. Mục tiêu vẫn chưa bị thanh toán. Bóng đêm đến nhanh. Ta và địch đều phải bận rộn lo việc tản thương và tiếp tế. Địch bên kia phi đạo. Ta ở bên này, mặt đối mặt, tất cả đều mệt mỏi rã rời! Không ai buồn bắn pháo vào nhau. Một đêm yên tĩnh trôi qua. Trời thu ảm đạm, mây đen vần vũ. Cơn mưa chợt đến. Gió núi từng cơn thổi qua. Người lính VNCH áo quần ướt nhẹp, co ro trong cái lạnh đầu mùa. Nhưng súng không rời tay, mắt đăm đăm nhìn về hướng địch đang cố bám bên kia phi đạo, để theo dỏi động tĩnh của đối phương.

 Ngày hôm sau, trận đánh lại tiếp tục. Nhưng lần này Tiểu đoàn được tăng cường Trung đội Hỏa tiễn TOW của Chuẩn úy Phương, vị sĩ quan tốt nghiệp Trường Fort Benning bên Mỹ. Khi đưa Trung đội Hỏa tiễn TOW vào, Tư lệnh cho biết mỗi trái đạn trị giá 7 triệu đồng (vàng lúc đó là 20 ngàn/lượng). Hỏa tiễn TOW là loại vũ khí chống xe tăng ra đời vào khoảng năm 1945. Nhưng hình như chưa được tung ra mặt trận thì cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ hai chấm dứt. Không biết trong trận chiến tranh Cao Ly, quân đội đồng minh đã có dịp xử dụng loại hỏa tiễn này chưa. Trong chiến tranh Việt Nam, loại hỏa tiễn này chỉ mới trang bị cho QLVNCH từ hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, và chỉ mới xuống đến cấp Trung đoàn Bộ binh. Mỗi Trung đoàn có một Trung đội gồm hai khẩu, gắn trên xe jeep. Tầm bắn của viên đạn là 3000 mét. Khi viên đạn rời nòng súng, nó kéo theo một sợi dây kim tuyến. Chính nhờ sợi dây kim tuyến này mà ta có thể điều khiển viên đạn đến mục tiêu theo ý muốn. Trên ống nhắm có một chữ thập. Ta chỉ cần đưa chữ thập vào mục tiêu thì nhất định viên đạn phải trúng mục tiêu. Khi nổ, sức nóng tõa ra trên 3000 độ. Đặc biệt viên đạn có thể luồn lách qua những hàng cây như cây cao su. Đây là loại vũ khí chống xe tăng rất hữu hiệu. Chỉ tiếc rằng người bạn đồng minh đã viện trợ cho ta quá trể. “Mất bò rồi mới làm chuồng!” Cũng giống như hồi Tết Mậu Thân năm 1968, khi quân CSBV xâm lăng xử dụng AK47 để tấn công trên toàn cỏi VNCH thì người bạn đồng minh mới cung cấp cho ta súng M16. Sau này khi bộ đội CSBV xử dụng xe tăng T-54, ta mới được ông bạn quý nhượng lại cho M48, do họ rời chiến trường VN, nặng quá không tiện mang theo! Có lẽ ông bạn Mỹ không muốn ta thắng VC, chỉ muốn ta thủ huề! Họ sợ ta thừa thắng rồi mở cuộc Bắc tiến! làm mất thế cân bằng toàn cầu của họ. Ôi! Thương thay cho thân phận người lính của một nước nhược tiểu.

 Vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/43 hân hạnh được bắn phát đạn đầu tiên. Viên đạn chạm trúng mục tiêu, vị trí của khẩu thượng liên 12ly7. Viên đạn nổ, khẩu súng câm họng ngay. Hàng mấy chục tên bộ đội bỏ chạy tán loạn. Chúng tìm cách nhào xuống triền đồi, lủi nhanh vào rừng sâu. Thêm hai viên đạn nữa rời nòng súng. Những ổ kháng cự mạnh nhất của cộng quân bị vở. Tiểu đoàn trưởng cho lệnh tấn công. Chỉ trong một khoảnh khắc, toàn bộ trận địa của địch đã bị quân bạn chiếm lĩnh. Xác địch nằm la liệt. Nhiều tên bị xiềng vào chân súng, vào bunkers. Nhiều tiếng rên, nhiều tiếng khóc la. Nào là “Bác ơi! Đảng ơi! Con chết mất. Tuyệt nhiên không có tiếng “Bố ơi! Mẹ ơi!” hay “Trời ơi! Phật ơi!” như ta vẫn thường thốt lên mỗi khi đau đớn hay gặp cơn nguy biến. Khói súng, và mùi da thịt cháy khét lẹt của giặc tõa ra cả một vùng. Súng cá nhân, súng cộng đồng vất bỏ ngổn ngang. Kết quả ta thu được 1 súng thượng liên 12ly7, 1 súng cối 82ly, 2 khẩu 61ly, nhiều AK, B40 và B41. Bên ta hoàn toàn vô sự! Phi trường Quản Lợi đã được tái chiếm.

 Nhưng chiến thắng này Tiểu đoàn đã phải trả cái giá quá đắc! Đó là mười chín sinh mạng của các Chiến sĩ Tiểu đoàn 2/43. Những người lính dũng cảm, ra đi không hẹn ngày về. Họ đã nằm lại trên mảnh đất quê hương, đã hy sinh thân xác để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam được ĐỘC LẬP, TỰ DO, và mang lại HẠNH PHÚC, ẤM NO cho toàn dân. Họ đã hy sinh thân xác để chống lại làn sóng đỏ tràn vào từ phương Bắc. Nhưng cuối cùng, vì sự ngu dốt của bọn người “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, bọn người ngây thơ và nhẹ dạ, và vì sự phản bội của đồng minh; sự hy sinh của những người lính VNCH xem ra có vẻ oan uổng! Họ đã bỏ phí đời trai trẻ. Khi nằm xuống, những tấm ponchos đã phủ kín đời họ. Là những chiếc áo quan buồn, ra đi giữa vùng lửa đạn. Nhưng cũng là cái may! Họ đã chết vinh quang! Họ không phải sống nhục sau ngày 30/4/1975, để phải chứng kiến cảnh “nước mất nhà tan”. Chỉ có những người còn lại là phải sống nhục, sống trong nỗi đau triền miên!

Michigan, ngày cận Xuân năm 2007.

BẢO ĐỊNH