vietmessenger.com
Huy Phương
Post by Sơn râu 10 Jul 2026



Những ngày còn bé dại, mỗi lần nghe cơn lụt đến là hí hửng mừng thầm, vừa được nghỉ học, vừa được lội nước trên những con đường xóm, được xếp thuyền thả ngay trong sân nhà hay theo anh em kết những thân cây chuối làm bè. Đó là những cơn lụt nhỏ. Những năm lụt lớn, nước vào nhà làm ướt hết cả sách vở, áo quần, lúa gạo vì chạy không kịp, có ngày chỉ ăn một bữa. Cả gia đình chồng chất giường tủ lên nhau để làm nơi trú ngụ tạm thời. Nhiều khi suốt đêm, cha mẹ ngồi chong mắt kẻo sợ trong bầy con có đứa lăn ùm xuống nước. Cha tôi còn chuẩn bị một cái rựa sắc để phá mái tranh ngôi nhà cho gia đình thoát ra ngoài trong trường hợp nước vẫn tiếp tục dâng cao. Sau khi nước rút lại là những ngày vất vả dọn lại nhà cửa, phơi phóng vật dụng trong khi vườn tược lẫn đường sá ngập đầy một lớp bùn non.
Nhưng chuyện ấy, ngày xưa vài năm lại mới xẩy ra một lần. Mấy năm gần đây, vì đói nghèo, con người tranh nhau chặt rừng làm củi, gỗ quí theo túi tham xuống chợ, mạnh ai nấy tàn phá rừng, nên năm nào cũng nghe tới lụt lội ở quê nhà. Số kiếp miền Trung èo uột nghèo đói, xưa nay đã làm thân đòn gánh cho hai thúng gạo Bắc Nam, Huế bây giờ lại là trung tâm điểm để nước thượng nguồn đổ về mỗi năm. Nghèo đói, oan khiên lại lũ lụt, sao số phận của mảnh đất cằn cỗi quê hương tôi lại có nhiều đắng cay đến thế. Lũ lụt lại kéo theo bão táp, tàn phá ruộng vườn, quét sạch ngô khoai, tương lai mù mịt mà con người cũng phải ôm lấy đất mà sống, ôm lấy mồ mả ông cha, ôm lấy bất hạnh của đời người. Năm này cơn lụt vừa xong, dọn dẹp ruộng vườn, trồng lại ngô khoai, chưa lai tỉnh thì năm sau cơn lụt khác lại đổ đến. Cha ông đã kể lại cơn bão năm Thìn (ngày 8 tháng 6 năm 1904), cơn bão phải lớn lắm, tàn phá hủy hoại tất cả mới có thể mang cả bốn vài cầu sắt Trường Tiền gởi gió bay đi. Người ta cũng không quên cơn lụt năm 1953, sức nước mạnh hơn pháo đạn, bom mìn ngày nay, xô đổ các cửa thành Thể Nhơn (cửa Ngăn), Quảng Đức (sau trận lụt này gọi là cửa Sập), cửa Tây Nam (nằm phía Hữu hoàng thành). Cả ba cửa thành này đều hướng về phía Tây Nam, đều chịu sức nước từ phía thượng nguồn sông Hương đổ về. Những cổng thành này xây bằng hàng vạn viên gạch nung và vôi vữa thời đó, không có gì đục thủng, không có gì có thể xô ngã, mà sức nước réo qua đêm đã xô sập cả ba cổng thành, như vận nhà Nguyễn đã tới hồi chung cuộc. Mới đây cơn lụt năm 1999, đã cuốn đi bao nhà cửa, cướp đi bao sinh mạng con người, do vậy mà ngày nay nhà nhà đều cất cao, nếu ai còn chút khả năng đều lên lầu, khiến cho những khu nhà dân cự trông lô nhô, nhếch nhác chẳng còn chi là lối kiến trúc nhà vườn tĩnh lặng ngày xưa. Hãy về coi Phủ Túy Lý Vương, cổng tam quan trùng tu, xây lại điểm long tô phụng, nhưng nhà trong vườn cất cao như cái chòi canh thời hiện đại, vươn cao lên làm thành cái bối cảnh thiếu cân đối cho cổng phủ tráng lệ, nghiêm trang. Mỗi trận lụt đều có những thảm cảnh riêng của nó, nhưng đều chung một cảnh ngộ con người chống chỏi với sức nước. Nạn nhân đều ở trong những gia đình nghèo khó, nhà tranh vách đất, chỉ cần một cơn mưa lớn, một trận cuồng phong đủ để cho cái tổ ấm che mưa đụt nắng này tan tác. Sức con người yếu đuối không thể nào đương đầu với gió mưa, bão táp, con người chỉ là một chiếc lá khô bọt bèo trong trong biển nước mênh mông, “như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son” như lời viết của Khái Hưng trong “Anh Phải Sống”. Có những người nghèo, nhân cơ hội nước nguồn về kéo theo gỗ mục, đã cố gắng chèo thuyền vượt dòng vớt những cây khô, dành dụm cho những ngày giá rét, thổi nồi cơm độn khoai, hay gánh ra chợ bán đổi lấy vài ký gạo. Họ là những chị Lạc của những thời đại mới, thời đại sau Tự lực Văn Đoàn hơn nửa thế kỷ, vẫn mang cái cảnh ấy khốn khổ, bần hàn, bữa đói bữa no, sẵn sàng xả thân để mang về cho gia đình một vài thanh củi mục. Có những gia đình mẹ cha, chồng con và cháu chắt, trước cảnh tượng nước càng lúc càng lên cao, nhà lẻ bạn giữa đồng không mông quạnh, lời kêu cứu lạc giữa gió gào, để khỏi xác trôi mỗi người một ngả, đã đành cột dính vào nhau để chờ cái chết đang đến. Ôi, những cảnh chết chùm, có khác chi cùng một đoạn dây sắt trong một mồ chôn tập thể những ngày Tết Mậu Thân. Oan khuất chi lắm Huế của tôi ơi!
Có những mẹ già thấy con bận bịu theo mình, đã tự buông tay theo dòng nước lũ, để nhường sức lực con mình cho đàn cháu nhỏ, khác chi người mẹ trung kiệt thời xưa, tự kết liễu đời mình cho con đừng bịn rịn chữ hiếu với mẹ mà quên chữ trung với nước. Có những người mang tấm lòng vị tha, hết lòng cứu giúp láng giềng chòm xòm trong cơn hoạn nạn , mà quên nghĩ đến thân mình, cho tới lúc sức tàn lực kiệt, thân xác bị nhận chìm dưới làn sóng dữ. Phù sa của Cửu Long luôn luôn bồi đắp cho đồng bằng miền Nam một lớp đất bồi bổ sau mỗi trận lụt, làm cho ruộng lúa tốt tươi, đem tôm cá từ sông vào ruộng đồng,làm rau quả đầy ngập trên những khoang thuyền từ vườn ra chợ. Lụt miền Trung nạo vét dòng sông, đem phủ lên ruộng đồng vốn đã thiếu màu mỡ lại dày thêm cát sỏi. Nói về sức chịu đựng của con người, quả là con người miền Trung đã truyền kiếp chịu đựng với địa dư nghèo khó, với khí hậu khắc nghiệt và luôn luôn cam phận với cuộc đời mà số mệnh đã ban cho. Tôi có một hai người chị con ông bác ruột, từ lúc sinh ra đã lớn lên với ruộng đồng, khoai sắn, qua nhiều cuộc chiến tranh, ly loạn, đã biết tới đói, rét, bão lụt; biết sợ hãi, lo lắng vì bom đạn, bố ráp, và điều chắc chắn là họ chưa bao giờ có miếng ăn ngon, mặc được chiếc áo đẹp. Tôi có nhiều người anh họ trong làng, bên này hay bên kia, người xương đã mục trong những nấm mồ quên lãng; kẻ vẫn sống còn như nhánh giây khô giữa ruộng đồng cằn cỗi. Vậy mà bây giờ cả nước vào thời mở cửa, đi lên kinh tế thị trường, vẫn không nghe có ai ra đi bán sức xứ người hay lớp con cháu rắp tâm trang điểm, rao bán thân xác trong khu chợ người, ước mơ được có một tấm chồng ngoại nhân.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.