Hải Quân Đại tá Brian Truong (gốc Việt), Sĩ quan thực tập Hạm phó, Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN 71), Hải Quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on July 8, 2026 by dongsongcu

Đăng ngày 19/04/2026, cập nhật ngày 08/07/2026

Nguyễn Quân

HQ Đại tá Brian Truong (hình của linkedin.com).

Hải Quân Đại tá Brian Truong hiện là Sĩ quan thực tập vị trí Hạm phó Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN 71), Hải Quân Hoa Kỳ. Ông là Sĩ quan cao cấp Phi công Hải quân (gốc Việt) được tuyển chọn làm Ứng viên Hạm phó từ tháng 4 năm 2025. Ông được thăng cấp Đại tá ngày 1 tháng 5 năm 2026, theo thông báo từ mynavyhr.navy.mil ngày 13 tháng 4 năm 2026. Hàng không mẩu hạm (HKMH) USS Theodore Roosevelt (CVN 71) thuộc lớp Nimitz, trọng tải 106,300 tấn, dài 332.8 mét, chạy bằng năng lượng hạt nhân, có mang theo 90 phi cơ F/A-18E, F/A-18E, EA-18G, E-2D, CMV-22B và trực thăng MH-60S/R cùa Không đoàn 11 (CVW-11). Con tàu này được đặt tên vị Tổng Thống Theodore Roosevelt thứ 26 của Hoa Kỳ, là người đề cao sức mạnh của Hải Quân.

Hạm trưởng (Commanding Officer) HKMH USS Theodore Roosevelt (CVN 71) hiện nay là HQ Đại tá William Mathis; Hạm phó (Executive Officer) là HQ Đại tá Michael Silver. HQ Đại tá Brian Truong thực tập vai trò Hạm phó dưới sự hướng dẫn của HQ Đại tá Michael Silver, một Sĩ quan Phi công trực thăng Hải quân đàn anh, tốt nghiệp Học viện Sĩ quan Hải quân (US Naval Academy) năm 2003, trước HQ Đại tá Brian Truong 1 năm. Trước khi đảm nhận chức Hạm phó, HQ Đại tá Michael Silver đã thực tập vai trò Hạm phó HKMH USS Theodore Roosevelt (CVN 71) 2 năm.

HQ Đại tá* Hạm trưởng (commanding officer) và HQ Đại tá Hạm phó (Executive Officer) chỉ huy một HKMH nguyên tử của Hải quân Hoa Kỳ, thường là Phi công Hải quân (Naval Aviator) hoặc Sĩ quan phi hành Hải quân (Naval flight Officer). Đây là yêu cầu quy định nhằm bảo đảm sự phát triển của ngành Hàng không Hải quân. Quy định này đặt họ dưới sự quản lý của các Bộ Tư lệnh Không quân Hải quân (U.S. Naval Air Forces). Trong bối cảnh lịch sử: Yêu cầu này được Quốc hội quy định vào năm 1920. Ngày nay, tất cã Sĩ quan chỉ huy HKMH của Hải quân Hoa Kỳ đều là Phi công Hải quân. Hải quân Hoa Kỳ hiện có 11 HKMH nguyên tử (CVN) và 9 Chiến hạm tấn công đổ bộ/HKMH trực thăng (Amphibious assault ships/Helicopter carriers), tất cả Hạm trưởng và Hạm phó của 2 loại HKMH trên đều mang cấp bậc HQ Đại tá ngành phi hành Hải quân.

Huy hiệu HKMH USS Theodore Roosevelt (CVN 71) của vi.wikipedia.org/wiki

HQ Trung tá Brian Trương lớn lên tại Portland, Oregon, ông tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy) năm 2004. Tháng 5 năm 2006, ông được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công Hải quân tại NAS Whiting Field, và hoàn tất khóa huấn luyện Phi công trực thăng H-60F/H tại Phi đoàn 10 trực thăng chống tiềm thủy đĩnh vào năm 2007.

Nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp của HQ Đại tá Brian Trương, ông phục vụ tại Phi đoàn 11 trực thăng chống tiềm thủy đĩnh tại Jacksonville, Florida. Ông được điều động phục vụ trên HKMH USS Enterprise (CVN 65) để yểm trợ cho chiến dịch IRAQI FREEDOM và chiến dịch ENDURING FREEDOM. Tháng 1 năm 2010, ông bay các phi vụ yểm trợ nhân đạo tại Haiti trong lúc phục vụ trên HKMH USS Carl Vinson (CVN 70) trong Chiến dịch UNIFIED RESPONSE.

Trong nhiệm kỳ phục vụ đơn vị trực thăng trên bộ từ năm 2010 đến năm 2013, ông là Phi công huấn luyện của Phi đoàn 3 trực thăng chiến đấu biển và là Sĩ quan bảo mật Truyền tin đơn vị. Năm 2013, ông được chọn làm Sĩ quan tùy viên cho Tư lệnh, Lực lượng Không quân của Bộ Tư lệnh Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ (United States Atlantic Fleet), nay là Bộ Tư lệnh các Lực lượng Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ (United States Fleet Forces Command).

Tháng 2 năm 2016, với chức vụ là Trưởng phòng hành quân, HQ Đại tá Brian Trương tường trình cho Chỉ huy trưởng phi đoàn 23 trực thăng chiến đấu biển. Vào mùa thu năm 2017, ông chỉ huy một hơp đoàn trực thăng hỗ trợ các nỗ lực cấp cứu bão Harvey ở Texas. Năm 2018, ông làm Phi đội trưởng, Phi đôi Ba, kiêm Sĩ quan an phi đơn vị, ông đã bay hướng dẫn hai máy bay trực thăng đáp xuống bệnh viện hạm USNS Mercy để yểm trợ cho công tác PACIFIC PARTNERSHIP 2018.

Trong nhiệm kỳ một năm làm Trưởng phân bộ đơn vị Hải quân, ông là Thư ký cùng đồng nghiệp trong ngành, nơi ông phục vụ trong vai trò Tham mưu trưởng cho Giám đốc cao cấp về lãnh vực đào tạo nhân tài, và làm Giám đốc chương trình của nhóm phân tích nhân lực. Tháng 9 năm 2020, HQ Đại tá Brian Truong được bổ nhiệm làm Chỉ huy phó, Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển, đến tháng 12 năm 2021, ông chính thức trở thành Chỉ huy trưởng phi đoàn 14 và chỉ huy đơn vị đến tháng 3 năm 2023.

HQ Trung tá Brian Truong “phải”, được trao tặng huy chương Meritorious Service Medal do công trạng chỉ Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển (HSC-14) trong buổi lễ chuyển giao quyền chỉ huy tại căn cứ Không quân Hải quân North Island, ngày 9 tháng 3 năm 2023 (hình của Trung sĩ Hải quân Elisha Smith, dvidshub.net).

Sau nhiệm kỳ Chỉ huy Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển, HQ Trung tá Brian Truong được chỉ định phục vụ tại Bộ Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff), Washington DC-Baltimore Area, từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 4 năm 2025 qua các nhiệm vụ: Sĩ quan Phó phụ tá cho Trung tướng, Giám đốc Tham mưu liên quân; Sĩ quan kế hoạch chính trị-quân sự, Ban Đông Bắc Á, Phòng 5 (J5); Phó phòng 5 (J5), Ban Đông Bắc Á. Sau nhiệm kỳ 2 năm phục vụ tại Bộ Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff), HQ Trung tá Brian Truong được chỉ định trở về phục vụ Hải quân. Ông được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Active-Duty Officer Promotion Boards) đề cử thăng cấp HQ Đại tá ngày 24 tháng 4 năm 2025, và đã được Uỷ ban quân vụ xác nhận, bầu chọn ngày 29 tháng 6 năm 2025. Ông được chỉ định thực tập vi trí Hạm phó Hàng không mẩu hạm khi còn mang cấp Trung tá. Và sẽ thay thế HQ Đại tá Michael Silver làm Hạm phó HKMH Theodore Roosevelt (CVN 71) sau khi hoàn thành nhiệm kỳ thực tập.

HQ Trung tá Brian Truong tốt nghiệp các Văn bằng: Hoàn tất xuất sắc Văn bằng Cao học an ninh Quốc gia và nghiên cứu chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương, Trường Đại học Hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College), năm 2015; Văn bằng Cao học điều hành quản trị kinh doanh, Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), năm 2013; Văn bằng Cử nhân khoa học kinh tế, Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy), năm 2004. Văn bằng cao cấp khóa học năng lượng hat nhân, Trường năng lượng hạt nhân – Bộ chỉ huy huấn luyện năng lượng hạt nhân Hải quân (NNPTC), tháng 1 năm 2026.

HQ Đại tá Brian Truong là một Phi công Hải quân với trên 21 năm kinh nghiệm và đã bay hơn 2.600 giờ, điều khiển những phi cơ quân sự tối tân nhất thế giới. Ông đã đã lãnh đạo, chỉ huy hàng trăm Thủy thủ và quản lý hàng chục phi cơ trị giá hàng trăm triệu đô la trong suốt binh nghiệp của mình, đồng thời ông chỉ huy các nhiệm vụ tác chiến để đạt được các mục tiêu quân sự. Ông mong muốn tận dụng kinh nghiệm chỉ huy và quản lý sâu rộng của mình để chỉ huy các tổ chức hoạt động hiệu quả cao và làm cho các đội, nhóm hoạt động hiệu quả hơn bằng cách chỉ đạo các sáng kiến ​​thúc đẩy sự xuất sắc trong hoạt động. Ông được trao tặng nhiều loại huy chương và bằng khen cao quý của Hải quân Hoa Kỳ.

HQ Đại tá Brian Truong là 1 trong 39 HQ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt. 24 vị đương nhiệm, 14 vị hồi hưu và 1 vị đã qua đời. Danh sách 24 Đại tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong quân chủng Hải quân Hoa Kỳ được ghi nhận sau đây: HQ Đại tá Trinh Hien; HQ Đại tá Bui Han Quan; HQ Đại tá TuAnh C. Halquist; HQ Đại tá Nguyen Trung D; HQ Đại tá Ly Nam Thanh; HQ Đại tá Doan Vinh Dang; HQ Đại tá Luu Thu Nhuan; HQ Đại tá Choate Paul L (Long Mỹ); HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van; HQ Đại tá Nguyen Mark Minh Duy; HQ Đại tá Mai Vinh Q; HQ Đại tá Do Tai Anh; HQ Đại tá Hoang Thanh Duc; HQ Đại tá Nguyen William B; HQ Đại tá Vu Phong Loi; HQ Đại tá Quach Hoai Linh; HQ Đại tá Nghiem Hoan Boi; HQ Đại tá Tran T Tin; HQ Đại tá Nguyen Long Tuong; HQ Đại tá Nguyen Chuong Thieu; HQ Đại tá Brian Truong; HQ Đại tá Dennis La; HQ Đại tá Nguyen Anvy và HQ Đại tá Pham Tyrone D (đề cử thăng cấp Đại tá tháng 5 năm 2026). Hải Quân Đại tá Brian Truong là Sĩ quan Phi công cao cấp Không quân của Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt duy nhất sẽ giữ chức Hạm phó Hàng không mẩu hạm Hải quân Hoa Kỳ. Riêng ngành Sĩ quan phi hành Không quân của Hải quân, ngoài HQ Đại tá Brian Trương, còn có nhiều Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt khác bay các loại phi cơ: P-3 Orion; P-8 Poseidon; T-6B Texan II; T-44C Pegasus; KC-130T; MH-60R Seahawk; F/A-18 Hornet; T-44 Pegasus; E-2C Hawkeye và EA-6 v.v…

Chú thích: *HQ Đại tá=Navy Captain.

Chúc HQ Đại tá Brian Truong thăng tiến hải nghiệp.

Nguyễn Quân

Nguồn: facebook.com/USSTheodoreRoosevelt; airpac.navy.mil; mynavyhr.navy; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt; bienxua-11 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2025

Bóng người thương lẫn khuất giữa sông…đầy…!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 9 Jul 2026

Hồi xưa mục ‘Gỡ rối tơ lòng’ trang báo dành cho đàn bà, con gái như trong tờ Phụ Nữ Diễn Đàn chẳng hạn, thường do bà Tùng Long phụ trách. Tơ lòng rối là cái chắc.  Một mình gỡ không ra nên phải nhờ thức giả gỡ dùm.

Bây giờ thì trong nước, văn minh hơn, có mục trực thoại truyền thanh gỡ rối tơ lòng…thòng mà thính giả gọi vào thì được chuyên viên tư vấn tâm lý giúp đỡ, gỡ cho.

Đừng tưởng nó là bá láp! Mấy chương trình này có chỉ đạo đàng hoàng đó nha. Nó nhằm mục đích cho đám nhỏ sa đà vào chuyện tình ái ‘lăng quăng’, mà quên đi cái bọn Tàu Phù đang giành đất, lấn biển Đông?!

Một thính giả, chắc là con đám giang hồ đất Cảng, đã gọi vào và khoe rằng: Chú đã thịt cô chị rồi mà nay cô em đang nhởn nhơ, phởn phơ trước mắt, bẹo tới bẹo lui hoài, nên bối rối quá hỏng biết phải tính làm sao?

Chuyện gia tư vấn, chắc cũng cùng một giuộc, thuộc giang hồ đất Cảng, hỏi: “Chú em có muốn thịt luôn cả họ nhà nó không? Nếu không, đến nhà tìm cô chị, không có ở nhà thì vào phòng cô em để làm gì? Mà nếu người ta đóng cửa phòng lại, thì mình phải biết đường ra chớ?! Con chuột nó còn biết tìm cách lách ra khỏi cửa huống chi là mình. Đúng không…?”.

Cách hỏi và cách trả lời sao nhuốm ‘mùi xã hội đen’ quá cở thợ mộc?!

Chú em này chắc: Ta đây là: bố quan nha, nhà mặt phố nên nghĩ em nào cũng khoái nhào vô!  Hỏi không phải để hỏi. Hỏi chỉ để khoe thôi…?!

Còn bên Perth, Tây Úc, cũng nói vậy, nhưng không phải vậy. Nói chỉ để khoe thôi. Ông ‘thần’ này, không cần ai tư vấn gì sất, tự ‘ên’, tới luôn bác tài, rồi kêu báo, đài, tới phỏng vấn chơi .

Chuyện rằng: Marc Glasby có vợ là Belle gần 30 năm. Thình lình con vợ tìm lại được người em gái song sinh thất tán từ nhỏ. Chị em về ở chung. Ông anh rể này chắc khó lòng phân biệt đứa nào là đứa nào; nên thôi ‘thịt cả nhà nó’ luôn! Cho tiện việc sổ sách. Đêm nay bà này; đêm mai bà kia. Hơi mệt chút nhưng cũng có phần êm ấm. Y cười hè hè nói: “Tui như khúc ‘sausage’ kẹp giữa hai lát bánh mì ‘sandwich’ vậy mà!”

Tưởng gì?  Có vậy mà cũng khoe! Cách đây mấy ngàn năm, theo Tam Quốc Chí,  thì Lưu Bị đã làm trước mấy mươi đời vương rồi.  Khi làm quan ở Dụ Châu, Lưu Bị ‘quằm’ Cam Phu nhân, My phu nhân, là hai chị em ruột, rồi sau đó là em gái Tôn Quyền, rồi sau đó nữa là Ngô Phu nhân. Sơ sơ có bốn bà thôi! Thời đó chưa có Viagra chắc Lưu tiên sinh ‘oải’ dữ à nha!

Như vậy Tây, Tàu, Ta đều khoái tỉ tê cái chuyện hai mái một trống hay nói một cách cờ bạc là hai bầu một con cua, hay hình tượng hơn một chút là khúc sausage kẹp giữa hai lát bánh mì sandwich. Nhưng  Úc đâu có chịu. Nó làm luật đàng hoàng:

“Ai có vợ, có chồng rồi mà còn kết hôn với người khác là bị tội song hôn theo chương 94 của luật gia đình 1969.  Hình phạt tối đa là 5 năm tù ở!!!”

Do đó cỡ Lưu Bị gặp Úc mà không chạy sút dép (vì tiên sinh thuở thiếu thời từng đi bán dép) thì Úc nó nhốt . Chứ nó không chịu ‘xính xái’ cho ‘xính xáng’ đâu à nha?

Bên Tây chắc cũng có luật na ná như vậy nên ông tổng thống Pháp François Hollande chẳng thèm cưới hỏi gì ráo trọi cho nó rắc rối. Bà nhỏ, ông ở lúc còn nhỏ, là Ségolène Royal, chính trị gia, đẻ cho ông 4 trự. Bà lớn, ‘ghệ’ ông lúc lớn, là Valérie Trierweiler, ký giả. Ông đắc cử thì bà thành ‘đệ nhứt tình nhân’ của nước Phú Lang Sa vì có cưới hỏi gì đâu mà đòi làm ‘đệ nhứt phu nhân’. Và bà này cay như ớt hiểm. Số là Ségolène Royal ứng cử nghị sĩ. Tình xưa, nghĩa cũ, tổng thống, cùng đảng Xã Hội, hết lòng ‘ẵm hộ’ người xưa. Nhưng bà ‘đệ nhứt tình nhân’ này lại ủng hộ Olivier Falorni, là đối thủ chính trị của Ségolène Royal. Rốt cuộc Royal thất cử. Tan tành cái mộng làm chủ tịch quốc hội Phú Lang Sa. Cũng tại ‘nó’ mà ra!.

Do đó tuyên bố rằng hai vợ là trong ấm ngoài êm như vua lúa giống, ở Lương Hòa Lạc, Mỹ Tho là dóc tổ…

Nội cái chuyện ‘đêm nay anh vô em nào’ cũng là rắc rối lắm rồi.

Chuyện xưa quê mình bằng thơ như vầy:

Người vợ nhỏ:

“Rượu nằm trong nhạo chờ nem”

Nằm hoài mà có thấy khúc ‘sausage’nó đâu? Bèn ấm ức ‘chít chát’ rằng:

“Đêm khuya gió lặng sóng yên
Lái kia có muốn ghé thuyền sang chơi!”

Khúc ‘sausage’ bèn ‘chít chát’ lại rằng:

“Muốn sang bên ấy cho vui
Mắc đồn lính gác, khó xuôi được đò!”
Thì vợ lớn lại ra điều kiện rằng:

“Sông kia ai cấm mà lo
Muốn sang thì nộp thuế đò rồi xuôi!”

Trời đất!

“Không buôn không bán thì thôi
Qua đồn hết vốn còn xuôi nỗi gì?”

Thế là tan vỡ một đêm vui! Mạnh ai nấy nằm chèo queo. Nên nữ sỉ Hồ Xuân Hương tức quá, chửi um:

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng!”

Vây mà Giáo Hương trong Tuyệt Tình Ca của Hoa Phượng và Ngọc Điệp đâu có ngán. Ở Mỹ Tho, Giáo có một bà và hai thằng cu rồi; lại lang bạt qua Vĩnh Long để găp em Lan chi nữa. Rồi ‘tọt’ ra Lê thị Trường An và Lê Long Hồ.

Thời buổi loạn lạc, Giáo lên Sài Gòn làm ông cò quận 9. Thất tán người xưa. Kết cuộc đau lòng là con dòng lớn thì ăn chơi lêu lổng. Vợ thì bài bạc. Còn bà nhỏ, nghèo quá, quần quật làm nuôi con đến nỗi  ho lao. Con gái, Lê thị Trường An, phải đi làm ‘gái bao’ nuôi má, nuôi em!

Ngày găp lại người xưa, Giáo rơi nước mắt. Khổ quá chừng chừng mà hỏng ai thương?! Còn phải nghe bà lớn đay nghiến:

“Trồng trầu thì phải khai mương
Làm trai hai vợ mà ông thương không đồng
Chim quyên ăn trái nhản lồng
Lia thia quen chậu mà vợ chồng sao ông lại quên hơi”
 Còn em Lan, vợ nhỏ, thì hờn trách:

“Nhưng chồng của tôi lại quá đỗi bạc tình
Về với vợ lớn rồi, không trở lại thăm mẹ con tôi
….Từ Mỹ Tho xuống Vĩnh Long chỉ có một đoạn đường
Tôi chờ đợi mỏi mòn, anh Hương vẫn không thèm xuống
Bỏ tôi lạc lỏng, giữa chợ đời với lũ con thơ
Sống vất vưởng bơ vơ, với cái nghèo bữa đói bữa no!!!”
Thưa bạn đọc trân quý, nhất là quý ông! Nay cơm, mai phở ai mà không khoái. Nhưng nhức đầu quá, xin hỏng dám đâu! Nếu mà lỡ có em nào còn thương xót ‘chim hót trong lồng’ thì cũng xin ‘từ tạ trong đêm’ bằng câu vọng cổ đầy thở than, ai oán của Giáo Hương khi phải giã biệt người xưa, em Lan của cái làng Tân Ngãi, Vĩnh Long rằng:

 “Tôi đứng đây mà tưởng chừng như đang đứng trên bờ sông Mỹ Thuận. Khi mình quay xuồng tách bến để trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn. Con nước lớn lục bình trên rời rạc. Chiều đã xuống mặt trường giang bát ngát, mà bóng người thương lẩn khuất giữa sông… đầy…!”

Em yêu ơi! Cám ơn em đã yêu anh! Nhưng thôi! Bóng chim tăm cá đi em! Xin bóng người thương lẩn khuất giữa sông đầy… để trái tim ‘qua’ ngủ yên. Cho nó khỏe!

Đa thê là đa mang, là đa khổ hận phải không? Thưa quý bạn hiền!

Tuyết cuối đông và Cúc tháng giêng

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 9 Jul 2026

Trong căn phòng nhỏ, lò sưởi hơi nước tỏa làn hơi ấm áp. Ngồi vào bàn, tôi mở laptop. Ánh sáng nhẹ hắt lên gương mặt. Liếc mắt xuống góc màn hình, chỗ báo thời tiết thấy nhiệt độ ngoài trời vẫn đang dưới không độ và tuyết đang rơi nhẹ. Tôi ngó ra khung cửa, trăng khuyết đã lên trên mái nhà.

Ồ, đẹp quá! Tôi đứng lên đi tới nhìn ra bên ngoài khung cửa, ngoài kia tuyết rơi rất mịn, mặt đất như phủ một tấm khăn trắng mỏng. Gió lùa qua mái nhà, âm thanh nghe thôi cũng đủ lạnh. Dưới ánh trăng dịu nhẹ, những chấm đèn đỏ nhỏ nhấp nháy trên dãy turbine gió, dấu hiệu quen thuộc của vùng đất Flevoland, miền đất thấp lừng danh bởi những công trình lấn biển và những cánh đồng tulip có gió miên man.

Tôi quay lại bàn làm việc, rà chuột lật trang trên màn hình laptop, ai đó đăng một đoạn video: những cánh mai vàng không biết hồi nào mà vẫn còn nở, chưa bán hết. Người quay phim nói Tết năm nay ảm đạm, buồn hiu. Chẳng biết cái buồn hiu ở Việt Nam như thế nào? Nhưng riêng tôi thì nổi buồn ray rứt của những năm đầu xa xứ, nay đã hết rồi. Chỉ còn quan tâm như người khách nhìn vào mâm cúng của người nghèo ba ngày Tết, trong lòng có chút xót xa. Tuy nhiên, những sắc vàng của những chậu mai, chỉ cần nhìn thôi cũng đủ làm lòng dịu lại. Tôi bấm xem lịch ta, hôm nay đã mười một tháng Giêng rồi. Chợt nhớ lại câu nói người xưa, hết mùng là hết Tết. Vậy là ở quê nhà, người ta bắt đầu nói với nhau: “Ra Giêng rồi đó.”

Chỉ một câu vậy thôi, mà ký ức bỗng mở ra. Tôi như thấy đàn bướm vàng chập chờn trên những luống bông bên hông nhà. Nghe tiếng chim lảnh lót trên những cành bưởi trắng ngát hương sau vườn. Nghe mùi nắng tháng Giêng hong nhẹ trên mái hiên. Tất cả gọi tôi trở về một nơi rất xa.

Quê hương tôi đã ra Giêng.

Ở miền Nam, không khí cũng đổi khác. Bớt rộn ràng, bớt níu kéo, tuy mai vẫn còn rực rỡ, nhưng người ta bắt đầu nói nhiều hơn về những chậu cúc. Cúc tháng Giêng không còn rộ sắc như những ngày cận Tết, nhưng vẫn được nâng niu trên bàn thờ, trong hiên nhà, như một lời chúc còn sót lại của năm mới. Những lời chúc thưa dần, nhưng cũng nhờ vậy mà ấm áp hơn.

Tháng Giêng âm lịch, tháng mở đầu của một năm, luôn mang theo một không khí riêng. Không còn tưng bừng như ba ngày Tết. Không còn là mùa của sum họp đông đủ. Nó là khoảnh khắc chia tay không bịn rịn, người ta bắt đầu quay về với công việc, với những lo lắng ngày thường, những dự định tương lai. Là lúc chấp nhận một vòng quay mới đã thực sự bắt đầu.

Còn tôi, giữa mùa đông Hòa Lan, chỉ nghe tiếng gió qua khe cửa. Tiếng lạo xạo dưới chân người đi vội. Ở Flevoland, gió nhiều và mùa đông dường như dài hơn những gì tôi từng quen. Mỗi lúc mở cửa, hơi lạnh ùa vào như muốn nuốt trọn chút ấm áp trong phòng.

Có những lúc tôi đứng nhìn những cánh quạt gió xoay đều trong sương mù. Chúng quay chậm rãi. Lặng lẽ. Và lòng tôi cũng quay theo, có chút trống trải không gọi thành tên.

Vậy mà chỉ cần nhìn lại những hình ảnh quê nhà trên màn hình, tôi đã nghe tháng Giêng đang trôi. Nghe mùi thơm bánh tét dư ra trong ba ngày tết đem chiên giòn, ăn với thịt ba rọi kho trứng được trộn cùng cải chua thành món có tên là “xào bần” giản dị. Nghe tiếng trẻ con chạy tung tăng trong xóm nhỏ. Nghe tiếng gọi nhau đi lễ chùa rằm tháng Giêng.

Những điều rất nhỏ ấy làm mùa đông nơi xứ người bớt lạnh đi một chút. Dù chỉ trong khoảnh khắc. Có những buổi tối, tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn tuyết rơi mà tưởng như đang nhìn mưa trên mái ngói quê nhà. Tuyết trắng. Hoa vàng. Hai thế giới chẳng liên quan gì nhau. Vậy mà trong lòng tôi, chúng hòa vào nhau một cách tự nhiên, như thể khoảng cách chỉ là một lớp sương mỏng.

Tháng Giêng là tháng ăn chơi, quê nhà rộn ràng theo cách riêng của nó, ai ra khơi đánh cá thì ra, ai vô ruộng, vô rẫy mần thì cứ mần, khi chiều về thì vẫn tụ nhau đờn hát.

Mùa đông, quê người lặng lẽ theo cách của mình. Tôi đứng giữa hai miền: ký ức và hiện tại. Tôi mỉm cười. Nhẹ khép cửa sổ lại để giữ hơi ấm. Rồi đặt tay lên bàn phím.

Tôi biết mùa đông này rồi cũng sẽ qua, như bao mùa đông khác. Tuyết sẽ tan. Gió sẽ dịu. Nắng sẽ trải dài trên những cánh đồng ở Flevoland. Và tôi vẫn tiếp tục hành trình nơi xứ người, mang theo trong tim một tháng Giêng không bao giờ tắt. Bởi quê hương không chỉ nằm trên bản đồ. Quê hương nằm trong hơi thở. Trong giấc mơ. Và đôi khi, chỉ cần vài cái chạm nhẹ trên bàn phím, cả một bầu trời quê nhà đã hiện ra trước mắt.

Flevoland 27/2/2026

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Nam Việt

Ấn hành lần thứ hai 6-2006

Post by Sơn râu 9 Jul 2026

Tặng Điệp

Độc giả đầu tiên của tôi

Huy Phương

“Lấy chi trả thảo cho cha,

Đền ơn cho mẹ, con ra lấy chồng”

(Ca dao)

Lúc tôi mới lên ba thì chị đã mười tám tuổi. Ngày ấy khi cha tôi dạy học ở Bố Trạch, Quảng Bình thì chị tôi theo chồng về tỉnh ly Đồng Hới, con đường từ nhà mẹ ra nhà chồng cũng chẳng bao xa. Tôi nghe nói ngày chị đi lấy chồng, mẹ tôi khóc nhiều vì chị là con đầu lòng, mà chị tôi cũng sụt sùi không kém. Vài năm sau, cha tôi đổi về quê quán Thừa Thiên cho gần gũi với bên nội, thì khoảng cách giữa chị tôi và gia đình xa thêm một khoảng đường. Năm 1954, đất nước bị chia cắt, chị tôi và mẹ ở hai miền Nam Bắc phân ly không hy vọng có ngày đoàn tụ. Trong suốt một thời gian dài, mẹ tôi xót xa coi như mất một đứa con không bao giờ có thể thấy mặt lại. Hai mươi mốt năm sau, khi chị tôi về lại quê nhà thì cha mẹ tôi đã qua đời. Dù có hạnh phúc với chồng con đi nữa, suốt cuộc đời, chị tôi vẫn mang trong lòng một sự ân hận, là phải đi lấy chồng xa để khuya sớm không được gần gũi với cha mẹ. Và mẹ tôi trước khi thở hơi cuối cùng giã từ cuộc đời vẫn thường nhắc đến chị tôi, trong lòng còn thương nhớ khôn nguôi.

Ngày cha tôi từ giã cõi đời, con cái ông đang ở mỗi đứa một nơi, đứa cam phận tù đày, đứa phiêu bạt rời bỏ quê hương, trong những ngày hiu quạnh cuối cùng chắc ông buồn lắm. Thế hệ ngày trước, lớn lên, sống và chết trong cùng dưới một mái nhà, có lẽ không ai muốn con thành đạt để đi xa, mà chỉ muốn con cái quanh quẩn bên cạnh như đàn gà dưới cánh mình, dù đôi lúc sức lực cha mẹ không còn che chở được gì cho con cái.

Không ai muốn gả con đi lấy chồng xa, không phải vì còn nhờ cậy lúc tuổi già “gả con thì gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho”, mà chính vì mối tình cảm quyến luyến giữa mẹ con, gia đình: “mẹ ơi đừng gả con xa, một mai cha yếu mẹ già ai trông?”

Có phải ngày nay tấm lòng con không phải còn chơn chất, đơn thuần như ngày trước không, hay là vì tấm long cha mẹ đã đổi thay. Cái trò chơi háo hức làm người dự thí để được trúng tuyển lọt mắt xanh được một ông chồng Đại Hàn, Tàu Cộng hay Tàu Quốc rồi bây giờ tới Mã Lai, Singapore đã trở thành một câu chuyện “thường ngày ở huyện”, không dở không hay, không vui mà cũng không buồn. Nó đã trở thành một nếp sống, nói theo chữ dùng của bên nhà là “nếp sống văn hóa”, đương nhiên phản ảnh con người và tư tưởng của cái xã hội ấy. Trong cái xã hội mới cách đây vài chục năm ngắn ngủi thôi, cái lễ nghĩa, liêm sỉ khi trong một gia đình có đứa con gái gọi là “bị chửa hoang” hay “làm đĩ” được coi là “bôi tro trát trấu” lên mặt mày cha mẹ và danh giá gia đình, thì ngày nay nó lại là chuyện đương nhiên, nếu việc ấy đem về cho gia đình một số lợi nhuận, để cái nhà mình có thể cất lên cao đẹp hơn những cái nhà khác trong xóm, và mặt mày cha mẹ cũng hãnh diện ngẩng cao hơn. Có nỗi đau đớn nào hơn:

– “Mẹ cha ơi hỡi mẹ cha,

Nghèo gần không gả, giàu xa đem đày!”

– “Mẹ em thấy của thì ham

Hang hùm cứ tưởng hang vàng ép con.

Nói ra thẹn với nước non

Ngậm vào cay đắng lòng con đêm ngày!”

Trong truyện Kiều, vướng nỗi oan ức, “ …. thằng bán tơ kia giở giói ra, làm cho bận đến cụ Viên già” thì nàng Kiều mới đành phải bán mình chuộc cha. Đời này chúng ta có hằng chục nghìn cô Kiều cũng trẻ thơ xinh đẹp, cha mẹ chưa hề mắc vòng lao lý hay phải hầu cửa quan, chưa vướng lụy nỗi oan gia, mà cũng tự nguyện bán mình. Lý do mà quí cô đưa ra là nghèo đói làm không đủ ăn, không có tiền cho cha mẹ trả nợ hay cần sửa nhà, sửa cửa, mua xe. Xem ra thì những lý do đó vẫn quanh quẩn chung quanh chuyện tiền. Trong thời chiến tranh người ta mừng vì sinh con gái khỏi phải cầm súng ra mặt trận, ngày nay đông con gái cũng là điều mang giàu sang lại cho nhiều gia đình. Thời chiến tranh, Thượng Nghị Sĩ Mỹ McGovern khi sang thăm Việt Nam chỉ mới nói một câu: “Saigon là một ổ điếm” mà những người có liêm sỉ đã thấy giận đỏ mặt, hôm nay đất nước này coi chuyện bán thân, làm đĩ là chuyện bình thường thì chúng ta còn dám ngẩng mặt lên nhìn ai nữa!

Ngày nay những người chị của tôi lớn lên trong tuổi thanh xuân sẽ không có mối tình duyên đẹp đẽ, hoa mộng nào nữa. Chị lo trau dồi sắc đẹp, giữ gìn thể xác và nguyện lòng chẳng hề yêu ai, để một ngày kia chị sẽ không còn nỗi vướng bận nào khi chị ra đi, làm như đời chị sinh ra được sắp đặt tới một tháng ngày nào đó, như một món hàng, người ta xuất cảng chị ra nước ngoài, để đem về cho chính phủ của chị một món ngoại tệ, cho cha mẹ một số tiền trả ơn trả nghĩa phải chăng. Có hàng nghìn người chị đã bỏ xóm làng ra đi, chị bỏ cái cuốc cầm tay, gánh hàng trên vai hay mái chèo nơi một con đò ven sông, và nhất là chị phải bỏ những mối ràng buộc yêu thương, liên hệ gia đình để tới một nơi xa lạ, lạ những phong cảnh, thế tục, lạ cả tiếng người. Cũng có thể những người chị này đã để lại bao nhiêu mối tình thơ mộng sau lưng cho những chàng trai đã ngày nào yêu chị. Rút cuộc, người ta nhận ra rằng, không còn gì giữ chân chị lại được, ngoài đồng tiền ra.

Ngày nay không phải thân phận chị chỉ được rao bán tại quê nhà mà chị như kiện hàng được đem ra nước ngoài, để trên kệ hàng, tủ kính có ánh đèn màu hấp dẫn, có ghi giá cả như con cừu trong chợ gia súc hay món thịt đông lạnh trong cửa hàng thịt. Phải nói chị sinh ra không gặp thời, chị lớn lên trong lúc người ta cần những thứ hàng xuất khẩu. Anh em chị, người sang đông, kẻ sang tây đổ máu mắt, mồ hôi mới có miếng ăn, đồng tiền trả nợ, đồng tiền ơn nghĩa ngay cho những thế lực đã mang bán các anh em họ hàng ra đi. Chị cũng như món hàng. Ngày xưa mẹ có rổ rau, buồng chuối hay con gà, cặp vịt đem ra chợ bán, để có đồng tiền mua lại mớ tôm, con cá, hay may cho chị manh áo mới, mua cái lược, cái gương soi. Ngày nay, có lẽ không còn gì hay sao mà cha mẹ lại đành lòng bán chị đi. Ngày xưa, nuôi được con heo nái đẻ con, lúc bán đàn heo con đi,

mẹ cầm xấp bạc trong tay mà thở dài, bây giờ bán chị đi, lòng mẹ có buồn nghìn lần hơn thế không?

Sự biến đổi đau lòng nhất là những người chị của tôi có lẽ không biết buồn dù có “nước non nghìn dặm ra đi” tới nơi xa xôi. Sống trong thời đại mới, biết đâu chị còn hãnh diện hơn đám bạn bè hay lối xóm xấu xí, vô phước nghìn lần hơn chị, ngày chị ra đi, họ vẫn chân lấm tay bùn, bàn chân nứt nẻ trong nước đồng ruộng hay trên sông rạch nghèo nàn quê mùa, ngày hai buổi chợ. Tôi thực sự buồn cho nỗi buồn của chị thì ít mà buồn cho tấm lòng chai đá của cha mẹ thì nhiều. Vơng Ông thấy con mà “máu sa ruột dàu”, còn cha mẹ chị bây giờ thì nghĩ sao? Rồi đây, mỗi đi lấy chồng xa chiều cơn nước ròng, nước dẫy, con thuyền ra chợ còn mang theo tiếng hát của cô gái nghèo, sinh ra lớn lên với ruộng đồng, sông rạch, có ai nhớ tới những người chị tôi đang ở một phương trời nào đó, hạnh phúc hay khổ đau, làm người vợ chung thủy hay làm gái đĩ cho ngoại nhân.

Nhìn lại đất nước hằng trăm năm qua, kể cả những lúc quằn quại vì ngoại xâm, đói nghèo tột độ, chưa lúc nào ai nói được nhân phẩm của những người đàn bà như chị bị vùi dập như bây giờ, vào cái thời dân tộc đang có cả “độc lập” lẫn “hạnh phúc”!

Mai này, chị có thể là mẹ một bầy con còn bập bẹ đôi tiếng Việt. Nhưng rồi qua một đời, hai đời, chị hòa tan vào giòng máu ngoại tộc, từ miếng ăn thức uống, đến chiếc áo mảnh khăn, người ta may ra chỉ còn nhớ tới chị như một người đàn bà đã lâu lắm, từ một đất nước nào đó tới đây, một đất nước rất cần tiền nên phải bán chị đi. Chị như cánh lục bình rời xa con rạch cũ, lỡ trôi giạt ra tới biển Đông rồi, sẽ không bao giờ có thể trở lại nhánh sông xưa. Thương chị, lòng tôi ray rứt, không yên.

Báo tử

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/09/2019 

Post by Sơn râu 8 Jul 2026

Bạn tôi năng buồn, buồn mang nặng. Để trám lấy, mong khinh khoái, bạn làm thơ. Tơ lơ mơ thôi cũng gặt được gần hai chục cái like. Ai đó nói, bữa nay hắn sinh đổ đốn, bạn nghe, bỏ ngoài tai. Đẹp trai không bằng chai mặt. Bạn kêu ngặt, làm thơ khó mà tìm đứa hiểu ta, lại càng khó hơn. Tôi vỗ vai bạn, một ngày kia rồi sẽ ngộ, chẳng hạn có kẻ tâm đầu ý hợp lò dò quá bộ lại tìm quen.

Tính bạn tôi chướng, ưa cãi bướng, thích Bùi Giáng ở câu “Suốt đời phải thức trắng đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”. Mày chưa đắc đạo thì chớ cười. Tao nào phải dân chây lười. Lại đọc thơ Tô Thuỳ Yên “thức cho xong bài thơ, mai sớm ra đi, cài hờ lên cửa tặng”. Nghe đã mặn chưa? Có khi thức dậy ban trưa, chưa lại thần hồn đã phán: Mày mần cho tao cái bìa, đôi ba bữa nữa tao gom thơ đi in thi tuyển. Chừng trăm quyển cũng đủ trôi cơn hạn. Đã là bè bạn, không phải nói trạng hãy đợi chạng vạng cùng bá cổ nhau đi đánh chén. Xem như ăn mừng trước đi, hén?
Ngoài thể thơ lục bát, có bài bạn xem là lục nồi. Rổ rá cặp nhau chuyện vàng thau, vợ chồng có khi còn y như đôi đũa lệch. Tính suy làm chi cho mệt, ngay cả mấy thằng chệt xà quần ngoài khơi cũng chả biết cách chơi, có ngày rồi nó sẽ bơi vào bờ. Không có đạn đưa lên nòng, chờ. Chỉ toàn một bọn gà mờ. Bạn thắp ba cây nhang cắm trên bàn thờ, điệu bộ thành khẩn. Tưởng khấn nguyện cho nước nhà an ổn ai dè chỉ cầu xin thuận buồm xuôi gió việc in thơ. Bạn chửi thề tỉnh bơ, mẹ nó chứ, nếu tao là con gái post hình mát mẻ thì giờ này đã có thằng vác ngà voi in cho ba tập thơ, chí ít. Ai biểu anh không có ngực cho nên trời sinh ra mỹ nhân! Bạn tôi ưa phát ngôn linh tinh, hiểu tính bạn tôi đành mần thinh.

Và tôi nghe lời, tôi nhúng bút lông vào tách cà phê đen uống thừa để vẽ cho bạn một bức tranh siêu thực. Chỉ một thôi, hết đường lựa chọn, đừng bực. Tôi mài mực, kẻ nét phăn-ta-dzi hai chữ Màn Trinh. Đó là tên tập thơ mà bạn suy nghiệm, chọn lọc để trình làng. Bạn nói nên dùng chữ màu đỏ, vất nó vào cõi ta bà cho chúng phá xem rách tới ngang đâu. Sao mày chừa ra bảy cái đốm trắng trên tranh bìa? Ờ, mày thắc mắc bị mày chưa nghe chuyện Bạch Tuyết và 7 chú lùn. Nghệ thuật nằm ở cái sự chừa ra ấy. Nghĩ mà xem, Bạch Tuyết muôn đời vẫn còn trinh. Bạn tôi cười rộ, lấy làm tâm đắc. Của chùa nhé, tao không giả tiền đâu, nhớ? Bố mày chỉ còn đúng hai ngàn nhằm trang trải việc in sách. Chơi ngông cách này nghĩ cũng hách. Có gặm bánh mì thì đừng trách. Bạn nói mình ên, tuyệt không mang âm hưởng của sự rên.

Sách về hai thùng đầy kè chất ở nhà kho xây sau hè. Màn Trinh nhện giăng bụi bám giấy đổi màu mặt ủ mày chau. Hoá ra nhân thế “đương đại” này hết ai còn hứng thú chuyện phá trinh? Bạn chấm câu: Đau thế! Dại thế! Tao đâu ngờ thơ mà bị ế! Tâm hồn thi nhân bị lay động, ô uế: Bỏ hai ngàn mua vé số không chừng mà trúng được lô ba ngàn. Đi lãnh, bỏ túi một ngàn khoẻ re, chêm một cục cho ấm đít. Lạnh lòng bèn mang Kiều ra đọc, rít róng:

Tiếc thay nước đã đánh phèn
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần…
Lỡ từ lạc bước bước ra
Cái thân liệu những từ nhà liệu đi…
Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh…
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.

Thân bèo bọt là cái chi chi? Ra đường, nhánh rong phiêu bạt trăm khi vẫn đăm chiêu với vần điệu thi ca, lộn hồn lộn vía chẳng màng thế sự vây quanh, luôn gầm đầu đếm bước như thể tìm nhặt câu thơ lỡ rơi. Băng qua đường, băng qua triền hạn để nghe tiếng bốn bánh xe cày bỏng khét mặt nhựa. Rầm, chơi bài tới đụng phải con Ầm. Hay con Nghèo? Hay con Học Trò? Hay con Nọc Đượng? Hay con Rốn? Con gì đi nữa thì cũng xúi vận sự: Nằm thẳng cẳng. Xe ambulance chở bạn vào nhà thương, y như Việt kiều yêu nước đi xe có còi hụ. Khi phone về cho tôi, giọng chẳng hư hao: Chết thế chó nào được, bố mày vẫn còn sống đây.

Tôi vào thăm thằng ranh con lúc nào cũng ưa làm bố người ta. Gãy mất hai cái xương, chân bó bột, mặt trầy trụa, lồi lõm. Không có giấy bút, bạn ghim thơ trong bộ nhớ, từ đầu hôm tới giờ vẫn chưa quên, quay mặt sang bắt tôi ghi vào sổ: “Đêm rồi cởi áo thiên thần, Sa đoạ rụng cánh tần ngần hôn anh. Này môi thơm ngát hương chanh, Cam lê nho táo mọc quanh cửa mình. Thời đi để nhớ cuộc tình, Dưới giường quỷ sứ vẫn rình giao hoan”.

Y tá cho hay, mông-xừ này tối qua ngáy khiếp quá. Tôi giải thích cho bệnh nhân nằm giường bên rằng, đau đớn thì rên la, chuyện thường hằng. Ngáy là hồi nào trong giấc mơ chẳng gặp ác mộng. Thương tật mang gần 40% thì mộng đẹp sao đặng, có là tài thánh! Để chiều nay cho uống thuốc ngủ tăng đô xem có còn “ngáy” nữa thôi.

Bạn biểu tôi lấy iPhone ra “tự sướng” một bức ảnh chụp bạn nằm trên giường bệnh, thuốc thang đầy đủ, sướng rên mé đìu hiu. Mày đưa lên Facebook cho những đứa yêu thơ tao thấy “thi bá” đang long thể bất an, hẹn tuần sau sẽ xuống núi, tâm thần vẫn chưa phân liệt. Có ai nhốt được một ngọn gió? Tôi lại phải nghe lời chỉ dạy, mừng bạn khi bị xe đụng những sợi thần kinh nằm trong sọ chưa thay đổi vị trí, bởi có mệnh hệ gì thì thơ bạn làm ra ắt sẽ gây sóng gió vũ lâm. Hình ảnh kẻ thương tật post lên chừng nửa ngày thu được có tới 19 cái like. Lạ đời, tự cổ chí kim chưa có ai bày tỏ sự thích khi nhìn ngó đứa bị sao quả tạ chiếu. Thù ghét nhau mới vậy. Thơ tình ướt át của đứa bị quấn băng bông đầy người kia khổ sở làm ra thì chỉ có ba “em” like thôi. Thơ ngang trái hăm thik, chỉ thích nghía thân thể mà tứ chi đã thôi lành lặn của người khác.

Bác sĩ có ghé thăm, đứng dưới chân giường hỏi han đôi câu và dặn dò, chớ nên để luỹ vọc tay vào cái ipad. Đang ở thời gian chờ bình phục, đang tĩnh dưỡng, đang yếu đuối mà đụng phải bao tình huống bao hình ảnh bao vấn nạn khóc cười trong cõi ấy thì luỹ sẽ bị sốc thôi, thuốc men ích gì cho buổi ấy?

Luỹ sốc thật. Luỹ nghi ngờ câu “Trust Me, I’m a Doctor”. Luỹ chẳng nghe nghiêm lệnh, lén lút “vượt bức tường lửa”. Nhà thương hàn gắn vết thương thôi mà, nào phải trung tâm cai nghiện mà cấm cản ông lục lạo facebook? Thở dốc xong bèn cười nửa miệng: Đêm qua tao bị thuốc hành, chả ngủ được. Mắt thao láo mà chẳng rình thấy thơ thẩn gì cả, ngược lại một ý tưởng sáng suốt vụt loé lên. Mày nghe bố mày bảo này, mặt mày tao đương bơ phờ tàn tạ lắm phải không? Bây giờ tao nằm vẹo cổ sang bên, há hốc mồm, một cánh tay rớt xuống khỏi giường, ngón co quắp… Mày chụp lấy, sao cho ảnh hình nọ thuyết phục được người xem, đấy là một tử thi, da thịt bắt đầu lạnh… Chơi liền đi, năm mười phút nữa bà y tá vào giục uống thuốc thì hỏng.

Trước khi post hình ảnh cuối cùng của kẻ vắn số lên, người bạn kỳ dị nọ bắt tôi viết đôi dòng tâm trạng: “Chúng tôi vô cùng bàng hoàng, đau đớn trước tin xấu là nhà thơ Không Như vừa đột ngột từ bỏ cõi tạm để rong chơi miền xa có tên gọi Như Không sau hơn hai mươi năm ăn nằm mặn nồng một lòng một dạ cùng nàng thơ, hưởng dương 58 tuổi. Trong lúc buồn đau, chúng tôi tạm thời loan báo có vậy. Mọi chi tiết khác sẽ sớm cập nhật sau. Một số thân hữu của nhà thơ đồng kính báo”.

Tôi nói cho bạn nghe nỗi lo ngại chẳng chính đáng, là giả như trong bệnh viện này có một người Việt mang tên Như Có từng đọc thơ Không Như, chàng ta hoặc nàng ta sẽ lắm mồm nói này nói nọ để đến tai ban điều hành bệnh viện: Cậu điên à? Tập thể bác sĩ chúng tôi có gì không tốt. Rõ là làm ơn mắc oán, đã chữa lành không nhận một đồng trả công, không luôn một tiếng cảm ơn, lại còn loan báo đột tử. Điều này ảnh hưởng trầm trọng tới uy tín của nhà thương này.

Bạn nhăn răng: Mày lo bò trắng răng. Một cái lon nằm giữa đồng, cả triệu con chim bay qua về mỗi ngày, có cục phân nào rơi vào trong lon không? Thử hình dung đi. Mày suốt đời không thể làm thơ được vì mày chẳng tạo ra những bước đột biến, những thứ mà trong nước kêu bằng siêu bức xúc, choáng, khủng.

Ở đời, bá tánh thường rộng lòng chúc mừng khi nghe ai kia vừa lên xe bông. Thường nhỏ xuống đất ba giọt lệ khi nghe kẻ nọ đang sống chuyển sang từ trần. Vận số Không Như cũng không tránh khỏi, mấy thằng cha căng chú kiết lạ hoắc lạ hươ chẳng rõ từ đâu cũng mạnh tay gõ lời chia buồn rất mực thắm thiết. Trong 13 dòng phản hồi, có hai “quới nhơn” viết ra điều đáng quan tâm vì nó quá… sáng giá. Dòng thứ nhất của người mang tên Sa Mạc: “Tôi biết nhà thơ có in ra tập Màn Trinh. Xin hỏi giá mỗi cuốn là bao nhiêu? Thôi thì nhà thơ đã qua đời, tôi xin mua ủng hộ 10 cuốn và sẽ gửi ngân phiếu 1000 đô tới những ai đứng ra lo hậu sự. Chia buồn nha”. Dòng thứ hai của người mang tên Thuỳ Dương: “Xin cho biết ngày giờ và địa điểm hôm động quan đút vào lò thiêu. Người ta bảo nghĩa tử nghĩa tận gì đó, tôi có khi là vợ cũ của anh Trần Văn Mau, tự cái hồi ảnh chưa là Không Như. Tôi mong được thắp cho ảnh ba cây nhang. Vĩnh biệt”.

Bạn Không Như nằm trên giường, điều khiển cho tấm nệm gập lại. Chỉ có đầu tóc là rối như ổ quạ, mặt mày râu ria lún phún; nhưng thần sắc đã có phần lanh lợi của một kẻ vừa chế ngự và đánh thắng nỗi đau. Chính bà y tá cũng gia giảm liều lượng thuốc xuống, bà cho hay: Cực chẳng đã thôi, uống ba thứ này vào thêm mụ người. Mai mốt thử xuống giường lần mò đi quanh xem sao. Phải bắt cơ thể vận động, có hiểu nghĩa “nằm liệt giường” là gì không? Không Như đùa: Đau khổ chi bằng bắt lần mò, đến buồn ríu mắt lại nhảy lò cò. Tôi nói với bà y tá giàu lòng nhân: Bạn tôi thuộc loại nắng mấy hoa cũng không héo. Bon, bon. Tốt, tốt. Nghị lực là phương thuốc quý báu nhất trần đời. Người ta nên bỏ công đi săn lùng cái vui của nụ cười để xem đó là nghĩa sống. Buồn sẽ khiến mình thối đi.

Có một điểm đáng ca ngợi thượng đế, là khi nhào nặn ra chúng sinh, “ngài” tạo ra ngay sự khác biệt, chẳng ai giống ai. Niềm vui, nỗi buồn cũng thế, cung bậc hoàn toàn riêng tư dành cho mỗi cá nhân. Bi kịch xẩy tới là cá nhân ấy không biết cách thụ hưởng hoặc chống đối và như vậy, hài kịch phát sinh.

Bạn tôi nói, lắm khi tao như một sinh vật thật hèn mọn, có khi thức giấc trên giường bệnh thèm sáng mai được ăn một dĩa bánh bèo cho sướng cái lỗ miệng, dĩ nhiên là ăn chùng vụng kẻo y tá thấy họ sẽ ngầy ngà. Trên đường về nhà, thuận lối tôi tạt vào một cái siêu thị lớn. Tôi sẽ mua bánh Trung Thu và vớt thêm dĩa bánh bèo cho đứa buồn miệng. Siêu thị chộn rộn, hỏi ra mới biết “người ta” đang có chiến dịch thanh lùng và vừa bắt được hai tên chuyên xài bạc giả, thanh toán toàn giấy bạc hai chục. Một “bạn hàng” đẩy xe trong chợ nói: Vú giả, mông giả, chồng giả vợ giả, giả tuốt luốt cho tới tờ hai mươi gia kim. Xem ra cuộc đời này đã chẳng còn thứ gọi là sự thật!

May mà mấy tờ 20 của tôi không bị giả mạo, đưa vào máy dò chẳng tìm ra tì vết. Có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh, tôi mua hai dĩa bánh bèo, lát nữa tôi ăn phần tôi trước để xem bụng dạ có gây đột biến, nếu êm thì ngày mai sẽ mang vào nhà thương cho bạn dĩa còn lại. Cả bánh Trung Thu cũng vậy, chả dính kẽ răng nhưng ăn nó là nhai với bao kỷ niệm cũ, thuở thơ ngây. Hình bóng cũ làm no bụng? Ai biết được, hãy cứ tin vậy, cho khỏi mắc nghẹn.

Mai tôi sẽ nói cho bạn Như Không biết, rằng tôi sẽ “mu” qua thành phố khác sống, hòng kiếm ra môt công việc thích hợp; tiêu phí khoảng thời gian sau chót của đời mình vô vị kiểu này nghĩ không đành lòng. Lời thưa thật ấy hoàn toàn giả dối, nhưng bạn hiểu cho, tôi chẳng thích lui tới với một đứa vừa tự khai tử, một hồn ma? Khi mình rút vào bóng tối, tự thân sự khiếm diện kia cũng nói lên biết bao điều, cần gì phải đánh trống khua chiêng. Ôi, Không Như, mày không biết cách binh 13 lá bài mà đời chia đều cho những đứa nhập cuộc. Hoặc mày mậu binh? Xin thôi được nhìn thấy nhau. Hoặc ở kiếp sau? (xin chớ làm người).

Hồ Đình Nghiêm

Nhớ khi xưa ta là lính binh nhì

vantholacviet.com

Donry Nguyễn

Post by Sơn râu 8 Jul 2026

Nhớ khi xưa ta là lính binh nhì

Lương xấp xỉ mười-lăm-nghìn mỗi tháng

Lãnh buổi sáng, ngay buổi chiều đã cạn

Kiếm quán quen ngồi cho ký sổ em ơi

Cũng xưng hùng ta là lính chịu chơi

Dù chả có thứ gì chơi cho xứng đáng

Lính pháo binh chỉ dư thùng vỏ đạn

Lén mang ra chợ bán rủ nhau xài

Thời bây giờ thiếu nữ thích bông mai

Nên những đứa binh hai thường là con bà Phước

Lâu thật lâu mới có lần về phép

Đổi niềm vui chốc lát cuộc tình tiền

Ta đã từng trấn thủ nẻo biên cương

Nòng đại bác hôn lên đồi xanh lá cỏ

Đức Cơ, Lệ Minh, Chư Xang, Eo Gió…

Mỗi địa danh đều có bạn ta nằm

Về Quy Nhơn sau những chuyến tung hoành

Chưa dạo phố, lịnh truyền theo chiến dịch

Lại kéo súng qua Đèo Nhông, Bồng Sơn, Đệ Đức…

Đạn nổ tưng bừng đêm rực sáng hỏa châu

Lúc ba-gai ta cũng bị cạo đầu

Bị đại úy bắt giam vào chuồng cọp

Trong cô-nét ta nhớ trường nhớ lớp

Nhớ mẹ già mòn mỏi chốn quê xưa

Ta vốn học trò chỉ biết làm thơ

Chưa thi kịp tú tài trời bắt đi làm lính

Vai vác đạn tập quen mùi thuốc súng

Đánh trận lâu ngày mặt mũi cũng chai đi

Ta chẳng màng chủ nghĩa cái chi chi

Chỉ chiến đấu giữ miền nam yên ổn

Trời nỡ phụ nên cam đành lỗi hẹn

Lãnh đòn thù mang ách nạn tù sai

Nên dẫu là, ta chỉ lính binh hai

Thì số phận cũng ngửa nghiêng theo vận nước

Ngày quốc biến núi sông rền tiếng khóc

Ta cũng ngậm ngùi như bại tướng lưu vong

Khi ta về con sáo đã sang sông

Chỉ còn lại đôi ba thằng bạn cũ

Trong câu chuyện lúc trà dư tửu hậu

Vẫn tự hào ta là lính binh hai!

-Chàng Đông Ry Nguyễn

Trước khi lên đường

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 8 Jul 2026

Chuyến bay qua Marid, thủ đô Tây Ban Nha lúc bảy giờ sáng, mà chỗ ở của tôi xa phi trường quá, đi xe nhà, xe lửa thì không kịp. Hơn nữa phi trường Schiphol – Amsterdam dạo này thiếu nhân viên làm việc nên hành khách chen chúc, chờ đợi cũng khá lâu, sợ trễ chuyến bay nên công ty đặt khách sạn cho tôi ngủ gần phi trường cho tiện. Tôi đi xe lửa tới phi trường lúc năm giờ chiều. Theo điện thư của công ty cho tôi biết, họ có đặt cho tôi phần ăn chiều và sáng, nếu sáng không ăn tại khách sạn thì có thể nói nhân viên phục vụ gói cho tôi mang theo. Thiệt ra thì từ trước tới giờ phần ăn do công ty đặt ít khi tôi quan tâm. Những lúc bình thường, lỡ đường qua đêm trong thành phố lạ, tôi hay xuống phố đi dạo đã rồi thì tìm ăn chút ít đặc sản miền đó và uống ly rượu hoặc ly bia địa của nơi đó cho thoả mãn tánh hiếu kỳ. Hôm nào không ra phố được mà đói bụng, tôi mới xuống búp phê ăn bánh mì, uống vài ly bia hay ly nước gì đó cho hết đói rồi đi ngủ. Dạo nầy trong phi trường Schiphol người ta đông như kiến cỏ, xe bus chở người ra vô khách sạn chuyến nào người cũng chật cứng như nêm. Năm nay Hoà Lan mới mùa xuân mà trời nắng chang chang, nóng nực đổ mồ hôi ướt áo mà phải đứng chờ cả hơn hai giờ đồng mới lên được xe. Khi ra tới khách sạn thì đã hơn bảy giờ chiều rồi, sau khi làm thủ tục nhận phòng xong, tôi kéo vali và mang túi xách lên phòng ở từng hai để đó. Tôi trở xuống từng đưới đi một vòng búp phê coi có gì ăn không? Quả thiệt như tôi nghĩ, chỉ có bánh mì và vài thứ xúc xít, thịt nguội cũng bình thường thôi, không có món nào trông bắt mắt hết. Tôi đi ra quày chào và hỏi anh nhân viên khách sạn:

– Ở gần đây có nhà hàng nào không?

Anh ta chỉ ngón tay trỏ ra trước cửa, bên kia đường, nơi có toà nhà cao, nói:

– Ở bên đó kìa.

Tôi đi theo ngón tay chỉ đường của anh ta. Vô tới phía từng trệt của toà nhà là một cửa tiệm treo lủng lẳng những món đồ kỷ niệm và bên hong góc là một sneckbar. Tôi tới chào và hỏi cô gái đứng trong quày bar:

– Xin lỗi, nhà hàng ở đâu?

Cô gái chỉ tay qua chiếc thang máy cuốn và nói:

– Ông lên từng ba.

Theo lời cô gái, tôi đi tới chiếc thang đang chạy, có vài người đứng ở mấy bậc thang trên, tôi cũng bước lên đứng cho thang cuốn lên. Đi hết hai cầu thang cuốn mới tới nơi, nhà hàng thuộc loại búp phê, không sang trọng lắm. Tôi hỏi cô gái đứng trước quày về giá cả. Cô ta cho biết, trả tiền vô cửa ba chục euro được ăn, uống cà phê, trà, nước lạnh; bia, rượu thì phải trả tiền riêng. Tôi trả tiền xong, vô đứng nối đuôi theo hàng người lấy dĩa, dao, nĩa. Thức ăn trong búp phê trưng bày rất sạch sẽ, sang trọng nhưng vì thực đơn của Hoà Lan nên trông không hấp dẫn lắm. Mấy chục năm qua tôi làm đầu bếp cho tàu buôn của Hoà Lan, chế biến những món ăn của nước này rất thành thạo và biết mùi vị ngon hoặc dở, nhưng ăn cho đỡ đói thì được chớ nhìn thì hổng thấy thèm cho lắm. Theo tôi những món ăn càng về các nước Bắc Âu thì nó càng nhạt nhẽo, thua xa thức ăn của vùng Địa Trung Hải. Thức ăn ở Địa Trung Hải rất phong phú, đa dạng, nhiều rau, củ và hương vị đậm đà, trưng bày trông bắt mắt. Suy nghĩ vu vơ đi tới cuối cùng búp phê hồi nào không hay, nhìn xuống cái dĩa cầm trên tay còn trống trơn, chưa có món nào ăn được hết. Tôi lưỡng lự một chút, bèn quay trở lại chỗ để đồ nguội, gắp mấy miếng phó mát, vài lát cá hồi hun khói và dưa chua bỏ vô dĩa rồi đi qua quày rượu mua một ly bia đem ra chiếc bàn lớn. Tới nơi tôi thấy chỉ có một cô gái vừa bưng đồ ăn để trên bàn và ngồi xuống chiếc ghế đầu bàn. Thấy vậy tôi đi lại đầu bàn kia, để bia và dĩa đồ ăn lên bàn rồi ngồi xuống chiếc ghế đầu bàn này, vậy là tôi với cô gái ngồi đối diện xéo mặt nhau, tôi nhâm nhi bia và nhìn người ta ăn uống.

Uống được mấy hớp bia thì có hai người Tàu, người con trai bận áo quần màu đen, người con gái bận áo đầm bông màu đỏ, hai người còn đeo khẩu trang, trông có vẻ khác người. Hồi chiều ngoài bến xe bus ở phi trường tôi thấy hai người này tay xách, vai mang và còn đẩy hai cái vali bự tổ chảng, không biết hai người làm gì mà đem đồ nhiều quá, làm tôi có cảm tưởng như hai người dọn nhà sang nước nào đó. Tôi đoán hai người hổng phải là hai vợ chồng thì cũng là cặp tình nhân. Bây giờ vô nhà hàng mỗi người bưng một dĩa lớn đầy nhóc khoai tây chiên, xà lách và croquettes đi lại đứng trước chỗ tôi ngồi. Cô gái cất tiếng hỏi tôi bằng tiếng Tàu, tuy hổng hiểu gì ráo, nhưng cũng đoán được cô ta hỏi chỗ ngồi. Tôi chỉ tay xuống chiếc ghế và nói bằng tiếng Anh:

– Tự nhiên.

Hai người lại ngồi đối diện với tôi rồi kéo khẩu trang xệ xuống càm và bắt đầu ăn. Tôi day lại uống cạn phần bia của mình và đứng lên lấy nĩa ghim miếng phó mát đút vô miệng rồi bưng ly đi lại quày bar mua thêm bia. Mua bia xong, tôi bưng ly bia trở lại vừa để ly bia xuống bàn thì người con trai day qua nói gì đó với người con gái, người con gái bèn day qua chỉ ly bia hỏi tôi bằng tiếng Anh:

– Cái này lấy ở đâu vậy?

Tôi chỉ tay qua quày bar:

– Ở chỗ kia kìa.

Người con gái dợm đứng lên. Thấy vậy tôi liền hỏi:

– Muốn uống bia hả?

– Yes yes.

Tôi đưa tay ra dấu cho cô gái ngồi xuống và nói:

– Ngồi ăn đi, tui đi lấy cho.

Tôi trở lại quày ba thấy có năm sáu người tới trước đứng sắp hàng, tôi cũng bước vô đứng sắp hàng chờ mua bia. Khi mua được hai ly bia, đem trở lại bàn thì thấy hai người đã đớp sạch hai dĩa thức ăn. Hai tay bưng hai ly bia chìa ra trước mặt cho mỗi người một ly, hai người bưng bia lên, sẵn trớn chìa qua mời tôi cụng. Tôi bưng ly bia của mình lên cụng, hớp xong hớp bia tôi để bia lên bàn và ngồi xuống. Cô gái đứng dậy đi lại chỗ để tô, dĩa lấy một cái dĩa lớn nhứt, rồi mới đi tới chỗ để đồ ăn. Trong lòng tôi có hơi thắc mắc, tướng tá cô nhỏ thó mà thân hình thì không được mập lắm, phải nói là ốm tong teo vậy mà mới vừa đớp sạch dĩa thức ăn tổ chảng, giờ lại lấy thêm đồ ăn nữa?! Nhìn chiếc bàn dài và rộng có thể ngồi thoải mái cho mười mấy con người ta. Tôi chợt nhớ ra, hồi nãy có cô gái người da trắng ngồi nơi đầu bàn kia, còn tôi thì ngồi đầu bàn bên này, nhưng cô gái đã đi qua bàn bên góc ngồi chung với mấy người khác rồi. Trong khi các bàn khác người da trắng ngồi chen chúc nhau, còn bàn này chỉ có tôi và cặp người Tàu ngồi, cho nên trông chiếc bàn trống trơn và thấy nó dài ra. Tuy cả Âu Châu đã gỡ bỏ luật phòng chống dịch corona và mọi người đi lại trong những quốc gia Âu Châu không cần phải xét nghiệm cô vít và điền giấy tờ khai báo y tế rườm rà như trước kia nữa. Ngoại trừ khi lên xe lửa và máy bay thì vẫn phải đeo khẩu trang, còn những nơi công cộng thì không bắt buộc đeo khẩu trang, nhưng ai muốn đeo thì đeo hổng đeo cũng không sao. Đã vậy mà con người ta vẫn còn chia cách, nhứt là những người dân da trắng họ còn ngại gần gũi với những người Tàu và người Châu Á. Trước kia, gặp trường hợp như vầy, tôi cảm thấy mình bị phân biệt đối xử, trong lòng có hơi khó chịu, nhưng sau thời gian đại dịch, những chuyện như vầy hổng khiến cho tôi bực tức nữa. Thật ra thì sự kỳ thị chủng tộc là bản tánh của loài người, bình thường thì không sao, bất kể người nước nào, hể có biến cố về sắc tộc thì sự kỳ thị nó lộ liễu rõ ràng hơn. Tôi day qua hỏi gã thanh niên bằng tiếng Anh:

– Hai người đi đâu vậy?

Gã lắc đầu đưa tay khoát khoát, miệng nói tiếng Tàu, có ý nói với tôi là gã không biết tiếng Anh. Lúc đó người con gái bưng một dĩa thức ăn đầy nhóc với những món y chang trong dĩa của tôi, chỉ khác chút là cô ta lấy thêm mấy trái ô liu, múc thêm chén nhỏ nước tương và một muỗng nhỏ wasabi. Nhìn bộ dạng hai người tôi đoán họ là người Trung Hoa lục địa, chớ hổng phải là người Hồng Kông hay Đài Loan. Cô gái chìa dĩa đồ ăn trước mặt tôi nói:

– Ăn đi.

Giờ tôi mới hiểu cô ta lấy mấy món nhậu để làm mồi uống bia chớ hổng phải để ăn cho no. Tôi cảm ơn và lấy nĩa ghim miếng phó mát và trái ô liu đưa lên ăn. Cô gái đưa qua cho gã thanh niên, gã ghim một miếng cá hồi hun khói, xong cô gái mới chịu để dĩa đồ ăn xuống bàn. Gã thanh niên day qua nói nhỏ với người con gái gì đó. Cô ta day lại tôi hỏi:

– Hồi nãy ông hỏi gì?

– Oh, tui hỏi hai người đi đâu?

– Ngày mai chúng tôi qua Anh, rồi sang máy bay qua Mỹ. Còn ông, ông đi đâu?

– Tôi đi Las Palmas.

– Las Palmas là nước nào?

– Tây Ban Nha, sáng mai tôi qua Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha, từ đó sang máy bay ra Las Palmas ở trong quần đảo Canary nằm cạnh Châu Phi.

– Oh, vậy hả?

Nói vậy rồi cô gái bưng bia lên mời. Giọng nói tiếng Anh của cô gái chậm nhưng rất rõ ràng. Trông bộ dạng nhỏ thó, quê mùa của cô gái, nhưng sự hoạt bát của cô ta làm cho tôi suy đoán; có lẽ cô là người thường đi đây, đi đó ra nước ngoài nên cô ta lanh lợi hơn gã thanh niên. Nhìn sự nhút nhát rụt rè của gã thanh niên, chuyện gì cũng day qua hỏi của cô gái, tôi đoán anh ta mới ra xuất ngoại lần đầu. Có điều tôi thấy hơi thắc mắc là Trung Quốc trai thừa gái thiếu mà sao cô gái nầy lại cặp bồ với một anh chàng coi bộ ngu ngơ như vậy, nhưng ý nghĩ nầy chỉ thoáng qua trong đầu thôi. Cô gái rất tự tin không dè dặt gì hết và ăn, uống cũng rất tự nhiên, gặp tôi chưa đầy một giờ đồng hồ mà làm như quen thân từ lâu lắm, cô cứ vồn vã đưa bia lên cụng, bưng thức ăn chìa qua mời, uống hết bia cô đứng dậy đi mua bia. Cô ta hay thắc mắc và trò chuyện hơi nhiều. Cô ta hỏi tôi sao không đeo khẩu trang. Tôi nói:

– Âu Châu giờ không bắt buộc nữa.

Cô ta moi trong túi xách ra một cái khẩu trang đưa cho tôi và chỉ qua đám đông nói:

– Người da trắng dễ bị nhiễm virus hơn người Tàu, họ nguy hiểm lắm, một lát đi ra ngoài ông nhớ đeo khẩu trang đó.

Tôi làm bộ ra vẻ hổng biết gì, cầm chiếc khẩu trang đưa lên hỏi:

– Ở nước Tàu còn có cô vít nhiều không?

– Còn nhưng không nhiều. Bên Mỹ và Âu Châu mới nhiều, vì corona có từ bên Mỹ mà.

Không còn nghi ngờ gì nữa, hai người này chắc chắn tới từ Trung Cộng rồi. Chánh quyền Trung Cộng hay thiệt, họ tuyên truyền làm sao mà được dân của họ tin tưởng và sẵn sàng làm “ dư luận viên” có tầm dốc quốc tế, bất kể gặp người quen hay lạ, họ cũng tuyên truyền được hết. Vừa qua tôi và các bạn có vô ăn một nhà hàng của Trung Cộng, chủ nhà hàng cũng nói với chúng tôi y chang như vậy đó. Ông ta nói qua đây làm kiếm được mớ tiền làm vốn rồi trở về nước mần ăn sanh sống, chớ ở Âu-Mỹ không an toàn, người da trắng rất dễ nhiễm cô vít. Tôi có thói quen trên đường đi, gặp gỡ chốc lát, hỏi nhau vừa đủ để chuyện trò vui vẻ, chớ không nên tra hỏi nhiều quá làm tốn thời gian vô ích.

Đã từ lâu rồi tôi tránh những cuộc tranh cãi về chánh trị, nhưng qua hồi trò chuyện với cô gái, cô làm cho tôi suy nghĩ. Không biết những người Trung Hoa họ hổng hiểu về đất nước, con người bên Âu Châu hay vì sợ hãi mà nói sai sự thật một cách trơn tru như vầy. Tôi không biết cô gái có biết cô ta đang góp phần lên tiếng cho sự dối trá của chánh quyền ở nước cô không? Làm sao con người ta được mở mang trí óc và đừng sợ hãi để cất lên tiếng nói trung thực và vì lòng trắc ẩn mà vạch ra những sự bất công, dối trá, tham lam, dã man và tàn bạo của một nhóm người được gọi là lãnh tụ! Nếu mọi người trên một đất nước, nói riêng và toàn thế giới, nói chung biết suy nghĩ kỷ càng và biết nói thói thiệt, làm được điều này thì cả trái đất sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt và đẹp đẽ biết bao.

Dronten 28-8-2022

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 8 Jul 2026

Nhân vật Sinh trong chuyện ngắn “Đói” Thạch Lam đã có suy nghĩ: “Trước kia, khi nghe chuyện người ta tranh giành nhau vì miếng ăn, chàng vẫn mim cười khinh bỉ. Chàng cho rằng miếng ăn là một sự không đáng kể, chỉ có cái thanh cao trong sạch của linh hồn mới là cần. Nhưng bây giờ, trong cái phút đói này, chàng mới thấy rõ cái cần mạnh mẽ của miếng ăn là thế nào.”

Khi chúng ta chưa xuống đến tận cùng của cái đói, xin đừng vội phê phán những người hạ mình và trở thành hèn hạ vì miếng ăn. Một người bình thường không thể nào tưởng tượng ra một “con người” – để phân biệt với một con bọ hung – đã ăn những hạt bắp trong bãi phân bò, vì quá đói. Đó là trường hợp của Shin Dong-hyuk, một người Bắc Hàn, được sinh ra trong trại tù số 14, vượt ngục năm 23 tuổi, đến được đất tự do, kể lại ngoài việc phải ăn tất cả động vật bắt được, vỏ cây, Shin đã từng lượm những hạt bắp trong một đống phân bò để ăn.

Câu chuyện này tuy có phần khắc nghiệt hơn, nhưng không khác các câu chuyện kể của những người tù trong các trại tập trung của Cộng Sản sau tháng 4 năm 1975, vì quá đói đã bắt ăn tất cả các con gì “nhúc nhích!”

Chính vì miếng ăn có mãnh lực sai khiến hay đè bẹp ý chí của con người, nên những nhà “chính trị bá đạo” dùng nghệ thuật bỏ đói để hành hạ, khống chế và sai khiến con người. Trong các trại tù tập trung của chế độ cộng sản trên trái đất này, miếng ăn cũng công dụng như roi điện, chó săn hay dùi cui, nhưng vô tình, mềm mại và êm ái hơn, làm cho con người phải khuất phục.

Lợi dụng yếu điểm này, đối với tù nhân, nghệ thuật bỏ đói để đè bẹp ý chí và sức đề kháng của con người được áp dụng triệt để. Trừ một số nhỏ con người kiên cường và tinh thần thắng được sự đòi hỏi của thể xác, còn lại phần lớn phải chịu khuất phục. Cộng sản không phải bỏ đói tù nhân một bữa, một ngày mà bỏ đói liên tục. Bỏ đói đây không có nghĩa là không cho ăn, mà chỉ cho ăn đủ cho khỏi chết, nên cảm giác đói và thèm ăn theo con người từng lúc vào tận tiềm thức, ám ảnh cả những giấc mơ. Chúng tôi đã qua trải nghiệm thèm

thuồng những món ăn ngày xưa, trong giấc mơ, thấy mình đang ăn một một tô phở, tỉnh giấc, thẹn thùng khi thấy miệng mình vẫn còn nhai nhóp nhép. Bây giờ đang no đủ, chúng ta khó tưởng tượng ra sự việc này, cũng như những ai ở ngoài cuộc, xin đừng vội lên án một chuyện mà quý vị chưa từng có kinh nghiệm trải qua.

Buổi tối thứ Bảy hôm ấy, cả trại tù được loan báo, ngày mai, Chủ Nhật, tù sẽ được phát mỗi người một chén chè. Thức ăn không đủ, đường và mỡ là hai món cần cho cơ thể, nghe đến hai thứ này, ai mà không thèm.

Theo thường lệ, vào mỗi buổi sáng, tiếng kẻng tù chỉ gióng lên vào lúc 7 giờ sáng để thức tù trở dậy, nếu chúng ta thức giấc vào trước giờ ấy, thì thường cố gắng để dỗ giấc ngủ trở lại, vì không có ăn, người tù chỉ nhờ vào giấc ngủ đề bồi dưỡng cho sức khỏe. Nhưng buổi sáng Chủ Nhật hôm ấy, mọi người trong trại tù có thể đã thức giấc vào lúc 5 hay 6 giờ sáng. Thức giấc rồi thì không thể ngủ trở lại được vì tất cả trí óc đang vấn vương vụ chén chè. Không ai nói với ai, nhưng cả đội tù hình như không hẹn mà đều đã thức giấc trong sự im lặng, chỉ nghe tiếng sột soạt của chăn gối hay vật dụng cá nhân, tiếng ho, tiếng dép lẹp xẹp đi về hướng nhà cầu ở cuối “lán.” Một vài giờ nữa, trại sẽ phát cho mỗi người một chén chè! Một “biến cố lớn lao như vậy, sắp xẩy ra trong một vài giờ nữa thôi, ai mà vô tâm, thờ ơ đến đỗi có thể nằm ngủ tiếp. Vào lúc ấy, dễ chừng cái tin Trung Cộng đang đánh vào biên giới cũng không quan trọng bằng. Trong trại tù, những ai yếu đuối vì miếng ăn, giấu một củ khoai, bốc một miếng cơm cháy, nếu bị phát giác, đều bị những người nhân danh đạo đức lên án, chửi rủa không tiếc lời. Một tù nhân được cử đi làm thịt trâu ở Đoàn (đơn vị coi tù,) trong lúc xẻ thịt vì đói quá đã bốc một miếng thịt sống bỏ vào miệng, vội nuốt nhưng vì miếng thịt khá lớn, nằm tắc nghẹn trong cuống họng làm cho anh nghẹt thở, mặt đã tím bầm. Nếu không có những bạn tù tìm cách cấp cứu, người tù này chắc chắn không có ngày trở về miền Nam. Bọn Cộng Sản coi tù đã thành công trong chính sách khống chế con người bằng miếng ăn. Vì đói người ta đã bỏ quên nhân cách và dĩ vãng trở thành một thằng ăn cắp, tố cáo bạn bè để lấy ân sũng, thêm vài cân thực phẩm hay được thưởng một hai cái phiếu quà.

Không phải chỉ đối với tù nhân mà đối với dân chúng, trong các nước Cộng Sản, “chính sách bao tử” được áp dụng triệt để. Trong những chế độ này không có việc trốn lính, vì trốn lính là chết đói. Thanh niên đến tuổi thi hành “nghĩa vụ quân sự” phải cắt hộ khẩu, không có hộ khẩu thì không có phần gạo, phần khoai. Con đường duy nhất là đi lính đề có miếng ăn. Tuy vậy đi lính chưa chắc đã được ăn no. Lee Bo, một nữ quân nhân Bắc Hàn nhập ngũ vì hy vọng được ăn đủ, ăn ngon hơn ở nhà, nhưng suốt trong 6 năm tại ngũ, cô chỉ được ăn cơm, kimchi, mì, mà cũng chăng bao giờ được no.

Lúc bụng đói cồn cào, người ta chỉ nghĩ đến miếng ăn: bát cơm, cái bánh, cục đường, miếng thịt … luôn luôn ám ảnh. Lúc trà dư, tửu hậu, ăn uống chán chê, bên ly rượu hay tách cà phê, thì việc nước, việc nhà, chuyện chính trị bên Đông bên Tây, người ta mới hào hứng đem ra thảo luận. Giờ đây, chế độ XHCN Việt Nam có lẽ tiếc nhớ thời đại bao cấp đã qua, dân Việt Nam ngày nay phần lớn không còn đói hơn nữa, nên đầu óc mới có thể nghĩ đến chuyện đòi tự do, nhân quyền …

Cái đầu quả là quan trọng, con tim cũng có lý lẽ của nó, nhưng cũng đừng xem thường cái dạ dày, nó có thể biến một anh hùng thành một kẻ ti tiện, một người thương yêu thành kẻ thù, nó có mãnh lực chi phối và thay đổi cả bộ mặt thế giới!

An Lộc 1972

Hoàng Kao Music

Bản II

Post by Sơn râu 8 Jul 2026

Tôi đang nói về An Lộc

Một thị xã không lớn

Nhưng chiến tranh đã biến nơi này

Thành những nấm mồ chung

Nơi mà buổi sáng

Con người còn đứng trên mặt đất

Và khi đêm xuống

Họ đã nằm dưới lòng đất

An Lộc địa sử ghi chiến tích

Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Mội tấc đất mỗi phần xương thịt

Của quân nhân và cả đồng bào

Tỉnh lỵ nhỏ chìm trong lửa đỏ

Chín ba ngày đêm khói lấp mặt trời

Quốc lộ 13 con lộ máu

Pháo đạn cày không sót một phân

Năm bảy hai mùa hè đỏ lữa

Từ Cổ thành dài đến Bình Long

Từ cao nguyên xuống tới đồng bằng

Mùa hè lữa và mùi xác rữa

Quảng Trị có kinh hoàng đại lộ

Bình Long đau quốc lộ 13

Giấy nào chứa ngàn câu kinh khổ

Chịu tai ương những phận dân thường

Năm bảy hai mùa hè đỏ lữa

Từ Cổ thành dài đến Bình Long

Năm bốn năm cây cảnh mọc lại

Nhưng vết thương long có kịp lành

Ôi một thời trên từng mét đất

Mỗi mét đường đội một khăn tang

Chiến tranh đã qua hơn nửa thế kỷ

Trong lòng đất An Lộc

Vẫn giữ lại những người ngã xuống năm xưa

An Lộc địa sử ghi chiến tích

Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Phía dưới của rực rỡ vinh quang

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 7 Jul 2026

#1/Xin khẩn thiết nhờ bất kỳ ai ở VN liên lạc với ông Phạm Tiến Dũng là Người Lính VNCH tại 0868 381 471 hoặc 0903 123 563 để liên lạc với gia đình nầy nhằm giúp họ tiền xe, lộ phí về Cà Mâu.

#2/Nhờ PTDũng KHẨN liên lạc với gia đình nầy, giúp liền cho họ $200. Nam Xương sẽ bù lại liền cho GĐ9ND. Cám ơn Dũng

Nam Xương/KBC 4804.    

Đây là một tấm hình được cắt ra từ video của một người dân tại Đà Nẵng. Khi hỏi thăm những này thì anh được biết, họ là một gia đình từ Cà Mau lên Đà Nẵng mưu sinh, bà ngoại và mẹ của 2 bé đã làm giúp việc cả mấy tháng trời nhưng cuối cùng bị chủ quỵt lương.

Bước đường cùng, gia đình họ quyết định dẫn 2 bé về lại quê nhà Cà Mau để có thể tiếp tục sống. Không tiền nên không mua vé xe, họ đã dắt 2 bé vô bến xe để xin đi nhờ nhưng bị từ chối. Cuối cùng, họ chỉ còn cách là đưa hai đứa nhỏ đi bộ về quê giữa mùa nắng nóng, phó mặc số phận cho lòng tốt của người qua đường. Tôi nhớ không lầm thì từ Đà Nẵng về Cà Mau khoảng 1300 cây số, nếu mà không có sự giúp đỡ tôi chẳng biết họ sẽ đi tới bao lâu để về được tới quê nhà.

Ngẫm ra mới thấy đau lòng. Chủ nhân của người quay clip cũng chỉ là phận dân đen bình thường, vì nghĩa tình đồng bào nên anh cũng vét vài trăm ngàn tiền công lao động của anh để trao gởi cho Gia đình họ. Những lúc thế này tôi tự hỏi, cơ quan bảo vệ người lao động ở đâu? Tại sao không phải là một tổ chức an sinh xã hội mà là một anh dân thường trao vội số tiền ít ỏi rồi lại tiếp tục lên đường kiếm cơm. Số phận của một gia đình lại đặt cược lên sự tử tế của những người xa lạ là sao đây?

Dẫu rằng, ngươid Việt chúng ta không thiếu sự tử tế và lòng trắc ẩn với quê hương. Bằng chứng là bao nhiêu mtq đã dang tay ôm lấy đồng bào mùa Bão Lũ thiên tai, để rồi nhà nước đã rất “tài tình” khi xã hội hóa phúc lợi xã hội. Có nghĩa là họ sẽ đẩy phần an sinh xã hội cho những người có lòng tốt. Tôi thấy cũng không có gì để bàn cãi khi đất nước còn nghèo, nhưng họ ra rả về sự phát triển rực rỡ để làm gì khi những trường hợp như gia đình này chính là chỉ dấu thất bại của một cơ chế nhà nước đã không thể bảo vệ những con người yếu thế nhất. Ai ở SG cứ ra ngã tư, buổi tối lấy xe máy chạy một vòng thì sẽ rõ. Con nít người già chồng chéo lên nhau mà ngủ, tự hào gì khi trẻ em phải đi lao động chớ?

Anh em người đỏ luôn tự hào vì những công trình đồ sộ mà chính phủ đang xây dựng hàng ngàn tỉ như Sân Vận Động Trống Đồng, nhà hát ngàn tỉ, tượng đài cổng chào,.. nhưng có bao giờ anh em chạnh lòng khi thấy những đứa trẻ phải đi bộ hàng trăm cây số vì cha mẹ bị quỵt lương không? Chúng ta không thể nói tới sự phồn vinh khi người lao động bị bóc lột tới nỗi không đủ tiền mua một tấm vé xe về quê. Tôi nhớ trong lịch sử đã chép rằng đất nước sẽ làm cách mạng để xóa bỏ giai cấp, công – nông dân là chủ thể của đất nước và bây giờ hàng triệu con người Việt phải qua Tư Bản làm thuê. Nước nhà thì công nhân vùi đầu ngày 12 tiếng trên công ty của FDI và bao nhiêu phận người nghiệt ngã chẳng ai ngó ngàng.

Có thực sự vinh quang không khi người dân của nước mình chỉ biết dựa vào nhau trong những đại án oan nghiệt? Họ cầu xin cộng đồng mạng bà con cô bác giúp đỡ để bác này bác kia thấy. Những thảm họa từ thiên tai tới nhân tai liên tục xảy ra mà người dân luôn là người gánh hậu quả trước tiên. Có thật là phải biết ơn đảng và nhà nước không khi mà người dân chỉ biết cầu mong gặp được người tốt trên hành trình hoạn nạn của mình.

Đôi lúc tôi thực sự xót xa khi người Dân VN của mình thực sự dễ tính, họ chưa bao giờ ý thức và đòi hỏi quyền lợi của mình. Là công dân đóng thuế đầy đủ, chí ít chúng ta phải tự biết những cái thứ cơ bản vốn thuộc về mình như đòi hỏi một con đường không ngập nước, một sự bảo vệ pháp lý từ công quyền khi lâm cảnh khốn cùng chớ? Nhưng không, ai cũng nghĩ rằng mình chỉ có nghĩa vụ chớ không có quyền lợi. Giáo dục, cơ chế tuyên truyền và an ninh trị đã làm hủy hoại phẩm giá cơ bản của người Việt rồi.

Sẽ chẳng ai mong muốn dân tộc này vô cảm trước nỗi khổ của đồng bào, nhưng thực tế cho thấy người Việt hôm nay đang bị chia ra để trị. Hôm nay là gia đình này, ngày mai là gia đình khác. Hôm nay Thủ Thiêm Sài Gòn đau không ai quan tâm thì ngày mai là dân cư Sông Hồng Hà Nội, ngày mốt sẽ là Gia Bình Bắc Ninh,.. tất thảy sẽ từ từ gặm nhấm nỗi đau đó trong câm lặng và bất lực tột cùng. Và khi họ cất tiếng lên thì lại có những sự chà đạp không thương tiếc từ đội ngũ dư luận viên của chính quyền. Lúc này có chua chát, đau khổ cũng đã muộn màng.

Nếu không tự ý thức được những thứ quyền lợi chính trị cơ bản thì biết đâu mai này, có thể là bất kỳ ai trong chúng ta bị rơi vào hoàn cảnh cùng quẫn cũng trở nên bạc nhược như vậy thì sao?

Việt Nam sẽ không thể phồn thịnh chỉ bằng những lời tuyên truyền sáo rỗng, mà nó chỉ thực sự phát triển khi nó biết cách đối xử với những con người ở tận cùng xã hội. Chỉ khi nào không còn cảnh người già, phụ nữ và trẻ em phải lê từng bước trên quốc lộ để tìm đường về quê vì bị quỵt công, bị bỏ mặc, thì khi đó chúng ta mới có tư cách để nói tới 4 chữ “rực rỡ vinh quang”.

Nắng rồi sẽ lên trên quê hương này

Nhắc nhau nghe rằng:

Ngưởi Việt thương người Việt❤️