Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 9 May 2024

Phần 11
Người đàn ông ở nước ngoài về làm ở trại trạc khoảng bốn mươi. Nước da ngâm ngâm lầm lì, môi lúc nào cũng mím lại như một thói quen. Con người ấy thoạt trông như có điều gì bí mật trên khuôn mặt nghiêm trọng, hoặc giả thì phải khoác bộ mặt nghiêm trang ấy để che đậy một sự bối rối trong lòng. Hải gặp ông ta lần đầu ở căn phòng phía sau niệm Phật đường. Ông ta tự giới thiệu là Bổng, làm cho Quốc Tế Xã Hội Vụ, tức International Social Service. Bổng nói năng thiếu mạch lạc, chuyện gì cần đào sâu thì ông ta nói phớt qua, chuyện gì nhỏ nhặt thì lại bàn kỹ. Tuy trả lời các câu hỏi của giáo viên khá trôi chảy, nhưng dường như ông ta thuộc loại người không phải sinh ra để quyết định (có thể Bổng quá cẩn thận chăng?). Dù sao Hải cũng công nhận thiện chí của Bổng khi một tuần ông ta vào trại hai hoặc ba ngày, những ngày kia làm ở trại khác. Bổng mang nhiều loại sách giáo khoa in ở Hà Nội, một số in ở Hoa Kỳ. Hai loại sách giáo khoa này khiến giáo viên nhức đầu không ít vì không biết nên theo loại nào. Hải xin phép Bổng tự biên soạn chương trình dạy theo ý muốn. Phần thưởng mà Hải cho đáng nhất là chàng có thể xuống khu trường học nằm cách các buồng một hàng rào. Khu trường học có cây cối, hàng rào vây quanh sát nhà dân để thỉnh thoảng Hải có thể thả mắt qua hàng rào kẽm gai, xuyên qua kẽ hở của những tấm sắt đen nhìn một ngách đời sống của người bên ngoài cho thơm lây cái tự do thèm muốn và ước vọng. Trong tình cảnh chờ thời và dạy học như thế, Hải nhận được lá thư của Phú kèn từ trại Chi Ma Wuan do Bổng đem vào.
“Bạn thân mến của tôi.
Đến nay, do có điều kiện thuận lợi tôi viết thơ này cho bạn. Đầu thơ tôi chúc bạn được bằng an, mạnh khỏe và công tác tốt.
Sau gần một tháng ngày bạn đi, tôi mới được kêu chuyển trại. Tôi mừng vô cùng vì nghĩ cái trại sắp tới đời sống chắc không đến nỗi nào. Trước khi tôi đi tôi có động viên cái Mân nhưng coi bộ không ăn thua gì. Bạn biết không, từ ngày vào trại nó cứ lầm lầm lì lì không nói năng gì cả. Người ta cứ trêu nó là Mân điên nhưng tôi không muốn tin như thế. Để mình kể tiếp: Sau đó tôi ra tàu cảnh sát, nhìn qua bên phải thấy thành phố cảng đẹp ghê hồn bạn nhỉ. Ai dè bạn biết không bọn tôi bị chở đi hướng…trái, nghĩa là chỉ thấy núi và biển Hồng Kông càng lúc càng xa. Tôi tưởng bị trả về Việt Nam chứ. Nhiều người cũng tin như thế nên đã rục rịch triển khai một phương án đối phó. Rất may là bọn tôi chưa kịp hành động gì cả thì tàu đã cặp vào một hòn đảo lớn. Đảo đẹp vô cùng bạn ạ. Tôi cứ ước được đi dạo một vòng trên ấy thì có chết cũng thỏa. Vợ tôi thì ói mửa mật, nó không quen đi tàu cao nhanh như tàu cảnh sát. Riêng có cháu bé thì không hề hấn gì.
Bọn tôi đi bộ từ cầu tàu đến trại mất mười phút. Trại nằm sát biển, một bên là núi. Tôi ở cái trại dưới chân núi tên là Chi Ma Wuan Hạ, một số người đi lên trại trên gọi là Chi Ma Wuan Thượng. Lúc bọn tôi đến, cũng có một số người từ hai trại Chi Ma Wuan chuyển vô đất liền. Chúng tôi hỏi mới biết bọn người này đến trước ngày 16 tháng 6, họ được chuyển qua trại tỵ nạn. Tôi gặp một số người quen trong đám này. Bạn nhớ Sơn gù không, tay chơi bass có thời ở đoàn mình. Nó đi ngược hướng mình, thấy tôi nó nhào ra ôm đại bị một tay ở Cục Cải Huấn gõ ba toong lên đầu. Nó gửi lời thăm bạn và chúc bạn phấn đấu tốt. Nhìn Sơn gù tôi thấy tủi hổ cho thân phận bọn mình. Tôi còn gặp một số gái mù được người khác dẫn đi trong đoàn Sơn gù (Tôi biết điều đó vì nghe bọn chúng bàn về cô gái khi đi ngang qua). Tội nghiệp, không biết cô ta làm gì qua đây, vì đôi mắt như thế thì ở đâu mà chẳng vậy, có thấy đời là cái quái gì đâu!

Google images

Hải ạ! Tôi kể cho bạn nghe những sự cố nhục nhã đã xảy đến cho vợ chồng tôi. Lòng tôi đau đớn vô cùng khi nghĩ đến điều này, có lẽ tương lai tôi cũng xin về Việt Nam thôi.
Vợ chồng tôi được buồng trưởng bố trí cho ở trên một giường sắt ở tầng thứ ba. Buồng này nằm phía hướng biển, đêm đêm tôi có thể nhìn thấy những chiếc thuyền lơ lửng bên ngoài. Qua ô lưới rào, tôi hình dung cảnh sống tưng bừng ngoài kia rộn rã biết mấy. Có lẽ tôi đã sinh nhầm trong một cộng đồng thiếu văn minh, vị kỷ, bè phái và thậm chí còn dã man nữa.
Ban trật tự ở đây quy tụ toàn bọn đầu gấu, du thủ du thực. Bọn chúng cấm hút thuốc trong buồng. Tôi bị một thằng bắt đứng kiểu cò bay một chân, hai tay giơ ngang, rồi bắt một lúc phải hút tám điếu thuốc cho đến ngất đi vì lỡ dại hút lén điếu thuốc xin bọn A Xòe trong phòng. Một đêm vợ chồng tôi đang ngủ, cháu Ly nằm giữa, tôi nằm ngoài. Một thằng đầu gấu, cũng cái thằng bắt tôi hút tám điếu thuốc một lúc, hắn tên Minh, leo lên giường. Hắn gí dao vào lưng tôi, bắt nằm day mặt ra ngoài, rồi…hắn làm chuyện đó với vợ tôi. Tôi không thể nào kể tiếp, tôi khóc đây…
Bọn đầu gấu đánh đập tàn nhẫn những người dám kháng cự. Bọn chúng muốn lấy gì của ai là lấy, chính thằng Minh này đã hiếp gần tám chục, tôi nói tám chục cô gái nhẹ dạ khi mới chân ướt chân ráo vào trại. Nó bảo “Ngủ với anh đi rồi anh cho định cư”. Những người mới đến tưởng hắn là quan chức gì quan trọng vì hắn nghênh ngang trước mặt bọn A Xòe la hét, khi vỡ lẽ ra chỉ đành ôm hận mà thôi. Chính bọn Quản giáo A Xòe cũng khối đứa làm chuyện đồi bại đó. Cả trại ở trong không khí bàng hoàng sợ hãi, sự khủng bố đã lên cực điểm. Chúng tôi không có một thể chế nào bao che, những người dân mất nước ngậm nước mắt trong trái tim rỉ máu. Vợ chồng tôi cũng sống trong bầu không khí kinh hoàng ấy. Chúng tôi cùng ngượng ngập không muốn nhìn nhau. Lỗi tại tôi, một thằng chồng đớn hèn không bảo vệ nổi vợ mình, một thằng đàn ông ăn hại đái bát, tôi đã quá lo bảo vệ mạng sống bèo bọt của mình. Tôi…
Có phải chính chế độ cộng sản đã sinh sản những đứa như thằng Minh không, đã sản sinh những con người hèn như tôi, suốt cuộc đời không dám kháng cự, suốt cuộc đời không dám ăn ngay nói thật, chỉ biết cúi đầu cam chịu, đến khi chết, có lẽ cái hèn đó cũng không buông tha mình, nó theo mình xuống địa ngục, để nếu đầu thai làm người Việt Nam nữa, cái hèn nó sẽ đi theo. Tôi đã muốn tự tử là việc can đảm nhất của người hèn, ấy thế mà tôi làm cũng không được. Tôi sẽ bỏ cháu Ly lại cho ai?
Tôi viết thơ về nhà dặn đừng ai đi nữa. Chẳng thà sống trên đất nước mình, dù lắm điều xấu xa đê tiện nhưng những xấu xa đê tiện dù sao cũng được rải mỏng trên toàn đất nước, chia đều ra thì mỗi người chỉ chịu một ít mà thôi, còn ở đây mọi điều xấu tập trung lại trong một vuông đất nhỏ hẹp, cứ như là tinh hoa của bọn xấu đã qui tụ về đây, nổi bật sau hàng rào sắt và kẽm gai.
Tôi đã làm đơn tình nguyện xin về Việt Nam. Trong thâm tâm tôi, Hải ạ, vẫn nghĩ nếu được đầu thai làm kiếp khác thì tôi vẫn muốn là người Việt Nam. Tôi thèm bát canh rau dầm cà, tôi yêu những con đường dài lặng lẽ, tôi yêu nỗi buồn phiền, cái buồn buồn của cỏ cây xứ mình.
Tôi chúc bạn một lần nữa phấn đấu hoàn thành công tác tốt trên bước đường tìm tự do. Phần tôi, định mệnh đã an bài.
Chào bạn thân của tôi.
Phú kèn”
Nộp lá đơn xin hồi hương xong, Phú kèn thấp thỏm chờ đợi. Gã hình dung ngày vợ chồng gã bế con mặc áo rách về làng. Tất cả vốn liếng vay mượn, dành dụm của Phú kèn đã tiêu ra cho chuyến đi. Hàng xóm sẽ cười khinh miệt kẻ thất bại là gã, sẽ cho gã là ngu xuẩn khi lại xin về một nơi ai cũng muốn đi. Gã sẽ sống ra sao trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy. Nhà nước sẽ không bao giờ tha thứ cho những người như gã, kẻ phản nước, phản dân, chạy theo bã phồn vinh giả tạo. Gã là tên Việt kiều lỡ vận, thành thế ai mà thương xót kẻ cùng đường ấy!

Google images

Phú kèn hình dung một ngày mai cực kỳ đen tối và đau nhức. Gã trăn trở, không còn thấy một lối thoát nào nữa. Buổi sáng, Phú kèn qua buồng kế tìm ông kịch tác gia Lê Khắc cố vấn. Lê Khắc là con người trầm tĩnh và kín đáo. Ông đi một mình, vợ đã lấy chồng khác trong thời gian ông bị tập trung cải tạo ở Thanh Phong, Thanh Hóa. Khi khai lý lịch ở nhà giam, Lê Khắc ghi:
Họ và tên: Lê Khắc.
Bí danh: không.
Nghề nghiệp: Việt gian
Tội danh: (để trống)
Trú quán: vô gia cư
Nguyên quán: vô tổ quốc
Tình trạng gia đình: vô gia đình
Trình độ văn hóa: vô văn hóa
Công an chấp pháp đập ông một trận, lột mắt kiếng bẻ làm đôi, bắt khai lại. Nhưng Lê Khắc trước sau vẫn như một. Được thả sau 20 tháng cầm tù, Lê Khắc vượt biển, cái mắt kiếng gãy được ông ta chắp lại bằng keo, dính lỏng lẻo trên sống mũi. Ông lê la các buồng an ủi nạn nhân của bọn đầu gấu, trong đó có Phú kèn. Lê Khắc kể cuộc đời của ông ta cho Phú kèn nghe, bảo:
– Cậu biết nhục thì còn lương tri.
Ông ta gỡ mắt kiếng cận, chỉ vào chỗ gãy:
– Chừng nào chân lý bị bẻ làm đôi thì ta phải sống để hàn nó lại.
Lê Khắc khinh miệt bọn đầu gấu ra mặt. Chúng tức lập kế đánh ông một trận nằm liệt giường ba ngày. Ngày thứ tư, ông bảo những người tới thăm:
– Chân lý còn bẻ đôi, ta còn sống.
Ai cũng nghĩ Lê Khắc thuộc loại người gàn. Riêng Phú kèn nể tư cách ngạo nghễ của ông, biết người như Lê Khắc ôm hoài bão lớn. Đang đọc sách, thấy Phú kèn đến, ông bảo:
– Ngồi đó, kẻ sĩ của thời đại trại giam. Tôi sẽ dắt cậu vào lịch sử.
Lê Khắc gấp cuốn sách bằng chữ Tàu lại, lấy cọng kẽm làm dấu chỗ đọc dở, nói:
– Cậu biết đây là cuốn gì không? Ông trì ngón tay lên bìa cuốn sách đọc: “Thống Sử”, những gì mà chính sử không chép thì nó nằm cả ở đây. Truyện chép thời nam Tống, vua thì u mê, quan thì gian ác. Tôi đọc mà cứ ngỡ là thống sử thời đại ta vậy. Cậu nghe cái đoạn nầy, một quan nha mắng một quan nha, tôi chỉ đổi ít chữ thôi nhé:
“Muốn làm lãnh đạo giỏi thì trong tự điển lãnh đạo không có chữ nào gọi là lương tâm, phải gạt liêm sỉ, tập thói hung ác, xúi bọn giàu làm xấu để bắt chúng nộp tiền chuộc mạng, đứa nào chống thì đánh kỳ chết, đày lên rừng thông nước độc, đứa nào theo thì bắt chúng nạp vợ làm tin. Lãnh đạo giỏi mà còn chút lương tâm, liêm sỉ thì chỉ trị được nước trong thời bình, thời loạn ắt bị lật. Ấy là nguyên tắc của phép ngồi trên ăn trước. Lãnh đạo giỏi phải biết lật sấp lương tâm mà cai trị. Thế mới là thức thời”
Lê Khắc vỗ tay cười lớn. Chưa bao giờ Phú kèn thấy ông cười như vậy. Bình thường ông kín đáo, vầng trán nhăn nếp suy tư. Cười xong, Lê Khắc nói giọng trầm ngâm cố hữu:
– Cậu làm đơn xin về đấy à
– Anh cũng biết?
– Cậu quên tôi là nhà báo hả. Vả lại, bà con trong này biết nhau nhất cử nhất động. tôi hỏi thật: Cậu về vì cái vụ đó hay vì con đường mờ mịt.
Phú kèn qua để tìm người tâm sự, không dè được Lê Khắc mở lời trước. Gã đáp:
– Cả hai anh ạ.

Google images

Lê Khắc chế nước lạnh đun sôi từ ca nhựa ra chén. Cử chỉ thận trọng, mời Phú:
– Uống tí nước. Cả hai, hừm, cả hai. Cậu về nước thì làm nên trò trống gì?
– Em qua hỏi anh việc đó.
– Cậu mau quên nhỉ. Thế cậu đi làm gì. Đói quá đi à, tôi chắc cậu không phải loại đó; thấy người ta đi mình cũng đi, cũng không phải; đời sống trong nước khó thở, không phải nốt, khó thở chứ không phải không thở được. Trả lời tôi, thành thật nhau nhé.
– Em chỉ muốn ôm cái kèn thổi những gì mình muốn. Em biết mình mất tất cả nếu ở đây hay trở về. Nhưng đằng nào cũng là quê mình mà anh.
– Cậu tự suy nghĩ lấy. Không ai cho mình chân lý. Cậu hãy “lật ngửa tư duy” ra mà trăn trở, tìm tòi. Với tôi, dứt khoát là không về, dứt khoát cũng không ở lại đây.
Vài hôm sau, Lê Khắc đi tìm Phú kèn. Hai người ra đứng bên hàng rào, tì tay vô ổ lưới nhìn những hòn đảo mờ sương xa xăm ngoài biển. Ngay trước mặt họ là bãi cát gồ ghề đá. Một chiếc thuyền con đang neo vào bến đậu chờ khách, Phú kèn gợi:
– Hôm qua em thấy anh trả cuốn “Thống Sử” cho A Xòe.
– Ừ, tôi đã đọc xong.
– A Xòe có vẻ trọng anh.
– Cậu nghĩ thế? Bọn nó vẫn coi dân mình bằng một phần tư góc mắt. Một lũ hèn hạ ăn nhờ ở đậu, chạy trốn, mất phẩm giá. Thật không gì tàn mạt hơn nữa.
Bầy chim hải âu nhảy tung tăng trên bãi biển. Lê Khắc lưỡng lự hồi lâu mới nói:
– Tôi dứt khoát trốn trại. Điều này chỉ một mình cậu biết.
Phú kèn bàng hoàng một giây. Người đàn ông đứng tuổi nầy không đùa giỡn bao giờ:
– Anh trốn đi đâu?
– Ra ngoài Hồng Kông, tìm đường đến nước thứ…
Lê Khắc im bặt khi nhận diện một tên trong bọn đầu gấu đi lại. Hắn mặc áo ba lỗ bỏ vô cái quần bò chặt cứng, đầu sùm sụp nón tai bèo. Đôi mắt sau vành nón của hắn khiến Phú kèn run bắn. Lê Khắc bảo:
– Mát nhỉ. Giá gì tắm biển được thì nhất.
Tên đầu gấu đi thẳng. Phú kèn thở ra nhè nhẹ, hỏi:
– Làm sao anh sống được ngoài Hồng Kông?
Lê Khắc trầm ngâm:
– Tôi biết không đơn giản. Nhưng hề gì, tôi còn sống được trong “bao tải” ở Thanh Hóa, tôi tin là Hồng Kông sẽ khá hơn “bao tải” cậu ạ.
– Mà anh làm gì mới được chứ?
– Vốn liếng của tôi chỉ còn cái đầu. Ừ, để coi.
Lê Khắc lầm lì hoạch định phương án trốn trại. Ông đã dò hỏi, làm như chỉ vì tò mò, nhân viên Cao ủy và một thông dịch viên người Việt đến làm ở Chi Ma Wuan, con đường mà họ đã đến đây. Chỉ có hai ngả: một bằng tàu cảnh sát hay thuyền đi từ đảo Peng Châu, một đường bộ cắt núi (thấp) từ đường cái chạy đâu trên đảo này, đảo Lan Tau. Với khả năng đọc và nói tiếng Quan Thoại và Quảng Đông, ông lần dò hỏi thăm vài nhân viên Cải Huấn dễ tính về lối sống, cách sinh hoạt ngoài tự do. Lê Khắc đọc báo hằng ngày, tìm tòi và hình dung mạng lưới của xã hội Hồng Kông qua báo chí. Với đầu óc tinh tế và cực kỳ nhạy bén, ông từng bước hoạch định phương án trên cơ sở kiến thức thâu lượm được. Ông vững tin là mình sẽ thoát được hàng rào lưới, những cuộn kẽm gai lủng lẳng giăng bốn bề đến chim bay không lọt, và bốn trại canh ở bốn góc trại.

Google images

Từ khi biết ý định của Lê Khắc, Phú kèn ăn ngủ không yên. Gã thấy giống như chính gã sắp trốn trại vậy. Gã hình dung đủ thứ cực hình tra tấn man rợ mà bọn A Xòe và bọn đầu gấu sẽ dành cho Lê Khắc nếu ông bị bắt. Gã cứ đi giáp vòng hàng rào trại, túng quẫn như con gà bị nhốt trong chuồng. Hơi nóng từ một sân đổ bê tông bốc lên hừng hực, có khi gã thấy hoa mắt, e ngại nhìn những đứa trẻ bẩn thỉu đứng trốn nắng dưới mái hiên nước mũi chảy lò thò. Gã đi vòng vòng đến một hôm, cũng trưa nắng chang chang, Lê Khắc từ hướng kia đi lại chận đầu gã, bảo nhỏ:
– Vào chỗ tôi uống tí chè.
Những hộ ở buồng Lê Khắc tuyệt đại đa số là gia đình có con. Trẻ con, tuổi từ một tháng đến mười lăm làm nên một không khí náo động. Lê Khắc bảo:
– Cái Vân bên cạnh vừa ủng hộ ít chè tươi. Uống cậu, hừm…Buổi tối lắm lúc ngủ không được vì vợ chồng nó cứ lục đà lục đục. Con vợ biết điều thỉnh thoảng “chè nước” để tôi thông cảm.
Lê Khắc chỉ một thằng bé chừng mười tuổi, ngồi bên giường đối diện, hai mắt mở thao láo nói:
– Con cái Vân đấy. Người choắt lại vì tối nào cũng phải coi bố mẹ “làm việc”.
Ông thở dài nói:
– Hai mươi lăm phần trăm là trẻ con vị thành niên. Chúng được nuôi nấng trong hoàn cảnh đổ mồ hôi này. Khi lớn lên, nếu không bị bệnh tâm thần thì cũng thành kẻ bất thường, thậm chí cả bất lương nữa. Hỡi ơi!
Phú kèn đau đớn nhớ đêm nọ, cái Ly con gã bị đánh thức thình lình vì bàn chân đạp ra thình lình của tên đầu gấu. Con bé bật khóc the thé thấy bố mình nằm úp mặt một bên, còn mẹ mình nghiến răng chịu đựng. Con bé sẽ mang hình ảnh ô nhục của bố mẹ đến bao giờ? Lê Khắc cắ đứt dòng tư tưởng nhưng nhức của gã:
– Cậu suy nghĩ về việc rút đơn tình nguyện hồi hương chưa?
– Em chưa dứt khoát tư tưởng
– Tôi không khuyên cậu điều gì trong hoàn cảnh này. Cậu thấy đó, số người lên thanh lọc về chỉ có ăn “cánh gà”. Cái cơ may được bao nhiêu phần trăm? Một! cho dù tôi ở trong số một đó đi nữa, tôi cũng không đi tiếp kiến.
– Sao vậy?
– Tôi chống lối làm ăn tắc trách phản động của chúng nó. Tôi không chấp nhận để người khác lục vấn tư cách của mình.
– Vì thế…
– Đúng.
– Anh sẽ nói cho thế giới biết!
Lê Khắc cười khinh miệt. Khuôn mặt xương xẩu toát ra nét dữ dằn ngạo nghễ:
– Thế giới! Thằng mù trong phim “Hà Nội trong mắt ai” đâu cần biết thế giới này. Cậu hãy cho thằng mù cái máy chụp hình để nó chụp thế giới này. Thấy gì? Tôi chỉ làm bổn phận của một con người lương thiện biết tự trọng. Tôi sẽ xử tử thế giới bằng sự tự do của chính mình, do mình chọn lấy, không ai khác. Cậu hiểu chưa?
Tiếng ca nhựa lóc cóc các dãy buồng. Mọi người lục đục lãnh cơm trưa. Phú kèn nói:
– Em phải về lãnh cơm cho cháu.
Lê Khắc nói:
– Cậu lãnh đi, qua đây ăn với tôi bữa cơm trại cuối cùng.
Một đứa bé nghếch đầu lên giường Lê Khắc:
– Chú đưa ca cháu lãnh giùm cho
Lê Khắc đưa ca và thau nhựa cho đứa bé, ông khòm mình chổng mông trên giường, đầu chúi xuống vì thằng bé thấp quá với tay không tới. Cái mắt kiếng sút ra rơi đúng vào cái thau nhựa.

Google images

– Chết chửa, chú khéo đấy, không lại không thấy đường thì khổ.
– Cám ơn cháu.
Lê Khắc đeo kiếng vào lại, chờ Phú kèn. Một chập thằng bé mang thức ăn về, nó khoe:
– Hôm nay không phải ăn cánh gà chú ơi. Đậu phụ cơ.
Phú kèn cũng vừa đến, gã báo:
– Phải bón cho cháu.
Hai người ngồi xếp bành trên giường. Phú kèn lo sợ ngó quanh quất:
– Anh làm sao…
– Cứ ăn. Đâu vào đấy cả rồi.
– Em không dám nói gở, chỉ nghĩ dại anh có mệnh hệ gì.
Khuôn mặt Lê Khắc nghiêm trọng:
– Phải, nếu tôi gặp chuyện không may, cậu giúp tôi điều này được không,
– Anh cứ nói.
– Cái giỏ xách của tôi đấy. Chút xíu nữa cậu cẩn thận lấy cái bao thơ tôi để trong đó. Nếu tôi chết…
– Xin anh…
– Chết là cùng chứ gì. Nếu tôi chết, cậu tìm cách gửi nó cho nhân viên Cao ủy. Lá thơ tôi viết bằng tiếng Anh. Còn không nghe tin tức gì của tôi thì cậu cứ giữ lấy nó làm kỷ niệm.
Phú kèn suýt bật khóc. Gã thấy như đang nghe một lời vĩnh biệt. Gã gật đầu lia lịa, mắt mờ lệ. Gã đút lá thơ trong bụng, không dám nói một lời từ biệt. Thình lình gã nói:
– Em không có gì, xin kỷ niệm anh vật quý nhất phòng thân.
Phú kèn lận trong túi ra chiếc nhẫn cưới. Lê Khắc lắc đầu cương quyết:
– Tôi hiểu lòng cậu. Giữ nó mà lo cho vợ con, tôi đã chuẩn bị đủ.
– Em biết thế…
– Tôi dứt khoát không nhận.
Phú kèn cười méo xệch, gã thấy mình bỗng thông minh hơn ngày thường.
– Anh đừng vùng vằng thế kia, có thấy cái đám kia nó đang nhìn mình không. Em đi đây.
Gã bỏ chiếc nhẫn trong ca nhựa khéo léo, rồi tụt xuống giường đi ngay. Vài người tò mò nhìn vẻ xúc động của gã.
Lê Khắc bình tĩnh ngồi uống nước một mình. Ông xúc động trước tấm lòng của Phú kèn. Ông nhìn chiếc nhẫn vàng tây mỏng tanh nằm dưới đáy ca, lòng dào dạt cảm xúc. Nhớ sực ra thái độ bất thường của mình có thể gây chú ý, ông vờ lấy báo đọc. Những dòng chữ tàu nhảy múa. Chưa bao giờ Lê Khắc thấy mình thiếu tập trung đến thế.
Hoàng hôn đã xuống ngoài kia. Trời tối mờ, rồi tối hẳn. Lê Khắc nhập vào đám đông đang xúm xít quanh cái ti vi màu trong trại. Ông thương cảm những bộ mặt hốc hác đắm nhìn cái màn ảnh màu. Ông thương những kèn cựa thúc đẩy nhau. Chương trình cuối đang hồi gây cấn. Những cảnh làm tình lãng mạn, những nụ hôn kịch tính trên màn ảnh. Lê Khắc rời đám đông, đi dạo như ngày thường ông vẫn làm. Khuất một ngọn đèn cuối trại, ông rẽ ngoặt đứng trong bóng tối. tim ông đập thình thịch. Ông đã tập làm quen với phương án trốn trại hàng tối, nhưng sao đến lúc hành động ông vẫn không tránh khỏi sự bức xúc. Ông chăm chú quan sát cái chu vi hàng rào vuông nhỏ ông đã cứa sẵn nhiều đêm trước. Chợt một gã đàn ông đâu trong buồng gần chỗ Lê Khắc đứng đi ra. Gã ngó dáo dác nhìn ông tò mò rồi đi thẳng ra sân trại. Tim Lê Khắc thắt lại. Ông lại lắng nghe, sửa lại mắt kiếng. Tiếng trầm trồ từ đám người xem ti vi vọng lại. Ông cho tay vào túi lấy cái kềm nhỏ cắt thép. Cái kềm lao công khổ trí ông lấy cắp được của đám thợ từ bên ngoài vào trại làm việc. Lê Khắc lại nhìn trước nhìn sau, rồi từ tốn đi lại sát hàng rào nhìn ra biển như vẫn làm mọi đêm. Ông dùng ngũ quan để phán xét đằng sau. Ông cắt, cắt vòng một ô vuông nhỏ sát đất, rồi lại đứng lên trầm ngâm nhìn ra biển.

Google images

Bỗng có tiếng hỏi từ xa:
– Chú Khắc chưa đi ngủ đấy à?
Hai đầu gối ông muốn quị xuống. Thực tình ông đã nghe tiếng hỏi này nhiều đêm rồi, người hỏi chỉ hỏi cho có hỏi, chứ đã quen mắt với cảnh thằng cha nhà…văn hóa khùng đứng một mình trong bóng tối. Chờ tiếng chân người hỏi đi xa, Lê Khắc lập tức cắt mạnh mẽ, gấp rút. Mồ hôi ướt rịn trán, ướt nhẹp tay. Lê Khắc cương quyết cắt lần cuối, nếu bị phát hiện ngay lúc này thì ông cũng tuôn qua lỗ chạy. Gã gác trại ở cái chòi canh ở góc trại sẽ đuổi theo, sẽ bắn. Mặc kệ, ông đã đến phút cuối, ông đã cưỡi lên lưng cọp.
Lê Khắc ngửa người đút đầu ra trước. Không gian bỗng như ngào ngạt trải vô bờ trên mặt ông, cái hàng rào cao vòi vọi. Ông trườn lưng, xương sống cào cào vào lề bê tông đau điếng. Hai chân đạp mạnh, ông đã lọt ra ngoài hàng rào trại. Lê Khắc bẻ lại chỗ cắt, cằn người theo vệt đen của một cây cao hướng ra biển. Ông nhìn vô trại một lần chót rồi cắm đầu chạy băng qua cầu tàu. Đến chân núi, ông hối hả leo lên. Chạy, chạy! Lê Khắc băng qua đá, lên dốc, xuống dốc…
Ông đã tìm ra con đường mòn dẫn vào trại. Đi cách con đường chừng một thước, ông giảm bớt tốc độ. Ông biết đường còn dài phải giữ sức. Vài căn nhà lá lưa thưa im như nghĩa trang. Ông thấy biển khi hiện ra xa xa khi biến mất lúc qua một gò cao. Ông nhìn thấy những ánh đèn chớp nháy của tàu bè. Ông đi miết, hai đầu gối bắt đầu mỏi. Nếu đúng hướng và chắc chắn là đúng hướng vì đây là con đường dẫn vào Chi Ma Wuan độc đạo, ông sẽ đến làng Bối áo chỉ non một giờ nữa. Tới ngã ba làng Bối Áo, ông rẽ phải để ra bến phà.
Quả đúng như Lê Khắc tiên liệu, những ngôi nhà tầng đã hiện ra sau một ngã ba. Ánh đèn trắng ríu rít sức sống trên sườn núi sau những ngôi nhà ấy. Lê Khắc sửa áo, bình tĩnh đi như người dạo mát. Một con chó sủa inh ỏi khi ông đi ngang một căn nhà lợp ngói. Ông đã đến một con đường tráng nhựa vừa đủ hai chiếc xe chạy ngược nhau. Những hàng quán bên đường đã đóng, ngọn đèn trước cửa hiệu vẫn còn mờ, những ngọn đèn nghiêng nghiêng buồn bã trong đêm khuya đìu hiu vắng vẻ. Ông đi ngang qua một chiếc xe buýt sơn vàng đậu nghỉ đêm bên đường. Ông thấy trơ trọi quá. Cái ông đang tìm đã có, nhưng là sự hiện hữu cô độc ly khách trên đường vắng. Không một ai xung quanh chia sẻ nỗi niềm của ông. Lê Khắc ngồi xuống một phiến đá, những hàng cây cao rào rạt, sương đêm ướt đẫm…
Ông ôm mặt khóc thổn thức.







Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply