This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thủ hiến, từ Hán Việt, nghĩa là Cụ lớn, (xin nhớ bỏ dấu nặng) Daniel Andrews tiểu bang Victoria, Úc Châu rất khoái ‘hiện hình’ trên TV.
Tuy nhiên cứ 10 giờ sáng mở Truyền hình ra mà tui thấy mặt Cụ lớn là tui ớn chè đậu hè! Ớn vì lần nào cũng là thông điệp cà lăm nhưng rất quan trọng của chính phủ tiểu bang Victoria.
“Vì có hai ca nhiễm COVID-19 trong Cộng đồng nên toàn tiểu bang sẽ bị cô lập, sẽ bị giới nghiêm bắt đầu lúc 11:59 pm), ngày 12, tháng Giêng, năm 2021.
Ðứa quờ quạng là bị phạt 1,652 đô Úc đó nhe! Hỏi có tức hông chớ? Mới xả cảng đâu có bao lâu; sao mấy ông lại nhốt tụi tui vô chuồng hết ráo vậy hè?
Chẳng qua dân Úc từ hải ngoại trở về, hổng biết chư vị có mang theo con Covid-19 (biến thể của nước Anh lây lan rất nhanh qua không khí) để làm quà hội ngộ người xưa hay không? Nên ‘cẩn tắc vô áy náy’ mấy chả bèn đem nhốt hết ráo 14 ngày ở ba khách sạn Grand Hyatt, Park Royal và Holiday Inn.
Giới nghiêm lần thứ ba nầy, dù chỉ 5 ngày, nhưng buồn nào hơn đêm nay, nó lại rớt ngay vào ngày Mùng Một Tết ta. Hậu quả là đồ ăn, trước Tết, tui mua đầy một cái ‘trolley’, để dành đãi con cháu; đồ nhậu để đãi bạn hiền còn cả đống. Nhiều đến nỗi tui và em yêu dù có ráng mở cái mồm ra, khẩu độ tối đa như nòng pháo 105 ly, ăn tới Tết năm sau còn chưa có hết!
Ðồng tình với tui, một Chú Kangaroo la làng là: “Tui ngán tới cần cổ cái chính phủ vô dụng này. Tui kinh hoàng thấy họ chuyển người bị cách ly đi nơi khác mà trên đầu em lại trùm cái bao đựng rác!”.
Chính phủ Victoria phải đứng ra chịu trách nhiệm. Ðừng có thầy đổ bóng; bóng đổ thầy, đổ vòng vòng xong, rồi huề cả làng!
Tại sao chỉ cần búng tay cái chóc, trước 24 giờ để dân ngu khu đen chuẩn bị. Hậu quả là các nhà hàng tiệm bán bông chết cha hết ráo. Họ chỉ còn biết ngồi chửi đổng rồi khóc ròng vì hàng họ cho Tết Âm Lịch và Ngày Lễ Tình nhân vào cuối tuần coi như kể bỏ. Ðồ ăn để lâu hư, phải đem hiến cho Từ thiện. Hoa đã rũ tàn héo chỉ còn nước vụt vô thùng rác.
Lỗi đâu phải của họ đâu? Chính phủ Lao động Andrews phải bồi thường cho người ta chớ!
Vì 24 giờ qua, gần 40,000 xét nghiệm khắp tiểu bang Victoria không có thằng Coronavirus COVID-19 nào bị phát hiện hết ráo. Nên chánh phủ Victoria ‘giãn’ giới nghiêm, bắt đầu vào 11:59 pm tối ngày 17, tháng Hai, năm 2021 (mùng 6 Tết năm Tân Sửu).
‘Giãn’ giới nghiêm chớ chưa có bỏ hết à nha! Nghĩa là đã trói chặt tụi tui, không cho ăn Tết gì ráo; giờ thằng chả chỉ nới bớt dây trói mà thôi.
Cụ lớn Daniel Andrews đa nghi như Tào Tháo, chỉ cho mở cửa he hé mà thôi! Vì biết đâu con COVID-19 (và biến thể quái quỷ gì đó) còn núp lùm đâu đó trong cái Cộng đồng 6 triệu dân, nhỏ bằng cái lỗ mũi nầy.
Mở cửa hé hé có nghĩa là:
Ði đâu cũng phải mang theo khẩu trang để trùm vô mặt, vô mũi khi phải đứng gần thiên hạ. Như vậy khi ngồi gần em, ta yêu em và yêu em mãi mình chỉ được tháo khẩu trang ra khi muốn hun em một cái cho nó đã cái nhớ, cái thương.
Ăn nhậu tại nhà thì được tới 5 mống.
Em yêu được quyền đi chợ, đi tập thể dục để giữ eo. Vì 5 ngày. đi vô em ăn sạp sạp, đi ra cũng ăn sạp sạp hỏi làm sao mà không bị mập ú cho được chớ? Làm tui lâu lâu nhìn em yêu, lại cứ tưởng nhà tui có nuôi một con ‘Khủng Long’ để làm thú cưng!
***
Sầu đời, tui nằm gác chưn lên trán mà tự hỏi rằng: “Tại sao chánh phủ không chở cha con mấy đứa từ hải ngoại về ra một đảo dành cho du khách nào đó ngoài khơi, nơi khí trời thoáng mát, ‘virus’ ít lây lan. Chánh phủ trả tiền cho tụi nó đi chơi chắc mẻm là đứa nào cũng khoái. (Cũng còn đỡ tốn tiền hơn là nhốt cả 6 triệu người dân Victoria, làm nền kinh tế cứ mỗi ngày thiệt hại tới 100 triệu đô la.)
Tại sao lại đưa mấy đứa phải cách ly nầy lại sống chung đụng, tù túng trong một khách sạn ở ngay trung tâm thành phố rồi lây nhiễm tùm lum, tà la vậy mấy cha?
Với một dàn chuyên gia bằng cấp đầy mình, Giáo sư, Tiến sĩ cố vấn hổng lẽ cái chánh phủ nầy lại ngu như con bò tót? Cuối cùng tui tự phát giác ra rằng: bất cứ biến cố nào xảy ra và phải giải quyết như thế nào thì các chánh trị gia bao giờ cũng nghĩ tới hai chuyện danh và lợi cho cá nhân nó trước.
Ðể giữ ghế và tìm cách leo cao hơn.
Giải quyết vấn đề đó có chấm mút tiền chút cháo ‘bào ngư’ nào hay không?
Còn quyền lợi của người dân thì mấy chả chỉ nói nghe bùi hai cái lỗ tai, để xin phiếu mà thôi.
Tranh Bảo Huân
Kiểm dịch tào lao bắc đế như thế mà Cụ lớn Andrews vui mừng vui quá vui, đánh trống cắc cắc, tùng tùng như múa lân, thổi kèn ò e í e như đám ma để tự khen mình hay quá là hay.
Nói vậy mà hổng biết mắc cỡ gì mới báo!
Mất ăn Tết ta, năm chỉ một lần, làm tui giận xanh râu, phải tìm cách báo thù chớ! Bỏ qua sao được nè! Tui giờ chỉ chờ cuộc bầu cử Quốc hội Tiểu bang lần tới, tui sẽ dùng lá phiếu của mình để cho ‘băng đảng’ của ông ta biết thế nào là lễ độ!
Giờ thì đã xả ‘xú páp’ bớt cơn thịnh nộ, kẻo lên máu ngã lăn ra chết, bỏ em yêu cho thằng khác làm nô lệ cho em, thì uổng lắm, tui xin kể một câu chuyện kinh dị cho ‘quý vị’ nghe để giựt gân chơi. (Chớ không có cái vụ: ‘Chào mọi người’ như VC trong nước xài tiếng Việt một cách hỗn láo đâu nhe).
Một chú ‘Kangaroo’ bước vào một cửa hàng bán đồ cổ nhìn xung quanh. Ðột nhiên, Chú thấy bức tượng một con mèo Xiêm bằng đồng đen tuyệt đẹp.
“Ông chủ bức tượng Mèo Xiêm nầy giá bao nhiêu?”
“Bức tượng giá 200 đô la. Câu chuyện đi kèm với nó giá 2,000 đô la”
“Tôi không quan tâm đến câu chuyện, tôi chỉ muốn mua bức tượng.”
“Ðược rồi, nhưng tôi bảo đảm à ông bạn sẽ quay lại mua câu chuyện đó”
Chú Kangaroo mang theo bức tượng Mèo Xiêm bước ra khỏi cửa hàng, đi xuống phố. Khi đến chỗ dành cho người đi bộ qua đường, tình cờ Chú liếc nhìn về phía sau và thấy 3 hoặc 4 con mèo đang ngồi cách đó khoảng 5 mét, đang chăm chăm nhìn mình.
Chú nhún vai rồi tiếp tục đi qua vài dãy nhà khác, lại nhìn ra phía sau. Lần này có khoảng 30 con mèo đang ngồi đó chăm chăm nhìn Chú. Phát hoảng, Chú đi nhanh hơn, rồi chạy… càng lúc càng nhanh tới Bến Tàu ở cuối con đường. Chú ta phải chạy vì mỗi lần quay lại nhìn, càng ngày càng có nhiều con mèo ở phía sau đuổi theo. Khi đến Bến Tàu, Chú Kangaroo quay lại một lần nữa và thấy ít nhất 3,000 con mèo đang ngồi đó chăm chăm nhìn mình. Có rất nhiều mèo đến nỗi không có cách nào để xuống tới Bến Tàu mà không phải đi qua bọn chúng.
Trong cơn hoảng loạn như trong phim của Hitchcock, Chú quay về phía mặt nước và ném bức tượng Mèo ra càng xa càng tốt. Thật ngạc nhiên, tất cả những con mèo chạy vượt qua mặt Chú và nhảy ùm xuống nước nơi bức tượng đã chìm xuống.
Vẫn còn run rẩy, ngay lập tức, Chú chạy trở lại cửa hàng. Khi xông vào, chủ cửa hàng nhìn Chú và nói:
“Tôi đã nói với ông bạn rằng ông sẽ quay lại để nghe tui kể chuyện!”
Chú Kangaroo thở hổn hển: “Dẹp Mẹ câu chuyện Mèo kèm theo của ông đi! Tui hỏi ông có bán tượng của Cụ lớn ‘Daniel Andrews’, Thủ hiến tiểu bang Victoria hay không?”
Lệ Hoa biểu anh cởi quần. Quần tụt xuống lưng chừng ở đầu gối, vướng víu. Ô hay, cởi tuốt luốt luôn cả quần lót nữa chứ lị. Giọng sắc, đầy quyền uy, vang vọng trong bốn bức tường nhỏ. Mức độ gây nhiễu sóng phải vượt khỏi 80 decibel, nó át đi tiếng còi xe cứu thương hay xe cứu hoả vừa ré kêu vừa chạy vụt ngang bên ngoài toà cao ốc.
Mang vào tay đôi găng cao su mỏng manh, người sở hữu cái tên nghe như của một đào hát đẩy anh nằm sấp xuống tấm nệm nhỏ có trải tờ giấy trắng nhăn nhàu, sột soạt. Đó không hẳn là chiếc giường thông thường, nó lạ mặt trông như miếng đệm mà ở nhà bạn lôi nó ra dùng để ủi áo quần. Trước khi “ủi” anh, Lệ Hoa dùng đầu gối của bà để banh hai chân anh mở rộng ra. Bà mặc chiếc váy ngắn và qua xúc giác, anh cảm nhận rằng da thịt bà rất mát, mát hơn cả ống kem bà vừa nhặt lấy để bôi chất nhớt nhát rít ráy kia vào mông anh. Với chút thô bạo, có thể nói vậy, chẳng từ tốn chút nào, bà đã thọc một hoặc hai ngón tay vào hậu môn. Cơn đau thốn như đâm lên tới tận ngực bởi sự thăm thú kỳ lạ ấy. Hình như khi đi ở tù, ma mới sẽ được ma cũ tiếp đón nồng hậu bằng phương cách nọ. Trên bầu trời mênh mông người ta luôn sợ hãi một cái lỗ đen bất thần hiện ra, nhưng những cái lỗ đen nhỏ nhít khác luôn có sức quyến rũ, dằn vặt người ta, ám ảnh và xúi đầu óc mụ mị tìm đủ mọi cách để xâm phạm lấy, chiếm đoạt nó. Ở 63 tỉnh thành của xứ sở này hằng ngày vẫn có đôi ba kẻ hăm hở đi ở tù vì can tội hãm hiếp. Đàn bà cũng song hành vào bóc lịch vì căm hận, lỡ xuống tay thiến đi cái bu-gi từng gây máu lửa kia. Không có lửa làm sao có khói? Người ta rầu rỉ tự biện hộ. Khói lửa đến với anh khoảng mươi bữa trước khi cùng lũ bạn cũ kéo nhau đi nhậu nhẹt ăn mừng đoàn viên bốn mươi năm tình cũ. Anh cứ phải đi giải thuỷ miết, thấy không ổn chút nào bởi cái lê thân lắc nhắc nọ một thằng bạn đã phán: Mẹ! Vậy là mày dính chấu rồi. Nó rộng lòng bày đường chỉ lối, cái mà mày băn khoăn duy nhất, đó là cái phong bì ngó sao cho tử tế. Nhập gia tuỳ tục, qua lễ nghi, giờ này anh lọt thân được ngồi trong cái clinique hiện đại này.
Không nói năng, Lệ Hoa ra hiệu và dùng tay lật người anh nằm ngửa ra, bà ngó chăm vào dương vật rồi khởi sự dùng tay mân mê nó. Anh nhắm nghiền đôi mắt, cảm giác khó cắt nghĩa đang phủ chụp xuống người. Đó không hẳn là một sự hổ thẹn, người anh bắt đầu nóng, râm ran, châm chích. Năm ngón thay đổi vị trí, ngũ chỉ thần công đang bò xuống nựng nịu hai hòn dái hổ ngươi trốn trong cái bìu èo uột. Cố ngăn chận những ý nghĩ ám tối, anh thử nhớ lại thời điểm làm tình gần đây nhất, dọn lòng để đón đợi những câu hỏi gay cấn nhưng Lệ Hoa chẳng màng đá động tới. Bà không phải là bác sĩ phụ trách giải đáp tâm tư cho những đôi vợ chồng hiếm muộn con cái. Đi đái có dễ không? Anh thưa: Cũng không mấy khó, có lúc buồn tiểu tới nơi lại phải đứng đợi khá lâu mới được thông nòng. Một đêm đi đái mấy lần? Dạ, khoảng ba lần. Khoảng cách mỗi lần? Độ chừng hai ba giờ. Được, kéo quần lên đi. Có từng nghe qua chữ Prostate lần nào chưa? Dạ chưa. Nôm na đó là tiền liệt tuyến, là bệnh của đàn ông, hiểu không? Đại trượng phu vượt qua ngũ thập đa phần đều mắc phải, đều bị nó đón đầu. Tôi nghĩ ông nên đi xét nghiệm MRI rồi làm biopsy một lần cho rõ trắng đen. Trước mắt, tôi giới thiệu ông đi thử máu, tuần sau chúng ta gặp lại nhau.
Anh nắm lấy bàn tay phải mà Lệ Hoa vừa đưa ra, bắt chặc trước một tạm biệt kiểu cách. Tay thôi mang găng nhưng nó chẳng nuột nà mềm mại như vẫn có trên đôi tay của một nữ nhân. Trước khi bước vào phòng khám anh đã chuẩn bị tinh thần để đón nhận bao xấu xa tồi tệ về sức khoẻ anh đang rước phải, cái anh thiếu trang bị là anh không tưởng được vị bác sĩ chẩn bệnh lại là một người nữ. Một madame nhan sắc khá mặn mòi, ngoài bốn chục mà eo thon ngực nở, và… mát tay. Có thể do phần hành công việc buộc phải táy máy sờ soạn lung tung khiến bà hơi bẳn gắt chút đỉnh. Một người suốt ngày cứ ngắm chim cò thiên hạ biểu sao khiến họ vui thú được, nhất là chim cò nọ đang có vấn đề, mang cùng vẻ mặt xìu xìu ển ển tựa nhau. Cá mè một lứa, phải ướp muối chứ không tươi để vặn mình vặn mẩy sừng sộ nhảy đành đạch một cách thất thế.
Anh bước xuống đường ăn khớp với tiếng chuông reo phát ra từ cái điện thoại thông minh ẩn kín trước ngực. Anh về nước không lâu, đâu khoảng nửa tháng nhưng cái iPhone 6 này anh mới tậu ba hôm trước đây. Vật bất ly thân ban đầu thì đãng trí để một anh quái xế chạy xẹt ngang giật mất tiêu khi vừa mới nói được vỏn vẹn hai âm: A-lô. Bên kia đường truyền của sóng là ai? Chả biết. Chỉ biết ba hồn bảy vía đã lộn lui để khỏi hoa mắt nhìn thằng diệu thủ thư sinh nhăn răng cười khi nó ngoái đầu trông con mồi lạc hậu đứng chôn chân không phản ứng như một kẻ ngoài hành tinh.
Lần này thì rõ là có kinh nghiệm xương máu, nói a-lô khi đã dựa thân áp sát người bên một thân cây vững vàng chưa bị đốn hạ trên con đường nhiều bóng nắng. Chú xong rồi chưa ạ? Cháu mang xe lại đón. Sao lại là cháu? Thế ba đâu? Ông già nhậu oắt cần câu biểu cháu làm Lê Lai liều mình cứu chúa. Sau câu pha trò là tràng cười khúc khích nghe rất đỗi êm tai. Loan thích cười và môi miệng kia luôn đẩy ra ngoài cái cung bậc dòn dã đầy sức sống đè lên và át mất sự hợp âm bát nháo giữa hiện trường một quán ăn, một cuộc nhậu thường không dưới mười chiến hữu tranh nhau ăn nói. Anh từng nhận xét và Loan nói không suy tính, tại sự có mặt đường đột của chú khiến vậy, bình thường Loan ít cười, quanh đây có gì vui thú đâu mà cười?
Không quá mười lăm phút, Loan cỡi chiếc xe gắn máy nhiều phân khối thắng đứng bên thân cây. Biết vậy thì chú gọi chiếc taxi e tiện cho Loan hơn. Chú sợ điều gì? Đừng khi dễ, cháu chạy xe xịn lắm à nghen. Vừa nói Loan vừa trao cho anh cái nón bảo vệ đầu. Leo lên đi, chỉ cần ôm cháu cho thật chặt thì sẽ an toàn xa lộ. Loan không ốm chẳng mập nhưng người tròn trịa đầy nữ tính. Lưng áo thun có chỗ mồ hôi ngấm chưa kịp bốc hơi, anh áp mặt vào đó rồi không dưng nói ra cái ước muốn vừa hình thành: Giá mà chạy xe một lèo ra tuốt ngoài Vũng Tàu, thèm vọc nước biển quá. Thèm thật không? Ngoài biển, chú thèm gì khác? Thèm một thứ cảm giác căng thẳng, thèm gây án chẳng hạn. Ví dụ? Nếu Loan chạy xe ngon lành hãy đi sát vào một đối tượng nào đó để chú giật giây chuyền hoặc đồng hồ hoặc máy tính bảng các thứ… Khó tin quá, một Việt kiều lợi dụng vỏ bọc ngon cơm để đi trộm cướp lẻ tẻ đã bị sa lưới vào tay các an ninh phòng chống tội phạm. Báo chí giật tít như vậy, nghe không sướng, không đẳng cấp. Anh mơ màng: Thế nào là đẳng cấp hơn?
Người Loan thơm, cơ thể tự phát tiết ra hương mùi chớ không do mỹ phẩm tác động. Gió trên đường có can dự vào để bào mòn đi nhưng dẫu sao thì mũi anh đang cắm sâu cái khứu giác ở một vị trí quá đỗi thuận lợi. Ngất ngây một hương đồng cỏ nội mà đi tơ tưởng tới miệt biển mặn muối để dầm mình thì quả là hư đốn, đáng bị khiển trách. Chú đói bụng không? Thích ăn những gì? Chưa thấy đói, hai ba tiếng nữa hẳn tính cái bỏ bụng. Vẫn nuôi ý định đi săn lùng một cảm giác lạ? Vẫn, nhưng hoang mang sợ bị phát hiện bể ổ. Quên hỏi chú về bệnh tình. Bác sĩ bảo sao? Cũng tạm, qua hạng tuổi năm chục, con người không mắc thứ này cũng bị yếu đi đôi ba bộ phận trên người lỏng lẻo. Đố Loan, có biết bệnh đàn ông là gì không? Trả lời đúng thì chú tính sao? Phần thưởng là gì? Câu trả lời vắn tắc là ưa dòm gái, càng hở hang càng chú mục vào. Ưa có bồ nhí, ưa thói trăng hoa, ưa chung chạ dù biết người ấy đã có chồng, ưa hẹn hò, ưa ngủ chung, ưa ngoại tình. Xưa nay đàn ông đều duy có mỗi chứng bệnh ấy. Sai, sai hoàn toàn. Tuần sau chú sẽ đi xét nghiệm máu, sẽ chui vào nằm trong cái máy hệt như một cỗ quan tài. Kết quả nó đưa ra: Có phải bạn đang mắc căn bệnh đàn ông. Loan có hay đi giải thuỷ lắc nhắc không, năm canh trường mà lục đục dậy những ba bốn lần. Nếu y bon thì xem như Loan dính phải bệnh đàn bà. Hai vợ chồng cùng mang chung một căn bệnh thì loan phượng kia chỉ có đứa hy sinh chịu vất vả chút đỉnh: Em có dậy đi tiểu thì cho anh biết để gửi ké với. Chú nói tầm bậy gì đâu không. Bệnh đàn bà chỉ tập trung vào hai nơi: Ung thư vú hoặc ung thư tử cung. Hai thôi cũng đủ nát ngọc tan hoa rồi. Phải chi trần thế xúi con người giản lược bớt rắc rối, chỉ Sinh rồi tới Lão rồi chấm dứt bằng Tử có phải sướng thây không? Có chữ Bệnh chen chân vào sao nghe u ám cuộc đời vô hậu!
Xe chạy tới khách sạn nơi anh mướn ngụ thì thắng đứng. Loan nói, không riêng chú, cũng có người muốn thử cảm giác mạnh. Buông cháu ra, bước xuống đợi cháu đi gửi xe. Nghe chú nói sao tự nhiên buồn tiểu muốn chết. Nhân viên phục vụ trong khách sạn 3 sao này đã quen mặt Loan những lần cô đi cùng mấy ông bạn già tới kêu anh đi nhậu. Trong trí họ thằng chả Việt kiều nọ vừa tìm ra được cô cháu gái thất lạc đã lâu và cảnh đoàn tụ nào cũng khiến người ta cảm động. Chả xa xứ hồi còn trai tơ, cháu gái hậu phương chưa có cơ duyên chào đời; giờ chả về tóc đã đổi màu phong sương và con bé xa mặt cách lòng bi chừ đã ngồn ngộn điện nước đầy đủ. Nó lanh lợi soi đường chỉ lối, nó can trường làm hướng dẫn viên du lịch dắt thằng chả đi dã ngoại lia chia, mỏi gối chồn chân thì về đây mà tắm rửa nghỉ ngơi đặng tính toan tới phương án khác. Tình chú cháu thì ngàn đời êm ả như thủ túc, đùm bọc quyết không cho môi hở răng lạnh vậy!
Khi lên tới phòng Loan lật đật đi đái thật. Giải thuỷ xong sẵn trớn thoát y, lăng ba vi bộ có ba bước là sang bồn tắm. Tiếng những móc khoen nơi tấm màn ny lông xô động kêu lãnh lót khi được kéo căng ra, ngăn chia làm hai lãnh thổ một bên khô ráo và bên kia tuôn ra từ vòi sen xào xạc tiếng mưa rơi ào ạt úng thuỷ dầm dề. Mưa ngoài trời làm người ta hoá thân thành con chuột lột vắt ra nước nhưng mưa trong phòng tắm khiến thân người ta chóng khô như thể muôn đời thuỷ chẳng tài nào cứu hoả. Loan bước ra, ngùn ngụt ngọn lửa thắp cháy quanh người, đi tới đâu bỏng rát tới đó. Chẳng phải vô cớ mà những thằng thanh niên Tây tà ngọng nghịu nói không tròn lời: Oh! So hot baby…
Bác sĩ khám xong có biểu chú mua thuốc uống không? Không, ừ nhỉ, sao bà ấy không chịu ghi toa cho con bệnh cà? Bà chứ không phải ông à? Ừ, lại đẹp gái, lại chưa già. Kỳ cục vậy, thế bả bỏ băng qua giai đoạn kiểm tra súng ống của chú à? Có chứ, làm như đàn bà thì phải mắc cở ấy, bả lạnh lùng sờ soạn, mân mê, nắn gân đủ kiểu. Bả phê bình hay khuyên nhủ điều gì không? Không, thiệt hú hồn!
Loan tới sát bên giường, từ tư thế ngồi anh bị Loan xô té nhào xuống mặt nệm. Tuy không mấy lớn nhưng rõ ràng đó là một cái giường hẳn hoi, chẳng kiểu cọ thay đổi dáng như đằng phòng khám bệnh. Điều này đồng nghĩa với việc Loan sẽ không “ủi” được anh, Loan chỉ toàn quyền “hấp, tẩy, nhuộm” hoặc xâu chỉ luồn kim. Anh bị lột truồng ra. Tủi hổ thật, trên năm mươi người ta có rất nhiều thứ cần che dấu. Người ta bỏ lại tuổi trẻ bên nẻo đường khuất xa, tiếc nuối thời oanh liệt mình trần trai tráng ưỡn ngực phóng người xuống sông vùng vẫy thoả thích với vai u thịt bắp. Người ta đã chẳng thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông.
Loan trút bỏ chiếc khăn tắm lớn khỏi thân để khỏi vướng víu khi năng nổ lao động sờ mó y như bà bác sĩ Lệ Hoa vừa làm. Hình như chú hơi bị thiếu vitamin Đê. Là sao? Đê là mẫu tự viết tắc cho động từ ấy, lý ra bà ta nên ghi toa cho chú mua vài viên Viagra. Lần anh thì anh thôi nhắm trít mắt lại, anh quan sát Loan và phát hiện mái tóc bên dưới của cô cháu có cắt tỉa gọn gàng trông rất nghệ thuật. Một loại nghệ thuật ấn tượng, rất hiện đại, rất bắt mắt. Khi người ta bỏ công trau chuốt tới vật thể gì, hiển nhiên người ta sẽ kiếm cách phô bày nó cho người dưng thưởng ngoạn. Bây giờ chú giả làm bác sĩ đi và cháu là bệnh nhân có vấn đề ở cửa mình. Loan rên lên, hãy khám cháu đi, hãy sờ soạn thăm dò cháu đi, bằng tất cả những gì chú có, mắt mũi môi miệng lưỡi tay…Đừng vội vã, hãy thong dong. Điện thoại di động của chú đâu? Chi vậy? Chú không muốn ghi lại hình ảnh này sao?
Chỉ đột ngột nói ra thế thôi, cả hai tuyệt chẳng muốn rời bỏ một hiện trường đang vấy sẵn những nhàu nát trên tấm khăn trải nệm. Lời đề nghị ấy nên quên đi, bởi vô tình nó gieo vào đầu óc một hình ảnh tồi tệ: Sẽ dùng thước phim nọ để làm tiền làm tội nhau trước khi hai đứa tách rời đi ngược hướng. Thuỷ chung Loan vẫn ngồi trên người anh, cô chủ động dắt anh vào cuộc lữ mụ mị thần sắc của ta bà thế giới. Loan hướng dẫn anh nhập cuộc vào chuyến hành hương mà muốn lên tới đỉnh ta buộc phải đánh rơi bao toan tính đắn đo bên triền vực tăm tối. Chú có yêu Loan không? Anh nói: Yêu. Anh thở hắt ra và cơ thể Loan từ tốn đóng lại những miệng núi lửa. Cô hỏi: Chú sướng không? Anh nói: Sướng. Lát nữa mình đi ăn, đúng không? Đúng. Ăn xong chú tính làm gì? Không biết. Loan thì sao? Cháu sẽ lấy của chú một triệu. Lại đi shopping à? Không, đi tới chỗ xăm hình nhờ họ trổ cái tên chú ở chỗ này. Loan chỉ vùng bình nguyên mượt mà nằm dưới lỗ rốn khá xa. Có nên không? Anh hỏi với chút ngần ngại. Tommy, đâu ai hay biết đó là cha căng chú kiết nào mà lo. Chú cũng lạ kỳ, qua xứ người thiếu gì tên gọi hay ho khi không đè Tommy mà chọn, phát âm làm liên tưởng tới nhãn hiệu mì ăn liền hiệu con tôm. Loan cười, vẫn là thứ âm thanh rộn rã của những hòn ngọc va chạm nhau. Đôi khi đói lòng, mì con tôm cũng nên liệt vào danh sách những món ăn ngon miệng. Cám ơn con tôm bé nhỏ của cháu. Loan hôn anh và dùng tay nghịch lấy cái biểu tượng của giống đực. Ngày hôm nay, chẳng hiểu sao nó phải trần thân hứng chịu biết bao trận đụng độ, đi qua dưới bao hòn tên mũi đạn, chui sâu vào địa đạo Loan mà chưa nghe ai ca ngợi nó là anh hùng chính hiệu. Mỉa mai thay, mai hậu khi xét nghiệm về căn bệnh đàn ông, chính nó sẽ khạc ra máu, công bằng như đàn bà khi có tháng. Kinh nguyệt Loan có vận hành suông sẻ không? Sao chú hỏi câu nghe lãng xẹt? Tháng tới nếu nó đình công bãi thị thì đích thị là cháu mang thai. Chú ngán không?
Dẫu biết siêng đi đái một cách vô cớ anh vẫn thèm khát một cốc nước ngọt mát lạnh để uống một hơi cho lại thần hồn. Tự dưng trong đầu anh mường tượng ra hình ảnh một phi cảng chộn rộn tiếng động, chuyến bay dài xuyên lục địa mang anh về lại chốn nương náu quen thuộc, ở đó anh còn chống chọi cuộc đời thêm những 15 năm mới hết xí quách, mới bất lực, mới ăn tiền già, mới lui cui sân trước vườn sau. Một bức tranh ảm đạm hiện tới. Một toàn cảnh nhiều sắc xám can dự. Nhưng khi ẩn mình vào đó, người ta ý thức được cái vận hành đầy an toàn. Không rụng một sợi lông. An toàn tuyệt đối. Anh sẽ ngồi ngắm biết bao cơ man là gái đẹp tóc vàng sợi nhỏ diễu hành ngang qua. Mê man. Anh là thành viên trong khối NATO. No Action Talk Only. Bó tay chẳng hành động được gì. Xin chớ trách móc thằng cha già dịch. Ấy, bệnh đàn ông mà. Thấy gái đẹp không dòm cũng phí.
Dậy mặc áo quần đi ăn chú. Loan nói. Ăn xong, xâm mình xong, lần này cho chú nằm trên. Hãy chơi cháu đi, cho bỏ những ngày cơ cực. Loan pha sự dâm đãng nhuộm kín trơn tru từng con chữ. Anh vật Loan xuống, anh thầm thì: Anh yêu em.
Sau tháng 4/1975, cả miền Nam lâm vào hoàn cảnh hết sức nghiệt ngã. Nhiều gia đình phân ly tan vỡ. Tôi, sau 10 năm tù rạc, trở về gặp người bạn cũ và kể lại chuyện này. Phần cuối của chuyện, tôi mượn triết lý “Câu Chuyện Dòng Sông” – Hermann Hesse – Phùng Thăng dịch, để nói lên cái quan niệm sống của bạn tôi.
Lâm Chương
1.
Phạm Văn Gầm nhìn đời bằng một con mắt. Từ ngày anh nhìn theo cái kiểu này thì đời cũng liên tiếp quất cho anh những đòn chí tử. Đau nhất là đòn của vợ anh. Ngón đòn ê ẩm thấu tim gan. Có lúc uất quá, anh muốn giết người. Cũng may, anh kịp dằn lòng. Nếu không, chắc đời đã nghiền nát anh rồi.
Muốn rõ ngọn ngành, phải kể dông dài đầu đuôi câu chuyện.
Gầm là tay có học, nhưng trong thời bát nháo, kẻ không dựa vào thế lực người khác ắt khó được đời trọng dụng. Chán mớ đời, lại đang tuổi động viên không chạy đàng trời nào cho khỏi. Anh vào lính Nghĩa Quân lẩn quẩn ở quê nhà. Những ngày gần cuối tháng Tư, năm 1975, tình hình quân sự rất bi đát. Những đơn vị bạn đã thoái binh từ hai ngày trước. Đồn Nghĩa Quân không còn ai yểm trợ. Bị cô thế, thằng cha trung đội trưởng Nghĩa Quân dẫn anh em chạy bỏ đồn, tìm nơi kháng cự. Trên mặt đất có nhiều đường chạy. Trời xui đất khiến thế nào lại chạy vào ngõ cụt, phía bờ sông Vàm Cỏ Đông. Chui vô khu rừng tràm. Cố thủ trong một nơi sình lầy nước đọng. Địa thế tác chiến bất lợi trăm bề. Trước mặt là đồng ruộng, sau lưng là con sông lớn. Nếu bị tấn công, rút lui ngả nào?
Nói cố thủ cho oai, chứ thật ra chả đánh đấm mẹ gì. Quân chính quy Bắc Việt đang dồn nỗ lực về thủ đô. Ở đây, chỉ còn le hoe một số du kích địa phương. Du kích đứng từ bìa làng, phóng loa kêu gọi Nghĩa Quân đầu hàng.
Trung đội trưởng nói với anh em: “Cố thủ, chờ quân mình phản công. Tên dép râu nào xông vô, bắn bể đầu cho tao.”
Kêu gọi không được, du kích dùng súng cối 60 bắn vào khu rừng tràm. Súng mới lấy được của một đơn vị thoái binh nào đó bỏ lại. Du kích chưa quen sử dụng nên trái rớt bên đông, trái rớt bên tây. Cũng có trái lọt vào rừng tràm. Chính trái đạn quái ác này văng miểng làm bị thương con mắt trái của Gầm. Vết thương không trầm trọng, nhưng do điều kiện thiếu vệ sinh nên nhiễm trùng, gây đau nhức khó chịu.
Sau mấy ngày cố thủ, hết lương thực mà viện binh không thấy, cũng không liên lạc vô tuyến được với đơn vị bạn. Túng thế, anh em Nghĩa Quân cho Gầm đi một mình ra đầu hàng, mục đích để được chữa thương. Lúc đó, anh mới biết lệnh đầu hàng đã tuyên bố từ ba hôm trước. Du kích bảo anh quay trở lại rừng tràm, báo tin này cho anh em Nghĩa Quân. Khi tất cả Nghĩa Quân chịu buông súng trở ra thì con mắt của Gầm đã vô phương cứu chữa. Một y tá địa phương giúp anh múc tròng mắt hư bỏ đi. Từ đó, Gầm nhìn đời bằng một con mắt.
Cuộc đời chung, vốn nhiều xấu xa bỉ ổi. Nhìn rõ mặt đời quá, nhiều khi lại đâm ra chán đời. Thà nhìn bằng một con mắt, may ra còn thấy đời mờ mờ hư ảo dễ thương. Gầm tự an ủi như thế, và quyết tâm làm lại cuộc đời riêng của mình. Xây dựng một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Chẳng phải Gầm vẫn mong một ngày đất nước bình yên, vất cây súng, nắm lấy tay cày bừa sinh sống hay sao? Đêm đêm, không còn nghe tiếng súng, ngủ khỏi giật mình là sướng rồi.
Việt Cộng vào, tự xưng cách mạng. Gầm là lính trơn, chỉ phải học tập chính sách mới một tuần, được cách mạng cho về làm ăn. Xóa bỏ hận thù, xóa bỏ những tàn tích cũ, cùng nhau xây dựng lại một xã hội yên bình tốt đẹp hơn. Tổ chức ngăn nắp, quy củ rõ ràng. Có nhóm, có tổ, có khóm, có phường. Người ta bảo tổ chức như thế để giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn. Cách giải thích nghe có lý có tình, nhưng thật ra là để dòm ngó kiểm soát lẫn nhau. Vợ Gầm cũng tích cực tham gia hoạt động xã hội mới. Bây giờ, chị là hội viên Hội Phụ Nữ của xã. Cứ vài hôm, lại đi họp một lần. Chẳng biết khi họp, họ nói với nhau những gì. Về nhà, trông chị phấn khởi yêu đời thấy rõ. Gầm mừng. Vợ vui là anh vui. Người đàn ông nào cũng muốn đem lại hạnh phúc cho vợ. Gầm cũng thế. Càng thương hơn nữa, chị không hề chê anh khuyết tật. Mọi người bình đẳng, theo cách nói “con người vốn quý” của cách mạng.
Niềm vui trong gia đình kéo dài không lâu. Sau này, vợ Gầm đi họp thường xuyên hơn. Lắm khi, chị đi đến khuya lắc mới về. Và chị về không phải với gương mặt tươi tắn yêu đời như anh hằng mong đợi. Chị hay kiếm cớ gây sự, mắng mỏ anh nhiều câu hỗn láo, cho rằng kết duyên với anh là một lầm lỗi lớn trong đời chị. Chuyện gối chăn, cũng không còn đậm tình chồng vợ. Chị tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt, khước từ lảng tránh ái ân.
Sau chiến tranh, đất nước lâm vào nỗi nghèo nàn cơ cực. Muốn nâng cao phúc lợi toàn dân, phải có kế hoạch lâu dài. Cách mạng phát động phong trào thi đua lao động. Làm thủy lợi, đắp đập đào mương, dẫn thủy nhập điền. Là lính Nghĩa Quân của chế độ cũ, dĩ nhiên Gầm được chọn làm đối tượng “lao động là vinh quang” của chế độ mới. Cái khẩu hiệu mới nghe có vẻ sáng ngời, nhưng đủ sức vắt cạn tinh lực con người đến chết. Ngoài việc thủy lợi như bao nhiêu người dân khác, những kẻ được liệt vào thành phần ngụy quân ngụy quyền còn được cách mạng tận tình chiếu cố, làm thêm công tác tháo gỡ mìn bẫy nơi các đồn bót cũ. Mìn chôn dưới mặt đất, ló lên cái ngòi kích hỏa như sợi râu con dế lẫn trong cỏ, khó nhìn thấy. Phương tiện dò mìn là chiếc gậy nhọn đầu, chọt chĩa khều móc theo những hàng rào kẽm gai. Trái mìn nào nổ, coi như xong. Trái nào chưa nổ, phải tìm cách moi lên và vô hiệu hóa. Đã có nhiều người bỏ mạng, hoặc sút tay gãy gọng vì công tác này rồi. Gầm may mắn, không bị hề hấn gì. Trước sự việc này, cách mạng lý luận, các anh gài mìn thì các anh phải tháo gỡ thôi. Hết chiến tranh, còn duy trì những thứ chết người đó làm chi? Cũng đúng thôi! Lý của cách mạng, bao giờ mà chả đúng? Mỗi chuyến công tác chừng mươi bữa nửa tháng. Về nhà chưa nóng đít, Gầm lại có lệnh đi công tác nữa.
Thời gian này, Gầm nghe lời đồn đãi bóng gió về chuyện lén lút lăng nhăng của vợ anh với viên xã ủy. Anh hỏi vợ. Chị lồng lên, xỉa xói vào mặt anh bằng đủ thứ ngôn từ chanh chua của mấy mụ chuyên môn ăn cắp vặt ở những khu chợ đông người. Mồm miệng nào mà đấu khẩu cho lại con vợ điêu ngoa? Gầm nhịn. Càng về sau, chị càng lộng hành công khai đi lại với viên xã ủy, coi chồng chẳng ra chi. Gầm tức, toan giết kẻ gian dâm với vợ anh, nhưng con gà thất thế, muốn vói lên mổ con chó sói là điều không dễ. Kiện thưa ư? Luật lệ địa phương nằm trong tay của viên xã ủy. Nó chưa triệt tiêu Gầm, đã là điều may. Đòi hỏi công lý là điều không tưởng. Chẳng làm gì được kẻ có quyền, Gầm quay ra chửi vợ. Chị cũng không vừa, rủa lại anh là thứ “voi một ngà, người ta một mắt”, ám chỉ tính hung dữ thể hiện qua sự dị hình. Bị chạm vào khuyết tật, Gầm đau như ngực bị đâm dao nhọn. Manh nha trong đầu Gầm ý tưởng tùng xẻo con vợ, rồi thắt cổ tự vận luôn. Cái lưỡi lê từ thời còn đi lính, chưa bén máu người. Lần này, nó sẽ được dùng để trừng trị một con đàn bà trắc nết. Gầm tưởng tượng vợ anh sẽ đau đớn rên la và quằn quại trên vũng máu. Một hình ảnh ghê khiếp quá, chưa thi hành mà anh đã rợn. Ngay vào thời chiến tranh, anh cũng không nhẫn tâm làm điều đó với đối phương, huống chi bây giờ hành sử với người đã từng cùng chung chăn gối? Nhiều đêm trăn trở, Gầm tự hỏi, con đàn bà lăng loàn hư đốn này có đáng để anh đánh đổi luôn mạng sống của mình? Câu hỏi, làm anh tỉnh thức. Lòng anh chùng lại. Sau cùng, anh quyết định bỏ đi. Có kẻ chê anh hèn nhát. Cũng có người thấu lẽ đời, cho thế là khôn. Anh ở lại, chẳng những không làm sứt mẻ được ai, nhiều khi còn nguy đến tính mạng. Viên xã ủy đâu muốn thấy một cái gai trước mắt? Gầm tự hiểu, và lánh mặt trước khi trở thành con sâu cái kiến bị chà đạp.
2.
Tôi trở lại quê nhà sau 10 năm tù rạc, nghe tin bằng hữu mỗi ngày một thêm tan tác. Người lẩn vào rừng sâu, sống đời hoang dã. Người uất khí hộc máu tươi, vì cường quyền áp bức. Người xiêu tán phương xa, biệt tăm không biết sống chết lẽ nào. Và người ở lại như Phạm Văn Gầm, nghe nói cũng thay đổi lạ lùng. Anh nhìn đời bằng một con mắt, và lui về nơi khuất lánh bên dòng sông, rũ hết sự đời, sống theo con nước.
Tôi mua bịch thuốc rê, chai rượu đế, lần dò đi thăm bạn. Tôi đến vào buổi xế chiều. Chòi trống. Tôi đứng ngóng ra sông, chờ Gầm. Gió thổi hiu hiu. Ánh tà dương đỏ rực mặt sông. Những cụm lục bình lờ lững trôi xuôi. Vài cánh cò chấp chới xa xa. Bên kia sông, rừng tràm bát ngát. Gầm về theo nước thủy triều lên. Trong cái lốt ngư ông áo vải nón mê, anh hoàn toàn lột xác khỏi con người ngày cũ. Dáng anh gầy gò, phong thái thong dong.
Thấy tôi, anh cười rộ theo kiểu ẩn sĩ đời xưa: “Gió lớn bốn phương, còn quay về quê cũ được sao?”
Tôi cũng cười vang trên bờ sông, như một giang hồ hiệp khách: “Thiên hạ đại loạn, còn an nhiên tự tại được sao?”
Chúng tôi dắt tay nhau vào trong chòi lá. Sau những thăm hỏi thông thường, tôi nói với Gầm về những ngày tù rạc của tôi. Anh bảo, còn sống trở về là may, thời thế không là dầu sôi lửa bỏng, nhưng hiểm nguy lúc nào cũng đang rình rập bên mình.
Tôi nói: “Để chữa lành một vết thương, mà chịu hãm mình cô quạnh bên một dòng sông là điều uổng phí.
Gầm bảo: ”Ở vào cái thế thúc thủ, còn vọng động tranh chấp hơn thua là chuốc họa vào thân.”
Anh cho rằng, ý nghĩa của đời sống tùy quan niệm mỗi người. Có kẻ tìm sự vui thú trong tiền tài. Có người tìm sự thỏa mãn trong quyền lực. Nhưng những thứ đó không đem lại sự bình yên trong tâm hồn. Còn anh, anh theo cái triết lý sống Ông Chài, một bài học thuộc lòng thuở nhỏ, và đọc:
Nước trong rửa ruột sạch trơn
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
Sớm doi tối vịnh vui vầy
Ngày dài đón gió, đêm chầy chơi trăng.
Tháng ngày thong thả làm ăn
Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm
Nghêu ngao nay trích mai đầm
Một bầu trời rộng, vui thầm ai hay!*
Đọc xong, Gầm cười sảng khoái, nói “Phúc tại tâm không lý đến đời”.**.
Tôi hỏi điều gì đã làm anh thay đổi quan niệm sống đến tận ngọn nguồn gốc rễ?
Anh nói, hoàn cảnh và dòng sông. Hoàn cảnh đã xô anh vào đường cùng, để từ đó, anh thấy đời là bể khổ. Dòng sông đã dạy cho anh biết thế nào là sự im lặng.
Tôi hỏi: “Im lặng mà cũng phải dạy nữa sao?”
Gầm ngó ra sông nói: “Trong im lặng mình nhìn lại được chính mình”.
Trăng đã lên cao. Ngồi trong chòi, nghe tiếng sóng vỗ ngoài bờ sông.
Tôi nói: “Dòng sông đâu chỉ im lặng, còn có tiếng sóng nữa”.
“Vâng”. Gầm nói: “Tiếng sóng như tiếng vỗ về của mẹ thiên nhiên. Đi tìm an ủi ở đâu cho xa? Ngay ở đây, bên bờ sông này đã cho ta điều đó”.
Chai rượu đế chắt đến giọt cuối cùng. Đêm đã khuya lắm. Con trăng đã xế về bên kia rừng tràm. Mọi vật chìm trong tịch mịch lặng im. Chỉ còn nghe tiếng sóng triền miên như niềm an ủi bất tận của bạn tôi trong nỗi đời hiu quạnh.
Quê hương của Trúc Thanh nằm nép mình cuối dãy Trường Sơn. Nơi đó có núi, rừng, ruộng, rẫy và biển xanh. Thanh chưa bao giờ đặt chưn xuống miệt đồng bằng. Từ ngày về chung sống với tôi, Thanh chỉ biết quê chồng qua những câu chuyện kể hoặc đọc qua sách báo và xem phim ảnh chớ chưa một lần nhìn tận mắt. Thanh ao ước: – Ngày nào về nước em sẽ về quê anh, em rất thích sóng nước miệt đồng bằng sông Cửu Long. – Em ở miền núi nên em thích đồng bằng cũng như anh ở miệt đồng bằng thì thích về miền núi – tôi tự hào khoe với vợ – quê hương anh được cái là thiên nhiên ưu đãi nên có nhiều món ăn dân dã, anh cam đoan với em, từ Trung ra tới ngoài Bắc không đâu có được miền trù phú như U Minh. – Nói cho cố đi ông! – Em dìa rồi em sẽ biết. Tôi không nói quá lắm đâu. Quê tôi vùng ven thuộc về U Minh Hạ, ra biển thì tôm cá biển, vô sông thì cá tôm sông, lên ruộng thì cá đồng, rùa, rắn… Trên trời chim chóc rất nhiều loại như: diều hâu, diệc, cò đen, cò trắng, le le, chằn bè, vịt nước…. Những vườn cò, sân chim mỗi nơi rộng hàng chục công đất vuông. Nhứt là vào những buổi chiều chim, cò bay về rợp bóng mát và kêu ríu ra ríu rít vang động cả góc rừng. Cò mần ổ trên những bụi chà là có nhiều gai nhọn. Đầu mùa mưa, cò đẻ trứng, người ta chuẩn bị áo, quần và may bao tay dầy đề phòng gai chà là quẹt rách da, chảy máu. Họ mang gùi, vác móc vô rừng móc một buổi đầy hết gùi nầy sang qua gùi khác, họ ăn cho tới khi trứng lộn mới ngưng lại. Đợi tới khi trứng nở con, chờ cò con bể bọng, mọc lông non, đủ thịt thì họ lại xách gùi vô một đợt nữa móc lấy cò con đem về bán cho quán nhậu hoặc tự làm đồ nhậu. Nghe tới đây Thanh chận: – Cò con ăn được sao? – Được chớ, cò con thịt thơm, xương mềm, đem nướng, khìa nước dừa hay rô ti thì ăn rất ngon và nhậu rất bắt. – Ngày về nước em sẽ xuống miệt U Minh ăn những món ăn dân dã cho biết. U Minh Hạ rộng thênh thang. Nếu đi đường biển từ vịnh Rạch Giá trải dài xuống tới vịnh Gò Công, cạnh mũi Cà Mau, thì sẽ thấy rừng mắm xanh rì tiếp liền với mặt biển. Mỗi năm bãi biển nơi đây được phù sa bồi ra năm sáu chục thước, trái mắm trôi tắp vào bãi bám rễ mọc lên cây con. Ven bãi cây mắm còn non, chiều cao không quá ba thước, nước lớn ngập khuất gốc, nước ròng lòi lên đất bùn. Ngoài những râu mắm (rễ gió) chi chít từ mặt đất chĩa lên trời ra không có cỏ cây nào khác mọc. Càng lấn vào trong đất sét càng dẻo, cây mắm càng già tàn cây càng xum xuê lá, gốc cây mắm lớn vừa lỏn trong vòng ôm của một cánh tay. Cây mắm dễ đốn và tiện lợi cho những dân nghèo che chòi ở tạm, lót vạc nằm. Cây mắm đốt lên gây nhiều khói làm khó chịu cho mấy bà nội trợ mỗi khi đun bếp nấu cơm, nhưng nó rất công hiệu nhúm bếp un xua đàn muỗi đói. Những cây cối khác do chim nhả hột hoặc cây và trái giống trôi trên sông rạch tắp vào lần lượt mọc rải rác trên những vùng đất cao như cây bần, cây chà là, rau muống biển, ô rô, ráng và dây choại mọc chằng chịt đan nhau. Dây choại U Minh Hạ số lượng không nhiều nên khi cần người ta chặt về dành trói cua, xâu cá chớ không đủ thu hoạch hàng tấn mỗi năm như choại ở miệt U Minh Thượng. Đặc sản U Minh Hạ có tôm, cá, cua, ốc len, vọp, sò, ba khía… Cái gì hổng biết chớ ba khía muối là trúng tủ Thanh rồi. Thanh rất thích ăn ba khía muối, vậy mà cô chưa từng biết hình dạng con ba khía còn sống ra sao và cách muối ba khía như thế nào. Trước khi về sống với tôi, cô tưởng tượng ba khía là con cua biển con. Tôi phải một phen giải thích, ba khía tám cẳng hai càng, cũng giòng họ nhà cua nhưng không phải là cua biển, thân hình không lớn hơn cái chén ăn cơm, vỏ nó nham nhám, màu tim tím, trên mu khuyết ba rạch nên người ta đặt tên là ba khía. Ba khía còn tươi đem luộc thịt khô khốc, bời rời không mùi vị gì hết. Nhưng sau một tuần hoặc mười ngày ngâm trong nước muối tách vỏ rút thịt ra, thịt dẻo và mùi thơm rất là đặc biệt, ta có thể pha thêm chanh, đường, tỏi, ớt vào để vài giờ thì ba khía có thêm hương vị đậm đà, vô cùng hấp dẫn. Có một lần Thanh qua tận Paris, cô xục xạo đâu đó trong mấy tiệm bán thực phẩm Việt Nam được bốn con ba khía muối và cô mua thêm vài trái xoài xanh. Đem về hí hửng khoe với tôi. Thật tình từ ngày sang định cư xứ người cho tới nay, các loại mắm thì ăn ngon hết chỗ chê rồi, nhưng ăn một lần ba ngày sau trong nhà vẫn còn hôi. Nhứt là ăn ba khía phải dùng tay tách vỏ, một lát thì hai bàn tay hôi rình. Tuy nhiên thấy vợ vui tôi cũng hùa theo cho vợ khỏi bị cụt hứng, hơn nữa lâu lâu ăn một bữa ba khía muối chắc cũng ngon, nhà có bị hôi một tuần lễ cũng chẳng hề gì. Đứng nhìn Thanh lui cui gọt xoài, bâm nhuyễn để trộn ba khía, tôi cao hứng đọc bài dân ca. Tháng bảy nước nhảy Cà MauTháng mười ba khía hội kéo nhau đi mầnNăm Căn, Rạch Gốc, Rạch Bần…Muỗi kêu mặc muỗi tao mê ba khía hồi Thanh thắc mắc: – Nước chảy chớ làm sao nước nhảy được và ba khía hồi là ba khía gì? Nghe dân ca hay ca dao em phải hiểu ý người ta nói gì chớ. Miệt dưới anh vào mùa mưa mực nước dưới sông dâng lên tràn bờ người ta gọi là nước nhảy, tháng bảy mực nước lên cao nhứt nên có câu: “Tháng bảy nước nhảy lên bờ.” chớ nước chảy thì chảy quanh năm hổng có gì đặc biệt hết nói làm gì. Còn ba khía hội đọc trại ra cho đúng vần thành ba khía hồi. – Sao không nói mê ba khía rồi cho đúng vần. – Vậy mà em cũng nói được, em ỷ có chút chữ rồi muốn sửa thơ ca người ta sao thì sửa à. Người ta nói ba khía hội thấy mà mê, chớ con ba khía xấu òm ai mê cho được. Tới đây Thanh mới chịu nhưng cô còn ráng bướng: – Cũng được, nghe giống thơ của Bút Tre lắm. – À, cái nầy em phải nói là thơ Bút Tre giống dân ca mới đúng vì cái dạng dân ca có vần điệu na ná như thơ Bút Tre từ xưa miệt đồng bằng sông Cửu Long trai gái ông già bà lão đã dùng để hò hát và nói vè. Chỗ anh ở có câu vè như vầy: “Kinh Ngang có bác ba Phì cái gì hổng biết chớ… dóc thì một cây.”Nhiều người nghe hiểu lầm là bác ba Phì tức là bác ba Mập nhưng thật ra là vì kị huý người ta hổng kêu thẳng tênbác ba Phi nên mới đọc trại ra thành bác ba Phì. Một là đúng vần hai là khỏi lo con cháu bác ba Phi nghe được rồi nổi xung xách dao phay rược chém. Trộn xong tô ba khía Thanh vừa bưng để lên bàn vừa cười mỉm: – Em nghe anh nhắc tới bác ba Phi làm em muốn cười đây, nhưng xong rồi mình dọn chén ăn cơm đi. Thật ra ba khía muối từ Việt Nam bay qua Pháp, rồi từ Pháp vượt trên năm trăm cây số qua tới Hòa Lan thì thịt rã tan ra nước hết, còn bốn cái vỏ bọng không, nước ba khía đã đổi màu đen đen và có hơi nặng mùi nhưng có lẽ nhờ tôi đọc và cắt nghĩa bài dân ca hay quá và trộn trái xoài xanh bầm nhuyễn còn pha thêm tỏi, đường, chanh, ớt cộng thêm tình nghĩa vợ chồng làm cho mùi vị ba khía dịu lại. Chiều hôm ấy hai vợ chồng ăn xoài chua trộn nước muối ba khía và mút hết bốn cái vỏ ba khía bọng. Tuy thực phẩm không mấy an toàn nhưng được cái là vợ chồng tôi có bữa ăn rất vui và cái bao tử của chúng tôi cũng khá tốt nên đêm đó không phải tốn thêm nước dội bồn cầu. Có lẽ tôi phải kể tiếp chuyện ba khía hội và những biến cố sau nầy làm cho ba khía không còn hội, nếu không kể bây giờ thì sau nầy ba khía tiệt giống thì hổng còn ai biết nó rõ ràng hơn. Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện vào giữa những năm sáu mươi tới sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Lúc tuổi của tôi vừa nhận thức được ít, nhiều về cuộc sống, tôi đã theo ba, má lang thang xuống tận cùng miền đất nước. Ai đã từng tha phương cầu thực khắp miệt U Minh Hạ nếu không sống bằng nghề bắt ba khía thì cũng một lần biết qua mùa ba khía hội. Nhứt là vào những đêm trăng già tháng Mười, dưới dòng những con rạch xuyên vô khu rừng mắm hoặc rừng đước thì sẽ thấy trên những chiếc xuồng tam bảng, người ta chuẩn bị sẵn những chiếc đèn lồng hay những bó đuốc mù u hoặc đuốc tẩm dầu. Xuồng nhỏ thì chở vài ba chiếc khạp da bò, xuồng lớn thì chở những chiếc lu to tướng. Trong khạp, trong lu đựng lưng lửng nước muối pha sẵn (Độ mặn của nước muối rất là quan trọng cho việc muối ba khía; lạt quá thì ba khía trở mùi khai khai, mặn quá thì ba khía rụng ngoe, rụng càng, trong lúc ủ sơ ý để nước lã lọt vô thì ba khía bị bủng thịt và nước ba khía đen thui, hôi rình). Thời đó chưa có ống thủy đo độ, người ta pha nước muối dùng hột cơm và phối hợp với lưỡi để đo, sau khi đổ muối vô nước quậy đều người pha nếm thử nhắm chừng vừa mặn, muốn chắc ăn họ bỏ một hột cơm vào nước muối, nếu thấy hột cơm nổi lên mặt tức là vừa đủ độ để muối ba khía. Ba khía muối đúng độ để bảy tám tháng vẫn ăn được. Đêm trên rừng, trong ánh đèn lồng lờ mờ dưới ánh trăng già hơn nửa mảnh, ta thấy ba khía hội đen thui rạp trên một dãi ráng hoặc trên những dãi ô rô. Lúc đó người ta mang bao tay vào từ từ hốt bỏ vô bao rồi đem xuống xuồng đổ vào những chiếc khạp và những cái lu nước muối. Có đêm ba khía hội nhiều đến đỗi người ta hốt đầy lu, đầy khạp và khẳm xuồng mà ba khía vẫn còn loi nhoi, lúc nhúc quện nhau một khối đen ngòm. Khoảng cuối năm sáu mươi trở về sau thì ba khía hội xa xóm nhà, xa kinh rạch hơn. Cho nên dân bắt ba khía phải cơm ghe bè bạn đi sâu vô rừng. Đêm về trải những chiếc nóp đệm đan bằng lát trên xuồng rồi chui vô ngủ chờ trăng lên mới đi lùng ba khía hội. Tuy cực khổ hơn trước kia nhưng cuộc sống dân mần ba khía vẫn còn thoải mái. Cho tới sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Năm đó dân ở thành thị thất nghiệp đổ về miệt U Minh và dân Hà Nam Ninh từ miền Bắc tràn vô ước chừng nhiều hơn ba khía hội nữa. Mỗi chiều lên, dọc theo những dòng rạch, đoàn xuồng nối nhau vào rừng, họ chuẩn bị đèn soi có, đuốc có và có cả đèn pin. Xuồng bắt ba khía nhẹ hững, mỗi chiếc chở vài ba người (bây giờ không còn dùng khạp, hay lu đựng ba khía như xưa nữa) mỗi người mang theo đèn và một thùng thiếc có nắp đậy để đựng ba khía. Bất kể ngày tháng, trừ những ngày ba khía lột, ban đêm họ thắp đèn soi sáng khu rừng giống y như ngày hội. Có người sót sa chỉ tay vào rừng: “Nhìn coi kìa, người hội chớ ba khía còn đâu nữa mà hội.” Thật vậy, cả một đoàn người lùng bắt làm anh chị ba khía hoảng hốt chui tuốt dưới hang. Tuy không chuyên nghiệp như những người mần ba khía trước kia nhưng cách bắt của họ phải nói là siêu đẳng, anh chị ba khía chui tuốt dưới hang sâu, họ để nguyên tay áo, thọt cánh tay tận nách quyết chí lôi ra từng con một. Cách bắt ba khía của họ tuy dã man thật, nhưng ta cũng nên cảm thông, vì nghèo đói họ phải tranh thủ thức suốt đêm trong rừng, lội bùn tới háng, chịu cho muỗi và bù mắt hút máu để kiếm từng con ba khía về đổi gạo. Sáng xuống xuồng rửa mặt, móc trong lỗ mũi một cục khói đèn, khói đuốc đen thui. Nhưng nhiều nhỏ gì đâu, người nào giỏi thì bắt được đầy một thùng thiếc cũng là trúng lắm rồi.
***
Cách đây hai năm tôi đưa Trúc Thanh về thăm quê tôi tận vàm sông Ông Đốc. Từ Cà Mau đi đò tốc hành về sông Ông Đốc Vàm mất hơn ba giờ đồng hồ cho sáu chục cây số đường sông. Chúng tôi về nhằm lúc cúm gia cầm và chim chóc chết dịch, chết gió cũng nhiều. Xa cách hơn hai chục năm trời trở về thấy cảnh vật quê hương hoàn toàn thay đổi, duy tánh hiếu khách và hài hước của bà con quen biết thì không mấy đổi thay. Thấy vợ chồng tôi tới thăm, nhà nào cũng mần gà, mần vịt đãi đằng. Khi nghe tôi hỏi chuyện cúm gia cầm và chim chóc bịnh thì nghe họ cao giọng: – Ối, đó là gà công nghiệp, chớ gà, vịt ở nhà nuôi thì mạnh như thần, tui bảo đảm gà, vịt nhà tui không con nào bị bịnh hết, ăn đi, cứ ăn thoải mái. Còn chim hả? Mấy sân chim miệt Đầm Dơi bị chết nằm la liệt, có đợt bầy chim đương bay trên trời tự dưng rớt xuống lộp độp… dẫy đành đạch, chết hết ráo, chẳng còn một con. Tốt hơn hết đừng ăn chim chóc miệt nầy, nguy hiểm lắm. Tôi không nhịn được cười, quả là không hổ danh con cháu bác ba Phi. Gà thì con phân biệt được gà công nghiệp hay gà nhà nuôi, còn chim chóc thì làm sao phân biệt được chim miệt nầy miệt kia. Định hỏi nhưng thôi, dù sao anh nầy cũng là truyền nhân của bác Ba, tôi cần phải kính trọng. Vả lại, dầu tôi có hỏi cách nào chăng nữa thì ảnh cũng trả lời qua tuốt luốt… Về với quê hương mà tôi cứ ngỡ mình tới một nơi nào xa lạ và mới thấy lời hứa với Trúc Thanh quả là khó thực hiện. Những dự tính của vợ chồng tôi hình như không phù hợp với người ở bên nhà. Chuyện mùa màng tiêu tang, cá mắm hết sạch, rừng cây bị tàn phá… không nóng bỏng bằng chuyện ông cán bộ nầy cất nhà lầu, bà Việt Kiều kia về mua đất… Những miếng đất ngày trước là rừng, bây giờ bán cũng được giá lắm. Họ chờ đợi vợ chồng tôi một chuyện gì khác hơn, còn chuyện của chúng tôi thì đối với họ giống như chuyện của một hành tinh nào ở ngoài trái đât. Nhưng hổng lẽ tôi lại đi mua một miếng đất để làm chỗ cho chim, cò đậu và cho ba khía làm hang? Mà nói cho cùng bán hết tài sản nhà tôi cũng chưa chắc gì đã mua mổi một thẻo đất ở đây. Ở chơi cả tuần lễ mà tôi cũng chưa biết cách nào đưa Thanh đi và cũng hổng biết nói làm sao cho cô thoả mãn tánh tò mò. Hỏi chỗ đi chơi thì nơi nào cũng đương quy hoạch. Sông Đốc Vàm bây giờ là thị trấn và đã đổi thay quá sức tưởng tượng. Nhà lầu cao lợp ngói, lợp tôn. Ngoài đường xe gắn máy hai bánh chạy ào ào, người ta ở đâu đổ về đông như kiến cỏ. Ngày trước bên kia sông nhà cửa lưa thưa chen theo rừng rậm, bây giờ rừng bị phá sạch, nhà cửa mọc lên như nấm mọc mùa mưa. Động vật thì hiếm hoi. Muốn ăn con cua, con vọp phải đặt mua một hai ngày. Còn ba khía muối có pha đèn tìm đỏ con mắt cũng chẳng ra nói chi là đốt đuốc. Cá, tôm biển không còn nhiều. Ghe câu mực, đánh cá phải ra tuốt hải phận quốc tế, tận ranh giới Thái Lan hay Mã Lai câu và đánh mới có. Một chiều kia tôi đứng phía sau nhà nhìn con nước lớn lấp lững, có một con ba khía cái chống cẳng đứng dưới gốc cây mắm lùn còi cọc mọc lẻ loi giữa bàu nước cạnh hông nhà. Tôi quay vô nhà kêu Thanh ra xem cho biết con ba khía sống, chắc cô vui thích lắm. Thanh hớn hở đi ra đứng quan sát con ba khía một hồi cô day qua hỏi tôi: – Tại sao càng của con ba khía chiếc lớn, chiếc nhỏ mà có vẻ không được bình thường? Tôi nhìn kỹ con ba khía hơn, chẳng những cặp càng của nó trông có vẻ bịnh hoạn mà còn rụng thêm hai ngoe nữa. Tôi nói theo kinh nghiệm của mình: – Có lẽ trước kia nó bị tai nạn làm sao đó, phải dùng tới đôi càng chống đỡ để thoát thân, cuối cùng thua cuộc bị gãy hai cái ngoe và phải bỏ lại hai chiếc càng mạnh và cứng; phải qua một hai mùa trăng, lột vỏ một vài lần, đôi càng mới mọc lại được, dĩ nhiên đôi càng sau thì không đẹp và mạnh bằng đôi càng trước. Nhìn chị ba khía đứng lẻ loi đưới gốc cây mắm non trơ cành còi cọc, giọng Thanh xót xa: – Tội nghiệp quá, gà bịnh, chim chóc cũng bịnh cho tới ba khía ở dưới hang cũng bị tật nguyền. Nghĩ tới những khu rừng bị phá hoang và những động vật từ rừng ra tới biển, từ lớn cho tới nhỏ đã bị tàn sát thảm thương. Tôi nói: – Con người ăn những thứ nầy bị bịnh cũng phải lắm. – Nghĩa là sao anh? – Em không thấy sao, từ ngày về tới giờ vợ chồng mình hỏi chuyện ai cũng cười xoà nói cho qua. Hình như họ chờ đợi mình một cái gì khác hơn là chuyện rừng cây bị phá, gà vịt, chim chóc bị bịnh chết và nếu bây giờ mình đem chuyện con ba khía tật nguyền nầy ra nói thì chắc họ cho là mình điên. – Nếu thật vậy thì vợ chồng mình bịnh chớ đâu phải họ bịnh. Quê hương tôi bây giờ trông giàu đẹp lắm, nhưng sao tôi vẫn thấy nó nghèo nàn, lạc hậu hơn thời xa xôi ấy. Tôi không muốn nói thêm, bèn lảng sang câu chuyện: – Anh mới vừa kêu mấy cháu đặt mua mấy ký lô vọp cho em ăn thử. Có lẽ Thanh cũng đã cảm nhận được sự mất mát của quê hương nầy, cô buồn bã nói như thể cho một mình mình nghe: – Tới nước nầy rồi còn lòng dạ nào ăn với uống. Khi chúng tôi nhìn lại thì nước dưới bàu đã ngập lên tới chỗ chị ba khía đứng, chị ta bèn leo lên thân cây mắm còi để tránh mực nước dâng. Tôi khều Thanh và chỉ chị ba khía: – Em coi kìa, chị ba khía leo lên cây tránh nước lụt, nhìn chị ta mà anh nghĩ tới con người khi thất thế sa cơ thì chạy nạn, khi đường cùng thì đấu tranh giành giựt đến đỗi từ thể chất đến tinh thần cũng tàn tạ đâu khác gì chị ba khía gãy càng rụng ngoe kia. Thanh thở dài một cái rồi kéo tôi, vừa đi vô nhà cô vừa tuyên bố: – Bắt đầu từ ngày mai cho tới ngày về bển, vợ chồng mình sẽ ăn chay! – …. Baltic zee 2007-06-20
Học sinh đến trường từ thứ năm tuần lễ trước. Trời đã bắt đầu se lạnh. Sáng nay, thức dậy, bước ra khỏi giường tôi đã hắt hơi một loạt hơn chục cái, nước mắt nước mũi bắt đầu ràn rụa. Người ta nói đó là dị ứng. Có người dị ứng theo mùa, thường là mùa xuân khi hoa nở tưng bừng. Có người dị ứng với mùi vị, từ hơi thuốc lá cho đến mùi mồ hôi của ngựa hay mùi cỏ vừa mới cắt xong ngoài vườn, mỗi người một vẻ.
Những cậu bé của một thời thơ ấu “học trò thò lò mũi xanh, cầm miếng bánh đúc chạy quanh nhà thờ”chắc là đã sớm bị dị ứng, có lẽ tôi cũng như một thằng bé trong đám học trò ấy. Lớn lên, tôi bị dị ứng với rất nhiều thứ, mà một vài loại đáng kể nhất trong đời người là dị ứng với phấn son, nước hoa và cả mùi “acetone” của các loại sơn móng tay và với những loại “lotion” mà quí phụ nữ vẫn thường dùng. Được gần gũi một người đẹp phấn son và dùng nước hoa dù là nước hoa hảo hạng là tôi “cảm động” đến trào nước mắt ra, nói gì đến lúc, thử tưởng tượng ra một khi đã sẵn sàng lâm trận mà thằng đàn ông đỏ ngầu hai con mắt, “hắt xì” liên hồi thì còn ra cái thể thống gì nữa. Phải bỏ cuộc nửa chừng vào những lúc như thế, thì “cũng như đời bỏ đi”.
Nhưng trên đời này, có lẽ không có người đàn bà nào tránh được son phấn hay nước hoa, trừ bà cụ ngoại tôi ngày trước, gội đầu bằng nước bồ kết hay làm dáng thoa son bằng cái bao nhang thấm nước có màu phẩm đỏ. Lớn lên, mỗi lần “hộ giá” nội tướng đi “shopping”, tôi thường tránh gian hàng nước hoa thường bày ở ngõ ra vào để quyến rũ qúy bà, nếu có mang tiếng là keo kiệt thì cũng đành nhận. Đối với các bậc mày râu, có hai thứ tiêu biểu các vị này thường hãnh diện như là một thứ làm đẹp là rượu và thuốc lá. “Nam vô tửu như kỳ vô phong”, đàn ông không rượu như cờ không gió, cờ không gió thì là ủ rũ như con gà chết. Còn hình ảnh người đàn ông cầm điếu thuốc lá hay ngậm ống vố, ngày trước cũng là hình ảnh của lịch lãm và điệu nghệ. Tiếc thay, hễ đứng gần một người hút thuốc lá là tôi bị nghẹt mũi và một hớp rượu chát cũng đủ làm cho người dị ứng này ngộp thở, từ ba hớp trở lên thì phải cần một chiếc xe cứu thương. Đó là chưa nói đến mùi nhang trầm ngào ngạt trong chánh điện của ngôi chùa hay trên bàn thờ gia đình trong ngày giỗ tết. Những điều này có thể tránh được, nhưng trong cuộc sống còn nhiều thứ gần gũi như một trái táo, một đóa hoa kèn trên bàn tiệc, một cơn mưa giông bất chợt hay một buổi sáng sương mù. Tôi đã tìm gặp nhiều bác sĩ chuyên môn khoa dị ứng, nhưng thật thà mà nói hình như chưa bác sĩ nào có thể chữa dị ứng cho đứt điểm, mà dùng thuốc ta (gọi là ngoại khoa hay thuốc nam) thì rất ngại, vì không bao giờ thuốc có ghi công thức, nên nhiều thứ thuốc đau nhức uống vào mặt bệnh nhân càng ngày càng béo phị “phồn vinh giả tạo” ra, vì thuốc có trộn cortisone của tây dược. Ông bác sĩ tây y chuyên về dị ứng thứ nhất bắt tôi súc mũi mỗi lần tới phòng mạch, chích thuốc hàng tuần, nhưng tới tháng thứ ba thì tôi đành bỏ cuộc vì thấy con đường đi dài thăm thẳm. Vị bác sĩ chuyên khoa thứ hai làm một loạt test chi chít trên lưng tôi, với các loại chim chóc, xoài ổi, cam quýt … để xem bệnh nhân bị dị ứng với loại gì, nhưng khi hỏi tới vụ dị ứng nước hoa thì bác sĩ cho biết phải thử bằng thực tế, nghĩa là cho ngửi các thứ nước hoa thì mới biết được. Thế là tôi đành phải bỏ dở cuộc điều trị nửa chừng, vì dù với các mũi chích hàng tuần trong vòng sáu tháng, bệnh tình không có vẻ gì là thuyên giảm. Dị ứng mũi còn do vách sống mũi bị lệch, nhưng sau khi bị đốt, trở trời, mũi vẫn sụt sịt. Có lẽ bệnh dị ứng cũng làm chết người, như cháu gái con tôi, ngày bé nghịch làm đổ một chai nước hoa trong phòng ngủ, dị ứng đến ngộp thở (các phế nang bị sưng, không hoạt động được) phải chở đi cấp cứu và các cụ già bị suyễn nặng không hấp thụ được số lượng oxygen cần thiết. Tôi không dám đi vào phần chuyên môn hơn nữa. Trong bệnh lý, có dị ứng đã đành, ngoài đời người ta cũng gặp vô số thứ “dị ứng”(trong ngoặc kép). Như “hai cô ca sĩ không đời nào thương nhau”, có những show, nếu “đã mời tôi thì đừng mời nó”. Trong những bàn tiệc, “đừng sắp vợ chồng nó ngồi chung với vợ chồng tôi”. Trong những hội nghị, nếu “mời tôi lên diễn đàn thì không có hắn làm diễn giả”. Cũng có trường hợp hai nhà thơ lớn “dị ứng” nhau, hai ông cùng là chủ tịch cộng đồng trong một thành phố thù nhau, hai ông chủ báo ghét nhau, hai ông chủ xe khách nhìn nhau với ánh mắt thù địch. Những người này vì mắc bệnh “dị ứng” nên không bao giờ bắt tay nhau, gặp gỡ nhau hay hàn huyên với nhau. Cũng có người luôn luôn “dị ứng” chính trị như dị ứng với chế độ Cộng Sản, không chơi, không nghe, không nói, không đọc những gì về Cộng Sản, không về Việt Nam. Cũng có bậc dị ứng với đảng phái, cộng đồng, hội đoàn vì “những thứ ấy không bao giờ có tôi”. Cũng như các loại dị ứng, dị ứng này chắc cũng không có thuốc chữa.
Có lần tôi gặp một cậu em mới định cư tại một tiểu bang miền Đông Hoa Kỳ, khi hỏi về việc học tiếng Anh, cậu em trả lời dứt khoát: “Em dị ứng với tiếng Anh, nên em học không vô cũng như không muốn học! Thế mà mười năm sau, gặp lại, tôi thấy vợ chồng cậu đã nhà cửa khang trang, con cái đều tốt nghiệp đại học, tôi mới vỡ lẽ ra, dị ứng cũng khó làm người ta chết! Trong đời sống, có lẽ những con người không biết dị ứng là sống hồn nhiên, thoải mái nhất. Sao cũng được, mùa xuân hoa nở hay mùa đông giá lạnh. Ăn món gì cũng xong, cá biển hay mực tôm. Mồ hôi người hay mồ hôi ngựa. Mùi hoa dại hay mùi cỏ non. Hương tóc, nước hoa hay trầm hương. Đối với cuộc đời, lòng luôn buôn bình thản, không thương không ghét, không quá gần gũi thân thiết mà cũng không tránh né, cõi lòng luôn ung dung tự tại, nhìn cuộc đời với tấm lòng bao dung mà pha chút thản nhiên. Chuyện đùa nói rằng, xưa có người kỹ nữ về già, muốn ở trên lầu cao không có thang máy, để cho khách nam giới đến thăm, quả tim phải hồi hộp như những ngày xưa mình còn xuân sắc. Bây giờ, bên người yêu dấu, chưa chia ly sao bỗng sụt sùi rơi lệ!
Trời mưa rầm rộ, nước đổ xuống mang cùng với xối xả là lượng âm thanh đầy ứ, nuốt trôi mọi tiếng động. Con đường chìm đắm từng vụn đốm sáng, nhòe đi, chóng lẫn vào bóng tối. Đâu khoảng mười giờ, chắc vậy, vì xuất phim cuối ngày vừa chấm dứt.
Từ rạp chiếu bóng, anh đi bộ men theo dãy phố lạnh gió, nép thân dưới những mái hiên nhà đóng kín cửa. May mà hồi chiều anh có mang theo áo mưa, nhưng mặc nó vào chỉ mong cho người khô ráo được phần nào hay phần đó. Sẽ chẳng có một loại áo che mưa nào trên mặt đất này chịu đựng được thứ vũ lượng khủng khiếp của chốn đây.
Lộ trình về nhà mỗi khi một vắng tẻ và anh bắt đầu cảm nhận rõ sự lạnh lẽo đang tìm cách xâm chiếm người anh. Mon men ban đầu nhưng chẳng mấy lâu nỗi buốt giá kỳ cục đã vây khổn toàn bộ khiến anh phải run lên. Do gió mưa tác động, đồng ý; nhưng phải nên tin là có khi người ta phải la lên: Lạnh từ trong lạnh ra! Lá cây luôn rùng mình trên đầu và con đường đen đúa chẳng trồng cột điện này thì mọc thật lắm cây. San sát và song song hai hàng đồng dạng, vòm lá giao nhau nhưng chúng chỉ đủ sức để ngăn cho bong bóng khỏi vỡ ra giữa mặt nhựa hắc ín hư hao nhiều ổ gà đọng vũng. Ếch nhái ễnh ương từ cái hồ cạn sau vạt cỏ tranh luôn kêu gào thứ tiếng có vẻ trách móc. Nghe buồn, dù nó hài hòa khi đệm theo bản giao hưởng mà mưa gió chẳng mỏi mệt oán than.
Anh sải bước đi nhanh với ý nghĩ là cơ thể vất vả ấy sẽ làm cho người anh ấm lên. Anh hình dung ra một chỗ nằm, buông mùng xuống kéo chăn lên kê gối cao và giấc ngủ êm ả từ tốn đến. Hình như người ta chỉ trằn trọc mất ngủ vào đêm hè nóng bức chứ không một ai trắng con mắt thao thức giữa cơn mưa nghe thì thào ngoài chấn song. Mưa ngoài trời luôn có khả năng vỗ về cho những đứa nằm yên trong chăn nệm và hắn sẽ chóng ngủ, ngủ như một đứa con nít.
Anh đi nhanh, anh chẳng lẻ loi, anh qua mặt một bóng bộ hành và tự dưng bước chân anh bị trì kéo lại. Một người con gái, cô run rẩy bởi vì cô tuyệt không có mặc áo đi mưa. Lạ, cô đi đâu giờ này và rất mực đơn thân? Giận lẫy người tình? Cha mẹ rầy la? Bài thi bị đánh rớt? Người ta có cả vạn lý do để dầm mưa trong đêm vắng. Hay cô là thi sĩ? Về nhà trùm chăn chong đèn để làm thơ sau khi chết chìm trong việc đi nhặt cảm xúc quá chừng lãng mạn? Anh chậm bước để chờ một sánh đôi. Kỳ cục, người ta là con gái, người ta sẽ dậm chân tại chỗ lòng hoang mang chẳng rõ ý đồ thằng dở hơi kia. Sau rốt thì anh quay người lại, anh ước ao có chiếc xe gắn máy nào chạy ngang để cho ngọn đèn sáng liếm vội vào người con gái. Quét một nhát thôi, đủ để anh nhìn thấy khuôn mặt cô. Hiện tại vũng tối đang chôn cô, hoặc mái tóc dài của cô đã một phần bưng bít sắc diện. Cô gầy ốm, bộ áo quần cô mặc sáng nhờ nhợ qua màn mưa và mưa đang bắt đầu thưa hạt. Tôi có thể đưa cô về nhà không? Anh cất tiếng. Để rõ ràng hơn, anh nói: Bởi vì tôi có áo mưa và cô sẽ an toàn hơn khi có bạn đường. Cô cúi đầu, tần ngần, có vẻ toan tính. Được, nếu anh muốn, nhưng không chắc là anh sẽ đưa tôi về đến nhà. Anh cảm thấy vui thú vì điều cô nói. Giọng cô mềm yếu, khi xa khi gần, có vẻ không thực. Anh cười thành tiếng. Cô khởi sự bước đi: Vì nhà tôi ở một chỗ xa xăm. Vậy sao? Xa tới độ tôi chẳng thể đi theo? Đúng như vậy. Cô khẳng định. Anh nghĩ đó chỉ là lời từ chối khéo. Ở đuôi mắt anh đọng một vệt sáng. Qua khỏi công viên kia là chỗ ở của tôi, nhà tôi còn chong đèn hình như mẹ tôi đang chờ cửa và sức tôi thì e chỉ bước được tới giới hạn đó thôi. Tôi biết. Giọng cô gái nhẹ thoảng. Anh ngó ra cái hình hài thấm nước luôn run của cô gái mà không đành lòng, anh đề nghị: Cô nên mặc chiếc áo mưa này kẻo cảm lạnh. Để hiệu quả, anh cởi áo ngay sau câu nói. Cám ơn anh, nhưng như vậy thì anh nghĩ sao về việc hoàn trả. Giản dị thôi, cứ cho tôi địa chỉ một nơi thật xa của cô rổi mai mốt tôi sẽ tới gõ cửa đòi nợ. Chiếc áo mưa hơi lớn nên cô trùm từ đầu xuống, lết phết, lụng thụng, quái lạ như hình nhân của bù nhìn cắm giữa đồng không mông quạnh. Cô dúi vào tay một vuông giấy nhỏ. Tên và chỗ ở của tôi đã ghi cả vào đấy. Da thịt cô lạnh và anh thu cất mẩu giấy tái tê vào túi quần. Tạm biệt, anh nói, hẹn gặp lại.
Anh bước về nhà, ướt hơn con chuột lột, anh ngó lui, chỉ có bóng tối, không còn cái nhân dạng vừa đứng cận kề.
Hôm sau, trời quang mây tạnh. Ấm áp hơn ngày trước dù mặt trời vẫn dấu mặt. Anh thay bộ áo quần mới, sạch và quyết tâm đi đòi nợ. Chiếc áo mưa chỉ là cái cớ, anh thật sự muốn nhìn rõ mặt người con gái cả gan dầm mưa một mình trong đêm thâu. Anh đã thử mường tượng ra nhiều dung mạo và điều kỳ lạ là anh ngờ cô gái kia sẽ có một bộ mặt dễ nhìn, trên trung bình, anh hồ đồ tin thế. Theo địa chỉ ghi trên tờ giấy nhàu nát, anh tìm ra nhà cô không mấy khó. Thực sự thì cô khéo hù dọa, xa xôi gì đâu, mất có nửa giờ đạp xe chứ mấy. Hơi khuất lấp, nằm cuối xóm vắng lặng. Nhà xây lối cổ, có bình phong án ở mặt tiền, nhiều cây cối. Anh dắt xe vào sân, cỏ mọc giữa những vuông xi-măng lót dài lối đi. Nhà chẳng đóng cửa, cửa mở và dựng đứng một khung đen ngó âm u. Một người đàn ông từ vũng tối bước ra, râu tóc thảy bạc trắng. Ông nhìn anh với hai hàng lông mày nhíu lại. Cậu tìm ai? Dạ chào bác, tôi muốn hỏi có cô M. ở nhà không? Ông ngó anh từ đầu tới chân, sau cùng thì dừng đôi mắt nhìn sâu vào mặt anh. Hắn chẳng phải đầu trộm đuôi cướp, bộ vó ấy không phải đứa cù bơ cù bất du côn mất dạy. Điệu bộ thành khẩn e có mang ít nhiều thiện tâm. Anh tìm con tôi? Chuyện lạ! Dạ thưa bác, hôm qua mưa to, tôi có cho M. mượn tạm chiếc áo che mưa… Thôi được, đừng dông dài, cậu đi theo tôi.
Sâu sau vườn rộng có khoảng đất phủ đầy cỏ, hun hút sâu. Chủ nhà quay mặt nói lui, tiếng nhỏ, vừa đủ cho anh nghe: M. nó vắn số, con tôi mất như vậy đã gần ba năm. Anh đứng khựng lại khi nhìn thấy chiếc áo mưa của anh phủ kín một gò đất cao, tròn vin hình thể một nấm mồ. Người đàn ông cũng cắm chân, không cục cựa. Có lẽ tôi nên vào nhà lấy ra một bó hương, anh đợi tôi. Chúng ta cùng thắp cho M. ít cây nhang để an lòng xin lại chiếc áo. Anh cảm nhận một đường lạnh đang xuyên thấu người, tựa hồ đang hứng chịu một lưỡi kiếm bén vừa lút đâm. Anh run rẩy cúi đầu đọc hàng chữ khắc trên bia, tên họ ngày tháng năm, sinh và tử. Anh nhẫm phép tính trừ và kết quả cho ra: M. sống trên đời đúng 18 năm. Vắn số! Và thật hiền lành.
Anh không có lắm bạn gái. Anh nhút nhác, chẳng biết cách tán tỉnh và thường thì con gái chả bao giờ chủ động một lân la. Họ đợi chờ, sau đó họ phân loại để khi ứng xử họ sẽ mang bộ mặt thân thiện hay lãnh cảm. Anh luôn đối đầu với nhiều lãnh cảm và anh ngán, chẳng hiểu tâm tính của “chị em phụ nữ”. Ngồi trong quán cà phê, những thằng bạn anh thảy đều có bồ, chúng tự tin và bộ dạng chúng có vẻ như sành đời. Thảng hoặc anh bắt gặp sự ủ dột của một vài đứa, anh hiểu do đâu nó đổ bệnh như vậy. Nó bảo, đó là niềm đau khổ thật dịu dàng. Tựu trung, anh ước ao có ngày anh sẽ tìm ra được một người tình, đó là người nữ gom đủ đặc tính vừa là em vừa là chị vừa là mẹ. Nghèo thì lúc nào cũng ham, cho nên mấy cô ưa mắng: nghèo mà ham thì xằng bậy, thật khó nghe!
Anh cô đơn, cùng đi trên một con đường, nhưng có lẽ mình anh hứng chịu nhiều gió mưa hơn bạn đồng hành. Anh vẫn tin, khi kề cận sánh đôi cùng bạn gái hẳn lòng mình sẽ rất ấm. Ở tuổi 18, người anh nóng lên khi quen H. Cô là người chứng nghiệm rõ bao vụng dại mà anh đã mù quáng lỡ gây ra. Anh là tấm gương để khi soi mặt cô hiểu về nhan sắc mình mang, anh là cuốn vở để cô tha hồ ghi vào đó những vệt mực nhòe, cày xới đường ngang nét dọc. Anh là cuốn truyện cười để cô ngặt nghẽo, là chiếc xe chở cô đi qua những muộn phiền. Có thể cô cũng quan niệm. một người bạn trai là người ấy gom chung hình ảnh một đứa em một người anh và… một thằng đàn ông. Hãy chìu chuộng tôi vì bạn là giống đực, bài học vỡ lòng là bạn phải “ga-lăng”.
Anh thường chở H. đi xa ngoạn cảnh. Đi xem phim, đi uống nước… Những sứ mạng bình thường như bất cứ đôi tình nhân nào hẳn phải làm. Cái chẳng được bình thường là cả hai hầu như chưa một lần hôn nhau. Thánh thiện tới độ Chúa đóng đinh trên thập tự cũng phải quay đầu chẳng muốn nhìn đứa “phàm phu tục tử”. H. có bỏ công đan cho anh chiếc áo ấm. Chỉ tám búp len nên thành quả chiếc áo ngự hàn trông như áo giáp bó chặt lấy thân anh. Mặc nó, anh cử động không mấy thoải mái, hơi khó thở; nhưng tất cả đều là nguyên do của sự xúc động luôn bủa vây. Anh mường tượng ra hai bàn tay H. luôn thao tác, chiếc áo chưa tượng hình nằm chẳng yên trên đùi H. Cô thử ướm trước ngực, cô mỏi mắt vất nó bên chăn chiếu để trùm mền ngủ, và tóm lại nó thu cất tất cả những hương mùi H. mang. Chưa có chiếc áo nào thơm tho tựa thế. Anh u mê khi tròng nó vào và anh hài lòng với cái trạng thái lú lẩn ấy.
Chiến tranh lan tỏa, thành phố kinh hoàng khi phải cưu mang bộ mặt hung dữ ấy. Mọi người đồng loạt bỏ chạy. H. chạy, anh chạy và hai đứa lạc nhau. Lạc như cánh diều đứt dây để gió cuốn hút nó vào cái thinh không rộng lớn. Anh làm thân con diều tả tơi rơi về miền đất lạ, đoạn chỉ ngắn, lần không ra dấu vết tăm tích H. Hình ảnh cô dằn vặt trên những đoản văn anh viết như một nguôi ngoai trên vùng đất mới. Không gì buồn đau hơn khi anh đánh mất cùng lần cô em gái, người yêu, người chị và người mẹ. Anh sống với những mộng mị, cơn sóng thần luôn xô vào giữa đêm đen và H. là ngọn hải đăng đã bị nhấn chìm.
“Chào ông, tôi đánh tên ông vào Google và hay biết ông có viết truyện. Tôi đã cực lòng dọ hỏi email của ông để sau cùng thư này được gửi đi, mong không lạc vào mắt người dưng. Tôi là chị của H., đau buồn tin cho ông hay là em tôi đã mất tại Sài-gòn vì bạo bệnh. Sau đám tang tôi có dọn dẹp tư trang sách vở áo quần em tôi và vô tình đọc trong nhật ký những trải lòng, những kỉ niệm có giữa H. và ông. Tuy xưa cũ, mặc dù hai người chỉ là tình nhân một thời, tôi mạo muội loan tin này tới ông với hy vọng em tôi sẽ không trách cứ, cũng như ở phương xa ông không lấy đó làm điều. Tôi đắn đo và tôi nghĩ mình chẳng phải đứa nhiều chuyện. Tôi sẽ cất giữ những kỉ vật ngày nào ông trao cho em gái tôi, sẽ bàn giao lại nếu một mai ông thu xếp ổn thỏa mọi thứ để về thăm quê hương, viếng mộ phần em gái tôi bất hạnh. Mong ông sức khỏe.”
Anh ngồi trước màn hình, đâu mặt với một ảo ảnh. Chữ nhòe đi. Đó là con sóng vừa đánh vào, rút vội ra, mang theo những linh hồn, hoán đổi mọi xấu xa bày biện đầy bờ bãi. Đầu óc anh lợn cợn, mê muội như qua sông đón nhận chén cháo lú từ bóng đen trùm kín mặt. Người ta sẽ quên tất nếu húp xong thứ chất lỏng dị thường kia, nhưng anh thì không tựa hồ như anh có phép phân thân. Anh biết ký gửi một phần đời của mình vào rương kỉ niệm mà chìa khóa là thứ vật bất ly thân. Anh sẽ mở nó ra vào những lúc quạnh quẽ, những hao hụt do bởi vấn nạn của trí nhớ cũng không thể tác động làm cướp mất hình ảnh H. Tuy vàng vọt, tuy nhăn nhàu, tuy ẩm mục, tuy sờn rách nhưng nó còn đọc ra một chứng tích. Nó hiện hữu tựa như chiếc áo len sờn cũ ngày nào anh còn cất giữ trong hộc tủ.
Anh đi phố Tàu như một kẻ mộng du, anh mua giấy vàng bạc hương đèn hoa quả như nghe một thầm thì của kẻ khuất mặt vừa nhắn nhủ. Anh tắm táp sạch sẽ trước khi bày đồ ra cúng như học lóm cách mà người ta làm đêm trừ tịch. Anh đổ mồ hôi sau khi xốc xáo tìm được tấm ảnh H. nhét trong một cuốn album vàng ố. Với khả năng hạn hẹp về cách sử dụng máy điện toán sau cùng anh cũng in ra được một dung nhan buồn câm có táy máy tới photoshop. Anh ngó H. Lòng anh nổi gió nhưng miệng lưỡi lặng lờ chẳng máy môi được. Đành rằng cách nửa địa cầu đã là một âm dương nhưng cái chết là bản án quá sức cay nghiệt. Anh vẫn tằn tiện và nuôi dưỡng một ước muốn sẽ có ngày về thăm lại H. Anh cương quyết tắm được hai lần trên cùng một dòng sông. Anh sẽ và anh sẽ…
Trời mưa, nhỏ hạt. Như nước mắt của ăn năn chứ không rầm rộ do muốn biểu tỏ một đớn đau bất hạnh. Anh bước xuống khỏi bậc thềm úng thủy của rạp Châu Tinh, cuốn phim hay và nó chưa tiêu hóa trong anh, làm nặng những bước chân khi rảo về nhà. Nhà trong thành nội nhiều cây lá thâm u đứng gội mưa xao xác. Nắng thì đom đóm bay chập chờn vụt sáng vụt tối. Mưa như thế này thì cóc nhái ễnh ương tha hồ hợp ca trong hân hoan. Hân hoan bởi chúng an lòng vì bóng tối ngự đầy, vây bọc. Đen như một lọ mực xạ đậm màu gần quánh đặc, tựa hồ có tấm màn dày từ trời cao vừa giăng bủa xuống. Đứng gần cũng nhìn không ra, nhọ mặt người. Anh cắm cúi bước, để trấn tỉnh anh chu môi huýt gió từng khúc nhạc ngắn, tùy tiện. Có bóng trắng di động đằng trước, đốm sáng nhẹ lay giữa mịt mùng luôn làm mình ái ngại. Anh thôi huýt sáo, miệng khóa cứng. Màu trắng vụt hiện. A, anh la lên. Đi đâu về khuya bắt H. đợi. Bóng trắng nói, giọng pha chút nũng nịu. Nhà H. ở tận dưới Gia-hội sao cô một mình giữa đêm hôm lạc bước chốn này? Không dù, chẳng tơi chẳng nón. Anh muốn lợi dụng sự vắng tẻ để ôm hôn H. nhưng cô lãng tránh rất nhanh. Cởi chiếc áo len ra, H. có cách làm cho nó rộng chứ chật thế ngó như mặc nính của ai đó. Người ta sẽ chê H. không biết cách đan áo và tội tình chi mà anh phải chịu bó thân. Anh nghe lời, không mấy khi anh làm phật lòng H. Những thằng bạn qủi quái bao giờ cũng bình phẩm anh: Đồ dại gái, hô đâu chạy đó!
Hôm sau, bãi học, tan trường, anh xuống nhà H. Nhà vắng ngắt, người chị gái mắng mỏ đồ vô tâm rồi loan tin H. chết rồi. Chị đừng ăn mắm ăn muối, mới hôm qua H. đến lấy lại chiếc áo để sửa cho vừa kích… Đi theo tui. Sau vườn rộng có ngôi mộ chưa xanh cỏ, có ai vắt chiếc áo len của anh lên mộ bia…
Anh giật mình tỉnh giấc, anh vừa thiếp đi trên ghế. Hương đã tắt trên ly đựng gạo, khung ảnh H. như có xê dịch vị trí. Cái thau nhôm hứng tro giấy vàng bạc đốt có nhiều tờ còn lành lặn. Mồ hôi chảy dọc sống lưng, anh đi vào phòng ngủ lôi kéo tất cả những ngăn hộc đựng áo quần, bới móc, giũ trải, xốc xáo vẫn không tìm thấy chiếc áo ấm cổ tích.
Anh mở máy vi tính, gửi email: “Thưa chị, ngày mai tôi đi mua vé Air Canada. Sẽ thông báo chi tiết ngày giờ chuyến bay, mong được chị đón ở Tân sơn nhất. Hẹn gặp một ngày rất gần. Chị làm ơn thắp giùm tôi một cây hương cho H. Cám ơn chị”.
Ngược dòng Thác Bà, lên tận thượng nguồn dựng trại. Trại nằm trong thung lũng, sát chân núi. Núi không có tên. Núi chập chùng trùng điệp, đếm không hết. Cả một vùng bao la núi non hiểm trở trải dài lên tận biên giới, mang chung một tên Hoàng Liên Sơn.
Một thời kỳ nô lệ xa xôi, người da đen Phi Châu bị lùa xuống tàu đi biệt xứ. Tôi cũng bị lùa xuống tàu, nhưng chưa ra khỏi lằn ranh xứ sở. Thời gian không lâu mà tưởng chừng qua một kiếp. Bỏ đời cũ. Quên những buộc ràng quá khứ. Trong nghiệt ngã, suy tư nhiều sẽ không sống nổi. Dằn vặt với thương đau, sẽ không còn mạng trở về. Tinh thần đi xuống, thân xác không thể đi lên. Hãy xem mọi sự hành xác là bình thường. Tôi nghĩ thế, và thản nhiên “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, dựng trại.
Lán trại lợp bằng nứa, chung quanh có rào. Hàng rào cũng làm bằng nứa bắt chéo vào nhau, đầu chông nhọn hoắt. Trưởng trại nói rào để cản thú dữ, nhưng ai cũng biết rào để ngăn người từ trong thoát ra ngoài. Cổng trại là lối ra vào độc nhất, có chòi canh kiểm soát. Bên hông trại, còn một chòi canh nữa, cao bằng ngọn cây để quan sát toàn trại. Trên đó, đặt một họng súng đại liên chỉa mũi vào trại. Nơi miền cao thôn bản, súng đạn là thứ duy nhất tượng trưng văn minh của người miền xuôi.
Ở đây, không đo thời gian bằng kim đồng hồ. Trưa nghe chim bắt-cô-trói-cột kêu trên đầu núi, biết đang mùa hạ. Đêm nằm nghe cú rúc ngoài đầu hồi, biết đang mùa đông. Thung lũng ít chịu mặt trời. Âm khí núi rừng pha trong sương đục, nhòa nhòa lán trại. Cái lạnh rờn rợn nhiễm vào người, lâu dần thành quen. Thiên nhiên tập cho con người biết chịu đựng. Về với thiên nhiên, thở cùng cỏ cây. Đi trên đất ẩm, nghe mùi rong rêu lá mục. Làm quen với muỗi đói vắt rừng. Coi thường độc trùng rắn rít. Ngồi lặng hàng giờ, ngắm những bông hoa dại âm thầm ngoi lên từ kẽ đá. Thưởng thức tinh hoa của đất trời, cũng là một cách dưỡng sinh. Dựa lưng gốc đại thụ, thấu lẽ câm nín ngàn đời. Quên chuyện ngày trước. Bỏ chuyện ngày sau. Sống đời hoang dã. Thú rừng vô tâm không biết buồn. Ai nặng thất tình lục dục dễ bỏ mình giữa chốn thâm sơn.
Gió lớn bốn phương về ngang thung lũng, bỗng trở mình cuộn thành cơn lốc. Lá khô bị hốt lên cao, rồi tung ra như bướm tan đàn bay tứ tán. Cái nóng mùa khô gió Lào không đủ ấm lòng thung lũng. Gió rừng không sát đất. Gió rì rào trên đọt cây. Dường xa xôi vọng lại. Dường gần gũi bên mình. Đời đang khốn khó mà nghe như có tiếng thì thầm của một quê nhà cách trở.
Ở đây, thường nghe gió hú. Các cụ già người Dao ngồi hơ tay bên bếp lửa chiều đông, kể bao nhiêu là chuyện âm hồn nương theo gió, về đậu trên ngọn rừng tru thảm khốc. Thầy Mo thương những hồn cô quạnh, không nỡ đuổi đi. Tôi, người mạt khách phương xa. Nghe chuyện thần linh ma quỷ. Nghe truyền thuyết bao đời cha ông của người Tày người Dao. Nghe bài ca gắn bó núi rừng. Thấm thía muốn trở thành người của thượng du để đêm đêm nằm dưới mái nhà sàn, thấy cây cỏ mọc đầy trong giấc chiêm bao. Tôi, kẻ trí cùn, không thuộc hết bài trường ca thôn bản, viết lại bằng mường tượng nhớ nhớ quên quên:
Bản ta có bếp lửa bằng tuổi ngôi nhà
Có người già bằng cây cổ thụ
Sống trăm năm bóng đè ngọn núi
Sinh con đẻ cái
Ở cùng cây rừng
Ở cùng đá núi
Đất cho cái ăn lấy từ nương rẫy
Nước cho cái uống lấy từ khe xanh
Thịt da thấm sương mù
Bàn tay rắn rỏi
Vỡ đất cho hạt lên mầm
Buổi sáng giắt con dao quắm
Vác cái xà gạc trên vai
Đội lá rẻ gai vào rừng
Bắt con mang con mển
Bắt con nhím con trăn
Chặt cây giang cây nứa cây vầu
Đốn cây trắc cây lim cây gụ
Đẽo gỗ làm nhà sàn
Nuôi bếp lửa trừ tà xâm nhập
Bản ta có thầy Mo
Quen với Thần Rừng Thần Núi
Biết vẽ bùa làm phép
Gọi âm binh che chở bản làng
Không sợ con cú mèo trù rủa
Không sợ con beo con báo
Về rình trong đêm tối
Thầy Mo gọi ông Trời
Cho cái mưa cái nắng
Nuôi cây lớn lên nuôi người lớn lên
Giống dòng đời đời nối tiếp …
Tôi không hiểu ngôn ngữ người sắc tộc. Nhưng khi cụ già người Dao cất giọng, nghe như tiếng kêu trầm thống và một nỗi gì như nỗi tàn phai đang đổ xuống núi rừng lồng lộng hoàng hôn. Không như ngâm thơ. Không như hát tân cổ nhạc. Không như tụng kinh. Cái âm lên không bổng, xuống không trầm. Ê a lê lết kéo dài áo nảo. Từa tựa như pháp sư đọc thần chú. Một sắc thái hoàn toàn riêng biệt. Lẩn khuất trong lời ca, có niềm bi tráng. Cụ già chuyển ngữ bằng lời Việt. Tôi rắp tâm ghi nhớ trong lòng, mà lòng tôi thì nhòa dần theo ngày tháng nắng mưa.
Những chiều thu yên ả, ngồi trên lưng chừng núi nhìn xuống rừng. Khói nghi ngút bốc lên từ những mái nhà sàn, núp sau vòm cây. Nhớ cái bếp người thượng du. Đóm lửa đầu tiên thỉnh từ thầy Mo đem về gầy nên bếp lửa. Và đóm lửa ấy, âm ỉ ngún hoài theo thời gian, tồn tại cùng với ngôi nhà. Người Dao tin rằng lửa xua đi bóng tối ma quỷ. Muốn cho nhà cửa bình yên, phải giữ lửa hoài trong bếp. Tôi cũng muốn tin như thế, tin bất cứ điều gì huyền bí để trong tuyệt vọng, tinh thần còn có thiêng liêng làm chỗ dựa.
Những người khách bất đắc dĩ từ phương Nam xa xôi đến đây, đều ghê mùa đông Việt Bắc. Mùa đông. Ngày chưa chiều, trời đã chạng vạng từ lúc mới ra đi.
Mùa đông đến mưa phùn gió bấc
Suốt mùa đông không thấy mặt trời
Ngày xám âm u. Mưa phùn nhẹ như sương muối, thấm ẩm áo quần. Gió bấc hiu hiu, thổi cái buốt luồn vào tận xương. Vác bó nứa dài lê thê xuống núi. Đất nhão. Dốc trơn. Trượt té. Vấp ngã. Tay chân xây xước, chảy máu mà không đau. Da thịt lạnh tê, mất cảm giác.
Đường đi khó
Không khó vì ngăn sông cách núi
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Có thật vậy không? Câu nói của Nguyễn Bá Học một thời lấy làm kim chỉ nam, dù hàm chỉ nghĩa bóng, giờ đây, bỗng thấy sáo rỗng. Những ai đang trên dốc đời khổ sở mới biết được cây thập tự giá trên vai Chúa Giê-Su nặng dường nào. Có vào địa ngục mới cảm thông kẻ chịu cảnh A Tỳ. Ngồi một chỗ lý thuyết suông, nói những câu triết lý để đời dễ hơn là đối mặt với thực tại gian truân. Những hình nhân tiều tụy rách rưới, vượt qua được một mùa đông là đi thêm một chặng đường vô vọng. Sự vô vọng giết người. Càng lấn sâu vào con đường vô vọng, càng gần sự chết. Chết đủ mọi cách. Đói làm suy dinh dưỡng, thân xác không còn sức đề kháng với bệnh tật. Thậm chí, cảm xoàng cũng chết. Chung quy, cũng vì không thấy được ánh sáng phía cuối con đường vô vọng. Tôi có người bạn cùng cảnh ngộ, khi đi tiêu thấy phân có lẩn chút đàm, ứa nước mắt. Tao tới số rồi. Nếu mày còn có ngày về, cho vợ con tao biết ngày cúng giỗ. Anh bị kiết lỵ. Bị kiết lỵ coi như Ngọc Hoàng giũ sổ. Tất cả thuốc men đã bị tịch thu từ lúc mới đặt chân ra đất Bắc. Ở đây, rau sam đâm dập, vắt lấy nước uống được coi là thuốc trị bệnh kiết lỵ. Ban đầu, anh còn đi ra nhà cầu. Ngày thứ hai, tôi đào cái hố nhỏ ngoài vách lán cho anh ngồi đó. Tôi phải đi rừng. Không ai săn sóc, anh bò ra hố giữa cái lạnh mùa đông dao cắt. Sau, anh nằm luôn trong lán sạp. Ỉa ra máu. Không cần mặc quần nữa. Một kẻ có quyền từ trên khung xuống, đứng nhìn anh. Mặt lạnh. Không biểu hiện căm thù hay thương xót. Không ai có thể đoán được trong cái đầu ấy đang nghĩ gì. Hỏi có cần gì không? Bạn tôi thều thào, xin một cục đường và gói mì ăn liền. Câu trả lời dứt khoát. Đường, có ngay. Mì, xứ này không đào đâu ra được. Yêu cầu đã thỏa mãn một nửa như ân huệ cuối cùng. Tôi đưa bạn về đất, an nghỉ dưới chân đồi. Nước mắt tôi chảy ngược, không có giọt nào nhỏ xuống cho anh.
Thời mạt vận quỷ thần quay mặt
Nghiến chặc răng kình với tai ương
Người bỏ cuộc đi về với đất
Chiếu bó thây nằm lại rẫy nương
Bốn mùa đều có người đi không trở lại. Nhưng mùa đông khắc nghiệt là thời điểm dễ nhất để vĩnh biệt thế gian. Tử Thần lãng vãng đâu đây, làm sao lánh mặt? Tôi nhớ loáng thoáng trong Thiền Luận: “Tất cả đều là phương tiện tu hành”. Trước nghịch cảnh, tôi áp dụng ngay câu này để hóa giải mọi thương đau, biến nhọc nhằn thành phương tiện. Bàng Uẩn xem bửa củi gánh nước là thần thông diệu dụng. Sao tôi không xem đốn cây cuốc đất là một cách tập dưỡng sinh? Và, tôi đã đi qua mùa đông, đi qua nhiều mùa đông rét mướt bằng sự thư thái riêng tôi. Một kẻ có quyền sau nhiều ngày nhận xét, đã phê bình cách làm việc của tôi: “Giơ cuốc lên, cò ỉa. Hạ cuốc xuống, mối xông”. Câu nói làm tôi sửng sốt. Diễn tả động tác chậm, không có cái chậm nào bằng. Từ từ giơ cuốc lên, chậm như ngừng lại. Thời gian lâu đủ để con cò đậu trên cái cuốc và ỉa. Hạ xuống cũng chậm, đến nỗi trước khi nhấc cuốc lên thì mối đã xông thành tổ. Một lối diễn tả độc đáo. Rất bình dân mà cũng rất tuyệt vời. Tôi mãi lấy làm lý thú vì câu nói ngộ nghĩnh, quên cái hậu quả tai hại sau khi bị phê bình. Cứ thế, thân bị kềm chế mà ý thì phất phơ như chuyện đùa. Tưởng như hồn và xác chẳng dính dấp gì nhau.
Nhiều đêm. Tôi nghe tiếng chắc lưỡi của những người chung quanh. Những con Thạch Sùng không ngủ, nằm trằn trọc nuối tiếc hoài một thời quyền uy son vàng đã mất. Cánh cửa quá khứ đã khép lại. Nhưng cái dư âm vi vu còn đủ sức ném bao người qua cửa tử. Nuối tiếc và thống hận là chất cường toan bào mòn tâm phế. Người xưa uất khí mà trào máu họng. Đời nay, không thấy có ai. Lác đác có dăm anh hùng sĩ khí thì đã cầm súng tự bắn vào đầu, chết hết rồi. Kể chi những kẻ bợ đít mà nên danh phận. Ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Nằm trên bụng đàn bà mà xua quân vào trận mạc. Gặp thế biến, phóng nước đại tháo thân nhanh hơn ngựa chạy trường đua. Bao giờ thấy những phường cẩu trệ bất nhân chiếm giữ những ngôi vị trọng yếu quốc gia là điềm báo trước một chế độ suy tàn. Đó là quy luật của mỗi lần lịch sử sắp sang trang. Và cái hậu quả tất yếu của nó, một số người sẽ bị xô xuống hầm tai họa. Trách ai thì chuyện cũng đã rồi. Chắc lưỡi là buông thêm một dấu chấm than (!), tượng hình cho giọt nước mắt rớt xuống đời mình. Đời mình vốn đã ướt đẫm từ khi lầm lỡ đem thân giao cho kẻ ác. Thôi thì lo “bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần”, giữ cái bổn mạng được ngày nào hay ngày ấy. Sầu bi là tự nghiến đứt sợi dây đang treo mình trên vực thẳm.
Nếu không mặc cảm lưu đày thì sống với núi rừng là một kỳ thú. Người Tày người Dao sinh ra, lớn lên ở đây. Một nơi mà ánh sáng văn minh chưa hề chiếu rọi. Trong nhà họ, ngoài những cái cuốc con dao cái rìu làm bằng kim khí, tất cả những vật dụng còn lại đều bằng gỗ hoặc đất nung: ống bương đựng nước, nồi đất nấu cơm…
Những ngôi nhà sàn thường được dựng gần nguồn nước. Trên thế núi cao, mây ngấm hơi nước vào đất, chảy ra từ trong khe đá. Người ta dùng cây bương, đục bỏ những cái mắc làm máng dẫn nước. Nhiều cây bương nối nhau thành cái máng dài, đưa nước về tận chân nhà sàn. Nguồn nước vô tận ấy, chảy hoài không dứt. Người thượng du lợi dụng nguồn nước thiên nhiên để làm cối nước giã gạo theo nguyên tắc đánh đu, đòn bẫy. Buổi sáng, trước khi “giắt con dao quắm, vác cái xà gạc” lên rừng, họ cho một lượng thóc vừa đủ ăn trong ngày vào cối. Cứ vài phút, cái chày giã xuống một lần đều đặn. Chiều về, họ trút thóc ra nia, sàng sãy lấy gạo nấu cơm. Và, trên nóc nhà sàn, khói chiều nghi ngút bốc lên. Đời sống đơn giản, êm đềm biết bao. Tôi mơ ước một đời sống như thế, không xuống tóc đi tu mà lòng cũng tịnh yên thoát tục.
Những năm tháng làm người khách bất đắc dĩ của miền thượng du, có một dạo tôi được chỉ định chăn bò. Hai người chăn đàn bò bốn mươi con. Một trong hai người ấy, chết vì bệnh sốt rừng. Tôi là người được điền vào khoảng trống. Không phải ngẫu nhiên. Tôi vốn có bệnh bao tử, lại không được điều trị bằng thuốc men. Ở đây, bất cứ bệnh gì cũng được điều trị bằng một phương pháp rất ư là quái đản. Lao động trị liệu, như chặt cây, đốn củi, vác nứa, cuốc đất, trồng khoai v.v… Trong tình huống ấy, tôi luôn luôn tạo cho mình bộ mặt nhăn nhó trường kỳ để mỗi lần, kẻ có quyền nhìn thấy tôi như thấy một hiện tượng khó chịu. Họ chỉ muốn đẩy tôi đi cho khuất mắt. Nhưng tôi cứ hiện diện, cứ èo uột sống hoài. Cuối cùng, họ cũng tìm được cách để ít phải nhìn mặt tôi. Đó là lý do tôi được chỉ định chăn bò. Sáng ra trại, mãi đến chiều mới vác mặt trở về. Yên thân.
Buổi sáng, mở cửa chuồng. Con bò bô đầu đàn sẽ ra đầu tiên, tự động đi theo người dẫn đường. Đàn bò còn lại, lần lượt kéo theo sau. Và, một người đi sau cùng, cầm roi đét vào đít những con đi chậm, hoặc đưa mỏ ngấm nghé cỏ lá dọc đường. Đến một khoảng đất trống nào đó, người dẫn đường dừng lại. Đàn bò sẽ phân tán đi ăn chung quanh, trên những núi đồi bát ngát màu xanh. Trưa trời đứng bóng, tôi che tay lên miệng làm loa, gọi: “Bò…ơi… Bò… ơi…”. Âm thanh vang vọng núi rừng. Đàn bò lục tục về điểm tập trung, nằm nhơi cỏ. Lúc trời xế bóng, tôi đá đít con bò đầu đàn đứng dậy, nói lớn: “Bò… đi… ăn…” Đàn bò lại phân tán. Buổi chiều, tôi che tay làm loa lần nữa, gọi: “Bò… về… Bò… về…” Tại điểm tập trung, sau khi đếm đủ số bò, con bò đầu đàn lại theo người dẫn đường về chuồng trại.
Bò rất hiền và khôn, có thể hiểu được một số tiếng người thường dùng với nó. Những con bò chửa, nếu sinh con ngoài rừng, bò con đi chưa vững, khi nghe tiếng gọi: “Bò… về…”, bò mẹ sẽ giấu con trong lùm bụi để trở lại điểm tập trung. Nhưng nó sẽ lẩn quẩn không chịu về. Người chăn không biết nó mới sinh con nên đánh đuổi, bắt phải về. Bò con ở lại, im lặng một mình suốt đêm trong rừng. Sáng ra, vừa mở cửa chuồng, bò mẹ chạy trước, qua mặt người dẫn đường, đến chỗ cũ đón con. Gần tới nơi, bò mẹ liên tiếp kêu ọ… ọ… ọ… Và, bò con đang trốn trong lùm, lảo đảo đi ra. Nó mừng rỡ, quyến luyến, làm nũng cọ dựa vào mẹ. Bò mẹ âu yếm bằng cách liếm khắp mình bò con. Nghĩ đến sự vô tình làm chia cách mẹ con suốt đêm qua, tôi vỗ nhẹ lên đầu bò mẹ, vuốt ve bò con như một cách tỏ lòng cảm thông, ân hận.
Tôi nhớ trước đây, cũng đã có lần chứng kiến một cảnh não lòng. Ngoài bốn mươi con bò, trại có nuôi ba con trâu: hai con trâu già và một con nghé. Một ngày gần Tết, người ta lùa trâu cha và con nghé đi ăn. Riêng trâu mẹ bị lùa vào trại, giao cho nhà bếp làm thịt. Chiều về không thấy mẹ, con nghé đứng rống thảm thiết. Sáng hôm sau, vừa được mở cửa chuồng, hai con trâu chạy xăm xăm vào trại, đến trước nhà bếp. Trâu cha đứng ngóc mỏ lên trời, hả họng như kêu một tiếng vô thanh dài xé ruột. Con nghé cúi gầm xuống, đi chung quanh nhà bếp, kêu é… ọ… é… ọ… gọi mẹ và ngửi đất. Cái hơi hướm của mẹ nó còn phảng phất đâu đây, sau khi bị phanh thây xẻ thịt. Cuối cùng, một điều hết sức đau lòng, trâu cha và con nghé đứng ngơ ngẩn nhìn nhau chảy nước mắt. Trời ơi, loài vật mà biết chảy nước mắt thì loài người cầm lòng sao đang! Liên tiếp cả mười ngày sau đó, buổi sáng nào trước khi đi ăn, trâu cha cũng dẫn con nghé đến trước nhà bếp đứng khóc. Cảnh tượng ấy, không bao giờ tôi quên. Không bao giờ quên.
Có lẽ, những ngày đi chăn bò là thời gian nhàn du thoải mái nhất của đời tôi. Lang thang giữa núi rừng. Đứng trên cao, ngắm mây đùn lên từ những lũng sâu, lướt thướt kéo qua chân núi. Trong phút chốc, tôi bỗng thấy mình như kẻ tu tiên lánh đời, tìm thuốc trường sinh trong hoa ngàn cỏ nội. Tôi cũng thường ngang qua nương rẫy. Ghé lại ngồi chơi với cụ già người Dao. Cụ dạy tôi hút thuốc lào mà không cần cái điếu cày. Bằng cách miệng ngậm nước, quấn thuốc trong chiếc lá, châm lửa, rít một hơi dài, ém khói và nhổ nước ra. Tôi tập nhiều lần, nhưng không làm được. Cụ kể tôi nghe về phong tục tập quán người dân thôn bản. Kể tôi nghe về đời cụ. Một điều làm tôi ngạc nhiên, cụ chưa bao giờ đi đâu xa quá một ngày đường. Tôi ước lượng khoảng cách ấy, không hơn năm mươi cây số. Cụ hỏi tôi từ đâu đến đây, và tại sao tôi nói được tiếng Việt? Qua câu hỏi, tôi biết trong thâm tâm cụ, miền Nam là một nước khác. Cụ có vẻ buồn khi nhắc đến những người con trai của núi rừng, bỏ thôn bản đi làm giải phóng miền Nam. Phần đông đi biệt không về. Một số rất ít trở về, kể chuyện Sài Gòn có cái nhà lầu cao bảy tầng và thành vua rất tráng lệ. Cụ không tin con người có thể cất được cái nhà bảy tầng. Nhưng tin rằng, nếu vua Sài Gòn không chịu đầu hàng thì quân Cách Mạng sẽ bắn nát thành vua. Nhân chuyện cụ già, tôi nhớ trên chuyến xe lửa chở tù lên Yên Bái. Một người bộ đội hỏi tôi, thằng Pho có đi học tập chuyến này không? Tôi hỏi lại, thằng Pho nào? Thằng Pho (Ford), tổng thống Mỹ đấy. Tôi đáp gọn, nó đang ở bên Mỹ. Anh ta tiếc rẻ, thế à? Nó cũng chạy thoát? Uổng thật! Dân trí như thế, mà người ta tuyên truyền rằng ánh sáng văn minh đèn điện đã soi rọi khắp các vùng nông thôn, rừng núi.
Tâm hồn người thượng du mộc mạc như đời sống của họ. Sáng sớm, rời mái nhà sàn, họ lên rẫy hoặc đi săn bẫy thú rừng. Bước chân không có tiếng động. Âm thầm hoang dã. Thỉnh thoảng, nghe tiếng đốn cây vọng lại. Cái âm thanh khô khốc lẻ loi như từ thinh không rớt xuống núi rừng u tịch. Buổi tối, những người trẻ đi ngủ rất sớm. Người già ngồi trầm ngâm trong ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu chai. Đời họ, không có gì vui, cũng chẳng có gì buồn. Thời gian lặng lẽ trôi qua, họ tưởng như thiên nhiên muôn đời vẫn thế. Làm sao họ nhìn thấy được sự biến đổi chậm chạp của núi rừng, khi cuộc đời quá ngắn.
Mấy mươi năm về trước, có một số người miền xuôi, đi lính Tây, bị đày lên đây. Bây giờ, họ đã già lắm. Và con cháu họ cũng đã trở thành người của thượng du, nhưng họ không ở nhà sàn. Cái sân trước nhà không mọc cỏ. Chung quanh có trồng vài loại cây ăn trái. Ở mãi một nơi nào rồi cũng nhận nơi đó làm quê hương. Nếu đời cha không nhận, đời con cũng nhận. Thiên địa vô nhân. Núi rừng không vì một ai hết. Trời đất lặng thinh. Bốn mùa vẫn luân chuyển nắng mưa. Hoa lá trên ngàn vẫn xanh thắm. Không vì mặc cảm đọa đày mà con người ghét cả thiên nhiên.
Một ngày mưa dầm, tôi được lệnh chuyển trại. Thời thế đã đến hồi gay cấn. Quân của hai bên đã dàn ra, đối mặt trên biên giới. Rồi đây, núi rừng lại ầm vang tiếng súng. Người dân hiền hoà vô tội của thôn bản là nạn nhân trực tiếp hứng chịu những sấm sét do chính con người gây ra.
Con đường phía trước tôi, không biết sẽ về đâu. Trí tôi bỗng hiện ra những dốc đèo uốn khúc sơn khê. Những con suối mùa chảy xiết ngày mưa. Những thôn bản im vắng trưa hè. Tôi như nghe tiếng chim bắt-cô-trói-cột gọi buồn thê thiết. Nghe con áo-dà, con nai đêm đêm “béc” ngoài đồi tranh hiu quạnh. Nhìn lại, lán trại đìu hiu. Cái sạp, nơi tôi nằm trống hoang lạnh lẽo. Mới đây mà cơ hồ đóng bụi. Cái ống bương đựng nước rửa mặt mỗi sáng, nghiêng đổ dưới sàn. Cái giò phong lan, tôi đem về từ ngoài rừng treo trên vách nứa, như cũng có hồn biết rầu rĩ chia xa. Hàng rào trại không còn cần thiết nữa, bị phá một khoảng để lấy lối đi tắt, cũng làm tôi nao lòng. Chẳng phải tôi đã từng khó chịu vì cái hàng rào này, và mong được ở ngoài vòng kiềm toả của nó hay sao? Rời khỏi nơi đây, một chốn đã trở thành thân quen, tất cả những gì bỏ lại đều làm tôi thương nhớ. Ra đi, tôi ngó lại trong mưa, những dãy núi Hoàng Liên Sơn mù mù, đẹp như tranh và hùng vĩ biết bao.
Xin chào từ biệt những người cùng chung cảnh ngộ, đã đến đây và vĩnh viễn nằm lại núi rừng thượng du.
Chiều đi trên đoạn đường hướng về phố núi, dưới triền đồi của hải đảo Tenerife. Ngoài kia là biển và bên trong là khu phố với những dãy chung cư cao tầng và những ngôi nhà thâm thấp, màu trăng trắng, từ xa nhìn vào thấy khu phố như nằm dựa vô ba bên vách núi và mặt ngoài hướng ra biển. Tôi cắm cúi đi tới dưới tàn của một hàng cây mà tôi hổng hay, chợt thấy bông gì rụng đỏ trên đường. Ngước mặt ngó lên, thấy chen trong tàn lá lốm đốm một vài màu đỏ. Tôi dừng chân và bước thụt lùi ra khỏi hàng cây để ngước mặt lên nhìn cho rõ. Trên nền trời màn mây trắng mỏng che kéo ngang làm màu xanh của nền trời nhợt nhạt. Trong ánh sáng nhẹ nhàng của buổi chiều, trên những tàn lá xanh xanh, vàng vàng hực lên một màu đỏ lói. Lòng xôn xao, xúc động, tôi hô:
– Oh, flamboyant!
Quê hương tôi là một thị trấn ven biển, thuộc tỉnh Cà Mau ở cuối miền nước Việt, nơi đó chỉ có rừng mắm, rừng đước và cây cối tạp nhạp. Ngoài bông lục bình, bông súng, bông bí, bông điên điển và bông so đũa… những loại bông dân dã ấy đã đi vào thơ ca và màu sắc cũng rất đẹp, nhưng đặc biệt là ca dao, hò hát về một loại bông thường kèm theo một món ăn ngon hơn là để ngắm, nhìn cho sướng mắt.
Tenerife xa mù chì ngoài Đại Tây Dương, gần bờ biển Tây Bắc Châu Phi, từ đất liền Tây Ban Nha chạy ra đảo, nếu biển êm phải mất hơn hai ngày. Buổi chiều nắng dìu dịu, không khí trong lành, về đêm mát mẻ và thoang thoảng hơi hám miền nhiệt đới rất là dễ chịu. Trong khi khí hậu Âu Châu đã bị ảnh hưởng cái nóng của sa mạc Sahara tràn về, có nơi lên tới bốn mươi hai độ C. Tenerife tuy cùng vĩ tuyến với sa mạc Sahara và núi đồi nơi đây trông trơ trụi, không cây xanh, chỉ có cây xương rồng, nhưng buổi trưa ở đây cao lắm là hai mươi sáu độ C. Cũng gần ba mươi năm rồi tôi mới gặp lại cây phượng trổ bông trên hải đảo này. Tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi đặt chân lên Bờ Biển Ngà (Côte d’Ivoire) vào buổi chiều tháng sáu, đầu mùa hè và cũng trên đường lên hội quán như hôm nay. Trên đường đi tôi thấy một hàng cây ra bông đỏ au, nhưng tôi hổng biết bông gì. Tôi đem thắc mắc vô hội quán hỏi một vị linh mục:
– Trên đường lên đây, tui thấy hàng cây gì mà ra bông đỏ hoét?
Vị linh mục vui vẻ cho tôi biết:
– Nó là flamboyant.
Lúc đó tôi cũng chẳng biết flamboyant là cây gì, tôi nhờ ông ghi chữ flamboyant vô sổ tay, tôi đem về tra tự điển mới biết đó là cây phượng. Hồi còn ở quê hương, tôi chỉ biết “hoa phượng” trong văn, thơ và nghe qua những bài hát, chớ chưa từng thấy mặt mũi cây phượng ra làm sao hết. Tôi hổng biết mấy bà nội trợ quê tôi có chế biến bông phượng ra món ăn nào không? Nhưng khi nói chuyện với người Việt thì tôi thích dùng từ bông phượng, dân miền Tây Nam Việt nói bông tức là hoa, theo tôi thì từ bông bình dị, hoà hợp với thiên nhiên và gần gũi với người dân của sông nước miền Tây hơn. Tôi đã đọc và đã nghe hát về hoa phượng ở Việt Nam rất nhiều, hể có hoa phượng thì có tiếng ve sầu buồn bã với cuộc chia ly, nhưng lâu lắc gì cho cam, có ba tháng nghỉ hè, sao mà thở than nghe buồn bầm gan, tím ruột, ý là ở sân trường trồng chỉ có vài ba cây phượng, nếu trồng một hàng phượng dài như ở bên này thì hổng biết ngày nghỉ hè các cô cậu học trò buồn thê thảm cỡ nào. Những năm sau này tôi thấy trên google tự động dịch bông phượng ra phoenix flower, còn cây phượng ra phoenix tree: bông phượng hoàng hay cây phượng hoàng tên đẹp đẹp, hay hay, nhưng khi nghe liền nghĩ ngay tên của một loài chim hơn là cây cối, hơn nữa google dịch tự động thì cũng nên suy xét lại, bởi vì khi hổng tìm ra từ nào chính xác thì Google Translate chơi trò ghép chữ. Chớ nếu chịu khó tìm trên wikipedia thì sẽ thấy tên tiếng Anh của cây phượng đúng là flamboyant hay royal poinciana. Bởi vậy cho nên khi nói với người ngoại quốc tôi dùng từ flamboyant mà họ cũng vẫn hiểu.
Có lẽ vì lần đầu tiên tôi biết phượng trên đất nước Phi Châu, nên hôm nay thấy phượng tôi chợt nhớ lại những ngày tôi sống trên vùng đất nghèo nàn, đen thui và dễ thương đó. Hình như là một sự ngẫu nhiên tình cờ hay là luật lệ của kiếp nhân sinh mà hôm nay tôi trở lại quần đảo Canary sau bao năm trời xa cách. Không khí ấm áp hiền hoà nơi đây làm cho tôi nhớ những năm tháng đi đi lại lại vùng biển Châu Phi. Dù tôi xa vùng đất khô cằn đó đã lâu, nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ trong vài lần đổ bộ, tôi bị người dân nơi đó lột hết áo quần, đồng hồ, máy ảnh. Ban đầu tâm trạng tôi có hơi hoang mang, sợ hãi và thù ghét cái đám người vừa đen, vừa xấu, vừa tham lam… cho nên có một thời gian tôi hổng dám đi mình ên lang thang trên đường phố. Cho tới một ngày kia tôi gặp vị Linh Mục, ông là người da trắng, có lẽ ông sống ở Phi lâu quá nên da người ông pha màu đen đen, đỏ đỏ trông ông mạnh mẽ, ngồ ngộ. Nhìn ông tôi mường tượng tới, một con người đã hoà nhập với đất cát, cây cối, lá, hoa, sông nước và núi, rừng thiên nhiên của vùng đất Châu Phi này. Lần đầu ông xuống thăm tàu, nghe trên tàu có một Vietnames boat people, tức là người Việt tị nạn bằng ghe. Ông liền lên phòng tôi gõ cửa và hỏi xin được vào thăm, dạo đó tiếng Anh của tôi nghe thì lõm bõm, nói thì bập bẹ, nhưng ông cũng kiên nhẫn ngồi chăm chú lắng nghe, nhiều chữ hổng hiểu chúng tôi phải tra từ điển. Trông gương mặt ông hiền từ, có giọng nói ấm áp, làm tôi cũng ấm lòng và vô cùng ngưỡng mộ. Ngày hôm sau ông đem xuống tặng tôi cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Việt, dạo đó tôi có viết cho vài tờ báo tiếng Việt, mỗi tháng mỗi toà soạn trả công cho tôi một tờ báo, tôi đọc một hai ngày là hết sạch. Nay được ông tặng quyển Kinh Thánh tôi để trên đầu giường đọc mỗi đêm trước khi ngủ. Có lẽ lời trong kinh thấm vào lòng, cộng thêm sự dạy dỗ của ông, tôi biết thêm chút ít về đất nước con người Châu Phi. Nghe tôi phàn nàn việc trộm cắp của người dân bản xứ. Ông nói:
– Thật ra thì dân nơi đây hiền từ và thiệt thà lắm, chỉ vì nghèo quá nên có chút lòng tham vậy thôi.
Bần cùng sanh đạo tặc, nghèo sanh tham lam thì đúng rồi, còn tham lam đi cướp giựt của người ta thì làm sao gọi là hiền từ được? Nghĩ vậy thôi, chớ tôi hổng nói ra. Hình như ông đọc được ý nghĩ của tôi, nên ông nói:
– Tất cả loài người trên trái đất đều là con của Chúa, vì chúng ta là con của Chúa nên người nào cũng có lòng tham.
Lúc đó đức tin tôi còn yếu nhưng nghe những lời ông nói tôi mới suy nghĩ nhiều về kiếp con người. Ừa, con người ai cũng có lòng tham, tôi cũng có lòng tham và tôi trở thành người phiêu bạt, xa quê hương, xa tổ quốc cũng do lòng tham lam của con người mà ra. Cũng từ đó tôi không còn sợ người da đen và mặc cảm với người da trắng. Tôi thay đổi ý nghĩ và xem tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau. Mỗi khi bị giựt đồ tôi cũng không thấy tức giận và thù ghét họ nữa.
Nhờ sống gần gủi với những người dân nơi đây, tôi học hỏi được nhiều điều và tôi cũng biết cách đề phòng. Mỗi khi đổ bộ tôi không đeo đồng hồ, tiền túi bỏ theo đủ xài và hổng mang máy chụp hình theo. Nói tới máy chụp hình, tôi nhớ có lần ngồi trong quán uống bia, một thanh niên tới cà kê làm quen, thấy anh ta cao ráo, nói chuyện cũng đàng hoàng, tôi mời anh ta ngồi chơi, anh vui vẻ nhận lời và ngồi xuống. Uống chưa hết chai bia, anh ta thấy cái máy chụp hình để trên bàn, anh ta hỏi mượn coi, anh cầm cái máy săm soi, ngắm nghía một hồi rồi đứng lên, ung dung mang cái máy vô cổ rồi đi ra ngoài. Lúc đó chưa có điện thoại thông minh, xài máy chụp hình bằng phim, cái máy cũng đáng giá đồng tiền. Nhưng nhìn cảnh nghèo nàn của anh ta làm cho tôi không còn cảm giác tiếc của và cũng không nỡ đứng lên thộp cổ, tri hô để đòi lại cái máy.
Có lần ở cảng Monrovia, tôi lên bờ chơi với viên phụ tá thuyền phó, có hai thanh niên da đen theo chúng tôi tới quán rượu. Khi chúng tôi ngồi thì hai thanh niên cũng kéo ghế ngồi cạnh bên, thấy vậy tôi hỏi hai người uống gì? Hai người lắc đầu, nói không uống mà hỏi xin tiền cái phần tôi mời.
Tôi nói:
– Hai bạn cứ uống đi, uống mấy chai tôi sẽ cho số tiền ngang với mấy chai đó.
Lúc đó hai người mới chịu uống. Chúng tôi ngồi chơi rất vui vẻ, một người thanh nên chỉ chiếc áo tôi mặc, khen áo đẹp quá. Tôi nhìn hai người bận áo rách tả tơi. Tôi bèn cởi chiếc áo đưa cho hắn ta. Phụ thuyền phó thấy vậy chỉ tay lên đầu nói:
– Ông bị thần kinh hả?
Tôi cười ha hả giống như một tên giang hồ sành điệu, rồi cởi luôn chiếc áo thung đưa cho người thanh niên bên cạnh và nói:
– Trời nóng, đổ mồ hôi, ở trần cho mát.
Lúc đó tôi thấy vui và làm vậy thôi, với lại áo quần tôi mặc cũng lấy đồ cũ từ những hội quán bên châu Âu. Nhưng từ ngày quen với vị linh mục và quen với Kinh Thánh, tâm tánh tôi có phần nào thay đổi. Tôi cũng có viết về đất nước con người nơi đây, từ chuyện lần đầu tôi thấy hoa phượng đỏ au trên vùng đất mà người thì da đen thui, răng trắng nhách, nghèo rớt mồng tơi, dường như người nào hổng ăn xin thì cũng ăn giựt, còn con gái phần đông làm đĩ. Chợt một ngày tôi nhận ra, những thứ mà tôi đã viết về đất nước, con người nơi đây, sao mà nó giống y chang ở Việt Nam đất nước tôi. Mặc dù tôi viết lại với tấm lòng yêu thương quí trọng, nhưng nghĩ cho cùng thì chỉ để thoả mãn cho cái thằng tôi và thấy có một sự tàn nhẫn trong cách diễn đạt của mình, từ đó tôi nhận ra những gì mình đã làm rất là lố bịch. Dù sao tôi cũng là một nạn nhân của những con người mệnh danh là cách mạng, là chân lý và cũng là người tha phương cầu thực, đi ăn mày tình thương khắp bốn biển năm châu thì có tình thương đâu mà chia xẻ với ai. Nghĩ tới đây tôi không còn hứng thú ghi chép về đất nước khô cằn và con người đen thui này nữa. Những bài nào mà tôi viết về vùng đất nghèo khó này lỡ đăng báo rồi thì thôi, còn lại bao nhiêu tôi đem liệng hết xuống biển.
Những tháng năm tôi lênh đênh trên những tuyến đường khác. Thỉnh thoảng có hội từ thiện kêu gọi góp tiền giúp dân Phi Châu, tôi sẵn sàng đóng góp không do dự. Những lúc đó tôi mới cảm thấy nhớ thương một xứ sở nghèo nàn đáng được những người khắp nơi trên thế giới quan tâm và giúp đỡ. Tôi còn rất nhiều ấn tượng về vùng đất khô cằn ít mưa, nhiều nắng, luôn thiếu nước uống và thiếu đồ ăn. Nhưng mỗi khi nhớ Phi Châu là tôi nhớ hàng phượng đỏ au dọc bên Bờ Biển Ngà và vị Linh Mục có nước da đen đen, đỏ đỏ khả kính đã an ủi, chỉ dạy tôi trong những ngày đầu tôi phiêu bạt. Nhờ ông mà tôi biết sống chan hoà với thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá và biết thế nào là tình thương nhân loại.
Đây hình như là một câu hỏi dành cho đề tài một cuộc hội thảo kỳ trước dành cho quí vị cao niên. Ở đây chúng tôi không có tham vọng đưa lại cho tuổi già một chút triết lý về cuộc sống cuối đời, cũng không đủ chuyên môn để nói về quyền lợi y tế hay tiền trợ cấp của người già trên sáu mươi tuổi.
Về hưu làm gì? Về bưu làm gì? Hình như câu hỏi nàychỉ dành cho các vị sắp về hưu hay mới về hưu mà chưa định hình được con đường mình đi hay những công việc mình làm. Hỏi như vậy là các vị còn thấy những ngày về hưu của mình có quá nhiều thời giờ tiêu pha không hết và đứng ngơ ngẩn trước ngã ba đường mờ mịt. Về hưu làm gì? quả là con thuyền đã ra khơi mà không định hướng, vật vờ mặc tình cho cơn gió đẩy đưa, trôi giạt. Chuyện về hưu đối với nhiều người vẫn là chuyện xa lạ, vì từ ngày sang Mỹ, họ chưa có một giờ đi làm. Một số đặt chân lên đất Mỹ tuổi đã cao, một số có con còn nhỏ đang ở trong các tiêu chuẩn được hưởng trợ cấp của chính phủ, số khác bị bệnh tật thuộc loại “mất năng lực” được quyền nằm nhà. Những số người này đã về hưu từ mười, hai, ba mươi năm nay nên “về hưu làm gì” không phải là vấn đề được đặt ra để thảo luận nữa. Trái lại, tôi biết có nhiều vị nôn nóng đến ngày mình “gác cày” nghỉ mệt vì công việc thì không hứng thú, bị căng thẳng ở sở, tuổi già bắt đầu mệt mỏi hay có nhiều việc gia đình phải dành toàn thời gian để làm, không thể ôm đồm khi còn ngày hai buổi tới sở. Nhưng cũng có quí vị nhẩn nha làm tới đâu hay tới đó, mặc dù các vị ấy đã quá tuổi hưu hơn vài năm nay, với công việc nhẹ nhàng, nhàn nhã, làm cũng như chơi. Những công việc này các vị ấy đã làm có khi đến hơn hai, ba mươi năm, một việc làm quá quen thuộc, không phải dụng sức, để tâm. Công việc ấy có thể là ở trong một xưởng máy, trong một cơ quan quận hạt, tiểu bang hay liên bang, hoặc một tổ chức từ thiện nào đó. Ở Mỹ, không ai đuổi các vị về hưu khi tới tuổi, nhưng có lẽ theo vòng quay của cuộc đời, các vị cũng nên xê ra để dành cho con cháu các vị mới ra trường cần công việc sinh sống, trẻ trung hóa bộ máy nhà máy hay nhà nước, và cũng để khỏi còn có cái cảnh các vị cao niên ngồi đọc báo, uống trà tàu hay ngáp vặt. Nói về quyền lợi thì hưu bổng, bảo hiểm y tế đã được tính đâu vào đó cả rồi, dù là có đôi chút phiền hà cho các vị có hưu cao như phải đóng tiền “deductible” nhưng nấc thang xã hội cũng có cái điều công bằng của nó rồi, cũng đừng nên coi đâu là khổ đâu là sướng. Câu chuyện này cũng như cái anh chàng có cơ may rời đất nước từ tháng 4-1975 lại cho rằng mình không sướng bằng người bạn mới sang Mỹ vào thập niên 90. Nếu hoán vị số phận cho nhau, thì trong hai người, cái người nhất định không bằng lòng lại là người thứ nhất đã than phiền trong câu chuyện này.
Người xưa đã có cái triết lý về hưu rồi, về hưu là rong chơi, nhàn tản, rượu bầu thơ túi, vui cảnh điền viên như ông Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Tiêu dao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người thân”
hay như trong chuyện Cổ Học Tinh Hoa: “ông Vinh Khải Kỳ đã chín mươi tuổi, thời Xuân Thu, ngao du ở ngoài đồng, mặc áo cừu, thắt lưng giây, tay gẩy đàn cầm vừa đi vừa hát, tự cho mình là người súng sướng, vì được làm người, lại là đàn ông, khỏe mạnh, cho rằng nghèo thì là sự thường của thế gian, xử cảnh thường, đợi lúc chết, thì còn gì phải lo buồn?”
Nhưng đến thời nay, cuộc sống máy móc, không có chỗ cho cá lội, ít có khoảng trời cho chim hót, cuộc đời của quí vị về hưu cũng quanh quẩn bên sân nhà, lại phương tiện không có, nên ngao du sơn thủy có mấy khi. Cho nên ngẫm lại, cái câu hỏi “Về hưu làm gĩ?”, chắc vẫn còn là câu hỏi khó giải của một số người. Bằng chứng là có những vị cao niên ngồi ở Phước Lộc Thọ từ sáng tới trưa để bàn chuyện “trên trời dưới đất”, chuyện chiến tranh vùng Vịnh, hoặc nhâm nhi ly cà phê cũng mất nửa buổi. Những vị khác đến chỗ sinh hoạt bồi dưỡng thì đánh cờ tướng, chơi domino hoặc vào internet “xợc” coi hình con gái Việt Nam bên quê nhà. Không ít vị chủ nhật thứ bảy lên xe bus miễn phí xuống các sòng bài ở San Diego hay trên xa lộ 15 kéo máy, đóng một ít tiền điện cho mấy sòng bài, góp phần chấn hưng kinh tế của nước Mỹ. “Về hưu làm gì?, quả thời gian đối với một số vị hưu trí quá dư thừa, nhàn nhã, thư thả, có đem đốt cũng không hết. Tôi cũng không kỳ thị phái tính, nhưng thật là câu hỏi “về hưu làm gì” dành cho quí ông nhiều hơn là dành cho quí bà. Phụ nữ Việt Nam cho tới lúc xuôi tay mới hết bận rộn, suốt đời hết khổ với chồng lại lo cho con. Lúc chồng đi trận xa, quí bà ở hậu phương thay chồng nuôi con, lúc chồng thất thế vào tù, một mặt lo bới xách nuôi chồng, một mặt lo chạy gạo từng bữa cho con.
Bây giờ, đáng lẽ được đôi chút nhàn hạ sau bao nhiêu năm gian khổ, sang tới đất Mỹ thì lại phải thức khuya dậy sớm lo cơm nước, lớp ăn lớp bới tới sở cho con, chưa kịp mừng con nên duyên phận lại lo bồng nuôi cháu nội cháu ngoại. Trong khi chồng ngồi quán cà phê hay hăng hái lo việc nước, bận rộn biểu tình, thì quí bà vẫn còn lẩn quẩn trong bếp lo hai bữa cơm, chẳng thấy cái “về hưu” ở đâu cả. Người ta khuyên các vị về hưu là “Hãy sống thong dong, không tạo ràng buộc gì cho mình”, hay triết lý hơn, đó là :” Không có gì bận tâm, đó là hạnh phúc!”
Người viết bài này lại nghĩ khác: “Người có nhiều mối bận tâm mới là người hạnh phúc” Mâu thuẫn chăng?
Có người về hưu không có thời giờ để hỏi, ngày mai mình sẽ làm gì? Vì lúc về hưu mọi việc lại trở nên lại bận rộn hơn những ngày đi làm. Trong khi con cái suốt ngày chạy theo sinh kế, chúng có bao nhiêu việc cần nhờ tới bàn tay nội ngoại. Đưa cháu tới trường, dẫn cháu đi chơi thể thao, nhắc cháu một bài tập, đi lo giúp con một vài thứ giấy tờ. Có bao nhiêu vị cao niên vẫn còn cắp sách đến trường, làm gương hiếu học cho con cháu, có bao nhiêu người tham gia công việc cộng đồng, ở các trung tâm Việt Ngữ, ở các buổi sinh hoạt văn hóa.Trong cộng đồng còn bao nhiêu việc cần bàn tay của quí Ông Bà không còn ràng buộc bởi công việc ở sở làm. Không, người bận rộn, người quan tâm tới nhiều công việc của cá nhân mình và cả của người khác, đó mới là thứ hạnh phúc đích thực. Về hưu rồi, ở trong gia đình, quí vị cũng không phải là “người có cũng được, mà không cũng xong” mà vẫn là người còn cần thiết nhờ cậy cho người vợ hay lũ con cháu. Ở ngoài đời, người ta không hy vọng gặp quí vị ở chỗ bán loto, đang đứng cạo vé số hay ngồi ở gần tượng ông Thọ. Ông Thọ sống lâu là cái lộc Trời cho, nhưng sống lâu ra lão làng, lão làng ăn trên ngồi trốc, đánh chén ở chiếu trên giữa đình làng, lấy cái râu cái tóc ra mà hoạnh họe với đời, đè áp bọn trẻ, đừng cho chúng ngóc đầu lên, chẳng giúp được gì cho ai, thì cuộc sống cũng không khác mấy cái bình vôi ở gốc cây đa như nhà văn Phan Khôi đã ví von.
-Về hưu để làm gì? Có khi nào quí vị đặt câu hỏi ấy ra với chính mình hay để có người hỏi mình như thế? Và câu trả lời sẽ là như thế nào, phải chăng còn tùy quan niệm sống của mỗi người?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.