This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Lúa đã bén rễ, lá xanh vượt lên khỏi mặt nước hơn gang. Cỏ dại mọc chen với lúa. Nếu không nhổ tận gốc, cỏ sẽ mọc nhanh hơn lúa. Những người đàn ông lom khom dưới ruộng, nhổ cỏ. Họ làm việc, có vẻ dửng dưng nhàm chán, thiếu phần sinh khí. Dù không năng động, nhưng cũng chẳng chây lười. Công việc làm, kết quả hay không, họ vẫn thế. Sở dĩ, họ phải làm vì không thể ngồi không được. Họ là những sĩ quan, viên chức của chính quyền cũ, biến cố lớn, trở thành tù nhân. Tù khổ sai ở đâu cũng có những quy luật khắc nghiệt của nó. Quy luật ở đây, còn tiến xa hơn một bước. Tù nhân bị tước mất nhân phẩm. Giá trị con người của họ, đơn thuần chỉ còn là những sinh vật biết cử động.
Trời rét dữ. Sương muối nặng như có mưa phùn. Nước ruộng ngập nửa ống những người đàn ông. Chân lạnh tê. Tay buốt cóng. Thỉnh thoảng, có người nhấc chân lên, kẹp con đỉa trong nắm cỏ, rứt ra. Quăng xuống nước, rồi nó lại bám ngưới khác.
Trên bờ. Hai chị công an phụ trách về nông nghiệp, đốt một đống lửa nhỏ, nhàn rỗi ngồi hơ tay, tán gẫu. Một chị bụng bầu, mặt tai tái, mắt quầng thâm mệt mỏi. Chị kia trẻ hơn, mặt căng da mởn, đầy sinh lực.
Chị bụng bầu ngó lên màu trời trắng đục:
“Chán! Làm đơn xin về tỉnh, lại bị tống vào nơi tối tăm.”
Chị trẻ:
“To đầu mà dại. Giao tế tiền bạc, tạo điều kiện trước. Khi nào được trên chấp thuận, thì làm đơn để hợp thức hoá.”
“Tiền, tiền. Gì cũng tiền. Muốn có tiền, phải đưa con người ta về chỗ nào còn quơ quào kiếm chác được. Đưa về với bọn chết đói này, đến cọng rau cũng không còn, lấy gì giao tế? Có lột quần ra mà ăn.”
“Không tiền thì dùng sắc. Nhưng đừng cho hưởng vội. Phải nhử mồi trước. Khi nào có kết quả, cho xơi.”
“Ranh thế, sao mày còn bị đày về đây?”
“Chưa gặp thằng trên có đủ quyền quyết định. Cho mấy thằng dưới hưởng, chỉ nghe khoác lác nhảm, chứ được gì!”
Im lặng một lúc. Chị bụng bầu mở túi sắc, rút quyển sổ nhỏ ra xem. Xong, chị ngẩng đầu lên, gọi:
“Này! Các anh kia ơi!”
Những người đang lom khom nhổ cỏ lúa dưới ruộng, ngừng tay, ngó lên bờ.
“Anh nào có trình độ đại học, lên đây tôi bảo.”
Những người dưới ruộng nhìn nhau. Không ai lên tiếng.
Chị bụng bầu hỏi:
“Chả ai có trình độ đại học à?”
Một người hỏi lại:
“Có chuyện chi không, cán bộ?”
“Tôi cần một anh có trình độ. Anh là tổ trưởng? Thôi, chính anh cũng được. Lại đây. Còn những anh kia, tiếp tục làm việc đi.”
Anh tổ trưởng bước lên bờ, co ro đứng chờ.
Chị bụng bầu nói:
“Anh đếm bước theo chiều dài chiều ngang của mỗi thửa ruộng. Cứ bảy mươi bước đôi là trăm mét. Dài nhân ngang là ra diện tích mặt bằng. Anh biết công thức tính diện tích chứ?”
“Vâng. Tôi biết.”
“Tốt! Cứ theo chỉ dẫn của tôi mà làm. Giấy viết đây này. Ghi vào. Tính toán xong, cho tôi kết quả.”
Anh tổ trưởng cầm giấy viết, đi và đếm bước.
Hai chị công an lại tán gẫu.
Gió bấc hiu hiu. Sương muối nhòa đồi cọ trung du.
Chị trẻ kẹp hai bàn tay vào nách, rúm người:
“Trời lạnh, làm gì thích nhỉ?”
Chị bụng bầu:
“Đéo là thích.”
“Khẽ! Không ngại bọn chúng nghe?”
“Mặc chúng!”
“Bụng to thế, mà đêm thằng Nọc thủ kho vẫn đến à?”
“Chỉ là trao đổi những thứ hắn bòn rút được trong kho.”
“Tướng hắn như voi. Coi chừng sẩy thai đấy.”
“To xác bé chày. Thằng quản giáo Cậy mới kinh.”
Chị trẻ rút vai:
“Ừ. Thằng Cậy kinh thật.”
Chị bụng bầu:
“Chỉ có nó trị nổi mày. Đêm nó quất cho vài cú là ngất ngư.”
Chị trẻ cười rúc trong cổ: “Thế, vẫn thích hơn cái lão thủ trưởng, nhấp nha nhấp nhứ, chả ra làm sao cả. Này, tao thấy lão thủ trưởng hay để ý chăm sóc mày. Có phải lão là tác giả của cái bầu này không?”
“Tao gán cái ách cho lão. Chứ thật ra, cũng chả xác định được thằng nào. Nhưng tao vẫn nghĩ của thằng Cậy.”
“Chơi với thằng Cậy dễ bị nó gieo hoạ, như mày đấy. Lần nào gặp nó, tao cũng bã người.”
Cuộc tán gẫu ngừng, khi anh tổ trưởng đi lại báo cáo diện tích đã đo đạc tính toán xong.
Chị bụng bầu cầm mảnh giấy, nói:
“Anh đi làm việc đi.”
Anh tổ trưởng đứng xoa tay:
“Xin cán bộ cho anh em nghỉ giải lao.”
“Đã đến giờ đâu mà đòi giải lao?”
“Trời lạnh. Xin cán bộ thông cảm.”
“Lạnh, thì làm việc vào cho nó ấm.”
“Ngâm dưới nước lâu. Anh em tê cả tay chân rồi.”
“Luôn luôn đòi hỏi. Thôi được, lên bờ nghỉ đi.”
Anh tổ trưởng gọi lớn:
“Anh em giải lao.”
Mọi người lên bờ, kéo nhau về phía chân đồi, ngồi nghỉ. Từng cụm năm ba người, hút thuốc lào, và nói chuyện. Chẳng ai than phiền gì về hoàn cảnh hiện tại. Nhiều năm tháng chịu đựng đã quen rồi.
Một anh công an bảo vệ, mang súng lại gần đống lửa, đốt thuốc, hơ tay, mặt nghinh ngó xoi mói.
Chị trẻ:
“Này, ngồi xích ra. Đừng có lạm dụng nhé.”
Anh bảo vệ:
“Ôi giời! Tưởng quý lắm đấy “
Chị bụng bầu:
“Lấn mãi, tôi ngã xuống ruộng mất.”
Anh bảo vệ nhìn chị bụng bầu, cười nhăn nhở:
“Bụng to phình thế kia, khi xổ lòng, cả đội tù làm vệ sinh, hốt cũng không xuể.”
“Ngủ với thằng nào, thì bảo thằng ấy ăn. Tao vô can.”
Chị bụng bầu mắng: “Mặt lồn, mồm thối. Chả trách theo ve vãn mấy đứa con gái ngoài làng, nó cũng chê.”
Anh bảo vệ đứng dậy đi lên đồi, còn ném lại phía sau: “Như mấy con heo nái, động đực cả đêm. Ai lạ gì!”
Chị trẻ ngó theo, rủa: “Đồ thối tha, ma chê chó gặm.” * * * Chếch về phía tây đồi cọ, là ruộng của hợp tác xã. Năm chị người Tày, đang nhổ cỏ lúa. Nhiều lúc họ cầm nắm cỏ, vẫy nước vào nhau cười đùa. Hình như họ không sờn thời tiết mùa đông trung du. Ba thằng bé Tày trên đồi, lùa trâu xuống đầm dưới cái vũng chân đồi. Rồi chúng đi lại chỗ nấu nước, có những người đàn ông gầy héo, đang co ro hơ lửa.
Một người hỏi:
“Áo quần phong phanh như vậy, cháu không lạnh sao?”
Thằng bé đáp:
“Chỉ nghe mát.”
“Mấy chị đằng kia là chị của cháu hả?”
“Là vợ.”
“Cái gì?”
“Vợ.”
“Vợ ai?”
“Vợ cháu.”
Người đàn ông ngạc nhiên:
“Lạ lùng! Cháu mấy tuổi?”
“Mười hai.”
“Vợ mấy tuổi?”
“Hai mươi ba.”
Người đàn ông nhìn vào thằng bé bên cạnh:
“Còn chú nhỏ này thì sao?”
“Thằng này thì chưa. Nhưng thằng kia cũng có vợ.”
Thằng bé chỉ tay về hướng ruộng hợp tác xã.
“Đấy. Đấy. Người vừa bước lên bờ là vợ nó đấy.”
Người phụ nữ từ xa, vẫy tay réo gọi:
“Thằng ôn dịch kia. Hãy lùa trâu lên ngay.”
Thằng bé chạy đi lùa trâu.
Người đàn ông hỏi:
“Cháu có nói giỡn không?”
“Giỡn là đùa đấy hả? Cháu không đùa.”
“Vợ sao lại mắng chồng là thằng ôn dịch?”
“Vợ hỗn. Vợ cháu cũng hỗn. Lắm khi vợ còn đánh cháu nữa.”
“Ba má cháu không trách vợ cháu à?”
“Trách gì? Bố mẹ nói cháu hư. Bảo vợ phải đánh.”
Người đàn lắc đầu:
“Vợ chồng kỳ cục!”
Thằng bé ngồi gần thùng nước, hỏi vọng ra xa:
“Có không?”
Thằng bé lùa trâu:
“Có.”
“Căng không?”
“Tạm.”
Thằng bé lùa trâu, cầm túi nylon đi lại. Nó giơ cái túi lên, khoe. Bên trong lúc nhúc mấy con đỉa trâu, căng phồng no máu. Ba thằng bé bứt những cuống bông cỏ, cẩn thận buộc chặt hai đầu con đỉa.
Người đàn ông hỏi:
“Bắt đỉa làm trò chơi à?”
“Không chơi. Nướng ăn.”
Người đàn ông trợn mắt:
“Trời đất! Ăn đỉa?”
“Không ăn đỉa. Chỉ ăn tiết trâu. Như người ta vẫn ăn tiết lợn, tiết gà đấy.”
“Nhưng cháu ăn tiết trâu bằng cách nào?”
“Cho con đỉa hút máu con trâu. Xong, cho đỉa vào lửa nướng.” “Sao phải buộc chặt hai đầu?”
“Nếu không, khi cho vào lửa nó phọt tiết ra hết.”
Thấy chuyện lạ, những người đàn ông bu lại xem.
Thằng bé quăng mấy con đỉa vào đống lửa. Con đỉa quằn quại vài cái rồi nằm im. Nó dùng cái que khều qua khều lại, nướng đến khét. Gắp ra, cạo lớp vỏ bên ngoài. Còn lại thỏi tiết tròn, dài bằng ngón tay, màu đen. Chúng chia nhau, ăn.
“Ngon không?”
“Ngon. Tiết nướng thơm hơn tiết luộc.”
Người đàn ông lắc đầu:
“Một kiểu ăn tiết trâu lạ đời.”
Một người khác, hỏi thằng bé có vợ:
“Đêm cháu ngủ với ai?”
“Với vợ.”
“Cháu có làm gì vợ không?”
“Đi ngủ thì ngủ, chứ làm gì.”
“Vợ có ôm cháu không?”
“Trời lạnh, vẫn ôm.”
“Cháu có ôm lại không?”
“Có chứ.”
“Chỉ ôm nhau ngủ, mà không làm gì?”
“Đắp chăn, hoặc gác chân lên nhau nữa.”
Những người đàn ông nói nhỏ với nhau:
“Chờ đến khi nó hiểu biết, đời con gái xuân thì cũng tàn phai.”
“Tục lệ tảo hôn, tưởng đã đi vào quá khứ lâu rồi. Ai ngờ, ở đây vẫn còn tồn tại.”
Anh công an bảo vệ mang súng đi tới, nói với những thằng bé:
“Này! Oắt con, không được quan hệ.”
Thằng bé nói:
“Tôi chỉ ngồi chơi.”
“Không được. Cút ngay. Vợ mày gọi đấy.”
Thằng bé vênh mặt:
“Làm kiêu. Mai mốt ra nhà, đừng hòng xin xỏ thứ gì.”
Nói xong, nó đứng dậy, đi về phía những con trâu.
Anh bảo vệ:
“Lũ ranh. Lắm trò đáo để. Có vợ rồi đấy.”
Người đàn ông hỏi:
“Sao các cô lại chịu làm vợ những đứa bé con?”
“Dễ thôi. Gái núi chỉ đáng giá con trâu. Có trâu là cưới được vợ. Người nhiều của, cưới vợ sớm cho con để có người làm lụng viêc nhà, việc đồng. Khi thằng oắt đến tuổi trưởng thành, thì vợ đã già. Nó bỏ vợ già, cưới con vợ đồng lứa với nó. Những thằng trai nghèo, cưới lại con vợ già của thằng vừa bỏ ra, không phải nạp con trâu.”
***
Xế chiều. Những chị người Tày nhổ cỏ lúa bên phần ruộng hợp tác xã, lên bờ. Họ gọi mấy ông chồng nho nhỏ lùa trâu ra về, ngang qua hai chị công an.
Chị trẻ lên tiếng: “Về sớm thế?”
Chị người Tày giơ tay chào:
“Xong rồi. Em về nhé. Về làm việc khác.”
Khi những chị người Tày đi khỏi, chị bụng bầu nói:
“Ban ngày làm quần quật. Ban đêm ngủ với thằng oắt con đái dầm. Chán chết.”
Chị trẻ:
“Tao nghĩ nó cũng phải dạy cho thằng oắt chứ.”
“A, thì có dạy. Nhưng cái đuôi thằng oắt như cái đuôi chuột ngo ngoe. Chỉ làm điên tiết.”
“Giới thiệu thằng Cậy cho nó một lần thôi. Dù có cho ăn vàng, nó cũng bỏ thằng oắt.”
“Dâm như mày, còn phải chết ngất vì thằng Cậy. Huống chi ai?”
Chị trẻ cười, vỗ vào đùi chị bụng bầu:
“Thế mày không ngất hả?” Hai chị cười sùng sục.
“Này. Tao thấy hình như vợ của lão thủ trưởng cũng có gì với thằng Cậy đấy.”
“Hình như gì nữa. Tháng trước, mụ ra đội rau xanh của nó xin rau quả gì đấy. Nó tấn mụ vào nhà lô cả buổi. Khi ra về, tóc tai mặt mũi mụ bơ phờ. Chuyện này, bọn tù cũng biết.”
“Thấu tai lão thủ trưởng, thì đời thằng Cậy bị khốn ngay.”
Chị trẻ nhìn đồng hồ đeo tay:
“Hôm nay cho tù về sớm. Thằng tổ trưởng có xin cho bọn chúng đi tắm ngoài suối.”
Chị bụng bầu:
“Ngâm nước cả ngày, còn tắm nữa?”
“Nước ruộng bùn sình. Cứ cho chúng tắm suối. Lạnh thế này, chúng cũng chỉ rửa chân tay thôi. Thiệt thòi gì mày?”
“Chưa đủ chỉ tiêu.”
“Mai làm tiếp. Trông chúng đuối rồi. Sức chịu đựng của bọn tù cũng gớm thật. Đói ăn, lại ngâm nước lạnh cả ngày. Thế mà chưa thằng nào bị ngã. Làm thêm nữa, có thằng nằm vạ ra đấy.”
Chị bụng bầu phân vân:
“Về sớm, nhỡ kiểm tra bắt gặp.”
“Lúc đó sẽ viện lý do, đổ thừa cho cái bụng bầu của mày có vấn đề không ổn.”
“Ừ. Về thì về.”
Chị trẻ gọi.
“Này, anh tổ trưởng ơi, bảo thu dụng cụ.”
Anh tổ trưởng bắt tay làm loa gọi lớn: “Thu dụng cụ!”
Những người đàn ông uể oải kéo nhau lên bờ. Xong một ngày làm việc, mùa đông. Trên đường về. Hai chị công an nói với nhau về dự định, tối nay ấp ủ với ai cho ấm, và cười khúc khích. Còn những người tù thắc mắc, không biết bữa ăn chiều nay có thay đổi, hay cũng vẫn sắn khô nước muối thường ngày?
Những bến cảng lớn ở Âu Châu tổ chức hội quán rất chu đáo và phương tiện di chuyển cho thủy thủ hoàn toàn miễn phí, chỉ cần điện thoại hẹn, thường thì xe tới rước rất đúng giờ. Không hiểu sao hôm nay chúng tôi đứng chờ hơn một tiếng đồng hồ giữa cơn mưa tuyết và trong cái lạnh dưới độ không mà hội quán vẫn chưa cho xe tới. Gọi điện hỏi thì được nhân viên trực cho biết vì hôm nay tàu vô bến nhiều, thủy thủ đổ bộ đông, xe hội quán bận rộn đưa rước nên tới trễ, họ nói sẽ cố gắn tới nhanh và gởi lời xin lỗi. Nhân viên người ta đã cho biết như vậy rồi mà tên thuyền phó đứng hổng yên một chỗ, cứ đi tới đi lui và miệng chửi thề liên tục. Khi xe tới, cả đám vội vàng ùa lên xe, tuy trong xe có máy sưởi nhưng người nào cũng kêu lạnh và cũng cái tên thuyền phó cà chớn, vừa bước lên xe chưa ngồi yên trên ghế hắn liền cằn nhằn anh tài xế tại sao để hắn đứng ngoài trời lâu quá. Anh tài xế từ tốn giải thích:
– Xin lỗi, hôm nay rất đông người nên chúng tôi phải chia nhau phục vụ…
Anh tài xế là người Thuỵ Điển vừa xin lỗi vừa chịu khó giải thích, nếu chuyện này xảy ra ở mấy nước còn lạc hậu, kể cả nước Nga của hắn, ăn nói xấc xượt kiểu đó thì thế nào cũng bị tống cổ ra khỏi xe đứng giữa trời tuyết dưới không độ cho lạnh teo cu và hoá thành người đá. Tôi với sugilar và Ayardy, người In Đô, ngồi im ở băng sau, không biết hai đứa cảm thấy như thế nào, riêng tôi thì hổng thấy khó chịu gì hết, ngược lại tôi rất ngưỡng mộ nhân cách của anh tài xế và cám ơn anh thiệt nhiều.
Mới hơn sáu giờ chiều mà trời đất Thuỵ Điển như đã về đêm. Xe chạy trên đường vừa ướt vừa trơn, từ bến cảng lên tới hội quán người ta treo dọc hai bên đường những biểu tượng được kết bằng nhiều bóng đèn nhỏ li ti thành hình con thỏ, con nai và ngôi sao… Mỗi khi trở lại Thuỵ Điển, nhứt là nhằm mùa Giáng Sinh, tôi rất thích thú nhìn hoa đèn không màu mè nhưng rất linh động, tuy đất trời lạnh lắm, nhưng trong lòng ấm áp và sự yên ả của xứ sở này cho tôi cảm giác bình an. Xe chạy lên dốc của một ngọn đồi và ghé vô bãi đậu cạnh rừng thông, chỉ có loài thông trong mùa đông vẫn còn xanh lá. Vừa mở cửa xe mọi người ùa nhau chạy vô hội quán trên một đồi thấp. Đúng như anh tài xế nói, hội quán đêm nay chật cứng người. Trong phòng khách mỗi bàn thắp một cây đèn cầy lớn cắm nên dĩa có trưng bày bông tuyết, làm cho căn phòng ấm áp và không gian mờ mờ ảo ảo trông lãng mạn tuyệt vời.
Viên thuyền phó, phụ máy và Jurre đi thẳng vô phòng vi tính.Tôi và hai đứa In Đô đi lại tủ lạnh lấy bia và đem qua quày mua bịt da heo chiêng dòn, Sugilar đạo Hồi không ăn thit heo, tôi mua cho nó gói đậu phộng. Trong lúc tính tiền, tôi thấy một cô gái bận nguyên bộ đồ trắng giống như trang phục cô dâu bưng khay bánh và cà phê đi mời từng bàn. Tôi hỏi cô gái đứng trước quày:
– Bộ hôn nay có lễ cưới hả?
Cô gái lắc đầu nhè nhẹ:
– Không…không hôm nay là ngày thánh nữ Lucy.
– Ồ!
Tôi khoa tay một vòng và day qua nói với hai đứa In Đô:
– Tụi mình vô trong kia, hôm nay ở đây có nhiều thứ miễn phí.
Chúng tôi cười, cô gái cũng cười và gật đầu nói:
– Dĩ nhiên.
Tính tiền xong chúng tôi bưng bia vô trong tìm chỗ ngồi. Hôm nay là ngày mười ba tháng mười hai, là ngày ngắn nhứt trong năm ở Thụy Điển, nói chung là từ bắc Đức qua tới vùng Scandiavia, nhiều nơi tổ chức lễ kỷ niệm thánh nữ Lucia, còn gọi là ngày St. Lucy. Luice là người đầu tiên đã chết vì đạo và dược giáo chủ Syracuse phong thánh tại La Mã trong thời đại hoàng đế Diocletian. Lễ kỷ niệm thánh nữ Lucia bắt nguồn từ những câu chuyện kể của một nhà truyền giáo đầu tiên đem đạo Thiên Chúa vào vương quốc Thuy Điển. Tương truyền Lucia là một cô gái trẻ và rất đẹp, cô tình nguyện làm cô dâu trung thành của chúa Kitô, vì không muốn cho bất cứ người đàn ông nào đeo đuổi theo cái vẻ đẹp sắc nước hương trời nên cô tự móc đôi mắt của mình bỏ vào cái chén. Cô cũng là người đã mang thực phẩm cướu giúp các tín đồ Kitô lẩn trốn trong các hầm mộ dưới lòng thành phố La Mã, vì trong hầm mộ tăm tối, cô phải đội vương niệm gắn đèn cầy cho có ánh sáng để hai tay rảnh ran bưng đồ ăn phân phát cho những người này, Lucy cũng có nghĩa là ánh sáng chiếu soi giữa lúc tối tăm.
Dựa theo truyền thuyết trên, ngày lễ kỷ niệm thánh nữ Lucia được được tổ chức với một cô gái trang phục màu trắng, thắt ngang vòng eo của mình một đay đỏ và trên đầu đội vương miện có kết năm cây đèn cầy. Nhiều năm về trước, thánh nữ hoá trang đội đèn cầy sáp có khi bị cháy đầu hoặc bị sáp nhiểu làm phỏng mặt. Để thánh nữ được an toàn, ngày nay hoá trang người ta dùng đèn cầy giả và xài pin.
Chúng tôi ngồi với nhau vừa nhâm nhi bia vừa thưởng thức đêm của Lucia. Một lát sau Ayardi hỏi tôi. Ở Việt Nam có Giáng Sinh không chú.
– Có.
– Tổ chức lớn hông chú?
– Lớn lắm, tao nghĩ, chưa có nước nào mừng Chúa giáng sinh lớn như ở nước Việt Nam.
– Thiệt hả chú?
Ayardi cười cho là tôi nói giỡn và tôi cũng nửa giỡn nửa thiệt:
– Ở nước tao ngày Giáng Sinh người ta ăn uống và tặng quà nhau như núi.
– Chú có đạo không?
– Đạo hả?
Nghe thằng nhỏ hỏi tôi giựt mình, lâu lắm rồi mới có người hỏi tôi về chuyện tín ngưỡng. Ở nước tôi chùa chiền lô nhô, áo vàng đầu trọc lóc nhóc loi nhoi và tượng Phật, tượng nào tượng nấy cao ngất trời mây, Phật ông thì hùng dũng, Phật bà thì đẹp như các cô người mẫu chưn dài, tới đâu cũng thấy ăn chay và nghe niệm Phật om xòn trời đất nhưng hổng thấy Phật đâu hết. Còn Giáng Sinh lễ lạc cho những đại gia nhiều tiền lắm của, ăn chơi xả láng, họ mua quà tặng nhau lên đến hàng tỉ đồng và có những nơi giả làm ông già Nô-en đi rảo ngoài đường để moi tiền bá tánh. Tôi bưng bia lên hớp một cái cạn phần bia trong lon, tôi mới phát hiện ra, ngộ thật, cũng là thủy thủ và cũng là những con người từ bốn phương, nhưng sao họ tới hội quán bên xứ khác thì ồn ào náo nhiệt như khu chợ trời và ngột ngạt khói thuốc. Còn tới đây lại yên ắng nhỏ nhẹ, trên cả trăm con người ta chen chút trong căn phòng rộng vừa phải mà chỉ nghe tiếng thì thào hoà theo tiếng nhạc nho nhỏ phát ra từ những chiếc loa gắn đâu đó trên trần nhà và người nào ghiền thuốc thì tự động bận áo lạnh đi ra ngoài sân hút, nhờ vậy mà trong hội quán đông người nhưng rất thoáng khí. Đêm nay trong phòng hội quán không xài đèn điện, ngoại trừ chỗ tính tiền và những nơi trưng bày đồ đạc. Đương sống trong sự yên bình, tự dưng đem ba cái chuyện đạo ra nói làm tôi ái náy và cảm thấy không gian trong suốt như bị vẩn đục và thoáng chút nặng nề. Để Ayardi khỏi tiếp tục nói chuyện đạo, sẵn lon bia không trên tay, tôi đưa lên bóp nhẹ một cái và nói:
– Mày lấy thêm bia đi, đạo bia cũng tốt, tao theo đạo này.
Ayardi cười ha hả rồi đứng lên định đi lấy thêm bia, chợt viên thuyền phó bưng một mâm bia lách những chiếc bàn đông người đi tới, Jurre và phụ máy cũng tới kéo ghế lại ngồi chung. Thuyền phó khui bia ra mời mỗi người một lon và Ayardi cầm lon bia ngồi lại chỗ củ. Mọi người vui vẻ hô lên câu chúc lành và ngước cổ nốc một hơi. Khi để bia xuống, thuyền phó phàn nàn:
– Bia ở đây có ba độ rưỡi mà bán mắc quá.
Tôi để lon bia xuống cười một cái, nói:
– Ông nghĩ sao, tôi đưa bàn tay ra lần ngón kể, đưa rước, Internet, trà, cà phê, bánh ngọt, hồ bơi, tắm hơi tất cả miễm phí. Nữa lít bia chỉ có hai euro rưỡi mà ông lại chê mắc à. Ông biết hội quán bên St. Petersburg một ly bia giá bao nhiêu không?
Thuyền phó cười sằn sặc và đưa ngón tay cái ra gặt gặt:
– Ồ, mắc lắm… ông nói đúng ha ha…
Chúng tôi vui vẻ ngồi tán dóc với nhau cho tới khi nhân viên hội quán tới báo giờ đóng cửa. Vì đông người nên nhân viên sắp xếp cho tài xế chia nhau chở. Tàu chúng tôi đậu hơi xa nên phải đi trước giờ hội quán đóng cửa mười lăm phút.
Xe chạy xuống đồi, xuyên qua màn mưa tuyết ta thấy những dãi nhà đóng kín và đường vắng bóng người, đừng tưởng rằng dân Thụy Điển đã ngủ. Trái lại trong những căn phòng sạch bụi, có lò sưởi ấm áp họ sinh hoạt rất linh động, vui vẻ và rất gần gũi nhau. Có lần cũng vào mùa đông tôi tới chơi cùng gia đình người bạn Thụy Điển, thưởng thức món cà phê truyền thống và miếng bánh quế thơm, sau đó cùng anh ra những quán nước trong một con hẻm nhỏ lát đá lâu đời uống bia, khu phố cũ kỷ nhưng không tồi tàn, những cô gái và những chàng trai lịch sự bình dị và sống rất văn minh… Chuyện qua lâu lắm rồi nhưng mỗi khi tản bộ hoặc ngồi trên xe ngang qua những khu nhà giữa mùa đông tuyết trắng nó hiện về trong trí tôi mơ mơ màng màng… Sống trong cảnh thiệt mà giống y như là truyện cổ tích vậy.
Trong một chuyện ngắn viết về một người đàn ông bỏ vợ để theo một cô gái còn trẻ, làm nghề móng tay ở một tiểu bang miền Đông, tác giả câu chuyện này từ đầu tới cuối truyện, thay vì gọi tên của nhân vật nữ, đã dùng danh từ “con neo” để nói về người con gái này với một giọng văn rất là miệt thị. Tiếc rằng câu chuyện ấy đăng trên một tờ báo nào đó cách đây đã lâu, tôi không còn nhớ tên tác giả để nêu ra đây. Cũng một hôm, nhân ngồi quán cà phê với một đám đông, trong câu chuyện nói về người Việt chúng ta ở Mỹ có thói quen hay dùng Anh Ngữ với con cái và hay xưng bằng “mom” hay “dad”, một người bỗng buột miệng nói: “Nhiều cô làm “neo”, “hớt tóc” cũng bày đặt “mom mom”, “dad, dad”!
Tôi nghiêm chỉnh hỏi lại người này: “Vậy theo ông, chỉ những người tốt nghiệp đại học hay có bằng cấp cao mới có quyền dùng tiếng Anh, còn những người ít học như con tôi thì không có quyền ấy hay sao, dù trong câu chuyện, ông chỉ có ý cho rằng nói tiếng Anh với con cái là điều không nên, vì sợ con cái quên tiếng Việt”. Tôi biết người này lỡ lời, nhưng thưa các bạn, trong ý nghĩ của một số người ở đây, vẫn cho rằng nghề làm “neo” là nghề ít học, thấp kém, không có trình độ văn hóa cao. Nếu những người này ít học mà làm những nghề đơn giản, không cần văn hóa như ở trong shop may, assembly, chạy bàn, bán Mc Donald hay cà phê thì người ta không nhắc tới, nhưng tiếc thay những người này lại đang làm một nghề thịnh hành tại nước Mỹ, kiếm ra rất nhiều tiền, nhiều khi một người làm nghề móng tay có thể kiếm nhiều tiền hợn một kỹ sư hay kế toán. Điều này đã nẩy sinh ra lòng khinh bạc, sự khinh bạc ấy phát xuất từ lòng ganh tị tầm thường của con người.
Tôi biết ngành “neo” có thể đem lại cho nhiều gia đình giàu có, nhà đẹp, xe mới, tiêu pha rộng tay, nhưng không phải vì những người làm nghề này không cần bằng cấp văn hóa, mà cho đó là nghề hèn. Cái câu “có người hèn chứ không có nghề hèn” người Việt đã nghe đi nghe lại quá nhiều lần, nhưng lòng dạ con người vẫn còn quá chật hẹp. Điều phải nói ngay là không phải ai làm nghề “neo” cũng đều ít học. Trong tình hình kinh tế như hiện nay, sinh viên tốt nghiệp khó kiếm việc làm, hay đang làm việc mà thất nghiệp thì cử nhân, kỹ sư hay sinh viên đại học một vài năm, vì khó khăn gia đình cũng có thể đi làm “neo”. Tôi xin lấy một vài ví dụ điển hình như trường hợp Cô Lê Trâm một người sinh hoạt cộng đồng, thành viên của ban kịch “O’ Noodle”, sau khi tốt nghiệp cử nhân tại Cal State Northridge đã cùng bạn bè sang tiểu bang New York làm nghề “neo” trong 5 năm để nuôi sống ban kịch, đầu tư cho những dự định về văn hóa, sau đó trở về Cali đi học lại. Phan Bá Linh, con của một cựu sĩ quan VNCH tốt nghiệp kỹ sư điện toán từ những năm 1992, sau một thời gian đã bỏ nghề, đi Las Vegas làm “neo”, rồi mở tiệm, ngày nay có cơ hội đã bước sang lãnh vực địa ốc. Chúng ta không có thời giờ đi làm một bản liệt kê về những trường hợp như thế, nhưng đây không phải là những trường hợp cá biệt. Tôi cũng đồng ý nghề “neo” không cần đến văn hóa đại học, nhưng đó là một dịch vụ trong trăm nghìn dịch vụ lương thiện, lấy sự chăm chỉ, cần mẫn, khéo tay làm lời, nghề này cũng không lường gạt, dối trá, đạp đổ, ép chế ai để lấy tiền, thì có gì đáng phải chê trách. Chắc chắn nhiều người không thể theo đuổi nghề “neo” được, dù là nghề dễ làm ra tiền. Bạn có khả năng làm suốt cả chủ nhật, thứ bảy, cặm cụi suốt ngày, “phục vụ” những bàn tay, bàn chân, đôikhi không được đẹp đẽ thơm tho mấy, trong bầu không khí nồng nặc mùi hóa chất độc hại như thế không? Nếu có khả năng, xin mời! Nước Mỹ là nơi bạn có thể tự do chọn lựa một nghề thích hợp với khả năng của mình, miễn là đừng kề dao vào cổ ai (vi phạm pháp luật) hay dùng trí thức lưu manh – không phải trí tuệ – của mình để lường gạt, thất tín (thiếu lương tâm) với người khác. Nghề nghiệp ở nước Mỹ không hề kỳ thị hay cấm cản ai. Và nghề nào cũng phải “đổ mồ hôi, xót con mắt” mới có ăn, ngoại trừ những nghề “bóc lột”.
Nói về tình người, tình đồng hương thì từ ngày chúng ta bỏ nước ra đi, nhờ sự cưu mang của nước Mỹ, ngày nay ai cũng có cơm ăn, áo mặc, nhà ở hơn hẳn cái thiên đường Cộng Sản mà Tố Hữu đã mơ ước “sữa cho em thơ, lụa cho già”, chưa nói đến chuyện giàu có. Từ năm 1990, khi chương trình định cư của những người tù chính trị bắt đầu, người tù “cải tạo” vì hoàn cảnh gia đình, ở Việt Nam, con cái thất học vì sinh kế phải ra đời, khi sang Hoa Kỳ thì đã lớn tuổi, nên không phải ai cũng có thể cắp sách tới trường. Phần lớn, đã hiểu nỗi khổ của cha mẹ nên muốn ra đời để giúp đỡ gia đình. Lúc đó nghề may, nghề thợ cũng vất vả khó kiếm, một số chuyển sang nghề “neo” và thành công. Phải nói đó là vận may của nước Mỹ đã ưu ái dành cho số đông con em các gia đình H.O. và đồng hương sang chậm theo diện bảo lãnh (immigrant). Nếu nghề “neo” không phát triển rầm rộ vào thời điểm này để đưa bàn tay đón đỡ cho những người sang sau, thì những người này còn gặp khó khăn rất nhiều. Trong vòng mười năm trở lại đây số người theo nghề “neo” ở Mỹ đã lên tới con số 30,000, trong đó có 80% là người Việt của chúng ta và những người này đã xây dựng được một đời sống ổn định, khá giả trên đất tạm dung. Điều đó không đáng vui cho những người Việt trên đất Mỹ hay sao? Bà con chúng ta ở quê nhà, ít học, không kiếm ra công ăn việc làm lương thiện tử tế, phải làm những nghề tệ bạc, khi nghĩ đến những người này lòng chúng ta có ngậm ngùi không? Tôi xin gởi đến những ai đã mang lòng kỳ thị, khinh bạc một cái nghề – chỉ vì nó không cần tới học vấn mà làm ra tiền và giàu có một cách lương thiện – như tác giả cái truyện ngắn và ông bạn đã dẫn trên, câu ngạn ngữ Tây Phương sau đây: “Chúng ta khinh bỉ nhiều thứ, phải chăng để khỏi tự khinh bỉ mình”.
Về phần các con tôi và các bạn cùng nghề, tôi nghĩ nghề “neo” là một ân sủng mà ơn trên đã dành cho nhữngngười Việt không đi được những con đường học vấn thong dong như những đồng hương khác. Xin yêu lấy và hãnh diện về nghề nghiệp đã nuôi sống mình cũng như gia đình, nghĩ đến những người bất hạnh hơn, trau dồi chuyên môn cũng như tư cách của một con người tử tế, thăng tiến nghề nghiệp cũng như làm đẹp đời sống đạo đức của mình.
Mới sáu giờ, mặt trời đã rụng xuống sau chùa. Cây cao niên và tường rêu ngói ẩm như biết thu hút bóng tối. Tà dương dâng tràn. Những chân mây tím thẫm thôi bay, những bóng điện bắt đầu thắp sáng, lung linh phố phường phía bên kia sông. Sông là giãi lụa xanh uốn lượn ôm lấy chùa, đò trôi ngang thảng hoặc nhưng tuyệt chẳng một lần cập bến. Chùa đoạn lìa với mọi thứ, hoặc mọi vật đều chẳng muốn phá vỡ nỗi tịch lặng của chùa chiền. Buổi chiều, do đó, ngây dại một nỗi buồn. Trầm tịch bóng hoàng hôn xâm thực từ tốn cái khuôn viên luôn chôn chặt thứ không gian đầy u ẩn.
Muốn xuống sông lấy nước, những chú tiểu phải bước đủ bốn mươi chín bậc cấp bằng đá. Gánh nước lên theo lộ trình cũ và con tim co thắt có khi đếm lộn, mệt mề dốc đứng vã mồ hôi. Những tảng đá trũng khuyết như minh chứng giùm: Đã có biết bao sư rời chùa với viên mãn một quá trình tu tập. Sông không bao giờ cạn, cũng như việc học vốn vô đáy, bởi thế chữ viên mãn chỉ là một cách nói đầy ước lệ. Ai cũng hiểu núi này cao thì ắt hẳn sẽ có núi khác cao hơn, trùng điệp.
Khi dứt tiếng chuông chiều, nghe lời dặn ban sáng của sư trụ trì, chú tiểu An Lạc đi hết chiều dài khoảng sân cát hai bên nhờ nhợ từng bụi hoa trắng mọc cách khoảng như đứng chỉ đường. Một bóng đen ngồi trên tảng đá lớn, chẳng vọng động như người với đá chỉ là một, dính liền tựa hình khối một bức tượng. Ngồi đâu lưng nhưng biết nguồn cơn của làn gió nhẹ vừa xô tới. Nói mà chẳng quay đầu:
– Con ngồi xuống, kề cận bên ta.
– Dạ.
– Con ở đây được mấy năm rồi?
– Dạ, hơn mười năm.
– Hai năm trước, vì cứu người thầy đã bơi qua dòng sông. Con còn nhớ không?
– Con còn nhớ. Lúc ấy trời vừa sáng, và hình như đang mùa mưa lũ. Trời lạnh.
– Ừ, đã hai năm. Sông nước ngoài kia vẫn thế mà sức khỏe thầy thì tuồng như hao hụt, xuống thấp, gần cạn kiệt. Nói dại miệng chứ giờ này nhác trông có ai sẩy chân vùng vẫy dưới sông e thầy bất lực chỉ có nước đứng hô hoán. Con có biết bơi không?
– Dạ không. Hoặc đúng hơn con chưa thử qua. Sông chỉ đẹp ở bề mặt, phía dưới nó chứa đầy những hiểm nguy. Phải không, thưa thầy?
– Giải thích thì phải dài dòng, phải lấy sở học mà minh chứng. Tạm thời, con hiểu như vậy cũng chẳng có gì sai trái. Bản thân của sự vật đều luôn có ở đó hai mặt. Sáng, tối. Đẹp, xấu. Hiền lành, dữ tợn…
Sắc màu nhờ nhợ đã rút đi, bóng tối vây chặt lấy họ. Sông trôi dưới kia như con mãng xà đen đúa yên lặng trườn mình ngang qua. Biết chắc đó là sông vin nhờ vô con đò có thắp ngọn đèn dầu di động đốm lửa đỏ quạch chòng chành theo tay chèo ngược gió. Chú tiểu ngó theo, cho đến khi đốm sáng khuất lấp sau đám lau sậy mọc rậm tựa một tấm màn tre. Hai năm trước, sư trụ trì đã thất bại trong việc cứu người. Chẳng tường tận nguyên nhân, nhưng sau đó mọi người nhìn ông đóng cửa căn phòng hậu liêu để tự nhốt mình ngồi diện bích cả tháng trời. Tịnh khẩu, không nói năng. Sự im lặng như một sám hối, đồng thời khiến người ta nghĩ tới điều gì thật khúc mắc của nội tình. Nghĩ trong lòng nhưng chẳng một ai đưa ra câu hỏi.
– Con đã qua phía bên kia sông lần nào chưa?
– Dạ chưa.
Chú tiểu trả lời. Thị trấn bên ấy như một thế giới khác, xa xăm. Giờ này thì nó lung linh đèn đuốc tựa một bức tranh nửa hiện thực nửa như ảo ảnh.
– Thế mười năm loanh quanh ở đây con chưa hề một lần rời chùa?
– Dạ có chứ. Nhưng chỉ đi xuống chợ phía dưới chân núi. Con theo mấy anh gánh rau quả đi đổi gạo muối. Mùa hè nào chùa mình cũng thu hoạch được nhiều hoa màu.
– Ư, phải. Thế thì con lãnh hội được điều gì ở mỗi một lần xuống núi?
– Con không hiểu ý thầy…
– Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Tiếp xúc với người bên ngoài con thấy sao?
– Hình như đa số họ chẳng mấy thiện cảm với bọn con. Ở chợ, con nghe họ nói những điều chướng tai, không hay.
– Chuyện gì?
– Họ bảo tất cả những cặp trai gái, những đôi vợ chồng lên đứng chụp ảnh với cảnh chùa thảy đều bị li tán chia lià đổ vỡ sau đó. Chùa mang điềm bất thường cho lứa đôi.
– Thật sao? Họ còn ác khẩu điều gì khác?
– Có người nói hoàng hôn nghe tiếng chuông chùa thì bỏ đũa chẳng buồn ăn cơm, đêm nằm trằn trọc những muốn nổi loạn đi làm chuyện xằng bậy Tiếng chuông vang dội đi xa, rót vào lòng người những thông điệp ám tối, xúi dục tựa ma qủi. Chùa từng là nơi ẩn náu an toàn cho bọn sinh viên tụ tập, lên Trường sơn, đi theo mặt trận giải phóng…
– Mô Phật! Đất nước tuy yên tiếng súng nhưng lòng dạ con người giờ này tao loạn đến mức không tưởng nổi. Mạt pháp!
– Còn chuyện này thầy cho phép con mới nói ra.
– Ngần này tuổi, thầy đã trải qua biết bao điều gần như oan uổng. Thảy đều nghiệp chướng. Con chớ ngại ngần.
– Họ đồn đãi với nhau thầy là nhà sư quốc doanh. Con không hiểu chữ quốc doanh, nhưng mơ hồ nhận ra đó là chữ chẳng mấy đẹp, đầy ác ý.
Nhà sư cúi đầu, tay lần chuỗi hạt, giây lát sau thở dài:
– Thầy yêu qúi vô cùng câu nói của Thích ca: “Cái cuộc đời mà mình luôn bất bình này chưa chắc đã hiện hữu, niềm đau khổ hằng dấy lên trong tâm cũng vì mộng tưởng mà ra!” Con hãy nhớ lấy một điều, có những lời mình phải trân trọng cất giữ trong hồn, cũng như có những lời mình phải biết bỏ ngoài tai, cố quên đi. Hôm nay đây thầy gặp riêng con để chỉ nhờ con giúp thầy một chuyện. Con là người nhỏ tuổi nhất trong chùa nhưng là người thầy đặt nhiều lòng tín nhiệm. Có những sự việc mà thành đạt được, căn nguyên là do ở tính hồn nhiên. Con có sẵn lòng giúp thầy không?
– Thưa thầy, trong tất cả những bài học con gắng sức thông hiểu thì giúp người có lẽ là bài học đầu tiên. Xin thầy cho phép con được trả chút công ơn thầy từng cưu mang dưỡng dục.
– Con xuống núi, đường đi khổ ải nhiều chông gai và cạm bẫy, con có sờn lòng không?
– Đó là một cách thực hành những điều mình đã học. Qua đó con sẽ trưởng thành. Xin thầy hãy cho con cơ hội.
– Tốt. Thầy không nhìn lầm người. Thầy đã viết sẵn một lá thư. Thầy đã vẽ sẵn một bức họa đồ. Cảnh vật, địa hình có thể sẽ đổi khác, cho nên để con dễ tiếp cận mục tiêu, thầy có ghi chú thêm những thông tin, những chi tiết. Bấy lâu dè xẻn được một số tiền, thầy sẽ trao hết cho con lận lưng làm hành trang ngày mai đi dọ hỏi giùm thầy tung tích một người thất lạc từ hơn hai mươi năm. Một tháng trời cả đi lẫn về, liệu thời gian ấy có đủ cho con không? Một tháng. Bởi thầy biết cơ thể của mình chẳng thể chịu đựng lâu hơn. Thầy tự gia hạn sự có mặt ở cõi trầm luân này đúng ba mươi mốt ngày. Thầy đợi chờ tin vui từ con. Gắng giúp thầy mở rộng nụ cười lần cuối.
– Con xin gắng sức.
– Thầy thật băn khoăn, bất an vì đã đặt lên vai con thứ trọng trách quá nặng nề. Thầy đặt tên cho con là An Lạc. Con hiểu hai chữ ấy không?
– Dạ hiểu.
– Không bao giờ con làm ta thất vọng cả. Con là người học trò yêu mến nhất mà ta có. Con muốn hỏi điều gì không, hở An Lạc?
– Thưa thầy, điều duy nhất con muốn hỏi là mười năm trước, ai là người mang con đến gửi chùa này?
– Con muốn truy tầm lí lịch? Ừ, thầy xin trả lời. Đó là một người đàn ông. Ông hứa sẽ trở lại nhưng mãi bặt tăm. Ông ấy là cha con, ông nhờ thầy chăm sóc bởi quanh ông chẳng còn ai. Ông đã khóc khi quay lưng rời chùa.
– Ổng đi đâu?
– Cha con là sĩ quan. Ông thua trận, ông lẫn trốn một thời gian và sau rốt ông quyết định đi trình diện chính quyền mới. Đã mười năm, thầy nghĩ cha con đã chết, bởi người ta, không ai có thể chịu đựng một bản án vô thời hạn ở chốn rừng thiên núi độc. Nếu điều đó sai thì còn tình phụ tử. Một kẻ làm cha… Con hiểu không? Có điều gì khuất tất mà mình chẳng thể ngờ được. Đau khổ lắm! Đoạn trường lắm! Thôi con chuẩn bị đi ngủ là vừa, lấy sức cho ngày mai.
An Lạc mỗi ngày ăn hai bữa. Mỗi bữa một vắt cơm chấm mè rang muối. Trước khi ăn đọc một câu chú, một đoạn kinh và đưa tay rà soát cái ruột tượng mà thầy cẩn thận khâu vá cho đúng với số đo trên cơ thể An Lạc. Dấu kín trong người tựa một trang kinh huyền nhiệm. Chú lấy am miếu hoang tàn mà nghỉ ngơi, nương nhờ vô nghĩa trang vắng tẻ mà ngủ ngáy. Chú nguyện với Thổ địa, sẽ chịu muôn vàn đớn đau trong chuyến xuất hành này miễn đánh đổi được một kết quả như lòng mong mỏi của thầy. Ngày thứ ba, theo bản đồ thầy vẽ, An Lạc đến được thị trấn Đông Tây. Chỗ này phát triển sầm uất, nhà cao cửa rộng, những bảng hiệu sáng đèn chớp nháy rậm rật và luôn sôi động cuốn hút đủ mọi âm thanh. Tiếng rao hàng, tiếng chửi rủa tru tréo, tiếng người lớn cười, tiếng con nít khóc, tiếng động cơ xe gắn máy nổ chát chúa… Ở chùa không khí trong lành, tịch lặng ngưng đọng; ở cõi ta bà này nhiều bụi bặm và quá loạn mùi đồ ăn hỗn tạp chiên xào củi lửa, khói dật dờ vây đầy lối đi xanh xám mù mờ. Người ở phố thị nên ăn vận có phần diêm dúa, bước ra từ tường cao cổng kín xiêm y màu mè toàn hàng độc tuồng muốn khoe của, lại có hạng khố rách áo ôm, vô gia cư, đàn đúm lại mà ăn ngủ vỉa hè coi cảnh màn trời chiếu đất là chuyện hẳn nhiên chẳng quan hoài tới nghịch cảnh, không để tâm tới số phần rớt mồng tơi. Cho nên bức tranh phồn hoa đô hội kia tuyệt đối không hài hòa, xấu xa sự cách biệt hố sâu giữa hai giai cấp. Nhìn vào biết ngay chân tướng ai là kẻ thắng đứa nào là kẻ xuội lơ đầu hàng. Áo màu lam hai ba chỗ vá, bụng chẳng bao giờ no cơm đạm bạc, An Lạc tự biết phận mình cũng gần như thành phần bị bóc lột, cho nên chú lẫn tránh những lối có đồn bót cửa quyền có cơ quan nhà nước bài trí sự hung hãn của họ qua sắc màu đỏ thắm. Chú sợ bạo lực, thậm chí những điều nhỏ nhặt cũng làm lòng chú hoang mang, tỉ như bắt gặp hình ảnh con chim hoảng loạn bị nhốt trong lồng chật, dáo dác tiếng kêu nghe ai oán, não lòng.
Dò đúng với bản đồ, An Lạc dừng chân ngó người đàn ông ngồi thu lu bên cái tủ nhỏ bày bán những bao thuốc lá ngoại quốc. Sau lưng ông, căn nhà mở rộng cửa và đó là một tiệm ăn đang hồi đông khách.
– Thưa chú cho con hỏi. An Lạc nhỏ nhẹ gióng tiếng dò chừng.
– Muốn xin một chỗ ngồi bán vé số phải không?
– Dạ không. Con chỉ xin hỏi cô Phạm thị Thuận Hóa có còn ở trong ngôi nhà ấy không?
– Chẳng biết. Quán nhậu đó toàn cả bọn đàn ông ăn tục nói phét. Dường như chốn ấy không phải là nơi đàn bà lai vãng. Chủ tiệm tên Nguyễn Thần Kinh chứ nào có ai là Thuận Hóa? Có lộn chỗ không?
An Lạc tần ngần, dõi trông, tỏ vẻ rối trí.
– Không tin, có thể mạnh dạn vào trong ấy mà hỏi.
– Thưa chú, họ đang ăn thứ gì vậy?
– Có đi học không? Hay mù chữ? Chẳng thấy chữ viết to đùng bay bướm nơi tấm bảng ấy sao? “Cờ Tây. Ở đây chuyên trị Cầy tơ”.
– Cầy tơ là giống gì?
– Chú em người miền nào trôi sông lạc chợ tới đây? Người Kinh hay dân tộc thiểu số? Họ ăn nhậu thịt chó đấy. Cầy là tuất là khuyển là chien là dog là gâu gâu. Không chó thì là gì?
– Tội lỗi! Chó mà cũng bị làm thịt nữa sao? Thật là bất nhân!
– Thôi đi ông thánh. Nó ngon tới độ nhức răng. Ngon hết biết! Dân nhậu đang hoảng vì chúng khan hiếm dần. Người ta xực cho tới hồi chúng tuyệt chủng luôn.
– Khi Phật rũ bỏ mọi thứ, ngồi tham thiền nhập định dưới gốc cây Bồ đề, trong muôn loài, chó là con vật đến bên Phật sớm nhất.
– Thôi đi ông cụ non. Ý cụ nói gì chúng cháu đếch hiểu.
– Có nghĩa là trong muôn loài, chó là con vật thiết thân nhất, có thiện cảm với loài người. Trung thành, một dạ thương yêu chủ có khi hơn cả người đối với người. Và con người thì đã thui chột cảm tính, đánh mất tánh bản thiện Tội lỗi!
– Thưa tiá. Tiá ngôn ở đây thì chẳng sao, chớ bước lên ba bậc cấp của quán nhậu ấy mà ăn nói linh tinh kiểu đó chúng úynh cho bỏ mẹ. Đánh đến rách cái lai quần vẫn cứ hồ hỡi đánh. Có sáng mắt sáng lòng thì sớm đi cho con nhờ.
Người đàn ông xua tay như đuổi tà trong khi có kẻ mặt đỏ từ trong quán bước ra:
– Lấy cho tôi bao ba số đại ca.
– Hôm nay bảnh vậy? Mua nguyên bao.
– Ừ, của đút lót, mình hút thế chó nào được. Nghe qua tên Mắt Bò chưa?
– Sao đây? Một thứ thực đơn hay bảng hiệu một tiệm nhậu?
– Làm gì có. Mắt Bò, cái tay này tuổi trẻ tài cao, đang khuấy động võ lâm đây.
– Ủa, sao ngồi hóng tin ở đây mà tôi lại chẳng hay biết.
– Thằng này con vô thừa nhận, hồi trước nó ở viện dục anh, chẳng học hành, kiếm cơm bằng cách đi làm ở lò sát sanh. Ôi, chuyện này dài, kể hết cũng khô hơi luôn.
– Cứ kể nghe chơi. Đánh đổi bằng điếu thuốc. Này, hút đi.
– Ừ, tôi thích sòng phẳng. Anh biết lò sát sanh rồi chứ gì? Là nơi chuyên hạ heo bò, xẻo thịt bán cho chợ búa. Bò là con vật kỳ lạ, nó linh cảm biết trước cái chết đang gần kề và nó khóc anh ạ. Cái thằng mang hỗn danh Mắt Bò kia động lòng hay sao thì mình chẳng rõ, hễ thấy con bò nào khóc thì nó đưa tay ra chùi rồi lại dụi vào mắt mình. Cứ thế ròng rã lao động mười năm trong lò sát sanh, giờ này hai con mắt nó biết nhìn xuyên thấu qua thế giới khác.
– Là sao? Chuyện hoang đường kỳ ảo thế?
– Nó thấy sự chuyển dịch đi lại người của cõi âm. Tóm tắc, nó thấy ma như cơm bữa. Ngán chưa? Người đời không tin. Người đời trắc nghiệm và nó phán không sai trật một mảy may.
– Chẳng hạn?
– Chẳng hạn ông cố hoặc bà nội anh chết tự thuở nào. Anh chỉ còn giữ hình ảnh của tiền nhân ở trong mấy cuốn album, anh cắc cớ tìm nó, bảo mày có ngon tả hình dáng ông cố bà nội tao coi. Nó nhắm mắt trong phút giây rồi nói rành rọt tựa hồ nó từng xem mấy tấm ảnh cũ kỹ kia. Y phục cắt may kiểu cọ ra sao. Dấu vết dị hình trên mặt như thế nào. Chột, sẹo, nám, tàn nhan nốt ruồi, râu ria, tay chân mình mẩy nói ngọn ngành không chừa một phân ly. Đúng y bon.
– Nó ờ đâu giờ này?
– Giờ này nó ở trong ngôi nhà to nhất đường Hai tháng Chín. Đời nó phất và nó sắp thành đại gia. Và có lẽ nó sẽ mang cái tên khác. Mắt Bò thì nghe kinh, mấy em người mẫu chân dài nghe cũng thấy ớn.
– Chuyện thấy ma qủi mà cũng mang lại sự sang giàu sao cha nội?
– Sao không? Ngoài Hà-nội người ta có tiền đô từng va-ly, người ta vào tìm nó hỏi thăm con em họ trong chiến tranh chống Mỹ xác thân vùi dập chỗ nào? Ôi dào, kinh doanh kiểu đó phải thuê người hiền lành như chú em này ngồi đếm bạc giúp nó. Đếm mỏi tay.
An Lạc hỏi:
– Nếu tìm người thân thất lạc hai mươi năm mà người ấy chưa chết thì liệu ông Mắt Bò có biết cách chỉ đường không?
– Em hỏi câu gì ngặt nghèo thế? Nó có phải công an đâu. Nó không chơi với người sống, nó mặn người chết hơn.
Ông bán thuốc lá bình phẩm:
– Trường hợp thằng Mắt Bò thuộc loại ngoại lệ. Nó đâu có mong mỏi cái ngày giàu sang này. Có nghĩa là nó chẳng rắp tâm lựa chọn, mặc cho cuộc đời đẩy đưa. Nếu được chọn lựa, tao lựa nước mắt con gì đó bôi vô mắt mình để chỉ mong có biệt nhãn nhìn xuyên thâu áo quần của chị em phụ nữ đi qua lại dập dìu trên con đường này.
– Tội lỗi!
Người bán thuốc cười ré lên.
– Sao mày ưa xài chữ ấy thế? Xã hội này ai cũng mang tội ngập đầu, ai cũng xuống tới bảy tầng địa ngục. Ma qủi ngon cơm hơn bọn mình, bởi họ chết ở cái thời điểm thanh bình ngày xa xưa. Mày hiểu không? Mày mặc áo lam như kiểu gia đình Phật tử, vậy chớ mày biết câu đời là bể khổ tình là giây oan không?
– Thôi, chào chú con đi.
– Phải. Đi tìm thân nhân là vừa. Đứng láng cháng ở đây cả mày lẫn tao đứa nào cũng phải nực gà, nổi nóng.
Trời xuống sắc, hoàng hôn chờ chực đàng sau những cao ốc, đợi những ngọn đèn đường sẽ đồng loạt cháy đỏ. Thành phố này quá lớn rộng và An Lạc thấy chúng sinh, thấy bản thân đều nhỏ bé, tựa giọt nước mắt rơi vào lòng biển cả, tựa hạt bụi xô giạt trong gió, tựa chiếc lá trong rừng thu đổi màu. Tung tích của Thuận Hóa cũng thế, là con cá nằm dưới một dòng sông mênh mông chảy chẳng bến bờ. Giờ này, chữ duyên trong nhà Phật là chữ có khả năng mang tới niềm tin cho An Lạc. Chú biết chắc cuối cùng chú sẽ đối diện với người mà chú hằng khấn nguyện xin được gặp mặt. Khi người ta trang bị một lòng thành để đi tìm, họ vượt qua những gian khó và họ sẽ nhìn thấy điều ẩn khuất chờ đợi. Đó là một sự trả công tất yếu.
Ngày thứ năm, theo thông tin của một người đàn bà giặt chiếu bên sông, An Lạc lên đò trôi nổi tới thị trấn Bắc Nam. Chú đã rút từ ruột tượng tờ bạc thứ ba dùng để trang trải vào những việc chẳng thể dè xẻn, tằn tiện. So với những phố phường từng bỏ lại sau lưng, thị trấn này xô bồ, đông đúc và hỗn tạp hơn vạn lần. Người da trắng, người da màu, dân ngoại quốc tứ xứ cũng chen vai thích cánh đi đứng loạn xị giữa phố. Sành điệu và ma mãnh gấp trăm lần An Lạc. Trong đám đông nếu có ai muốn kiếm ra một đứa người nước ngoài, họ sẽ đồng loạt đưa tay chỉ vào bộ mặt ngơ ngác của An Lạc: Nó đấy. Nếu không đúng, hẳn nó vừa từ dưỡng trí viện trốn chạy ra. Nó hiện thân của thứ quá khứ mà ta muốn chôn vùi. Nhìn nó, ta buộc lòng phải hồi tưởng lại vết cắt thương đau của năm 75. Hoảng loạn, tả tơi. Mặt cắt không còn hột máu. Tán loạn, đổ vỡ, phân lìa, ly loạn. Trù dập, tù tội, cưỡng bức. Một vết thương không bao giờ thành sẹo. Đã bao nhiêu năm trôi qua, sao tự dưng giữa đời sống đương đại văn minh vật chất này lại lòi ra một thằng người “cũ kỹ” dường ấy?. Sao nó có thể sống sót? Sao nó có thể bắt kịp với thời đại? Ngôn ngữ nó dùng cũng thế. Nhỏ nhẹ, lễ độ, phép tắc. Những thứ mà chúng ta đã đánh rơi theo chiều dài lịch sử, từ đổi mới cho tới kinh tế thị trường.
– Dạ thưa thím, cho con hỏi cô Thuận Hóa có phải thuê nhà ở đây không?
– Dạ thưa bác, làm ơn chỉ giùm con lối nào để đến đường Cách mạng tháng Tám?
– Dạ thưa anh, em nhận sự ủy thác của một người và em hứa chu toàn công chuyện để người ấy an lòng đi vào giấc ngủ ngàn thu.
– Dạ thưa cô, để con gánh nước giúp cô. Con quen việc ấy rồi. Con không lấy tiền trả công đâu. Chi xin cô chỉ bày ngõ nào đến đường Nam kỳ khởi nghĩa.
Ngày thứ tám, An Lạc đứng trước một cánh cửa đóng kín. Cửa đen đúa, chạng vạng làm nó thêm thẩm màu. Gõ đi, cửa sẽ mở. An Lạc nhớ, hình như câu đó nằm trong Thánh kinh. Ngay tình mà nói, kinh Phật hay kinh Koran, thảy đều có những điểm trùng hợp tựa thế. Đã là kinh sách, chẳng ai nhẫn tâm rao truyền xúi dục những điều sai lầm cho chúng sinh. Biên tập lại, hoàn chỉnh nốt những điều tốt lành, càng xa những điều hoang tưởng càng qúy. Người ta đọc, trí tuệ được khai mở và tùy nhân duyên phẩm hạnh đức độ của từng người, họ tiếp nhận chúng, thực hành và giúp bản tính ngày một hoàn thiện. Không nở bề ngang cũng mạnh bề dọc. An Lạc gõ. Từ nhẹ nhàng đến mạnh tay. Khoảng năm phút thì cửa mở. Phía ngoài tối, phía trong thắp sáng ngọn đèn néon dài tám tất, tô một đường viền rạng ngời quanh cơ thể người con gái. Người ấy tay còn nắm chốt cửa, cô vẫn đứng án lối chờ đợi tiếng xưng hô của người khách đường đột.
– Dạ thưa chị cho em hỏi có cô Thuận Hóa ở nhà không?
– Em là ai? Nhìn em, đoán chắc là kẻ vừa vượt ngàn dặm đến đây. Em tên chi?
– Dạ thưa em tên An Lạc. Dạ đúng, em trú thân ở một nơi xa xôi, hẻo lánh.
– Vậy chớ em tìm Thuận Hoá với mục đích chi? Duyên do đâu mà em biết có một người mang tên Thuận Hoá?
– Có người nhờ cậy, có người bày đường, có người mong mỏi ngóng tin, có người viết thư cho cô Thuận Hoá. Xin chị giúp em, có cô Thuận Hoá đó không?
– Chị là Thuận Hoá đây. Tên đó chị đã xoá sổ, tự khai tử, giờ này chị tên Mộng Hằng. Chị thật ngỡ ngàng khi đã quá lâu mới có người thốt lên hai chữ Thuận Hoá. Thuận Hoá tựa như Sài-gòn vậy, thay tên đổi họ mất rồi. Ấy chết, vào nhà hẳn nói.
Người con gái đóng cửa. Nhà nhỏ, có vẻ như cô sống một mình. Đồ vật không nhiều, có vẻ như cô chẳng mấy khá giả. Ngọn đèn xanh lét trên trần soi xuống vóc vạc cô làm An Lạc chẳng dám quan sát lâu. Cảm nhận có điều gì bất an đứng chờn vờn đâu đó. Cô mặc đồ ngủ, mỏng như giấy quyến dùng vấn thuốc lá, chẳng có nội y
gì cả. Lơ đễnh hết biết. An Lạc nuốt nước miếng, người nóng như thể đứng sát lò nướng bánh mì. Sao chủ nhân không chảy mồ hôi, tỏ vẻ khó chịu. Quen với khí hậu bất thường đó ư?
– Em có vẻ khát, để chị rót nước em uống. Em biết uống bia không?
– Tội lỗi! Thưa chị, cho em ly nước lạnh thì em mang ơn.
– Kỳ cục. Em xuất thân từ đâu mà ăn nói dường như khác thường.
– Đây là lá thư em vượt ngàn dặm đường để mang tới cho chị đây. Vất vả khó nhọc như tảng đá trên vai giờ đây được trút bỏ xuống. Em rất hạnh phúc khi được đứng gần chị bởi cứ tưởng sẽ mất nhiều thời gian mới tìm gặp mặt. Chị hãy đọc lá thư phong kín này rồi chị sẽ thông rõ ngọn ngành, đầu giây mối nhợ.
– Đưa đây. Chị sẽ đọc. Nhưng trước tiên chị có một đề nghị chẳng biết An Lạc có đồng tình không? Em nên lui nhà sau để tắm rửa kỳ cọ bụi đường, chị biết An Lạc đã kinh qua nhiều gian nan. Người ta nói: Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện, điều ấy không sai nhưng cần bổ túc thêm, là cơ thể đó cần phải sạch sẽ. Đúng không?
– Dạ, đội ơn chị. Em tính bày tỏ nguyện vọng nhưng lại sợ chị mắng. Em xin phép được tắm táp.
– Lui đây, chị chỉ chỗ. Cái khóa nước nằm kia, cái vòi sen trên ấy. Trước khi mở nước An Lạc nhớ kéo tấm màn ny-lông lại. Trong hộp nhựa đó có đựng cục xà phòng. Cái khăn lông này chị mới thay, sạch, đừng ngại. Chớ sợ tốn nước, cứ xài thoả thích. Chị lên đọc lá thư đây.
An Lạc thực thi theo những điều chị Thuận Hoá bày vẽ. Lần đầu tiên, chú tiếp cận với những thứ lạ lùng. Ở chùa, khi tắm, chú lội xuống sông, sâu tới ngang thắt lưng. Đứng giặt áo quần, dùng nó để quất từng luồng nước vào cơ thể. Hoặc không thì sau sân chùa, gần cội mai già có giếng nước mát, múc từng gàu lên, nhắm mắt dội xuống cơ thể nẩy nở của thằng con trai vừa kịp vỡ tiếng.
An Lạc mở hộp nhựa, trong đó cục xà phòng màu hồng có khắc nông hình dáng con chim bồ câu. Hương mùi nhẹ toả và khi chà xát vào da thịt nó trơn tuột nổi bong bóng những luồng gợi cảm khó giải thích. Mùi thơm của nó mang đầy sự tăm tối u mê, bắt chú phải mân mê hưởng thụ thứ thống khoái chợt ùa tới. Chú sờ dương vật mình và kinh hãi thấy nó thay đổi khác thường. Nó như hăm he muốn đòi hỏi, vượt thoát điều cấm kỵ trái khuấy. Tội lỗi! An Lạc lẩm bẩm. Chú phải tự đánh thắng lấy bản thân. Chú tắt nước và chú nguyện sẽ sớm rời khỏi chốn này, về chùa chóng ngày nào tốt ngày đó. Nơi đây đầy bất trắc, chú chẳng an tâm, sợ quá trình tu tập của mình sẽ chóng bị hủy diệt.
Đêm ấy, khi thức trên giường, đầu An Lạc nhức đau như bị ai dùng gậy đánh lén vào trán. Cơ thể rã rời tựa hồ vừa bơi qua sông rộng. Giường nệm êm ái thơm tho và hiện tại nó nhăn nhàu xộc xệch tả tơi. Nó là tấm gương soi rọi, qua đó An Lạc nhận biết toàn thân chú đang trần truồng. Từ đỉnh đầu đến gót chân, thần kinh nối liền ngang dọc thảy bải hoải, mạch máu chạy tán loạn rần rần, chuyên chở thứ cảm giác nửa mệt mỏi nửa mê say thích thú. Đầu óc An Lạc mụ mị, chú thực không nhìn ra chân tướng của sự vật, của nguồn cơn, của tỉnh thức hay mộng ảo chiêm bao. Trên đầu giường có thắp ngọn đèn vàng bóng nhỏ yếu watts, luồng sáng ấy như biết đổi hướng tập trung soi rọi vào cơ thể Thuận Hoá. Cô từ nhà vệ sinh bước ra. Không một mảnh vải dính da và đích thị cô là nguyên nhân, làm dấy lên trận động đất khốc liệt thật hoang đường. An Lạc nằm bưng mặt, thổn thức. Chú biết người chú vừa bị tổn thương, cái giống vật biểu tượng cho con trai đã thực sự sức mẻ. Chú khóc, từ nhỏ tiếng cho đến òa vỡ chất ngất. Chiếc gối có thêu hàng chữ mộng đẹp đã sũng nước mắt người con trai mười bốn tuổi đương thì.
– Sao lại khóc? Hãy nhớ cho mình đã vừa hoá thân thành thằng đàn ông rồi. Một thằng đàn ông, nó không có quyền nhỏ lệ trước mặt đàn bà. Em hiểu không?
– Chị đã làm gì tôi?
– Chị biết em mệt mỏi nên giúp em ngủ ngon bằng cách cho em uống thuốc ngủ.
– Rồi sau đó? Chị biết tôi là người tu hành sao nở ra tay bức hại đời tôi?
– Bức hại. Ai bảo thế? Đã không mang ơn người ta còn dở thói ăn quàng nói xiên. Muốn ngủ với gái trẻ đẹp như chị người ta phải tốn bao nhiêu em biết không? Em là An Lạc, hãy khai tử cái tên ấy đi, chị gọi em là Khoái Lạc. Đã sướng chưa?
– Tội lỗi. Có lẽ khi về chùa tôi sẽ không dám xuống tắm sông, sợ xác thân này làm ô uế dòng sông thơ mộng kia mất.
– Mô Phật. Em càng nói chị càng yêu mến em. Chi đọc truyện Liêu trai thấy ma nữ muốn trẻ mãi không già thì chỉ có cách tìm trai tân bắt về để hút lấy dương khí. Cũng như trong Tây du ký, ma nữ hồ ly tinh đều thèm khát được ăn thịt Đường tăng. Chúng nó bảo thịt da kẻ tu hành đều bổ dưỡng, ngon không bút mực nào tả xiết. Em là kẻ tu hành, chị rất muốn mình được là ma nữ. Cuộc đời này chẳng có gì vui thú, chúng ta sum vầy đêm bảy ngày ba thì có chết xuống địa ngục cũng cam lòng.
– Giết người có nhiều cách, xin chị đừng giết tôi bằng kiểu lạ lùng kinh khủng ấy. Nếu còn sót chút từ bi trong lòng xin chị hãy cho tôi sớm về chùa. Viết cho thầy tôi một lá thư để chứng minh là tôi có tìm đúng người thầy ngóng tin. Tội lỗi. Cứu người hơn xây am, xin chị cho An Lạc này một lối đi.
– Em biết ông sư trụ trì trên chùa ấy là ai không? Là bố chị đấy. Trong thư ông cũng dùng lời lẽ lâm ly y như em vậy. Một người cha vô trách nhiệm như thế không nên đón nhận sự hồi âm. Đừng tơ tưởng. Ông vất mẹ con chị bơ vơ giữa cuộc đời điên đảo này, muốn sinh tồn chị phải làm nghề bán bia ôm. Em hiểu chữ bia ôm là gì không? Sớm ngày mai em về chùa, hãy thoát y trước mặt ông ấy. Em chính là lá thư mà ta đã cào cấu ngang dọc vết xước trên da thịt tối nay. Là ẩn ngôn, là thông điệp mà khi xem qua ông sẽ ngộ. Đời có vay có trả, chị nguyện sẽ ở đây tới mãn đời đợi ngày trở lại của em. Muốn chém muốn giết muốn làm tình làm tội làm mưa làm gió tùy ý. Đời ta bất hạnh từ nhỏ, xác thân này nằm trong vòng tay của biết bao thằng đàn ông. Ta không cạo đầu xuống tóc nương thân vào cửa Phật cũng là chuyện lạ!
Mất ba ngày di chuyển, An Lạc về lại đường xưa lối cũ. Cảnh vật vẫn thế chỉ có lòng người luôn đổi thay, biến tướng. Sông kia vẫn vậy, êm đềm chẳng gợn sóng chỉ có tâm người mãi vọng động những sân si vô thường. An Lạc đứng dưới bậc thềm lòng chưa quyết có nên tìm gặp thầy để loan tin. Khi sự hồn nhiên vuột mất tâm thức ta còn đó nỗi dằn vặt khôn nguôi, nghe chuông đổ lòng những thêm bấn loạn khó nắm giữ niềm an lạc thảnh thơi. Râu ria mọc lún phún dưới cằm, An Lạc trông già đi, đến độ khi soi bóng xuống nước, sông kia vốn hững hờ cũng phải cau có bề mặt, sóng đồng tâm loang ra. Không phải đâu. Sóng ấy có do bởi một người vừa xuống múc nước làm khuấy động đó thôi. Người ấy múc đầy hai thùng nước, quay đầu lại rồi đực mặt khi ngó thấy An Lạc:
– Ủa, em đã về rồi ư?
– Dạ phải. Em mới về.
– Mất bao lâu? Trông em giờ này đã trưởng thành như một kẻ lạ, một người của phố phường.
– Thầy vẫn khoẻ?
– Ô hay. Anh thật sơ ý! Đáng trách, đáng trách! Em xuống núi hai hôm thì thầy trở bệnh. Mọi người cố giữ bình tĩnh để tìm ra hai phương án: Thứ nhất, khẩn cấp đưa thầy xuống bệnh viện tỉnh. Thứ hai, đánh điện kêu cứu Thượng tọa Đại đức. Lại phải biểu quyết lần nữa sau khi nghe nhà thương loan tin phải mang thầy vào bệnh viện chuyên khoa để mổ tim. Sau khi biểu quyết, mọi người thống nhất với ý kiến của Thượng tọa: Muốn đấu tranh với thần chết buộc lòng chúng ta phải cho thầy ăn nhiều thịt cá cùng chất bổ dưỡng. Thầy ngã mặn, điều ấy cần cho sức khoẻ. Cơ thể phải chứa nhiều vitamin mới có sức chống chọi với phẩu thuật, với bệnh tình.
– Và thầy đã phá giới?
– Bắt buộc. Thực đơn nghe lâm ly bi đát, ngày hai bữa phải uống sữa ăn trứng gà cá saumon Alaska hấp với đậu Hòa-lan, thịt bò bíp-tết cùng khoai tây nghiền với bơ. Tráng miệng bánh kem caramel hoặc sữa chua. Đầu bếp do cái ông gì đó chuyên nấu cho khách sạn ba sao dưới phố. Cẩn thận và bí mật không nên để lộ ra bên ngoài. Đệ tử chúng mình tối tối gia tăng giờ trì chú tụng kinh mong thầy sớm bình phục. Chùa này thiếu mặt thầy thì chẳng còn gì để nói. Thôi, hãy theo anh lên chùa.
– Em chưa lên được. Anh không thấy chuyện này kỳ cục sao?
– Sao vậy? Kẻ tu hành chẳng nên chấp nê những điều nhỏ nhặt. Tùy hoàn cảnh, mình phải biết co giãn để đi cho hết con đường sạn đạo. Ông Lão Tử có nói:”Người sáng suốt nghe đạo thì gắng sức mà thi hành, người bình thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tăm tối nghe đạo thì cười rộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa?” Em đang nực cười hay sao đây?
– Đạo ấy là đạo gì?
– Đạo trường tồn. Nghệ thuật sống.
– Anh giải thích chẳng được minh bạch. Em phải đi nhìn mặt thầy. Nhà thương nào hả anh?
– Bệnh viện Trung ương.
Trong ruột tượng còn sót chút tiền. Điều đó làm An Lạc chẳng ngần ngại, xẳng xái là đằng khác. Chú đi xuống núi như điệu bộ một cậu học trò vất sách vở xuống đất để đi săn đuổi những cánh bướm bay chập chờn trên đồi cỏ mượt. Lòng chú đã đổi, âm thầm chú nào hay. Nghe thầy ngã mặn thay vì lo âu, chú lại thấy sảng khoái. Chú đã ngủ với đàn bà, có thánh mới hiểu được cơ thể sung mãn giờ này đang thay da đổi thịt từng phút giây. Cứ nhắm mắt trong chốc lát, chú lại thấy rõ mười mươi đường nét có trên cơ thể Thuận Hoá. Tóc cô ta như rong rêu làm rối trí kẻ đang bơi. Ngực cô ta mềm mại, hạ thể cô ta ướt át; và toàn thể đó là thứ gì hoàn chỉnh nhất mà tạo hoá đã tốn công nhào nặn ra. Không có nước, cá chết. Không có đàn bà, có lẽ trái đất này sẽ hiu quạnh tựa như ngày tận thế.
Giữa đường, có cặp tình nhân cho xe gắn máy chạy chậm lại. Người điều khiển xe thắng đứng, chống một chân, tắt máy và cả hai cùng rời khỏi nệm xe.
– Này bạn hiền, chúng tôi nhờ tí việc.
Người đàn ông nói với tay vẫy. Sau lưng, lấp ló một mặt hoa da phấn. Người đàn bà cười, nụ cười thân thiện. Nụ cười kéo bước chân An Lạc lại gần.
Trong tay người đàn ông đong đưa chiếc máy ảnh:
– Mái chùa cong vút đâm lên trời xanh. Có thấy không? Uy nghi thật. Em hãy đứng sát bên anh. Rồi, nhờ bạn chụp cho bọn tôi một tấm ảnh.
– Hai ba pose càng tốt. Người đàn bà thêm thắt, tay ôm cứng một bên hông nhân tình.
– Trước khi chụp tôi xin thành thật đưa ra lời cảnh báo.
An Lạc ngó lên mái chùa, nương thân trong đó nhưng chưa một lần chú để tâm ngắm bóng dáng đồ sộ của nó, nhất là đứng ở vị thế của ngoại giới như lần này.
– Xin nghiêng mình lắng nghe. Người đàn ông đùa cợt.
– Chưa có lứa đôi nào hạnh phúc khi lên đây chụp ảnh. Họ trở về, gây gỗ, mắng nhiếc và chia tay. Anh chị nghĩ sao?
– Cóc nghĩ gì cả. Cứ bấm máy đi. Nhớ hô một hai ba để bọn tôi chuẩn bị nụ cười.
Ánh flash nháy lên.
– Tuyệt vời. Cám ơn bạn hiền. Đừng quan ngại. Áp phe mười lăm ngàn thôi. Đám cưới giả. Bảo lãnh sang Mỹ thì đường ai nấy đi. Hạnh phúc là điều bọn chúng tôi sợ hãi nhất. Chùa có linh thiêng đừng bắt bọn tôi phải sống keo sơn như đôi uyên ương. Mẹ kiếp. Đám cưới giả! Ngực cô dâu cũng giả. Rốt cuộc thì cõi ta bà này cái gì cũng láo lếu khốn nạn!
Tiếng xe gắn máy rú lên, phun khói lui sau rồi chạy vòng vo theo con đường độc đạo uốn lượn quanh sườn núi. Màu trắng của chiếc áo người đàn bà mặc phất phơ, ở xa trông tựa như tờ giấy vàng mã cúng người khuất mặt lặng lẽ bay trong chiều.
Chuông chùa mệt mỏi gióng tiếng. Trầm, nặng, đục đuổi theo chân An Lạc đang sải bước.
Mười chín tuổi, Huỳnh Thị Ngâu có tình. Ông Huỳnh Hừng, cha cô, biết chuyện nhưng giữ thái độ im lặng đến lạnh lùng. Trong bữa cơm chiều, Ngâu e dè ăn từng miếng nhỏ. Cha cô ngó chăm vào con gái, vài lần nhắp cốc rượu, hắng giọng như muốn nói điều gì, nhưng cuối cùng chẳng nói.
Buổi tối. Ngâu vào buồng, buông mùng, nằm nghĩ đến người tình.
Mẹ cô theo vào, vén mùng, ngồi kế bên, hỏi: “Thằng ấy thế nào?”
Cô vờ hỏi lại: “Thằng nào?”
“Thằng vẫn theo con vào đồn điền cao su.”
“Làm gì có.”
“Mày láo. Tao biết cả rồi.”
“Mẹ biết, sao còn hỏi con?”
“Đồ chết bầm! Ba mày đang theo dõi đấy.”
Ngâu nằm lặng.
Mẹ dỗ: “Nói đi. Nó thế nào?”
Ngâu thủ thỉ: “Ảnh nói thương con.”
“Không. Gia thế kìa?”
“Đi lính, cấp bậc trung sĩ.”
Mẹ gắt: “Biết rồi. Cha mẹ nó?”
“Bắc di cư, năm năm tư.”
“Tên nó là gì?”
“Koan Trâu Phiên.”
“Hả?”
Ngâu lặp lại: “Koan Trâu Phiên.”
“Tên nghe lạ.”
“Ảnh kể, bố mẹ thuộc sắc tộc Nùng, Lai Châu. Khi mới vào Nam, bố dắt đi làm thế vì khai sinh, khai tên Quang Châu Phiên. Ông hộ tịch người Nam, viết thành Koan Trâu Phiên.”
“Nó nói gì nữa không?”
“Chỉ nói thương con.”
Mẹ dặn: “Chưa thương được đâu. Coi chừng ba mày cắt gân đấy.”
Mẹ bỏ ra ngoài. Ngâu nghĩ, tình yêu thật tuyệt vời, nhưng chung quanh lắm điều rắc rối.
Ngâu đứng nép vào vùng cây lá rậm, bên ngoài đồn điền.
Phiên hỏi: “Sợ anh đến thế à?”
Ngâu ấp úng: “Không. Chỉ sợ có người trông thấy.”
“Chả có ai đâu.”
“Phu đồn điền vẫn thường ngang qua đây.”
“Họ không phải bố em. Sợ gì?”
“Họ sẽ mách lại. Em sợ tất cả mọi người.”
Phiên nhích gần hơn, cầm tay Ngâu. Cô rụt tay về.
Phiên tha thiết: “Anh thương em.”
Ngâu lí nhí: “Biết rồi.”
“Có thương anh không?”
“Hỏi câu đó hoài.”
“Anh muốn nghe em nói.”
“Không thương, sao đứng đây với anh?”
“Vậy là thương hả?”
“Ư… ư…”
Phiên đặt tay lên vai Ngâu, kéo vào mình. Ngâu vùng nhẹ, cầm tay Phiên bỏ ra.
Bất ngờ, Phiên ôm chầm lấy Ngâu. Hôn tới tấp lên mặt, lên cổ.
Ngâu ú ớ: “Anh…, buông em ra.”
“Anh thương em.”
“Lại nói câu ấy nữa.”
Ngâu yếu đuối trong tay Phiên. Cô ngữa mặt nhìn lên vòm cây. Có những bông hoa dại màu trắng điểm lấm tấm giữa màu lá xanh, và những con chim nhỏ chíu chít trên cành. Thiên nhiên bao giờ cũng thế. Nhưng Ngâu bỗng thấy như tất cả đều rộn lên, hoà cùng xúc cảm mới lạ ùa chụp xuống làm cô choáng ngợp, đồng thời với nỗi lo sợ vu vơ.
Ngâu nói như van: “Buông em ra.”
Phiên âu yếm vùi mặt vào tóc Ngâu, nói trong hơi thở: “Mình sẽ là vợ chồng.”
“Anh ơi, đừng ôm nữa. Em sợ…”
“Bằng lòng làm vợ anh không?”
Ngâu gật đầu: “Bằng lòng, nhưng… hãy buông em ra.”
Phiên tháo vòng tay, tiếc nuối.
Ngâu vuốt lại mái tóc, mặt đỏ bừng: “Anh kỳ quá à.”
Phiên cười: “Anh thích kỳ như thế.”
Ngâu dí ngón tay vào trán Phiên: “Cái mặt không biết mắc cở.”
Phiên cầm tay Ngâu. Lần này, cô không rụt tay về. Cả hai im lặng, nhìn về những hàng cao su thẳng tắp. Ngâu vẫn còn nguyên cái cảm giác trong giây phút Phiên ôm ghì lấy thân thể nóng bỏng của cô. Cái cảm giác đầu đời chạm với tình yêu.
Lúc lâu sau, Phiên nói: “Anh sẽ nhờ mai mối đến nhà em.”
“Chỉ ngại ba em…” Ngâu phân vân.
“Chê anh không xứng hả?”
“Không. Có điều khó nói.”
“Điều gì?”
Ngâu cúi đầu: “Ba em không ưa lính.”
“Ngâu ơi, thanh niên thời buổi này, ai mà chả phải đi lính?”
“Biết thế. Nhưng ba em thì khác.”
“Phải làm sao cho ba em thương anh?”
“Em không biết.”
“Điều gì, em cũng không biết.” Rồi Phiên cười, nhái theo câu thơ. “Em còn bé lắm, chỉ biết yêu thôi. Chả biết gì.”
Ngâu cũng cười: “Em còn bé lắm, chả biết yêu. Cũng chả biết gì.”
“Thế thì anh dạy cho em biết gì.” Phiên ôm Ngâu, vùi mặt vào ngực cô.
Ngâu đẩy ra: “Khiếp quá.”
Phiên nói: “Thương nhau là phải thế.”
“Không thế, không phải là thương sao?”
“Không. Chỉ là thương mây khóc gió của mấy ông thi sĩ thất tình. Em mười chín tuổi, phải thực tập bài học yêu thương để chuẩn bị làm vợ.”
“Chuyện ấy tính sau. Bây giờ, cho em về. Ba em biết hẹn hò với anh, thì chết.”
“Mới gặp đã đòi về?”
“Em sợ.”
Phiên nài nĩ: “Không ai thấy đâu. Nán lại chút nữa, em?
“Thôi mà, cho em về.”
Phiên tiếc: “Ừ, thì về. Mai gặp lại chỗ này, nhớ nhé?”
“Nhớ rồi. Anh đứng đây, chờ em đi khuất. Em sợ có người trông thấy mình đi chung.”
“Trước khi về, anh hôn em lần nữa.”
Ngâu chưa kịp trả lời. Phiên đã nâng mặt cô, và đặt lên đôi mắt những nụ hôn nồng nàn thắm thiết.
Ngâu trách yêu: “Râu cà gần rách mặt người ta. Mai cạo râu đi nhé.”
Ngâu đi dưới bóng mát những hàng cao su. Phiên đứng nhìn theo cái lưng nhỏ bé của người yêu đến khi khuất sau một khúc quanh trên con đường đất đỏ.
Buổi sáng. Như thường lệ, Ngâu mang gùi vào vào đồn điền cao su cạo mủ. Cổ cô choàng chiếc khăn rằn của Phiên. Chiếc khăn của cô, Phiên xin, và thay thế bằng chiếc khăn này. Phiên nói, để giữ lấy hơi hướm người tình. Ngâu cảm động. Không ngờ trong tình yêu có những chi tiết vụn vặt, lại làm cho người ta xúc động đến chảy nước mắt. Cô ngó ra con đường đất đỏ về phía bìa rừng, nơi Phiên vẫn thường từ đó đi tới. Cô hình dung ra cái dáng đi lừng lững, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai màu xanh cứt ngựa, vành mũ sụp xuống che ngang vầng trán. Đôi mắt xếch dưới cặp chân mày rậm, hiện rõ cái nét dữ dội của kẻ gan lì. Biết nhau lâu, nhìn hoài đôi mắt ấy, cô lại thấy dễ thương chi lạ. Và những câu ân tình của Phiên, còn đọng lại trong cô thành nỗi nhớ nhung.
Quá ngọ, vẫn chưa thấy Phiên. Ngâu bứt rứt mong chờ. Tiếng con chim gáy từ rừng xa khắc khoải vọng về, cô nghe tiếng như tiếng gọi buồn khi xa vắng. Trước kia, có bao giờ cô để ý tiếng chim, và cảnh sắc chung quanh mình đâu. Tất cả những thứ đó, cô đã nghe thấy từ ngày còn bé, quen thuộc như một phần đời dính liền với cô, chìm trong ký ức. Từ khi có Phiên, cô cảm thấy mọi thứ đều hiện diện và đổi khác, mới lạ và đáng yêu. Mọi thứ đều biết vui buồn theo tâm cảm của cô, chứa chan đầy ắp kỷ niệm. Cô đang mong nhớ đợi chờ. Bỗng có vài ba tiếng súng nổ tắc cù bên ngoài đồn điền, phía giáp ranh với bìa rừng. Cái âm thanh khô khốc lẻ loi, làm cô khó chịu. Thời chiến tranh, thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng súng như thế. Cô tự hỏi, cuộc đời tươi đẹp biết bao, sao người ta gây chi những đau buồn chết chóc?
Chiều sắp tàn. Phiên không đến. Ngâu buồn bã trở về, thầm trách người yêu lỗi hẹn. Từ đó trở đi, ngày nào mang gùi vào đồn điền cao su, cô cũng đợi. Chờ đợi lâu ngày thành tuyệt vọng. Phiên không bao giờ đến nữa. Nỗi buồn cô giấu trong tim, mà nước mắt cứ ứa ra từng đêm trên gối. Chẳng ai nói cho Ngâu biết, tại sao mình bị bỏ rơi?
Sau ngày Miền Nam sụp đổ. Ngâu lập gia đình với viên huyện đội trưởng, tên Dư, sinh được hai con. Chồng cô rất mực chìu vợ, thương con. Ai cũng cho rằng, Ngâu may mắn được người chồng tốt, một gia đình ấm êm hạnh phúc. Biết bao cô gái đến tuổi trưởng thành, cũng chỉ mơ ước có một mái ấm như thế mà thôi. Bốn năm lấy chồng, Ngâu giữ tròn bổn phận làm vợ, làm mẹ. Dù thế, cô vẫn thường xa vắng mông lung, nhớ người tình cũ. Nhớ cái dáng đi lừng lững, và đôi mắt xếch. Nhớ những lần Phiên siết lấy cô, hôn tới tấp. Những nụ hôn cháy bỏng làm cô bừng bừng nóng ran da thịt. Từ ngày lấy chồng, chưa bao giờ cô có được cảm giác ấy. Không phải chồng cô thiếu nhiệt tình. Chính cô thờ ơ với những ái ân trong tình chồng vợ. Nhiều khi đầu ấp tay gối với Dư, cô tự đánh lừa mình bằng cách tưởng tượng đang nằm trong vòng tay âu yếm của Phiên, để tìm lại những rung động mãnh liệt ngày nào. Nhưng cô thất vọng. Tự đánh lừa mình là điều không dễ. Trên đường đời, một lần cô bước hụt chân. Tình yêu vuột mất, để lại trong cô một khoảng trời trống lốc. Khoảng trống ấy cứ lớn dần lên mãi. Cái khoảng trống mênh mông không thể lấp đầy bởi người người đàn ông cô gọi là chồng.
Những buổi trưa, nhìn về phía đồn điền cao su, nghe tiếng con chim gáy từ rừng xa, cô buồn như chết lặng. Dù bây giờ, đồn điền không còn nữa. Cao su già cỗi bị đốn bỏ lâu rồi. Người ta thay vào đấy là là nông trường trồng mía. Con đường đất đỏ cũng biến mất, để nới rộng thêm cho diện tích trồng trọt. Nhưng với cô, tất cả vẫn bềnh bồng trong trí nhớ. Và tiếng chim gáy cũng gợi lại cho cô một mùa hè năm cũ, với vài ba tiếng súng nổ. Trong thời điểm ấy, cô vĩnh viễn mất người yêu. Từ đó trở đi, cây lá vẫn trổ màu xanh, nhưng cô buồn rầu héo hắt. Nhất là khi vô tình cô biết được một sự thực phũ phàng, thì khoảng trống trong lòng cô nhuộm trắng một màu tang.
Khi cách mạng giành được quyền kiểm soát Miền Nam. Ông Huỳnh Hừng tự bộc lộ thân phận là một cán bộ nằm vùng. Với quá trình hai mươi tuổi đảng, đương nhiên ông là nhân vật có thế lực của chế độ mới. Chồng của Ngâu, trước kia là du kích, hoạt động dưới sự bí mật điều khiển của ông Huỳnh Hừng. Sau này, Dư được ông nâng đỡ, đưa lên làm huyện đội trưởng, và gả con gái. Trong một lần chè chén, các đồng chí của chồng vui say nhắc lại những thành tích chống Mỹ cứu nước. Thành tích của Dư là đã phục kích bắn chết một trung sĩ ngụy tên Phiên. Công lao đó, có ông Huỳnh Hừng dự phần. Ông theo dõi nhiều ngày để biết chắc thời gian, và lối đi về của Phiên thường hẹn đến với tình nhân, rồi đề ra kế hoạch cho Dư thi hành. Bây giờ, Ngâu mới hiểu rõ câu nói mập mờ của mẹ: Ba mày đang thoe dõi. Coi chừng ba mày cắt gân đấy.
Ngâu biết được điều đó, thì mọi chuyện không còn có thể thay đổi. Cô đã có con với Dư rồi. Cô mặc cảm như mình là nguyên nhân gây ra cái chết của Phiên. Trách ai? Thời thế đã du cha cô và Dư về phía đối lập với Phiên. Không từng quen biết, mà thù hằn rình rập sát hại lẫn nhau. Phiên sa vào cái bẫy của cha cô. Trong đó, cô được dùng như một miếng mồi nhử. Dư chỉ là tên thừa hành, nhưng lại là người trực tiếp nhúng tay vào máu. Làm sao cô tìm được hạnh phúc với kẻ đã giết chết đối tượng tình yêu của mình? Cô không đủ cái liều dứt khoát ra đi. Còn con của cô nữa, nó cũng là nguyên nhân buộc cô ở lại. Cô thấy mình bất lực, và buông xuôi theo ngày tháng trắng mênh mông.
Cái khoảng trống trong lòng cô, chỉ mình cô biết. Con chim rừng thay đổi mấy đời chim rồi, nhưng tiếng gáy nghe không khác năm nào. Còn cô thì đã đi quá xa. Ngoái nhìn về dĩ vãng, tất cả đều trôi ngược chiều thời gian làm thành kỷ niệm. Kỷ niệm nào, khi nhớ lại cũng làm cô rơi nước mắt.
Dạo đó tôi định cư Hoà Lan chưa đầy một năm. Bộ cảnh sát ngoại kiều cấp một cuốn thông hành đầy đủ hình ảnh, tên, họ, ngày, tháng, năm và nơi sanh nhưng phần quốc tịch được thay vào một gạch màu đen đậm. Tôi hải hành khắp đó đây với quyển thông hành không quốc tịch ấy. Lần đầu tôi đến Leningrad. Có lẽ thấy tôi là người vô gia cư, vô tổ quốc và mới tỵ nạn sang nước tự do, nên khi tàu vô tới vịnh Phần Lan, ông thuyền trưởng xuống hỏi tôi có sợ không. Tôi chưa kịp trả lời thì ông nói tiếp:
– Đừng sợ, bây giờ mầy là người Hòa Lan rồi.
Tôi là người Hòa Lan! Nghe thiệt chướng tai nhưng không biết nói làm sao, vì ngoại ngữ của tôi mới vừa học bập bẹ, mà câu chuyện muốn giải thích lại quá dài dòng, nên tôi chỉ biết cười trừ.
Thiệt ra thì tôi không sợ ai hết. Chỉ khi tàu tiến lần vô hải phận Liên Xô tôi có cảm tưởng như mình từ vùng ánh sáng đi vào một cõi âm u nào! Khi tàu cặp bến, hầu hết thủy thủ đoàn đều khó chịu, họ tỏ vẻ khinh khi cười chế ngạo những người bận đồng phục, đeo quân hàm màu đỏ và ái ngại nói chuyện với người bản xứ. Bực mình nhứt là mấy ông hải quan, mấy cha kéo xuống cả trung đội chia nhau vô từng phòng, rọi đèn pin lục lạo, moi móc trong kẹt tủ, dưới gầm giường, xuống kho dự trữ thức ăn, lấy sắt nhọn đâm lủng mấy bao gạo, bao bột mì. Tên công an trưởng thì mặt lạnh như đồng, bắt thủy thủ đứng xếp hàng cho ông điểm mặt từng người rồi mới chịu đóng dấu cho nhập cảnh.
Theo luật lệ ở đây, thời gian nầy, thủy thủ được lên bờ chơi theo những nơi chỉ định. Nếu chịu trả năm Mỹ kim cho mỗi đầu người thì trên Hội Quán sẽ cho xe bus xuống bến rước đưa đi thắng cảnh ngày cuối tuần. Họ chở lên xem bảo tàng viện nước Nga nằm trên bờ sông Neva, vườn hoa Mùa Hạ, đài Chiến Sĩ Trận Vong và tòa nhà Cách Mạng Tháng Mười phía trước có dựng tượng ông Lê Nin đứng chỉ tay về khoảng trống bao la phía trước. Cuối cùng qua ngọn hải đăng bên kia cầu bắt ngang sông Neva mặc sức chụp hình. Chiều về ghé vô Hội Quán có sẵn bia, rượu và gái trẻ cho thủy thủ mặc sức nhảy nhót vui chơi, nhưng trước mười hai giờ thủy thủ đoàn phải xuống tàu chớ không được lang thang trên phố.
Những ngày ở đây tôi làm quen với bà ngồi ở cửa hàng. Gian hàng nầy bán rượu mạnh, bia, thuốc lá… nhập từ thế giới tự do, vì vậy phải tính bằng Mỹ kim hoặc Đức mác, đồng rúp ở đây không xài. Từ đó mỗi khi tàu về Bỉ trở qua, tôi mua đậu phộng đóng hộp và thuốc thơm gói vào gấy màu đem lên tặng cho bà. Sao đó mời con gái bà uống một chai Champagne và kéo cô ta ra sàn nhảy nhảy Disco. Những lúc ngồi không tôi thích hỏi và nghe bà nói chuyện. Như chuyện trước khi được vô ngồi trong cửa hàng bà phải lo lót tiền cho viên giám đốc. Suốt hơn năm năm bà ngồi một chỗ bán hàng không được nghỉ một ngày. Chồng bà làm không đủ tiền lo cho gia đình nên bỏ đi đâu mất, bà sống vậy với hai đứa con gái trong một chung cư, đứa tám tuổi đứa mười bảy tuổi.
Trước ngày tàu đổi tuyến đường, tôi có đem cho con gái bà một quần Jean và một chiếc áo thun trước ngực có in một đóa hồng và năm chục Mỹ kim. Bà nhã ý mời tôi về nhà bà ăn cơm nếu cần có thể ngủ lại với con gái bà. Dĩ nhiên đối với xã hội chủ nghĩa như vậy là phạm pháp, nhưng tôi thấy có rất nhiều thủy thủ theo gái về nhà ở lại đêm. Sáng xuống lo lót cho anh gác cổng môt chai rượu mạnh vài gói thuốc thơm là ổn thỏa mọi đàng. Nếu tôi chưa từng mục kích những cuộc bắt bớ vô cớ thì tôi cũng không ngần ngại làm tên điếc không biết sợ súng là gì. Lúc nầy Leningrad chưa đổi tên và cả liên bang Xô-viết còn treo cờ đỏ búa liềm. Ai biết được trong đêm sẽ xảy ra chuyện gì.
***
Mùa đông năm 1991. Sông Neva ngập đầy tuyết trắng, nước dưới dòng đông đá dầy trên cả thước tây, nếu không có những chiếc hạm phá nát mặt băng cho tàu bè thuận tiện lưu thông thì người ta có thể mang giày ống đi bộ qua lại trên nặt sông một cách dễ dàng. Leingrad đã đổi lại tên Saint. Petersburg và cờ tam sắc thay cờ đỏ búa liềm treo khắp nơi trong thành phố.
Đương lúc thế sự đổi thay, đời sống dân chúng gặp khó khăn. Cộng đồng Âu châu gởi tặng một số lượng lớn thực phẩm như áo, quần và thuốc men. Công ty tàu ký hợp đồng chở số hàng ấy từ cảng Rotterdam và Antwerpen qua cảng Saint. Petersburg. Vì chuyến đi có tính nhân đạo, lòng dạ con người ta cũng được mở rộng hơn. Một thủy thủ có tánh khinh đời, keo kiệt, vậy mà xin được cái huy hiệu mười hai ngôi sao màu vàng đánh vòng tròn trên nền xanh dương đậm, tượng trưng Âu châu thống nhứt, hảnh diện cày lên ngực áo và sẵn sàng cho người nghèo một chiếc áo mới còn nguyên trong bọc.
Dân địa phương dạo nầy nói chuyện vui vẻ, cởi mở hơn, họ hỏi xin đồ tự nhiên chớ không còn rụt rè như trước kia nữa. Tuy nhiên những công an làm việc vẫn máy móc, mặt lạnh như đồng, nhứt là những ông già cấp bực cao mặt ngầu như chúa quỷ. Hy vọng trong tương lai, thời gian dần dà đào thải những tối tăm trong cuộc sống, cho đời thắm tươi hơn và những gương mặt gian ác trên thế gian nầy mỗi ngày một trở nên thánh thiện.
Từ đó đến nay, dòng sông Neva đã trải qua bao lần tuyết đổ. Vậy mà bà giữ cửa hàng trên Hội quán vẫn còn ngồi y chỗ cũ. Thân thể bà mập ra, mặt bà tô nhiều phấn vẫn không lấp được nét nhăn của thời gian in đậm. Ông nhạc sĩ già vẫn còn ngồi bên chiếc dương cầm. Bây giờ ông đờn những bảng nhạc mới tình tứ, yêu đời hơn thuở trước. Các cô chiêu đãi mới mẻ, trẻ trung, mơn mởn, duyên dáng, áo quần đủ màu đủ kiểu chào mời rất lịch sự.
Tôi muốn đến gian hàng xưng danh tánh và gợi vài kỷ niệm xưa hy vọng bà ngồi bán hàng nhớ lại tôi. Nhưng nghĩ tới những năm dài lênh đênh trên những tuyến đường có khi nào tôi nhớ tới bà đâu. Huống hồ chi bà ngồi một chỗ, ngày nào cũng thấy hàng trăm thủy thủ đến vội vã rồi hấp tấp ra đi. Dù sao tôi cũng chỉ là một trong những thủy thủ đã lướt qua mặt bà như chiếc bóng, thì mắc mớ gì bà phải nhớ đến tôi.
Tôi nghĩ ra một cách để gợi lại trí nhớ của bà. Hôm sau tôi gói một hộp đậu phộng và một gói thuốc thơm đem lên trao tặng cho bà. Bà cầm lấy ngạc nhiên ngước mắt nhìn tôi. Tôi cười một cái chào bà rồi đi nhanh vô phía trong leo lên ngồi trên chiếc ghế cao cẳng trước quày và kêu một ly bia. Không ngờ trò chơi lại hiệu quả. Tôi uống chưa hết ly bia, bà đi đã tới bắt tay, cười chào và ôm hôn rối rít. Bà kể cho tôi nghe, cô gái lớn của bà đã có chồng người Ba Lan hiện làm thủy thủ cho tàu du lịch. Bà chỉ tay về phía một người con gái bận bộ đồ màu đen có nạm kim tuyến. Bà nói tên cô ấy là Lu-Ba. Cô nàng đương bấu một gã đàn ông râu quai nón xồm xoàm và bước theo điệu nhạc chậm. Trong ánh đèn màu lờ mờ tôi không rõ mặt Lu-Ba, tuy nhiên vóc dáng và mái tóc xõa bờ vai làm tôi nhớ lại hình ảnh chị của cô nàng cách đây tám chín năm về trước.
Càng về tối người đến càng đông, ngoài sàn nhảy đã chật nít người. Đúng mười giờ rưỡi nhạc Disco ngưng, sàn nhảy được nhường lại cho đoàn vũ. Bảy tám vũ nữ rất trẻ, thân hình đầy đặn, ngực bốc lửa, mỗi cô khoác trên người một miếng vải mỏng màu hồng, từ trong đi ra múa chầm chậm theo một điệu nhạc êm. Khán giả vỗ tay rân lên một loạt. Các vũ nữ tiếp tục múa, hễ mỗi lần các cô gỡ một mảnh vải trên người liệng ra thì tiếng hò hét hòa cùng tiếng vỗ tay và huỳt sáo. Đến đoạn gần chót, khán giả ngồi trước nghiêm nghị, khán giả giữa ngồi thẳng lưng, khán giả ngồi phía sau đứng dậy nhón giò, tất cả hướng mặt về phía các người đẹp khỏa thân uốn éo trong ánh đèn màu hồng. Trong không khí nực nồng mùi bia, rượu và thuốc lá. Nhạc sang điệu dồn dập, các vũ nữ tháo quần xì-líp liệng tung về phía khán giả, tức thì tiếng la ó cùng tiếng vỗ tay vang dội tưởng chừng hội quán sắp vỡ tung!
Tôi đứng dậy bắt tay người đàn bà:
– Thưa bà, tui phải xuống tàu.
Bà ta giơ tay lên và chỉ vô chiếc đồng hồ, nói:
– Còn mười lăm phút nữa mới hết.
– Tôi biết.
Tôi day lưng bước ra quầy lấy áo, rút chiếc khăn choàng quấn vào cổ và khoác chiếc áo da lên người. Bà già đi tới hỏi tôi:
– Ngày mai cậu còn ở đây không?
– Thưa bà còn, tôi đi lại nơi đây ít ra cũng sáu tháng.
– Chiều mai cậu có lên đây nữa không?
– Không biết, nhưng có lẽ tui sẽ thường xuyên lên thăm bà.
– Chừng nào cậu lên tôi kêu Lu-Ba đến tiêp cậu.
– Vậy thì vui rồi. A, xin lỗi, bà tên gì?
– Vera, còn cậu.
– Tôi tên Tấn, gặp lần sau đừng quên nhé.
– Không bao giờ.
Tôi bắt tay từ giã, bà tiễn tôi ra cửa. Bên ngoài tuyết ngập lên khỏi mắt cá chưn, xuyên qua ánh đèn đường tuyết vẫn còn rơi mù mịt. Tôi dẫm trên tuyết, lần theo bờ kinh rồi men vô phố và rẽ qua con đường hướng về bến cảng. Tôi lụi hụi cắm cúi bước những bước thiệt dài, nhưng hơn nửa tiếng sau tôi chưa tìm ra đường về bến cảng. Trước mặt bây giờ trắng giã mù mịt, chiếc khăn choàng cổ tôi kéo quấn ngang mũi, hơi tôi thở ra vướng lại đóng đá nơi vành khăn, tóc sững lên cứng ngắc và da đầu tôi ê ẩm, chiếc áo da không ngăn nổi cái lạnh bên ngoài làm quay hàm tôi tê cứng, không đánh bò cạp được nữa. Ngó quanh ngó quất, phố xá vắng tanh, thỉnh thoảng vài chiếc xe điện rổn rẻn lạnh lùng lướt qua trên con đường sắt, bụng tôi bắt đầu lo và không dám đi tiếp về phía trước. Tôi bèn quay lại nhắm hướng có nhiều đèn trong phố bước cầu may, hy vọng tìm gặp được một quán cà phê hay một khách sạn chui vô sưởi ấm rồi nhờ họ gọi dùm chiếc tắc xi. Thời may đi được một đỗi, tôi thấy đèn xe hơi từ phía trước mặt lần lần chạy tới. Như gặp cứu tinh, tôi chạy ra giữa lộ và huơ cả hai tay. Người tài xế ngừng xe lại mở cửa. Không chào hỏi, tôi nhào đại lên xe. Anh hỏi tôi một câu bằng tiếng Nga, tôi không hiểu gì hết, lập cập tới lập cập lui bằng tiếng Anh: “Đi… đi xuống bến tàu… xuống bến tàu…”. Anh ta đưa hai tay lên, lắc đầu làm dấu không hiểu tôi nói gì! tôi bèn móc túi áo, mò túi quần một hồi mới tìm ra địa chỉ giơ cho anh. Anh xem địa chỉ xong rồi gật đầu, vô số cho xe chạy.
Xe mệt nhọc chạy trên đường trơn, anh tài xế thỉnh thoảng lách tay lái làm chiếc xe chao chao trợt xuống lề đường, vậy mà anh vẫn cố gắng vượt mọi khó khăn đưa tôi xuống bến. Tới nơi tôi móc hết số tiền trong túi đền công, nhưng anh không nhận, mặt vẫn tươi cười chào tôi và nói một câu tiếng Nga gì đó rồi anh quay xe chạy thẳng.
Khi xuống tàu ngồi trong phòng có lò sưởi ấm áp. Tôi nhớ tới vị ân nhân tốt bụng vừa rồi, biết đâu không có anh tôi đã bị chết cóng giữa thành phố lạnh băng, chỉ có tuyết và tuyết chớ không một bóng người! Và không biết sau khi hội quán đóng cửa, có người đưa mẹ con bà Vera về nhà hay không? Vì trên bước đường lưu lạc, tôi thấy con người ta thường hay lòn cúi hoặc giúp đỡ người ngoại quốc rất tận tình. Còn đối với đồng hương họ hay quay lưng ngoảnh mặt, thậm chí họ chà đạp lẫn nhau…
Nói tới hoa là chúng ta nghĩ tới người đẹp và người bán hoa bao giờ cũng là những cô gái, không xinh xắn thì cùng thon thả, dịu dàng như trong cuốn tiểu thuyết “Gánh Hàng Hoa” của Khái Hưng hay như trong phim “Violettra” của vài thập niên trước. Ở Mỹ, hoa thường bán trong cửa tiệm sang trọng còn những người bán hoa dạo ngoài đường là những anh chàng di dân gốc Mễ Tây Cơ phần đông còn trẻ, da ngăm, thân hình thì lực lưỡng, không phù hợp chút nào với vẻ đẹp của hoa và những bó hoa họ cầm trên tay. Nói tới những người Mễ đón khách ở trước các cửa hàng Home Depot thì còn hiểu được, vì họ là những người có sức khỏe có thể giúp chủ nhà thuê mướn họ những công việc như dọn nhà, làm vườn, cưa một khúc cây lớn, trộn vôi vữa hoặc tráng một lối đi bằng đá vụn hay xi măng. Nhưng những người bán hoa ở các vệ đường và những góc đèn xanh đèn đỏ thì không bao giờ dùng sức vóc cho công việc, mà hình như cái nghề họ làm có vẻ không phù hợp chút gì với con người của họ. Vào mùa thu, khi nước Mỹ đã đổi giờ, trời mau sụp tối, những người bán hoa như cảm thấy vội vã, họ chạy lui chạy tới trên những đoạn đường ngắn, đưa cao lên đầu những bó hoa hồng hay hoa cẩm chướng nhỏ kết chung với những ngọn lá baby-breath, mắt nhìn vào khung cửa xe đang chạy hay sắp dừng lại. Những buổi trưa trời nắng gắt, mặt trời làm cho cả người lẫn hoa đều mỏi mệt, cánh hoa bắt đầu muốn héo úa, mà nước đựng trong chiếc xô nhỏ cắm hoa cũng bắt đầu nóng dần lên. Người lái xe ít khi muốn dừng lại, cả hai thời tiết đó ai cũng muốn lái xe về nhà sau những giờ làm việc mệt nhọc để tìm những khoảnh khắc nghỉ ngơi.
Tôi nghĩ không ai muốn tặng vợ hay người yêu bằng một bó hoa mua từ tay một người Mễ bán hoa bên vệ đường, một bó hoa rẻ tiền hẳn làm cho người được tặng không vui mà còn đánh giá người tặng hoa là một tên keo kiệt có hạng mà muốn làm ra vẻ hào hoa, lịch lãm. Tôi không biết một bó hoa bán ra, người Mễ bên vệ đường lời được bao nhiêu tiền để đủ cho cái công sức nhẫn nại, một tâm hồn buồn chán, và một mặc cảm gần như bị hất hủi. Hoặc là người Mễ đó không bao giờ biết buồn hay biết thẹn thùng, hoặc là người ấy nghĩ đến một việc làm ý nghĩa hơn để quên đi cái nhọc nhằn của mình.
Ở Virginia, những đêm tuyết xuống đầy trời, hai ba giờ sáng tôi thức giấc, từ khung cửa sổ của căn chung cư nhìn xuống, trong mù mịt của tuyết trắng tôi thấy những người da đen lầm lũi, khốn khổ đang dọn tuyết giữa trời lạnh như cắt dưới độ âm, để ngày mai có những lối cho xe cộ lưu thông. Tôi chua chát nhận thấy con người sinh ra trên trái đất đủ màu da, sao người da đen bất hạnh ở xứ này lại phải làm những công việc nặng nhọc mà những màu da khác không thấy ai làm. Bây giờ ở đây, hôm nay là buổi chiều ngày hại mươi bốn tháng mười hai, bên vệ đường, người Mễ vẫn cầm bó hoa trên tay, những chiếc xe vẫn thản nhiên dừng lại khi đèn đỏ hay vội vã chạy qua đi để cho về kịp nhà lúc trời tối. Ai cũng muốn chóng về nhà để quây quần sum họp gia đình trong căn nhà ấm cúng buổi chiều hôm trước ngày Giáng Sinh. Nhiều lúc tôi đã dừng xe lại, định mua một bó hoa để đem lại chút niềm vui cho người bán hoa đang chạy lui chạy tới bên đường, bó hoa này sẽ cắm trên bàn thờ thay vì đem trao cho một người nào đó, nhưng những xe sau đã nhấn còi thúc hối, làm như cái việc tôi sắp làm là ngu đần, rồ dại và sẽ gây bao nhiêu phiền toái cho người khác.
Dù đồng tiền khó khăn làm ra mới có, nhưng chắc chắn đồng tiền ấy sẽ đem lại niềm vui cho người bán hoa này. Tôi không nghĩ là món tiền lời đó, người Mễ kia sẽ mua vài lon bia để tu ừng ực chiều nay. Tôi đã bắt gặp những người Nam Mỹ ăn mặc xuềnh xoàng tần ngần trước cửa bưu điện với những chi phiếu hằng trăm bạc gởi về cho một gia đình có người mẹ, người vợ đói nghèo ở bên kia biên giới. Họ là những người chịu khó, lúc nào có thể kiếm được đồng tiền họ chẳng từ nan, vì chắc chắn họ biết giá trị những đồng tiền ấy có thể đem lại chút ấm no cho những người thân. Những ngày lễ Phục Sinh, có khi trời nắng gắt, có những người Mễ mặc bộ quần áo đội lốt chú thỏ trắng dày trịch, múa may ở trước những cửa hàng để gây sự chú ý cho khách qua đường. Có khi họ quay vòng một tấm bảng bằng bìa cứng nặng, để quảng cáo cho một khu chung cư hay một chỗ rửa xe. Đó là những công việc quá nặng nhọc, nhàm chán mà ít tiền nhất. Các bạn có thấy một người Việt Nam nào, đồng bào ty nạn của chúng ta qua đây mà phải chầu chực ở đầu đường để kiếm một việc làm thuê, đứng bán hoa ở các ngã tư đèn xanh đèn đỏ hay mang y phục của một chú gấu bằng vải bố vào một buổi trưa mùa hè trên đất Mỹ. Quả thật chúng ta là những người sung sướng vì có sự đùm bọc của than quyến và đồng hương, ít ra chúng ta còn có quyền chọn lựa được những công việc làm trong hãng xưởng, trong tiệm may hay ở một cửa hàng ăn nào đó hơn là những công việc tạm thời, dầm mưa dãi nắng mà vất vã ở ngoài đường phố như những người di dân Mễ đáng thương kia.
Những người bạn tôi hút thuốc vì than buồn, những người khác uống rượu vì than ngày tháng chán nản, thôi thì chúng ta cũng thông cảm để những người di dân buồn, buổi chiều uống dăm bảy chai bia để quên đi những ngày tháng nhọc nhằn của cuộc đời tạm bợ trên đất người. Buổi chiều họ trở về những căn chung cư chất đống những người, ngủ trên xô pha, trên tấm thảm ở phòng khách, để rồi ngày mai vất vả chạy theo cuộc sống để kiếm đồng tiền. Bao nhiêu đồng hương của họ đã chết đuối trên dòng sông La Grande, hay bỏ thây trong những khu rừng biên giới, rõ ràng họ không đi kiếm tự do như anh em chúng ta đã bỏ mình trên biển cả, nhưng cũng chính vì vậy, ân sủng của Thượng Đế ban cho loài người, thật không độ lượng và công bằng chút nào cả. Sự chia sẻ của những người Mễ di dân bỏ đất nước ra đi đối với gia đình của họ thật vô bờ bến. Như người đồng hương của họ bán hoa ở trên, người Mễ chịu khó chịu khăn làm tất cả mọi việc để có đồng tiền gởi về nhà. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2004, những người Mễ ở California đã gởi về quê hương của họ số tiền kỷ lục gần 8 tỉ mỹ kim, theo tường trình của Ngân Hàng Quốc Gia Mexico. Tính ra một năm, người Mễ xa xứ gởi về quê hương của họ hơn 13 tỉ, so với 11 tỉ do các công ty ngoại quốc đầu tư vào nước này.
Nước Mễ không tạo đủ công ăn việc làm cho dân chúng, hằng năm có 1,3 triệu người cần việc làm, nhưng nhà nước chỉ lo được 400,000 công việc, 300,000 công việckhác là của di dân Mễ qua Hoa Kỳ, con số còn lại là dân thất nghiệp. Mà nói cho cam, người Mễ vượt biên giới ra đi đâu có làm công việc của giám đốc nhà máy hay là chuyên viên điện toán để có đồng lương cao, mà công việc của họ phần lớn là nghề tay chân, dọn vườn, rửa chén, hái trái cây hay thợ hồ xây cất.
Ở Cali, đã có một thời gian kinh tế xuống dốc thê thảm, những người già như tôi không kiếm ra việc làm, tôi phải bỏ tiểu bang nắng ấm này để di cư một lần nữa, may ra kiếm được một công việc, có thể vất vả nhưng vất vả ở những nơi hang cùng ngõ hẻm không ai biết tới. Giá như tôi chịu khó tìm đến ông Trần Dũ để xin một chân làm cá hay xẻo thịt trong ngôi chợ của ông, thì tôi đã không phải về một tiểu bang miền đông tuyết giá để xin một chân bán xăng hay đi làm nghề lau chùi ở một cái cao ốc xa lạ mà không ai biết tới mình.
Cái sĩ diện hảo đó đã làm cho con người ta vất vả biết bao nhiêu, và tôi cũng lấy làm hổ thẹn khi tôi không dám đứng ra ngoài đường như những người Mễ bán hoa, khi những ngày đồng tiền trợ cấp cho một người tỵ nạn đã cạn. Sinh ra cũng là một con người dưới ánh mặt trời, sao tôi đã đánh giá mình cao hơn để không dám làm những công việc tương tự kiếm ra đồng tiền một cách lương thiện. Đồng hương chúng ta sang đây, có người vẫn thường nhớ lại một thời vàng son của quá khứ, họ mang trên lưng cái sức nặng của ám ảnh dĩ vãng, nên thường thấy bất mãn trước hiện tại, khi từ số không, phải bắt tay làm lại cuộc đời. Có ông cựu Đại tá đã khóc thầm khi phải cầm một cái chổi chà dọn dẹp trong phòng vệ sinh những ngày đầu đến đất Mỹ, vì ông vẫn không quên những lúc có “tiền hô hậu ủng” của mình. Một công chức cao cấp sang đây, thấy những đồng hương khác, ngày xưa thấp kém hơn mình, nay coi bộ được học hành, có cuộc sống giàu có hơn hẳn mình,
thì ông lấy làm bực dọc, cay cú, hận đời. Những người di dân Mễ thì khác, họ sinh ra trong một góc làng đói khổ, nghèo nàn nào đó bên kia, lớn lên họ nhìn nước Mỹ như một thiên đàng và sống chết nuôi giấc mộng đi tới, kiếm một việc đủ bữa cơm no và san sẻ chút đồng đô la cho những người thân thuộc bất hạnh còn ở lại.
Cho nên, chúng ta thấy họ không từ nan bất cứ công việc gì. Những việc mà dân da trắng bản xứ chê không nhúng tay vào, kể cả đồng hương ty nạn Việt Nam của chúng ta như làm cỏ, dọn vườn, khuân vác, rửa xe, chặt cây … những việc phải dùng sức mà đồng tiền kiếm được quá ít ỏi, người Mễ vẫn chịu khó làm. Kinh tế Mỹ phồn thịnh cũng nhờ khối lượng nhân công người Mễ di dân trong các công tác xây dựng hạ tầng và những công việc cần sức lao động cơ bản.
Nước Mỹ đại cường quốc về kinh tế và quân sự, giàu có nhất thế giới đã làm được gì, nếu không có một nước Mexico ở bên cạnh, và dù trên lý thuyết vẫn phong tỏa biên giới không cho người Mễ trốn lậu sang sinh sống ở trên đất Mỹ, nhưng có lẽ lâu lâu cũng làm ngơ cho thêm hằng năm một số người vào đây gánh vác cho người Mỹ da trắng một số công việc nặng nề lam lũ mà dân bản xứ không gánh vác nổi. Ví thử một buổi sáng tinh mơ kia, thức dậy trên đất cờ hoa này, không tìm thấy một người Mễ nào, thì nước Mỹ sẽ ra sao đây. Đó là gợi ý của một cuốn phim do Hollywood dàn dựng cuốn: “A Day Without a Mexican”.
Thử tưởng tượng lúc ấy đường phố sẽ ngập rác rến, chợ sẽ không còn rau quả, cá thịt hay bánh kẹo, các công trình xây dựng bỏ dở dang, các em bé sẽ không có sữa uống, các tiệm fast food sẽ đóng cửa. Lúc ấy, ông Thống Đốc phải cởi trần cắt cỏ trong vườn, bà Thị Trưởng phải leo thang sửa lại mái nhà.
Ngay cả trong đám đồng hương người Việt chúng ta tiệm ăn cũng thiếu bồi bàn hay người lau dọn, ngay cả những tiệm bán thức ăn dân tộc, bánh cuốn cũng không còn người tráng, ở tiệm phở không còn người ngồi nhặt rau, xắt hành. Ngành xây cất là một nghề có số doanh thu cao nhất nhì nước Mỹ sẽ tê liệt hoàn toàn; nông nghiệp tiêu điều vì hoa quả, rau cải vàng úa trên đồng; mùa dâu tới không ai hái, nho chín để rụng trong những vùng đất khô cằn, những nhà máy sản xuất sẽ không còn nhả khói. Lúc ấy, người ta sẽ đem máy phóng thanh ra tận biên giới, dùng người thạo tiếng Tây Ban Nha, chõ mồm qua biên giới mời gọi người Mễ hãy mau mau nhập cư vào Hoa Kỳ một cách vô điều kiện, có tiền thưởng lẫn tháng lương mười ba. Người ta khinh dân Mễ ít học, ù lì, khinh ra mặt, nhưng chính những người Mễ này đã làm giàu cho từng ông chủ, từng công ty và cho cả nước Mỹ vĩ đại. Thế mà người Mỹ hay thậm chí cả những người Việt nam đến Mỹ từ bên kia nửa vòng trái đất vẫn coi thường, không nói là khinh miệt dân Mễ. Thượng Đế trót sinh ra dân tộc Mexico thô tháp, vóc dáng nặng nề, đầu óc thiển cận, kiểu “ăn no vác nặng, vai u thịt bắp” như các cụ đồ nho ngày xưa của chúng ta vẫn thường buột miệng khinh bạc. Theo các cụ thì những người nho nhã, móng tay để dài, cái quạt phe phẩy mới là người có học, văn nhân trí thức. Đây chính là những người Mễ chính thống, cũng như người da đỏ trên đất Bắc Mỹ, còn như loại dân Mễ trắng da dài tóc, môi hồng mắt ướt thì y như mười người như một, không con cháu chính giòng Tây Ban Nha thì cũng rơi rớt, kết hợp giữa dân tộc bị trị và bọn xâm lược từ Âu Châu đến. Tập đoàn cai trị này đã đồng hóa, tiêu diệt cả ngôn ngữ, làm cho dân tộc này thành một thứ phó bản Tây Ban Nha qua tôn giáo và ngôn ngữ. Tôi thương những người Mễ bán hoa bên vệ đường chiều nay. Trong khi chúng ta hầu hết đã về đến nhà quay quần với người thân trong bữa cơm chiều thịnh soạn trước ngày Giáng Sinh, thì người Mễ đó vẫn chạy lên chạy xuống, với những bó hoa giơ cao mời khách qua đường. Những người mẹ, người vợ bên kia biên giới chỉ cách có vài giờ xe.
Tôi nhớ đến câu hát “Xuân này con không về … ” Ôi, có những người suốt một cuộc đời lận đận vì cơm áo, không một phút ngơi nghỉ để nhặt những đồng tiền nuôi lấy bản thân, nuôi mẹ nuôi em. Có một lúc nào đó, tôi tự hỏi thầm, có lẽ những người Mễ kia chưa bao giờ biết buồn cũng như chưa hề biết khóc, trừ lúc mới lọt lòng mẹ có oa oa mấy tiếng chào đời cho phải lẽ như những con người trên trái đất này …
Ly dị đã 6 tháng, Khang vẫn còn choáng váng với khúc quanh quá gắt của đời mình, buồn bã bội thực trong lòng. Anh quyết định dọn đi thành phố khác, anh muốn đẩy những con đường, hàng cây, tiệm ăn tàu bình dân ngay ngã tư, chợ Việt Nam gần CVS, tiệm sửa xe trên đường vô shopping, quán phở khu ga xe điện, ông hớt tóc người Cần Thơ đi lính Dù, hay kể chuyện đánh nhau năm Mùa Hè đỏ lửa, và trăm thứ khác về phía sau lưng mình, điều ấy sẽ làm anh dễ chịu hơn,
Khang dọn về chung cư 5 tầng vắng vẻ này. Gồm 4 Condo, dọc bờ hồ, bao quanh là những khu rừng, xa hơn là 2 hồ lớn, công viên quốc gia. Melrose, một tỉnh phía bắc, cách Boston chừng 25 phút.
Căn của Khang, 2 phòng ngủ, bếp, phòng khách, phòng giải trí nhỏ, thiết kế theo kiểu mở rộng, không tường ngăn, trừ phòng ngủ. Mặt trước là phòng khách, phòng giải trí, bếp, nằm vòng cung dọc theo dãy cửa kính cao từ sàn tới trần.
Khu Condo bên kia, cách bên này bằng con sông nhỏ, rộng chừng 100 m, tới công viên đầy cây xanh, cũng dãy nhà vòng cung 5 tầng, cũng 4 căn phòng, cách phòng anh chừng 300m.
Ðối diện với phòng của Khang, các căn bên kia, anh vẫn thấy đèn tắt mở, ngày đêm có người ra vào, đóng màn, kéo màn, Khang biết đó là căn 3 phòng ngủ, cho những người có gia đình.
Chiều, đi làm về, đôi khi Khang ngồi ngay ghế dài của phòng khách nhấm nháp ly rượu, nhìn về bên kia, nơi anh tự coi như hàng xóm.
Từ trái, căn số 1, của ông, bà, có thể là 2 vợ chồng, họ thường mặc bộ vét màu đậm, sáng 7 giờ ra khỏi nhà, anh đoán, có thể là nhân viên văn phòng hoặc ngân hàng, công ty, hoặc làm cho chính phủ.
Căn thứ 2, cặp vợ chồng lớn tuổi, Khang luôn thấy bà vợ đẩy xe lăn cho ông chồng, đôi khi họ cũng đứng ngay cửa kính, nhìn qua bên này.
Căn thứ 3 vắng người, cũng có lúc ban đêm đèn sáng, nhưng không một ai.
Căn thứ 4, nhiều người thường tụ tập vào buổi tối và suốt cuối tuần, có thể là nhà chia nhau thuê của sinh viên.
Thành phố mới đã giúp Khang tiêu hóa phần nào chuyện cũ.
Ở Melrose không có chợ Á Châu, chỉ chợ Mỹ, Anh bắt đầu quen những hàng quán, tiệm ở đây.
Bắt đầu là chợ Shaw có bà Nancy, Khang biết khi bà làm quản lý ở Mc Donald Malden, Whole Foods thì cô Sheng, người Tàu ở quầy sushi, Nick cây xăng Shell, Jennifer CVS, bà Norah tiệm Pet Food, Dough chủ quán thịt nguội gần bờ hồ, vợ chồng Jim hàng xóm, Jim là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến ở Huế, Quảng Trị 1970-1972.
Khang đi làm, về nhà, bạn bè cũ bây giờ ít gặp, họ quay qua thân thiết với cô vợ vừa ly dị chỉ vì cô thường làm tiệc nhậu. Bây giờ Khang vẫn tụ tập ngoài quán bia Irish với mấy người bạn cũ.
Năm nay mùa Thu tới sớm, nắng chiều hắt ngang khu rừng dọc bên đường về nhà lốm đốm vàng như những tấm lụa bị lỗi, exit 34.
Hôm nay thứ 6, Khang ghé tiệm Ý mua ít thịt nguội cho cuối tuần.
– Hi Dough! Khỏe, làm ăn ngon?
Dough cười, cắt cho anh mấy miếng Prosciutto, đặt vô tờ giấy sáp.
– Mới về hôm qua, làm thử đi.
– Cám ơn.
Dough đưa ly rượu nhỏ.
– Tuaca Liqueur sẽ mang Prosciutto với mầy lên thiên đàng.
Khang uống ly rượu, tính tiền, bước ra trước tiệm. Mặt hồ vẫn lung linh nắng chiều, bên kia rừng.
Khang về tới nhà, coi bills, quay qua Alexa (Máy điều hành tự động trong nhà)
– Alexa! Mở đèn.
– Alexa! Nhạc Adele. “Nổi lửa trong mưa”
Khang lấy ly, 2 cục đá, chai sô đa.
“… Nhưng em nổi lửa trong mưa.
Ðưa tay vuốt mặt trong từng giọt rơi.
Lửa cháy, em khóc, buồn vơi.
Nghe trong ngọn lửa như lời gọi anh…”
Căn phòng bỗng vui lên với nhịp điệu giận dữ của Adele, cô ca sĩ người Anh tròn mũm mĩm như một trái táo quá cỡ, đôi mắt tình tứ và cặp môi đầy, đáng để hôn.
Rót 2 shot Knob Creek, ngón tay Khang xoay trên mấy cục đá lạnh, anh làm một ngụm lớn, cái buồn tưởng mất vẫn còn lảng vảng trong đầu.
“Vì em biết vậy, cuối cùng.
Chúng ta hãy để nỗi buồn cháy đi”
Khang đưa ly lên môi…
– Alexa, tắt nhạc!
Căn phòng bỗng im lặng, Khang chưa kịp uống ly rượu ngon vì anh nhìn qua chung cư bên kia, chuyện lạ xảy ra.
Trên dãy cửa kính của căn phòng thứ 3, một người mặt bộ vét trắng tay cầm một khung bìa dài, có chữ “Hello”.
Khang quá ngạc nhiên, chuyện gì?
– Alexa, tắt đèn!
Ðèn tắt, Khang nhìn qua bên kia.
Ðèn bên đó cũng tắt.
– Alexa, mở đèn!
Ðèn bên đó cũng mở.
Bây giờ thì Khang biết chắc, người ở căn số 3 muốn hello mình. Anh vô phòng ngủ lấy tấm bảng trên tường, nơi gắn vài miếng giấy màu ghi chú những điều phải làm.
Bên kia đèn chớp sáng, chiếc bảng trên cửa kính có chữ “Cám ơn”
Khang cười một mình
– Alexa, nháy đèn 3 lần.
Khang viết “Cám ơn” đưa lên.
Bên kia.
“Tên Kent.
“Tên Khang.
“Một người bạn, sẽ tiếp tục, bye”
“Cám ơn, hello bạn, tôi cũng vậy”
Bên kia tắt đèn.
Khang lấy ly rượu, ngồi xuống ghế dài.
“Căn số 3 thường vắng, hôm nay lại có người muốn làm bạn mình”.
Anh uống cạn ly rượu, đi ngủ, có điều gì đó nôn nao trong lòng.
Từ bây giờ anh quen “Bên kia”!
Hôm nay thứ Năm, từ cuối tuần trước, Khang không thấy căn số 3 mở đèn, chắc cô bận.
Khang đã bày sẵn tấm bảng và mấy cây bút ngay cửa kính, sát bên ghế ngồi, thuận tiện cho việc nói chuyện với bên kia.
Mấy hôm sau, chiều về nhà. Khang lấy lon bia, khui, ngước cổ làm một hơi dài, anh nhìn bên kia.
Cô ta cũng vừa vô nhà, đi ngang cửa sổ lớn, tay xách cặp, biến sau phòng ngủ.
– Cô cũng làm việc, chắc ở một mình! Xa quá không thấy mặt.
Hay là.
Cuối tuần, Khang mua trên Ebay một viễn kính xài rồi, còn tốt.
Khang đặt viễn kính sau quầy rượu, ống kính ngang mặt quầy, anh có thể ngồi đây, tha hồ nhìn về bên kia, không ai thấy.
Chiều thứ Bảy, vừa kéo màn cửa, Khang đã thấy cô gái bên kia cũng kéo màn.
Quá bất ngờ.
Cô cũng đặt ống viễn kính ngay cửa sổ, nhìn qua Khang.
– Tại sao có sự trùng hợp lạ kỳ? Không lẽ cô đọc được ý nghĩ mình?
Khang đưa tay chào, nhìn viễn kính.
Bây giờ thì hai bên có thể thấy nhau rõ hơn.
Cô gái bên kia, da đen, tóc vàng, chĩa tứ tung, mặt buồn và có những vết nám. Cô viết trên bảng.
– Anh khỏe không?
Khang nhìn vô kính.
– Khỏe! Hello, cô thế nào?
– Ðang muốn uống một ly rượu cho vui.
– Tôi cũng vậy.
Kent lấy chai rượu, 2 cái shots, rót đầy.
Khang cũng lấy chai Scotch đổ đầy 2 ly shot.
– Vậy thì cùng uống.
Cuộc rượu từ xa, cuộc rượu “On sign” lạ lùng nhất đời bắt đầu.
Kent đưa cao 1 ly, viết trên bảng.
– Cho tình bạn mới, cheer!
Khang lấy cây marker.
– Cheer!
Anh thấy vui như ngồi uống rượu cùng bàn với Kent.
Kent viết.
– Tôi vui cùng anh, cho dù giữa chúng ta vẫn còn một khoảng cách.
– Kent, rất vui, tôi có cảm giác như mùi rượu Brandy của cô đầy trong phòng tôi.
– Tôi đang uống Brandy, tôi đã ở trong phòng anh.
Khang quay nhanh lại, như có bóng người thoáng ra cửa, anh chạy nhanh tới mở cửa nhìn ra ngoài.
Không một ai.
Khang quay vô, anh nhìn thấy Kent vừa mở cửa bước thẳng tới viễn kính.
Kent viết.
– Trong phòng anh có một bó hoa hồng khô thật to.
Khang ngạc nhiên.
– Ha ha!
Anh vẫy tay, viết.
– Ha ha! Tôi muốn mời cô một bữa tối, ngày mai?
Kent bước sát cửa kính, cô viết trên bảng.
– Sẽ không bao giờ có ngày mai… Cám ơn.
Kent đưa tay chào.
Bên kia tắt đèn.
Khang cũng tắt đèn, vô quày rót ly Scotch, ngồi uống trong bóng tối. Anh hoang mang…
“Sẽ không bao giờ có ngày mai…” ?
Tối Chúa Nhật, vừa kéo màn cửa, Kent đã đứng sẵn từ bên kia, Khang đưa tay chào, anh lấy chai nước cà chua pha sò, rót vô ly lớn, bỏ đá, mấy giọt Tabasco, tiêu, 2 shots Vodka, quậy đều với cái ông hút, tới bên viễn kính.
– Hello!
Kent vẫn áo trắng, môi màu cam, viết.
– Hello anh K,
– Cám ơn, cô sẽ làm gì cho một ngày đẹp?
– Tôi sẽ nghe nhạc, đọc một quyển sách và vẽ tranh.
Khang e ngại, nhất là khi nghe chuyện trục trặc của 2 người yêu nhau.
– Coi như tôi đã… Không còn.
Khang ớn lạnh, lấy cây Marker viết thật chậm.
– Không còn… Là Sao?
Khang vừa đưa bảng ra thì cả khu vực cúp điện, tối đen.
Ðèn dự bị trong nhà đủ sáng để anh nhìn qua bên kia.
Khu Condo đã sáng đèn dự bị, chỉ riêng căn của Kent vẫn tối. Khang kéo viễn kính sát cửa, căn phòng bên kia chớp sáng, trong những ánh chớp anh thấy có 2 người, không rõ lắm, người bên trái có thể là Kent theo áo quần cô mặc lúc nãy, người bên phải tóc cắt ngắn, mặc toàn đen.
Họ đang có những động tác cãi vã.
3 phút sau, điện có lại.
Nhà của Kent vẫn tối, Khang linh cảm có chuyện gì.
Cả tuần qua, trời trở cơn mưa gió, đèn phòng của Kent chớp sáng mỗi đêm, nhưng không thấy cô xuất hiện.
Khang nghĩ là có vấn đề, nên Chúa Nhật, anh chạy thẳng tới khu Condo bên kia.
– Tôi muốn lên tầng 5, nhà số 3.
Ông Quản Lý già gốc Ý nhíu mày.
– Có phải là 503?
– Cũng có thể. Tôi muốn gặp người bạn tên Kent.
– Kent?
Ông đứng nhanh dậy
– Bạn của anh?
Khang nhún vai.
– Dĩ nhiên, có hại gì không?
– Không…. Nhưng quen lâu chưa?
Khang cười.
– Tại sao?
Ông Ý bấm phone, nói nhiều tiếng Ý, tắt máy, quay lại, nhìn sâu vô mắt tôi.
– Anh có thì giờ cho một ly cà phê và một câu chuyện?
– Cám ơn! Ðược! Chúa Nhật mà.
Ông ta mời Khang ngồi vô chiếc bàn nhỏ, đứng pha cà phê với cái lọc bằng tay kiểu Ý.
– … Năm 1998, Con tôi làm chủ căn phòng 503, ngày xưa chỗ này là những căn chung cư cao 5 tầng rẻ tiền.
Ông đặt 2 ly cà phê nhỏ expresso trên bàn.
– Mời anh.
– Cám ơn.
Khang nhắp ngụm cà phê đen, nóng, đặc như thuốc Bắc.
– Gia đình tôi khá giả, có nhà hàng ở Boston, và một thằng con trai. Anh ta đi học, thường tụ tập bạn bè ăn chơi vung vít.
Ông thở dài.
– Ðiều đó không hay ho gì và đưa tới thảm kịch sau này…
…
Kent chống nạnh.
– Rich! Anh không thể khống chế tôi như vậy.
Rich.
– Khống chế? Tôi chỉ giữ gìn một tình yêu.
– Nhưng với tôi bây giờ là tình bạn, là một người đồng hành!
Rich cười.
– Ha!
Anh ta chống 2 tay trên bàn, xuống giọng.
– … Ai là người mua thuốc cho bạn phê, mua rượu cho bạn uống … Mua vui cho bạn suốt bao nhiêu đêm.
– Ðiều đó không cột đời tôi vào chân anh!
– Nhưng đã cột tôi!
Kent nhún vai.
– Tôi có tiền, không cần anh phải làm vậy.
– Ðó là lòng yêu thương của tôi…
Kent cắt lời.
– Và không phải của tôi.
Rich đá cái ghế qua một bên, bước tới.
Kent quay nhanh, chụp chai rượu trên quầy, chĩa vô mặt Rich.
– Anh nên nhớ tôi và chai rượu sẽ không để yên cho anh, tốt nhất là anh về đi, cuối tuần gặp nhau như bạn bè.
Rich khựng lại, anh ta lắc đầu, ra khỏi phòng.
Tối thứ Bảy, tại nhà hàng Ý ấm cúng nằm sâu trong cổng đá xanh bên bờ biển gần khu Tân Cảng Boston, khách hàng quen thuộc, đa số là gay.
Chiếc bàn gỗ sồi phủ khăn đen riêng rẽ trong cuối nhà hàng với lọ thủy tinh cao, cành bông hồng đỏ đậm, 2 cây nến bập bùng.
Kent mời.
– Xin mời Lola dùng bữa tối.
Lola gốc Ý, mới lớn, 16 tuổi, mày đen, tóc đen, môi hồng, là người mà Kent đang hẹn hò, bắt đầu cho một cuộc tình, cũng là cái nguyên cớ làm cho Rich trở nên ghen tuông…
Khang uống hết ly cà phê đắng.
– Kent yêu Lola? Nhưng …
Ông Ý đưa tay.
– Từ từ, sẽ tới…
Ông cũng uống hết ly cà phê, mở hộc bàn lấy chai rượu nhỏ, rót 2 ly shot, đẩy 1 ly cho tôi.
– Cà phê xong, mời anh làm một ly Brandy Ý…
Ông bỏ chai rượu vô hộc bàn, kéo ra Ðiếu xì gà, cắt đầu, đốt, làm một hơi dài.
– … Thêm mấy hơi xì gà Cu Ba là lên…
– Lên máu!
Khang tiếp.
Ông Ý cười khục khặc.
– Tôi đâu còn xa Thiên Ðàng lắm! Khỏi lo.
Khang làm ngụm rượu, lâng lâng. Qua vùng sáng hắt từ cửa sổ, khói xì gà thành một vòng nhỏ lãng đãng quanh cái đầu hói của ông Ý, anh nghĩ tới Thánh Phê Rô.
Ông tiếp.
– …Xong bữa ăn tối, Kent đưa Lola về nhà mình, vì Lola dưới tuổi, không vô Bar được.
Ông Ý ngả người trên chiếc ghế, nhắm mắt.
– Hà Hà! Con giống cha, con trai tôi có máu Ý, tôi không nghĩ rằng tối đó…
Giọng ông bỗng nhỏ lại.
– … Thằng con quái quỷ của tôi đưa Lola về nhà chơi game, hoặc Poker…
Khang nhún vai.
– Thì game khác.
Nhưng ông già Ý và đứa con trai không biết rằng: Rich đã theo từ lúc Kent tới nhà hàng, ngồi xuống chiếc bàn đặc biệt có bông hồng, ăn bữa tối sang trọng, lên xe đưa Lola về nhà, khui chai Brandy Ý, cụng ly, cho tới khi Kent ve vuốt cởi áo Lola trên ghế dài, nhất là khi những tiếng rên rỉ bật khỏi đôi môi hồng của cô gái 16 tuổi, tất cả đều nằm trong đôi mắt lạnh ngắt của Rich.
Lúc ở chung với Kent, anh ta đã gắn đầy Camera bí mật.
Ðêm sau, đêm Chúa Nhật oan nghiệt của Kent, trời mưa lớn.
1 giờ sáng, căn phòng của Kent nổ tung, cháy dữ dội, vì được xây chống cháy nên không lan ra cho đến khi Lính Chữa Lửa dập tắt.
Kent là nạn nhân duy nhất, chết thiêu ngay trên giường.
Một năm sau, Rich bị tóm với tội đã giết Kent bằng trái lựu đạn lân tinh cài vô 1 gallon xăng. Sau đó có tin Rich bị Gay thanh toán trong tù.
Rich, Trung úy giải ngũ thuộc Lực Lượng Biệt Hải, Gay bẩm sinh, anh đã gặp Kent tại một Bar rượu và si mê Kent.
Ông già Ý thở dài.
– Kent lại yêu Lola sau thời gian đã chung sống và ruồng bỏ Rich… Tiếp theo là Bùm! Thằng con trai tôi thành than!
Tôi lúng túng.
– Rất tiếc! Xin chia buồn!
– Buồn qua lâu rồi.
Ông làm thêm ly Brandy nhỏ, mắt đỏ ngầu. Nói với tôi.
– Mấy năm sau gia đình tôi mua lại khu chung cư, phá hết và dựng ra khu Condo này, căn phòng 503, đã thành Condo, và để trống cho Kent đến bây giờ.
– Nhưng! Tôi có thể hỏi ông vài điều?
Ông gật đầu.
– Như vậy là Kent gay? Nên ở với Rich, sau đó lại yêu Lola?
– Ừ!
– Nhưng Lola là con gái?
– Thằng con tôi thuộc loại Stereo!
– Stereo?
– 2 channels, 2 hệ!
– À! Cô gái mặc đồ trắng ở 503 tôi thường chào hỏi từ Condo bên kia là Kent?
– Thì còn ai nữa?
Ông thân thiện vỗ vai tôi, nước mắt đọng trong mắt.
– Qua bao năm, anh là người đầu tiên tiếp xúc với Kent, có thể nó thích anh.
Ðầu óc Khang lùng bùng, câu chuyện của Kent quá bi thảm. Anh bước ra khỏi phòng, ông Ý đưa tận xe.
Khang nổ máy.
– Tôi muốn hỏi.
Ông Ý.
– Ok.
– Kent là gốc Ý, da trắng…
– Tất nhiên! Con trai tôi mà.
– Tại sao mỗi tối tôi thấy Kent da đen?
Ông Ý nhắm mắt, sụt sùi.
– Thằng Rich nướng con tao bằng lựu đạn phát hỏa với gallon xăng… Cháy kiểu đó thì sao mà không đen được!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.